Án Đồng Tâm đang làm “tươi mới” lịch sử

Án Đồng Tâm đang làm “tươi mới” lịch sử

Ảnh của tuankhanh

tuankhanh

Ngày Hà Nội tuyên án 29 người dân Đồng Tâm cũng là dịp muôn vàn những cảm giác lẫn lộn ập về trong tâm cảm của người Việt Nam.

Đúng, sai, sự dối trá hay độc ác vẫn được bàn bạc không ngớt trên các trang mạng, nhưng quan trọng nhất, nhiều điều bỗng chợt sống lại trong trí nhớ của những người già, lời bàn khiến những người trẻ tò mò giở lại trang sách cũ… Lịch sử đây đó, đã ghi rõ, rành rành. Mọi thứ đột nhiên tươi mới hơn bao giờ hết từ nỗi đau của người dân Đồng Tâm. Tươi mới về cái ác có thật, và cả một chiều dài kiên định của nó.

Gương mặt ngơ ngác của những người nông dân Đồng Tâm ngồi trước phiên tòa được truyền thông nhà nước độc quyền loan đi, cho thấy như khi nhận án tử hình hay chung thân, có người cũng đã không hiểu nổi vì sao họ trở thành kẻ sai phạm. Đất đai đã sống cùng với họ, mồ hôi nước mắt đã cùng cha mẹ, anh em của họ. Rồi một ngày, những người lạ mặt cầm súng đến tuyên bố rằng phải giao nộp đất. Mọi thứ được giải thích lằng nhằng về luật của kẻ mạnh, nhưng toàn cảnh, nó là miền viễn tây Hoa Kỳ thời cướp đất tìm vàng, là bọn thực dân Bồ Đào Nha cầm súng tiến vào đô hộ châu Mỹ, là người Pháp tiến vào chiếm tài nguyên ở châu Phi, và cũng chính là Việt Nam với đồng Nọc Nạn, Bạc Liêu mà căm hờn và nước mắt đã ghi đủ.

Nhưng ở Đồng Tâm, cái ác là một đỉnh điểm, khi sự lật lọng, dối trá, vu cáo và áp bức đã chói lòa trong triều đại của kẻ cầm quyền. Rất nhiều người Việt Nam đã nghĩ rằng cái ác là ngẫu nhiên, là một sai lầm được nhận thức đủ bằng chiếc khăn tay và nước mắt của người đứng đầu Đảng Cộng sản tại Việt Nam sau đợt cải cách ruộng đất kinh hoàng 1953-1956. Ông Hồ Chí Minh đã khóc và xin lỗi những người còn sống. Nhưng sự thật thì những gì thuộc về người đã chết không bao giờ được trả lại, và những người còn sống cũng không bao giờ tìm thấy công bằng. Bà Nguyễn Thị Năm sẽ không bao giờ được làm một ngôi mộ xứng tầm lịch sử cho người dân đến viếng, vì sợ sự nhơ nhuốc của chính quyền còn giữ lại trong tiếng thì thầm. Nhà thơ Hữu Loan muốn sống yên với người vợ, là con một “địa chủ” thoát chết, đã phải lên núi ẩn cư, nhưng mỗi viên đá ông xây nhà đều có ánh mắt dõi theo của nhân viên mật vụ.

Đất đai là thứ trong lịch sử người Cộng sản dễ dàng bôi mặt giết nhau nói riêng, giết cả đồng bào nói chung. Tài liệu mật của ông Chu Đình Xương, Giám đốc Sở Công an Bắc Bộ ghi lại vào tháng 2/1983, cho thấy vì để cướp đất trong cuộc đại Cải cách miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hàng ngàn cán bộ trung thành và sắt máu nhất đã được tập trung bí mật huấn luyện là phải thẳng tay, thậm chí với đồng chí của mình. Trong hồ sơ huấn luyện, Trung Ương còn hà hơi tiếp sức bằng khẳng định “Tất cả những chi bộ ở nông thôn đều là chi bộ của địch”. Trong số hơn 170.000 bị kết tội của cuộc Cải cách ruộng đất, thì có không ít các đảng viên, và đồng chí cũng đã bị xử bắn, hay tự sát… Ghê sợ nhất, là bất chấp thực tế, tất cả các thôn làng đều phải tìm ra cho đủ 5% số địa chủ theo chỉ tiêu từ Trung Ương giao.

Tài liệu của ông Nguyễn Tạo, Vụ trưởng Vụ chấp pháp của Bộ Công an, ghi rằng trải qua cuộc Cải cách, có đến ba vạn đảng viên bị bắn bỏ, ba vạn đảng viên bị đẩy đến chỗ phải tự sát, cuộc cải cách hà khắc đã khiến từ ba đến bốn vạn người dân chết đói…

Cán bộ đảng viên Xô viết Nghệ Tĩnh hình thành theo lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh bị tàn sát gần hết, do bị kết tội là do bọn phản động ngụy tạo nên. Ở Hà Tĩnh, vì chậm cải cách nên có đến 200 trong số 210 bí thư chi bộ của Hà Tĩnh bị bắn; chỉ có 10 người may mắn sống sót là nhờ họ ở vùng núi nên thoát được.

Vậy thì một ông Lê Đình Kình, dù có hơn 50 tuổi đảng, có là gì so với lịch sử ghi lại? Hai người con của ông Lê Đình Kình, cũng có sá gì với kế hoạch tuyệt mật 419A?

Bút mực ghi không xuể.

Máu đã đổ từ đó, đất nước điêu linh từ đó, trải dài từ chiến dịch Xét lại chống đảng, Nhân văn giai phẩm… cho đến năm 1975, từ việc dựng các trại cải tạo, đánh tư sản X1, X2, X3… rồi đến hôm nay: án Đồng Tâm lại một lần nữa, nhắc lại rằng cái ác như truyền đời, vẫn đeo đuổi người Việt với một lời nguyền.

Nhưng cái ác mà chúng ta thấy hôm nay, đã được làm mới, đã hoàn thiện hơn, khi có cả những phiên tòa với chương hồi sử dụng cả nghệ thuật điện ảnh và văn học để trình diễn, có cả những diễn viên ưu tú được tính trước tinh vi cho nỗi buồn và cho những điều không cần thiết.

Cái ác hôm qua, có thể được thực hiện với những kẻ đi chân không, không đủ cả học vấn tiểu học. Cái ác ấy chỉ có thể đơn giản mang theo chiếc khăn tay bên mình, vào giờ phút ngừng giết chóc. Nhưng cái ác hôm nay thì mặc những bộ đồ vest đẹp, mang những đôi giày da đắt tiền, thậm chí thắt lưng có thể lên đến cả ngàn đô la.

Cái ác hôm nay có thể dùng tiền thuế của những người nông dân, để bắn chết người chỉ muốn giữ vẹn những cánh đồng.


* Ông Chu Đình Xương (đeo kính, đứng sau lưng ông Hồ Chí Minh), nguyên là Giám đốc Sở Công an Bắc Bộ, người phụ trách bảo vệ riêng cho ông Hồ Chí Minh. Vốn là một người phản ứng dữ dội với đường lối cách mạng man rợ của Mao Trạch Đông, ông đã gửi thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam vào tháng 2 năm 1983 để trình bày về sự nguy hiểm của chủ nghĩa cộng sản Mao Trạch Đông tại Việt Nam. Ông Chu Đình Xương là thân phụ của giáo sư Chu Hảo.

* Tư liệu lịch sử, do giáo sư Ngô Vĩnh Long (Hoa Kỳ) cung cấp.

Chỉ thị Z30 và những điều ko thể tin nổi

Đặng Tuấn Trung

Chỉ thị Z30 và những điều ko thể tin nổi

Image may contain: text that says 'Chi thị Z30'

Những chuyện tui sắp kể đây thì ngay cả các cụ sinh tầm 195x, 196x, 197x có thể đã quên. Còn 198x trở đi thì chắc ko hiểu nổi, nghĩ là tui bịa. Đó là Chỉ thị Z30 !

Chỉ thị Z30 là một chỉ thị miệng, tối mật, có khoảng từ tháng 3 năm 1983 nhằm tịch thu nhà, tài sản của những gia đình có nhà hai tầng trở lên tại Việt Nam !!! Các cụ ko đọc nhầm đâu. Toàn bộ chính quyền các địa phương cả nước đều nhận đc một cú điện thoại (mà cho đến bây giờ ko ai biết là của ai) gọi đến và thông báo như trên. Nghĩa là cứ có nhà từ 2 tầng trở lên là tịch thu, đuổi cả nhà ra lập tức ! Bà con đọc kỹ kẻo lại nghĩ đọc nhầm nhé.

Chỉ thị là mật, không rõ của Ban Bí thư hay của Chính phủ, không có người ký, không có văn bản, không dựa trên bất kỳ một điều khoản pháp luật hiện hành cũng như một chủ trương chính sách của Đảng. Ngay cả cấp bí thư tỉnh uỷ, bộ trưởng bộ công an, Văn phòng Trung ương Đảng và Văn phòng chính phủ cũng không rõ thuộc tính của Chỉ thị, hiệu lực thực thi của Chỉ thị mà chỉ được biết là Hà Nội lúc đó đã làm và các địa phương khác phải làm theo.

Tình hình lúc đó cực kỳ căng thẳng

Hà Nội

Hà Nội dẫn đầu cả nước và đã thực hiện 105 nhà, cơ quan công quyền tịch thu tài sản của người dân mà không cần tòa án và cũng không có bất cứ một bằng chứng nào để có thể khẳng định đó là tài sản bất minh. Tình hình nhân dân bị tịch thu tài sản rất xấu. Có một gia đình bị tịch thu, cả nhà đội khăn tang, bị đẩy lên xe, khóc sướt mướt (thời điểm này Lê Văn Lương làm bí thư và Trần Vĩ là chủ tịch Hà nội)

Hà Nam Ninh

Là tỉnh cũ sau này tách ra thành Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình do Nguyễn Văn An (nguyên chủ tịch Quốc hội sau này) làm bí thư đã đốt danh sách (khoảng 100 quyết định) do công an tỉnh lập để tiến hành tịch thu, đã được đóng dấu ngay trước đêm định thực hiện trong danh sách 200 gia đình xếp theo ABC có nhà hai tầng trở lên, nhưng cuối cùng cũng không thực hiện (ông này làm bí thư tỉnh nhưng mà tốt)

Hải Phòng

Hải Phòng do Đoàn Duy Thành làm bí thư không chịu thực hiện khi chưa thấy Chỉ thị. Giám đốc công an thành phố Hải Phòng – Dương Khắc Thụ – đã bị lãnh đạo Bộ Nội vụ phê bình. Số gia đình có khả năng bị tịch thu tài sản căn cứ theo lý do có nhà trên hai tầng ở Hải Phòng lúc đó là khoảng 500 nhà.

Thành phố Hồ Chí Minh

Lúc đó do Nguyễn Văn Linh làm bí thư thành uỷ từ chối thực hiện Chỉ thị miệng Z30

Báo Nhân dân (vẫn là cái của nợ báo Nhăn răng) của Đảng vào tháng 6 năm 1983 đăng 6 bài, một bài phê phán Bắc Giang và 5 bài phê phán Hải Phòng do không chịu tịch thu tài sản của nhân dân

Bên ủng hộ Chỉ thị là Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười (!), bên chống Chỉ thị tại hội nghị Trung ương tháng 6 năm 1983 là Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Công an Phạm Hùng cùng sự ủng hộ của Đoàn Duy Thành Bí thư Thành ủy Hải phòng, Nguyễn Văn An Bí thư tỉnh ủy Hà Nam Ninh, Nguyễn Văn Linh Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh

Chỉ thị đã làm tiêu tan sinh mạng chính trị của hàng trăm gia đình, đẩy họ vào cảnh khốn khó. Nhiều con người và gia đình họ là nạn nhân của Chỉ thị Z30 này; trong đó có những người khá nổi tiếng như ông “vua lốp” Nguyễn Văn Chẩn. Đến năm 1992-1993 Hà Nội đã báo cáo là căn bản giải quyết xong hậu quả của Chỉ thị Z30. Tuy nhiên, hậu quả của nó về mặt lòng tin và trên tâm lý người dân thì chưa phai mờ.

Tùy quan điểm chính trị mà nhiều người lúc đó đã có các quan điểm trái ngược nhau. Có người coi Chỉ thị Z30 như là biện pháp trong đấu tranh giai cấp, chống hữu khuynh, chống bọn tham nhũng. Người thì cho rằng đó là chỉ thị sai lầm, là trái pháp luật và thiếu đạo lý. Sau này có người cho rằng đó là do tình trạng ấu trĩ của lãnh đạo thời kỳ đó.

Một tài liệu được cho là hồi ký của Đoàn Duy Thành viết: “Giữa thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước mà có những việc làm kỳ lạ như vậy, thật đáng làm một bài học cho các thế hệ cấp uỷ mai sau suy nghĩ và thận trọng. Khi sai sẽ gây ra bao oán thù, nó sẽ tích tụ chồng chất dần lên, thành những hận thù sâu xa đến tận đời con, đời cháu… Khi có biến cố chính trị, những người bị xử sai này dễ ngả về phe chống đối cách mạng mà ta không thể coi thường.”

Nhắc lại chuyện này để thấy khi đó họ đánh giá vì là ĐCSVN còn ấu trĩ. Xin thưa ấu trĩ gì mà lâu thế ? Ấu trĩ từ 1953 cải cách ruộng đất đến 1983 chơi tiếp Z30 vẫn ấu trĩ. Đến nay bước sang năm 2020 của thế kỷ XXI, thế giới văn minh loài người với cách mạng 4.0 rồi mà tái diễn Đồng Tâm vẫn ấu trĩ hay sao ? Ko hề có ai là tội phạm, ko có lệnh bắt, ko có án tử, nửa đêm xông vào nhà riêng bắn chết dân. Tự bà con đánh giá nhá !!!

Bà Dương Thị Bạch Diệp, đại gia BĐS với chiếc Rolls Royce 1,4 triệu đô

Bà Dương Thị Bạch Diệp, đại gia BĐS từng gây đình đám với chiếc Rolls Royce 1,4 triệu đô được Bình Định ưu ái cấp cho biển số 77L 7777 chuẩn bị ra Tòa vì tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong vụ án liên quan đến cựu Phó Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Thành Tài, người đang hầu tòa cùng người đẹp Hà Sen!

Bà Diệp nổi danh giàu nức tiếng Sài Gòn từ những năm cuối 90 bởi những phi vụ mua bán nhà đất hàng ngàn lượng vàng!

Có lúc tài sản của bà ước hơn 10.000 tỷ và dù nhiều vụ làm ăn tai tiếng nhưng bà được xem là đại gia giàu hàng đầu VN thời đó!

Một số dự án bất động sản, khách sạn 5 sao thuộc sở hữu của bà khá nổi tiếng như Diep Bach Duong’s Senla Boutique (Senla Boutique); dự án Khách sạn, trung tâm hội nghị 179Bis Hai Bà Trưng (quận 3); 7 mặt bằng tại 31 Lê Duẩn (quận 1)…

Nhưng giờ đây, theo cơ quan điều tra, hiện bà Dương có dư nợ 5.244 tỷ đồng tại Agribank TPHCM trong khi tài sản đảm bảo chỉ còn 2.168 tỷ và Agribank TP.HCM không có khả năng thu hồi hàng nghìn tỷ, có dấu hiệu mất vốn!? Chưa kể còn nhiều khoản nợ khác bà k có khả năng trả

Siêu xe Rolls Royce đã bán từ lâu, nhà cửa hoặc thế chấp hoặc gán nợ và có khi hàng chục tỷ thuế cũng k có tiền để trả! Năm 2014 bà Diệp đã bán hết những gì còn lại để tính sang Mỹ định cư nhưng không thành và buộc phải ở lại cho đến khi bị bắt giam vào cuối tháng 1 năm 2019.

Chỉ trong vòng hơn 10 năm, từ một người giàu hàng TOP VN với tài sản hàng chục ngàn tỷ, bà Diệp đã trắng tay và vướng vào lao lý như thế đất! Tiền bạc thật là phù du và k ai biết được ngày mai thế nào, nhất là nhiều phi vụ kèm tiếng oán thán!

Bà Diệp cũng là 1 trong số những đại gia đi Rolls Royce rồi thân bại danh liệt. Đời quả là quá phù du, tiền nhiều lúc rất bạc…

– Hà Phan

Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn gặp Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ tại Đài Bắc

Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn gặp Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ tại Đài Bắc

Hôm 18-9-2020, bà Tổng thống Đài Loan đã gặp mặt Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Keith Krach đặc trách kinh tế tại Đài Bắc trong lúc Trung Quốc triển khai 18 chiến đấu cơ và máy bay ném bom xâm phạm vùng nhận diện phòng không của nước này.

Đài Loan ngay lập tức cho xuất kích các tiêm kích F-16 xua đuổi đồng thời vận hành các hệ thống phòng thủ tên lửa theo dõi sát.

Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Keith Krach đến Đài Bắc hôm 17-9 trong chiến thăm 3 ngày, ông Keith Krach là quan chức cao cấp nhất đến Đài Loan trong 4 thập kỷ qua, sau chuyến thăm của Bộ trưởng Y tế Mỹ Alex Azar 1 tháng trước.

Tổng thống Thái Anh Văn đã có buổi ăn tối đối với ông Keith Krach tại Phủ Tổng thống và bà bày tỏ cảm ơn đối với quan chức Mỹ đến để tham dự lễ tưởng niệm cố Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy vào hôm thứ Bảy.

“Tôi hy vọng rằng Đài Loan và Hoa Kỳ tiếp tục hợp tác để thúc đẩy hòa bình, ổn định, thịnh vượng và phát triển ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, tác động tích cực đến khu vực”, bà Thái Anh Văn tuyên bố.

Bà nói thêm, quan hệ Đài Loan-Hoa Kỳ đã đạt được những tiến triển thực chất trong những năm gần đây “với sự tương tác ngày càng chặt chẽ”.

“Tôi hy vọng rằng chúng ta có thể tham gia vào nhiều vấn đề hơn nữa và mở rộng hợp tác song phương, nâng cao mối quan hệ của chúng ta như những đối tác đáng tin cậy và xây dựng nền tảng vững chắc cho tương lai.”

Nữ Tổng thống Đài Loan cho biết, nước này cam kết hợp tác kinh tế sâu rộng với Hoa Kỳ.

Tuyên bố không đề cập đến các cuộc tập trận của Trung Quốc tuyên bố hôm thứ Sáu.

Ảnh: Reuters #RFAVietnamese

ĐẤU TRƯỜNG

Đỗ Ngà

ĐẤU TRƯỜNG

Đỗ Ngà

Ngày 07/01/2014 trong phiên tòa xét xử Dương Tự Trọng, nhân chứng Dương Chí Dũng khai đã đưa hối lộ trực tiếp 2 lần với tổng giá trị 510 ngàn đô, lần thứ ba là nhận 1 triệu đô của đại gia Trương Mỹ Lan gởi cho Phạm Quý Ngọ qua người trung gian tên Tiệp. Điều đặc biệt là Dương Chí Dũng có thuật lại lời nói của Tiệp rằng “”Anh yên tâm đi, tôi đã gặp và báo cáo với anh Trần Đại Quang – Bộ trưởng Bộ Công an, để anh Quang có ý kiến với anh Ngọ. Và anh Quang sẽ điện cho anh, để anh Ngọ không can thiệp hay gây khó cho doanh nghiệp nữa.”. Như vậy điều này cho thấy, số tiền một triệu đô này là Ngọ nhận cho Quang, lúc ấy Ngọ đang là thứ trưởng bộ Công An còn Quang là Bộ Trưởng.

Ngày 17/02/2014, Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định tạm đình chỉ nhiệm vụ thứ trưởng Bộ Công an đối với Phạm Quý Ngọ vì liên quan đến vụ án “làm lộ bí mật nhà nước”. Điều đăt biệt là trước ngày Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định khoảng một tháng, báo chí được lệnh đồng loạt tung tin Phạm Quý Ngọ bị ung thư gan. Và kết quả là sau ký quyết định đúng một ngày, Phạm Quý Ngọ chết và vụ án bị đình chỉ điều tra.

Theo khoản 1 điều 2 của Quy định 121-QĐ/TW năm 2018 thì, cán bộ chủ chốt được khám sức khỏe hằng ngày, các ủy viên bộ chính trị khác được khám bệnh ít nhất hai ngày một lần, các ủy viên Trung Ương đảng được khám bệnh ít nhất mỗi tháng một lần. Đó là chế độ chăm sóc sức khỏe của quan chức CS, Phạm Quý Ngọ là Ủy viên Trung Ương đảng, ông ta được chế độ khám bệnh hằng tháng, vậy mà đến khi bị phanh phui tội hối lộ thì mới phát hiện ra bệnh ung thư. Thế mới lạ! Vậy rõ ràng căn bệnh “unng thư” này không phải bởi nguyên nhân chính trị thì là nguyên nhân gì? Còn “kỳ diệu” hơn nữa là Phạm Quý Ngọ chết ngay khi cơ quan điều tra có quyền đụng đến ông, một cái chết kịp lúc để cho Trần Đại Quang thoát tội.

Ở trong chế độ CS có một nguyên tắc rất lạ là, nhiều căn bệnh “ung thư” của các lãnh đạo cấp cao trong ĐCS xuất hiện không phải vì nguyên nhân y học mà nó xuất phát từ nguyên nhân chính trị. Chính vì vậy mà dù cho có quy định chế độ chăm sóc ý tế hàng tháng thì vẫn không tài nào phát hiện ra bệnh mà phải nhờ đến khi bị truy tố thì nó mới xuất hiện là vậy. Trò chơi quyền lực trong nền chính trị độc tài nó thế. Ở nước dân chủ hay nước độc tài thì chính trị vẫn luôn là võ đài, nhưng khác nhau ở chỗ võ đài dân chủ chơi theo luật có trọng tài giám sát, còn võ đài của độc tài chẳng cần đến trọng tài nào cả nên đấu sĩ có quyền dùng mọi đòn bẩn miễn sao có chiến thắng. Vì vậy mà ở vũ đài chính trị độc tài, ta thường thấy kẻ thắng ăn thịt luôn đối thủ. Hãy nhìn sang võ đài chính trị Nga thì sẽ thấy, kẻ chỉ trích Putin đã dính trọng bệnh và phải sang Đức chữa trị. Đấu trường chính trị ở xứ độc tài dậm chất man rợ.

Tham nhũng trong chính quyền CS nó là loại tham nhũng có hệ thống. Việc tham nhũng không phải một cá nhân thực hiện mà nó có cả một chuỗi liên quan. Những chuỗi như thế này nó đã được dệt thành tấm lưới phức tạp phủ kín ĐCS, trong đó mỗi cá nhân tham nhũng nó không chỉ là mắt xích của một chuỗi mà là mắt xích của nhiều chuỗi khác nhau. Chính vì vậy, khi phá một mắt xích thì rất có thể nó nó sẽ kéo cả chuỗi bị dính chàm theo nó. Đó là lý do tại sao khi muốn xử tham nhũng thì ĐCS phải tìm cách cắt đứt mắt xích đó ra khỏi chuỗi để bảo vệ những mắt xích khác (mắt xích phe ta). Có hai cách cắt đứt mắt xích ra khỏi chuỗi, cách thứ nhất dùng mác “bí mật nhà nước” dán vào hồ sơ thì xem như chẳng ai đụng vào “mắt xích phe ta” được, và cách thứ nhì là tuyên án tử bằng căn bệnh “ung thư”. Đây là hai giải pháp mà hiện nay ĐCS rất ưa dùng.

Hôm nay, tất cả báo chí đều đồng loạt đưa tin Nguyễn Đức Chung bị bệnh ung thư. Nguyễn Đức Chung cũng là ủy vên trung ương đảng, ông ta được chế độ khám và chữa bệnh hằng tháng thế nhưng suốt nhiệm kỳ làm chủ tịch Hà Nội không thấy chính quyền CS thông báo gì về bệnh tình của ông ta, đùng một cái lúc ông ta bị điều tra tội “làm lộ bí mật nhà nước” thì căn bệnh “ung thư” lại xuất hiện. Lại một phiên bản Phạm Quý Ngọ 2.0 chăng? Rất có thể.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://thuvienphapluat.vn/…/quyet-dinh-121-qd-tw-2018…

https://www.bbc.com/…/140107_duongtutrong_trial_firstday

https://tuoitre.vn/ong-nguyen-duc-chung-xin-tai-ngoai-de…

 

Image may contain: 1 person, text
You, Dinh Huong, Tai Nguyen and 525 others
71 Comments
79 Shares
Haha
Comment
Share

CHẾT BỞI BARACK OBAMA

CHẾT BỞI BARACK OBAMA

Bằng Phong Đặng văn Âu

Copy từ FB

Thich Khong Tanh

Hòa thượng Thích Không Tánh

Nguyên nhân:

Năm 1954, Hoa Kỳ sai lầm khi đến giúp Việt Nam để vừa xây dựng một thể chế dân chủ, vừa làm tiền đồn ngăn chặn làn sóng đỏ từ phương Bắc. Dân chủ là khát vọng của người tự do, nhưng một nền dân chủ phôi thai sẽ không hữu hiệu để chống lại đòn phép của cộng sản.

Đòn phép đó là gì? Đòn phép đó là tuyên truyền dối trá, bịp bợm, điêu ngoa, vu khống, ám sát, thủ tiêu. Việt Cộng dám giết người vô tội. Quốc gia không dám, nên ta thua. Phải cần có một nhà độc tài như Lý Quang Diệu của Singapore hay Phác Chính Hy của Nam Hàn để chuẩn bị quần chúng hiểu giá trị tự do dân chủ mới có thể chống lại sự quỷ quyệt, tàn ác của Cộng sản.

Tổng thống Ngô Đình Diệm là người yêu nước, nhưng không giữ được Miền Nam, vì thiếu người thực sự yêu nước và ý chí diệt Cộng không cao để ý thức rằng giữa tự do và cộng sản chỉ có sống hoặc chết, chứ không có chuyện lưng chừng. Một bằng chứng rất rõ: Tết Mậu thân 1968, tất cả các tỉnh thành ở Miền Nam đều bị Việt Cộng tấn công, vì Việt Cộng nằm vùng. Riêng thành phố Long Xuyên vẫn bình an, mọi sinh hoạt đều bình thường. Đó là nhờ sự quyết tâm của các tín đồ Hòa Hảo không dung thứ Việt Cộng đã thủ tiêu Đức Thầy của mình. Lãnh tụ các đảng Quốc gia cũng bị Việt Cộng thủ tiêu, nhưng lãnh đạo kế thừa không quyết tâm tiêu diệt Việt cộng, mà chỉ lo chống phá nhau là chính. Vì thế, Miền Nam phải thua!

Nếu Tổng thống Harry Truman có tầm nhìn sáng suốt như Đại tướng George Patton đề nghị sử dụng quân đội Đức đánh tan Hồng quân Liên Xô hoặc Tướng Douglas McArthur sau khi đẩy lùi chí nguyện quân Trung Cộng về bắc vỹ tuyến 38, dùng bom nguyên tử chiến thuật tiêu diệt các Lộ quân của Mao Trạch Đông, đưa Tưởng Giới Thạch trở về Hoa Lục, thì Hoa Kỳ không bị một thằng con nít Việt Cộng dùng chiến tranh nhân dân đánh bại sau năm 1954 , để cuối cùng phải bắt tay Trung Cộng.

Hậu quả:

Vì thua cuộc chiến tranh nhân dân, Tổng thống Richard Nixon phải cử Cố vấn An ninh Quốc gia, Henry Kissinger, sang Bắc Kinh để dàn xếp cuộc gặp gỡ Mao Trạch Đông nhằm tính kế rút lui trong danh dự. Cái chết của nước Mỹ khởi đi từ năm 1972. Cho nên trước khi chết, Tổng thống Nixon tỏ ra ân hận vì mở cửa thế giới tự do cho Trung Cộng gia nhập. Bắt tay Mao Trạch Đông, Hoa Kỳ đã phản bội Đồng Minh, bằng cách hất chân Trung Hoa Dân Quốc ra khỏi Liên Hiệp Quốc và bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa năm 1975 cho quỷ dữ.

Đáng lý ra, sau khi Tổng thống Ronald Reagan thành công giải tán Liên Xô, Phó Tổng thống George H. Bush nhờ thừa hưởng thành quả đó, mà lên ngôi Tổng thống thì phải có kế hoạch đánh sụp Trung Cộng để trừ hậu họa. Trái lại, Tổng thống Bush (Cha) chủ trương toàn cầu hóa dưới khẩu hiệu “New World Order”. Tổng thống Bush Cha quan niệm nâng nhân dân Trung Hoa lên cấp trung lưu thì mặc nhiên chủ nghĩa cộng sản sẽ cáo chung là hoàn toàn sai lầm.

Tổng thống George H. Bush từng đảm nhiệm chức vụ Giám đốc CIA, từng làm Đại sứ ở Bắc Kinh, nhưng ông không hiểu Trung Hoa có truyền thống xâm lược thế giới, cộng với bản chất cộng sản luôn luôn sử dụng những thủ đoạn vô đạo đức để thực hiện giấc mộng nhuộm Đỏ toàn cầu. Đại hội 20 Cộng Đảng Liên Xô, Khrustchev chủ trương chung sống hòa bình với phe tư bản, Mao Trạch Đông quyết liệt chống và phát động phong trào chống chủ nghĩa xét lại thì phải hiểu Trung Cộng nhất định không chấp nhận chung sống hòa bình.

Tổng thống Bush Cha đã làm ngơ trước cuộc nổi dậy của quần chúng Trung Cộng trong vụ Thiên An Môn năm 1989, làm cho tôi rất nghi ngờ Tổng thống Bush Cha đã có một cam kết ngầm với Trung Cộng.

Việt Cộng gồm những bọn lãnh đạo bần cố nông, khố rách áo ôm mà còn có thủ đoạn lợi dụng người Việt Tỵ Nam Cộng Sản làm công cụ cho chúng để gây chia rẽ Cộng Đồng Việt Nam. Huống chi Trung Cộng là bậc thầy Việt Cộng, chắc chắn thủ đoạn của Trung Cộng cao siêu hơn Việt Cộng gấp trăm lần, thì cái việc Trung Cộng sử dụng người Mỹ hại người Mỹ đâu khó khăn gì? Tôi đã từng viết bài “Đạo quân thứ năm” (Fifth Column hoặc Cinqième Colonne) của Tàu cách đây không lâu để cảnh báo âm mưu nằm vùng của Trung Cộng.

Cụ Patrick Kennedy, thân sinh của Tổng thống John F. Kennedy khẳng định rằng điều kiện ắt có và đủ để được bầu làm Tổng thống là tiền, tiền và tiền. Vậy, khi Hoa Kỳ làm cho Trung Cộng giàu lên thì Trung Cộng sẽ dùng tiền để ảnh hưởng cuộc bầu cử của Mỹ là điều đương nhiên. Nên nhớ, nghệ thuật hối lộ (The Art of Bribe) của Trung Hoa là vô địch thế giới!

Ông Barack Hussein Obama là một chính trị gia chưa có tên tuổi, mới làm Thượng Nghị sĩ 2 năm, ra tranh chức ứng cử viên Tổng thống trong đảng Dân Chủ chống bà Đệ nhất Phu nhân Hillary Clinton tiếng tăm hơn, được bộ máy tranh cử của “Clinton gang” yểm trợ tối đa, mà Obama thắng, thì chắc chắn phải do quyền lực ngầm giúp Barack Obama. Bà Hillary đã than thở: “Truyền thông đã bất công với bà, khiến cho bà bị thua một anh tay mơ không tên tuổi”!

Tại sao truyền thông bất công với bà Hillary? Tại vì ban tranh cử của Obama trả tiền cho truyền thông nhiều hơn. Tiền đâu ra để Obama có thể vung ra? Đó là tiền từ các quốc gia Hồi giáo, từ Trung Cộng chuồi nhà tỷ phú thân Cộng George Soros! Nên nhớ Tàu có truyền thống buôn vua, nên chúng có nhiều mưu lắm mẹo để đưa một người Hồi giáo theo Marxist lên làm Tổng thống chẳng khó khăn gì. Mất cảnh giác với cộng sản là tự sát!

Hoa Kỳ không chịu dứt điểm chiến tranh Việt Nam nhanh chóng bằng hỏa lực hùng hậu, khiến cho dân chúng Hoa Kỳ mất kiên nhẫn vì hao người tốn của. Phong trào phản chiến, phong trào Hippy bùng phát với câu khẩu hiệu “Make love, not war” chắc chắn có bàn tay Trung Cộng đứng đàng sau, giống như phong trào đấu tranh Phật giáo và đòi hòa bình bằng mọi giá đã có Việt Cộng đứng đàng sau Đó là cơ hội bằng vàng cho cộng sản phát triển tổ chức. Hai lãnh vực cộng sản đặt trọng tâm để đánh đổ tư bản là giáo dục và truyền thông (gồm có báo chí, truyền thanh, truyền hình và phim ảnh).

Khi Tổng thống Ronald Reagan gọi Liên Xô là “Đế Quốc Ma Quỷ” (Evil Empire) bọn truyền thông mệnh danh là dòng chính đồng loạt rộ lên: “Yêu cầu Tổng thống Reagan phải xin lỗi Liên Xô”, tôi biết ngay rằng truyền thông của Mỹ đã có màu hồng hồng. Tới năm 2016, quan sát hành vi của truyền thông Mỹ, người có kinh nghiệm đau thương với cộng sản đều nhận ra ngay rằng đầu óc của bọn truyền thông đã bị quỷ ám, bởi vì không có lý do gì chúng không nhìn thấy âm mưu của Trung Cộng cố tình triệt hạ Hoa Kỳ. Đến như một số truyền thông của người Việt tỵ nạn cộng sản cũng đã bị Việt Cộng dùng tiền mua chuộc làm tay sai, thì nhất định cộng sản quốc tế không bao giờ bỏ qua truyền thông của Mỹ!

Nếu tỷ phú Donald Trump không đắc cử vào năm 2016, chúng ta không thể nào biết được nền chính trị của Mỹ đã bị lủng đoạn thông qua bàn tay của ông Barack Hussein Obama từ lãnh vực An Ninh, Tình Báo đến hệ thống tư pháp, hệ thống giáo dục và truyền thông. Bà Hillary Clinton là người phạm nhiều tội, nhưng được trí thức (10 trường Đại học danh tiếng), các nhà kinh tế lãnh giải Nobel ủng hộ và truyền thông bênh vực là do đồng tiền hối lộ của Trung Cộng. Nếu bà Hillary đắc cử Tổng thống, dân Mỹ sẽ chết từ từ giống như những con ếch bị luộc trong nồi nước lạnh cho đến khi bị đun sôi thì chết không còn kịp ngáp! Bởi vì bà Hillary chỉ là Tổng thống trên danh nghĩa, còn Barack Obama mới thực sự là Tổng thống nhiệm kỳ 3.

Cố vấn An ninh của Tổng thống Trump, Trung tướng Michael Flynn, mà còn bị hệ thống Tư pháp của Obama dàn dựng để bỏ tù oan thì thân phận phó thường dân như người tỵ nạn chúng ta nào có ra gì? Viện Khổng Tử được dựng lên tại các Đại Học, nếu không có chính quyền Tổng thống Trump, thì ai biết được đấy là những ổ tình báo Trung Cộng dùng để tuyển mộ trí thức Mỹ vào làm việc cho kẻ thù? Nếu không có Tổng thống Trump, ai là người đuổi bọn gián điệp khỏi tòa Lãnh sự Trung Cộng tại Houston, Texas?

Trong 8 năm làm Tổng thống, Obama đã đưa nợ công lên mười ngàn (10.000) tỉ đô la, bằng tổng số nợ công từ thời Tổng thống George Washington đến George W. Bush cộng lại. Bất cứ ai cũng hiểu kinh tế quyết định sức mạnh chính trị, quân sự và ngoại giao. Nền chính trị của Mỹ dưới thời Obama có vẻ bình lặng trên bề mặt, nhưng Đồng Minh phải chuyển hướng dịu giọng với Trung Cộng, vì không thể trông cậy vào sự yểm trợ của Hoa Kỳ để bảo vệ tổ quốc của họ. Ngay như Quốc Dân Đảng của Đài Loan cũng có xu hướng hòa hoãn với Trung Cộng. Bà Thái Anh Văn, đối lập với Quốc Dân Đảng, chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử vừa rồi là một bằng chứng người dân Đài Loan tin tưởng vào nhà lãnh đạo Donald Trump đưa nước Mỹ lên địa vị hùng cường thì nền an ninh của họ được bảo đảm.

Sự tiếp đón của các quốc gia Ả Rập, của Ấn Độ đối với Tổng thống Donald Trump một cách trọng vọng là một minh chứng những quốc gia ấy tin tưởng vào uy tín vị lãnh tụ có lời nói với việc làm đi đôi.

Hình ảnh của Tổng thống Donald Trump được nhiều cuộc biểu tình ở Hồng Kông, Anh Quốc, Ý Đại Lại giương lên, là thêm một bằng chứng nhân dân thế giới không những ngưỡng mộ uy danh của Tổng thống Donald Trump mà thôi, họ còn kỳ vọng ở ông là nguồn sống sót của họ. Trong khi đó, tại chính quốc, bọn truyền thông thổ tả, bọn phá hoại cướp bóc, bọn chính trị gia Dân Chủ chà đạp ông không tiếc lời, thì người dù “vô tư” đến mấy cũng phải thấy khi đã nhuốm mùi Marxist thì đảng Dân Chủ trở nên tồi bại, bất lương, mất dạy!

Nước Mỹ được hai đại dương bao bọc. Chưa quốc gia nào có khả năng tấn công lục địa Hoa Kỳ. Nhưng năm 2001, nước Mỹ đã bị tấn công từ bên trong vào tháng 9 ngày 11 bởi những phần tử khủng bố Hồi giáo. “September 11” biểu hiện con số “911” dành cho người gặp chuyện khẩn cấp kêu cứu, cũng có nghĩa là một sự báo hiệu tai họa sắp đến cho nước Mỹ. Tai họa đó là có một người Hồi giáo mang tư tưởng Marxist sẽ lãnh đạo nước Mỹ để hủy bỏ nền văn minh Thiên Chúa Giáo. Những hành động của quân khủng bố nội địa gồm có “Black Lives Matter” và Antifa đập phá tượng Đức Mẹ, Tượng Chúa thì rõ ràng đây là cuộc chiến hủy diệt Đức Tin, hủy diệt nền văn minh nhân loại.

Là một đệ tử của Đức Phật từ đời cha ông, nhưng tôi bắt đầu tin quyền năng của Đức Chúa Trời đã phái tỷ phú Donald Trump ra tay diệt lũ quỷ sứ để cứu nước Mỹ và cứu nhân loại. Tôi đã không lầm khi xưng tụng Tổng thống Donald Trump. Rõ ràng ông là một lãnh tụ yêu nước hết lòng, một tài năng lỗi lạc và một ý chí dũng cảm vượt bực mà ta có thể nói hiếm có trong nhân loại. Bị chống đối quyết liệt của ma quỷ mà ông vẫn lừng lững tiến bước, đoạt thành công này đến thành công khác.

Nội cái việc ông làm cho các quốc gia Hồi giáo Ả Rập ngồi xuống cùng Israel ký kết hiệp ước Hòa Bình là một kỳ công chưa ai làm được. Thủ tướng Netanyahu của Do Thái đã phát biểu trong bài diễn văn rằng đây là thời điểm con cái của Tổ Phụ Abraham trở về dưới chung một mái nhà. Rồi đây bọn hồi giáo quá khích Iran thuộc dòng giống Perse sẽ bị cô lập, không thể nào trở thành quốc gia thảo khấu đã từng được tập đoàn Barack Hussein Obama công khai ủng hộ.

Sáng nay, bà Nancy Pelosi bảo rằng Tổng thống Trump làm “broker” để môi giới cho ký kết hòa bình giữa các quốc gia Ả Rập và Do Thái là âm mưu để làm mờ nhạt nạn dịch Covid-19, thì ta càng thấy rõ mồm miệng của con rắn độc ăn phải bả cộng sản! Bọn truyền thông thổ tả do cái đám Do Thái thiên Cộng cầm đầu, không có một lời khen ngợi công lao của Tổng thống Donald Trump đã mang lại hòa bình cho nhân dân Do Thái, đủ biết rằng một khi đã nhiễm độc tố cộng sản thì không còn nghĩ tới quyền lợi quốc gia, dân tộc.

Người dân Việt Nam trong nước vui mừng vì nhận thấy Tổng thống Donald Trump đang từng bước đẩy lùi tham vọng bành trướng của Tập Cận Bình dùng chiến lược “Một vòng đai, một con đường” để tóm thâu thế giới. Trong khi đó, ở Hải ngoại vẫn có một nhóm Việt Tỵ Nạn làm tay sai Việt Cộng thành lập Phong trào Ủng hộ Joe Biden. Rõ ràng cái đám tay sai Việt Cộng này cũng phản bội quốc gia, dân tộc giống như cái đám tay sai của Obama phản bội Hoa Kỳ.

Kết luận, chính Barack Hussein Obama là thảm họa của nước Mỹ và của nhân loại. Đảng Dân Chủ đã đánh mất lương tri, bị Obama đứng sau điều khiển, nên mới tìm đủ mọi cách phá vỡ truyền thống dân chủ, như cố trì hoãn vaccine, bỏ phiếu bằng thư để dễ gian lận … là những hành vi tồi bại mà chỉ có máu cộng sản mới thi hành.

Nếu không có sự xuất hiện của nhà tỷ phú Donald Trump thì nhân dân Hoa Kỳ sẽ giống như những con ếch bị luộc trong nồi nước lạnh.

Từ hôm nay cho đến ngày 3 tháng 11, bọn Dân Chủ sẽ còn có nhiều cuộc quấy rối để lật đổ Tổng thống Donald Trump. Bởi vì chúng lo sợ Tổng thống Donald Trump nhốt tù cả đám vì việc làm phi pháp. Tất nhiên phong trào “Black Lives Matter” và “Antifa” để được đưa ra ánh sáng. Bác sĩ Charles Krauthammer đã viết tổ chức “Operation For Action” của Barack Obama chính là kẻ nội thù nhằm đánh sập nền dân chủ Hoa Kỳ và đưa Trung Cộng lên ngôi bá chủ hoàn cầu. Bọn truyền thông Việt Nam tỵ nạn cộng sản bôi nhọ Tổng thống Donald Trump chính là tay sai của Việt Cộng hay Trung Cộng, chứ không thể nói đấy là quyền tự do lựa chọn ứng cử viên Tổng thống trong nước tự do dân chủ. Vì thế, những người Việt Nam yêu nước, nghĩ đến tương lai con cái thì phải tiếp tay nhau lột mặt nạ cái bọn đê tiện đó, để chứng mình rằng người Việt Nam không phải là đàn cừu ai muốn dẫn dắt thế nào cũng được!

Bằng Phong Đặng văn Âu

*
Image may contain: 2 people, text

Một chuyến đi thăm nuôi chồng 

Một chuyến đi thăm nuôi chồng 

Hay và cảm động. cứ nghĩ nếu mình ở trong hoaǹ cảnh đó thì sao.

 Thân chuyển và tha thiết mời đọc cho hết bài viết.

   Những ai chưa phải đi tù cải tạo. Những ai đã đi tù cải tao được “Tạm tha” rồi mà quên lửng đi thời kỳ ở trong tù cải tạo. Những thầy tu, những nhà đạo đức nào từng khuyên các người tù cải tạo nên quên quá khứ, hòa hợp hòa giải. Đều nên đọc bài này.

   Họ, chỉ cần nhớ đoạn: Người vợ đi thăm tù mà không nhận ra được chồng minh.

  Phải ở hoàn cảnh của vợ chồng người tù cải tạo như người này mới hiểu tại sao có những người Chống Cộng Cực Đoan. 

Chân thành cám ơn các Chị, những người vợ quả cảm của người Lính VNCH, các Chị đã không bỏ anh em chúng tôi trong những năm dài tủi nhục trong ngục tù việt cộng. Hận thù này đến chết vẫn không quên.

Tưởng niệm 30 tháng Tư: Một chuyến đi thăm nuôi chồng

Hoàng Yến

 


Tiếng chuyển động rì rì của máy chiếc xe đò loại nhỏ đang chạy trên tuyến đường từ Qui nhơn đi Pleiku, Kontum. Hành khách trên xe bắt đầu chập chờn vào giấc ngủ. Dù có mệt mỏi cho một chuyến đi xa, tôi không thể nào ngủ được, mắt nhìn ra khung cảnh ngoài cửa sổ xe, nhà cửa lui dần khỏi cảnh ồn ào bụi bậm trong thành phố. Nhìn xa xa, những ngọn núi nối tiếp ẩn hiện nhấp nhô, được bao phủ lớp sương mù như mây như khói. Xe bắt đầu tăng ga để leo dốc, con đường dốc ngoằn nghèo thật cao, một bên là vách núi đá một bên là vực sâu, chiếc xe như chênh vênh đang bò bên bờ vực, phía dưới vực rừng cây mờ mờ thật sâu. Tôi không dám nhìn xuống phía dưới, đưa tay áp lấy ngực miệng lâm râm cầu nguyện, cứ tưởng tượng không biết lúc nào chiếc xe sẽ lao xuống vực. Xe leo gần tới đỉnh đèo, ngay khúc quẹo hình chữ V độ dốc thẳng và cao. Đột nhiên xe khựng mạnh và dừng hẳn. Những người trên xe bừng tỉnh nhốn nháo vì đầu máy xe đang bốc khói mù mịt, sợ xe cháy ông tài xế nhảy vọt ra khỏi cửa sổ xe. Chiếc xe không người lái lùi lại từ từ, mọi người trong xe hoảng hốt tìm cách nhảy ra ngoài. Tôi ngồi hàng ghế bên trong, kẹt cứng giữa đám người đang chen nhau thoát ra khỏi xe. Chiếc xe lùi lại thật nhanh. Thất thần mắt nhìn thấy bờ vực cận kề tôi hét to “Lậy Chúa tôi”. Trong lúc chú lơ xe cầm cái cục gỗ chận bánh xe lại, với đà đổ dốc bánh xe trườn trên cục gỗ nẩy mạnh lên và càng lùi nhanh hơn, chú lơ xe không kịp chạy theo. Tiếng la khóc, tiếng kêu cầu cứu Chúa và Phật, Tôi nhắm mắt phó linh hồn trong tay Chúa, biết chắc sẽ chết nơi đây. Giây phút cuối cùng, hình ảnh thân yêu của mẹ và chồng con tôi lóe nhanh trong đầu. Một tiếng “rầm” thật lớn cùng sức dội mạnh như muốn vỡ lồng ngực, mọi người đổ ngã chụm vào nhau, mọi sự chìm trong im lặng, nửa tỉnh nửa mê, không biết mình còn sống hay đã chết. Một phép lạ, chiếc xe đang lùi thật nhanh thì đuôi xe quay ngang đâm vào vách núi và khựng lại, bánh xe kẹt vào khe rãnh thoát nước. Nhờ ơn Trên, mọi người sống sót nhưng vẫn còn thất kinh hồn vía biểu lộ trên khuôn mặt.


Chúng tôi được chuyển qua một chiếc xe khác. Qua cơn hiểm nghèo, ai cũng nguyền rủa ông tài xế không có lương tâm, không có trách nhiệm, nắm giữ hơn 50 sinh mạng, chỉ biết cho mình, còn những người khác coi như cỏ rác. Tôi không nguyền rủa ông ta mà tôi đau cho cả xã hội này, đã đào tạo con người ông giống như CS. Nếu họ có trái tim, người dân đâu chịu khổ, chồng tôi đâu bị đày ải tù tội như thế này. Nhớ tới chồng, tới giây phút vừa thoát hiểm nguy, tôi bật khóc, nếu chiếc xe rớt xuống đèo, tôi không bao giờ còn thấy chồng, đau thương hơn nữa, tôi chết ngay địa danh gần nơi giam giữ chồng tôi, mà anh đang ngóng chờ mong mỏi được gặp tôi.


Xe qua khỏi mấy cái đèo nguy hiểm như đèo An Khê, đèo Măng Giang. Bớt lo sợ, tôi đưa mắt quan sát những hành khách còn trong xe. Bốn người tôi mới quen ở bến xe Qui nhơn tối hôm qua, cùng đồng cảnh đi thăm nuôi như tôi, họ ngồi rải rác những hàng ghế phía khác, mắt tôi chăm chú nhìn một ông lão ngồi ngoài đầu hàng ghế bên kia, cách chỗ tôi ngồi là lối đi giữa của hai hàng ghế. Ông trạc tuổi bố chồng tôi, dáng người nhỏ còm cõi trông rất hom hem. Ông không ngủ, trên khuôn mặt khắc khổ, thỉnh thoảng môi ông nhếch lên mỉm cười, ánh mắt lộ vẻ hân hoan như sắp nhận được món quà quí, hoặc sắp gặp lại gia đình sau một chuyến đi, đôi lúc lại thấy ông tư lự đăm chiêu như đang suy nghĩ một vấn đề gì, hai bàn tay ông ôm chặt cái giỏ vào lòng như sợ nó vuột mất. Bất giác tôi cười thầm nhìn xuống tay mình thì cũng như ông lão thôi, tôi có hai cái giỏ lúc nào cũng bên cạnh không dám rời xa nó, hở một tý là bị lấy cắp.


Bất chợt ông lão nghiêng mặt qua phía tôi, bắt gặp ánh mắt tôi đang nhìn ông. Tôi nhoẻn miệng cười chào hỏi làm quen:


– Dạ chào bác! Bác là người ở trên miền này hả bác?


Ông lão quay hẳn qua phía tôi cười. Răng ông đã rụng gần hết, miệng móm mém. Nhìn ông tôi có cảm tình ngay với đôi mắt và nụ cười hiền hòa phúc hậu của ông. Ông trả lời:


– Không! Tôi không phải người trên miền này cô à. Ông thân thiện. – “Tôi ở xa lắm! Cô có biết Saigon không? Nhà tôi còn ở xa hơn nữa, mãi tận Rạch Giá cô à”. Thấy ông lão vui vẻ, tôi tò mò hỏi tiếp:


– Vậy bác đi thăm con cháu ở trên này à?


Trong ánh mắt ông lão thoáng buồn, nhưng môi ông lại mỉm cười tạo trên khuôn mặt ông nét vừa buồn vừa vui, nửa khóc nửa cười. Tôi không thể nào đoán được ông lão đang nghĩ gì. Thấy ông im lặng, tôi than thở dùm ông lão:


– Trời ơi! Bác lớn tuổi rồi, sao không để con cháu về dưới thăm bác, đường đi xa xôi, lại nguy hiểm bác ngồi xe như thế này mệt lắm.


Miệng ông đang cười, câu nói của tôi như chạm vào nỗi niềm riêng tư của ông, mắt ông nhuốm màu sương khói ngấn lệ. Tôi cảm thấy áy náy cho câu hỏi thăm tự nhiên nhưng vô ý của mình, định ngỏ lời xin lỗi và an ủi ông, thì ông cất lên lời tâm sự cùng tiếng thở dài:


– Cô ơi! Tôi già cả rồi, đi lại rất khó khăn, đâu muốn đi xa như thế này đâu, vì thương con tôi phải đi thôi.


Nghe tới đây tự nhiên trong lòng tôi thật bất mãn người con của ông, thầm trách trong bụng: “Bố già rồi không về thăm bố, lại để bố lặn lội đường xa đi thăm mình, loại con gì vô tâm bất hiếu vậy”. Tôi đang tức dùm cho ông lão. Ông đưa mắt ngó tôi, chép miệng thở than:


– Tội nghiệp thằng con tôi lắm cô ơi! Nó bị nhốt mấy năm nay rồi, nó là lính VNCH cô à. Nói tới đây giọng ông nhỏ lại, đưa mắt lấm lét nhìn xung quanh như sợ người khác nghe. Có thể ông cảm được tôi đồng cảnh đồng thuyền nên ông dễ dàng tâm sự, nhìn tôi ông rỉ rả:


– Nó chưa vợ cô à, nên tôi cứ phải lê thân già đi từng trại tù thăm nó.

Tôi thật xúc động. Ông lão cùng cảnh ngộ với tôi, như một luồng giao cảm, tôi nghiêng người chồm hẳn gần ông lão hỏi nhỏ


– Bác! Vậy chuyến đi này có phải bác đi thăm nuôi ở trại tù Gia trung không ạ?


Mặc dù lần đầu tiên tôi đi đến vùng này, không biết con trai ông có cùng chung trại tù với chồng tôi không? Vừa nghe đến tên trại tù Gia-trung từ miệng tôi, ông lão mở to mắt mừng rỡ:


– Đúng! Tôi đi thăm con tôi ở đó.


Ông bỏ lửng câu nói, mắt nhìn tôi ngập ngừng, e dè nói khẽ: “Cô là người ở đây hay sao mà biết trại tù đó”?


Tôi mỉm cười với tay xoa nhẹ vào tay ông: “Thưa bác! Cháu không phải người trên này mà là cháu đi thăm nuôi nhà cháu ở trại tù đó”.


Mắt ông lão sáng lên. Thế là một già một trẻ cùng cảnh ngộ như nhau trở nên thân thiết. Nhích người chụm đầu vào nhau rủ rỉ chuyện thăm nuôi, chuyện gia đình, thời cuộc đất nước, chuyện khổ cực nghèo đói của mọi người sau ngày mất nước.


Ông tâm sự, người con của ông hiện giờ bị giam ở K3. Tôi đoán chắc không xa nơi giam giữ chồng tôi,vì chồng tôi ở K1. Đã mấy năm trời ông lăn lội đi từng trại tù thăm nuôi con trai ông. Trước ngày miền Nam mất vào tay CS, người con ông có vị hôn thê sắp làm đám cưới. Thời điểm đó đất nước trong cơn hỗn loạn, nơi con ông đóng quân đánh nhau dữ dội nên không thể về làm đám cưới. Ngày 29/4/1975 người vợ chưa cưới theo gia đình xuống tàu trốn chạy CS. Vài tuần sau con ông bị đưa đi tù cải tạo. Bà cụ thì quá gìa yếu bệnh tật liên miên, muốn đi thăm để nhìn thấy mặt con trai mà cũng không sao đi được. Ông chỉ lo bà cụ chờ không được tới khi con ông về.


Giọng ông run run thở dài lo sợ: “Hoặc là con ông không bao giờ có ngày về”. Lời ông đều đều bên tai như muốn tôi chia sẻ nỗi buồn niềm đau với ông. Ông cứ kể, tôi vẫn nghe để cho những gì đang chất chứa trong ông hòa vào với khổ đau tủi cực của tôi. Cùng một cảnh đời, lòng tôi nhói lên theo từng lời kể của ông. Ông lại chép miệng nỉ non:


– Còn hai người con gái lớn đã có gia đình. Thời buổi cuộc sống khó khăn, tất bật kiếm miếng ăn chưa đủ nuôi mấy cháu ngoại của ông, làm sao có thể giúp đỡ ông hoặc đi thăm con trai ông. Ông bà chỉ còn tí mảnh vườn sau nhà, trồng mấy liếp rau nuôi bầy gà lấy trứng, sống lây lất rau cháo qua ngày. Nước mắt ông rưng rưng ứa tràn khóe mắt, giọng ông đứt quãng nghẹn lại. Ông nhận được giấy thăm nuôi của con ông mấy tuần rồi nhưng ông không thể đi thăm con ông sớm được, vì không có tiền, ông biết con ông rất mong ông. Vừa kể ông vừa lấy tay áo chấm nước mắt làm tôi cũng mủi lòng. Hoàn cảnh gia đình ông và gia đình tôi đều giống nhau. Sống trong một xã hội mới không tự do, bơi lội trong khổ đau khốn nghèo và người thân bị đày ải trong lao tù chẳng biết ngày về.


Ông chỉ vào cái giỏ đang ôm trong tay, bờ vai vẫn còn rung nhẹ theo cảm xúc:


– Cô biết không! Tôi phải chờ thêm vài tuần lễ để bầy gà lớn thêm lên mới bán được, rồi mua đồ thăm con, còn tiền xe đi đường tôi được người hàng xóm tốt bụng cho mượn. Lồng ngực của ông hít thật sâu, thả mạnh trong tiếng thở dài như xả những ưu phiền khổ đau, giọng ông não nuột: “Không biết về nhà xoay đâu ra tiền mua lại bầy gà”.


Giấu nỗi buồn lo, ông quay mặt qua hướng cửa sổ, nhìn nghiêng khuôn mặt ông, tôi thấy khóe mắt ông ươn ướt. Tôi cảm được những lo lắng, buồn phiền nhớ thương trong đôi mắt ấy.


Chợt ông quay sang cười với tôi, miệng ông móm mém kéo theo những đường nhăn nhúm hai bên má như thể những nhăn nhúm của cuộc đời hằn nặng trên khuôn mặt ông. Ông lại rỉ rả:


– Tội nghiệp con tôi! Chắc là đang mong và mừng lắm khi thấy tôi đi thăm 


Ông ngó xuống cái giỏ nhỏ để trên đùi, tay vẫn nắm chặt hai quai giỏ. Ông gật gù cái đầu: – Vợ chồng tôi chỉ lo liệu ít đồ ăn trong cái giỏ này thôi, dọc đường phải đổi mấy lượt xe, tôi lo lắm chẳng dám ngủ nghê, sợ bị giật giỏ con tôi chẳng có gì ăn. Ông chép miệng: -“Khổ quá nỗi, thời buổi làm ăn khó khăn mà trộm cắp mọc lên như rươi, chỗ nào cũng có”.


Ông nói giọng Bắc như tôi, cách nói chuyện thật thà miền quê. Tôi cảm thấy thật gần gũi với ông và tội nghiệp cho ông, đường sá xa xôi, thân già lặn lội đi thăm con. Tôi lại nghĩ tới tôi có khác gì ông đâu.


Xe chạy xuống khỏi mấy cái đèo. Ông cụ thấm mệt mắt lim dim, có lẽ ông đang nghĩ đến người con trai mà ông sắp được gặp, và niềm vui con ông nhận được những món quà nhỏ nhoi mà ông dành dụm chắt chiu như một gia tài của ông. Nhìn ông lòng tôi thương chồng, như ông đầy vơi nghĩ đến người con của mình. Quang cảnh hai bên đường đồi núi chập chùng, con đường đến trại tù xa vời vợi. Nghĩ tới chồng, tới sự thoát chết vừa qua, cùng nỗi khổ hiên tại của tôi, nước mắt tôi ứa ra…


Nếu không có ngày đen tối quái ác 30 tháng 4 năm 1975, mọi người dân đâu phải khốn khổ đói rách, chồng tôi đâu bị đi tù cải tạo khổ nhục xa xôi như thế này mà không biết ngày về. nếu đừng có xã hội như thế này, nếu tôi có tiền, nếu tụi du kích CS đừng tịch thu hàng mua bán của tôi. Nếu tôi đừng dùng phương tiện bằng xe lửa đi thăm chồng và còn nhiều cái nếu trong đầu làm lòng tôi quặn đau, khổ thương quay quắt.


Hơn 4 năm rồi,chồng tôi đã chịu bao tủi nhục khổ cực qua hai trại tù, bây giờ Cộng sản lại đưa chồng tôi đi trại khác. Gần một năm bặt tin tức của anh, tôi chẳng dò hỏi được gì về anh và chẳng biết tìm kiếm anh ở đâu. Phần sống trong một xã hội khốn khổ chẳng chút tự do, chỗ nào cũng chận bắt tịch thu giam giữ. Trong khó khăn lầm than, tôi bôn ba vật lộn tìm miếng ăn cho gia đình và cho chính mình thật gian nan vất vả, còn tâm trí lúc nào cũng nghĩ và lo sợ cho số phận chồng trong lao tù CS chẳng biết giam giữ nơi đâu. Tâm hồn tôi bất an phập phồng không thôi, đôi khi tưởng rằng mình đang rơi xuống đáy vực thẳm của cuộc đời. Nhờ tình yêu anh tôi cố bám víu ngoi lên, mong nhìn thấy tia hy vọng về anh dù chỉ là mong manh.


Ngày nhận được thư chồng, không chỉ mình tôi mà cả gia đình và hàng xóm, ai cũng vui mừng, cả xóm huyên náo ồn ào vì biết chồng tôi vẫn còn sống, mọi người đến nhà hỏi thăm, họ cũng như tôi nôn nao mong được gặp anh. Tất cả đều khó khăn nghèo khổ, họ không có gì làm quà để gửi cho chồng tôi, nhưng sự ân cần quan tâm lo lắng của họ đối với chồng tôi cả là niềm an ủi xúc động cho gia đình tôi.

Địa chỉ trại tù giam chồng tôi thật xa lạ và quá xa xôi. Đọc thư chồng nước mắt tôi ngắn dài đầy vơi. Tội nghiệp chồng tôi, trong thơ vỏn vẹn vài câu kín đáo hỏi thăm gia đình và cho biết đã được phép thăm nuôi. Thơ anh viết ngắn, tôi đọc và cảm được biết bao tình cảm của anh gói ghém trong đó dành cho tôi. Anh không dám xin những thứ mà anh cần, mặc dù anh rất cần. Tôi biết anh rất thương tôi. Bố mẹ anh đã già, mọi việc mình tôi cáng đáng lo liệu với hoàn cảnh và xã hội hiện tại. Còn tôi dù cuộc sống khó khăn vất vả, tôi cũng cố xoay sở lo cho chồng, chút an ủi giúp anh thêm nghị lực, và cho tôi chút niềm vui hạnh phúc trong tình nghĩa vợ chồng.

Số tiền tôi cực khổ dành dụm chắt chiu để đi thăm nuôi chồng, số tiền đó cũng bao lần đã muốn lấy mạng sống của tôi. Trong một chuyến hàng tuần trước, tôi đã trở thành trắng tay, cũng may mạng sống tôi vẫn còn. Những lần bị bắt bị tịch thu, chị em bạn chúng tôi thường than thở với nhau: “ Ký ca ký cóp cho cọp nó tha”, rồi lại lăn lộn bôn ba bất chấp nguy hiểm làm lại từ đầu, được tý vốn lại bị tịch thu, cứ xoay vòng trong cuộc sống XHCN. Vậy mà chỗ nào cũng thấy cái bảng tô đỏ hàng chữ “không có gì quý hơn độc lập tự do”.


Trại tù giam chồng tôi mãi tận Pleiku – Kontum có tên là trại Gia Trung, một địa danh tôi chưa bao giờ biết đến. Trước ngày đi thăm chồng, tôi dò hỏi được biết mỗi ngày bến xe Saigon – Miền Trung có hai chuyến chạy suốt về Pleiku. Giá chính thức được bán ra từ 15 tới 20 vé, còn lại bán với giá chợ đen rất mắc, mà phảỉ đứng xếp hàng từ đêm tới sáng may ra mới mua được vé. Tôi ở miền quê ngu ngơ làm sao mua được. Thật khó khăn và tốn kém. Tôi đành chọn giải pháp đi bằng tàu lửa, giá rẻ mà dễ đi . Ga xe lửa tôi đi gần chợ Long Khánh cách nhà tôi khoảng gần 30 cây số.


Nhớ tới giây phút giành giật chen nhau để lên toa xe lửa, bất giác tôi cảm thấy sau gáy và bả vai vẫn còn đau, đưa tay lên rờ phía sau đầu cục sưng u vẫn còn, vì tôi bị những bó củi họ quăng ném vào người. Trời ơi! Tôi không thể nào tưởng tượng được cảnh chen lấn hỗn loạn tại ga xe lửa lúc bấy giờ. Không giống như ga xe lửa trong phim ảnh, kẻ đi người về, kẻ tiễn đưa người đi đón sao êm đềm cảm động nên thơ đến thế. Ga xe lửa này cũng người lên kẻ xuống nhưng trong cảnh xô đẩy chen lấn giành giật cùng tiếng chửi thề xen lẫn tiếng la hét inh ỏi hỗn loạn. Bao nhiêu hàng hóa vừa bao vừa túi, bao than, giỏ đựng gà vịt, bất cứ vật gì cũng đều quăng ném vào toa theo lối cửa sổ, có người quăng cả đứa con nít như quăng một món đồ, kẻ tung lên người ném xuống. Tôi chen lấn trong đám người xô đẩy, kéo lê hai giỏ đồ tới gần cửa lên xuống, tay cố bám vào thành cửa, hy vọng đu được người vào bên trong,nhưng thân người tôi như tàu lá chuối vật vờ đong đưa giữa đám người hỗn độn. Tay tôi bị giật thốc ra khỏi thành cửa làm tôi ngã chúi theo đà xô đẩy, tôi ngồi xuống ôm lấy hai giỏ đồ vừa khóc vừa năn nỉ mọi người:


– Bà con ơi! Tôi có mua vé mà, hãy để tôi lên toa đi.


Mặc cho tôi khóc năn nỉ, họ chẳng để ý, cứ vô tình bước đạp trên hai giỏ đồ và cánh tay tôi làm đà bước lên toa xe, còn quay lại mắng tôi:


– Bộ tưởng một mình cô có vé thôi sao, tụi tui cũng có vé vậy.


Người họ khỏe bám trèo lên bằng lối cửa sổ, tôi thân đàn bà chân yếu tay mềm nên không thể bám và leo lên như họ, còn hai giỏ đồ thăm nuôi tôi làm cách nào đưa lên bằng lối đó. Tiếng còi xe lửa hú lên từng chập như báo hiệu sắp khởi hành, tôi càng quýnh quáng, mọi người càng vội vã chen lấn hơn trước. Sợ lỡ chuyến tàu sẽ trễ ngày thăm chồng, tiếng còi xe lửa hú lên càng làm tôi hốt hoảng. Ôm hai giỏ đồ, mắt đỏ hoe ngó lên toa xe, tôi hết hy vọng vì bánh xe lửa bắt đầu chuyển động trên đường sắt cùng những người còn đang chạy theo bám lấy.


Trong những người xô đẩy vô lương tâm đó, cũng còn một người có chút lương tri. Người đó là một thanh niên, ngồi trên nóc xe nhìn cảnh hỗn loạn phía dưới, thấy tôi ngồi khóc, mặc cho xe lửa đang chuyển bánh, nhảy xuống đất cầm vội hai giỏ đồ của tôi quăng vào lối cửa sổ, không cần biết có trúng ai bên trong hay không và nâng người tôi lên đẩy vào cửa sổ. Tôi chưa kịp cám ơn, người thanh niên đã xa tấm mắt của tôi, ngoái cổ nhìn với theo bên hông tàu, người thanh niên đang tìm cách nhảy lên toa xe và rồi những tàng cây bên đường làm khuất mất hình ảnh người thanh niên đó.


Tôi vui mừng không bị lỡ chuyến tàu, thở phào nhẹ nhõm, nhưng nghĩ tới người thanh niên trong lòng tôi lại áy náy, thấp thỏm không biết người thanh niên tốt bụng đó đã lên được tàu chưa hay là đã lỡ chuyến?


Tìm một chỗ dưới sàn tàu ngồi xuống, người tôi mỏi mệt đau nhừ, nhất là trên đầu phía sau ót và bả vai, tôi bị những bó củi ném trúng làm đau buốt. Thấy mặt tôi nhăn nhó, tay xoa xoa phía sau đầu, một bác ngồi gần bên lấy hộp dầu cù là đưa cho tôi xoa bóp.


Yên trí ngày mai gặp chồng làm tôi nôn nao, những mỏi mệt đau nhừ tan biến nhanh, nhường cho tâm tư sắp đặt những gì muốn nói với anh. Đừng như những lần trước, gặp được anh mừng quá chẳng nói được gì, hết giờ thăm lúc đó mới ngẩn người nuối tiếc. Ừ nhỉ! Nếu ngày mai tên cán bộ có đứng xa xa nơi vợ chồng tôi như ở trại tù Hốc môn, những người đi thăm nuôi như tôi cùng tâm trạng, họ cũng biểu lộ tình cảm như tôi. Tôi sẽ ngả đầu vào vai anh, thủ thỉ với anh bao nỗi nhớ niềm thương, bao buồn phiền tủi cực, bao vất vả đắng cay và biết bao điều muốn nói với anh. Nhưng tôi biết anh không cần nghe tôi nói, chỉ cần nhìn thấy tôi là anh hiểu và nghe nặng cả bao nghĩa ân tình yêu thương, giúp anh thêm nghị lực vượt qua tất cả. Tôi vẫn biết rằng ý chí của anh rất mạnh.


Theo lịch trình 6 giờ chiều xe lửa sẽ tới ga Nha trang, và chuyến xe lửa từ Nha trang đi Qui nhơn khởi hành lúc 6 giờ 45 phút. Tôi thở phào yên trí đủ thời gian mua vé đi Qui nhơn và tôi cũng không lo ngại nếu có cảnh chen lấn như ở ga Long khánh.

Quá mỏi mệt, tôi tìm cách tựa lưng vào thùng đồ của ai để bên cạnh nhắm mắt thiu thiu vì chuyến đi còn dài, chân tôi gác lên kẹp lấy một giỏ đồ còn một giỏ tôi lấy khăn tay cột quai giỏ vào cánh tay của mình, lỡ ngủ mệt sợ có người lấy cắp. Nhắm mắt để đó chứ không ngủ được, phấn ồn ào, phần háo hức sắp được gặp chồng làm tôi nôn nao. Không biết khi vợ chồng tôi gặp nhau, sự mừng rỡ sẽ như thế nào? Con người tôi rất tình cảm và xấu tính, buồn cũng khóc vui cũng khóc. Cả hai nhập lại không biết lúc đó tôi như thế nào? Còn hình dáng chồng tôi có khác lạ không? Gần một năm trời rồi, tôi chưa được nhìn thấy anh. Trong đầu tưởng tượng về anh, về nơi giam giữ anh. Họ đưa anh đi xa xôi thế này chắc là thăm nuôi đễ dãi và được ở lại đêm với chồng như là trại tù Phước-long mà chị Thái cùng xóm đi thăm chồng đã kể lại cho tôi nghe. Nếu lần thăm này mà giống như trạị tù Phước-long, không biết tôi có trải được tình cảm yêu thương với chồng tôi không, mặc dù tôi rất yêu anh, rất nhớ anh. Tôi không muốn bị CS xỉ nhục bằng cách đê tiện này, càng nghĩ trái tim tôi càng bị bóp nghẽn. Tôi hy vọng rằng chồng tôi cùng quan điểm với tôi, thông cảm cho tôi nếu đúng như điều tôi đang nghĩ.

Tôi giật mình bởi tiếng nổ lớn do xe lửa bị đứt ống hơi, thỉnh thoảng cứ phải nghe như vậy vì mấy người đi buôn họ dựt đứt để xe lửa ngừng lại, lần đầu tiên tôi đi xe lửa nên không biết cảnh này, cũng vì vậy tôi thật lo sợ muốn khóc tại ga Nha trang.


Xe lửa ngừng tại ga Nha trang là lúc tôi không biết phải làm sao xoay sở vì quá trễ, chuyến xe lửa đi Qui nhơn đã khởi hành trước đó 1 giờ. Trời đã tối, mọi người trong sân ga lần lượt đi mỗi người mỗi ngả, càng lúc càng thưa thớt người. Tôi định ở lại sân ga chờ chuyến xe lửa khác. Khung cảnh sân ga trở nên vắng vẻ im lìm. Tôi bơ vơ lạc lõng nơi xa lạ, lo sợ nhìn tứ phía, nước mắt rưng rưng, thật sự hoảng hốt không biết đi ngã nào, lạ người lạ cảnh. May quá từ xa một người đạp xích lô đang đến. Tôi hỏi thăm được biết ngày mai mới có chuyến xe lửa đi Qui nhơn. Nhìn tôi còn trẻ và giọng nói người khác miền, chú xích lô khuyên tôi không nên ở lại sân ga ban đêm vắng vẻ không người, sợ điều không tốt xảy đến cho tôi. Nghe chú nói người tôi run lên vì sợ, tôi cố trấn tĩnh nhưng sao giọng tôi run như muốn khóc. Chú gợi ý chở tôi tới nhà trọ nghỉ đêm chờ sáng ngày mai đi Qui nhơn. Nghe tới nhà trọ tôi càng sợ thêm vì nghĩ không biết chú ấy có tà ý gì, nơi lạ lẫm với giòng đời đầy lừa lọc gian trá liệu tôi có tin chú ấy không? Ánh đèn vàng vọt, sân ga không đủ sáng cho khung cảnh vắng vẻ như thế này. Tôi nhìn chung quanh rồi lại nhìn chú xích lô lưỡng lự. Không còn cách lựa chọn, đánh bạo tôi đành nhờ chú ấy chở đến bến xe đò Qui nhơn, nơi đó có lẽ an toàn cho tôi hơn. Ngồi trên xe xích lô tôi vẫn lo sợ, miệng lâm râm cầu nguyện cho tôi được bình an.


Tôi ngồi ngay trước quày bán vé đi Qui nhơn, hy vọng sáng sớm hôm sau tôi là người đầu tiên mua vé. Khung cảnh nơi đây sáng sủa hơn, có người qua lại bán quà rong, những gian hàng nhỏ đèn điện còn sáng. Tôi an tâm khoan khoái đặt lưng nằm xuống đất, đầu gối lên hai giỏ đồ để ngủ. Trời đã về khuya sao mặt nền đất vẫn còn nóng bỏng, hâm hâm dưới lưng tôi, mùi khen khét xông cả vào mũi thấm tận trong bụng tôi, quá mệt tôi cố chịu để dỗ cho đôi mắt nhắm lại. Chưa kịp nhắm mắt thì một tiếng thét thất thanh vang trong đêm. Tôi nhổm dậy, một người đàn bà đang chạy theo một người thanh niên còn rất trẻ ngang qua chỗ tôi, tay bà với với phía trước, tiếng thất thần kêu cầu cứu của bà “bắt lấy nó …, ăn cướp, ăn cướp bà con ơi”. Nhưng tiếng kêu cầu cứu ấy rơi trong đêm, giữa bao con mắt nhìn theo hờ hững. Người thanh niên tung cái giỏ cho một người khác hứng lấy chạy vào ngõ tối, rồi nhẩn nha đi như người đi dạo, làm như không có chuyện gì xẩy ra. Người đàn bà ngồi bệt xuống đất òa khóc tức tưởi cách tuyệt vọng. “Trời ơi! Nó lấy hết của tôi rồi, cả giấy tờ nữa, làm sao tôi về nhà được đây hở trời? Sao thất nhơn thất đức quá nè, Trời ơi!”. Tiếng than não lòng của bà như xé lòng Trời mà không làm động lòng người.


Nhìn bà tôi lại nghĩ đến tôi, tay rờ nhanh vào bụng, cái ví nhỏ bọc nhựa vẫn còn nằm trong lưng quần. Tôi chỉ có ít tiền đi đường và tờ giấy đi thăm nuôi trong đó, nếu bị mất, không biết sự đau khổ của tôi như thế nào, vì sẽ không được thăm chồng, lại lo lắng hai giỏ đồ thăm nuôi, thời buổi này bất cứ cái gì cũng sợ. Tôi khệ nệ vừa rê vừa xách tới gần hàng bán cháo ở góc xa, mua một chén cháo để làm quen và như là một nơi an toàn cho mình, mặc dù tôi chẳng thấy đói.


Gần về sáng ngoài đường bắt đầu nhộn nhịp, xe chạy qua chạy lại trong bến, xích lô máy xích lô đạp chạy tới chạy lui, hàng quán mở cửa. Bóng người qua lại tiếng cười tiếng nói ồn ào. Nhìn về phía quầy bán vé đã có vài người đứng xếp hàng ở đó. Tôi chào cảm ơn bà bán cháo cho tôi một đêm an toàn bên cạnh bà, rồi đến quày bán vé đi Qui nhơn, vậy mà tôi cũng chẳng mua được vé chuyến đầu tiên vì ở đó người ta đã đặt từng gói đồ, từng khúc củi, cả cái sô nước theo hàng dài để giữ chỗ. Cuối cùng tôi cũng đi tới Qui nhơn.


Tiếng chú lơ xe la to: Tới Gia Trung rồi bà con ơi, ai xuống Gia Trung chuẩn bị đồ đạc đi bà con ơi. Tôi giật mình trở về hiện tại. Xe từ từ vào sát lề đường. Tiếng của chú lơ xe đơn độc hai chữ Gia Trung mà không thêm tiếng trại cải tạo. Tôi tưởng tên gọi Gia Trung là tên của một thành phố, ngơ ngẩn ngó ra ngoài, chẳng thấy nhà cửa hoặc trại tù, chỉ thấy rừng cây cao vút, chung quanh hoang vắng. Tôi nhìn quanh quẩn tự hỏi trại cải tạo ở đâu. Trên xe mọi người lục đục kẻ kéo người xách, lách người xuống xe. Ông cụ ngồi gần bên ôm giỏ đồ đứng lên, thấy tôi còn ngơ ngác, gục gặc đầu nói:


-Tới nơi rồi cô ơi! Họ xuống xe cả rồi, mình cũng xuống đi thôi kẻo không kịp, từ đây vô tới trại còn xa lắm.


Tôi lật đật xuống xe theo mấy người đó. Số người đi thăm nuôi khoảng 12 người. Tôi thật bỡ ngỡ, khung cảnh chung quanh vắng vẻ quạnh hiu không bóng người, ngoài tốp người mới xuống khỏi xe, đang đi trên con đường đất vào sâu hút bên trong.


Vừa đi tôi vừa ngó hai bên đường, những cây cao cây thấp, chỗ dầy chỗ thưa làm ánh sáng chỗ âm u chỗ sáng rực. Tôi lẹt đẹt đàng sau xa nhóm người đi phía trước. Họ đã đi thăm nuôi nhiều lần, nên họ có người nhà đi theo để phụ giúp xách đồ, còn tôi vướng hai giỏ loay hoay tay xách đầu đội, lúc mỏi cổ đau tay tôi lại hất cái giỏ trên đầu xuống bả vai để vác. Vai tôi vẫn còn đau vì hai ngày trước bị củi ném trúng ở ga xe lửa Long-khánh, vừa đi vừa nghiêng cổ vẹo người, dáng người tôinghiêng nghiêng như bóng nắng dưới đường, mồ hôi đổ theo thấm chung từng giọt nước mắt. Xa xa phía trước, ông già lúp xúp đi như chạy để theo kịp họ, ông vừa đi vừa ngoái cổ ra phía sau, tay vời vời ra hiệu cho tôi đi nhanh lên. Những người phía trước bỏ tôi khoảng cách thật xa và khuất hẳn vào khúc đường cong.


Qua khỏi khúc đường quẹo, một trạm kiểm soát với tên công an mặc áo vàng ngồi bên trong. Tôi giật mình theo phản xạ tự nhiên – “chết rồi lại gặp công an”, giữ bình tĩnh tôi thầm nghĩ – “mình đi thăm nuôi chứ buôn bán gì mà sợ tịch thu”. Tấm bảng nhỏ ghi hàng chữ “Trình giấy tờ tại đây”. Tôi bước đến, tên công an nhìn còn rất trẻ tươi cười chào thân mật:


– Chị đi thăm người nhà phải không?


Sự thật là tôi không có thiện cảm với những người mặc bộ đồ công an, tôi đã khổ nhiều với họ rồi, họ không cùng giới tuyến với tôi và họ là người đang giam giữ chồng tôi. Tôi không cười, đưa trình tờ giấy thăm nuôi để ra khỏi chỗ này thật nhanh, vì tôi dị ứng không muốn nhìn họ. Khi nhìn vào thẻ Chứng minh nhân dân của tôi, tên công an mặt hớn hở reo lên:


– Ồ! Quê chị ở Đông Phú – Tiền Hải – Thái Bình, vậy là cùng quê với em. Còn thân mật như là người nhà của tôi: “Gia đình thầy mẹ em còn đang ở ngoài ấy, mà chị cùng họ Đinh với em, chả nhẽ chị em mình có họ hàng với nhau.”


Tôi lườm thầm trong bụng: “Họ hàng gì với chú mà chú nhận, tôi bên Quốc Gia, chú là CS, không thể họ hàng được”. Không muốn mất đi vẻ lịch sự của người miền Nam, tôi hơi mỉm cười nói mát:


– Tôi người miền Nam còn chú miền Bắc sao mà có họ hàng được.


Tên công an ngẩn người như suy nghĩ câu nói của tôi. Cử chỉ vồn vã, nét mặt vui tươi thân thiện của hắn khi biết tôi cùng quê cùng họ, làm như trong tôi có vết thương đang bị muối xát vào. Cùng mẹ VN một dòng máu, một màu da, nhưng không cùng lý tưởng. Biết đâu người công an này có họ hàng với tôi và cũng có thể những người coi tù là bà con với chồng tôi. Với nghiệt cảnh hiện tại, làm sao tránh khỏi anh em cốt nhục tương tàn.


Tôi được chỉ đường tới K1 là nơi giam giữ chồng tôi, đường vẫn còn dài, tôi đến ngồi dưới bóng mát gốc cây bên vệ đường. Phía xa cùng con đường, một người đàn bà đầu đội tay xách như tôi còn dẫn theo một bé gái, vừa đi bé gái vừa khóc, người đàn bà rất trẻ, đứa bé gái khoảng tuổi con tôi. Hình như bé gái không chịu đi bộ nên người mẹ cúi xuống vừa đỡ con vừa kéo lết giỏ đồ trông khó nhọc lê thê. Có lúc người mẹ bỏ giỏ đồ bên vệ đường, gập lưng xuống để cõng con, một tay đưa ra phía sau đỡ lấy con trên lưng mình còn một tay xách giỏ đồ, dáng xiêu xiêu bước đi nặng nề mỏi mệt giữa trưa nắng như lửa đốt. Đi được vài bước, người mẹ lại xốc đứa con trên lưng để khỏi bị tuột xuống, lưng người mẹ còng hẳn xuống, tay vuốt mồ hôi trên mặt và quay lại vuốt nhè nhẹ vào má đứa bé như thể dỗ đành vỗ về. Người mẹ cõng đứa con tới gốc cây tôi đang ngồi, thả con xuống và nhờ tôi trông chừng rồi trở lại chỗ cũ xách giỏ đồ còn lại. Cứ như vậy suốt con đường, thay phiên cõng con và xách đồ từng chặng, thật vất vả khổ sở. Nếu không cùng hoàn cảnh, không thể nào cảm được cái cảnh đi thăm chồng. Trên thân người đàn bà đó đã chịu bao nỗi khổ trong cuộc sống, giờ đây đang cố gắng gồng giữ niềm yêu thương của mình..


Đứa bé gái trông thật xinh, mặt bé đỏ au dưới ánh nắng mặt trời, tóc ướt mồ hôi dính chặt trên vầng trán, mắt bé tròn như hai hòn bi, thơ ngây nhìn tôi an tâm không khóc. Đến khi nhìn thấy một người công an gánh hai thùng nước đang đến gần, những giọt nước sóng sánh toát ra ngoài theo nhịp bước, mắt tôi và bé gái đều sáng lên, tôi còn chịu đựng được nhưng bé gái gào khóc lên gọi mẹ vì thấy nước. Người mẹ ngước về phía con lo lắng, chân bước thật nhanh đến con mình, thấy mẹ, đứa bé vừa khóc vừa chỉ về hướng người công an:


– Mẹ! Con muốn uống nước, con khát nước quá mẹ ơi.


Người mẹ liếc nhìn tên công an như thể thấy một hung thần, cúi xuống dỗ con.


– Đừng khóc nữa con, gần tới chỗ bố rồi, tha hồ uống nước con ạ.


Nhưng vì quá khát nước, đứa bé càng khóc to hơn.


– Không! Mẹ ơi con muốn uống nước bây giờ, không có nước con sẽ chết.


Người mẹ không còn biết làm sao dỗ con, đành bứt mấy lá cây rừng, cuốn tròn lại thành cái phễu, đánh bạo đến gần người công an để xin nước cho con mình.


– Xin cán bộ cho con tôi tý nước.


Mặt người công an lạnh lùng cau mày gắt lên:


– Chị là vợ của những tên ngụy quân, ngụy quyền, là loại phản động phản quốc, được nhà nước khoan hồng cho đi thăm nuôi, mà còn đòi thế nọ thế kia, ở đây không có nước cho các chị.


Người mẹ nhìn về phía con đang gào khóc đòi nước, cố nén tủi nhục, nhẫn nại năn nỉ:

 

– Không! Tôi không xin nước cho tôi. Người mẹ chỉ tay về đứa con đang khóc, hầu mong khơi dậy một chút tình người. “Cán bộ nhìn thấy đứa bé đang khóc đàng kia kìa, từ sáng đến giờ nó chưa được uống nước. Cán bộ làm ơn cho tí nước đi cán bộ”. Người mẹ giở cái phễu lá rừng năn nỉ:


– Tôi chỉ xin một chút nước đựng trong này thôi, không nhiều đâu cán bộ.


Tên công an đứng bật lên, gánh nước bước đi, trút đổ bao hận thù xuống người mẹ.


– Toàn là thứ phản động, theo đế quốc Mỹ, sống sung sướng quen rồi, nóng một tý mà cũng không chịu được. Chị tưởng tôi là đầy tớ gánh nước cho chị hả, đồ thứ phản quốc.


Người mẹ chạy lại ôm chặt con mình, ép nỗi uất đau òa theo tiếng khóc của con. Tiếng khóc hai mẹ con vang trong rừng vắng không làm vơi thù hận của những kẻ không trái tim không tình người.


Ôi quê hương tôi không còn chiến tranh, không còn nghe tiếng súng mà vẫn còn đè nặng bởi thù hận và khổ đau. Hình ảnh vừa rồi thật trái ngược với hình ảnh năm nào của những người lính Sư đoàn 18 VNCH trong một buổi chiều dừng quân nơi thôn làng tôi ở. Họ chỉ có một vài giờ nghỉ chân mà còn tìm cách giúp đỡ những người dân trong thôn làng, người gánh nước người chẻ củi, cứ thấy công việc nào người dân đang làm là họ xúm lại phụ giúp. Hình ảnh thân thương đầy tình người, gần gũi với đồng bào đã ở mãi trong tim tôi.


Con đường đi vòng trên sườn đồi, nhìn xa xa phía dưới, những dãy nhà lợp tôn lẫn lợp lá hiện ra thấp thoáng. Trong lòng tôi vừa mừng vừa hồi hộp biết là nơi đó có chồng tôi, tự dưng đầu tôi quay mòng mòng, chân tôi muốn quỵ xuống. Mãi tận rừng núi hoang vu, hàng hàng lớp lớp nhà tù, đang giam giữ chồng tôi và những người sống vì chính nghĩa, chịu bao nhục hình của bầy thú dữ, nước mắt tôi lại chảy, chỉ biết gọi thầm tên anh. Mong rằng anh cảm nhận được tiếng gọi của tôi và biết rằng tôi đang đến gần anh.


Căn nhà thăm nuôi của K1 nằm bên phải con đường phía dưới chân đồi, nhìn rất rõ vì cây rừng đã được phá hoang, thỉnh thoảng còn lại ít cây to rải rác. Thấy con đường vòng hơi xa, nóng lòng gặp chồng, tôi tìm cách đi lối khác. Tôi thả hai giỏ đồ đã được cột chặt lăn xuống theo sườn đồi, còn tôi thì cột hai ống quần vào cổ chân rồi ngồi tụt xuống, vì độ dốc rất cao. Cũng may tôi mặc cái quần vải thun dầy nên không bị rách, chỉ bị trầy chút da chân và tay vì vướng vào cành chà.


Tôi tới nhà thăm nuôi đã gần chiều, có mấy người cùng chuyến xe tới trước cũng đang ở đó. Nhà thăm nuôi hẹp và dài, được chia ra nhiều ngăn, mái lợp lá, vách đắp bằng đất trộn rơm. Ngăn đầu có một lối ra vào không cánh cửa, ở giữa kê một cái bàn gỗ dài, hai cái ghế dài hai bên, có lẽ là chỗ gặp thân nhân. Gần lối ra vào, một cái bảng nội qui ghi những điều luật cấm.Những điều luật cấm thì trại tù nào cũng như nhau, nhưng thời gian thăm nuôi thì tôi như hụt hẫng với bao mơ ước dự tính trong đầu khi nhìn con số 15 phút thăm gặp. Lòng tôi sôi quặn, trời ơi ba ngày đường xa xôi, lặn lội rừng sâu mà chỉ được gặp chồng có 15 phút thôi sao. Chưa gặp mặt chồng mà nước mắt tôi đã ứa bờ mi.


Trước sân nhà thăm nuôi là con suối nhỏ, bên kia con suối, những dãy nhà tù thật xa, dù thấy bóng người tù cũng không thể nhận diện được ai vì quá xa. Tôi mon men đến gần sát bờ suối, mắt hướng về phía trại tù mong ngóng hình bóng yêu thương của mình qua thần giao cách cảm.


Trời gần nhá nhem tối, thêm được hai chị đi thăm chồng ở K4 và K5 đến tạm ngủ chung với chúng tôi cho qua đêm, chờ sáng hôm sau trở lại chỗ cũ để gặp chồng. Chúng tôi chẳng ai biết ai, nhưng cùng hoàn cảnh nên dễ thân thiết, ngồi chụm chung lại với nhau nói chuyện. Thật là khủng khiếp kinh sợ khi nghe các chị kể chuyện, ngay tại nhà thăm nuôi K1 này, đêm đêm có một bóng ma, hiện lên lơ lửng phía sau nhà, chỗ cây cao nhiều cành lá. Ngôi nhà này vách sau có những cửa sổ không cánh, chấn song bằng những cành tre nhỏ nên có thể nhìn qua lại rất rõ. Tin đồn có một chị đi thăm chồng, không biết vì vấn đề gì đã treo cổ tự tử ngay cây cao phía sau nhà, nên bây giờ hồn chị luẩn quẩn quanh đây, hiện ra với âm thanh rên rỉ khóc than theo tiếng gió vi vu thật rợn người. Trời chưa tối hẳn, tôi đã thấy sờ sợ, ngồi chen vào giữa các chị. Có chị quả quyết là chị không tin người đàn bà đó tự tử, trong khi cực khổ đi thăm chồng, đã đến tới nơi sắp gặp được chồng, cớ gì lại tự tử. Có thể người đó tới đây, không có ai cùng thăm nuôi, đêm vắng vẻ bị tụi công an hãm hiếp, rồi giết treo cổ chị trên cây để không chứng cớ và gán cho chị là tự tử. Hai chị thăm nuôi K4 và K5 đều nói cũng nghe tin đồn đó, nên hai chị tìm đến với chúng tôi để không bị nguy hại. Phần tôi, nếu không nghe được chuyện này, lần đầu tiên đến đây, một mình đêm vắng, có thể cũng như người đàn bà bị treo cổ trên cây kia.


Ngoài sân màn đêm đã bao phủ một màu đen đặc, ếch nhái ngoài bờ suối ì ộp kêu. Đàng xa, có ánh đèn bin đang rọi đi tới nhà thăm nuôi, một chị khều tay nói khẽ, “kiến vàng đang đến” (ý nói Công An). Chờ trời tối, công an mới đến kiểm tra có bao nhiêu người ở đó để phát mùng mền. Tới lượt tôi, tên công an cầm súng chỉa thẳng vào tôi, sợ trường hợp bất cẩn, tôi nói với tên công an:


– Cán bộ làm ơn đưa họng súng qua hướng khác, đừng chỉa vào tôi lỡ tay rất nguy hiểm.

Tên công an sừng sộ:

– Vợ tụi ngụy không tin được, phải cảnh giác.


Và họng súng vẫn hướng về phía tôi. Tôi là người sau cùng vô tới trại, công việc nấu cơm theo thứ tự, tới phiên tôi là chót. Ở đây có một cái bếp và một cái nồi móp méo, người này nấu xong dỡ cơm ra rồi đến người kế tiếp. Cũng có người không nấu cơm, họ mua các loại bánh đưa vào ăn, còn tôi tiền bạc eo hẹp, mua được hai lon gạo, nấu ăn đêm nay và ngày hôm sau, cũng may tôi còn một quả trứng luộc mua dọc đường chưa kịp ăn..


Nấu cơm xong đã quá nửa đêm, tôi dỡ cơm vào chiếc khăn tay ướt nắm lại cho chắc và chia thành hai nắm, một nắm ăn ngay, còn một nắm dành cho ngày mai. Tôi cạo vét những hạt cơm cháy dưới đáy nồi để còn rửa sạch cho người khác nấu. Nhìn những hạt cơm bất chợt lòng tôi nhói buốt xót xa. Hình ảnh hai người tù cải tạo hồi chiều đã làm tôi rơi nước mắt, ruột co thắt và tim gan như xé ra từng mảnh.


Lúc tôi đứng bên bờ suối nhìn sang trại giam. Một chị đưa nồi ra suối rửa, những hạt cơm theo nước trôi, nằm đọng dưới nước lẫn lộn đất cát và sỏi đá. Một người tù cải tạo lao động gần đó, đưa mắt liếc nhanh, chờ cho chị ấy bước hẳn lên bờ, người tù vội vàng bước thật nhanh xuống lòng suối, giả bộ cúi xuống rửa mặt, nhanh tay mò nhặt những hạt cơm lẫn chung với đất cát bỏ vội vào miệng của mình. Hình ảnh đó thu nhanh vào mắt tôi, vào đáy lòng của tôi. Ôi! Thật đau khổ dường nào, xót xa dường nào. Trời ơi! Chồng tôi cũng như thế sao?


Khi tôi ra bìa rừng nhặt mấy nhánh củi khô để nấu cơm, một người tù cải tạo đang chặt cây rừng, mon men lại gần phía tôi lấm lét nói nhỏ, ánh mắt như cầu khẩn:


– Chị ơi! Khi nào chị nấu cơm xong, chị đừng đưa nồi ra suối rửa, chị làm ơn dấu cái nồi trong bụi rậm này cho chúng tôi chị nhé.


Hai hình ảnh đó làm tôi như chết lặng. Trời ơi! Những người tù cải tạo, những con người khốn khổ sao ra nông nỗi này? Sao biến đổi như thế này? Cộng sản quá ti tiện bẩn thỉu, hành hạ người tù bằng cách này.


Hai nắm cơm trắng nằm trong chiếc khăn tay. Tự nhiên hình ảnh chồng tôi qua hình ảnh hai người tù cải tạo ấy làm tôi chẳng thấy đói. Một nắm tôi gói lại cho chồng, một nắm tôi bỏ lại trong nồi cùng ít cơm cháy, chờ trời sáng tôi dấu vào bụi rậm, không biết người tù nào may mắn được ăn nắm cơm này.


Đặt lưng xuống chiếc giường tre, tôi không ngủ được, trằn trọc thao thức đếm từng tiếng chim cú kêu ngoài rừng, đếm từng tiếng gà rừng gáy. Chỉ còn vài giờ đồng hồ là tôi được gặp người chồng yêu thương của tôi. Thời gian trôi qua chậm lòng tôi bồn chồn nôn nao khó diễn tả, bao nhiêu hình ảnh của chồng, bao nhiêu tâm tình muốn nói với chồng đầy ắp trong đầu, không biết sắp xếp câu nào trước câu nào sau, vì chỉ có 15 phút. Mắt cứ mở lớn nhìn trên nóc mùng, từng bầy rệp, họ hàng nhà rệp, phải nói là cả xã hội rệp lớn nhỏ có đủ, vừa ngửi thấy hơi người, thi nhau bò theo hàng theo lớp thật nhanh xuống chỗ tôi nằm để hút máu, cái mền cũng vậy, rệp bò lổn ngổn lúc nhúc, mùi tanh tanh ngai ngái đến lợm giọng. Bỏ mền ra thì lạnh, cái lạnh của miền núi rừng cao nguyên tê buốt thấu xương, ra ngoài ngồi thì bị muỗi rừng chích, tôi đành chịu để rệp hút máu. Nhìn đoàn rệp bò như hội chợ, con no máu bụng căng phồng chậm chạp bò lên nóc mùng, con nào còn thèm thuồng lại bò xuống, cứ như vậy bò lên bò xuống suốt đêm. Tôi thương tôi bị rệp hút máu, tôi lại đau xót cho đất nước và đồng bào tôi, chịu để bị tàn phá rỉa róc đến tận xương tủy.


Trời hừng hừng sáng, tiếng kẻng lanh lảnh phát ra từ trong trại tù, hàng loạt vang dội vào tai tôi đến nhức óc, tiếng kẻng báo hiệu những người tù đi làm khổ sai. Mọi người lăng xăng háo hức xếp đồ thăm nuôi gọn gàng chờ gặp người thân, có người sắp đồ để bên cạnh cái bàn như thể chồng mình đang ở đó. Tôi cũng nôn nao hồi hộp, mắt hướng về bên kia bờ suối mong ngóng. Từ đàng xa, người công an dẫn những người tù đi đến, tất cả mọi người chúng tôi chạy ùa ra đứng cạnh bờ suối, chỉ mong nhìn thấy chồng mình trước, nhưng những người tù đó rẽ ra hướng khác làm mọi người hụt hẫng ngơ ngác. Tôi không ngạc nhiên, biết chắc tốp tù đó không có chồng tôi, vì họ mắc bộ đồ tù màu xám nhạt, trước ngực và sau lưng đều đeo bảng số, người nào cũng như bộ xương biết đi được khoác lên bộ đồ tù rộng thùng thình, vạt và tay áo phất phơ như hình thằng bù nhìn mà nông dân thường treo ngoài ruộng rẫy để đuổi chim. Thêm hai lớp tù nữa đi qua, họ đi bên kia bờ suối khoảng cách hơi xa, nhưng họ cứ ngoái lại nhìn chúng tôi, trông thật tội nghiệp. Mặt người nào cũng còm cõi hốc hác. Tôi đoán họ là tù hình sự, chắc bị hành hạ tra tấn dữ lắm nên thân xác họ tiều tụy như vậy. Tiếng các bác các chị nhao nhao:


– Đang ra kìa! Đang đến nữa kìa, chắc lần này đúng rồi.


Tôi bước ra chỗ khác để nhìn cho rõ, vẫn thấy hai người công an mặc áo màu vàng cầm súng đi chung với tù cải tạo, nhưng tốp này ít người tù hơn. Họ cũng mặc áo tù màu xám có bảng số. Tôi nhìn dửng dưng, người tôi đang mong đợi là chồng tôi, chứ không phải những người tù hình sự đó. Những người tù đến gần bờ suối, người nào cũng hướng về chúng tôi, mắt tôi nhìn về một người vì người ấy nhìn tôi mỉm cười. Tôi thấy tội nghiệp vì bộ đồ tù quá rộng phủ lên người đó, còn tóc cắt ngắn gần như trọc nhẵn. Mắt tôi vẫn trông theo người đó, tôi hơi ngạc nhiên, người đó xa lạ tôi không quen tại sao cứ nhìn thẳng vào tôi. Quay sang chị bên cạnh, tôi chỉ vào người tù đó:


– Chị ơi! Tôi không quen người tù đó, mà sao nhìn tôi cười.


Chị ta nhìn theo hướng tay tôi chỉ:


– Chắc người nhà chị, cười với chị, chứ tui đây sao không cười với tui. Chị ta cười nói đùa:


– Trời ơi! Nhìn thấy chồng mà mặt làm bộ tỉnh queo.


Tôi cãi lại: “Chồng tôi nhìn đâu như vậy”. Những người tù qua hẳn bên này suối, khoảng cách thật gần, cách tôi chừng 5 bước. Bỗng mắt tôi hoa lên, chân đứng không vững, bầu trời như sập xuống. Tôi mở to mắt nhìn, như không vào mắt mình, tim tôi đập mạnh trong lồng ngực. Ôm lấy ngực, cắn chặt môi để không thét thành tiếng, tim tôi đau nhói.


Ôi! Chồng tôi, chồng tôi đấy ư! Chồng tôi ra nông nỗi này sao? Không lẽ là anh, lúc này tôi nhận rõ anh qua ánh mắt. Ánh mắt ngày xưa nhìn tôi yêu thương nồng nàn, bây giờ cũng ánh mắt ấy nằm trong một hốc sâu trông thật xót xa. Đôi mắt to tròn đầy cương nghị chỉ còn là hai hố sâu hoắm trên cái đầu lâu được bọc da. Đau xót thương cảm tôi nghẹn ngào, nước mắt cuồn cuộn thi nhau chảy. Trời ơi! Hình dạng chồng tôi hao mòn biến đổi ra thế này ư. Tôi đưa tay bụm chặt lấy miệng để tiếng khóc không thoát ra ngoài, mặt tôi dàn dụa nước mắt, tim nhói đau theo nhịp tiếng khóc trong cổ họng. Hình ảnh chồng tôi lung linh qua làn nước mắt. Anh nhìn tôi đau khổ, đầy nước mắt khô,môi anh khẽ mấp máy:


– Nín đi em, nín đi em. Anh đây! Anh không sao, anh còn sống!


Tôi đứng nhìn anh chết sững, Tôi biết những dòng nước mắt của tôi sẽ làm anh khổ, nhưng tôi không thể nào cầm lòng được khi nhìn thấy chồng như thế này. Tôi muốn chạy lại ôm chặt lấy anh, ôm lấy hình hài như da bọc xương của anh, san sẻ cho anh chút sinh lực hơi ấm nơi tôi. Nhưng tôi không làm được, cặp mắt hai tên công an cầm súng trừng trừng nhìn chúng tôi như ngầm bảo “không được lại gần những người tù”, chúng tôi thật gần mà khoảng cách thật xa bởi quyền lực.


Sáu người tù đứng theo hàng trước nhà thăm nuôi. Tôi chờ tiếng nói của 2 tên công an cho phép gặp gỡ người tù, sẽ chạy đến bên anh, đưa anh vào chỗ nơi tôi để sẵn giỏ đồ thăm nuôi. Nhưng tên công an ra lệnh mấy người tù thứ tự theo hàng đứng vào một bên hàng ghế, còn một bên hàng ghế đối diện, tên công an hất mặt lại phía những người đi thăm nuôi.


– Này! Ai là người nhà, chỉ được một người thôi, ngồi phía bên kia người nhà của mình.

Chúng tôi lần lượt như một cái máy bước nhanh vào chỗ ngồi đối diện. Những người tù ngồi bất động, xót đau nhìn người thân của mình, kiên nhẫn chờ đợi. Người công an đứng ở đầu bàn hắng dặng, gằn giọng nói:


– Trước khi người nhà tâm sự với nhau, phải tuân theo điều luật, động viên các anh ấy học tập tốt, nhất là không được khóc làm nản chí học tập các anh ấy. Phải biết là nhà nước cách mạng đánh đuổi Mỹ- Ngụy ra khỏi nước, nhà nước đã khoan hồng cho các anh ấy học tập để không còn theo Mỹ-Ngụy đánh đổ nhà nước, bây giờ đã hòa bình, xã hội chủ nghĩa là xã hội tự do vv…Ôi chao, tên công an cứ như con vẹt đọc bài thuộc lòng, những lời tên công an không lọt vào tai chúng tôi. Mắt và đầu óc tôi chỉ chăm chú vào chồng tôi, nước mắt tôi vẫn không ngừng rơi.


Trong phòng thăm nuôi im lặng, ngoài tiếng nấc, tiếng sụt xịt nghẹn ngào trong cuống họng và tiếng giảng thuyết lên lớp của tên công an, kéo dài như cố tình quên 15 phút thăm gặp. Những giọt nước mắt của tôi như động lực đưa bàn tay anh về phía tôi, như muốn vỗ về an ủi mà trước đây mỗi lần tôi khóc. Bàn tay anh rướn gần tới bàn tay tôi thì ngừng lại, vì tên công an cầm súng tiến gần phía sau lưng tôi, ngón tay anh run rẩy như những lóng xương đang động đậy. Lòng tôi đau như cắt, chẳng nói được gì ngoài hai hàng nước mắt, tôi muốn vươn tới nắm lấy bàn tay xương xẩu của anh, nhưng cặp mắt của tên công an vừa nói vừa liếc nhìn chúng tôi. Dưới gầm bàn, tôi cảm được bàn chân chồng tôi đang động đậy kiếm bàn chân tôi, trút vội cái dép khỏi chân tôi đưa chân mình lần mò đặt lên chân anh, để chồng tôi nhận hơi ấm và tình cảm của tôi lén lút gửi qua bàn chân anh. Bàn chân chồng tôi đang lạnh từ từ ấm lên, tôi khóc mà cảm được hạnh phúc qua đôi bàn chân. Cho tới khi tên công an cho phép trao đổi tâm tình, thời gian chỉ còn 5 phút ngắn ngủi, tôi chẳng nói được gì với chồng tôi, ngoài tiếng nấc nghẹn ngào, gật đầu và lắc đầu theo tiếng hỏi thăm của chồng tôi về bố mẹ và hàng loạt người thân mà chồng tôi nhớ tới. Hết giờ thăm nuôi.


Tới lúc kiểm tra đồ thăm nuôi, có món mẹ tôi cố công làm gửi cho anh và vài món khác không hợp lệ bị gạt ra. Tôi hồi hộp nhìn những món đang kiểm tra, tới món mỡ chưng hấp với đường cát trắng, tôi nặn óc nghĩ mãi cách qua mặt tên công an, mở gói mỡ ra, những miếng mỡ trong veo bọc với đường cát trắng trông giống như miếng mứt bí, tên công an cầm từng miếng lên ngửi, thắc mắc hỏi tôi:


– Cái này là thứ gì?


Tôi trả lời nhanh để hắn khỏi nghi ngờ:


– Thưa cán bộ, thứ này là mứt bí, Tết qua lâu rồi sợ bị hư, tôi gởi cho chồng tôi để ăn tết muộn ạ.


Như thể tên công an chưa bao giờ nhìn và nghe nói mứt bí, vẫn thắc mắc:


– Mứt bí là cái thứ gì?


Có lẽ người ngoài Bắc không hiểu tiếng người trong Nam. Tôi lại giải nghĩa:


– Mứt này cứ vào dịp tết, chúng tôi lấy quả bí đao cắt lát, ướp với đường phơi khô thành mứt, gọi là mứt bí.


Tôi thở phào khi tên công an bỏ miếng mỡ heo vào gói và đẩy về phía chồng tôi, anh nhanh tay bỏ vào giỏ của mình, chỉ sợ bị lấy lại. Tên công an giả lả:


– Mất bí đao thì cứ gọi là mất bí đao. nói là mứt..mứt …,ai mà biết.


Vài tiếng cười khúc khích nho nhỏ của mấy người đi thăm nuôi đứng gần đó. Tên công an quay lại gừ lên: – Các chị cười cái gì vậy. Còn nắm cơm, tôi gói vào tờ giấy đã nguội ngắt, hắn cầm lên sừng xỏ với tôi:


– A! Chị này giỏi thật. Dám xỉ nhục cách mạng. Chị tưởng nhà nước chúng tôi bỏ đói chồng chị hả, tôi bỏ lại hết đồ thăm nuôi của chị bây giờ.


Lúc đó tôi run quá, vì thương chồng mà làm hại tới anh. Sợ chồng tôi không được nhận những món đồ thăm nuôi, tôi định lấy lại nắm cơm và xin lỗi tên công an, nhưng thấy ánh mắt chồng tôi nhìn vào nắm cơm. Tôi thật đau lòng và xấu hổ cho sự hèn nhát yếu đuối của mình khi phải nói những gì không đúng sự thật, giọng tôi run run uất ức:


– Thưa cán bộ! Tôi biết nhà nước cách mạng khoan hồng cho chồng tôi, được đi học tập cải tạo như vậy là tốt, để chồng tôi thông suốt đường lối, sống tốt với nhà nước với nhân dân. Còn tôi đâu dám xỉ nhục nhà nước, nắm cơm này tôi nắm để ăn, còn thừa đã hơn một ngày rồi, nó bắt đầu hơi thiu, bỏ đi thì tiếc. Tôi để lại cho chồng tôi ăn, nếu không còn ăn được, chồng tôi vất đi cũng được mà.


Những lời tôi nói làm dịu lòng tên công an, cầm cuốn sổ tay, tên công an gõ vào cạnh bàn, nói.


– Chị hiểu được nhà nước như vậy là tốt, thôi được, cho phép chồng chị lấy nắm cơm thiu này. Chồng tôi chỉ chờ có vậy, cầm vội nắm cơm bỏ vào giỏ và bước nhanh vào hàng đi theo hai tên công an vào lại trại.


Chúng tôi nước mắt tiễn đưa những người thân tới bờ suối, ranh giới của chia cách. Những người tù ngoái lại nhìn chúng tôi trông rất thương cảm xót xa, không biết có lần sau gặp lại vợ mình, người nhà của mình nữa không?


Mọi người trở vào thu xếp để đi về. Bóng chồng đã khuất hẳn, tôi thẫn thờ nán lại bên bờ suối, nhìn về hướng trại giam như để hy vọng còn nhìn thấy anh. Tiếng các chị gọi ơi ới:


– Không gặp lại nữa đâu, đi về đi.


Bước vào nhà thăm nuôi, nhìn từng chỗ vẫn thấy hình ảnh chồng tôi, từ chỗ anh đứng xếp hàng, chỗ ngồi vào ghế, lúc anh đứng nhích tới để xếp đồ vào giỏ, từng hình ảnh một hiện lại trong mắt tôi. Tôi ngồi vào ngay chỗ anh ngồi, tưởng tượng anh còn đang ngồi với tôi, tay tôi xoa xoa mặt bàn tìm chút hơi ấm còn đọng lại của anh. Nước mắt tôi lại trào ra, chỉ là tưởng tượng, mặt bàn trống trải lạnh tanh, hơi lạnh chuyền vào tay thấm tới tim tôi, ngơ ngác tôi như còn muốn kiếm tìm.


Mặt trời đã lên cao. Tôi ra về mà lòng trĩu nặng xót đau, hình ảnh tù tội khốn khổ của chồng luẩn quẩn quanh tôi là hành trang yêu thương theo tôi suốt cả cuộc đời. Từng bước chân nặng nề bước trên con đường dốc ven đồi, đầu tôi ngoái lại như hồn còn ở giữa núi rừng hoang vu.


Từ xa, nơi ngã ba đường, hình dáng như quen thộc đang tiến vào con đường tôi đang đi. Ồ! Thì ra ông cụ cùng chuyến xe sáng hôm qua. Tôi đứng lại chờ, dáng ông thất thểu lom khom từng bước chậm chạp, không còn vẻ nhanh nhẹn như hôm qua. Thấy tôi ông chỉ hơi nhếch mép, vẫn cái miệng móm mém của ông, tôi nhanh nhẩu chào:


– Chào bác! Hai bác cháu mình có duyên gặp lại nhau, sao bác? Con trai bác có khỏe không?


Tôi chào hỏi để có chuyện nói chứ cùng cảnh thăm tù, thấy người thân nỗi đau như xé ruột gan. Ông cụ òa lên khóc, tiếng khóc nỉ non ai oán.


– Tôi khổ quá cô ơi! Lặn lộn đường xa mong gặp con mà chẳng được gặp.


Tôi cầm lấy tay ông lắc lắc, lo sợ!


– Sao vậy bác! Anh ấy bị làm sao?


Như cào vào nỗi đau thương của ông, mếu máo ông càng khóc to hơn:


– Tội nghiệp cho con tôi, nếu tôi đi thăm một tuần trước đây thì đâu đến nỗi này, con tôi bị giam vào nhà đá mấy bữa nay rồi cô ơi. Ông khóc hu hu, giọng nghẹn ngào đứt quãng: “ Khổ thân con tôi! Sao con khổ vậy, con làm gì nên tội mà họ hành hạ con”!


Nước mắt tôi chảy theo nước mắt ông, cùng hoàn cảnh và tâm trạng. Kẻ khổ không gặp được con, người đau nhìn chồng thân xác hao mòn xác xơ. Một già một trẻ chung niềm đau, chậm chạp lê bước trên đường.…


Sau này, những đêm nằm gối đầu trên cánh tay chồng, tôi thường nghĩ đến những năm tháng sống trong đen tối khổ đau, những tủi nhục khổ cực mà chồng tôi chịu đựng trong nhà tù khổ sai mà Cộng sản gọi là “ tập trung cải tạo”. Tôi thì thầm hỏi anh nghĩ gì mỗi lần nhìn thấy tôi và ngày đó ở trại tù Gia Trung, cảm giác của anh khi bàn chân tôi tìm để trên bàn chân anh dưới gầm bàn, anh bóp nhè nhẹ bờ vai tôi cách âu yếm. Ngày mất nước, anh mất tất cả. Ngày vào tù, coi như anh đã chết. Những lần thấy tôi, nhìn tôi tàn tạ héo úa, anh rất khổ. Anh bất lực trong hoàn cảnh không thể an ủi xoa dịu tôi, anh không khóc được như tôi đã khóc, anh dồn nén niềm đau của mình càng làm anh đau hơn. Nhưng anh vẫn nhìn thấy nơi tôi một vùng trời đầy hy vọng, giúp anh thêm niềm tin và nghị lực. Và lần đó, anh không nhận được hơi ấm từ bàn chân tôi, có thể chân anh và tôi khoảng cách hơi xa, nên chân tôi đặt lên bàn chân người bạn tù ngồi kế bên.. Thôi thì người bạn tù đó cũng cảm được sự an ủi, hạnh phúc nghĩ đó là chân của vợ mình.


Anh quàng tay ôm chặt lấy tôi, như thể bàn tay anh còn quá hẹp, không đủ ôm cả niềm yêu thương hạnh phúc của mình. Còn tôi, rúc vào cổ vào ngực anh, hạnh phúc nghe được nhịp tim và hơi ấm, như đang nghe điệu nhạc dịu êm, ru tôi vào giấc ngủ trong vòng tay ấm áp của anh, mà trước đây tôi thường phập phồng lo sợ tưởng rằng mình không bao giờ còn có những giây phút này.


24/4/2014

Hoàng Yến

From: Bác sĩ: Hanh Van Phung

Thêm Facebooker bị khởi tố với cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do, dân chủ

Ông Lê Văn Hải, một người ở tỉnh Bình Định thường sử dụng Facebook để chia sẻ quan điểm cá nhân về những vấn đề liên quan đất đai của gia đình và lãnh đạo các cấp đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam, vừa bị bắt để điều tra. Cáo buộc mà cơ quan chức năng đưa ra đối với ông này là ‘lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân’ theo điều 331 Bộ Luật Hình sự Việt Nam năm 2015.

CẦN CẢM NHẬN ĐỂ CẢM TẠ THIÊN CHÚA MUÔN ƠN LÀNH CHÚA BAN CHO TA

CẦN CẢM NHẬN ĐỂ CẢM TẠ THIÊN CHÚA

MUÔN ƠN LÀNH CHÚA BAN CHO TA

 Tuyết Mai

Tình Yêu của Thiên Chúa thì thật cả vũ trụ, mọi tạo vật và con người đều hiểu vì đó là sự hiển nhiên hiện hữu trước mắt chúng ta. Nhưng bởi vì con người có tánh vô cảm và bội ơn; không bao giờ muốn nhớ ơn của ai đã làm cho mình mà luôn kiêu ngạo nghĩ rằng tất cả mọi thứ chúng ta có và sở hữu là do tài năng của chúng ta đã tạo ra chúng.

**

Nên điều mà chúng ta hay làm nhất là muốn chứng minh cái Tôi của mình bằng cách đối xử tệ bạc với người trong gia đình nhất là luôn coi mình là nhân vật quan trọng, đem tiền về nhà và chu chấp đầy đủ cho tất cả mọi người. Và hẳn nhiên là chúng ta cảm thấy nếu thiếu mình thì chắc mọi người chết đói hết; do cách nghĩ như thế nên gia đình luôn là nơi để cho chúng ta xả stress cách rất bình thường. Bạo hành người trong gia đình từ lời nói cho tới hành động làm tổn thương mọi người (cả đời). Luôn gây xào xáo, bất bình trong những chuyện rất nhỏ; luôn tỏ ra bất mãn và sau cùng là đưa đến chuyện bỏ nhau.

**

Nhưng trên hết mọi sự thì chúng ta cần để Thiên Chúa làm chủ cuộc đời và căn nhà tâm hồn của chúng ta. Chúng ta cần nên minh bạch và cần cẩn trọng tới những căn phòng chứa những thứ đồ gian dối, lấy của người làm của mình thì chẳng khác nào chúng ta nuôi quỷ trong nhà và để chúng điều khiển; thì lâu dần chúng ta khó đuổi chúng ra khỏi nhà được lắm!? Sự cẩn trọng là cần thiết như Chúa Giêsu luôn khuyên con cái Chúa là hãy luôn “Tỉnh thức” kẻo khi để trộm vào nhà thì chúng ta cũng sẽ phải chết thôi.

**

Có khổ không khi chúng ta hy sinh quá nhiều thời giờ và long óc để mang cho được những thứ vô bổ, vô ích chất chứa vào nhà. Để cho mọi con mắt của người xấu luôn dòm ngó, rình rập và tính toán cái ngày chúng sẽ tìm cách đột nhập vào trong; có lẽ chúng cũng cần thời gian dài để xem xét giờ đi, giờ về của mọi người trong nhà … Rồi đến một ngày không ngờ nhất thì cả gia đình cũng sẽ phải đối đầu với chúng và hậu quả thì có thể nhiều người bị mất mạng!?

**

Đối với cuộc sống nơi trần gian này thì chúng ta hằng ngày phải đối đầu với sự dữ, với những đam mê, nghiện ngập khó tránh khỏi… Duy chỉ có Thiên Chúa, có Mẹ Maria mới có thể giúp chúng ta tai qua nạn khỏi mà thôi và dần nhờ ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần chúng ta có thể cảm nhận được Ơn của Chúa xuống từng ngày sống mà không cần đòi hỏi phải có nhiều tiền đâu. Cũng giống như chúng ta cảm nhận được tình bằng hữu biết trân quý nó, trân trọng giá trị của nhau thì cũng gần giống vậy.

**

Chỉ có khác là một người thì phải luôn có trước mặt chúng ta để nhìn thấy, nghe và chia sẻ buồn vui với. Còn Thiên Chúa của chúng ta thì Người luôn Có Đó ngay sát bên chỉ cần trong sự thinh lặng ta cũng có thể nghe được Người. Hơi thở nhẹ nhàng của Người như cơn gió nhè nhẹ thổi qua mái tóc hoặc nụ hôn phớt trên má cho ta cảm thấy ấm lòng.

**

Hạnh Phúc thay cho hết thảy chúng ta vì có Người để yêu thương và là Thiên Chúa rất quyền năng. Người là Khiên Thuẫn và là Thành Trì Kiên Cố để chúng ta ẩn náu. Có Người, ta không sợ một ai hiếp đáp. Người chẳng bao giờ xa ta nửa bước. Khi ta buồn thì Người ngồi đó để cùng cảm và cùng khóc với ta. Người cũng biết khi con người quá đau khổ thì chỉ biết trách móc Người thôi; nhưng người chẳng những không giận mà luôn tha thứ cho ta.

**

Khi ta đứng trước bờ vực thẳm thì cũng chính Người lôi kéo ta trở về cùng Người để Người an ủi và Lắng Nghe. Còn giá trị tinh thần nào cho bằng là Thiên Chúa vô cùng Yêu Thương chúng ta. Còn an toàn nào cho bằng khi ta sống luôn bội bạc với Người mà Người vẫn không mảy may ngoảnh mặt mà chối bỏ chúng ta. Đường đời thì ai cũng giỏi cũng dầy dạn những kinh nghiệm vì ngay cả một đứa con nít khôn ranh chúng cũng hiểu đời là bội bạc ở tuổi rất sớm cơ mà. Nhưng Tình Yêu Thiên Chúa thì mãi muôn đời vẫn không đổi thay.

**

Thế thì do đâu mà trần gian thiếu những tấm gương sáng sống chung quanh mà chỉ thấy những Pharisêu, những thành phần đạo đức giả của mọi thời đại – luôn sống ngược lại với những gì Thiên Chúa răn dạy? Do đó mà Lời Chúa thì luôn là kim chỉ nam; là đường, là sự thật và là sự sống. Nên con cái Chúa sẽ được chỉ dạy cho thấy ngay đâu là điều lành cần làm và đâu là điều dữ cần phải tránh xa (thành phần xấu xa).

**

Hy vọng tất cả chúng ta hằng ngày dành chút thời giờ cho Chúa như khi chúng ta thường xuyên đi bộ hàng giờ để tập thể dục vậy. Không gì hạnh phúc cho bằng chúng ta đem mọi thứ, mọi điều và mọi chuyện để than thở, tâm sự và giải bày cùng Chúa và nhờ Người giúp cho. Rồi thì phó mặc tất cả gánh nặng ngoài khả năng cho Chúa. Bảo đảm dần chúng ta sẽ cảm nhận được Bình An và Tình Yêu của Chúa trong tâm hồn và trong trái tim ta là Hồng Ân không thể thiếu. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

19 tháng 9, 2020

CA TỤNG HAY KÊU TRÁCH

 CA TỤNG HAY KÊU TRÁCH

Dụ ngôn của Đức Giêsu, về những nhóm thợ khác nhau được mời gọi đi vào làm việc trong vườn nho, mặc khải cho chúng ta một cách tuyệt vời về cung cách hành động của Thiên Chúa, và về khó khăn sâu xa có nơi mỗi người chúng ta, khi đối diện với cung cách hành động này.

  1. “Nước Trời giống như chuyện chủ nhà kia…”

 Trước hết, Thiên Chúa được ví như ông chủ vườn nho, hành động giống như bao ông chủ vườn nho khác: sáng sớm ra khỏi nhà để đi tìm thợ, thỏa thuận về thời gian và tiền công (mỗi ngày một quan tiền) và sai họ đi vào làm việc trong vườn nho của mình.  Ở bước này, cho dù là tương quan giữa ông chủ vườn và người làm công xem ra rất bình thường và công bằng, nhưng những người làm công vẫn được mời gọi nhận ra việc làm của mình là một điều may mắn, thậm chí là một ơn huệ, và nhất là nhận ra lòng tốt của ông, khi ông đích thân ra khỏi nhà để đi tìm người thợ, thay vì người thợ đi tìm ông chủ đề “xin việc”.

Chúng ta có nhận ra sự hiện hữu, cuộc đời, ơn gọi gia đình hay tu trì của chúng ta là một ơn huệ không?  Chúng ta có nhận ra lòng tốt của Chúa để luôn tạ ơn và ca tụng Ngài không?  Và để sống và làm việc trong tâm tình tạ ơn và ca tụng không?  Hay chúng ta coi tất cả những ơn huệ nhưng không này như một thứ “quyền lợi”, để đòi hỏi Thiên Chúa, để so bì và ganh tị với nhau?  Nhưng khi đòi hỏi và ganh tị, chúng ta dựa vào điều gì, phải chẳng là công lao hay thành tích của chính chúng ta?

  1. “Cả các anh nữa hãy đi vào vườn nho” (c. 3-7)

 Thực vậy, phần tiếp theo của dụ ngôn, mỗi lúc một mạnh mẽ và vượt quá cách hành động thông thường của một người chủ, có thể có trong kinh nghiệm sống của chúng ta, nhấn mạnh đặc biệt đến chiều kích ơn huệ và lòng tốt khác thường của ông chủ: giờ thứ ba (9 giờ sáng), ông lại ra khỏi nhà đi tìm thợ; giờ thứ 6 (12 giờ trưa), ông lại đi nữa; rồi giờ thứ 9 (3 giờ chiều), ông lại đi nữa; và đây là tột đỉnh của sự khác thường, vào giờ thứ 11 (5g chiều), ông vẫn ra khỏi nhà đi tìm thợ làm việc!

 Nếu trong những trường hợp trước, ông chủ chỉ hứa trả công một cách hợp lý: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng”, thì trong trường hợp sau cùng, ông chỉ mời gọi đi làm việc: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho.”  Như thế, được hiện diện trong vườn nho là một ơn huệ hoàn toàn nhưng không, diễn tả lòng tốt của ông chủ; điều này cũng đúng với những trường hợp trước, phải được nhận ra và được ngợi khen bởi những người thợ đi vào trước, kể cả những người vào làm việc đầu tiên nữa.

 Tuy nhiên, câu chuyện của dụ ngôn, vốn diễn tả sự thật về chính chúng ta, lại diễn biến theo hướng lòng ghen tị và lời kêu trách, thay vì theo hướng chúc mừng và ca tụng.  Dân Chúa đã kêu trách và ghen tị trong sa mạc (x. Ds 21,4-9, bài đọc I của ngày lễ Suy Tôn Thánh Giá); loài người và mỗi người chúng ta được mời gọi nhận ra bản thân mình nơi Dân Chúa.

 Như thế, đúng ra những trường hợp trước phải được hiểu dưới ánh sáng của trường hợp sau cùng, để nhận ra lòng tốt của ông chủ được thể hiện từ đầu đến cuối.  Vì, nếu hiểu ngược lại, nghĩa là các trường hợp sau được hiểu dưới ánh sáng của trường hợp đầu tiên, người ta sẽ hiểu lệch lạc về ông chủ và về người khác: từ đó, phát sinh thái độ kêu trách và ganh tị.

  1. “Bắt đầu từ những người vào làm sau chót…”

Dường như ông chủ cố ý làm cho lòng ghen tị và lời kêu trách lộ diện, khi ông trả công, đúng hơn là ban phát, cách quảng đại cho người đến làm việc sau cùng, trước mắt mọi người:

Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất.

Bởi vì, làm cho cái xấu lộ diện, chính là cách tốt nhất để chữa lành.  Thực vậy, khi đến lượt nhóm thợ đầu tiên đến lãnh tiền công, họ được nhận đúng với lời thỏa thuận của ông chủ và của họ, điều này làm bật lên sự khác biệt giữa họ và những người khác.  Nhưng thay vì họ chúc mừng những người đến sau (vì họ làm ít hơn mình, nhưng lại nhận được nhiều như mình) và ca ngợi lòng tốt của ông chủ (ông chủ không chỉ trà công sòng phẳng, nhưng còn ban phát rộng rãi cho người khác, theo lòng tốt của mình), họ vừa lãnh công và vừa cằn nhằn:

Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt.

Trong lời này, hàm chứa hai thái độ: so sánh mình với người khác: “mấy người sau chót này”, và kêu trách ông chủ: “thế mà ông lại….”  Lời kêu trách của họ dựa trên những sự kiện rất khách quan và rất đúng: họ làm việc nhiều hơn và vất vả hơn người khác; nhưng người khác lại được hưởng bằng họ!  Nhưng rất tiếc, những điều rất đúng và rất khách quan này lại được nhìn bằng con mắt ghen tị!  Và vì ghen tị, nên trở nên mù quáng, không mở ra để nhận ra những sự kiện lớn hơn và đúng hơn: người khác thật may mắn và ông chủ thật tốt lành, để chúc mừng họ và ca ngợi ông chủ, để đi vào trong niềm vui của người ban phát và của người lãnh nhận.  Và vì ghen tị, nên cũng mù quáng với chính những gì mình đang có, bởi lẽ điều mình đang có không phải là quyền lợi, nhưng là ân huệ, và vì người lãnh nhận không chỉ là người khác, nhưng cũng là chính bản thân mình.  Mình có niềm vui, nhưng lại tự biến niềm vui của mình thành nỗi buồn, gây chết chóc cho mình và cho người khác.

***

Xin cho Lời Chúa, là Lời sẽ dẫn chúng ta đến “Lời Thập Giá” (x. 1Cr 1,18) chữa lành đôi mắt của chúng ta, khi chúng ta “nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19,37); bởi vì nơi Thập Giá, chúng ta vừa nhìn thấy hệ quả khủng khiếp của thái độ ghen ghét (nhìn thấy để được chữa lành), và vừa nhận ra tình yêu đến cùng của Chúa dành cho loài người và từng người chúng ta (để ca tụng Chúa, thay vì kêu trách).

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc, S.J. 

­ From: KittyThiênKim & KimBang Nguyen         

Tho lam vuon nho 2.jpg       

PHÙNG QUÁN: THÈM ĐƯỢC LÀM NGƯỜI


PHÙNG QUÁN: THÈM ĐƯỢC LÀM NGƯỜI

 Trần Mạnh Hảo

Sau vụ “Nhân Văn giai phẩm” (1955-1957), Phùng Quán (1932-1995) bị đuổi khỏi quân đội, đuổi khỏi Hội Nhà Văn, bị kiểm điểm quy tội đại phản động vì dám viết bài thơ “Lời mẹ dặn” in trên báo “Nhân Văn” năm 1956 và bài thơ “Chống tham ô lãng phí” viết năm 1957 cũng in trên báo “Nhân Văn”, cả gan dám quần tam tụ ngũ với bọn “đại phản động, đám chống đảng, dòi bọ xấu xa, đám hút xách, đĩ điếm gián điệp cho Mỹ Diệm” (lời thóa mạ của báo “Nhân Dân”) gồm : Phan Khôi, Văn Cao, Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Trần Đức Thảo

 Trong tập tài liệu “Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước tòa án dư luận” in tháng 6/1959 tại Hà Nội, đã tập hợp bài viết lên án phong trào của 83 văn nghệ sỹ, với những tên tuổi như: Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Phạm Huy Thông, Trần Hữu Tước, Đặng Thai Mai, Nguyễn Huy Tưởng, Hồng Cương, Nguyễn Văn Bổng, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông, Hồ Đắc Di, Vũ Đức Phúc, Quang Đạm, Bàng Sĩ Nguyên, Ngụy Như Kontum, Hằng Phương, Lương Xuân Nhị

 Khi bị đuổi ra khỏi ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế, trụ sở của tạp chí “Văn nghệ quân đội” bây giờ, Phùng Quán đến ngồi bên một gốc cây ở đường Phùng Hưng hai tiếng đồng hồ. Ông không biết về đâu, ngủ đâu, ăn ở đâu vì không có gia đình bà con họ hàng.

 

Phùng Quán bơ vơ, lẩm bẩm: chỉ còn nước đi ăn mày…

Chú ruột Phùng Quán (tên hoạt động cách mạng là Nguyễn Vạn) đang là cán bộ cao cấp ở ngay Hà Nội đã từ ông vì tội chống đảng “nhân văn giai phẩm”, cậu họ là Tố Hữu đang là hung thần đánh “Nhân văn giai phẩm”…

 Phùng Quán tìm tới công viên tạm trú suốt một tuần thì bạn bè tìm được ông. Lúc đó, ông mới 26 tuổi, sức dài vai rộng, đi ăn mày, ai cho? Vả lại, đi ăn mày là nói xấu đảng, rằng chế độ tốt đẹp thế này mà mày đi ăn mày là sao?

 Đêm ngủ công viên, mưa lạnh, ướt như chuột lột, Phùng Quán thèm được đi tù. Đi tù còn có chỗ ngủ, chỗ ăn…Đi tù chính là thiên đường trong mơ của Phùng Quán lúc đó. Khi đuổi ông ra khỏi cơ quan Văn nghệ quân đội, người công an bảo: đi đi, đi mà tự lo lấy cuộc sống, đảng tha bắn, tha tù cho mày vì mày là con liệt sĩ ! Cấm mày đi ăn mày, ăn mày là tội nói xấu đảng nghe chưa ?

 Cha Phùng Quán là cụ Phùng Văn Nguyện một trí thức yêu nước chống Pháp bị Pháp giết trong lao tù Đà Nẵng năm 1932. Mẹ ông là Công Tằng Tôn nữ Thị Tứ ở vậy thờ chồng nuôi con.

 Phùng Quán đi đâu cũng có công an theo dõi. Đảng vẫn nhớ ông, ban cho ông đặc ân là liên tục được đi cải tạo lao động suốt 20 năm ở nhiều tỉnh như Thái Bình, Thanh Hóa, Việt Trì, Thái Nguyên…Mà đi cải tạo lao động theo Phùng Quán nói, còn khổ hơn ở tù…

 “Cải tạo lao động” là một cách ở tù mãn đời, tuy không có án nhưng với “tội nhân văn giai phẩm” Phùng Quán đã bị loại ra khỏi xã hội loài người.

 Từ nhà tù trá hình của cộng sản, Phùng Quán bước vào một nhà tù ngọt ngào khác có tên là tình yêu. Mối tình Phùng Quán – Vũ Thị Bội Trâm ( cùng sinh năm 1932) yêu nhau trước khi Phùng Quán bị nạn- là một mối tình kỳ lạ, bi kịch, hạnh phúc và đau thương là một.

 Cô giáo dạy văn cấp 3 trường Chu Văn An  trường Bưởi xưa) Vũ Thị Bội Trâm xinh đẹp, con nhà gia giáo, lấy ai chẳng lấy, điên mới đòi lấy tên đại phản động “nhân văn” chống đảng Phùng Quán. Bố mẹ, anh chị em họ hàng của chị Bội Trâm cấm chị yêu và lấy Phùng Quán, một gã bị xã hội coi không phải là người.

Sao mày lại lấy cái thằng trên răng dưới cát-tút, không nhà cửa, không nghề nghiệp, không lương lậu, không có đến một bộ áo quần sạch sẽ để mặc, liên tục bị đi cải tạo lao động, cái thằng phản động chống đảng thì thà lấy chó còn hơn.

Mẹ chị Bội Trâm bảo hàng xóm nói thế. Chị Trâm đòi tự tử. Anh chị Quán – Trâm có lúc tính ra cầu Long Biên cùng nhảy xuống sông tìm lối thoát…

 Nhưng Phùng Quán không dám tự tử cùng bạn tình Bội Trâm vì anh hi vọng có ngày về gặp Má còn đang ở Huế. Mẹ anh chỉ có mình anh. Năm bố anh bị Pháp giết trong tù Đà Nẵng, mẹ sinh anh, nuôi anh đến 14 tuổi thì anh trốn nhà theo Việt Minh đi chống Pháp năm 1945. Ra tới cầu Long Biên, quyết nhảy sông cùng chết với bạn tình Bội Trâm thì anh Quán nghe tiếng má gọi Bê ơi, Quán ơi trong tai mình. Anh toát mồ hôi, bàn với người yêu quay lại sống tiếp vì Má, chờ về gặp Má. Năm 1970 Má anh đã mất tại Huế mà không bao giờ được gặp lại người con trai duy nhất.

 Trước ngày phát hiện bị xơ gan cổ trướng, tôi ( TMH) ra Hà Nội. Anh Quán rủ đến chòi ngắm sóng của anh và chị Bội Trâm ăn cơm uống rượu, thức với nhau một đêm cùng đọc thơ, tâm sự…

 Đêm ấy, chỉ có hai anh em uống say và đọc thơ cho nhau nghe. Có khi cả hai cùng nói, cùng đọc thơ, chẳng cần ai nghe, cứ uống, cứ đọc. Anh Quán đọc bài “Lời Mẹ dặn”, “ Đêm đọc thơ Đỗ Phủ cho vợ nghe”…Anh Quán vừa đọc vừa khóc. Anh chỉ khóc với thơ, khóc với tình yêu thôi…

Công nhận, giọng đọc thơ bằng tiếng Huế của anh Quán hay tuyệt, có thể là người đọc thơ hay nhất nước…

 …Hảo à, mình có bạn thân nhất là Xuân Đài nhưng chưa hề kể những điều này với Đài đâu ! Mình chưa được sống Hảo ạ. Mới là thí dụ sống, thí dụ yêu. Năm nay 64 tuổi đời, mình chỉ thèm nhất là được làm người…Có ai coi mình là người đâu, trừ Bội Trâm và mấy thằng bạn như Xuân Đài, Tuân Nguyễn và mấy ông anh như Văn Cao, Phan Khôi, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt…

Mình yêu Bội Trâm và cô ấy yêu mình kinh khủng lắm. Mình đã nhốt cô ấy vào một nhà tù dã man nhất có tên là Phùng Quán…

Mình sống chui cả đời, lấy vợ chui, đám cưới chui, nghĩ chui, viết chui, in chui. May mà mình có bà mẹ nuôi tên là Tưởng Dơi ở Nghi Tàm.

Mình

và Trâm cưới nhau chui ở nhà mẹ nuôi, chỉ có bốn người dự là Xuân Đài,

vợ chồng Tạ Vũ – Nguyễn Thị Điều, bạn Vũ Trung. Đêm tân hôn, động phòng

không có, vì Tạ Vũ say, nằm ngủ cùng với cô Điều trên chiếc giường tre mẹ nuôi dành cho cô dâu chú rể…

  Nói ra chuyện này, chắc anh Quán đã say lắm: lấy vợ cả tuần chưa động phòng. Có phòng đâu mà động. Mẹ Tưởng Dơi nằm dưới bếp, cách vài bước là chiếc giường tre mẹ dành cho cho con nuôi và con dâu mới.

Chỉ cần ngồi lên là chiếc giường tre cọt kẹt là mẹ nuôi thức. Trong tâm lý sợ sệt và ức chế tận cùng, nó không cương nổi Hảo ạ… mần răng được. Lấy vợ mà vợ vẫn ở nhà mẹ đẻ, mình ở vất vưởng lúc công viên, lúc tá túc nhà bạn bè, lúc về nhà mẹ nuôi, còn có chỗ nào mà làm tình với làm tội nhau Hảo ơi…

Lấy vợ cả tháng mà Bội Trâm vẫn còn trinh trắng, mình buồn lắm. Chúng mình hẹn nhau ngoài công viên. Ngồi trong bóng cây và bụi rậm công viên che chắn lúc 9 giờ tối, mình hôn cô ấy và nó lên bình thường. Mình đè vợ ra động phòng ngay trên cỏ công viên…May mà công an không bắt được. Mình đã được làm người chưa Hảo ?

Suốt 20 năm, chúng mình thỉnh thoảng vẫn hẹn hò ngoài công viên, giải quyết chuyện vợ chồng trên cỏ, vậy mà cũng sinh được cháu Quyên con gái và cháu Quân con trai…

Đến khi vợ được trường Chu Văn An cấp cho chỗ ở năm 1981 là cái chái nhà kho thì mình lại phải lên Thái Nguyên cải tạo lao động ba năm…

 Anh Quán kể, ngày nào anh cũng quỳ lạy Hồ Tây, hồ Trúc Bạch đã cứu gia đình anh khỏi chết đói. Phùng Quán là vua câu cá trộm. Anh đã câu được nhiều chục tấn cá bán đi mua gạo mua sữa nuôi hai con. Suốt 20 năm câu cá trộm, nhiều lần anh đã bị bảo vệ bắt đánh hoặc giải về đồn công an…Anh nổi tiếng là “cá trộm, văn chui, rượu chịu”…

 Suốt 30 năm bị cấm làm người, cấm sống, cấm nghĩ, cấm viết, cấm hạnh phúc, cấm in ấn…anh Quán đã phải nhờ người khác đứng tên tác phẩm của mình. Truyện anh viết đứng tên em vợ anh là anh Vũ Quang Khải, hoặc đứng tên Đào Phương, Nguyễn Huy…thì mới được in, mới có nhuận bút kiếm cháo nuôi con. Truyện anh dự thi về Liên Xô mang tên Vũ Trọng Khải được giải thưởng là cái xe đạp Liên Xô anh mới có xe đạp đi. Anh viết hàng chục truyện ngắn mang tên người khác, ăn chia nhuận bút 50/ 50…Có một người đã đứng tên cho Phùng Quán viết 70 cuốn truyện tranh in ra đàng hoàng là nhà thơ Thanh Tịnh đồng hương Huế, thủ trưởng cũ, mà ông Thanh Tịnh không lấy một đồng nhuận bút nào của anh. Chuyện này hồi đó mà lộ ra thì không chỉ Phùng Quán mà đại tá Thanh Tịnh chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội cũng phải đi tù vì tội nối giáo cho giặc.

Bằng tiền câu cá trộm, viết văn chui suốt 30 năm, Phùng Quán đã góp với chị Bội Trâm nuôi sống mình và gia đình trong hoàn cảnh còn khổ hơn cả ở tù.

 Chị Bội Trâm yêu Phùng Quán như người đàn bà yêu đàn ông, yêu và lấy anh để anh khỏi tự tử, yêu như nô lệ yêu chủ nô, yêu vô điều kiện, vượt lên mọi ghen tuông thường tình. Chị Bội Trâm biết hết các nhân tình của anh như Hương Quân, Hà Khánh Linh… Vẫn mời các tình nhân của chồng đến nhà chơi, cùng đi chợ nấu ăn, chị chị em em vui vẻ. In ra cuốn “Trăng Hoàng cung” Phùng Quán viết trong cơn điên tình với nữ văn sĩ Hà Khánh Linh, Bội Trâm còn gửi sách vào Huế cuốn này tặng Hà Khánh Linh với lời đề tặng: “Thân yêu tặng em Hà Khánh Linh, nàng thơ của anh Quán, là hứng khởi cuối đời cho anh ấy làm thơ. Cám ơn em”…

 Đọc lại cuốn sổ tay nhòe chữ của chồng, chị Bội Trâm, sau khi anh Quán mất, đã biết được mối tình đầu cháy bỏng của chồng với thiếu nữ tên Nhủ năm 1955 ở Sầm Sơn. Chị Bội Trâm bèn nhờ người tìm tới tay bà Nhủ còn sống ở Sầm Sơn, tặng người tình xưa của chồng toàn bộ sách của anh, với lời đề tặng : Cám ơn chị Nhủ mối tình đầu của anh Quán, gợi hứng cho anh viết cuốn tiểu thuyết “Vượt Côn đảo” năm 1955.

Chị Nhủ gửi tặng chị Bội Trâm 5 con mực khô to nhất với lời nhắn: em vẫn còn yêu anh Phùng Quán.

 20 tuổi thành công vang dội với tiểu thuyết “Vượt Côn Đảo”, được giải thưởng của Hội Văn Nghệ Việt Nam năm 1955-1957 cùng với Tố Hữu, Tô Hoài, Nguyên Ngọc…

Phùng Quán được báo chí của đảng cho lên voi với mấy chục bài báo tôn vinh, khen ngợi là nhà văn của đảng, nhà văn nhân dân, là hạt giống đỏ cách mạng vinh quang…

Đùng một cái, vì hai bài thơ “ Lời mẹ dặn” và “Chống tham ô lãng phí”, Phùng Quán đang trên lưng voi của đảng bèn ngã xuống hàng chó đẻ của địch, kẻ phản động chống đảng bẩn thỉu khả ố nhất, xấu xa ghê tởm nhất…

 Xin in lại hai bài thơ này :

 Lời mẹ dặn

 Tôi mồ côi cha năm hai tuổi

Mẹ tôi thương con không lấy chồng

Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải

Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.

Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ

Ngày ấy tôi mới lên năm

Có lần tôi nói dối m

Hôm sau tưởng phải ăn đòn.

Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn

Ôm tôi hôn lên mái tóc

– Con ơi

trước khi nhắm mắt

Cha con dặn con suốt đời

Phải làm một người chân thật.

– Mẹ ơi, chân thật là gì?

Mẹ tôi hôn lên đôi mắt

Con ơi một người chân thật

Thấy vui muốn cười cứ cười

Thấy buồn muốn khóc là khóc.

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét.

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu.

Từ đấy người lớn hỏi tôi:

– Bé ơi, Bé yêu ai nhất?

Nhớ lời mẹ tôi trả lời:

– Bé yêu những người chân thật.

Người lớn nhìn tôi không tin

Cho tôi là con vẹt nhỏ

Nhưng không! những lời dặn đó

In vào trí óc của tôi

Như trang giấy trắng tuyệt vời.

In lên vết son đỏ chói.

Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi

Đứa bé mồ côi thành nhà văn

Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm

Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.

Người làm xiếc đi dây rất khó

Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

Đi trọn đời trên con đường chân thật.

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao doạ giết

Cũng không nói ghét thành yêu.

Tôi muốn làm nhà văn chân thật

chân thật trọn đời

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

Bút giấy tôi ai cướp giật đi

Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

(1957)

 

Chống tham ô lãng phí

 Tôi đã đi qua

Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt

Tôi đã gặp

Những bà mẹ quấn giẻ rách

Da đen như củi cháy giữa rừng

Kéo dây thép gai tay máu ròng ròng

Bởi đồn giặc, trồng ngô trỉa lúa…

Tôi đã đi qua

Những xóm làng vùng Kiến An, Hồng Quảng

Nước biển dâng cao ướp muối các cánh đồng

Hai mùa rồi, lúa không có một bông

Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ;

Tôi đã gặp

Những em thơ còm cõi

Lên năm lên sáu tuổi đầu

Cơm thòm thèm độn cám và rau

Mới tháng ba đã ngóng mau ra Tết!

Để được ăn no có thịt

Một ngày…một ngày…

Tôi đã đi giữa Hà Nội

Những đêm mưa lất phất

Đường mùa đông nước nhọn tựa dao găm

Chị em công nhân đổ thùng

Run lẩy bẩy chui hầm xí tối

Vác những thùng phân…

Thuê một vạn một thùng

Mấy ai dám vác ?

Các chị suốt đêm quần quật

Sáng ngày vừa đủ nuôi con…

Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn

Của nhân dân lao động

Đang buộc bụng, thắt lưng để sống

Để dựng xây, kiến thiết nước nhà

Để yêu thương, nuôi nấng chúng ta

Vì lẽ đó

Tôi quyết tâm từ bỏ

Những vườn thơ đầy bướm đầy hoa

Những vần thơ trang kim vàng mã

dán lên quân trang đẫm mồ hôi và máu tươi Cách Mạng!

Như công nhân

Tôi quyết đúc thơ thành đạn

Bắn vào tim những kẻ làm càn

Vào lũ người tiêu máu của dân

Như tiêu giấy bạc giả!

Các đồng chí ơi

Tôi không nói quá

Về Nam Đinh mà xem

“Đài xem lễ” họ cao hứng dựng lên

Nửa chừng bỏ dở

Mười một triệu đồng dầm mưa giãi gió

Mồ hôi máu đỏ mốc rêu

Những con chó sói quan liêu

Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng!

Nghe gió mùa đông thâu đêm suốt sáng

Nhớ “Đài xem lễ” tôi xót bao nhiêu

Đất nước đêm nay không đếm hết người nghèo

Thiếu cơm thiếu áo…

Bọn tham ô, lãng phí, quan liêu

Đảng đã phê bình trên báo

Còn bao tên chưa ai biết ai hay?

Lớn, bé, nhỏ, to, cao, thấp, béo, gầy…

Chúng nảy nòi, sinh sôi như dòi bọ!

Khắp đất nước đâu đâu chẳng có!

Đến một ngày Đảng muốn phê bình tất cả

E phải nghìn số báo Nhân dân!

Tôi đã dự những phiên toà xử tội

Những con chuột mặc áo quần bộ đội

Đục cơm khoét áo chúng ta

Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ

Kim phút kim giờ lép gầy như bụng đói

Những mẹ già, em trai, em gái…

Còng lưng rỏ mát lấn vành đai!

Trung ương Đảng ơi!

Lũ chuột mặt người chưa hết.

Đảng cần phải lập những đội quân trừ diệt

Có tôi!

Đi trong hàng ngũ tiên phong.

 

Phùng Quán in cả hai bài trên báo “ Nhân Văn” năm 1956 và 1957.

Hoàng Văn Hoan, lúc ấy giống như vai trò phó vương, là tay mặt của ông Hồ, dưới bút danh “Trúc Chi” đã viết một bài trên báo “:Nhân Dân” chửi rủa, lên án, thóa mạ Phùng Quán hết lời. Tiếp đó, hàng mấy chục bài báo của đám văn nô bồi bút nguyền rủa đề nghị xử bắn tên “biểu tượng hai mặt”, đểu giả phản động Phùng Quán.

“Lời mẹ dặn” của Phùng Quán là một bài thơ hay, không hề có ý xỏ xiên nói xấu đảng.

Bài thơ chỉ khuyên con người sống tử tế, thật thà :“Yêu thì nói là yêu / Ghét thì nói là ghét” sao lại quy lên phản động chống đảng là sao?

Hóa ra làm người thật thà tử tế là trái ý đảng, là phản động à?

Hèn gì ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố ông nghỉ hưu để làm người tử tế. Cho nên ngày nay, bói không còn ai tử tế trong hàng ngũ cầm quyền cũng vì đảng từng cấm nói thật, chỉ thích bọn nói điêu, bọn nịnh nên đất nước mới thê thảm dường này !

Còn bài “Chống tham ô lãng phí” là bài yêu đảng tận cùng, yêu vượt chỉ tiêu đảng giao, sao đảng lại bắt tội Phùng Quán mà đầy đọa cả đời ông, đầy đọa vợ con ông đến dường này…?

 … Đêm Phùng Quán mở lòng với tôi trên “Chòi ngắm sóng” cuối năm 1994 đầu năm 1995 là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau…

Hảo ơi, đời này mình chỉ thèm được làm người. Bội Trâm ơi, anh làm khổ em, Quyên và Quân ơi, bố làm khổ hai con. Không ai cho bố làm người, không ai cho anh làm người. Anh thèm lắm, thèm được làm người với Bội Trâm chỉ một ngày, có một phòng riêng cho đêm tân hôn, không phải động phòng ngoài công viên như cầm thú…

Hảo ơi, Quán chỉ thèm làm người.

Phùng Quán khóc…Đêm ấy gió mùa đông bắc thổi, như tiếng hú đòi được sống, đòi quyền làm người của âm binh ngàn xưa đói khổ vật vờ ngủ đường ngủ bãi kéo về lôi Phùng Quán đi…

 Trần Mạnh Hảo,

Sài Gòn ngày 24-3-2020

From: Nghia Truong

Chiếc Lá Cuối Cùng

Chiếc Lá Cuối Cùng

“Ông vua truyện ngắn” người Mỹ, O. Henry (1862-1910), đã để lại cho hậu thế gần 400 truyện ngắn. Điểm đặc sắc trong truyện ngắn của ông là những tình tiết bất ngờ, có lúc khắc nghiệt hoặc oái oăm. Nhiều lúc lại khôi hài, dở khóc dở cười, để rồi kết thúc khiến người đọc hoặc thích thú nhưng không quá sướng thỏa, hoặc bâng khuâng nhưng không quá nặng nề.

  1. Henry (1862-1910)

Chúng tôi chọn truyện “The Last Leaf” được tác giả viết từ năm 1907 vì nhiều lý do. Quan trọng hơn cả là tính cách thời sự của truyện với bệnh viêm phổi cũng tựa như dịch COVID-19 mà chúng ta đang phải gánh chịu. O. Henry viết về bệnh viêm phổi tại Greenwich Village ngày đó:

“Vào tháng mười một thì Trời phái một ông khách lạnh lùng mà các ngài bác sĩ thường gọi là Bệnh Viêm Phổi đến khủng bố khu Greenwich. Ông thò cái bàn tay lạnh ngắt, sờ chỗ này một chút, vỗ chỗ kia một phát. Khu vực phía đông bị ảnh hưởng nặng nề với khá nhiều người bệnh, nhưng bước chân của ông khách chậm dần khi bước vào cái mê cung chật hẹp rêu phong của khu Greenwich…”

Khu Greenwich Village, Manhattan, thuộc thành phố New York, là một khu phố cổ theo kiểu Hòa Lan từ thế kỷ thứ 18. Nơi đây hội tụ nhiều họa sĩ nghèo như Sue và Johnsy sống trong một khu nhà trọ.

“Ông khách Viêm Phổi” không phải là hạng người mà bạn thường gọi là “ông bạn già hào hiệp”. Cô Johnsy liễu yếu đó thật ra không phải là đối thủ xứng tay của lão già thô bạo, nhưng lão vẫn đập cô ta tận tình. Vì vậy cô gái nằm xụi lơ, bất động trên chiếc giường sắt, mắt nhìn vào bức tường gạch của căn nhà kế cận xuyên qua khung cửa sổ nhỏ.

Ông bác sĩ đã từng nói với Sue: “Tôi sẽ ráng hết sức làm những gì mà khoa học có thể làm được. Nhưng hễ khi nào bệnh nhân của tôi bắt đầu nghĩ tới chiếc xe chở quan tài và đám đô tùy thì tôi trừ đi một nửa cái hiệu quả của thuốc men”.

Hàng ngày nằm trên giường bệnh nhìn qua khung cửa sổ Johnsy chứng kiến những chiếc lá “thường xuân” (ivy) ngày một rụng nhiều. Cô nhủ thầm, khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống là sẽ là lúc cô lìa đời.

Ở Greenwich còn có lão Behrman là một họa sĩ già ngoài 60 với bốn mươi năm cầm cọ mà chẳng vẽ được một bức tranh nào cho ra hồn. Cả đời lão khao khát vẽ được một kiệt tác. Biết chuyện Johnsy bị bệnh viêm phổi rất nặng và bệnh tật khiến cô tuyệt vọng nên lão quyết định âm thầm thức suốt đêm mưa gió bão bùng để vẽ chiếc lá trên tường.

Chiếc lá giống như thật. Và ngày hôm sau, khi nhìn qua cửa sổ, chiếc lá cuối cùng, tác phẩm của Behrman, vẫn đang ngạo nghễ sau một đêm mưa gió. Johnsy bắt đầu nghĩ lại, cô bắt đầu hi vọng và muốn được sống, được sáng tạo.

Johnsy đã trở về từ cõi chết nhưng lão Behrman lại chết vì bệnh viêm phổi sau đêm sáng tạo kiệt tác chiếc lá cuối cùng để cứu Johnsy.  Sue lặng lẽ đến bên Johnsy báo cho bạn về cái chết của Behrman và tiết lộ bí mật về chiếc lá cuối cùng. 

Giày dép, quần áo Behrman ướt sũng và lạnh như đá. Không tưởng tượng ra được ông ấy đi đâu, làm gì trong một đêm gió mưa khủng khiếp như vậy. Sau đó họ tìm thấy chiếc đèn lồng vẫn còn cháy sáng, một chiếc thang được kéo lê ra từ trong kho, mấy chiếc cọ còn dính sơn và một hộp sơn pha trộn hai thứ màu xanh và vàng.

“Và Johnsy à, bạn thử nhìn ra ngoài cửa sổ kia, nhìn vào chiếc lá cuối cùng trên bức tường đó. Bạn không cảm thấy ngạc nhiên là tại sao nó chẳng lung lay động đậy gì trong cơn gió? Bạn ơi, nó chính là cái tác phẩm lớn của lão Behrman trong đêm chiếc lá cuối cùng lìa cành!”.

(“Look out the window, dear, at the last leaf on the wall. Didn’t you wonder why it never moved when the wind was blowing? Oh, dear, it is Behrman’s great masterpiece—he painted it there the night that the last leaf fell.”) 

Chuyện chỉ có vậy nhưng sao đọc đến đoạn kết người ta cảm thấy ngỡ ngàng pha lẫn tiếc nuối!

From: TU-PHUNG