RỒI MÙA SẼ ĐẾN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời”.

“Mọi sự đều là một thời kỳ thai nghén, rồi mới đến lúc sinh nở!” – Rainer Maria Rilke.

Kính thưa Anh Chị em,

Không ai có thể đòi mùa gặt khi hạt giống vừa được gieo; cũng không ai mong ngày sinh nở khi thời kỳ thai nghén chưa trọn. Mọi sự đều cần thời gian. Lời Chúa hôm nay cho thấy Thiên Chúa không vội vàng, vì Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.

Và chính ở đó, Chúa Giêsu mặc khải một cái nhìn rất khác về thời gian. Bản Hy Lạp viết synauxanesthai – “cùng lớn lên”. Có những điều chỉ khi lớn lên mới biết mình là gì. Hạt lúa phải đợi đến khi trổ bông, cỏ lùng cũng phải đợi đến lúc kết hạt mới lộ nguyên hình. Chúa Giêsu vì thế không nhìn cánh đồng bằng con mắt của một khoảnh khắc, nhưng bằng cái nhìn của cả một vụ mùa. Con người chỉ nhìn thấy cánh đồng mới mọc; Thiên Chúa đã nhìn thấy mùa gặt. Đầy tớ sợ cỏ lùng; chủ ruộng tin vào lúa. Bởi Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.

Trong cái nhìn của Thiên Chúa, có những điều chỉ đến mùa mới sáng tỏ. Vì thế, Chúa Giêsu không vội phân định. Ngài để thời gian hoàn tất điều mà con mắt con người chưa nhìn thấy. Đến mùa, lúa không cần chứng minh mình là lúa; cỏ lùng cũng không thể tiếp tục giả làm lúa. “Dối trá không thể hoá thành chân lý, cho dù nó có lớn mạnh đến đâu!” – Rabindranath Tagore.

Điều lạ trong dụ ngôn không phải là cỏ lùng, nhưng là sự bình thản của ông chủ. Giữa một cánh đồng đã bị gieo phá, ông không hốt hoảng. Ông hiểu rằng có những việc càng vội càng hỏng, càng nóng lòng càng mất. Chỉ mùa gặt mới có tiếng nói sau cùng. Điều kỳ diệu nhất trong dụ ngôn có lẽ không nằm ở mùa gặt, mà ở khả năng chờ đợi của Thiên Chúa. Chúng ta đo thời gian bằng đồng hồ; Thiên Chúa đếm thời gian bằng hy vọng. Bao lâu còn một hạt lúa có thể trổ bông, bấy lâu Ngài vẫn đợi.

Niềm hy vọng ấy cũng là niềm hy vọng của Giêrêmia. Giữa cảnh đất trời khô cằn và lòng người bội bạc, vị ngôn sứ vẫn không buông lời tuyệt vọng. Ông thú nhận tội lỗi của dân, nhưng đồng thời nài xin Thiên Chúa hành động vì danh Chúa và lòng trung tín của Ngài – bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh không ngừng thưa lên: “Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Với chúng ta, điều làm chúng ta mệt nhiều khi không phải là cỏ lùng, mà là cảm giác chẳng có gì đổi thay. Chúng ta sốt ruột với chính mình, với người khác, thậm chí với cả Thiên Chúa. Đừng bỏ cuộc quá sớm, vì biết bao mùa gặt đã chết ngay trong ngày người ta bỏ cuộc.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là bằng chứng Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ cánh đồng của mình. Khi con người tưởng mọi sự đã kết thúc trên thập giá, Ngài lại khởi đầu một mùa gặt mới bằng biến cố phục sinh. Với Đức Phanxicô, Chúa không mời chúng ta đi tìm cỏ lùng, Ngài mời chúng ta đi chăm lúa. Vì thế, theo Đức Kitô là dám ở lại với hy vọng, vì ‘rồi mùa sẽ đến’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con đừng thất vọng quá sớm về chính mình, về tha nhân, vì mùa của Chúa luôn đến đúng lúc!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XVII Thường Niên, Năm Chẵn:

Như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 13,36-43

36 Khi ấy, Đức Giê-su bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng : “Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe.” 37 Người đáp : “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. 38 Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. 39 Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là quỷ dữ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên sứ. 40 Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. 41 Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, 42 rồi quăng chúng vào lò lửa ; ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng. 43 Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe.”


 

TUỔI GIÀ LÀ MỘT ƠN GỌI, KHÔNG PHẢI LÀ GÁNH NẶNG

Anmai CSsR

Có một sự thật mà con người thường chỉ hiểu khi đã đi qua quá nửa đời mình: tuổi già không phải là phần thừa còn sót lại sau những năm tháng huy hoàng, cũng không phải là căn phòng chật hẹp nơi một người ngồi chờ ngày khép lại cuộc đời. Tuổi già vẫn là một mùa sống, một chặng đường có ý nghĩa, một ơn gọi mà Thiên Chúa trao ban. Nếu tuổi trẻ được mời gọi bước đi, xây dựng, khám phá và cống hiến, thì tuổi già được mời gọi ở lại, gìn giữ, trao truyền và làm chứng. Mỗi tuổi có một vẻ đẹp riêng, mỗi mùa có một sứ mạng riêng. Không thể bắt mùa thu phải rực rỡ như mùa hạ, nhưng cũng không ai có thể phủ nhận vẻ đẹp sâu lắng của những chiếc lá đã đi qua đủ nắng, đủ mưa và đang bình thản trở về với đất.

Thế giới hôm nay tôn thờ tuổi trẻ, sức khỏe, tốc độ và hiệu quả. Người ta quý một người khi người ấy còn làm được nhiều việc, kiếm được nhiều tiền, tạo ra nhiều thành tích, còn có thể đứng ở vị trí quan trọng hay đem lại lợi ích cho người khác. Bởi thế, khi tuổi già đến, khi đôi tay bắt đầu run, bước chân không còn nhanh, trí nhớ đôi lúc lẫn quên, nhiều người bỗng cảm thấy mình trở thành kẻ đứng bên lề. Có người đau không phải chỉ vì bệnh tật, nhưng vì cảm giác mình không còn hữu dụng. Có người buồn không phải vì tóc đã bạc, mà vì con cháu không còn kiên nhẫn ngồi nghe. Có người sống giữa một ngôi nhà đông người nhưng vẫn cô độc, bởi tiếng nói của họ bị xem là chuyện cũ, kinh nghiệm của họ bị coi là lỗi thời, còn sự hiện diện của họ đôi khi bị nhìn như một gánh nặng phải chăm sóc.

Đau hơn nữa là chính người già cũng dễ tin vào cái nhìn ấy. Họ xin lỗi vì phải nhờ con cháu. Họ ngại lên tiếng vì sợ làm phiền. Họ thu mình trong một góc, nghĩ rằng mình ăn thêm một bữa là làm hao tốn gia đình, đi khám thêm một lần là làm con cái vất vả, sống thêm một ngày là khiến người khác thêm nặng gánh. Có những người già chưa chết về thân xác nhưng đã tự xóa mình khỏi đời sống của những người thân. Họ không còn dám ước ao, không dám mong được yêu thương, không dám tin mình vẫn có thể đem lại điều gì tốt đẹp. Đây là một nỗi đau âm thầm mà không loại thuốc nào chữa khỏi, bởi đó là vết thương của một người không còn cảm thấy mình được cần đến.

Nhưng giá trị của một con người chưa bao giờ được đo bằng khả năng sản xuất, sức khỏe hay mức độ hữu dụng. Một em bé chưa làm được gì vẫn được yêu. Một người bệnh không thể lao động vẫn có phẩm giá. Một người già không còn đủ sức phục vụ vẫn là một con người trọn vẹn, vẫn mang hình ảnh Thiên Chúa, vẫn là một câu chuyện thánh thiêng không ai có quyền coi thường. Tình yêu đích thực không chỉ yêu người khác khi họ khỏe mạnh, vui vẻ và có ích. Tình yêu thật được nhận ra rõ nhất khi ta vẫn ở lại với một người trong lúc họ yếu đuối, chậm chạp, lẫn quên và cần được giúp đỡ. Nếu chỉ yêu nhau khi còn trẻ đẹp và thành đạt, đó chưa chắc là tình yêu; có khi chỉ là một cuộc trao đổi lợi ích được phủ lên bằng những lời ngọt ngào.

