S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Địa Đàng Hạnh Phúc

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Địa Đàng Hạnh Phúc

Ảnh của tuongnangtien 

tuongnangtien

Bản chất nó là cuồng bạo
Huênh hoang lấp biển vá trời
“Kiến tạo địa đàng – hạnh phúc”
Khốn nạn thay!

Phùng Cung

Tôi có chút giao tình (không đậm đà gì mấy) với nhà văn Vũ Thư Hiên. Chúng tôi không sinh cùng nơi, cũng chả sống cùng thời, tính tình lại hoàn toàn khác biệt nên chuyện trò giữa ông và tôi đôi lúc (nghe) hơi trệu trạo.

Gặp bất cứ ai tôi cũng chỉ thích nói về mình, và “văn mình” thôi. Văn mình vợ người là chuyện thường tình nhưng riêng Vũ Thư Hiên thì bất bình thường thấy rõ.  Lúc nào ông cũng say sưa bàn về tác phẩm, hay nhân vật, của… một người cầm bút khác:

      –   Dứt khoát là phải làm một cuốn phim về cuộc đời của Già Đô thôi.

      –    Dạ vâng!

      – Không làm thì tiếc lắm đấy.

      – Dạ đúng!

Tôi cứ “vâng/dạ” đều đều (và nhẹ hều) như vậy vì chả hào hứng chút nào về chuyện của thiên hạ, và cũng vì đã nghe về cái dự tính điện ảnh này gần chục lần rồi.

Già Đô là ai?

“Già là một lính thợ Pháp quốc trong đại chiến thế giới thứ hai. Từ Pháp già đã tới Algérie, Maroc (cái lý lịch ấy thật tai vạ cho già). Già đã là thợ đốt lò dưới con tàu Commerce Maritimes thuộc hãng Đầu Ngựa. Hải Phòng – Marseille là hành trình những năm tuổi trẻ của già. Làm được hai năm già thôi việc. Chỉ vì già không chịu được những lời mắng nhiếc của chủ… Già bỏ tàu lên thành phố Marseille. Vào quán rượu quen. Uống. Uống nhiều. Và không trở về tàu nữa. Lang thang ở Marseille cho đến đồng frăng cuối cùng, già tìm được việc làm trong một xưởng sửa chữa xe có động cơ. Từ xe gắn máy, các loại ô-tô tới xe nâng, cần cẩu. Tại đây già bị động viên vào một đơn vị cơ giới. Già sang Maroc, Algérie, vẫn làm nhiệm vụ sửa xe.

Đại chiến thế giới thứ hai kết thúc. Già trở về Marseille. Trở về xưởng cũ. Lấy vợ. Cô Jeannette bán hoa quả ở gần bến cảng lớn bổng lên khiến già ngỡ ngàng, xao xuyến. Hai vợ chồng vay vốn mở một tiệm rượu nhỏ. Khách là những người phu pooc-tê, những thuỷ thủ, những người thợ nhan nhản ở thành phố Marseille.

Rồi già biết quê nhà đã được độc lập. Niềm sung sướng lớn lao và nỗi nhớ quê hương, nỗi sầu biệt xứ bỗng cồn cào trong lòng không chịu nổi. Càng không chịu nổi khi biết tin hiệp nghị Genève đã ký kết. Một nửa đất nước được độc lập. Lại thêm thôi thúc vì chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo đất nước là người từng lâu năm ở Pháp, cũng từng là một mạch-lô.

Già về nước. Khi đó bà Jeannette đã sinh cho già một cô con gái xinh đẹp, có nước da trắng của bà, có mái tóc và đôi mắt đen của già Đô. Mặc bà vợ khóc can ngăn, già nhất định về nước. Rồi già sẽ sang đón bà về. Độc lập rồi, xây dựng sẽ rất nhanh. Đất nước sẽ phát triển rất nhanh. Dân tộc ta thông minh, cần cù, chiu khó lại được bao nước giúp đỡ. Đất nước đang cần những bàn tay như già…” (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập II. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

Nói tóm lại, và nói một cách ví von: Già Đô là một Nguyễn Mạnh Tường của giới công nhân nhưng trung vận, cũng như hậu vận, đen đủi hơn cái ông luật sư (bất khuất và bất hạnh) rất nhiều. Ông Tường không bị CS giam cầm một ngày nào ráo, và cuối đời vẫn còn có hội lên tiếng (Une Voix Dans La Nuit) giữa kinh đô ánh sáng Paris trước khi nhắm mắt. Già Đô không có cái may mắn đó. Ông chết vì đói lạnh, trong một cái miếu hoang ở Việt Nam, sau khi “thất bại” trong việc làm đơn xin trở lại trại tù – vẫn theo như lời của Bùi Ngọc Tấn:

“Khoảng một tháng sau, già Đô trở lại nhà hắn. Ở nhà hắn đi ra như thế nào, già trở lại cũng y như vậy. Một Vitali cô đơn, bị bọc, rách rưới, mang xách, nặng mùi. Có một điều khác: Tàn tạ hơn, mệt mỏi hơn, nhưng ẩn một tia hy vọng vì đã tìm ra lối thoát. Già hỏi hắn: ‘Cụ có giấy bút không?’ Và nhanh nhẹn đỡ lấy những thứ đó từ tay hắn. Già đeo kính. Cái kỉnh lão mắt tròn tròn cổ lỗ hồi đầu thế kỷ, một mắt lại vỡ rạn hẳn là quá nhẹ với già, nên già phải ngửa đầu ra phía sau mà nhìn vào tờ giấy. Già viết rất khó khăn… 

Bỗng già buông bút, nhìn hắn:

– Hay là cụ viết giúp tôi.

Hắn vui vẻ nhận lời. Già đọc:

– Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Kính gửi Sở Công an.

– À, gượm đã. Hay là kính gửi Ban giám thị trại VQ nhỉ?

– Nhưng mà nội dung đơn là gì cơ?

– Tôi xin trở lại trong ấy.

Hắn choáng người, đặt bút xuống, nhìn già chăm chăm.

– Tôi suy nghĩ kỹ rồi, cụ ạ. Ở trong ấy tốt hơn.

Già chớp chớp mắt:

– Đời tôi là không gia đình. Ở đâu cũng vậy thôi…

– Ở ngoài này tôi không chịu đựng nổi nữa rồi.

Hắn cảm thấy già có lý: Với già sống ở ngoài đời đáng sợ hơn chết ở trong tù nhiều lắm.

–  Thế thì phải làm đơn gửi Sở Công an. Trại người ta không nhận đâu. Phải là từ Sở đưa lên. Trại đã xuất kho mình rồi, ai người ta nhập kho mình nữa.

–  Ý tứ thế. Cụ viết giúp tôi.

Hắn viết. Già ngồi im lặng. Hắn bảo già:

–  Cụ nghe tôi đọc lại nhé.

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Đơn xin vào lại trại cải tạo… (B. Tấn, sđd 224 – 225).

Lạ nhỉ! Sao một công dân của một quốc gia Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc mà lại  làm đơn xin “vào lại trại cải tạo”, hả Giời? Mà hạnh phúc ở Việt Nam đâu có quá xa vời hay quá tầm tay với của bất cứ ai. Nó tràn lan khắp hang cùng ngõ hẹp và tràn ngập khắp mọi nhà mà. Nơi đất nước này, đã có lúc, hễ ra ngõ là gặp anh hùng. Còn bây giờ, cứ mở mắt ra là thấy ngay hạnh phúc:

  • Nguyễn Phú Trọng, TBT kiêm CTN: “Mỗi mùa xuân có Đảng là một mùa hạnh phúc an vui.”
  • Nguyễn Thị Quyết Tâm, Phó Bí thư Thành Ủy TP.HCM: “Việc con em lãnh đạo được giao trọng trách quản lý là điều hạnh phúc của dân tộc.”
  • Nguyễn Hồng Diên, Phó Trưởng Ban Tuyên Giáo TƯ : “Trường hợp đặc biệt về tuổi như Tổng bí thư là hạnh phúc của Đảng, dân tộc.”

Quan niệm của đám thường dân cũng thế, cũng “đơn sơ” lắm – theo như cách dùng từ của blogger Ku Búa:

“Đa số người dân Việt Nam có định nghĩa rất đơn sơ đối với ‘Hạnh Phúc.’ Họ không cần quá nhiều để cảm thấy vui vẻ. Một anh công nhân chỉ cần có việc làm trả lương. Một cô bán bán hàng chỉ cần ngày nào cũng có khách. Một người dân nông chỉ cần làm vài vụ một năm. Một sinh viên chỉ cần thi qua môn. Như vậy là đủ…”

Chả những “đủ” mà còn dám “dư” nữa là đằng khác vì hạnh phúc (hay đau khổ) đều do do nhận thức mà ra cả, và nhận thức thì luôn luôn rất chủ quan và tương đối. Xin đan cử một thí dụ:

Đang đêm khuya khoắt bỗng nghe tiếng xe thắng gấp trước nhà, công an nhẩy xuống rầm rập và túm cổ ngay cái thằng cha ở cạnh bên. Thế là bạn thở phào nhẹ nhõm. Vậy chả hạnh phúc sao?

Ngay cả khi chính bạn bị vồ lên đồn chăng nữa nhưng chỉ vài ngày sau là được thả luôn. Chả những thế, bạn vẫn có thể ra khỏi đồn công an (bằng chính đôi chân của mình) không cần đến băng ca hay brancard gì cả. Thế mà không hạnh phúc à?

Điều trở ngại lớn nhất trong việc mưu tìm hạnh phúc là chúng ta luôn luôn mong muốn một thứ hạnh phúc lớn hơn (hoặc nhiều hơn) chút nữa . Ấy chớ bạn ạ. Ở VN mà còn được thở, và thở được, là hạnh phúc lắm rồi, dù không khí có ô nhiễm hay ngột ngạt đến đâu chăng nữa.

Chế độ cộng sản VN: Cỗ máy nghiền nát nhân tài nước Việt

Chế độ cộng sản VN: Cỗ máy nghiền nát nhân tài nước Việt

Ảnh của nguyenvandai

nguyenvandai

Báo điện tử Vietnamnet ngày 13 tháng 7 có bài viết của tác giả TS Đinh Đức Sinh với tiêu đề

Chọn nhân sự cấp chiến lược: Cuộc tổng tìm kiếm hiền tài

Trước đó, cũng trên tờ báo này, tác giả Đinh Duy Hòa,  có bài “Nhân tài: Người là ai, đang ở đâu”?

Có vẻ như đất nước Việt Nam đang rất hiếm nhân tài về chính trị để phục vụ đất nước. Vậy thực hư thế nào chúng ta cùng đi trả lời cho các câu hỏi sau để tìm ra đáp án?

Câu hỏi đầu tiên, Việt Nam có nhân tài về chính trị để lãnh đạo đất nước không?

Việt Nam với dân số khoảng 97 triệu người. Trong khoảng 2 thập kỷ trở lại đây, mỗi năm có hàng chục ngàn bạn trẻ đi du học ở các nước dân chủ văn minh Âu, Mỹ theo các hình thức khác nhau. Các trường đại học trong nước cũng đào tạo ra hàng trăm ngàn sinh viên mỗi năm. Trong số các sinh viên đã tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ở trong và ngoài nước, đa số họ là nhân tài của đất nước.

Trong lịch sử khoảng 4000 năm của dân tộc Việt Nam, thời nào cũng có nhân tài giúp xây dựng và phát triển đất nước.

Nhưng có thể nói dưới sự cai trị của đảng và chế độ CSVN thì không có một nhân tài nào xuất hiện mà chỉ xuất những kẻ bất tài, vô đức cai trị Nhân dân, chiếm đoạt tài sản của Nhân dân và của quốc gia như Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Xuân Anh, Tất Thành Cang,…

Câu hỏi thứ hai là  chế độ cộng sản Việt Nam là nơi ươm mầm, đào tạo tài năng hay là cỗ máy nghiền nát tài năng của nước Việt?

Thứ nhất, nhà nước cộng sản thực hiện một chế độ lương bổng thấp, chưa tới 200USD cho một công chức, viên chức mới được tuyển dụng, Với mức lương này không đủ để họ song và yên tâm học tập, nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm và cống hiến.

Họ vận lộn với chuyện cơm, áo, gạo, tiền, cuộc sống hàng ngày. Họ phải tìm mọi mánh khóe, thủ đoạn để kiếm thêm thu nhập. Họ nhìn thấy đồng nghiệp lâu năm, cấp trên của họ chẳng có tài năng gì, nhưng giàu có nhờ thủ đoạn xấu. Như vậy thì họ không phải dành thời gian để học tập và nghiên cứu, mà dành thời gian để tích lũy kinh nghiệm xấu và thủ đoạn. Tài năng của các công chức, viên chức trẻ dần dần mai một và biến thành những con chuột, lươn và trạch.

Chúng ta đã thấy căn cứ đầu tiên chế độ CSVN là cỗ máy nghiền nát tài năng nước Việt

Thứ hai là việc bổ nhiệm các cấp lãnh đạo không công bằng, dân chủ mà đó là việc mua quan, bán chức.

Mọi chức vụ trong hệ thống chính trị của chế độ cộng sản VN đều có thể mua bán, trao đổi. Một ví dụ điển hình là việc cựu Bộ trưởng 4T Nguyễn Bắc Son đã hứa với cựu thứ trưởng 4T lúc đó là Trương Minh Tuấn rằng nếu Tuấn ký chấp nhận cho Tổng công ty MobiFone mua lại công ty AVG thì Tuấn sẽ ngồi vào ghế Bộ trưởng khi Son nghỉ hưu. Và thực tế diễn ra đúng kịch bản.

Hay việc mua quan bán chức của Trịnh Xuân Thanh, Hồ Thị Kim Thoa,….

Việc mua quan bán chức trong chế độ CSVN cũng nghiền nát nhân tài nước Việt.

Thứ ba là nạn con ông, cháu cha làm mưa làm gió trong hệ thống chính trị.

Trong các cơ quan nhà nước cộng sản luôn tồn tại các con ông cháu cha. Bọn này lợi dụng mối quan hệ của cha mẹ, chú bác của chúng để lũng loạn, chèn ép những người có tài nhưng không có thế.

Kết quả những người có tài phải rời bỏ cơ quan hay chấp nhận làm tay sai cho bọn con ông, cháu cha.

Thứ tư là nạn bè phái, nhóm lợi ích trong hệ thống chính trị

Trong bất cứ cơ quan công quyền nào của chế độ CSVN đều tồn tại các nhóm bè phái hay nhóm lợi ích. Chúng vừa tranh giành, vừa đấu đá với nhau để đoạt quyền lực, để tham nhũng và vơ vét tài nguyên của đất nước.

Những người có tài không thể đứng thẳng mà phải luồn cúi theo các băng nhóm trong hệ thống đó. Kết quả là tài năng của họ bị thui chột và họ từng bước cũng trở thành những tham lam và xấu xa.

Thứ năm, quan điểm và ý thức chính trị quyết định việc thăng quan tiến chức.

Việc đặt nặng ý thức chính trị cao hơn tài năng của chế độ CSVN cũng bóp chết những tài năng từ trong trứng nước. Bởi ý thức hệ cộng sản lạc hậu và hủ bại đã được chứng minh trên thực tế. Nó chỉ tạo ra những con người giả dối, những con chuột, lươn, trạch trong hệ thống chính trị cộng sản VN.

Vậy câu hỏi cuối cùng là làm sao để các nhân tài nước Việt có quyền và cơ hội cống hiến tài năng phục vụ đất nước và Nhân dân?

Chỉ có người hiền tài mới chọn và sử dụng được người hiền tài!

Nhưng cả hệ thống chính trị cộng sản Việt Nam đều hủ bại và thối nát nên nó không thể chọ được hiề tài và sử dụng hiền tài.

Cách duy nhất là Nhân dân Việt Nam phải tiến hành một cuộc Cách mạng xã hội hay Cách mạng dân chủ để giải phóng đất nước khỏi sự cai trị của giặc nội xâm.

Xây dựng chế độ tự do, dân chủ đa đảng, khi đó mọi công dân Việt Nam có quyền tự do thành lập, hoạt động đảng phái chính trị. Mọi người được tự do ra ứng cử, Nhân dân có quyền tự do lựa chọn và quyết định người lãnh đạo đất nước, đảng cầm quyền.

Đó là lúc mọi tài năng của nước Việt có quyền và cơ hội phục vụ đất nước và Nhân dân.

“ĐỪNG SỢ” trong mùa Đại Dịch Toàn Cầu này

“ĐỪNG SỢ” trong mùa Đại Dịch Toàn Cầu này.

 Fx Nguyễn Văn Mơ

Làm thống kê sĩ số tổng kết những người ít lo sợ bị lây nhiễm Đại Dịch Bệnh Covid Wuhan – so sánh với sĩ số những người lo sợ nhiều, chắc chắn chúng ta sẽ thấy cán cân nghiêng hẳn về bên sợ là đại đa số, còn bên không sợ là thiểu số. Dịch bệnh Covid Wuhan đã, đang và còn hoành hành dữ dội, từ Á Châu sang Âu Châu, rồi sang đến Mỹ Châu. Cho đến nay,  dịch bệnh Covid Wuhan vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm ở nhiều nơi, nhất là tại Hoa Kỳ còn cộng thêm bạo loạn chưa từng xảy ra khủng khiếp từ hồi lập Quốc tới giờ, bên Trung Quốc + thêm lụt lội kinh hoàng, rồi đến các Quốc gia châu Mỹ La Tinh như Ba Tây, Mễ Tây Cơ đang đứng đầu trong 213 Quốc Gia có nhiều người chết vì Dịch Bệnh Corona Wuhan. Tổ Chức Y Tế Thế Giới còn xác quyết  rằng dịch bệnh vẫn chưa có dấu hiệu nào chậm lại. Vậy mà bảo rằng:

* “ĐỪNG SỢ” trong mùa đại dịch toàn cầu này, tôi thấy chỉ có mình tự cứu mình bằng cách ý thức, cẩn trọng tối đa, tuân hành các qui luật  nghiêm ngặt của Chính Quyền điạ phương, có như thế may ra mới hy vọng bớt được lây lan Dịch Bệnh cực kỳ nguy hiểm gây chết người này.

* “ĐỪNG SỢ” quá đáng rồi gây ra lộn xộn trong gia đình. Lúc này là thời gian thử thách căm go nhất trong mọi gia đình vì nhiều lý do ảnh hưởng lớn lao đe doạ cuộc sống gia đình: cha mẹ mất công ăn việc làm, con cái phải học trực tuyến ở nhà, gia đình gặp khó khăn, eo hẹp về tài chánh, bị Chính Quyền ra lệnh Lockdown.

Mặc dù còn nhiều lý do hơn nữa đang tác hại đến hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, cha mẹ là những người có thể giữ vững tay chèo và đưa con thuyền gia đình mình lướt trên sóng gió bình an, chính là nhờ tình yêu thương gắn bó, quyết tâm sống chết có nhau, nhất là các thành viên trong gia đình đều đặt hết niềm cậy trông vào Chúa.

How (Covid – 19) spread day by day

Cho Con Thấy Chúa – Sr Hiền Hòa [Lyric]:

https://www.youtube.com/watch?v=gt3gyjaYjjE

Để có đủ niềm tin, lòng trông cậy, hầu tăng thêm nghị lực cho chúng ta dẹp bỏ được những lo sợ đủ thứ do Đại Dịch Wuhan đang tác hại, làm cho muôn vàn gia đình sinh ra lộn xộn. Chúng ta cùng nhau lần giở lại trong Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước, rồi bình tâm đọc đi, đọc lại và suy ngẫm Lời Chúa và các Thánh Nhân của Ngài truyền thừa qua các trích dẫn sau đây:

ISAIA:

“Đừng sợ hãi: có Ta ở với ngươi. (Is 41: 10).

GIOSUE:

“Mạnh bạo lên, can đảm lên! Đó chẳng phải là lệnh Ta đã truyền cho ngươi sao? Đừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, sẽ ở với ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi tới.” (Gs 1:9)

THÁNH VỊNH 49

17 Đừng sợ chi khi có kẻ phát tài,
hoặc cửa nhà tăng thêm vẻ phong lưu,

18 vì khi chết, nó đâu mang được cả,
kiếp vinh hoa chẳng theo xuống mộ phần. (Tv 49: 17-18)

 MATTHEW:

“Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục. Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ. (Mt 10: 28-31) (Lk 12: 2-9).

“Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14: 27).

“Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!” (Mt 17: 7).

“Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ: “Này các bà, các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói.” (Mt 28: 5-6).

MARK:

“Khoảng canh tư đêm ấy, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông và Người định vượt các ông. Nhưng khi các ông thấy Người đi trên mặt biển, lại tưởng là ma, thì la lên. Quả thế, tất cả các ông đều nhìn thấy Người và đều hoảng hốt. Lập tức, Người bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ! “(Mc 6: 48-50).

“Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa? “Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” (Mc 5: 35-36).

LUKE:

“Nhưng sứ thần bảo ông: “Này ông Da-ca-ri-a, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin.” (Lk 1:13).

“Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa” (Lk 1: 30).

“Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” (Lk 5: 10).

“Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi, là con gái ông sẽ được cứu.” (Lk 8: 50).

“Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét. Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển. Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến. Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.” (Lk 21: 25-28).

“Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: “Bình an cho anh em! ” Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói: “Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực? (Lk 24: 36-38).

GIOAN

“Chiều đến, các môn đệ xuống bờ Biển Hồ, rồi xuống thuyền đi về phía Ca-phác-na-um bên kia Biển Hồ. Trời đã tối mà Đức Giê-su chưa đến với các ông. Biển động, vì gió thổi mạnh. Khi đã chèo được chừng năm hoặc sáu cây số, các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ và đang tới gần thuyền. Các ông hoảng sợ. Nhưng Người bảo các ông: “Thầy đây mà, đừng sợ! ” Các ông muốn rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến.” (Gioan 6: 16-21).

“Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi.” (Gioan 14: 27).

“Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.” (Gioan 16: 33).

PHILIPPHÊ

“Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su”. (Phil 4:6-7).

THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong ngày đầu tiên lãnh đạo Giáo Hội đã lặp lại lời Thầy Chí Thánh: Đừng sợ”. Trong suốt triều đại giáo hoàng của mình, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã không ngừng kêu gọi toàn thể Hội Thánh và mọi người trên thế giới Đừng sợ”:

 “Anh chị em đừng sợ đón lấy Chúa Kitô và nhận lấy quyền năng của Người!”.

 “Anh chị em đừng sợ! Hãy mở ra, mở toang mọi cánh cửa đón lấy Chúa Kitô! Hãy mở mọi biên giới các quốc gia, các hệ thống chính trị, những lãnh vực bao la của nền văn hóa, văn minh, phát triển cho quyền năng cứu độ của Chúa bước vào”.

 Đừng sợ! Chúa Kitô biết rõ mọi điều trong lòng người”! Và chỉ một mình Người biết rõ” (Thánh Gioan Phaolô II, Giáo Hoàng – Bài Giảng Lễ Khai Mạc Sứ Vụ Tông Đồ Phêrô).

 Đừng sợ đón lấy và thực thi lối sống Tin Mừng. Đó là sống yêu thương, không hận thù, như chính Đức Kitô yêu thương và đã tha thứ cho kẻ bách hại mình: “Tình yêu thì kiến tạo. Chỉ có tình yêu mới có thể kiến tạo được. Còn thù hận thì phá hủy. Lòng hận thù không kiến tạo được gì hết. Nó chỉ gây đổ vỡ. Nó làm tan nát đời sống xã hội. Nó chỉ có thể gây sức ép đối với những người yếu đuối và chẳng xây dựng nổi một điều gì” (Gioan Phaolô II – Bài Giảng Lễ nhận Nhà Thờ Chánh Tòa Gioan Latêranô của Giám mục Rôma).

ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI

Trong Sứ điệp Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ XXVII, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã viết: “Các bạn trẻ thân mến, đừng sợ phải liều mạng mình cho Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài. Đó là phương cách tìm được bình an nội tâm và hạnh phúc đích thực”.

ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ

“Lúc đó cũng vậy, cũng có nỗi sợ về tương lai và tất cả những gì cần phải được xây dựng lại. Một ký ức đau đớn, một hy vọng bị cắt ngắn. Đối với họ, đối với chúng ta, đó là giờ đen tối nhất”. Đừng sợ, đừng để sợ hãi lấn át: đây là thông điệp của hy vọng. Nó được gửi đến chúng ta hôm nay”. (Bài Giảng Lễ Phục Sinh – Năm 2020 – Bài Tin Mừng các phụ nữ ra viếng Mộ Chúa Giêsu).

Một khi chúng ta vừa đọc qua hết các thượng dẫn khuyên răn chúng ta đừng sợ. Chúng ta cần chọn một nơi chốn riêng tư, tìm giờ giấc thích hợp, rồi trầm lắng tâm hồn mình để gặp gỡ, kết hợp với Chúa trong lời cầu nguyện: xin Chúa là khiên che, thuẫn đỡ giúp cho mình xa lánh những lo toan vượt quá sức mình. Với lòng tin cậy, phó thác tuyệt đối vào Chúa, chắc chắn Chúa sẽ làm cho sóng lặng, gió yên trong tâm hồn chúng ta , như Thánh Phêrô đã hết sợ tức thì, khi Ngài thấy có Chúa là Cha ban sự bình an ngay trên thuyền của Ngài.

CON VẪN TRÔNG CẬY CHÚA:

https://www.youtube.com/watch?v=48y_55thk_s

Để tạm biệt bài chia sẻ: “Đừng Sợ”, tôi xin kết thúc bằng Lời Nguyện Tắt và hiệp thông trong hai Bài Thánh Ca sau đây:

Loving God, in Your majestic quietness,

where I know nothing can grasp You,

no word defines You, no prayer bends You,

there I find my deepest security and the purest awe.

Amen.

 Dear Lord and Father of Mankind:

https://www.youtube.com/watch?v=WqOnjmr9Ah0

Be not afraid:

https://www.youtube.com/watch?v=dWpG7qHtB8g

 Fx Nguyễn Văn Mơ

Tài Liệu Tham Khảo Thêm:

Đừng sợ và đừng lo

(theo Li Chúa)

  • Sáng thế 15: 1 (Chúa là khiên che); 21: 17 (Chúa đã nghe); 26: 24 (Chúa ởcùng); 35: 17 (có con trai); 42: 23 (Chúa ban kho báu); 46: 3 (Chúa ban một dân lớn); 50: 19 (không thay quyền Chúa); 50: 21 (cấp dưỡng).
  • Xuất hành14: 13-14 (Chúa chiến đấu cho); 20: 20 (Chúa thử thách).
  • Dân Số 14: 9 (Chúa ởvới); 21: 34 (Chúa đã trao).
  • Đệ Nhị Luật 1: 17 (việc xét xửcủa Chúa); 1: 21 (Chúa đã trao); 1: 29 (Chúa chiến đấu);  3: 2 (Chúa đã trao); 3: 22 (Chúa chiến đấu); 7: 18 (Chúa bảo vệ); 18: 22 (ngôn sứ giả), 20: 1 & 3 (kẻ thù); 31: 6 & 8 (Chúa không bỏ rơi).
  • Giô-suê 1: 9 (Chúa ở với); 8: 1 & 10: 8 & 25 & 11: 6 (Chúa nộp vào tay).
  • Thủ Lãnh 6: 10 (thần ngoại); 6: 23 (dù gặp Chúa).
  • Rút3: 11 (được đáp lời vì đức hạnh).
  • 1 Samuen 12: 20 (nếu không bỏChúa); 22: 23 (Chúa ở cùng); 23: 17 (không bị hại).

