NƠI TĨNH LẶNG – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

 Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Nhiều người trong chúng ta cần có thêm thinh lặng trong cuộc sống.  Tôi nói điều này một cách dè dặt, bởi vì vị trí của thinh lặng trong đời ta không phải là điều dễ xác định.

 Tĩnh lặng là một thực tại phức tạp; đôi khi chúng ta sợ nó và tìm cách tránh né, nhưng cũng có lúc, khi mệt mỏi và bị kích thích quá mức, chúng ta lại tha thiết khao khát nó.

 Nhìn chung, chúng ta có quá ít thinh lặng trong đời mình.  Công việc, điện thoại di động, các cuộc trò chuyện, giải trí, tin tức, những xao lãng và đủ loại bận tâm khác lấp đầy từng phút giây tỉnh thức.

 Chúng ta đã quá quen với việc được kích thích bởi lời nói, thông tin và sự phân tâm, đến mức thường cảm thấy lạc lõng và bồn chồn khi ở một mình, không có ai để nói chuyện, không có gì để xem, không có gì để đọc hay làm để chiếm lấy sự chú ý của mình.

 Tuy nhiên, không phải tất cả điều này đều xấu.  Trước đây, các tác giả viết về tâm linh thường quá phiến diện trong việc ca ngợi đức tính của sự thinh lặng.  Họ có xu hướng tạo ấn tượng quá đơn giản rằng Thượng đế và chiều sâu tâm linh chỉ được tìm thấy trong sự thinh lặng, như thể những đức tính của công việc thường nhật, trò chuyện, lễ hội, gia đình và cộng đồng đều kém quan trọng hơn về mặt tâm linh.

 Khi nói về không gian thinh lặng, các tín ngưỡng tâm linh xưa kia thường trừng phạt người hướng ngoại và quá dễ dãi với người hướng nội.  Nói tóm lại, họ đã không xem xét đầy đủ rằng tất cả chúng ta, cả người hướng ngoại và hướng nội, đều cần đến liệu pháp của đời sống xã hội.  Trong khi chúng ta cần sự thinh lặng để có chiều sâu, chúng ta lại cần sự tương tác với người khác để ổn định tâm trí và giữ gìn sự tỉnh táo.  Một số quá trình tự khám phá bản thân chỉ có thể thực hiện trong thinh lặng, nhưng một số khía cạnh khác của sự tỉnh táo lại phụ thuộc vào sự tương tác với người khác.  Sự thinh lặng cũng có thể là một lối thoát, một sự né tránh quá trình thanh lọc khắc nghiệt thường chỉ có thể xảy ra thông qua thử thách của việc tương tác trong gia đình và cộng đoàn.

 Hơn nữa, thinh lặng không phải lúc nào cũng là cách tốt nhất để đối diện với những nỗi đau hay ám ảnh trong lòng.  Xét cho cùng, đó có thể là một dạng tập trung quá mức vào chính mình.  Đôi khi, khi một nỗi đau đang đe dọa sự quân bình nội tâm, điều tốt nhất ta có thể làm không phải là vào nhà nguyện, nhưng là đến rạp hát hoặc dùng bữa với một người bạn.  Sự chuyên tâm vào công việc hay một hình thức giải trí lành mạnh đôi khi lại chính là người bạn cần thiết khi con tim ta đang ngột ngạt.

 Có một câu chuyện về triết gia nổi tiếng Hegel.  Ngay sau khi hoàn tất công trình đồ sộ của mình về hiện tượng học của lịch sử, ông nhận ra rằng mình đang bên bờ suy sụp vì cường độ tập trung kéo dài quá lâu.  Ông đã làm gì để thoát khỏi tình trạng ấy?  Đi tĩnh tâm trong thinh lặng ư?  Không.  Ông đi xem nhạc kịch mỗi tối, dùng bữa hằng ngày với bạn bè, và tìm đến đủ mọi hình thức giải trí cho đến khi, sau một thời gian, sự siết chặt nghẹt thở của thế giới nội tâm dần buông lỏng và ánh nắng cùng sự tươi mới của đời sống thường ngày lại bừng lên.  Đôi khi, chính sự xao lãng – chứ không phải thinh lặng – mới là phương thuốc tốt nhất cho chúng ta, kể cả trên bình diện thiêng liêng.

 Dẫu vậy, thinh lặng vẫn là điều cần thiết.  Những gì các bậc thầy linh đạo qua mọi thời đại muốn dạy về điều này có thể được tóm gọn trong một câu của Meister Eckhart: Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.

 Thực chất, Eckhart muốn nói rằng thinh lặng là một lối vào đặc biệt của cõi thần linh.  Bên trong mỗi chúng ta có một khoảng thinh lặng mênh mông đang mời gọi ta bước vào, và có thể giúp ta học ngôn ngữ của trời cao.  Điều đó có nghĩa là gì?

 Thinh lặng là một ngôn ngữ sâu xa hơn, bao quát hơn, thấu hiểu hơn, giàu lòng trắc ẩn hơn và vĩnh cửu hơn bất cứ ngôn ngữ nào khác.  Trên thiên đàng, dường như sẽ không còn ngôn ngữ, không còn lời nói.  Thinh lặng sẽ cất tiếng.  Chúng ta sẽ hiểu nhau cách trọn vẹn, thân mật và hân hoan, và nâng đỡ nhau trong tĩnh lặng.  Trớ trêu thay, dù rất quan trọng, lời nói cũng là một phần lý do khiến chúng ta chưa thể làm được điều ấy ngay bây giờ.  Lời nói có thể hiệp nhất, nhưng cũng có thể chia rẽ.  Trong tĩnh lặng, có một sự kết nối sâu xa hơn.

 Những người yêu nhau đã biết điều này, cũng như các tín hữu Quaker với phụng vụ cố gắng phản chiếu sự thinh lặng của thiên đàng, và như những ai thực hành cầu nguyện chiêm niệm.  Thánh Gioan Thánh Giá diễn tả điều ấy bằng một câu đầy ẩn ý: “Hãy học để hiểu nhiều hơn bằng cách không hiểu, hơn là bằng cách hiểu.”

 Thinh lặng có thể nói lớn hơn và sâu hơn lời nói.  Chúng ta đã trải nghiệm điều này theo nhiều cách khác nhau: khi bị ngăn cách bởi khoảng cách hay cái chết với những người thân yêu, chúng ta vẫn có thể ở với họ trong thinh lặng; khi bị chia rẽ với những người thiện chí vì hiểu lầm, thinh lặng có thể là nơi chúng ta lại có thể ở cùng nhau; khi đứng bất lực trước nỗi đau của người khác, thinh lặng có thể là cách diễn tả sự cảm thông tốt nhất; và khi chúng ta phạm lỗi và không còn lời nào có thể khôi phục sự nguyên vẹn trước đây, thì trong thinh lặng, một Lời sâu xa hơn có thể vang lên, cho ta biết rằng rốt cuộc mọi sự sẽ ổn thỏa, và mọi cách thế hiện hữu sẽ được ổn thỏa.

 Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.  Đó là ngôn ngữ của thiên đàng, đã sẵn ở sâu thẳm trong ta, đang mời gọi ta bước vào sự thân mật sâu xa hơn với mọi sự – ngay cả khi chúng ta vẫn cần đến “liệu pháp” của đời sống công khai.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

GÂY KINH NGẠC- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ!”.

“Tình yêu và sự thật như muối – Natri Clorua. Không có sự thật, tình yêu mơ hồ; sự thật thiếu tình yêu có thể gây thương tổn. Khi sự thật và tình yêu tích hợp, nó trở nên ‘muối của đất’ và là yếu tố gây kinh ngạc!” – David H. Johnson.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay tiết lộ: sống trong sự thật là cách hấp dẫn nhất để truyền đạt nó. Chúa Giêsu là kiểu mẫu; Ngài trở nên “muối của đất”, một yếu tố ‘gây kinh ngạc’ đến nỗi “Vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ!”.

Tuy nhiên, sự thật luôn có giá của nó; và không phải ai cũng dám trả giá để đứng về phía nó. Trước Chúa Giêsu, người thì tin Ngài là tiên tri; kẻ khác tin Ngài là Đấng Kitô; số khác không tin. Vệ binh được sai đến bắt Ngài thì trở về tay không; giới lãnh đạo thì khinh thị. Nicôđêmô lại lưỡng lự – trái tim muốn bênh vực, lý trí lại sợ liên luỵ. Đó cũng là giằng co quen thuộc nơi mỗi chúng ta – không phải không biết điều đúng, nhưng chỉ không dám trả giá! Hồng y Cantalamessa từng cho rằng, điều khó nhất không phải là nhận ra sự thật, nhưng là chấp nhận để nó thắng mình!

Vậy điều gì nơi Chúa Giêsu khiến người ta bất đồng? Chỉ vì Ngài ‘gây kinh ngạc’. Ngài giảng dạy như Đấng có uy quyền; một lời, quỷ phải xuất; ai nghe cũng kinh hãi. Vậy mà Lời Ngài không chỉ vang lên, nhưng chạm tới và làm khác đi. Không dễ cắt nghĩa, nhưng không thể chối cãi – lời ấy mang sức mạnh kêu gọi đức tin, gợi lên một sự hiện diện chỉ Thiên Chúa có. Vì thế, Chúa Giêsu quá hấp dẫn và không ai có thể thờ ơ. Và vì không thể thờ ơ, người ta buộc phải chọn – và chọn lựa ấy có thể gây mất mát.

‘Gây kinh ngạc’ luôn kéo theo phản ứng. Người đơn sơ mở lòng và đáp lại; kẻ tự cao thì khép lại và lên án. Họ ghen tị và miệt thị cả những ai dám tin nhận Ngài. Bởi lẽ, một khi sự thật chạm vào cái tôi, nó thường bị coi như một đe doạ hơn là một giải thoát. Giêrêmia đã nếm trải điều đó: “Con đâu biết chúng đang mưu tính hại con” – bài đọc một. Bị chống đối, ông vẫn nói sự thật và phó mình – “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con ẩn náu bên Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ!”. Trước Chúa Giêsu, không ai đứng ngoài; hoặc theo Ngài, hoặc loại trừ Ngài. Không chọn Ngài, là đã âm thầm tẩy chay Ngài. Trung lập trước Chúa Giêsu thường chỉ là một ảo tưởng dễ chịu. Bước vào Tuần Thương, thập giá của Ngài phải ‘gây kinh ngạc’ lớn nhất. Chúng ta không thể dửng dưng trước tình yêu hy tế của Ngài, “như con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt” vì tội lỗi nhân loại – và tội lỗi của mỗi chúng ta. Nếu thập giá không làm nhói đau, có lẽ trái tim đã bắt đầu xơ cứng. Thập giá của Ngài, nơi lời và tình yêu trùng khít; từ đó, Con Thiên Chúa trở nên “muối của đất”, “muối của thế giới!”. “Trên thập giá, Thiên Chúa nói lời cuối cùng của Ngài – và lời ấy là tình yêu!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Đấng ‘gây kinh ngạc’, đừng để con gây kinh hoàng; cho con là muối – âm thầm mà khác biệt!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 *********************************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần IV Mùa Chay

Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 7,40-53

40 Khi ấy, Đức Giê-su giảng dạy tại đền thờ Giê-ru-sa-lem. Trong dân chúng, có những người nghe các lời của Đức Giê-su thì nói : “Ông này thật là vị ngôn sứ.” 41 Kẻ khác rằng : “Ông này là Đấng Ki-tô.” Nhưng có kẻ lại nói : “Đấng Ki-tô mà lại xuất thân từ Ga-li-lê sao ? 42 Nào Kinh Thánh đã chẳng nói : Đấng Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít và từ Bê-lem, làng của vua Đa-vít sao ?” 43 Vậy, vì Người mà dân chúng đâm ra chia rẽ. 44 Một số trong bọn họ muốn bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt.

45 Các vệ binh trở về với các thượng tế và người Pha-ri-sêu. Họ liền hỏi chúng : “Tại sao các anh không điệu ông ấy về đây ?” 46 Các vệ binh trả lời : “Xưa nay chưa hề đã có ai nói năng như người ấy !” 47 Người Pha-ri-sêu liền nói với chúng : “Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao ? 48 Trong hàng thủ lãnh hay trong giới Pha-ri-sêu, đã có một ai tin vào tên ấy đâu ? 49 Còn bọn dân đen này, thứ người không biết Lề Luật, đúng là quân bị nguyền rủa !” 50 Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, trước đây đã đến gặp Đức Giê-su ; ông nói với họ : 51 “Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không ?” 52 Họ đáp : “Cả ông nữa, ông cũng là người Ga-li-lê sao ? Ông cứ nghiên cứu, rồi sẽ thấy : không một ngôn sứ nào xuất thân từ Ga-li-lê cả.”

53 Sau đó, ai nấy trở về nhà mình. 


 

THIÊN CHÚA MỞ HUYỆT MỘ – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Trong bất cứ nền văn hóa nào, cái chết luôn là một kinh nghiệm đau thương nhất của kiếp người.  Cái chết chia lìa người thân, chấm dứt mọi kế hoạch và dự tính cho tương lai.  Người đã chết nhanh chóng rơi vào quên lãng, ngay cả đối với những người thân của mình.  Ở mọi thời đại, các nền văn hóa và tín ngưỡng đều tìm kiếm câu trả lời cho ý nghĩa cuộc đời cũng như tương lai con người sau khi đã chết.

 Vào thế kỷ thứ Sáu trước Công nguyên, khi dân Do Thái đang bị phát lưu đi đày ở Ba-by-lon, ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã gửi đến cho họ một thông điệp hy vọng: Thiên Chúa sẽ mở nấm huyệt mộ cho dân và đem họ về đất Ít-ra-en, tức là về quê cha đất tổ.  Trong bối cảnh cụ thể của thời lưu đầy, hành động “mở huyệt” của Thiên Chúa có nghĩa là Ngài giải phóng họ khỏi cảnh lưu đày tha hương.  Những người Do Thái khi nghe lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en, chắc chắn liên tưởng tới cuộc giải phóng vĩ đại Thiên Chúa đã thực hiện để đưa dân tộc họ ra khỏi Ai-cập, sau hơn bốn trăm năm sống cảnh nô dịch tại xứ người.  Đó cũng sẽ là thời mà Thiên Chúa khôi phục truyền thống huy hoàng đã mất do cuộc lưu đày. 

Sự can thiệp của Thiên Chúa không chỉ là giải phóng dân Do Thái khỏi cảnh lưu đày, mà còn đổi mới tâm hồn của họ.  Hãy nghe ngôn sứ nói: “Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh… bấy giờ các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa.”  Nhờ quyền năng của Thiên Chúa, người Do Thái được về lại cố hương, đồng thời cũng được canh tân để mang một tâm hồn mới, dồi dào ân sủng và niềm vui của Thần Khí.  Một dân tộc đã thực sự hồi sinh!

 Thiên Chúa, Đấng đã giải phóng dân Do Thái khỏi ách nô lệ Ai Cập, và đã dẫn dân lưu đày từ Ba-by-lon về lại quê hương.  Vị Thiên Chúa ấy đã thực hiện những điều vĩ đại qua Đức Giê-su.  Phép lạ làm cho ông La-da-rô đã chết bốn ngày sống lại đã chứng minh quyền năng của Thiên Chúa.  Nơi Đức Giê-su, những gì các ngôn sứ loan báo trong Cựu ước đã trở thành hiện thực.  Người không chỉ mở huyệt mộ cho một cá nhân là ông La-da-rô, nhưng cho cả nhân loại đang nằm dưới ách của bóng tối tội lỗi và của sự chết.  Hơn nữa, ông La-da-rô được Chúa Giê-su cho sống lại, rồi sau này cũng phải chết.  Nhân loại đang đi trong tối tăm của nấm mồ được Chúa Giê-su cứu rỗi sẽ không phải chết, như lời Chúa nói: Tôi là sự sống lại và là sự sống.  Ai tin vào tôi, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.  Ai sống và tin vào tôi, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26) Những ai tin vào Người, sẽ được hưởng sự sống vĩnh cửu.  Dù sự chết vẫn hiện hữu, dù thân xác vẫn mục nát trong nấm mồ, nhưng những ai tin vào Chúa sẽ được sống lại trong ngày phán xét, và họ sẽ được hưởng sự sống đời đời. 

Những lời đối đáp giữa Chúa Giê-su và bà Mác-ta, không đơn thuần chỉ là cuộc đối đáp giữa hai cá nhân, mà là cuộc đối đáp giữa Ki-tô giáo và các nền văn hóa ở mọi thời đại.  Quả vậy, theo quan niệm thông thường, thì một người chết đã được chôn bốn ngày rồi, thì xác bắt đầu phân hủy và rất nặng mùi, không nên mở huyệt ra.  Tuy vậy, đối với quyền năng của Thiên Chúa, La-da-rô vẫn có thể sống lại.  Tin vào Chúa là tin một điều không thể lại trở thành có thể.  Hai mươi thế kỷ đã qua, trong bất kỳ nền văn hóa nào, Giáo Hội Ki-tô luôn khẳng định: Đức Giê-su đã sống lại từ cõi chết, và những ai tin vào Chúa, Người sẽ cho sống lại để hưởng hạnh phúc trường sinh. 

Dưới ngòi bút của tác giả Tin Mừng, nhân tính của Chúa Giê-su được diễn tả cách rõ nét.  Người đã rơi lệ trước cái chết của một người bạn.  Người xót xa trước nỗi khổ của tang quyến.  Chúng ta có thể thấy sự cảm thương của Chúa Giê-su ở những nơi khác trong Phúc âm: khi chứng kiến đám tang của người thanh niên, là con duy nhất của một người đàn bà góa (x. Lc 7,11-17); khi thấy nỗi đau của cha mẹ có đứa con gái vừa chết (Mt 9,18-26); và trước đám đông đi theo Người ba ngày trong hoang địa mà không có gì ăn (x. Mt 14,13-21).  Đức Giê-su là Đấng Thiên sai.  Người diễn tả lòng thương xót của Thiên Chúa trong lời giáo huấn, qua các phép lạ và trong mọi hành vi cử chỉ thường ngày.  Đó là hình ảnh một Thiên Chúa cảm thông với nỗi đau của con người, và ra tay cứu giúp họ. 

Giữa cuộc sống còn nhiều bon chen lận đận, chúng ta đôi khi bị giam hãm trong những “ngôi mộ” là tính ích kỷ, những đam mê, những hận thù nhỏ nhen toan tính…  Mùa Chay mời gọi chúng ta bước ra khỏi nấm mồ, nhờ quyền năng của Thiên Chúa.  Thánh Phao-lô quảng diễn: con người chúng ta luôn bị xác thịt chi phối.  Để làm đẹp lòng Chúa, chúng ta phải biết làm chủ những ước muốn của chúng ta, và điều khiển chúng theo cách phù hợp với ý Chúa.  Thánh nhân cũng nói đến cái chết thiêng liêng, tức là phạm tội.  Khi phạm tội, là chúng ta chết về phần linh hồn; khi hòa giải với Chúa (qua thiện chí sám hối và Bí tích Hòa Giải), chúng ta được sống lại với Đức Giê-su, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. 

“Từ vực thẳm, con kêu lên Chúa… ” (Đáp ca).  Lời Thánh vịnh nói lên thân phận bi thảm của con người.  Lời ấy cũng diễn tả niềm hy vọng vào lòng từ bi của Chúa.  Chính Người sẽ giải thoát chúng ta và sẽ mở huyệt mộ cho chúng ta. 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

SỐNG NHỮNG PHÚT CUỐI NGÀY TRONG TINH THẦN CÁNH CHUNG-Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

SỐNG NHỮNG PHÚT CUỐI NGÀY TRONG TINH THẦN CÁNH CHUNG

Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta một lời vừa ngắn gọn vừa đầy sức lay động: “Thời gian chẳng còn bao lâu” (1 Cr 7,29). Đó không phải là một lời làm ta hoảng sợ, nhưng là một tiếng chuông thức tỉnh. Cuộc đời này không kéo dài mãi. Lịch sử thế giới rồi cũng sẽ đi tới hồi viên mãn, khi Thiên Chúa hoàn tất mọi sự và quy tụ vạn vật trong Đức Kitô. Tuy nhiên, cũng chính Kinh Thánh lại dạy rằng: “Đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày” (2 Pr 3,8). Nghĩa là con người không thể dùng đồng hồ của mình để đo lường chương trình của Thiên Chúa. Ta không biết ngày tận thế đến khi nào. Ta cũng không biết giờ phút nào đời mình sẽ khép lại. Điều duy nhất ta biết chắc, đó là ngày ấy sẽ đến.

Chính vì thế, Hội Thánh thật khôn ngoan khi mỗi năm đều dành những tuần cuối năm phụng vụ, đặc biệt là tuần XXXIII Thường niên, để hướng lòng con cái mình về thực tại cánh chung. Đây là thời gian của tỉnh thức. Đây là thời gian của hồi tâm. Đây là thời gian để mỗi người tự hỏi: nếu hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi, tôi có sẵn sàng chưa? Nếu đêm nay Chúa gọi tôi ra khỏi thế gian này, lòng tôi sẽ thế nào? Bình an hay bối rối? Tín thác hay sợ hãi? Gần Chúa hay xa Chúa?

Nhiều người khi nghe nói đến ngày cùng tận thường nghĩ đến những biến động lớn lao của vũ trụ, những hình ảnh kinh hoàng, những biến cố chấn động. Nhưng thật ra, đối với mỗi người, ngày cánh chung gần gũi nhất không hẳn là ngày tận thế của toàn cầu, mà là giờ phút cuối cùng của chính đời mình. Thế giới có thể còn tiếp tục, nhưng đời tôi thì không kéo dài vô tận. Vì thế, vấn đề không phải là đoán khi nào tận thế xảy ra, nhưng là học cách sống sao cho mỗi ngày, nhất là mỗi buổi tối, đều trở thành một cuộc chuẩn bị âm thầm mà nghiêm túc cho cuộc gặp gỡ sau cùng với Chúa.

Cuối ngày là một khoảnh khắc rất đặc biệt. Sau bao bận rộn, tiếng động, công việc, lo toan, con người trở về với chính mình. Bóng chiều buông xuống như nhắc rằng một ngày đã qua và sẽ không bao giờ trở lại. Mỗi buổi chiều là một hình ảnh nhỏ của đời người. Sáng là tuổi trẻ, trưa là trưởng thành, chiều là tuổi xế bóng, và đêm là lúc mọi sự đi vào thinh lặng. Nếu biết sống giây phút cuối ngày với tâm tình đức tin, ta sẽ nhận ra rằng đó không chỉ là lúc nghỉ ngơi của thân xác, mà còn là giờ linh thiêng để dọn tâm hồn.

Có biết bao người sống rất kỹ cho ngày mai, nhưng lại quá hời hợt với phần rỗi đời đời. Người ta biết khóa cửa nhà trước khi ngủ, biết sạc điện thoại, chuẩn bị quần áo, lên kế hoạch công việc, nhưng nhiều khi lại quên dọn lòng mình trước mặt Chúa. Người ta sợ một đêm mất trộm, nhưng lại không sợ một linh hồn nguội lạnh. Người ta cẩn thận với sức khỏe thể lý, nhưng lại dễ dãi với đời sống thiêng liêng. Trong khi đó, có một sự thật không thể chối cãi: không ai biết mình còn thức dậy vào sáng hôm sau hay không. Nói điều ấy không phải để gieo buồn phiền, nhưng để giúp ta sống sâu hơn, thật hơn, và khôn ngoan hơn.

Những phút cuối ngày vì thế không nên bị bỏ trôi trong vô thức. Đó phải là lúc ta trở về trước mặt Chúa, lặng lẽ nhìn lại một ngày đã sống. Hôm nay tôi đã yêu thương thế nào? Tôi đã nói những lời nào làm người khác được nâng đỡ, và những lời nào làm người khác bị tổn thương? Tôi đã trung thành với bổn phận ra sao? Tôi đã sống gần Chúa hay để mình trôi dạt giữa quá nhiều bận tâm? Tôi có cố chấp, ghen ghét, kiêu ngạo, ích kỷ không? Tôi có bỏ lỡ những cơ hội làm điều tốt không? Một ngày qua đi không chỉ là thêm một ô trên tờ lịch bị xé bỏ. Một ngày qua đi là một phần đời không thể lấy lại. Mỗi buổi tối là lúc ta đặt phần đời vừa sống ấy vào tay Chúa.

Xét mình cuối ngày là một việc đạo đức rất đơn sơ nhưng vô cùng sâu sắc. Đó không phải là lúc tự dằn vặt mình, cũng không phải là lúc chỉ ngồi đếm lỗi để rồi thất vọng. Xét mình là đứng trong ánh sáng của Thiên Chúa mà nhìn lại chính mình. Trong ánh sáng ấy, ta thấy cả hai điều: tội lỗi của mình và lòng thương xót của Chúa. Ta thấy mình yếu đuối, nhưng cũng thấy Chúa vẫn kiên nhẫn đợi chờ. Ta thấy mình đã có lúc nguội lạnh, nhưng cũng thấy ơn Chúa vẫn âm thầm nâng đỡ mình suốt ngày qua. Người tín hữu chân thành không kết thúc ngày sống bằng mặc cảm, nhưng bằng sự khiêm nhường và tín thác. Họ biết nói với Chúa: “Lạy Chúa, hôm nay con còn thiếu sót nhiều, nhưng con xin trở về với Ngài. Xin tha thứ, thanh tẩy và gìn giữ con trong tình yêu của Chúa.”

Đẹp biết bao khi một Kitô hữu đi vào giấc ngủ với một linh hồn đã được hòa giải. Đẹp biết bao khi trước khi nhắm mắt, ta kịp nói một lời cảm ơn vì mọi ơn lành nhận được, một lời xin lỗi vì những vấp ngã, một lời phó thác cho đêm tối sắp đến. Đó là cách sống những phút cuối ngày trong tinh thần cánh chung. Không phải sống trong lo âu, nhưng trong tỉnh thức. Không phải trong ám ảnh, nhưng trong bình an. Không phải trong nỗi sợ bị phán xét, nhưng trong niềm hy vọng được gặp Đấng mình yêu mến.

Thật ra, ai sống tốt phút cuối ngày thì cũng sẽ sống tốt phút cuối đời. Người nào mỗi tối đều biết trở về với Chúa, người ấy sẽ không quá bỡ ngỡ khi một ngày nào đó phải trở về với Chúa mãi mãi. Người nào tập sống trong ánh sáng sự thật từng ngày, người ấy sẽ không quá hoảng hốt khi đứng trước ánh sáng vĩnh cửu. Cái chết, đối với người sống trong ân sủng, không còn chỉ là một kết thúc, nhưng là cuộc vượt qua. Không còn chỉ là mất mát, nhưng là cuộc gặp gỡ. Không còn chỉ là đóng lại một cánh cửa, nhưng là mở ra một quê hương.

