HÃY CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG

  Thánh Alphonso Ligouri là Đấng Sáng Lập Dòng Chúa Cứu Thế  và cũng là tác giả của nhiều tác phẩm thiêng liêng đã cho rằng cầu nguyện có quyền năng vô cùng vì cầu nguyện làm thay đổi bộ mặt thế giới. Ngài nói: “Ai cầu nguyện thì sẽ được ơn cứu độ.”

Nhà thơ Frances Morton đã nói về cầu nguyện như sau:
1. Lời cầu nguyện vào buổi sáng sẽ bảo đảm cho chúng ta một ngày đầy ơn lành.
2. Lời cầu nguyện vào buổi tối sẽ cho chúng ta một đêm nghỉ ngơi bình an.
3. Lời cầu nguyện khi chúng ta yếu đuối thì chắc chắn chúng ta có bàn tay mạnh mẽ của Chúa giúp đỡ.
4. Lời cầu nguyện khi chúng ta cô đơn thì Chúa sẽ đồng hành và giúp đỡ.
5. Lời cầu nguyện khi đau khổ thì sẽ được Chúa an ủi, ban bình an và nghỉ ngơi.
6. Lời cầu nguyện khi nghi ngờ thì Chúa sẽ an ủi và soi sáng và ban ơn đức tin cho chúng ta.
7. Lời cầu nguyện khi vui mừng thì sẽ gặt hái nhiều niềm vui và sự vui thỏa.
8. Lời cầu nguyện để cảm tạ lòng từ bi của Chúa thì chúng ta sẽ hạnh phúc trong mọi lúc.
9. Mỗi ngày, mỗi mùa và mỗi giờ, chúng ta cần cầu nguyện để được chúc phúc mỗi giây phút trong cuộc sống.
10. Không có linh hồn nào mà không cần ơn thánh Chúa và khi chúng ta cùng nhau kết hợp để cầu nguyện thì Chúa sẽ ban cho chúng ta những quyền năng vô biên.

From: Ngoc Bích & KimBang Nguyen


 

NỖI BUỒN SẼ TRỞ THÀNH NIỀM VUI – Anmai CSsR

Anmai CSsR

  Trong đời sống con người, có những nỗi buồn làm ta mệt mỏi, có những giọt nước mắt làm ta kiệt sức, có những mất mát khiến ta tưởng như không còn đứng dậy được nữa. Có những lúc ta nhìn cuộc đời mình và chỉ thấy một màu tối. Cầu nguyện mà lòng vẫn nặng. Tin Chúa mà nước mắt vẫn rơi. Đi lễ mà trong lòng vẫn nhói đau. Làm điều lành mà vẫn bị hiểu lầm. Yêu thương mà vẫn bị phản bội. Hy sinh mà vẫn không được nhìn nhận. Sống ngay thẳng mà vẫn gặp thiệt thòi.

Và chính trong những lúc ấy, lời Chúa hôm nay vang lên như một ánh sáng rất dịu nhưng rất mạnh: “Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.”

Chúa Giêsu không nói: “Anh em sẽ không bao giờ buồn.” Chúa cũng không hứa: “Ai theo Thầy thì khỏi đau khổ.” Chúa càng không dạy ta trốn tránh nước mắt. Ngược lại, Chúa nói rất thật: “Anh em sẽ khóc lóc và than van.” Nghĩa là người môn đệ của Chúa vẫn có lúc khóc. Người tin Chúa vẫn có lúc than van. Người yêu Chúa vẫn có lúc đau lòng. Người sống đạo vẫn có lúc rơi vào đêm tối.

Kitô giáo không phủ nhận đau khổ. Đức tin không bắt con người giả vờ mạnh mẽ. Tin Chúa không có nghĩa là lúc nào cũng phải cười, lúc nào cũng phải nói “con ổn”, trong khi trái tim đang tan vỡ. Chúa Giêsu hiểu nước mắt của con người. Người đã khóc trước mộ Lazarô. Người đã buồn sầu trong vườn Cây Dầu. Người đã run sợ trước chén đắng. Người đã thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Vì thế, khi Chúa nói với các môn đệ về nỗi buồn, Người không nói như một người đứng ngoài đau khổ, nhưng như Đấng đã đi vào tận đáy đau khổ của phận người.

Chúa Giêsu biết các môn đệ sắp trải qua một đêm rất dài. Đêm ấy là đêm Thầy bị bắt. Đêm ấy là đêm các ông tan tác. Đêm ấy là đêm Phêrô chối Thầy. Đêm ấy là đêm Giuđa phản bội. Đêm ấy là đêm thập giá dựng lên trên đồi Canvê. Đêm ấy là đêm người môn đệ tưởng rằng mọi hy vọng đã chấm hết.

Thế gian sẽ vui mừng. Những kẻ chống đối Chúa sẽ tưởng rằng họ đã thắng. Những người loại trừ Chúa sẽ tưởng rằng tiếng nói của Người đã bị bịt lại. Những người đóng đinh Chúa sẽ tưởng rằng tình yêu đã bị tiêu diệt. Nhưng Chúa nói: “Nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.”

Chúa không nói nỗi buồn sẽ bị quên đi. Chúa không nói nỗi buồn sẽ biến mất như chưa từng có. Chúa nói nỗi buồn sẽ trở thành niềm vui. Đây là điều rất sâu. Có những nỗi buồn không bị xóa khỏi đời ta, nhưng được Chúa biến đổi. Có những vết thương không biến mất hoàn toàn, nhưng trở thành dấu tích của ân sủng. Có những thập giá không được lấy đi ngay, nhưng được Chúa làm cho trổ sinh ơn cứu độ. Có những giọt nước mắt không vô ích, vì khi rơi vào tay Chúa, chúng trở thành hạt giống của một niềm vui mới.

Chúa Giêsu dùng hình ảnh người phụ nữ sinh con để diễn tả mầu nhiệm ấy. Khi đến giờ sinh nở, người mẹ đau đớn. Không ai có thể phủ nhận nỗi đau ấy. Đó là nỗi đau thật, nỗi đau sâu, nỗi đau đi qua thân xác và tâm hồn. Nhưng khi đứa con chào đời, niềm vui tràn ngập đến nỗi nỗi đau không còn là điều cuối cùng nữa. Cơn đau không vô nghĩa, vì từ cơn đau ấy, một sự sống mới được sinh ra.

Chúa Giêsu đã nhìn thấy nơi nỗi đau của người mẹ một mầu nhiệm cao cả. Người không khinh thường nỗi đau ấy. Người không coi đó chỉ là chuyện tự nhiên của thân phận con người. Người mượn chính hình ảnh ấy để nói về cuộc Tử nạn và Phục sinh của Người. Thập giá giống như cơn đau sinh nở của ơn cứu độ. Đồi Canvê giống như phòng sinh của nhân loại mới. Máu và nước từ cạnh sườn Chúa chảy ra là dấu chỉ một đời sống mới được khai sinh cho Hội Thánh. Qua đau khổ, sự sống mới xuất hiện. Qua thập giá, phục sinh bừng lên. Qua cái chết, ơn cứu độ được ban tặng.

Vì thế, bài Tin Mừng hôm nay không chỉ nói với những người đang buồn. Bài Tin Mừng hôm nay nói với những người đang cố tìm ý nghĩa cho nỗi buồn của mình.

Có người buồn vì mất người thân.

Có người buồn vì gia đình đổ vỡ.

Có người buồn vì bệnh tật kéo dài.

Có người buồn vì con cái hư hỏng.

Có người buồn vì bị hiểu lầm.

Có người buồn vì thất bại trong công việc.

Có người buồn vì bị phản bội trong tình yêu.

Có người buồn vì sống tốt mà vẫn bị thiệt.

Có người buồn vì cầu nguyện lâu năm mà chưa thấy Chúa trả lời.

Có người buồn vì nhìn Hội Thánh, nhìn xã hội, nhìn gia đình mà thấy quá nhiều tổn thương.

Và Chúa không đến để trách: “Sao con buồn?” Chúa đến để nói: “Nỗi buồn của con không phải là dấu chấm hết. Nếu con biết đặt nỗi buồn ấy trong tay Thầy, Thầy có thể biến nó thành niềm vui.”

Đây là cái nhìn đức tin mà Tin Mừng mời gọi chúng ta. Nhìn cuộc đời bằng đức tin không có nghĩa là phủ nhận thực tế. Đức tin không làm cho nước mắt bỗng trở thành ngọt ngào. Đức tin không biến thập giá thành đồ trang trí dễ chịu. Đức tin không bảo ta rằng đau khổ là chuyện nhỏ. Không. Đức tin giúp ta thấy rằng đau khổ không phải là lời cuối cùng. Đức tin giúp ta tin rằng sau Thứ Sáu Tuần Thánh còn có Chúa Nhật Phục Sinh. Đức tin giúp ta hiểu rằng trong cơn đau sinh nở, một sự sống mới đang hình thành. Đức tin giúp ta đứng vững khi mắt chưa thấy ánh sáng nhưng lòng vẫn tin rằng bình minh đang đến.

Không có đức tin, đau khổ dễ trở thành tuyệt vọng.

Không có đức tin, hy sinh dễ trở thành cay đắng.

Không có đức tin, mất mát dễ trở thành oán trách.

Không có đức tin, nước mắt dễ trở thành hố sâu chôn vùi tâm hồn.

Nhưng trong đức tin, đau khổ có thể trở thành hy lễ. Hy sinh có thể trở thành tình yêu. Nước mắt có thể trở thành lời cầu nguyện. Thập giá có thể trở thành con đường dẫn tới phục sinh.

Tuy nhiên, chúng ta phải nói cho rõ: Kitô giáo không đề cao đau khổ vì đau khổ. Thiên Chúa không thích nhìn con người đau khổ. Thiên Chúa không vui khi thấy một người mẹ khóc con, một người chồng mất vợ, một người bệnh quằn quại, một gia đình chia lìa, một người nghèo bị chèn ép, một tâm hồn bị nghiền nát. Thiên Chúa không phải là Đấng thích thử thách con người để xem con người chịu đựng được đến đâu. Thiên Chúa là Tình Yêu.

Điều Kitô giáo loan báo không phải là: hãy tìm đau khổ. Điều Kitô giáo loan báo là: khi đau khổ đến, đừng để nó trở thành vô nghĩa; hãy kết hợp nó với tình yêu của Đức Kitô.

Đau khổ tự nó không cứu độ. Chính tình yêu trong đau khổ mới cứu độ.

Thập giá tự nó là hình phạt. Nhưng khi Chúa Giêsu ôm lấy thập giá bằng tình yêu, thập giá trở thành cây sự sống.

Hy sinh tự nó có thể làm con người khô cằn. Nhưng hy sinh vì yêu thương làm con người nên giống Chúa.

Nước mắt tự nó có thể làm tâm hồn chìm xuống. Nhưng nước mắt dâng lên Chúa có thể trở thành lời cầu nguyện tinh tuyền nhất.

Bởi đó, câu hỏi không phải là: “Tại sao tôi phải đau khổ?” Câu hỏi sâu hơn là: “Tôi sẽ sống nỗi đau này như thế nào?”

Tôi sẽ sống nỗi đau này trong oán trách hay trong phó thác?

Tôi sẽ để nỗi buồn này làm tôi khép kín hay làm tôi biết cảm thông hơn với người khác?

Tôi sẽ để vết thương này biến tôi thành người cay nghiệt hay thành người nhân hậu hơn?

Tôi sẽ để thử thách này kéo tôi xa Chúa hay đưa tôi đến gần Chúa hơn?

Tôi sẽ để nước mắt này chỉ rơi xuống đất hay dâng lên như của lễ trước mặt Chúa?

Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được.”

Đây là lời hứa rất đẹp. Niềm vui mà Chúa ban không phải là niềm vui mong manh của thế gian. Niềm vui thế gian có thể bị lấy mất rất nhanh. Một tin buồn có thể lấy mất niềm vui. Một lần thất bại có thể lấy mất niềm vui. Một lời nói nặng có thể lấy mất niềm vui. Một căn bệnh có thể lấy mất niềm vui. Một sự phản bội có thể lấy mất niềm vui. Một biến cố bất ngờ có thể làm đời ta đảo lộn.

Nhưng Chúa nói có một niềm vui “không ai lấy mất được.”

Đó là niềm vui của người biết mình được Chúa yêu.

Đó là niềm vui của người biết mình không mồ côi.

Đó là niềm vui của người biết thập giá không phải là điểm cuối.

Đó là niềm vui của người biết Chúa Phục Sinh vẫn đang sống.

Đó là niềm vui của người biết rằng dù mình mất nhiều thứ, mình vẫn còn Chúa.

Đó là niềm vui của người đã đi qua nước mắt và gặp lại Chúa trong chính nơi mình tưởng chỉ có bóng tối.

Niềm vui ấy không ồn ào. Không phải lúc nào cũng biểu lộ bằng tiếng cười. Có khi đó là sự bình an rất sâu nơi một người đang bệnh nặng nhưng vẫn tin. Có khi đó là nụ cười hiền của một người mẹ đã hy sinh cả đời cho con. Có khi đó là ánh mắt thanh thản của một người đã tha thứ cho kẻ làm mình đau. Có khi đó là sự vững vàng của một người bị mất mát nhưng không mất lòng tin. Có khi đó là lời cầu nguyện thầm lặng của một người đã khóc rất nhiều nhưng vẫn không bỏ Chúa.

Niềm vui của Chúa không phải là không còn đau, nhưng là biết rằng nỗi đau đã được Chúa ôm lấy.

Niềm vui của Chúa không phải là đời không còn bão, nhưng là biết Chúa đang ở trong thuyền.

Niềm vui của Chúa không phải là mọi sự theo ý mình, nhưng là tin rằng đời mình vẫn nằm trong tay Cha.

Niềm vui của Chúa không phải là khỏi thập giá, nhưng là biết thập giá có thể dẫn tới phục sinh.

Trong đời sống gia đình, có biết bao cơn đau sinh nở thiêng liêng. Một người mẹ sinh con không chỉ một lần trong phòng sinh. Người mẹ còn “sinh” con trong từng đêm thức trắng, từng bữa cơm lo toan, từng lần tha thứ, từng lời cầu nguyện, từng giọt nước mắt âm thầm khi con lầm lạc. Người cha cũng “sinh” con trong trách nhiệm, trong hy sinh, trong mồ hôi lao động, trong những lo lắng không nói ra. Vợ chồng cũng “sinh” lại tình yêu của mình qua những lần vượt qua hiểu lầm, qua những ngày tập nhường nhịn, qua những lúc phải chết đi cho cái tôi để gia đình được sống.

Trong đời sống cộng đoàn cũng vậy. Muốn có một cộng đoàn hiệp nhất, phải có những người chấp nhận đau đớn sinh nở. Phải có người biết nhịn một lời. Phải có người biết lùi một bước. Phải có người biết bỏ qua một tự ái. Phải có người biết làm việc âm thầm mà không đòi ghi công. Phải có người biết cầu nguyện nhiều hơn phàn nàn. Phải có người biết xây dựng thay vì chỉ trích. Một cộng đoàn không tự nhiên mà bình an. Bình an được sinh ra từ những hy sinh âm thầm.

Trong đời sống Hội Thánh cũng thế. Tin Mừng không tự nhiên lan rộng nếu không có những con người chấp nhận cơn đau sinh nở của sứ mạng. Các Tông Đồ đã khóc, đã sợ, đã bị bắt bớ, đã chịu tù đày, đã đổ máu. Nhưng từ những hy sinh ấy, Hội Thánh được sinh ra và lớn lên. Bao thế hệ chứng nhân đã đi qua đau khổ để chúng ta hôm nay được nhận đức tin. Đức tin chúng ta đang có không phải là món quà rẻ tiền. Đức tin ấy được truyền lại qua mồ hôi, nước mắt, máu đào và lòng trung thành của biết bao người.

Vậy hôm nay, Chúa mời gọi ta đừng sợ cơn đau sinh nở trong đời sống thiêng liêng. Muốn trưởng thành, phải có lúc đau. Muốn yêu thật, phải có lúc hy sinh. Muốn nên thánh, phải có lúc được thanh luyện. Muốn sinh hoa trái, hạt lúa phải mục nát. Muốn phục sinh, phải đi qua thập giá.

Có những người muốn niềm vui phục sinh nhưng không muốn đi qua Thứ Sáu Tuần Thánh.

Có những người muốn bình an nhưng không muốn từ bỏ tự ái.

Có những người muốn gia đình hạnh phúc nhưng không muốn tha thứ.

Có những người muốn cộng đoàn hiệp nhất nhưng không muốn hy sinh ý riêng.

Có những người muốn theo Chúa nhưng không muốn vác thập giá.

Nhưng Tin Mừng hôm nay dạy ta: niềm vui sâu nhất thường được sinh ra sau những cơn đau được sống trong tình yêu. Không có cơn đau sinh nở, sẽ không có niềm vui của sự sống mới. Không có thập giá, sẽ không có phục sinh. Không có hy sinh, tình yêu chỉ còn là lời nói. Không có phó thác, đức tin chỉ là lý thuyết.

Vì thế, khi gặp đau khổ, đừng vội kết luận rằng Chúa vắng mặt. Có khi Chúa đang âm thầm sinh ra một điều mới trong ta. Khi lời cầu nguyện chưa được nhận lời, đừng vội nghĩ Chúa không nghe. Có khi Chúa đang dạy ta tin sâu hơn. Khi phải hy sinh mà chưa thấy hoa trái, đừng vội bỏ cuộc. Có khi hạt giống đang nảy mầm dưới lòng đất. Khi thấy mình đang khóc, đừng nghĩ nước mắt ấy vô ích. Có khi chính nước mắt đang rửa sạch tâm hồn ta khỏi những điều phù phiếm.

Điều cần nhất là đừng đau khổ một mình. Hãy đem nỗi buồn đến với Chúa. Hãy nói với Chúa thật lòng. Đừng cầu nguyện bằng những lời đạo đức giả tạo. Hãy thưa: “Lạy Chúa, con đau.” “Lạy Chúa, con mệt.” “Lạy Chúa, con không hiểu.” “Lạy Chúa, con sợ.” “Lạy Chúa, con muốn bỏ cuộc.” Những lời cầu nguyện thật lòng ấy có khi đẹp hơn những lời hoa mỹ nhưng không chạm đến trái tim.

Chúa không sợ nước mắt của ta. Chúa chỉ sợ ta đóng cửa lòng và không cho Người bước vào. Chúa không trách ta vì yếu đuối. Chúa chỉ mời ta đừng rời khỏi Người. Vì Người đã hứa: “Thầy sẽ gặp lại anh em.” Mọi nỗi buồn của người môn đệ đều được đặt trong lời hứa ấy: Thầy sẽ gặp lại anh em. Không phải nỗi buồn gặp lại nỗi buồn. Không phải nước mắt gặp lại tuyệt vọng. Nhưng môn đệ sẽ gặp lại Thầy. Và khi gặp lại Thầy, lòng họ sẽ vui mừng.

Phục Sinh không chỉ là một biến cố đã xảy ra hơn hai ngàn năm trước. Phục Sinh còn là cách Chúa tiếp tục bước vào đời ta hôm nay. Chúa Phục Sinh đến trong một lời Lời Chúa làm ta được nâng đỡ. Chúa Phục Sinh đến trong một lần xưng tội giúp ta bắt đầu lại. Chúa Phục Sinh đến trong Thánh Thể nuôi ta giữa hành trình mỏi mệt. Chúa Phục Sinh đến qua một người bạn biết lắng nghe. Chúa Phục Sinh đến qua một biến cố nhỏ làm ta nhận ra mình vẫn được thương. Chúa Phục Sinh đến khi ta tưởng mình không còn gì, nhưng lại khám phá rằng Chúa vẫn còn đó.

Hôm nay, có lẽ mỗi người hãy đặt trước Chúa một nỗi buồn cụ thể của mình. Đừng giấu. Đừng né tránh. Đừng giả vờ. Hãy đặt nó trước Thánh Thể. Hãy đặt nó dưới chân thập giá. Hãy nói với Chúa: “Lạy Chúa, con không tự biến nỗi buồn này thành niềm vui được. Nhưng Chúa có thể. Xin Chúa chạm vào nỗi buồn của con. Xin Chúa thanh luyện nỗi buồn của con. Xin Chúa biến nước mắt của con thành lời cầu nguyện. Xin Chúa biến đau khổ của con thành hy lễ. Xin Chúa biến vết thương của con thành nơi tình yêu được sinh ra.”

Và rồi, cũng hãy nhìn những người chung quanh bằng ánh mắt dịu dàng hơn. Vì ai cũng có nỗi buồn. Có những người cười đó, nhưng bên trong đang vỡ. Có những người im lặng không phải vì họ không có gì để nói, nhưng vì họ đã quá mệt. Có những người khó tính vì họ đang mang một vết thương chưa lành. Có những người khô khan vì họ đã từng thất vọng quá nhiều. Nếu ta đã được Chúa an ủi trong nỗi buồn, ta cũng phải trở thành người an ủi cho anh chị em mình.

Đừng làm cho nỗi buồn của người khác nặng thêm bằng lời xét đoán.

Đừng làm cho vết thương của người khác sâu thêm bằng sự vô tâm.

Đừng làm cho người đang khóc phải cô đơn hơn vì thái độ lạnh lùng của ta.

Hãy học nơi Chúa Giêsu: nhìn nỗi đau bằng lòng thương xót, chạm vào vết thương bằng tình yêu, và mở ra cho người khác một niềm hy vọng.

Thứ Sáu tuần VI Phục Sinh đặt chúng ta giữa hai thực tại: nỗi buồn và niềm vui, thập giá và phục sinh, nước mắt và hy vọng. Chúa không hứa ta sẽ tránh được mọi đau khổ. Nhưng Chúa hứa một điều lớn hơn: nỗi buồn của ta có thể trở thành niềm vui, nếu ta sống nó trong Người.

Xin Chúa cho những ai đang khóc biết rằng nước mắt của họ không bị bỏ quên.

Xin Chúa cho những ai đang mệt biết rằng họ không phải đi một mình.

Xin Chúa cho những ai đang đau biết rằng đau khổ của họ có thể được biến đổi.

Xin Chúa cho những ai đang hy sinh trong âm thầm biết rằng tình yêu của họ không vô ích.

Xin Chúa cho những ai đang ở trong đêm tối biết tin rằng bình minh Phục Sinh đang đến.

Và xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết sống mọi biến cố đời mình bằng cái nhìn đức tin: không chạy trốn thập giá, không tôn thờ đau khổ, nhưng biết kết hợp mọi nỗi đau với tình yêu của Đức Kitô, để từ chính những đau đớn tưởng như làm ta gục ngã, một con người mới, một niềm vui mới, một sự sống mới được sinh ra.

Bởi vì Chúa đã nói, và lời Chúa không bao giờ sai: “Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.”

Amen. 


 

CHÚA LÊN TRỜI DỌN CHỖ CHO CHÚNG TA-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Lễ Thăng thiên)

Con thuyền không bến

Một chiếc thuyền lênh đênh giữa đại dương bao la, hết ngày nầy qua ngày khác, hết năm nầy đến năm kia, thuyền cứ trôi nổi bồng bềnh trên sóng nước mà không có bến đậu cho đến khi bị sóng to bão dữ nhận chìm thì thật là đau thương! 

Thế giới hôm nay cũng có lắm mảnh đời có chung số phận như con thuyền không bến nầy. Người ta sống mà chẳng biết mình sống vì mục đích gì, chết rồi sẽ ra sao… Cuộc đời của họ như thuyền trôi lênh đênh, không mục đích, không định hướng, không tương lai, không hy vọng… Vì thế, họ thấy cuộc sống là vô nghĩa và phi lý… Sống như thuyền không bến thì bi đát biết bao!

Cuộc phục sinh và lên Trời của Chúa Giê-su đem hy vọng cho thế giới

Chúa Giê-su là Thiên Chúa xuống thế làm người và đã sống trọn vẹn thân phận con người như chúng ta.

Ngài đã đi đến tận cùng đau khổ khi bị hành hình như một tội đồ gian ác nhất và chịu chết tủi nhục, thê thảm trên thập giá.

Ngài đã cảm nếm sự cô đơn cực độ khi hấp hối trên thập giá, bị người đời ghét bỏ, nhạo cười, phỉ nhổ…

Ngài đã rơi vào tối tăm bi thảm của kiếp người khi trở thành một thi hài không còn sự sống và chịu mai táng trong mồ hoang lạnh!

Thế rồi,

Nhờ quyền năng Chúa Cha, Ngài đã sống lại và lên Trời vinh hiển.

Qua việc phục sinh và lên Trời vinh hiển, Chúa Giê-su khai mở cho nhân loại một con đường tiến vào thiên đàng hồng phúc, nơi không còn đau khổ, tang thương, chết chóc nhưng tràn đầy hoan lạc và bình an.

Chúa Giê-su lên Trời không phải để rời xa chúng ta, nhưng Ngài đi để dọn chỗ cho chúng ta như lời Ngài nói: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em… Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14, 2-3).

Thế là từ đây, cửa Trời đã được mở ra, vương quốc trường sinh đã được dọn sẵn để đón nhận muôn dân muôn nước vào hưởng phúc đời đời.

Từ đây, đời người không phải như những con thuyền không bến, mà có một bờ bến tuyệt vời là thiên đàng, là chốn hạnh phúc thiên thu vạn đại đang chờ đón họ.

Nhờ sự lên Trời vinh hiển, Chúa Giê-su cho thấy cuộc đời rất đáng sống vì những chuỗi ngày ở trần gian là những bậc thang dẫn đưa nhân loại tiến đến quê Trời.

Hướng lòng về thượng giới

Biến cố Chúa Giê-su lên Trời hướng lòng trí chúng ta về quê hương đích thực của mình trên thiên quốc và thúc đẩy chúng ta phấn đấu để đạt tới mục tiêu cao quý nầy. Thánh Phao-lô trong thư Cô-lô-xê kêu gọi chúng ta: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, thì hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới…” (Col 3,1-2).

Lạy Chúa Giê-su,

Sự phục sinh và lên Trời vinh hiển của Chúa đã đem lại cho đời người một hướng đi, đó là tiến về thiên quốc, đã mang lại cho đời sống con người một ý nghĩa cao đẹp, đã khơi lên trong lòng người niềm hy vọng mai đây được vui sống hạnh phúc trên thiên đàng.

Xin cho chúng con hôm nay luôn hướng lòng về thượng giới, cố gắng sống tốt lành thánh thiện để mai sau, được cùng nhau sum họp bên Chúa trên thiên quốc. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

****************************

Tin mừng Mát-thêu (28, 16-20)

16Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. 17Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 18Đức Giê-su đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên Trời dưới đất.   19Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”


 

NỖI BUỒN MANG THAI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Niềm vui của anh em, không ai lấy mất được!”.

Thomas Ice & Robert Dean đặt câu hỏi, “Khi nào chúng ta hành động như Satan?”. Đó là khi con người coi đau khổ như một ngõ cụt thay vì một lối mở; khi nước mắt bị xem là thất bại thay vì là dấu hiệu của một niềm vui đang thành hình.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, Chúa Giêsu không xem đau khổ như một ngõ cụt, nhưng như một lối mở. Như người phụ nữ đi qua cơn quặn đau để sinh một con người, nỗi buồn của người môn đệ cũng là một ‘nỗi buồn mang thai’.

Gioan mô tả đau khổ như một cuộc chuyển dạ. “Nỗi buồn” – lypē – của người môn đệ không bị phủ nhận; nó được biến đổi từ bên trong, như cơn quặn đau của người mẹ lâm bồn. Vì thế, nước mắt và khổ đau không là hết đường, nhưng là một lối mở, là khúc dạo đầu của một tạo thành mới; nơi đó, ‘nỗi buồn mang thai’ một niềm vui, và nước mắt bắt đầu học cách hát. Bởi có những mất mát âm thầm khiến con người không còn biết phải mở lòng với cuộc đời thế nào nữa. Ấy thế, “Có những mất mát làm đổi thay toàn bộ cấu trúc đời người!” – Judith Viorst.

“Anh em sẽ khóc lóc và than van!”. Chúa Giêsu không phủ nhận nước mắt trong đời sống người môn đệ; Ngài chỉ không cho phép nó trở thành tiếng nói cuối cùng. Trong Tin Mừng Gioan, đau khổ luôn mang một hậu âm; cơn quặn đau của người mẹ không khép lại nơi tiếng khóc, nhưng mở ra nơi sự xuất hiện của một sinh linh mới. Những giọt nước mắt tưởng như đang khép đời mình lại, như khi một tương lai sụp đổ, một tương quan tan vỡ, hay một lời cầu nguyện mãi không được đáp lại. Thật ra, đó chỉ là khúc dạo đầu của một niềm vui không ai lấy mất.

Với Phaolô, lời “Đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh!” – bài đọc một, không chỉ là một trấn an, nhưng là một bảo đảm thần linh. Chúa Phục Sinh không cất khỏi ông chống đối hay hiểm nguy; Ngài chỉ hứa, “Thầy ở với anh!”. Và như thế là đủ. Có những đêm, chỉ một lời “Thầy ở với anh” cũng đủ giữ người môn đệ khỏi gục ngã. Có lúc, điều giữ con người đứng vững không phải lời giải thích, nhưng là cảm thức mình không bị bỏ lại. Vì thế, giữa bách hại và bất an, Phaolô vẫn tiếp tục lên tiếng, vì ông biết lịch sử nằm trong tay Đấng mà Thánh Vịnh đáp ca tung hô: “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô là nơi ‘nỗi buồn mang thai’ đạt tới ý nghĩa sâu xa nhất. Thập giá tưởng như khép lại mọi hy vọng, lại trở thành khởi đầu của phục sinh. Trong Ngài, không đau khổ nào còn hoàn toàn vô nghĩa; nước mắt người môn đệ không chỉ biết khóc, nhưng dần học cách hát niềm hy vọng. Có những đêm con người tưởng mình đã mất hết, nhưng cũng chính từ những khoảng tối ấy, Thiên Chúa âm thầm làm nảy mầm một sự sống mới; vì chỉ có bóng tối mới đủ sâu để nảy mầm ánh sáng. “Chỉ người thầy thuốc mang thương tích mới thực sự chữa lành!” – Carl Jung.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi nước mắt làm con tưởng mọi lối đi đều tắt, cho con biết, trong Chúa, đau khổ vẫn còn hậu âm hy vọng; và nỗi buồn vẫn có thể thai nghén niềm vui!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần VI Phục Sinh

Niềm vui của anh em, không ai lấy mất được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 16,20-23a

20 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em : anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui. 21 Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình ; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian. 22 Anh em cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng ; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được. 23a Ngày ấy, anh em không còn phải hỏi Thầy gì nữa.”


 

SỰ UỶ THÁC CỦA CHÚA GIÊSU – Lm Mark Link, S.J. 

Lm Mark Link, S.J. 

Một buổi sáng kia, bé Jenny bẩy tuổi ngồi ăn điểm tâm trên chiếc bàn nhỏ trong bếp.  Ngay lúc đó, cha em bước vào.  Ông vội vã đến cạnh bé để lấy món đồ gì đó.

 Bé Jenny đứng dậy, đi theo ông, nắm lấy cánh tay ông, và nói, “Bố ơi, bố có quên một điều.  Bố quên nói ‘good morning’ với con.” 

Ông ôm lấy bé, và nói, “Xin lỗi con.  Bố đang nghĩ đến những khó khăn ở sở làm.” 

Sau đó, tay vẫn ôm lấy cánh tay của bố, bé Jenny nói, “Bố ơi, sáng nay bố có cầu nguyện không?” “Không,” ông bố thú nhận một cách ngượng ngùng.

 Bé Jenny nói, “Đến đây với con.  Chỉ mất có vài phút thôi.”  Bé kéo ông ra khỏi phòng ăn và đi vào phòng của nó.  Dẫn bố đến góc phòng mà bé thường cầu nguyện, Jenny nói, “Bố ơi, nhắm mắt lại.”  Ông vâng theo.

 Sau đó, bé Jenny cũng nhắm mắt và nói nhỏ, “Chúa Giêsu nói, ‘Đừng sợ. Ta luôn ở với con.’”  Sau khi im lặng đôi chút, bé mở mắt ra và nói, “Bố hãy suy nghĩ về điều đó, và bố sẽ thấy an tâm.” 

Tôi thích câu chuyện này vì hai lý do.  Thứ nhất, chính là điều mà em gái này thi hành.  Thứ hai, chính là điều mà ông bố của em Jenny cần đến vào lúc đó. 

Ông cần nhớ đến lời Chúa Giêsu đã hứa với các môn đệ trong những lời sau cùng, như được chép trong Phúc Âm Mátthêu.  Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ luôn ở với anh em cho đến tận thế.” 

Điều đúng với ông bố của bé Jenny thì cũng đúng với tất cả chúng ta.

 Chúng ta có khuynh hướng quá bận rộn với những khó khăn ngày này sang ngày khác trong cuộc sống, chúng ta cần tạm ngưng hàng ngày, và nhớ lại điều mà bé Jenny đã nắm vững và diễn tả thật hay. 

Chúng ta cần nhớ rằng Chúa Giêsu luôn hiện diện với chúng ta ngay bây giờ, như khi Người hiện diện với các môn đệ khi còn sống ở thế gian.

 Chúng ta hãy nhìn kỹ hơn vào ngày lễ Thăng Thiên hôm nay khi Chúa Giêsu lên trời.  Đó là một ngày lễ quan trọng nhất của năm phụng vụ và bao gồm hai sự cử hành. 

Thứ nhất, lễ này mừng sự chiến thắng của Chúa Giêsu trên tội lỗi và sự chết và sự trở về vinh hiển với Chúa Cha trên thiên đường.  Ở đó Người ngự ở bên hữu Chúa Cha, với tư cách là đầu của Thân Thể, là Hội Thánh, và là vua của mọi tạo vật. 

Điều này đưa chúng ta trở về với câu chuyện của bé Jenny.  Lễ Thăng Thiên không mừng sự vinh hiển tột cùng của sự hiện diện bằng thân xác của Đức Giêsu trong thế gian.  Đúng hơn, lễ này mừng sự tiếp tục hiện diện của Chúa Giêsu giữa chúng ta trong sự vinh hiển mầu nhiệm qua một phương cách hoàn toàn mới và mạnh mẽ hơn. 

Lễ này vui mừng với sự kiện rằng Chúa Giêsu không còn hiện diện với chúng ta qua thân xác con người trong một phương cách vật chất.  Đúng hơn, Người hiện diện với chúng ta qua thân thể mầu nhiệm của Người trong một phương cách thiêng liêng.  Và vì thế điều đầu tiên chúng ta cử hành trong ngày lễ trọng đại này là sự lên trời vinh hiển của Chúa Giêsu; và Người tiếp tục hiện diện với chúng ta như đầu của thân thể Người, là Hội Thánh. 

Điều này đưa chúng ta đến chiều kích thứ hai của việc mừng lễ Thăng Thiên. 

Chúng ta vui mừng với sự uỷ thác mà Chúa Giêsu trao cho chúng ta, các môn đệ của Người.  Điều đó được nói rõ trong bài đọc một và bài phúc âm hôm nay. 

Trong bài đọc một, Đức Giêsu nói với các môn đệ:
Khi Thánh Thần ngự trên anh em, anh em sẽ được đổ đầy sức mạnh, và sẽ trở nên nhân chứng cho Thầy… cho đến tận cùng trái đất. CVTĐ 1:8

 Trong Phúc Âm, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng sau khi Người lên trời, họ phải trở về Giêrusalem để cầu nguyện và chuẩn bị đón Chúa Thánh Thần đến.  Khi Chúa Thánh Thần đến, họ sẽ được đổ đầy sức mạnh để ra đi và trở nên nhân chứng cho đến tận cùng trái đất. 

Chúng ta có thể so sánh lễ Thăng Thiên như người chạy đua tiếp sức chuyền lại cây gậy nhỏ cho người khác. 

Nói về thực tế, điều này có nghĩa gì cho chúng ta đang quy tụ ở đây?

 Nó có nghĩa chúng ta được mời gọi để tiếp tục công việc mà Đức Giêsu đã khởi sự ở trần gian, khi Người hiện diện trong thân xác. 

Có phải điều này có nghĩa rằng chúng ta phải ra đi và thực sự rao giảng về Chúa Giêsu như Thánh Phêrô và các môn đệ khác đã thi hành hay không? 

Thí dụ, có phải điều này có nghĩa là dựng lên một trạm thông tin trong trung tâm thương mại nào đó, và mời người ta đến uống nước và giải thích những gì chúng ta đang thi hành và tại sao chúng ta lại thi hành điều ấy không? 

Có lẽ đối với một số người điều này có nghĩa đúng như vậy, nhất là khi chúng ta về hưu, có tài chánh bảo đảm, và thuộc về một nhóm nào đó.

 Nhưng, với hầu hết chúng ta, có lẽ nó có nghĩa một điều gì đó ít gây ấn tượng hơn.  Tối thiểu, nó có nghĩa sống Phúc Âm trong đời sống hàng ngày.

 Tối thiểu, nó có nghĩa trở nên nhân chứng cho Chúa Giêsu trong chính gia đình mình, như bé Jenny. 

Chỉ khi nào chúng ta bắt đầu nghiêm trọng nói về ơn gọi Kitô Hữu của mình, sứ điệp của Chúa Giêsu sẽ có ảnh hưởng trong thế giới chúng ta.

 Và, nếu chúng ta bước đi trong đức tin và sống đức tin ấy, nó sẽ tạo nên sóng lăn tăn trong thế gian.  Và nếu nhiều người chúng ta thi hành điều ấy, sóng lăn tăn sẽ trở nên một ngọn sóng lớn. 

Và ngọn sóng ấy – được thêm sức bởi Chúa Thánh Thần – sẽ canh tân bộ mặt trái đất trong một phương cách mà chúng ta không bao giờ dám mơ tưởng.

 Đây là điều chúng ta cử hành trong ngày lễ hôm nay.

Trước hết, chúng ta cử hành sự hiện diện mầu nhiệm của Chúa Giêsu giữa chúng ta trong thân thể thiêng liêng của Người, là Hội Thánh.

 Thứ hai, chúng ta nhớ đến sự uỷ thác mà Chúa Giêsu đã trao cho chúng ta là làm chứng cho Người – tối thiểu – bởi chính đức tin và gương mẫu của mình, như bé Jenny đã làm. 

Lm Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim

ĐƯỢC CHỌN, ĐỂ Ở LẠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em!”.

Một bé gái mơ được đóng vai trong vở kịch cuối năm; đến ngày công bố, em chạy về, vui mừng nói với mẹ, “Mẹ ơi, con được chọn… làm người vỗ tay!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Được chọn không luôn đồng nghĩa với được đứng ở trung tâm; nhiều khi, được chọn chỉ để làm người vỗ tay. Với Matthia, là để ở lại. Lời Chúa hôm nay mở ra một nghịch lý: không phải được chọn để làm điều gì đó, nhưng bạn và tôi ‘được chọn – để ở lại’.

Trong Tin Mừng Gioan, “được chọn” không phải là một đặc ân bên ngoài, nhưng là một lời gọi vào tương quan. Động từ ở lại – manere – trở thành trục: “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy!”. Vì thế, được chọn không nhằm trao một vai trò, nhưng mở ra một tình trạng hiện hữu: ở lại trong tình yêu, trong Lời, trong chính Thầy. Và chỉ trong sự gắn bó ấy, người môn đệ mới sinh hoa trái; không phải từ khả năng, nhưng từ ơn ban. Như vậy, được chọn không phải để làm điều gì đó cho Chúa, nhưng để ở trong Ngài. “Ơn gọi Kitô hữu trước hết không phải là hành động, nhưng là ở trong Đức Kitô!” – Hans Urs von Balthasar.

Matthia xuất hiện trong một tiêu chuẩn rất Gioan: “phải là người đã cùng chúng tôi đi theo Chúa Giêsu… và làm chứng Người đã phục sinh” – bài đọc một. Đôi khi, vỗ tay cho người khác cũng là một cách tán thưởng Thiên Chúa. Ở đây, điều quyết định không phải là vai trò, nhưng là một sự trung tín. Không rời bỏ khi lời chói tai, không tản mác khi nhóm tan tác; Matthia không được thấy, nhưng vẫn ở đó. Vì thế, việc ông được chọn không phải là một khởi đầu, nhưng là một bộc lộ: ở lại đôi khi đã là một hành động. Và như thế, được chọn không phải để bước lên, nhưng để thấy mình đã luôn thuộc về – để ở lại – và còn ở lại.

“Để anh em ra đi, sinh được hoa trái”. Hoa trái không bắt đầu từ hành động, nhưng từ sự kết hiệp. Cành nho không tự mình sinh trái; nó phải gắn liền với thân. Vì thế, điều quyết định không phải Matthia hay ai làm được gì cho Chúa, nhưng là có còn gắn liền với Ngài hay không. Khi còn gắn liền, hoa trái không còn là điều phải gắng làm nên, nhưng là điều được ban. Trung tín là một hình thái của quyền năng. “Khi Thiên Chúa ban thưởng công nghiệp, Ngài chỉ đang ban thưởng chính ân sủng của Ngài!” – Augustinô.

Anh Chị em,

Đức Kitô luôn ở trong Chúa Cha, và từ Cha, Ngài đến với những ai bơ vơ tất tưởi. Nơi Ngài, “ở lại” không tách rời “được sai đi”. Matthia được chọn không phải từ chỗ nổi bật, nhưng từ một đời sống âm thầm ở lại; không được thấy, nhưng không rời. Bị quên lãng trong Chúa chính là được ghi nhớ đời đời. Và từ đó, ông được sai đi. Chúng ta cũng thế: được chọn không phải để bước ra phía trước, nhưng để hiện diện; không phải để được thấy, nhưng để được sai. Và trước hết, ‘được chọn – để ở lại’. “Đừng chờ đợi những việc lớn, hãy làm những việc nhỏ với tình yêu lớn!” – Mẹ Têrêxa Cacutta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con muốn làm điều lớn, xin cho con yêu điều nhỏ; con muốn nổi bật, xin cho con khiêm nhu; con muốn vội lên đường, xin cho con biết lân la với Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************

Lời Chúa Thánh Matthia tông đồ, Thứ Năm, Tuần VI Phục Sinh

Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 15,9-17

9 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. 10 Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. 11 Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.

12 “Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13 Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. 14 Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. 15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.

16 “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em, để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. 17 Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.”


 

Chúa Thánh Thần có vai trò nào trong đời sống Chúa Kitô? – Cha Vương

Nguyện xin ơn lành của Chúa luôn ở cùng bạn và gia đình cùng mọi người hôm nay và mãi mãi nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 13/05/2026.     (n11-22)

GIÁO LÝ: Chúa Thánh Thần có vai trò nào trong đời sống Chúa Kitô? Tất cả công việc của Chúa Giêsu chỉ có thể hiểu được là do Chúa Thánh Thần tác động. Sự hiện diện của Thánh Thần Thiên Chúa, Đấng ta gọi là Thánh Thần được biểu lộ cách hoàn toàn trong suốt cuộc đời Chúa Giêsu. (YouCat, số 114)

SUY NIỆM: Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Giêsu thành thai trong lòng Đức Maria (Mt 1,18), xác nhận Người là Con yêu dấu khi Chúa chịu phép Rửa (Lc 4,16-19), dẫn Chúa vào hoang địa (Mc 1,12) tác động cho đến lúc Chúa tắt thở (Ga 19,30). Trên thập giá Chúa Giêsu trút linh hồn. Sau khi sống lại Chúa ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ (Ga 20,22). Thánh Thần Chúa Giêsu được truyền sang cho Hội Thánh như vậy: Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em (Ga 20,21). (YouCat, số  114 t.t.)

❦ Trong kinh Tin Kính, bạn tuyên xưng: “Tôi tin Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng  ban sự sống”. Chính Chúa Thánh Thần là sự sống, nhưng là sự sống tình yêu, sự sống có tình yêu, vì Ngài là tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, là ơn thông hiệp của tình yêu Thiên Chúa, mà trong Ngài, bạn được thông hiệp với Thiên Chúa.

LẮNG NGHE: Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Áp-ba! Cha ơi!” (Rm 8:14-15)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là Thần Khí Sự Sống và Tình Yêu, xin dạy con biết yêu những điều tốt đẹp, cao quý và biết từ bỏ những điều xấu xa đê tiện. Xin cho con biết đưa Tình Yêu của Chúa vào cuộc sống để mỗi giây phút sống con đều cảm nhận được niềm hạnh phúc yêu thương.

THỰC HÀNH: Tự hỏi: Mới đây có khi nào tôi cảm nghiệm được tình yêu đích thực từ Thiên Chúa không? Xin Chúa Thánh Thần mở lòng trí bạn hôm nay nhé.

From: Do Dzung

******************************************

Chúa Là Tình Yêu (Trọng Nhân) – Bảo Thy

TỪ HOẠI TỬ ĐẾN KIỆT TÁC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn!”.

“Câu hỏi chính không phải là: ‘Làm sao che giấu những thương tích của mình?’, nhưng là: ‘Làm sao đặt chính những thương tích ấy vào việc phục vụ tha nhân?’” – Henri Nouwen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, Chúa Thánh Thần không đến để che phủ những hoại tử trong tâm hồn con người, nhưng để chữa lành và làm cho những vùng chết ấy biết nảy mầm sự sống. Đó là một hành trình ‘từ hoại tử đến kiệt tác’.

Gioan không nói Chúa Thánh Thần trao cho các môn đệ một chân lý hoàn chỉnh; Gioan nói Thần Khí sẽ “dẫn” họ tới sự thật toàn vẹn. Trong Gioan, động từ Hy Lạp hodēgēsei mang nghĩa “hướng dẫn trên một hành trình”. Vì thế, đức tin Kitô giáo không là một hiểu biết khép kín đã hoàn tất, nhưng là cuộc biến đổi không ngừng dưới sự dẫn dắt của Thánh Thần. Chính từ những vùng chết, những hoại tử âm thầm nơi con người, Ngài bắt đầu công trình tái tạo của mình. Hãy dành chỗ cho Thánh Thần; chính Ngài sẽ hoạ nên những kiệt tác bất ngờ từ những gì tưởng đã tắt lịm nơi chúng ta. “Vết thương là nơi Ánh Sáng đi vào con người!” – Jalal al-Din Rumi.

Chúa Giêsu còn nói một điều rất thật: “Bây giờ anh em không có sức chịu nổi”. Có những sự thật, nếu đến quá sớm, không khai sáng nhưng làm con người gãy đổ. Vì thế, Chúa Thánh Thần không chỉ dẫn con người vào sự thật, cũng không vội phá tung những gì còn yếu ớt; nhưng Ngài kiên nhẫn mở mắt, chữa lành và làm cho con người có khả năng chịu được ánh sáng. Đó là cách Thánh Thần đưa chúng ta ‘từ hoại tử đến kiệt tác’.

Là người được Thánh Thần dẫn đi từng bước, Phaolô không thể im lặng trước một bàn thờ “Kính thần vô danh” – bài đọc một. Điều nhiều người Athêna chỉ cảm nhận cách mù mờ như một thao thức tôn giáo, Phaolô lại nhận ra nơi đó một cơn khát chưa gọi tên. Thao thức đôi khi chính là tiếng vọng của Sự Thật. Vì thế, ông lên tiếng: “Đấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị!”. Với Phaolô, Ngài là Chúa Tể trời đất. Chính Thánh Thần mở mắt con người để họ nhận ra sự hiện diện của Ngài giữa thế giới và giữa cuộc đời mình. “Trời đất rạng ngời vinh quang Chúa” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Chính Đức Kitô Phục Sinh là kiệt tác đầu tiên của công trình tái tạo ấy. Từ thập giá, những thương tích và bóng tối của cái chết, Chúa Cha đã làm bừng lên một sự sống mới nhờ quyền năng Thánh Thần. Vì thế, Kitô giáo không tin vào một Thiên Chúa đứng ngoài những đổ vỡ của con người, nhưng tin vào một Thiên Chúa đã đi xuyên qua chúng. Bất toàn chính là khởi đầu của chữa lành. Vì chỉ những gì được đem vào ánh sáng mới có thể được Thánh Thần chạm tới và biến đổi. Thánh Thần hôm nay vẫn tiếp tục công trình phục sinh ấy nơi chúng ta. Hy vọng chính là sự phục sinh từ hoại tử. “Chúa Thánh Thần luôn không ngừng sáng tạo và tái tạo Hội Thánh!” – Yves Congar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng bỏ cuộc với con, nhưng âm thầm làm mới nơi con những gì đang lặng lẽ chết!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần VI Phục Sinh

Thần Khí sự thật sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 16,12-15

12 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. 13 Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. 14 Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em. 15 Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói : Người lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em.”

TÌM RA ƠN GỌI CỦA MÌNH – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

 Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với một câu nói nổi tiếng của C.S. Lewis.  Khi viết về cuộc trở lại Kitô giáo của mình, ông chia sẻ rằng mình là “người trở lại miễn cưỡng nhất trong lịch sử Kitô giáo.”  Khi ông quỳ gối lần đầu tiên, đó không phải là trong sự sốt sắng hân hoan, nhưng với cảm giác rằng đây là điều ông buộc phải làm.  Điều gì đã cho ông cảm giác ấy? 

Lời của ông: “[Tôi quỳ xuống dù lòng còn chống đối], bởi tôi đã nhận ra rằng sự thôi thúc của Thiên Chúa chính là sự giải thoát của chúng ta.”

 “Sự thôi thúc của Thiên Chúa” là gì?  Đó là cảm thức luân lý sâu xa, không thể dập tắt, ở trong ta – điều cho ta biết mình phải làm gì hơn là mình muốn làm gì.  Và điều đó có thể rất hữu ích khi chúng ta tìm kiếm ơn gọi và vị trí của mình trong cuộc đời.

 Ơn gọi là gì, và làm sao để tìm ra ơn gọi của mình?  Theo David Brooks, ơn gọi là một yếu tố có phần “phi lý trí,” khi bạn nghe một tiếng nói nội tâm mạnh đến mức không thể nghĩ đến chuyện quay lưng lại; khi bạn trực giác rằng mình không có lựa chọn nào khác, ngoài việc tự hỏi: trách nhiệm của tôi ở đây là gì?

 Đó cũng là câu chuyện về ơn gọi linh mục và đời sống tu trì của tôi.  Tôi chia sẻ ở đây không phải vì câu chuyện ấy đặc biệt; thực ra, nó rất bình thường, chỉ là một trong hàng triệu câu chuyện khác.  Tôi chia sẻ với hy vọng rằng nó có thể giúp ai đó nhận ra ơn gọi của mình trong đời.  Đây là câu chuyện của tôi.

 Tôi lớn lên trong một nền văn hóa Công giáo, nơi mà vào thời ấy, hầu như mọi thiếu niên nam nữ đều được mời gọi suy nghĩ xem mình có được kêu gọi sống đời thánh hiến và/hoặc làm linh mục hay không.  Tôi nghe điều đó cách minh nhiên từ cha mẹ và từ các nữ tu Ursuline dạy tôi ở trường; tôi cũng cảm nhận điều ấy trong bầu khí chung của văn hóa Công giáo thời bấy giờ.

 Nhưng bên trong tôi luôn có một sự kháng cự mạnh mẽ.  Đó không phải là điều tôi muốn làm với đời mình!  Tôi không muốn trở thành linh mục Công giáo.  Tôi nuôi dưỡng sự chống đối ấy suốt những năm trung học và tốt nghiệp với dự định vào đại học, lý tưởng là để trở thành một nhà tâm lý học.  Thế nhưng, một tiếng nói trong tôi không chịu im lặng.

 Tôi đã dành cả mùa hè sau khi tốt nghiệp trung học làm việc tại hai trang trại, trang trại của gia đình và một trang trại của người hàng xóm.  Hầu hết thời gian tôi làm việc ngoài trời, thường là một mình, lái máy kéo hàng giờ liền trên đồng ruộng.  Và trong những giờ làm việc dài ấy, sự thôi thúc của Chúa bắt đầu làm suy yếu sự kháng cự của tôi.  Ý nghĩ rằng tôi được kêu gọi trở thành linh mục đơn giản là không thể bị dập tắt, dù tôi đã cố gắng.  Tôi nhớ một buổi chiều nọ, khi đang làm việc một mình trên máy kéo, tôi đã cố gắng xua tan suy nghĩ đó bằng cách hát thật to, nhưng tiếng nói của Chúa không dễ dàng bị dập tắt như vậy. 

Mọi sự lên đến cao điểm vào cuối mùa hè, chỉ hai tuần trước khi tôi dự định lên đường vào đại học.  Một buổi tối, sau một buổi chiều lại làm việc một mình trên máy cày, tôi về nhà.  Cha mẹ tôi không có ở đó, nên tôi cố tự làm mình xao lãng bằng cách chơi ném bóng với em trai.  Nhưng bình an vẫn chưa đến.  Bình an chỉ đến sau đó, khi tôi lên giường ngủ – sau khi tôi đã quyết định theo đuổi ơn gọi linh mục.  Sáng hôm sau, tôi chia sẻ quyết định ấy với cha mẹ.  Họ mỉm cười và đưa tôi đến gặp cha xứ địa phương, một linh mục thuộc Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm. 

Công bằng mà nói, vị linh mục ấy cho tôi biết rằng, dù ngài là một tu sĩ Thừa Sai, tôi vẫn có những lựa chọn khác, chẳng hạn như trở thành linh mục địa phận hoặc gia nhập Dòng Tên.  Tôi chọn Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm vì đó là điều tôi quen thuộc, và vì tôi đã có một người anh trong dòng.  Hai tuần sau, tôi vào nhà tập của Dòng – như một trong những tập sinh miễn cưỡng nhất trong lịch sử của Dòng!

 Nhưng ngay từ ngày đầu tiên, tôi biết đó là đúng.  Tôi biết đó là nơi tôi được gọi để thuộc về.  Điều ấy đã xảy ra cách đây sáu mươi năm.  Dù đã trải qua những khó khăn trong đời linh mục, tôi chưa bao giờ nghi ngờ rằng đây là ơn gọi của mình – đời linh mục và Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm.

 Và Thiên Chúa, cuộc sống, sứ vụ và Dòng đã ban cho tôi nhiều hơn những gì tôi xứng đáng.  Thừa tác vụ của tôi chan chứa ân sủng vượt quá mọi lường đo; Dòng đã cho tôi một đời sống cộng đoàn lành mạnh, những cơ hội học tập xuất sắc, nhiều sứ vụ tuyệt vời, và niềm tự hào về đặc sủng của hội dòng trong việc phục vụ người nghèo.

 Sáu mươi năm sống ơn gọi này, tôi chỉ có thể nói: Lạy Chúa, con cảm tạ Ngài vì đã dẫn con đến nơi con không muốn đi.

 Tôi đã đưa ra quyết định ấy khi mới mười bảy tuổi.  Ngày nay, văn hóa của chúng ta có thể nói rằng một quyết định như thế không thể được thực hiện với sự trưởng thành và sáng suốt đầy đủ ở tuổi còn quá trẻ như vậy.  Thế nhưng, tôi chưa bao giờ thực sự nghi ngờ lựa chọn của mình, và giờ đây nhìn lại, tôi xem đó là quyết định sáng tỏ nhất, vị tha nhất và ban sự sống nhất mà tôi từng thực hiện.

 Đó là câu chuyện của tôi.  Nhưng còn có rất nhiều câu chuyện ban sự sống khác, khác với câu chuyện của tôi.  Sự thôi thúc của Thiên Chúa có vô vàn cách để biểu lộ.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

RA ĐI ĐỂ Ở LẠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thầy ra đi thì có lợi cho anh em!”.

“Ngài rời khỏi mắt chúng ta để chúng ta trở về với lòng mình và gặp thấy Ngài ở đó!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những cuộc ra đi khiến người ta xa nhau mãi mãi; nhưng cũng có những cuộc ra đi làm cho một sự gần gũi trở nên sâu hơn trong lòng người. Lời Chúa hôm nay mở ra nghịch lý ấy: Chúa Giêsu ‘ra đi để ở lại’.

Trong Tin Mừng Gioan, cái “lợi” Chúa Giêsu nói đến chính là việc các môn đệ được nhận lấy Thánh Thần, Đấng Ngài gọi là Paraklētos – Đấng Bảo Trợ. Thuật ngữ Hy Lạp này không chỉ mang nghĩa “Đấng an ủi”, nhưng còn là “Đấng đứng bên cạnh”, “Đấng biện hộ”. Sự ra đi của Chúa Giêsu không trở thành vắng mặt, nhưng mở ra một sự hiện diện sâu xa hơn trước. Kitô giáo vì thế không sống bằng ký ức về một nhân vật vĩ đại của quá khứ. Nếu Chúa Giêsu chỉ “đã từng hiện diện”, Tin Mừng đã khép lại từ lâu. Chính Thánh Thần làm cho Ngài vẫn tiếp tục ở cùng và hoạt động giữa Hội Thánh.

Sự hiện diện ấy không phải một ý niệm trừu tượng. Từ ngục tối Philipphê, “vào quãng nửa đêm, Phaolô và Sila hát thánh ca cầu nguyện” – bài đọc một. Chỉ một Hội Thánh xác tín Chúa Phục Sinh vẫn đang ở cùng mình mới có thể hát giữa xiềng xích như thế. Và chính trong đêm tối ấy, Thánh Thần tiếp tục hoạt động: cửa ngục mở ra, viên cai ngục được biến đổi và cả gia đình ông đón nhận phép rửa. Bấy giờ, lời Thánh Vịnh đáp ca trở thành kinh nghiệm sống động: “Lạy Chúa, Ngài ra tay uy quyền giải thoát con!”. Chúa Giêsu đã ra đi, nhưng Ngài vẫn tiếp tục đồng hành với dân thánh của Ngài – mãi cho đến ngày nay. “Đức Kitô không bao giờ vắng mặt khỏi Hội Thánh của Ngài!” – Henri de Lubac.

Ai trong chúng ta rồi cũng từng trải qua một sự vắng mặt như thế: một người mình yêu đã ra đi, một tương quan không còn như trước, những lúc cầu nguyện mà Thiên Chúa xem ra xa vắng. Nhưng cũng chính trong những khoảng trống ấy, con người nhiều khi lại khám phá một chiều sâu của tình yêu mà trước đây mình chưa từng nhận ra. Có những tình yêu chỉ thực sự ở lại khi người mình yêu không còn ở trước mắt. Chính trong những vắng mặt ấy, con người học lại cách yêu, cách nhớ và cách ở cùng nhau bằng chiều sâu của tâm hồn. Một cách khác của ‘ra đi để ở lại’. “Hai linh hồn chúng ta vốn là một; nên dẫu tôi phải ra đi, đó không phải là đổ vỡ, nhưng là một sự mở rộng!” – John Donne.

Anh Chị em,

Chính Đức Giêsu đã đi qua kinh nghiệm của một Đấng dường như bị bỏ lại một mình. Trên thập giá, Ngài không chỉ bị thế gian khước từ, nhưng còn bước vào bóng tối của cảm giác như bị Chúa Cha bỏ rơi. Thế nhưng, chính ở tận cùng của sự lạc lõng ấy, Ngài phó mình hoàn toàn cho Cha. Có lẽ đó là nghịch lý sâu nhất của mầu nhiệm Kitô giáo: càng “ra đi”, Ngài càng “ở lại” sâu hơn trong tình yêu của Cha và trong lòng nhân loại. Henri Nouwen từng viết, chính trong vắng mặt, con người học được thế nào là hiện diện!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con tuyệt vọng vì những vắng mặt; cho con biết rằng, có những hiện diện chỉ trở nên sâu hơn trong Thánh Thần!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần VI Phục Sinh

Nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 16,5-11

5 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Bây giờ Thầy đến cùng Đấng đã sai Thầy, và không ai trong anh em hỏi : ‘Thầy đi đâu ?’ 6 Nhưng vì Thầy nói ra các điều ấy, nên lòng anh em tràn ngập ưu phiền. 7 Song, Thầy nói thật với anh em : Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em ; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em. 8 Khi Người đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và việc xét xử : 9 về tội lỗi : vì chúng không tin vào Thầy ; 10 về sự công chính : vì Thầy đến cùng Chúa Cha, và anh em không còn thấy Thầy nữa ; 11 về việc xét xử : vì Thủ lãnh thế gian này đã bị xét xử rồi.”


 

CHẾT TRƯỚC TỬ ĐẠO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ sẽ khai trừ anh em khỏi hội đường!”.

“Khi Đức Kitô gọi một người, Ngài mời người ấy đến để chết!” – Dietrich Bonhoeffer.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy người tử đạo không chết khi máu đổ, nhưng từ lúc chấp nhận đứng về phía Chúa Kitô dù phải bị loại trừ. Khởi đầu của một cái chết âm thầm hơn – ‘chết trước tử đạo!’.

Trong Tin Mừng Gioan, bị “khai trừ khỏi hội đường” không chỉ là mất một nơi cầu nguyện, nhưng là bị lấy đi một bầu khí quyển để hít thở và thuộc về – koinōnia. Người môn đệ không chỉ mất một chỗ ngồi trong hội đường, nhưng còn mất cả ‘oxy của sự công nhận’. Chúa Giêsu không báo trước cho họ một cuộc bách hại máu đổ hay ngục tù, nhưng là một cuộc tước bỏ âm thầm và dai dẳng hơn: bị đẩy ra bên lề vì danh Ngài. Chính ở đó, người môn đệ bắt đầu bước vào điều mà Kitô giáo về sau gọi là tử đạo – một chứng tá phải trả giá bằng đời mình. Origen hiểu tử đạo không chỉ hệ tại ở việc đổ máu, nhưng còn ở đời sống không ngừng thuộc trọn về Chúa Kitô.

Thật vậy, thuật ngữ “tử đạo” trong Kitô giáo bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp martyria – “làm chứng”. Ban đầu, nó không mang nghĩa cái chết, nhưng là một chứng tá sống động về Đức Kitô. Chỉ về sau, khi các Kitô hữu sẵn sàng trả giá bằng chính mạng sống mình, “chứng nhân” mới trở thành “người tử đạo”. Vì thế, điều Chúa Giêsu chuẩn bị cho các môn đệ không đơn thuần là sức chịu đựng trước khổ đau, nhưng là khả năng không chối bỏ sự thật ngay cả khi điều đó khiến họ không còn thuộc về đâu nữa. “Cám dỗ lớn nhất của con người là bằng lòng với một điều gì đó quá nhỏ bé!” – Thomas Merton.

Có lẽ vì thế, nỗi sợ lớn nhất của con người chưa bao giờ là đau khổ, nhưng là bị loại trừ. Người ta có thể chấp nhận mất nhiều thứ, miễn vẫn còn biết mình thuộc về một ai đó, một cộng đoàn nào đó. Thế nhưng, theo Chúa Giêsu, sẽ có lúc người môn đệ phải chọn giữa việc được thuộc về thế gian và việc thuộc về sự thật. Và đó là nơi cuộc tử đạo âm thầm nhất bắt đầu: không còn sống để được chấp nhận, nhưng để làm chứng. Đó là cuộc hành hình êm ái đối với cái tôi luôn muốn được thế gian công nhận. Đó cũng là lúc con người bắt đầu ‘chết trước tử đạo’. “Chỉ tình yêu mới đáng tin!” – Hans Urs von Balthasar.

Anh Chị em,

Đức Giêsu Kitô là Đấng đã trải qua sự “bị khai trừ” sâu xa nhất. Trước khi chịu đóng đinh, Ngài đã chấp nhận bị khước từ bởi dân mình, bị bỏ rơi bởi các môn đệ và bị kết án như kẻ lạc đạo. Thập giá là đỉnh cao của sự vô gia cư! Chính trong sự bị loại trừ ấy, Ngài không ngừng làm chứng rằng Ngài ở trong Chúa Cha. Có lẽ đó là điều sâu nhất của tử đạo Kitô giáo: không phải chết vì đau khổ, nhưng vì đã chọn thuộc về Đấng mình yêu hơn tất cả, Đấng đã yêu mình vô cùng. “Thà tôi chết trong Đức Kitô Giêsu còn hơn thống trị tận cùng trái đất!” – Ignatiô Antiôkia.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con không sống để được thế gian chấp nhận; không sống để được đám đông tung hô; nhưng sống để thuộc về Ngài và cho Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần VI Phục Sinh

Thần Khí sự thật sẽ làm chứng về Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 15,26 – 16,4a

15 26 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy. 27 Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu.

16 1 “Thầy đã nói với anh em các điều ấy, để anh em khỏi bị vấp ngã. 2 Họ sẽ khai trừ anh em khỏi hội đường. Hơn nữa, sẽ đến giờ kẻ nào giết anh em cũng tưởng mình phụng thờ Thiên Chúa. 3 Họ sẽ làm như thế, bởi vì họ không biết Chúa Cha cũng chẳng biết Thầy. 4a Nhưng Thầy đã nói với anh em những điều ấy, để khi đến giờ họ hành động, anh em nhớ lại là Thầy đã nói với anh em rồi.”


 

Những ngày tĩnh tâm linh thao với Linh Mục Nguyễn Tầm Thường – Tác giả Phùng Văn Phụng 

Tác giả Phùng Văn Phụng 

 Cuối tháng 11 năm 2006 tôi có đi Palacios để tĩnh tâm trong ba ngày. Địa điểm tĩnh tâm nằm sát bờ biển nên tôi thường đi dạo loanh quoanh mé biển, lắng động tâm hồn mình, nhìn trời nước bao la, mênh mông vô tận, thấy con người mình quá bé nhỏ trước vũ trụ bao la. 

Lần này tĩnh tâm năm ngày, địa điểm là dòng tu Missionary Carmelites ở đường Deer Trail gần Veteran Memorial và Belway 8. 

Trong năm ngày thinh lặng hoàn toàn, mình về với chính mình, tương quan mình với Thiên Chúa. Đi lang thang trong vườn nhà tĩnh tâm, ngồi suy niệm dưới gốc cây bóng mát, trong không khí tĩnh lặng hoàn toàn, dưới bầu trời trong xanh, khí hậu thật mát mẽ dễ chịu của mùa xuân mới, bông hoa bắt đầu ra nụ, cành lá bắt đầu sinh sôi nẩy nở sau mùa đông lạnh lẻo, cành lá trơ trụi, xác xơ. 

1)Được làm con Thiên Chúa: 

Ngày xưa, dưới các triều vua nhà Nguyễn, chỉ có nhà vua xưng mình là Thiên tử tức con Trời. Mỗi năm nhà vua thay mặt dân chúng đến Đàn Nam Giao ở Kinh đô Huế để tế cáo trời đất xin ông Trời, là Thiên Chúa, mang đến mưa hoà, gió thuận để dân chúng làm ruộng được mùa. 

Chúng ta, ngày hôm nay, sau khi chịu phép rửa được làm con Thiên Chúa tức là con Trời và được gọi Thiên Chúa là Cha. 

Nhìn lại quá trình lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thì vào năm 1533 đã có người Tây dương tên là Ynêxu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân ngấm ngầm truyền giáo, nói về đạo Giatô. Theo gia phả dòng họ Đỗ thì vào năm 1580 có một người trong họ, Đỗ Hưng Viễn theo đạo Hoa lang.(1) 

Lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thăng trầm, không phải thời nào cũng dễ dàng được làm con Thiên Chúa vì có lúc người ta được tự do giữ đạo, sống đạo, nhưng cũng có thời kỳ bị bách hại dữ dội, nhất là dưới triều đại các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Lúc đó nếu ai tuyên xưng đức tin, con Thiên Chúa, là chịu đủ mọi thứ hình phạt và có thể bị tử hình. Bằng chứng là trong suốt dòng lịch sử thời gian cuối thế kỷ thứ 16 đến hết đời Tự Đức đã có hàng trăm ngàn người tử đạo ở Việt Nam, họ là những “thánh tử đạo vô danh”, trong đó có được 117 vị Thánh tử đạo được biết đến tên trong buổi lễ kỹ niệm long trọng vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 ở Roma. 

Ngày hôm nay, chúng ta được tự do theo đạo, tự do hành đạo, tự do sống đạo, tự do tuyên xưng đức tin là đìều quý giá vô cùng vì trên thế giới bây giờ cũng còn rất nhiều nơi, nhiều người không được tự do xác tín niềm tin của mình. 

“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (Sách Sáng thế ký, câu 27) cho nên mình là con của Thiên Chúa được gọi Thiên Chúa là Cha. 

Thánh Phao lô gởi tín hữu Ga-lát: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi”. Vậy anh em không phải là nộ lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.” (Gal 4: 6,7) 

Cảm nghiệm nào vui hơn, hạnh phúc cho bằng, mình là con của Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là “Áp-ba., Cha ơi”. 

2)Lòng tin của con đã cứu con

a)Chúa chữa người đàn bà bị băng huyết: 

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc, đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giê su, bà lách qua đám đông tiến đến sau Người và sờ vào áo Người. “Tôi mà sờ vào áo Người thôi là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại và bà cảm thấy trong người được khỏi bịnh.  …Bà đến phủ phục trước mặt Người và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bịnh.” (Mc 5: 25-34) 

b)Chúa chữa người con gái ông trưởng hội đường: 

Có mấy người từ nhà ông truởng hội đường đến bảo “ Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa. Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”. Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê rô, ông Gia cô bê và em ông này là ông Gioan. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ầm ỹ. Người bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy.” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người vào nơi nó đang nằm. Người cầm lấy tay nó và nói: “Ta-li-tha-kum” nghĩa là “Này bé, Thầy truyền cho con: hãy trỗi dậy đi. Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được… người ta kinh ngạc sững sờ. (Mc 5: 35-42) 

c)Chúa chữa người mù: 

Đức Giêsu còn chữa người mù tên là Ba-ti-mê con ông Ti-mê ở Giê-ri-khô.  Vừa nghe nói, đó là Đức Giêsu Nadaret, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, con vua David, xin dủ lòng thương tôi.” Đức Giêsu đứng lại và nói “Gọi anh ta lại đây.” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy.” Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh ” Tức khắc anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi. (Mc 10: 46-52) 

d)Chúa chữa người phong cùi.

 Lúc Người vào một làng kia thì có mười người phong hủi đến gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: “ Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi.” Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.” Đang khi đi thì họ được sạch. Một người trong bọn thấy mình được khỏi liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri. Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này.? Rồi Người nói với anh ta: “Đứng dậy về đi. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.” (Luca 7: 12-19) 

3)Hồi tâm hay tĩnh tâm theo thánh I-Nhã. 

Nhớ lại hồi những năm 1980, 1981 tôi bị giam giữ ở trại cải tạo K3 Vĩnh Phú, ăn uống rất kham khổ, đói khát, mỗi ngày chỉ được phát cho một tô canh rau muống luộc với muối, lỏng bỏng vài cộng rau, một nắp bình thủy cơm độn vài củ khoai lang, khoai mì hay bắp luộc. Có lúc mất luôn phần cơm chỉ còn khoai mì lát không còn mùi vị gì, khoai lang hay bắp trái hay khoai mì nghĩa vụ. Khoai mì này thường là loại khoai mì chỉ có hai đầu của củ khoai do dân đóng thuế. Người dân họ giữ lại phần giữa để họ ăn. Một chén khoai mì loại này anh em chỉ mấp mấp một chút tinh bột, rồi phải nhả ra hết vì toàn là sơ của hai đầu củ khoai mì. Nhiều khi nhận được vài củ khoai lang trong mỗi bửa ăn, nhưng đó lại có khoai sùng ăn vào đắng nghét.  

Trong hoàn cảnh đói khát dữ dội, triền miên như thế, làm cách nào tìm nguồn vui để sống trong sự đói. Đói cồn cào, đói mờ mắt, đói quá cứ gặp nhau là nói về thức ăn cho đỡ đói. Thì giờ rảnh, ngồi viết về cách nấu ăn, làm các món ăn, pha chế các món ăn. Ăn hàm thụ cho đỡ đói. 

Một người bạn nằm kế bên tôi tên là Minh chỉ cho tôi tập thiền (thiền ông tám). Cứ mỗi đêm khoảng 11, 12 giờ khuya ngồi xếp bằng và bắt đầu thiền. Anh Minh nói rằng khi ngồi thiền cần hít vô cho sâu và thở ra cho hết hơi của mình. Trong khi hít thở như vậy, niệm Nam Mô A Di Đà Phật, phải dùng ý chí, tư tưởng chuyển qua sáu luân xa, thuộc nhâm mạch và đốc mạch. Tập thiền như vậy để quên đói, quên suy nghĩ vẫn vơ, quên buồn phiền, mà có thể “tiếp xúc với gia đình bất cứ lúc nào” trong đêm cũng được. Sau khi tôi tập một thời gian vài tháng, tôi đã thấy vầng ánh sáng thật to ngay trước trán. Tôi sợ quá không dám tập nữa. Tôi sợ tẩu hỏa nhập ma, sẽ bị mát mát. Đói quá, thiếu ăn, mất hàng chục kí lô, đã ốm nhôm, ốm nhách mà nửa đêm còn ngồi dậy “thiền” tôi thấy có cái gì đó không ổn. Tôi cần ngủ để lấy lại sức không thể thiền vào lúc nửa đêm như vậy được.  

Hồi tâm hay tĩnh tâm theo thánh I-Nhã là lòng hướng Thiên Chúa toàn năng. Đọc phúc âm, dùng trí tưởng tượng, đặt mình vào hoàn cảnh địa lý, nhân vật, lắng nghe sự đối thoại của các nhân vật đó, lắng đọng tâm tư mình xuống, hướng về Thiên Chúa nhân từ, yêu thương, để nghe Chúa nói gì với mình và mình nói gì với Chúa, để nhặt các hạt cát, hạt sạn trong đời sống của mình đã gây cho mình đau khổ. Cha Nguyễn Tầm Thường đã dùng chữ “đau khổ dư thừa”. Khi vất những hạt sạn, hát cát đó đi thì đời sống mình càng đẹp hơn, càng vui hơn, hạnh phúc hơn. 

3)Ơn thánh biến đổi chính mình: (Transform) 

Trong bài đầu tiên trong sách ca nguyện Linh Thao, nói đến Nguyên Lý Nền Tảng và Mục Tiêu cuộc đời đã nhắc nhở: “Mục tiêu cuộc đời là sống mãi với Thiên Chúa, đấng ban cho chúng ta cuộc sống vì yêu thương chúng ta. Khi chúng ta ngợi khen, tôn kính và phục vụ ngài, tâm linh chúng ta được cứu thoát.” 

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải biết giữ bình tâm, thăng bằng đối với mọi sự trên mặt đất… 

Để cứu thoát tâm linh của chính mình, một điều nên làm là lúc nào cũng ca ngợi Thiên Chúa dầu mình gặp bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào. Tôi có viết một câu ngắn để trước bàn làm việc ở nhà, cũng như ở chỗ làm, để tự nhắc nhở chính mình như sau: “Tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh” 

Khi đi linh thao Cha có nói đến ơn Thánh biến đổi, ơn thánh “transform” sự xấu thành sự tốt. “Ơn thánh” không cất nhắc khó khăn. Luật tự nhiên trời mưa, trời nắng, trời nóng, trời lạnh. Theo luật tự nhiên mình có lúc khỏe mạnh, có lúc đau yếu, binh tật v.v…Chúng ta không thể thay đổi luật tự nhiên này theo ý mình được, vậy chúng ta phải “transform” nó cho thích hợp với chúng ta vì lúc nào chúng ta cũng có Thiên chúa “ở cùng”. Con đau khổ thì Cha cũng đứng bên con chia sẻ đau khổ với con. Khi nhìn Chúa Kitô trên thập giá, đối diện với Chúa, ơn thánh sẽ biến đổi tâm tư, tình cảm chúng ta để giúp chúng ta đủ sức chịu đựng được những khó khăn, đau khổ. 

Hoa quả của Thần khí là: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tính, hiền hòa, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. (Gal 5: câu 22-23). Khi mình gặp những sự gì đi ngược lại với thần khí này tức là mình đang xa lìa Thiên Chúa. 

Tĩnh tâm cho lòng mình quy về cội nguồn Thiên Chúa, trong tâm tình cầu nguyện và tạ ơn Thiên Chúa mỗi ngày cho đến khi chúng ta được trở về quê trời. 

Đêm cuối cùng hai mươi anh chị em chúng tôi ngồi tâm sự chia sẻ những tâm tư, tình cảm trong mấy ngày tĩnh tâm, đã cảm nghiệm gần gũi Chúa như thế nào. Có Chúa trong đời sống hoàn toàn khác biệt với tình trạng sống xa lìa Thiên Chúa. 

Cho nên được làm con Thiên Chúa, cuộc sống mình sẽ luôn luôn vui tươi, luôn luôn hạnh phúc vì lúc nào cũng “ có Chúa ở cùng ” với chúng ta. Trong gia đình, cộng đoàn hay cá nhân nào “có Chúa ở cùng” thì gia đình, cộng đoàn, cá nhân đó bình an. 

Theo Chúa, học cách tĩnh tâm mỗi ngày như thánh I-Nhã, đời sống hiện tại đẹp biết bao nhiêu, mình cũng biết được mục đích cuối cùng của đời sống và khi chết, linh hồn mình sẽ đi về đâu? 

Phùng Văn Phụng  

(1)  Để Hiểu Lịch Sử Sách Đạo Thiên Chúa ở

      Việt Nam đầu thế kỷ 17 của Nguyễn Khắc Xuyên 

 (Kỹ niệm 5 ngày tĩnh tâm 17-22 tháng tư năm 2007)