Tuổi già là ơn gọi trước hết vì đó là lời mời gọi học cách đón nhận. Suốt phần lớn cuộc đời, con người quen cho đi, làm chủ, quyết định và chăm sóc người khác. Người cha từng là trụ cột gia đình, người mẹ từng lo từng bữa ăn, người linh mục từng phục vụ cộng đoàn, người tu sĩ từng gánh nhiều trách nhiệm. Nhưng rồi có một ngày, họ phải để người khác cầm tay mình, dìu mình đi, chuẩn bị thuốc, đưa đi khám và nhắc những điều tưởng như rất nhỏ. Điều ấy không dễ dàng. Nhận sự giúp đỡ đôi khi còn khó hơn cho đi, bởi nó đụng đến lòng tự trọng và cảm giác tự chủ. Tuy nhiên, biết đón nhận với lòng khiêm nhường cũng là một hình thức trao ban. Khi một người già cho phép con cháu chăm sóc mình, người ấy đang dạy chúng bài học về lòng hiếu thảo, sự kiên nhẫn và tình yêu không tính toán.

Tuổi già cũng là ơn gọi thanh luyện con người khỏi ảo tưởng rằng mình có thể làm chủ mọi sự. Khi còn trẻ, ta dễ tin sức khỏe sẽ ở mãi, kế hoạch nào cũng có thể thực hiện, còn tương lai vẫn nằm trong tay mình. Nhưng tuổi già nhắc con người rằng thân xác có giới hạn, thời gian không chờ đợi và đời sống này không phải là quê hương vĩnh viễn. Những nếp nhăn không phải là dấu vết đáng xấu hổ, nhưng là những đường chữ thời gian viết lên khuôn mặt. Mái tóc bạc không chỉ nói về sự tàn phai, mà còn kể lại biết bao ngày tháng đã được sống, biết bao giông bão đã được vượt qua, biết bao người đã được yêu thương. Có những nếp nhăn được tạo nên bởi nước mắt, nhưng cũng có những nếp nhăn được sinh ra từ những nụ cười. Mỗi dấu vết ấy là một phần lịch sử mà không một lớp son phấn nào có thể thay thế.

Tuổi già là ơn gọi trao truyền ký ức. Một gia đình không có người già giống như một ngôi nhà bị cắt mất gốc rễ. Người trẻ biết mình đang đi đâu khi họ biết mình từ đâu đến. Những câu chuyện ông bà kể, những phong tục gia đình, những bài học về thời khó khăn, những kinh nghiệm của thất bại và lòng trung tín chính là gia sản quý giá hơn nhiều của cải. Tiếc rằng nhiều gia đình hôm nay có đầy đủ tiện nghi nhưng lại nghèo ký ức. Con cháu sống cùng ông bà nhưng không biết ông bà đã trải qua những gì. Mỗi người cầm một chiếc điện thoại, ở trong cùng một căn phòng nhưng thuộc về những thế giới khác nhau. Đến khi ông bà mất đi, người ta mới tiếc rằng đã không hỏi thêm một câu, không ngồi lâu hơn một chút, không ghi lại những chuyện tưởng bình thường nhưng rồi trở thành điều không thể tìm lại.

Người già không chỉ trao lại những câu chuyện đẹp, nhưng còn có thể trao lại những bài học được trả giá bằng nước mắt. Họ đã từng chọn sai, từng thất bại, từng làm người khác tổn thương và từng được thứ tha. Nếu có đủ khiêm tốn để nhìn lại, tuổi già trở thành mùa của sự khôn ngoan. Khôn ngoan không phải là chưa từng sai, nhưng là biết rút ra ánh sáng từ những lầm lạc. Một người già dám nói với con cháu rằng: “Ngày trước ông đã sai ở chỗ này”, “Bà đã từng quá nóng giận”, “Cha đã có lúc bỏ quên gia đình vì công việc”, thì những lời ấy có sức giáo dục hơn nhiều bài giảng. Người trẻ không cần những bậc cao niên tỏ ra hoàn hảo; họ cần những người dám thành thật về cuộc đời mình để giúp thế hệ sau bớt đi vào những con đường đau đớn đã từng trải qua.

Tuổi già còn là ơn gọi cầu nguyện. Khi đôi chân không còn đi được xa, đôi tay không còn làm được nhiều việc, người già vẫn có thể trở thành cột trụ âm thầm bằng lời cầu nguyện. Có những người mẹ già mỗi ngày chỉ ngồi bên cửa sổ lần chuỗi Mân Côi, nhưng chính lời kinh của họ đang nâng đỡ con cháu giữa những cuộc chiến mà họ không hề biết. Có những người cha già không còn đủ sức làm việc, nhưng mỗi sáng vẫn gọi tên từng đứa con trước mặt Chúa. Có những linh mục cao niên không còn đứng giảng trên tòa, nhưng sự trung thành trong những giờ cầu nguyện âm thầm vẫn là một bài giảng không lời cho cộng đoàn. Thế giới có thể không nhìn thấy lời cầu nguyện, nhưng Thiên Chúa thấy. Người đời có thể cho rằng người già không còn đóng góp, nhưng có thể chính những lời khẩn cầu của họ đang giữ cho một gia đình khỏi tan vỡ, một người con khỏi tuyệt vọng và một cộng đoàn khỏi lạc đường.

Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa không bao giờ loại bỏ người già khỏi chương trình của Người. Ông Áp-ra-ham được gọi lên đường khi tuổi đời đã cao. Ông Mô-sê được trao sứ mạng giải thoát dân khi đã đi qua phần lớn cuộc đời. Ông Si-mê-on và bà An-na, giữa tuổi già và đợi chờ, đã nhận ra Hài Nhi Giê-su trong Đền Thờ, trong khi nhiều người trẻ khỏe hơn lại không nhận ra. Thiên Chúa không nhìn tuổi tác theo cách con người thường nhìn. Người không hỏi một người còn chạy nhanh đến đâu, nhưng trái tim người ấy còn sẵn sàng thuộc về Người hay không. Khi con người cho rằng một cuộc đời đã hết thời, Thiên Chúa vẫn có thể mở ra một sứ mạng mới: sứ mạng cầu nguyện, hòa giải, nâng đỡ, làm chứng và chuẩn bị tâm hồn cho cuộc gặp gỡ sau cùng.

Một ơn gọi quan trọng của tuổi già là học cách buông. Buông không có nghĩa là bỏ mặc hay đầu hàng, nhưng là trao lại. Trao lại trách nhiệm cho thế hệ sau, trao lại quyền quyết định, trao lại những công việc mình từng gắn bó. Không ít người già đau khổ vì vẫn muốn kiểm soát mọi sự. Họ không chấp nhận con cháu làm khác mình, không tin người trẻ có thể đảm nhận, không chịu rời khỏi vị trí từng đem lại danh dự. Khi ấy, tuổi già trở thành cay đắng, bởi họ nhìn mọi thay đổi như một sự phản bội. Nhưng người già đẹp nhất là người biết lùi lại mà không oán trách, biết góp ý mà không áp đặt, biết trao kinh nghiệm mà không bắt người khác phải sao chép cuộc đời mình. Họ giống như một cây cổ thụ không giành lấy ánh nắng của những mầm non, nhưng âm thầm che bóng và giữ đất cho những cây nhỏ lớn lên.

Tuổi già cũng là thời gian của hòa giải. Khi những năm tháng còn lại không còn dài, con người được mời gọi thôi nuôi dưỡng những giận hờn cũ. Có những anh em đã không nhìn mặt nhau hàng chục năm chỉ vì một mảnh đất. Có những cha mẹ mang nỗi giận con cái đến tận cuối đời. Có những người già nhớ rất rõ lỗi của người khác nhưng quên rằng chính mình cũng từng cần được tha thứ. Thật buồn khi một người đi qua gần hết cuộc đời mà hành trang mang theo vẫn là oán giận. Không ai biết ngày giờ mình sẽ rời khỏi thế gian, vì thế tuổi già là lời mời gọi thu xếp lại tâm hồn: gọi một cuộc điện thoại, nói một lời xin lỗi, mở lại cánh cửa đã đóng, trả lại cho nhau sự bình an. Một cái nắm tay bên giường bệnh có thể chữa lành điều mà hàng chục năm tranh luận không làm được.

Đối với con cháu, người già không phải là gánh nặng, nhưng là một cơ hội để học làm người. Chăm sóc cha mẹ già có thể khiến ta mất thời gian, mất sức, phải thay đổi kế hoạch và chịu đựng nhiều bất tiện. Có những lúc người già khó tính, lặp lại một câu chuyện nhiều lần, dễ tủi thân, hay trách móc hoặc quên trước quên sau. Nhưng hãy nhớ rằng ngày ta còn nhỏ, cha mẹ cũng từng thức trắng vì ta, nhẫn nại trả lời những câu hỏi lặp đi lặp lại, bón từng thìa cơm và dọn dẹp những điều ta làm bẩn. Hôm nay, khi cha mẹ yếu đi, vòng đời chỉ đang quay trở lại. Điều họ cần không chỉ là tiền bạc hay thuốc men, mà còn là cảm giác mình vẫn thuộc về gia đình, vẫn được lắng nghe, vẫn được tôn trọng.

Đừng để người già phải sống bằng lòng thương hại. Họ cần tình thương, nhưng không muốn bị coi như một món đồ dễ vỡ. Hãy để họ được tham gia vào những quyết định phù hợp, được làm những việc họ còn có thể làm, được nói lên suy nghĩ và được giữ phẩm giá. Đừng nói trước mặt họ như thể họ không hiện diện. Đừng cười khi họ lẫn quên. Đừng cáu gắt khi họ chậm chạp. Một ngày nào đó, chính ta cũng có thể bước chậm như thế, hỏi lại một câu như thế, cần một bàn tay dìu đỡ như thế. Cách ta đối xử với người già hôm nay cũng chính là bài học mà con cái đang học để đối xử với ta ngày mai.

Trong cộng đoàn và xã hội, người cao tuổi không nên bị đẩy ra ngoài lề. Họ không chỉ là đối tượng được chăm sóc, nhưng còn là chủ thể có thể đóng góp. Có người không còn đủ sức làm việc nặng nhưng có thể lắng nghe. Có người không còn đi xa nhưng có thể chỉ dẫn. Có người không còn đứng lớp nhưng có thể đồng hành với người trẻ. Có người chẳng nói được nhiều nhưng sự hiện diện hiền hậu của họ đã đem lại bình an. Đừng đánh giá sự đóng góp chỉ bằng những điều có thể đếm được. Một lời khuyên đúng lúc, một cái nhìn bao dung, một câu chuyện về lòng trung tín đôi khi có sức thay đổi cả một cuộc đời.

Dĩ nhiên, tuổi già không chỉ có vẻ đẹp lãng mạn. Nó có bệnh tật, mất mát, cô đơn và sợ hãi. Có những đêm người già không ngủ được vì đau. Có những sáng thức dậy và nhận ra thêm một người bạn đã ra đi. Có người sống trong nỗi sợ bị bỏ rơi, sợ mất trí nhớ, sợ trở thành gánh nặng, sợ cái chết. Đức tin không phủ nhận những nỗi sợ ấy. Tin vào Chúa không có nghĩa là giả vờ không đau, không buồn. Đức tin giúp người ta mang nỗi đau trong hy vọng, biết rằng thân xác có thể hao mòn nhưng con người bên trong vẫn được đổi mới, biết rằng cái chết không phải là sự xóa bỏ nhưng là cuộc vượt qua.

Tuổi già là thời gian chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ sau cùng với Thiên Chúa. Tuy nhiên, chuẩn bị không có nghĩa là chỉ ngồi chờ chết trong buồn bã. Đó là sống từng ngày còn lại với sự tỉnh thức và biết ơn. Mỗi sáng thức dậy vẫn là một món quà. Mỗi bữa cơm ăn được, mỗi người thân còn bên cạnh, mỗi lời kinh còn đọc được đều đáng để tạ ơn. Người già có thể không còn nhiều năm phía trước, nhưng mỗi ngày của họ vẫn có thể đầy ý nghĩa. Không phải một cuộc đời có giá trị vì dài hay ngắn, nhưng vì từng ngày được sống trong tình yêu.

Có những người già càng lớn tuổi càng trở nên dịu dàng. Sau bao tranh đấu, họ hiểu rằng nhiều điều từng làm mình giận dữ thật ra không đáng. Họ bớt phán xét, bớt tranh hơn thua, bớt muốn chứng minh. Họ nhìn người trẻ vấp ngã bằng ánh mắt cảm thông, bởi chính họ cũng từng đi qua những vụng dại. Họ không còn nói nhiều về thành tích, nhưng kể nhiều hơn về ân sủng. Họ hiểu rằng đời người không phải là câu chuyện ta đã làm được bao nhiêu, nhưng là câu chuyện Thiên Chúa đã thương ta thế nào. Một người già như thế là một cuốn Tin Mừng sống động: không cần nói lớn, nhưng sự bình an trên khuôn mặt họ làm người khác muốn đến gần.

Cũng có những người càng già càng cay đắng, trách móc và khép kín. Điều đó nhắc rằng tuổi tác tự nó không làm con người nên khôn ngoan. Người ta chỉ trưởng thành khi biết để những biến cố thanh luyện mình. Nỗi đau có thể làm ta dịu dàng hơn, nhưng cũng có thể làm ta trở nên cứng cỏi. Cô đơn có thể đưa ta đến với Chúa, nhưng cũng có thể khiến ta thu mình trong oán hờn. Bởi vậy, ơn gọi của tuổi già vẫn đòi hỏi sự đáp trả mỗi ngày: chọn biết ơn thay vì than trách, chọn tha thứ thay vì giữ hận, chọn trao truyền thay vì kiểm soát, chọn cầu nguyện thay vì tuyệt vọng.

Người già không cần phải cố sống như người trẻ để chứng minh mình vẫn có giá trị. Họ không cần chạy theo những gì đã qua. Vẻ đẹp của tuổi già nằm ở sự chín chắn, điềm tĩnh và tự do. Một trái cây chỉ ngọt khi đã chín. Một thứ rượu quý cần thời gian để trở nên đậm đà. Đời người cũng vậy. Có những phẩm chất chỉ xuất hiện sau nhiều năm bị mài giũa: sự kiên nhẫn, lòng bao dung, khả năng phân biệt điều gì thật sự quan trọng. Người già không cần phải xấu hổ vì sự chậm chạp. Có khi chính nhịp sống chậm ấy giúp những người đang chạy quá nhanh biết dừng lại và tự hỏi mình đang đi về đâu.

Mỗi gia đình có người cao tuổi là đang được trao một kho tàng. Kho tàng ấy không sáng lấp lánh như vàng bạc, nhưng chứa đựng ký ức, lời cầu nguyện, kinh nghiệm và căn tính. Xin đừng chờ đến khi chiếc ghế trống mới nhận ra sự hiện diện của ông bà quý giá đến mức nào. Đừng chờ đến khi giọng nói đã im mới nhớ mình chưa từng ngồi nghe. Đừng chờ đến ngày đưa cha mẹ đến nơi an nghỉ mới nói những lời biết ơn mà khi còn sống họ đã khao khát được nghe. Yêu thương người già không cần những điều quá lớn. Đôi khi chỉ là một bữa cơm ngồi đủ mặt, một cuộc gọi không vội vàng, một lần kiên nhẫn nghe lại câu chuyện cũ, một bàn tay nắm lấy bàn tay đã nhăn nheo.

Và với những ai đang bước vào tuổi già, xin đừng nghĩ đời mình đã hết. Khi Thiên Chúa còn cho ta một ngày, Người vẫn còn trao ta một sứ mạng. Có thể sứ mạng ấy không ồn ào, không được ghi nhận, nhưng vẫn quý giá. Một lời chúc lành cho con cháu, một lời kinh cho người đau khổ, một sự bình an giữa gia đình, một kinh nghiệm được trao lại, một lời tha thứ được nói ra — tất cả đều có thể trở thành hoa trái cuối mùa, và nhiều khi chính hoa trái cuối mùa lại ngọt ngào nhất.

Tuổi già không phải là bản án của thời gian, nhưng là lời mời gọi đi vào chiều sâu. Không phải là lúc bị đời bỏ lại, nhưng là lúc học cách trao đời mình trọn vẹn hơn vào tay Thiên Chúa. Không phải là dấu chấm hết của giá trị, nhưng là một cách hiện diện khác: ít làm hơn nhưng yêu sâu hơn, ít nói hơn nhưng cầu nguyện nhiều hơn, bước chậm hơn nhưng nhìn rõ hơn, yếu đuối hơn nhưng tự do hơn. Khi được sống trong đức tin và tình yêu, tuổi già không còn là gánh nặng phải chịu đựng, mà trở thành một ơn gọi được hoàn tất trong bình an.

Lm. Anmai, CSsR


 

CHỖ CHO CHIM  – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được”.

“Hoa trái của tình yêu là phục vụ; và hoa trái của phục vụ là bình an!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Kính thưa Anh Chị em,

Hạt cải trong Tin Mừng hôm nay không lớn lên để phô mình, nhưng để phục vụ. Nó trở thành cây để chim trời đến làm tổ. Chúa Giêsu mời chúng ta sống như hạt cải: đừng chỉ chọn chỗ cho mình, nhưng biết chọn ‘chỗ cho chim’.

Bản Hy Lạp viết kataskēnoō – không chỉ là “làm tổ”, mà còn là “cư ngụ, dựng lều”. Chúa Giêsu đang gợi lại lời ngôn sứ Ezêkiel: “Muông chim đến nương mình bên nó, và ẩn thân dưới bóng lá cành”. Điều ngôn sứ loan báo nay ứng nghiệm nơi chính con người Chúa Giêsu, rồi tiếp tục nơi Hội Thánh và nơi mỗi Kitô hữu. Thiên Chúa không chỉ muốn chúng ta lớn lên, nhưng trở thành một bóng mát đủ rộng để người khác tìm được chỗ nương mình. “Hiếu khách trước hết là tạo nên một không gian tự do, nơi người xa lạ có thể bước vào và trở thành bạn hữu!” – Henri Nouwen.

Chúa Giêsu không kết thúc dụ ngôn ở hạt cải hay cái cây; điểm cuối của dụ ngôn là những cánh chim. Cây lớn chưa phải là cùng đích; chim tìm được chỗ cư ngụ mới là điều Chúa Giêsu nhắm tới. Nước Trời không được đo bằng sự lớn mạnh của chính mình, nhưng bằng khả năng đón nhận và che chở. Hạt cải hoàn thành sứ mạng không phải khi trở thành cây lớn, nhưng khi dưới bóng nó đã có những cánh chim. Chim không làm cho cây lớn hơn, nhưng làm cho cây hoàn tất ý nghĩa của mình. Cây đời chỉ thực sự xanh tươi khi biết hiến bóng râm cho những cánh chim mỏi.

Muốn trở thành bóng che cho người khác, trước hết hạt cải phải bén rễ và lớn lên. Con người cũng vậy. Thiên Chúa kéo dân Ngài sát vào mình như chiếc thắt lưng ôm lấy ngang eo, nhưng họ lại tách mình khỏi Ngài – bài đọc một. Không còn gắn với Thiên Chúa, họ lại bám lấy các ngẫu tượng và cũng không còn có thể che chở ai. Đó là bi kịch của mọi thời: “Thiên Chúa sinh ra ngươi, ngươi lại coi thường!” – Thánh Vịnh đáp ca. Với chúng ta, điều Chúa Giêsu chờ đợi không phải là một cuộc đời cao hơn người khác, nhưng là một cuộc đời rộng hơn cho người khác. Mỗi ngày, chúng ta đều phải chọn: chọn chỗ cho mình hay ‘chỗ cho chim’. Chính lựa chọn ấy sẽ nói chúng ta lớn đến đâu.

Anh Chị em,

 Đức Kitô không chỉ rao giảng Nước Trời; chính Ngài là Nước Trời trở nên hữu hình, là hiện thân của ‘chỗ cho chim’. Nơi Ngài, người tội lỗi gặp lòng thương xót, người mệt mỏi được nghỉ ngơi, người lạc lối tìm thấy đường về cùng Cha. Trên thập giá, Ngài mở rộng vòng tay để trở thành chỗ nương náu cho cả nhân loại. Con Thiên Chúa mời gọi chúng ta trở thành một cành cây nhỏ, để dưới bóng đời mình có thêm một người tìm được chỗ nương thân. “Đón tiếp là dành chỗ trong trái tim mình để người khác được là chính họ và lớn lên!” – Jean Vanier. Lớn lên là để vươn cao, nhưng trưởng thành là để làm một bóng mát chở che.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con lớn lên trong tình yêu; mở rộng lòng cho tha nhân; trở thành chỗ nương mình bình an cho những ai Chúa gửi đến trong đời!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

CỦA TÌM NGƯỜI -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng”.

“Vấn đề không phải là: ‘Làm sao tôi tìm được Thiên Chúa?’, nhưng là: ‘Làm sao để tôi được Thiên Chúa tìm thấy?’” – Henri Nouwen.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta vẫn thường nghĩ người tìm của. Tin Mừng hôm nay mở ra một nghịch lý lớn hơn: nhiều khi của lại tìm người. Đó là câu chuyện ‘của tìm người’.

Có một sự tương phản rất đẹp trong hai dụ ngôn. Người thương gia dành cả đời để tìm viên ngọc quý; cuối cùng, ông gặp được. Người nông dân không hề đi tìm kho báu; kho báu lại bất ngờ được tìm thấy trên chính thửa ruộng ông thuê tậu. Một người gặp điều hằng mong, người kia gặp điều không hề ngờ. Hai con đường trái ngược, nhưng gặp nhau ở một điểm: người gặp của, của gặp người. Đó là cách Thiên Chúa đến với con người: có người miệt mài kiếm tìm Ngài, lại có người bất ngờ được Ngài tìm thấy. Có những cuộc gặp chỉ khi nhìn lại, chúng ta mới biết mình không phải người đến trước.

Điều gì xảy ra khi của gặp người? Tin Mừng trả lời bằng một chi tiết tinh tế. Bản Hy Lạp viết apo tēs charas autou – “vì niềm vui của mình”. Niềm vui ấy có trước mọi quyết định. Người nông dân bán tất cả những gì mình có để mua thửa ruộng, nhưng không phải vì thửa ruộng, mà vì kho báu đã thuộc về chân trời đời ông. Người thương gia cũng vậy. Anh bán tất cả những gì anh có không phải để đổi lấy viên ngọc, nhưng vì đã gặp được viên ngọc anh tìm kiếm suốt đời – đáng để đánh đổi mọi sự. Niềm vui không phải là phần thưởng của sự từ bỏ; niềm vui làm cho sự từ bỏ trở nên thanh thản.

Thế nhưng, không phải mọi kho báu đều đáng để bán tất cả. Chỉ điều tuyệt đối xứng với một quyết định tuyệt đối. Salômôn không xin trường thọ, giàu sang hay chiến thắng, nhưng xin “một tâm hồn biết lắng nghe” – bài đọc một. Cũng vì thế, tác giả Thánh Vịnh mới thốt lên: “Luật pháp Ngài, lạy Chúa, con yêu chuộng dường bao!”. Phaolô còn đi xa hơn: kho báu ấy không chỉ thay đổi điều chúng ta có, mà còn biến đổi chính con người chúng ta để “nên đồng hình đồng dạng” với Con Thiên Chúa – bài đọc hai. Chỉ khi gặp được Đấng tuyệt đối, mọi giá trị khác mới rơi đúng vào vị trí khiêm nhường của nó.

Với chúng ta, bi kịch của một đời người không phải là không gặp kho báu, nhưng gặp kho báu mà không nhận ra. Có những điều chúng ta theo đuổi; lại có những điều lặng lẽ đi ngang cuộc đời. Điều đáng tiếc nhất không phải là đánh mất một kho báu, nhưng là không hề biết mình đã từng gặp nó.

Anh Chị em,

Kho báu ấy có một khuôn mặt: Đức Kitô. Trước mọi cuộc kiếm tìm của con người, luôn có một cuộc kiếm tìm của Thiên Chúa. Phaolô không nói: “Tôi đã nắm được Đức Kitô!”, nhưng: “Đức Kitô Giêsu đã chiếm lấy tôi!”. Đức tin khởi đi từ giây phút con người nhận ra mình đã được yêu, được gọi và được tìm thấy. Đó chính là nghịch lý của việc ‘của tìm người’. “Đừng nghĩ rằng bạn có thể dẫn đường cho tình yêu; chính tình yêu, nếu thấy bạn xứng đáng, sẽ dẫn đường cho bạn!” – Kahlil Gibran.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết nhanh nhẹn để nhận ra, biết trân quý để giữ lấy, và đừng bao giờ vì một phút ơ hờ mà vuột mất Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

CHÉN HAY NGAI? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?”.

“Chúng ta đến với thế giới để sống; Ngài đến với thế giới để chết! Con người của các nỗi buồn làm quen với vực thẳm đau buồn để trở thành niềm vui cho thế giới!” – A. Fortosis.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta đến với thế giới để sống; Ngài đến để chết. Chúng ta tìm chỗ nhất; Ngài chọn chỗ rốt. Hôm nay, Tin Mừng buộc chúng ta trả lời một câu hỏi không thể né tránh: ‘chén hay ngai?’.

“Chén Thầy sắp uống”. Bản Hy Lạp viết potērion – “chén”. Đó không chỉ là vật để uống, nhưng còn là phần số Thiên Chúa trao, dẫn đời người đến chỗ viên mãn. Giacôbê và Gioan xin ngai, Ngài trao chén; họ tìm vinh quang, Ngài mở ra hiệp thông. Từ ambitio đến communio, người môn đệ được mời bước ra khỏi tham vọng để đi vào sự thông phần với cuộc đời của Thầy. Vì thế, câu hỏi “có uống nổi” không phải là một lời từ chối, nhưng là một lời mời chọn lựa: theo Chúa Giêsu không phải để được nâng lên, nhưng để uống cùng một chén với Ngài. “Chén mà chúng ta uống là chén của niềm vui và nỗi buồn, của sự sống và cái chết!” – Henri Nouwen.

“Uống” không phải là chịu đựng một điều gì bên ngoài, nhưng là đi vào bên trong hành vi tự hiến của Thầy; không phải là mất mát, nhưng là hiệp thông trong yêu thương. Vì thế, điều các môn đệ xin không sai ở ước muốn hiệp thông, nhưng sai ở con đường: muốn vinh quang mà không muốn chung số phận với Thầy. Chính tại đây, nghịch lý Tin Mừng trở nên rõ ràng: chỉ khi chấp nhận đi vào điều mình không chọn, con người mới thực sự đạt tới điều mình tìm.

Sứ mạng không còn là nơi để thể hiện chính mình, nhưng là nơi để chính mình được biến đổi. “Cám dỗ tinh vi nhất không phải là bỏ Chúa, nhưng là dùng điều thuộc về Chúa để tìm kiếm chính mình!” – Hans Urs von Balthasar. Vì thế, người môn đệ không còn hỏi làm sao được ngồi cao hơn, nhưng làm sao dám uống cạn “chén” Thiên Chúa trao. Phaolô đã sống điều ấy: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu” – bài đọc một. Và khi chiếc chén được đón nhận trong yêu thương, nước mắt sẽ không là điểm kết, nhưng là khởi đầu của mùa gặt: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô không mời chúng ta uống một chén khác, nhưng uống chính chén Ngài đã uống: chén cứu độ. Nơi Ngài, “chén” không còn là biểu tượng, nhưng là chính cuộc đời trao ban đến tận cùng; và “ngai” không còn là chỗ ngồi, nhưng là vinh quang của tình yêu tự hiến trên ngai thập giá. Chiếc ngai là ảo ảnh của cái tôi, chiếc chén mới là hiện thực của hiệp thông. Vì thế, theo Đức Kitô không phải là bắt chước một hành vi bên ngoài, nhưng là được cuốn vào cùng một chuyển động: từ hiến mình đến trao ban sự sống. Như vậy, câu hỏi không còn là ‘chén hay ngai’, nhưng là làm sao tôi trở nên giống Đức Giêsu Kitô, Thầy mình? “Không ai trở nên giống Đức Kitô mà không đi qua thập giá!” – Edith Stein.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con tham sống, sợ chết; con tìm chỗ nhất, ngại chỗ rốt. Cho con dám uống chén Ngài trao; và biết sống để người khác được sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********

Lời Chúa KÍNH THÁNH GIACÔBÊ TÔNG ĐỒ 

25/7 Thứ Bảy Tuần XVI Thường Niên:

KHÁM PHÁ KHO BÁU TIN MỪNG-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (13, 44-46) Chúa nhật 17 thường niên)

Kho báu núi Tàu

Vụ việc nầy được báo chí trong nước đăng tải khá nhiều trong những năm gần đây, thu hút sự chú ý của nhiều độc giả.

 Từ năm 1963, cụ Trần Văn Tiệp nắm được những thông tin rất thuyết phục cho rằng trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Việt Nam, quân đội Nhật Bản sau khi bị quân đồng minh đánh bại, được lệnh rút khỏi Việt Nam, có mang đi một khối lượng vàng rất lớn nhờ vơ vét được tại các nước châu Á mà họ chiếm đóng, nhưng vì bị phe đồng minh theo dõi, quân Nhật không thể chuyển ngay số vàng mà họ chiếm được về nước nên đã chôn giấu chừng 4.000 tấn vàng trên núi Tàu, một ngọn núi nhỏ thuộc huyện Tuy Phong, gần nhà máy nước Vĩnh Hảo, tỉnh Bình Thuận, để chờ khi có cơ hội thuận tiện sẽ đưa về Nhật sau.

 Cụ Tiệp được Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận cho phép thăm dò và khai thác và đã đầu tư rất nhiều tiền bạc cho dự án này suốt 22 năm trời, nhưng không may, đến tháng 3 năm 2015, giấy phép hết hạn, cụ phải ngừng công cuộc thăm dò mà vẫn chưa tìm thấy dấu vết kho tàng.

 Câu chuyện nầy liên quan mật thiết với dụ ngôn Chúa Giê-su dạy hôm nay:

 “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

“Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.”

Kho báu quý nhất trên đời

 Có một kho báu triệu lần đáng quý hơn bất cứ kho báu nào khác ở trần gian đang nằm trong tầm tay chúng ta nhưng tiếc thay, có nhiều người không biết đến, đó là Lời Chúa phán dạy trong Tin mừng, ta gọi đó là kho báu Tin mừng.

 Kho báu Tin mừng đáng quý triệu lần hơn mọi báu vật trần gian vì nhờ lời Chúa dạy trong Tin mừng mà muôn người được cứu rỗi và được hưởng phúc thiên đàng đời đời vinh hiển.

Các thánh Tông đồ, các thánh nam nữ được hưởng phúc thiên đàng không phải vì chiếm hữu được kho báu trần gian, không phải vì có nhiều vàng ngọc châu báu… nhưng vì các ngài thủ đắc được kho tàng lời Chúa trong Tin mừng và áp dụng những lời khôn ngoan đó vào cuộc sống.

 – Kho báu Tin mừng đáng quý triệu lần hơn mọi báu vật trần gian vì khi được thấm nhuần những lời dạy của Tin mừng, tính nết con người được cải thiện, phẩm chất con người được nâng cao, đời sống con người thêm hạnh phúc… trong khi những người nắm giữ kho báu trần gian dễ bị sa đọa vì xa hoa và lạc thú do tiền tài mang lại, nên dễ dàng đánh mất hạnh phúc thiên đàng.

Kiên tâm tìm kiếm kho báu Tin mừng

 Cụ Trần Văn Tiệp đã thao thức đào xới, tìm kiếm kho báu núi Tàu suốt 22 năm. Còn chúng ta, chúng ta có chấp nhận bỏ ra mỗi ngày mươi phút để khai thác kho báu Tin mừng hay không?

 Kho báu trần gian thường nằm ở chốn rừng hoang, ở những nơi xa xôi hiểm trở hoặc dưới lòng đất sâu… nên cần phải mạo hiểm, cần đầu tư rất nhiều tiền bạc và công sức may ra mới chiếm hữu được; trong khi kho báu Tin mừng nằm trong tầm tay mọi người, muốn khai thác lúc nào cũng được mà không phải tốn kém. Vậy thì chúng ta hãy khởi sự khai thác ngay hôm nay để làm giàu cho đời sống thiêng liêng của mình.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa đã mang kho báu Tin mừng là Lời khôn ngoan của Thiên Chúa từ Trời xuống để ban tặng cho chúng con.

 Xin cho chúng con biết miệt mài khai thác hằng ngày để được sống trong bình an, hạnh phúc ở đời nầy và được hưởng phúc lộc đời đời với Chúa mai sau. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 *****

Tin mừng Mát-thêu 13, 44-46

44 “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

45 “Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp.46 Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

TRÁI TIM CŨNG CÓ KÝ ỨC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nó không đâm rễ!”.

“Quá khứ không bao giờ chết; nó thậm chí còn chưa qua!” – William Faulkner.

Kính thưa Anh Chị em,

Quá khứ không bao giờ thực sự qua đi; nhiều khi nó vẫn âm thầm sống trong chúng ta. Mảnh đất từng bị giẫm nát sẽ khác với đất được chăm sóc. Trái tim con người cũng vậy: ‘trái tim cũng có ký ức’.

Không phải đất nào cũng giống nhau. Có mảnh mềm, có mảnh cứng; có nơi đầy sỏi đá, có nơi um tùm gai góc. Đó không chỉ là địa chất của cánh đồng, mà còn là địa chất của tâm hồn. Theo năm tháng, mọi chọn lựa, mọi tổn thương, những lần khép lòng hay mở lòng đều âm thầm để lại dấu vết. Bởi thế, trước khi hạt giống kịp bén rễ, mảnh đất đã mang sẵn cả một lịch sử. Trái tim giữ lại những vết thương của quá khứ, và biến chúng thành lớp đất chai sần ngăn Lời Chúa bén rễ.

Dụ ngôn Chúa Giêsu kể không ca ngợi một mảnh đất tốt, nhưng mặc khải một người gieo quảng đại. Hạt giống được gieo khắp nơi, không vì đất nào cũng xứng đáng, nhưng vì Thiên Chúa không bao giờ thôi hy vọng con người được biến đổi. Đó không phải là lãng phí, mà là cách Ngài yêu thương. Ngài không chờ đất tốt rồi mới gieo; Ngài gieo để đất có cơ hội trở nên tốt. Ngài không nhìn mảnh đất như nó đang là, nhưng như nó có thể trở thành. Logic của ân sủng là thế: luôn đi trước mọi công trạng và mở ra khả năng đổi thay.

Nhưng mọi sự phải bắt đầu từ nơi sâu kín nhất. Giêrêmia cho thấy điều Thiên Chúa muốn chữa lành không phải là hoàn cảnh, mà là lòng người, để “chúng sẽ không còn sống buông thả theo lòng dạ xấu xa” – bài đọc một. Bản Hy Lạp của bài đọc viết kardía – “trái tim”, trung tâm của ký ức và những chọn lựa. Vì thế, điều Chúa muốn biến đổi không phải là hạt giống – Lời vốn luôn tốt lành – nhưng là lòng người, mảnh đất bên trong. Chỉ khi đất lòng được Ngài canh giữ mới có thể trở thành mảnh đất sinh lợi. Thảo nào Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Chúa canh giữ chúng ta, như mục tử canh giữ đàn chiên!”.

Phần chúng ta, điều cản trở Lời nhiều khi không phải chúng ta không nghe, nhưng chúng ta nghe bằng một trái tim còn rỉ máu vì quá nhiều thương tổn. Ký ức còn hằn thương tích dễ biến hy vọng thành nghi ngờ, lời mời gọi thành nỗi sợ, và hạt Lời thành điều không thể bén rễ.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã không né tránh thập giá; chính nơi đó, Ngài chữa lành trái tim con người từ tận căn, để những gì đã qua không còn trói buộc hiện tại và Lời có thể đâm rễ. Vì thế, đừng sợ mang đến cho Ngài những ký ức làm chúng ta nặng lòng, những vết thương chưa khép, những tội lỗi đang giấu kín. Đấng đã yêu chúng ta đến cùng sẽ kiên nhẫn biến đất chai cứng thành nơi có thể trổ sinh hoa trái. Nơi Đức Kitô, ‘trái tim cũng có ký ức’, nhưng ký ức không còn là số phận. “Mọi sự sẽ ổn, mọi sự sẽ ổn, và mọi sự rồi sẽ ổn!” – Julian of Norwich.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để quá khứ con cầm tù hiện tại; đừng để vết thương cũ quyết định cách con sống; xin chạm đến và chữa lành những điều con chưa bao giờ thôi đau!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG

Cang Huynh

 

*Một người đàn ông từng đi nhà thờ mỗi cuối tuần dần dần bỏ đạo.

Tuần này qua tuần khác, rồi đến tháng. Một ngày nọ, vị linh mục quyết định đến thăm ông.

Khi đến nơi, cửa trước mở sẵn nên ông bước vào. Người đàn ông đang ngồi một mình trước lò sưởi. Ông chào vị linh mục bằng một cái gật đầu nhẹ và ra hiệu cho ông ngồi xuống.

Cả hai đều im lặng.

Họ chỉ đơn giản là nhìn ngọn lửa nhảy múa trên những khúc củi.

Sau vài phút, vị linh mục đứng dậy, cầm lấy cái kẹp than, và cẩn thận lấy một cục than hồng ra khỏi lửa. Ông đặt nó sang một bên, cách xa những cục than đang cháy khác, rồi ngồi xuống lại.

Sự im lặng tiếp tục.

Lúc đầu, cục than vẫn còn đỏ rực. Nhưng từ từ, không còn hơi ấm của những cục than xung quanh, ánh sáng bắt đầu mờ dần. Chẳng bao lâu sau, nó trở nên lạnh lẽo, tối tăm và vô hồn.

Vị linh mục lại đứng lên, dùng kẹp than nhấc cục than đen lên, và đặt nó trở lại vào giữa ngọn lửa.

Chỉ trong chốc lát, nó lại bắt đầu sáng rực. Chẳng mấy chốc, nó cháy sáng rực rỡ như những cục than bên cạnh.

Vị linh mục đặt chiếc kẹp xuống và lặng lẽ bước về phía cửa.

Ngay trước khi rời đi, người đàn ông lên tiếng.

“Cảm ơn vì đã đến,” ông nói. “Và cảm ơn vì bài giảng bên lò sưởi. Tôi sẽ đến nhà thờ vào Chủ nhật này.”

Đôi khi không cần lời giải thích dài dòng.

Một cục than được lấy ra khỏi lửa sẽ nhanh chóng mất đi hơi ấm. Nhưng khi được đặt trở lại ngọn lửa, nó lại bắt đầu cháy.

Đức tin có thể là điều cá nhân, nhưng nó không bao giờ được sống hoàn toàn một mình. Cộng đồng mang lại cho chúng ta sự khích lệ, trách nhiệm, sự an ủi và sức mạnh trong những lúc ngọn lửa của riêng chúng ta bắt đầu lụi tàn.

Đôi khi chúng ta không quay trở lại vì ai đó đã tranh cãi với chúng ta.

Chúng ta quay trở lại vì ai đó đã lặng lẽ nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta vẫn thuộc về một cộng đồng.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.


 

MẮT ĐỔI – THẾ GIỚI ĐỔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Mắt anh em thật có phúc vì được thấy!”.

“Cuộc khám phá đích thực không phải là tìm những miền đất mới, mà là có một đôi mắt mới!” – Marcel Proust.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những chuyến đi không mở ra một vùng đất mới, nhưng mở ra một cách nhìn mới. Mọi sự vẫn y nguyên, chỉ cách nhìn đổi khác. Lời Chúa hôm nay nói với chúng ta rằng, ‘mắt đổi – thế giới đổi’.

Chúa Giêsu nói, “Họ nhìn mà không nhìn; nghe mà không nghe, không hiểu!”. Bản Hy Lạp viết syníēmi – “hiểu”, theo nghĩa “ghép các mảnh”. Người Do Thái đã có mọi mảnh ghép: Lề Luật, các ngôn sứ, tiếng Gioan Tẩy Giả, các phép lạ… nhưng họ không nhận ra tất cả những mảnh ấy đang quy về Đức Giêsu Kitô. Không phải họ thiếu dữ kiện, họ chỉ đọc sai ý nghĩa các dữ kiện: phép lạ phát xuất từ quỷ vương; Gioan quỷ ám; Chúa Giêsu bợm nhậu, phạm luật… Mỗi biến cố đứng riêng chỉ là một sự kiện; được ghép lại, toàn bộ lịch sử cứu độ mới có một khuôn mặt – khuôn mặt Đức Kitô! “Đức Kitô là chuẩn mực để toàn bộ lịch sử được giải thích!” – Hans Urs von Balthasar.

Đó cũng là bi kịch xưa của Israel. Thiên Chúa đã đưa dân vào đất chảy sữa và mật; nhưng họ không nối kết mọi ân huệ với Đấng ban ân huệ – “Chúng đã bỏ Ta là mạch nước trường sinh”. Israel không bỏ Thiên Chúa vì hết ân huệ; nhưng bỏ Ngài ngay giữa lúc đầy ân huệ: tôn thờ những gì đôi tay mình tạo nên, “làm những hồ nứt rạn, không giữ được nước” – bài đọc một. Không chỉ đánh mất nguồn sống, họ đánh mất khả năng nhận ra Đấng là nguồn sống. Bởi thế, Thánh Vịnh đáp ca là lời tuyên xưng của một người đã nhận ra: “Lạy Chúa, Ngài quả là nguồn sống!”.

Với chúng ta, đời sống cũng đầy những điều rời rạc. Có điều là niềm vui, có điều là nước mắt, có điều không bao giờ hiểu nổi. Nhiều khi chúng ta xin Chúa đổi hoàn cảnh; Chúa lại muốn đổi con người đang nhìn hoàn cảnh. Chỉ khi đặt tất cả vào bàn tay Thiên Chúa, chúng ta mới nhận ra không có mảnh ghép nào vô nghĩa. Khi đôi mắt đổi, cả thế giới cũng đổi. Thế giới đổi không phải vì thế giới khác đi, nhưng vì người nhìn đã khác đi.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đổi thế giới, nhưng đổi chính đôi mắt nhìn thế giới. Với ánh mắt của Ngài, thập giá không còn là đau khổ, nhưng là tình yêu hiến dâng; mất mát không còn là kết thúc, nhưng là khởi đầu; cái chết không còn là ngõ cụt, nhưng là cửa ngõ bước vào sự sống. Cuộc khám phá lớn nhất của Kitô hữu không phải là đi đến nơi khác, nhưng là nhìn mọi sự bằng ánh nhìn của Đức Kitô. Đôi mắt ấy mở ra dưới chân thập giá, nơi thất bại trở thành tình yêu; và trong ánh sáng phục sinh, nơi cái chết trở thành sự sống. Bởi lẽ, ‘mắt đổi – thế giới đổi’. Chỉ khi nhìn về Đức Kitô, đôi mắt chúng ta mới thật sự nhìn đúng mọi sự. Bởi lẽ, đôi mắt chỉ nhìn thấy điều trái tim biết khao khát. “Vẻ đẹp sẽ rực sáng trong trái tim người khao khát nó, hơn trong đôi mắt người nhìn thấy nó!” – Kahlil Gibran.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con nhận ra Chúa giữa những điều bình thường, thấy tình yêu Ngài trong mọi biến cố, và bước đi bình an giữa những điều con chưa hiểu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

TÌM CHO BẰNG ĐƯỢC ĐỨC KHÔN NGOAN – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ 

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ 

Xin có được tâm hồn Khôn Ngoan

 Salomon khi đứng trước nhan Chúa là nguồn mạch mọi ơn phúc trong một thị kiến ban đêm cho ông những lựa chọn.  Chúa phán cùng ông rằng “Người muốn gì thì hãy xin, Ta sẽ ban cho ngươi” (1V 3, 5).  Salomon không xin được sống lâu, giàu sang phú quý.  Ông cũng chẳng xin mạng quân thù.  Ông xin Chúa ban cho “một tâm hồn khôn ngoan” (1V 3, 9).  Thiên Chúa đã ban cho ông điều ông xin, vì đẹp lòng Chúa: “Đây Ta ban cho ngươi điều ngươi xin… đến nỗi trước ngươi không có ai giống ngươi, và sau ngươi không có ai bằng ngươi” (1V 3, 12).  Ông xin và ông đã được. 

Nỗ lực tìm kiếm Chúa là Đấng Khôn Ngoan

Thiên Chúa muốn thông ban vinh quang đã có từ đời đời cho con người.  Vinh quang và hạnh phúc ấy là chính Chúa.  Chính con người cũng không biết mình được dựng nên để vui hưởng vinh quang với Thiên Chúa.  Theo Thánh Phao-lô thì Thiên Chúa biết chúng ta từ thuở đời đời; khi được tạo thành, Ngài đã gọi tên ta.  Theo nghĩa Thánh Kinh, Thiên Chúa biết và cưu mang chúng ta bằng cả tấm lòng, như người mẹ biết con mình khi cưu mang con trong dạ.  

Kế hoạch của Thiên Chúa là Ngài muốn chúng ta trở nên giống hình ảnh của Chúa Giê-su, Con Ngài.  Nói cách khác, Thiên Chúa muốn chúng ta là một thành viên trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa.  Đây là một đại ân huệ Thiên Chúa dành cho chúng ta!  Ngài tạo dựng chúng ta giống hình ảnh của Con Chúa, nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su, nhất là mang trên mình danh hiệu là Ki-tô hữu “Quả thật, anh em biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8,9). 

 Nếu chúng ta nghe và đáp lời Chúa, Thiên Chúa sẽ biện hộ cho chúng ta, Ngài sẽ làm cho chúng ta trở nên thánh thiện, hoan lạc, hạnh phúc và chiếu tỏa rạng ngời vinh quang Chúa, phù hợp với Thiên Chúa.  Vì kế hoạch của Thiên Chúa là “Những kẻ Chúa đã biết trước, thì Người đã tiền định cho họ nên giống hình ảnh Con Người, để Ngài trở nên trưởng tử giữa đoàn anh em đông đúc.  Những ai Người đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; mà những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho họ được vinh quang” (Rm 8, 29-30).

 Trong khi đó, kế hoạch của con người, là đi tìm hạnh phúc.  Việc tìm kiếm này đòi hỏi phải phân định. Như chiếc lưới kéo lên tất cả các loại cá, nên hạnh phúc cũng có tất cả các loại.  Có những thứ hạnh phúc đích thực, có những thứ hạnh phúc rẻ tiền, hão huyền, trống rỗng và giả dối.  Vua Solomon đã xin Chúa ban cho một “tâm hồn khôn ngoan để đoán xét dân Chúa, và phân biệt lành dữ (1V 3, 9).  Để có hạnh phúc thật, cần phải cầu xin Chúa như Salomon: cho được ơn làm chủ bản thân, biết phân biệt tốt xấu, chọn lựa điều tốt, bỏ điều xấu.  Vì tất cả những gì chúng ta hài lòng chưa hẳn đã là tốt.  Có ơn phân định, để nhận ra tiếng Chúa, làm theo kế hoạch của Chúa. 

Bằng mọi giá để có được Nước Trời 

Với đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su dùng ba dụ ngôn: Kho báu được chôn giấu, dụ ngôn viên ngọc quý và dụ ngôn lưới thả xuống biển để phác họa về Nước Trời.  Kho báu được chôn giấu và viên ngọc quý là hai thực tại quý giá nên cả hai người này đều bán tất cả để mua cho bằng được điều họ cho là quý nhất.  Điều căn bản của đời sống Ki-tô hữu cũng thế, để có được Nước Trời chúng ta đánh đổi vì Nước Trời.

 Người tìm thấy kho báu và thương gia đều bán mọi thứ họ có.  Như thế, chúng ta hiểu rằng việc xây dựng Nước Trời không chỉ đòi hỏi ân sủng của Thiên Chúa, mà còn cả sự sẵn sàng chủ động của con người.  Cử chỉ của người tìm thấy kho báu và thương gia, đánh đổi hết tài sản để mua điều quý giá hơn, là những cử chỉ quyết đoán.  Cả hai người này đều tràn đầy niềm vui vì họ đã tìm thấy kho báu.  Đây là bài học quý giá cho chúng ta.  Để có được Nước Trời, chúng ta từ bỏ gánh nặng của sự an toàn thế gian vốn làm cản trở chúng ta tìm kiếm và xây dựng Nước Trời.

 Ai cũng biết, trong thời đại hôm nay, cuộc sống của một số người có thể trở nên tầm thường và buồn tẻ, bởi họ có thể đã không tìm kiếm một kho báu thực sự là Chúa Giê-su.  Họ hài lòng với những thứ hấp dẫn nhưng phù du, với những ánh sáng lung linh nhưng hư ảo vì sau đó chúng đi vào bóng tối.  Thay vào đó, ánh sáng của Nước Trời không phải là pháo hoa, mà là ánh sáng: pháo hoa chỉ tồn tại trong chốc lát, còn ánh sáng của Nước Trời thì đồng hành suốt đời.

 Nước Trời thì trái ngược với những điều thừa thãi mà thế gian bày ra, nó trái ngược với cuộc sống tầm thường: đó là một kho báu làm mới lại cuộc sống mỗi ngày và mở ra những chân trời rộng lớn hơn.

Chúa Giê-su, Ðấng là kho báu ẩn giấu và là viên ngọc quý, Người luôn khơi dậy niềm vui khám phá một ý nghĩa cho cuộc sống của con người.  Niềm vui này thôi thúc người ta đánh đổi tất cả, phiêu lưu dấn thân để tìm kiếm.

 Chúng ta hãy xin với Mẹ Ma-ri-a, ngai tòa Đấng Khôn Ngoan giúp chúng ta tìm kiếm kho báu của Nước Trời mỗi ngày, để qua lời nói và cử chỉ của chúng ta, tình yêu mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Chúa Giê-su có thể được thể hiện. 

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

From: Langthangchieutim


 

 Thánh Maria Magdalen (thế kỷ thứ 1) – Cha Vương

 Hôm nay 22/07 Giáo Hội mừng kính Thánh Maria Magdalen (thế kỷ thứ 1). Mừng Bổn mạng đến những ai chọn thánh Nữ làm quan thầy nhé. Câu nguyện cho nhau và cả thế giới chấm dứt chiến tranh và thiên tai nhé

Cha Vương

Thứ 4: 22/7/2026.       (t3-25)

Ngày trước, người ta lẫn lộn giữa Maria Magdalen với ba người phụ nữ được Phúc Âm nói đến là:

– Người đàn bà tội lỗi vô danh đã đến đổ thuốc thơm trên chân Chúa và lấy tóc lau (Lc 7,37-50)

– Maria ở Bethania, em của Mattha và Lazarius. Cô cũng đã xức thuốc thơm nơi chân Chúa và lấy tóc lau (Gio 11,1;12,3)

– Maria ở Magdala (Magdala là một làng nhỏ bên bờ hồ Tiberiade) người được Chúa Giêsu đuổi trừ bảy quỷ (Lc 8,2) và đã có mặt dưới chân Thánh Giá khi Chúa chết cùng với Mẹ Maria và Gioan. Cô dự vào việc mai táng Chúa, trở ra mộ Chúa hai hôm sau để xức xác, nhìn thấy ngôi mộ trống. Maria là người đầu tiên nhìn thấy Chúa sống lại và đi báo tin cho các tông đồ. Thì chỉ Maria Magdalen này được ghi trong niên lịch Phụng Vụ sau vụ cải tổ lịch Phụng Vụ Roma mới. 

    Cũng do sự nhầm lẫn lâu đời giữa ba nhân vật nên Maria Magdalen mới được coi như là quan thầy những phụ nữ hoàn lương, những người bán nước hoa và buôn găng tay.

    Cũng do sự nhầm lẫn lâu ấy mà có những tương truyền khác nhau như việc Maria Magdalen đã đến xứ Gaules (có từ thế kỷ thứ XI) người ta kính thánh tích của bà ở Vezelay, trên con đường hành hương đến Compostelle; cũng tại Provence, từ thế kỷ thứ XIII có những cuộc hành hương lôi cuốn nhiều người đến Sainte Marie de la Mere, nơi mà người ta cho rằng Maria Magdalen đã đổ bộ với em là Lazarius cùng nhiều phụ nữ khác, có cả người tớ gái là Sarah, quan thầy của những người phiêu bạt Gitans. Cũng như tại Saint Baume nơi có bọng đá mà người đã ở qua và tại Saint Maximin có phần mộ của người. 

    Tại Đông Phương, tương truyền rằng Maria Magdalen chết và được chôn ở Êphêsô. Năm 899, hoàng đế Leon VI đã chuyển thánh tích của người hay là được coi như vậy, về một tu viện ở Constantinople. Từ Đông phương, việc sùng kính đến Tây phương từ thế kỷ thứ X.

    Vậy chúng ta chỉ biết về những gì Phúc Âm nói đến về vị thánh nữ đặc biệt ấy và ngày nay hình như chỉ có Maria Magdalen này mới có tên trong lịch Phụng Vụ mới.

  (Nguồn: Người Tín Hữu, hạnh các Thánh)

    Đức Giáo hoàng Benedict XVI nói: “Câu chuyện của Maria thành Mácđala nhắc nhở tất cả chúng ta một sự thật hiện hữu”… “Thánh nữ là một trong những môn đệ của Chúa Kitô, trong kinh nghiệm yếu đuối của con người, ngài đã khiêm nhường cầu xin Chúa thương xót, và đã được Chúa tha thứ, để rồi tiếp tục đi theo Chúa mà trở thành một nhân chứng về điều này: tình thương xót của Chúa mạnh hơn tội lỗi và sự chết”.

Hôm nay Bạn hãy xin cho được ơn hoán cải nhé. Xin thánh Maria Magdalen, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Trở Về Với Cha – Phan Hùng – Thế Thông – Nguyễn Hồng Ân – Ca Đoàn Sao Mai

 Làm sao để được khôn ngoan? – Cha Vương

Xin Chúa đổ đầy tim bạn Thánh Thần Chúa để Người hướng dẫn bạn trong ngày hôm nay và suốt cuộc đời.

Cha Vương

Thứ 3: 21/07/2026 (t4-24-24)

GIÁO LÝ:  Làm sao để được khôn ngoan? Người ta nên khôn ngoan nhờ học biết phân biệt cái gì chính yếu cái gì không chính yếu, đặt cái đích tốt cho đúng và chọn phương tiện tốt nhất để đạt đích. (YouCat, số 301)

SUY NIỆM: Nhân đức khôn ngoan hướng dẫn tất cả các nhân đức khác. Vì khôn ngoan là khả năng phân định cái gì là đúng. Nếu muốn sống một đời có đạo đức tốt, cần phải biết đâu là “cái tốt đích thật” và nó có giá trị gì. Như anh lái buôn trong Tin Mừng: khi gặp được viên ngọc quý, anh bán hết mọi cái anh có để mua cho được (Mt 13,46). Phải khôn ngoan trước hết để sau đó biết vận dụng đức công bằng, đức can đảm và đức tiết độ để hoàn thành “cái tốt”. (YouCat, số 301 t.t.)

❦  Khôn ngoan có 2 mắt: một thấy trước điều phải làm, một xem lại điều đã làm. (Thánh Ignaxiô Loyôla)

❦  Con chớ bao giờ lìa bỏ khôn ngoan, thì khôn ngoan sẽ giữ gìn con mãi. Hãy yêu mến khôn ngoan, khôn ngoan sẽ chở che bảo vệ. (Kn 4:6)

❦  Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa không phải ai khác ngoài chính Ngôi Vị Thứ Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa, đúng như sách Khôn Ngoan mô tả : Người tìm thấy niềm vui giữa loài người ... “Người đã làm người giữa muôn người … Người đã trao ban sự sống và thiết lập sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người ” (Kinh Tin Kính của Thánh Irênê).

LẮNG NGHE: Kính sợ ĐỨC CHÚA là bước đầu của khôn ngoan; biết Đấng Chí Thánh mới là hiểu biết thật. (Kn 9:10)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con biết cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của chính mình, luôn tìm kiếm Chúa là nguồn mạch mọi sự khôn ngoan để con nên hoàn thiện giống như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện. 

THỰC HÀNH: Tập cầu nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần trước khi quyết định làm một điều quan trọng nào đó.

From: Do Dzung

***********************

NGƯỜI KHÔN KẺ DẠI (Lm Huy Hoàng) – Thanh Hoài