Thánh Polycarp, Giám mục tử đạo (c. 69-155)

Thánh Polycarp, Giám mục tử đạo (c. 69-155)

Thứ 4 rồi bạn ơn, chỉ còn đúng 1 tuần nữa là đến ngày Thứ 4 Lễ Tro, chuẩn bị tâm hồn từ từ đi nhé. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Polycarp, Giám mục tử đạo (c. 69-155). Mừng quan thầy đến ai chọn ngài làm bổn mạng hôm nay.

Cha Vương

Thánh Polycarp là môn đệ của Thánh Gioan Tông Ðồ và là bạn của Thánh Ignatiô ở Antioch, Thánh Polycarp, Giám Mục của Smyrna (bây giờ là Izmir, Thổ Nhĩ Kỳ), là một vị lãnh đạo đáng kính của Kitô Giáo trong tiền bán thế kỷ thứ hai. Tuy nhiên các vị lãnh đạo Giáo Hội thuộc thế hệ thứ hai đã gặp những thử thách mà thế hệ trước không đề cập đến. Họ phải làm gì khi thế hệ chứng nhân thứ nhất ấy không còn nữa? Lời dạy dỗ xác thực của Chúa Giêsu phải truyền lại như thế nào? Phải trả lời thế nào với các câu hỏi chưa từng có? Khi các tông đồ không còn ở trần thế nữa, các lạc thuyết bắt đầu xuất hiện ngụy trang chính giáo, sự bách hại lại mạnh mẽ và bắt đầu xuất hiện các tranh chấp về vấn đề phụng vụ mà Ðức Giêsu không bao giờ nói đến.

Polycarp, một người thánh thiện và là giám mục của Smyrna, chỉ thấy có một câu trả lời – trung thành với đời sống Ðức Giêsu và bắt chước đời sống ấy. Thánh Ignatiô nói với Thánh Polycarp “tinh thần của anh đặt nền móng nơi Thiên Chúa như trên một tảng đá không thể nào lay chuyển nổi.” Khi đối diện với lạc giáo, ngài có “bộ mặt bộc trực” đến nỗi Thánh Ignatiô phải thán phục cũng như ngài đã bắt chước cách Ðức Giêsu trả lời người Pharisêu. Marcion, người lãnh đạo lạc thuyết nhị nguyên (Marcion chủ trương có hai Chúa. Một Chúa trong Cựu Ước thì khác với Chúa của Tân Ước, và Ðức Giêsu là Con của Thiên Chúa trong Tân Ước.) khi đối chất với Polycarp đã yêu cầu ngài thừa nhận họ, “Polycarp, hãy thừa nhận chúng tôi.” Polycarp trả lời, “Tôi thừa nhận ngài, phải, tôi thừa nhận ngài là đứa con của Satan.” Trái lại khi đối diện với các bất đồng của Kitô Hữu, ngài lại rất khoan dung và tôn trọng. Một trong những tương tranh thời ấy là việc cử hành lễ Phục Sinh. Ðông Phương, là xuất xứ của Thánh Polycarp, cử hành mầu nhiệm Vượt Qua như sự Thương Khó của Ðức Kitô tiếp theo sau bằng một Thánh Lễ vào ngày kế tiếp. Tây Phương cử hành lễ Phục Sinh vào ngày Chúa Nhật sau tuần lễ Vượt Qua. Khi Thánh Polycarp đến Rôma để thảo luận về vấn đề này với Ðức Giáo Hoàng Anicetus, họ bất đồng ý kiến. Nhưng các ngài cũng không thấy sự khác biệt trong đức tin Kitô Giáo. Và Ðức Anicetus đã yêu cầu Thánh Polycarp cử hành Thánh Lễ ngay trong nhà nguyện của đức giáo hoàng.

Thánh Polycarp đối diện với sự bách hại cũng như Ðức Kitô đã làm. Chính giáo đoàn của ngài phải thán phục ngài vì đã theo sát “gương phúc âm” – không tìm cách để tử đạo như một số người đã làm, nhưng trốn tránh sự bách hại cho đến khi thánh ý Chúa được thể hiện như Ðức Giêsu Kitô đã làm. Họ coi đó là “một dấu chỉ tình yêu nói lên sự khao khát không muốn chỉ cứu chuộc có một mình, nhưng còn cứu chuộc tất cả anh chị em Kitô Hữu.” Trong thời kỳ đẫm máu tử đạo của người Kitô trong đấu trường, dân chúng trở nên điên cuồng đòi hỏi phải tìm bắt Thánh Polycarp, vì ngài nổi tiếng thánh thiện. Thánh Polycarp thật điềm tĩnh nhưng giáo dân thúc giục ngài đi trốn trong một nông trại gần thành phố. Quân lính tìm ra ngài sau khi tra khảo hai đứa bé. Ngài thết đãi họ ăn và xin họ để ngài cầu nguyện trước khi điệu về đấu trường. Thấy đức tin vững vàng không lay chuyển của Thánh Polycarp, quan thống đốc ra lệnh thiêu sống, và khi quân lính châm lửa, nhiều người chứng kể lại họ được nhìn thấy một phép lạ. Lửa cháy thành một vòng cung chung quanh thánh nhân, bao bọc ngài như các cánh buồm, và thay vì bị đốt cháy, ngài lại rực sáng như vàng đang chảy trong lò lửa. Khi quân lính thấy ngài không hề hấn gì, chúng đã lấy dao đâm ngài. Máu ngài chảy ra đã dập tắt ngọn lửa. Quan thống đốc ra lệnh đốt xác thánh nhân mà không để giáo dân lấy xác, vì ông sợ họ sẽ thờ Thánh Polycarp mà không thờ tà thần của người Rôma. “Chứng từ” tử đạo của Thánh Polycarp là chứng từ được ghi nhận một cách xác thực về sự tử đạo của người Kitô ngay từ thuở ban đầu. Ngài chết vào khoảng năm 155. Trong nhiều lá thư của Thánh Polycarp, chỉ còn một lá ngài viết cho Giáo Hội Philippi, Macedonia là còn giữ được cho đến ngày nay.

Lời Bàn: Thánh Polycarp được công nhận là vị lãnh đạo Kitô Giáo bởi tất cả Kitô Hữu thuộc Giáo Hội Tiểu Á – một thành trì đức tin vững mạnh và trung thành với Ðức Giêsu Kitô. Sức mạnh của ngài là bởi tín thác vào Thiên Chúa, ngay cả khi các biến động của đời sống mâu thuẫn với sự tin tưởng này. Sống giữa những người ngoại giáo và dưới chế độ đàn áp một tôn giáo mới, ngài đã chăn dẫn đàn chiên của ngài. Cũng như vị Mục Tử Tốt Lành, ngài đã hy sinh mạng sống vì đàn chiên và gìn giữ họ khỏi bị bách hại thêm nữa. Sự tín thác vào Thiên Chúa của ngài được tóm lược trong câu nói trước khi chết: “Lạy Cha? Con ca tụng Ngài, vì đã giúp con xứng đáng cho đến ngày giờ này?” (Sổ Tử Ðạo, Chương 14).

Lời Trích: “Hãy vững vàng trong cách ăn ở và noi gương Chúa, ‘trung kiên trong đức tin, yêu thương anh chị em, đoàn kết trong chân lý,’ giúp đỡ lẫn nhau với sự dịu dàng của Chúa, đừng khinh miệt một ai” (Thánh Polycarp, Thư Gửi Tín Hữu Philippi). (Nguồn: Người Tín Hữu)

From: Đỗ Dzũng

Cuộc Gặp Gỡ Kỳ Diệu

Cuộc Gặp Gỡ Kỳ Diệu

Taberd75 (FB Victor Đoàn)

LGT: Bài viết vô cùng cảm động sau đây của quả phụ một sĩ quan QLVNCH, kể về một mối tình có thật thời chiến tranh Việt Nam giữa chị ruột của tác giả với một người lính Mỹ, đã hy sinh trong cuộc chiến. Hơn ba mươi năm sau, tưởng nhớ công ơn người anh rể đã hy sinh cho quê hương, tác giả ghé thăm bức tường đá đen ghi danh 58,000 tử sĩ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam… Không ngờ, tại đây, bà tình cờ gặp bố mẹ của người anh rể cũng đến viếng thăm con, và qua câu chuyện, tác giả đã giúp ông bà nội người Mỹ tìm thấy người con dâu Việt và đứa cháu nội chưa từng biết mặt…. Trong niềm bồi hồi xúc động đến rưng rưng lệ khi đọc, chắc chắn quý độc giả không thể không biết ơn những người lính VNCH, Mỹ, Úc… đã đổ máu bảo vệ Miền Nam trước làn sóng xâm lăng của cộng sản trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam….

Tháng tư thường cho tôi nhiều nỗi buồn và nhớ. Buồn vì từ đó ta làm thân mất nước không nhà và nhớ vì trước đó có quá nhiều kỷ niệm không bao giờ còn tìm lại được. Giữa lúc lòng tôi đang chơi vơi thì chị bạn rủ theo đoàn người về thủ đô Hoa thịnh Đốn để coi hoa Anh Đào nở và nhất là đi thăm bức tường đá đen, ghi lại tên tuổi của hơn năm mươi tám ngàn tử sĩ Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, đã bỏ mình để bảo vệ tự do của miền Nam xưa. Với tôi đó là một dịp may đến thật tình cờ.

 Tôi vẫn thường nghe nói về vườn hoa Anh Đào mà vương quốc Nhật tặng cho nhân dân Mỹ khi xưa ở thủ đô, đang khoe sắc mỗi độ xuân về. Thật như thỏa tấm lòng vì cả hai, được nhìn những cành hoa mà cả một thời tuổi trẻ ước mơ và đến tận nơi bức tường đá đen để tìm tên một người đã là điều tôi mong muốn từ lâu. Thế nên tôi thu xếp hành trang vội vã đi ngay. Hơn hai mươi bốn giờ ngồi trên xe theo nhóm người du ngoạn đã đưa tôi từ miền Texas xa xôi về tới thủ đô. Con đường Ohio chạy dọc theo bờ sông Potomac hoa Anh đào đã nở rực rỡ một màu hồng phơn phớt trắng. Hơi lạnh đầy trong không khí của một mùa đông dài còn sót lại, vương qua mùa xuân, đọng trên những cánh hoa dọc theo con đường Constitution dẫn đến bức tường đá đen nằm kia, trầm mặc u buồn.

 Tháng Tư, hoa đã nở từ lâu. Xác hoa rơi lả tả làm hồng cả một khoảng không gian quanh những con đường chạy dọc theo công viên. Hoa Anh Đào thật đây rồi, những cánh hoa mà tươi xinh ngày xưa tôi chỉ được nhìn thấy trong phim ảnh rồi thầm cảm mến những kiếm sĩ của xứ Phù tang, cô đơn vung đường gươm, để hoa rơi trong tuyết lạnh, thì hôm nay đang rực rỡ khoe sắc trước mắt tôi đây. Tôi tách ra khỏi nhóm người đi bộ một mình dưới những tàn cây. Tôi vẫn thích đưọc đi một mình để nhớ về những ngày tháng đã dần qua.