2 Samuen 9: 7 (xử tình).

  • 1 Vua 17: 13 (Elia trấn an bà góa).

2 Vua 1: 15 (vua); 6: 16 (được phù hộ); 19: 6 (điều nghe).

  • 1 Sử Biên Niên 22: 13 (sẽ thành công); 28: 20 (Chúa ở cùng).

2 Sử Biên Niên 20: 15 & 17 (Chúa chiến đấu);  32: 7 (Chúa          mạnh hơn).

  • Nêhêmia4: 14 (Chúa chiến đấu).
  • Giuđitha11: 1 (báo tin).
  • Étte9: 22 (kẻ thù).
  • 1 Macabê 4: 8 (dù kẻ thù đông).
  • Gióp5: 21 (Chúa bảo vệ); 9: 34 (cầu nguyện); 11: 15 (nếu không tì ố); 21: 9 (Chúa bảo vệ).
  • Tv3: 5-8 (Chúa đỡ nâng); 23; 4 (có Chúa ở cùng); 27: 1-3 (Chúa bảo vệ); 34: 4 (tìm kiếm Chúa); 46: 1-4 (Chúa là nơi ẩn náu); 49: 17-18 (kẻ giầu); 56: 3-5 & 115: 11 (tin tưởng Chúa), 56: 3-4 & 11 (tin tưởng Chúa); 91: 5 (đêm vắng, tên bay); 94: 9 (Chúa ủi an); 112: 8 (coi thường kẻ thù); 118: 6 (Chúa ở cùng).
  • Châm Ngôn 3: 24-25 (khi nằm ngủ, tai họa).
  • Huấn Ca 34: 14 (nếu kính sợ Chúa).
  • Isaia7: 4 (bị hãm hại); 8:12 (âm mưu); 10:24 (kẻ thù); 12:2 (Chúa cứu độ); 17: 2 (nằm nghỉ); 41: 10 (Chúa ở cùng); 35: 4 (Chúa báo phục); 37: 6 (điều nghe nói); 40: 9 (có Chúa); 41: 10 (Chúa là Chúa); 41: 13-14 (Chúa giúp). 43: 1 (Chúa cứu); 43: 5 (Chúa ở bên); 44: 2 (Chúa giúp); 44: 8 (là chứng nhân); 51: 7 (theo chỉ dẫn của Chúa); 54: 4 (không xấu hổ); 54: 14-17 (Chúa bảo vệ).
  • Giêrêmia 1: 8 & 46: 27-28 (Chúa ở với); 10: 5 (không bịhại); 17: 8 (thiên tai); 30: 10 (Chúa cứu); 42: 11 (vua chúa); 46: 27-28 (Chúa cứu); 51: 46 (tiếng đồn).
  • Ai Ca 3: 57 (Chúa ở bên).
  • Êdêkien 2: 6 (kẻphản loạn); 3: 9 (kẻ thù).
  • Đanien10: 12 (Chúa nghe); 10: 19 (Chúa tăng sức).
  • Giôen2: 21-22 (Chúa thực hiện điều vĩ đại).
  • Xôphônia3: 16-17 (Chúa ngự giữa).
  • Khắcgai2: 5 (Thần Khí Chúa ở giữa).
  • Dacaria8: 13-15 (Chúa cứu và chúc phúc).
  • Mátthêu1: 20 (nhận Maria); 6: 25-34 (Chúa quan phòng); 10: 19 (Chúa giúp nói); 10: 26-28 (người đời và người chỉ giết thân xác); 10: 31 (giá trị hơn chim); 14: 27 (Thầy đây); 17: 7 (Chúa đỡ nâng); 28: 5 (Chúa đã sống lại); 28: 10 (đi nói với anh em).
  • Máccô5: 36 (vững tin); 6: 50 (Thầy đây); 13: 7 (chiến tranh); 13: 11 (Chúa giúp nói); 16: 6 (Chúa đã sống lại).
  • Luca1: 13 (Chúa đã nhận lời); 1: 30 (đẹp lòng Chúa); 1: 74 (Chúa sẽ giải thoát); 2: 10 (tin mừng trọng đại); 5: 10 (đánh cá người); 8: 50 (vững tin), 12: 4 (người chỉ giết thân xác); 12: 7 (đáng giá hơn chim sẻ): 12: 11 (khi ra tòa); 12: 22-34 (Chúa quan phòng); 12: 32 (Chúa ban nước trời); 21: 9 (dù chiến tranh, loạn lạc).
  • Gioan3: 15-18 (Chúa đến để cứu chuộc); 6:20 (Thầy đây); 12:15 (vua ngự đến); 14: 27 (bình an của Chúa): 16:33 (can đảm).
  • Công Vụ 18: 9 (cứnói); 20: 10 (cậu ta sống); 27: 23-24 (Chúa ban cho).
  • Rôma8: 38-39 (yêu Chúa); 13: 3 (thế quyền).
  • Philípphê4: 6 (cầu nguyện); 1: 14 (tin cậy vào Chúa)

2 Timôthêô 1: 7 (Thần Khí Chúa giúp).

  • Do thái 13: 6 (Chúa giúp).
  • Giacôbê2: 13 (xét xử).
  • 1 Phêrô 3: 6 (nếu làm điều thiện); 3: 14 (chịu khổ); 5: 6-7 (Chúa chăm sóc).
  • 1 Gioan 4: 18 (nhờ ty).
  • Khải Huyền 1: 17 (Chúa là đầu và cuối); 2: 10 (đau khổtù tội).

        (Virginia, 14-7-2020jpah)

 From: Thầy Định gởi

Chuyện Buồn Người Vợ Tù

Chuyện Buồn Người Vợ Tù

Trần Thị Thanh Minh

 Thân gửi đến quý anh chị “Chuyện Buồn Người Vợ Tù” của chị Trần Thị Thanh Minh. Thật tội cho những người vợ phải gặp hoàn cảnh khó khăn đi thăm nuôi chồng trong những trại học tập cải tạo của chế độ Việt Cộng. Xin chúc phúc cho chị và các cháu đã may mắn đến được bến bờ tự do. Thân ái trong tình người Việt tha hương.

 Đinh công Đức

Một ngôi biệt thự nhỏ khiêm tốn cuối đường Hoàng Diệu, Đà Lạt. Phía sau là vườn hồng và có thể nhìn thấy trường Couvent thấp thoáng áo xanh lam của các nữ sinh nội trú. Đó là “ngôi nhà hạnh phúc” của chúng tôi cũng là tên do các bạn yêu thương đặt cho nó. Chúng tôi sống êm đềm hạnh phúc với ba đứa con thật dễ thương và một em bé còn đang trong bụng mẹ. Căn nhà lúc nào cũng rộn rã vui tươi nhất là Tết đến còn thêm “những con bà phước” (tức là những sỹ quan Võ bị không được về Sài Gòn ăn Tết vì cấm trại) tất cả đều quay quần vui chơi như chính nhà của họ, bởi vì các anh thích cái không khí thoải mái và thân thương nhất mà chúng tôi đã thật thân tình đón tiếp. Nếu cuộc sống ấy được kéo dài thì thật đúng là chúng tôi đã có một thiên đàng hạnh phúc thật sự rồi. Nhưng đâu có ai ngờ rằng Buôn Mê Thuột mất, mọi nơi di tản về Sài Gòn. Gia đình tôi cũng trong làn sóng kinh hoàng đó. Tôi và các con được ông bà nội các cháu yêu thương đùm bọc, và tôi đã sinh cháu bé ngay tháng tư năm đó. Cũng vì thế mà chồng tôi không thể ra đi một mình. Anh đã lên được tàu nhưng anh lại nhảy xuống bơi về. Nếu anh biết trở về rồi lại phải xa mẹ con tôi vĩnh viễn chắc anh đã chẳng quay về. Đó cũng chính là nỗi đau ray rứt, niềm ân hận khôn nguôi của chúng tôi.

 Tháng sáu anh đã đi trình diện học tập cải tạo, với hy vọng sau mười ngày sẽ trở về… Không có chồng tôi ở nhà, tôi rất sợ hãi và buồn lo. Anh đã cho tôi một đời sống ổn định vững vàng. Nay không có anh tôi không thể làm gì hết, tôi đã mất hết, mất cả những ước mơ toan tính của chúng tôi cho con cái sau này. Tôi không còn gì hết ngay cả mạng sống của tôi cũng rất mong manh vì mới sanh cháu còn quá nhỏ. Rất may nhờ sự lo xa của bà nội các cháu nên mẹ con tôi còn được ăn cơm thêm vài tháng. Toàn dân ở thành phố đã phải ăn khoai lang, khoai mì và bo bo. Lương thực bán theo sổ gia đình, hoàn toàn không có gạo. Khi nào được mua bột mì thì sung sướng lắm. Vì có thể đổi bột lấy bánh mì (món ăn ngon nhất lúc bấy giờ) Nhờ có bánh mì tôi có thêm việc làm để kiếm được vài đồng đi chợ. Tôi phải lo làm nước sốt (muối + cà chua) thái cà rốt, củ cải, dưa leo làm đồ chua mang ra trước cửa bán từ 4 giờ sáng.

 Ngày tháng cứ qua đi với buồn lo nặng trĩu vì 4 đứa con cần ăn để sống.  Tôi như con chong chóng hết bán bánh tôm bánh cuốn tại đường Duy Tân lại quay ra bún ốc bún riêu ở đường Gia Long. Nhưng cũng không được bao lâu vì “chiến dịch dẹp lòng lề đường”. Tôi lại phải chạy thuốc tây, ai cần bán cần mua là có tôi làm chân chạy. Tôi còn nhớ một lần có người cần mua 5 chai nước biển, mà tôi chỉ có đủ vốn cho 2 chai, thế là tôi phải chạy làm 3 lần từ chợ Vườn Chuối qua chợ Bà Chiểu mới giao đủ hàng được.  Đạp xe đạp muốn kiệt sức vì mồ hôi và nước mắt nhoè nhoẹt đến không thấy đường đi. Nhiều lúc đầu óc tôi muốn vỡ tung ra vì những tính toán cho cuộc mưu sinh, vì những thay đổi khôn lường của xã hội chủ nghĩa và nhất là vì những hoang mang lo sợ cho chồng tôi đã bao lâu biệt vô âm tín. Ban đêm, nhìn những khuôn mặt ngây thơ của các con tôi trong giấc ngủ say sưa; tôi yên tâm vì tôi vẫn còn có chúng ở bên tôi. Nhưng chồng tôi nay ở đâu? Đói no ấm lạnh ra sao? Anh là người nặng tình chồng vợ, yêu quý các con, liệu anh có yên giấc được không? Hay cũng như tôi thao thức suốt đêm thâu với bao nỗi lo âu tắc nghẽn không phương giải thoát. Chỉ có lúc này tôi mới được tự do khóc nức nở để vơi bớt nỗi buồn lo nặng trĩu bên mình. Tôi không dám khóc trước mặt các con vì chúng sẽ òa khóc theo ngay khi thấy tôi chảy nước mắt.

 Mãi gần một năm sau tôi mới được tin chồng tôi dù chẳng phải là tin vui. Anh đang bị một cơn sốt rét ác tính và thiếu thức ăn trầm trọng có thể chết bất cứ lúc nào. Mong ước của anh là muốn biết tin tức của mẹ con tôi trước khi anh nhắm mắt. Trời đất như sụp đổ dưới chân tôi. Tôi lạy van người đưa tin xin chỉ đường cho tôi đi gặp anh.

Sau cuộc hành trình khá vất vả, lội suối băng rừng, những con vắt cắn tôi chảy máu tùm lum mà tôi không hề biết sợ biết đau. Quần áo ướt hết, gió lạnh làm tôi rét run, xanh mét. Tới nơi chưa kịp mừng thì đã bị cán bộ trưởng trại tra hỏi lâu ơi là lâu. Cuối cùng vì “cảm phục lòng yêu chồng của phụ nữ miền Nam”. Họ cho tôi gặp mặt. Vì chồng tôi đau nặng nên anh em cùng “láng” cho mắc võng ở giữa còn các anh mắc võng chung quanh để che gió lạnh. Thật sự thì có che được bao nhiêu đâu vì mỗi khi gió tạt vào thì tất cả đều lãnh gió cát đầy cả mặt mũi. Tôi chết đứng khi thấy chồng tôi chỉ còn là bộ xương sơn đen, hàm răng trắng nhô ra vì đôi má đã hóp lại, cặp mắt lõm sâu không còn thần sắc. Tôi khóc lặng lẽ nước mắt như mưa nhào tới bên anh, ôm lấy tay anh, còn anh thì không còn đủ sức để nắm tay tôi nữa. Thời gian như ngừng lại, các anh xung quanh cũng yên lặng ngậm ngùi.

Tôi không thể nào quên được đêm hôm ấy, trước đống lửa bập bùng, mấy chục khuôn mặt mà tôi chắc trước kia đẹp đẽ oai phong lắm trong bộ quân phục VNCH, bây giờ thì chao ơi là tội nghiệp, họ chỉ còn là những bộ xương người biết cử động. Thương người, thương mình tôi khóc đến đau nhức cả hai mắt. Chồng tôi thì nằm thoi thóp, miệng vẫn cố cười, chắc anh đã mãn nguyện? Đứa con gái út của anh mới tám tháng nên hãy còn bú mẹ. Hai bầu sữa căng nhức, tôi chợt tỉnh táo để xin lỗi mọi người ra xa để vắt sữa. Tôi bưng chén sữa bỏ thêm hai muỗng đường rồi đổ cho chồng tôi từng muỗng một.

Chồng tôi có lẽ nhờ vào mấy chén sữa của tôi mà tới sáng anh đã tỉnh hẳn. Mấy anh bạn cứ chọc anh là uống sữa tiên nên mới được như vậy.

 Sau chuyến đi ấy tôi ngã bệnh cả tuần lễ. Vừa khỏi là tôi lại sửa soạn đi một chuyến nữa vì tôi biết chồng tôi rất cần thuốc men và tẩm bổ. Hai chân anh ấy không mang nổi tấm thân gầy chỉ còn 40 ký lô. Nỗi buồn lo này chưa hết, lại đến nỗi buồn vì con bé không thèm sữa mẹ nữa. Thế là tôi mất thêm niềm hạnh phúc vô biên là được ôm con, ngắm cái miệng xinh xinh của con như gắn liền với bầu vú mẹ để được mẹ chuyền cho giòng sữa chan chứa yêu thương. Các cụ đã nói là khi đang cho con bú thì không được cho ai sữa của mình kẻo trẻ sẽ chê sữa mẹ. Tôi cũng tin như thế nhưng biết làm sao hơn khi thấy chồng tôi cũng đang cần sức sống.

 Muốn có thuốc men và đồ ăn cho chồng thì phải lo tiền nhiều hơn. Bán ngoài đường bị đuổi, tôi xoay ra làm bánh croissant ở nhà. Tối nào tôi cũng nhờ mấy cậu hàng xóm sang nhào bột hộ, xong bắt bánh rồi chờ bột nở cho vào lò. Lúc đầu tôi tự làm, tự bán nhưng sau tôi để bà con lối xóm lấy bánh đi bán các nơi, bán nhiều thì lời nhiều. Nếu không bán hết thì tôi lấy lại để nướng khô bán cho các chị đi thăm nuôi. Vậy mà cũng chẳng được bao lâu thì hết vốn vì bánh thì vẫn phải làm mà tiền thì không thu về được vì ai cũng nghèo nên dù bánh bán hết cũng không đủ tiền mua gạo nên lại khất tôi lần sau, rồi lần sau nữa… Dù sao tôi vẫn phải cố xoay sở cho có đủ tiền đi thăm nuôi chồng.

 Tới năm 1977, chồng tôi bị “biên chế” chuyển từ Kà Tum qua Trại An Dưỡng Biên Hòa. Lúc đó chúng tôi mới được đi thăm chính thức. Cán bộ trong trại đã gửi giấy về nhà, cho phép thân nhân đi thăm sau gần hai năm biệt tăm tin tức. Có được đặc ân này là do những xôn xao, bất mãn của gia đình tù nhân cải tạo. Sau lần thăm đó, anh bị đưa ra Bắc lúc nào tôi không hay.

 Thời gian này là khủng khiếp nhất vì họ đổi anh đi lung tung, nào Lào Cai, nào Yên Bái, nào Lạng Sơn! Vừa được tin ở nơi này thì đã bị chuyển đi nơi khác, không có cách nào thăm nuôi được. Tôi phải mua chui những tấm phiếu để được phép gửi quà, mỗi gói chỉ có 3 kg thôi, địa chỉ phải viết theo ám số. Tôi phải làm thịt kho với cả chai nước mắm, hy vọng mặn thì để được lâu vì không biết bao giờ gói quà mới tới tay người nhận. Trông thấy tôi kho thịt, các con tôi nói: “Bố sướng quá, có nhiều đồ ăn ngon hơn tụi mình!” Còn gì đau khổ và xót xa hơn cho tôi khi nghe thấy câu so sánh thơ ngây này!!

 Cuối cùng tôi cũng tìm ra được họ chuyển anh về Vinh-Nghệ Tĩnh. Tôi và chị anh vội ra thăm. Vì không có giấy phép nên chúng tôi phải đi tàu với giá chợ đen, nghĩa là đi từng chặng một và giá vé gấp đôi. Tới nơi tôi sẽ vào báo công an là tôi bị mất cắp nên mất luôn cả giấy phép thăm nuôi và xin họ chứng nhận cho. Phải có giấy đó tôi mới được phép vào trại thăm chồng tôi. Tôi đã phải nói dối mới thoát qua ải lính gác.

 Vừa xuống tàu là tôi đã hoảng sợ vì dân địa phương đứng chỉ chỏ bọn tôi: “Vợ ngụy kìa!” Cũng may họ không ném đá chúng tôi như đã ném đá các anh khi phải chuyển ra Bắc. Chúng tôi tới nơi là chiều thứ Bảy, họ không kiếm được chồng tôi. Qua ngày Chủ Nhật tôi vẫn còn hy vọng gặp mặt vì họ nói anh đi xa làm việc, đã cho gọi rồi, thứ hai sẽ gặp. Đêm Chủ Nhật, tôi nằm mê thấy anh về báo cho tôi biết là anh đã chết!? Anh linh thiêng như vậy chăng? Tôi tỉnh dậy khóc quá trời làm thức giấc mọi người. Các chị đi thăm nuôi an ủi tôi “Sinh dữ tử lành, yên chí đi, mai được gặp”. Tôi không thể nào tả được hết nỗi buồn lo, bối rối của tôi đêm đó và thức luôn đến sáng, không thể nào ngủ lại được. Mờ mờ sáng tôi đã dậy. Mọi người lo nấu cơm vì nghe nói ở đó không bao giờ tù nhân có cơm ăn. Trời sáng hẳn. Dưới lớp sương mù của núi, từ trên nhìn xuống, tôi thấy từng toán người đi ra lao động. Tôi như người mộng du, như có ai đẩy tới, tôi từ từ đi xuống chân núi, nơi cấm các thân nhân tù cải tạo tới gần. Toán 1 đi qua, rồi toán 2, rồi toán 3, tôi nghe thấy tiếng gọi “Chị Chung, chị Minh” và tiếp theo tiếng ai la to: “anh Chung chết rồi!” Tôi ngã xuống và không còn biết gì nữa.

 Khi tỉnh lại, tôi thấy tay chân bị trói vào trõng tre, y sĩ đang chích thêm hai mũi thuốc khoẻ. Tôi nghe kể là tôi đã ngất đi và họ khiêng tôi lên núi cả tiếng đồng hồ qua rồi. Họ phải trói tôi lại vì sợ tôi vật vã làm gẫy kim chích. Tôi nói tôi không sao, cởi trói ra cho tôi. Sau cơn choáng quá đau tôi lại trở thành bình tĩnh quá làm họ cũng phát hoảng luôn. Tôi yêu cầu gì thì họ cũng cho phép hết. Tôi xin được gặp bạn bè thân của chồng tôi, trao lại cho các anh hơn 120 kí lô quà tôi mang đến. Ai cần gì thì lấy rồi viết thư về nhà nhắn vợ con đem tiền trả tôi. Cuối cùng cán bộ mang đến cho tôi một cái túi xách tay, trong chả có gì ngoài bộ bà ba cũ mèm của chồng tôi. Họ cho tôi một chén cơm hẩm, hôi mùi gạo mốc, trên có quả trứng luộc dể mang ra mộ. Trẻ em theo sau để nhìn bát cơm, trầm trồ: “cơm kìa! cơm kìa!” tôi đi như một thây ma sống, mắt mở to mà nào có nhìn thấy gì, tai cũng chẳng nghe thấy gì, bước thấp bước cao theo hai người dìu tôi đi, tim như đau buốt, nước mắt chảy không ngừng. Khi ra tới mộ tôi lại ngất đi một lần nữa. Giá mà khi ấy tôi được đi luôn theo chồng tôi thì hay biết mấy!

 Tôi trở về nhà với một thân xác rã rời, một đầu óc rỗng không, biếng ăn, mất ngủ, chả nói năng gì, mắt mở to mà chả nhìn thấy gì. Tôi đã phải ra, vào nhà thương Chợ Quán mấy lần. Rất may cho tôi và các con tôi là lúc đó tôi có một cô em và một người bạn lo lắng và chăm sóc mẹ con tôi tận tình.

 Vài tháng sau, tôi nhận được 2 thùng quà trả lại với hàng chữ “Người nhận đã chết. Trại yêu cầu hoàn.” Ra bưu điện lĩnh 2 gói quà xong, vừa ra đến cửa tôi lại ngất đi. Rất may có anh bạn hàng xóm đạp xe xích lô đang chờ để chở tôi về nhà. Tới bữa ăn, nhìn bốn đứa con ngồi ăn ngon lành với tóp mỡ ngào đường và nước mắm, quà của bố trả lại, nước mắt tôi lại chảy như mưa. Rồi tới gần cả năm sau, phường trưởng mới cử đại diện đến chia buồn và đưa cho tôi biên bản “phạm nhân chết”. Nhờ mảnh giấy này mà mẹ con tôi mới được đi Mỹ theo diện HO. (Tôi vẫn còn giữ mảnh giấy này, xin gửi kèm theo đây để mọi người biết “tội ác” của chồng tôi!) Can tội: Giảng viên tâm lý chiến xã hội học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà lạt. Án phạt tù: 3 năm; nhưng khi chết đã 3 năm 7 tháng. Nếu họ đúng lời chắc chồng tôi không thể chết.

 Thế là xong là tuyệt vọng cả đời. Lúc đó tôi sống cũng như chết rồi, nhưng vì bốn đứa con nhỏ, chúng đâu có tội tình gì. Bên nội, bên ngoại ai cũng muốn nuôi dùm 1, 2 đứa nhưng tôi không thể nào chịu được nếu để 1 đứa con xa tôi. Tình thương con đã thắng cái “điên” của tôi để lo lắng cho chúng nhưng với phường khóm thì tôi thật là một “mụ điên dữ dằn”. Tôi không chịu đi họp tổ, họp phường gì cả. Công an khu vực tới tận nhà bắt đi họp. Tôi nói: “Người mà các anh thấy có tội là chồng tôi thì anh đã chết rồi, tôi và 4 con nhỏ không còn gì phải họp với hành nữa”.

Lúc trước mình ngu nên cứ tin là phải họp hành cho tốt thì họ xét cho chồng về sớm. Nay tôi không còn gì để sợ nữa thì họ lại để tôi được yên thân.

 Tôi bắt đầu tính chuyện vượt biên, mấy mẹ con dắt díu nhau đi tìm đất hứa không biết bao nhiêu lần. Hết đi từ Nhà Bè, Vũng Tàu, Mỹ Tho đến Rạch Giá, Sóc Trăng nhưng đều không thoát, ở tù cũng mấy lần. Xuống ghe ra biển lại thấy hối hận vì thương con, chưa thấy thoát mà chỉ thấy chết tới nơi. Bị bắt tù đày thì lại càng hối hận hơn vì các con không có thức ăn, nước uống chỉ có một ca nhỏ. Trong trại chỉ có 1 cái ao tù, ăn cũng đó mà tắm giặt cùng nơi. Bẩn thỉu không thể tả cho nên trẻ con không bị đau bụng, ỉa chảy thì cũng ghẻ lỡ ghê hồn. Tôi sợ quá đến không dám nghĩ đến đi nữa. Phải cậy nhờ xin đi dạy lại dù biết là nhà giáo chỉ húp cháo thôi.  Nhưng dù sao đi nữa cũng còn có chỗ để mua “nhu yếu phẩm” và được “thầu” để bán quà cho học trò trong trường.

Thời gian này tạm ổn định, lo cho các con tới trường cũng phải chạy chọt vì “nhất thân, nhì thế” của xã hội lúc bấy giờ. Phận mình thì xong rồi, bạn bè tôi còn rất nhiều có chồng đang tù tội. Thỉnh thoảng chúng tôi họp nhau để “lá rách nát đùm lá tả tơi” đứa nào có thứ gì cho tù ăn được thì mang tới gom lại để chia cho những bạn sắp đi thăm. Trong cái tình đó tôi lại thấy được nhiều sự đau khổ mà người vợ tù phải chịu đựng nhục nhằn mà không ai có thể chia xẻ với họ. Chẳng hạn như một chuyện rất thật của một người bạn thân của tôi, chúng tôi đã chia sẻ từng bó rau muống từng chén nước mắm “muối + nước màu” cho các con ăn. Từng viên đường thẻ để mang vào tù cho chồng. Chỗ chồng bạn tôi ở lại có “nhà hạnh phúc” và các anh tù phải làm việc thật tốt thì cán bộ mới cho phép gặp vợ tại đó. Lẽ dĩ nhiên chồng bạn tôi làm khổ sai cật lực để được ân huệ đó. Chị cũng là một cô giáo, sống rất đạo dức và thành tín, thương chồng vô cùng, nhưng khi vào thăm đã thấy “nhà hạnh phúc” có mấy cái trõng tre và mấy anh cán bộ ngồi canh. Chị đã không thể “cho anh” và điều này đã khiến anh nổi giận nghĩ là chị đã có “ai khác” ngoài đời. Chị đã bị anh chửi bới tơi bời còn gì thê thảm hơn nữa không? Thời gian đã qua tôi hy vọng anh đã thông cảm với chị về cái “không thể cho anh” đó. Mặc dù giờ thì anh chị cũng đã xa nhau, thật là một điều rất đáng tiếc. 

