MỘT SÁNG SÀI GÒN TRONG LÒNG ‘NGƯỜI LẠ’…

Image may contain: night, sky and outdoor

8 SÀI GÒN

MỘT SÁNG SÀI GÒN TRONG LÒNG ‘NGƯỜI LẠ’…

Nhiều thứ đọng lại khiến ai đó muốn buông nhưng không nỡ, cứ đi rồi lại níu giữ như người tình yêu từ lâu lắm. Một kẻ đơn độc tìm tới Sài Gòn rồi yêu nơi này quá thể.

Tôi thích lang thang Sài Gòn tầm 4 – 5h sáng, giữa lúc màn sương mờ con đang chao đảo chưa kịp đáp xuống đất, lơ lửng mờ đục, sáng Sài Gòn mát lạnh dễ chịu và trầm tư vô cùng. Khi ấy sao thấy Sài Gòn như một cụ già tóc ngả bạc đang ngồi trầm tư giữa khung nhạc Trịnh Công Sơn mà ngẫm về cuộc đời. Lắm khi, ôm quá nhiều chuyện, nhiều mảnh tình, nhiều trăn trở và nỗi lo của nhân gian, nên “cụ già” ấy cũng là sầu, là khổ, là lo toan cho nhiều nỗi cùng cực buồn vui.

Sáng Sài Gòn thức dậy thật sớm, có khi tưởng như người Sài Gòn không ngủ. Buổi sáng mát mẻ và thư thái, ngoài công viên người người nhà nhà rủ nhau cùng đi bộ, tập dưỡng sinh, những người trẻ hơn thì tập aerobic, có đám nhảy hip hop đường phố, có nhóm lại tập khiêu vũ cha cha cha. Trên những con phố, gáng hàng rong di động mọc lên phục vụ cho người Sài Gòn vội vã, mùi khói thức ăn bốc lên nghi ngút, thơm lừng. Người Sài Gòn cũng ăn phở Hà Nội, cũng bún bò huế, bún riêu cua, mì quảng của mọi vùng miền nhưng pha vào một vị riêng của Sài Gòn cho hợp với khẩu vị và gu ẩm thực dân Nam.

Buổi sáng Sài Gòn vừa vội vã nhưng cũng rất thong dong. Người Sài Gòn thích uống cà phê cho để bắt đầu ngày mới, như một thói quen hay bản năng nào đó không thể bỏ được. Người ta có thể nhịn ăn sáng nhưng không thể nhịn uống cà phê, có khi thay vì ăn họ lại dùng cà phê thay thế. Cũng như khi nói người Châu Âu uống cà phê như uống sữa thì người Sài Gòn nhâm nhi từng ngụm, còn nhìn cả đời trong ấy chứ chẳng chơi! Cà phê sáng Sài Gòn thu nhỏ tầm nhìn vào một hơi nồng, phóng điểm nhìn ra phố thị đang xoay chuyển không ngừng, cho những người bạn, người đồng nghiệp trong công sở một câu chuyện vui. Lắm khi thấy yêu đời lạ lùng chỉ vì ly cà phê sáng khoái khẩu như vậy.

Sài Gòn tấp nập vội vã, chen vào giữa những cung bậc và nốt lặng trầm mặc như minh chứng của thời gian. Người ta dù có bận tới đâu cũng ráng níu ít phút cho ly cà phê sáng tán gấu cùng tri âm, hay đơn thuần là một vị khách lạ chưa từng quen biết. Đơn giản lắm. Sài Gòn nhanh nhưng cũng kịp mua cho mình tờ báo khi chạy ngang qua góc đường nào đó, đọc và ngẫm.

Người Sài Gòn nhanh lắm, có nhiều người dùng thời gian rãnh rỗi để lướt báo mạng, mạng xã hội… Nhưng thói quen đọc báo in vẫn còn nguyên sơ và thuần khiết như thuở ban đầu của nó. Họ trân trọng như một món quà buổi sáng, phải nhâm nhi ly cà phê đen và đọc tờ báo tuổi trẻ, nhân dân hay pháp luật… “Chà, sáng nay tin hay quá”, “xã hội bây giờ loạn quá”, có người còn khen ” anh phóng viên này viết hay ghê hen”…

Một ngày Sài Gòn bắt đầu như thế, có chút vội vàng, chút tất bật nhưng có khi cũng lãng mạn và thân thương vô cùng. Nhiều thứ đọng lại khiến ai đó muốn buông nhưng không nỡ, cứ đi rồi lại níu giữ như người tình yêu từ lâu lắm. Một kẻ đơn độc tìm tới Sài Gòn rồi yêu nơi này quá thể. Từ những chi tiết nhỏ nhất tới cái ồn ào chen chúc cũng đáng yêu hết sức, thử hỏi phải làm sao để bỏ đi đến một miền nào đó xa xôi.

Mỗi ngày Sài Gòn trôi qua, tôi yêu Sài Gòn của tôi, yêu Sài Gòn của chúng ta.

BESTIE

CÂU CHUYỆN BẮT ĐẦU TỪ MỘT ĐÁM TANG

Image may contain: sky, house and outdoor
Image may contain: house, sky and outdoor
Image may contain: one or more people, people standing and indoor
Image may contain: one or more people, basketball court and indoor
Kimtrong Lam

*CÂU CHUYỆN BẮT ĐẦU TỪ MỘT ĐÁM TANG

(GẦN 300 NGƯỜI VIỆT BỊ ĐẶT TRONG TÌNH TRẠNG LO LẮNG – 4 THÂN NHÂN CỦA TANG GIA ĐÃ BỊ NHIỄM BỆNH)

Câu chuyện dịch bệnh gây quan ngại nhiều nhất trong Cộng đồng người Việt tại Úc trong lúc này liên quan đến đám tang của ông Giuse Huỳnh Văn Trinh (tự Chấn Electrician), đột ngột qua đời vì một cơn đau tim vào ngày 7.7.2020, hưởng thọ 61 tuổi.

Ông “Chấn” là tên mọi người thường gọi dành cho ông với sự ưu ái. Bởi trong công việc là một thợ điện chuyên nghiệp, ông luôn chứng tỏ là người có trách nhiệm, và không coi trọng việc tiền bạc. Gia đình ông cũng vậy, đều là những người có đóng góp tài chánh và công sức cho cộng đồng, nhất là trong lãnh vực tôn giáo.

Chính vì vậy mà đám tang của ông đã có gần 300 người tham dự, dù trong thời điểm bị hạn chế gắt gao bởi dịch bệnh Vũ Hán.

Tang lễ chính của ông đã diễn ra ngày Thứ Bảy 18.7 tại nhà thờ St Brandon, Bankstown với sự đồng tế của 3 Linh mục: Lm chánh xứ Nguyễn Khoa Toàn, Lm phó xứ Đặng Đình Nên và Lm John Hồ (Thuận) từ Wollongong.

Tại đám tang này, một phụ nữ Việt trên 40 tuổi cư ngụ ở vùng Bonnyrigg (được coi là có mối liên hệ mật thiết với tang gia) đã bị dính bệnh Covid-19 trước đó – đã có mặt hầu như đầy đủ trong các Thánh lễ Cầu nguyện tại tư gia, tại Thánh Đường, tại Nhà Quàn cũng như tại Nghĩa Trang.

Người phụ nữ này sau đó cũng tham dự một Thánh Lễ cầu nguyện khác tại Thánh đường Our Lady of Carmel, Mt Pritchard.

Từ khi được xét nghiệm và biết mình bị mắc bệnh. Hành trình đi lại của người phụ nữ này ngày càng được làm rõ. Bộ Y Tế tin rằng “nạn nhân” đã từng đến ăn tại nhà hàng Thai Rock nằm trong vùng Wetherill Park, nay đã có con số lây nhiễm đến trên 40 người.

Tất cả những nơi đông người nhất mà người phụ nữ này có hiện diện nay đều bị đặt trong tầm kiểm soát chặt chẽ.

Bộ Y Tế tiểu bang NSW đã ra thông báo và yêu cầu những người có tham dự các buổi tụ họp sau đây nên đi xét nghiệm:

1. Thánh lễ tại Our Lady of Carmel tại Mt Pritchard, Chúa Nhật ngày 19.7.2020 từ 7:30 Am- 8:30 Am (Thánh lễ tiếng Anh).

2. Thánh lễ phát tang tại St Brendan, Bankstown, Thứ Năm 16.7.20 từ 6:30 Pm-7:30 Pm

3. Thánh lễ an táng tại St Brendan, Bankstown, Thứ Bảy 18.7.20 từ 10:00 Am- 11:00 Am.

4. Thánh lễ tại Our Lady of Carmel tại Mt Pritchard, Chúa Nhật ngày 19.7.2020 từ 7:30 Am- 8:30 Am (Thánh lễ tiếng Anh).

Các buổi nghi thức khác:

1. Đọc kinh và thăm viếng tại nhà quàn Trường An, Thứ Sáu, 17.7.20 từ 1:00 Pm-8:00 Pm

2. Nghi thức an táng tại nghĩa trang Rookwood, Thứ Bảy 18.7.20 từ 11:30 Am- 1:00Pm.

Ban tuyên úy Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Sydney cho biết:

“Theo quy định của Bộ Y Tế Tiểu Bang NSW, BTU và BTV mời gọi những ai đã tham dự các nghi thức cũng như các thánh lễ nói trên hãy đi xét nghiệm và tự cách ly trong khi chờ kết quả.

Đặc biệt trong các thánh lễ cuối tuần này nên hy sinh không tham dự thánh lễ cho đến khi có kết quả xét nghiệm. Vào cuối tuần này sẽ không có các thánh lễ tại nhà thờ Our Lady of Carmel, Mt Pritchard cho đến khi có thông báo mới”.

Hàng trăm người tham dự các Thánh Lễ và Nghi Thức kể trên nay đã được Bộ Y Tế liên lạc để đi xét nghiệm.

Và từ đây các cơ quan y tế đã tìm ra những con số đáng nghi ngại khác.

Tin tức ban đầu cho thấy đã có 4 người bị lây nhiễm từ người phụ nữ trên 40 tuổi này.

Nhưng tin mới nhất mà chúng tôi vừa nhận được cho biết có ít nhất 4 người thân khác trong gia đình tang gia đã bị nhiễm bệnh, sau khi đi xét nghiệm và được Bộ Y Tế xác nhận. Đó là 2 gia đình của Em Gái và Em Trai của người quá cố.

Một nhân viên của tòa soạn báo Chiêu Dương, chị Vũ Thị Loan người đã tham dự Thánh Lễ An Táng của ông Chấn tại nhà thờ St Barndon ở Bankstown cho biết:

“Mặc dù Nhà Thờ đã làm mọi cách, nhưng số người tham dự đông quá nên việc giãn cách xã hội không được thực thi đúng mức”.

Chị Nguyen Thị Oanh, một ca trưởng cũng tham dự Thánh Lễ này nói rằng: “Ngay cả việc dùng nước khử trùng chung và bút ghi danh chung cũng là điều đáng lo ngại”.

Theo chị, người tham dự nên có các thứ ấy trong túi xách, và nên đeo khẩu trang khi đến chỗ đông người.

Chị Oanh nói cho tới nay chị vẫn chưa có kết quả thử nghiệm.

Chị rất lo vì là một Giáo viên chị cần có kết quả sớm để còn trở lại trường. Chị đã kể lại kinh nghiệm “xếp hàng” chờ thử nghiệm tại Fairfield Showground, theo chị: “Mọi việc cũng dễ dàng và mau chóng thôi. Quý vị cứ ngồi trên xe, và nhân viên y tế sẽ làm mọi sự”.

Qua đó, các nhân viên y tế chỉ cần một cây tăm bông ngoáy vô mũi của người đến xét nghiệm là xong, và kết quả sẽ được gửi qua điện thoại bằng tin nhắn.

Bộ phận xét nghiệm cũng ưu tiên ra kết quả cho giới trẻ trước, rồi sau đó mới đến người già và người trung niên. Đó là chuyện của gia đình chị Oanh, khi 2 đứa con có kết quả trước mẹ, dù đi thử nghiệm sau.

