NỀN TƯ PHÁP HOANG DẠI Ở VIỆT NAM CÒN TỒN TẠI ĐẾN BAO GIỜ?

Lê Phú Khải

NỀN TƯ PHÁP HOANG DẠI Ở VIỆT NAM

CÒN TỒN TẠI ĐẾN BAO GIỜ?

LÊ PHÚ KHẢI

Ở những nền tư pháp tử tế, khi một nghi phạm bị bắt thì người đi bắt phải nói với nghi phạm: Ông/Bà được phép mời luật sư. Từ đó trở đi, mỗi lần công an hỏi cung nghi phạm thì luật sư ngồi bên cạnh. Luật sư có quyền không cho người hỏi cung hỏi câu này hoặc câu khác, vì “câu hỏi đó không đúng luật”! Vì luật sư là người nắm luật pháp hơn cả. Mỗi biên bản hỏi cung như thế phải có chữ ký chứng thực của luật sư thì lúc ra toà lời khai mới có giá trị.

Ở Việt Nam thì các vụ án luật sư không được tiếp cận hồ sơ từ đầu, chứ đừng nói gì đến ngồi cạnh nghi phạm khi bị hỏi cung. Ở vụ án Hồ Duy Hải, luật sư không được gặp Hải bao giờ cả. Bị đánh đến thừa sống thiếu chết thì nghi phạm thà nhận là mình “giết người” để không bị tra tấn đau đớn! Những lời khai trong bóng tối như thế ở một nền tư pháp dân chủ đều không có giá trị pháp lý. Vì thế mới có nguyên tắc tối thượng là trọng chứng, không trọng cung. Tất cả các nguyên tắc đó của nền tư pháp văn minh của nhân loại, với chế độ độc đảng, đảng lãnh đạo toàn diện triệt để mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì các nguyên tắc đó đều bị đem vứt vào sọt rác.

Không ai nhìn thấy Hồ Duy Hải lúc xảy ra án mạng cả.

Không có dấu vân tay của Hồ Duy Hải ở hiện trường.

Tang vật để giết người của Hồ Duy Hải là cái thớt và con dao được mua từ ngoài chợ đem về.

Thế mà toà vẫn xử Hồ Duy Hải tử hình!

Còn có gì trắng trợn, coi thường đạo lý và đểu cáng dã man hơn hả ông chánh án Nguyễn Hoà Bình?

Lúc ông từ miền quê nghèo Quảng Ngãi ra kinh kì, ông có hình dung ra mình sẽ quyền thế và giàu có như thế này không, nhờ nền tư pháp mà đại biểu Quốc hội Ngô Bá Thành năm xưa tổng kết trong một câu bất hủ: “Chúng ta có cả một rừng luật, nhưng khi xử thì xử theo luật rừng!”

Oan khiên chồng chất oan khiên lên đầu gần 100 triệu dân đen Việt Nam từ cái nền tư pháp bất lương đó! Đã có biết bao vụ án oan trong quá khứ vì nạn nhân bị ép cung và đánh đập tra tấn dã man!

Người viết bài này xin thống kê một số vụ điển hình:

– Có lẽ vụ điển hình nhất là vụ án mang tên Vụ gián điệp “H122”, năm 1948. Trong vụ này, hàng trăm cán bộ vô tội trong kháng chiến chống Pháp bị giam cầm, do họ bị ép cung, đánh đập mà phải “nhận tội”!

Sự việc tóm tắt như sau: Một tin đồn do Pháp tung ra đã lan truyền trong khu Việt Bắc là có một gián điệp mang bí số H122 đã được Pháp gài vào hàng ngũ ta, và H122 đã cung cấp nhiều tin tức quân sự quan trọng cho Pháp.

Một anh giám mã (coi giữ ngựa) cho một cơ quan đã bị nghi ngờ là H122. Lý do nghi ngờ rất đơn giản: Anh ta đã chạy ra sân lấy vào một chiếc khăn trắng trong lúc có tiếng máy bay của Pháp trên trời. Người ta nghi anh làm ám hiệu bằng chiếc khăn trắng cho máy bay Pháp đến. Thế là anh giám mã bị bắt, bị bức cung. Anh ta đã nhận mình là H122, rồi khai ra những người khác. Cứ thế, người bị bắt mới lại khai tiếp. Con số bị bắt đã lên đến hàng trăm, kể cả cán bộ cao cấp, và cả một bà bán xôi.

Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng Trần Đăng Ninh đã vào cuộc. Ông Trần Đăng Ninh đã đến tận hiện trường và xem xét rất kỹ. Ông thấy rất nhiều điều vô lý. Pháp không thể gài người vào ta mà lại chọn một anh chăn ngựa không biết chữ. Cái sân bé tí trước nhà anh chăn ngựa giữa rừng núi âm u thì không máy bay nào trên trời có thể nhìn thấy một cái khăn màu trắng. Cứ thế, cứ thế, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng xem xét, điều tra cụ thể, quyết liệt, và đã ra lệnh thả mấy trăm “phạm nhân” đang bị giam. Người ta đã gọi ông Trần Đăng Ninh là “Bao Công Việt Nam” từ vụ án đó.

Sau hoà bình 1954, ông Trần Đăng Ninh đã đi máy bay và cố nhìn xuống dưới để xem có thể thấy một cái “khăn trắng” nào không, và sau đó ông đã “an tâm” là mình đã xử án đúng.

– Vụ thứ hai, cũng rất điển hình, phức tạp, quyết liệt và đầy kịch tính, xảy ra vào các năm 1963-1964, là vụ án ở nhà máy cơ khí Gia Lâm, Hà Nội. Giám đốc Võ Văn Khang bỗng dưng bị chết. Tám cán bộ đảng và công đoàn nhà máy bị bắt. Vì giám đốc công an Hà Nội lúc đó là ông Long, cho đây là vụ giết người. Bị bức cung khốc liệt, cả tám người đều nhận tội! Thế là án đã “nhanh chóng được phá”. Thành tích được nhanh chóng báo cáo lên cấp trên để được khen thưởng. Nhưng Đại uý Tích ở công an Hưng Yên, khi khám nghiệm tử thi nạn nhân được vớt lên ở cửa sông Hồng, đã quả quyết báo lên ngay trong đêm với Cục trưởng Cục Cảnh sát Lê Hữu Qua là nạn nhân đã tự sát. Đại uý Tích đã làm báo cáo tường trình cụ thể, và ông cùng đồng nghiệp, cùng Cục trưởng Qua kiên quyết chống lại kết luận giám đốc cơ khí Gia Lâm Khang bị giết. Được Thứ trưởng Lê Quốc Thân ủng hộ, Giám đốc công an Long cũng kiên quyết đấu lại.

Bốn năm trời tranh cãi, hồ sơ biên bản vụ án đã lên cả tạ giấy. Bất phân thắng bại, nên cuối cùng phải mời một đoàn chuyên gia của Bộ Công an Cộng hoà Dân chủ Đức sang giúp. Người Đức đi sang một chuyên cơ gồm 10 chuyên gia các lĩnh vực hình sự. Trong đó có một chuyên gia được mệnh danh là “chuyên gia thắt cổ”. Ông này có một bộ sách dày, có hình vẽ và ghi chép tỉ mỉ các vụ án thắt cổ có từ thời Hy – La cổ đại đến sau này. Với ông chuyên gia này, chỉ cần nhìn hiện trường có người thắt cổ, ông có thể kết luận đến 50% là nạn nhân bị thắt cổ hay tự thắt cổ. Những chuyên gia Đức khẳng định rằng hung thủ luôn để lại dấu vết ở hiện trường. Và đã có dấu vết thì nhất định tìm ra hung thủ. Và quả thật, chỉ sau một thời gian ngắn, vụ án đã được làm sáng tỏ với những luận cứ khoa học không thể chối cãi, không thể tranh luận gì nữa. Tám cán bộ “nhận tội” khi bị bắt đã được tha bổng. Theo lời Cục trưởng Qua, vụ án này đã được đưa vào giáo trình của ngành tư pháp nhiều nước.

Trước khi về, người Đức chỉ khuyên chúng ta không nên đổi tên đường, tên làng, tên xóm. Vì như thế sau này rất khó phá án.

– Vụ thứ ba là vụ án Nguyễn Thanh Chấn. Nguyễn Thanh Chấn bị nhục hình, bức cung phải nhận tội “giết người”! và tù đã 10 năm. Bỗng kẻ giết người lù lù ra đầu thú nên ông Chấn được tha!

– Vụ thứ tư là vụ ông Đặng Kim Bền, một nông dân đã gần 70 tuổi ở An Giang, bị toà án tỉnh Tiền Giang kết án tử hình sau giảm xuống chung thân. Ông Bền mang một bó cây bù-đà để ở nóc xe khách. Khi bị công an hỏi bó lá cây này của ai? Ông đã nhận và bị kết án tử hình vì sự ngu dốt của bà chánh án tỉnh Tiền Giang, xem cây bù-đà có chất gây nghiện là cây thuốc phiện!

Khi đó tôi là phóng viên thường trú ở đồng bằng sông Cửu Long, được bà vợ của ông Bền đi thăm nuôi chồng kể cho nghe hết sự tình về “tội” của chồng bà. Tôi đã làm tường trình lên Chủ tịch nước Lê Đức Anh lúc đó. Và bằng một đường dây riêng, bức thư đã đến tay Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Ông Bền được tha bỗng. Khi vợ ông Bền lên đón chồng về quê sau khi được ân xá, bà đã đền ơn nhà báo một ký đường Thốt nốt – đặc sản của quê bà. Cái biên lai gửi thư qua bưu điện lên Chủ tịch nước Lê Đức Anh, đề ngày 25-9-1995, tôi còn giữ đến bây giờ làm kỷ niệm.

Viết đến đây, tôi bỗng nhớ đến những dòng mở đầu trịnh trọng của bản Tuyên ngôn Quyền Con Người của Cách mạng Pháp 1789: “Các đại biểu của nhân dân Pháp họp thành Quốc hội, cho rằng việc không biết tới, sự lãng quên hay sự coi thường các quyền của Con Người là những nguyên nhân gây ra những đau khổ chung thân và sự hư hỏng của những kẻ cầm quyền, vì thế đã quyết định trình bày các quyền tự nhiên thiêng liêng và không thể tước bỏ được của Con Người”.

Chừng nào còn chế độ độc đảng độc tài, không có toà án độc lập thì những đau khổ chung thân của gần trăm triệu dân đen Việt Nam vẫn còn mãi.

L.P.K.

Dân chủ kiểu Tây và dân chủ kiểu Ta

Dân chủ kiểu Tây và dân chủ kiểu Ta

Bởi  AdminTD

 Mạc Văn Trang

29-10-2021

Bà con xem 2 chuyện tương tự, xảy ra ở Tây và Ta, Luật pháp có 2 cách giải quyết khác nhau.

  1. Trường hợp Tổng thống Pháp Emmanuel Macron

Tổng thống yêu cầu mọi người dân bắt buộc tiêm vaccine, nhưng một số người dân phản đối, coi đó là “độc tài” và Michel-Ange Flori một nhà làm quảng cáo đã “biếm hoạ” tổng thống giống như Hitler…

Bảng quảng cáo mô tả ông Macron như là Adolf Hitler như một phần của chiến dịch chống lại việc tiêm chủng Coronavirus bắt buộc, bên cạnh khẩu hiệu ‘Tuân theo: Tiêm chủng’

Theo Ebiz, “Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đang kiện người tạo ra một tấm áp phích mô tả ông là Adolf Hitler trong chiến dịch chống lại việc tiêm chủng Coronavirus bắt buộc”…

Bức tranh đã được trưng bày ở miền Nam nước Pháp vào đầu tháng này, bao gồm cả ở thành phố cảng Toulon ở Địa Trung Hải, bên cạnh khẩu hiệu ‘Tuân theo: Hãy tiêm chủng’.

Trong tất cả các áp phích, biểu tượng Đức Quốc xã đã được thay thế bằng LREM – ám chỉ đến đảng của ông Macron”…

Các Luật sư của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã thực hiện hành động pháp lý nộp đơn kiên Michel-Ange Flori.

Ông Flori cho biết: “Họ xác nhận rằng đã có đơn khiếu nại từ Elysée. Tôi đã rất ngạc nhiên và bị sốc”.

Flori còn có “tiền sự”, nhiều lần vẽ tranh “bôi xấu” hình ảnh Tổng thống.

Nhưng ông luôn tự cho mình là một nhà đấu tranh cho tự do ngôn luận, người coi thường thói đạo đức giả của ‘Je Suis Charlie’ của Pháp”.

Như vậy, một công dân xúc phạm Tổng thống cũng là một công dân, thì phải kiện nhau ra Toà xét xử.

  1. Trường hợp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

TBT Trọng bị blogger Phạm Thành viết nhiều bài phê phán, xúc phạm và xuất bản thành cuốn sách “Nguyễn Phú Trọng- thế thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo?” phát tán trong xã hội.

Nhưng các Luật sư của TBT Trọng không kiện, mà công an bắt ông Thành, rồi đem ra xét xử với tội danh: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 117, khoản 1 – Bộ luật Hình sự năm 2015” và bị kết án 5 năm 6 tháng tù…

Mà tội chủ yếu của ông Thành là: “Đến tháng 7-2019, Phạm Chí Thành tập hợp các bài viết đã đăng tải và được sao lưu trong máy tính, rồi biên soạn, chỉnh sửa lại thành tập tin (file) tài liệu riêng. Thành tự thiết kế bìa, đặt tên sách là “Thế thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo”, ghi thông tin tác giả là “Bà Đầm Xòe Phạm Thành & Các còm sĩ”… sau đó thuê in rồi phát tán quyển sách trên”…

Đại diện bên bị hại của TBT Nguyễn Phú Trọng không hề xuất hiện.

TÓM LẠI:

– Tổng thống Pháp cũng là 1 công dân, khi bị công dân khác xúc phạm thì phải kiện ra Toà, xét xử theo Luật dân sự.

– Ông Thành xúc phạm TBT Trọng là “chống phá Nhà nước CHXHCNVN”, bị xét tội hình sự.

Hai nền dân chủ khác nhau vậy đó.

(Ps: Tôi chưa biết kết quả Toà bên Pháp xử vụ Tổng thống kiện ông Flori ra sao. Bạn nào biết thông tin dùm. Cám ơn).

______

Tiếng DânTheo tweet của ông Michel-Ange Flori, người chủ billboard, ông bị phạt €10,000.

Một linh mục người HMong đầu tiên được thụ phong ở Việt Nam

Một linh mục người HMong đầu tiên được thụ phong ở Việt Nam

Ngày 13/10 nhân dịp kỷ niệm 104 năm biến cố mặt trời xoay tròn nhảy múa ở Fatima, thì tại nhà thờ chính toà Sơn Lộc cuả giáo phận Hưng Hoá, thị xã Sơn Tây, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Viên, quản hạt Hưng Hóa, đã truyền chức cho 11 tân linh mục, đặc biệt trong đó là một vị người H’Mông, là tân LM Giuse Mã A Cả.

Giáo dân địa phương ngay cả các gia đình cuả các tân linh mục đã không có mặt tại buổi lễ tấn phong vì các biện pháp ngăn cách xã hội để ngăn chặn Covid-19.

Nếu kể từ khi những miền đất thuộc giáo phận Hưng Hoá đón nhận hạt giống tin mừng từ các cha Dòng Tên vào thế kỷ 17, khoảng năm 1627-1630, khi họ đi thuyền dọc theo sông Hồng để gieo vãi hạt giống Tin Mừng, thì đây là lần đầu tiên sau gần 400 năm, một linh mục bản địa đã được truyền chức để tiếp tục sứ mạng truyền giáo cho các dân tộc miền thượng du cuả Việt Nam.

Công cuộc truyền giáo ở đây đã không hề dễ dàng bao giờ, kể cả trong thời kỳ Pháp thuộc, vì những xáo trộn và bất an vùng biên giới là những cản trở to lớn.

Khi chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, thì tình trạng trở thành mất an ninh, và do thế ngày 02.11.1950, đức cha Jean-Marie Mazé (Kim) quyết định dời Tòa Giám Mục về Sơn Tây. Hầu như toàn vùng bị bỏ ngỏ.

Cách đây 10 năm khi thăm viếng vùng này, chúng tôi đã gặp Cha Phêrô Phạm Thanh Bình, chánh xứ Sapa, và cũng là vị linh mục dìu dắt cho tân linh mục Mã A Cả, cho biết tuy lúc đó không còn chủ chiên dìu dắt, nhưng giáo dân H’Mong vẫn trung thành ‘khẩu truyền’ cho nhau những lẽ đạo, từ ông bà xuống tới cha mẹ, rồi xuống tới con cái cháu chắt…khoảng 3,4 đời như vậy.

Cha Thanh Bình cho biết khi Sapa được tái thiết để trở thành một khu du lịch, thì người Việt cũng bắt đầu di dân lên đây, chủ yếu là buôn bán các mặt hàng lưu niệm ở ngoài phố. Giáo phận Hưng Hóa đã gửi một linh mục về lại ngôi nhà thờ cổ để tái lập giáo xứ và lo việc mục vụ cho các bản xa xôi của thổ dân ở các vùng Điện Biên và Lai Châu. Các linh mục Việt Nam đã tìm lại được những giáo dân H’Mông còn giữ đạo và… vẫn còn đọc kinh gia đình sáng tối, ngày Chúa Nhật vẫn ôn lại các bài ‘kinh nghĩa đức tin’.

Ngày trước, các câu kinh bằng tiếng Việt của Địa Phận Hanoi đã được dịch sang tiếng H’Mông, và họ đã ba bốn đời truyền khẩu cho nhau để giữ đạo trung thành.

Nghiã là sau khi vị linh mục người Pháp cuối cùng bị chặt đầu ngay trong nhà thờ Sapa vào năm 1948, không rõ ai là thủ phạm, thì từ đó, đã không còn bóng dáng một linh mục nào trong gần 60 năm dài.

Thời gian 60 năm của một xã hội mà tuổi thọ trung bình chỉ có 30 tới 40 thì là quá dài. Hầu như những người đã từng thấy một chiếc áo chùng thâm ngày trước thì đã chết cả!

Cha Thanh Bình lúc đó cũng khoe (một cách hãnh diện) là chương trình khuyến học cuà Gx Sapa (và có lẽ cuả nhiều Gx khác nữa) hầu như đã đem lại một kết quả. Năm vừa qua một thanh niên H’Mông mới tốt nghiệp đại học đã nhập Đại Chủng Viện Hà nội, trở thành chủng sinh người H’mông đầu tiên của giáo phận Hưng Hóa cũng như của Giáo Hội VN. Ngoài ra cũng có 2 em nữ đang là đệ tử dòng MTG Hưng Hóa và một số thanh niên khác đang học đại học, cao đẳng hoặc đang tìm hiểu ơn gọi dâng hiến.

Chương trình khuyến học là để giúp nơi ăn chốn ở cho những thanh niên thiếu nữ người dân tộc đi học tại trường tỉnh. Xử dụng 2 phương cách làm kinh tài: thứ nhất là giữ xe trong khuôn viên nhà thờ, thứ hai là trồng rau quanh nhà thờ (thay vì trồng hoa.) Các thanh niên thiếu nữ người dân tộc vốn không muốn đi học. Học làm gì khi mà công việc cuối cùng vẫn chỉ là làm ruộng. Vậy học nghề ruộng thì thiết thực hơn.

Lúc đó, có 35 em người dân tộc đang ‘nội trú’ trong căn nhà tôn của giáo xứ, cửa ra vào chỉ là một tấm màn vải phất phơ theo gió. Các em từ các bản xa xôi được khyến khích ở tạm nơi đây để có thể đi học hàng ngày tại trường của Sapa.

Ngày nay, khi theo dõi Gx Sapa trên Net, chúng tôi thấy những ‘căn nhà tôn’ nói trên đã được thay thế bằng một trung tâm nhiều từng xinh đẹp.

Theo lời cuả một nữ tu người H’Mông, nữ tu dòng Đaminh Cù Thị Quỳnh Hoa, cũng là nữ tu đầu tiên người dân tộc H’Mông (theo UCAN): “Chúng tôi tràn ngập niềm vui mùa xuân về việc chịu chức linh mục của ngài và biết ơn Chúa đã ban cho chúng tôi một linh mục người H’Mông đầu tiên kể từ khi đạo Công Giáo được truyền cho tổ tiên của chúng tôi hơn một thế kỷ trước.”

Sơ Hoa, quê Giáo xứ Giàng La Pán, thuộc tỉnh Yên Bái, cho biết việc Cha Cả được phong chức thánh sẽ thúc đẩy công cuộc truyền giáo giữa đồng bào dân tộc và truyền cảm hứng cho giới trẻ đi tu để phục vụ cộng đồng của mình.

Sinh ngày 06/10/1983 tại xã Mường Hoa, Sapa, tỉnh Lào Cai trong một gia đình người H’Mông có 11 anh chị em, Cha Cả đã tốt nghiệp đại học trước khi gia nhập Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội năm 2011. Cha được Cha Phêrô Phạm Thanh Bình dìu dắt.

Những người dân làng H’Mông đầu tiên ở Sa Pa, tỉnh Lào Cai theo đạo Công Giáo từ những vị thừa sai ngoại quốc trong những năm 1850

Khi được phong chức phó tế, tháng 2 năm 2020, Cha Cả đã từng nói: “Ưu tiên hàng đầu của tôi là truyền giáo cho những làng dân tộc, giáo dục cho trẻ em dân tộc và duy trì truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ và trang phục của họ.”

Hiện nay Giáo phận Hưng Hóa đang phục vụ cho 20.000 giáo dân H’Mông, đã có 16 chủng sinh và một chục nữ tu thuộc nhóm H’Mông.

Nếu tính về diện tích lãnh thổ, thì đây là Giáo phận lớn nhất nước, có 261.000 giáo dân tại 136 giáo xứ và 700 giáo họ, bao trùm 9 tỉnh miền Bắc VN, trong đó có một phần của Hà Nội. Số linh mục là 174, tính cả các vị tân linh mục mới được thụ phong.

Giáo Hội tuyên chân phước cho một thiếu nữ đã dành cuộc đời ngắn ngủi của mình để yêu thương những người nghèo khổ và bị thiệt thòi

Giáo Hội tuyên chân phước cho một thiếu nữ đã dành cuộc đời ngắn ngủi của mình để yêu thương những người nghèo khổ và bị thiệt thòi

Chân phước mới nhất của Giáo Hội Công Giáo là Sandra Sabattini, một phụ nữ 22 tuổi, người đã cống hiến hết mình để giúp đỡ người nghèo và người tàn tật trước khi cô bị một chiếc xe ô tô lao qua cán chết vào năm 1984.

Cô được phong chân phước vào ngày 24 tháng 10 tại Nhà thờ Rimini ở miền bắc nước Ý.

Theo dự kiến ban đầu, thánh lễ phong chân phước, đáng lẽ diễn ra vào tháng 6 năm 2020. Tuy nhiên, do đại dịch coronavirus, thánh lễ đã bị hoãn lại cho đến hôm 24 tháng 10 vừa qua và được cử hành bởi Đức Hồng Y Marcello Semeraro, Tổng trưởng Bộ Phong Thánh.

Sự thánh thiện của Sabattini bao gồm việc “mở lòng mình để chia sẻ với những người rốt cùng, đặt toàn bộ cuộc sống non trẻ trên trần thế của mình vào việc phụng sự Thiên Chúa, được tạo nên bởi lòng nhiệt thành, sự đơn sơ và đức tin tuyệt vời,” Đức Hồng Y Semeraro nói trong Thánh lễ.

Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng: Người phụ nữ trẻ “đã cho những ai cần sự tiếp đón mà không cần phán xét, bởi vì cô ấy muốn loan báo tình yêu của Chúa”

Cô sinh viên y khoa trẻ vừa bước ra khỏi xe trên đường đến buổi họp nhóm của Cộng đồng Giáo hoàng John XXIII thì cô và một người bạn bị xe tông. Cô được đưa đến bệnh viện, nơi cô hôn mê 3 ngày trước khi qua đời vào ngày 2 tháng 5 năm 1984.

Ba ngày trước khi vụ tai nạn xảy ra, Sabattini đã viết trong nhật ký của mình: “Cuộc sống đang phát triển, đang đập theo nhịp thở đều đặn không phải là của tôi, cuộc sống đang rất sống động bởi một ngày bình yên không phải của tôi. Trên đời này không có thứ gì là của bạn cả”.

“Sandra, hãy nhận ra! Tất cả là một ân sủng mà ‘Đấng ban tặng’ có thể can thiệp khi nào và như thế nào tùy thánh ý Ngài. Hãy quan tâm đến ân sủng được trao cho bạn, làm cho nó đẹp hơn và đầy đủ hơn cho khi đến khi thời gian đến”.

Sandra Sabattini lớn lên ở bờ biển Adriatic của Ý. Cô được rửa tội một ngày sau khi sinh, vào ngày 20 tháng 8 năm 1961. Khi cô được bốn tuổi, gia đình cô chuyển đến thành phố Rimini, giáo xứ do chú của cô, một linh mục Công Giáo điều hành.

Cô đã phát triển lòng yêu mến Chúa khi còn là một đứa trẻ, và cô thường mang theo một tràng hạt một chục kinh trong bàn tay nhỏ bé của mình.

Nhớ lại năm lên bảy tuổi, một trưởng trại cho biết: “Tôi thường quan sát cô ấy khi cô ấy vào nhà nguyện một mình, tay kia cầm một con búp bê và một tay cầm tràng hạt. Cô quỳ ở chỗ cuối cùng và cúi đầu. Cô ấy ở lại đó một chút, sau đó cô ấy đi ra ngoài và vui vẻ hòa nhập lại với đoàn”.

Khi còn học tiểu học, Sabattini đôi khi được tìm thấy đang trầm ngâm trước nhà tạm, thậm chí vào lúc nửa đêm.

“Cháu dậy sớm, vào sáng sớm, có lẽ trong bóng tối, để suy niệm một mình trước Nhà Tạm, trước khi những người khác đến nhà thờ,” chú của cô là Cha Giuseppe Bonini nhớ lại.

“Ngày đầu năm mới, từ một đến hai giờ đêm, cháu thường ở lại trước mặt Chúa Giêsu để chầu. Cháu thích cầu nguyện khi ngồi trên mặt đất, như một dấu chỉ của sự khiêm tốn và khó nghèo”.

Ngoài việc học rất tốt ở trường, Sabattini thích vẽ, chơi piano và chạy đường trường.

Năm 12 tuổi, cô gặp Fr. Oreste Benzi và nhóm do ngài thành lập, là Cộng đồng Giáo hoàng John XXIII, nhấn mạnh việc phục vụ những người nghèo và yếu thế trong xã hội. Sabattini cảm thấy được kêu gọi tham gia vào các hoạt động của họ để giúp đỡ những người gặp khó khăn.

Năm 1974, cô tham gia một chuyến đi đến Dolomites, một dãy núi ở đông bắc nước Ý, nơi các thanh thiếu niên đi cùng người khuyết tật. Khoảng thời gian ở trong thiên nhiên và giúp đỡ những người khuyết tật đã để lại ấn tượng lớn đối với Sabattini. Cô đã nói với mẹ cô sau chuyến đi: “Chúng con đã làm việc đến gãy lưng, nhưng đó là những người con sẽ không bao giờ bỏ rơi”.

Trong thời gian học trung học, cô tiếp tục công việc tình nguyện với Cộng đồng John XXIII và giúp đỡ người nghèo, kể cả từ tiền tiết kiệm của chính cô.

Cô cũng đã sống một thời gian tại một trong những nhà tập thể của cộng đồng, nơi các thành viên chào đón những người bị thiệt thòi, bao gồm cả người tàn tật.

“Tôi không thể bắt người khác phải nghĩ như tôi, ngay cả khi tôi nghĩ điều đó là đúng,” cô viết trong nhật ký ở tuổi 16. “Tôi chỉ có thể cho họ biết niềm vui của tôi”.

Năm 17 tuổi, cô gặp Guido Rossi và hai người bắt đầu hẹn hò vào năm sau đó. Trong buổi hẹn hò đầu tiên, Sabattini đưa Rossi đến một nghĩa trang, để họ có thể thăm mộ những người đã bị lãng quên.

Họ cùng nhau tham dự nhóm trẻ của Cộng đồng Gioan XXIII. Bốn năm sau mối quan hệ của họ, Sabattini viết rằng hẹn hò là “một cái gì đó không thể thiếu với ơn gọi.”

“Những gì tôi trải nghiệm về sự sẵn sàng và tình yêu đối với người khác là những gì tôi cũng trải nghiệm đối với Guido, chúng là hai thứ hòa nhập với nhau, ở cùng một cấp độ, mặc dù có một số khác biệt,” cô viết trong nhật ký của mình.

Sau khi tốt nghiệp trường trung học với số điểm xuất sắc, Sabattini bị giằng xé giữa việc rời đi ngay lập tức để trở thành một nhà truyền giáo ở Phi Châu, hay bắt đầu học trường y.

Nhưng với sự giúp đỡ của vị linh hướng, Sabattini quyết định ghi danh vào trường y khoa tại Đại học Bologna. Ước mơ của cô ấy là một ngày nào đó được phục vụ như một phần của các sứ mệnh y tế ở Châu Phi.

Vào mùa hè năm 1982, khi vấn nạn ma túy bắt đầu bùng phát ở Ý, cô sinh viên y khoa 21 tuổi bắt đầu làm tình nguyện viên tại một cộng đồng dành cho những người nghiện ma túy.

Một năm trước, cô ấy đã viết trong nhật ký của mình: “Sandra, hãy yêu tất cả những gì bạn làm. Yêu sâu sắc những phút bạn đang sống, mà bạn được phép sống. Hãy cố gắng cảm nhận niềm vui của giây phút hiện tại, dù đó là gì, để không bao giờ bỏ lỡ sự kết nối”.

Sabattini ở cùng bạn trai, Rossi, và một người bạn khác khi cô bị ô tô đâm vào sáng ngày 29 tháng 4 năm 1984.

Tại đám tang của cô, Cha Benzi cho biết: “Sandra đã làm được những gì Chúa gửi cho cô ấy. Thế giới không được chia thành tốt và xấu, mà là ai yêu và ai không yêu. Và Sandra, chúng tôi biết, đã yêu rất nhiều”.

Sabattini được Đức Giáo Hoàng Phanxicô tuyên bố là bậc đáng kính vào ngày 6 tháng 3 năm 2018, và phép lạ nhận được nhờ sự chuyển cầu của cô đã được xác nhận vào tháng 10 năm 2019, mở đường cho việc phong chân phước cho cô.

Phát biểu với Vatican News trước lễ phong chân phước, anh Rossi nói: “Tôi đã kết hôn và Chúa đã ban cho chúng tôi món quà là hai đứa con kháu khỉnh. Tôi cảm thấy có một tiếng gọi đối với người phụ nữ mà vợ tôi, với lòng rộng lượng lớn, đã yêu thương”.

httpv://www.youtube.com/watch?v=bAnJ9WNRLQs&t=3s

Gương thiếu nữ 22 tuổi vừa được tuyên Chân Phước. 

Phiên tòa Thới Lai

Lê Vi

Phiên tòa Thới Lai

Không khó lắm để nhận ra ý đồ của nhà cai trị khi để tòa án huyện cầm trịch. Họ cố tình coi các bị cáo là mấy anh nhố nhăng vớ vẩn, tòa cấp nào xử chả được. Nếu hệ thống tư pháp có tòa cấp xã cấp ấp, chắc họ chả ngại giao cho xã ấp luôn. Để nhằm nói rằng, dư luận đừng có xía vào, chuyện vặt chuyện nhỏ của chúng tôi trong nhà, giống như ông bố lấy cái xe điếu quất vài nhát vào đít thằng con trốn học, vậy thôi.

Tòa huyện Thới có lẽ cũng chẳng hào hứng gì trong vụ xử “bọn” Báo Sạch. Tinh những chuyện xảy ra đẩu đâu, tinh những vụ việc chả liên quan gì tới huyện nhà, tinh những bị cáo cư ngụ ở nơi khác, “phạm tội” chỗ khác, thế mà cứ dúi cứ ấn cho quan tòa Thới Lai bắt xử.

Các bị cáo phạm tội gì, liên quan tới chuyện gì? Nào là theo đuổi làm rõ vụ án Hồ Duy Hải ở Long An, nói xấu ông bí thư, không phải bí thư Thới Lai hoặc Cần Thơ mà là tuốt tận Quảng Trị, tự động đi điều tra BOT bẩn, chống tham nhũng trong giao thông, bênh ông hiệu trưởng ĐH Tôn Đức Thắng, là dân thường mà có cả tài liệu mật, lộ bí mật quốc gia, nói xấu cấp ủy, bôi xấu cán bộ… Tinh những tội tày đình dưới góc nhìn của nhà cai trị. Rồi dường như tòa thấy những tội như thế chưa đủ đánh gục bị cáo, còn kể lể và cung cấp thông tin cho báo chí mậu dịch “tội” nhóm Báo Sạch kiếm tiền, ăn tiền của doanh nghiệp, v.v…

Rõ là buồn cười và nhố nhăng. Trung ương, đứng đầu là ông tổng bí thư, hô hào chống tham những, gần đây còn ra vẻ sáng tạo kết hợp với chống tiêu cực, kêu gọi nhân dân cùng tham gia công cuộc chống ấy để làm sạch bộ máy cai trị, để cuộc sống tốt đẹp hơn, để, để… Nhưng hình như các vị chỉ thích kêu cho sướng mồm, còn khi người ta tham gia, người ta cùng chống thì lại tỏ ý không hài lòng, tìm cách bắt tội. Phải nói thẳng, những việc mà nhóm Báo Sạch làm, về bản chất là chống tham nhũng, chống tiêu cực. Dân tham gia vào công việc nhà nước hô hào, họ đâu phải lực lượng chuyên nghiệp, thiện chiến, được nhà nước trả lương, mà họ làm với ý thức công dân, với trình độ của mình, tránh sao khỏi thế này thế khác. Đã không ủng hộ, động viên, biết ơn họ, lại tìm đủ mọi cách trù dập, trừng phạt, lôi họ ra tòa kết án. Chỉ những kẻ giả dối chống tham nhũng mồm, chống tham nhũng bằng lý luận mới cư xử vậy.

Thông cáo (Nguyễn Thông)

Hình báo Tuổi trẻ

May be an image of 5 people, people sitting, people standing and indoor

TÌM MUA THƯỢNG ĐẾ

TÌM MUA THƯỢNG ĐẾ

Bạn hãy dành vài phút đi tìm mua Thượng Đế nhé.

– Chú ơi, ở đây có bán Thượng Đế không?

Người chủ cửa hàng trợn mắt quát:

– Đi chỗ khác chơi, con nít quỷ…

Cậu bé Bonnie trạc 5, 6 tuổi, đi khắp các cửa hàng để tìm mua Thượng Đế trong nhiều tiếng đồng hồ, nhưng đều bị những người lớn quát mắng và đuổi đi…

Đến một cửa hàng thứ 29, cậu bé cũng hỏi người bán hàng câu hỏi đó. Lần này Bonnie được ông chủ 60 tuổi, gương mặt hiền lành, ân cần lắng nghe và hỏi han:

– Con muốn mua Thượng Đế thiệt sao? Nhưng nói cho ông biết là con mua để làm gì?

Cậu bé chảy nước mắt, trả lời:

– Dạ, Chú Rupp của con bị tai nạn, đang hôn mê sắp chết trong bệnh viện, mà bác sỹ nói “Chỉ có Thượng Đế mới có thể cứu được chú”, nên… con đi tìm mua Thượng Đế về để cứu chú của con.

– Ba mẹ con đâu? Ông lão chau mày hỏi.

– Dạ, ba mẹ con chết hết rồi, con chỉ có chú Rupp thôi.

Người đàn ông dừng lại trong cảm xúc và hiểu vấn đề, ông chùng lòng suy tư… rồi hỏi tiếp:

– Con sẽ mua Thượng Đế bằng cái gì?

– Dạ, con chỉ có 1 đô la thôi… Bonnie thút thít, lo sợ.

Ông chủ gật gù, suy nghĩ chút rồi ông cầm lấy 1 đô la của cậu bé đi vào trong.

Chút sau ông bước trở ra với một lọ nước trên tay có dán dòng chữ “Nụ hôn của Thượng Đế” và đưa cho Bonnie.

– May mắn là giá của Thượng Đế cũng chỉ có 1 đô la. Con mang chai nước này về cho chú uống. Ông hy vọng chú Rupp của con sớm hết bệnh.

– Dạ, con cám ơn ông.

Thằng bé cầm chai nước chạy nhanh ra khỏi cửa tiệm. Ông chủ nhìn theo, đôi mắt ông đỏ hoe…

Bonnie chạy nhanh vô phòng bệnh của bệnh viện, mừng rỡ nói:

– Chú Rupp ơi con mang Thượng Đế về cho chú nè…

Mấy ngày sau, một nhóm bác sỹ chuyên khoa trình độ cao đã đến bệnh viện. Họ đã sử dụng kỹ thuật tiên tiến nhất để điều trị cho chú Rupp…

Sau nhiều tuần điều trị, điều kỳ diệu đã xãy ra. Chú Rupp của Bonnie đã hồi phục hoàn toàn… Khi biết được tổng số tiền viện phí trên hóa đơn, chú Rupp gần như ngất xỉu…

Nhưng phía bệnh viện đã nói với chú rằng:

– Anh đừng lo vì đã có một người đến thanh toán tất cả viện phí cho anh rồi. Ông ấy là một tỷ phú về hưu và mở cửa hàng tạp hóa bán cho vui qua ngày… Nhóm chuyên gia y học cũng do ông bỏ ra một số tiền lớn tiền để thuê đến đây trị bịnh cho anh đó…

Chú Rupp cảm động rơi nước mắt…

Bonnie dẫn chú Rupp đến gặp người đàn ông để tạ ơn thì biết ông đã đóng cửa tiệm và đi xa…

Thời gian sau, chú Rupp nhận được một lá thư ở nước ngoài gửi về từ người ân nhân đó:

“Anh Rupp, anh thật may mắn có đứa cháu trai Bonnie. Vì muốn cứu anh, cháu đã cầm 1 đô la đi khắp nơi để tìm mua Thượng Đế… Anh hãy cám ơn Thượng Đế, vì chính Thượng Đế đã cứu tính mạng của anh…

Đọc xong, chú Rupp cúi mặt khóc, những giọt nước mắt như thay lời cảm tạ…

Nhiều năm sau, cậu bé Bonnie lớn lên và trở thành bác sỹ.

Nhớ về câu chuyện năm xưa, Bonnie quyết tâm sống đẹp và giúp tất cả mọi người với những gì anh có thể cũng để thay lời tạ ơn đến Thương Đế và người ân nhân đó, người đã gieo vào lòng anh một đức tin về cái tốt, cái đẹp, đức tin vào Thượng Đế…

Tình yêu và lòng bao dung của Thượng Đế hiện diện trong lòng người là chân lý vĩnh hằng…

From: TU-PHUNG

TÔI PHẢI LÀM GÌ?

TÔI PHẢI LÀM GÌ?

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

 Một bạn trẻ đã đến với Chúa Giêsu và đặt câu hỏi: Thưa Thày, tôi phải làm gì?  Bạn trẻ này là đại diện của số đông những người đang đi kiếm tìm hạnh phúc và ý nghĩa cuộc đời.  Quả vậy, cuộc sống là một hành trình liên lỉ kiếm tìm hạnh phúc.  Có điều là quan niệm về hạnh phúc nơi mỗi người lại khác nhau.  Chàng thanh niên trong Tin Mừng được kể là một người đạo hạnh.  Từ thuở nhỏ, anh nghiêm túc tuân giữ những gì Chúa dạy trong luật Môisen: đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt; hãy thảo kính cha mẹ.  Anh rất tự tin để khẳng định với Chúa Giêsu về những thực hành đạo đức của mình.  Tuy vậy, Chúa muốn cho anh tiến xa hơn trên con đường trọn lành.  Xem ra Chúa chưa hài lòng về những gì anh đã và đang làm.  Người đặt ra một điều kiện: ai muốn theo Chúa thì phải từ bỏ mọi sự.  Khi Người yêu cầu người thanh niên bán hết mọi gia sản, tức là Người đòi hỏi anh phải từ bỏ những gì gắn bó, thậm chí từ bỏ chính bản thân để theo Chúa.

Tôi phải làm gì?  Đó cũng là câu hỏi mà chúng ta phải đặt ra thường xuyên, để lượng giá những việc mình đang làm, và mục đích mình đang hướng tới.  Câu hỏi này cũng giúp chúng ta nhìn lại bản thân, để nhận ra sứ vụ mà Chúa muốn mình phải thực hiện trong cuộc sống.  Sống trên đời, mỗi người có một sứ vụ phải hoàn thành.  Tuy vậy, để nhận ra sứ vụ đích thực của cuộc đời là một vấn đề khó khăn.  Có nhiều người long đong lận đận, ôm nhiều ảo mộng, nên đã ở tuổi xế chiều vẫn chưa xác định được sứ mạng cuộc đời của mình.

 Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?  Thưa cần có ơn khôn ngoan.  Bài đọc I chỉ cho chúng ta thấy sự cần thiết của ơn khôn ngoan.  Tác giả đã nói đến giá trị của sự khôn ngoan như sau: “Đem so sánh sự giàu sang với sự khôn ngoan, tôi kể sự giàu sang như không.  Tôi cũng không so sánh nó với kim cương, vì mọi thứ vàng đem so sánh với nó thì kể như hạt cát nhỏ bé, và bạc đem để trước nó thì kể như đất bùn.”  Theo giáo huấn của Giáo Hội, ơn khôn ngoan là một trong bảy ơn của Chúa Thánh Thần.  Ơn này giúp chúng ta nhìn rõ bản chất của sự việc hay của một con người, chứ không quan sát theo cảm tính hay theo vẻ hào nhoáng bên ngoài.  Vì những gì bóng bẩy bên ngoài thì hay đánh lừa giác quan.  Giống như cách tiếp thị của dịch vụ quảng cảo trên các phương tiện truyền thông.  Trong số những quảng cáo này, có nhiều sản phẩm là hàng giả hoặc kém chất lượng, nhiều người đã bị lừa và tiền mất tật mang.

Cũng theo giáo huấn của Giáo Hội, sự khôn ngoan đích thực là Thiên Chúa.  Sự khôn ngoan ấy được ngôi vị hoá nơi Ngôi Lời nhập thể là Chúa Giêsu Kitô.  Ngưười là sự khôn ngoan của Thiên Chúa.  Người là Đấng Cứu độ trần gian.  Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Tôi là đường, là sự thật và là sự sống.”  Qua lời tuyên bố này, Người khẳng định những ai tin vào Người sẽ được Người dẫn tới Chúa Cha, là nguồn mạch của mọi ơn phúc.

Tin vào Đức Giêsu Kitô, đó là bí quyết để đạt được khôn ngoan và cũng đạt được hạnh phúc đời này và đời sau.  Khi nghe Chúa Giêsu so sánh việc vào nước trời khó khăn giống như con lạc đà chui qua lỗ kim, thánh Phêrô đã nói với Chúa: “Đây chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy.”  Lời thánh Phêrô diễn tả mối băn khoăn của ông khi theo Chúa.  Đó cũng là mối băn khoăn của chúng ta: theo Chúa thì được gì?  biết bao nhiêu người không theo Chúa mà cũng hạnh phúc sung sướng.  Chúa hứa với thánh Phêrô và các môn đệ: họ sẽ được gấp trăm những gì họ đã từ bỏ vì Chúa.  Thực tế đã chứng minh: đối với linh mục và tu sĩ, là những người từ bỏ mọi sự trần gian để theo Chúa, Chúa ban cho họ gấp trăm, thậm chí gấp ngàn lần.

Cùng với tác giả Thánh Vịnh 89, chúng ta cầu nguyện: “Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con.”  Giữa thời buổi bất an và tràn ngập những ưu tư lo lắng, chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ơn khôn ngoan và nghị lực để chúng ta can đảm chọn lựa Chúa, với xác tín Chúa sẽ thưởng gấp trăm những gì chúng ta dám hy sinh vì Ngài.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: KittyThiênKim & KimBằng Nguyễn

PARIS CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM – BÀ NGUYÊN SA TRỊNH THÚY NGA

PARIS CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM

BÀ NGUYÊN SA TRỊNH THÚY NGA

WESTMINSTER (NV) – Mười chín năm qua, từ ngày nhà thơ Nguyên Sa qua đời (18 Tháng Tư 1998), những đóa cúc vàng trên mộ ông trong nghĩa trang ở thành phố Westminster vẫn vàng rực, nhờ sự chăm sóc ân cần từ người vợ thủy chung.

Vợ nhà thơ Nguyên Sa, bà Trịnh Thúy Nga, người đi vào cõi thơ Nguyên Sa với những câu mở đầu “tếu táo”: “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm/Như con mèo ngái ngủ trên tay anh /Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình /Ðể anh giận sao chả là nước biển!…”

Trên đời, chắc chỉ có mình ông, nhà thơ Nguyên Sa, viết thư thông báo đám cưới của mình bằng thơ. Cũng chẳng có ai đặt tựa cho bài thơ báo hỷ “cộc lốc” như ông – chỉ vỏn vẹn một chữ “Nga,” tên người con gái ông lấy làm vợ.

Thế mà người ta nhớ! Có ai mà không nhớ thơ tình Nguyên Sa!

Và bà Nguyên Sa-Trịnh Thúy Nga, luôn nhớ một câu chuyện chẳng thể nào cũ.

“Năm 1952, sau khi hồi cư về Hà Nội, tôi được gia đình cho sang Pháp du học cùng với người anh họ. Ông Lan (tên nhà thơ Nguyên Sa: Trần Bích Lan) qua trước hai năm. Ông thân sinh của ông ấy  buôn bán lớn, sợ Việt Cộng làm phiền nên cho ba người con lớn sang Pháp du học. Tôi quen em gái ông ấy ở Paris, tình cờ đến nhà chơi nên quen ông.”

Tháng Giêng Mai Thảo đã qua
Tháng Tư chợt nhớ Nguyên Sa, lại buồn.
(Thơ Ngọc Hoài Phương)

Quen nhau tháng Mười Hai năm 1952, đến mùa Hè năm 1953, ông làm bài thơ tỏ tình tặng bà. Cho đến giờ, chưa ai biết nội dung bài thơ đó như thế nào, vì bà muốn giữ kín, cho riêng bà. Chỉ biết rằng, trái tim của cô nữ sinh tên Nga từ đó có một hình bóng, mà cô luôn trân trọng nhớ về, từ mùa Hè năm đó.

Bà hồi tưởng lại: “Hồi đó tôi còn trẻ, cũng chẳng suy nghĩ gì cả, chỉ lo học thi đậu xong rồi về. Phải lo học xong cho sớm chứ đời sống bên Pháp đắt đỏ lắm. Cũng trong năm 1953, cụ thân sinh ông Lan mất ở Hà Nội, ông ấy phải ngưng học, về nước để giúp đỡ gia đình. Lúc đó chúng tôi yêu nhau rồi, ông ấy cũng muốn dỗ dành tôi về Việt Nam chung, nhưng tôi còn ham học cao lên. Tuổi trẻ mà, ai cũng có giấc mơ lớn, và tôi cũng muốn thực hiện ước mơ của mình.”

Cuộc chia tay này là nguyên nhân bài thơ “Paris có gì lạ không em?” ra đời trong nỗi nhớ khắc khoải của ông.

“Paris có gì lạ không em?
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về mắt vẫn lánh đen
Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
Chả biết tay ai làm lá sen?…”

Câu hỏi cuối ông gởi lại bà trong sự chờ đợi, thay cho câu hỏi “Em có bằng lòng làm vợ anh không?” Để rồi hai năm sau gặp lại nhau ở Paris, khi bà khẽ gật đầu ưng thuận “làm lá sen” suốt đời cho ông, thì ông mới viết bài thơ đính hôn thay cho thiệp báo hỷ gởi cho gia đình, bằng hữu, trong niềm vui sướng tột độ.

“Chúng mình lấy nhau
Cần gì phải ai hỏi…
Cả anh cũng không cần phải hỏi anh
‘Có bằng lòng lấy em?…’
Vì anh đã trả lời anh
Cũng như em trả lời em
Và cũng nghẹn ngào nước mắt!…”
(Nga – Nguyên Sa)

Bà Nga nhớ lại: “Sinh viên tụi tôi ở lại Pháp sau Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, gia đình lo tản cư vào Nam nên đâu có gởi tiền qua được. Chúng tôi ra Tòa Đốc Lý Paris ký giấy hôn thú, bạn bè theo đông lắm. Xong kéo nhau ra quán cà phê đối diện uống cà phê, ăn bánh. Bạn bè chung tiền trả tiền cho cô dâu, chú rể. Thế thôi.”

Đám cưới sinh viên Việt Nam nghèo ở kinh đô ánh sáng diễn ra như thế. Chú rể chẳng mặc lễ phục, cô dâu không có áo cưới, mà ngay cả nhẫn cưới họ cũng chẳng mua được. Nhưng có sao đâu, vì ông trao cho bà những thứ quý hơn nhẫn cưới.

“Người ta làm thế nào cấm được chúng mình yêu nhau
Nếu anh không có tiền mua nhẫn đeo tay
Anh sẽ hôn đền em
Và anh bảo em soi gương
Nhìn vết môi anh trên má
Môi anh tròn lắm cơ
Tròn hơn cả chữ O
Tròn hơn cả chiếc nhẫnTròn hơn cả hai chiếc
nhẫn đeo tay!…”

(Nga – Nguyên Sa)

***

Mười chín năm ông ra đi, chữ O tròn trên má vẫn chẳng phai nhòa, vì với bà, ông chẳng bao giờ đi xa cả, mà chỉ chuyển chỗ từ ngôi nhà ở thành phố Irvine đến nơi đầy nắng và gió ở thành phố Westminster.

“Đối với tôi thì lúc nào ông cũng quanh quẩn đâu đây, trong cái nhà này. Tôi ở trong nhà, hay đi bất cứ con đường nào, đều thấy hình bóng ông ở bên cạnh tôi hết.” Bà Nga nói.

Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết, lúc sinh thời Nguyên Sa rất thích hoa cúc vàng – như câu thơ trong bài “Áo lụa Hà Đông” của ông: Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc – nên bà Nga chỉ mang hoa cúc ra mộ ông thôi. “Nếu để ý sẽ thấy, hoa cúc vàng trên mộ nhà thơ Nguyên Sa không bao giờ tàn hay héo cả vì được bà Nga chăm sóc rất kỹ. Hoa sắp héo sẽ được bà thay bằng hoa mới.” Nhà thơ Ngọc Hoài Phương cho biết.

Hôm gặp bà ở mộ ông, bà cho hay: “Ông ấy không bao giờ nghĩ đến cái chết, hay mình được chôn cất ở đâu cả. Khi ông ấy mất, tôi ra đây xem rồi chọn cho ông chỗ này. Nó gần hồ nước, lại dưới một bóng cây. Lúc trước trông vắng vẻ, giờ trông ấm cúng vì chung quanh ông có rất nhiều bạn bè.”

“Hồi nhà tôi mới mất, ngày nào tôi cũng ra đây, sửa bông, cắt cỏ. Giờ thì lớn tuổi rồi, thì một tuần tôi ra thăm ông ấy 2 lần. Nhiều khi bực mình với ông ấy cũng ra đây nói cho ông ấy biết.”

“Hồi ông Lan còn sống, tôi rất ít tiếp xúc với bạn ông ấy lắm, nhưng từ hồi ông ra đây, tôi được gặp nhiều người thăm ông, an ủi nâng đỡ tôi. Tôi nhớ ông Đỗ Ngọc Yến (nhà báo, sáng lập nhật báo Người Việt), hồi đó, cứ có ai từ xa đến Little Saigon, muốn gặp tôi thì ông ấy cứ nói cứ ra thăm mộ Nguyên Sa thì gặp bà Nga. Cho nên ở đây tôi được gặp nhiều người lắm, kể cả bạn cũ ở Việt Nam sang chơi. Cuối năm còn có người hẹn tôi ra đây cho cá kho, dưa chua nữa.”

Điều trùng hợp là sự lựa chọn nơi yên nghỉ cho ông, lại chính là nơi ông từng mơ ước được về qua câu thơ của ông, được bà khắc trên mộ.

“Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”

Và trong bài Tân Ước trong tập thơ cuối cùng, hình như lời “năn nỉ” của ông cũng được bà chiều theo.

“…Anh vẫn nhận ra em, em khác biệt mà vẫn đồng nhất, giấc mơ gián đoạn bao nhiêu, em vẫn trở lại, giấc mơ phi lý, em khắng khít bằng những liên tục vuốt ve, liên tục hiền dịu, liên tục chăm sóc. Em liên tục không gian em, liên tục luận lý em. Tân ước nói có thế giới ở ngoài thế giới, khác biệt và bao trùm thế giới. Em có phải là giấc mơ ở trong giấc mơ và phủ kín giấc mơ?”.

Chẳng biết như thế nào, nhưng trong thế giới thật này, “Nga buồn như con chó ốm”, tiếp tục dùng đôi tay “làm lá sen” phủ kín cho đến tận cùng.

Tác Giả: Vũ Đình Trọn

From: An Van Thieu

Đức giám mục giáo phận Ôn Châu lại bị bắt đi

Make Christianity Great As Always is in Wenzhou, China.

{Đức giám mục giáo phận Ôn Châu lại bị bắt đi}

Hôm 26/10/2021 vừa qua, hãng tin Công giáo Á châu, Asia News đưa tin: Đức cha Shao Zhumin: Thiệu Chúc Mẫn, Giám mục Ôn Châu, tỉnh Chiết giang, lại bị công an nhà nước Trung Quốc bắt đi.

Qua một sứ điệp, các tín hữu Công giáo xin cầu nguyện cho Đức giám mục bị bắt đi: “Xin anh chị em cầu xin Chúa ban cho Đức cha được lòng tín thác và can đảm, không bị xuống tinh thần vì những gì xảy ra; xin anh chị em cũng hãy cầu nguyện để ngài được an mạnh dưới sự hướng dẫn của Chúa Kitô, để Đức cha sớm trở về với chúng ta để chăm sóc đoàn chiên; chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện”.

Đây không phải là lần đầu tiên Đức cha Thiệu Chúc Mẫn bị bắt đi trong nhiều tháng. Nhà nước tìm cách “tẩy não” Đức cha để buộc ngài gia nhập hội Công giáo yêu nước Trung Quốc, một cơ quan tùy thuộc đảng cộng sản Trung Quốc. Đức cha Mẫn do Tòa Thánh bổ nhiệm nhưng không được nhà nước nhìn nhận.

Những vụ bắt Đức cha Mẫn thường xảy ra vào dịp áp các lễ quan trọng của Công giáo, như Giáng sinh, Phục sinh, Lễ Đức Mẹ Hồn xác lên trời, và nay là chuẩn bị tháng Mười Một, tháng các linh hồn. Trong tháng này, các tín hữu thường đặc biệt hội họp nhau đọc kinh Mân côi và cầu nguyện cho người quá cố. Tại tỉnh Chiết Giang, tỷ lệ các tín hữu Kitô vượt quá 10% và các tín hữu tại đây rất nhiệt thành và họ chăm chỉ viếng nghĩa trang trong tháng Mười một, đặc biệt là viếng mộ Đức cha Lâm Tích Lê (Lin Xili), giám mục đầu tiên của giáo phận Ôn Châu, giám mục hầm trú được Đức Thánh cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm hồi năm 1992. Năm 1999, ngài bị nhà nước bắt và cầm tù cho đến khi ngài qua đời năm 2009.

Trong những năm qua, nhà nước chặn cổng vào nghĩa trang Ôn Châu bằng hàng rào sắt để cấm cản các tín hữu Công giáo đến tụ họp trong đó.

Năm nay, họ trực tiếp bắt Đức cha Thiệu Chúc Mẫn.

(Asia News 26-10-2021)

May be an image of 1 person, standing and indoor

Năm nhà báo Nhóm Báo Sạch bị tuyên 14 năm 6 tháng tù giam

 Đài Á Châu Tự Do 

Nhận định về bản án này, nhà báo độc lập Đường Văn Thái cho biết:

“Bản án này đối với người làm báo như Trương Châu Hữu Danh như vậy thì nó quá là nặng và áp khung hình phạt theo Điều 331 thì cái này đối với trường hợp anh này thì quá nặng – 4 năm 6 tháng tù.

Cái án như vậy đối với một người đưa tin ở một đất nước độc tài thì họ đã muốn tiêu diệt một ai đó thì họ đã đưa một mức án cao.

Thực sự với chế độ cầm quyền cộng sản nhà nước Việt Nam thì họ không muốn lắng nghe bất cứ tiếng nói trái chiều, phản biện, họ chỉ thích khen, không thích chê, không thích tiếp thu ý kiến mới nên ai đó có ý kiến phản biện thì họ có tư thù và luôn muốn trù dập.

Họ sẽ không có nương tay với những người bất đồng chính kiến và họ luôn tăng mức án rất cao. Đấy là cách trả thù đơn giản nhất đối với nhà cầm quyền CSVN.”

#RFAVietnamese #TruongChauHuuDanh #NguyenPhuocTrungBao #LeTheThang #NguyenThanhNha #DoanKienGiang #Baosach #CleanNewspaper