 Lại thêm một cô bạn láng giềng, may mắn có ông chồng được thả về sau bảy năm tù tội. Những tháng ngày trong lao tù khiến con người cũng thay đổi nhiều lắm. Dễ nóng giận và mặc cảm đầy mình. Một hôm cô bạn tôi được nhà nước cho mua một khúc vải may quần với giá rẻ dành cho các công nhân viên nhà nước. Cô mang về khoe nói là bán đi sẽ lời được sáu ngàn đồng. Ông chồng lại muốn may để mặc vì ông ta thấy cũng cần phải có một cái quần mới. Bạn tôi ngần ngại nửa muốn cho chồng may, nửa muốn bán đi để thêm tý tiền lo cho gia đình nên nói với chồng: “Khúc vải này sáu ngàn lận đó anh.” Chưa nói dứt lời là bạn tôi bị một cái tát tai choáng váng mặt mày, sự việc xảy ra quá sức tưởng tượng của mọi người. Anh chồng rất hối hận về hành động vũ phu của mình; tuy nhiên anh vẫn đổ lỗi cho bạn tôi cái tội “coi cái quần hơn chồng”. Đó lại là một trong muôn ngàn cảnh ngộ trớ trêu của vợ tù cải tạo.  

 Thắm thoát đã qua 7 năm lúc này cuộc sống mấy mẹ con tôi đã dễ thở vì chị em bạn bè ở ngoại quốc đã bắt đầu gửi tiền về cứu trợ. Tôi được mẹ chồng cho theo đi để bốc mộ Anh. Tâm trạng tôi thật rối bời và lo sợ liệu bốc lên có phải là Anh không hay lại là mồ của ai khác?!! Trên đường đi cũng không kém gian nan cực khổ như khi đi thăm nuôi tại Kà Tum. Tôi phải gửi mẹ tôi tại Nghệ Tĩnh để cùng với người cháu đi vào K3 chỗ họ chôn xác Anh. Đường thì xa, đất sét trơn trượt tôi nghĩ đành phải bỏ cuộc vì hai bàn chân đã sưng rát. Tôi ngồi xuống bên đường vừa khóc vừa van vái “anh có linh thiêng xin phù hộ cho em tới nơi để mang anh về gần em và các con”.  Đang gục đầu khấn nguyện thì nghe tiếng xe lọc cọc do một con trâu kéo, trên là các cán bộ đi công tác về. Họ tra hỏi và tôi “thành khẩn khai báo” nên họ cho tôi lên xe quá giang tới tận nơi. Tôi nhờ người cháu trở lại để đón Mẹ tôi trở vào trại ngày hôm sau để bốc mộ. Tôi không thể nào quên cái cảm giác hãi hùng khi được anh cán bộ đưa lên núi, chỗ đó là chỗ để các thân nhân tù lên ở tạm qua đêm vì không có xe về ngay. Khổ cho tôi là khi tôi tới nơi thì chỉ có một mình, có sợ cũng chẳng làm sao hơn được tôi đành cầu cứu nơi các đấng thiêng liêng, Chúa Mẹ, Phật Quan Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, cầu chồng tôi che chở bảo vệ tôi. Cứ mở mắt to mà van xin cầu nguyện đâu có dám nhắm mắt mặc dù đã quá mệt mỏi. Rất may trời bắt đầu tờ mờ sáng là mẹ tôi đã đến nơi. Chúng tôi được cán bộ hướng dẫn đi tìm mộ, may mắn tôi gặp được anh cán bộ người miền Nam rất tốt bụng đã cho phép chúng tôi được gặp những người đã chôn chồng tôi lúc trước. Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi mới biết bốc mộ là gì và nhất là thấu hiểu được câu nói “cát bụi trở về với cát bụi”. Thịt da đã tan vào với cát, chỉ còn bộ xương trắng mà các bạn anh đã từ từ cầm lên từng cái đầu, xương vai, xương cổ ống tay ống chân, và ngay cả những đốt xương nhỏ họ cũng mò tìm cho đủ. Một sợi dây làm bằng giây thép nhỏ, cái mặt làm bằng kính máy bay có hình dáng 2 người đứng bên nhau đã được anh bạn lấy lên trao cho tôi và nói chính chồng tôi đã làm để tặng cho tôi khi nào tôi lên thăm gặp mặt. Anh đã phải cất giấu bao ngày vì nếu cán bộ thấy là bị tịch thu ngay. Rất may là có mẹ tôi và người cháu lo lắng lấy rượu rửa xương rồi quấn vào vải bỏ vão trong một cái bị to để chúng tôi mang về. Còn tôi ngồi chết cứng với nước mắt rơi sầu tủi. Xót thương anh.

 Trên đường về mới gặp toán người thăm nuôi. Gặp cô bạn cũng đi với mẹ già, đang chuyển quà từng khúc một, tôi chạy lại đỡ một tay. Khi tôi dắt bà cụ qua một người tù đang cuốc đất dưới ruộng, ngẩn nhìn và khẻ gọi mẹ.  Tôi quay lại giúp cô bạn còn vài giỏ đồ ăn, chúng tôi vừa đi ngang thì lại nghe anh ta gọi “em Liễu”. Cô bạn tôi nghe tên ngoảnh mặt lại nhìn và lại bỏ đi luôn. Đem đồ lên đặt cùng chỗ với bà cụ chúng tôi lại quay lại trở lại để đem nốt chỗ còn lại, tôi bảo cô bạn, có lẽ anh tù kia quen Liễu đấy. Ta thấy anh gọi Mẹ lại kêu tên Liễu đó. Chạm mặt nhau rồi mà Liễu vẫn không nhận ra. Tới khi anh ta quên cả sợ cán bộ chồm lên đường kêu Liễu. Anh dây, Tuấn đây mà. Lúc đó bà cụ cũng đã trở lại và nhận ra con, cụ khóc òa ôm lấy anh tù, còn Liễu cũng khóc nhưng la “không phải anh mà” không phải anh đâu. Người chồng yêu quý vì tháng năm đói khổ phải ăn khoai mì nên mặt anh ta biến dạng vì quai hàm bạnh ra và nhựa độc của khoai mì làm cho tất cả tù nhân đều có cái mặt vuông gần giống nhau cả. Tôi cũng không cầm được nước mắt lại nghĩ rằng chắc chồng tôi còn sống thì mặt mũi cũng chỉ như vậy mà thôi.

 Từ trại về chỉ có độc nhất một chiếc xe đò, mọi người ngồi chật cứng trong xe, còn có nhiều người phải đứng bám vào cửa xe rất là nguy hiểm. Mẹ con tôi về đến ga Vinh là trời đã tối, lại ôm cồng kềnh một cái bị hài cốt của chồng tôi. Ngồi sân ga đợi tàu rất là nguy hiểm vì mẹ con tôi ngơ ngác với xứ lạ quê người. Mẹ tôi phải lấy giây buộc cái bị và cuốn quanh người. Chỉ sợ lỡ mất đi thì khổ lắm. Tôi hồi hộp sợ hãi còn hơn khi đi vượt biên nữa.  Tôi đánh liều vào nhà nghỉ mát của nhân viên xe lửa. Sau một lúc nói chuyện gây cảm tình và nhờ có “thủ tục đầu tiên” (xin trả tiền trước) nên mẹ con tôi được vào tạm trú qua đêm yên lành. Sáng hôm sau cũng nhờ có ông quản lý nhà nghỉ đó mà chúng tôi được lên tàu ở trong toa xe của các nhân viên đi nghỉ mát. Tôi phải tin tưởng là chúng tôi đã có ơn trên che chở nên đã mang thoát được bộ xương của chồng tôi về đến nơi đến chốn. Vì nếu không được ở trong xe đó chắc chắn chúng tôi không thể thoát khỏi xự khám xét trên tàu mà nếu họ phát giác ra là có xương người là lập tức đuổi chúng tôi xuống giữa rừng hoặc quăng xuơng đi. Giờ đây lâu lâu tôi lại có cơn ác mộng gặp lại cái cảnh mà công an đi sục sạo trên tàu, bắt mở tất cả mọi thứ để khám xét là tôi hét lên bật giậy mồ hôi ướt đẫm người. Sau đó lại nằm xuống với nước mắt trào ra không thể ngăn nổi vì nhớ thương anh và tủi phận mình đơn độc.

 Hiện tại thì chồng tôi đã được yên nghỉ tại nghĩa trang Thiên Chúa Giáo ở Bình Dương. Nhưng cũng không biết được bao lâu nữa vì họ còn tính dẹp cả nghĩa trang mặc dù đó là đất tư mà gia đình tôi đã phải mua bằng những cây vàng lúc họ dẹp nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi ngay trong thành phố Saigon.

Bốn mẹ con tôi xuống phi trường Dulles vào một buổi tối mưa tầm tả của tháng 6 năm 1994. Được gia đình cô em ra đón, tôi mừng quá nhưng vẫn chưa hết lo sợ, không biết đây là thật hay mơ. Nỗi ám ảnh bị bốc đi vùng kinh tế mới và sự không nói có, có nói không của nhà nước công sản đã khiến tôi mất hết niềm tin. Tôi chỉ còn biết cầu Đức Mẹ ban cho tôi một phép lạ.

 Chúng tôi cố gắng học hỏi để hoà nhập vào cuộc sống mới ở Mỹ. Nay các con tôi đã lớn, đã thành đạt và rất hiếu thảo. Chúng hết lòng lo lắng, chăm sóc tôi. Tôi thật mãn nguyện, nhưng tôi biết tôi không thể ôm giữ chúng mãi được. Chúng phải có cuộc sống riêng, hạnh phúc riêng. Dù biết vậy, nhưng mỗi khi chúng vắng nhà, còn lại một mình tôi, tôi lại thấy sợ hãi. Những năm tháng khổ cực, hãi hùng của thời dĩ vãng lại kéo đến ám ảnh tôi. Hình ảnh chồng tôi lúc oai hùng, mạnh mẽ trong bộ quân phục, lúc rách nát, tả tơi, thoi thóp trên trõng tre lại chập chờn quanh tôi. Tôi đã thì thầm với anh: “Đợi em đi cùng!” Vâng, tôi ước mong được sớm ra đi bình yên để được xum họp với chồng tôi. Chúng tôi chỉ mới được hưởng hạnh phúc gia dình có 4 năm 5 tháng. Tôi chắc chồng tôi cũng nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đi với anh. Chúng tôi phải nối tiếp lại những ngày hạnh phúc ngắn ngủi xa xưa.  Tôi không thể sống mãi trong cô đơn để run sợ trước những ám ảnh của dĩ vãng và những nhung nhớ khôn nguôi người chồng mà tôi mãi mãi yêu thương như buổi đầu gặp gỡ!! 

NHẬN RA CHÚ XE ÔM CHÍNH LÀ …

Lisa Lê and Sonny-Judy La shared a post.
Image may contain: 1 person, sitting, motorcycle and outdoor

Thông Điệp Cuộc Sống

NHẬN RA CHÚ XE ÔM CHÍNH LÀ ……..

Chú xe ôm dừng xe trước cổng cho cô sinh viên xuống. Bất ngờ cô đưa chú gói quà và nói:
– Chú về nhà rồi mở ra xem nhé.

Bắt đầu ngày mai cháu không đi học nữa, hôm nay cháu đã tốt nghiệp rồi. Cám ơn chú nhiều.
Chú xe ôm về nhà, cất xe, vào phòng mở gói quà ra, ngoài bộ quần áo còn có cả số tiền rất lớn, và một bức thư như sau:

”Thưa thầy, em là Tuyết Lan học toán với thầy năm lớp sáu ở trường Nguyễn Trãi. Lên lớp chín thì em nghe tin thầy bị giảm biên chế, đồng thời thầy cũng bị đau dây thanh quản nên khó nói. Từ đó thầy đi lái xe ôm kiếm sống, lúc nào cũng đeo khẩu trang kín mít để đừng có học trò nào nhận ra. Nhưng em đã nhận ra thầy khi thầy ngồi đón khách ở ngã tư Bình Hưng. Từ đó, em không tự đạp xe đi học nữa mà đặt mối thầy chở em đi học suốt hết lớp chín, hết phổ thông, và lên đại học.

Sáng nào đi học em cũng lấy theo 3 phần ăn, một cho em đến lớp ngồi ăn, hai biếu thầy một phần, và ba là biếu bà bán vé số nghèo ở góc đường Nguyễn Du. Ngày nào em cũng mua cho bà mấy tờ vé số, rất mong trúng số, nhưng chẳng hy vọng lắm.

Bố mẹ em hay thắc mắc về hành vi của em, nhưng vì cưng em nên bố mẹ cũng chìu ý em.
Em phát hiện thầy rất yêu nghề dạy học. Dù không đến lớp nữa, nhưng thầy đã lập một trang web dạy kèm cho tất cả ai bị yếu toán.
Thầy đã dạy dỗ tận tình, giúp nhiều bạn lấy lại căn bản toán bị mất, để các bạn có nền tảng học tiếp. Thầy cứ tập trung hướng dẫn biết bao học sinh trung học cơ sở trở nên vững về toán.

Thì ra ban ngày thầy chạy xe ôm, ban đêm thầy lên internet để dạy học miễn phí. Em nhận ra thầy vì cái cách nói quen thuộc của thầy vào cuối các buổi học là “các em gắng học để sau này phụng sự cho đời”.