 Ngày xưa chưa mất miền Nam gia đình tôi đã có một cuộc sống ấm êm hạnh phúc. Chồng tôi, một người lính trận, mỗi lần về phép thường hay cùng đi với một quân nhân Mỹ, cố vấn trong đơn vị. Hai người cùng làm việc, cùng chung sở thích và ý nguyện nên rất thân nhau.

 Thuở ấy tôi không biết nhiều về đất Mỹ như bây giờ nhưng qua lời anh diễn tả, cũng đủ hiểu rằng người lính Mỹ ấy đến từ một vùng quê xa xôi miền trung bắc Hoa Kỳ. Ngoài cái vẻ bên ngoài rất tài tử, râu ria xồm xoàm vì những ngày tháng lăn lóc trong chiến trận chưa kịp cắt tiả thì Mike Wright thật nhân hậu và hiền lành. Tôi cũng ngạc nhiên với tấm lòng rộng lượng hồn nhiên của người Mỹ. Họ đã mang biết bao nhiêu tài sản, cả sinh mạng khi đến giúp đất nước tôi, hòa nhập vào đời sống người dân bản xứ, tươi vui trong cuộc sống. Bởi thế, anh chàng râu ria xồm xoàm Mike chiếm được cảm tình của gia đình, nhất là bà chị lớn chưa chồng của chúng tôi ngay. Chuyện tình của một người lính viễn chinh từ một đất nước xa xôi với người con gái Việt Nam còn nguyên nề nếp gia phong diễn ra thật êm đềm hạnh phúc với một đám cưới đậm chất phương Đông. Chị tôi khăn đóng, áo dài bên cạnh anh Mike cũng áo dài khăn đóng. Trông họ cũng thật vừa đôi.

 Từ đó tôi không còn cô đơn trông ngóng hằng đêm mà có cả chị tôi là kẻ đồng tình, đồng cảnh. Chúng tôi đã có những ngày đợi chờ trong lo lắng, đã có những ngày đoàn viên trong hạnh phúc. Những tháng tươi vui của một thời son trẻ tưởng như không bao giờ dứt cho đến một ngày kia. Tôi không quên được cái ngày người chỉ huy hậu cứ tiểu đoàn đích thân đến báo cho tôi biết là chồng tôi và đơn vị của chàng không về nữa. Cả người cố vấn Mỹ dễ thương đang là anh rể của tôi cũng cùng chung số phận. Một đơn vị oai hùng, thiện chiến, tưởng như là không bao giờ thua trận đã nằm lại đâu đó trên vùng đất Hạ Lào của mùa hè khói lửa. Tôi và người chị, ngày ấy thực sự bị cuốn vào những cơn ác mộng, nhất là khi chị tôi biết được rằng mình vừa khó ở, chưa thông báo cho Mike biết về đứa con vừa thành hình trong bụng chị

 Sau khi miền Nam lọt vào tay phương Bắc là một quãng đời địa ngục trần gian đến với chúng tôi. Nhất là chị với đứa con lai đã hứng chịu trăm đắng ngàn cay bởi vì sự dè bỉu, khinh khi cũng như phân biệt đối xử của người cai trị mới. Chị tôi bị hành hạ, bị lăng nhục, bị đe dọa đưa vào cái trại gọi là phục hồi nhân phẩm mà thực chất là tước đoạt hết nhân phẩm con người. Chịu đựng bao nhiêu đắng cay khổ sở nhưng chị tôi vẫn cắn răng làm việc nuôi dạy con khôn lớn nên người. Có một điều làm tôi lạ lùng là tình yêu của chị dành cho anh hơn hẳn những thường tình. Chị luôn nhắc tới anh với những lời yêu thương trang trọng, với sự bùi ngùi thương tiếc của một người góa phụ tưởng nhớ thương chồng. Chị không đòi hỏi gì ở anh cũng như đất nước anh. Khi chương trình tái định cư những người con lai bắt đầu, tôi cũng tưởng chị vui sướng lắm. Nhưng không, chị từ chối ra đi chỉ vì còn nặng lòng với mảnh đất được sinh ra và đứa cháu tôi cũng vui vẻ vâng theo lời mẹ. Tôi không giống và cũng không chịu đựng được như chị. Tôi chọn ra đi để đưa các con tôi về với tự do. Khi con thuyền mong manh đưa chúng tôi ra biển, tôi đã thầm cầu nguyện ơn trên cho chúng tôi vượt sóng được bình an. Tôi đã chọn tự do hay là chết và chân thành cầu xin đó là một sự chọn lựa đúng đắn và may mắn nhất trong đời….

 Cứ mải suy nghĩ và đi theo con đường hoa, tôi đến trước bức tường đá đen tự bao giờ. Con đường dần xuống thấp để những dòng tên trắng hiện ra. Một cặp vợ chồng người Mỹ trắng đã già lắm, run rẩy dắt tay nhau bước lên bực thang. Mắt người đàn bà còn ướt đỏ. Tôi đoán rằng bà vừa mới khóc.

Gặp nhau trên bực thang đầu tiên, tôi vui vẻ chào hai người rồi hỏi lớn:

– Ông bà từ đâu tới.

– Chúng tôi từ Ohio, còn cô.

– Thưa ông bà tôi từ Texas.

 Người đàn ông râu dài nhưng cắt tỉa gọn gàng, dáng vẻ hiền từ thân thiện. Ông ta mỉm cười hỏi lại.

– Tôi muốn hỏi cô người nước nào. Phi, Tàu, Nhật hay Thái lan.

– Thưa ông tôi là người Việt Nam.

 Bỗng nhiên tôi thấy gương mặt người đàn bà dường như đổi sắc. Hình như một sự giận dữ bất ngờ chợt làm bà ta vùng vằng cố bước lên bậc thang ngắn tiến về phía trước. Tôi ngạc nhiên nhìn ông già chờ đợi một lời giải thích về cử chỉ bất thường của bà. Chắc có một điều gì không ổn vì tôi biết đa số người Mỹ thường lịch sự, ít ai bày tỏ ngay những điều khó chịu trong lòng. Như đoán được ý nghĩ của tôi ông buồn rầu giải thích.

– Cô đừng buồn với thái độ của vợ tôi. Bà ấy đang buồn rầu. Chúng tôi mất đứa con trai duy nhất ở Việt Nam, nên mỗi khi thấy người Việt Nam vợ tôi lại xúc động, không ngăn được cảm xúc nên có những cử chỉ bất thường.

 Tôi nhìn bà già đã ngồi xuống chiếc ghế đá bên lối đi, đang run rẩy cố chống hai tay lên đùi, mắt vô hồn nhìn vào quãng không gian phía trước. Nếu tôi mất con cho một cái xứ sở xa lạ nào chắc gì tôi còn giữ được bình tĩnh như bà. Lòng tôi rạt rào niềm thương xót để nói với ông rằng tôi thông cảm tâm tình của những bà mẹ mất con cho một dân tộc họ không hề mảy may biết tới.

 Trong lúc xúc động tôi cũng nói với ông là chính tôi và gia đình tôi cũng mất mát rất nhiều trong cuộc chiến chống cộng sản xâm lăng đó. Và đau đớn hơn thế nữa, chúng tôi đã mất cả quê hương, tổ quốc. Ông già Mỹ luôn luôn lập đi lập lại rằng tôi biết, chúng tôi biết, rồi xin phép tôi chạy đến săn sóc cho bà đã ngồi xuống ghế đá cách đó không xa lắm. Ông nói lớn, chào từ giã khi tôi đi lần xuống phía dưới để dò tìm những hàng chữ mang tên người anh rể ngoại chủng năm xưa đã nằm xuống ở Việt Nam.

 Tôi biết vần W sẽ nằm ở hàng cuối cùng nhưng cũng mất một lúc lâu mới tìm thấy cái tên Mikes Wright, tên người anh rể tôi năm kia, khiêm nhường giữa tên của bao nhiêu người. Nhỏ bé và đơn giản trong một không gian bao la, nhưng thật hào hùng độ lượng như cuộc đời anh và đất nước đang cưu mang chúng tôi đây.

 Tôi lặng chìm trong những giấc mơ xưa về một gia đình hạnh phúc mà nhớ đến chồng tôi. Tên của Mikes người ta còn nhớ chứ tên của chồng tôi kẻ thù đã xóa đi. Ngay cả miếng đất nhỏ bé mà chồng tôi an nghỉ người ta cũng đang toan tính cướp mất của anh. Tôi nhớ đến nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Nhớ đến giây phút vật vã khóc lóc nhìn thi hài anh được gắn lon giữa hai hàng nến. Nhớ đến những khuôn mặt lầm lỳ, chai sạn vì gió bụi của những người lính bồng súng chào chồng tôi lần cuối khi đưa chàng về với đất mẹ năm xưa.

 Giữa lúc lặng yên tưởng nhớ thì mấy bà bạn tôi xuất hiện. Các bà gọi la tên tôi ơi ới, trách tôi xé lẻ tìm vui một mình. Cả bọn trầm trồ, chỉ trỏ reo vui với những cái tên lạ, nói cười vui vẻ như không cần biết gì về những niềm đau. Ôi nhân thế thường mau quên để sống, chỉ có mình tôi hay đi ngược thời gian về những dòng sông cũ. Chúng tôi lại rủ nhau đi thăm viện bảo tàng không gian gần đó. Một đoàn người vừa đi vừa cười, vừa hỏi thăm đường rộn vui lên góc phố. Ở đây người ta quen mắt với những cái lố lăng của du khách từ khắp mọi miền trên thế giới nên chẳng thấy phiền hà.

 Đến trưa lúc sắp ra về tôi lại gặp cặp vợ chồng người Mỹ ban sáng. Lạ một điều là tôi thấy ông già có nét gì rất quen. Lần này bà có vẻ vui hơn, mỉm cười khi tôi chào gặp lại. Chắc ông đã giải thích cho bà biết rằng ai cũng có những nỗi buồn, những mất mát khác nhau chứ không phải riêng bà. Chúng tôi đứng ngoài hành lang nói chuyện. Ông bà cho tôi biết sẽ về lại Ohio chiều mai, một nông trại xa xôi nằm sát biên giới tiểu bang Indiana. Ông nói thế nhưng tôi chẳng hình dung được gì ngoài những con số mà tôi đoán rằng đất đai chắc là rộng lớn. Tôi cũng cho ông biết chúng tôi còn ở đây thêm vài ngày, đi thăm một vài nơi nữa rồi chào từ giã theo dòng người thăm viếng.

 Buổi sáng hôm sau tôi có thói quen thức dậy thật sớm trong lúc mọi người còn say trong giấc ngủ. Tôi mở cửa bước ra ngoài, đi bộ theo con đường Ohio dọc theo bờ sông, rồi tình cờ bước dần về phía bức tường đá đen. Trời còn sớm quá nhưng tôi thấy dưới chân bức tường thấp thoáng bóng người. Bước tới gần hơn tôi bất ngờ nhận ra ông bà già Mỹ hôm qua đang ở đó tự bao giờ. Bà ngồi hẳn xuống đưa tay sờ lên những hàng tên như vuốt ve một vật gì quý giá.

Gặp lại nhau tôi lên tiếng:

– Chào ông bà. Ông bà ra đây sớm quá. Tôi cứ tưởng chỉ mình tôi đi bộ trong khu này…

Ông ôn tồn giải thích:

– Chiều nay chúng tôi trở về lại Ohio rồi nên thu xếp thời gian thăm lại nơi đây lần nữa.

Bà vẫn không nói, đưa tay sờ lên phiến đá. Tôi chắc bà thương yêu người con và đau đớn lắm khi nhìn lên hàng chữ có tên con mình. Mắt tôi tò mò nhìn theo và ngạc nhiên thấy tay bà đang đặt trên hàng chữ của vần W. Như có một linh tính báo trước chuyện lạ lùng tôi buột miệng hỏi ông:

– Con trai của ông bà tên là gì nhỉ. Anh ấy mất ở Việt nam năm nào?

– Con trai tôi tên là Mikes Wright, tử trận ở Việt nam năm 1972. Tên nó đây, ngay đây này…

 Vừa nói ông vừa chỉ về phía tay bà đang xoa xoa che khuất cái tên mà trước đây tôi đã đặt tay vào. Chính đó là tên anh rể của tôi. Cha của đứa cháu mồ côi mà chị tôi yêu quý như báu vật của cuộc đời mình. Tôi đứng lặng người nhìn ông rồi lại nhìn bà. Sao cuộc đời lại có sự tình cờ kỳ diệu đến thế này. Để chắc chắn mình không nằm mơ tôi hỏi lại những chi tiết rất chung chung mà tôi còn nhớ về anh.

– Anh Mikes của ông bà rất nhiều râu và vui tính lắm phải không.

– Cô nói gì tôi không hiểu. Dĩ nhiên ngày ấy Mikes còn trẻ lắm nên râu ria mọc là thường.

 Tôi nhìn lại ông và mơ hồ thấy nét quen thuộc mà tôi chợt khám phá ra hôm qua, là ông trông rất giống Mikes ở cái cằm vuông vức và bộ râu rậm dài. Ông già bùi ngùi nói tiếp.

– Vợ tôi buồn một điều là đáng lẽ ra Mikes đã hết hạn phục vụ ở Việt nam trở về Mỹ nhưng vì yêu thương một người con gái bản xứ nên tình nguyện phục vụ thêm một thời hạn nữa và cái thời hạn đó không bao giờ chấm dứt…

– Thế ông bà có biết tin tức gì về người con gái ấy không.

– Mikes có gởi cho chúng tôi một tấm hình, thông báo là đã thành hôn. Lâu quá rồi nhưng chúng tôi còn giữ tấm hình ấy trong tập ảnh gia đình ở Ohio. Chỉ có thế mà thôi.

 Tôi muốn nói với ông chính tôi là em người con gái Việt Nam ấy nhưng sợ rằng mình nhận lầm, vì biết đâu có một anh Mikes nào khác nữa nên chỉ nói với ông:

– Hơn ba mươi năm trước đây tôi cũng có một người anh rể tên là Mikes Wright, quê quán ở miền trung bắc Mỹ. Tôi chỉ biết thế không biết có phải là anh Mikes con của ông bà không. Tôi từ Texas lên đây chơi nhưng chính là để nhìn thấy tên anh Mikes Wright một lần trên tấm bia đá này.

 Ông mở mắt nhìn tôi kinh ngạc rồi kéo bà lên, nói với bà tin tức quan trọng đó. Ông luống cuống, mời tôi ngồi xuống tấm ghế đá trong khi bà cứ há miệng ra thẫn thờ chờ đợi. Rồi ông dồn dập hỏi.

– Tôi chắc là đúng rồi. Đấy cô coi có cái tên Mikes Wright nào khác đâu. Thế chị cô bây giờ ở đâu. Tôi muốn hỏi thăm tin tức về Mikes trong những ngày cuối cùng.

– Thưa ông bà, chị tôi vẫn còn ở Việt Nam. Chắc rằng chị tôi cũng chẳng biết gì hơn ông bà.

 Như chính tôi đây chẳng biết gì hơn tin tức cuối cùng của chồng tôi và Mikes. Đầu tiên người ta chỉ thông báo cho chúng tôi là hai người đã mất tích sau một đợt tấn công của địch và cả tuần lễ sau mới tìm thấy xác mang về.

– Thế thì đúng như cô nói, chắc đúng là Mikes rồi. Khi chúng tôi đến nhận xác Mikes thì đã không mở ra được nữa vì những điều kiện vệ sinh.

– Nhưng tôi có một tin quan trọng về anh Mikes, không biết ông bà có muốn nghe không?

– Tin gì vậy, thưa cô. Chúng tôi không còn gì trên đời này ngoài hình ảnh của Mikes và những gì liên quan đến đứa con yêu thương của chúng tôi.

– Chị tôi có một người con với anh Mikes. Chính anh Mikes cũng không biết vì lúc vừa mới có thai, chưa kịp thông báo thì anh Mikes và chồng tôi đã không về nữa. 

Ông bà liên tục kêu lên những lời thống thiết, không rõ là lời đau khổ hay mừng vui.

– Chúa ơi, thật thế sao! Chúa ơi! Chúa ơi!

– Thật thế thưa ông bà. Cháu giống Mikes lắm. Nếu ông bà thấy cháu là nhận ra ngay thôi.

– Thế bây giờ cháu ở đâu thưa cô.

– Cháu vẫn còn ở Việt nam. Vì thương mẹ nên cháu không về Mỹ theo chính sách trở về quê cha của những đứa con lai.

 Tôi và ông bà Wright cùng bước đi như trong cơn mơ vì sự gặp gỡ bất ngờ. Tôi cho ông bà địa chỉ, số điện thoại của tôi và nhận lại địa chỉ số điện thoại của ông bà ở Ohio để tiện bề liên lạc. Những thông tin ban đầu mặc dù đã chính xác, nhưng tôi muốn biết chắc tấm ảnh ngày xưa có phải là của chị tôi hay không.

 Chiều hôm đó ông bà Wright về lại Ohio. Tôi đoán ông bà vui vẻ lắm. Mất một đứa con cho cái xứ Việt Nam xa xôi nhưng ông bà sẽ được nhận lại một đứa cháu ngoan ngoãn và đứa con dâu còn giữ đúng truyền thống Việt Nam. Tôi biết chị tôi là một người đàn bà Việt Nam hiền thục. Tôi đã đoán không sai vì ba hôm sau khi tôi còn ở khách sạn thì tiếng điện thoại lại reo. Lần này ông bà Wright theo xe trở lên, mang cả gia đình đứa con gái gồm con rể và hai đứa cháu. Họ lái một chiếc xe van lớn mang theo cả tấm ảnh ngày xưa.

Gặp nhau tại công viên ông bà đưa tôi tấm ảnh và giải thích:

– Vội quá nên chúng tôi không book được vé máy bay. Vả lại Nathalie, em gái của Mikes và chồng con nó ở gần đó cũng muốn đi nên chúng tôi lái xe cho tiện.

 Tấm ảnh chụp cách đây hơn ba mươi năm giờ đã ố vàng. Màu sắc phai theo thời gian nhưng vẫn còn sắc nét. Tôi cầm tấm ảnh như đưa tay chạm vào một phần quá khứ xa xăm. Trong ảnh, chị tôi người con dâu đất Mỹ, e ấp đứng bên người chồng râu ria xồm xoàm, đang đưa cánh tay khỏe mạnh ôm vòng lấy người con gái như ôm ấp chính cuộc đời cô.

– Đúng là chị tôi rồi.

 Ông bà Wright mừng vui như mở hội. Bà như trẻ trung hẳn lên. Bao nhiêu bệnh tật gần như tan biến. Mấy người đi theo cũng lộ nét mừng vui hớn hở.

Bà hỏi tôi những chuyến bay về Việt Nam với những dự định đi thăm viếng đứa cháu, con của người con tưởng như đã mất, bỗng dưng còn để lại trong cuộc đời này cả một phần huyết nhục. Tôi thưa với ông bà rằng tôi đã nói chuyện với chị tôi qua điện thoại. Chị cũng rất vui mừng về sự gặp gỡ này. Chị sẵn sàng cho cháu về quê nội cũng như chính chị sẵn sàng về làm dâu ông bà, chăm sóc cho ông bà trong lúc tuổi già đúng như truyền thống của người Việt Nam. Tôi đã biết tình yêu của chị dành cho Mikes nên không ngạc nhiên với quyết định này. Ông bà chăm chú nghe tôi giải thích phong tục Việt Nam là người vợ phải làm dâu phụng dưỡng cha mẹ chồng. Ông kêu Chúa ôi liên tục sau mỗi câu nói làm tôi có cảm tưởng như đang kể cho ông bà nghe về chuyện phong thần, nhưng tôi biết bây giờ đối với ông bà, đất trời là cả một mùa xuân.

 Sau đó một thời gian dài, tôi lại bận bịu vì phải lo lắng dẫn ông bà Wright về lại Việt Nam. Bận bịu nhưng lòng tôi sung sướng. Tôi không giấu được xúc động khi nhìn thấy ông bà lần đầu tiên gặp lại đứa cháu nội sau hơn ba mươi năm thương nhớ người con đã khuất. Ông bà cứ kêu lên những lời vui mừng vang một góc sân và làm ngạc nhiên những người hàng xóm Việt Nam vốn không thiếu sự tò mò.

– Oh my God! He just looks like his father! Oh my God!

 Bây giờ chị tôi, một người con gái Việt Nam về làm dâu muộn màng trên đất Mỹ, đang thay cha mẹ chồng cai quản một nông trại trồng bắp ở Ohio với đứa con duy nhất của một cuộc tình nở vội trong cuộc chiến Việt Nam.

 Taberd75 (FB Victor Đoàn)

From: thanhlamle.le & ThuNNguyen

SỰ KỲ DIỆU CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG…

SỰ KỲ DIỆU CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG…

Giống như bất kỳ người mẹ nào, khi Karen biết mình mang thai, cô làm tất cả những gì có thể để giúp đứa con trai 3 tuổi, Michael, chuẩn bị tâm lý chào đón một thành viên mới trong gia đình.

Thành viên mới này là một bé gái. Ngày ngày, Michael hát cho đứa em gái còn trong bụng mẹ nghe. Cậu bé đã xây dựng tình yêu thương đối với em gái mình ngay cả trước khi cô bé ra đời.

Thai kì tiến triển bình thường. Theo thời gian, những cơn đau chuyển dạ đến. Mỗi năm phút, ba phút rồi một phút một lần. Tuy nhiên, biến chứng nghiêm trọng phát sinh, Karen chuyển dạ hàng giờ. Cuối cùng, em gái của Michael chào đời. Nhưng cô bé lại trong tình trạng rất nguy kịch. Tiếng còi hú trong đêm, xe cứu thương vội vàng chở đứa trẻ sơ sinh đến khu chăm sóc trẻ sơ sinh tại bệnh viện St. Mary, Knoxville.

Thời gian trôi dần… Tình trạng của bé trở nên tồi tệ hơn. Các bác sĩ nhi khoa nói với cha mẹ Michael rằng có rất ít hy vọng, hãy chuẩn bị tinh thần cho tình huống xấu nhất…!

Karen và chồng liên lạc với một nghĩa trang địa phương để chuẩn bị cho việc chôn cất. Họ đã chuẩn bị một căn phòng đặc biệt trong nhà cho em bé mới, nhưng giờ phải lên kế hoạch cho một đám tang…!

Tuy nhiên, Michael đã van nài cha mẹ cho cậu vào gặp em gái mình. Cậu bé nói: “Con muốn hát cho em ấy nghe…!”.

Tuần thứ hai trong phòng chăm sóc đặc biệt. Michael tiếp tục nài nỉ để được hát cho em gái mình, nhưng trẻ con không được phép vào phòng chăm sóc đặc biệt.

Karen quyết định đưa Michael vào thăm em mình cho dù bệnh viện có đồng ý hay không. Nếu giờ cậu bé không được nhìn thấy em gái mình, thì có thể sẽ không bao giờ còn cơ hội nữa. Michael mặc bộ quần áo quá khổ và được dẫn đến phòng chăm sóc đặc biệt. Trông cậu bé giống như một giỏ đựng quần áo di động.

Người y tá trưởng nhận ra cậu bé và hét lên: “Đưa nó ra khỏi đây ngay. Trẻ con không được phép vào!”

Bản năng làm mẹ trong Karen trổi dậy và người phụ nữ bình thường hòa nhã nhìn trừng trừng vào mắt người y tá trưởng, với một giọng đanh thép, cô nói: “Cậu bé sẽ không rời khỏi cho đến khi nó hát cho em gái mình nghe…!”

Sau đó, Karen kéo Michael đến bên giường cô bé. Cậu bé nhìn chằm chằm vào đứa em đang yếu dần trong cuộc chiến giành lấy sự sống…! Sau một lúc, cậu bắt đầu cất giọng. Bằng giọng trong veo của một đứa trẻ 3 tuổi, Michael hát:

“You are my sunshine, my only sunshine, you make me happy when skies are gray.” (Bé là ánh nắng, ánh nắng mặt trời duy nhất của anh, bé làm anh hạnh phúc dẫu bầu trời xám xịt.)

Ngay lập tức, cô bé dường như có phản ứng. Mạch bắt đầu trở nên ổn định.

“Tiếp tục đi Michael”, Karen động viên, mắt ngấn lệ.

“You never know, dear, how much I love you, please don’t take my sunshine away.” (Bé con à, em không biết anh thương em thế nào đâu, xin đừng lấy đi ánh nắng mặt trời đi.)

Khi Michael hát, hơi thở rời rạc, yếu ớt của em bé trở nên nhịp nhàng. “Tiếp tục đi, con yêu…!”

“The other night, dear, as I lay sleeping, I dreamed I held you in my arms”. (Bé con ơi, một đêm nọ, khi anh nằm ngủ, anh mơ được ôm em trong vòng tay.)

Em gái của Michael bắt đầu thư giãn như đang ngủ. “Tiếp tục đi, Michael.” Lúc này, nước mắt đầm đìa trên gương mặt của người y tá trưởng hống hách. Karen thì cảm thấy ấm lòng.

“You are my sunshine, my only sunshine. Please don’t take my sunshine away…” (Bé là ánh nắng, ánh nắng mặt trời duy nhất của anh. Xin đừng lấy ánh nắng ấy đi …)

Ngày hôm sau, ngay ngày hôm sau…, một thời gian ngắn tiếp theo…, cô bé đã đủ khỏe để trở về nhà…!

*Thế mới hiểu: “Nơi nào có tình yêu thương chân thành thì nơi đó, luôn có điều kỳ diệu đáp đền…!”*

❁ Trần Hồng Điệp

*Dịch từ truyện ngắn The miracle of love, true story.

From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

SỰ TRẢ THÙ NGỌT NGÀO

Cách đây đúng 64 năm, năm 1957, một vị Bác sĩ đã quyết định không cần cấp bằng sáng chế cho vắc-xin của mình, để tất cả các công ty dược phẩm được quyền sản xuất và cung cấp nó cho trẻ em toàn thế giới.

Đó là vị Bác sĩ Mỹ gốc Do Thái/Ba Lan, sinh ra ở Bialystok – ông Albert Bruce Sabin (1906 – 1993); nhà vi-rút học nổi tiếng với phát minh vắc-xin bại liệt (Polio Vaccine). Ông không cần tiền thưởng cho bằng sáng chế, để vắc-xin được tiếp cận tất cả mọi người bất kể giàu nghèo.

Từ năm 1959-1961, hàng triệu trẻ em khắp thế giới đã được chủng ngừa vắc-xin bại liệt của Sabin, dập tắt dịch bệnh này. Trong khi trước đó, gần như cả 1 thế hệ bị xóa sổ vì bệnh bại liệt.

Ông Sabin nói: “Nhiều người khuyên tôi nhất định phải lấy bằng sáng chế cho vắc-xin nhưng tôi không muốn. Đây là món quà tôi dành cho tất cả trẻ em trên thế giới”.

Được biết vì là người Do Thái, 2 cháu gái của ông đã bị phát-xít Đức giết hại. Được hỏi liệu ông có muốn trả thù, ông đáp: “Họ đã giết 2 đứa cháu gái tuyệt vời của tôi, nhưng tôi đã cứu hàng triệu đứa trẻ khắp thế giới. Bạn không nghĩ đây là một sự ‘trả thù’ lớn hơn sao?”

Trong thời Chiến tranh lạnh, Sabin đã tặng miễn phí các chủng vi-rút của mình cho nhà khoa học Liên Xô Mikhail Chumakov, cho phép phát triển vắc-xin của ông ở đất nước này.

Ông Sabin tiếp tục sống với mức lương bình thường, nhưng trái tim ông tràn ngập niềm vui vì đã làm được điều tốt đẹp nhất cho nhân loại.

SƯU TẦM

From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

Breaking News: Putin công nhận hai khu vực ly khai, Biden phản pháo trừng phạt kinh tế

Breaking News: Putin công nhận hai khu vực ly khai, Biden phản pháo trừng phạt kinh tế

February 21, 2022

MOSCOW, Nga (NV) – Tổng Thống Joe Biden phản ứng nhanh chóng trước việc Tổng Thống Nga Vladimir Putin tuyên bố công nhận nền độc lập của hai khu vực ly khai ở miền đông Ukraine, một hành động có thể mở màn cho một cuộc xâm lăng mà Mỹ đã cảnh báo trong suốt thời gian vừa qua.

Toà Bạch Ốc cho biết ông Biden sẽ sớm ban hành lệnh “cấm người Mỹ đầu tư, thương mại và tài chính kể cả đầu vào hoặc ra” hai khu vực Donetsk và Luhansk, nằm dưới sự kiểm soát của phe ly khai do Nga hậu thuẫn, vừa được ông Putin công nhận.

Toà Bạch Ốc cho biết Tổng Thống Joe Biden sẽ ban hành cấm vận kinh tế Donetsk và Luhansk, hai khu vực vừa được Nga công nhận độc lập. (Hình: Anna Moneymaker/Getty Images)

Bà Jen Psaki, phát ngôn viên Toà Bạch Ốc, cho biết như trên vào Thứ Hai, 21 Tháng Hai, đồng thời nói thêm rằng Washington “cũng sẽ sớm công bố các biện pháp bổ sung liên quan đến sự vi phạm trắng trợn các cam kết quốc tế của Nga hiện nay.”

“Nói rõ hơn: những biện pháp này riêng biệt và bổ sung cho các biện pháp cấm vận kinh tế một cách nhanh chóng và nghiêm ngặt mà Mỹ đã và đang chuẩn bị với sự phối hợp với đồng minh và các quốc gia đối tác nếu Nga xâm lăng Ukraine,” bà Psaki nhấn mạnh.

Ông Vladimir Putin, tổng thống Nga, cũng vào hôm Thứ Hai lên tiếng yêu cầu các nhà lập pháp nước này công nhận hai khu vực ly khai, bước đầu thiết lập cớ để mở cuộc xâm lăng Ukraine, theo NPR.

Hành động công nhận độc lập trên của ông Putin cho phép phe ly khai chính thức mời quân đội Nga vào trong vùng lãnh thổ miền Đông của Ukraine.

Trong tuyên bố của nhà lãnh đạo điện Kremlin, ông gọi tên hai vùng lãnh thổ đòi ly khai khỏi Uraine là Cộng Hoà Nhân Dân Luhanks và Cộng Hoà Nhân Dân Donetsk. Cả hai khu vực này đều là những vùng lãnh thổ tự trị bởi lực lượng ly khai do Nga hậu thuẫn ở vùng Donbas, miền Đông Ukraine, sau khi các cuộc giao tranh với chính phủ Kiev vào năm 2014.

Tổng Thống Nga Vladimir Putin. (Hình: Mikhail Klimentyev/Sputnik/AFP via Getty Images)

Tuyên bố của Nga công nhận độc lập hai vùng lãnh thổ này là một sự leo thang nghiêm trọng thủ tiêu các thoả thuận hiệp định Minsk, hồi 2015, mà nhiều người tin rằng có thể giúp tìm ra một cách ngoại giao thoát khỏi bế tắc hiện tại. 

Ông Putin đã gọi điện thoại cho Thủ Tướng Đức Olaf Scholz và Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron hôm Thứ Hai để thông báo việc công nhận nền độc lập của Donetsk và Luhansk, theo ký giả Rob Schmitz của NPR đưa tin từ Berlin. 

Thủ Tướng Scholz tuyên bố hành động này sẽ dẫn đến vi phạm một phía các thỏa thuận Minsk, đồng thời thúc giục Putin rút quân đội Nga khỏi biên giới Ukraine để giảm căng thẳng.

Ông Boris Johnson, thủ tướng Anh, gọi quyết định của ông Putin là “một dấu hiệu cho thấy mọi thứ đang đi sai hướng ở Ukraine,” theo BBC đưa tin.

“Nước Anh sẽ tiếp tục làm mọi thứ có thể để đứng về phía người dân Ukraine, bao gồm cả việc chuẩn bị các biện pháp trừng phạt và củng cố sườn phía đông của NATO,” vị thủ tướng của Anh tuyên bố.