Ông Joseph Thắng Nguyễn, người chuyên giúp các tang gia trong lúc bối rối, cũng viết trên facebook rằng ông vẫn an toàn, dù đã cận kề với “nhà héo” trong suốt thời gian dài. Ông cũng như chị Oanh đang nằm nhà để chờ kết quả xét nghiệm từ Bộ Y Tế.

Ông Lê Văn Phát gửi thắc mắc với người viết bài: “Tại sao dưới thời dịch bệnh lây lan như thế này, mà người Công Giáo lại vẫn cứ ngang nhiên cử hành các Thánh Lễ đông người đến như vậy?”

Thật ra Thánh Lễ thường lệ nơi các nhà thờ vẫn giữ khoảng cách 4m vuông cho phép, và số người tham dự ít nhiều tùy theo diện tích. Còn các Thánh Lễ An Táng, ngoài chuyện tỏ lòng thương tiếc với người ra đi, người Công Giáo còn thực hiện Kinh Mười Bốn Mối, trong đó điều răn thứ 7 Chúa dạy con chiên phải “Chôn Xác Kẻ Chết”. Và đó là lý do chính mà ngay các Linh Mục khi biết tin cũng phải đến tham dự, chứ không riêng gì Giáo dân.

Ông Phillip Vinh Lam, giám đốc nhà quàn Trường An, nơi diễn ra tang lễ của ông Chấn, vừa trải qua một cuộc “tẩy trùng” theo lời yêu cầu của Bộ Y Tế. Qua đó toàn bộ khu Tang Nghi Quán đã được một Công ty chuyên về khử trùng đến xịt thuốc trong vòng 4 tiếng đồng hồ để bảo đảm an toàn vệ sinh cho những người đến dự.

Ông Phillip Vinh Lam nói: “Chúng tôi luôn tuân thủ các đòi hỏi của Bộ Y Tế trong thời gian dịch bệnh. Chính vì vậy mà có người cho rằng nhà quàn làm khó, nhưng thực ra là để tránh rắc rối cho cả đôi bên”.

Qua đó, nếu không thực hiện việc giãn cách, nhà quàn sẽ bị phạt 55 ngàn, và người vi phạm sẽ bị phạt trên 1,000 đồng.

Được biết, nhà quàn Trường An là nơi khá rộng rãi để tổ chức các tang lễ, vì thế đa số các thân nhân của người quá cố đã chọn nơi này để diễn ra các nghi thức tiễn đưa.

Ông Phillip Vinh Lam cho biết: “Hiện nay tùy theo phòng ốc, mỗi lần số người tham dự có mặt bên trong là từ 35 tới 46 người. Chúng tôi có nhân viên sắp xếp cho người viếng thăm ngồi giãn cách ở phòng đợi. Cứ 10 người vào thăm ra, thì sẽ có 10 người khác vô”.

Ông Giám Đốc nhà quàn còn cho biết thêm: “Ngoài chuyện thuốc khử trùng lau tay, và sổ ghi danh. Kể từ tuần tới, nhà quàn sẽ có thêm việc đo nhiệt độ tất cả những người đến viếng”.

Mặc dù sự lo ngại ngày càng gia tăng, bởi con số thực sự những người tham dự các Thánh Lễ và Nghi Thức kể trên cũng chưa đi xét nghiệm hết. Đó là chưa kể còn một số đông khác không ghi danh và để lại số điện thoại. Nhưng giới y tế cũng trấn an dư luận rằng:
Số giờ “chung đụng” tại các đám đông này chỉ diễn ra trên dưới một tiếng. Và người mắc bệnh không “mặt đối mặt” với tất cả mọi người, nên mức độ lây nhiễm không cao (low rist).

Vì vậy trước mắt, Bộ Y Tế yêu cầu mọi người có liên quan đến vụ lây nhiễm này, dù không có triệu chứng gì cũng nên tự sống cách ly 14 ngày để bảo vệ sự an toàn cho những người chung quanh.

*Nguyễn Vy Túy

Lộ giá vaccine COVID-19 ở Mỹ, hơn 1 triệu đồng/2 mũi tiêm?

Lộ giá vaccine COVID-19 ở Mỹ, hơn 1 triệu đồng/2 mũi tiêm?

By Tạp Chí Hoa Kỳ – 29 July, 2020

Đầu tuần này, Giám đốc điều hành công ty công nghệ sinh học Mỹ Moderna – Stephane Bagar tuyên bố đã khởi động giai đoạn 3 – thử nghiệm trên người loại vaccine chống virus SARS-CoV-2.

Tờ Financial Times trích dẫn các nguồn tin giấu tên cho biết công ty Moderna có thể định giá vaccine COVID-19 (mRNA-1273) ở mức khoảng 50 – 60 đô la Mỹ (1.150.000 đến 1.390.000 đồng)/liệu trình 2 mũi tiêm.

Mức giá này được đề xuất cho Mỹ và các quốc gia thu nhập cao, đồng thời cao hơn mức giá dự kiến của vaccine COVID-19 do công ty dược phẩm Pfizer (Mỹ) và đối tác BioNTech của Đức sản xuất.

Hai đơn vị này từng đề xuất với chính phủ Mỹ mức giá 39 đô la Mỹ/liệu trình vaccine (tương đương hơn 900.000 đồng).

Reuters, trong khi đó, trích dẫn nguồn thạo tin cho biết Moderna vẫn chưa đưa ra quyết định cuối cùng về giá vaccine.

Phát ngôn viên Moderna cũng từ chối bình luận về giá vaccine do “tính bảo mật của hợp đồng”.

Trong giai đoạn 3, các nhà khoa học của Moderna sẽ tuyển dụng 30.000 tình nguyện viên Mỹ để đảm bảo tính đa dạng của đối tượng được thử nghiệm vaccine.

Các công ty dược phẩm và tổ chức công nghệ sinh học ở Mỹ nói riêng và trên cả thế giới nói chung hiện đang nghiên cứu khoảng 20 loại vaccine COVID-19, và đang chạy đua thử nghiệm trên người để trở thành doanh nghiệp đầu tiên đưa vaccine ra thị trường.

Minh Hạnh

Theo Sputnik News

Nguồn: https://www.tienphong.vn/…/lo-gia-vaccine-covid19-o-my-hon-…

No photo description available.

Những nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của chế độ cộng sản Tàu

Những nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của chế độ cộng sản Tàu

Vũ Văn Lâm (Danlambao) – Ngày hôm nay với đại dịch Covid-19, xuất phát từ bên Tàu, bị cả thế giới lên án vì sự giấu giếm thông tin, làm cho kinh tế thế giới khó khăn, đi đến chỗ tẩy chay hàng hóa Tàu, rồi lũ lụt, đấm đá trong nội bộ thượng từng v.v…; tất cả những thứ đó khiến nhiều người nghĩ đến sự sụp đổ của chế độ hay triều đại Cộng sản Tàu.

Khi nói đến sự sụp đổ của chế độ cộng sản Tàu, nhiều người liên tưởng đến Cộng sản Liên Sô, và tìm những nguyên do ở sự sụp đổ này.

Họ không phải là không có lý, vì chế độ cộng sản Tàu, hay đảng cộng sản Tàu, chủ chốt của chế độ hiện nay, là do chính Liên Sô lập ra.

Có những người khác thì cho rằng không cần tìm kiếm đâu xa, chỉ cần tìm ngay trong lịch sử cận đại Tàu, từ thời Nhà Tống (960-1279) đến thời Nhà Thanh (1643-1912), chúng ta cũng thấy những nguyên do đưa đến sự sụp đổ của chế độ cộng sản Tàu hiện nay.

I ) Nguyên do tìm thấy từ Liên Sô

Phải nói là Cộng sản Tàu và Cộng sản Việt Nam là con đẻ của Liên Sô.

Thật vậy, nhà nước cộng sản là do Lénine lập nên vào năm 1917. Lúc đầu Lénine tin rằng cách mạng cộng sản sẽ xảy ra ở những nước Tây phương. Lúc này Lénine còn tin tưởng ở tư tưởng “cách mạng tất yếu” của Marx. Nhưng sau 2 cuộc nổi dậy, một ở Hung Gia Lợi, một ở bên Đức vào năm 1918 và 1919, cả hai đều thất bại. Lénine quay sang hy vọng ở những nước phương Đông, những nước thuộc địa của phương tây. Lénine nói vào năm 1919: “Con đường cách mạng cộng sản sẽ đi từ New Delhi, qua Bắc kinh, rồi mới tới Paris và Luân đôn.” Nên ông đã chuyển hướng hành động của mình sang những nước chậm tiến, đặc biệt là Tàu. Ông đã gửi những người của mình sang thành lập đảng cộng sản ở những nước này.

Người của Đệ Tam quốc tế do Lénine gửi sang, ông Grigori Voitinski, đã thành lập đảng Cộng sản Tàu, vào năm 1920, chứ không phải vào năm 1921, như chính quyền cộng sản Tàu thường làm lễ kỷ niệm. Năm 1921 là năm đảng này họp Đại hội đầu tiên ở Thượng hải, cũng có sự có mặt của một đại diện Đệ Tam quốc tế Cộng sản, ông Maring, người Hòa Lan, chuyên viên về tổ chức khủng bố, quấy phá. Chính ông này đã đồng chủ trì cuộc họp đầu tiên này. (Theo Jung Chang và John Halliday trong quyển Mao, nhà xuất bản Gallimard- 2006 – trang hình).

Năm 1923, Lénine ký với Tôn Dật Tiên Hiệp ước Thân thiện Sô-Trung, thành lập ra Trường quân sự Hoàng phố. Người điều khiển thực sự trường quân sự này là Borodine, một người cũng do Đệ Tam quốc tế Cộng sản gửi sang, chứ không phải Tưởng Giới Thạch và Chu Ân Lai.

Bởi lẽ đó, ngày hôm nay người ta bàn về sự sụp đổ tương lai của đảng Cộng sản Tàu, họ thường nghĩ đến sự sụp đổ của Liên Sô.

Điều này cũng là một lẽ thường tình. Cha sao con vậy, các cụ Việt Nam thường nói.

Nguyên do sụp đổ của Liên bang Sô Viết có rất nhiều; nhưng một trong những cái chính là chế độ này dựa trên triết lý, tư tưởng vô cùng không tưởng của Marx.

Trong quyển Tuyên ngôn thư Đảng Cộng sản, Marx đã để gần như 1/3 quyển sách chỉ trích những nhà xã hội như Saint Simon, Charles Fourrier, Robert Owen v.v…, cho rằng họ không tưởng, nay ông đưa ra một lý thuyết thực tế và khoa học.

Tuy nhiên từ ngày Lénine cùng đàn em như Mao, Hồ áp dụng lý thuyết của Marx đến nay đã là 100 năm, người ta mới thấy chính Marx là không tưởng.

Không tưởng ở chỗ chủ trương bãi bỏ quyền tư hữu, một nguyên động lực khiến con người làm việc, làm cho những xã hội cộng sản lúc đầu, ngay của cả Lénine, bị rơi vào cảnh “Cha chung không ai khóc; ruộng chung không ai cày.”

Không tưởng ở chỗ nghĩ rằng “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu.”

Lý thuyết của Marx, qua “Duy vật biện chứng và duy vật sử quan”, cho rằng thế giới là do vật chất cấu tạo thành và biến chuyển qua luật biện chứng “Đề – Phản Đề – Tổng Đề”, suy luận ra xã hội qua duy vật sử quan, thì xã hội loài người từ khi thành lập tới nay chỉ là lịch sử của đấu tranh giai cấp.

Ngày hôm nay người ta mới thấy rõ là lý thuyết này phản thiên nhiên, phản con người, phản xã hội, phản kinh tế, phản khoa học và phản cả văn hóa văn minh.

Quan niệm cho rằng vạn vật là do vật chất tạo thành, vào thời Marx (1818-1883), chưa có thuyết nguyên tử của Niels Bohr (1883-1962), theo đó vạn vật là do nguyên tử tạo thành, một nguyên tử gồm có Potron, Electron và Neutron. 

Marx còn cho rằng vật chất biến đổi theo biện chứng pháp. Người ta tự hỏi trong 3 nguyên tố vừa kể, cái nào là Đề, Potron hay Neutron hoặc Electron. Cái nào là Phản đề, cái nào là Tổng Đề. Cho tới ngày hôm nay những nhà duy vật không có câu trả lời.

Con người sinh ra bản chất của nó là muốn sống hòa bình, hòa hợp với chính bản thân nó, với người chung quanh, với xã hội; không bạo động, nó chỉ bạo động vào trường hợp bị bắt buộc; nay Karl Marx chủ trương bạo động, đấu tranh giai cấp là đi ngược lại bản tính con người, ngược lại xã hội.

Marx chủ trương văn minh cộng sản đi ngược lại tất cả những văn minh trước đó, nên cần phải phá hủy tất. Ngày hôm nay người ta nhận thấy văn hóa và văn minh là thế thứ trao truyền, có trước rồi mới có sau; tất nhiên không thể rập khuôn quá khứ, vì như vậy thì không có tiến bộ. Nhưng tiến bộ không có nghĩa là phá hủy tất, vì phá hủy văn hóa và văn minh là tiêu diệt văn hóa và văn minh. Lý thuyết của Marx bị kết án là phản văn minh và văn hóa là ở chỗ đó.

Ngày hôm nay không ai cho rằng hành động của Mao trong Cách mạng Hồng vệ binh đòi phá hủy tất, hành động của Pol Pot giết cả ¼ dân Cam Bốt là những hành động văn hóa và văn minh.

Chính vì lẽ đó tất cả những chế độ cộng sản xây dựng trên lý thuyết sai trái của Marx, chẳng khác nào như lâu đài xây trên bãi cát, chỉ cần sóng to gió lớn, bãi cát xụp xuống sông, xuống biển, là lâu đài đổ theo.

Đây là lý do chính cho những sự sụp đổ của các chế độ cộng sản trong quá khứ và đồng thời cho những chế độ cộng sản còn lại trong tương lai như cộng sản Tàu và cộng sản Việt Nam.

Tất nhiên còn có những nguyên do phụ qua việc quản trị chiếc lâu đài xây trên bãi cát đó của Đảng cộng sản với những người Tổng bí thư.

Những lý do phụ tiếp nữa là sức ép từ bên ngoài, đến từ chiến tranh ý thức hệ, chiến tranh Lạnh; và sự phản kháng từ bên trong đi từ sự bất mãn của dân và sự đấu đá ngay trong lòng đảng cộng sản.

Chúng ta hãy nhìn vào quá khứ của Liên Sô, để suy diễn sự sụp đổ trong tương lai của Cộng sản Tàu.

Ở đây chúng ta không thể đi quá sâu vào lịch sử cận đại Liên Sô, chúng ta chỉ xin nói sơ từ năm 1917 về lịch sử của đảng cộng sản này, trải qua 7 người Tổng bí thư từ Lénine, Staline, Khrouschev, Brejnev, qua Andopov, Tchernenko, cuối cùng là Gorbatchev.

Nhiều người cộng sản và cả một số trí thức thân tả cho rằng đảng cộng sản Liên Sô sụp đổ là do Gorbatchev.

Không phải vậy, lúc Gorbatchev đứng ra nhận gia tài cộng sản, thì căn nhà nền móng Mác Lê đã sụt từng mảng, nguyên vụ chỉ có 10% đất tư nhân mà sản xuất 30% khoai lang trên thị trường, phần còn lại thuộc về đất công, nhà nước, thì số khoai lang bị bỏ thối trên cánh đồng là 30%, rồi 30% còn lại bị hư vì vận chuyển và không chăm sóc trong nhà kho. Có cả trăm chiếc máy cày và xe hơi bị để rỉ sét ở ngoài đồng. Các cửa tiệm không có hàng để bán, ngay cả những tiệm dành cho quan chức chính phủ. Vì thiếu lương thực, năm 1968, năm của Nixon lên làm tổng thống, Liên Sô nhập cảng nhiều nhất lúa mì của Mỹ. Lúc đó là vào thời Tổng bí thư Brejnev.

Người ta còn nhớ vào năm 1964, khi ông này lên ngôi, vì vừa hạ bệ Khrouschev, ông đã dưa ra một chiến lược đánh tư bản, chỉ gồm có 2 sách lược: thượng sách và hạ sách.

Thượng sách là dồn hết sức lực vào việc tấn công tư bản ở mọi nơi trên thế giới, để sớm chấm dứt tư bản, để ngọn cờ cộng sản có thể tung bay ở mọi vòm trời.

Trung sách, nếu thượng sách không thành, thì bước sang trung sách, chia đôi thế giới, lấy trục Sài Gòn, Pnomph Pen, Bangkok, Kaboul, Moscou làm giới tuyến, phía đông thuộc về cộng sản, phía tây thuộc về tư bản.

Hai sách lược đó được khởi đầu bằng một tiền đề: Chiến tranh tư bản và cộng sản tất yếu, nhất định sẽ xảy ra. Đừng nghĩ phía cộng sản và cách mạng yếu hơn phe tư bản. Ngược lại.

Phải công nhận vào lúc Brejnev lên ngôi, phía tư bản Hoa Kỳ gặp những khó khan: Mỹ sa lầy ở Việt Nam, cuộc đảo chính Đệ Nhất Cộng hòa, 2 anh em Tổng thống Diệm bị ám sát, và chỉ sau đó mấy tuần là tới Kennedy v.v…

Chính vì lẽ đó mà Brejnev đã hết mình giúp cộng sản Việt Nam dưới thời Lê Duẫn và gửi quân sang đánh chiếm A Phú Hãn vào năm 1979, cũng như thúc đẩy Liên Sô chạy đua vũ trang không tiền khoáng hậu với Hoa Kỳ. Vào thời Brejnev, Liên Sô sản xuất 5000 chiếc chiến xa, mỗi năm, bằng tổng số toàn thế giới, trong đó có Hoa Kỳ.

Nhưng chỉ 4 năm sau khi chiếm A Phú hãn thì ông chết, vào năm 1983. Trước khi chết ông phải than lên: “Xã hội chủ nghĩa gì mà 1/3 xe chạy ngoài đường là ăn cắp xăng của công, 1/3 bằng cấp là bằng cấp giả, công chức đến sở làm việc là đến để có mặt, sau đó thì đi coi hát hay làm việc riêng.”

Ngày hôm nay trong cuộc đối đầu giữa Trung cộng và Hoa Kỳ, người ta đã ví họ Tập với Bejnev, ngày xưa thì thượng sách rồi trung sách, ngày nay với Tập cận Bình thì “Giấc mơ Trung quốc”, “Chiến lược một vòng đai, một con đường”, “Trung cộng sẽ bắt kịp Hoa Kỳ về khoa học và kỹ thuật vào năm 2025”, rồi “Vượt mặt Hoa Kỳ vào năm 2049”, năm kỷ niệm 100 năm cộng sản cướp được chính quyền.

Có người nói: Cộng sản Tàu và Cộng sản Liên Sô khác nhau. Cộng sản Tàu là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Không, Cộng sản Tàu về bản chất chính vẫn là cộng sản, kinh tế quốc doanh vẫn chiếm ưu thế, và chính phủ lợi dụng điều này để cạnh tranh bất chính trên thị trường quốc tế, vẫn quan niệm đấu tranh giai cấp và bạo động lịch sử, vẫn độc tài, độc đảng.

Trong bài diễn văn đọc vào ngày 13/10/2014, họ Tập tuyên bố: “Đảng Cộng sản chúng ta là đảng Mác xít kiên định và tư tưởng dẫn đường của chúng ta là tư tưởng Mác-Lê-Mao và chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung quốc.”

  1. II)Có người nói rằng không cần tìm kiếm, so sánh đâu xa, mà chỉ cần tìm kiếm ngay trong lịch sử cận đại của Tàu, qua bốn thời đại nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh rồi nhà Thanh, chúng ta cũng sẽ thấy những triều đại này sụp đổ vì nội ưu, tham nhũng, hối lộ, thiếu hụt ngân sách, vì triều đình tiêu xài quá độ, hạn hán hay lũ lụt xảy ra, rồi ngoại loạn, hay cả 2 cùng một lúc, thì chúng ta sẽ tìm ra nguyên nhân của sự sụp đổ triều đại Cộng sản hiện nay:

Triều đại nhà Tống (960-1279): lên ngôi vào năm 960, lúc đầu là kiểm soát toàn xứ Tàu, sau đó bị ngoại loạn, giặc Liêu ở phía tây bắc, giặc Kim ở phía đông bắc, giặc Mông cổ ở phía bắc. Đó là giặc ngoài. Nội ưu đó là triều đình bị lâm vào cảnh tham nhũng, hối lộ, đến cả con rể vua cũng bị đưa ra xử vì tham nhũng, làm cho nhân tài bị thiếu hụt, những cột trụ chính để nâng đỡ triều đình, cũng bị xử tử. Cuối cùng đã bị mất vào tay giặc Mông cổ năm 1279.

Triều đại Mông cổ hay còn được gọi là Nguyên Mông (1279-1368): do Hốt tất Liệt, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn lập lên, là một đế quốc rộng lớn nhất lúc bấy giờ, trải dài từ Á sang Âu, qua Trung Đông, với diện tích khoảng 30 triệu cây số vuông. Tuy nhiên các vua Mông Cổ chỉ có Thành Cát Tư Hãn rồi Hốt Tất Liệt còn khá, còn các vua sau này vẫn mang tính bộ tộc, nhưng đồng thời bị tiêm nhiễm tính tiêu xài, hoang dâm quá độ của những vua chúa Tàu, nhất là ông vua cuối cùng nhà Nguyên, làm cho ngân quỹ thiếu hụt, in tiền ra để tiêu, đưa đến nạn lạm phát, trong khi đó thì thiên tai tới như hạn hán, trồng trọt không được, dân chết đói la liệt. Lấy thí dụ điển hình là gia đình Chu Nguyên Chương, người giật sập chế độ Mông cổ, lập nên nhà Minh. Gia đình ông có 10 người, hai bố mẹ và 8 anh chị em, tất cả đều chết vì đói, chỉ còn lại mình ông, lúc đầu đi ăn xin để sống, sau đó nổi lên làm “giặc”, và đã tiêu diệt quân Mông cổ.

Triều đại nhà Minh (1368-1643): bắt đầu bởi Chu Nguyên Chương năm 1368, sau đó kết thúc với vua Sùng Chính năm 1643, bị giặc nông dân của Lý tự Thành nổi lên, khiến cho ông vua này phải thắt cổ tự tử. Lịch sử nhiều khi lập lại: vẫn bị tiêu xài quá độ, hoang dâm, không biết tin vào ai, phải tin vào bọn hoạn quan, bọn này hoành hành, tham nhũng lối lộ, lũng đoạn triều chính, đưa đến chế độ sụp đổ. Ngay cả Lý Tự Thành, dẫn quân từ nông thôn về thủ đô, mới cướp được chính quyền, bản thân đã ham mê tửu sắc, lại để cho đàn em cướp phá kinh thành, chưa đầy một năm thì nhà Thanh, lúc đó đã lớn mạnh, kéo quân từ đông bắc về diệt Lý Tự Thành, lập nên nhà Thanh.

Nhà Thanh (1643- 1912): Ông vua đầu tiên của nhà Thanh ở nước Tàu là vua Thuận Trị, vì còn nhỏ nên do người chú là Đa Nhĩ Cổn và người mẹ là Hiếu Trang hoàng thái hậu nhiếp chính. Triều Thanh lúc đầu cũng có những vua khá như Khang Hy, Ung Chính, Càn Long, nhưng cuối triều thì không, nhất là bị bà Từ Hy thái hậu lũng đoạn triều chính.