Bây giờ lên mạng thầy vẫn nói câu đó. Trong cuộc đời thực, thầy là chú xe ôm đen đúa vất vả, nhưng trên mạng thầy vẫn còn uy phong của một thầy giáo tận tụy hiền lành.

Hình như trời không phụ lòng người, thầy không biết là em mua mãi rồi cũng trúng số độc đắc, lúc đó em đang học năm thứ ba. Em lĩnh tiền rồi đưa hết vào gửi tiết kiệm ở ngân hàng. Em kiên nhẫn chờ đến hôm nay.

Hôm nay em đã tốt nghiệp nên sẽ không còn đi xe ôm nữa mà sẽ tự lái xe máy đi làm. Em kính biếu thầy một phần số tiền trúng số độc đắc của em như chút lòng tri ân của người học trò ngày xưa, mà sự thành công của em hôm nay đã có không ít ơn thầy trong đó.”

“Nhất tự vi sư – Bán tự vi sư.”

Mai này dù có đi xa, không còn hằng ngày ngồi trên xe của thầy nhưng em vẫn luôn nhớ về “chú xe ôm” thân thể gầy gò có trái tim tình người quý báu, và dưới mái tóc đã bạc ấy là một tâm hồn cao cả.

CỤ BÀ ĐỌC BÀI THƠ CON CÒ ĐÃ MẤT TRÊN ĐƯỜNG MƯU SINH XIN ĂN

Image may contain: outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor

Hạt Lửa

CỤ BÀ ĐỌC BÀI THƠ CON CÒ ĐÃ MẤT TRÊN ĐƯỜNG MƯU SINH XIN ĂN

Con cò lặn lội bờ sông
Cò ơi sao lại quên công mẹ già
Hỏi rằng ai đẻ cò ra
Mà cò lại bỏ mẹ già không nuôi.

Nhớ khi đi ngược về xuôi,
Mẹ đi bắt tép , mẹ nuôi được cò
Những ngày mưa lũ gió to
Công mẹ bắt tép nuôi cò, cò quên.

Vợ con cò để hai bên
Công cha nghĩa mẹ cò quên hết rồi
Cò ơi cò bạc như vôi
Công cha sữa mẹ bằng đồi núi cao.

Cò ơi cò nghĩ thế nào
Mẹ đi bắt tép, thụt vào hố sâu
Nuôi cò, cò lớn bằng đầu
Nhớ khi cò bé bú bầu sữa ngon.

Nhớ khi còn bé cỏn con
Bây giờ cò lớn , có còn nhớ không?
Vì đâu có cánh có lông
Mà cò đã vội quên công mẹ già
Hỏi rằng ai đẻ cò ra
Mà cò lại bỏ mẹ già không nuôi…

P/s: Thương cụ! Cầu mong Cụ được về cõi Tây Phương Cực Lạc
#HatLua   

Lạnh nhìn đập Tam Hiệp, quy trình chế một trái bom

TIENPHONG.VN

Lạnh nhìn đập Tam Hiệp, quy trình chế một trái bom

TP – Đập thủy điện Tam Hiệp được thiết kế chủ yếu để kiểm soát lũ lụt, nhưng bây giờ nó chính xác là làm tăng nguy cơ lũ lụt. Cả thượng lưu và hạ lưu đều chịu áp lực rất lớn, nếu không xả nước, thượng lưu sẽ bị ngập. Xả nước thì hạ lưu bị ngập. Kết quả là hai phía đều bị ảnh hưởng.

Hình ảnh Tam Hiệp ngày 6/7/2020 trên truyền hình Trung Quốc

Ông Phan Gia Tranh, người được mệnh danh là «kiến trúc sư trưởng của đập Tam Hiệp», là một chuyên gia hàng đầu về thủy lợi, khi về già có viết một quyển sách, tựa là “Giấc mộng Tam Hiệp”. Ông kể đã mơ một giấc mơ khủng khiếp:  Bị dẫn độ ra “tòa án quốc tế về sinh thái môi trường”. Tại đó ông bị thẩm vấn, bị buộc tội và cuối cùng bị tuyên án. Lời tuyên án ghi rõ, bị can Phan Gia Tranh bị khai trừ khỏi loài người, bị ném xuống ma đạo, dẫn đến địa ngục, phải chịu mọi cảnh đau đớn không nguôi…

Là một chuyên gia hàng đầu về thủy lợi, ông Phan Gia Tranh biết rõ lợi hại của Dự án Tam Hiệp. Ông đã liệt kê ra đến 20 điểm khuyến cáo coi là không phù hợp nếu xây dựng đập. Nhưng rồi được sự “giúp đỡ giáo dục” sau đó ông lại trở thành chuyên gia hàng đầu của Dự án… Ông đã khuất phục trước áp lực chính trị. Công trình Tam Hiệp đã hoàn thành, hậu quả xấu đã nhãn tiền. Ông Phan mang một gánh nặng tinh thần. Và ông đã cho ra đời cuốn sách hy vọng làm vơi nhẹ phần nào, cuốn “Giấc mộng Tam Hiệp”.

Cột mốc biểu thị độ cao của đập Tam Hiệp so với mặt nước biển

Từ điển Wikipedia cho biết, đập Tam Hiệp được lấy tên từ 3 hẻm núi lớn theo hướng tây-đông: Hẻm núi Cù Đường, Võ Hiệp và Tây Lăng. Các hẻm núi này kéo dài khoảng 200km dọc theo thượng và trung lưu của sông Dương Tử. Đập được làm từ bê tông và thép, có chiều dài 2.355m, đỉnh đập cao 185 mét trên mực nước biển, lớn gấp 5 lần so với đập Hoover của Mỹ. Công trình đã sử dụng 27,2 triệu mét khối bê tông (chủ yếu cho thành đập cao 181 mét so với nền đá), 463.000 tấn thép, đào 102,6 triệu mét khối đất. Mực nước cao tối đa của đập là 175m trên mực nước biển, cao hơn mực nước sông ở hạ nguồn 110 m, vùng hồ chứa có chiều dài trung bình khoảng 660 km và rộng 1,12 km. Vùng hồ chứa có thể tích 39,3 km3 và tổng diện tích bề mặt nước 1045 km2.

Năm 1919, Tôn Trung Sơn lần đầu tiên đề xuất xây đập trên sông Dương Tử, đoạn qua tỉnh Hồ Bắc. Ông tin rằng, đập thủy điện được xây dựng ở đây có thể giúp bảo vệ các cộng đồng dân cư ở lưu vực sông khỏi lũ lụt nặng nề. Nhưng ý tưởng này cuối cùng đã bị bỏ dở vào năm 1947 do nội chiến giữa Quốc dân đảng và Cộng sản đảng.

Nước CHND Trung Hoa ra đời năm 1950, muốn đại nhẩy vọt lên CNXH. Tháng 2/1953, trong một chuyến thăm sông Dương Tử, Chủ tịch Mao Trạch Đông phàn nàn rằng các dự án kiểm soát lũ trên các nhánh sông Dương Tử không hiệu quả. Từ tháng 6 đến tháng 9/1954: 1/3 thành phố Vũ Hán bị nhấn chìm trong lũ lụt ảnh hưởng đến 18,8 triệu người. Các trận lụt lội lớn đã làm sống lại ý tưởng của Tôn tiên sinh và chính quyền Trung Quốc đã chấp thuận dự án đập Tam Hiệp vào năm 1954.

Cùng với việc khơi lại dự án Tam Hiệp, vào năm 1954-1957, Chủ tịch Mao bắt đầu nhấn mạnh khẩu hiệu “nhân định thắng thiên”, tuyên bố cải tạo làm sạch sông Hoàng Hà: Thực hiện dự án thủy lợi “Tam Môn Hiệp”. Dự án do các chuyên gia Liên Xô thiết kế được trình lên. Chính phủ từ chối tiếp nhận những ý kiến phản biện của chuyên gia Hoàng Vạn Lý, một giáo sư đại học Thanh Hoa, cũng là người sau này kiên quyết phản đối xây dựng đập Tam Hiệp. Người Trung Quốc khi đó kiêu hãnh nói rằng, Quốc dân đảng được tư vấn của chuyên gia Mỹ, dự kiến công trình trị thủy sông Hoàng tốn cả trăm năm, nước Trung Quốc mới sẽ chỉ làm nó trong 6 năm.

Năm 1960, đập Tam Môn Hiệp đã tích nước, nhưng hoàn toàn thất bại trong việc điều chỉnh lũ lụt, làm sạch sông Hoàng. Các sông ở thượng lưu là Vị Hà, Đồng Quan cùng 80 vạn mẫu ruộng phì nhiêu của Quan Trung bị ngập nước. Sau đó, không ít lần Mao Trạch Đông và lãnh đạo chính phủ nói rằng, nếu không thể khắc phục thì có thể phá bỏ đập. Nhưng chính phủ kế tục không biết thừa nhận sai lầm, rút ra bài học kinh nghiệm. Họ lặp lại nó ở Tam Hiệp. Dù rằng việc xây dựng đập Tam Hiệp chỉ đến năm 1993, sau 17 năm Mao Trạch Đông chết, mới được bắt đầu. 

Nhìn lại thì thấy, việc xây dựng đập Tam Hiệp đã được thảo luận từ những năm 1950, nhiều cuộc thảo luận đã diễn ra và ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực hết sức trái ngược. Đến cuối những năm 1980, khi Triệu Tử Dương nắm quyền Tổng bí thư, tính đến sự phản đối mạnh mẽ từ bên ngoài đảng, Triệu đã trình bầy với Đặng Tiểu Bình xin đình chỉ Dự án.

Tuy nhiên, Đặng Tiểu Bình nói rằng, khởi động Dự án có những vấn đề chính trị, nhưng không khởi động thì còn nhiều vấn đề chính trị hơn, vì vậy vẫn phải khởi động. Ý kiến của Đặng Tiểu Bình rất rõ ràng, không chấp nhận ai đó bên ngoài đảng chống lại. Càng nhiều người phản đối, càng phải kiên trì.

Dự án đập Tam Hiệp còn được ủng hộ mạnh mẽ và tích cực thúc đẩy bởi hai lực lượng. Một là lực lượng làm điện lực đứng đầu là thủ tướng Lý Bằng. Hai là Tiền Chính Anh bộ trưởng thủy lợi và hệ thống liên quan. Sự hỗ trợ của hai lực lượng này để khởi động Dự án Tam Hiệp cho thấy có một nền tảng của lợi ích ngành (nhóm) trong việc hình thành các chính sách.

Lẽ dĩ nhiên Dự án đập Tam Hiệp liên tục được các quan chức nhấn mạnh là đem lại lợi ích kinh tế to lớn. Không có gì phải nghi ngờ Dự án Tam Hiệp có thể tăng sản lượng điện. Nhưng ngoài lợi ích kinh tế, những thiệt hại khác do một dự án lớn gây ra, chẳng hạn như các vấn đề đời sống của người chuyển cư, những thiệt hại không thể khắc phục đối với vô số di tích lịch sử văn hóa, những tác động tiêu cực đến môi trường nói chung… đã không được quan tâm. Trung Quốc muốn phát triển kinh tế bằng mọi giá. Một dự án lớn như vậy, ngay cả khi buộc phải chính thức thừa nhận rằng sau một thời gian, lợi ích sẽ giảm dần, nhưng đối với các nhà hoạch định chính sách, đó là tương lai, họ sẽ để những người tương lai giải quyết.

Ads by optAd360

Năm 1989, Giang Trạch Dân và Lý Bằng với tư cách Tổng bí thư và Thủ tướng bắt đầu thúc đẩy dự án. Lý Bằng trong “Nhật ký Tam Hiệp” đã viết: “Đồng chí Đặng Tiểu Bình, người thiết kế chính của cải cách và mở cửa của Trung Quốc, đã đưa ra một quyết định lớn về việc xây dựng Dự án Tam Hiệp. Sau năm 1989, tất cả các quyết định lớn về Dự án Tam Hiệp được đưa ra bởi đồng chí Giang Trạch Dân, người đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc xây dựng Dự án”.

Dưới đây là một số mốc thời gian. Năm 1979, Bộ Thủy lợi Trung Quốc trình đề xuất xây dựng đập Tam Hiệp lên Quốc vụ viện. Năm 1982, Lãnh đạo Đặng Tiểu Bình cam kết xây dựng đập Tam Hiệp. Tháng 6/1986, Bộ Thủy lợi Trung Quốc thành lập một nhóm gồm 412 chuyên gia làm báo cáo các nghiên cứu khả thi mới. Năm 1987, Phái đoàn Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc đến thăm khu vực Tam Hiệp và cảnh báo dự án là không khả thi.

Ngày 13/7/1990, một ngày trước khi kết thúc thảo luận về Báo cáo khả thi dự án Tam Hiệp, Giang Trạch Dân và Lý Bằng mời các lãnh đạo và chuyên gia tham dự họp ăn tối. Tại bữa ăn, Châu Bồi Nguyên, phó chủ tịch Ủy ban quốc gia của Hội nghị chính trị hiệp thương nhân dân Trung Quốc (gọi tắt là Chính Hiệp), nói: “Ngày mai Thủ tướng Lý Bằng có thể sẽ đưa ra quan điểm chính thức về Dự án Tam Hiệp. Nhưng Dự án vẫn còn một số vấn đề không thể không nghiên cứu kỹ, đặc biệt là vấn đề an ninh quốc phòng”. Giang Trạch Dân đã chặn lời Châu Bồi Nguyên, nói: “Dự án Tam Hiệp nhất định phải hoàn thành và sẽ mang lại lợi ích cho các thế hệ tương lai”. Châu Bồi Nguyên vẫn giữ ý kiến phản đối. Ông chết bệnh vào năm 1992.

Tháng 4/1992, Quốc hội Trung Quốc chính thức phê duyệt dự án, nhưng 1/3 số đại biểu bỏ phiếu chống hoặc phiếu trắng.

Năm 1992, Thủ tướng Lý Bằng đi cùng các lãnh đạo địa phương thị sát Tam Hiệp. Lý Bằng vào thăm nhà một người dân vừa chuyển cư lên trên mốc trữ nước ở đỉnh cao 175 mét. Ngài thủ tướng văn vẻ nói với người dân chuyển cư: Anh bạn hãy nhìn xem, trong tương lai, ngôi nhà mới của anh sẽ nằm cạnh sông Dương Tử. Và con sông sẽ biến thành một hồ nước lớn. Cái vườn sau nhà anh có thể trồng cam. Khi con tầu chở khách kéo còi chạy qua, những trái cam chín đỏ sẽ rung rinh theo và rơi xuống.

Người dân chuyển cư nở một nụ cười ngơ ngơ. Anh ta thực sự không thể hiểu, tại sao thủ tướng nói rằng khi tiếng còi vang lên trong không trung, những quả cam trên cây của anh ta sẽ rơi xuống?

Đứng trên cột mốc 175 mét độ cao, Lý Bằng thực sự là một cột mốc. Cột mốc chỉ dấu cho tương lai khó lường của người chuyển cư nhường nhà ở, đất đai cho lòng hồ và cho cả đập Tam Hiệp.

Trung Quốc tổ chức khởi công xây dựng đập Tam Hiệp vào tháng 12/1994. Và tiến hành chặn dòng Dương Tử vào tháng 11/1997. Đến tháng 5/2006, con đập cao 185 m với khoảng 16 triệu mét khối bê tông được hoàn tất. Truyền thông nhà nước Trung Quốc cho biết, trong quá trình xây dựng đập, hơn 100 công nhân đã chết.

Khoảng 1,3 triệu người đã phải tái định cư. Hàng chục địa điểm kiến trúc và văn hóa bị dìm sâu trong lòng hồ. Trong số các di tích này, đáng chú ý nhất là di tích của nhóm người cổ sống trong khu vực này khoảng 4.000 năm trước. Chi phí cũng tăng cao. Các báo cáo chính thức thông tin ngân sách xây dựng đập Tam Hiệp ở mức 24 tỉ USD. Tuy nhiên, các nhà quan sát cho rằng, chi phí thực tế có thể cao hơn nhiều so với con số công bố, có thể lên đến 88 tỉ đô la. Có một điểm đáng lưu ý, hai nhiệm kì Hồ Cẩm Đào làm Tổng bí thư, xuất thân là cựu sinh viên đại học Thanh Hoa, kĩ sư thủy lợi, nhưng ông không một lần đặt chân đến Tam Hiệp.

Theo dự báo và cũng là thực tế đã xảy ra, tháng 7 năm nay có mưa lớn chưa từng thấy ở miền thượng lưu sông Dương Tử. Dư luận Trung Quốc lo ngại “đại hồng thủy”, đập Tam Hiệp đã nhiều lần phải mở cửa xả lũ, có thể không chống đỡ nổi, khiến 400 triệu dân dưới hạ lưu, bao gồm Vũ Hán, Thượng Hải bị đe dọa.

Như vậy đập thủy điện Tam Hiệp được thiết kế chủ yếu để kiểm soát lũ lụt, nhưng bây giờ nó chính xác là làm tăng nguy cơ lũ lụt. Cả thượng lưu và hạ lưu đều chịu áp lực rất lớn, nếu không xả nước, thượng lưu sẽ bị ngập. Xả nước thì hạ lưu bị ngập. Kết quả là hai phía đều bị ảnh hưởng. Những tin tức xấu không ngừng được tiết lộ. Tân Hoa Xã đưa tin các sông ở thượng lưu Dương Tử, các sông Ô giang, Mân giang, Đà giang đều mưa to lũ lớn, lượng nước đổ vào hồ thủy điện Tam Hiệp tăng gấp đôi. Huyền thoại có thể là hoang ngôn. Từ khi đập Tam Hiệp bắt đầu tích nước cho đến nay, thời gian đủ dài để có thể nhìn lại hiện thực và suy ngẫm.

Lạnh nhìn đập Tam Hiệp, quy trình chế một trái bom

TP – Đập thủy điện Tam Hiệp được thiết kế chủ yếu để kiểm soát lũ lụt, nhưng bây giờ nó chính xác là làm tăng nguy cơ lũ lụt. Cả thượng lưu và hạ lưu đều chịu áp lực rất lớn, nếu không xả nước, thượng lưu sẽ bị ngập…

Ở Mỹ, có một người phụ nữ bị gặp tai nạn giao thông…

Tho Nguyen and Hieu Vo shared a post.
Image may contain: one or more people, people sitting and baby
Mai-Agnetha Pham is with Mai-Agnetha Pham.

Nguồn: Fb Peter Nguyen

Ở Mỹ, có một người phụ nữ bị gặp tai nạn giao thông. Khi đưa vào bệnh viện cấp cứu thì phát hiện người phụ nữ đã trở thành người thực vật nhưng bên cạnh đó bác sĩ phát hiện cô ấy cũng đã mang thai được 3 tháng. Các bác sĩ đã truyền thức ăn nuôi sống đứa trẻ trong khi mẹ của bé vẫn hôn mê.

Sau nửa năm thì cũng đến ngày đứa bé chào đời. Nhưng khó khăn lớn nhất ở đây là nếu các bác sĩ mổ để lấy đứa bé ra mà người mẹ tắt thở nửa chừng thì đứa bé cũng sẽ chết.

Họ họp với nhau rất nhiều lần nhưng ko thể tìm ra cách tốt hơn. Cuối cùng họ quyết định vẫn mổ để đem bé ra.

Trước khi mổ, vị bác sĩ kề vào tay người mẹ thì thầm : “Hôm nay là ngày chúng tôi mổ để lấy đứa con của chị ra. Chị hãy ráng giữ hơi thở để con chị có thể chào đời.” và rồi họ tiến hành.

Quá trình mổ tiến hành thuận lợi, người mẹ vẫn duy trì hơi thở và may mắn khi đứa bé đã được cất tiếng khóc chào đời nhưng đó cũng là lúc người mẹ trút hơi thở cuối cùng ra đi mãi mãi.

Các bác sĩ nhìn chị ngậm ngùi. Họ biết rằng chị đã cố gắng hơi thở cuối cùng vì đứa con bé bỏng của mình và đôi mắt của chị là 2 dòng lệ tuôn trào….

Đó là dòng lệ của sự vui mừng vì con mình chào đời nhưng cũng là dòng lệ đau buồn khi biết rằng mình phải vĩnh viễn ra đi, không một lần có thể ẵm con trong vòng tay, không thể chăm sóc nhìn con lớn khôn nữa..

Quỳnh Giao, Nhìn Từ Bên Nhật

Hoang Le Thanh
Quỳnh Giao, Nhìn Từ Bên Nhật.

Tác giả: Nguyễn Hữu Nghiêm.

Lời giới thiệu: Vũ Đăng Khuê

Đăng trên trang Fb: Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa – Xuan Nguyen

*

Tôi có một người bạn khá thân cùng tuổi, học cùng trường Nhật Ngữ vào khoảng năm 1972, tôi thân với hắn là vì hắn “chịu” nghe tôi nói, ít khi “phản luận” nhiều khi lý luận của tôi lúc đó ngang phè như cua. Hắn thường rủ tôi tới nhà để nghe tôi nói và… làm “mồi” cho tôi nhậu. Dạo đó, thỉnh thoảng hắn có cho tôi đọc một vài bài thơ và một vài bài viết về ý tưởng của hắn về đất nước, về quê hương, tôi chỉ nghe cho có chuyện.

Tháng 4/1975, “giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay chém giết đồng bào”, hắn rời Nhật sang định cư ở Mỹ. Năm 1980, tôi gặp lại hắn tại Hoa Kỳ vì sinh hoạt trong cùng tổ chức Người Việt Tự Do.

Năm 1983 vì một vài lý do khách quan tôi mất liên lạc với N. từ đó. Tôi chỉ biết tin hắn qua một tên anh họ “phốp pháp” mà trong nhóm sinh viên du học Nhật Bản của tôi thời đó người nào cũng biết là Phước mập: “Ê Khuê, chụp với tao tấm hình về để cho thằng N. biết mày hình dạng ra sao? hay “Thằng N. hỏi thăm mày hoài”. Tôi chỉ biết vậy và không hỏi thêm. Tháng 3 năm ngoái, tôi có dịp sang Mỹ và nhất định phải gặp cho được hắn, tôi mãn nguyện sau cái đêm ngất ngư với hắn tại nhà vì thấy nó nói nhiều hơn trước.

———

Nghe tin nữ ca sĩ Quỳnh Giao mất, tôi đã viết đâu đó trong mail gửi cho bạn bè:

– Có thể có người hợp hay không hợp nhưng Quỳnh Giao là một trong những ca sĩ chuẩn nhất của miền Nam Việt Nam.

Tôi bồi hồi nhớ lại: Năm 1970, lúc còn học lớp luyện thi Tú Tài của thầy Phạm Huy Ngà và Vũ Bảo Ấu tại trường Thăng Long, tôi đã học chung lớp với một cô có tên Vân Quỳnh, trong ban nhạc Mây Bốn Phương gồm bốn người là Quỳnh Giao, Vân Quỳnh, Vân Khanh và Vân Hòa. Tôi thích ban Bốn Phương với những bài hát chia rất nhiều bè có tính cách chuyên nghiệp như bài Lữ Hành của nhạc sĩ Phạm Duy trong băng nhạc Jo Marcel. https://www.youtube.com/watch?v=Vs9anPP1Rbc

Sau này, tôi biết cô Quỳnh này là em gái của nữ ca sĩ Quỳnh Giao. Cô Quỳnh này chắc cũng chẳng biết tôi là ai vì lớp luyện thi có cả hơn trăm mạng.

Năm 1983, trong ngày lễ ra mắt của em gái tôi sau khi lấy chồng ở bên Mỹ, không có tôi nhưng có bố mẹ tôi. Đem hình về cho tôi xem thì tôi nhận ra được ca sĩ Quỳnh Giao, vợ của kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa. Tôi hỏi bố tôi: “bố có biết ca sĩ Quỳnh Giao này không?”, bố tôi cho biết có nghe tên, chắc là có gặp. Sở dĩ bố tôi nói thế là vì dạo thập niên 1960, ông là chủ sự phòng nhân viên của đài phát thanh Saigon, thường tiếp xúc để sắp xếp cho các ca sĩ hát. v.v…

———

Tôi định viết một bài về nữ ca sĩ khả ái này nhưng hôm nay N. gửi tôi bài viết dưới đây, đã nói hộ tất cả những điều tôi muốn nói. Không dài giòng, xin trân trọng mời mọi người đi vào bài viết của Nguyễn Hữu Nghiêm, thằng bạn ít nói. Tôi hơi ngạc nhiên vì chẳng bao giờ nghe N. nói về âm nhạc cả.

Vũ Đăng Khuê

*

ĐỂ TƯỞNG NHỚ MỘT VÌ SAO

Nguyễn Hữu Nghiêm

Tối hôm đó như lệ thường, sau khi đọc một số điện thư, viết vài thư cần thiết, tôi vào tờ báo mạng quen thuộc để đọc tin tức, và một số bài viết thường xuyên trên báo. Sau khi lướt qua các mục tin tức thế giới, Hoa Kỳ …thấy không có gì khác lạ, tương tự như những tin tức trong một tờ báo Mỹ địa phương mà tôi đã đọc hồi sáng, tôi vội tìm sang phần tin Cộng đồng xem có gì đặc biệt. Bỗng một hàng tin đập vào mắt khiến tôi không khỏi sửng sốt, bàng hoàng: Nghệ sĩ Qưỳnh Giao qua đời, hưởng thọ 68 tuổi. Mở tin ra đọc, tôi mới biết là thời gian qua chị bị lâm trọng bệnh và mới qua đời buổi sáng ngày hôm đó. Đã khá lâu không thấy bài của chị đăng trên báo, tôi cứ tưởng là chị bị bận một số công việc nên không có thì giờ để viết bài. Nào ngờ…

Thú thật, tôi không phải là một trong những người mến chuộng giọng hát của chị. Đó là giọng ca truyền cảm, rất sang cả, quí phái. Giọng hát của chị cũng như các bản nhạc chị trình bày rất kén chọn người nghe mà tôi lại không phải trong thành phần được kén chọn đó. Với tôi, tiếng hát của Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Trác, Sĩ Phú… lúc xưa và Ngọc Lan, Quang Dũng…. sau này với các bản tình ca của Trịnh công Sơn, Vũ thành An, Ngô thụy Miên… vẫn là những tiếng hát thấm đẫm vào tâm hồn của tôi hơn.

Tuy nhiên tôi mến mộ chị ở lĩnh vực khác. Cách nay khoảng mười năm, tình cờ một hôm khi đọc báo Người Việt, tôi thấy có một bài viết về một đề tài văn học, tác giả ký tên là Quỳnh Giao. Tò mò tôi mở ra đọc thử. Bài viết khá công phu, tác giả có một kiến thức về văn học Việt Nam uyên bác, thâm sâu. Khi đó tôi thắc mắc trong lòng: Quỳnh Giao có phải là nữ ca sĩ Quỳnh Giao? Vì theo sự hiểu biết hạn hẹp của tôi thì từ truớc đến giờ người nữ ca sĩ này có bao giờ viết lách gì. Rồi tôi tiếp tục đọc tiếp thêm mấy bài viết sau đó. Những bài này thì tác giả viết về đề tài âm nhạc. Khi đó thì tôi khẳng định tác giả Quỳnh Giao chính là ca sĩ Quỳnh Giao. Thế rồi từ đó tôi thường xuyên đọc các bài viết của chị .

Bằng bút pháp điêu luyện, trong sáng, nhẹ nhàng với những nhận xét hết sức tinh tế và mẫn cảm, tác giả đã mở cánh cửa cho chúng ta cảm thấy cái hay, cái độc đáo của các ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng một thời ở miền Nam tự do thân yêu.

Những bài viết theo cảm nghĩ của tôi, được viết từ sự xúc cảm chân thành, bởi sự rung động của con tim trước cái đẹp của nghệ thuật âm nhạc, nên rất sống động, hấp dẫn người đọc, chứ không phải như một bài biên khảo khô khan, nặng nề. Qua những cảm nhận của tác giả cho chúng ta thấy, tác giả nghe nhạc không chỉ bằng đôi tai thẩm âm lão luyện của mình mà còn hoà nhập con tim của mình vào tiếng hát và bài nhạc.

Cũng chính nhờ những bài viết này mà một kẻ dốt đặc về âm nhạc như tôi đã hiểu biết được đôi chút về lĩnh vực này. Trước đây khi nghe ca sĩ trình bày một bản nhạc mà mình ưa thích, tôi thấy hay nhưng không biết giải thích hay ở chỗ nào. Bây giờ nhờ tác giả mà cánh cửa vô minh của tôi đã phần nào được khai mở. Đối với tôi đó là một vui sướng, một hạnh phúc thật tuyệt vời.

Hãy đọc một đoạn chị viết về nữ ca sĩ Thái Thanh: ”Thái Thanh có sự bén nhạy thiên phú để hát mạch lạc từng câu từng chữ, với âm sắc hoàn toàn Việt Nam. Cái “hồn Việt” chúng ta nói đến trong tiếng hát của bà được bắt gặp trước tiên ở cách hát cho rõ lời. Cũng vì vậy, đòi Thái Thanh hát nhạc ngoại quốc là chưa bắt được cái “thần” của bà. Thái Thanh là người hoàn toàn Việt Nam từ cốt tủy. Và hát hay nhất các ca khúc về mẹ. “Bà mẹ Gio Linh” của Phạm Duy không thể nào sống mãi trong chúng ta, dù chiến tranh đã tàn, nếu không có cách diễn tả của Thái Thanh, “Giọt mưa trên lá” cũng thế. “Tình ca” cũng vậy. Ngay trong tiếng nức nở về tình yêu và chinh chiến, từ “Buồn tàn thu” xa xưa đến “Kỷ vật cho em” hay “Bài hương ca vô tận” về sau, Thái Thanh vẫn làm chúng ta rùng mình không vì nỗi lòng thiếu nữ mà là tâm tư của thiếu phụ…”

Hay về nhạc sĩ Phạm đình Chương:

“…Phạm Ðình Chương không đi theo đám đông mà tự tạo một thế giới âm thanh riêng, ông không viết cho thị hiếu quần chúng hay trào lưu của xã hội. Ông mở ra trào lưu riêng. Phạm Ðình Chương chỉ biết buồn và viết nhạc buồn khi viết về tình yêu.

Ngoài Quang Dũng với các thính giả miền Nam, nhiều thi sĩ thực ra có món nợ với Phạm Ðình Chương khi ông phả thơ của họ vào cõi nhạc để đọng mãi trong hồn người. Nhiều người yêu nhạc đã tìm đến thơ cũng nhờ thanh âm Phạm Ðình Chương. Ông nắm lấy cái hồn của bài thơ và vẽ ra một không gian khác, một tâm tư khác, bằng nhạc. Phải chăng vì những bằng hữu chí thiết nhất của ông là những nhà thơ, nhà văn, những người cầm bút?…”

Hoặc Anh Ngọc, Sĩ Phú:

”Quỳnh Giao sở dĩ gọi giọng hát của danh ca Anh Ngọc là trượng phu vì chất sang sảng, chắc nịch, đầy nam tính. Khi hợp ca, giọng Anh Ngọc bao trùm lên các giọng khác…”

“Lạ một điều là giọng hát Sĩ Phú tương phản với vóc dáng của ông. Giọng Sĩ Phú nhẹ lắm, hát gần như thủ thỉ. Cái lối thủ thỉ ấy thật tuyệt khi hát những bài có nội dung kể chuyện, nhất là kể chuyện tình. Các ca khúc “Cô Láng Giềng” của Hoàng Quý, “Cô Hàng Cà Phê” của Canh Thân, được ông kể bằng giọng nhỏ nhẹ, nghe như vừa đủ bên tai một câu chuyện thật ra chẳng có gì đặc sắc, mà sao lại rất quyến rũ….”

Phải có một kiến thức thật sâu sắc, một tấm lòng vô cùng trân quí âm nhạc, tác giả mới có được những nhận xét hết sức tinh tế và sắc sảo như thế.

Chị không những chỉ viết về các ca sĩ, nhạc sĩ Việt Nam, mà chị còn viết thêm về những danh tài lẫy lừng quốc tế nữa. Ngoài ra chị còn bước sang lĩnh vực thời trang với những bài viết về nước hoa, ví xách, quần áo… Bài viết của chị ở địa hạt nào cũng đều rất thú vị, hấp dẫn người đọc. Những kiến thức và tài năng chị có được có lẽ nhiều phần là từ thuở bé chị đã được nuôi dưỡng trong cái nôi văn học và âm nhạc Việt Nam thời bấy giờ.

Thân mẫu chị là nữ ca sĩ một thời vang bóng Minh Trang và người cha kế là nhạc sĩ tài danh Dương thiệu Tước. Giòng máu nghệ thuật đã chảy trong huyết quản của chị từ tấm bé, cho nên không những chỉ có giọng ca điêu luyện, chị còn là một dương cầm thủ tài ba, đậu thủ khoa khi tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc. Cách nay ít năm những bài viết của chị đã được gom lại xuất bản thành sách với tựa đề: Tạp Ghi Quỳnh Giao.

Đây là tác phẩm đầu tiên mà cũng là cuối cùng mà chị hiến tặng cho đời.

Nhiều khi tôi thắc mắc tự hỏi, tại sao những kẻ đầy tài hoa và nhân cách như ca sĩ Ngọc Lan, nhà báo Lê Thiệp, ca nhạc sĩ Việt Dũng, nghệ sĩ Quỳnh Giao…. trời không cho sống lâu hơn. Để họ có thể cống hiến thêm cho đời, cho tha nhân những tài năng, những tâm huyết mà họ sở đắc và ấp ủ. Tôi chợt liên tưởng đến thuyết tài mệnh tương đố mà cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã nêu lên trong truyện Kiều. Nghĩ đến khiến tôi không khỏi ngậm ngùi thương tiếc.

Riêng với Quỳnh Giao, tôi thương tiếc chị không chỉ vì từ đây tôi không còn được đọc những bài viết rất bổ ích, linh động, đầy giá trị nghệ thuật mà tôi còn hết sức tiếc là từ đây trên văn đàn sẽ thiếu vắng một cây bút duyên dáng và tài ba. Khi một nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật qua đời, người ta thường bảo là một vì sao trên nền trời âm nhạc, văn học,… vừa vụt tắt. Nhưng với tôi, những vì sao này không bao giờ tắt, luôn luôn chói sáng trong tâm tưởng của những người mến mộ họ.

Tôi tin rằng ở thế giới bên kia, nơi chị đang nghỉ ngơi yên bình, luôn vang lừng tiếng nhã nhạc, thánh thót như giọng hát trong như pha lê, du dương như tiếng đàn dương cầm, và mượt mà như những giòng chữ trong những bài tạp ghi của người nghệ sĩ tài hoa Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang Quỳnh Giao.

Mùa Hè 2014
Nguyễn Hữu Nghiêm

*

Copy từ FB Nhà kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10208092070697547&id=1773354689

Image may contain: 1 person, standing, child and outdoor

  CHUYỆN NGƯỜI ĂN MÀY

  CHUYỆN NGƯỜI ĂN MÀY

Victor sinh ra trong một gia đình nghèo khó ở nước Anh. Cha mẹ của cậu đều dựa vào làm thuê để sinh sống. Mặc dù họ sống trong nghèo khó, nhưng mọi thành viên đều không vì vậy mà đánh mất đi sự chính trực, lòng lương thiện và nhân ái.

Khi còn bé, Victor đã từng gặp một ông lão ăn mày đáng thương gõ cửa xin ăn. Lúc ấy đang là giữa mùa đông, bên ngoài gió tuyết không ngừng thổi, ông lão ăn xin vừa đói vừa lạnh. Mẹ Victor trên tay chỉ còn vẻn vẹn mấy đồng tiền lẻ, nhưng đều đưa hết cho ông lão ăn mày. Victor nhìn mẹ cảm thấy thật khó hiểu..

Người mẹ nói với Victor, “Chúng ta ăn ít đi một bữa thì có thể cứu sống được một mạng người.” Victor lớn lên trong hoàn cảnh luôn chứng kiến những lời nói và việc làm mẫu mực của cha và mẹ.

Vài năm sau đó, Victor khi ấy đã trưởng thành. Trong một lần gặp gỡ bạn bè, anh quen được một cô gái có dung mạo xinh đẹp. Thế rồi rất nhanh, hai người họ đã yêu nhau.

Nhưng, cha của cô gái là một quan tòa, không muốn con gái mình lấy một người thanh niên nghèo chỉ có hai bàn tay trắng. Vì vậy, ông nói, “Khi nào cậu kiếm được đủ 10 ngàn bảng Anh thì mới nhắc tới hôn sự này.”

Mười ngàn bảng Anh, đối với một người trẻ tuổi vừa mới ra ngoài xã hội mà nói, thật sự là điều không thể nào thực hiện được..

Victor thất vọng đi tìm người bạn tốt của mình để tâm sự giải sầu. Daniel, bạn của Victor, là một họa sĩ trẻ tuổi, đang ở nhà vẽ một bức chân dung về người ăn mày. Anh ta mời một người ăn mày đến làm người mẫu. Người này ăn mặc quần áo cũ rách, khom người, một tay chống gậy, một tay cầm bát hướng về phía trước, trên trán còn hằn sâu vài nếp nhăn.

Victor nhìn thấy vậy trong lòng xúc động vì nhớ đến người ăn mày năm xưa ở trước cửa nhà mình. Trò chuyện một lúc, anh biết được người bạn của mình trả cho ông lão đó tiền công là 10 xu/1 giờ. Victor không khỏi xấu hổ vì sự keo kiệt của anh bạn.

Lúc này, người gác cổng trước nhà đến báo, Daniel có người tìm gặp vì thế anh vội đi và để Victor ngồi lại với ông lão ăn mày. Victor nhìn thấy bộ dạng đáng thương của ông lão, tay không tự chủ được mà đưa vào túi quần, móc móc một lúc. Cuối cùng cũng móc ra được một đồng bảng Anh tiền xu. Thừa dịp Daniel còn chưa quay lại, Victor mau chóng nhét đồng bảng Anh tiền xu vào tay ông lão. Ông lão ăn mày ngẩng đầu lên nhìn Victor có chút kinh ngạc, rồi tiếp nhận mà không nói một lời nào.

Sau đó, trong một lần tụ họp bạn bè, Victor gặp lại Daniel, anh bèn hỏi thăm xem bức chân dung người ăn mày của Daniel đã hoàn thành chưa. Daniel nói cho Victor biết, ông lão ăn mày kia vốn dĩ chính là nam tước Alfred Adler, một vị danh gia vọng tộc. Sản nghiệp của ông ấy nhiều vô kể, hàng năm đều tặng tiền từ thiện rất lớn cho các tổ chức và trường đại học. Ông sở dĩ muốn để Daniel vẽ mình thành một lão ăn mày cũng bởi lòng hiếu kỳ, muốn biết xem khi mình là một tên ăn mày thì bộ dạng sẽ như thế nào.

Victor nghe xong tình huống này trong lòng cảm thấy xấu hổ vô cùng vì sự khinh suất lỗ mãng của mình khi đó. Victor nghĩ, “Người ta là phú ông tiền tỷ, còn ngươi chỉ có một đồng bảng Anh tiền xu mà dám bố thí sao? Thật là không biết lượng sức mình!”

Không lâu sau đó, Victor nhận được một bức thư do nam tước Alfred Adler gửi đến. Trong thư ông viết, “Chàng trai trẻ, ta vì sự lương thiện, chính trực và tấm lòng nhân ái của cậu mà cảm thấy tự hào. Ta được Daniel kể cho nghe về câu chuyện tình yêu đẹp đẽ của cậu. Bức thư này có lẽ có thể giúp cậu biến câu chuyện tình yêu đẹp đẽ ấy thành sự thật.”

Trong bức thư còn kèm theo một tấm thiệp chúc mừng, bên trong có tấm chi phiếu 10 ngàn bảng Anh được viết như sau, “Lễ vật thành hôn dành cho anh Victor cùng cô Alister! Một lão ăn mày kính tặng!”                                 

Nguyễn Thị Vịnh

From: TU PHUNG