Nói về Chân Phước (Á Thánh) Acutis

Nói về Chân Phước (Á Thánh) Acutis

Nguyễn Ngọc Duy Hân

Chân Phước Carlo Acutis sinh ngày 3 tháng 5 năm 1991, mất ngày 12 tháng 10 năm 2006 – là một cậu bé người Ý, vừa được phong chân phước tại Vương cung Thánh đường Giáo hoàng Thánh Phanxicô Assisi vào thứ Bảy, ngày 10 tháng 10 năm 2020 vừa qua. Buổi lễ quan trọng này đã bị dời một lần vì đại dịch Covid 19.

Đây là vị thánh đầu tiên của giáo hội Công Giáo mặc áo thun, quần jean và đi giày thể thao sneaker, trang phục rất “đời thường” trong thế kỷ thứ 21 hiện đại của chúng ta.

Nhà điêu khắc người Philippines đã nhận được rất nhiều đơn để tạc thành tượng vị Á Thánh người Ý này, và các hình ảnh của Carlo Acutis đã được loan tải khắp nơi với niềm yêu thương, ngưỡng mộ.

Carlo được biết đến vì ngoan đạo, đã rất hứng thú trong việc ghi lại các phép lạ về Thánh Thể trên khắp thế giới. Cậu đã tạo ra một trang mạng riêng trong những tháng trước khi qua đời vì bệnh bạch cầu. Carlo luôn vui vẻ, hăng say và có kỹ năng vi tính giỏi, giống như các thanh thiếu niên trẻ tuổi bây giờ. Điều khác biệt là Carlo đã dùng phương tiện vi tính để liệt kê tất cả các phép lạ về Mình Thánh Chúa, rao giảng Kinh Thánh một cách trẻ trung, hữu hiệu. Carlo còn dựng phim, dùng trang web để nối kết các thiện nguyện viên, giúp trẻ em học giáo lý…. thay vì vui thú bản thân, chơi games … Carlo thật khác với một số thanh thiếu niên trẻ dùng internet quá nhiều trong các mục đích vui chơi, lãng phí thời gian, không biết phân biệt tốt xấu. Carlo đã tận hiến rất nhiều thời gian và kỹ năng cho việc tốt lành. Trong thời gian đi học, cậu luôn đạt được thành tích tốt ở cấp trung học và làm các công tác thiện nguyện thật tốt đẹp. Acutis còn thổi được saxophone, chơi đá banh giỏi, và cũng giống như các bạn cùng tuổi khác, cậu thích chơi game, nhưng chơi trong giới hạn. Carlo được gọi là “thầy của những người trẻ thời đại internet”.

Tiếc thay, đến đầu tháng 10, 2006, Acutis bị ung thư máu với bệnh bạch cầu cấp tính. Acutis biết mình sắp chết và nói: “Xin hiến dâng những đau khổ mà mình phải chịu cho Đức Giáo Hoàng và Giáo hội, để bỏ qua cõi luyện ngục và đi thẳng lên thiên đàng”. Cậu qua đời lúc mới 15 tuổi, gia đình chôn cậu tại Assisi, thành phố của thánh Phanxicô. Thi hài của vị tân Chân Phước này không hề bị phân hủy, vẫn tươi tốt như một phép lạ.

calos.jpg

Bản thân tôi dù có thành kiến ít xài Facebook, nhưng lại cũng rất thích ôm cái phôn, dùng máy computer nhiều giờ trong ngày, nên rất ngưỡng mộ Carlo Acutis.

Sử dụng phương tiện hiện đại một cách hữu hiệu để phục vụ Đức Tin, con người và đời sống là chuyện không dễ, mà Carlo đã làm được với nhiều sáng kiến thu hút giới trẻ. Vào tháng 11 năm 2019, Bộ Phong Thánh đã công nhận giá trị của phép lạ mà Carlo đã làm, khi một em bé ở Brazil sắp chết nhờ cầu nguyện với Carlo mà được chữa lành, và đang tiến hành quá trình để có thể phong Carlo làm Thánh.

ca.jpeg

Nhìn lại cuộc đời dù chỉ 15 năm ngắn ngủi, Acutis đã chiến thắng những đam mê, tật xấu mà giới trẻ ngày nay đang gặp phải, và vươn lên đẹp đẽ như một bông hoa hiếm quý. Thật thế, trong khi nhiều người ngày nay đang bị các vấn đề cám dỗ, lừa đảo, mất thời gian quá nhiều khi dùng internet rồi trở nên lạc lối, thì bông hoa này lại càng nổi bật. Carlo đã học hỏi, làm việc không bỏ phí một giây phút nào và luôn nghĩ tới người khác, thật là một thanh niên đặc biệt mà ai cũng phải trân quý. Ngày Carlo Acutis được phong Thánh chắc chắn sẽ tới trong tương lai gần. Tôi nguyện cầu cùng vị Á Thánh trẻ này cho mình được ngày một thay đổi để bỏ bớt những tính hư tật xấu, sống thánh thiện tốt lành hơn theo gương của Chân Phước. Nghĩ thật xấu hổ, tôi tới tuổi này rồi mà vẫn còn lười đọc kinh hoặc học hỏi Kinh Thánh, trong khi Acutis còn rất trẻ mà lại siêng năng với chuỗi Mân Côi và Lời Chúa. Tôi thấy mình cần phải xét lại bản thân, cố gắng nhiều hơn nữa để chu toàn bổn phận, không hoang phí thời gian, sức lực Chúa đã trao cho. Tôi cùng ước ao câu chuyện cuộc đời của Á Thánh Carlo được giới trẻ ngày nay quan tâm học hỏi, và thấy gần gũi với mình. Thánh không phải là nhân vật ảo chỉ ở trên Trời với cánh trắng, tóc bay, có “power” quyền phép, Thánh có thể là người thường, là cậu bé 15 tuổi như Carlo, sống đời bình thường một cách phi thường. Thánh Nữ Theresa Hài Đồng cũng đã nên Thánh nhờ những việc bé nhỏ đơn sơ nhất.

Mới đây chắc ai cũng biết chuyện những người ở Việt Nam vì cứu lụt miền Trung đã bị tai nạn, thậm chí chết đuối trên đường cứu người. Hoặc những người lính cứu hỏa bị phỏng nặng thậm chí mất mạng vì lý tưởng nghề nghiệp, hay các y tá, bác sĩ, nhân viên bị lây nhiễm Covid khi giúp các bệnh nhân. Cũng có rất nhiều ma-sơ, ni cô, thiện nguyện viên vào làm việc tại trại cùi, các viện mồ côi, các trung tâm giúp người bệnh nặng, nhất là bệnh tâm thần khá nguy hiểm…. Thật là những hành động cao cả vượt trên sinh hoạt đời thường.

Quả vậy, tất cả chúng ta đều có thể nên Thánh, nên Phật, không phải là vị Thần trên trời nhưng là thánh thiện hơn, tốt lành hơn trong cuộc sống hằng ngày: Nhịn một câu nói cay cú, hy sinh tiêu dùng tích cực làm việc thiện, ăn ở trung thực ngay lành, chiến thắng sự ươn lười, rộng lòng tha thứ, sống vì người khác… cũng chính là những việc giúp mình gần với Thánh, với Phật. Như thế, xin cầu chúc bạn và con cháu, người thân luôn cùng nhau vươn lên, sống ý nghĩa hơn trong sinh hoạt mỗi ngày.

Nguyễn Ngọc Duy Hân

Các câu nói ý nghĩa của Carlo Acutis

1- Hoán cải không gì khác hơn là hướng cái nhìn từ thấp lên cao, một chuyển động của mắt là đủ. Carlo Acutis

2- Tìm Chúa và bạn sẽ tìm thấy ý nghĩa đời mình. Carlo Acutis

3- Điều thật sự làm chúng ta đẹp lòng trước mắt Chúa là cách chúng ta yêu Ngài và cách chúng ta yêu người anh em. Carlo Acutis

4- Mình Thánh Chúa là xa lộ lên thiên đàng của tôi. Carlo Acutis

5- Thánh hóa không phải là bài toán cộng, nhưng là bài toán trừ: bớt “chỗ của tôi” để dành chỗ cho Chúa. Carlo Acutis

6- Luôn kết hiệp với Chúa, đó là chương trình sống của tôi. Carlo Acutis

7- Hạnh phúc là nhìn hướng về Chúa; buồn bã là nhìn hướng về mình. Carlo Acutis

8- Tôi chết trong hạnh phúc vì tôi không lãng phí thì giờ vào những chuyện không đẹp lòng Chúa. Carlo Acutis

9- Đời sống là món quà vì cho đến khi nào chúng ta còn ở trên hành tinh, chúng ta có thể gia tăng đức bác ái. Đức bác ái càng cao thì chúng ta càng hưởng đời sống vĩnh cửu của Chúa. Carlo Acutis

10- Mục đích của chúng ta phải là vô hạn, chứ không hữu hạn. Từ mãi mãi chúng ta mong chờ Nước Trời. Carlo Acutis

Sự Chết

Giáo xứ Cần Giờ – DCCT

 

Sự Chết

Nhiều người sống cả đời nhưng chẳng hề nghĩ đến sự chết. Thế rồi, thần chết đến! Họ chẳng còn gì trong người; niềm tin, sự trông cậy, và lòng mến, tất cả cùng chết với họ.

Rồi sẽ có một ngày, có thể rất gần, chúng ta phải từ biệt cuộc đời, bạn bè, và những người thân yêu của chúng ta. Vậy khi nào thì chúng ta quay trở lại? Không bao giờ. Chúng ta sinh ra, hiện diện trên trái đất này, rồi chết đi, và sẽ không bao giờ trở lại; cái thân xác mà chúng ta hằng yêu quý và săn sóc sẽ trở thành một nắm tro bụi, và linh hồn chúng ta sẽ run rẩy ra trình diện trước mặt Thiên Chúa, Đấng Tối Cao.

Khi chúng ta từ giã cõi đời này, nơi mà chúng ta không còn hiện hữu nữa, khi hơi thở cuối cùng của chúng ta tan biến đi, và chúng ta nói lời vĩnh biệt cuối cùng, ước gì chúng ta được ra đi trong yên lặng, trong nơi xa thẳm của sa mạc, xa rời với thế giới này và những thú vui của nó. Hằng ngày, chúng ta vẫn thường chứng kiến những tấm gương ăn năn sám hối, nhưng chúng ta vẫn lòng chai dạ đá, không một chút thay đổi. Những ngày sống của chúng ta trôi qua một cách vui vẻ thoải mái, chẳng có một chút lo ngại gì về đời sau cả. Chúng ta vẫn cứ thờ ơ, dửng dưng với việc phụng sự Chúa, bởi lẽ cứ nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ chết.

Nhiều người sống cả đời nhưng chẳng hề nghĩ đến sự chết. Thế rồi, thần chết đến! Họ chẳng còn gì trong người; niềm tin, sự trông cậy, và lòng mến, tất cả cùng chết với họ. Khi thần chết đến, ba phần tư cuộc đời chúng ta đã có ích gì? Chúng ta có nghĩ đến Thiên Chúa, đến phần rỗi, đến linh hồn của chúng ta bao giờ không? Ôi thế giới này thật điền rồ dại dột biết bao! Chúng ta đến thế gian và ra đi mà chẳng bao giờ biết lý do tại sao. Thiên Chúa tốt lành đem chúng ta đến thế gian để phục vụ Ngài, để thử thách xem chúng ta có yêu mến và trung thành với các giới luật của Ngài hay không; và sau thời gian thử thách ngắn ngủi ở trần gian này, Thiên Chúa sẽ thưởng phạt thật xứng đáng cho mỗi một người. Nói vậy có người sẽ thắc mắc rằng Thiên Chúa có công bằng khi thưởng người lành và phạt kẻ dữ không? Để trả lời chúng ta hãy tự hỏi mình, một nhà tu khổ hạnh suốt đời ăn năn khóc lóc, đền tạ những tội lỗi mình có thể nào được cư xử giống như người tội lỗi, suốt đời dìm mình trong những thú vui xác thịt không? Câu trả lời thật dễ dàng: Không, chắc chắn là không! Vậy, chúng ta sống ở thế gian này không phải để hưởng lạc, mà làm mọi cách để đạt được ơn cứu rỗi cho mình.

Hãy chuẩn bị cho giờ chết của mình đừng để phí mất một giây phút nào, vì nó sẽ đến lúc chúng ta không ngờ, nó sẽ khiến chúng ta hết sức ngạc nhiên. Hãy nhìn các thánh mà xem, các ngài sống trong sạch nhưng vẫn luôn sợ hãi, luôn tiều tụy lo buồn vì sợ hãi; còn chúng ta, những người thường xuyên xúc phạm đến Thiên Chúa thì chẳng có chút lo lắng sợ hãi nào! Thay vì lo sao cho được chết lành, thì chẳng bao giờ nghĩ đến cái chết. Đầu óc chúng ta đầy dẫy những sự thế gian. Thỉnh thoảng Chúa soi sáng cho, nhắc nhở trong tâm trí nhưng chúng ta luôn khước từ, không muốn nghĩ đến cho dẫu đến giờ phút cuối cùng. Các con có biết giờ phút cuối cùng đó đáng sợ biết bao! Thiên Chúa không bao giờ muốn chúng ta phải chịu án phạt đời đời. Ngài nêu ra cho chúng ta thấy trường hợp tên trộm lành là một ví dụ điển hình, anh ta chết bên cạnh Chúa, chết trong sự ăn năn thống hối, nhưng chỉ có một mình anh thôi. Đừng bao giờ nghĩ rằn cứ ăn chơi xả láng, cứ đợi đến phút chót rồi hãy ăn năn cũng chưa muộn. Đó chỉ là mưu mô của ma quỷ. Hãy xét xem chúng ta có hy vọng được chết trong tay Chúa trong giờ phút sau hết không, trong khi cả cuộc đời chúng ta sống xa Ngài? Chúng ta đã làm gì để được xứng đáng lãnh nhận ân huệ cao quý đó?

Có một vị khổ tu thánh thiện luôn lo sợ cho cái chết đang đến gần kề. Có người thấy vậy mới hỏi rằng:

“Cha ơi, cha lo sợ cái gì vậy?”

Vị tu sĩ trả lời:

“Cha sợ sự phán xét của Thiên Chúa.”

Người kia nói:

“Cha là người ăn năn đền tội mỗi ngày, yêu mến Chúa tha thiết, và chuẩn bị cho cái chết lâu như vậy mà còn sợ sự phán xét của Thiên Chúa sao? Như vậy con phải sợ đến mức nào đây?”

Để được chết lành chúng ta phải sống tốt lành, phải nghiêm túc kiểm điểm chính mình mỗi ngày: mỗi tối hãy xét xem mình đã làm gì suốt ngày; cuối tuần xét lại mình đã làm gì trong tuần; cuối tháng xét lại mình đã làm gì trong tháng; cuối năm xét lại mình đã làm gì trong năm. Với phương pháp này, chúng ta không thể nào bỏ lỡ những cơ hội tự sửa mình, và trở thành những tín hữu đầy nhiệt tình trong một thời gian ngắn. Và khi thần chết đến, chúng ta đã sẵn sàng, vui mừng và hạnh phúc

trở về nhà Cha.

Thánh Gioan Maria Vianney

Image may contain: 1 person, standing

Canada – Kinh hoàng giữa đêm Halloween

 

*** Canada – Kinh hoàng giữa đêm Halloween ***

Quebec: 2 người chết và 5 người bị thương bởi 1 thanh niên mặc quần áo “thời trung cổ .

– Sự kiện diễn ra vào tối thứ Bảy ngày 31 tháng 10 đến Chủ nhật ngày 1 tháng 11 tại trung tâm lịch sử của Thành phố Quebec trong đêm Halloween. Nghi phạm, đã bị bắt, trang bị một thanh kiếm và mặc quần áo “thời trung cổ”, tấn công người đi đường làm 2 người chết và 5 người bị thương.

Cuộc tấn công diễn ra ở Old Quebec, trung tâm lịch sử của thành phố.

Cảnh sát, không nói rõ động cơ của vụ tấn công, đã mở một cuộc điều tra và yêu cầu cư dân “ở trong nhà”.

TL – FI

 

Người dân miền Trung trải lòng sau bão lụt

 

“Gia đình em qua đợt lũ rồi, nhưng bên trong thì thiên tai thì phải chấp nhận. Đối với bản thân em xong phần hai ông bà già gần 80 tuổi với 7 đứa nhỏ từ 5 tháng đến học lớp 7. Vừa rồi xin nhà nước cầu cứu mà không áp ứng nguyện vọng gì, em cũng buồn nhưng thôi, không đòi hỏi gì nữa. Người vẫn còn là may lắm rồi! Còn cầu cứu mà nhà nước mình không quan tâm gì, kể cả thôn, xã, phường, huyện, tỉnh đều không quan tâm. Chỉ điện thoại tới nói ca nô có rồi mà không có ai tới cứu. Trong khi đó người thân thuộc thì họ tới cứu, còn những người không thân thuộc thì họ không cứu. Các cấp trên thôn, xã, huyện tỉnh, thôn em cầu cứu mà gọi điện thoại không cơ quan chức năng nào bắt máy để tới cứu trợ. May sao nước lên 2m chứ lên khỏi nóc nhà nữa thì chết hết, sạch trơn cả cái làng.”

Người dân miền Trung trải lòng sau bão lụt

RFA.ORG

Người dân miền Trung trải lòng sau bão lụt

Cơn bão số 9 vừa đi qua gây ra nhiều thiệt hại cho người dân các tỉnh miền Trung. RFA liên lạc với một vài người dân tại vùng bão lũ để tìm hiểu về tình hình thực tế.    

Một lớp học ở Mường Nhé- Điện Biên

Có một “đầy tớ” vĩ đại đã từng nói rằng, không nước nào trên thế giới chăm sóc thiếu nhi tốt như ở Việt Nam. Hãy nhìn vào đây: một lớp học ở Mường Nhé- Điện Biên. Tất cả các em bé đều suy dinh dưỡng, quần áo rách rưới, tất cả đều không có dày dép, tất cả các em đều buồn và thiểu nảo…

Phía sau lưng các em là một lớp học, vâng, một lớp học tận cùng tiêu điều và xơ xác. Anh Đào Xuân Tùng, người hay làm công tác thiện nguyện ở Tây Bắc, đã bật khóc nức nở khi chụp tấm hình này. Tôi cũng đã phải nhắm mắt lại sau khi xem kỹ hình ảnh này.

fb Chu Vinh Hai

Áo cưới chàng may còn mùi vải

Mai-Agnetha Pham  is with Mai-Agnetha Pham

  Nguồn: Fb Tim Hoang

BÌNH THỦY 1969

Áo cưới chàng may còn mùi vải

Rượu hồng thiếp uống còn cay môi

Xa nhau một phút ngàn thu vắng

Nỗi buồn này biết làm sao nguôi

Đấy là 4 câu thơ trên mộ anh Thái Hoàng Cung, do người vợ trẻ Trần Mộng Tú khắc lên khi anh còn dùng địa chỉ tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi.

-o0o-

Buổi tối của một ngày đầu tháng 8 năm 1969, khi tôi đang ngồi xem những tấm ảnh màu đám cưới gửi từ Mỹ về, xắp xếp để làm một cuốn album, thì nghe tiếng chuông cửa. Tôi ra mở cửa, hết sức ngạc nhiên khi thấy Carl và anh Huân là hai người ở Sở trước mặt. Anh Huân làm phòng tối, phụ trách về rửa phim, in hình và Carl vừa là phóng viên vừa là nhiếp ảnh viên. Cả hai người này chẳng bao giờ đến nhà tôi vào giờ này, càng chắc chắn là không phải gọi tôi đi làm. Tôi lúc đó làm thư ký cho hãng Thông Tấn The Associated Press, công việc của tôi là lo tất cả những việc linh tinh cho hãng: Từ phát lương cho nhân viên, giữ sổ chi thu, mua bán hình ảnh, thư ký cho ông chánh văn phòng, đi nghe họp báo bỏ túi, v.v. Những việc này không bao giờ phải làm cuối tuần, cũng như không bao giờ làm ca đêm.

Cả hai người bước vào buồng khách, cả hai nhìn tôi, rồi cả hai nhìn nhau, không ai muốn là mình nói trước. Tôi linh tính có điều không tốt, nhưng không hiểu chuyện gì.

Cuối cùng Carl nói:

– “Sở nhận được điện thoại từ Rạch Giá gọi về chiều nay, nói là Cung, chồng của cô đã tử trận.”

Tôi đứng ngẩn người, nhìn lại cả hai, không nói được tiếng nào.

Carl nói tiếp:

– “Suốt từ chiều, chúng tôi liên lạc được với Rạch Giá (Kiên Giang), xác định tin rõ ràng, có gọi điện thoại nói chuyện với bà Giám thị của đại học xá Trần Quý Cáp, mẹ Cung, cụ cũng nhận được tin rồi.”

Tôi ngồi xuống hai gót chân mình, không nghe được gì tiếp, ngoài tiếng xôn xao của cha, mẹ và gia đình.

-o0o-

Chúng tôi mới cưới nhau sau lễ Phục Sinh vào tháng Tư, Cung tử trận 30 tháng 7, năm 1969.

Cung không phải là quân nhân chính gốc, anh tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm, ban Pháp Văn và đã đi dạy được 1 năm, anh bị gọi trong chương trình Tổng Động Viên.

Khi nhận giấy báo phải nhập ngũ, anh đến xin cha mẹ tôi cho làm hôn thú, vì sợ sau này sẽ khó khăn khi ở quân đội. Trên giấy tờ, tôi có chồng từ tháng 6-1968. Lúc làm đám hỏi chú rể tương lai không có mặt (đang đóng ở Chi-khu Trà Bồng) chỉ có mẹ chồng mang trầu cau sang. Nghĩ cũng tủi thân, nhưng thời chiến mà, làm sao được.

Sau đám cưới, Cung về đơn vị, tôi vẫn ở nhà với cha mẹ, đợi Cung được biệt phái về dạy học lại, (Bộ Giáo Dục hứa sẽ cho các giáo chức được về vào tháng 10/1969) rồi sẽ ra ở riêng.

-o0o-

Chiếc máy bay vận tải Mỹ đáp xuống phi trường Bình Thủy, Cần Thơ.

Người phi công phụ quay xuống nói với anh trai của Cung và tôi, đang ngồi cạnh chiếc quan tài.

“Chúng tôi rất tiếc là phải thả hai người và quan tài xuống đây, vì đây là máy bay quân đội Mỹ chở dầu, chúng tôi chỉ đi tới Cần Thơ chứ không về đến Sàigòn.”

Đuôi máy bay mở ra, một chiếc forklift tiến đến trục quan tài ra khỏi máy bay để giữa lòng phi đạo.

Anh chồng tôi dặn:

– “Em đứng đây, anh vào gặp ông xếp của phi trường này may ra được giúp đỡ.”

Buổi trưa tháng Tám, mặt trời tóe những chùm nắng rát bỏng, chói chang trên sân bay, cái sân bay rộng lớn chổng chơ một chiếc áo quan có phủ xộc xệch lá quốc kỳ, mấy giọt nến đóng thành mảng khô cứng trắng đục trên màu vàng của lá cờ, một vài chiếc lá quăn queo sót lại của vòng hoa chiều qua còn dính ở đó.

Tôi tự thấy mình bé nhỏ, mỏng manh trong chiếc áo dài màu xanh nhạt, áo nhầu nát, tóc bơ phờ, mặt ngơ ngác đứng nhìn chung quanh mình. Cái sân bay trông sao mênh mông thế mà cái áo quan thì bé tí, tôi đứng bên cạnh trông lại càng bé hơn. Sân bay không một bóng người, vài ba chiếc máy bay quân sự đậu rải rác bên cạnh những phuy dầu chưa kịp xếp vào kho. Hình như đã có mùi hôi bốc ra từ áo quan, tôi đứng lui ra một tí nữa, xoa tay lên ngực, thấy mình nghẹt thở, ngực nặng và đau buốt, đau thấu xuống tận bụng, tôi muốn ngất đi.

Hai ngày, một đêm ở Kiên Giang đã làm tôi đuối sức. Tôi có làm gì đâu. Tôi chỉ không ăn, không ngủ, không khóc, không cả vệ sinh. Chắc trong người tôi không còn nước. Bà mẹ chồng một bên, ông anh chồng một bên, họ đổ sữa ông Thọ cho tôi. Bà mẹ chồng tôi thật giỏi, bà có kinh nghiệm với chiến tranh, kinh nghiệm với chết chóc, nên đi đón xác con mà bà còn nhớ đem theo hộp sữa ông Thọ cho cô con dâu tiểu thư, cô con dâu còn mới như vuông lụa chưa thêu.

– “Con uống đi. Con mà gục xuống đây nữa thì mẹ biết nói làm sao với cha mẹ con.”

Tôi không uống được, cái mùi tử khí trưa nay của mấy chục cái xác xếp chất lớp trước cửa nhà xác vẫn ràn rụa trong thân thể tôi. Nó phủ chụp từ đỉnh đầu xuống hai bàn chân, khi tôi len lỏi bước qua những xác lính bên ngoài để vào bên trong chỗ người ta để xác sĩ quan. Tôi đã phải bước qua từng cái túi có bọc thây người ở trong, có cái thòi hai bàn chân còn nguyên đôi giầy sau ra một đầu, có cái thì lòi ra ở đầu kia một đỉnh tóc bết đất, có cái thò nguyên một khuôn mặt tái mét vàng khè có mấy con ruồi đậu trên đôi mắt chưa khép kín hẳn. Tôi đi theo bàn tay dắt của người anh chồng, xúc động và kinh hoàng đã làm tôi không còn cảm giác nữa. Không biết tôi có dẫm phải ai không. Tôi cố gắng không dẫm lên những người đàn ông nằm đây. Vào được đến bên trong thì tôi có nhìn thấy gì đâu. Tôi chỉ nghe tiếng bật khóc của mẹ chồng, tiếng anh chồng bảo:

– “Đúng là Cung rồi.”

Tôi thấy hình như tôi được bế lên, được đặt ngồi xuống một cái bậc thềm, gió ở sông thổi vào mặt tôi, giúp tôi tỉnh lại, tôi mở mắt ra, nhìn xuống. Tôi thấy một giòng nước đục chẩy lờ đờ bên dưới. Thì ra nhà xác của bệnh viện Kiên Giang nằm sát cạnh bờ sông. Tôi không dám nhìn vào những người đàn bà đang đi lật từng cái poncho quấn thây người để tìm chồng, tìm con họ trước cửa nhà xác. Tôi thấy tôi còn may mắn hơn họ.

Người ta đem xác Cung về trại gia binh tiểu khu để làm lễ. Tôi được bày đứng cạnh áo quan cho ông Phó Tỉnh Trưởng đọc diễn văn, trong khi ông đọc thì tôi đứng nhìn mấy cây nến chẩy, nhìn vòng hoa đã bắt đầu héo, có cả chén cơm đã khô và quả trứng luộc có mấy con ruồi bay lên bay xuống, tàn nhang rơi phủ đầy trên đó. Ông Phó Tỉnh đọc diễn văn xong, hấp tấp ra về. Chắc ông hơi thất vọng vì không thấy tôi khóc để có dịp nói lời an ủi. Mấy người vợ lính trong trại gia binh, chạy sang thăm hỏi, mấy đứa nhỏ con lính chạy loanh quanh áo quan với mấy con chó gầy trơ xương, trụi cả lông, cái áo chúng mặc ngắn cũn, bụng ỏng ra ngoài, mũi thò lò cũng chẳng chùi. Chúng tròn mắt nhìn mấy người Sài Gòn, mặt mũi có vẻ khang khác với nhưng người trong trại lính nầy. Có người cũng từ xa đến chưa tìm ra xác chồng, xác con đến hỏi han bà mẹ chồng tôi với con mắt nặng trĩu và gương mặt thất thần.

Tôi đứng đó lơ mơ nghe lao xao những tiếng nói chồng lên nhau, mỗi người kể một cách, giống như ở nhà tôi mỗi khi đi xem một cuốn phim về, chị em tôi vẫn thường tranh nhau nói như thế. Hình như họ nói về trận đánh ngay ở xã Vĩnh Thanh Vân. Xã này, tôi không biết ở đâu nhưng chắc là rất gần. Họ nói đánh ba bốn hôm rồi, và vẫn còn đánh nên xác không kéo ra hết được, phải ngồi chờ thôi. Cứ ngồi chờ thế nào cũng gặp, họ bảo nhau:

– “Không thấy người thì thấy xác. Thế nào cũng gặp mà!”

Người anh chồng thì thỉnh thoảng lại biến mất, không biết đi đâu, chắc là đi tìm cách đưa mọi người về nhà. Tôi thấy trong những người đi nhận xác chỉ có 3 người trong gia đình này ít khóc nhất.

Bà mẹ chồng tôi thì vừa mếu máo vừa lo xin nước sôi pha sữa cho con dâu uống. Con bé này vốn đã gầy, hai hôm rồi nó chẳng ăn, chẳng nói gì làm bà phát hoảng, giá nó cứ khóc sướt mướt như mấy người vợ lính đang khóc ngoài kia thì bà lại đỡ lo. Không biết còn kẹt ở đây đến bao giờ? Bằng vốn liếng tiếng Pháp bà nói chuyện với một ông sĩ quan Mỹ cho bà quá giang máy bay quân sự về Sàigòn, rồi bà sẽ thuê máy bay dân sự xuống đây đón mấy đứa con.

Bà giỏi lắm. Mấy chục năm trước, còn trẻ măng mà bà đã một mình thuê đò ở Nam Định đi tìm chồng. Chồng bà đang đêm được Việt Minh đập cửa mời đi, rồi cả tháng không thấy về. Ông được mời vì lúc đó ông có một ngôi trường nhỏ dạy học tiếng Pháp ở Nam Định. Bà đi đò, đi bộ cả bao nhiêu cây số, đến tận chỗ không ai dám bén mảng đến hỏi tin tức chồng. Họ bảo về đi, bắn chết rồi. Bà lại thuê đò về, tính ngày đi của chồng dùng làm ngày giỗ vì bà không biết ông bị xử bắn vào hôm nào. Mấy hôm sau bà bỏ nhà ở Nam Định, dắt ba thằng bé, đứa lớn nhất chưa quá 10 tuổi tìm đường ra Hà Nội.

Đi làm, nuôi con ăn học. Rồi lại dắt con di cư vào Nam. Ai làm được gì thì bà cũng làm được như vậy. Bà cũng khóc chứ. Nhưng nước mắt thì vốn chóng khô vì nó không chảy hết ra một lúc, nó chảy rỉ rả ít một. Chảy suốt một đời. Cô con dâu bà mới cưới được có ba tháng, còn trẻ lắm, lại chưa có con, đi đón xác chồng lại có mẹ chồng, anh chồng bên cạnh. So với bà cô còn may mắn chán.

Mà đúng thật, bà mẹ chồng tháo vát của tôi số khổ hơn con dâu. Bà xin lên được máy bay về trước các con một hôm thì cũng bị thả xuống phi trường Bình Thủy đêm hôm đó, máy bay không về đến Sài Gòn. Một cơn mưa tháng Tám bất chợt ập xuống làm bà ướt sũng, thất thểu tìm một nhà thờ vào xin ngủ qua đêm, bà không cần khóc nữa, trời đất khóc hộ bà rồi. Sáng hôm sau bà đi xe đò về Sàigòn. Trong khi đó thì các con của bà: Con sống, con chết cũng bị thả xuống chỗ mẹ ngày hôm qua, nhưng không phải buổi tối mưa sũng nước mà một buổi trưa đầy nắng.

Cuối cùng thì cũng đưa được quan tài về Sài Gòn. Khi xuống đến phi trường Tân Sơn Nhất thì cả người và cảnh trông thật bắt mắt. Nếu có cần quay một cảnh phim cho chiến tranh thì hay quá. Cái quan tài cũng không cần phải trang trí cho ra vẻ tang thương hơn nữa. Lá cờ phủ trên nó nhầu nát, xộc xệch, cô đơn, đã đủ vẻ tang thương.

Hai nhân vật thất thểu xác xơ đứng cạnh không cần phải hóa trang hay diễn xuất, họ đi đứng như người mất hồn, ngơ ngác, thất lạc, rơi ra từng mảnh như những người lính vừa bại trận trở về. Cứ dựng máy quay phim lên, quay họ như thế vào phim cũng tuyệt lắm rồi.

Sau nầy tôi nghĩ lại vẫn tự hỏi. Tại sao lúc đó mà mình tỉnh khô như vậy, sao mình không phát rồ, phát điên, không đập đầu vào tường?

Cả trăm câu hỏi cứ chạy lung tung trong đầu tôi bao nhiêu năm trời.

Một chiếc xe nhà binh đón chở áo quan từ phi trường đến nhà xác bệnh viện Grall. Đã bảo bà mẹ chồng tôi là người tháo vát mà! Bà còn xin được miếng đất chôn Cung trong Mạc Đĩnh Chi để bà thăm viếng cho tiện, chứ lên tận Nghĩa Trang Quân Đội thì làm sao bà có thể đi thăm thường xuyên được.

Họ cho Cung đi qua nhà, dừng lại cho Cung nhìn chỗ mình đã sống, đã lớn lên một lần chót. Chẳng biết ai là người nghĩ ra cái tục không được chết ở nhà thì phải ghé qua nhà trước khi ra đi hẳn mà hay thế! Tôi thấy những người lân cận và một vài người họ hàng đã đứng chờ sẵn trước cửa nhà. Họ nhìn tôi, nhìn quan tài như xem phim chiếu chậm, họ quen quá rồi cái cảnh nầy những năm gần đây. Tôi còn trẻ quá, họ nghĩ. Thế nào rồi cũng quên đi, cũng lại lấy chồng, chỉ tội cho bà mẹ anh ta.

Họ nghĩ cũng chẳng sai mấy. Khi tôi bị đẩy ra khỏi nước, gia đình chồng cũng bỏ đi, chỉ có Cung là người ở lại. Cung cũng chẳng khác gì những người còn sống, cũng bị đuổi nhà, bị chiếm đoạt tài sản. Người anh họ ở lại tìm cho anh một nơi cư ngụ mới trong nhà thờ Tân Định.

—–

Tôi trôi mãi rồi cũng phải dạt vào một chỗ. Bảy năm sau tôi lấy chồng, sanh con, tôi sống bình thường như tất cả mọi người đàn bà khác trên một đất nước không có chiến tranh. Tôi cũng vui, cũng buồn với những thăng trầm của đời sống.

Ở đời sống hàng ngày, tôi quên dần cái bất hạnh của tôi mấy mươi năm về trước. Nhưng tôi nhớ rất rõ ràng là cái bất hạnh đó nó có hiện diện trong kiếp người của mình. Thỉnh thoảng Cung vẫn về trong giấc mơ, dù suốt ngày hôm trước tôi không hề nghĩ đến. Cung về như còn sống hay về như đã chết thì khi tỉnh dậy, nước mắt tôi vẫn lặng lẽ trào ra trên gối. Tôi cố gắng không làm giao động người nằm bên cạnh đang ngon giấc. Buổi sáng, thức dậy, tôi thay áo gối, rồi lại thản nhiên bước vào đời sống trước mặt: Giặt giũ cho chồng, cơm bánh cho con.

Thời gian cứ thản nhiên trôi, buồn và vui đầy ắp hai tay. Ngày trắng tóc rồi cũng đến.

-o0o-

Lần đầu tiên về thăm lại Việt Nam năm 1998, sau 23 năm, tôi đi tìm Cung ở nhà thờ Tân Định. Tôi đi len lỏi giữa những dẫy kệ, đọc từng cái tên, đi đến vần “T” là họ của Cung. Tôi nhìn thấy một cái hộc nhỏ, không có hình chỉ có ghi Họ, Tên, Ngày sinh, Ngày mất. Tôi đứng lặng người, run rẩy chạm những ngón tay mình lên mặt chữ. Cái cảm giác chạm tay vào đầu áo quan của năm 1969 bỗng hiện ra dưới những ngón tay tôi. Một tiếng nấc đưa lên thanh quản, vỡ òa ra, tôi khóc như chưa bao giờ được khóc. Nước mắt của bao nhiêu năm tụ lại một ngày, nước mắt của những ngày đi đón xác ở Kiên Giang khô lại bây giờ nứt ra như một mạch ngầm của suối bật lên trên mặt đất nứt nẻ. Tôi khuỵu chân ngồi xuống giữa lối đi của hai hàng kệ, khóc như chưa bao giờ được khóc.

Chung quanh tôi vắng lặng. Tôi trầm mình vào nước mắt, vào bất hạnh, vào nỗi cô độc của mình. Cái hộc nhỏ đựng tro than bên trên đầu tôi vẫn thản nhiên, im lìm nhìn như trước khi tôi đến.

(Trần Mộng Tú)

Hình 1: Trần Mộng Tú và Thái Hoàng Cung trong ngày cưới, ba tháng sau anh tử trận.

Hình 2: Phi trường Bình Thủy (Cần Thơ)

Hình 3: Nhà thơ Trần Mộng Tú hiện tại

SỤT LÚN, SẠT LỞ: VIỆN ĐỊA CHẤT GIẢI THÍCH NHƯ TRẺ CON…

8 SÀI GÒN

MUỐN TU NGƯNG CHỬI MÀ CŨNG KHÔNG YÊN VỚI LŨ NÀY…

Đất nước điêu linh, tang thương khắp mọi nơi bởi đủ thảm họa: tham ô, nhũng nhiễu, phá rừng, bão lũ, dịch bệnh, sách giáo khoa, cổng chào, tượng đài, đại hội… quá bất lực đành vào rừng đi tu để quên đi mọi chuyện, nhưng tu cũng không yên với lũ này.

Nghe lũ này nói thế này bảo sao không nổi điên:

“Các chuyên gia thuộc Viện địa chất Việt Nam trả lời VTV sụt lún, sạt lở là do mưa to, lớp đất trên bề mặt nặng hơn, với độ dốc của núi đồi, lớp đất đó tuột xuống”.

Nói vậy thì cần đách chi mấy ông chuyên gia ăn học nghiên cứu cho tốn tiền dân. Nói sạt lở núi là do mưa cũng giống y như nói cháy nhà là do lửa.

Tức hơn nữa là nói ngu như vậy mà vẫn có mấy ông nhà báo, vài ông khoa học lên tiếng a dùa theo để che lấp nguyên nhân sạt lở là do phá rừng trầm trọng.

Douma hết lũ chúng mày. Ông bỏ tu…

HUYNH NGOC CHENH

***

SỤT LÚN, SẠT LỞ: VIỆN ĐỊA CHẤT GIẢI THÍCH NHƯ TRẺ CON…

VTV phỏng vấn các chuyên gia thuộc Viện Địa chất Việt Nam về hiện tượng sạt lở vừa qua ở Quảng Nam. Các chuyên gia đều giải thích: mưa to, lớp đất trên bề mặt nặng hơn, với độ dốc của núi đồi, lớp đất đó sẽ tuột xuống. Tóm lại, núi đổ là do mưa to.

Giải thích như vậy mà cũng học đến giáo sư tiến sĩ!

Tôi xem hình ảnh trên VTV, nơi sạt lở là nơi trồng toàn bạch đàn. Rễ cây bạch đàn chỉ bám trên bề mặt. Theo lời người dân, mưa mới chỉ có một ngày chứ không phải dài ngày. Tôi khẳng định, chính rừng cây bạch đàn đã làm cho lớp đất trên bề mặt núi đồi bị oằn nặng và trượt nhào xuống. Nó giống như trò chơi cầu tuột của trẻ em vậy!

VTV dựa vào lời của các chuyên gia mà cảnh báo: nguy cơ sạt lở sẽ còn tiếp tục, cần di dời dân khỏi vùng nguy cơ sạt lở. Đó là biện pháp mà các chuyên gia và VTV cho là “lâu dài và bền vững”. Khốn khổ cho dân tôi!

Hàng ngàn năm người đồng bào thiểu số sống ở các triền núi, sao không có chuyện sạt lở đồng loạt như vậy? Là bởi rừng núi xưa kia đa dạng sinh thái, có cây cổ thụ, có lớp thực bì bao phủ. Rễ cây bám chặt vào từng lớp đất, các lớp địa chất gắn kết với nhau rất chặt chẽ. Người dân tộc thiểu số sống bám vào rừng, rừng thành nơi che chở cho con người chứ không phải là thảm họa.

Bây giờ thì hãy hình dung sâu hơn.

Trước khi có sạt lở thì thường đã xảy ra rạn nứt và sụt lún. Rạn nứt và sụt lún là do lòng đất bị rỗng. Lớp vỏ bọc trên bề mặt trái đất bị bong vỡ và chỉ cần một cơn mưa thôi đã có thể đổ sập. Rạn nứt, sụt lún hiển nhiên là do các mạch ngầm đã hoàn toàn bị khô kiệt. Có thể hình dung khi các mạch ngầm khô kiệt ắt tạo ra những địa đạo khổng lồ. Ngày xưa, ở vùng núi và trung du, chỉ cần đào giếng vài mét là mạch nước trào ra. Chính rừng cây đã duy trì các mạch ngầm đó. Ngày nay đến mùa nắng, các giếng đào khoan đến cả trăm mét cũng không thấy nước đâu. Không nghi ngờ gì, chính rừng cây bạch đàn đã hút nước đến cạn kiệt. Loài cây này giết chết luôn cả lớp thực bì bao phủ trên bề mặt, hủy hoại môi sinh. Đó là lý do, các quốc gia láng giềng như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan… không trồng bạch đàn trên đất nước họ mà thuê rừng Việt Nam để trồng.

Trong cách nhìn phong thủy xưa, rừng núi linh thiêng vì chính nó tạo ra các long mạch. Phá rừng cũng đồng nghĩa với cắt đứt các long mạch. Xem ra, ngày nay không cần thái thú Cao Biền trảm núi, chặt đứt long mạch nữa, người ta chỉ cần bỏ ra một số tiền thuê rừng trồng bạch đàn là linh khí cạn kiệt!

Thật đấy! Các chuyên gia địa chất và VTV “định hướng tuyên truyền” về thiên tai mà không nói đến nhân tai thì khác nào cổ vũ phá rừng và tàn hại môi sinh? Đến lúc cần quy hoạch việc trồng cây nguyên liệu, không để phá rừng nguyên sinh, trồng bạch đàn bừa bãi từ Nam chí Bắc nữa thì mới là biện pháp bền vững để phục sinh đất nước và ổn định đời sống của muôn dân. Còn nếu vẫn tiếp tục duy trì sự ngu và tham thì ắt phải còn trả giá bằng sinh mệnh của cả quốc gia và dân tộc.

CHU MỘNG LONG

+2

LUYỆN HÌNH – NƠI CHỐN VẪN CÒN TÌNH YÊU

LUYỆN HÌNH – NƠI CHỐN VẪN CÒN TÌNH YÊU

  Trần Đình Phan Tiến

“Hãy chiếu soi lửa hồng vào đêm tối sâu thẳm hồn con, lửa tình yêu, lửa huyền siêu, Ngôi Ba Thiên Chúa ban nhiều thánh ân” (Phanxicô).

Vâng, đây là Điệp khúc của bài hát, do nhạc sĩ Phanxicô sáng tác, mà ai cũng biết.  Để gợi hứng cho bài chia sẻ Lễ Các Linh Hồn, xin được mượn lời bài hát ý nghĩa nầy.  Thật ra, lời bài hát là về Chúa Thánh Thần, nhưng cảm nhận phù hợp với lễ các Linh Hồn, vì chính Chúa Thánh Thần tác động đến.  Vâng như vậy có thể minh định rằng: “Lửa tình yêu, lửa huyền siêu” nầy đang tác động đến luyện hình, nơi các linh hồn đang được thanh luyện vì chính Ngôi Ba Thiên Chúa ban nhiều thánh ân.  Vâng Ngôi Ba Thiên Chúa ban nhiều thánh ân cho người trần thế, và nơi các linh hồn trong luyện hình.  Để minh chứng cho điều nầy chúng ta hãy cùng suy niệm về “Luyện Hình.”

“Luyện hình” là nơi dùng hình thực thanh luyện, có nghĩa là “bị phạt.”  Nhưng “phạt” có thời gian, không như hỏa ngục, nơi “phạt” đời đời.

Như vậy, nơi “phạt” luyện hình vẫn còn tình yêu.  Thiên Chúa vẫn yêu thương các linh hồn nơi luyện hình, như yêu con người dương thế.  Bởi vì luyện hình mặc nhiên không phải là nơi luận phạt vĩnh viễn.  Như chúng ta biết Giáo Hội Công Giáo có ba thành phần, Chiến Đấu (Lập Công), Chiến Thắng (Khải Hoàn), Đau khổ (Đền Tội).  Như vậy chỉ có thành phần Giáo Hội Khải Hoàn mới hoàn toàn chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Quốc.  Còn thành phần Giáo Hội Lữ Hành và Giáo Hội Đền Tội là hai thành phần chưa được chiêm ngắm Thánh Nhan Thiên Chúa.  Bởi vì hai thành phần nầy chưa hoàn toàn tẩy trắng áo mình trong Máu Con Chiên vì vậy thành phần Giáo Hội Đau Khổ cũng như thành phần Giáo Hội Lữ Hành đều có chung một niềm khao khát như nhau, đó là còn xa cách Thánh Nhan Thiên Chúa.  Chỉ khác nhau ở một điểm là: Giáo Hội Lữ Hành là thành phần còn điều kiện lập công, còn giáo hội Đau Khổ thì mất “quyền” lập công.  Vì vậy các ngài cần đến sự trợ giúp của chúng ta, nói cách khác, các ngài là những cầu thủ bị “việt vị”, tức “liệt vị”, không còn “cựa quậy” gì nữa.  Nên chi từ đó “sự chết” theo tín lý công giáo là như vậy, một là lên Thiên Đàng, hưởng Thánh Nhan Thiên Chúa, đó là các thánh, Giáo Hội Chiến Thắng.  Hai là vào luyện hình, nơi chờ đợi để thanh luyện.  Xin miễn bàn nơi thứ ba.  Vì vậy, Lửa thánh luyện cũng chính là: “Lửa Huyền Siêu, Lửa Tình Yêu”, do chính Thánh Ân của Chúa Thánh Thần.  Theo đó, lửa luyện hình vẫn là hình thức yêu thương, nhưng nơi đó, tình yêu “bị động”, có nghĩa là chỉ hưởng nhờ , chứ không được chủ động “lập nên” như chúng ta, ví dụ như đọc kinh, lần hạt, hay làm việc bác ái, v.v…  Nên chi lửa tình yêu, lửa huyền siêu chiếu vào chỉ một việc là thanh luyện.  Dù là Thánh Ân, nhưng giống như “mất quyền tự do”, nên chi các ngài phải chịu thua thiệt.  Tình yêu của Thiên Chúa nơi các linh hồn cũng là vô biên, nhưng hữu nhiên tình yêu Thánh Ân không phải là “hai chiều” giống như trần thế.  Đó là lý do, người ở trong luyện hình cần đến chúng ta, Giáo Hội lập công.

Như vậy, trần gian không phải là Thiên Đàng, cũng vậy, không phải là Luyện Hình.  Nhưng trần gian có vị thế của trần gian.  Theo đó, trần gian thì hạnh phúc hơn Luyện Hình, Thiên Đàng hạnh phúc hơn trần gian.  Hiểu như vậy, chúng ta phải yêu mến các Đẳng linh hồn, bằng cách cầu nguyện, dâng việc lành, hy sinh để đền thay, cầu thay cho các ngài, đó là bác ái Kitô giáo cho người đã khuất mà chưa được hưởng Thánh Nhan Thiên Chúa.  Đây là một hành động cao đẹp, đồng thời là nghĩa cử cứu độ.  Mặc nhiên, quyền xét đoán là duy mình Thiên Chúa, nhưng việc bác ái đối với các linh hồn thì chính là như việc truyền giáo vậy.  Thương người có 14 mối, thì bảy mối thương linh hồn, như vậy, hồn xác bằng nhau.  Nay các linh hồn không còn trong thân xác, thì các ngài được yêu thương trong linh hồn.  Vì linh hồn mà được hưởng Thánh Nhan Thiên Chúa, thì không gọi là linh hồn, mà được gọi là thánh.  Khi các ngài được cứu độ trọn vẹn thì các ngài ở trên thiên đàng, thì mặc nhiên các thánh là các ngài sẽ cầu bàu cho chúng ta.  Theo đó, Luyện Hình là nơi được “Lửa Hồng” chiếu soi, lửa huyền siêu, lửa tình yêu, Ngôi Ba Thiên Chúa ban nhiều Thánh Ân.

Dù rằng lời ca từ không dành cho các linh hồn trong Luyện Hình, nhưng từng lời ca từ trong bài hát cho chúng ta một sự kết nối đầy ý nghĩa Công Giáo.  Vì vậy lễ các linh hồn, xin chia sẻ theo ý tưởng nầy, hầu mang đến tính hiệp thông trong Giáo Hội.  Nếu như khi còn trên dương thế, trong thân xác hữu hạn, nhưng ý thức được tính huyền siêu bởi lửa tình yêu thì hạnh phúc cho tất cả chúng ta.

Mong rằng “Lửa Huyền siêu” mà Thánh Linh Thiên Chúa luôn chiếu soi trên các linh hồn nơi Luyện Hình chính là “Lửa Tình Yêu” duy nhất, mà Ngôi Ba Thiên Chúa ban nhiều xuống trên các linh hồn.

Chúa Giêsu Kitô đã dùng cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người để cứu rỗi các linh hồn, thì chính là các linh hồn trong Luyện Hình.  Vì phàm nhân nơi trần thế hoặc sẽ là các thánh, hoặc sẽ là các linh hồn.  Còn nếu ở trong Hỏa Ngục, thì xin miễn bàn.

Vì, “Ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Hội Thánh lữ hành đã hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu nguyện cho những người đã qua đời, vì cầu nguyện cho họ để được giải thoát khỏi tội lỗi là một ý nghĩ lành thánh (2 Mcb 12, 45).  Chúng ta hãy dâng thánh lễ và các việc lành để cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời.”  (Trích Lịch Phụng Vụ).

Lạy Chúa Thánh Linh, Ngôi Ba Thiên Chúa xin tiếp tục tuôn đổ Thánh Ân trên các linh hồn nơi Luyện Hình, để chính lửa hồng mà Chúa chiếu soi là “Lửa Tình Yêu, Lửa Huyền Siêu trên các linh hồn.  Vì các linh hồn cũng chính là thành phần đáng được hưởng công nghiệp Máu Cứu Chuộc của Đức Giêsu Kitô.  Amen!

 Trần Đình Phan Tiến

From: Langthangchieutim

Mass and Purgatory.jpg

SUY NGHĨ TỪ VỤ SẠT LỞ Ở TRÀ LENG (NAM TRÀ MY)…

SUY NGHĨ TỪ VỤ SẠT LỞ Ở TRÀ LENG (NAM TRÀ MY)…

Vụ sạt lở kinh hoàng đã vùi lấp toàn bộ 11 gia đình ở xóm 1, xã Trà Leng, Nam Trà My, trong đó có gia đình bí thư xã.

Dân cư ở Trà Leng trên 95% là người Mơ Nông. Nghề chính của họ là trồng quế (quế Trà My nổi tiếng), kết hợp trồng các cây dược liệu, ăn quả, thu hoạch sản phẩm rừng. Đất đai ở đây phì nhiêu với chất đất đỏ bazan nổi tiếng của Tây Nguyên, độ cao trên 1200m rất lý tưởng về thời tiết và khí hậu ôn hòa để trồng dược liệu. Địa hình vùng này rất dốc, núi cao, chia cắt bởi các dãy núi và khe suối, sông hình thành từ bao đời nay.

Người M’Nông bao đời nay chung sống với rừng, ở trong rừng, khai thác nguồn lợi từ rừng, bảo vệ rừng để tồn tại và duy trì nòi giống. Họ nghèo, lạc hậu, nhưng cuộc sống bao đời nay ổn định.

Khác với nam Tây Nguyên, khu vực này địa hình rất dốc, không được phá rừng mà phải bảo tồn với sự góp sức của chính người dân bản địa. Sự tàn phá rừng của người Kinh bao năm nay (những Đoàn Nguyên Đức, những Nguyễn Thị Như Loan đêu kiếm hàng trăm triệu đô từ phá rừng khu vực này…) đã gần như làm trụi các khu rừng nguyên sinh, chỉ để lại những cây bụi vô dụng.

10 năm nay sự phát triển của thủy điện (Riêng Nam Trà My có Sông tranh 2 rất lớn cộng gần chục thủy điện nhỏ) tàn phá nốt những gì còn lại của các khu rừng đặc dụng, rừng bảo tồn ở Nam Trà My (xem ảnh vệ tinh khu ngã ba Đông Dương).

Dân vẫn nghèo. Họ không còn khả năng làm những ngôi nhà tranh xinh xắn đặc trưng Tây Nguyên với nhà dài, nhà rông nữa. Họ được “kinh hóa” với nhà mái tôn, với đường giao thông chở gỗ được về xuôi, con cái được đi học, có cả điện… Nhưng họ mất hết rừng tự nhiên là mái nhà nuôi che họ, mất hết nguồn sống truyền thống là dựa vào rừng.