Trong một tuyên bố, Nga cho rằng Ukraine đang thực hiện một “cuộc diệt chủng” ở tại vùng Donbask và Tổng Thống Putin có thể cử quân đội đến để ứng cứu. 

Phía Hoa Kỳ, trong những ngày qua, đã mô tả những tuyên bố của Nga như trên báo hiệu một cuộc xâm lăng Ukraine sẽ được tiến hành bất kỳ ngày nào.

Tin tình báo Mỹ cho biết Nga tập trung tới 190,000 quân ở biên giới với Ukraine. 

Washington và các đồng minh phương Tây đã cảnh báo về các biện pháp trừng phạt nếu Nga vượt biên giới của Ukraine. (MPL)

Bí thư đảng ủy Thị trấn Vụ Bản lỗ mãng, vô học xúc phạm nghi lễ tôn giáo

Đài Á Châu Tự Do 

Theo chương trình của Năm Truyền Giáo, vào Chúa Nhật thứ III trong tháng– cầu cho việc truyền giáo của Tổng Giáo phận Hà Nội, Đức tổng Giuse sẽ dành hai ngày thăm viếng các giáo xứ miền Hòa Bình… Sáng 20/2/2022, là ngày Chúa Nhật đầu tiên ngài đi thăm giáo xứ Vụ Bản (thuộc huyện Lạc Sơn, Tỉnh Hoà Bình) và dâng Thánh lễ cho Giáo xứ ở đó.

Sự hiện diện của Đức Tổng Giám mục và dâng Thánh lễ là sự kiện trọng đại của Giáo xứ, đáp ứng mong mỏi của Giáo dân nơi đây.

Trong Thánh lễ sáng Chúa nhật 20/2/2022 tại đây, khi Thánh lễ đang tiến hành đến lúc hết sức linh thiêng là rước lễ, thì Bí thư Đảng ủy thị Trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn là Phạm Hồng Đức cùng với Phạm Văn Chiến là Phó Chủ tịch đã xông lên Cung Thánh, giành micro làm loạn Thánh lễ bất chấp Đức TGM Giuse Vũ Văn Thiên và các linh mục đang đồng tế tại đây.

Diện mạo của hai kẻ xông lên cung thánh này mặc quần áo bạt công an cấp nhìn như côn đồ, và có những lời nói đe dọa, xông vào cướp micro của Nhà thờ làm loạn.

Chúng hò hét la lối vào micro và loa phóng thanh mặc cho giáo dân vẫn đang đọc kinh, cầu nguyện hết sức nghiêm túc và các linh mục can ngăn.

Đặc biệt là hành động phá rối Thánh lễ linh thiêng của người Công giáo là một hành động rừng rú, lỗ mãng vô giáo dục và là sự vi phạm trắng trợn niềm tin, tín ngưỡng của giáo dân Vụ Bản cũng như Giáo hội Công giáo Việt Nam và giáo hội Hoàn Vũ.

Bí thư Đảng ủy thị Trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn là Phạm Hồng Đức cùng với Phạm Văn Chiến là Phó Chủ tịch tại Thánh lễ sáng 20/2/2022 tại giáo xứ Vụ Bản

RFA.ORG

Trí thức và độc tài

Trí thức và độc tài

Bởi  AdminTD

Nguyễn Hưng Quốc

21-2-2022

Đọc lịch sử các chế độ độc tài, từ độc tài phát xít với những Hitler và Mussolini đến độc tài cộng sản với những Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Nicolae Ceauşescu, và Kim Chính Nhật (bây giờ là Kim Chính Ân) hay độc tài cá nhân với những Saddam Hussein, Muammar Gaddafi, Robert Mugabe… chúng ta không thể không ngạc nhiên.

Có rất nhiều điều để ngạc nhiên.

Thứ nhất, tất cả các tên độc tài, dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau, đều vô cùng tham lam và độc ác. Chúng thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay và với quyền lực vô tận ấy, giết vô số người, từ những kẻ thù thực sự đến những kẻ thù tưởng tượng, trong đó phần lớn là chính dân chúng ở nước chúng.

Thứ hai, tất cả đều mắc bệnh huyễn tưởng, tự xem vị thế và quyền lực của mình như một thứ gì thuộc về thiên mệnh; và vì thiên mệnh, chúng nằm ngoài hoặc nằm trên không những luật pháp mà còn cả các nguyên tắc đạo lý thông thường của con người. Giết người, thậm chí, giết vô số người, với người khác, là tội ác; với chúng, là thiêng liêng và cao cả.

Thứ ba, vì căn bệnh huyễn tưởng ấy, rất nhiều nhà độc tài trở thành lố bịch, không khác những tên hề. Ceauşescu tự xưng mình là “Thiên tài của vùng Carparthians”, một vùng núi rộng lớn ở Trung Âu, kéo dài từ Slovakia qua miền Nam Ba Lan, miền Tây Ukraine đến tận phía Đông Bắc của Romania. Còn vợ của ông, Elena, người được cử làm Phó Thủ tướng, thì được tuyên truyền như một “Quốc mẫu”, một nhà khoa học vĩ đại (dù bà thực sự bỏ học từ năm 14 tuổi, và tất cả các cái gọi là “công trình khoa học”, kể cả luận án tiến sĩ của bà, đều do người khác viết). Rafael Trujillo, nhà độc tài ở Dominican Republic từ 1930 đến 1938 và từ 1942 đến 1952 thì tự xem mình là Thượng đế. Ông ta ra lệnh cho mọi nhà thờ trong nước phải khắc câu “Chúa ở trên Trời, Trujillo ở dưới Thế” (God in Heaven, Trujillo on Earth) và mọi bảng xe đều khắc câu “Trujillo vạn tuế”. Francisco Macias Nguema, nhà độc tài ở Equatorial Guinea từ năm 1968 đến 1979 cũng thế. Cũng tự xưng mình là Thượng đế. Dưới thời ông, biểu ngữ chính trong nước ghi “Không có Thượng đế nào khác ngoài Macias Nguema”. Saparmurat Niyazov, Tổng thống xứ Turkmenistan từ năm 1990 đến 2006 thì ra lệnh đổi tên 12 tháng trong năm theo tên ông và người thân trong gia đình của ông. Ông cũng viết sách và ra lệnh bất cứ người dân nào, để được thi lấy bằng lái xe, cũng phải thuộc lòng nguyên cả cuốn sách của ông.

Thứ tư, tất cả đều giả dối, đều sử dụng vô số huyền thoại láo khoét để biến mình thành thần tượng, thành những lãnh tụ anh minh, đầy viễn kiến, mở ra những chân trời mới cho đất nước hoặc cho cả nhân loại. Những huyền thoại ấy nhiều khi rất ngây ngô, ví dụ chuyện Kim Chính Nhật điều khiển đội tuyển bóng đá Bắc Triều Tiên trong giải World Cup 2010 bằng cách chỉ dẫn từng đường đi nước bước trong suốt trận đấu cho huấn luyện viên Kim Jong-Hun qua một chiếc điện thoại di động vô hình!

Nhưng cả bốn điều “đáng ngạc nhiên” trên đều không đáng ngạc nhiên bằng hai điều này:

Một, mặc dù tham lam, độc ác, mắc bệnh huyễn tưởng và giả dối như vậy, những tên độc tài ấy lại cầm quyền, hơn nữa, cầm quyền một cách tuyệt đối, trong thời gian rất dài, có khi cả đời hoặc nhiều đời, hết đời con đến đời cháu, chắt.

Hai, dù đầy khuyết điểm như vậy, những tên độc tài ấy vẫn được nhiều người, kể cả giới trí thức, thậm chí là trí thức xuất sắc ở Tây phương, ngưỡng mộ và hết sức bênh vực cũng như góp phần tuyên truyền cho chúng một cách nhiệt tình.

Trong hai điều trên, điều thứ hai quan trọng hơn. Giải thích điều thứ nhất, người ta có thể nói: Bởi các nhà độc tài đã xây dựng được một bộ máy tuyên truyền hữu hiệu đủ để nhồi sọ tất cả mọi người và một bộ máy quyền lực mạnh mẽ đủ để nghiền nát bất cứ người nào dám chống đối. Nhưng không có một bộ máy xã hội và chính trị nào có thể tồn tại độc lập. Vấn đề chính là ở con người, tức ở khía cạnh thứ hai, chúng ta vừa nêu ở trên: Tại sao người ta lại khiếp sợ và ngưỡng mộ các tên độc tài đến như vậy? Tại sao người ta lại để cho các tên độc tài dễ dàng lừa dối mình đến như vậy?

Trên thế giới, cũng có nhiều người từng ngạc nhiên như vậy. Có thời, những kẻ như Hitler, Mussolini, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Fidel Castro, thậm chí, Kim Chính Nhật đã trở thành thần tượng của nhiều trí thức và văn nghệ sĩ Tây phương. Đạo diễn Oliver Stone khen Fidel Castro là một kẻ “rất vị tha và đạo đức. Một trong những người khôn ngoan nhất trên thế giới.” Một đạo diễn khác, Steven Spielberg, cho “gặp gỡ Fidel Castro là tám giờ quan trọng nhất” trong cuộc đời của ông. Trước đó, ở Ý, Gabriele D’Annunzio, một nhà thơ lớn, cũng như nhiều nhà thơ thuộc trường phái Vị Lai khác, từng là những kẻ ủng hộ nhiệt thành Benito Mussolini. Ở Đức, Hitler không thiếu người ngưỡng mộ, kể cả một trong những triết gia lớn nhất của thế kỷ, Martin Heidegger, một trong những hoạ sĩ lớn nhất của thế kỷ, Salvador Dali, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ, Ezra Pound. Nhà văn Na Uy từng đoạt giải Nobel năm 1920, Knut Hamsun, cũng rất ủng hộ Adolf Hitler.

Đối với các nhà độc tài cộng sản, số trí thức ngưỡng mộ nhiều hơn hẳn. Nhà văn Anh George Bernard Shaw (1856-1950) suốt đời ủng hộ Lenin, Stalin, và cả Hitler nữa. Cả Andre Gide và Doris Lessing đều từng ủng hộ Stalin tuy cả hai, sau đó, tự nhận là mình lầm. Picasso, Bertolt Brecht, Pablo Neruda, W.E.B. Du Bois, Graham Greene, v.v… cũng đều ủng hộ Stalin; trong đó, có người vừa ủng hộ Stalin vừa ủng hộ Mao Trạch Đông.

Jean-Paul Sartre cũng từng là người ủng hộ Stalin và chế độ cộng sản rất nồng nhiệt. Ông là tác giả của một câu nói gây rất nhiều tai tiếng: “Mọi kẻ chống cộng đều là chó” (every anti-communist is a dog). May, sau đó, ông thay đổi thái độ. Khi quân đội Sô Viết xâm lăng Hungary vào tháng 11 năm 1956, ông lên án Liên Xô kịch liệt. Sự phê phán của Sartre đối với Liên Xô càng mạnh mẽ hơn nữa vào năm 1968 khi quân đội Sô Viết trấn áp dân chúng Czechoslovakia trong sự kiện được gọi là “mùa xuân Prague”. Trước năm 1975, trong chiến tranh Việt Nam, ông là người tích cực ủng hộ miền Bắc và lên án Mỹ một cách gay gắt. Sau năm 1975, chứng kiến thảm cảnh của người Việt Nam vượt biển, ông lại lên tiếng phê phán chính quyền Việt Nam và kêu gọi chính phủ Pháp cứu giúp người tị nạn.

Chúng ta lại phải tự hỏi: Tại sao nhiều người trí thức lại dễ dàng bị các nhà độc tài lừa bịp đến như vậy? Tại sao họ lại nhẹ dạ và cả tin đến như vậy?

Nhớ, trước đây, trong những lần về Việt Nam, tôi gặp khá nhiều văn nghệ sĩ và “trí thức” ở miền Bắc. Nhiều người kể lại, trước phong trào đổi mới, đặc biệt, trước năm 1975, họ gần như tuyệt đối tin tưởng vào giới lãnh đạo và chế độ. Trong các buổi học tập chính trị và văn hoá, họ lắng nghe cán bộ giảng bài như nghe những lời thánh phán. Họ cắm cúi ghi chép rồi về nhà, đọc lại một cách thành kính. Sau này, cũng theo lời họ, đọc lại các cuốn sổ tay cũ, họ thấy những ý kiến trong ấy rất hời hợt, thậm chí, ngô nghê. Họ tự hỏi: Tại sao thời ấy họ lại xem những ý kiến ấy như những lời vàng ngọc như vậy? Chính họ, họ cũng không biết rõ câu trả lời. Tất cả đều cho: Đó chỉ là hậu quả của việc nhồi sọ.

Lại nhớ, mấy năm đầu sau 1975, một số “trí thức” Việt kiều ở Pháp về thăm nước rồi viết bài đăng tải trên báo chí ở Paris. Họ khen Việt Nam không tiếc lời. Trong lúc người Việt Nam đói đến xanh xao mặt mũi, họ khen đời sống rất sung túc. Trong lúc cả hàng chục ngàn người bị bắt đi cải tạo và con cái họ không được vào đại học, họ khen “chính quyền cách mạng” thực tâm hoà giải, không có bất cứ một chính sách kỳ thị nào đối với những người thuộc chế độ cũ trước đó. Trong lúc cả hàng triệu người bất chấp nguy hiểm tìm cách vượt biên tìm tự do, họ cho Việt Nam là một quốc gia dân chủ và ao ước một ngày nào đó được về nước sống hẳn (dù trên thực tế, không bao giờ họ về cả!)

Trí thức trong nước bị nhồi sọ. Nhưng còn trí thức ngoài nước thì sao?

Trong lúc loay hoay tìm cách trả lời cho câu hỏi ấy, cũng như câu hỏi về sự nhẹ dạ và cả tin của trí thức thế giới nói chung, tự dưng tôi nhớ đến mấy câu thơ của Nguyễn Quốc Chánh trong bài “Tao là đứa bé ngoẻo trên lưng Linda Lê”:

“Có 3 thứ không thể kết hợp với nhau nổi. Đó là: Thông minh, lương thiện & cộng sản.

Một người thông minh và lương thiện thì không thể cộng sản,

Một người thông minh mà cộng sản thì không thể lương thiện, và

Một người lương thiện mà cộng sản thì chắc chắn không thông minh.”

Những câu thơ ấy ám ảnh tôi đến độ tôi không thể nghĩ tiếp được nữa.

_____

*Ghi chú: Bài viết được trích từ cuốn “Những bài viết về chính trị”, Lotus Media xuất bản và phát hành trên Amazon.com)

ĐGH Phanxicô mở dành lời cầu nguyện cho thành phố của Ba Tây bị lở bùn khiến hơn 100 người chết

ĐGH Phanxicô mở dành lời cầu nguyện cho thành phố của Ba Tây bị lở bùn khiến hơn 100 người chết

Ít nhất 117 người đã thiệt mạng vì lở bùn và lũ lụt ở thành phố Petrópolis gần Rio de Janiero ở Ba Tây.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi một bức điện tới Đức Giám mục Petrópolis Gregório Paixão Neto, do Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Vatican ký.

Ngài viết rằng Đức Giáo hoàng gửi lời chia buồn đến gia đình các nạn nhân và chia sẻ nỗi đau của tang quyến. Ngài cũng cầu chúc sự thanh thản và niềm hy vọng của người Kitô giáo cho tất cả những người bị ảnh hưởng bởi thảm họa.

Kể từ tháng Mười Hai, mưa lớn đã dẫn đến lũ lụt và lở đất chết người trên khắp Ba Tây.

Tại Petrópolis, hơn 700 người đã phải rời bỏ nhà cửa và hiện đang phải trú ẩn trong các trường học và các khu nhà tạm. Nhà chức trách cho biết hơn 100 người vẫn mất tích.

Jos. Nguyễn Minh Sơn

Thánh lễ do Đức TGM Hà Nội chủ tế bị viên chức CSVN đòi ‘giải tán’

Thánh lễ do Đức TGM Hà Nội chủ tế bị viên chức CSVN đòi ‘giải tán’

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) .- Hai người xưng là đại diện nhà cầm quyền thị trấn Vụ Bản đã xông lên cung thánh đòi “giải tán” thánh lễ do Tổng giám mục Hà Nội chủ tế.

Chuyện xảy ra hôm Chủ Nhật 20 Tháng Hai tại thị trấn Vụ Bản tỉnh Hòa Bình khi Tổng giám mục địa phận Hà Nội là Đức cha Vũ Văn Thiên đến dâng thánh lễ tại giáo họ Vụ Bản. Vụ việc được thuật lại trên trang thông tin của Tổng giáo phận Hà Nội kèm theo một số hình ảnh. Một số Facebookers không những thuật tin về sự phá rối nói trên mà còn kèm theo một video clip ngắn chừng 42 giây của vụ việc.

Chế độ Hà Nội luôn luôn bác bỏ tất cả những cáo buộc về đàn áp tôn giáo mỗi khi bị Ủy hội Quốc tế về Tự do Tôn giáo Thế giới (USCIRF) thúc giục Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa tên nước Việt Nam trở lại danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt” (Country of Particular Concern – CPC).

Theo bản tin của Tổng giáo phận Hà Nội, Tổng giám mục Giuse Vũ Văn Thiên tới thăm giáo họ Đồng Tâm thuộc giáo xứ Vụ Bản “một Giáo họ non trẻ nhỏ bé toạ lạc bên cạnh thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình”. Ông đến đây trong hành trình “Ngày truyền giáo của Tổng Giáo phận”.

Ông Tổng giám mục đã chủ tế thánh lễ lúc 10 giờ sáng ngày Chủ Nhật “tại nhà thờ nhỏ bé của giáo xứ Vụ Bản, tọa lạc tại thị trấn Vụ Bản”, thay vì dâng thánh lễ tại nhà nguyện của giáo họ Đồng Tâm như dự định từ trước. Hiện diện trong thánh lễ còn có linh mục quản hạt Mỹ Đức, Hòa bình, các cha trong giáo hạt, các tu sĩ và giáo dân trong giáo xứ.

Nguồn tin trên nói rằng đến cuối thánh lễ “có hai người xưng là đại diện chính quyền thị trấn Vụ Bản xông lên Cung thánh đòi giải tán Thánh lễ. Sự cố này làm Thánh lễ bị gián đoạn ít phút. Tuy nhiên, cộng đoàn Phụng vụ vẫn giữ được sự trang nghiêm. Trong khi đó, một số linh mục đồng tế và một số giáo dân đã ra can thiệp đề nghị hai người này rời khỏi nhà thờ để Thánh lễ được tiếp tục.”

Ngay sau thánh lễ, Tổng giám mục Vũ Văn Thiên đã đến giáo họ Đồng Tâm cách nhà thờ Vụ Bản khoảng 5 km và đã “cùng cộng đoàn dâng lời tạ ơn Thiên Chúa”.

Cung thánh trong một thánh lễ là khu vực thiêng liêng, người không phận sự không được phép mạo phạm, tự tiện bước lên. Việc hai chức sắc nhà cầm quyền địa phương, một người mặc áo mưa, tự tiện xông tới cản trở thánh lễ là sự sách nhiễu tôn giáo. Bản tin của Tổng giáo phận Hà Nội chỉ nêu ra vụ việc mà không bình luận gì nhưng gián tiếp chứng tỏ quyền tự do tôn giáo của người dân tại Việt Nam bị xâm phạm trắng trợn.

Ngày 29 Tháng Giêng vừa qua, linh mục Giuse Trần Ngọc Thanh đang giải tội sau khi dâng thánh lễ tại nhà thờ thuộc xã Saloong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kontum thì bị một người đàn ông tên Nguyễn Văn Kiên xông tới chém vỡ sọ thiệt mạng. Vụ việc khủng khiếp này đối với một vị linh mục gây rúng động dư luận trong ngoài nước.

Ngày 22 Tháng Mười Hai 2021, một nhóm tín đồ Tin Lành ở xã Ea Lâm, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tố cáo bị công an sách nhiễu, cản trở các hoạt động tôn giáo của họ khi đang chuẩn bị cho Lễ Giáng Sinh sắp đến.

Các tổ chức tôn giáo độc lập, tức không nằm trong hệ thống tôn giáo “quốc doanh”, thường xuyên bị nhà cầm quyền CSVN đàn áp dưới nhiều hình thức khác nhau.

– Hình phổ biến trên trang mạng của Tổng giáo phận Hà Nội khi 2 viên chức thị trấn Vụ Bản phá rối thánh lễ đồng tế do Tổng giám mục Hà Nội Giuse Vũ Văn Thiên chủ tế. (Hình: Tổng giáo phận Hà Nội)

– Hình cắt từ clip phổ biến trên FB Lê Quốc Quân khi người xưng đại diện nhà cầm quyền thị trấn Vụ Bản tới đòi “giải tán” thánh lễ. (Hình: cắt từ clip trên FB Lê Quốc Quân)

https://www.tonggiaophanhanoi.org/duc-tgm-giuse-den…/… 

Đốt đuốc nhìn lại giáo dục Việt Nam Cộng Hòa

Minh-Triết Lâm Minh-Nghị  PHƯỚC TUY QUÊ HƯƠNG TÔI

Đốt đuốc nhìn lại giáo dục Việt Nam Cộng Hòa

Miền Nam từng có một nền giáo dục huy hoàng. Thành ra người Miền Nam chúng ta có toàn quyền ,có thể so sánh giữa “ngày nay” và “trước kia”.

Khi mà ngày nay người ta cứ làm những trò “cải cách”, đòi sửa này, chỉnh kia, bỏ nọ nhưng bản chất và cái gốc là cách dạy và chất lượng thì họ không đá động gì tới và cũng không có khả năng.

Việt Nam Cộng hòa hồi xưa phổ cập giáo dục tiểu học, trẻ em đi học tại trường công miễn phí và có sữa uống miễn phí luôn, sách giáo khoa không là gánh nặng của con nhà nghèo vì rất rẻ và đời anh xài tới đời em chỉ có mấy cuốn.

Từ lớp 6 trở đi thì học trò không được phổ cập. Tức lớp 5 sẽ thi tuyển vào lớp 6 trung học đệ nhứt cấp với những kỳ thi cực kỳ kinh khủng, chỉ lấy có 62% vào trường công, 38% vào trường tư học hoặc có thể nghĩ học nghề.

Đến cuối năm lớp 11, học sinh phải thi Tú tài I, cuối năm lớp 12 phải thi Tú tài II.

Tú tài 1 chỉ lấy khoảng 15–30% và Tú tài 2 lấy khoảng 30–45%.

Có bằng tú tài 2 là thành một người công dân trí thức lịch lãm của VNCH rồi.

Ngày nay thì học trò thi lớp 12 đậu gần hết, có nơi 100%,trình độ thì “rất cao”, trường ĐH nhiều hơn sinh viên, cái bằng cử nhân giờ tương đương tú tài, rồi “Thạc sĩ” và “Tiến sĩ” thì nhiều như lá rụng. Xã hội trí thức nhiều nhưng ảo, chẳng làm được tích sự gì, giống như vẻ bùa đeo cho liệu pháp xã hội vậy.

Học trò VNCH được dạy từ nhỏ triết lý, luân lý, đạo đức, cách xử sự và sống chuẩn mực với xóm làng, xã hội, quốc gia, dạy cho con người biết cách sống trong xã hội, biết nền văn hóa mà con người được sanh ra trong đó để sống cho thích hợp.

Cách ăn uống, lễ phép, cách đối xử, các nghề nghiệp sanh sống, phong tục tập quán.

Nền giáo dục của VNCH gói gọn trong ba chữ : Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng.

Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa lấy con người làm nền, dạy tình thương, lòng trắc ẩn giữa người và người với nhau, người làm gốc, đó là giáo dục nhân bản.

Con người khác thú vật là con người có suy tư, có sáng tạo và làm cho đời sống càng ngày càng nâng cao. Con người cần được no cơm ấm áo, tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng.

Con người trước nhứt là phải biết yêu thương nhau, tôn trọng nhau tối thiểu, hiếu thảo, yêu thương gia đình, kính trọng ông bà cha mẹ, yêu thương họ hàng thân tộc, kính trọng thầy cô, có lương tâm trong mọi sanh hoạt, có trách nhiệm với tha nhơn, góp phần bảo vệ cuộc sống cho xã hội.

“Cha sanh, mẹ dưỡng,

Đức cù lao lấy lượng nào đong.

Thờ cha mẹ ở hết lòng,

Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.

Chữ đễ nghĩa là nhường,

Nhường anh, nhường chị lại nhường người trên.

Ghi lòng tạc dạ chớ quên,

Con em phải giữ lấy nền con em “

(Quốc Văn Giáo Khoa Thư)

Giáo dục Việt Nam Công Hòa là giáo dục dân tộc, nó hướng người VN biết tự hào nguồn gốc, màu da của mình, biết trân trọng lịch sử của ông bà tổ tiên, biết lòng tự trong dân tộc để đi ra nước khác gìn giữ cái liêm sỉ của ông bà mình.

Giáo dục Việt Nam Công Hòa là giáo dục khai phóng. Tức là open, cởi mở, giáo dục con người tánh sáng tạo, không gò bó, không thắt não, không nhồi sọ.

Con người tiếp nhận kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Giáo dục Việt Nam Công Hòa cũng dạy con người tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân, biết nhìn cái sai cái đúng trong chính bản thân mình, sai thì chịu trách nhiệm và sửa từ từ để tốt hơn.

Nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa rất tuyệt vời. Nó dạy cho con người kiến thức và đạo đức song song.

Trong xã hội có những cá nhơn khác biệt, nhưng không thể đánh giá con người qua sự khác biệt đó để kỳ thị giàu nghèo, giới tính, tôn giáo, địa phương, chủng tộc.

Mọi người đều được hưởng đồng đều về giáo dục.

Một người có giáo dục, có nhơn cách sẽ là một công dân tốt, có tình yêu quê hương đất nước, sống đàng hoàng.

Một nền giáo dục mà không dạy đạo đức nó tạo ra xã hội có đạo đức bị băng hoại, con người lương tri và lương năng cũng mất.

Khi đạo đức biến mất thì xã hội sẽ không có trật tự, an ninh, thường xảy ra trộm cướp, giết người, con người mất dạy, ý thức buông bỏ, con người không tôn trọng nhau khiến cho cuộc sống của con người đầy dẫy sự đau khổ và bất an.

Một đất nước không đạo đức là một đất nước không phồn vinh, thạnh trị, mưa không thuận gió không hòa, lòng dân oán thán, khi đó sẽ có loạn lạc.

Giáo dục Việt Nam Cộng Hoà là nền giáo dục hiệu quả và tiến bộ.

Trình độ giáo dục VNCH là thiệt và thế giới công nhận. Bằng cấp của VNCH được thế giới công nhận.

Bằng cấp của VN ngày nay chẳng có nước nào công nhận.

Đường xá ngày nay dơ hơn thời trước 1975. Sông hồ ngày nay dơ hơn trước 1975.

Đồ ăn ngày nay dơ hơn trước 1975, ung thư người VN cao hơn trước 1975.

Con nít ngày nay mất dạy kinh khủng, điều này trước 1975 là ít có. Xã hội ngày nay loạn thất kinh, không có một giới hạn nào hết, điều mà trước 1975 rất rõ ràng giới hạn.

Và rất nhiều không kể hết.

Nhiều người may mắn lớn lên trong một gia đình, trong một xã hội mà ông bà cha mẹ vẫn giữ nề nếp của Miền Nam thời VNCH với một nền lễ giáo cổ truyền Việt Nam còn sót lại, tôn trọng các giá trị gia đình cao đẹp từ ngàn xưa, những tin yêu vào tình đời tình người, vào cái chung vẫn còn mạnh mẽ dữ lắm.

Có thể nói, dư âm giá trị di sản VNCH là đồ cổ, nhưng rất quý.

Không cách nào xóa bỏ di sản VNCH trong lòng người Miền Nam.

Nghĩ về cái xưa ta tiếc đứt ruột, dân tộc này vô phước vô phần.

–nguồn Nguyễn Gia Việt

GẶP LÀNH

GẶP LÀNH

Năm 2020 tôi có đăng một bài tựa đề là “Thầy Tôi” trên group “Phước Tuy quê hương tôi” viết về người thầy dạy môn Pháp Văn của mình : thầy Trần Ba. Tôi viết về thầy bởi vì vào năm 1977, có một câu chuyện buồn mà thầy là nhân vật chính, nói đúng hơn thầy là một nạn nhân của sự thù hận của bên thắng dành cho bên thua. Một lý do khác, tôi mong qua bài viết, hy vọng có ai đó sẽ đọc được và cho tôi biết tin tức của thầy.

Nhắc lại câu chuyện buồn này một chút, vào một ngày của năm 1977, cả trường đang trong giờ học, có 2 người bộ đội hay công an gì đó vào thẳng văn phòng giáo viên bắt thầy Trần Ba và giải thầy từ văn phòng ra sân trường trước sự chứng kiến của nhiều học trò và thầy cô. Hôm đó tôi ngồi cạnh cửa sổ nên đã nhìn thấy rõ mọi việc, thầy còn dắt theo chiếc xe đạp cũ không có cạc te đi giữa 2 tay công an. Lúc đó, tôi đã lờ mờ đoán được thầy bị bắt vì cái tội gọi là “phản động” hay “xê i a” gì đó. Những năm đầu sau 75, người dân bị bắt không có gì lạ, có thể bị bắt vì một lý do vu vơ nào đó, không cần trác toà hay công tố. Công an bao luôn công việc của ngành tư pháp. Trong chuyện này, chỉ có một điều làm tôi ưu tư mãi là tại sao người ta không bắt thầy ở một địa điểm nào khác, chẳng hạn như bên ngoài trường hoặc tại nhà riêng, mà lại bắt một người giáo sư trung học trước mặt các học trò của mình trong sân trường? Không lẽ người ra lịnh bắt thầy chưa bao giờ đi học và chưa bao giờ có thầy cô? Vô lý, không học sao làm sếp được! Chỉ còn một lý giải nghe có lý : lòng thù hận.

Trước khi đăng bài “Thầy Tôi” lên group Phước Tuy, tôi chưa có tin tức gì của thầy Trần Ba kể từ ngày thầy ra tù năm 1982, sau 5 năm bị giam cầm ở Biên Hoà. Ngày thầy ra tù, tôi và 2 người bạn có đến thăm thầy nhưng không dám nói chuyện nhiều vì …sợ công an theo dõi. Sau lần gặp đó, tôi không còn cơ hội gặp thầy lần nào nữa vì ai cũng phải lo đi tìm kế sinh nhai. Một thời gian sau, nhờ bài đăng trên group Phước Tuy, tôi nhận được tin nhắn của một người thuộc thế hệ đàn anh cùng quê Phước Tuy, anh nhắn cho tôi số phone và nơi ở của thầy thuộc tiểu bang Oregon bờ tây nước Mỹ. Mừng quá, tôi vội vàng gọi ngay cho thầy. Thật may mắn, người bắt máy hôm đó chính là thầy. Thầy nhớ ra tôi ngay, vì lúc đi học thầy trò chúng tôi thường đi lao động, ăn cơm và nói chuyện với nhau. Hồi đó thầy hay gọi tôi bằng tiếng “con” nghe rất thương, bây giờ thầy cũng gọi tôi như vậy.

Hôm đó thầy trò chúng tôi nói chuyện với nhau hơn 2 tiếng đồng hồ. Thầy kể lúc bị bắt, thầy hoàn toàn không biết vì lý do gì, phạm tội gì. Nhưng sau này thầy biết có một người đã báo cho công an là thầy làm “xê i a” cho đế quốc Mỹ. Họ đã điều tra thầy suốt 5 năm trời mà không tìm ra một bằng chứng nào để kết tội, cuối cùng đành phải thả thầy ra. Sau khi ra tù, dù vô tội, thầy vẫn không được đi dạy lại nên phải làm nghề “buôn chuyến” để kiếm sống. Các con của thầy vì mang “lý lịch xấu” do có cha “phản động” ở tù nên cũng không thể học hành và xin việc làm được. Cuộc sống của gia đình thầy thời gian đó rất khó khăn. Trong một lần đi buôn chuyến, thầy bị một người học trò cũ ở Đất Đỏ làm cán bộ thuế vụ tịch thu hết hàng hoá. Hết vốn, thầy đành phải trở về Đất Đỏ làm rẫy. May mắn thay, đến năm 1997 thầy và vợ thầy được sang Mỹ theo diện di dân do người em vợ của thầy bảo lãnh, nhưng các con của thầy vẫn còn ở lại.

Thầy trò thường nhắc lại kỷ niệm cùng đi lao động ngày xưa, dù thiếu ăn nhưng ai cũng phải ráng cuốc nhằm đạt thành tích “lao động tiên tiến” để lấy điểm. Thời đó lao động là vinh quang, chỉ có đào bới xới cuốc đổ mồ hôi hột mới được gọi là “lao động”, còn những nghề khác như y tá, bác sĩ, dạy học…đều là “phi lao động”.

Tết vừa rồi, thầy cho tôi biết các con của thầy đã được sang Mỹ, cả gia đình đoàn tụ và có cuộc sống ổn định. Thầy còn nói cho tôi biết tên của tay công an huyện đã đến trường bắt thầy ngày hôm đó. Tôi nghe xong giựt mình. Thì ra tay công an đó có bà con họ hàng với bên ngoại của tôi, tôi gọi ông ta là cậu. Sau khi bắt thầy vào tù chỉ một thời gian ngắn, tay công an này đã bị tai nạn xe mất mà chưa kịp hưởng thành quả cách mạng của mình.

Cứ mỗi lần nói chuyện phone với thầy, câu cuối cùng trước khi từ giã mà thầy hay nói với tôi là :”Ở hiền gặp lành nhen con”. Tôi nghĩ thầy đã trải qua một khoảng đời tựa như một bi kịch, nhưng cuối cùng lại là một kết thúc có hậu : GẶP LÀNH.

(Hình các giáo sư trường trung học Đất Đỏ, Phước Tuy năm 1968. Thầy Trần Ba đứng thứ 3 từ trái sang)

Hoa Kỳ: Quản lý tà đạo bằng con đường “xã hội hóa”

Hoa Kỳ: Quản lý tà đạo bằng con đường “xã hội hóa”

Dùng nguồn lực của xã hội để chống lại ảnh hưởng xấu của các tư tưởng cực đoan.

On 18/02/2022

By  NGUYỄN QUỐC TẤN TRUNG

Một cảnh trong phim tài liệu “The Source Family” (2012) của đạo diễn Jodi Wille, kể về một giáo phái cùng tên tại Mỹ. Nguồn: Netfilx.

Trong bài viết trước, người viết đã bàn về hệ lụy của việc không có những công cụ bảo vệ xã hội khỏi những tư tưởng cực đoan của các nhóm cuồng tín và tà đạo (cult/ heresy). [1] Bài viết này một lần nữa khẳng định nhu cầu phải quản lý nhà nước đối với tôn giáo.

Tuy nhiên, quản lý nhà nước đối với tôn giáo không đồng nghĩa với hành động cầm tay chỉ việc hay can thiệp sâu vào các hoạt động tôn giáo – một việc hoàn toàn có khả năng vi phạm các quy định về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo trong hệ thống pháp luật nhân quyền quốc tế.

Vậy làm thế nào để quản lý nhà nước về tôn giáo mà không nhất thiết phải thao túng sâu vào cấu trúc tổ chức và hoạt động của một tôn giáo? 

Trường hợp của Hoa Kỳ cung cấp nhiều kinh nghiệm đáng tham khảo.

Trước tiên, cần khẳng định rằng Tu chính án thứ Nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ ở mức độ gần như là tuyệt đối sự thành lập của các nhóm cuồng tín, thậm chí là tà đạo.

Nói cách khác, chính phủ Hoa Kỳ sẽ không can thiệp kiểm soát trước vào câu chuyện xác định ai được xem là tôn giáo, ai không được xem là tôn giáo, ai là tà đạo, ai không phải là tà đạo, v.v.

Song điều này cũng dẫn đến những công cụ và những thảo luận pháp lý có một không hai.

“Deprogramming”: Toàn dân du kích chống giáo phái cuồng tín

Một trong những công cụ tư nhân nổi bật nhằm chống lại các giáo phái cuồng tín và tà đạo tại Hoa Kỳ là các chương trình “deprogramming”, tạm dịch là “giải giáo”.

Đây là các chương trình tư nhân có mục tiêu giáo dục, đào tạo và thuyết phục thành viên của các giáo phái cuồng tín, rằng thứ đức tin mà họ đang theo đuổi có vấn đề, là sai lầm và nguy hại cho gia đình lẫn xã hội.

Phong trào, hay nói đúng hơn là “dịch vụ giải giáo”, thường phục vụ các gia đình của những thành viên đang hoạt động bên trong các giáo phái . Thập niên 1960 – 1970 là giai đoạn làn sóng giáo phái tại Hoa Kỳ nở rộ với hàng ngàn giáo phái mới được thành lập. Những cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ giải giáo cũng phất lên từ đó. [2]

Gói dịch vụ này ban đầu bao gồm cả việc tạm “bắt cóc” thành viên gia đình đang tham gia giáo phái (với sự đồng thuận của các thành viên còn lại trong gia đình).

Các bước tiếp theo của quá trình giải giáo có thể từ nhẹ nhàng như trò chuyện, thuyết phục, giảng giải đạo đức hay áp dụng các biện pháp tâm lý trị liệu, cho đến các biện pháp nặng đô hơn như gây áp lực tinh thần.

Một cảnh giải giáo (deprogramming) trong bộ phim tài liệu “Deprogrammed” (2015).

Một số lượng đáng kể các nhà tâm lý học lâm sàng, bác sĩ tâm thần, và thậm chí các luật gia – luật sư ủng hộ cách tiếp cận và các biện pháp của những chương trình giải giáo này. [3] Nó giúp cho ngành công nghiệp giải giáo – do tư nhân thành lập, điều chỉnh và cung ứng vốn – trở thành một ngành được thừa nhận rộng rãi trong nền kinh tế Hoa Kỳ.

Dù rất nhiều giáo phái mới rao giảng những giáo điều đi ngược lại nhiều giá trị đạo đức cộng đồng nói chung và nhu cầu quản lý nhà nước nói riêng, các cơ quan chức năng không thể can thiệp vào hoạt động của các giáo phái này vì chúng không vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ.

Thay vào đó, nhà nước vừa khuyến khích người dân tự nguyện rút khỏi các giáo phái, vừa ngầm ủng hộ các dịch vụ giải giáo.

Vậy kỹ thuật ủng hộ của họ ra sao?

Các công cụ tư pháp

Đọc đến đây, có lẽ nhiều bạn đọc đang có vài câu hỏi về nội dung đoạn trước.

“Bắt cóc”?

Chẳng phải như vậy là trái luật hay sao? 

Hoa Kỳ, một nước tôn trọng nhân quyền, thượng tôn pháp luật, sao lại cho phép chuyện như thế?

Đây sẽ là chỗ mà các cơ quan tư pháp Hoa Kỳ cho thấy sự can thiệp nhất định của họ vào việc ủng hộ những nỗ lực tư nhân trong việc kiểm soát các giáo phái.

Để bắt đầu, chúng ta cần tìm hiểu hai thuật ngữ: “colour of law” và “conservatorship”.

“Conservatorship” là một khái niệm tư pháp trong hệ thống thông luật Hoa Kỳ. Nó cho phép một thẩm phán, dựa trên các bằng chứng mà họ có, tuyên trao cho một người trong gia đình quyền đại diện và kiểm soát hành vi dân sự của một thành viên khác vì thành viên này không còn đủ năng lực hành vi.

Nếu đối chiếu với hệ thống pháp luật Việt Nam, chúng ta có thể hiểu khái niệm này là gần tương tự với việc “giám hộ người mất năng lực hành vi dân sự” (trong trường hợp của Hoa Kỳ thì không đến mức mất năng lực).

Sau khi giành được quyền này, gia đình của một giáo dân có thể sử dụng vũ lực đúng mức để giữ và ngăn cản thành viên, không cho tiếp tục tham gia giáo phái, buộc họ điều trị theo các chương trình giải giáo.

Trong quá trình thực hiện thẩm quyền này, gia đình và tổ chức thực hiện dịch vụ giải giáo sẽ hoạt động dưới danh nghĩa “the colour of law”. Nói cách khác, các hành vi vũ lực mà gia đình có thể thực hiện được sự “ủy quyền ban đầu” của pháp luật.

Những thành viên bị “bắt cóc” hoàn toàn có thể khởi kiện, yêu cầu tuyên sự ủy quyền và các hành động của gia đình là bất hợp pháp. [4] Tuy nhiên, thành viên gia đình tham gia vào các giáo phái ít khi thành công khi kiện gia đình của mình. [5]

Ban đầu, các thẩm phán địa phương khá ngại ngần trong việc cho các gia đình dùng quyền giám hộ để tạm giữ và giải giáo cho con cái của mình.

Song cùng với làn sóng giáo phái cuồng tín và tà đạo trỗi dậy quá mạnh mẽ, cân nhắc những trói buộc dành cho cơ quan công quyền theo Tu chính án thứ Nhất như đã nói ở trên, nhiều tiểu bang quyết định mở rộng các quy định liên quan đến “conservatorship”.

Ví dụ, ở tiểu bang Arizona, các nhà lập pháp thậm chí cho phép các thẩm phán trao “conservatorship” cho ba mẹ hay gia đình nói chung để can thiệp vào quá trình giải giáo của con hoặc thành viên trong gia đình mà không cần trải qua các thủ tục thông báo (notice) hay trình bày, tranh biện tại tòa (hearing). Trong các trường hợp khẩn cấp, bang Arizona khuyến khích trao cho gia đình cơ chế giám hộ tạm thời (temporary guardianship) kéo dài ba mươi ngày. [6]

Và ba mươi ngày thật ra cũng là quá đủ đối với các chương trình giải giáo. 

***

Sau khi đạt đỉnh ở thập niên 1970 – 1980, phong trào thành lập các giáo phái mới ở Hoa Kỳ hạ nhiệt. Các chương trình giải giáo và các công cụ tư pháp mà chính quyền tiểu bang trao cho hệ thống tư pháp của mình cũng dần bị bãi bỏ.

Nhìn chung, có thể thấy ngay cả ở quốc gia tôn trọng tự do tôn giáo đến mức gần như tuyệt đối như Hoa Kỳ, việc điều chỉnh hệ thống pháp luật để thích ứng với những thách thức quản lý nhà nước đối với tôn giáo không phải là không có.

Điểm thú vị nhất là họ lại trao quyền đó cho tư nhân và thị trường.

Đọc thêm: Tự do tôn giáo và bài toán “tà giáo”: Từ góc nhìn quản lý nhà nước