CỦA TÌM NGƯỜI -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng”.

“Vấn đề không phải là: ‘Làm sao tôi tìm được Thiên Chúa?’, nhưng là: ‘Làm sao để tôi được Thiên Chúa tìm thấy?’” – Henri Nouwen.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta vẫn thường nghĩ người tìm của. Tin Mừng hôm nay mở ra một nghịch lý lớn hơn: nhiều khi của lại tìm người. Đó là câu chuyện ‘của tìm người’.

Có một sự tương phản rất đẹp trong hai dụ ngôn. Người thương gia dành cả đời để tìm viên ngọc quý; cuối cùng, ông gặp được. Người nông dân không hề đi tìm kho báu; kho báu lại bất ngờ được tìm thấy trên chính thửa ruộng ông thuê tậu. Một người gặp điều hằng mong, người kia gặp điều không hề ngờ. Hai con đường trái ngược, nhưng gặp nhau ở một điểm: người gặp của, của gặp người. Đó là cách Thiên Chúa đến với con người: có người miệt mài kiếm tìm Ngài, lại có người bất ngờ được Ngài tìm thấy. Có những cuộc gặp chỉ khi nhìn lại, chúng ta mới biết mình không phải người đến trước.

Điều gì xảy ra khi của gặp người? Tin Mừng trả lời bằng một chi tiết tinh tế. Bản Hy Lạp viết apo tēs charas autou – “vì niềm vui của mình”. Niềm vui ấy có trước mọi quyết định. Người nông dân bán tất cả những gì mình có để mua thửa ruộng, nhưng không phải vì thửa ruộng, mà vì kho báu đã thuộc về chân trời đời ông. Người thương gia cũng vậy. Anh bán tất cả những gì anh có không phải để đổi lấy viên ngọc, nhưng vì đã gặp được viên ngọc anh tìm kiếm suốt đời – đáng để đánh đổi mọi sự. Niềm vui không phải là phần thưởng của sự từ bỏ; niềm vui làm cho sự từ bỏ trở nên thanh thản.

Thế nhưng, không phải mọi kho báu đều đáng để bán tất cả. Chỉ điều tuyệt đối xứng với một quyết định tuyệt đối. Salômôn không xin trường thọ, giàu sang hay chiến thắng, nhưng xin “một tâm hồn biết lắng nghe” – bài đọc một. Cũng vì thế, tác giả Thánh Vịnh mới thốt lên: “Luật pháp Ngài, lạy Chúa, con yêu chuộng dường bao!”. Phaolô còn đi xa hơn: kho báu ấy không chỉ thay đổi điều chúng ta có, mà còn biến đổi chính con người chúng ta để “nên đồng hình đồng dạng” với Con Thiên Chúa – bài đọc hai. Chỉ khi gặp được Đấng tuyệt đối, mọi giá trị khác mới rơi đúng vào vị trí khiêm nhường của nó.

Với chúng ta, bi kịch của một đời người không phải là không gặp kho báu, nhưng gặp kho báu mà không nhận ra. Có những điều chúng ta theo đuổi; lại có những điều lặng lẽ đi ngang cuộc đời. Điều đáng tiếc nhất không phải là đánh mất một kho báu, nhưng là không hề biết mình đã từng gặp nó.

Anh Chị em,

Kho báu ấy có một khuôn mặt: Đức Kitô. Trước mọi cuộc kiếm tìm của con người, luôn có một cuộc kiếm tìm của Thiên Chúa. Phaolô không nói: “Tôi đã nắm được Đức Kitô!”, nhưng: “Đức Kitô Giêsu đã chiếm lấy tôi!”. Đức tin khởi đi từ giây phút con người nhận ra mình đã được yêu, được gọi và được tìm thấy. Đó chính là nghịch lý của việc ‘của tìm người’. “Đừng nghĩ rằng bạn có thể dẫn đường cho tình yêu; chính tình yêu, nếu thấy bạn xứng đáng, sẽ dẫn đường cho bạn!” – Kahlil Gibran.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết nhanh nhẹn để nhận ra, biết trân quý để giữ lấy, và đừng bao giờ vì một phút ơ hờ mà vuột mất Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

CHÉN HAY NGAI? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?”.

“Chúng ta đến với thế giới để sống; Ngài đến với thế giới để chết! Con người của các nỗi buồn làm quen với vực thẳm đau buồn để trở thành niềm vui cho thế giới!” – A. Fortosis.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta đến với thế giới để sống; Ngài đến để chết. Chúng ta tìm chỗ nhất; Ngài chọn chỗ rốt. Hôm nay, Tin Mừng buộc chúng ta trả lời một câu hỏi không thể né tránh: ‘chén hay ngai?’.

“Chén Thầy sắp uống”. Bản Hy Lạp viết potērion – “chén”. Đó không chỉ là vật để uống, nhưng còn là phần số Thiên Chúa trao, dẫn đời người đến chỗ viên mãn. Giacôbê và Gioan xin ngai, Ngài trao chén; họ tìm vinh quang, Ngài mở ra hiệp thông. Từ ambitio đến communio, người môn đệ được mời bước ra khỏi tham vọng để đi vào sự thông phần với cuộc đời của Thầy. Vì thế, câu hỏi “có uống nổi” không phải là một lời từ chối, nhưng là một lời mời chọn lựa: theo Chúa Giêsu không phải để được nâng lên, nhưng để uống cùng một chén với Ngài. “Chén mà chúng ta uống là chén của niềm vui và nỗi buồn, của sự sống và cái chết!” – Henri Nouwen.

“Uống” không phải là chịu đựng một điều gì bên ngoài, nhưng là đi vào bên trong hành vi tự hiến của Thầy; không phải là mất mát, nhưng là hiệp thông trong yêu thương. Vì thế, điều các môn đệ xin không sai ở ước muốn hiệp thông, nhưng sai ở con đường: muốn vinh quang mà không muốn chung số phận với Thầy. Chính tại đây, nghịch lý Tin Mừng trở nên rõ ràng: chỉ khi chấp nhận đi vào điều mình không chọn, con người mới thực sự đạt tới điều mình tìm.

Sứ mạng không còn là nơi để thể hiện chính mình, nhưng là nơi để chính mình được biến đổi. “Cám dỗ tinh vi nhất không phải là bỏ Chúa, nhưng là dùng điều thuộc về Chúa để tìm kiếm chính mình!” – Hans Urs von Balthasar. Vì thế, người môn đệ không còn hỏi làm sao được ngồi cao hơn, nhưng làm sao dám uống cạn “chén” Thiên Chúa trao. Phaolô đã sống điều ấy: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu” – bài đọc một. Và khi chiếc chén được đón nhận trong yêu thương, nước mắt sẽ không là điểm kết, nhưng là khởi đầu của mùa gặt: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô không mời chúng ta uống một chén khác, nhưng uống chính chén Ngài đã uống: chén cứu độ. Nơi Ngài, “chén” không còn là biểu tượng, nhưng là chính cuộc đời trao ban đến tận cùng; và “ngai” không còn là chỗ ngồi, nhưng là vinh quang của tình yêu tự hiến trên ngai thập giá. Chiếc ngai là ảo ảnh của cái tôi, chiếc chén mới là hiện thực của hiệp thông. Vì thế, theo Đức Kitô không phải là bắt chước một hành vi bên ngoài, nhưng là được cuốn vào cùng một chuyển động: từ hiến mình đến trao ban sự sống. Như vậy, câu hỏi không còn là ‘chén hay ngai’, nhưng là làm sao tôi trở nên giống Đức Giêsu Kitô, Thầy mình? “Không ai trở nên giống Đức Kitô mà không đi qua thập giá!” – Edith Stein.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con tham sống, sợ chết; con tìm chỗ nhất, ngại chỗ rốt. Cho con dám uống chén Ngài trao; và biết sống để người khác được sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********

Lời Chúa KÍNH THÁNH GIACÔBÊ TÔNG ĐỒ 

25/7 Thứ Bảy Tuần XVI Thường Niên:

KHÁM PHÁ KHO BÁU TIN MỪNG-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (13, 44-46) Chúa nhật 17 thường niên)

Kho báu núi Tàu

Vụ việc nầy được báo chí trong nước đăng tải khá nhiều trong những năm gần đây, thu hút sự chú ý của nhiều độc giả.

 Từ năm 1963, cụ Trần Văn Tiệp nắm được những thông tin rất thuyết phục cho rằng trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Việt Nam, quân đội Nhật Bản sau khi bị quân đồng minh đánh bại, được lệnh rút khỏi Việt Nam, có mang đi một khối lượng vàng rất lớn nhờ vơ vét được tại các nước châu Á mà họ chiếm đóng, nhưng vì bị phe đồng minh theo dõi, quân Nhật không thể chuyển ngay số vàng mà họ chiếm được về nước nên đã chôn giấu chừng 4.000 tấn vàng trên núi Tàu, một ngọn núi nhỏ thuộc huyện Tuy Phong, gần nhà máy nước Vĩnh Hảo, tỉnh Bình Thuận, để chờ khi có cơ hội thuận tiện sẽ đưa về Nhật sau.

 Cụ Tiệp được Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận cho phép thăm dò và khai thác và đã đầu tư rất nhiều tiền bạc cho dự án này suốt 22 năm trời, nhưng không may, đến tháng 3 năm 2015, giấy phép hết hạn, cụ phải ngừng công cuộc thăm dò mà vẫn chưa tìm thấy dấu vết kho tàng.

 Câu chuyện nầy liên quan mật thiết với dụ ngôn Chúa Giê-su dạy hôm nay:

 “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

“Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.”

Kho báu quý nhất trên đời

 Có một kho báu triệu lần đáng quý hơn bất cứ kho báu nào khác ở trần gian đang nằm trong tầm tay chúng ta nhưng tiếc thay, có nhiều người không biết đến, đó là Lời Chúa phán dạy trong Tin mừng, ta gọi đó là kho báu Tin mừng.

 Kho báu Tin mừng đáng quý triệu lần hơn mọi báu vật trần gian vì nhờ lời Chúa dạy trong Tin mừng mà muôn người được cứu rỗi và được hưởng phúc thiên đàng đời đời vinh hiển.

Các thánh Tông đồ, các thánh nam nữ được hưởng phúc thiên đàng không phải vì chiếm hữu được kho báu trần gian, không phải vì có nhiều vàng ngọc châu báu… nhưng vì các ngài thủ đắc được kho tàng lời Chúa trong Tin mừng và áp dụng những lời khôn ngoan đó vào cuộc sống.

 – Kho báu Tin mừng đáng quý triệu lần hơn mọi báu vật trần gian vì khi được thấm nhuần những lời dạy của Tin mừng, tính nết con người được cải thiện, phẩm chất con người được nâng cao, đời sống con người thêm hạnh phúc… trong khi những người nắm giữ kho báu trần gian dễ bị sa đọa vì xa hoa và lạc thú do tiền tài mang lại, nên dễ dàng đánh mất hạnh phúc thiên đàng.

Kiên tâm tìm kiếm kho báu Tin mừng

 Cụ Trần Văn Tiệp đã thao thức đào xới, tìm kiếm kho báu núi Tàu suốt 22 năm. Còn chúng ta, chúng ta có chấp nhận bỏ ra mỗi ngày mươi phút để khai thác kho báu Tin mừng hay không?

 Kho báu trần gian thường nằm ở chốn rừng hoang, ở những nơi xa xôi hiểm trở hoặc dưới lòng đất sâu… nên cần phải mạo hiểm, cần đầu tư rất nhiều tiền bạc và công sức may ra mới chiếm hữu được; trong khi kho báu Tin mừng nằm trong tầm tay mọi người, muốn khai thác lúc nào cũng được mà không phải tốn kém. Vậy thì chúng ta hãy khởi sự khai thác ngay hôm nay để làm giàu cho đời sống thiêng liêng của mình.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa đã mang kho báu Tin mừng là Lời khôn ngoan của Thiên Chúa từ Trời xuống để ban tặng cho chúng con.

 Xin cho chúng con biết miệt mài khai thác hằng ngày để được sống trong bình an, hạnh phúc ở đời nầy và được hưởng phúc lộc đời đời với Chúa mai sau. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 *****

Tin mừng Mát-thêu 13, 44-46

44 “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

45 “Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp.46 Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

TRÁI TIM CŨNG CÓ KÝ ỨC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nó không đâm rễ!”.

“Quá khứ không bao giờ chết; nó thậm chí còn chưa qua!” – William Faulkner.

Kính thưa Anh Chị em,

Quá khứ không bao giờ thực sự qua đi; nhiều khi nó vẫn âm thầm sống trong chúng ta. Mảnh đất từng bị giẫm nát sẽ khác với đất được chăm sóc. Trái tim con người cũng vậy: ‘trái tim cũng có ký ức’.

Không phải đất nào cũng giống nhau. Có mảnh mềm, có mảnh cứng; có nơi đầy sỏi đá, có nơi um tùm gai góc. Đó không chỉ là địa chất của cánh đồng, mà còn là địa chất của tâm hồn. Theo năm tháng, mọi chọn lựa, mọi tổn thương, những lần khép lòng hay mở lòng đều âm thầm để lại dấu vết. Bởi thế, trước khi hạt giống kịp bén rễ, mảnh đất đã mang sẵn cả một lịch sử. Trái tim giữ lại những vết thương của quá khứ, và biến chúng thành lớp đất chai sần ngăn Lời Chúa bén rễ.

Dụ ngôn Chúa Giêsu kể không ca ngợi một mảnh đất tốt, nhưng mặc khải một người gieo quảng đại. Hạt giống được gieo khắp nơi, không vì đất nào cũng xứng đáng, nhưng vì Thiên Chúa không bao giờ thôi hy vọng con người được biến đổi. Đó không phải là lãng phí, mà là cách Ngài yêu thương. Ngài không chờ đất tốt rồi mới gieo; Ngài gieo để đất có cơ hội trở nên tốt. Ngài không nhìn mảnh đất như nó đang là, nhưng như nó có thể trở thành. Logic của ân sủng là thế: luôn đi trước mọi công trạng và mở ra khả năng đổi thay.

Nhưng mọi sự phải bắt đầu từ nơi sâu kín nhất. Giêrêmia cho thấy điều Thiên Chúa muốn chữa lành không phải là hoàn cảnh, mà là lòng người, để “chúng sẽ không còn sống buông thả theo lòng dạ xấu xa” – bài đọc một. Bản Hy Lạp của bài đọc viết kardía – “trái tim”, trung tâm của ký ức và những chọn lựa. Vì thế, điều Chúa muốn biến đổi không phải là hạt giống – Lời vốn luôn tốt lành – nhưng là lòng người, mảnh đất bên trong. Chỉ khi đất lòng được Ngài canh giữ mới có thể trở thành mảnh đất sinh lợi. Thảo nào Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Chúa canh giữ chúng ta, như mục tử canh giữ đàn chiên!”.

Phần chúng ta, điều cản trở Lời nhiều khi không phải chúng ta không nghe, nhưng chúng ta nghe bằng một trái tim còn rỉ máu vì quá nhiều thương tổn. Ký ức còn hằn thương tích dễ biến hy vọng thành nghi ngờ, lời mời gọi thành nỗi sợ, và hạt Lời thành điều không thể bén rễ.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã không né tránh thập giá; chính nơi đó, Ngài chữa lành trái tim con người từ tận căn, để những gì đã qua không còn trói buộc hiện tại và Lời có thể đâm rễ. Vì thế, đừng sợ mang đến cho Ngài những ký ức làm chúng ta nặng lòng, những vết thương chưa khép, những tội lỗi đang giấu kín. Đấng đã yêu chúng ta đến cùng sẽ kiên nhẫn biến đất chai cứng thành nơi có thể trổ sinh hoa trái. Nơi Đức Kitô, ‘trái tim cũng có ký ức’, nhưng ký ức không còn là số phận. “Mọi sự sẽ ổn, mọi sự sẽ ổn, và mọi sự rồi sẽ ổn!” – Julian of Norwich.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để quá khứ con cầm tù hiện tại; đừng để vết thương cũ quyết định cách con sống; xin chạm đến và chữa lành những điều con chưa bao giờ thôi đau!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG

Cang Huynh

 

*Một người đàn ông từng đi nhà thờ mỗi cuối tuần dần dần bỏ đạo.

Tuần này qua tuần khác, rồi đến tháng. Một ngày nọ, vị linh mục quyết định đến thăm ông.

Khi đến nơi, cửa trước mở sẵn nên ông bước vào. Người đàn ông đang ngồi một mình trước lò sưởi. Ông chào vị linh mục bằng một cái gật đầu nhẹ và ra hiệu cho ông ngồi xuống.

Cả hai đều im lặng.

Họ chỉ đơn giản là nhìn ngọn lửa nhảy múa trên những khúc củi.

Sau vài phút, vị linh mục đứng dậy, cầm lấy cái kẹp than, và cẩn thận lấy một cục than hồng ra khỏi lửa. Ông đặt nó sang một bên, cách xa những cục than đang cháy khác, rồi ngồi xuống lại.

Sự im lặng tiếp tục.

Lúc đầu, cục than vẫn còn đỏ rực. Nhưng từ từ, không còn hơi ấm của những cục than xung quanh, ánh sáng bắt đầu mờ dần. Chẳng bao lâu sau, nó trở nên lạnh lẽo, tối tăm và vô hồn.

Vị linh mục lại đứng lên, dùng kẹp than nhấc cục than đen lên, và đặt nó trở lại vào giữa ngọn lửa.

Chỉ trong chốc lát, nó lại bắt đầu sáng rực. Chẳng mấy chốc, nó cháy sáng rực rỡ như những cục than bên cạnh.

Vị linh mục đặt chiếc kẹp xuống và lặng lẽ bước về phía cửa.

Ngay trước khi rời đi, người đàn ông lên tiếng.

“Cảm ơn vì đã đến,” ông nói. “Và cảm ơn vì bài giảng bên lò sưởi. Tôi sẽ đến nhà thờ vào Chủ nhật này.”

Đôi khi không cần lời giải thích dài dòng.

Một cục than được lấy ra khỏi lửa sẽ nhanh chóng mất đi hơi ấm. Nhưng khi được đặt trở lại ngọn lửa, nó lại bắt đầu cháy.

Đức tin có thể là điều cá nhân, nhưng nó không bao giờ được sống hoàn toàn một mình. Cộng đồng mang lại cho chúng ta sự khích lệ, trách nhiệm, sự an ủi và sức mạnh trong những lúc ngọn lửa của riêng chúng ta bắt đầu lụi tàn.

Đôi khi chúng ta không quay trở lại vì ai đó đã tranh cãi với chúng ta.

Chúng ta quay trở lại vì ai đó đã lặng lẽ nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta vẫn thuộc về một cộng đồng.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.


 

MẮT ĐỔI – THẾ GIỚI ĐỔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Mắt anh em thật có phúc vì được thấy!”.

“Cuộc khám phá đích thực không phải là tìm những miền đất mới, mà là có một đôi mắt mới!” – Marcel Proust.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những chuyến đi không mở ra một vùng đất mới, nhưng mở ra một cách nhìn mới. Mọi sự vẫn y nguyên, chỉ cách nhìn đổi khác. Lời Chúa hôm nay nói với chúng ta rằng, ‘mắt đổi – thế giới đổi’.

Chúa Giêsu nói, “Họ nhìn mà không nhìn; nghe mà không nghe, không hiểu!”. Bản Hy Lạp viết syníēmi – “hiểu”, theo nghĩa “ghép các mảnh”. Người Do Thái đã có mọi mảnh ghép: Lề Luật, các ngôn sứ, tiếng Gioan Tẩy Giả, các phép lạ… nhưng họ không nhận ra tất cả những mảnh ấy đang quy về Đức Giêsu Kitô. Không phải họ thiếu dữ kiện, họ chỉ đọc sai ý nghĩa các dữ kiện: phép lạ phát xuất từ quỷ vương; Gioan quỷ ám; Chúa Giêsu bợm nhậu, phạm luật… Mỗi biến cố đứng riêng chỉ là một sự kiện; được ghép lại, toàn bộ lịch sử cứu độ mới có một khuôn mặt – khuôn mặt Đức Kitô! “Đức Kitô là chuẩn mực để toàn bộ lịch sử được giải thích!” – Hans Urs von Balthasar.

Đó cũng là bi kịch xưa của Israel. Thiên Chúa đã đưa dân vào đất chảy sữa và mật; nhưng họ không nối kết mọi ân huệ với Đấng ban ân huệ – “Chúng đã bỏ Ta là mạch nước trường sinh”. Israel không bỏ Thiên Chúa vì hết ân huệ; nhưng bỏ Ngài ngay giữa lúc đầy ân huệ: tôn thờ những gì đôi tay mình tạo nên, “làm những hồ nứt rạn, không giữ được nước” – bài đọc một. Không chỉ đánh mất nguồn sống, họ đánh mất khả năng nhận ra Đấng là nguồn sống. Bởi thế, Thánh Vịnh đáp ca là lời tuyên xưng của một người đã nhận ra: “Lạy Chúa, Ngài quả là nguồn sống!”.

Với chúng ta, đời sống cũng đầy những điều rời rạc. Có điều là niềm vui, có điều là nước mắt, có điều không bao giờ hiểu nổi. Nhiều khi chúng ta xin Chúa đổi hoàn cảnh; Chúa lại muốn đổi con người đang nhìn hoàn cảnh. Chỉ khi đặt tất cả vào bàn tay Thiên Chúa, chúng ta mới nhận ra không có mảnh ghép nào vô nghĩa. Khi đôi mắt đổi, cả thế giới cũng đổi. Thế giới đổi không phải vì thế giới khác đi, nhưng vì người nhìn đã khác đi.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đổi thế giới, nhưng đổi chính đôi mắt nhìn thế giới. Với ánh mắt của Ngài, thập giá không còn là đau khổ, nhưng là tình yêu hiến dâng; mất mát không còn là kết thúc, nhưng là khởi đầu; cái chết không còn là ngõ cụt, nhưng là cửa ngõ bước vào sự sống. Cuộc khám phá lớn nhất của Kitô hữu không phải là đi đến nơi khác, nhưng là nhìn mọi sự bằng ánh nhìn của Đức Kitô. Đôi mắt ấy mở ra dưới chân thập giá, nơi thất bại trở thành tình yêu; và trong ánh sáng phục sinh, nơi cái chết trở thành sự sống. Bởi lẽ, ‘mắt đổi – thế giới đổi’. Chỉ khi nhìn về Đức Kitô, đôi mắt chúng ta mới thật sự nhìn đúng mọi sự. Bởi lẽ, đôi mắt chỉ nhìn thấy điều trái tim biết khao khát. “Vẻ đẹp sẽ rực sáng trong trái tim người khao khát nó, hơn trong đôi mắt người nhìn thấy nó!” – Kahlil Gibran.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con nhận ra Chúa giữa những điều bình thường, thấy tình yêu Ngài trong mọi biến cố, và bước đi bình an giữa những điều con chưa hiểu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

TÌM CHO BẰNG ĐƯỢC ĐỨC KHÔN NGOAN – Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ 

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ 

Xin có được tâm hồn Khôn Ngoan

 Salomon khi đứng trước nhan Chúa là nguồn mạch mọi ơn phúc trong một thị kiến ban đêm cho ông những lựa chọn.  Chúa phán cùng ông rằng “Người muốn gì thì hãy xin, Ta sẽ ban cho ngươi” (1V 3, 5).  Salomon không xin được sống lâu, giàu sang phú quý.  Ông cũng chẳng xin mạng quân thù.  Ông xin Chúa ban cho “một tâm hồn khôn ngoan” (1V 3, 9).  Thiên Chúa đã ban cho ông điều ông xin, vì đẹp lòng Chúa: “Đây Ta ban cho ngươi điều ngươi xin… đến nỗi trước ngươi không có ai giống ngươi, và sau ngươi không có ai bằng ngươi” (1V 3, 12).  Ông xin và ông đã được. 

Nỗ lực tìm kiếm Chúa là Đấng Khôn Ngoan

Thiên Chúa muốn thông ban vinh quang đã có từ đời đời cho con người.  Vinh quang và hạnh phúc ấy là chính Chúa.  Chính con người cũng không biết mình được dựng nên để vui hưởng vinh quang với Thiên Chúa.  Theo Thánh Phao-lô thì Thiên Chúa biết chúng ta từ thuở đời đời; khi được tạo thành, Ngài đã gọi tên ta.  Theo nghĩa Thánh Kinh, Thiên Chúa biết và cưu mang chúng ta bằng cả tấm lòng, như người mẹ biết con mình khi cưu mang con trong dạ.  

Kế hoạch của Thiên Chúa là Ngài muốn chúng ta trở nên giống hình ảnh của Chúa Giê-su, Con Ngài.  Nói cách khác, Thiên Chúa muốn chúng ta là một thành viên trong gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa.  Đây là một đại ân huệ Thiên Chúa dành cho chúng ta!  Ngài tạo dựng chúng ta giống hình ảnh của Con Chúa, nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su, nhất là mang trên mình danh hiệu là Ki-tô hữu “Quả thật, anh em biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8,9). 

 Nếu chúng ta nghe và đáp lời Chúa, Thiên Chúa sẽ biện hộ cho chúng ta, Ngài sẽ làm cho chúng ta trở nên thánh thiện, hoan lạc, hạnh phúc và chiếu tỏa rạng ngời vinh quang Chúa, phù hợp với Thiên Chúa.  Vì kế hoạch của Thiên Chúa là “Những kẻ Chúa đã biết trước, thì Người đã tiền định cho họ nên giống hình ảnh Con Người, để Ngài trở nên trưởng tử giữa đoàn anh em đông đúc.  Những ai Người đã tiền định, thì Người cũng kêu gọi; những ai Người đã kêu gọi, thì Người cũng làm cho nên công chính; mà những ai Người đã làm cho nên công chính, thì Người cũng cho họ được vinh quang” (Rm 8, 29-30).

 Trong khi đó, kế hoạch của con người, là đi tìm hạnh phúc.  Việc tìm kiếm này đòi hỏi phải phân định. Như chiếc lưới kéo lên tất cả các loại cá, nên hạnh phúc cũng có tất cả các loại.  Có những thứ hạnh phúc đích thực, có những thứ hạnh phúc rẻ tiền, hão huyền, trống rỗng và giả dối.  Vua Solomon đã xin Chúa ban cho một “tâm hồn khôn ngoan để đoán xét dân Chúa, và phân biệt lành dữ (1V 3, 9).  Để có hạnh phúc thật, cần phải cầu xin Chúa như Salomon: cho được ơn làm chủ bản thân, biết phân biệt tốt xấu, chọn lựa điều tốt, bỏ điều xấu.  Vì tất cả những gì chúng ta hài lòng chưa hẳn đã là tốt.  Có ơn phân định, để nhận ra tiếng Chúa, làm theo kế hoạch của Chúa. 

Bằng mọi giá để có được Nước Trời 

Với đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su dùng ba dụ ngôn: Kho báu được chôn giấu, dụ ngôn viên ngọc quý và dụ ngôn lưới thả xuống biển để phác họa về Nước Trời.  Kho báu được chôn giấu và viên ngọc quý là hai thực tại quý giá nên cả hai người này đều bán tất cả để mua cho bằng được điều họ cho là quý nhất.  Điều căn bản của đời sống Ki-tô hữu cũng thế, để có được Nước Trời chúng ta đánh đổi vì Nước Trời.

 Người tìm thấy kho báu và thương gia đều bán mọi thứ họ có.  Như thế, chúng ta hiểu rằng việc xây dựng Nước Trời không chỉ đòi hỏi ân sủng của Thiên Chúa, mà còn cả sự sẵn sàng chủ động của con người.  Cử chỉ của người tìm thấy kho báu và thương gia, đánh đổi hết tài sản để mua điều quý giá hơn, là những cử chỉ quyết đoán.  Cả hai người này đều tràn đầy niềm vui vì họ đã tìm thấy kho báu.  Đây là bài học quý giá cho chúng ta.  Để có được Nước Trời, chúng ta từ bỏ gánh nặng của sự an toàn thế gian vốn làm cản trở chúng ta tìm kiếm và xây dựng Nước Trời.

 Ai cũng biết, trong thời đại hôm nay, cuộc sống của một số người có thể trở nên tầm thường và buồn tẻ, bởi họ có thể đã không tìm kiếm một kho báu thực sự là Chúa Giê-su.  Họ hài lòng với những thứ hấp dẫn nhưng phù du, với những ánh sáng lung linh nhưng hư ảo vì sau đó chúng đi vào bóng tối.  Thay vào đó, ánh sáng của Nước Trời không phải là pháo hoa, mà là ánh sáng: pháo hoa chỉ tồn tại trong chốc lát, còn ánh sáng của Nước Trời thì đồng hành suốt đời.

 Nước Trời thì trái ngược với những điều thừa thãi mà thế gian bày ra, nó trái ngược với cuộc sống tầm thường: đó là một kho báu làm mới lại cuộc sống mỗi ngày và mở ra những chân trời rộng lớn hơn.

Chúa Giê-su, Ðấng là kho báu ẩn giấu và là viên ngọc quý, Người luôn khơi dậy niềm vui khám phá một ý nghĩa cho cuộc sống của con người.  Niềm vui này thôi thúc người ta đánh đổi tất cả, phiêu lưu dấn thân để tìm kiếm.

 Chúng ta hãy xin với Mẹ Ma-ri-a, ngai tòa Đấng Khôn Ngoan giúp chúng ta tìm kiếm kho báu của Nước Trời mỗi ngày, để qua lời nói và cử chỉ của chúng ta, tình yêu mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Chúa Giê-su có thể được thể hiện. 

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

From: Langthangchieutim


 

 Thánh Maria Magdalen (thế kỷ thứ 1) – Cha Vương

 Hôm nay 22/07 Giáo Hội mừng kính Thánh Maria Magdalen (thế kỷ thứ 1). Mừng Bổn mạng đến những ai chọn thánh Nữ làm quan thầy nhé. Câu nguyện cho nhau và cả thế giới chấm dứt chiến tranh và thiên tai nhé

Cha Vương

Thứ 4: 22/7/2026.       (t3-25)

Ngày trước, người ta lẫn lộn giữa Maria Magdalen với ba người phụ nữ được Phúc Âm nói đến là:

– Người đàn bà tội lỗi vô danh đã đến đổ thuốc thơm trên chân Chúa và lấy tóc lau (Lc 7,37-50)

– Maria ở Bethania, em của Mattha và Lazarius. Cô cũng đã xức thuốc thơm nơi chân Chúa và lấy tóc lau (Gio 11,1;12,3)

– Maria ở Magdala (Magdala là một làng nhỏ bên bờ hồ Tiberiade) người được Chúa Giêsu đuổi trừ bảy quỷ (Lc 8,2) và đã có mặt dưới chân Thánh Giá khi Chúa chết cùng với Mẹ Maria và Gioan. Cô dự vào việc mai táng Chúa, trở ra mộ Chúa hai hôm sau để xức xác, nhìn thấy ngôi mộ trống. Maria là người đầu tiên nhìn thấy Chúa sống lại và đi báo tin cho các tông đồ. Thì chỉ Maria Magdalen này được ghi trong niên lịch Phụng Vụ sau vụ cải tổ lịch Phụng Vụ Roma mới. 

    Cũng do sự nhầm lẫn lâu đời giữa ba nhân vật nên Maria Magdalen mới được coi như là quan thầy những phụ nữ hoàn lương, những người bán nước hoa và buôn găng tay.

    Cũng do sự nhầm lẫn lâu ấy mà có những tương truyền khác nhau như việc Maria Magdalen đã đến xứ Gaules (có từ thế kỷ thứ XI) người ta kính thánh tích của bà ở Vezelay, trên con đường hành hương đến Compostelle; cũng tại Provence, từ thế kỷ thứ XIII có những cuộc hành hương lôi cuốn nhiều người đến Sainte Marie de la Mere, nơi mà người ta cho rằng Maria Magdalen đã đổ bộ với em là Lazarius cùng nhiều phụ nữ khác, có cả người tớ gái là Sarah, quan thầy của những người phiêu bạt Gitans. Cũng như tại Saint Baume nơi có bọng đá mà người đã ở qua và tại Saint Maximin có phần mộ của người. 

    Tại Đông Phương, tương truyền rằng Maria Magdalen chết và được chôn ở Êphêsô. Năm 899, hoàng đế Leon VI đã chuyển thánh tích của người hay là được coi như vậy, về một tu viện ở Constantinople. Từ Đông phương, việc sùng kính đến Tây phương từ thế kỷ thứ X.

    Vậy chúng ta chỉ biết về những gì Phúc Âm nói đến về vị thánh nữ đặc biệt ấy và ngày nay hình như chỉ có Maria Magdalen này mới có tên trong lịch Phụng Vụ mới.

  (Nguồn: Người Tín Hữu, hạnh các Thánh)

    Đức Giáo hoàng Benedict XVI nói: “Câu chuyện của Maria thành Mácđala nhắc nhở tất cả chúng ta một sự thật hiện hữu”… “Thánh nữ là một trong những môn đệ của Chúa Kitô, trong kinh nghiệm yếu đuối của con người, ngài đã khiêm nhường cầu xin Chúa thương xót, và đã được Chúa tha thứ, để rồi tiếp tục đi theo Chúa mà trở thành một nhân chứng về điều này: tình thương xót của Chúa mạnh hơn tội lỗi và sự chết”.

Hôm nay Bạn hãy xin cho được ơn hoán cải nhé. Xin thánh Maria Magdalen, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Trở Về Với Cha – Phan Hùng – Thế Thông – Nguyễn Hồng Ân – Ca Đoàn Sao Mai

 Làm sao để được khôn ngoan? – Cha Vương

Xin Chúa đổ đầy tim bạn Thánh Thần Chúa để Người hướng dẫn bạn trong ngày hôm nay và suốt cuộc đời.

Cha Vương

Thứ 3: 21/07/2026 (t4-24-24)

GIÁO LÝ:  Làm sao để được khôn ngoan? Người ta nên khôn ngoan nhờ học biết phân biệt cái gì chính yếu cái gì không chính yếu, đặt cái đích tốt cho đúng và chọn phương tiện tốt nhất để đạt đích. (YouCat, số 301)

SUY NIỆM: Nhân đức khôn ngoan hướng dẫn tất cả các nhân đức khác. Vì khôn ngoan là khả năng phân định cái gì là đúng. Nếu muốn sống một đời có đạo đức tốt, cần phải biết đâu là “cái tốt đích thật” và nó có giá trị gì. Như anh lái buôn trong Tin Mừng: khi gặp được viên ngọc quý, anh bán hết mọi cái anh có để mua cho được (Mt 13,46). Phải khôn ngoan trước hết để sau đó biết vận dụng đức công bằng, đức can đảm và đức tiết độ để hoàn thành “cái tốt”. (YouCat, số 301 t.t.)

❦  Khôn ngoan có 2 mắt: một thấy trước điều phải làm, một xem lại điều đã làm. (Thánh Ignaxiô Loyôla)

❦  Con chớ bao giờ lìa bỏ khôn ngoan, thì khôn ngoan sẽ giữ gìn con mãi. Hãy yêu mến khôn ngoan, khôn ngoan sẽ chở che bảo vệ. (Kn 4:6)

❦  Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa không phải ai khác ngoài chính Ngôi Vị Thứ Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa, đúng như sách Khôn Ngoan mô tả : Người tìm thấy niềm vui giữa loài người ... “Người đã làm người giữa muôn người … Người đã trao ban sự sống và thiết lập sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người ” (Kinh Tin Kính của Thánh Irênê).

LẮNG NGHE: Kính sợ ĐỨC CHÚA là bước đầu của khôn ngoan; biết Đấng Chí Thánh mới là hiểu biết thật. (Kn 9:10)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con biết cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của chính mình, luôn tìm kiếm Chúa là nguồn mạch mọi sự khôn ngoan để con nên hoàn thiện giống như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện. 

THỰC HÀNH: Tập cầu nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần trước khi quyết định làm một điều quan trọng nào đó.

From: Do Dzung

***********************

NGƯỜI KHÔN KẺ DẠI (Lm Huy Hoàng) – Thanh Hoài

LẠI MỘT ÊĐEN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Maria tưởng là người làm vườn”.

“Khi tên được gọi, sự nhận ra sẽ theo sau!” – Food for the Way.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những cuộc gặp chỉ bắt đầu khi tên được gọi. Kinh Thánh mở đầu với một khu vườn, nơi con người đánh mất Thiên Chúa; Tin Mừng Gioan khép lại cũng trong một khu vườn, nơi Thiên Chúa đi tìm lại con người. Lời Chúa hôm nay không chỉ kể cuộc gặp của Maria Mađalêna với Chúa Phục Sinh, nhưng còn kể một câu chuyện khác – ‘Lại Một Êđen’.

Trình thuật Gioan ghi lại một chi tiết xem ra ngẫu nhiên: Maria tưởng Chúa Giêsu là người làm vườn. Cô mang một nỗi đau gấp đôi: mất Chúa, mất luôn cả nơi cuối cùng cô tưởng có thể tìm thấy Ngài. Bản Hy Lạp viết kēpouros – “người làm vườn”. Gioan không hề đính chính sự “nhầm lẫn” ấy, như muốn mời người đọc nhìn sâu hơn. Maria nhận lầm một con người, nhưng Gioan lại mở ra một mặc khải: Đấng Phục Sinh không chỉ hiện diện trong khu vườn; Ngài hiện diện trong buổi đầu khai sinh của một thế giới mới. “Phục Sinh là công trình sáng tạo mới do Chúa Phục Sinh thực hiện!” – Lêô XIV.

Không phải bằng ánh mắt, nhưng bằng tiếng gọi, Maria nhận ra Thầy. Thật lạ, lần hiện ra đầu tiên của Đấng Phục Sinh không bắt đầu bằng một lời giải thích, nhưng bằng tên của một con người. Trong Tin Mừng Gioan, nhận biết không khởi đi từ thị giác, nhưng từ tương quan; không phải thấy rồi mới tin, nhưng được gọi rồi mới nhận ra.

Điều đó cũng đúng với chúng ta: nhiều khi Chúa không vắng mặt; chỉ vì chúng ta chưa nghe tiếng Ngài. Chính trong tiếng gọi ấy, điều đã mất được tìm lại, điều đã chết được hồi sinh. Êđen mới không bắt đầu ở một khu vườn nào trên mặt đất, nhưng bắt đầu ngay trong khoảnh khắc một con người nghe tiếng Đức Kitô gọi tên mình và đáp lại. “Khởi đầu của tình yêu là để người mình yêu được là chính họ!” – Thomas Merton.

Nhưng ngay khi nhận ra Thầy, Maria lại nghe một lời bất ngờ: “Đừng giữ Thầy lại!”. Tình yêu không lớn lên bằng cách nắm giữ, nhưng bằng cách để người mình yêu dẫn mình đi xa hơn. Đó cũng là điều Sách Diễm Ca hôm nay đã hát: “Tôi tìm người lòng tôi yêu dấu” cho đến khi gặp được; đó cũng là tiếng lòng của Thánh Vịnh đáp ca: “Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, linh hồn con khao khát Chúa!”. Gặp được Đức Kitô không phải là điểm kết của cơn khát, nhưng là lúc cơn khát được thanh luyện thành một tình yêu biết buông, biết lên đường và biết làm chứng.

Anh Chị em,

Đức Kitô không trở lại để đưa con người về khu vườn cũ, nhưng để mở ra một Êđen mới. Bằng cuộc Vượt Qua, Ngài không phục hồi một thiên đàng đã mất, nhưng kiến tạo một thiên đàng không còn có thể mất, nơi con người được đổi mới. Người Làm Vườn ấy không vun trồng cây cối, nhưng vun trồng những con người; từ một nhóm môn đệ, Ngài làm nên Giáo Hội và qua Giáo Hội, đổi mới cả thế giới. Được Đức Kitô gọi tên là lúc con người tìm lại chính mình. Và mỗi khi chúng ta đáp lại bằng đức tin, thì ‘lại một Êđen’ bắt đầu.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gọi tên con giữa những lạc lối, đổi mới tim con giữa những lỗi lầm, để con nhận ra Chúa và mang sự sống phục sinh của Ngài đến cho anh chị em con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************

Lời Chúa Kính Thánh MARIA MAĐALÊNA, Thứ Tư Tuần XVI Thường Niên

Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 20,1-2.11-18

1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. 2 Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”

11 Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, 12 thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. 13 Thiên thần hỏi bà : “Này bà, sao bà khóc ?” Bà thưa : “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !” 14 Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su. 15 Đức Giê-su nói với bà : “Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?” Bà Ma-ri-a tưởng là người làm vườn, liền nói : “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” 16 Đức Giê-su gọi bà : “Ma-ri-a !” Bà quay lại và nói bằng tiếng Híp-ri : “Ráp-bu-ni !” (nghĩa là ‘Lạy Thầy’). 17 Đức Giê-su bảo : “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ : ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em’.” 18 Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà. 


 

Bốn cái bẫy mà ma quỷ thường bày ra cho chúng ta khi cầu nguyện

Niềm Vui Tin Mừng

 Những trò gạt gẫm của ma quỷ rất phổ biến: khi cầu nguyện, tất cả mọi người, cách nào đó luôn gặp phải điều này. Dưới đây là một số lời khuyên hữu ích để tránh những cái bẫy của ma quỷ khi cầu nguyện trong bình an.

Tên cám dỗ làm mọi thứ để ngăn cản con người cầu nguyện. Vì vậy, thật khó để chúng ta không rơi vào cám dỗ. Chúng ta hãy mở to đôi mắt để cố gắng nhận ra những lời dối trá, để mình không bị ma quỷ lừa bịp.

Bẫy số 1 : “cầu nguyện thật vô ích”

Nếu dựa vào những tiêu chuẩn thông thường của chúng ta về tính hiệu quả của cầu nguyện, thì thực sự cầu nguyện không giúp được gì cả. Theo quan điểm của con người, cầu nguyện là lãng phí thời gian. Đây là câu hỏi lớn mà các tu sĩ nam nữ nêu ra cho thế giới xung quanh họ: đời sống cầu nguyện giúp được gì cho những người này? Dưới cặp mắt của nhiều người thì cuộc sống của họ xem ra quá lãng phí.

Chúng ta thường mắc cùng một sai lầm này khi từ bỏ việc cầu nguyện với lý do chúng ta có quá nhiều việc phải làm. Bởi vì chúng ta đặt mình vào cái luận lý về hiệu suất, thay vì theo luận lý của tình yêu. Trái lại, nếu biết suy nghĩ một chút, chúng ta sẽ thấy trong cuộc sống dường như những thứ xem ra vô dụng nhất thực ra là những thứ quí giá nhất; chẳng hạn như cưng chiều một đứa trẻ, hôn vợ hoặc chồng, chiêm ngắm một phong cảnh đẹp. Cầu nguyện có vẻ vô ích, nhưng thực ra đó là điều tuyệt đối không thể thiếu.

Bẫy số 2: “Bạn không biết cầu nguyện”

Kẻ thù tăng thêm nhiều lý lẽ để cho chúng ta thấy rằng cầu nguyện quá khó đối với chúng ta, rằng chúng ta cần được đào tạo trước khi bắt đầu cầu nguyện… Ngay cả trong trường hợp này, quả thực, chúng ta không biết cầu nguyện. Lời cầu nguyện của chúng ta đầy lơ đãng, đầy những tìm kiếm lợi lộc cho riêng mình, đầy những bất trung và hàng nghìn những cái bất toàn khác. Rồi sao? Có người cha nào khi bồng đứa trẻ sơ sinh trên tay, đứa bé bắt đầu bập bẹ và tươi cười, đặt nó ngay ngắn lại rồi ông nói với nó : “Khi nào con biết nói thì hãy nói chuyện với cha?”. Tất nhiên là không! Trái lại, ông sẽ cảm động và ngạc nhiên trước những lời nói bập bẹ đầu tiên này. Điều đó thật giá trị đối với những bậc cha mẹ trên trần gian, thậm chí còn giá trị hơn trước mặt Thiên Chúa của chúng ta.

Bẫy số 3: “Bạn sẽ cầu nguyện khi có thời gian”

Nếu chúng ta đợi đến khi có thời giờ để cầu nguyện, chắc chắn một điều chúng ta sẽ không bao giờ cầu nguyện, bởi vì chúng ta sẽ có muôn nghìn việc rất khẩn thiết để làm. Nếu hôm nay chúng ta có ý cầu nguyện, nhưng không biết thiết đặt thời gian cụ thể, nguy cơ chúng ta sẽ đi ngủ vào buổi tối mà không tìm thấy dù chỉ một phút để tự mình xắp xếp.

Người cầu nguyện thường xuyên không nhất thiết là người có nhiều thời giờ rảnh rỗi, mà là người quyết định dành thời giờ cho việc cầu nguyện. Đó là một chọn lựa. Vậy ưu tiên của chúng ta là gì? Chúng ta muốn đặt việc cầu nguyện làm trung tâm của đời sống không hay chúng ta coi đó như là điều xa xỉ, không bắt buộc? Nếu đó là điều cần thiết thì nó phải được xếp vào hàng đầu tiên trong lịch trình hằng ngày của chúng ta.

Bẫy số 4: “Công việc của tôi đã là cầu nguyện”

Ma quỷ thì thầm vào tai chúng ta: “Nếu bạn làm việc hết lòng, dâng công việc của bạn cho Chúa, vì vậy bạn sẽ được miễn cầu nguyện”. Thực may mắn cầu nguyện không phải là cách duy nhất để đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa, để được ở gần và phục vụ Chúa. Nếu không chúng ta sẽ chỉ dành một phần nhỏ trong ngày của chúng ta cho Chúa. Tuy nhiên, nếu chúng ta không cầu nguyện thật lòng, không biết dừng lại trong ngày, chúng ta sẽ khó mà cầu nguyện trong mọi lúc. Chúng ta có thể thành công cầu nguyện trong khi làm việc, nếu từng ngày chúng ta biết học cách cầu nguyện ngay cả khi không làm gì cả.

Edifa/Aleteia

G.Võ Tá Hoàng chuyển ngữ


 

HƠN CẢ MÁU- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: ‘Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi!’”.

Sự trọn lành không hệ tại những thị kiến hay xuất thần, nhưng ở chỗ ý muốn chúng ta hoàn toàn phù hợp với ý muốn Thiên Chúa!” – Têrêxa Avila.

Kính thưa Anh Chị em,

Người ta nhận nhau vì cùng một dòng máu. Lời Chúa hôm nay hé mở một điều ‘hơn cả máu’. Chúa Giêsu hướng về các môn đệ và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi!” – những người làm theo ý muốn Chúa Cha.

Sau câu hỏi: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?”, Chúa Giêsu giơ tay chỉ những kẻ Ngài chọn. Bản Hy Lạp viết ekteinas – không chỉ là một động tác chỉ trỏ hay đưa tay, nhưng là vươn ra, duỗi ra. Động từ này gợi lên hình ảnh một vòng tay mở rộng. Chỉ một động từ cũng đã hàm chứa cả một ý định cứu độ phổ quát.

“Vòng tay vươn ra!”. Phải chăng Matthêu muốn nói rằng gia đình mới của Thiên Chúa được khai sinh ‘bằng một cử chỉ’ trước khi được định nghĩa bằng lời? Bởi nhiều khi, một vòng tay có thể nói nhiều hơn cả một bài diễn văn. Không chỉ công bố một chân lý mới, Chúa Giêsu còn biểu lộ chân lý ấy bằng một hành động. Gia đình Thiên Chúa không khởi đầu từ một định nghĩa, nhưng từ một vòng tay. “Trong các Tin Mừng, cộng đoàn của Đức Giêsu mang hình thức một gia đình hiếu khách, chứ không phải một nhóm khép kín và loại trừ!” – Phanxicô.

Nhưng ý muốn của Chúa Cha là gì? Không chỉ là một mệnh lệnh phải thi hành, nhưng là một lời mời gọi mang lấy chính trái tim của Thiên Chúa. Ngôn sứ Mikha mặc khải một Thiên Chúa không thích kết án, nhưng vui thích xót thương; không giữ mãi cơn giận, nhưng ném mọi lỗi lầm xuống đáy biển – bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh cất lên lời Thánh Vịnh: “Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa!”. Người thuộc về gia đình Thiên Chúa không chỉ làm điều Chúa muốn, mà còn học yêu như Ngài yêu, tha thứ như Ngài tha thứ, xót thương như Ngài xót thương và luôn mở ra cho người khác một cơ hội để bắt đầu lại.

Vậy mỗi ngày, chúng ta chọn sẽ để ai định hình trái tim mình? Khư khư giữ ý riêng, chúng ta vẫn đứng ngoài vòng tay của Chúa. Chỉ khi biết nhường chỗ cho thánh ý Ngài, chúng ta không chỉ đổi một quyết định, mà đang đổi cả căn tính mình thuộc về. “Thánh thiện hệ tại việc mỉm cười đón nhận và làm theo thánh ý Thiên Chúa!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Anh Chị em,

Cử chỉ nhỏ bé trong căn nhà năm xưa chỉ là khởi đầu. Trên đồi Canvê, cánh tay vươn ra ấy sẽ mở rộng đến tận cùng. Đức Kitô dang tay không còn để chỉ về một nhóm môn đệ, nhưng để quy tụ toàn thể nhân loại vào gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ nay, tình thân ấy không còn được xác định bởi huyết thống, dân tộc, biên giới hay màu da, nhưng bởi những con người cùng mang lấy trái tim của Chúa Cha. Chính nơi thập giá, chúng ta hiểu thế nào là điều ‘hơn cả máu’: sống tình yêu tự hiến của Đức Kitô!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho thánh ý Chúa luôn định hình trái tim con; để càng thuộc về Chúa, con càng thuộc về những người Ngài trao cho con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế