Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mt 5,4)- Cha Vương

 Sau ngày lễ nghỉ, uể oải quá đi thôi. Chúc bạn ngày mới tràn đầy nghị lực và hiền lành như con chim bồ câu vậy nhé. Nhớ nhau trong câ`u nguyện không quên cho một lời nguyện thế giới được Hoà Bình, xin đa tạ

Cha Vương

Thứ 3: 26/05/2026.  (n28-24)

TIN MỪNG: Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mt 5,4)

HOA QUẢ THỨ 8: Hiền Hoà— Hiền hoà (hiền lành) là một nhân đức, không để cho mình bị lôi cuốn bởi cơn giận dữ quá đáng so với nguyên nhân gây ra nó, nghĩa là không để cho mình bị lôi cuốn theo một cảm xúc phi lý. Người hiền lành thì luôn có tâm hồn đơn sơ, sống chân thật, không ích kỷ, không tìm tư lợi, nhưng sẵn sàng quên mình, biết dấn thân và biết sống vì người khác. Hiền hòa cũng có phần nào liên quan đến nhịn nhục và chịu đựng, đó là biết vui vẻ chấp nhận sự thua thiệt, hiền lành và chịu thua thiệt chứ không là nhu nhược.

SUY NIỆM: Trong cuộc sống tại thế này bạn phải đối diện với đủ loại thử thách: những thất bại, bất trắc, đau khổ,…. có khi phải đối diện với những nghịch cảnh bi đát và nghiệt ngã bất công. Vấn đề là cách bạn ứng xử thế nào trước mỗi khó khăn thử thách như vậy. Lời khuyên của  Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận sau đây có thể giúp bạn hiểu được tầm quan trọng của nhân đức hiền hoà khi ngài viết: “Đừng nản lòng vì thất bại. Nếu con tìm ý Chúa thực sự, thì chính sự thất bại đó là thành công. Chúa muốn như vậy. Xem gương Đức Giêsu trên thánh giá”; “ Chỉ có một sự thất bại là không hy vọng vào Chúa. Con đã hy vọng vào Chúa và con sẽ không hổ thẹn đến muôn đời” (ĐHV, số 41. 43). Người hiền lành có thể bị người đời ăn hiếp hoặc luôn chịu phần thiệt thòi nhưng ngược lại họ lại là người mạnh mẽ và dễ mến vì chẳng có ai chống lại người hiền lành cả. Tiền nhân có câu: “No mất ngon, giận mất khôn”. Đúng quá! Một giây phút không kiềm hãm được những cảm xúc phi lý của mình không những bạn sẽ làm tổn thương đến những người chung quanh mà còn tự hại mình nữa. Nguy quá!

LẮNG NGHE: Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã gần đến. (Pl 4,4-5)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần là Chủ nhân hiền hòa của tâm hồn con, là nguồn dịu dàng tươi mát dường bao, xin cất khỏi tim con những yếu đuối, những cảm xúc nóng nảy, thô lỗ, cộc cằn, và ban cho con đức đơn sơ, điềm tĩnh, khôn ngoan, hiền dịu và quả cảm để con sống hiền lành thánh thiệt như Chúa hằng mong ước.

THỰC HÀNH: Tập không phản ứng mạnh khi gặp chuyện trái ý, không làm dữ khi ý kiến của bạn bị bác bỏ.

From: Do Dzung

**********************************************

Chúa chiên lành -tinmung.net

THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV VỀ VIỆC GÌN GIỮ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS
CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
VỀ VIỆC GÌN GIỮ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI
TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

DẪN NHẬP

  1. Nhân loại, được Thiên Chúa tạo dựng trong tất cả sự cao cả của mình, hôm nay đang đối diện với một chọn lựa mang tính quyết định: hoặc kiến tạo một Tháp Babel mới, hoặc xây dựng thành đô nơi Thiên Chúa và nhân loại cùng cư ngụ. Mỗi thế hệ đều lãnh nhận trách nhiệm định hình thời đại của chính mình, hướng dẫn lịch sử trở thành nơi mà phẩm giá của mỗi con người được bảo vệ, công lý được cổ võ, và tình huynh đệ được trở nên khả thi. Tuy nhiên, mỗi thời đại cũng luôn mang trong mình nguy cơ tạo ra một thế giới càng ngày càng phi nhân và bất công hơn. Mỗi khi nhân loại đứng trước nguy cơ làm hoen ố căn tính đích thực của mình, chúng ta là những Kitô hữu hướng mắt lên Thiên Chúa Nhập Thể, bởi chúng ta biết rằng: “chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, mầu nhiệm về con người mới thực sự được sáng tỏ.” Nơi Đức Chúa Giêsu Kitô, nhân tính ấy trong tất cả sự cao cả của mình trở thành Đường, Sự Thật và Sự Sống, mở ra con đường để mỗi người chúng ta tiến tới sự viên mãn.
  2. Được xây dựng trên Đức Kitô, tảng đá sống động, chúng ta cảm nghiệm hoạt động quyền năng và huyền nhiệm của Chúa Thánh Thần; đồng thời chúng ta tin rằng mọi nỗ lực chân chính của con người nhằm cộng tác với Ngài để thực hiện điều thiện đều sẽ được Cha trên trời chúc lành, trong Ngài chúng ta đặt trọn niềm hy vọng. Vì lý do ấy, chúng ta có thể chuyên cần góp phần vào mọi sáng kiến nhằm xây dựng một thế giới công chính hơn, đồng thời mời gọi những người khác cộng tác trong việc cổ võ sự phát triển toàn diện của mỗi con người. Chúng ta mong muốn bước vào cuộc đối thoại với tất cả những người nam và nữ của thời đại hôm nay, là những người cùng chia sẻ với chúng ta các biến cố, những thao thức và những khát vọng của nhân loại. Cùng với họ, chúng ta tìm kiếm những con đường mới nhằm phục vụ công ích và thăng tiến một đời sống xứng hợp với phẩm giá con người cho tất cả mọi người. Thật vậy, sự cởi mở đối với đối thoại là một phần thiết yếu trong ơn gọi của Hội Thánh, bởi vì Hội Thánh, được thiết lập trong Đức Kitô như “bí tích… của sự hiệp thông với Thiên Chúa và của sự hợp nhất toàn thể nhân loại”, nhận biết lịch sử là nơi mà Tin Mừng chất vấn và định hướng kinh nghiệm nhân sinh.
  3. Trong tinh thần ấy, Đức Giáo hoàng Lêô XIII đã công bố Thông điệp Tân Sự (Rerum Novarum) vào năm 1891; năm nay, chúng ta cử hành kỷ niệm 135 năm văn kiện ấy với lòng tri ân sâu xa.
  4. Qua văn kiện này, vị tiền nhiệm khả kính của tôi đã khơi lên một dòng suy tư về xã hội, kinh tế và chính trị, điều mà ngày nay được biết đến như “Học thuyết Xã hội của Hội Thánh”. Khi có những người phản đối rằng Hội Thánh không nên phung phí năng lực vào những vấn đề trần thế, nhưng chỉ nên tập trung vào việc loan báo sứ điệp sự sống đời đời, Đức Lêô XIII đã đáp lại bằng sự thực tế và khôn ngoan rằng việc loan báo Tin Mừng không thể làm ngơ trước đời sống cụ thể của con người. Nhiều thập niên đã trôi qua kể từ đó, và Huấn quyền, các mục tử, các nhà thần học cùng các tín hữu vẫn tiếp tục suy tư về những vấn đề xã hội dưới ánh sáng của Tin Mừng. Ngày nay, Học thuyết Xã hội của Hội Thánh là một gia sản khôn ngoan, trong đó chúng ta tìm thấy những nguyên lý để suy tư, những tiêu chuẩn để phân định và phán đoán, những định hướng cụ thể cho hành động. Được đặt nền trên Thánh Kinh và Thánh Truyền, đồng thời đối thoại với các ngành khoa học, học thuyết này giúp chúng ta giải thích cách sáng tỏ những thách đố của hiện tại và nhận ra những con đường thích hợp để sống chứng tá Kitô giáo một cách minh bạch, trong niềm vui và tinh thần phục vụ thế giới. Đây không phải là một tập hợp bất động của các khái niệm, nhưng là một kho tàng chân lý sống động, gìn giữ và diễn giải ơn gọi của nhân loại hướng tới một đời sống viên mãn và công chính. Vì thế, tôi cũng mong muốn góp tiếng nói của mình vào truyền thống sống động ấy, khi khẩn cầu sự trợ giúp của Thần Khí Khôn Ngoan, Đấng đã hiện diện trong thế gian ngay từ thuở ban đầu (x. Cn 8,22–31).