Lũ lụt và sạt lở đất là nguy cơ hiển hiện.

Xóm 1 nằm ngay dưới chân ngọn núi lớn, phía trên là quả núi cao đã bị phá trụi (xem được qua ảnh vệ tinh google).

Và thảm họa đã xảy ra…

Giờ thì đã quá muộn để quay lại như xưa.

Quá muộn để dân cư ở đây có cuộc sống bền vững…

KIM VAN CHINH

Think tank Úc tiết lộ dữ liệu về hệ thống hơn 380 trại tập trung Tân Cương

Gần đây, Viện Chính sách Chiến lược Úc (Australian Strategic Policy Institute) đã công bố các dữ liệu chi tiết về hệ thống hơn 380 trại tập trung tại Tân Cương, nơi giam giữ hàng triệu người Duy Ngô Nhĩ cũng như các tù nhân lương tâm khác. Đây là một tài liệu quan trọng cho thấy bằng chứng về việc Đảng Cộng sản Trung Quốc đang đàn áp tín ngưỡng và bức hại các nhóm thiểu số một cách nghiêm trọng tại Trung Quốc. #Trithucvn

Think tank Úc tiết lộ dữ liệu về hệ thống hơn 380 trại tập trung Tân Cương

M.TRITHUCVN.ORG

Think tank Úc tiết lộ dữ liệu về hệ thống hơn 380 trại tập trung Tân Cương

Dữ liệu về các trại tập trung Tân Cương là một bằng chứng quan trọng cho thấy việc ĐCSTQ đang đàn áp tín ngưỡng và bức hại các nhóm thiểu số.  

MIỀN TRUNG SẮP GÁNH THÊM THẢM HỌA?

MIỀN TRUNG SẮP GÁNH THÊM THẢM HỌA?

Đỗ Ngà

Qua cơn bão số 9 (tên quốc tế là bão bão Molave) đổ bộ vào Miền Trung Việt Nam chúng ta cũng thấy rõ 2 điều. Sức tàn phá của gió và sức tàn phá nước (vì bão bao giờ cũng kèm mưa lớn). Trong đó sức tàn phá của gió chúng ta đổ lỗi cho thiên nhiên là hoàn đúng, nhưng sức tàn phá của nước mưa mà đổ lỗi cho thiên nhiên thì đó là hành động chạy tội của chính quyền chứ hoàn toàn không đúng như vậy. Bởi mưa mang nước đến cho con người, bản chất của nó là tạo hóa đã đưa nước đến để con người trữ nó cho mùa khô. Trong đó tạo hóa bao cho rừng xanh như là công cụ gạn lại một phần nước mưa để trữ, và cũng để giảm đi sức tàn phá của nước. Có rừng, có hồ ao hợp lý thì con người sợ gì thiếu nước cho trồng trọt?

Cơn bão số 9 ập xuống gây ra 3 thảm họa lở đất tại tỉnh Quảng Nam, nguyên nhân là do đâu? Do gió hay do nước? Một đứa trẻ con cũng biết, sạt lở đất là do nước chứ không phải do gió. Mà về bản chất, nước là quà của tạo hóa ban cho con người để tích trữ tưới tiêu tao nên những mùa màng nuôi sống con người. Thế nhưng cuối cùng, tại sao nước lại trở thành thảm họa kinh hoàng thế? Đó là câu hỏi dành cho cái chính quyền mà đang cố giữ độc quyền cai trị đất nước này.

Núi non ở Việt Nam thì trùng trùng điệp điệp, đã có núi thì phải có rừng, đó như là một bản thiết kế hoàn hảo của tạo hóa. Hàng ngàn năm nay loài người vẫn tuân theo cái quy luật cân bằng đó thế nhưng CS xuất hiện và nó chỉ biết chia và phá phách. Cuối cùng núi thì còn nhưng rừng thì biến mất dần, thế là sự cân bằng của tạo hóa bị phá vỡ và thảm họa đã ập đến. Hãy nhìn xem thiệt hại do gió và nước gây ra bởi cơn bão số 9 có gì khác nhau? Gió thì chỉ tàn phá vật chất không thiệt hại sinh mạng, còn nước thì tàn phá cả vật chất và sinh mạng, trong đó thiệt hại về nhân mạng rất lớn. Vậy thì bão số 9 là thiên tai hay nhân họa? bề ngoài thì thiên tai, nhưng bản chất bên trong là nhân họa.

Cơn bão số 9 vừa lướt qua làm cho cả xã hội chưa hết bàng hoàng thì nay cơn bão số 10 ập đến (tên quốc tế là cơ bão Goni) có sức mạnh không thua gì cơn bão Molave trước đó, đồng thời đường đi của nó cũng gần như y hệt như đường cũ. Việt Nam đồi núi nhiều, rừng thì trọc hết. Trước đó cơn bão Molave đã mang nước đến đã làm cho đất của các vùng đồi dốc no nước, nay nước lại đổ xuống tiếp thì không biết có xảy ra thảm họa sạt lở đất tiếp nữa hay không? Mong rằng không. Nói thật chỉ biết cầu trời chứ khả năng con người thì hoàn toàn bất lực.

Rừng là lá chắn cho con người trước mưa bão nhưng nay rừng không còn nhiều thì con người lại càng trở nên mong manh hơn rất nhiều trước thiên nhiên. Bão lớn cũng mang đến họa lớn mà mưa lớn cùng mang đến họa lớn. Lá chắn tai họa đã bị tàn phá thì con người ngày càng trở nên bất lực. Hận bọn lâm tặc một thì hận bọn đảng tặc 10.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://vnexpress.net/yeu-cau-cac-tinh-theo-doi-chat-che…

No photo description available.

Về vụ khủng bố tại nhà thờ Basilique Notre Dame ở Nice sáng 29 tháng 10/2020

Sau cuộc điều tra sơ khởi về vụ khủng bố tại nhà thờ Basilique Notre Dame ở Nice sáng 29 tháng 10/2020 thì kẻ cầm dao cắt cổ 3 nạn nhân và làm nhiều người bị thương trong Nhà thờ tên BRAHIM A. gốc Tunisien 21 tuổi đi tàu vào Bari nuớc Ý ngày 20 tháng 9/2020 và ngày 9/10 vào Pháp … Anh ta đi chuyến xe lửa đến nhà ga Nice lúc 6g45 ngày 29/10/20…Sau đó hắn vào nhà thờ và đâm chém các nạn nhân lúc 8g29 …

Police đã có mặt lúc 8g47 chặn cả cửa trước và cửa hông, xông vào kiểm soát tình hình, bắn trọng thương kẻ khủng bố (hiện đang nằm phòng cấp cứu ở nhà thương)

Ba nạn nhân bị cắt cổ chết thảm là 2 phụ nữ:

– Người trợ lý điều dưỡng (aide soignante) 44t gốc Bresilienne, mẹ cuả 3 nguời con

– Một bà 60 tuổi hay đi nhà thờ

và 1 nguời đàn ông gác cổng nhà thờ ( gardien) 55 tuổi, cha của 2 cô con gái..!

* Tổng thống Pháp Macron tuyên bố nuớc Pháp trong tình trạng báo động và tăng thêm 4000 quân lính ( militaire) tuần hành bảo vệ an ninh khắp nẻo đường, tổng cộng 7000 quân lính…

* Media Pháp suốt ngày tranh luận về sự kiểm soát lỏng lẻo immigrants vào Âu châu khiến cho tụi islamic, khủng bố len lỏi vào gây loạn và giết chóc phá huỷ an ninh cuả nuớc Pháp…!

Một phút tuởng niệm cho các nạn nhân!

Pray for FRANCE!