Nếu tìm những nguyên do, qua lịch sử cận đại nước Tàu, để tiên đoán sự sụp đổ của triều đại cộng sản hiện nay, thì cuối triều Thanh là cho ta nhiều lý do nhất: Liệt cường xâu xé nước Tàu, nội loạn nổi lên, đấm đá nội bộ ở ngay thượng tầng, giữa bà Từ Hy với chính cháu của mình được bà đưa lên ngôi vua là Quang tự.

Có giả thuyết cho rằng chính bà đã đầu độc chết vua Quang tự, rồi bà uống thuốc độc chết theo sau vào năm 1908.

Chỉ 3 năm sau thì Cách mạng Tân hợi nổ ra chấm dứt triều đại Mãn Thanh.

Nhìn vào triều đại Cộng sản hiện nay, có nhiều sử gia cho rằng nó giống lúc suy tàn của triều đại Mãn Thanh. Họ không phải là không có lý.

Chúng ta hãy suy xét qua xem.

Suy tàn của nhà Mãn Thanh bắt đầu vào năm 1840 với cuộc Chiến tranh Nha phiến với Anh vào thời vua Đạo Quang (1820-1850), Tàu phải nhượng Hồng Kông cho Anh. Các nước khác, thấy Anh làm vậy có lợi, nên cùng nhau bắt Tàu cũng phải nhượng đất mà người ta gọi là tô giới. Đó là thời Liệt quốc xâu xé nước Tàu. Tám nước gồm Anh, Pháp, Đức, Ý, Mỹ, Nhật, Áo, Nga hợp lại đánh nước Tàu, đi đến Hòa ước Tân sửu năm 1901, đời vua Đạo Quang năm thứ 27, theo đó thì Tàu phải mở cửa buôn bán với Liệt cường cũng như phải nhượng đất.

Không những thế mà còn chiến tranh với Nhật, với Nga.

Đó là ngoại ưu, còn có nội loạn với Thái bình thiên quốc của Hồng Tú Toàn.

Trong khi đó thì ở thượng tầng triều đình, phe bảo thủ đánh với phe cải cách.

Nhìn vào nước Tàu hiện nay với sự cai trị của Đảng Cộng sản, sau khi dịch Covid-19 xuất hiện ở Vũ Hán, vào tháng 12/2019, rồi chính quyền giấu diếm tin tức, để cho người người Tàu đi khắp nơi, lây nhiễm cho toàn thế giới, làm cho cả chục triệu người nhiễm bệnh, hơn 600000 người chết, làm cho thế giới bừng tỉnh, từ chỗ buôn bán với Tàu cộng, nay trở nên chống. Bằng chứng cụ thể là nước Úc, xưa kia buôn bán giao hảo rất tốt với Tàu cộng, nay đứng đầu liên minh gồm 116 nước tố cáo hành động giấu diếm tin tức về nạn Covid-19, để nó lan tràn khắp thế giới.

Nước Tàu của đảng Cộng sản, cầm đầu bởi Tập Cận Bình, hiện nay gây gỗ với mọi người. Những nước chung quanh nước Tàu có 14 nước, thì có 1 nước là Pakistan, thân thiện, còn 13 nước khác hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp chống đối.

Hơn thế nữa họ Tập còn làm tình hình biển Đông trở nên căng thẳng, đòi sáp nhập Đài Loan và ra Luật An ninh quốc gia, thâu hồi tự do của người Hồng Kông.

Đó là chỉ dấu nói lên một phần nào sự giống nhau của thời Bát quốc Liên quân thời Mãn Thanh và tình trạng Trung cộng hiện nay.

Lịch sử lập lại, nhưng không thể nào giống như hai giọt nước.

Rồi tai ương, lũ lụt, đấu đá ở trên thượng tầng Đảng cộng sản Tàu.

Những nội loạn, ngoại ưu, tai ương, lũ lụt, hạn hán, đã làm cho những triều đại từ nhà Tống, sang nhà Nguyên, rồi nhà Minh tới nhà Thanh sụp đổ.

Nhưng những nội loạn, ngoại ưu, tai ương, lũ lụt, đấm đá nội bộ thượng tầng, có làm cho triều đại Cộng sản sụp đổ không?

Đây là một câu hỏi rất lớn. 

Nó cần được đặt ra, suy nghĩ, tìm câu trả lời, có sự đóng góp của mọi người dân Tàu, mà cả những người ngoại quốc, vì việc thay đổi một chế độ, nhất là một chế độ độc tài, độc đảng như chế độ Cộng sản Tàu hiện nay không phải là một chuyện dễ dàng.

(*). Xin xem them những bài về Tàu và về phê bình lý thuyết của Marx, trên: 

http://perso.orange.fr/chuchinam

Paris ngày 28/07/2020

 Chu Chi Nam và Vũ Văn Lâm

 danlambaovn.blogspot.com

ĐỘI QUÂN NGỰA THÀNH TROA PHIÊN BẢN…TÀU

Lê Vi

Theo báo đài chính thống, 13.000 người( chủ yếu là Tàu) đã nhập lậu Việt Nam trong năm nay, tương đương quân số của một sư đoàn.
Những năm trước thì bao nhiêu?
Số người Tàu nhập hợp pháp là bao nhiêu?
Cộng lại hai con số đó đi, sẽ đủ để giật mình với người Tàu.

Khi nhập lậu vào Việt Nam, chắc chắc người Tàu đã có cơ sở lót ổ sẵn, y như người miền Trung, miền Bắc nước ta khi nhập cư ổn định tại Sài Gòn rồi kéo cả họ hàng thân thích cùng vào lập nghiệp.
Người Bắc nhập cư miền Nam ko nguy hiểm nhưng người Tàu nhập lậu Việt Nam là một mối nguy cho quốc gia, vì họ nằm vùng sẵn để có dịp là hành động. Cũng như chúng ta, họ yêu tổ quốc họ và sẵn sàng giúp đỡ nhà nước Tàu khi được kêu gọi.

Trong 1 triệu người Bắc di cư vào Nam năm 1954 có rất nhiều gián điệp chính quyền miền Bắc cài vào.
Trong hàng triệu người Việt di cư qua Mỹ, chắc chắc là có gián điệp nhận lãnh sứ mạng quốc gia giao phó.
Trong số các sư đoàn dân Tàu ở Việt Nam có bao nhiêu là gián điệp Hoa Nam?

Cho tới giờ này, người Tàu chỉ mới phá sơ sơ thôi mà ta đã điêu đứng rồi. Chúng mà muốn phá hoại- thật sự- ngay trong nội địa Việt Nam thì nhà chức trách khó lòng mà đối phó, do lâu nay nhà chức trách chỉ đặt trọng tâm “thế lực thù địch” vào dân chúng chứ ko đặt nó vào người Tàu.
Cứ nhìn hàng tấn ma túy mà họ vận chuyển dễ như bỡn vào Sài gòn là biết.
Cứ nhìn cách họ nhập lậu người thì biết.
Chỉ cần 200 người Tàu nhận lãnh sứ mệnh tổ quốc giao phó mang virus Vũ Hán đi khắp nội địa Việt Nam để gieo rắc thì nước ta đủ chết đứng.

Đến nay, các cơ quan chịu trách nhiệm xuất nhập cảnh chưa thấy ai chịu trách nhiệm gì. Giống như kiểm lâm nước ta vậy, chẳng chịu trách nhiệm gì dù rừng mất hàng ngày, còn nhà của họ thì đầy gỗ quý.
Người Tàu đông hơn rừng nhưng ko vô tri như rừng.

Nên nhớ, chương trình giáo dục của Tàu dạy con dân họ chán ghét người Việt, cho người Việt là kẻ xâm lăng, chiếm đất và phản bội cùng nhiều tính xấu khác.

Châu chấu Tàu bay qua Việt Nam còn bay về chứ người Tàu bay qua rồi, đưa họ quay về ko phải dễ một khi họ đã mang ý đồ thâm độc trong người.

Fb Ngọc Vinh

Một số hình ảnh về chuyến bay đặc biệt của Vietnam Airlines đón công dân Việt Nam từ Guinea Xích đạo về nước

Võ Hồng Ly is with Võ Hồng Ly.
29.07.2020

Dưới đây là một số hình ảnh về chuyến bay đặc biệt của Vietnam Airlines đón công dân Việt Nam từ Guinea Xích đạo về nước đã hạ cánh an toàn xuống sân bay quốc tế Nội Bài, Hà Nội, vào lúc 15h10 phút ngày hôm nay, 29/7/2020.

Trong số 219 người lao động Việt trở về, có 129 người đã nhiễm Virus Tàu cộng nên chuyến bay đã được thực hiện theo quy trình đặc biệt về an toàn y tế nhất từ trước đến nay.

Hơn 120 hành khách dương tính virus Tàu cộng sức khoẻ ổn định. Trong quá trình bay, 2 hành khách khó thở đã được cấp cứu kịp thời để tiếp tục hành trình.

5 xe cứu thương được điều đến túc trực tại sân bay để đưa 5 bệnh nhân nặng rời đi sớm nhất. Các bệnh nhân còn lại cũng được về Bệnh viện Nhiệt đới T.Ư cơ sở 2 tại H.Đông Anh (Hà Nội) ngay sau đó.
____
Nguồn :

1- Hình : Thành Đạt /TTXVN
https://www.vietnamplus.vn/hinh-anh-chuyen-bay-d…/654426.vnp

2- https://m.thanhnien.vn/…/chuyen-bay-don-129-nguoi-viet-nhie…

Image may contain: 3 people, people sitting
Image may contain: sky and outdoor
Image may contain: one or more people, people standing and outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor
No photo description available.
+10

THÁNH NỮ MARTHA

THÁNH NỮ MARTHA

Thánh nữ Martha cùng sống với em gái là Maria và em trai là Lazarus tại làng Bethany, gần Jerusalem.  Vào cuối quãng đời công khai, Chúa Giêsu thường ghé thăm nhà của ba người bạn thân thiết này.  Những mối cảm tình thắm thiết đã liên kết ba vị với Chúa Giêsu.

1.Tình yêu Thầy Chí Thánh và niềm tin vào sự giúp đỡ của Người.

Ngày lễ kính thánh nữ Martha là dịp để chúng ta đi vào ngôi nhà thường được diễm phúc đón tiếp sự hiện diện của Chúa Giêsu tại Bethany.  Tại đây, gia đình của Martha, Maria, và Lazarus, Chúa tìm được sự nghỉ ngơi sau những chuyến rao giảng mệt nhoài qua những thị thành.  Chúa Giêsu đã tìm đến nương ẩn nơi những bạn bè của Người, nhất là trong những ngày sau cùng khi Người thường xuyên gặp hiểu lầm và khinh bỉ, đặc biệt là từ những người Biệt Phái.  Những tình cảm Thầy Chí Thánh dành cho những người bạn của Người tại Bethany đã được thánh Gioan ghi lại trong Phúc Âm: Chúa Giêsu yêu thương Martha, hai người em của bà là Maria và Lazarus.  Quả thật, họ là những người bạn thiết của Chúa!

Phúc Âm thánh lễ hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu đến thăm gia đình này vào bốn ngày sau khi Lazarus qua đời.  Trước đó, khi Lazarus đang bệnh nặng, hai người chị, đầy lòng tin tưởng, đã gửi tin báo cho Thầy Chí Thánh: Lạy Thầy, người Thầy yêu đang ốm nặng.  Khi ấy, Chúa Giêsu còn ở tại Galilê, cách Bethany một vài ngày đàng.  Khi nghe tin Lazarus lâm bệnh, Chúa vẫn lưu lại nơi ấy thêm hai ngày nữa.  Sau đó, Người nói với các môn đệ: ‘Nào chúng ta cùng trở lại Judaea.’  Nhưng khi Chúa đến nơi, Lazarus đã chết và chôn trong mồ được bốn ngày.

Lúc nào cũng lưu tâm sốt sắng, nên Martha đã nhận ra Chúa Giêsu khi Người còn ở đàng xa, và đã kịp ra chào đón.  Mặc dù phản ứng của Chúa xem ra không chiều theo ước nguyện của Martha, nhưng tình yêu và niềm tin của thánh nữ vẫn không suy giảm.  Martha thưa với Chúa – Nếu Thầy có mặt ở đây, thì em con không chết.  Bà đã tế nhị trách Chúa vì đã không đến sớm hơn.  Martha hy vọng Chúa chữa lành cho em bà khi còn đang bệnh.  Nhưng Chúa Giêsu, với một cử chỉ thân thiện, có lẽ mỉm cười, đã làm bà phải ngạc nhiên: Em con sẽ sống lại.  Martha đón nhận những lời an ủi ấy, nhưng hiểu về ý nghĩa của ngày phục sinh, nên đã đáp lại: Con biết em con sẽ sống lại trong ngày sau hết.  Câu đáp của thánh nữ đã mở đường cho lời tuyên bố của Chúa Giêsu về thần tính của Người: Ta là sự Sống Lại và là Sự Sống; ai tin nơi Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống, và bất cứ ai sống mà tin Ta thì sẽ không phải chết bao giờ.  Rồi Chúa hỏi thẳng Martha: Con có tin không?  Ai có thể phản kháng uy quyền tối thượng của lời tuyên bố: Ta là sự Sống Lại và là Sự Sống…  Ta là nguyên nhân hiện hữu của mọi vật hiện hữu.  Chúa Giêsu là Sự Sống, không chỉ là Sự Sống đời sau, mà còn là Sự Sống hiện tại, trong đó, ơn thánh hoạt động trong linh hồn chúng ta đang khi chúng ta đang chiến đấu.  Những lời ngoại thường này trấn an và lôi kéo chúng ta đến gần Chúa Kitô hơn nữa.  Những lời ấy cũng đưa chúng ta đến chỗ nhận những lời đáp của thánh nữ Martha như của chính chúng ta: Con tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, đã xuống thế gian.  Sau đó một lúc, Chúa Giêsu đã làm phép lạ, cho Lazarus sống lại từ cõi chết.

Chúng ta thán phục đức tin và muốn noi gương thánh Martha trong mối tương quan tín thác của thánh nữ vào Thầy Chí Thánh: Bạn đã nhìn thấy tình cảm và niềm tin mà những người bạn thân của Chúa Kitô đã xử đối với Người hay chưa?  Một cách hết sức tự nhiên, hai người chị của Lazarus đã ‘trách’ Chúa Kitô vì đã đi vắng: ‘Nếu như Thầy có mặt ở đây!’

Bạn hãy thưa với Chúa trong niềm tin tưởng an bình: “Xin dạy chúng con biết đối xử với Chúa bằng tình thân thắm thiết như Martha, Maria, và Lazarus, như mười hai Tông Đồ đầu tiên đã đối xử với Chúa, ngay cả như thời gian ban đầu, khi các ngài theo Chúa có lẽ không vì những lý do siêu nhiên nào cả.”

  1. 2.  Nhân tính rất thánh của Chúa Giêsu.

Một thời gian sau, gần đến lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu lại ghé thăm các người bạn: Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu đến Bethany, nơi Lazarus đã chết, người đã được Chúa Giêsu cho sống lại từ cõi chết.  Ở đó, họ dọn bữa tối thết đãi Chúa Giêsu; Martha lo hầu bàn, còn Lazarus là một trong những người cùng dự tiệc với Người.

Martha lo hầu bàn… Chắc hẳn thánh nữ đã thực hiện điều này với một lòng tri ân.  Đấng Cứu Thế đang có mặt tại nhà; Thiên Chúa cần được thánh nữ phụng sự.  Thánh nữ được phụng sự Thiên Chúa.  Thiên Chúa làm người để đồng hóa với những nhu cầu nhân loại, thành ra chúng ta có thể học biết yêu mến Người qua Nhân Tính Rất Thánh của Người và có thể trở nên những bạn thân của Người.  Chúng ta thỉnh thoảng hãy nhớ lại chính Chúa Giêsu đã từng ở Nazareth, ở Capharnaum, từng ở Bethany xưa, cũng đang nóng lòng đợi chờ chúng ta tại nhà tạm gần nhất.  Người đang cần sự quan tâm và phục vụ của chúng ta.  Quả thật, tôi luôn luôn gọi nhà tạm của chúng ta là nhà Bethany.  Bạn hãy trở nên một bạn thân của Thầy Chí Thánh – như Lazarus, Martha, và Maria – và rồi bạn đừng hỏi tôi tại sao tôi lại gọi các nhà tạm là nhà Bethany nữa.  Chúa Kitô đang hiện diện một cách bí tích tại đó.  Chúng ta đừng hờ hững với Người.  Hằng ngày, chúng ta hãy đến kính viếng và bầu bạn với Người, không hấp tấp, không lo ra, nhất là trong những giờ phút quí báu sau khi được lãnh nhận Thánh Thể.  Thời gian ấy lợi ích biết bao cho chúng ta!

Theo thánh Thomas, đối với Thiên Chúa, nhập thể là phương thức hữu hiệu và lợi ích nhất trong việc cứu độ nhân loại.  Thánh nhân nêu ra các lý do sau: đối với đức tin – điều ấy dễ tin hơn, bởi vì chính Thiên Chúa là Đấng phán dạy; đối với đức cậy – ý chí cứu độ của Thiên Chúa được biểu trưng qua bằng chứng lớn lao này; đối với đức ái – bởi vì không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người hiến mạng sống vì bạn hữu; và đối với chính các hành vi của tình yêu – bởi vì Thiên Chúa trở nên gương mẫu cho chúng ta.  Qua việc nhập thể, Thiên Chúa đã tỏ ra giá trị lớn lao của từng con người.  Qua sự khiêm nhượng, Thiên Chúa đã chà đạp tính kiêu ngạo của chúng ta…

Qua Nhân Tính thánh thiện Chúa Giêsu, tình yêu Thiên Chúa đã mặc lấy hình hài nhân loại vì chúng ta.  Hành vi này mở ra cho chúng ta một cánh cửa dẫn đến chỗ kết hợp với Thiên Chúa, Cha của chúng ta.  Do đó, cuộc sống Kitô hữu hệ tại ở việc yêu mến, noi gương, và theo bước Chúa Kitô.  Chúng ta được phấn khích nhờ tấm gương đời sống Chúa Kitô và nhờ tình thân ái giữa chúng ta với Người. 

Mục tiêu chính của việc nên thánh không phải là cuộc chiến chống lại tội lỗi, không phải là vấn đề tránh lánh điều xấu, nhưng là việc yêu mến, noi gương Thầy Chí Thánh, Đấng đi khắp nơi thi ân giáng phúc…  Cuộc sống Kitô hữu là một cuộc sống đầy nhân tính.  Trái tim chúng ta có một vai trò quan trọng trong việc nên thánh bởi vì Thiên Chúa đã đoái thương trở nên con người.  Nếu chúng ta không quan tâm đến phương diện tình cảm trong đời sống đạo đức, và dễ dãi trao gửi con tim chúng ta cho các thụ tạo, tình thân giữa chúng ta với Thầy Chí Thánh sẽ gặp nguy hại, và sức mạnh ý chí của chúng ta không đủ sức giúp chúng ta vươn lên trên con đường hẹp của sự thánh thiện.  Vì vậy, chúng ta luôn luôn phải nỗ lực ý thức rằng Chúa đang gần bên chúng ta.  Chúng ta có thể dùng trí tưởng tượng để hình dung Chúa Kitô, Đấng đã giáng sinh tại Bêlem, đã lao động nhọc nhằn tại Nazareth, đã có những người bạn thân thiện, và đã quí trọng cuộc sống trần gian của Người.

Ước chi chúng ta biết học từ nơi những người bạn của Chúa Kitô để đối xử với Người trong niềm tôn kính sâu xa, bởi vì Chúa chúng ta là Thiên Chúa.  Đồng thời, chúng ta cũng hãy tìm đến nương tựa nơi Chúa với một niềm tin tưởng vô bờ, bởi vì Chúa là Người Bạn của chúng ta, mỗi ngày Người hằng tìm kiếm và ước ao sống gần gũi với chúng ta.

  1. 3Tình thân với Chúa làm cho cuộc sống trở nên dễ dàng.

Một lần kia, Chúa Giêsu và các môn đệ ghé lại nhà các bạn của Người tại Bethany trên đường lên Jerusalem.  Martha và Maria đã thết đãi và chuẩn bị những thức cần thiết để chứng tỏ lòng hiếu khách với Thầy Chí Thánh và những môn đệ của Người.  Nhưng Maria – có lẽ khi ấy Chúa Giêsu vừa đến chưa bao lâu – đã ngồi lại dưới chân Chúa và lắng nghe Người, trong khi Martha bận bịu một mình.  Maria quên tất cả để chỉ lắng nghe lời Thầy Chí Thánh.  Tình yêu đã lôi cuốn Maria ở lại dưới chân Chúa.  Tập quán lắng nghe Chúa và sự đói khát lời Người minh chứng rằng đây không phải là cuộc gặp gỡ lần đầu, nhưng là một sự đồng cảm hiếm thấy.

Martha chắc chắn không hững hờ với lời Chúa.  Thánh nữ nóng lòng muốn nghe, nhưng vì phải bận bịu công việc.  Không có Martha, Chúa Giêsu vẫn hướng câu chuyện của Người về bình diện trên cao.  Điều ấy, đối với Martha, càng làm Chúa trở nên lôi cuốn hơn nữa.  Vì thế, Martha cảm thấy khó chịu và bực bội vì gánh nặng công việc.  Trong lúc đó, thánh nữ lại thấy em mình dưới chân Chúa.  Theo trình thuật Phúc Âm thánh Luca: Hơi khó chịu, nhưng đầy tin tưởng, thánh nữ đến và thưa Chúa: Lạy Thầy, Thầy không thấy em con để con phục vụ một mình sao?  Xin Thầy bảo em con giúp con với.  Martha đã đến với Chúa trong niềm tin tưởng!

Chúa Giêsu đã đáp lại một cách nói thân mật bằng cách lặp đi lặp lại tên thánh nữ: Martha, Martha, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện quá; chỉ có một điều cần mà thôi. Maria có lẽ cũng sẵn lòng giúp đỡ chị, nhưng đã không quên điều thiết yếu: đó là chọn Chúa Giêsu làm tâm điểm chú ý và trung tâm cuộc sống của mình.  Chúa Giêsu đã đề cao điều ấy – tức là tình yêu của Maria.

Ngay cả những công việc của Chúa cũng đừng làm chúng ta quên mất Chúa.  Martha sẽ không bao giờ quên được lời nhắc nhở thân thiết ấy của Chúa.  Công việc là điều không thể lơ là, nhưng đừng vì công việc mà hạ Chúa Kitô xuống hàng thứ yếu.

Những hoạt động và lo toan của chúng ta mặc dù trực tiếp qui hướng về Chúa, nhưng chúng ta cũng đừng bao giờ vì chúng mà quên lãng điều duy nhất cần thiết: đó là chính Chúa Kitô.  Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta cần nhớ: đừng bao giờ để những điều xem ra hết sức quan trọng, chẳng hạn như công việc, thu nhập tài chánh, những tương giao xã hội, vượt quá địa vị của cuộc sống gia đình. Những điều ấy không đáng buộc cuộc sống gia đình phải chịu tổn thiệt. Chỉ trong những hoàn cảnh ngoại thường, người gia trưởng mới phải làm việc xa nhà, chẳng hạn như những người di cư hoặc thủy thủ. Nếu người cha hoặc người mẹ trong gia đình kiếm được nhiều tiền mà thiếu sót bổn phận đối với con cái, thử hỏi kết quả sẽ như thế nào?

Đức Thánh Trinh Nữ, Đấng muôn đời được hưởng sự hiện diện hồng phúc của Chúa Kitô trên thiên quốc, sẽ nài xin cho chúng ta ơn biết trân trọng hơn nữa mối thân tình thắm thiết với Thầy Chí Thánh. M ẹ sẽ dạy chúng ta biết chuyên cần những công việc của Chúa mà không quên mất Chúa. Trước mặt Chúa Giêsu, Mẹ sẽ cầu bầu cho chúng ta biết coi trọng giá trị gia đình hơn những mối lợi khác.

Nguồn: http://www.dongcong.net/  

From: Langthangchieutim

Nghỉ Hè Ở Mallorca

Mời xem thiên tình sử chỉ có ở Việt Nam.

Hy-Văn

Nghỉ Hè Ở Mallorca

– Phạm Tín An Ninh –

Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha, nằm trong quần đảo Balearic. Trước khi đến đây, vì nghĩ là đảo, nên tưởng chỉ có rừng núi và biển cùng một vài làng mạc hay khu phố nhỏ, nhưng tôi rất ngạc nhiên khi phi cơ đáp xuống phi trường Palma rộng lớn, kiến trúc tân kỳ, sang trọng còn hơn nhiều phi trường quốc tế khác mà tôi đã từng đi qua. Palma là thủ phủ tráng lệ của Mallorca, nằm trên một dãy đồi cao nhìn xuống biển xanh. Đặc biệt khu nhà thờ Cathedral nằm bên cạnh giáo đường Mussulman, gồm những kiến trúc độc đáo, nổi tiếng, theo kiểu Mediterranean Gothic từ thế kỷ thứ 13.

Chiếc xe bus của công ty du lịch đưa chúng tôi đi qua vài thành phố cảng, sang trọng và sầm uất, nằm dọc theo bờ biển, để đến Alcudia, khu nghỉ mát nằm phía đông bắc Palma chừng ba giờ xe. Chúng tôi chọn nơi này, vì bờ biển đẹp, một cái vịnh nhỏ, nằm khuất sau dãy núi Victoria, nên không có sóng và khá an toàn cho trẻ em. Những em bé năm, sáu tuổi có thể lội ra cách bờ 50-60 mét.

Thực ra kỳ nghỉ hè này chỉ là món nợ mà vợ chồng tôi phải trả cho con bé cháu nội. Trước đây hai năm tôi hứa với cô bé là sẽ thưởng một kỳ nghỉ hè hai tuần lễ ở Mallorca nếu nó đọc và viết được tiếng Việt

Chúng tôi ở trong một khách sạn, đi bộ ra biển chừng vài phút. Đa số khách sạn ở vùng này giống như những khu apartment. Mỗi phòng trọ, ngoài các phòng ngủ, còn có phòng khách và bếp với đầy đủ dụng cụ nấu ăn. Ở Bắc Âu thời tiết lạnh đến bảy, tám tháng, không có nhiều dịp được ra biển tắm, nên con bé cháu nội rất mê biển. Sáng nào, mới vừa thức dậy, con bé cũng giục ông bà nội ra biển, mãi đến chiều, khi trời sắp tắt nắng mới chịu trở về. Đã vậy khi về đến khách sạn, cô bé còn xin được tiếp tục bơi lội trong hồ tắm của khách sạn đến tối mịt mới chịu vào phòng. Trong khi bà xã làm thức ăn, tôi có nhiệm vụ ngồi trên bờ hồ trông chừng con bé.

Ở đây, hầu hết khách du lịch đến từ Âu Châu, đa số là người Bắc Âu và Đức. Suốt tuần lễ đầu tiên, tôi không gặp người Á Châu nào, ngoại trừ gia đình người Tàu làm chủ một nhà hàng buffet, sinh sống ở đây đã lâu năm. Một hôm, khi nằm trên chiếc ghế dựa bên hồ tắm nhìn trời, bất ngờ nghe cô bé cháu nội nói chuyện bằng tiếng Việt với một người nào đó. Nhìn xuống hồ tôi nhận ra một cô gái tóc đen đang tắm và đùa giỡn với con bé. Thấy tôi nhìn, cô gái lạ đưa tay vẫy, và nở một nụ cười chào tôi. Giữa nơi xa lạ, người đồng hương dễ quen nhau.

Trưa hôm sau, trong lúc vợ chồng tôi nằm trốn nắng dưới cây dù lớn ngoài bãi tắm, con bé cháu nội dắt tay cô gái đến chào chúng tôi. Cô nói tiếng Việt chưa sõi, tự giới thiệu tên mình là Lam Khê, khoảng chừng 19, 20 tuổi, khuôn mặt khá xinh với đôi mắt thật to, tự nhiên dễ mến. Nhưng điều làm tôi chú ý chính là cái tên Lam Khê, trùng hợp với một địa danh vẫn còn đậm trong ký ức, cho dù cuộc đời thăng trầm lưu lạc đây đó của tôi còn có biết bao nhiêu cái tên để nhớ.

Buổi chiều, khi vợ chồng tôi và cô bé cháu nội đang ăn tối trong nhà hàng buffet của người chủ gốc Tàu thì bất ngờ thấy Lam Khê đi vào cùng với một người đàn bà Việt Nam và một người đàn ông ngoại quốc. Có lẽ Lam Khê đã kể về chúng tôi, nên cả hai người đến chào chúng tôi. Khi đứng lên bắt tay bà mẹ, tôi bất ngờ đến giật mình khi nhận ra người đàn bà này chính là người mà tôi đã nghĩ tới sáng nay khi gặp Lam Khê. Trong khi tôi đang ngạc nhiên và thoáng chút suy nghĩ về những cuộc hạnh ngộ bất ngờ trong đời mình, thì bà nở nụ cười giới thiệu người đàn ông ngoại quốc đi bên cạnh:

– Đây là ông xã em. Anh người Đức. Chúng em sống ở thành phố Hamburg.

Tôi đưa tay bắt tay và gật đầu chào người đàn ông, nhưng lại hỏi bà:

– Xin lỗi, tên bà có phải là Hà Giang?

– Sao ông bà biết tên tôi ? Người đàn bà trố mắt nhìn chúng tôi ngạc nhiên.

– Không ngờ tôi lại gặp bà ở đây – Tôi vừa nói vừa kéo ghế mời cả ba người – Hóa ra chúng ta đã từng gặp nhau. Tối nay, xin phép cho chúng tôi được mời ông bà và cháu Lam Khê.

Bà ngồi xuống bên cạnh vợ tôi, nét ngạc nhiên vẫn còn nguyên trên mặt. Để làm dịu bớt không khí căng thẳng, tôi giải thích:

– Tôi biết bà khi tôi đang ở tù ngoài miền Bắc. Sáng nay khi gặp và biết tên cháu Lam Khê, tôi đã nghĩ đến bà. Bởi cái tên Lam Khê, tôi và đám bạn tù không thể nào quên. Không ngờ bây giờ lại gặp bà ở đây. Đúng là trái đất thật tròn. Xin cám ơn tình cảm và lòng tốt của bà đã dành cho chúng tôi trong những ngày sa cơ khốn khó.

Bà tròn mắt nhìn tôi dò xét. Suốt bữa ăn, chúng tôi nhắc lại những ngày vui buồn ở vùng núi rừng xa xăm ấy. Trong khung cảnh vui vẻ, nhưng nhìn bà với đôi mắt đăm chiêu và nụ cười không trọn, tôi có cảm giác bà đang ưu tư một điều gì đó.

oOo

Lam Khê, cái tên khá đẹp đó lại là một khu núi rừng Thanh Hóa, tiêu điều hoang vắng, nằm sát biên giới Lào-Việt, mà bọn tù “cải tạo” chúng tôi bị đưa đến đây để phát rừng trồng cây, xây dựng một lâm trường, trong mùa hè nắng và gió Lào muốn cháy cả thịt da.

Ngày đầu mới đến, giữa một khu núi rừng xa xôi hẻo lánh, chúng tôi chỉ thấy có hai căn nhà lá cọ vừa mới dựng lên, trong đó chỉ có vài người ở. Họ được giới thiệu là “những bảo vệ và cán bộ lâm trường”. Điều làm chúng tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú là sự có mặt của một cô con gái trẻ, trông dáng dấp e ấp thư sinh, mà lại là “thủ trưởng” toàn bộ lâm trường này. Tôi nhớ một câu ví von của anh bạn tù nào đó: “hoa lạc giữa rừng gươm”!

Cả đội tù chúng tôi trên sáu mươi người được lệnh ngồi trên một bãi cỏ bên bìa rừng, để “nghe nữ đồng chí giám đốc lâm trường lên lớp”. Mặc một bộ đồ công nhân màu xanh, rộng thùng thình, khuôn mặt không một chút phấn son, nhưng trông khá xinh với đôi mắt thật to và buồn. Cô chào chúng tôi bằng một nụ cười, nói năng từ tốn, tự giới thiệu tên là Hà Giang, trước khi nói về địa thế, đặc tính khu rừng, cách thức phát hoang và phương pháp an toàn. Cô gọi chúng tôi là “các chú” và xưng mình là “em”. Sự kiện chưa từng thấy trong những năm tù. Cuối cùng cô nhờ anh đội trưởng cắt cử cho cô năm người để cô hướng dẫn việc đo đạc, cắm cọc, căng giây. Tôi được may mắn nằm trong năm thằng được chọn.

Dường như từ ngày có chúng tôi, đôi mắt của cô trông bớt buồn hơn. Nhiều lúc cô đùa giỡn rất thân tình. Mỗi ngày năm đứa chúng tôi theo cô vào rừng để đo đạc. Những lúc ấy cô thường ngồi tâm tình. Kể về đời mình và thường hỏi mỗi người chúng tôi về hoàn cảnh cha mẹ, vợ con ở quê nhà. Nghe chúng tôi kể sự gian truân của gia đình cùng nỗi nhớ thương vô vọng, nhiều lần cô đã lau nước mắt. Thấy một anh đeo trên cổ tấm ảnh của vợ lồng trong mảnh gỗ mun nhỏ, cô xin được xem rồi bảo nhỏ “các chú thật chung tình”.

Hà Giang là một sinh viên giỏi, được gửi sang Đông Đức học về Lâm Nghiệp.  Sau khi tốt nghiệp trở về đúng vào lúc đảng Cộng Sản phát động phong trào “trí thức đi thực tế”, cô được đưa lên Lào Cai, hướng dẫn những người dân tộc trồng và bảo vệ rừng. Mới đến Lào Cai vài tháng, chưa quen với khí hậu khắc nghiệt và tập quán địa phương, thì giặc “bành trướng” Trung Quốc tràn qua biên giới “dạy cho người anh em một bài học”. Rất may mắn, lúc ấy cô đang về học một lớp chính trị ở Hà Nội, nên thoát nạn và được Bộ điều vào Thanh Hóa để thành lập lâm trường mới. Đó chính là lâm trường mà chúng tôi đang có mặt. Thực ra đây chỉ là một vùng núi rừng hoang vắng, với ban điều hành gồm năm người, do cô làm giám đốc, cơ sở chỉ là hai căn nhà lá, công nhân là 60 thằng tù khổ sai bọn tôi, và dụng cụ chỉ có toàn dao phát rừng và vài cái cuốc chim!

Một hôm, thấy thấp thoáng một người đàn ông lạ, chúng tôi hỏi cô. Ngập ngừng một lúc thì cô mới buồn bã tâm sự. Người đàn ông ấy là một công nhân máy kéo tiên tiến, đang phục vụ ở một nông trường, cách nơi này hơn ba mươi cây số, có nhiều tuổi đảng, được đảng bộ sắp xếp để lập gia đình với cô, làm gương cho kế hoạch “trí thức cùng chung sống với công nhân” của đảng mới đề ra. Mục đích làm cho đám công nhân ít học, phấn khởi trước sự ưu ái của đảng, đem hết sức lực ra phục vụ và trung thành với đảng. Đây cũng là “phần thưởng” để cô được bổ nhậm về lâm trường mới này với chức danh giám đốc!

Chúng tôi tròn mắt ngạc nhiên, vì gã công nhân tiên tiến này trông lớn hơn cô nhiều tuổi, rỗ mặt, đen đủi, cục mịch. Không có điều nào hợp với cô con gái có học và dễ thương này. Cô còn bảo là trong trái tim cô không hề có một ngăn nhỏ nào dành cho anh ta, nhưng không dám làm trái ý đảng, sẽ bị kỷ luật, trù dập với nhiều lý do khác, vì vậy cô phải gật đầu, nhưng tìm đủ mọi cách trì hoãn đám cưới được ngày nào hay ngày ấy. Cô nói là cô đang trong thời kỳ “nín thở qua sông”!

Mặc dù có cảm tình và tội nghiệp Hà Giang, nhưng chúng tôi luôn “đề cao cảnh giác” không dám nói điều gì. Vì kinh nghiệm cho biết, chung quanh chúng tôi lúc nào cũng có nhiều cái bẫy, và chuyện “mỹ nhân kế” không phải bây giờ mới có. Một hôm, trong lúc ngồi nghỉ trưa, cô lấy ra từ chiếc bao nhỏ, mời chúng tôi mỗi người một củ khoai lang luộc, rồi buột miệng hỏi:

– Nghe nói các anh ở trong trại bị bọn công an hành hạ dữ lắm phải không?

– Bọn tôi là những người thua trận, thì chuyện bị tù đày, hành hạ cũng là lẽ thường tình – Một anh bạn tù trong bọn tôi trả lời lấy lệ.

Cô trầm ngâm giây lát rồi lên tiếng:

– Theo em thì trong cuộc chiến ấy, tất cả chúng ta, miền Bắc và miền Nam, chẳng có ai chiến thắng cả. Chỉ có những dân tộc bất hạnh với đám cầm quyền mê muội, mới có chuyện cầm tù và hành hạ lẫn nhau thôi. Chuyện lạ đời, một lũ ngu dốt lại được giao trách nhiệm “giáo dục, cải tạo” những người trí thức, mà đòi hỏi người ta phải tiến bộ tốt! Khôi hài thật!

Những lần nói chuyện sau đó cô thường bảo là cô rất ghê tởm cái đảng Cộng Sản, nhưng muốn chống lại hay thoát ra, phải trả bằng mạng sống, có khi làm khốn khổ cho cả gia đình. Bọn tôi chỉ im lặng. Điều làm chúng tôi vui là được lao động thoải mái, không cần phải đạt một chỉ tiêu nào, và thường được cô cho bồi dưỡng bằng khoai, có khi mì sợi. Anh em nào có áo quần dân sự hay khăn tắm mang theo, cô nhận mang đi đổi lấy gạo, đường hay vài loại thực phẩm khác. Ai muốn gởi thư riêng cho gia đình, cô nhận và tìm cách gởi đi.

Lâm trường mới khởi công vừa được hơn ba tuần thì trại tù có lệnh biên chế. Tôi bị chuyển sang một trại mới, tiếc nuối những ngày lao động tương đối thoải mái, hiếm hoi trong những năm tù tội.

oOo

Chiều hôm sau, khi dắt con bé cháu nội ra hồ tắm trong khách sạn, tôi bất ngờ gặp lại Hà Giang và cô con gái Lam Khê. Hai mẹ con đang nằm trên ghế đọc sách. Thấy tôi, Hà Giang ngồi dậy, mời tôi ngồi vào ghế bên cạnh và vui vẻ bảo Lam Khê xuống hồ bơi và chơi đùa với con bé cháu nội của tôi, dặn dò trông chừng con bé, và có nhã ý muốn đến phòng trọ thăm bà xã của tôi.

Chúng tôi mời cơm, nhưng bà từ chối, chỉ xin uống trà. Khi tách trà vừa cạn, bà đề nghị chúng tôi cứ gọi bà bằng em hay cô, và đột ngột hỏi tôi:

– Anh còn nhớ anh Đôn không?

Thấy tôi chau mày, bà nói thêm như để xác định:

– Trần Chánh Đôn!

Tôi hỏi lại:

– Đôn pilot, cùng toán đo đạc với tôi lúc làm việc với cô ở lâm trường?

Hà Giang gật đầu, không nói. Một lúc, tôi thấy bà đưa khăn tay lau nước mắt. Và sau đó, vợ chồng tôi ngồi nghe tâm sự của bà:

– Anh Đôn đã chết rồi! Tất cả là do lỗi của em. Chính em đã cung cấp cho anh Đôn thực phẩm, thuốc men, tấm bản đồ và một chiếc la bàn, em lấy của lâm trường khi ấy, và chỉ vẽ cho anh cách thức trốn khỏi lâm trường cùng với hai người bạn tù khác. Với tấm bản đồ, cái la bàn và sự hướng dẫn tường tận của em, em tin chắc là các anh ấy đã dễ dàng trốn được qua khỏi biên giới. Không ngờ sau hơn ba tuần, khi em đang khấp khởi mừng thầm thì được tin tất cả đều bị bắt tại Lào. Em như muốn quỵ xuống, mất ăn mất ngủ, nhưng cũng cố giữ bình tĩnh tìm cách hỏi một số cán bộ công an trại giam. Họ cho biết là tất cả ba anh đều bị công an bắn chết trên đường dẫn độ từ Lào về trại, bởi các anh đã chống cự để tìm cách thoát thân. Mặc dù tin tưỡng vào thái độ kiên cường và tư cách của các anh, dù có tra tấn thế nào các anh cũng sẽ không khai ra sự tiếp tay trợ giúp của em, nhưng em vẫn lo sợ bị liên lụy, nếu họ phát hiện tấm bản đồ và cái la bàn của lâm trường thì hậu quả khôn lường. Em đã khẩn trương chạy về Bộ, năn nỉ và hối lộ tất cả số tiền dành dụm để ông Thứ Trưởng cho em được trở lại Đông Đức hai tuần, đệ trình cho trường đại học cũ một số nghiên cứu mà em vừa viết xong, sau hơn một năm tốt nghiệp và ra thực tế ngoài lâm trường. May mắn em được ông ta gật đầu, và liên lạc can thiệp bên tòa đại sứ Đức cấp visa sớm. Chỉ gần một tuần là em rời khỏi nước. Tất nhiên đó chỉ là cái cớ. Sau khi sang Đức, em trốn lại ở nhà vợ chồng người bạn Đức mà em quen thân lúc còn học ở đây. Ông chồng em mà anh chị gặp tối hôm qua trong quán ăn, là anh ruột của cô bạn thân này. Anh ấy đã hết lòng lo lắng và bảo bọc chở che em.

Rời khỏi Việt Nam, ngoài quê hương và gia đình, em còn mang theo hình ảnh của anh Đôn. Xin anh chị đừng ngạc nhiên, em yêu anh ấy! Ngoài sự hiểu biết, đẹp trai với nụ cười độ lượng, em còn nhìn thấy bên trong của anh Đôn là sự thủy chung và lòng tự trong, có cả một chút nghệ sĩ lãng mạn nữa. Thời gian làm việc bên nhau, trong khu núi rừng Lam Khê ấy, em đã học được ở anh rất nhiều điều hay, nghe anh hát những bản tình ca, đọc những bài thơ lãng mạn, tuyệt vời. Trái tim em lần đầu tiên biết rung động. Tội nghiệp, em yêu anh Đôn trong một hoàn cảnh quá nghiệt ngã. Điều duy nhất mà em có thể làm được cho người yêu của mình là giúp anh trốn trại, vượt ra khỏi khung cảnh đày ải man rợ, để anh ấy luôn được xứng đáng với những điều anh đang có. Bởi vì chính những điều ấy đã làm cho trái tim em rung động, để em biết thế nào là một tình yêu, mà nếu không gặp anh ấy, có lẽ suốt cả đời em không có được. Quan trọng hơn, đó lại là thứ vũ khí tốt nhất, hiệu quả nhất giúp em đủ can đảm và nghị lực để chống lại số phận, mà trước đó em nghĩ là tới một ngày em sẽ phải đầu hàng, buông xuôi, bất lực.

Hà Giang ngưng lại, lau tiếp những giọt nước mắt chảy dài trên gò má. Tôi rót thêm trà mời cô.

– Cô có giữ tấm ảnh nào của anh Đôn? – Bà xã tôi hỏi.

– Tiếc là khi ấy anh Đôn không có tấm ảnh nào hết. Anh có cho em địa chỉ của bố mẹ anh ở thành phố Nha Trang, nhưng em gởi mấy cái thư về địa chỉ ấy đều bị trả lại, với lý do: người nhận không còn ở tại địa chỉ này. Nghe nói, trước 75 bố mẹ anh đều dạy học, không biết có bị đi vùng kinh tế mới hay không?

Tôi đưa tay ngăn lời cô:

– Cô còn nhớ địa chỉ ấy không? Chúng tôi có một số bạn bè ở Nha Trang, nên có thể hỏi thăm tin tức cho cô. Nhân tiện chúng tôi cũng muốn biếu cha mẹ anh ít tiền, vì Đôn cũng là bạn tù của tôi.

Hà Giang chau mày:

– Lâu quá, nên em quên, nhưng có thể em còn giữ ở nhà. Em xin địa chỉ email để gởi đến anh chị, nếu em tìm lại được. Em thiết tha muốn gặp bố mẹ anh Đôn, nếu các người còn sống.

Thực ra chuyện Hà Giang yêu Đôn, cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nhiều lắm. Đúng như Hà Giang nói: Đôn là một phi công trẻ. Bao nhiêu năm trong cảnh khốn cùng, vẫn không làm mất đi nét đẹp trai, tính nghệ sĩ và tư cách của Đôn. Bạn tù ai cũng quí mến. Chuyện Đôn cùng hai người bạn tù khác trốn trại khi tôi đã bị chuyển đi trại khác hơn bốn tháng, sau này ra hải ngoại, tôi có nghe đám bạn bè kể lại, nhưng mỗi người mỗi cách.

oOo

Chỉ hơn một tuần về lại nhà, sau kỳ nghỉ hè khá thú vị, nhất là bất ngờ gặp lại Hà Giang, để miên man hồi tưởng một thời tù đày cùng đám bạn bè tội nghiệp, tôi nhận được email của Hà Giang gởi thăm, có ghi địa chỉ của ông bà Trần Chánh Nghị, cha mẹ Đôn ở Việt Nam.

Tôi viết thư nhờ người bạn thân còn ở lại Phan Rang, tìm đến địa chỉ nhà Đôn mà Hà Giang vừa mới cho. Tôi cũng cho anh bạn biết là gia đình Đôn đã dọn đi nới khác, nhưng từ đó hỏi thăm biết đâu có thể tìm ra manh mối.

Sau gần hai tháng, tôi nhận được thư hồi âm của người bạn cũ. Một đoạn trong thư làm tôi bất ngờ, nhưng sáng lên hy vọng:

“Đúng như mày viết, gia đình người này đã dọn đi khá lâu rồi. Nhưng có người láng giềng cho biết là ông bà chủ nhà đã qua đời hơn hai mươi năm nay. Ông bà chỉ có người con trai duy nhất bị tàn tật, hình như là đang đi tu ở một ngôi chùa nào đó. Tao dò tìm khắp nơi theo lời kể khá mơ hồ của những người hàng xóm, đến nay vẫn chưa gặp được…”

Tôi đọc đi đọc lại dòng chữ “Ông bà chỉ có người con trai duy nhất“, rồi chạy ra ngân hàng gởi một ít tiền cho người bạn, kèm theo lời nhắn: “Mày cố gắng mọi cách tìm gặp người con trai này, và hỏi có phải tên là Trần Chánh Đôn. Có gì ra bưu điện gọi điện thoại cho tao biết”.

Tôi nôn nao chờ đợi, bỗng một hôm, lúc nửa đêm, điện thoại reo. Bốc ống nghe lên, tôi vui mừng và hồi họp khi nghe tiếng của người bạn từ Việt Nam:

“Tao đã tìm được anh ta. Đúng là Trần Chánh Đôn. Bây giờ là đại đức Thích Thiện Hòa. Anh đang tu ở một ngôi chùa nhỏ, nằm dưới triền núi, phía trên đèo Ngoạn Mục, đèo Bellevue đó, thuộc quận Đơn Dương, cách Đà Lạt gần bốn mươi cây số. Chùa do người bác ruột xây dựng nhưng đã viên tịch, bây giờ thầy Thiện Hòa thay ông làm trụ trì. Tội nghiệp, thầy Thiện Hòa bị mù một con mắt và què cả hai chân, phải đi bằng hai cây nạng, nhưng khuôn mặt trông đẹp và phúc hậu lắm. Tao nghĩ là ông không bao giờ rời khỏi chùa, vì từ dưới chân núi đi lên, tao đếm hơn năm mươi bậc tam cấp“.

Tôi viết email cho Hà Giang, báo cho cô cái tin bất ngờ này. Đắn đo mãi, cuối cùng mới quyết định nói thật mọi điều. Nhớ lại nhiều lần cô lau nước mắt khi kể về Đôn với vợ chồng tôi ở Mallorca, tôi nghĩ là cô sẽ đau lòng lắm khi nhận được tin này.

Sáng hôm sau tôi nhận email hồi âm của Hà Giang:

“Anh Chị  ơi.

Em đã khóc hết nước mắt khi nhận được tin anh Đôn. Suốt cả đêm hôm qua em không thể nào chợp mắt. Em phải xin nghỉ làm hôm nay, và bây giờ lòng dạ cứ thẫn thờ. Không thể ngờ là anh Đôn vẫn còn sống. Em vừa mừng nhưng cũng vừa đau lòng lắm, khi biết anh đã bị mù một mắt và tàn phế cả đôi chân.

Suy nghĩ mãi, em mới dám nói ra điều này với anh chị, vì anh cũng là bạn của anh Đôn và với em như là một người anh, người chú:

Cháu Lâm Khê, đứa con gái mà anh chị đã gặp ở Mallorca, chính là giọt máu của anh Đôn. Trước ngày chia tay, để anh ra đi, chúng em có đôi ngày hạnh phúc ngắn ngủi trong rừng, em tự nguyện dâng hiến cho anh, thay cho lời hẹn ước, là dù góc biển chân trời nào, dù có phải trải qua bao nhiêu dông bão, chúng em cũng sẽ tìm gặp để đoàn viên. Nhưng rồi ông trời đã hại em, vì em cứ đinh ninh là anh ấy đã chết. Để tang cho anh đến sáu năm, em mới lấy ông chồng này, đền đáp lòng yêu thương và cưu mang đùm bọc của ông khi em thân cô trôi dạt xứ người. Bây giờ biết được anh Đôn còn sống, nhưng đã trở thành một vị đại đức, em vừa hối hận vừa băn khoăn, không biết phải làm sao. Em tha thiết xin anh chị cho em một lời khuyên, để em biết mình sẽ phải làm gì. Bây giờ chắc anh ấy chẳng cần một sự giúp đỡ vật chất nào, nhưng còn Lam Khê, dù sao nó cũng là giọt máu của anh. Làm thế nào để cha con nhận ra nhau? Lam Khê cũng nghĩ là ba nó đã chết. Thỉnh thoảng cháu hỏi em về ba nó. Cháu thương và hãnh diện về ba cháu lắm…”

Vợ chồng tôi bàn tính mãi nhưng không tìm ra một lời khuyên nào để giúp Hà Giang, ngoài việc hỏi cô nếu muốn gặp Đôn, vợ tôi có thể giúp cô, cùng về Việt Nam, vì vợ tôi có thời sống ở Nha Trang khá lâu, chúng tôi lại có thằng bạn thân ở đó, biết rõ đường đi đến vùng núi Đơn Dương, Đà Lạt, nơi có ngôi chùa.

Hà Giang mừng rỡ đón nhận đề nghị này, và xin vợ tôi về Việt Nam ngay trong tuần sau để đón giùm mẹ con cô tại phi trường Tân Sơn Nhất. Đây là lần đầu tiên cô bước chân đến miền Nam Việt Nam. Số chuyến bay và giờ đến phi trường, cô sẽ cho biết sớm.

Và dưới đây là lời kể của vợ tôi, về cuộc trùng phùng:

– Họ gặp nhau và nhận ra nhau. Mới đầu, Hà Giang ôm chầm lấy Đôn mà khóc nức nở. Cô ta quên mất anh đang là một vị thầy tu. Xúc động nhất là khi Hà Giang cho biết Lam Khê chính là con của anh. Hai cha con họ ôm lấy nhau thật lâu và cả hai đầm đìa nước mắt. Thầy đem cả triết lý đời và đạo để an ủi, khuyến khích và hướng dẫn Lam Khê bước đi trong cuộc sống có quá nhiều muộn phiền và bất trắc. Thầy nói thật hay và cảm động. Thì ra, bên trong lớp áo cà sa, thầy Thích Thiện Hòa vẫn còn là một con người giàu tình cảm, một Trần Chánh Đôn hào hoa thuở trước. Hai mẹ con dìu thầy đi khập khiễng bằng đôi nạng gỗ ra khu vườn phía sau chùa để thầy ngồi trên một tảng đá nhìn về phía rừng thông. Thầy kể lại chuyện trốn tù, lý do vì sao bị bắt, chuyện ông bị đánh vỡ một con mắt và bị bắn nát hai bàn chân chỉ vì ông nhất định không khai người nào đã giúp ông cùng hai người bạn tù trốn trại một cách tài tình mà chúng nghi ngờ, mặc dù ông đã kịp giấu kín tấm bản đồ và cái la bàn dưới một tảng đá trước khi bị bắt. Họ không đưa về trại cũ mà giao cho một trại tù khác. Bị biệt giam ở đây đến mấy năm mà ông chẳng biết vì sao không chết.. Hà Giang ngồi khóc nức nở. Sau khi mọi người tìm lại được sự bình tĩnh, Hà Giang xin cúng dường cho chùa một số hiện kim, nhưng Thầy Thiện Hòa từ chối, bảo là nhà chùa không cần một số tiền lớn như vậy. Hà Giang tha thiết xin được đưa ông sang Đức làm đôi chân giả và thay con mắt mù lòa, Thầy cũng chối từ, bảo đã quen rồi với những mất mát ấy, hơn nữa bây giờ Thầy đã tu hành, năm tháng chỉ quanh quẩn trong chùa, không cần thiết phải đi đó đi đây. Thầy có mở một lớp học dạy các em học sinh nghèo hiếu học trong vùng, nhưng phòng học là gian nhà trống vách ngay phía sau chùa…

Đêm cuối cùng ở Việt Nam, Hà Giang quyết định đổi vé máy bay, lên Đà Lạt ở lại ba tuần lễ nữa, để cháu Lam Khê có thêm thời gian bên bố nó. Cô cho biết là mẹ con cô sẽ cố gắng thuyết phục Đôn, để mua cho anh cái xe lăn, xin được xây lại ngôi chùa mới, thay những bậc tam cấp bằng con đường lát đá, đặc biệt phía sau chùa, từ gian phòng Thầy dạy học nhìn ra, đã có sẵn khu rừng với ít hoa dã quỳ, cô sẽ cho sửa sang lại thành một khu vườn đẹp đẽ, trồng thêm hoa, làm suối nước, và xin đặt tên là Lam Khê Viên, vì chữ Lam nghe cũng hợp với khung cảnh chùa chiền…

Khi ngồi viết những dòng này, tôi không biết là những điều mong ước của Hà Giang có được Thầy Thích Thiện Hòa chấp nhận hay không, diễn biến tâm lý của cháu Lam Khê sẽ ra sao sau khi gặp lại cha mình, và cuộc tình đẹp nhưng rất bi tráng này có còn sống mãi trong lòng mỗi người cho đến thiên thu.

Phạm Tín An Ninh
(Mùa hè)

Giờ đây Việt Nam còn hay đã mất

Image may contain: one or more people, people standing, outdoor and nature

Nguyễn Đình Ngọc

Kiểu này thì Tàu Cộng cứ tiếp tục tung hoành ngang dọc! Còn Việt Cộng thì cứ bắt rồi trao trả!

Giờ đây Việt Nam còn hay đã mất
Mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta!
(Việt Nam Tôi Đâu – Việt Khang)
_______________________________________________

Ngày 28.7, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Bộ đội Biên phòng Quảng Ninh) đã tổ chức trao trả 5 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam cho Trạm Kiểm tra Biên phòng xuất, nhập cảnh Đông Hưng (Trung Quốc).

Trước đó, vào rạng sáng 13.7, tại khu vực biên giới mốc 1365(2)+200m (thuộc thôn Lục Phủ, xã Bắc Sơn, TP.Móng Cái, Quảng Ninh), lực lượng tuần tra kiểm soát của Đồn Biên phòng Bắc Sơn (Bộ đội Biên phòng Quảng Ninh) đã bắt giữ nhóm người Trung Quốc, gồm 4 nam và 1 nữ nhập cảnh trái phép vào Việt Nam.

Ngay sau đó, Đồn Biên phòng Bắc Sơn đã đưa những người nói trên đi cách ly bắt buộc tại khu vực CenTre Way (P.Bình Ngọc, TP.Móng Cái, Quảng Ninh).

Sau khi hết thời gian cách ly 14 ngày và không phát hiện ca nhiễm Covid-19, Đồn Biên phòng Bắc Sơn đã chuyển hồ sơ, đề nghị Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Móng Cái trao đổi với Trạm Kiểm tra Biên phòng xuất, nhập cảnh Đông Hưng (Trung Quốc) tiếp nhận nhóm công dân Trung Quốc này để xử lý theo quy định.

Theo Bộ đội Biên phòng Quảng Ninh, từ đầu tháng 2 đến nay, đơn vị này đã bắt giữ 187 vụ, với hơn 700 đối tượng liên quan đến việc xuất nhập cảnh trái phép. Trong đó, có hơn 600 công dân Việt Nam vượt biên về nước, 26 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép.

https://thanhnien.vn/…/trao-tra-5-nguoi-trung-quoc-nhap-can…

 VĨNH BIỆT EM!

Image may contain: 3 people, people smiling, people sitting
Image may contain: 1 person, sitting
Trần Thị Ngọc HàFollow

 VĨNH BIỆT EM!

«…Vĩnh biệt em – người phụ nữ kiên trung
Dám vạch mặt, chỉ thẳng thừng sai phạm
Em đã quyết chọn nhân dân là bạn
Dẫu biết rằng sẽ muôn vạn rủi ro…

Những quan tham, những vụ án nhỏ, to
Ngòi bút thép em vạch cho bằng hết
Vì công lý chẳng từ nan, sợ chết
Dẫu gian nguy nhưng vẫn quyết không chờn!

Và hôm nay tin nhức nhối, căm hờn:
Em đã chết ở sông Hồng trên bãi
Những kẻ khốn đã đê hèn giết hại
Tuổi 35, con nhỏ dại… trời ơi!

Tiễn đưa em anh viết vội mấy lời
Tỏ thương xót một con người nghĩa khí
Biết bỏ mạng vẫn không hề nhụt chí
Vẫn đứng về bên công lý, nhân dân!

Vĩnh biệt em – người đã dám quên thân
Ngủ ngon nhé hỡi thiên thần thánh thiện
Với cả nước em luôn còn hiện diện
Mấy chữ này anh khóc tiễn đưa em 💝!..»

* Phóng viên Đặng Thị Tuyền (bút danh Hải Đường) làm việc tại báo Pháp luật TP HCM, người đã viết và vạch mặt rất nhiều các quan chức tham nhũng, sách nhiễu người dân…đã được loan báo là mất tích và sau đó tìm thấy xác tại bãi giữa sông Hồng.

Cái chết của chị có rất nhiều uẩn khúc, thi thể của chị đã được hỏa táng và đưa về an táng tại quê nhà ở Thường Tín- Hà Nội.

Hiện cơ quan điều tra đang vào cuộc để điều tra làm rõ về cái chết của chị.

St