Những sự mới mẻ (res novae) của thời đại chúng ta

  1. Trong khi Đức Lêô XIII, vào thời của ngài, đã nói đến “những sự mới mẻ hay tân sự” (rerum novarum), thì ngày nay, chúng ta không thể chỉ đơn thuần lặp lại những giáo huấn đầy minh triết ấy. Trái lại, chúng ta phải cầu xin Thiên Chúa ban cho sự khôn ngoan để có thể diễn giải những xu hướng lớn của thời đại chúng ta, đặc biệt là các tiến bộ về công nghệ. Trong những năm gần đây, càng ngày càng trở nên hiển nhiên rằng tiến trình số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot học đang biến đổi thế giới của chúng ta một cách nhanh chóng và sâu rộng như thế nào. Tự bản chất, công nghệ không nên bị xem như một sức mạnh đối nghịch với con người. Trái lại, ngay từ khởi nguyên của lịch sử, công nghệ đã là một phần trong hành trình phát triển của nhân loại, như “một thực tại mang tính nhân bản sâu sắc, gắn liền với quyền tự chủ và tự do của con người.” Qua nhiều thế kỷ, sự phát triển công nghệ đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện điều kiện sống của nhân loại. Tuy nhiên, đồng thời, mỗi giai đoạn tiến bộ cũng cho thấy tính mơ hồ của các công cụ ấy, bởi khi không được hướng về điều thiện, chúng có thể trở thành căn cớ gây tổn hại. Tuy nhiên, ngày nay, chúng ta đang phải đối diện với một hoàn cảnh mới. Sức mạnh và mức độ hiện diện khắp nơi của các công nghệ mới phát triển đã đan xen vào chính kết cấu của đời sống thường nhật, định hình các tiến trình ra quyết định và tác động sâu xa đến trí tưởng tượng tập thể của nhân loại: Chưa bao giờ nhân loại lại có quyền năng lớn lao đến thế trên chính mình.” [6] Những công nghệ mới mở ra một chân trời trải rộng theo những hướng mà chúng ta có thể hình dung, nhưng vẫn chưa thể tiên liệu cách trọn vẹn. Điều này khiến cho việc lượng định những tác động tiềm tàng của chúng, cũng như những hệ quả lâu dài mà chúng có thể gây ra đối với phẩm giá con người và công ích, trở nên phức tạp hơn nhiều.
  1. Giờ đây, trách nhiệm của chúng ta là phải đối diện với những thách đố của thời đại mình bằng sự rõ ràng trong tư tưởng và tinh thần trách nhiệm. Điều cần thiết là phải thiết lập những công cụ pháp lý thích hợp, có khả năng bảo vệ công lý và kiềm chế những tác động bóp méo do quyền lực của công nghệ gây ra. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ giới hạn ở bình diện pháp lý. Như Đức Phanxicô đã cảnh báo, chúng ta phải thành thật tự hỏi: ai đang nắm giữ quyền lực ấy hôm nay, và họ sử dụng nó như thế nào: “Cũng phải nhìn nhận rằng năng lượng hạt nhân, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, hiểu biết về chính DNA của chúng ta, cùng nhiều khả năng khác mà chúng ta đã đạt được… đã trao cho những người sở hữu tri thức, và đặc biệt là các nguồn lực kinh tế để vận dụng chúng, một quyền thống trị đáng kinh ngạc trên toàn thể nhân loại và trên cả thế giới.” Trong quá khứ, vai trò định hướng và điều phối đổi mới phần lớn thuộc về Quốc gia. Thế nhưng ngày nay, những tác nhân chính thúc đẩy phát triển lại là các chủ thể tư nhân, thường có tính xuyên quốc gia, được trang bị nguồn lực và khả năng can thiệp vượt xa nhiều chính phủ. Vì thế, quyền lực công nghệ ngày nay có một chiều kích chưa từng có tiền lệ, chủ yếu có tính “tư nhân”, và chính điều này làm cho việc nhận định, quản trị và hướng quyền lực ấy về công ích trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.
  2. Vì lý do ấy, điều cần thiết là phải khởi sự một tiến trình phân định chung nhằm nhận diện những cội rễ thiêng liêng và văn hóa của các biến đổi đang diễn ra. Nếu chỉ chú tâm đến những tình huống trước mắt, chúng ta có nguy cơ để cho chuỗi những khủng hoảng liên tiếp quyết định hướng đi của mình. Chúng ta đang sống trong một giai đoạn chuyển tiếp nhanh chóng, một “sự thay đổi của cả một thời đại”, trong đó, khi một số người đang tranh giành quyền định hình tương lai của các công nghệ mới, và những người khác chuyên tâm suy tư về vấn đề này, thì phần lớn nhân loại chỉ đứng nhìn và chờ đợi, quan sát từ xa và đơn thuần hy vọng rằng mọi sự sẽ diễn tiến tốt đẹp. Chính vì thế, những câu hỏi hệ trọng đang chất vấn lương tâm chúng ta và không thể tiếp tục bị né tránh: Chúng ta đang đi về đâu? Chúng ta mong muốn hướng mình đến mục tiêu nào? Là một dân tộc và như một cộng đồng nhân loại, chúng ta phải chọn hướng đi nào?

Hai hình ảnh trong Kinh Thánh

  1. Để trả lời những câu hỏi ấy và phân định phương thức định hướng một cách có trách nhiệm trong thời đại trí tuệ nhân tạo, tôi muốn gợi lại hai khung cảnh trong Kinh Thánh: việc xây dựng Tháp Babel (x. St 11,1–9) và việc tái thiết các bức tường của Giêrusalem (x. Nkm 2–6). Trình thuật về Babel xuất hiện trong sách Sáng Thế, ngay từ buổi đầu lịch sử nhân loại, liền sau các gia phả của con cháu ông Nôê. Sau khi định cư tại một đồng bằng thuộc miền Sinar, dân chúng quyết định xây dựng một thành phố và một ngọn tháp “có đỉnh chạm tới trời” (St 11,4). Vì sợ bị phân tán khắp mặt đất, họ tìm cách bảo đảm cho mình sự ổn định và quyền lực, và trên hết, để “làm cho mình nổi danh.” Đó quả là một công trình đầy ấn tượng: một ngôn ngữ duy nhất, một công nghệ duy nhất, một định hướng duy nhất. Tuy nhiên, dự án ấy che giấu một hiểm họa sâu xa. Đó là một công trình được hình thành mà không quy chiếu về Thiên Chúa, được nâng đỡ bởi một sự đồng nhất hóa loại trừ tính đa dạng, và lựa chọn sự đồng nhất thay vì hiệp thông. Khi một thành phố được xây dựng trên lòng kiêu ngạo và ảo tưởng tự mãn, sự truyền thông sẽ đổ vỡ, ngôn ngữ trở nên hỗn loạn, và con người không còn hiểu nhau nữa. Kết quả không phải là hiệp nhất, nhưng là phân tán. Tháp Babel, vì thế, cho thấy giới hạn của mọi nỗ lực, dù có vẻ huy hoàng đến đâu đi nữa, nếu phát xuất từ tham vọng đề cao chính mình, hy sinh phẩm giá con người vì hiệu quả, và mong chạm tới trời cao mà không có phúc lành của Thiên Chúa.
  • 8. Ngược lại, sách Nêhêmia mở ra trong một thời khắc đầy mong manh của lịch sử Israel cổ đại. Sau cuộc lưu đày Babylon, một phần dân Chúa đã trở về Giêrusalem, nhưng thành vẫn còn đổ nát, tường thành sụp đổ và các cổng thành bị thiêu rụi (x. Nkm 1–2). Nêhêmia, một người Do Thái đang phục vụ triều đình vua Ba Tư Artaxerxes, nhận được tin về tình trạng thảm khốc của thành phố tổ tiên mình. Trước khi hành động, ông ăn chay, cầu nguyện và cầu thay cho dân. Sau đó, ông xin nhà vua cho phép trở về Giêrusalem, và khi đến nơi, ông âm thầm khảo sát những khu vực bị tàn phá. Ông không áp đặt giải pháp từ trên xuống. Trái lại, ông quy tụ các gia đình, giao cho mỗi gia đình một phần tường thành để tái thiết, lắng nghe những mối quan tâm của họ, phối hợp các nỗ lực chung và đối diện với mọi chống đối phát sinh. Trình thuật cho thấy thành phố được hồi sinh không phải nhờ sáng kiến của riêng một cá nhân, nhưng nhờ trách nhiệm chung của tất cả mọi người: nam giới và nữ giới, tư tế, thợ thủ công, các trưởng gia đình, người trẻ. Đó là một công trình đặt Thiên Chúa ở trung tâm, tái thiết các mối tương quan trước khi tái thiết bằng gạch đá. Nhờ đó, Giêrusalem xưa khám phá lại một ngôn ngữ chung, không phải ngôn ngữ của sự đồng nhất, nhưng là ngôn ngữ của sự hiệp thông; nghĩa là sự hòa hợp nảy sinh khi mỗi người đảm nhận vai trò riêng của mình và nhận biết rằng sức mạnh của họ đến từ Chúa.
  • 9. Dưới ánh sáng của hai hình ảnh ấy, Chúa Thánh Thần hôm nay đang chất vấn chúng ta về mối tương quan của mình với công nghệ và với cuộc cách mạng kỹ thuật số đang diễn ra. Các khám phá khoa học là những nén bạc được trao phó cho nhân loại để sinh hoa kết quả (x. Mt 25,14–30). Công nghệ có khả năng: chữa lành, kết nối, giáo dục, bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta; nhưng nó cũng có thể: chia rẽ, loại trừ, tạo ra những hình thức bất công mới. Xét trên bình diện trừu tượng, công nghệ tự nó không phải là giải pháp cho các vấn đề của nhân loại, cũng như tự nó không phải là điều xấu xa. Tuy nhiên, trong thực tế, công nghệ không bao giờ hoàn toàn trung lập, bởi nó luôn mang dấu ấn của những người: sáng tạo ra nó, tài trợ cho nó, kiểm soát nó và sử dụng nó. Vì thế, chọn lựa nền tảng không phải là nói “có” hay “không” với công nghệ. Nhưng là chọn giữa: xây dựng Tháp Babel, hay tái thiết Thành Giêrusalem; giữa: một quyền lực muốn thống trị cả trời cao, hay một dân tộc cùng nhau làm việc trước nhan Thiên Chúa để tái thiết những bức tường của sự chung sống huynh đệ.
  • 10. Do đó, chúng ta phải tránh “hội chứng Babel”, tức là: sự tôn thờ lợi nhuận đến mức hy sinh những người yếu thế; một sự đồng nhất hóa làm triệt tiêu khác biệt; và ảo tưởng rằng chỉ cần một ngôn ngữ duy nhất, kể cả ngôn ngữ kỹ thuật số, là có thể chuyển dịch mọi sự, kể cả mầu nhiệm con người, thành dữ liệu và hiệu suất. Nguy cơ phi nhân hóa, tức xây dựng một tương lai loại trừ Thiên Chúa và biến tha nhân thành phương tiện, là một cám dỗ vừa cổ xưa vừa luôn mới mẻ, nhưng hôm nay khoác lên mình diện mạo công nghệ. Thay vào đó, chúng ta hãy chọn “con đường của Nêhêmia”, con đường nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cộng tác để làm cho Thành của Thiên Chúa trở thành nơi an toàn cho những người lưu đày trở về. Tái thiết hôm nay có nghĩa là nhìn nhận rằng chính từ sự đa dạng của những tiếng nói và viễn tượng, dù đôi khi gợi lại sự hỗn loạn của nhiều ngôn ngữ, vẫn có thể xuất hiện một sự khả thi rạng ngời. Thực ra, đó là việc có thể cùng nhau xây dựng, biến khác biệt thành nguồn lực, và lấy lắng nghe cùng đối thoại làm nền tảng chung để vun trồng công lý và tình huynh đệ. Trong sứ mạng chung ấy, các Kitô hữu khám phá vai trò đặc thù của mình là hướng mọi hành động về Thiên Chúa, để dưới ánh sáng của Ngài, tính đa nguyên không tan biến thành hỗn loạn, nhưng nhờ thực hành tính hiệp hành, trở thành không gian trong đó nhân loại tái khám phá ra nền tảng vững chắc và cùng đích tối hậu của mình. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan chiêm ngắm Thành Giêrusalem mới “từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống” (Kh 21,2) như một hồng ân dành cho toàn thể nhân loại. Và thị kiến đầy ân sủng ấy là lời mời gọi chúng ta, những Kitô hữu, cùng cộng tác để kiến tạo một đời sống cộng đồng bình an, công chính và xứng hợp với phẩm giá con người trong những “thành phố” của thế giới hôm nay.

Xây dựng vì công ích

  1. Xây dựng một thành đô được đặt nền trên công ích, trước hết và trên hết, đòi hỏi phải xây dựng trên một mối tương quan vững chắc với Thiên Chúa. Điều đó có nghĩa là nhìn nhận rằng chân lý về tình yêu của Ngài mời gọi chúng ta bước vào sự sống “dồi dào” (Ga 10,10) và sự hiệp thông với chính Ngài. Cùng với Thánh Augustinô, chúng ta cũng có thể thưa: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.” Quả thật, Thiên Chúa đã ghi khắc trong tâm hồn con người một khát vọng hạnh phúc bao trùm mọi chiều kích của đời sống. Trong cuộc đối thoại với những người nam nữ của thời đại hôm nay, Hội Thánh nhận thấy nhu cầu cấp thiết phải bảo vệ và hướng dẫn khát vọng ấy tới chân lý sâu xa nhất của nó.
  2. Thứ đến, xây dựng vì công ích có nghĩa là chấp nhận những giới hạn và sự mong manh của con người, mà không xem đó như một lỗi lầm cần phải sửa chữa. Ngày nay, khát vọng đạt tới sự viên mãn của đời sống con người đang đứng trước nguy cơ bị dẫn dắt lệch hướng bởi những mục tiêu đầy mê hoặc nhưng sai lạc, chẳng hạn như viễn tượng về một công nghệ hứa hẹn giải phóng chúng ta khỏi mọi yếu đuối, hay những mô hình an sinh chỉ dành chỗ cho một số ít, trong khi bỏ lại phía sau cả những cộng đồng dân cư rộng lớn. Quá thường xuyên, chúng ta đặt hy vọng vào những hình thức “nâng cấp” không giới hạn, vào những kiểu tiến bộ làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng, và vào những giải pháp tức thì vốn không đủ sức chữa lành những thương tích sâu xa của con người. Kết quả là, trong khi một số người theo đuổi ảo tưởng về sự tự khẳng định chính mình vô hạn, thì nhiều người khác lại bị tước mất cả những nhu cầu căn bản nhất. Hội Thánh, với một tiếng nói vừa khiêm tốn vừa kiên định, nhắc nhở chúng ta rằng sự viên mãn đích thực không đạt được bằng cách loại bỏ sự yếu đuối, nhưng bằng sự tăng trưởng hài hòa của con người. Sự viên mãn ấy được tìm thấy ở nơi mà tự do gắn liền với trách nhiệm; sự chăm sóc lẫn nhau; tình liên đới chân chính. Ở đó, tiến bộ được đo lường không phải bằng hiệu suất hay quyền lực, nhưng bằng phẩm giá của từng con người và thiện ích của mọi dân tộc.
  1. Thứ ba, xây dựng một thế giới trong đó mọi người đều có thể phát triển viên mãn đòi hỏi trách nhiệm chung và lòng can đảm. Không ai có thể một mình gánh vác toàn thể sức nặng của những thách đố mà thế giới đang phải đối diện, cũng như không ai quá yếu đến mức không thể góp phần của mình, bởi vì: “Quyền năng được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” (2 Cr 12,9) Mỗi người đều được trao một phần việc riêng trên bức tường chung ấy: các nhà khoa học và giới nghiên cứu, các doanh nhân và người lao động, các nhà giáo dục và các nhà lập pháp, xã hội dân sự, các phong trào quần chúng, các cộng đồng đức tin. Đó chính là logic của nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity), nguyên tắc đề cao sự cộng tác giữa: các thế hệ, các dân tộc, các ngành tri thức, các nền văn hóa, như con đường tốt nhất để xây dựng sự ổn định, thịnh vượng và hòa bình. Chúng ta không nên sợ hãi trước những căng thẳng hay khác biệt, bởi khi được dẫn dắt bởi tinh thần trách nhiệm chung, chúng có thể trở thành những nguồn lực sáng tạo.
  2. Sau cùng, xây dựng vì công ích đòi hỏi một ngôn ngữ mang tinh thần Tin Mừng. Chúng ta phải tránh những lời nói mang tính hạ nhục hay đối kháng, nhưng thay vào đó chọn sự minh bạch có khả năng soi sáng, và sự thẳng thắn có thể mở ra những khả thi mới. Chúng ta không thể: dung túng cho những nhiệt tình ngây thơ, cũng không thể nuôi dưỡng những nỗi sợ hãi vô căn cứ. Trái lại, chúng ta phải thiết lập những tiêu chuẩn để phân định, bao gồm: phẩm giá con người; đích đến phổ quát của của cải; sự ưu tiên dành cho người nghèo; việc chăm sóc ngôi nhà chung; hòa bình. Đồng thời, chúng ta phải chuyển hóa những tiêu chuẩn ấy thành các thực hành cụ thể, như: hoạch định có trách nhiệm, lượng giá các tác động nhân bản và xã hội, bao gồm những người dễ bị tổn thương nhất, cổ võ khả năng hiểu biết kỹ thuật số và định hướng nghiên cứu và công nghiệp về phía công lý và hòa bình.

Vẫn luôn là con người

  1. Trong Năm Thánh Thông thường 2025 vừa qua, chúng ta đã cùng nhau bước đi như những người hành hương của hy vọng, và đã lãnh nhận biết bao ân sủng. Được củng cố bởi những hồng ân ấy, chúng ta có thể tiến bước với lòng tín thác để đối diện với những công việc nặng nề và những thách đố đòi hỏi nhiều hy sinh đang ở phía trước. Trong thời đại của trí tuệ nhân tạo, khi phẩm giá con người đang bị đe dọa bởi những hình thức phi nhân hóa mới, thì bổn phận cấp thiết của chúng ta là vẫn luôn giữ mình cách sâu xa như là con người. Chúng ta phải yêu mến gìn giữ sự cao cả của nhân tính đã được trao ban cho chúng ta, một sự cao cả được mặc khải cách viên mãn trong Đức Kitô, vẻ huy hoàng mà không một cỗ máy nào có thể thay thế. Sự tiến bộ đích thực luôn phát xuất từ một tâm hồn rộng mở với tha nhân, một trí tuệ biết lắng nghe và một ý chí tìm kiếm điều giúp chúng ta hợp nhất thay vì điều chia rẽ chúng ta.

16. Tôi ngỏ lời kêu gọi chân thành này đến toàn thể các tín hữu Công giáo, mọi Kitô hữu và tất cả những người nam nữ thiện chí. Chúng ta đừng sợ làm cho đôi tay mình vấy bẩn tại “công trường xây dựng” của thời đại mình. Như ông Nêhêmia, chúng ta hãy cầu nguyện, hoạch định cách khôn ngoan, kiên trì làm việc, đặt Thiên Chúa ở vị trí hàng đầu trong mọi hành động của mình, và đặt con người ở trung tâm của mọi chọn lựa. Như thế, những “viên đá bị loại bỏ”, là những người nghèo, người đau yếu, người di cư, những người bé mọn nhất giữa chúng ta, sẽ trở nên viên đá góc tường, và một ngôi nhà chung vững chắc, rộng mở và đầy đón tiếp sẽ được hình thành trên mặt đất, ở đó “tình thương và lòng thành tín giao hòa, công lý và bình an hôn nhau.” (x. Tv 85,10) Đó là phúc lành mà chúng ta khẩn cầu Thiên Chúa ban xuống. Và nhiệm vụ trước mắt chúng ta là trở nên những người xây dựng sự hiệp thông, chứ không phải những Thiên Chúa đang đến, thay vì làm chủ những ngọn tháp vốn chỉ được định sẵn để sụp đổ. Với tâm tình của một mục tử và người cha, tôi kêu gọi mọi người hãy từ bỏ việc xây dựng thêm một Tháp Babel khác nữa, và cùng nhau hợp sức để kiến tạo công ích, ngõ hầu nhân loại không bao giờ đánh mất vẻ đẹp của mình, và để thế giới một lần nữa nhận ra rằng trái tim con người chính là nơi Thiên Chúa mong muốn ngự trị.

  • Còn tiếp

From: NguyenNThu

VẬT LỘN VỚI CHÍNH SỰ PHỨC TẠP CỦA BẢN THÂN – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Catherine de Hueck Doherty, người sáng lập Madonna House, đã từng có một cuộc phỏng vấn rất sâu sắc.  Là một nhân vật thiêng liêng nổi tiếng và được kính trọng, bà thẳng thắn thừa nhận rằng con đường của mình không hề dễ dàng, rằng bà cũng có rất nhiều giằng co nội tâm.  Tại sao?  Vì giống như tất cả chúng ta, bà mang một sự phức tạp gần như “bệnh lý.”  Làm người – bà nói – không hề đơn giản. 

Bà mô tả chính mình như thế này (diễn lại ý): 

“Trong tôi,” bà nói, “dường như có ba con người.  Có một người tôi gọi là ‘Nữ Bá tước.’  ‘Nữ Bá tước’ là người thiêng liêng, hiệu quả, sống cầu nguyện và khổ chế.  Đó là con người đạo đức trong tôi.  Chính người này đã lập nên một cộng đoàn tu trì, viết sách thiêng liêng, thách đố người khác, và hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa và người nghèo.  ‘Nữ Bá tước’ đọc Tin Mừng và cảm thấy thiếu kiên nhẫn với những chuyện trần thế.  Đối với bà, cuộc sống hiện tại phải được hy sinh cho đời sau.

 Nhưng trong tôi cũng có một người khác, tôi gọi là ‘Catherine.’  ‘Catherine’ là người phụ nữ thích những điều đẹp đẽ, xa hoa, tiện nghi và khoái lạc.  Bà muốn tận hưởng sự nhàn rỗi, những bồn tắm dài, quần áo đẹp, trang điểm, thức ăn ngon, và (khi còn kết hôn) từng tận hưởng đời sống vợ chồng lành mạnh.  ‘Catherine’ yêu thích cuộc sống này và không thích hy sinh.  Bà không mấy đạo đức và thường không ưa ‘Nữ Bá tước.’  Hai người này không phải lúc nào cũng hòa hợp.

 Nhưng vẫn còn một con người nữa trong tôi – không phải ‘Catherine,’ cũng không phải ‘Nữ Bá tước.’   Trong tôi còn có một cô bé nằm trên sườn đồi ở Phần Lan, nhìn mây và mơ mộng.  Cô bé này không đặc biệt thích cả ‘Catherine’ lẫn ‘Nữ Bá tước’. … “và khi tôi già đi, tôi cảm thấy mình giống ‘Nữ Bá tước’ hơn, vẫn còn khao khát ‘Catherine,’ nhưng tôi nghĩ con người thật trong tôi có lẽ là cô bé đang mơ mộng trên đồi.”

 Nếu những lời này được nói bởi một người còn đang loay hoay với việc hoán cải căn bản, thì có lẽ không gây ấn tượng mạnh.  Nhưng đây lại là lời của một “người khổng lồ thiêng liêng,” một người đã từ lâu sống đời môn đệ cách nghiêm túc và dấn thân triệt để phục vụ Thiên Chúa và người nghèo. 

Nếu các vị thánh còn giằng co như vậy, thì chúng ta sẽ thế nào? 

Sự thật là: tất cả chúng ta đều phải vật lộn, bởi vì tất cả chúng ta đều phức tạp.  Làm người vốn đã không đơn giản, và còn phức tạp hơn nữa khi ta cố gắng sống vượt lên trên những gì tự nhiên nơi mình.

 Giống như Catherine, trong mỗi chúng ta đều có nhiều “con người.”  Trong ta có một phần có đức tin, muốn sống các Mối Phúc, muốn hòa nhịp với chân lý Tin Mừng.  Trong ta có một vị tử đạo muốn hy sinh vì người khác, một vị thánh muốn phục vụ người nghèo, một “nghệ sĩ luân lý” muốn sống nội tâm sâu sắc. 

Nhưng đồng thời, trong ta cũng có một phần muốn tận hưởng cuộc sống và mọi khoái lạc của nó.  Trong ta có một kẻ hưởng thụ, một người chạy theo cảm giác, một kẻ buông thả, một người duy vật, một kẻ hoài nghi, và một cái tôi ích kỷ.

 Chưa hết, trong mỗi chúng ta còn có một đứa trẻ – vô tư, mơ mộng, nằm nhìn mây trên một sườn đồi nào đó – không hẳn nghiêng về phía “thánh” hay “tội nhân”.

 Vậy con người thật là ai?  Tất cả đều là ta.  Ta vừa là thánh vừa là kẻ tìm khoái lạc, vừa vị tha vừa ích kỷ, vừa tử đạo vừa hưởng thụ, vừa có đức tin vừa hoài nghi, vừa nghệ sĩ luân lý vừa buông thả, vừa trẻ thơ vừa chai sạn.  Và nhiệm vụ của đời sống không phải là tiêu diệt phần này để giữ phần kia, mà là giúp tất cả những phần đó hòa giải với nhau.

 Và bình an – ta biết – không chỉ đơn giản là không có xung đột.  Nó là một phẩm chất tích cực.  Điều gì tạo nên bình an?  Hai điều: hòa hợp và trọn vẹn.

 Hòa hợp: Một giai điệu trở nên êm đẹp khi các nốt nhạc khác nhau được kết nối thành hòa âm.  Có bình an là không còn chói tai, không còn lệch tông.

 Trọn vẹn: Muốn chơi một bản nhạc phức tạp, bạn cần một bàn phím đầy đủ.  Bình an đòi hỏi bạn có đủ “phím” để chơi tất cả những nốt mà cuộc đời yêu cầu.

 Điều này cũng đúng với bản tính con người.  Sự phức tạp của ta không phải là kẻ thù mà là người bạn.  Tất cả những đối nghịch trong ta đòi hỏi một “bàn phím đầy đủ.”  Vì ta vừa là tội nhân vừa là thánh, vừa hưởng thụ vừa hy sinh, vừa người lớn vừa trẻ thơ – ta cần đầy đủ các “phím” để chơi những bản nhạc mà cuộc đời trao cho.

 Bí quyết là đạt tới sự hòa hợp – nơi các phần khác nhau trong đời ta tạo thành một giai điệu.  Nói cách khác, ta phải vượt qua kiểu “gõ loạn” trên bàn phím tạo ra âm thanh hỗn độn.  Đồng thời, ta cũng phải sử dụng trọn vẹn bàn phím để chơi được tất cả những nốt mà cuộc sống đòi hỏi.

 Kinh nghiệm sống đủ lâu sẽ dạy ta điều này: 

Bình an đến khi ta biết sắp xếp tất cả những mảnh phức tạp trong mình thành một bản nhạc đẹp.

Và dĩ nhiên, càng nhiều nốt, bản nhạc càng phong phú – và giai điệu cuối cùng càng sâu sắc.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

BỎ MỘT THẾ GIỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!”.

“Nếu tôi khám phá nơi mình những khát vọng mà không gì trong thế giới này có thể làm thoả mãn, thì lời giải thích hợp lý nhất là: tôi đã được dựng nên cho một quê hương khác!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy, đi theo Chúa Kitô, người môn đệ không chỉ từ bỏ những thứ này thứ kia; họ từ bỏ cả một cách thuộc về thế giới. Tắt một lời: ‘bỏ một thế giới’.

Trong Tin Mừng Marcô, điều Phêrô nhấn mạnh không phải “chúng con theo Thầy”, nhưng là “chúng con đã bỏ mọi sự”. Ông vẫn nghĩ theo logic mất để được, từ bỏ để được đền bù. Nhưng Chúa Giêsu đưa các môn đệ đi xa hơn. Đong đếm hơn thiệt với Trời cao là chưa bước hẳn vào Tin Mừng. Theo Ngài, người môn đệ không chỉ từ bỏ những gì thuộc về thế gian; họ từ bỏ một cấu trúc sở hữu để bước vào một cấu trúc thuộc về. “Đừng sợ Đức Kitô! Ngài không lấy đi điều gì, nhưng trao ban cho bạn tất cả!” – Bênêđictô XVI.

Vì thế, điều Chúa Giêsu hứa không phải một sự bù đắp vật chất cho những gì đã hy sinh, nhưng là một tương quan mới. Người môn đệ bỏ lại một mái nhà, nhưng nhận được nhiều mái nhà; rời một gia đình, nhưng bước vào một đại gia đình. Nước Trời không lấy con người ra khỏi mọi tương quan; Nước Trời chữa lành cách con người sống với nhau. Như vậy, “được gấp trăm” trước hết không phải là có nhiều hơn, nhưng là sống trong một sự hiệp thông rộng lớn hơn. Nói cách khác, theo Chúa Kitô là bước ra khỏi một trật tự cũ của đời sống – ‘bỏ một thế giới’ – để đi vào một thế giới mới của sự thuộc về.

Thánh Phêrô kêu gọi: “Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở!” – bài đọc một. Một khi đã bước vào “đời sống mới của hiệp thông”, người môn đệ không thể tiếp tục sống theo những đam mê và lề thói cũ. Cứ bám mãi vào vùng đất cũ, con người sẽ đánh mất khả năng lớn lên của linh hồn. Sự thánh thiện Kitô giáo không hệ tại ở việc rút khỏi thế gian, nhưng ở khả năng sống khác giữa chính thế gian ấy. Và chính đời sống ấy làm cho “ơn cứu độ Chúa đã biểu dương” – Thánh Vịnh đáp ca – không còn là một ý niệm trừu tượng, nhưng trở thành một thực tại.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là Đấng đã từ bỏ mọi sự trọn vẹn nhất. Ngài từ bỏ vinh quang của Con Một Thiên Chúa để bước vào thân phận giới hạn của con người; từ bỏ quyền lực để sống kiếp tôi tớ; cuối cùng, từ bỏ cả mạng sống mình trên thập giá. Vì thế, theo Chúa Kitô chưa bao giờ là một chọn lựa nửa vời. Có những lúc con người phải bước ra khỏi những gì từng định nghĩa đời mình, để khám phá rằng: điều làm cho con người sống không phải những gì họ nắm giữ, nhưng là Đấng họ thuộc về. Và nhiều khi, muốn bước vào sự sống mới ấy, người môn đệ phải dám ‘bỏ một thế giới’. “Sống là thay đổi; và nên hoàn thiện là đã nhiều lần đổi thay!” – Henry Newman.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa một thế giới luôn chèo kéo để giữ con lại với những sở hữu, cho con biết can đảm từ bỏ những gì không dẫn con đến với Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Anh em nhận được gấp trăm ở đời này cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 10,28-31

28 Khi ấy, ông Phê-rô lên tiếng thưa với Đức Giê-su rằng : “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy !” 29 Đức Giê-su đáp : “Thầy bảo thật anh em : Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, 30 mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con, hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau. 31 Quả thật, nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.”


 

NHÀ KHÔNG MỒ CÔI -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình!”.

Một nhà tâm thần học nhận định: điều giúp một đứa trẻ lớn lên không chỉ là mái nhà, nhưng là sự hiện diện dịu dàng và bảo bọc của một người mẹ.

Kính thưa Anh Chị em,

Dưới chân thập giá, Chúa Giêsu trao Mẹ Maria cho Gioan; và Gioan “rước bà về nhà mình”. Đó không chỉ là cử chỉ cuối cùng của Đức Giêsu, nhưng là giây phút một ngôi nhà mới được khai sinh; để từ nay, nhân loại có một ‘nhà không mồ côi’.

Khi đặt Mẹ Maria dưới chân thập giá đúng vào “giờ” Đức Giêsu được tôn vinh, Gioan không chỉ coi đó là giờ khổ đau, nhưng còn là giờ khai sinh nhân loại mới. Vì thế, khi trao Mẹ cho Gioan, Chúa Giêsu không chỉ lo cho tương lai của Mẹ mình, nhưng còn trao Hội Thánh cho tình mẫu tử của Mẹ. Nếu Eva cũ từng hiện diện bên cây biết lành biết dữ trong ngày nhân loại đánh mất ngôi nhà Địa Đàng – bài đọc một, thì giờ đây, dưới cây thập giá, Eva mới đứng đó để đón nhân loại trở về. Từ cạnh sườn Đấng chịu đóng đinh, Hội Thánh được sinh ra và đã có một người mẹ. “Maria là Mẹ Hội Thánh vì Mẹ là Mẹ Đức Kitô!” – Phaolô VI.

Gioan viết, người môn đệ “rước bà về nhà mình”. Động từ Hy Lạp elaben không chỉ có nghĩa “đưa về”, nhưng còn là “đón nhận”; nghĩa là Maria được trao cho người môn đệ như một gia sản đức tin. Vì thế, Maria không đứng ngoài mầu nhiệm Hội Thánh như một yếu tố đạo đức phụ thêm, nhưng hiện diện ngay nơi căn tính sâu xa của Hội Thánh. Chiều kích Phêrô xây cơ cấu; chiều kích Maria mới làm nên tổ ấm. Hội Thánh được sinh ra dưới chân thập giá và lớn lên trong tình mẫu tử của Mẹ – một ‘nhà không mồ côi’.

Giữa một thế giới ngày càng đông đúc nhưng cũng ngày càng cô độc, con người vẫn khao khát một nơi để thuộc về. Hội Thánh không chỉ là một cơ cấu tôn giáo, nhưng là “Giêrusalem mới”, là ngôi nhà nơi con người thôi lưu lạc và học lại cách thuộc về nhau; và muôn dân sẽ hát lên “Thành của Thiên Chúa hỡi, thiên hạ nói bao điều hiển hách về thành!” – Thánh Vịnh đáp ca. Giữa thành thánh ấy, Maria hiện diện như người mẹ giữ cho Hội Thánh mang hơi ấm của một mái nhà. “Chiều kích Maria của Hội Thánh có trước chiều kích Phêrô!” – Hans Urs von Balthasar.

Anh Chị em,

“Người môn đệ rước bà về nhà mình!” không chỉ là việc dành cho Đức Maria một chỗ ở, nhưng là mở lòng để đón Mẹ vào đời sống đức tin. Có những Kitô hữu yêu mến Hội Thánh nhưng sống đức tin như những đứa con thiếu hơi ấm của một mái nhà; họ giữ đạo nhưng lòng vẫn lưu lạc. Một đức tin chỉ còn luật lệ mà thiếu tình mẫu tử rất dễ biến Hội Thánh thành cơ chế thay vì mái nhà. Vì thế, rước Mẹ về nhà cũng là để học nơi Mẹ cách ở lại dưới chân thập giá, cách tin giữa đau khổ và cách làm cho đời mình trở thành một ngôi nhà có chỗ cho Thiên Chúa và cho nhau. Chỉ khi ấy, con người mới thôi sống như những tâm hồn không có mái nhà cho linh hồn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Mẹ Maria, xin làm cho lòng con trở thành một mái nhà có hơi ấm của Mẹ và Tin Mừng, nơi Thiên Chúa được đón nhận và con người được yêu thương!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************

Lời Chúa Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh, Thứ Hai sau lễ Hiện Xuống

Đây là con của Bà. Đây là mẹ của anh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 19,25-27

25 Khi ấy, đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. 26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng : “Thưa Bà, đây là con của Bà.” 27 Rồi Người nói với môn đệ : “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.


 

Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (Ga 20:22) – Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội Công Giáo mừng đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, hay được gọi là ngày Sinh Nhật của Giáo hội. Chúc mừng Sinh Nhật nhé. Nhớ nhau trong lời cầu nguyện và cho cả thế giới nhé

Cha Vương

CN: 24/05/2026   (n5-6-22)

TIN MỪNG: Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (Ga 20:22)

SUY NIỆM:  Trước khi về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu đã sẽ xin Chúa Cha gửi một Đấng Bảo Trợ khác là Chúa Thánh Thần đến ở với ta mãi mãi. Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa Ngôi Ba, Ngài cũng là Thiên Chúa như ngôi Cha và Ngôi Con. Ngài bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra. Ngài là Đấng Phù Trợ và là Đấng ban sự sống. Thánh Gioan Maria Vianê có viết, “Người yêu mến Chúa Thánh Thần sẽ cảm nghiệm mọi thứ vui sướng trong mình. Thánh Thần dẫn chúng ta giống như một người mẹ dẫn dắt đứa con nhỏ, hoặc giống như một người sáng dẫn một người mù. Những người yêu mến Chúa Thánh Thần sẽ thấy việc cầu nguyện đầy hoan lạc đến nỗi họ không thấy có đủ giờ để cầu nguyện.” Nếu bạn muốn có bình an và hạnh phúc thật trong cuộc sống, bạn cần áp dụng nguyên tắc “xem quả để biết cây” vào trong công việc hằng ngày. Bạn hãy lấy 12 Hoa Quả Chúa Thánh Thần (Sách Giáo Lý Công Giáo, #1832) làm quy tắc chung để hướng dẫn tư tưởng, hành động, và lời nói của mình. Đây là 12 Hoa Quả Chúa Thánh Thần:

1/ Bác Ái—Giúp ta làm mọi việc vì mến Chúa.

2/ Hoan Lạc—Giúp ta nhận biết lòng nhân từ của Chúa.

3/ Bình An—Kết quả của niềm vui, làm cho ta được thư thái.

4/ Kiên Nhẫn—Giúp ta chịu đựng những nghịch cảnh ở đời 

5/ Quảng Đại—Quảng đại là sự rộng lượng cho đi hay hiến tặng những gì mình có (sở hữu) cách bất vụ lợi, không so đo ích kỷ, không toan tính thiệt hơn, trái lại chỉ mưu cầu lợi ích cho tha nhân.

6/ Nhân Từ—Thôi thúc ta làm sự lành cho mọi người.

7/ Từ Tâm—Phát sinh do lòng nhân từ trong lời nói và trong việc làm.

8/ Khoan Dung—Khoan Dung—là thái độ của người có quyền, sẵn sàng làm ngơ hoặc tỏ lòng thương xót và tha thứ cho những người phạm pháp, là sự tha thứ khoan hồng của người trên đối với người, sự quên đi lầm lỗi và thông cảm của đồng bạn với nhau, là không chấp nhất, không trả thù…, là yêu thương tôn trọng người yếu thế hơn,… là sống luật bác ái của Chúa một cách triệt để. 

9/ Trung Tín—Giúp ta trung thành, thẳng thắn trong những giao tế với mọi người.

10/ Khiêm Nhu—Trong tự điển tiếng Việt định nghĩa là: 1. tính khiêm tốn, tính nhún nhường, tính nhũn nhặn, 2. tính thùy mị, tính nhu mì, tính e lệ, 3. tính vừa phải, tính phải chăng, tính bình thường, tính giản dị. Nhưng theo ý nghĩa truyền thống và thần học, khiêm nhu mang tính yếu đuối, nhưng người khiêm nhu chiến thắng cơn tức giận của mình, biết kiềm chế, biết điều chỉnh và điều khiển năng lực để làm điều tốt hơn điều xấu.

11/ Tiết Độ—Chế ngự những dục vọng.

12/ Khiết Tịnh—Giúp canh phòng ngũ quan để chúng không trở nên dịp tội cho ta; giúp ta coi thân xác mình và thân xác người khác như đền thờ Chúa Thánh Thần.

Cây cuộc sống của bạn ngay bây giờ đang sinh ra những trái gì vậy?

LẮNG NGHE: Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an nhờ đức tin, để nhờ quyền năng của Thánh Thần, anh em được tràn trề hy vọng. (Rm 15:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin gửi thần khí Chúa vào tâm hồn con để con sinh ra những hoa trái thơm lành trong cuộc sống và cho mọi người con gặp gỡ. 

THỰC HÀNH: Tập đếm hoa quả Chúa Thánh Thần mỗi ngày để sống tốt đẹp hơn.

From: Do Dzung

************************

Thần Khí Chúa – Lệ Hằng

CHIẾC HUY CHƯƠNG PHÉP LẠ VÀ SỰ THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI CỦA MỘT KẺ HOÀI NGHI

Vào tháng 1 năm 1842, Alphonse Ratisbonne đến Rome. Khi đó, anh là một ngân hàng trẻ người Pháp 27 tuổi—giàu có, tự tin và công khai thù nghịch với Giáo hội Công giáo. Anh chẳng mấy bận tâm đến đức tin, đặc biệt là sau khi người anh trai ruột khiến cả gia đình sốc nặng bằng việc cải đạo và đi tu làm linh mục.

Nhưng trong chuyến dừng chân tại Rome, anh đã đồng ý—gần như chỉ để làm trò đùa—trước một lời thách đố đơn giản từ Nam tước de Bussières: Đeo chiếc Huy chương Phép Lạ và đọc kinh Hãy Nhớ (Memorare) mỗi ngày.

Và rồi, ngày 20 tháng 1 năm ấy, mọi thứ đã thay đổi hoàn toàn.

Trong lúc một mình chờ đợi tại Nhà thờ Sant’Andrea delle Fratte, một luồng ánh sáng rực rỡ đột ngột tràn ngập khắp nguyện đường. Giữa vầng hào quang ấy, anh đã nhìn thấy Mẹ: Đức Trinh Nữ Maria, hiện ra chính xác như hình ảnh trên chiếc Huy chương Phép Lạ. Không một lời nào được thốt ra, nhưng sự hiện diện của Mẹ là quá đủ.

Trong tích tắc, mọi sự hoài nghi trong anh hoàn toàn sụp đổ. Anh quỳ sụp xuống, run rẩy và khóc nức nở, thốt lên rằng mình đã được nhìn thấy Mẹ.

Chỉ vài ngày sau, anh chịu phép rửa tội và nhận tên thánh là Marie-Alphonse. Anh từ bỏ sự giàu sang, hủy bỏ giao ước hôn hôn phối, và cuối cùng trở thành một linh mục Công giáo. Cuộc đời anh bước sang một trang hoàn toàn mới, sau này anh đã đồng sáng lập Dòng Đức Bà Sion và cống hiến hết mình cho công cuộc truyền giáo.

Một người bước vào nhà thờ như một kẻ hoài nghi, nhưng khi bước ra lại là một nhân chứng.

Một lời nhắc nhở rằng: Ân sủng của Chúa có thể xuyên qua cả những lòng chai đá nhất chỉ trong một khoảnh khắc.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

THẾ GIỚI MỞ, TÂM HỒN KHÓA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín!”.

Chưa bao giờ thế giới “mở” như hôm nay: “AI”, công nghệ và kết nối khiến mọi khoảng cách gần như biến mất. Nhưng nghịch lý thay, càng mở ra với thế giới bên ngoài, con người càng khép kín bên trong.

Kính thưa Anh Chị em,

Một chi tiết rất Gioan trong Tin Mừng lễ Hiện Xuống đáng để chúng ta suy nghĩ: “các cửa đều đóng kín”. Đó không chỉ là cánh cửa của căn phòng, nhưng còn là cánh cửa của sợ hãi, thất vọng và cô độc. Không chỉ ngày trước, nhưng cả hôm nay nữa. Vậy mà Chúa Phục Sinh vẫn bước vào chính nơi đóng kín ấy – ‘thế giới mở, tâm hồn khoá’.

Lý do Gioan tiết lộ khi cửa phải khoá: “các ông sợ”. Nỗi sợ ấy không chỉ đến từ người Do Thái, nhưng còn từ sự vỡ vụn của những trái tim: họ từng bỏ chạy, từng chối Thầy, từng chứng kiến mọi hy vọng của mình bị đóng đinh. Vì thế, “cửa đóng kín” không đơn thuần là một chi tiết lịch sử, nhưng là hình ảnh của một con tim bị thương đang tự nhốt mình lại. Có lẽ đó cũng là điều đang xảy ra nơi chúng ta hôm nay. “Nỗi cô độc của con người bắt nguồn từ nỗi sợ rằng, nếu người khác biết hết con người thật của mình, chúng ta sẽ không còn được yêu nữa!” – Henri Nouwen.

Điều đáng chú ý là Chúa Phục Sinh không phá cửa để đi vào. Gioan cố ý giữ lại chi tiết ấy để cho thấy: quyền năng phục sinh không huỷ bỏ con người, nhưng đi xuyên qua những gì đang đóng kín nơi họ. Sau đó, Ngài “thổi hơi” trên các môn đệ – động từ “enephysēsen” gợi lại hơi thở của Thiên Chúa trong trình thuật tạo dựng Ađam. Hiện Xuống không chỉ là một an ủi, nhưng là một cuộc tạo dựng mới. Thánh Thần không đơn giản giúp con người “cảm thấy khá hơn”, nhưng làm họ sống lại từ bên trong.

Sống lại từ bên trong là không còn để mình bị nhốt trong nỗi sợ. Thánh Thần không cất các môn đệ khỏi thế giới, nhưng biến những kẻ từng im lặng và co cụm thành những con người có thể bước ra để “loan báo những kỳ công của Thiên Chúa” – bài đọc một. Điều đã chết nơi họ không phải thân xác, nhưng là lòng can đảm và khả năng yêu thương. Chính nơi những tâm hồn khoá kín ấy, Thánh Thần bắt đầu tái tạo. Thiên Chúa không phá cửa lòng, Ngài chờ một vết rách của hoán cải để bước vào. “Nhờ Thánh Thần, con người được phục hồi về địa đàng!” – Basiliô Cả.

Anh Chị em,

Chưa bao giờ thế giới năng động như hôm nay, cũng chưa bao giờ con người vong thân như hôm nay. Nhiều người vẫn sống, làm việc, kết nối và cười nói mỗi ngày, nhưng đang chết dần trong sợ hãi, cô đơn và chai lì. Vì thế, phép lạ lớn nhất của Hiện Xuống không phải là nói được nhiều thứ tiếng, nhưng là một con tim tưởng đã chết lại có thể yêu, tin và có thể bước ra khỏi chính mình. Có lẽ, giữa một thời đại ‘thế giới mở, tâm hồn khoá’, nhân loại vẫn đang thiếu một hơi thở của Thánh Thần cho linh hồn mình.

Sống mà không có Thánh Thần chỉ là sự tồn tại của những xác chết biết cười!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Thánh Thần, xin mở những cánh cửa khoá phía trong của lòng con; bẻ gãy các chấn song và đưa con ra khỏi mọi chốn tù đày mà không còn luyến tiếc!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 20,19-23

19 Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em !” 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”


 

Hãy tạ ơn CHÚA, vì Chúa nhân từ: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (1 Sb 16:34)- Cha Vương

Cuối tuần Memorial Day tràn đầy hồng ân của Thiên Chúa nhé. Chúa thương bạn rất nhiều đó, xin đừng lãng quên… mà ngoảnh mặt đi…

Cha Vương

Thứ 7: 23/05/2026.     (n27-23)

TIN MỪNG: Hãy tạ ơn CHÚA, vì Chúa nhân từ: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (1 Sb 16:34)

HOA QUẢ THỨ 5: Nhân Hậu—là một nhân đức hiền từ, dễ tính, hấp dẫn người khác nhờ lời nói nhỏ nhẹ, cung cách bao dung, nó bắt nguồn từ tâm hồn đạo đức, từ nếp sống chính trực và được thể hiện qua hành động yêu thương, quan tâm, âu yếm đối với tha nhân.

SUY NIỆM: Trong đời sống xã hội, lòng nhân hậu được bộc lộ qua lời nói: nó diễn tả mối quan tâm và kính trọng đối với tha nhân. Qua lời nói, con người bộc lộ chính bản thân của mình. Lời nói không chỉ chuyển tải một sứ điệp mà nhất là chuyển tải bản thân của sứ giả. Điều này có thể thấy rõ trong “Lời của Thiên Chúa”, tức là Đức Kitô. Theo thánh Gioan, Ngôi Lời chuyển đạt cho chúng ta những chuyện thân mật của Chúa, tình yêu giữa Ba ngôi. Lời ấy là chân lý và tình yêu: Đức Kitô không chỉ nói đến tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, mà cả tình yêu của Người đối với Thiên Chúa.

Ngoài ra, sách Tin mừng còn mô tả lời nhân hậu của Đức Giêsu, khi đón tiếp người tội lỗi (Lc 15:1-2), những người bệnh tật (Lc 18:35-43), các trẻ nhỏ (Mc 10:13-36). Những đối thủ của Người, tuy bất đồng ý kiến trong cách giải thích đạo lý, nhưng nhìn nhận rằng lời lẽ của Người có sức thu  hút đám đông. Đức nhân hậu biết sử dụng lời lẽ hòa nhã để tiếp xúc với tha nhân. Hẳn nhiên, kẻ nhân hậu sẽ không dùng lưỡi để nói xấu người khác hay để gây ra tranh cãi (Tt 3:2). Họ cũng biết sử dụng lời lẽ cách khôn khéo để phục vụ Chúa. Họ biết lắng nghe người khác, tuy không ngại phát biểu những điều xác tín của bản thân. Đôi khi vì trung thành với Sự Thật, mà họ sẵn sàng để cho người khác sửa sai mình và cũng không thiếu lần cảm thấy mình cô đơn, vì không được người khác hiểu biết.  Ước mong nhờ sự tác động của Chúa Thánh Thần lòng nhân hậu của bạn được bộc lộ ra bên ngoài, qua nét mặt hồn nhiên, cởi mở với mọi người, tế nhị trong cách giao tiếp hàng ngày.

LẮNG NGHE: Nhưng người cha nói với anh ta: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.” (Lc 15:31-32)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin mở lòng trí con để con đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương thực sự bằng việc làm, xin cho lời nói và việc làm của con được cắm rễ trong lòng nhân hậu của Chúa để mọi người nhận ra con là môn đệ của Chúa.

THỰC HÀNH: Trong mọi tương quan của ngày hôm nay, mời bạn hãy tự hỏi chính mình: “Chúa Giêsu sẽ làm gì trong trường hợp này?” Rồi tự thay đổi lời ăn tiếng nói của mình để tình huống trở nên tốt đẹp hơn.

From: Do Dzung

*****************************************

Bài ca lòng nhân hậu -tinmung.net

NÀO AI CHỨA NỔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra!”.

“Hãy coi Kinh Thánh như một tấm bản đồ. Nó chỉ đường cho bạn, nhưng bản đồ không phải là hành trình. Muốn thật sự biết một vùng đất, bạn phải lên đường, ở lại và khát khao nó!” – Charles Swindoll.

Kính thưa Anh Chị em,

“Bản đồ không phải là hành trình!”. Gioan kết thúc Tin Mừng của mình bằng một hình ảnh gần như “quá đáng”: nếu viết hết mọi điều về Chúa Giêsu, cả thế giới cũng không chứa nổi sách. Nói cách khác, ngôn ngữ nhân loại chỉ là một chiếc áo quá chật cho mầu nhiệm Đức Kitô – Đấng ‘nào ai chứa nổi’.

Điều Gioan muốn nói không phải là các Tin Mừng thiếu sót, nhưng là mầu nhiệm Đức Kitô luôn vượt quá khả năng chứa đựng của ngôn ngữ. Các nhà chú giải gọi đây là một “hyperbole Gioan” – một kiểu cường điệu thần học Gioan – nhằm mở ra cảm thức kinh ngạc trước sự vô tận của Đức Kitô. Vì thế, Tin Mừng không phải là một “hồ sơ đầy đủ” về Ngài, nhưng là cánh cửa dẫn con người bước vào tương quan sống động với Thiên Chúa. Đó là lý do càng gần Đức Kitô, con người càng thấy mình chưa biết Ngài. Kẻ tưởng mình đã hiểu thấu Thiên Chúa thật ra chỉ đang thờ lạy một ảo ảnh do chính mình vẽ ra. “Nếu bạn hiểu được Ngài, thì đó không còn là Thiên Chúa!” – Augustinô.

Nhưng Gioan không muốn người đọc chỉ đứng nhìn “tấm bản đồ” – thứ có thể chính xác tuyệt đối nhưng không bao giờ thay thế được hành trình. Người ta có thể biết rất nhiều về Chúa Giêsu qua Kinh Thánh, thần học hay sách vở mà vẫn chưa thật sự gặp Ngài. Vì thế, Tin Mừng không nhằm nhốt Đức Kitô trong chữ nghĩa, nhưng dẫn con người đến một cơn khát gặp Ngài qua cầu nguyện, Thánh Thể, đau khổ, tha nhân và đời sống thường ngày.

Chính cơn “khát” ấy đã đẩy Phaolô đi đến tận cùng hành trình của mình. Bị giam lỏng tại Rôma, ông vẫn tiếp đón mọi người và không ngừng rao giảng – bài đọc một. Phaolô hiểu rằng, Đức Kitô không phải một ý tưởng để hiểu một lần cho xong, nhưng là một Đấng để sống, để tìm kiếm, thuộc về và loan báo. Nhờ đó, muôn dân “được chiêm ngưỡng thánh nhan” – Thánh Vịnh đáp ca. Và càng chiêm ngưỡng Ngài, con người càng khao khát Ngài hơn. “Chiêm ngắm đích thực Đấng ta tìm kiếm hệ tại ở chỗ không bao giờ ngừng khao khát Ngài!” – Grêgôriô Nyssa.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là dung mạo hữu hình của một Chúa Cha, Đấng cửu trùng không chứa nổi. Ngài đến giữa thế gian không để khép Thiên Chúa vào những trang sách hay khái niệm, nhưng để mở con người ra trước một mầu nhiệm vô tận. Vì thế, theo Đức Kitô không phải là nghĩ mình đã hiểu hết Thiên Chúa, nhưng là mỗi ngày bước sâu hơn vào tương quan với Ngài. Có những người biết rất nhiều về Chúa mà lòng vẫn khô cạn; nhưng cũng có những tâm hồn âm thầm cầu nguyện, yêu thương và đau khổ với Chúa mà lại chạm rất gần trái tim Thiên Chúa. Bản đồ có thể vẽ đúng con đường, nhưng chỉ bàn chân rớm máu mới chạm tới đích đến. Có lẽ, chỉ những ai thật sự khao khát mới bắt đầu bước vào Đấng ‘nào ai chứa nổi’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giữ lòng con đói khát Chúa; cho con biết kinh ngạc khi nhận ra rằng, Chúa còn khao khát con hơn cả con khao khát Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần VII Phục Sinh

Chính môn đệ này đã viết ra những điều đó và lời chứng của người ấy là xác thực.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 21,20-25

20 Khi ấy, ông Phê-rô quay lại, thì thấy người môn đệ Đức Giê-su thương mến đi theo sau ; ông này là người đã nghiêng mình vào ngực Đức Giê-su trong bữa ăn tối và hỏi : “Thưa Thầy, ai là kẻ nộp Thầy ?” 21 Vậy khi thấy người đó, ông Phê-rô nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, còn anh này thì sao ?” 22 Đức Giê-su đáp : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh ? Phần anh, hãy theo Thầy.” 23 Do đó, mới có tiếng đồn giữa anh em là môn đệ ấy sẽ không chết. Nhưng Đức Giê-su đã không nói với ông Phê-rô là : “Anh ấy sẽ không chết”, mà chỉ nói : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh ?”

24 Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực.

25 Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ : cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.


 

BÌNH YÊN SAU GIÔNG BÃO – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

 BÌNH YÊN SAU GIÔNG BÃO

Bình yên không phải là cuộc sống phẳng lặng, không phải là những ngày không có chuyện buồn, không có mất mát, không có va chạm, không có hiểu lầm, không có nước mắt. Nếu bình yên chỉ là khi mọi sự đều theo ý mình, thì có lẽ cả đời này chẳng mấy ai thật sự bình yên. Vì cuộc đời vốn không phải mặt hồ không gợn sóng. Cuộc đời có khi là một dòng sông đầy đá ngầm, có khi là biển lớn nổi gió, có khi là bầu trời đang nắng bỗng kéo mây đen, có khi là một buổi chiều rất bình thường nhưng lòng người lại bất chợt giông bão.

Có những ngày ta mệt không phải vì làm quá nhiều, mà vì đã chịu đựng quá lâu. Có những nụ cười trên môi nhưng bên trong là cả một vùng thương tích. Có những người vẫn đi làm, vẫn trả lời tin nhắn, vẫn hỏi thăm người khác, vẫn chu toàn bổn phận, nhưng thật ra trong lòng đã có biết bao lần muốn buông xuống tất cả. Người ngoài nhìn vào tưởng ta ổn, nhưng chỉ mình ta biết, để đứng vững đến hôm nay, mình đã phải đi qua bao nhiêu đêm dài không ngủ, bao nhiêu lần tự lau nước mắt, bao nhiêu lần tự nhủ: “Cố thêm một chút nữa thôi.”

Bình yên thật sự không phải là không có bão. Bình yên thật sự là sau khi bão đi qua, lòng ta không còn tan tác như trước nữa. Là khi ta vẫn nhớ những điều đã làm mình đau, nhưng không còn để chúng điều khiển mình. Là khi ta vẫn gặp những người từng khiến mình tổn thương, nhưng trái tim không còn run lên vì oán hận. Là khi ta nhìn lại một đoạn đời đầy nước mắt mà không còn trách trời, trách người, trách mình, nhưng lặng lẽ hiểu rằng: nhờ những ngày ấy, ta đã lớn hơn, sâu hơn, trầm hơn và biết thương mình hơn.

Ai cũng thích bình yên, nhưng không phải ai cũng hiểu cái giá của bình yên. Có những bình yên phải đổi bằng rất nhiều lần im lặng. Có những bình yên phải đổi bằng quyết định bước ra khỏi một mối quan hệ làm mình kiệt sức. Có những bình yên phải đổi bằng việc thôi giải thích với những người không muốn hiểu mình. Có những bình yên phải đổi bằng nước mắt của đêm nay, để sáng mai đủ can đảm mỉm cười. Và có những bình yên chỉ đến sau khi ta học được bài học khó nhất: không phải chuyện gì mình cũng kiểm soát được, không phải ai mình thương cũng sẽ thương mình đúng cách, không phải điều mình cố giữ cũng sẽ ở lại, và không phải mất mát nào cũng là dấu chấm hết.

Có khi Chúa để giông bão đi ngang đời ta không phải để nhận chìm ta, mà để dạy ta nhận ra đâu là nền đá, đâu là cát lún. Khi trời yên biển lặng, ai cũng có thể nói mình mạnh mẽ. Nhưng khi mất mát ập đến, khi bị hiểu lầm, khi bị quay lưng, khi lời cầu nguyện tưởng như không được đáp lại, khi những gì mình xây rất lâu bỗng sụp đổ, lúc đó ta mới biết lòng mình đang tựa vào đâu. Tựa vào tiền bạc thì khi tiền bạc lung lay, ta hoảng sợ. Tựa vào danh tiếng thì khi người đời đổi ý, ta chao đảo. Tựa vào người khác thì khi họ rời đi, ta trống rỗng. Nhưng nếu tựa vào Chúa, dù vẫn đau, ta không tuyệt vọng; dù vẫn khóc, ta không mất hướng; dù vẫn ngã, ta vẫn có thể đứng lên.

Bình yên của người có đức tin không phải là thứ bình yên rẻ tiền, kiểu “không sao đâu” trong khi mọi thứ rõ ràng đang rất đau. Bình yên của người có đức tin là dám nhìn thẳng vào sự thật mà không bị sự thật ấy nuốt chửng. Là biết mình yếu nhưng không buông xuôi. Là biết đời có những điều không như ý nhưng vẫn tin rằng Thiên Chúa không bỏ rơi mình. Là biết có những cánh cửa đóng lại không phải vì Chúa ghét mình, mà vì phía sau cánh cửa ấy có thể là điều không còn dành cho mình nữa. Là biết có những người rời khỏi đời mình không phải để mình cô đơn, mà để mình học cách trở về với chính mình và với Chúa sâu hơn.

Cứ mỉm cười rồi mọi chuyện sẽ qua. Nhưng nụ cười ấy không phải là giả vờ vui. Không phải là che giấu vết thương để người khác khỏi hỏi. Không phải là ép mình mạnh mẽ trong khi lòng đang vỡ. Nụ cười ấy là một lời tuyên xưng âm thầm rằng: “Tôi vẫn còn ở đây. Tôi đã đau, nhưng tôi chưa thua. Tôi đã khóc, nhưng tôi chưa mất hy vọng. Tôi đã đi qua những ngày tối, nhưng tôi vẫn tin bình minh sẽ đến.” Có những nụ cười đẹp nhất không phải vì đời dễ dàng, mà vì người mỉm cười đã từng đi qua rất nhiều điều không dễ dàng.

Thật ra, mọi chuyện rồi sẽ qua. Nỗi buồn nào rồi cũng nhạt màu. Vết thương nào rồi cũng lên da non. Người từng làm mình đau rồi cũng trở thành một phần ký ức. Những ngày tưởng như không thể vượt qua rồi cũng sẽ nằm lại phía sau. Điều quan trọng không phải là giông bão đã đến dữ dội thế nào, mà là sau giông bão, ta còn giữ được gì trong lòng. Còn giữ được niềm tin không? Còn giữ được lòng nhân hậu không? Còn giữ được sự tử tế không? Còn giữ được khả năng yêu thương không? Nếu sau tất cả, ta vẫn không trở thành người cay nghiệt, thì đó đã là một chiến thắng rất lớn.

Đừng xấu hổ vì mình từng yếu đuối. Đừng trách mình vì từng khóc. Nước mắt không làm ta nhỏ bé. Nước mắt chỉ chứng minh rằng ta đã từng sống thật, thương thật, hy vọng thật và đau thật. Một người chưa từng tổn thương có thể dễ dàng nói lời mạnh mẽ. Nhưng một người đã từng vỡ vụn mà vẫn chọn sống tử tế, chọn tha thứ, chọn bước tiếp, chọn không trả thù đời bằng sự lạnh lùng, người ấy mới thật sự là người mạnh mẽ.

Bình yên đôi khi bắt đầu từ một quyết định rất nhỏ: hôm nay mình không tự hành hạ mình nữa. Hôm nay mình không đọc lại những tin nhắn cũ làm mình đau nữa. Hôm nay mình không cố giải thích với người đã quyết hiểu sai mình nữa. Hôm nay mình không so sánh đời mình với đời người khác nữa. Hôm nay mình không ép trái tim phải lành ngay lập tức nữa. Hôm nay mình cho phép mình thở, cho phép mình nghỉ, cho phép mình chậm lại, cho phép mình được Chúa ôm lấy trong thinh lặng.

Có những chuyện càng giằng co càng đau, càng giữ càng mệt, càng nghĩ càng rối. Thôi thì đặt xuống. Không phải vì mình thua, mà vì lòng mình cần được sống. Không phải vì người kia đúng, mà vì mình không muốn tiếp tục uống độc dược của oán hận. Không phải vì quá khứ không quan trọng, mà vì tương lai của mình còn quan trọng hơn. Đặt xuống không phải là quên hết, mà là không để điều đã qua tiếp tục lấy mất hiện tại.

Sau giông bão, cây nào còn đứng được thường là cây đã cắm rễ sâu. Con người cũng vậy. Những ai đã từng đi qua khổ đau mà không đánh mất linh hồn mình, thường có một vẻ đẹp rất lặng. Họ không cần nói nhiều để chứng minh mình mạnh. Họ không cần khoe mình đã vượt qua những gì. Họ chỉ sống chậm hơn, thương sâu hơn, nhìn đời hiền hơn, và biết quý những điều rất nhỏ: một buổi sáng còn được thức dậy, một bữa cơm đơn sơ, một người còn ở bên, một lời cầu nguyện trong thinh lặng, một ngày bình thường không có biến cố. Sau nhiều giông bão, người ta mới hiểu: bình thường cũng là một phép lành.

Vì thế, đừng cầu xin một đời không có bão. Hãy xin một trái tim đủ vững khi bão đến. Đừng cầu xin mọi người đều hiểu mình. Hãy xin một tâm hồn đủ sáng để không đánh mất mình vì những lời hiểu lầm. Đừng cầu xin không bao giờ đau. Hãy xin ơn biết đau mà không tuyệt vọng, biết mất mà không hóa cay đắng, biết bị thương mà vẫn còn khả năng yêu thương.

Rồi một ngày, ta sẽ cảm ơn cả những đoạn đường gồ ghề. Cảm ơn những lần bị từ chối đã dạy ta tự trọng. Cảm ơn những lần mất mát đã dạy ta biết trân quý. Cảm ơn những lần cô đơn đã dạy ta trở về với Chúa. Cảm ơn những lần thất bại đã dạy ta khiêm nhường. Cảm ơn những người rời đi đã dạy ta rằng không phải ai xuất hiện trong đời mình cũng có bổn phận ở lại đến cuối cùng. Cảm ơn cả những cơn bão, vì nhờ chúng, ta mới biết trong mình vẫn còn một sức sống âm thầm mà chính ta cũng không ngờ tới.

Bình yên không phải là cuộc sống phẳng lặng. Bình yên là khi lòng ta đã đi qua những xô lệch mà vẫn tìm lại được trục đứng bên trong. Là khi ta không còn cần đời phải hoàn hảo mới có thể mỉm cười. Là khi ta hiểu rằng hôm nay có thể chưa tốt, nhưng không có nghĩa là mãi mãi sẽ tối. Là khi ta tin rằng sau đêm dài, mặt trời vẫn mọc; sau mùa đông, cây vẫn đâm chồi; sau nước mắt, lòng người vẫn có thể dịu lại.

Vậy nên, cứ mỉm cười. Không phải vì mọi chuyện đã dễ dàng, mà vì Chúa vẫn còn đó. Cứ mỉm cười. Không phải vì lòng không đau, mà vì đau rồi cũng sẽ qua. Cứ mỉm cười. Không phải vì mình mạnh hơn tất cả, mà vì mình không đi qua tất cả một mình. Cứ mỉm cười, vì sau những giông bão dữ dội nhất, điều còn lại không chỉ là những vết sẹo, mà còn là một tâm hồn trưởng thành hơn, sâu sắc hơn, bao dung hơn và bình yên hơn.

Và khi một ngày nào đó nhìn lại, ta sẽ nhận ra: mình đã không chết trong cơn bão ấy. Mình đã được thanh luyện. Mình đã được lớn lên. Mình đã học được cách buông điều cần buông, giữ điều cần giữ, tha thứ điều cần tha thứ, và yêu thương chính mình trong ánh mắt nhân từ của Thiên Chúa.

Bình yên là vậy: không phải không còn giông bão, mà là sau giông bão, ta vẫn còn biết ngước nhìn trời, hít một hơi thật sâu, mỉm cười thật nhẹ và nói với lòng mình: “Ơn Chúa đủ cho con. Mọi chuyện rồi sẽ qua.”

Lm. Anmai, CSsR 


 

BA LẦN CHỐI, BẢY LẦN YÊU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh có yêu mến Thầy không?”.

Năm 1795, Joséphine phải lòng Napoléon; một năm sau, họ thành hôn. Napoléon đắm đuối, còn Joséphine lại công khai phản bội ông với nhiều tình nhân. Lên ngôi hoàng đế, Napoléon vẫn triệu bà vào cung và phong làm hoàng hậu. Tại sao một người phản bội vẫn được yêu? Một học giả trả lời, “Tội lỗi có thể trở thành động lực cho tình yêu!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở ra một nghịch lý đầy hy vọng: chính nơi gãy đổ và tội lỗi sâu nhất của con người, tình yêu vẫn có thể được tái sinh – ‘ba lần chối, bảy lần yêu’.

Con người gãy đổ đó là Phêrô. Điều đáng chú ý là Chúa Giêsu gặp lại ông bên một bếp than hồng. Gioan rất tinh tế khi dùng lại chi tiết này: bên bếp than của dinh thượng tế, Phêrô đã chối Thầy; và giờ đây, cũng bên một bếp than, Đấng Phục Sinh đưa ông về với vết thương lòng. Ngài không hỏi, “Tại sao con phản bội?”; nhưng, “Con có yêu Thầy không?”. Đó là điều kỳ diệu của lòng thương xót: Thiên Chúa không xoá ký ức tội lỗi, Ngài biến chính nơi gãy đổ thành nơi tình yêu tái sinh. “Đừng sợ. Đức Kitô biết điều gì trong lòng người; chỉ mình Ngài biết!” – Gioan Phaolô II.

Gioan còn cho thấy một điều đau đớn hơn. Chúa Giêsu hỏi Phêrô có yêu Ngài không bằng động từ agapaō – tình yêu hiến trao; nhưng Phêrô chỉ dám đáp lại bằng phileō – tình yêu như tình bạn. Sau lần chối Thầy, ông không còn đủ can đảm để hứa hẹn lớn lao. Nhưng Chúa Giêsu đã bước xuống dùng lại thứ tình yêu mong manh ấy khi hỏi lần thứ ba. Đó là một kỳ diệu khác của lòng thương xót: Thiên Chúa gặp con người không nơi họ tưởng mình phải là, nhưng nơi họ đang là.

Không còn là một cuộc tra hỏi, nhưng là một cuộc tạo dựng mới. Ba lần chối đã không khép lại ơn gọi của Phêrô; trái lại, nó cho ông hiểu rằng, ông không thể theo Chúa Giêsu bằng nhiệt thành của ý chí, nhưng bằng lòng thương xót được đón nhận. Có lẽ từ giây phút ấy, Phêrô mới thật sự trở thành đá tảng của Hội Thánh – không vì mạnh mẽ, nhưng vì biết mình yếu đuối mà vẫn được yêu. Đó cũng là kinh nghiệm của mọi Kitô hữu: đôi khi, chỉ sau những đổ vỡ sâu nhất, chúng ta mới bắt đầu yêu mến Thiên Chúa thật sự. Kẻ chưa từng nếm mùi đổ vỡ sẽ không bao giờ hiểu được vị mặn của lòng thương xót! Với Hans Urs von Balthasar, chỉ ai đi qua thương tích của tình yêu mới thật sự học biết yêu.

Anh Chị em,

Đức Kitô Phục Sinh đã tìm lại một Phêrô biết yêu sau gãy đổ. Đó cũng là cách Chúa Phục Sinh bước vào đời sống chúng ta. Có những vết thương khiến con người xấu hổ, những ký ức muốn chôn vùi, những lần cặp bồ với đủ loại hình ngẫu tượng mà chúng ta không muốn quay lại; thế nhưng, Ngài vẫn âm thầm chờ chúng ta bên “bếp than hồng” của đời mỗi người và hỏi, “Con có yêu Thầy không?”. Chỉ khi biết mình từng chối Chúa sâu đến đâu, con người mới có thể yêu Ngài thật đến đó. Chỉ khi biết mình đã từng là một Giuđa, ta mới có thể yêu Chúa bằng trái tim của một Phêrô – ‘ba lần chối, bảy lần yêu’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, sau mỗi lần phản bội, xin dạy con biết yêu Chúa sâu hơn thay vì bỏ chạy xa hơn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần VII Phục Sinh

Hãy chăn dắt chiên của Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 21,15-19

15 Sau khi dùng bữa với các môn đệ tại Biển Hồ Ti-bê-ri-a, Đức Giê-su Phục Sinh hỏi ông Si-môn Phê-rô : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” 16 Người lại hỏi : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” 17 Người hỏi lần thứ ba : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có thương mến Thầy không ?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới lần thứ ba : “Anh có thương mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy. 18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” 19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông : “Hãy theo Thầy.”