Bởi vậy, những phút cuối ngày mang một giá trị thiêng liêng rất lớn. Đó là lúc ta học buông bỏ những gì không cần thiết. Một ngày sống qua đi cho ta thấy rõ hơn biết bao điều mình tưởng quan trọng thật ra rất chóng qua. Những bực bội, tranh chấp, tự ái, ganh đua, hơn thua… đến cuối ngày nhìn lại, nhiều khi chỉ là bụi nhỏ. Trước mặt Thiên Chúa, chỉ còn điều quan trọng nhất: tôi đã yêu mến Ngài và yêu thương anh em đến đâu. Càng gần đêm, tâm hồn càng được mời gọi sống đơn sơ hơn. Và chính trong sự đơn sơ ấy, ta chạm được điều cốt lõi của Tin Mừng.

Tuần XXXIII Thường niên và những ngày cuối năm phụng vụ vì thế không muốn làm ta sợ hãi về ngày tận thế, nhưng muốn dạy ta nghệ thuật sống mỗi ngày như một hồng ân và mỗi buổi tối như một cuộc chuẩn bị. Ai biết sống như thế sẽ không phung phí đời mình. Họ không trì hoãn việc hoán cải. Họ không nói: mai tôi sẽ cầu nguyện hơn, mai tôi sẽ tha thứ, mai tôi sẽ sửa mình, mai tôi sẽ sống tử tế hơn. Vì họ hiểu rằng đời người rất mong manh, và ơn gọi nên thánh luôn là chuyện của hôm nay. Chính hôm nay tôi phải yêu. Chính hôm nay tôi phải hoán cải. Chính hôm nay tôi phải làm hòa với Chúa. Chính tối nay tôi phải dọn lòng.

Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là tận thế đến bất ngờ, mà là lòng ta ngủ mê giữa khi Chúa đang đến gần. Có những người sống rất lâu nhưng không thực sự tỉnh thức. Có những người kéo dài năm tháng, nhưng tâm hồn thì nguội lạnh, trống rỗng, xa Chúa. Trái lại, có những người sống âm thầm, ngắn ngủi, nhưng từng ngày đều đầy ý nghĩa vì họ biết sống dưới ánh sáng vĩnh cửu. Điều làm nên giá trị của đời người không phải chỉ là sống bao nhiêu năm, nhưng là sống những năm tháng ấy như thế nào trước mặt Thiên Chúa.

Vì thế, khi chiều xuống, ta hãy coi đó như một lời mời của Chúa. Lời mời dừng lại. Lời mời nhìn lại. Lời mời quay về. Lời mời phó thác. Giữa bao xao động của cuộc sống, những phút cuối ngày có thể trở thành cuộc hẹn rất đẹp giữa linh hồn và Thiên Chúa. Ở đó, không cần những lời lẽ cầu kỳ. Chỉ cần một tâm hồn thật lòng. Chỉ cần một ánh nhìn hướng về Chúa. Chỉ cần một câu nguyện đơn sơ: “Lạy Chúa, nếu đêm nay là đêm cuối cùng của đời con, xin cho con được ở trong tình thương của Ngài.”

Sống như thế, ta sẽ không sợ ngày mai, cũng không sợ ngày cuối cùng. Vì người luôn trở về với Chúa vào mỗi cuối ngày thì thật ra đã bắt đầu sống đời đời ngay giữa cuộc đời này rồi. Mỗi đêm là một lần tập phó thác. Mỗi sáng thức dậy là một lần được ban thêm thời gian để yêu mến và sửa mình. Và đến khi tiếng gọi sau cùng vang lên, người tín hữu có thể thưa lên trong bình an: “Lạy Chúa, con đây.”

Xin cho những tuần cuối năm phụng vụ đánh thức nơi chúng ta một tâm hồn tỉnh thức. Xin cho mỗi buổi chiều không chỉ là lúc kết thúc công việc, mà còn là lúc bắt đầu một cuộc trở về nội tâm. Xin cho ta biết tận dụng những phút cuối ngày để dọn mình, để yêu thương hơn, để tha thứ hơn, để sống thật hơn, và để mỗi đêm đều là một bước chuẩn bị dịu dàng cho cuộc gặp gỡ vinh quang với Chúa, Đấng sẽ đến, chắc chắn sẽ đến, nhưng đến vào giờ ta không ngờ.

Lm. Anmai, CSsR


 

KHÔNG THỂ THỜ Ơ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ tìm cách bắt Chúa Giêsu!”.

“Với Chúa Giêsu, không ai có thể thờ ơ quá lâu; họ sẽ theo Ngài hoặc giết chết Ngài!” – Don Schwager.

Kính thưa Anh Chị em,

Sự đan xen lý thú của hai bài đọc hôm nay cho thấy: “Với Chúa Giêsu, không ai có thể thờ ơ quá lâu!”; cũng thế, với điều thiện, không ai có thể phớt lờ mãi! Phải chọn lựa! Chọn Chúa Giêsu hay giết chết Ngài; chọn điều thiện hay bóp nghẹt nó!

Chúng ta thường nghĩ điều lành sẽ truyền cảm hứng; không hẳn vậy, đôi khi lại gây chống đối. “Ta hãy gài bẫy, hại tên công chính!”; “Nào ta kết án cho nó chết!” – bài đọc một. Những lời này ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu và các môn đệ mọi thời. Điều tốt bị coi là lời kết án; lòng đạo bị xem như đe doạ. Ánh sáng càng rõ, bóng tối trong lòng người càng lộ ra và vùng vẫy chống lại. Có những lúc đứng giữa ánh sáng ấy, con người chỉ biết bất lực và rùng mình trước sự dữ tràn lan. Nhưng bài đọc Khôn Ngoan kết luận: “Chúng không biết những bí nhiệm của Thiên Chúa!”. “Thập giá là biểu lộ tột đỉnh của tình yêu Thiên Chúa!” – Bênêđictô XVI.

Trong bài Tin Mừng, khi Chúa Giêsu nói sự thật: “Đấng sai tôi là Đấng chân thật”, “Tôi từ Người mà đến”, người ta không chịu nổi và tìm cách bắt Ngài. Điều ấy vẫn lặp lại nơi các môn đệ mọi thời. Họ đã bắt và giết Ngài. Thiên Chúa thua sao? Bề ngoài, có! Nhưng đó là chiến thắng của tình yêu. Thập giá không chỉ phơi bày tội ác, nhưng còn phơi bày sự thật rằng chúng ta đã từ chối Tình Yêu đến cùng. Con người dùng tự do để đóng đinh Con của Ngài; nhưng Thiên Chúa dùng chính cây thập giá ấy để cứu độ họ. “Chính chúng ta đã giết Ngài… nhưng Ngài đã biến cuộc đóng đinh thành ơn cứu độ!” – Fulton Sheen.

Cũng thế, bạn và tôi ‘không thể thờ ơ’ với những lời dạy của Chúa Giêsu; hoặc là ủng hộ Ngài, hoặc là chống lại Ngài. Không có lập trường trung dung! Bạn sẽ tìm cách uốn nắn lời Ngài theo những ý tưởng và cách suy nghĩ của riêng mình, hay để lời chân lý của Ngài cắt xuyên qua bóng tối trong tâm hồn, lột trần sự kiêu hãnh và mù loà của bạn? Mỗi lần trì hoãn sự thật là một lần âm thầm đứng về phía đóng đinh Ngài. Hậu quả sẽ là rất lớn, cả trong cuộc sống đời này và cả trong cõi vĩnh hằng. “Không chống lại điều xấu là cộng tác với nó!” – Piô XI.

Anh Chị em,

“Không ai có thể thờ ơ quá lâu!”. Chúa Giêsu không bao giờ thờ ơ trước Chúa Cha, với Ngài, tất cả quy hướng về Cha. Ngài cũng không thờ ơ trước tội lỗi: Ngài gọi đích danh nó, vạch trần nó, và mang lấy nó. Trên thập giá, không còn chỗ cho sự trung dung: hoặc yêu đến cùng, hoặc khước từ đến cùng. Mùa Chay, mùa chọn điều thiện, chọn Giêsu – dù chúng ta tội lỗi, yếu hèn! Chúng ta ‘không thể thờ ơ’ mãi với Ngài, Đấng đã chờ bạn và tôi quá lâu! Ân sủng của Bí tích Hoà Giải đang chờ để chữa lành chúng ta. Vì lẽ, “Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, càng đến gần Tuần Thánh, cho con biết càng kíp quay về với Chúa. Vì con – nhất là con – ‘không thể thờ ơ’ với Chúa mãi!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần IV Mùa Chay

Họ tìm cách bắt Đức Giê-su, nhưng giờ của Người chưa đến.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 7,1-2.10.25-30

1 Khi ấy, Đức Giê-su thường đi lại trong miền Ga-li-lê ; thật vậy, Người không muốn đi lại trong miền Giu-đê, vì người Do-thái tìm giết Người.

2 Lễ Lều của người Do-thái gần tới, 10 khi anh em Người đã lên dự lễ, thì chính Người cũng lên, nhưng không công khai và hầu như bí mật.

25 Bấy giờ có những người ở Giê-ru-sa-lem nói : “Ông này không phải là người họ đang tìm giết đó sao ? 26 Kìa, ông ta ăn nói công khai mà họ chẳng bảo gì cả. Phải chăng các nhà hữu trách đã thực sự nhìn nhận ông là Đấng Ki-tô ? 27 Ông ấy, chúng ta biết ông xuất thân từ đâu rồi ; còn Đấng Ki-tô, khi Người đến thì chẳng ai biết Người xuất thân từ đâu cả.” 28 Lúc giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su nói lớn tiếng rằng : “Các ông biết tôi ư ? Các ông biết tôi xuất thân từ đâu ư ? Tôi đâu có tự mình mà đến. Đấng đã sai tôi là Đấng chân thật. Các ông, các ông không biết Người. 29 Phần tôi, tôi biết Người, bởi vì tôi từ nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi.”

30 Bấy giờ họ tìm cách bắt Người ; nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.


 

DÁM YÊU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy”.

Nghệ thuật thường vẽ Thánh Giuse như một cụ già. Nhưng El Greco lại khắc hoạ ngài trẻ trung, vững chãi; trẻ Giêsu quấn lấy chân. Như vậy, thật gần với Tin Mừng – một người trẻ đứng trước mọi rủi ro, vẫn dám yêu!

Kính thưa Anh Chị em,

Tình yêu luôn bị thách thức bởi rủi ro và chuyện tình Giuse – Maria cũng không ngoại lệ! “Maria có thai”. May thay, nhờ sự can thiệp của sứ thần, Giuse đã ‘dám yêu’ với tất cả rủi ro như Tin Mừng ngày lễ tiết lộ.

Thông thường, chúng ta chỉ yêu khi mọi sự còn sáng sủa: danh dự được giữ, tương lai trong tầm tay, và không phải trả giá. Với Giuse, tất cả sụp xuống trong một tin ngắn: “Maria có thai” – không giải thích, không lối thoát. Tình yêu trở thành một vết cắt: ở lại thì mang nhục, ra đi thì mất người mình yêu. Vậy mà Giuse không tố cáo, không tự vệ; thay vào đó, chọn rút lui âm thầm – một chọn lựa tưởng yếu, nhưng là đỉnh cao nội lực: chịu thiệt để người khác được bình an. Chính lúc ấy, Giuse đã ‘dám yêu’. “Tình yêu là điều cao cả… nó gánh vác mọi sự cách bình thản!” – Thomas Kempis.

Nhưng với những ai ngay lành, Thiên Chúa không để họ ở lại trong ngõ cụt. Khi Giuse đi đến tận cùng của trung thực, một giấc mơ mở ra. Không phải để giải thích mọi sự, nhưng để trao một hướng đi đủ cho trái tim bước tiếp; không dài, không giải thích hết, chỉ đủ để ông biết: đừng sợ! Và thật tuyệt vời, “Giuse làm như sứ thần Chúa dạy”. Tin là bước đi khi chưa hiểu; yêu là hành động khi chưa chắc. Và đó là lần thứ hai, Giuse ‘dám yêu’ – dám đặt cả đời mình vào một lời hứa không thể kiểm chứng.

Thánh Bernard viết: “Hãy nhớ đến vị tộc trưởng bị bán sang Ai Cập! Thánh Giuse không chỉ nhận tên ông mà còn nhận sự trong trắng của ông! Giuse Cựu Ước ‘giỏi đọc’ giấc mơ; Giuse Tân Ước ‘giỏi tin’ giấc mơ; Giuse Cựu Ước ‘tích trữ ngũ cốc’ cho một dân; Giuse Tân Ước ‘trông coi Bánh Hằng Sống’ cho muôn dân; và còn hơn thế, bảo tồn những gì Chúa hứa cho Abraham và nhà Đavít!”. Các bài đọc hôm nay và Thánh Vịnh đáp ca xác nhận: “Dòng dõi Người sẽ trường tồn vạn kỷ!”.

Anh Chị em,

Thử hỏi, có ai ‘dám yêu’ với tất cả rủi ro bằng Thiên Chúa? Thập giá – rủi ro vĩ đại của mọi rủi ro – khi vì yêu thương, Thiên Chúa trao chính Con mình. Và Đấng Phục Sinh vẫn đang chấp nhận rủi ro khi trao vào tay chúng ta những gì Ngài chưa hoàn tất! Ai trong đời cũng có lúc đứng trước một “Maria có thai” nào đó: một biến cố không giải thích được, một tổn thương không gọi được tên, một đổ vỡ không thể đảo ngược. Chúng ta có dám chọn trao mọi sự cho Chúa? Chỉ khi dám yêu như thế, cuộc đời mới không trôi qua vô nghĩa, nhưng trở thành một phần của công trình cứu độ. Không dám yêu, chúng ta sẽ không bao giờ sống thật! “Lạy Chúa, xin nhận lấy mọi tự do của con… tất cả là của Chúa; xin tuỳ ý định đoạt!” – Ignatiô Loyola.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những gì mù mờ, cho con biết tin; giữa những gì đổ vỡ, cho con biết trao; và giữa những gì khiến con co lại, xin mở tim con ra để yêu đến cùng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************

Lời Chúa 19/3 THÁNH GIUSE, BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MARIA

Ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 1,16.18-21.24a

16 Ông Gia-cóp sinh ông Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.

18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô : bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” 24a Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy. 


 

SỐNG MÙA CHAY VỚI THÁNH GIUSE – Lm. Vũ Xuân Hạnh

 Lm. Vũ Xuân Hạnh

 Hàng năm, khi Hội Thánh cử hành mùa Chay, thì cũng là dịp Hội Thánh kính nhớ thánh Giuse, một sự trùng khớp mang nhiều ý nghĩa.  Bởi đối với tôi, trong khi sống mùa Chay, tôi thường suy niệm gương nhân đức của thánh Giuse, từ đó rút ra những bài học nhân đức cần thiết, giúp mình sống mùa Chay tích cực hơn.

 Bởi thánh Giuse là đối tượng suy niệm trong mùa Chay, vì thế, tôi thấy việc sống mùa Chay của tôi cụ thể hơn, nhờ nhìn ngắm gương sống động nơi một con người hoàn toàn là người như tôi, nhưng lại vô cùng hoàn hảo.  Với một tấm gương cụ thể và sống động hoàn hảo như thế, sẽ mang lại trong tôi nhiều biến đổi, tạo cho tôi nhiều hiệu quả tích cực là bình an, hăng say dấn thân, chu toàn nhiệm vụ rao giảng trong vui tươi.  Nhất là tôi tự thấy mình giống thánh Giuse hơn.

 Hội Thánh thường xuyên đề nghị chúng ta tinh thần ăn chay và sống mùa Chay bằng cầu nguyện, sống bác ái.  Để sống những hành động mà Hội Thánh dạy, mùa Chay năm nay, tôi tiếp tục suy niệm gương nhân đức của thánh Giuse.  Tôi thấy thánh Giuse rất vui lòng đồng hành với tôi.  Người thương tôi, cầu ngyện cho tôi, nâng đỡ tôi và sẵn sàng lôi cuốn tôi đi cùng Người hướng về Chúa.  Những nhân đức của thánh Giuse mà tôi suy niệm trong mùa Chay năm nay cũng chỉ là những điều mà Hội Thánh tuyên dương nơi thánh Giuse từ ngàn xưa.

 Cùng Hội Thánh, tôi nhìn ngắm thánh Giuse nơi đoạn Tin Mừng kể lại việc thánh Giuse nhận lời truyền tin của thiên thần Chúa: “Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse.  Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.  Ông Giuse, chồng bà là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: ‘Này ông Giuse, là con cháu Đavid, đừng ngại đón Maria, vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.  Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.  Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia, Thiên Chúa phán qua miệng ngôn sứ: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà…” (Mt 1, 18-25).

 1.Thánh Giuse dạy tôi biết cầu nguyện

 Kinh nghiệm của Hội Thánh từ xưa tới nay cho thấy, những vị thánh có đời sống thần bí, thường được Chúa mạc khải qua thị kiến, đều là những vị thánh sống đời chiêm niệm, gặp gỡ Chúa hết sức thân mật trong sự cầu nguyện. 

Chỉ nguyên việc thánh Giuse được truyền tin và nhiều lần khác được báo mộng, cho phép chúng ta khẳng định rằng, thánh nhân có một đời sống cầu nguyện lớn không thể tả.  Thánh nhân có thể đối thoại với Chúa, lãnh hội ý Chúa trong sự chiêm ngắm nội tâm sâu lắng của mình. 

 Đặc biệt, nhiều lần Tin Mừng còn chứng minh thánh Giuse yêu chuộng sự thinh lặng.  Trong lúc thiên thần truyền tin, được giải thích cho biết Đức Maria mang thai là do ý muốn của Thiên Chúa và ơn Chúa Thánh Thần, thánh Giuse đã thinh lặng, đón nhận thánh ý của Thiên Chúa.  Thánh Giuse tin tưởng, phó thác và xin vâng để Chúa dẫn dắt mình đi vào quỹ đạo tình yêu và chương trình cứu độ của Chúa, Từ nay, Người đón nhận Mẹ Thiên Chúa làm bạn, Chúa Giêsu làm con của mình.  Để có được một nội tâm thinh lặng, hoàn toàn không gợn, thậm chí không một chút ảnh hưởng bởi những làn sóng xuôi ngược của cuộc đời, thánh Giuse phải là con người của sự gặp gỡ Thiên Chúa hết sức thường xuyên, thân mật và trưởng thành.  Đó chính là đời sống cầu nguyện của thánh Giuse.  Bởi chỉ có những ai ham thích cầu nguyện, và không ngừng cầu nguyện, người đó mới có thể thấy, nhận ra thánh ý Chúa toàn vẹn trong sâu kín của tâm hồn mình. 

