SỰ THẬT KHÔNG BÁN, NGƯỜI TA VẪN MUA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy”.

“Con người làm điều xấu cách hăng say nhất khi họ tin mình đang làm điều đúng!” – Blaise Pascal.

Kính thưa Anh Chị em,

Lính đã thấy; nhưng không nói điều họ thấy. Họ nhận tiền; và nói theo điều được dạy. Ở đó, sự thật không bị chối bỏ; nhưng bị thay thế; và người ta có thể làm điều sai, mà vẫn tin mình đang làm điều đúng. ‘Sự thật không bán; người ta vẫn mua’.

Trong trình thuật Matthêu, chi tiết tưởng như phụ lại mang trọng lượng quyết định: “họ đã nhận tiền”. Động từ Hy Lạp elabon – “đã nhận” – không chỉ là một hành vi; nhưng là một chọn lựa. Từ đó, điều họ nói không còn xuất phát từ điều họ thấy; nhưng từ điều họ đã nhận. Thực tại không đổi; nhưng lời kể đã đổi. Vì thế, vấn đề không còn là biến cố; nhưng là cách biến cố được kể lại. Đó còn là câu chuyện của chúng ta; khi một điều mình nhận – một lợi ích, một số tiền, một hứa hẹn – quyết định điều mình nói và cách mình kể lại sự thật; thì sự thật, dù không phải để bán, đã bị mua.

Nhưng bản văn không dừng ở việc “nhận”; Matthêu nói rõ hơn: “và làm theo lời họ dạy”. Đây không còn là lời tự phát; nhưng là lời được sắp đặt. Câu chuyện ấy không đứng vững: nếu là cướp xác, sao mọi sự lại được xếp gọn gàng như Gioan đã thấy? Một lời kể có vẻ hợp lý; nhưng không hơn sự thật. Vậy mà, điều được dạy lại thắng điều được thấy. Vì thế, Matthêu thật tinh tế khi thêm một chi tiết lạnh lùng: “Câu chuyện ấy còn được phổ biến giữa người Do Thái cho đến ngày nay”. Không phải vì nó đúng; nhưng vì nó được kể. Sự thật không cần được làm cho mạnh; chính việc bị bóp méo cho thấy nó mạnh đến mức nào. Và chúng ta cũng thường chọn tin như thế, khi sự thật đòi chúng ta phải trả giá quá đắt.

Và ở đây, một chi tiết làm lộ ra sự thật. Theo Đức Phanxicô, trong luật Do Thái, lời chứng của phụ nữ không có giá trị. Thế nhưng, chính họ lại là những người đầu tiên ra mộ và báo tin. Nếu câu chuyện này được dựng lên, người ta đã không kể như thế; không ai chọn những nhân chứng như vậy cho một câu chuyện cần được tin. Vậy mà các Tin Mừng vẫn giữ nguyên. Không phải vì nó đáng tin; nhưng vì nó thật.

Anh Chị em,

Đứng trước Đức Kitô, sự thật không còn là điều có thể bị định hướng; nhưng là một Đấng đang sống. Ngài không cần được bảo vệ bằng những câu chuyện “đáng tin”; vì chính Ngài là sự thật. Người ta có thể trả tiền cho lời nói; nhưng không thể mua được Đấng đã sống lại. Người ta có thể dựng nên một câu chuyện; nhưng không thể thay thế một biến cố. Và vì thế, điều quyết định không còn là điều được dạy; nhưng là Đấng chúng ta gặp. Không phải điều người ta nói; nhưng là Đấng đang sống. Và đứng trước Ngài, chúng ta không còn hỏi: điều này có đáng tin không; nhưng: tôi có dám tin không? “Phúc cho những ai không thấy mà tin!” – Gioan.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con không chạy trốn sự thật; đừng đổi sự thật lấy điều có lợi; và xin cho con dám trả giá, khi sự thật trở nên quá đắt!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Hãy về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 28,8-15

8 Khi ấy, các người phụ nữ vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay.

9 Bỗng Đức Giê-su đón gặp các bà và nói : “Chào chị em !” Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người. 10 Bấy giờ, Đức Giê-su nói với các bà : “Chị em đừng sợ ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.”

11 Các bà đang đi, thì có mấy người trong đội lính canh mồ vào thành báo cho các thượng tế biết mọi việc đã xảy ra. 12 Các thượng tế liền họp với các kỳ mục ; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn, 13 và bảo : “Các anh hãy nói như thế này : Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác. 14 Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự.” 15 Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy. Câu chuyện này được phổ biến giữa người Do-thái cho đến ngày nay. 


 

Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng (1 Cr 14:15)-Cha Vương

Ha-lê-lui-a!!! Mừng hát lên, Chúa đã Sống Lại rồi! Nguyện xin niềm vui và ẩn sủng của Chúa Phục Sinh ở lại trong tâm hồn bạn và gia quyến hôm nay và mãi mãi nhé. Luôn nhớ nhau trong lời cầu nguyện và cho cả thế giới trong hoàn cảnh này

Cha Vương

CN: 05/04/2026.  (n17-22)

TIN MỪNG: Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

SUY NIỆM: Ha-lê-lui-a!!! Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ. (Tv 117:24) Mừng vui lên! Vì Chúa đã sống lại thật rồi. Thánh Phao-lô đã quả quyết rằng: Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. (1 Cr 14:15)

 Đây là điều làm cho đức tin Ki-tô Giáo trổi vượt trên các đạo khác. Không có gì tách bạn ra Tình Yêu của Thiên Chúa ngay cả sự chết. Nếu bạn tin vào Chúa thì bạn cũng tin vào sự sống lại của người. Sự chết của phận người nảy sinh một sự sống mới trong Đức Ki-tô. Cảm nhận được điều này, bạn có cảm thấy trong lòng ước ao đi công bố Tin Mừng Phục Sinh không? Hãy chỗi dậy hỡi những ai đang ngủ mê trong bóng tối của sự chết. Chúa đã sống lại rồi! Hãy vui lên! Ha-lê-lui-a!!!

LẮNG NGHE: Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, / không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. / Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi! (Tv 16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su phục sinh, thật là diễm phúc cho con khi được Chúa đến để cứu chuộc con và hứa ban cho con đời sống vĩnh cửu, xin cho con biết đáp đền cho cân xứng qua việc lành phúc đức và chân thành yêu thương nhau.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Tinh Kính

From: Do Dzung

********************

Hoan Ca Phục Sinh | Lm Nguyễn Duy 

TÔI TẠ ƠN CHÚA . . .- G.S.Trần Duy Nhiên dịch

Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh.(1)

 Tình cờ tìm được bài “ Tôi tạ ơn Chúa” , tôi thấy nhiều điều hữu ích, đáng suy gẫm, có thể đem áp dụng trong đời sống hàng ngày để tìm thấy niềm vui, hạnh phúc đơn sơ mà chúng ta nhiều khi không cảm nhận được. Có những chuyện nho nhỏ làm cho chúng ta bực mình, mất vui, mất bình an vì cái nhìn từ phía chúng ta, từ trong tấm lòng của chúng ta.. Các bạn thử đọc lại bài này và áp dụng thử xem sao?

 Tôi Tạ Ơn Chúa. . .

 Tôi tạ ơn Chúa vì chồng tôi cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp, bởi lẽ chàng đang ở ngay bên cạnh tôi, chứ không phải bên ai khác.

Tôi tạ ơn Chúa vì con tôi cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho tôi, bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không phải lêu lổng ngoài đường.

Tôi tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà tôi phải trả quá cao, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có một công việc tốt để làm.

Tôi tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọp dẹp sau bữa tiệc nhỏ, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi luôn được bạn bè quý mến đến chơi.

Tôi tạ ơn Chúa vì quần áo tôi bỗng trở lên hơi chật, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có đủ ăn,

Tôi tạ ơn Chúa vì cái bóng của tôi cứ nhìn tôi làm việc, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang sống tự do ngoài nắng.

Tôi tạ ơn Chúa vì sàn phòng cần quét, cửa sổ cần lau, ma’ng xối cần sửa, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có một mái nhà để cư ngụ.

Tôi tạ ơn Chúa vì tất cả những lời than phiền về chính phủ, bởi lẽ như thế nghĩa là chúng ta đang được tự do ngôn luận.

Tôi tạ ơn Chúa vì hóa đơn đóng tiền cho hệ thống sưởi thật cao,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang được ấm áp.

Tôi tạ ơn Chúa vì người phụ nữ ngồi phía sau tôi trong nhà thờ hát sai, bởi lẽ như thế nghĩa tai tôi còn nghe được rất tinh tế.

Tôi tạ ơn Chúa vì đống đồ phải giặt ủi, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi có đầy đủ quần áo để ăn mặc tử tế.

Tôi tạ ơn Chúa vì các cơ bắp của mình thấy mỏi mệt vào cuối ngày,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi có sức để làm việc nhiều.

Tôi tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo to thật sớm ban mai, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi còn đi lại, hít thở và cười nói,  bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang còn sống.

và cuối cùng…

Tôi tạ ơn Chúa vì nhận quá nhiều thư từ gửi về,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến tôi…

Tôi gửi bài này để các bạn hiểu rằng :

“Thiên Chúa luôn đến với con người bằng một quả tim yêu thương, cho dù chúng ta đang ở trong bất cứ tình trạng nào!”

G.S.Trần Duy Nhiên dịch

 (1)   Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu .(1 TX 5 câu 18)

Đây là thơ thứ nhứt của thánh Phao lô gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca một thành phố lớn và là thủ phủ của  miền  Ma-kê-đô-ni-a .

Phung van Phung suu tam


 

MỘT HÔM NAY KHÁC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, cô Maria Mađalêna đi đến mộ”.

“Ngày của Chúa là ngày phục sinh!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Maria ra mộ từ sáng sớm. Nhưng không phải như mọi ngày. Cô mang theo một hôm qua. Một mất mát mà chúng ta cũng biết rõ. Và vì thế, cô không nhận ra – ‘một hôm nay khác!’.

“Sáng sớm, lúc trời còn tối”. Thời gian đã sang ngày thứ nhất, một ngày mới đã bắt đầu – dies nova – nhưng bóng tối vẫn còn đó. Gioan không vô tình đặt hai điều này cạnh nhau! Ánh sáng đã được ban, nhưng chưa được nhận ra. Cô thấy ngôi mộ trống, nhưng không hiểu. Cô đứng trong buổi sáng của một ngày mới, nhưng vẫn nhìn bằng ánh mắt của một đêm cũ. Ngày đã khác nhưng lòng cô chưa khác. Đó cũng là kinh nghiệm của chúng ta; có ánh sáng, nhưng đêm vẫn còn. “Trong đêm tối của linh hồn, dòng sông của Thiên Chúa vẫn sáng chảy!” – Gioan Thánh Giá.

Maria thấy; nhưng vẫn ở trong đêm – cũng thế, nhiều khi chúng ta đã thấy, mà vẫn không thoát khỏi đêm. Cô thấy tảng đá đã lăn, ngôi mộ trống; nhưng cô không nhận ra điều đã thấy. “Thấy” không dẫn đến “hiểu”; nó chỉ dừng lại ở dấu vết; Maria vẫn đọc mọi sự theo logic của cái chết: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Cô bị giới hạn bởi một cách hiểu cũ – một cách hiểu được định hình bởi mất mát. Cũng vậy, chúng ta hiểu theo cách của nỗi đau mình mang. Và vì thế, dù đứng ngay trong bình minh của một ngày mới – như Maria – chúng ta vẫn ở lại trong thế giới của ngày hôm qua, nơi mọi sự đã khép lại quá sớm.

May thay, Maria quay lại; và lần này, cô không còn đứng yên. Cô chạy đi tìm Phêrô và người môn đệ kia; cô nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Từ đó, mọi sự bắt đầu chuyển động; không còn đứng yên; không còn khép kín. Phêrô và người môn đệ kia cũng chạy, cũng tìm; họ cùng bước vào trong dấu vết của một điều chưa hiểu. Việc nhận ra không dừng lại nơi một mình Maria; nhưng lan ra, kéo người khác vào cuộc tìm kiếm. Và rồi đây, tại nhà Cornêliô, Phêrô sẽ đứng lên mà nói – bài đọc một. Điều được thấy không còn giữ lại cho riêng mình; nhưng trở thành lời công bố. Mộ trống không mở ra để Đấng Phục Sinh bước ra; nhưng để con người nhận ra. Không đóng kín; nhưng khai mở sứ vụ.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, ngày không còn là một ý niệm; nhưng là một con đường, một hành trình. Với Ngài, mỗi ngày với Cha luôn là ngày mới; một ngày sinh ra từ tương quan, không từ những gì đã qua. “Đây là ngày Chúa đã làm ra” – Thánh Vịnh đáp ca; ngày của thập giá, cũng là ngày của phục sinh. Ngày mà chúng ta không còn tìm những gì thuộc hạ giới; nhưng hướng lòng về thượng giới – bài đọc hai. Không còn sống từ những điều đã qua; nhưng từ Đấng đang sống. Không còn ở trong cái chết; nhưng trong sự sống – một sự sống không còn bị quá khứ định nghĩa. ‘Một hôm nay khác’ bắt đầu – không từ những gì chúng ta giữ lấy, nhưng từ những gì chúng ta dám trao ban.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gọi tên con giữa đêm không hiểu; cho con nhận ra một hôm nay khác; xin đưa con đi, khỏi nơi con muốn nán lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT PHỤC SINH

Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 20,1-9

1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. 2 Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”

3 Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. 4 Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. 5 Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. 6 Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, 7 và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. 8 Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. 9 Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết. 


 

 Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” (Lc 24:5-7)- Cha Vương

 Chúc bạn và gia đình một ngày bình an trong Tình Yêu mạnh hơn sự chết của Thiên Chúa nhé. Xin luôn nhớ nhau trong lời cầu nguyện và cho toàn thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 7: 04/04/2026. (n16-22)

TIN MỪNG: Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói : “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết ? 6 Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, 7 là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” (Lc 24:5-7)

SUY NIỆM: Mấy ngày qua bạn suy niệm 7 lưỡi gươm đâm vào tim Mẹ, bạn đã cảm nhận được những khoảnh khắc đau buồn của Mẹ Maria khi theo Con mình trên đường tới pháp trường, chứng kiến con bị đóng đinh, và đứng dưới chân thập giá để nhìn người ta dùng đòng đâm thấu trái tim của con bà, rồi đau đớn ôm lấy xác con trong vòng tay của mình. Hôm nay là Thứ 7 Thánh. Trọng tâm suy niệm và cầu nguyện của ngày hôm nay là “sống trong thinh lặng và mong đợi”. Thiết tưởng rằng bạn đã có một lần tham dự buổi canh thức cầu nguyện của người quá cố. Người đó có thể  là người thân yêu của bạn mới qua đời. Cảnh thinh lặng và mong đợi nói lên mối chân tình sâu đậm trong niềm tin vào Đức Kitô sống lại từ cõi chết. Chính trong tình yêu này mà tất cả những người tin vào “xác loài người ngày sau sống lại; tôi tin hằng sống vậy” có được mối dây liên hệ thắm thiết đang nối kết trong một không gian thinh lặng tràn đầy sức mạnh của đức tin. Vậy hôm nay mình mời bạn hãy ôn lại những khoảnh khắc đó để xin Chúa tăng thêm niềm tin cho bạn nhé.

LẮNG NGHE: Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. (Rm 6:8-9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin mở mắt con để con nhìn thấy những điều trong chiều sâu của đức tin đó là bên kia thân xác bầm dập, bên kia nơi an táng và tảng đá che giấu Chúa Giêsu là sự sống và niềm vui phục sinh mà Chúa hứa ban cho những ai tin vào Chúa. Lạy Chúa xin tăng thêm niềm tin cho con và đừng để con nao núng trước cảnh hư nát mau qua của thế gian này.

THỰC HÀNH: Làm một việc hy sinh trong ngày hôm nay để cầu nguyện cho các ACE tân tòng nhé.

From: Do Dzung

*********************

Hứa Với Chúa – Hiền Thục

ĐÊM NGÀI KHÔNG NGỦ – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Đó là đêm Đức Chúa canh thức để đưa họ ra khỏi đất Ai Cập!”.

“Này là đêm xiềng xích bị bẻ tung!” – Exsultet.

Kính thưa Anh Chị em,

Đêm nay không chỉ là một đêm tưởng niệm, nhưng là một đêm đang tiếp diễn. Đây là đêm xiềng xích tử thần bị bẻ tung. Và Thiên Chúa vẫn hành động: từ đêm tạo dựng đến đêm Abraham; từ đêm Xuất Hành đến đêm nghĩa địa… khi mọi sự tưởng như kết thúc, thì chính lúc ấy, Ngài khởi sự. Chỉ khi hồi tưởng, chúng ta mới nhận ra: đó là những ‘đêm Ngài không ngủ’.

Trong Thánh Kinh, đêm không chỉ là thời gian, nhưng còn là không gian, nơi Thiên Chúa ưa chọn để hành động. Từ buổi đầu, khi “bóng tối bao trùm vực thẳm”, Ngài không xua đêm; nhưng từ đêm, Ngài tạo ánh sáng. Với Abraham – được hứa giữa đêm – người đếm các vì sao; nhưng đêm cũng trở thành một “tentatio” – thử thách – nơi lời hứa và dao sát tế con cùng xuất hiện. Trong đêm Xuất Hành, khi “bên này không thấy bên kia”, Ngài không chọn lúc thấy rõ, nhưng lúc mù mịt; và chính ở đó, lối đi được mở ra. Và nơi đêm mồ, khi mọi sự tắt lịm, Ngài khởi sự một điều mới. Thiên Chúa không vội hành động theo cách chúng ta chờ. “Nếu Thiên Chúa xem ra chậm đáp lời, là vì Ngài đang chuẩn bị một ân ban tốt hơn!” – Augustinô.

Nếu đêm là nơi Thiên Chúa hành động, thì đêm ấy đạt tới đỉnh trong biến cố phục sinh. Tin Mừng không kể lại khoảnh khắc Đức Kitô sống lại; mọi sự xảy ra trong thinh lặng. Các phụ nữ đến khi trời còn tối, chỉ thấy tảng đá đã lăn ra – ngôi mộ trống. Phục sinh không phải là điều được thấy, nhưng là điều được nhận ra. Chính trong khoảng không ấy, đức tin được khai sinh. Có những lúc trong đời, đứng trước những đêm mộ trống như thế – và chỉ khi ở lại, chúng ta mới nhận ra: Thiên Chúa vẫn hành động – đó là những ‘đêm Ngài không ngủ’.

Phục sinh không phải là một hành động bên ngoài, nhưng là một “anastasis” – đứng dậy từ bên trong; không ai thấy, vì đó không phải là một biến cố để quan sát, nhưng là một chuyển động quyết định của sự sống. Cái chết không bị phá vỡ từ bên ngoài, nhưng bị xuyên thủng từ bên trong. Và nếu không có một sự trỗi dậy như thế, thì Phục Sinh nào còn ý nghĩa gì! “Thiên Chúa đang hoạt động trong mọi hoàn cảnh, ngay cả những hoàn cảnh tăm tối nhất!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ sống lại, nhưng đứng dậy từ trong cái chết; Ngài không được kéo ra, nhưng tự trỗi dậy như sự sống không thể bị giữ lại. Và nếu Ngài đã phục sinh như thế, thì Ngài cũng chạm đến chúng ta theo cách ấy: không từ bên ngoài, nhưng từ nơi sâu nhất, nơi chúng ta tưởng đã khép lại; và chính ở đó, không phải tự sức mình, nhưng bởi quyền năng Thiên Chúa, chúng ta được trỗi dậy. Vì thế, điều Ngài làm trong đêm mồ, Ngài vẫn đang làm trong chính chúng ta; giữa bao biến cố, vẫn có những đêm Ngài không ngủ. “Trong đêm tối, Thiên Chúa âm thầm dạy dỗ linh hồn!” – Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mọi sự tối sầm, cho con biết ở lại; khi lạc mất phương hướng, cho con tin lối Ngài đang mở; và trong đêm tối nhất, cho con nhận ra: Chúa không ngủ!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

***************************************************

LỜI CHÚA THỨ BẢY VỌNG PHỤC SINH

Người đã trỗi dậy và đi Ga-li-lê trước các ông.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 28,1-10

1 Chiều ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a, đi viếng mộ. 2 Thình lình, đất rung chuyển dữ dội : thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên ; 3 diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. 4 Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi. 5 Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ : “Này các bà, các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. 6 Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, 7 rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này : Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Đấy, tôi xin nói cho các bà hay.” 8 Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay.

9 Bỗng Đức Giê-su đón gặp các bà và nói : “Chào chị em !” Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người. 10 Bấy giờ, Đức Giê-su nói với các bà : “Chị em đừng sợ ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.” 


 

CHÚA GIÊ SU CÓ THẬT SỰ SỐNG LẠI KHÔNG? – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

 Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

(Suy niệm lễ Phục sinh)

Có dư luận cho rằng Chúa Giê-su không sống lại, chẳng qua là các môn đệ đánh cắp xác Ngài ra khỏi mồ rồi đem đi nơi khác. Sau đó, họ toa rập với nhau, phao tin Chúa đã sống lại, xác Ngài không còn nằm trong mồ nữa. 

Thực hư thế nào? Có bằng chứng nào chứng tỏ Chúa Giê-su đã sống lại không?

Có nhiều bằng chứng khác nhau, ở đây chúng ta chỉ nêu lên bằng chứng thuyết phục nhất.

Đó là các Tông đồ sẵn sàng chịu chết để làm chứng Chúa Giêsu sống lại.

BẰNG CHỨNG CỦA CÁC TÔNG ĐỒ

Nếu Chúa Giêsu chết đi mà không sống lại như lời Ngài báo trước, thì tình huống sau đây sẽ xảy ra:  

-Thứ nhất: Các Tông đồ sẽ nhận ra rằng Thầy Giêsu mà họ đem lòng tin tưởng, yêu mến và ngưỡng mộ bấy lâu không phải là Con Thiên Chúa như lời Ngài nói mà chỉ là người phàm tự xưng là Con Thiên Chúa, vì Ngài cũng chết như bao người khác chẳng hơn gì. Các ông sẽ thất vọng cách cay đắng về Ngài, sẽ oán hận và phế bỏ Ngài vì Ngài đã lừa dối các ông, đã làm cho cuộc đời các ông dang dở: bỏ công theo Ngài ba năm, giờ chẳng được tích sự gì. Thế là, Nhóm Mười Hai môn đệ sẽ như rắn mất đầu và tất nhiên phải rã đám… và Giáo hội Chúa Giê-su mới lập cũng rã theo!

-Thứ hai: Các ông sẽ không bịa đặt chuyện Chúa Giêsu sống lại rồi đi rao truyền khắp nơi để lừa bịp người khác; vì khi làm như thế, các ông chẳng được lợi lộc gì, mà còn mất tất cả, kể cả mạng sống mình.

Thứ ba: Các ông sẽ không điên rồ đến nỗi tiếp tục từ bỏ gia đình, chịu đựng gian lao đau khổ và chịu chết để loan truyền một điều dối trá trắng trợn là Chúa Giêsu sống lại.  

Trong thực tế, các Tông đồ tiếp tục hy sinh tất cả, từ bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con, chấp nhận đòn vọt, tù đày và chấp nhận chịu chết để làm chứng cho mọi người biết Chúa Giêsu đã thực sự sống lại từ cõi chết, vì đó là sự thật rành rành.

Khi người làm chứng sẵn sàng chịu chết và mất tất cả để minh chứng mình nói thật, thì lời chứng của người đó là chân thật. Không ai liều chết và đánh mất tất cả chỉ vì một điều bịa đặt bao giờ. 

Tóm lại, nếu Chúa Giê-su không sống lại, Nhóm môn đệ Ngài sẽ tan tác, rã đám ngay từ đầu và vì thế Giáo hội Chúa Giê-su thành lập cũng tiêu tan từ trong trứng nước chứ không thể tồn tại đến ngày hôm nay.

Chúa Giê-su có thực sự sống lại mới củng cố tinh thần sa sút của các môn đệ bị giao động nặng nề sau cái chết của Chúa Giê-su và các ngài mới có thể hiến dâng thân xác và cuộc sống mình để rao giảng và xây dựng Hội thánh Chúa. 

Lạy Chúa Giê-su,

Chúng con vô cùng diễm phúc vì Chúa chịu khổ nạn để cứu độ chúng con và càng hạnh phúc hơn vì Chúa đã sống lại để mở cửa Trời cho chúng con, dẫn chúng con đến cõi phúc muôn đời. Amen.

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

From: NguyenNThu


 

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh gia nhập Ðạo Công Giáo

Tony Nguyễn

 Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh gia nhập Ðạo Công Giáo

California (VietCatholic News 21-10-2016)

– Hôm 19 tháng 10 năm 2016, Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã được Ðức Giám Mục Mai thanh Lương làm phép Thánh Tẩy gia nhập Ðạo Công Giáo tại nhà thờ Saint Bonaventure Church ở Huntington Beach, California. Ông cũng đã được lãnh nhận bí tích Thêm Sức và Thánh Thể cùng ngày. Hiện diện trong dịp trọng đại này có gia đình thân quyến và các bạn hữu lâu năm của ông đến từ xa, và Bác sĩ Nguyễn Ngọc Kỳ là người đỡ đầu trong nghi thức Thánh Tẩy. Trong thánh lễ đồng tế có Cha Mai Khải Hoàn, Cha Cao Phương Kỷ, Cha Trần Ðức, phó tế Chu Bình.

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là nhà toán học, nhà khoa học không gian xuất sắc của Hoa Kỳ, nhà văn và nghệ sĩ. Ông cũng là cựu Ðại tá Tư lệnh Không Quân Việt Nam (1958-1962). Sau khi từ nhiệm quân vụ, ông sang Hoa Kỳ du học.

Ông sinh năm 1930 tại Yên Bái, sinh viên khoa học Hà Nội, động viên theo học Khóa 1 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức tháng 9 năm 1951; thi đậu vào Trường Võ Bị Không Quân Pháp ở Salon de Provence, 1952; và sau ba năm được huấn luyện ở Pháp và Bắc Phi, tốt nghiệp sĩ quan phi công với nhiều văn bằng đại học trước khi trở về nước phục vụ trong Quân Ðội Quốc Gia.

– Tiến sĩ Khoa học Hàng không và Không gian tại Ðại Học Colorado vào năm 1965;

– Tiến sĩ Quốc gia Toán học tại Ðại Học Paris VI vào năm 1972;

Ông được bầu vào Hàn Lâm Viện Quốc Gia về Hàng Không và Không Gian (Académie Nationale de l’ Air et de l’Espace) của Pháp, từ 1984; và Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế (International Academy of Astronautics) từ năm 1986.

Trong suốt hai mươi năm (1979- 1999) là phó chủ bút đặc trách môn Cơ Học Vũ Trụ (Astrodynamics) cho nguyệt san Acta Astronautica là tờ báo khoa học chính thức của Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế.

Năm 1986 là viện sĩ chính thức của Viện Hàn Lâm Không Gian Quốc Tế (International Academy of Astronautics).

Năm 1998, khi về hưu, được Hội đồng Quản trị (Board of Regents) tại Ðại học Michigan phong tặng chức Giáo sư danh dự vì công lao đóng góp cho khoa học và giáo dục.

Trong nhiều năm ông đã được tham gia thuyết trình thỉnh giảng tại rất nhiều đại học lớn cũng như hội nghị quốc tế khắp nơi trên thế giới bao gồm Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Áo, Ðức, Ý, Hoà Lan, Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Ðiển, Hungary, Israel, Nhật, Trung Quốc, Ðài Loan và Úc.

Về văn học, ông Nguyễn Xuân Vinh lấy bút hiệu Toàn Phong và là tác giả Ðời Phi Công, một cuốn sách bán rất chạy và được giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1961.

Ông cũng là tác giả cuốn Gương Danh Tướng do Nha Chiến Tranh Tâm Lý, Bộ Quốc Phòng, in năm 1957 và tập tùy bút Theo Ánh Tinh Cầu do nhà sách Ðại Nam xuất bản năm 1990.

Khi còn trong quân đội, Toàn Phong đã viết bốn cuốn Sách giáo khoa Toán học bằng tiếng Việt trong đó có hai cuốn do Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam xuất bản.

Ông đã viết hàng trăm tiểu luận về toán, động học không gian (astrodynamics) và tối ưu hóa quỹ đạo (trajectory optimization). Các sách viết bao gồm:

– Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics. 1980. Vinh, N. X.; Busemann, A.; Culp, R. D. University of Michigan Press.

– Optimal Trajectories in Atmospheric Flight 1981. Vinh N. X., Studies in Astronautics 2, Elsevier Scientific Publishing Company, Amsterdam.

– Flight Mechanics of High-Performance Aircraft. 1993. Nguyen X. Vinh. Cambridge Aerospace Series. ISBN 052134123X.

Ðồng Nhân & Kingston Bùi


 

Thứ 6 Thánh, tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa- Cha Vương

Hôm nay Thứ 6 Thánh, tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa , ước mong bạn cảm nhận được Tình Yêu tự hiến trên thập giá mà Chúa dành cho bạn hôm nay.  Cầu nguyện cho nhau và cho toàn thế giới nhé.

Cha Vương

Thư 6: 03/04/2026. (n15-22)

MỞ ĐẦU: Lạy Đức Mẹ, xin Mẹ lấy lòng thương xót mà cầu nguyện cho chúng con được nhờ công nghiệp Đức Chúa Giêsu cùng nhờ công nghiệp Đức Mẹ, cho được khỏi tội lỗi chúng con đã phạm, cùng những hình phạt chúng con đáng phải chịu. Xin Đức Mẹ phù hộ cho chúng con làm việc này nên, cho được những phép ân xá Hội Thánh ban cho kẻ làm việc kính những sự thương khó Đức Mẹ. (Nêu ra ý chỉ cầu xin….)

LƯỠI GƯƠM THỨ BẢY: Ngày khởi đầu của Con yêu nơi hang đá Be-lem Mẹ hạnh phúc bao nhiêu, thì giờ đây Mẹ đau đớn bấy nhiêu khi xác Con yêu được táng trong mộ đá, còn đâu nữa nụ cười ngây thơ dễ thương của Con những ngày đầu đời; còn đâu nữa tiếng gọi Mẹ ơi khi Con cất những tiếng nói đầu đời; còn đâu nữa tiếng nguyện cầu cùng Mẹ nơi mái nhà Na-ra-rét; còn đâu nữa giọng thuyết giảng của Con đầy sức mạnh của Thiên Chúa và những lời Con an ủi, động viên những kẻ khốn cùng vvv… 

Trái tim Mẹ như muốn ngừng đập theo Con “ Cùng đi với ông Giô-xếp, có những người phụ nữ đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào ” (Lc.23,55). 

 Môn đệ táng xác Đức Chúa Giêsu vào huyệt đá mới. Khi tắm xác Đức Chúa Giêsu mà táng trong hang đá, đoạn lấy hòn đá lớn mà che ngoài cửa hang thì lòng Đức Mẹ đau đớn như đã chết mà chôn một mồ cùng con vậy, vì khi trước còn xem thấy xác Con mà còn đau đớn khốn cực dường ấy, song le bây giờ chẳng còn xem thấy xác Con nữa, thì biết đau đớn khốn cực là thế nào!  Như dao sắc thâu qua lòng vậy. Khi ngắm sự ấy, thì nguyện một kinh Lạy Cha, một kinh Kính Mừng.  Xin Đức Mẹ cầu cho chúng con được ăn năn lo buồn mọi tội, vì làm cho mất nghĩa cùng Đức Chúa Giêsu, cùng xin in những sự thương khó Đức Chúa Giêsu vào lòng chúng con cho đến trọn đời.  Amen.

+ Kinh Lạy Cha 

+ Kinh Kính Mừng

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria! Con đường đi theo Chúa là con đường khổ giá, con đường gánh chịu những vết thương từ bỏ ý riêng, hy sinh, phục vụ vì tình yêu dành cho Chúa và cho nhau, Mẹ đã đi trọn con đường đó, qua đời sống Mẹ sống kết hiệp mật thiết với Chúa. Xin Mẹ dẫn con đến với Chúa, để tạ lỗi với Chúa vì sự thờ ơ, thoái thác bước theo con đường Chúa đã vạch sẵn cho con. Xin Mẹ giúp con biết noi gương Mẹ, luôn sống kết hiệp mật thiết với Chúa qua đời sống cầu nguyện, đặc biệt là kết hiệp với Chúa nơi bí tích Thánh Thể. Nhờ đó mà con mới có sức mạnh đi tron con đường Chúa đã hoạch định cho con. Mẹ đã gánh chịu những vết thương lòng của khổ đau, thử thách, buồn phiền, xin Mẹ nâng đỡ con, an ủi con và tất cả mọi người đang mang trong tâm những buồn khổ, xin đồng hành với con và mọi người trong những lúc gặp gian nan và thử thách trong cuộc sống này. Amen

From: Do Dzung

************************

Thập giá tiếng nói tình yêu

NGÀY LỜI THẲM LẶNG – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Ngài không có ở đây!”.

“Hài Đồng là lời mà thẳm lặng!” – Kinh cầu Hài Đồng.

Kính thưa Anh Chị em,

Thứ Bảy Tuần Thánh đặt chúng ta trước một sự vắng mặt: “Ngài không có ở đây!”. Lời không còn vang lên, nhưng chính trong sự tĩnh mịch ấy, mầu nhiệm vẫn tiếp tục – vì đây là ‘ngày Lời thẳm lặng’.

Hôm nay Giáo Hội không cử hành một nghi lễ phụng vụ nào; chỉ lặng yên chiêm ngắm. Nhưng chiêm ngắm gì? Chiêm ngắm Con Thiên Chúa đang yên giấc trong mồ sâu. Giờ đây, Lời im hơi, lặng tiếng; không phải vì Lời đã chết, nhưng vì Lời đã đi vào thẳm lặng. Một sự thinh lặng không trống rỗng, nhưng chất chứa; không vắng mặt, nhưng ẩn mình, nơi mầu nhiệm tình yêu vẫn tiếp tục hoạt động âm thầm trong chính sự im ắng ấy.

Thứ Bảy xưa, Thiên Chúa nghỉ sau công trình tạo dựng; thứ Bảy này, Thiên Chúa cũng nghỉ khi công trình cứu độ vừa đi qua thập giá. Tất cả như dừng lại, nhưng không phải là kết thúc, mà là một khoảng nghỉ sâu, nơi mọi sự đang đi đến hoàn tất. Thiên Chúa nghỉ, không phải trong một vườn, nhưng trong một nấm mồ; và chính trong sự yên nghỉ ấy, ‘ngày Lời thẳm lặng’ tiếp tục cưu mang mầu nhiệm, chuẩn bị cho một khởi đầu mới.

Mặc dầu không được nhấn mạnh trong phụng vụ, nhưng Hội Thánh vẫn tuyên xưng Đức Kitô xuống ngục tổ tông vào ngày này – Lời đang đi vào nơi không còn lời nào có thể cất lên. Không phải để đưa họ ra, nhưng để hiện diện nơi sâu nhất của phận người: cô đơn và lẻ loi. Vì thế, sự trầm mặc của ngày hôm nay không phải là khoảng trống, nhưng là một hành trình kín đáo, nơi tình yêu đi tới tận cùng của cái chết. Từ thế kỷ thứ tư, thánh Epiphaniô đã xác tín: “Ngài đã ngủ trong thân xác, và đánh thức những kẻ đã ngủ từ muôn đời!”.

Chiều thứ Sáu, khi mọi người ra về, cảnh vật rơi vào thinh lặng, dường như Lời đã biến mất khỏi trần gian… thì vẫn còn một nơi Lời không bị đánh mất: lòng của Mẹ! Đấng đã từng cưu mang Lời, nay vẫn ấp ủ Lời trong lòng; không cần nghe lại, không cần thấy lại, nhưng vẫn trung tín, trong niềm chờ đợi thẳm sâu như trực giác tinh tế của một người mẹ mách bảo. Khi các môn đệ tứ tán, khi niềm tin chao đảo, giữa một ngày không có Lời, vẫn có một đức tin biết chờ; một đức tin không còn cảm thấy gì, nhưng vẫn không bỏ đi. Vì “Đức Kitô đã sống lại, niềm hy vọng của tôi!” – Điệp ca Phục Sinh cổ.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã đi vào thinh lặng không phải để trốn tránh, nhưng để hoàn tất; Ngài không còn nói, nhưng vẫn yêu; không còn hành động hữu hình, nhưng vẫn cứu độ trong âm thầm. Chúng ta cũng vậy, có những lúc không còn ngôn từ để cầu nguyện, không còn cảm xúc để nâng đỡ, chỉ còn một khoảng trống tưởng như vô nghĩa; nhưng chính ở đó, nếu vẫn ở lại với Lời, vẫn tin, vẫn chờ, thì chúng ta cũng sẽ thấy, ‘ngày Lời thẳm lặng’ chỉ là chuyển tiếp của phục sinh! “Đừng ai tuyệt vọng; sự phục sinh của Đức Kitô là niềm hy vọng của chúng ta!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trong những khoảng trống không lời, cho con biết ở lại; trong những thất vọng, cô đơn, giữ lòng con không tắt; khi con tưởng Chúa như xa vắng, cho con vẫn tin!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế


 

TÌNH YÊU MẠNH HƠN CÁI CHẾT – Ðức Cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm 

 Ðức Cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm 

Một trong những điều xem ra ngược đời nhất, là giữa tình yêu và cái chết có sự liên lạc chặt chẽ.  Kể cũng lạ kỳ: tình yêu là một giá trị tích cực, một khía cạnh phong phú của cuộc đời, là cao điểm của sự sống, thì tại sao khi nói tới tình yêu, người ta lại liên tưởng đến sự chết, là một mãnh lực phá hoại và dìm sự sống xuống đáy sâu?  Quả thật, một chân lý càng sâu sắc, thì càng có vẻ nghịch lý và không ngớt làm cho người ta bỡ ngỡ.  Tình yêu càng ở cao độ, càng có những đòi hỏi gắt gao và hầu như đặt con người trong thế chiến đấu: chiến đấu để loại trừ các chướng ngại, chiến đấu để đạt tới đối tượng của lòng mình.  Nhưng vì là một cuộc chiến đấu cam go, nguy hiểm, nên thường kết thúc bằng cái chết.  Do đó mà có những cái chết vì yêu: chết vì tình không được toại nguyện; chết vì muốn chung thủy với tình yêu; chết vì thương yêu quá đỗi.  Nhưng vì sao lại nói; Tình yêu mạnh hơn cái chết? 

1/ Chết và mãnh lực của tội 

Chúng ta suy niệm về tình yêu và cái chết trong bối cảnh phụng vụ ngày thứ Sáu Tuần Thánh.  Ngày ấy, bóng Thập giá bao trùm lên khắp mặt địa cầu.  Một xác người treo trên cây gỗ.  Những giọt máu từ các vết thương loang lỗ chảy thấm xuống lòng đất.  Uy tín Con Thiên Chúa bị chôn vùi trong ô nhục.  Đó là một cái chết quá ư bi thảm!  Nhưng vì sao Người phải chết như thế? 

Phải chăng vì ông Giêsu đã xách động quần chúng nổi loạn (Lc 23,2-5)?  Vì ông đã có ý tưởng phá hủy Đền thờ Giêrusalem (Mc 14,58; Mt 26,61)?  Vì ông đã phạm thượng khi tự xưng là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa (Mt 26,65; Mc 14,64; Lc 22,71; Gn 19,7)?  Hoặc vì các kỳ lão ghen tương (Mc 15,10) và sợ dân chúng bỏ họ đi theo ông (Lc 22,2) hay vì môn đệ Giuđa muốn bán Thầy mình (Mc 14,10; Mt 26,14; Lc 22,3)?  Xét về các lý do chính trị, xã hội, chính Philatô xác nhận: ông Giêsu đã không làm điều gì đáng chết (Lc 22,14-23; Gn 19,4); và lời tự thú của Giuđa cũng chứng minh cho sự vô tội của Người : “Tôi đã nhúng tay vào một cuộc đổ máu oan uổng” (Mt 27,4). 

Tất cả các hành vi phản bội, hận thù, ghen tương, cáo gian, bỏ vạ, hèn nhát, sợ sệt kia đều là những khía cạnh của tội một mãnh lực làm cho lòng người ra tối tăm và bị kiềm chế trong vòng nô lệ.  Đức Giêsu chính là Người Đầy Tớ Đau Khổ của Giavê (Is 52,13-53,12) và chỉ là nạn nhân vô tội của tội ác loài người.

 Muốn hiểu đúng ý nghĩa cái chết trên Thập giá cũng như toàn bộ mầu nhiệm Đức Kitô, ta phải chọn cái nhìn thần học, nghĩa là nhìn như Thiên Chúa nhìn vào công việc Người làm.  Nhãn quan đó cho ta thấy: Đức Kitô đã chịu chết vì tội thế gian.  Người vô tội, đã tình nguyện trở thành tội vì ta và gánh chịu hậu quả của tội là cái chết trên Thập giá (2C 5,21).  Thánh Phaolô mô tả tội như một mãnh lực độc hại, chỉ tổ gây ra chết chóc (Rm 6,23; 1C 15,55).  Với cái chết như khí giới nguy hiểm ấy tội đã thống trị loài người (Rm 5,12-21; 6,20-23).  

Theo quan niệm Thánh Kinh, tội là hành động phản bội Giao ước tình yêu, và như thế cắt đứt mạch sống nối liền chúng ta với trái tim Thiên Chúa.  Tội gây ra chết chóc toàn diện và vĩnh viễn cho loài người, nếu Thiên Chúa không tự động tái lập sự sống.  Người Do Thái trong Cựu Ước đã ý thức được điều đó.  Họ biết rằng tội và sự chết là những thực tại hệ trọng đến nỗi không thể dùng các lý lẽ thuần túy nhân bản để giải thích hết được.  Họ thoáng thấy: có bàn tay hắc ám của một mãnh lực ma quái nào đó đã nhúng vào và gây nên cơ sự ấy.  Sách Khôn ngoan viết: “Vì quỷ dữ ghen tương, nên sự chết đã đột nhập vào thế gian” (Kn 2,24).  Sự chết đây không phải là cái chết thể lý thuộc bản tính tự nhiên của con người như một tạo vật làm bằng bụi tro và sẽ trở về tro bụi (Kn 8,19), nhưng là chết trong tâm hồn, chết vĩnh cửu, mà cái chết thể lý từ nay chỉ là một hình ảnh.  Theo thánh Gioan, con rắn trong vườn Địa đàng chính là hiện thân của Satan, “đứa mê hoặc thiên hạ” (Kh 12,9; 20,2).  Còn theo thánh Phaolô, chính tội loài người phạm từ nguyên thủy dưới ảnh hưởng độc hại của Satan đã mở cửa cho sự chết đột nhập vào đời và dìm tất cả trong bóng tối tử thần (Rm 5,12-21).  Như một phản ứng dây chuyền, một khi tội xuất hiện, thì càng ngày càng chồng chất dồn dập và gieo rắc sự chết khắp nơi.  Tội mạnh như thác lũ và cái chết là bằng chứng chiến thắng của nó.  Nhưng hỏi rằng: Tội có thẳng nổi tình yêu ? 

2/ Sức mạnh sáng tạo của tình yêu 

Tình yêu luôn sáng tạo và tìm ra được nhiều cách biểu hiện, lắm khi cũng bất ngờ.  Để thắng tội kiêu căng, Đức Kitô đã chọn sống khiêm hạ và tự hư-vô-hóa (Ph 2,6).  Để thắng tội tham lam hưởng thụ, Người đã chọn sống khó nghèo (2C 8,9).  Để thắng tính háo danh trần tục, Người đã như điên rồ chọn cái chết ô nhục trên Thập giá (1C 1 ,23).  Thiên Chúa hành động cách ngược đời, và vì Người là tình yêu, nên tình yêu thắng được tội và mạnh hơn cả cái chết.

 Tình yêu bao hàm chiến đấu.  Chiến đấu đòi phải có năng lực.  Quả thật, Nước Trời chỉ dành riêng cho những người mạnh (Mt 11,12) và chính Tin Mừng là một sức mạnh giải phóng (Rm 1,16).  Thiên Chúa là Đấng dũng mạnh, vì Người đầy lòng yêu thương.  Cái chết trên Thập giá của Đức Kitô là một cái chết tự nguyện vì tình yêu: Người yêu mến Chúa Cha và yêu thương chúng ta.  Người chết vì vâng lời Chúa Cha để chuộc tội nhân loại. 

Đàng sau cây Thập giá xảy ra một cuộc chiến đấu vô hình giành quyền sống chết giữa tình yêu và tội ác.  Một chiến thuật đánh đổi rất ngược đời đã bẻ gãy mũi nhọn của tội và vô-hiệu-hóa sức tàn phá của nó.  Thân xác Đức Kitô đã chết lạnh, và trở thành bất động trên cây gỗ.  Về mặt nhân loại, Người đã thua.  Người đã thực nghiệm trong chính bản thân mình sự bất lực tột độ, sự yếu nhược tận cùng của thân phận làm người là cái chết thể lý.  Mãnh lực tối đa của tội là gây ra cảnh chết: cái chết vĩnh cửu của tâm hồn, mà cái chết trong thời gian của thân xác là một hình ảnh.  Chúa Kitô vô tội không thể trải qua cái chết vĩnh cửu của tâm hồn.  Nhưng Người có thể dùng cái chết của thể xác mình thay cho cái chết vĩnh cửu của tâm hồn ta.  Người chết thay cho ta là như thế – cuộc đánh đổ ấy chỉ có thể thực hiện bởi vị Thiên-Chúa-làm-người, vì mầu nhiệm Đức Kitô thuộc cơ cấu bí tích, trong đó yếu tố nhân loại hữu hình là dấu chỉ và khí cụ của yếu tố thần linh vô hình (Vat II, GH 8).  Người chết về thể xác trong thời gian, để ta khỏi chết về tâm hồn trong vĩnh cửu.  “Người mặc lấy bản tính nhân loại từ nơi lòng Mẹ Maria, để giải thoát loài người khỏi tội lỗi nhờ các mầu nhiệm của thân xác Người” (Vat II, GH 55), nhất là nhờ mầu nhiệm cái chết của Người trên Thập giá. 

Người đã bị sức mạnh của tội đẩy lui đến tận cùng: Người chịu chết trong thể xác, vì yêu ta.  Chính Người thực hiện điều Người đã nói: không thể yêu hơn là yêu đến chết vì yêu (Gn 15,13).  Chịu đựng được tột mức như thế không phải là bất lực, nhưng là dấu hiệu nói lên sức mạnh vô biên.  Tình yêu có bị giết cũng vẫn không chết.  Còn tội chỉ gây ra được cái chết là hết sức mình: đó là cái chết vĩnh cửu của tâm hồn ta, từ nay được đánh đổi với cái chết thể xác trên Thập giá của Con Thiên Chúa.  Nơi đây, tội bị mãnh lực vô biên của tình yêu giết chết và tiêu diệt tận căn.  “Tội bị kết án nơi thân xác Đức Kitô” trên cây gỗ (Rm 8,3). 

Chính tình yêu  được chứng minh bởi ý chí tự nguyện chịu chết vì vâng lời Chúa Cha là sức mạnh làm cho thân xác Đức Giêsu sống lại vinh hiển, nghĩa là biến hình (Mc 9,1-9) từ trạng thái thân xác thường tình bị chi phối bởi các định luật thể lý, đến trạng thái thân xác sáng láng sống theo định luật của Thần Khí tự do.  Xuyên qua cái chết tự nguyện vì tình yêu, Đức Giêsu đã vượt từ thân phận tôi đòi của kiếp người trần thế đến thiên chức Chúa Tể được siêu thăng để bá chủ muôn loài, hầu làm rạng rỡ Chúa Cha (Ph 2,7-11).  “Vượt qua,” theo thần học thánh Gioan, có nghĩa là “trở về với Chúa Cha” (Gn 13,1).  Chính sức mạnh tình yêu, sức mạnh của Thần Khí Chúa Kitô và Chúa Cha, đã tái sinh tâm hồn ta qua bí tích Thánh Tẩy.  Cũng chính sức mạnh tình yêu ấy đang tiếp tục biến đổi tâm hồn ta nhờ Thánh Thể và lời tha tội, và sẽ biến hình cả thân xác ta khi ta sống lại trong ngày sau hết. 

Tình yêu mạnh hơn cái chết, vì tình yêu tiêu diệt được?  Tội là căn nguyên sinh ra nó.  Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi đâu?  Nọc độc ngươi còn đâu? (1C 15,55). 

3/ Suy Tôn Thánh Giá 

Ngày thứ Sáu Tuần Thánh, trên Núi Sọ, bóng Thập giá bao trùm lên khắp mặt địa cầu.  Một xác người treo trên cây gỗ…

 Thập giá ô nhục đã trở nên Thánh giá vinh quang, ngai tòa vương quyền tình yêu, vì con người treo trên cây gỗ ấy là Con Thiên Chúa, tự nguyện chịu chết vì vâng lời Chúa Cha để chuộc tội thiên hạ.  Vinh quang Thiên Chúa biểu hiện trong tình yêu.  Ách thống trị của tình yêu luôn êm ái nhẹ nhàng (Mt 11,30). 

Nhưng tình yêu của Chúa Kitô mạnh mẽ hơn cái chết, vì tình yêu đã thắng được tội ác.  Tình yêu ấy có tham vọng chinh phục lòng mọi người để lấp đầy bằng sự sống mới: sự sống bởi Thần Khí tự do, là Đấng biến đổi chúng ta thành con cái Chúa Cha.  Vì thế Thập giá ô nhục đã trở nên cây ban sự sống. 

Thập giá ô nhục cũng đã trở nên ngai tòa phán xét: “Tội đã bị kết án nơi thân xác Đức Kitô.”  Tòa án thế gian đã phán xét Người và lên án tử cho Người; nhưng chính khi chịu đóng đinh trên Thập giá, Người, vô tội, đã lên án tội ác thế gian.  Song là một bản án khoan hồng, tha bổng cho những người sám hối ăn năn.  Người vừa phán xét, vừa cầu ân cho những kẻ phạm tội giết Người, mà không biết mình giết Con Thiên Chúa (Lc 23,34).  Từ nay Thập giá đã dựng lên giữa lịch sử loài người để trở thành phương tiện thánh hóa và cứu độ.  Ai ngước mắt nhìn lên thánh giá Đức Kitô mà tin nhận Người là Chúa Cứu thế, thì sự sống vĩnh cửu sẽ chảy tràn vào lòng họ.  Chính Thái độ đối với thập giá đã định đoạt số mệnh mọi người. 

Trong lịch sử nhân loại chỉ có một người – mà người ấy lại chính là Con Thiên Chúa – đã chịu chết ô nhục trên thập giá vì yêu thương.  Tình yêu ngược đời ấy đã đảo ngược thế sự: từ nay mọi tủi nhục, uất ức, mọi chết chóc oan uổng, mọi thua thiệt đắng cay không còn vĩnh viễn luống công một cách phi lý vì lúc mà lý trí loài người không hiểu nổi nữa, thì chính Thiên Chúa tìm ra được một sáng kiến lạ lùng: thâu dụng những cái nghịch lý ấy vào kế hoạch cứu thế của Người.  Thập giá Đức Kitô là điểm quy tụ và siêu thăng tất cả mọi tủi nhục uất ức, mọi thua thiệt oan uổng của loài người, nhất là của những người không nói lên được với ai tiếng nói và nỗi lòng mình, lại cũng chẳng được ai hiểu biết, để làm nên sự thành công tối hậu, sau cái vẻ thất bại trước mắt, và đem lại vinh dự vinh hiển cho họ.  Bởi vì sức mạnh của Thiên Chúa tự biểu dương ra trong cảnh bất lực; khôn ngoan của Thiên Chúa thích khoác chiếc áo điên rồ.  Nhưng trong sự điên rồ, có tiềm ẩn một triết lý sâu xa; triết lý của tình yêu cứu độ được viết ra trên Thập giá. 

Mọi người mang dấu Thánh giá trong lòng đều là chủ thể của Chúa Cứu thế.  Họ làm thành dân Thiên Chúa, quy tụ trong Giáo hội.  Họ xây dựng Nước Trời giữa lòng thế giới bằng cách làm cho tình yêu thống trị khắp hoàn vũ.  Từ trên Núi Sọ ngày thứ Sáu Tuần Thánh, bóng Thập giá bao trùm lên mặt địa cầu, để quy tụ mọi con cái Thiên Chúa đang tản mắc khắp nơi (Gn 12,51-52).  Thập giá Chúa Kitô là trung tâm điểm của lịch sử cứu độ, nhờ tình yêu đã thắng vượt cái chết. 

Tình yêu mạnh hơn cái chết, vì Thập giá Chúa Kitô đã toàn thắng tội lỗi. 

Ðức Cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm 

From: Langthangchieutim


 

GIÁO ĐÂM – SỰ SỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tức thì, máu cùng nước chảy ra!”.

“Evà được tạo thành từ cạnh sườn của người đang ngủ; Hội Thánh được tạo thành từ cạnh sườn của Đấng bị treo!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy một ngọn ‘giáo đâm’ thâu cạnh sườn Chúa Giêsu: một vết thương mở ra và vẫn mở; từ đó, ‘sự sống’ tuôn chảy – một tạo dựng mới, nơi cạnh sườn xưa của Ađam chỉ còn là hình bóng.

Gioan cố ý dùng lại một hình ảnh từ ban sơ tạo dựng: “latus” – “cạnh sườn”. Từ một cạnh sườn, con người được dựng nên; và nay, cũng từ một cạnh sườn, một sự sống mới mở ra – một ngôn ngữ cũ được viết lại trong một thân thể mới. Ngọn ‘giáo đâm’, cạnh sườn mở ra – không để khép lại ‘sự sống’, nhưng khai sinh nó. Và như thế, điều đã khởi sự nơi Ađam, nay hoàn tất trong Đức Kitô – Ađam mới – không từ giấc ngủ, nhưng từ chính cái chết, thứ giấc ngủ mà Thánh Kinh đã từng gọi tên. “Từ cạnh sườn Đức Kitô, đang ‘ngủ’ trên thập giá, phát sinh bí tích kỳ diệu của toàn thể Giáo Hội!” – Vatican II, SC 5.

Nếu từ cạnh sườn Ađam, Evà – một người nữ – được sinh ra, thì từ cạnh sườn Đức Kitô, Giáo Hội được hình thành. Một “người nữ” mới, không từ đất, nhưng từ một thân thể bị treo. “Máu và nước” là dấu chỉ của một ‘sự sống’ mới được ban; ở đây, thập giá không còn là nơi kết thúc, nhưng là lòng mẹ âm thầm sinh hạ một tạo dựng mới. Vậy mà điều ấy không xa lạ! Mỗi khi chúng ta dám để mình được chạm đến trong chính những vết thương của yêu thương, của cúi xuống, của phục vụ… một sự sống khác cũng có thể được sinh ra.

Vì thế, Thứ Sáu Tuần Thánh không chỉ là ký ức của một cái chết, nhưng là nơi ơn cứu chuộc của Chúa Kitô chạm đến hiện tại: nơi mọi đổ vỡ, thất bại, mọi điều tưởng không thể cứu vãn; nhưng chính ở đó, cái chết của Ngài cứu chuộc chúng – không phải bằng cách xoá đi, nhưng bằng cách đi vào để mở ra một lối khác. Chúa Kitô không cất đi những đổ vỡ của con người, Ngài đi vào đó, để cứu chuộc chúng từ bên trong. Nơi tưởng như mất tất cả, sự sống vẫn có thể bắt đầu lại một cách sung mãn. “Thập giá Đức Kitô không cất đi đau khổ, nhưng ban cho nó ý nghĩa!” – Gioan Phaolô II.

Anh Chị em,

“Tức thì, máu cùng nước chảy ra!”. Như vậy, từ một cạnh sườn, không chỉ một sự sống mới mở ra, nhưng còn là “một cách sống mới” được khai sinh: không giữ lại, nhưng trao đi; không khép kín, nhưng thông chuyển; không quy ngã, nhưng quy về Chúa và tha nhân. Đức tin vì thế không dừng ở việc hiểu biết hay cảm nhận, nhưng trở thành một chuyển động rất cụ thể trong đời: cho đi điều đã nhận, một dòng chảy hơn là một kho chứa. Và khi đó, Kitô hữu không chỉ nói về sự sống, nhưng thông truyền sự sống – âm thầm, nhưng đủ để làm mới mọi sự. “Hãy tin, và bạn sẽ được uống; hãy tin, và những dòng nước hằng sống sẽ tuôn chảy từ trong bạn!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trên thập giá, nơi ngọn ‘giáo đâm’ thâu, xin cho con nhận ra ‘sự sống’; và từ chính những vết thương của con, xin cho sự sống ấy chảy qua để đến với người khác!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần Thánh

Cuộc Thương Khó của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

Dấu ký hiệu viết tắt :
: Đức Giê-su
nk : người kể
m : một người
dc : dân chúng

 

✠Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.    Ga 18,1 – 19,42

18 1 nk Khi ấy, Đức Giê-su đi ra cùng với các môn đệ, sang bên kia suối Kít-rôn. Ở đó, có một thửa vườn, Người cùng với các môn đệ đi vào. 2 Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng biết nơi này, vì Người thường tụ họp ở đó với các môn đệ. 3 Vậy, Giu-đa tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pha-ri-sêu ; họ mang theo đèn đuốc và khí giới. 4 Đức Giê-su biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi : ✠ “Các anh tìm ai ?” 5 nk Họ đáp : dc “Tìm Giê-su Na-da-rét.” nk Người nói : ✠ “Chính tôi đây.” nk Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ. 6 Khi Người vừa nói : “Chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất. 7 Người lại hỏi một lần nữa : ✠ “Các anh tìm ai ?” nk Họ đáp : dc “Tìm Giê-su Na-da-rét.” 8 nk Đức Giê-su nói : ✠ “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi.” 9 nk Thế là ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã nói : “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai.”

10 nk Ông Si-môn Phê-rô có sẵn một thanh gươm, bèn tuốt ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế, mà chém đứt tai phải của y. Người đầy tớ ấy tên là Man-khô. 11 Đức Giê-su nói với ông Phê-rô : ✠ “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống ?”

12 nk Bấy giờ toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ của người Do-thái bắt Đức Giê-su và trói Người lại. 13 Trước tiên, họ điệu Đức Giê-su đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. 14 Chính ông này đã đề nghị với người Do-thái là nên để một người chết thay cho dân thì hơn.

15 nk Ông Si-môn Phê-rô và một môn đệ khác đi theo Đức Giê-su. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế, nên cùng với Đức Giê-su vào sân trong của tư dinh vị thượng tế. 16 Còn ông Phê-rô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phê-rô vào. 17 Người tớ gái giữ cổng nói với ông Phê-rô : m “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao ?” nk Ông liền đáp : m “Đâu phải.” 18 nk Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó ; ông Phê-rô cũng đứng sưởi với họ. 19 Vị thượng tế tra hỏi Đức Giê-su về các môn đệ và giáo huấn của Người. 20 Đức Giê-su trả lời : ✠ “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. 21 Sao ông lại hỏi tôi ? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì.” 22 nk Đức Giê-su vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói : m “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư ?” 23 nk Đức Giê-su đáp : ✠ “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào ; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi ?” 24 nk Ông Kha-nan cho giải Người đến thượng tế Cai-pha, Người vẫn bị trói.

25 nk Còn ông Si-môn Phê-rô thì vẫn đứng sưởi ở đó. Người ta nói với ông : m “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của ông ấy sao ?” nk Ông liền chối : m “Đâu phải.” 26 nk Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phê-rô chém đứt tai, lên tiếng hỏi : m “Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy sao ?” 27 nk Một lần nữa ông Phê-rô lại chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy.

28 nk Vậy, người Do-thái điệu Đức Giê-su từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. 29 Vì thế, tổng trấn Phi-la-tô ra ngoài gặp họ và hỏi : m “Các người tố cáo ông này về tội gì ?” 30 nk Họ đáp : dc “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan.” 31 nk Ông Phi-la-tô bảo họ : m “Các người cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người.” nk Người Do-thái đáp : dc “Chúng tôi không có quyền xử tử ai cả.” 32 nk Thế là ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã nói, khi ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.

33 nk Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người : m “Ông có phải là vua dân Do-thái không ?” 34 nk Đức Giê-su đáp : ✠ “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi ?” 35 nk Ông Phi-la-tô trả lời : m “Tôi là người Do-thái sao ? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì ?” 36 nk Đức Giê-su trả lời : ✠ “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” 37 nk Ông Phi-la-tô liền hỏi : m “Vậy ông là vua sao ?” nk Đức Giê-su đáp : ✠ “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” 38 nk Ông Phi-la-tô nói với Người : m “Sự thật là gì ?”

nk Nói thế rồi, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ : m “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy. 39 Theo tục lệ của các người, vào dịp lễ Vượt Qua, ta thường tha một người nào đó cho các người. Vậy các người có muốn ta tha vua dân Do-thái cho các người không ?” 40 nk Họ lại la lên rằng : dc “Đừng tha nó, nhưng xin tha Ba-ra-ba !” nk Mà Ba-ra-ba là một tên cướp.

19 1 nk Bấy giờ ông Phi-la-tô truyền đem Đức Giê-su đi và đánh đòn Người. 2 Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ. 3 Họ đến gần và nói : dc “Kính chào Vua dân Do-thái !”, nk rồi vả vào mặt Người.

4 nk Ông Phi-la-tô lại ra ngoài và nói với người Do-thái : m “Đây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các người, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy.” 5 nk Vậy, Đức Giê-su bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Phi-la-tô nói với họ : m “Đây là người !” 6 nk Khi vừa thấy Đức Giê-su, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng : dc “Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá !” nk Ông Phi-la-tô bảo họ : m “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy.” 7 nk Người Do-thái đáp lại : dc “Chúng tôi có Lề Luật ; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa.”

8 nk Nghe lời đó, ông Phi-la-tô càng sợ hơn nữa. 9 Ông lại trở vào dinh và nói với Đức Giê-su : m “Ông từ đâu mà đến ?” nk Nhưng Đức Giê-su không trả lời. 10 Ông Phi-la-tô mới nói với Người : m “Ông không trả lời tôi ư ? Ông không biết rằng tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao ?” 11 nk Đức Giê-su đáp lại : ✠ “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn.”

12 nk Từ đó, ông Phi-la-tô tìm cách tha Người. Nhưng dân Do-thái kêu lên rằng : dc “Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Xê-da. Ai xưng mình là vua, thì chống lại Xê-da.” 13 nk Khi nghe thấy thế, ông Phi-la-tô truyền dẫn Đức Giê-su ra ngoài. Ông đặt Người ngồi trên toà, ở nơi gọi là Nền Đá, tiếng Híp-ri là Gáp-ba-tha. 14 Hôm ấy là ngày áp lễ Vượt Qua, vào khoảng mười hai giờ trưa. Ông Phi-la-tô nói với người Do-thái : m “Đây là vua các người !” 15 nk Họ liền hô lớn : dc “Đem đi ! Đem nó đi ! Đóng đinh nó vào thập giá !” nk Ông Phi-la-tô nói với họ : m “Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua các người sao ?” nk Các thượng tế đáp : dc “Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Xê-da.” 16 nk Bấy giờ ông Phi-la-tô trao Đức Giê-su cho họ đóng đinh vào thập giá.

nk Vậy họ điệu Đức Giê-su đi. 17 Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha ; 18 tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa. 19 Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá ; bảng đó có ghi : “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái.” 20 Trong dân Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giê-su bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng : Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp. 21 Các thượng tế của người Do-thái nói với ông Phi-la-tô : m “Xin ngài đừng viết : ‘Vua dân Do-thái’, nhưng viết : ‘Tên này đã nói : Ta là Vua dân Do-thái’.” 22 nk Ông Phi-la-tô trả lời : m “Ta viết sao, cứ để vậy !”

23 nk Đóng đinh Đức Giê-su vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần, mỗi người một phần ; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới. 24 Vậy họ nói với nhau : m “Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được.” nk Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh : Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm.

25 nk Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. 26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng : ✠ “Thưa Bà, đây là con của Bà.” 27 nk Rồi Người nói với môn đệ : ✠ “Đây là mẹ của anh.” nk Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

28 nk Sau đó, Đức Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói : ✠ “Tôi khát !” 29 nk Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. 30 Nhắp xong, Đức Giê-su nói : ✠ “Thế là đã hoàn tất !” nk Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.

(quỳ gối thinh lặng trong giây lát)

31 nk Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sa-bát, mà ngày sa-bát đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế họ xin ông Phi-la-tô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. 32 Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giê-su. 33 Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. 34 Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra. 35 Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực ; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin. 36 Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh : Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập. 37 Lại có lời Kinh Thánh khác : Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.

38 nk Sau đó, ông Giô-xếp, người A-ri-ma-thê, xin ông Phi-la-tô cho phép hạ thi hài Đức Giê-su xuống. Ông Giô-xếp này là một môn đệ theo Đức Giê-su, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do-thái. Ông Phi-la-tô chấp thuận. Vậy, ông Giô-xếp đến hạ thi hài Người xuống. 39 Ông Ni-cô-đê-mô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giê-su ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương. 40 Các ông lãnh thi hài Đức Giê-su, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái. 41 Nơi Đức Giê-su bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. 42 Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giê-su ở đó.