Sống mùa chay, học lấy tinh thần cầu nguyện của thánh Giuse, chúng ta hãy đi vào thinh lặng để khám phá nội tâm của mình.  Có như thế, chúng ta mới có thể gặp Chúa, lắng nghe tiếng Chúa nói.  Có như thế, chúng ta mới thực sự nhận chân con người của mình: mình đã sống thế nào?  Đã làm hay không làm sự lành hoặc sự xấu nào?  Mình đã yêu Chúa, yêu anh em đến mức độ nào?  Chỉ có thinh lặng nội tâm, cầu nguyện, gặp gỡ Chúa và khám phá chính mình, chúng ta mới mong thực sự sống mùa Chay bằng sự biến đổi chính mình cách hiệu quả nhất, để được trở nên giống Chúa Kitô, nhờ noi gương thánh Giuse. 

2.Thánh Giuse dạy tôi sống bác ái 

Ngày nhận lãnh Đức Maria về nhà mình, phát hiện Đức Maria đã mang thai “ngoài ý muốn,” theo luật Do Thái, thánh Giuse có quyền tố giác, buộc Đức Maria phải chịu tội vì đã mang thai – một bào thai, cứ nhìn theo phương diện loài người, rõ ràng, vô thừa nhận.  Nhưng “người công chính” Giuse đã không làm điều đó, lại chỉ muốn kín đáo ra đi. 

Tôi nhận ra, hành động, cách xử sự của thánh Giuse hoàn toàn là hành động của một người đầy lòng yêu thương.  Chính tình yêu đã nung đốt nơi tâm hồn thánh Giuse nghĩa cử bác ái cao thượng: bỏ qua “tội” quá rõ ràng của Đức Maria.  Chính thánh Giuse đã sống bác ái, vì thế, tâm hồn bác ái ấy làm cho thánh Giuse vượt qua và vượt trên lề luật, điều mà không phải bất cứ ai trong thời thánh nhân có thể có được.  Bởi người ta giữ luật nghiêm nhặt.  Và luật tôn giáo trở thành đời sống tinh thần của con người như máu, như huyết chảy trong lồng ngực.  Nó thấm vào tim óc.  Nó điều khiển mọi hành vi.  Nó chi phối cả đời sống xã hội lẫn cá nhân.  Bởi đó, phải có một trái tim chan chứa yêu thương và bác ái đến vô cùng, mới có thể có hành động, cách cư xử thoát luật cách hết sức tuyệt vời như thánh Giuse. 

Sống mùa Chay, Hội Thánh đề cao tinh thần tương trợ, chia sẻ cho nhau.  Bác ái mà Hội Thánh đề nghị không chỉ là lãnh vực vật chất, của cải, mà còn là tương trợ trong tình hiệp nhất, cảm thông, lắng nghe, quan tâm, tìm nâng cao giá trị nhân bản, nhân phẩm và đời sống toàn diện của con người… 

Chính Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong sứ điệp mùa Chay 2006 đã đòi hỏi như thế: “Nếu chúng ta cổ võ sự phát triển cho đầy đủ, “cái nhìn” của chúng ta trên nhân loại phải được đo lường theo cái nhìn của Chúa Kitô.  Trên thực tế, điều hoàn toàn không được làm, là phân tách sự đáp ứng cho những nhu cầu vật chất và xã hội của dân chúng khỏi sự hoàn thành những ước muốn sâu sắc của lòng họ… Vì lẽ này, sự đóng góp hàng đầu mà Hội Thánh cống hiến cho sự phát triển nhân loại và cho các dân tộc không chỉ chú trọng tới những phương tiện vật chất hay là những giải pháp kỹ thuật.  Nói đúng hơn, sự đóng góp đó bao hàm sự công bố chân lý về Chúa Kitô, Đấng giáo dục các lương tâm và dạy dỗ phẩm giá đích thực của con người và của lao động; điều đó có nghĩa là cổ võ một nền văn hóa thật sự đáp ứng với tất cả những vấn đề của nhân loại…”.    

Như vậy, hiểu được căn tính đích thực của hành vi bác ái là đề cao giá trị con người, thì việc làm bác ái của mỗi người được đòi phải chia sẻ thật lòng bằng cả tâm tư, bằng những nội lực lắng sâu, xuất phát tận trái tim của tâm hồn.  Bác ái ấy đòi ta chấp nhận hao mòn, chấp nhận thiệt thòi, chấp nhận hy sinh bằng tất cả thời gian, sức lực, suy tư, cả đến những mất mát, những gian nan…  Như cây nến, một khi chấp nhận thắp sáng, tỏa sức nóng, sẽ tan dần.  Lòng bác ái đích thực, sẽ làm cho chúng ta bị đánh mất, bị tan chảy thực sự.  Để trang bị cho mình một tâm hồn yêu thương và bác ái, giúp mình sống mùa Chay, ở mức độ cao như thế, ta hãy đến cùng thánh Giuse.  Nơi thánh Giuse, ta học bài học của tình yêu, bác ái và hy sinh lớn lao. 

Thú thực, dù luôn tự nhủ rằng, mình cần phải học và chiêm ngắm gương của thánh Giuse để sống mùa Chay, nhưng thực tế, bản thân tôi còn phải cố gắng nhiều.  Tôi rất mong ước trở nên như thánh Giuse. Nhưng giữa sự mong ước và nỗ lực của tôi vẫn còn một khoảng cách mà chính tôi phải cố gắng hơn nữa.  Mùa Chay đã đi gần một phần ba đoạn đường.  Hôm nay, chuẩn bị mừng lễ thánh Giuse, có dịp định tâm lại, đồng thời có dịp học tập gương thánh Giuse, tôi mới hoảng hốt giật mình vì mình còn xa cách ý Chúa muốn quá.  Tôi thành tâm xin Chúa tha thứ cho tôi.  Đồng thời xin Người dạy tôi, ban ơn cho tôi để tôi hoàn thành tốt hơn việc sống mùa chay ở giai đoạn còn lại.  Tôi cũng tha thiết nài xin thánh Giuse, Đấng bảo trợ Con Thiên Chúa làm người, hãy cầu bàu cho tôi, phù giúp tôi sống mùa Chay, nhất là giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ làm Con Thiên Chúa của chính tôi.

 Lm. Vũ Xuân Hạnh

From: Langthangchieutim


 

NƯỚC CỨU SỐNG- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi đã thấy dòng nước từ cửa đông đền thờ tuôn ra!”.

“Một phụ nữ cùng đứa con đi dạo dọc bờ sông. Đột nhiên đứa trẻ trượt xuống dòng nước. Cô hét lên. Cô không biết bơi. Sau cùng, có người lao xuống. Bi kịch là, khi lao xuống dòng nước đục, họ phát hiện đứa bé đã chết và nước chỉ ngang thắt lưng! Người mẹ lẽ ra có thể cứu con mình nhưng cô đã không làm được vì thiếu hiểu biết!” – Ray Comfort.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không nói đến một dòng nước cạn giết chết một đứa bé; nhưng nói đến một dòng nước sâu, ‘nước cứu sống’ muôn người!

Nước từ đền thờ thời Êzêkiel báo trước ‘nước ân sủng’ thời Giêsu. “Nước này chảy tới đâu, thì nó chữa lành; sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống” – bài đọc một. Tin Mừng Gioan kể rằng, bên hồ nước, một người bại liệt lay lắt 38 năm, tương đương 40 năm của Israel trong sa mạc. Và xem ra anh này cũng ‘lang thang’ trong sa mạc đời anh ngần ấy năm.

‘Lang thang!’ – một hành động mang tính biểu tượng cho sự ‘tê liệt’. Đó là hậu quả của tội lỗi. Khi phạm tội, chúng ta ‘tê liệt’ và ‘lang thang’ trong sa mạc đời mình. Tội lỗi có những hậu quả nghiêm trọng khiến chúng ta không thể đứng dậy và bước đi đúng hướng. Đặc biệt, tội trọng khiến tôi bất lực: biết điều đúng mà vẫn chần chừ, thấy điều phải mà vẫn không làm.

Chúa Giêsu tự nguyện đi đến với người bại liệt; và dù không được mời, Ngài bước vào sự cô lập của anh. Ngài thấy anh, biết hoàn cảnh và trực tiếp hỏi, “Anh có muốn được khỏi không?”. Anh không trả lời nhưng chỉ phàn nàn, “Khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ!”. Anh mắc bệnh bi quan, lười, phát ốm vì buồn! “Đúng, tôi muốn, nhưng!” – và anh đợi ở đó. Thế mà mấu chốt lại là cuộc gặp gỡ của anh với Chúa Giêsu; dẫu xem ra – rất “thiếu hiểu biết” – anh không cần Ngài, dường như anh vẫn tiếc nuối ‘thuở lang thang’. Và nhiều khi, người tiếc nuối thuở lang thang ấy lại chính là tôi.

Thật tuyệt vời! Chúa Giêsu đã chữa anh mà không cần dìm anh xuống hồ. Bêthesda có nghĩa là “Ngôi nhà của lòng thương xót”, “Ngôi nhà của ân sủng”. Người này cần lòng thương xót và ân sủng cả khi không ý thức. Và Chúa Giêsu không phải là dòng nước giết chết, nhưng là dòng ‘nước cứu sống’. “Vết thương của chúng ta rất nghiêm trọng, nhưng vị Thầy thuốc thì toàn năng. Tôi sẽ tuyệt vọng về vết thương chí mạng của tôi, nếu tôi không tìm thấy một Thầy Thuốc vĩ đại như Ngài!” – Augustinô.

Anh Chị em,

“Tôi đã thấy dòng nước từ cửa đông đền thờ tuôn ra!”. Chúa Giêsu là dòng nước sâu, là đền thờ mới. Đỉnh cao của đền thờ là Canvê, nơi nước và máu của các Bí tích chảy ra từ cạnh sườn Ngài. Và cho đến ngày nay, dòng nước cứu độ ấy vẫn tiếp tục chảy, tiếp tục nuôi sống, tiếp tục rửa sạch mọi thương tích trong tâm hồn chúng ta. ‘Nước cứu sống’ ấy – chính Chúa Giêsu – tiếp tục đem lại hạnh phúc viên mãn cho con người ngay trong sa mạc khô khốc trần gian; Ngài đang nói với bạn và tôi, “Thôi! Đừng thiếu hiểu biết!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con tiếc nuối thuở lang thang. Xin giải thoát con; dìm con vào lòng thương xót Chúa mà đừng thèm hỏi con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần IV Mùa Chay

Người ấy liền được khỏi bệnh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 5,1-3a.5-16

1 Nhân một dịp lễ của người Do-thái, Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem. 2 Tại Giê-ru-sa-lem, gần Cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Híp-ri gọi là Bết-da-tha. Hồ này có năm hành lang. 3a Nhiều người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt. 5 Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm. 6 Đức Giê-su thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói : “Anh có muốn khỏi bệnh không ?” 7 Bệnh nhân đáp : “Thưa Ngài, khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi !” 8 Đức Giê-su bảo : “Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi !” 9 Người ấy liền được khỏi bệnh, vác chõng và đi được.

Hôm đó lại là ngày sa-bát. 10 Người Do-thái mới nói với kẻ được khỏi bệnh : “Hôm nay là ngày sa-bát, anh không được phép vác chõng !” 11 Nhưng anh đáp : “Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi : ‘Anh hãy vác chõng mà đi !’” 12 Họ hỏi anh : “Ai là người đã bảo anh: ‘Vác chõng mà đi’ ?” 13 Nhưng người đã được khỏi bệnh không biết là ai. Quả thế, Đức Giê-su đã lánh đi, vì có đám đông ở đấy. 14 Sau đó, Đức Giê-su gặp người ấy trong Đền Thờ và nói : “Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước !” 15 Anh ta đi nói với người Do-thái : Đức Giê-su là người đã chữa anh khỏi bệnh. 16 Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát.


 

NỖI ĐAU THỨ 5: Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá-Cha Vương

Buổi sáng tốt lành nhé. Mến chúc bạn và gia đình Tuần Thánh tràn đầy ân sủng với những khoảnh khắc gặp được Chúa và Mẹ trên đường tiến tới đồi Canvê. Bạn thân mến, vì tội lỗi của nhân loại mà Chúa có thể làm tất cả! Vì Con mà Mẹ cũng có thể làm tất cả! Luật tự nhiên, không có cha mẹ nào chuẩn bị cho cái chết của con mình. Riêng đối với người mẹ thì chẳng nỗi mất mát nào lớn cho bằng mất đi đứa con yêu quý của mình, thế mà Mẹ Maria vẫn một lòng một dạ “xin vâng” nhìn con mình bị đối xử như kẻ gian ác và bị đưa đến nơi hành hình. Thật là một nỗi đau xé lòng! Thiết tưởng rằng bạn cũng có một lần trải qua nỗi đau tương tự, chứng kiến người thân yêu của mình chút hơi thở hoặc thấy họ dằn vặt trong nỗi đau tinh thần… Dù đang trong hoàn cảnh nào đi nữa, bạn hãy nhớ lời Mẹ dạy 2 chữ “xin vâng” để hiệp thông với Mẹ, cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 16/3/2026  (n25-24)

NỖI ĐAU THỨ 5: Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá—Quân lính đóng đinh tay chân Chúa Giêsu vào thập giá, chúng đâu ngờ chúng đang cùng một lúc đóng đinh vào trái tim Mẹ Người. Nơi đồi Canvê, Mẹ Maria đã cùng với Chúa Giêsu sát tế chính mình, làm của lễ dâng lên Thiên Chúa để cứu chuộc nhân loại.

❦  Trong giây phút thinh lặng, mời bạn đặt hết những đau khổ của đời mình dưới sự che chở của tà áo Mẹ hôm nay nhé.

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, trinh nữ đau thương, xin mở mắt tâm hồn con, để con nhận ra tình yêu của Mẹ đã cùng hiệp thông với Chúa Giêsu cứu chuộc con.

❦  Kính mừng Maria…

❦  Chúng con cậy vì Danh Chúa Nhân Từ, xin cho… (các linh hồn đang đau khổ trong luyện ngục) được lên  chốn nghỉ ngơi…

❦  Lạy Mẹ Maria, Mẹ của lòng nhân từ và lòng thương xót, xin cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới. (Đọc 3 lần)

From: Do Dzung

*********************

Mẹ dưới chân thập giá | St: Lm Văn Chi | Tb: Anh Dũng

KIẾN TẠO KHÔNG GIAN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!”.

“Đức tin là không gian chúng ta tạo ra cho Thiên Chúa!” – Jonathan Sacks.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy một người cha đã ‘kiến tạo không gian’ cho Thiên Chúa; và khi đức tin mở ra, quyền năng Chúa Giêsu bước vào.

Người cha trong trình thuật thưa Chúa Giêsu, “Xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!”; Chúa Giêsu đáp, “Ông cứ về đi, con ông sống!”. Ông xin Ngài xuống; Chúa Giêsu không xuống. Ngài chỉ nói một lời. Và chính lời đó làm nên phép lạ. Niềm tin của ông mở lối cho Ngài, và Ngài đã tạo nên một sự khác biệt – con ông sống! Con người sợ khoảng trống. Chúng ta thường vội vàng lấp đầy đời mình bằng kế hoạch, lo toan, tham vọng, và cả những bận rộn đạo đức. Khi mọi thứ đã chật kín như thế, Thiên Chúa khó tìm được một chỗ để bước vào. Vấn đề không phải Thiên Chúa vắng mặt; vấn đề là đời chúng ta quá đầy để Ngài hiện diện.

Đức tin không chỉ mở cửa cho quyền năng Thiên Chúa, mà còn đan dệt một mối tương quan yêu thương cá nhân giữa con người với Ngài. Khi “con ông sống”, người cha ấy hẳn đã xác tín: có một Đấng quyền năng tột bậc đang hành động, và Đấng ấy là Đấng yêu thương mình. “Quyền năng của Thiên Chúa không bao giờ tách rời khỏi tình yêu của Ngài!” – Jürgen Moltmann.

Thật thú vị, ‘kiến tạo không gian’ không chỉ là việc của con người, mà còn là việc của Thiên Chúa. “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới!”; “Ta sẽ tạo Giêrusalem nên nguồn hoan hỷ, nơi đây sẽ không còn nghe thấy tiếng than khóc kêu la!” – bài đọc một. Giêrusalem được biến đổi; và không chỉ Giêrusalem, bạn và tôi được biến đổi. Hội Thánh – Giêrusalem mới – được biến đổi; và Thiên Chúa vui thoả khi những ai Ngài yêu được biến đổi, “Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Lời cầu của người cha thúc bách sự có mặt cấp thiết của Chúa Giêsu. Nhưng ông nào biết rằng thuộc tính của Ngài là hiện diện mọi lúc mọi nơi; không cần xuất hiện thể lý, Ngài hiện diện bằng Lời. Vậy mà Chúa Giêsu vẫn cần đến lòng tin của ông! Cần, vì lòng tin ấy mở đường cho quyền năng Ngài làm nên điều kỳ diệu. Chính lòng tin ‘kiến tạo không gian’ cho Thiên Chúa; và khi khoảng trống ấy mở ra, quyền năng Ngài bước vào. “Đức tin không phải là một sức ép, mà là sự mở lòng để Thiên Chúa được là Thiên Chúa!” – Karl Rahner.

Anh Chị em,

‘Kiến tạo không gian’ cho Thiên Chúa là can đảm rút mình khỏi trung tâm để Thiên Chúa trở thành trung tâm. Nơi Chúa Kitô, Chúa Cha là trung tâm. Ngài mở một không gian cho Cha – không gian của thập giá – nơi lòng thương xót mạnh hơn tội lỗi và sự chết. Khi đức tin đồng nhịp với lòng thương xót – không chỉ của Thiên Chúa, mà còn của con người với nhau – sự hiện diện vô hình của Ngài trở thành quyền năng cứu độ giữa những đổ vỡ rất thật của đời người. Quả thế, “Lòng thương xót làm cho công trình vô hình của Thiên Chúa trở nên hữu hình giữa thế gian!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sợ khoảng trống, nên lấp đầy đời mình bằng những thứ chóng qua, và Chúa phải vô gia cư. Cho con can đảm dọn trống cõi lòng, để Chúa có một chỗ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần IV Mùa Chay

Ông cứ về đi, con ông sống.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 4,43-54

43 Khi ấy, sau hai ngày lưu lại Sa-ma-ri, Đức Giê-su đi Ga-li-lê. 44 Chính Người đã quả quyết : ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình. 45 Khi Người đến Ga-li-lê, dân chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã được chứng kiến tất cả những gì Người làm tại Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ.

46 Vậy Đức Giê-su trở lại Ca-na miền Ga-li-lê, là nơi Người đã làm cho nước hoá thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Ca-phác-na-um. 47 Khi nghe tin Đức Giê-su từ Giu-đê đến Ga-li-lê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết. 48 Đức Giê-su nói với ông : “Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu !” 49 Viên sĩ quan nói : “Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất !” 50 Đức Giê-su bảo : “Ông cứ về đi, con ông sống.” Ông tin vào lời Đức Giê-su nói với mình, và ra về. 51 Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi. 52 Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp : “Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt.” 53 Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Đức Giê-su đã nói với mình : “Con ông sống”, nên ông và cả nhà đều tin. 54 Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giê-su đã làm, khi Người từ miền Giu-đê đến miền Ga-li-lê.


 

“Việc Chúa làm ôi vĩ đại biết bao.”

Thao Teresa

CÓ NHỮNG ĐIỀU CẦN PHẢI NHẮC MÃI cho thế hệ tương lai biết rằng chúng ta đã có một quá khứ tuy đau khổ nhưng anh dũng và trung kiên.

Ngày 15/3 là Sinh nhật của một vị Giám mục Việt Nam thầm lặng.

Ngài sinh tại Bắc Ninh ngày 15/3/1921, thụ phong Linh mục ngày 21/12/1945 khi mới 24 tuổi. Ngài đã từng phải ngồi tù 7 năm, sau đó làm Cha xứ các giáo xứ, trong đó có Giáo xứ Chính tòa Bắc Ninh, kiêm Tổng Đại diện Giáo phận. Khi Chủng viện Bắc Ninh được mở, ngài làm Giám đốc kiêm Giáo sư duy nhất!

Vào tháng 5/1975 ngài được Đức Giám mục Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng phong chức Giám mục. Thánh Lễ phong chức diễn ra trong căn phòng nguyện có diện tích chưa đến 8 mét vuông mà sau này được biết đến với tên gọi lịch sử: Phòng U8. Chỉ có một Giám mục chủ phong, một tân Giám mục và một Linh mục.

Chỉ sau hơn 2 tháng được tấn phong chức Giám mục, ngài bị trục xuất, bị buộc phải lặng lẽ rời Tòa Giám mục Bắc Ninh và bị đưa đi quản chế tại Giáo xứ Đại Lãm, Lục Nam, Bắc Giang trong suốt 17 năm. Sau 17 năm bị quản chế, vị Giám mục đau khổ và kiên cường này về với Chúa, để lại cho hậu thế tấm gương kiên trung trong Đức Tin, không thoả hiệp, không lấy lòng thế gian để mưu lợi. Năm ấy là năm 1992.

Đó là Đức Cha Đaminh Đinh Huy Quảng, Giám mục phụ tá Giáo phận Bắc Ninh.

Ngài là vị Giám mục được tấn phong không ai biết, chưa hề đội mũ Mitra, chưa đeo nhẫn Giám mục hay mặc phẩm phục Giám mục công khai, chưa bao giờ được ai gọi là Đức Cha.

15 năm sau khi ngài về với Chúa, năm 2007, Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt công bố công khai về ngài tại Nhà thờ Chính tòa. Và giáo dân Bắc Ninh kinh ngạc vì một vị Giám mục sống giữa họ bao nhiêu năm trời mà họ không hề hay biết.

“Việc Chúa làm ôi vĩ đại biết bao.”

Và Đức cha đã lấy khẩu hiệu Giám mục là: “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13,7).

=J Vinh Le=


 

TƯỞNG MÌNH THẤY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!”.

“Kiêu ngạo là căn bệnh của mắt tâm hồn; nó làm người ta tưởng mình sáng, trong khi họ ở trong bóng tối!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến căn bệnh của mắt tâm hồn. Vì thế, điều nguy hiểm không phải là không thấy, nhưng là ‘tưởng mình thấy’.

Một người mù từ thuở mới sinh được Chúa Giêsu chạm đến và anh được thấy. Nhưng phép lạ ấy lại khơi lên tranh cãi: đám đông bàn tán, cha mẹ anh sợ hãi, các biệt phái tra hỏi và kết án. Họ hỏi, ai đã mở mắt cho anh? Anh trả lời, “Người tên là Giêsu!”. Họ tiếp tục chất vấn, thậm chí mạt sát; nhưng chính lúc ấy, ánh sáng trong anh lại lớn dần. Mắt anh mở ra trong phút chốc; nhưng mắt đức tin mở ra qua cả một hành trình: thoạt đầu anh chỉ biết “Người tên là Giêsu”; rồi “Người là một ngôn sứ”; cuối cùng, gặp lại Ngài, anh sấp mình thưa, “Lạy Ngài, tôi tin!”. “Chúa mở mắt anh; sự thật mở linh hồn anh!” – Grêgôriô Cả.

Đang khi những người tưởng mình hiểu mọi sự lại đi theo hướng ngược lại. Họ không phủ nhận phép lạ, nhưng không muốn thấy điều phép lạ nói lên; vì ánh sáng Giêsu không chỉ mở mắt, mà còn phơi bày trái tim. Bởi thế, thay vì vui mừng với người được sáng mắt, họ lại cố chấp bảo vệ quan điểm – bi kịch của những kẻ ‘tưởng mình thấy’. “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” – bài đọc một. Vì vậy, ánh sáng của Thiên Chúa không dừng ở đôi mắt, nhưng chiếu vào tâm hồn; và khi ánh sáng ấy chạm đến, con người được mời gọi “hãy ăn ở như con cái ánh sáng” – bài đọc hai.

Nhưng câu chuyện ấy không xa; nó đang xảy ra nơi chúng ta – những người quen với Lời Chúa, với nhà thờ, với việc đạo, đến mức tưởng mình thấy rõ mọi sự. Nhưng chính lúc đó, chúng ta có thể đánh mất sự đơn sơ của người mù – thừa nhận mình cần được mở mắt. Khi con người ngừng tìm kiếm ánh sáng, họ bắt đầu sống bằng những điều mình nghĩ là đúng. Đó là lúc căn bệnh âm thầm của những người ‘tưởng mình thấy’ bắt đầu lớn lên. Bóng tối nguy hiểm nhất là bóng tối tưởng mình đang ở trong ánh sáng. “Trở ngại lớn nhất của tri thức không phải là ngu dốt, nhưng là ảo tưởng mình hiểu biết!” – Daniel J. Boorstin.

Anh Chị em,

Chiêm ngắm Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra Ngài là Ánh Sáng thật. Ngài đến không để kết án, nhưng để mở mắt con người; không chỉ nói về ánh sáng, nhưng trao ánh sáng. Và đỉnh cao của ánh sáng ấy là thập giá: nơi tưởng như bóng tối đã thắng, nhưng chính tại đó ơn cứu độ bừng lên. Vì thế, “kẻ xem thấy lại nên đui mù” không chỉ là một lời cảnh báo, mà còn là một lời mời gọi. Ai dám nhận mình mù, người ấy có thể được mở mắt; ai khép kín trong sự tự mãn, người ấy có nguy cơ rơi vào bóng tối mà không hay biết. Chỉ khi dám nhận mình mù, con người mới bắt đầu nhìn thấy!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành đôi mắt tâm hồn con; đừng để con tưởng mình đã thấy, trong khi lòng còn ở trong bóng tối!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY, NĂM A

Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 9,1-41

1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2 Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” 3 Đức Giê-su trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. 4 Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. 5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”

6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.

8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” 9 Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !” Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !” 10 Người ta liền hỏi anh : “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?” 11 Anh ta trả lời : “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” 12 Họ lại hỏi anh : “Ông ấy ở đâu ?” Anh ta đáp : “Tôi không biết.”

13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” 16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”

18 Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi : “Anh này có phải là con ông bà không ? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được ?” 20 Cha mẹ anh đáp : “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó ; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.” 22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. 23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói : “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”

24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo : “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” 25 Anh ta đáp : “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !” 26 Họ mới nói với anh : “Ông ấy đã làm gì cho anh ? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?” 27 Anh trả lời : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa ? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?” 28 Họ liền mắng nhiếc anh : “Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. 29 Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” 30 Anh đáp : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi ! 31 Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” 34 Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.

35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” 36 Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” 37 Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” 38 Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. 39 Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”

40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?” 41 Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn !”