GIÁO ĐÂM – SỰ SỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tức thì, máu cùng nước chảy ra!”.

“Evà được tạo thành từ cạnh sườn của người đang ngủ; Hội Thánh được tạo thành từ cạnh sườn của Đấng bị treo!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy một ngọn ‘giáo đâm’ thâu cạnh sườn Chúa Giêsu: một vết thương mở ra và vẫn mở; từ đó, ‘sự sống’ tuôn chảy – một tạo dựng mới, nơi cạnh sườn xưa của Ađam chỉ còn là hình bóng.

Gioan cố ý dùng lại một hình ảnh từ ban sơ tạo dựng: “latus” – “cạnh sườn”. Từ một cạnh sườn, con người được dựng nên; và nay, cũng từ một cạnh sườn, một sự sống mới mở ra – một ngôn ngữ cũ được viết lại trong một thân thể mới. Ngọn ‘giáo đâm’, cạnh sườn mở ra – không để khép lại ‘sự sống’, nhưng khai sinh nó. Và như thế, điều đã khởi sự nơi Ađam, nay hoàn tất trong Đức Kitô – Ađam mới – không từ giấc ngủ, nhưng từ chính cái chết, thứ giấc ngủ mà Thánh Kinh đã từng gọi tên. “Từ cạnh sườn Đức Kitô, đang ‘ngủ’ trên thập giá, phát sinh bí tích kỳ diệu của toàn thể Giáo Hội!” – Vatican II, SC 5.

Nếu từ cạnh sườn Ađam, Evà – một người nữ – được sinh ra, thì từ cạnh sườn Đức Kitô, Giáo Hội được hình thành. Một “người nữ” mới, không từ đất, nhưng từ một thân thể bị treo. “Máu và nước” là dấu chỉ của một ‘sự sống’ mới được ban; ở đây, thập giá không còn là nơi kết thúc, nhưng là lòng mẹ âm thầm sinh hạ một tạo dựng mới. Vậy mà điều ấy không xa lạ! Mỗi khi chúng ta dám để mình được chạm đến trong chính những vết thương của yêu thương, của cúi xuống, của phục vụ… một sự sống khác cũng có thể được sinh ra.

Vì thế, Thứ Sáu Tuần Thánh không chỉ là ký ức của một cái chết, nhưng là nơi ơn cứu chuộc của Chúa Kitô chạm đến hiện tại: nơi mọi đổ vỡ, thất bại, mọi điều tưởng không thể cứu vãn; nhưng chính ở đó, cái chết của Ngài cứu chuộc chúng – không phải bằng cách xoá đi, nhưng bằng cách đi vào để mở ra một lối khác. Chúa Kitô không cất đi những đổ vỡ của con người, Ngài đi vào đó, để cứu chuộc chúng từ bên trong. Nơi tưởng như mất tất cả, sự sống vẫn có thể bắt đầu lại một cách sung mãn. “Thập giá Đức Kitô không cất đi đau khổ, nhưng ban cho nó ý nghĩa!” – Gioan Phaolô II.

Anh Chị em,

“Tức thì, máu cùng nước chảy ra!”. Như vậy, từ một cạnh sườn, không chỉ một sự sống mới mở ra, nhưng còn là “một cách sống mới” được khai sinh: không giữ lại, nhưng trao đi; không khép kín, nhưng thông chuyển; không quy ngã, nhưng quy về Chúa và tha nhân. Đức tin vì thế không dừng ở việc hiểu biết hay cảm nhận, nhưng trở thành một chuyển động rất cụ thể trong đời: cho đi điều đã nhận, một dòng chảy hơn là một kho chứa. Và khi đó, Kitô hữu không chỉ nói về sự sống, nhưng thông truyền sự sống – âm thầm, nhưng đủ để làm mới mọi sự. “Hãy tin, và bạn sẽ được uống; hãy tin, và những dòng nước hằng sống sẽ tuôn chảy từ trong bạn!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trên thập giá, nơi ngọn ‘giáo đâm’ thâu, xin cho con nhận ra ‘sự sống’; và từ chính những vết thương của con, xin cho sự sống ấy chảy qua để đến với người khác!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần Thánh

Cuộc Thương Khó của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

Dấu ký hiệu viết tắt :
: Đức Giê-su
nk : người kể
m : một người
dc : dân chúng

 

✠Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.    Ga 18,1 – 19,42

18 1 nk Khi ấy, Đức Giê-su đi ra cùng với các môn đệ, sang bên kia suối Kít-rôn. Ở đó, có một thửa vườn, Người cùng với các môn đệ đi vào. 2 Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng biết nơi này, vì Người thường tụ họp ở đó với các môn đệ. 3 Vậy, Giu-đa tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pha-ri-sêu ; họ mang theo đèn đuốc và khí giới. 4 Đức Giê-su biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi : ✠ “Các anh tìm ai ?” 5 nk Họ đáp : dc “Tìm Giê-su Na-da-rét.” nk Người nói : ✠ “Chính tôi đây.” nk Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ. 6 Khi Người vừa nói : “Chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất. 7 Người lại hỏi một lần nữa : ✠ “Các anh tìm ai ?” nk Họ đáp : dc “Tìm Giê-su Na-da-rét.” 8 nk Đức Giê-su nói : ✠ “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi.” 9 nk Thế là ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã nói : “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai.”

10 nk Ông Si-môn Phê-rô có sẵn một thanh gươm, bèn tuốt ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế, mà chém đứt tai phải của y. Người đầy tớ ấy tên là Man-khô. 11 Đức Giê-su nói với ông Phê-rô : ✠ “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống ?”

12 nk Bấy giờ toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ của người Do-thái bắt Đức Giê-su và trói Người lại. 13 Trước tiên, họ điệu Đức Giê-su đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. 14 Chính ông này đã đề nghị với người Do-thái là nên để một người chết thay cho dân thì hơn.

15 nk Ông Si-môn Phê-rô và một môn đệ khác đi theo Đức Giê-su. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế, nên cùng với Đức Giê-su vào sân trong của tư dinh vị thượng tế. 16 Còn ông Phê-rô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phê-rô vào. 17 Người tớ gái giữ cổng nói với ông Phê-rô : m “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao ?” nk Ông liền đáp : m “Đâu phải.” 18 nk Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó ; ông Phê-rô cũng đứng sưởi với họ. 19 Vị thượng tế tra hỏi Đức Giê-su về các môn đệ và giáo huấn của Người. 20 Đức Giê-su trả lời : ✠ “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. 21 Sao ông lại hỏi tôi ? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì.” 22 nk Đức Giê-su vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói : m “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư ?” 23 nk Đức Giê-su đáp : ✠ “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào ; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi ?” 24 nk Ông Kha-nan cho giải Người đến thượng tế Cai-pha, Người vẫn bị trói.

25 nk Còn ông Si-môn Phê-rô thì vẫn đứng sưởi ở đó. Người ta nói với ông : m “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của ông ấy sao ?” nk Ông liền chối : m “Đâu phải.” 26 nk Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phê-rô chém đứt tai, lên tiếng hỏi : m “Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy sao ?” 27 nk Một lần nữa ông Phê-rô lại chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy.

28 nk Vậy, người Do-thái điệu Đức Giê-su từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. 29 Vì thế, tổng trấn Phi-la-tô ra ngoài gặp họ và hỏi : m “Các người tố cáo ông này về tội gì ?” 30 nk Họ đáp : dc “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan.” 31 nk Ông Phi-la-tô bảo họ : m “Các người cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người.” nk Người Do-thái đáp : dc “Chúng tôi không có quyền xử tử ai cả.” 32 nk Thế là ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã nói, khi ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.

33 nk Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người : m “Ông có phải là vua dân Do-thái không ?” 34 nk Đức Giê-su đáp : ✠ “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi ?” 35 nk Ông Phi-la-tô trả lời : m “Tôi là người Do-thái sao ? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì ?” 36 nk Đức Giê-su trả lời : ✠ “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” 37 nk Ông Phi-la-tô liền hỏi : m “Vậy ông là vua sao ?” nk Đức Giê-su đáp : ✠ “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” 38 nk Ông Phi-la-tô nói với Người : m “Sự thật là gì ?”

nk Nói thế rồi, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ : m “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy. 39 Theo tục lệ của các người, vào dịp lễ Vượt Qua, ta thường tha một người nào đó cho các người. Vậy các người có muốn ta tha vua dân Do-thái cho các người không ?” 40 nk Họ lại la lên rằng : dc “Đừng tha nó, nhưng xin tha Ba-ra-ba !” nk Mà Ba-ra-ba là một tên cướp.

19 1 nk Bấy giờ ông Phi-la-tô truyền đem Đức Giê-su đi và đánh đòn Người. 2 Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ. 3 Họ đến gần và nói : dc “Kính chào Vua dân Do-thái !”, nk rồi vả vào mặt Người.

4 nk Ông Phi-la-tô lại ra ngoài và nói với người Do-thái : m “Đây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các người, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy.” 5 nk Vậy, Đức Giê-su bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Phi-la-tô nói với họ : m “Đây là người !” 6 nk Khi vừa thấy Đức Giê-su, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng : dc “Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá !” nk Ông Phi-la-tô bảo họ : m “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy.” 7 nk Người Do-thái đáp lại : dc “Chúng tôi có Lề Luật ; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa.”

8 nk Nghe lời đó, ông Phi-la-tô càng sợ hơn nữa. 9 Ông lại trở vào dinh và nói với Đức Giê-su : m “Ông từ đâu mà đến ?” nk Nhưng Đức Giê-su không trả lời. 10 Ông Phi-la-tô mới nói với Người : m “Ông không trả lời tôi ư ? Ông không biết rằng tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao ?” 11 nk Đức Giê-su đáp lại : ✠ “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn.”

12 nk Từ đó, ông Phi-la-tô tìm cách tha Người. Nhưng dân Do-thái kêu lên rằng : dc “Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Xê-da. Ai xưng mình là vua, thì chống lại Xê-da.” 13 nk Khi nghe thấy thế, ông Phi-la-tô truyền dẫn Đức Giê-su ra ngoài. Ông đặt Người ngồi trên toà, ở nơi gọi là Nền Đá, tiếng Híp-ri là Gáp-ba-tha. 14 Hôm ấy là ngày áp lễ Vượt Qua, vào khoảng mười hai giờ trưa. Ông Phi-la-tô nói với người Do-thái : m “Đây là vua các người !” 15 nk Họ liền hô lớn : dc “Đem đi ! Đem nó đi ! Đóng đinh nó vào thập giá !” nk Ông Phi-la-tô nói với họ : m “Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua các người sao ?” nk Các thượng tế đáp : dc “Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Xê-da.” 16 nk Bấy giờ ông Phi-la-tô trao Đức Giê-su cho họ đóng đinh vào thập giá.

nk Vậy họ điệu Đức Giê-su đi. 17 Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha ; 18 tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa. 19 Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá ; bảng đó có ghi : “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái.” 20 Trong dân Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giê-su bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng : Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp. 21 Các thượng tế của người Do-thái nói với ông Phi-la-tô : m “Xin ngài đừng viết : ‘Vua dân Do-thái’, nhưng viết : ‘Tên này đã nói : Ta là Vua dân Do-thái’.” 22 nk Ông Phi-la-tô trả lời : m “Ta viết sao, cứ để vậy !”

23 nk Đóng đinh Đức Giê-su vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần, mỗi người một phần ; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới. 24 Vậy họ nói với nhau : m “Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được.” nk Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh : Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm.

25 nk Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. 26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng : ✠ “Thưa Bà, đây là con của Bà.” 27 nk Rồi Người nói với môn đệ : ✠ “Đây là mẹ của anh.” nk Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

28 nk Sau đó, Đức Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói : ✠ “Tôi khát !” 29 nk Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. 30 Nhắp xong, Đức Giê-su nói : ✠ “Thế là đã hoàn tất !” nk Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.

(quỳ gối thinh lặng trong giây lát)

31 nk Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sa-bát, mà ngày sa-bát đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế họ xin ông Phi-la-tô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. 32 Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giê-su. 33 Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. 34 Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra. 35 Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực ; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin. 36 Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh : Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập. 37 Lại có lời Kinh Thánh khác : Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.

38 nk Sau đó, ông Giô-xếp, người A-ri-ma-thê, xin ông Phi-la-tô cho phép hạ thi hài Đức Giê-su xuống. Ông Giô-xếp này là một môn đệ theo Đức Giê-su, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do-thái. Ông Phi-la-tô chấp thuận. Vậy, ông Giô-xếp đến hạ thi hài Người xuống. 39 Ông Ni-cô-đê-mô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giê-su ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương. 40 Các ông lãnh thi hài Đức Giê-su, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái. 41 Nơi Đức Giê-su bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. 42 Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giê-su ở đó. 


 

LƯỠI GƯƠM THỨ SÁU: Mắt Mẹ lệ nhòa, trái tim Mẹ như vỡ ra trăm mảnh – Cha Vương

Hôm nay thứ 5 Thánh—khai mạc Tam Nhật Vượt Qua. Cuộc Vượt qua của Chúa bắt đầu với Thánh Lễ chiều Thứ Năm Thánh, được cử hành để tưởng niệm Bữa Tiệc Ly, trong đó Chúa Giêsu đã rửa chân cho các tông đồ và thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Hai cử chỉ này là bài học cụ thể về sự khiêm nhường và hy sinh phục vụ. Chúc bạn một ngày thật hiền lành và khiêm nhường nhé. nhớ nhau trong cậu nguyện và cho cả thế giới nhe

Cha Vương

Thứ 5: 02/04/2026. (n14-22)

MỞ ĐẦU: Lạy Đức Mẹ, xin Mẹ lấy lòng thương xót mà cầu

nguyện cho chúng con được nhờ công nghiệp Đức Chúa Giêsu cùng nhờ công nghiệp Đức Mẹ, cho được khỏi tội lỗi chúng con đã phạm, cùng những hình phạt chúng con đáng phải chịu. Xin Đức Mẹ phù hộ cho chúng con làm việc này nên, cho được những phép ân xá Hội Thánh ban cho kẻ làm việc kính những sự thương khó Đức Mẹ. (Nêu ra ý chỉ cầu xin….)

LƯỠI GƯƠM THỨ SÁU: Mắt Mẹ lệ nhòa, trái tim Mẹ như vỡ ra trăm mảnh, đôi tay run rẩy khi Mẹ ẵm lấy xác Con. Còn đâu nữa hình ảnh Con vì yêu Mẹ đã thực hiện phép lạ đầu tiên nơi tiệc cưới Ca-na, còn đâu nữa hình ảnh và giọng nói của Con giảng dạy trong hội đường khi một trong số người nghe giảng đã cất lời khen: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm! ” (Lc.11,27). Giờ đây trên đôi tay Mẹ, con yêu chỉ còn là cái xác đầy thương tích, sau khi đã chịu mọi cực hình, chịu đóng đinh vào thập giá cùng với hai tên trộm cướp, “Khi ấy có một người tên là Giô-xếp, thành viên của Thượng Hội Đồng, một người lương thiện, công chính. Ông đã không tán thành quyết định và hành động của Thượng Hội Đồng….. Ông đến gặp tổng trấn Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su. Ông hạ xác Người xuống” (Lc.23,50-53). Ai suy cho được sự trong lòng Đức Mẹ bấy giờ, thương xót khóc lóc thảm thiết đau đớn khốn cực là thể nào!  Đoạn lấy khăn trắng mà liệm xác Con, thì lòng Đức Mẹ đau đớn như dao sắc thâu qua lòng đứt ruột ra vậy. Khi ngắm sự ấy, thì nguyện một kinh Lạy Cha, một kinh Kính Mừng.  Xin Đức Mẹ cầu cho chúng con được ăn năn lo buồn ghét tội, vì làm cho Đức Chúa Giêsu chịu chết làm vậy.  Amen.

+ Kinh Lạy Cha 

+ Kinh Kính Mừng

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria! Con đường đi theo Chúa là con đường khổ giá, con đường gánh chịu những vết thương từ bỏ ý riêng, hy sinh, phục vụ vì tình yêu dành cho Chúa và cho nhau, Mẹ đã đi trọn con đường đó, qua đời sống Mẹ sống kết hiệp mật thiết với Chúa. Xin Mẹ dẫn con đến với Chúa, để tạ lỗi với Chúa vì sự thờ ơ, thoái thác bước theo con đường Chúa đã vạch sẵn cho con. Xin Mẹ giúp con biết noi gương Mẹ, luôn sống kết hiệp mật thiết với Chúa qua đời sống cầu nguyện, đặc biệt là kết hiệp với  Chúa nơi bí tích Thánh Thể. Nhờ đó mà con mới có sức mạnh đi tron con đường Chúa đã hoạch định cho con. Mẹ đã gánh chịu những vết thương lòng của khổ đau, thử thách, buồn phiền, xin Mẹ nâng đỡ con, an ủi con và tất cả mọi người đang mang trong tâm những buồn khổ, xin đồng hành với con và mọi người trong những lúc gặp gian nan và thử thách trong cuộc sống này. Amen

From: Do Dzung

*******************

Xin Lỗi Chúa – Hiền Thục

Các con có hiểu điều Thầy vừa làm cho các con không?

 Mến chúc anh chị em CẢM NHẬN nhiều tình CHÚA trong những ngày này và cùng nhau sống lại với CHÚA trong đời sống mới ♥️

SUY NIỆM (để hiểu tại sao cần được CHÚA rửa chân đêm này- rửa bằng MÁU THÁNH tren thập tự giá – điều mà Phêro và cả chúng ta cần hiểu)

NHẬN THỨC VỀ ĐIỀU NGÀI ĐÃ THỰC HIỆN 

“Vậy, sau khi đã rửa chân cho các môn đệ, mặc áo lại và trở về bàn tiệc, Người nói với các ông: “Các con có hiểu điều Thầy vừa làm cho các con không? Các con gọi Thầy là ‘Thầy’ và là ‘Chúa’, điều đó thật đúng, vì quả thật Thầy là như vậy. Vậy, nếu Thầy là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho các con, để các con cũng làm như Thầy đã làm cho các con.” (Gioan 13:12–15)

Việc cử hành Thánh lễ chiều Tiệc Ly vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh là một trong những nghi thức phụng vụ giàu ý nghĩa thiêng liêng nhất trong năm. Thánh lễ bắt đầu với Nhà Tạm trống rỗng. Sau phần các bài đọc và bài giảng, nghi thức rửa chân cho các môn đệ được cử hành. Thánh lễ đạt đến đỉnh cao với việc cử hành Bí tích Thánh Thể; sau đó, Thánh Thể được rước sang một bàn thờ khác để các tín hữu tôn thờ cho đến nửa đêm. Trong khoảng thời gian này, chúng ta được mời gọi dành một giờ bên cạnh Chúa, hiệp thông với Ngài trong giờ Ngài chịu Cực hình tại Vườn Cây Dầu.

Bài Tin Mừng của Thánh lễ, trích từ sách Gioan, thuật lại khởi đầu của Bữa Tiệc Ly giữa Chúa Giêsu và các môn đệ. Chúa Giêsu thực hiện hành vi của một người tôi tớ khi rửa chân cho các môn đệ. Dù hành động này khiến các ông ngạc nhiên—đặc biệt là Phêrô—nhưng Chúa Giêsu vẫn kiên quyết nói rằng: “Nếu Thầy không rửa cho con, con sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Gioan 13:8). Chúa chúng ta cũng nói điều tương tự với chính chúng ta.

Thông thường, người ta chỉ hiểu việc rửa chân một cách hời hợt bên ngoài. Có lẽ đó là lý do tại sao Chúa Giêsu lại hỏi các môn đệ rằng: “Các con có hiểu điều Thầy vừa làm cho các con không?…”  Điều này đặt ra một câu hỏi: Bạn có thấu hiểu ý nghĩa sâu xa và mang tính biến đổi của hành vi vô cùng thánh thiêng này hay không? Đây không đơn thuần là cách Chúa Giêsu muốn nhắn nhủ chúng ta rằng chúng ta nên đối xử tử tế với nhau và tìm kiếm cơ hội để giúp đỡ nhau những việc tốt lành. Ý nghĩa của hành động này phong phú hơn nhiều. Thứ nhất, chúng ta cần được chính Chúa Giêsu rửa sạch. Thứ hai, chúng ta phải tham gia vào công việc rửa sạch cho người khác theo gương Chúa Giêsu.

Bạn được Chúa Giêsu rửa sạch bằng cách nào? Đó là nhờ Thập giá và sự Phục sinh của Ngài—những biến cố đã tiêu diệt tội lỗi và khôi phục sự sống đời đời. Chúng ta cần được rửa sạch bằng chính Máu của Ngài—dòng Máu đã đổ ra vì chúng ta và lần đầu tiên được trao ban cho các môn đệ của Ngài trong Bữa Tiệc Ly. Chúa Giêsu đang nói với các môn đệ rằng họ cần sự thanh tẩy mà Ngài ban cho: sự thanh tẩy khỏi tội lỗi. Ngày nay, sự thanh tẩy này diễn ra trước hết qua Bí tích Rửa tội, và sau đó là qua Bí tích Hòa giải. Nếu muốn tham dự Bí tích Thánh Thể một cách hữu hiệu, trước tiên chúng ta phải được thanh tẩy qua Bí tích Rửa tội. Khi lỡ phạm tội trong cuộc sống sau này, sự thanh tẩy ấy được thực hiện bằng việc xưng thú tội lỗi trong Bí tích Hòa giải; điều này giúp chúng ta chuẩn bị tâm hồn để đón nhận Ngài một cách xứng đáng trong Bí tích Thánh Thể. Khi lãnh nhận các bí tích ấy, chúng ta hãy lắng nghe Chúa nói với mình rằng: “Các con có hiểu điều Thầy đã làm cho các con không?”

Sau câu hỏi đó, Chúa Giêsu phán: “Thầy đã nêu gương cho các con noi theo, để như Thầy đã làm cho các con, các con cũng hãy làm như vậy.” Tất nhiên, chúng ta không phải là Chúa Giêsu. Chúng ta không thể tha tội hay ban tặng cho người khác Thánh Thể và Thánh Huyết của Ngài, phải không? Hãy nhớ rằng Chúa Giêsu đang nói chuyện với các Tông đồ—những vị giám mục đầu tiên—vì thế, câu trả lời là “Có”: Chúa Giêsu đang truyền lệnh cho các ông, cũng như tất cả các giám mục và linh mục kế nhiệm sau này, hãy tiếp nối hồng ân của Ngài qua việc cử hành trung tín các Bí tích mà Ngài đã thiết lập.

Mặc dù đó là mệnh lệnh trọng tâm, nhưng Chúa cũng mời gọi tất cả chúng ta cùng tham dự vào hành vi hiến dâng chính mình của Ngài. Dù chỉ một mình Ngài mới có thể ban cho chúng ta sự thanh tẩy và biến đổi mà chúng ta cần—điều được tiếp nối qua dòng thời gian trong các Bí tích—Ngài cũng truyền cho mỗi người chúng ta hãy bắt chước tình yêu hy sinh của Ngài qua việc thực thi đức ái; đó chính là “tấm gương” mà Ngài đã nêu ra để chúng ta noi theo. Sau khi được tha thứ tội lỗi và được củng cố nhờ Bí tích Thánh Thể, chúng ta phải hướng sự quan tâm của mình đến tha nhân, chọn làm mọi điều cần thiết để trở nên hiện thân của Đức Kitô đối với họ, sẵn sàng hiến dâng cuộc đời mình một cách vô vị lợi và không chút do dự. Mệnh lệnh này không chỉ áp dụng cho những người chúng ta yêu mến, mà còn cho tất cả mọi người, một cách bình đẳng và kiên định. Hãy lưu ý rằng Chúa Giêsu thậm chí đã rửa chân cho cả Giuđa, dù Ngài biết rõ Giuđa sắp phản bội Ngài. Qua hành động đó, Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng đức ái phải được mở rộng ngay cả đối với những người đã làm hại ta, mời gọi chúng ta hãy yêu thương như chính Ngài đã yêu thương—không đặt điều kiện hay giới hạn nào.

Hôm nay, bạn hãy suy ngẫm về câu hỏi mà Chúa Giêsu đã đặt ra cho Nhóm Mười Hai: “Các con có hiểu điều Thầy đã làm cho các con không?” Hãy chiêm nghiệm câu hỏi ấy trong ngày hôm nay, và đặc biệt là vào buổi tối này. Bạn có thấu hiểu chiều sâu của Hy tế mà Ngài đã thực hiện không? Bạn có hiểu ý nghĩa của các Bí tích—những phương thế giúp Hy tế ấy được tiếp nối qua dòng thời gian—không? Và bạn có thấu hiểu những đòi hỏi mà việc đón nhận hồng ân của Ngài đặt ra cho chính bản thân bạn không? Hãy rộng mở đón nhận tất cả những gì Chúa Giêsu ban tặng cho bạn, và đổi lại, hãy trao ban cho tha nhân những gì bạn đã lãnh nhận.

Lạy Thầy và là Chúa đầy hy sinh của con, Ngài đã đổ tràn trên con Máu Châu Báu của Ngài để tẩy sạch con khỏi tội lỗi và phục hồi sự sống cho con. Dẫu rằng con sẽ chẳng bao giờ có thể thấu hiểu trọn vẹn Hồng Ân cao quý này, con vẫn cầu xin ơn Hiểu biết, để con có thể lĩnh hội sâu sắc hơn mầu nhiệm vĩ đại này. Khi Ngài đang biến đổi con, xin hãy sử dụng con như một món quà được hiến dâng cho tha nhân, trong tình bác ái và sự phục vụ vô vị lợi xuất phát từ tình yêu thiêng liêng. Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Ngài.

Thầy Phó Tế Nguyễn Sỹ Bạch gởi


 

ĐỂ XEM TRỜI GIẢI NGHĨA TÌNH YÊU – Lm Giuse Hồ Ngọc Vũ

Lm Giuse Hồ Ngọc Vũ

 Anh chị em thân mến,

Con người thời nào cũng đi tìm tình yêu.  Người ta nói nhiều về tình yêu, viết nhiều về tình yêu, hát nhiều về tình yêu.  Người ta dành những ngày đặc biệt cho tình yêu.  Thế nhưng, càng sống, người ta càng thấy một điều rất thật: nói về tình yêu thì dễ, nhưng hiểu cho đúng tình yêu lại rất khó.  Ai cũng muốn được yêu, nhưng không phải ai cũng biết yêu thế nào cho đúng.  Ai cũng thích nghe những lời ngọt ngào, nhưng không phải ai cũng đủ sức đi đến tận cùng của hy sinh, của tha thứ, của trao ban.

 Bởi thế, nếu hôm nay có ai hỏi chúng ta: Tình yêu thật là gì?  Yêu cho đúng nghĩa là gì?  Có lẽ không nơi nào trả lời sâu bằng phụng vụ Thứ Năm Tuần Thánh.

 Nhà thơ Xuân Diệu có một câu rất đẹp: “Và để xem Trời giải nghĩa tình yêu.”

 Tối nay, chúng ta đến đây, không chỉ để tham dự một nghi thức phụng vụ long trọng.  Chúng ta đến đây để xem Trời giải nghĩa tình yêu.  Bởi vì chỉ có Thiên Chúa là Tình Yêu, nên chỉ có Ngài mới có thể nói cho con người biết: yêu là gì.

1.Tình yêu thật không phải là giữ lại, nhưng là trao ban

 Bài đọc thứ nhất đưa chúng ta trở về đêm Vượt Qua đầu tiên của dân Israel nơi đất Ai Cập.  Đó là một đêm rất đặc biệt, một đêm đầy khẩn trương, một đêm không thể quên.  Mỗi gia đình phải sát tế một con chiên, lấy máu bôi lên khung cửa.  Và chính nhờ máu ấy mà dân Chúa được cứu thoát khỏi tai ương, khỏi án phạt, khỏi kiếp nô lệ, để bước vào con đường tự do. 

Nhưng câu chuyện ấy không chỉ là một biến cố lịch sử của dân Do Thái.  Đó còn là một hình bóng, một lời báo trước về một cuộc Vượt Qua lớn lao hơn, sâu xa hơn, cứu độ hơn. 

Con chiên năm xưa chính là hình bóng của Đức Giêsu Kitô, Chiên Vượt Qua mới.  Nếu ngày xưa dân được cứu nhờ máu chiên, thì hôm nay nhân loại được cứu nhờ Máu của Con Thiên Chúa.

 Và  trong bài đọc II, nói về bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã làm một điều không ai có thể tưởng tượng nổi: Ngài không chỉ nói về tình yêu.  Ngài không chỉ dạy phải yêu thương.  Ngài biến chính mình thành của ăn cho nhân loại.

“Này là Mình Thầy… Này là Chén Máu Thầy…” 

Chưa bao giờ tình yêu đi xa đến thế.  Chưa bao giờ tình yêu hạ mình đến thế.  Chưa bao giờ Thiên Chúa ở gần con người đến thế.  Ngài không cho chúng ta một món quà bên ngoài Ngài.  Ngài cho chính bản thân Ngài. 

Đó là định nghĩa đầu tiên và sâu nhất của tình yêu theo kiểu của Thiên Chúa: Tình yêu là trao ban chính mình, chính mạng sống của mình. 

2. Nhưng tình yêu ấy không chỉ dừng lại trên bàn thờ, mà phải đi xuống tận đôi chân 

Thế nhưng, nếu tình yêu chỉ dừng lại nơi bàn tiệc, thì vẫn chưa đủ.

Điều rất lạ là trong khi các Tin Mừng Nhất Lãm kể rất rõ việc Chúa Giêsu cầm bánh, cầm chén và lập Bí tích Thánh Thể, còn trong Tin Mừng Gioan lại không kể lại lời truyền phép.  Thay vào đó, thánh Gioan dẫn chúng ta đến một hình ảnh khác: Chúa Giêsu cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. 

Một hình ảnh vừa đẹp, vừa lạ, vừa gây ngỡ ngàng.  Bởi vì Đấng đang quỳ xuống đó không phải là một người đầy tớ.  Đó là Thầy, là Chúa, là Con Thiên Chúa.

 Đôi tay đã dựng nên vũ trụ, giờ đây lại cầm lấy chân bụi đất của con người.  Đấng mà thiên thần thờ lạy, giờ đây lại quỳ xuống trước những con người yếu đuối, đầy giới hạn, thậm chí có kẻ sắp phản bội Ngài. 

Tại sao Chúa lại làm như thế? 

Bởi vì Chúa muốn cho các môn đệ hiểu một điều mà nếu chỉ nghe bằng tai thì chưa đủ, nhưng phải nhìn bằng mắt và cảm bằng tim: Ai đón nhận Thánh Thể, thì phải sống tinh thần của Thánh Thể.  Ai ăn Mình Chúa, thì phải biết sống như Chúa. 

Mà sống như Chúa là gì?  Là biết cúi xuống. – Là biết phục vụ. – Là biết nhẫn nại. – Là biết chịu đựng nhau. – Là biết tha thứ – Là biết yêu nhau đến cùng. 

Theo cách nghĩ của thế gian, cao là để được phục vụ.  Có quyền là để người khác nể mình.  Có vị trí là để người khác nghe mình. 

Nhưng nơi Chúa Giêsu, mọi sự bị đảo ngược hoàn toàn: Theo Chúa, cao là để cúi xuống sâu hơn, có quyền có địa vị là để phục vụ nhiều hơn, yêu không phải là được nhận, mà là dám cho đi, dám hạ mình, dám mang lấy phần nặng của người khác. 

Có lẽ đây là chỗ khó nhất của tình yêu.  Bởi vì nói yêu thì dễ, nhưng cúi xuống vì người mình yêu thì không dễ chút nào. 

Cho nên, nếu tối nay Chúa chỉ lập Bí tích Thánh Thể mà không rửa chân cho các môn đệ, thì chúng ta vẫn có thể hiểu sai về tình yêu.  Chúng ta có thể nghĩ rằng yêu Chúa chỉ là chuyện của bàn thờ, chuyện của nhà thờ, chuyện của kinh nguyện.  Nhưng Chúa Giêsu muốn kéo tình yêu ấy xuống sàn nhà của đời thường, xuống chậu nước của phục vụ, xuống những tương quan cụ thể giữa người với người. 

3. Thứ Năm Tuần Thánh là hành trình từ bàn tiệc đến chậu nước 

Vì thế, Thứ Năm Tuần Thánh không chỉ là ngày Chúa lập Bí tích Thánh Thể.  Mà còn là ngày Chúa dạy chúng ta cách sống Bí tích Thánh Thể. 

Có thể nói thật ngắn mà rất trúng như thế này:

Bí tích Thánh Thể được cử hành trong nhà thờ – còn việc rửa chân phải được thực hiện trong cuộc sống. 

Bí tích Thánh Thể diễn ra trên bàn thờ –  còn việc rửa chân phải diễn ra trong gia đình, trong cộng đoàn, trong giáo xứ, trong từng tương quan mỗi ngày. 

Bí tích Thánh Thể đưa ta đến với Chúa – còn việc rửa chân đưa ta đến với anh em. 

Bí tích Thánh Thể dạy ta thưa với Chúa: “Con yêu mến Chúa” – còn việc rửa chân buộc ta chứng minh: “Con thật sự yêu người bên cạnh con.” 

Cho nên, sống Thứ Năm Tuần Thánh là bước vào một hành trình rất rõ: 

Từ bàn tiệc đến chậu nước. – Từ Thánh Thể đến bác ái.  Từ hiệp lễ đến hiến thân.

 4.Và đây là lời mời gọi rất thật cho gia đình, cộng đoàn, giáo xứ của chúng ta 

Tối nay, Chúa không mời chúng ta làm điều gì xa vời.  Ngài chỉ mời chúng ta bắt đầu từ những điều rất gần. 

Rửa chân hôm nay không chỉ là nghi thức, mà là một lối sống. 

Rửa chân là khi vợ chồng biết nhịn nhau một chút.  Rửa chân là khi cha mẹ biết lắng nghe con cái.  Rửa chân là khi con cái biết hiếu thảo với cha mẹ.  Rửa chân là khi anh chị em trong cộng đoàn biết bớt xét đoán, bớt làm đau nhau bằng lời nói và thái độ. 

Có những người đi lễ rất đều, đọc kinh rất chăm, nhưng lại không sống hòa thuận được với những người xung quanh mình. 

Cho nên, điều Hội Thánh cần hôm nay không phải chỉ là thêm nghi thức, mà là thêm tình yêu được sống thật. 

Không phải chỉ cần những người giỏi nói về Chúa, mà cần những người để người khác có thể chạm được Chúa nơi cách sống của mình. 

Ước gì mỗi lần tham dự Thánh Lễ, chúng ta không chỉ biết rước Chúa vào lòng, mà còn biết mang trái tim của Chúa vào cuộc sống. 

Để rồi gia đình chúng ta sẽ bớt lạnh hơn, cộng đoàn chúng ta sẽ bớt tổn thương nhau hơn, giáo xứ chúng ta sẽ dịu dàng hơn, và đời sống chúng ta sẽ trở thành một lời chứng sống động rằng: Ở đây, người ta không chỉ nói về tình yêu, mà người ta đang sống tình yêu của Chúa.  Amen.

 Lm Giuse Hồ Ngọc Vũ

 From: Langthangchietim


 

Những người không thể đụng tới – Vũ Văn An

Vũ Văn An

31/Mar/2026

Randall Smith, trong bản tin Thứ Ba, ngày 31 tháng 3 năm 2026 của tạp chí The Catholic Thing, nhận định rằng: Chúng ta tự hào rằng ở Mỹ không có “hệ thống đẳng cấp”, với các đẳng cấp cao hơn và thấp hơn, và những người ở tầng dưới cùng được gọi là “những người không thể đụng tới [untouchable]”. Tuy nhiên, đôi khi tôi tự hỏi liệu chúng ta có điều gì tương tự trong cách chúng ta phân biệt “giới tinh hoa” với “những người bị khinh miệt” hay không. Còn về “những người không thể đụng tới”, hãy thử đến một cuộc mít tinh “Không phải là Vua” và nói, “Tôi thích một số điều Trump làm”, và bạn sẽ nhanh chóng hiểu cảm giác của những người bị bệnh phong vào thời Chúa Giê-su.

Mỗi phe trong sự chia rẽ chính trị đều tạo ra “kẻ thù” mà họ căm ghét. Nhưng một nhóm người thực sự trở thành “những người không thể đụng tới” trong xã hội chúng ta chính là những người già yếu đuối. Thay vì tôn trọng người già, xu hướng của chúng ta là nhốt họ vào các viện dưỡng lão để giữ họ khuất mắt và khỏi tâm trí.

Xin đừng hiểu lầm tôi. Nhiều người sống trong các “nhà dưỡng lão” hoặc “cơ sở hỗ trợ sinh hoạt” được đưa đến đó vì lòng yêu thương và sự quan tâm dành cho họ, bởi vì họ không còn có thể sống một mình và cần sự chăm sóc y tế bổ sung mà các cơ sở này có thể cung cấp. Nhưng thực tế này vẫn đặt ra một số câu hỏi.

Tại sao rất nhiều người già của chúng ta lại sống một mình? Liệu chúng ta đã coi trọng “sự độc lập” theo những cách không có lợi cho sức khỏe và sự phát triển của con người khi về già? Tại sao lại nhốt người già trong các cơ sở riêng biệt thay vì cố gắng hòa nhập họ vào xã hội theo một cách mới, năng động hơn? Và cuối cùng, tại sao rất nhiều cơ sở dành cho người già lại tồi tệ đến vậy? Hiếm khi chúng tốt.

Một bài học mà bất cứ ai từng chăm sóc cha mẹ già cần được chăm sóc đặc biệt đều sớm nhận ra là thực sự không có câu trả lời tốt cho thách thức này. Tất cả những người tôi hỏi, “Bạn đã tìm ra cách nào tốt hơn chưa?” đều trả lời dứt khoát: “Không, tất cả đều tồi tệ.” Bài học thứ hai là đừng già và nghèo ở Mỹ. Một căn phòng nhỏ với sự chăm sóc tầm thường có thể tốn từ 8,000 đến 8,500 đô la mỗi tháng, và thường là còn hơn thế nữa. Vì vậy, nếu bạn không có từ 100,000 đến 150,000 đô la mỗi năm để chi cho nhà ở và ăn uống, và duy trì mức chi tiêu đó trong mười hoặc mười hai năm, bạn có thể thấy mình rơi vào hoàn cảnh rất khó chịu, thế giới thu hẹp lại trong một căn phòng nhỏ với một chiếc tivi.

Ngay cả những nơi đắt tiền và đẹp hơn cũng mang cảm giác như một con tàu du lịch. Cuộc sống ở đó có thể dễ chịu, nhưng người ta cũng cảm nhận được sự vô nghĩa – cảm giác đối diện với cái chết của chính mình trong khi chứng kiến những hành khách khác trên tàu lần lượt chết đi. Cư dân cảm thấy mình bị xã hội gạt sang một bên, không còn cần thiết nữa (hoặc đó là điều chúng ta lầm tưởng).

Bức tranh “Ông già đau khổ” (“Ở cổng cõi vĩnh hằng”) của Vincent van Gogh, năm 1890 [Bảo tàng Kröller-Müller, Otterlo, Hà Lan]

Cá nhân tôi chưa bao giờ hiểu tại sao chúng ta lại có một xã hội gồm những người già, những người đầy ắp những câu chuyện về cuộc sống và sự khôn ngoan của tuổi già, một mặt, và những nhóm thanh thiếu niên, mặt khác, cần một người khôn ngoan để trò chuyện và lắng nghe họ. Vì một lý do kỳ lạ nào đó, chúng ta không thể tìm ra cách để kết hợp họ lại với nhau.

Thay vào đó, chúng ta làm mọi thứ có thể để tách biệt họ càng xa càng tốt. Chúng ta không xây trường trung học hay đại học cạnh các trung tâm chăm sóc người cao tuổi, có lẽ vì chúng ta biết rằng thanh thiếu niên trong những trường đó sẽ không tôn trọng người già. Chúng ta cũng không xây các trung tâm chăm sóc người cao tuổi cạnh chuồng khỉ đột.

Nhưng nếu như, thay vì chạy theo xu hướng văn hóa, chúng ta nghiêm túc lắng nghe lời Chúa thì sao? Lê-vi 9:32 chép rằng: “Ngươi phải đứng dậy trước người tóc bạc và kính trọng người già, và ngươi phải kính sợ Đức Chúa Trời ngươi.” Đoạn Kinh Thánh này từ lâu đã được hiểu là cho thấy sự kính trọng người lớn tuổi có liên hệ trực tiếp với sự tôn kính Đức Chúa Trời.

Người ta cũng có thể rút ra kết luận này từ điều răn thứ nhất trên “bảng thứ hai” của Mười Điều Răn tương ứng với sự kính trọng Đức Chúa Trời trên “bảng thứ nhất”: đó là điều răn “Hãy tôn kính [honoring] cha mẹ ngươi.” 1 Ti-mô-thê 5:1-2 khuyên chúng ta hãy đối xử với những người đàn ông lớn tuổi như cha mình và những người phụ nữ lớn tuổi như mẹ mình, nhắc nhở chúng ta đừng nói lời cay nghiệt với họ.

Kỹ thuật mang lại một số hy vọng. Xe tự lái có thể giúp đỡ những người lớn tuổi không còn khả năng hoặc không nên lái xe. Ở Mỹ, việc không thể tự lái xe giống như việc trở lại làm trẻ con, luôn phải hỏi: “Chú/Bố/Mẹ có thể chở con đi đâu đó được không?” Một người đàn ông tôi quen biết đã có thể cấu hình lại chiếc Tesla của mình để ông ấy có thể ngồi vào trong khi chiếc xe đưa xe lăn của ông ấy vào và gấp gọn lại ở phía sau.

Tại sao kỹ thuật đó lại không được phổ biến rộng rãi? Ông ấy hẳn đã phải tự mình phát minh ra nó. Việc chúng ta không dành nhiều tâm huyết sáng tạo cho những tiến bộ kỹ thuật khác để giúp đỡ người cao tuổi đáp ứng những nhu cầu cơ bản như đi lại, ăn uống và vệ sinh cá nhân cho thấy một xã hội mà người cao tuổi vẫn bị lãng quên và hầu như không được chăm sóc.

Nhưng chỉ kỹ thuật thôi là chưa đủ. Những phát triển hữu ích sẽ không xảy ra hoặc không trở nên phổ biến nếu thiếu đi sự tôn trọng và quan tâm mà Chúa đang kêu gọi chúng ta trong Kinh Thánh. Chúng ta cần thiết kế nhiều khu phố đa chức năng, thân thiện với người đi bộ hơn và thực hiện nhiều biện pháp khác. Cần làm tốt hơn việc cho người già tiếp xúc với trẻ em, dạy chúng biết tôn trọng người lớn tuổi.

Nếu chúng ta không làm nhiều hơn để thể hiện sự tôn trọng đối với người lớn tuổi, giới trẻ sẽ tiếp tục sợ hãi tuổi già, và nhiều người, khi về già, sẽ chọn cách tự tử.

Phải thừa nhận rằng, không thể tránh khỏi thực tế khắc nghiệt là đối mặt với cái chết không dễ dàng. Đó là thập giá mà chúng ta phải gánh trước khi phục sinh. Nhưng niềm hy vọng Phục Sinh mà Giáo Hội dựa trên đó là Chúa Kitô đã một lần và mãi mãi chiến thắng cái chết và mở ra một cuộc sống mới trong sự hiệp nhất với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Tuy nhiên, ngay cả Chúa Kitô cũng cần sự giúp đỡ để vác thập giá của Người. Vì vậy, có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta nghĩ về mình như Simon xứ Cyrene. Chúng ta giúp người lớn tuổi vác thập giá của họ, và họ và chúng ta cùng nhau an ủi nhau trên con đường đó rằng tình yêu của Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta và có thể vượt qua cả cái chết.

https://vietcatholic.net/News/Html/301043.htm


 

CHƯA ĐẾN CÙNG, CHƯA CHUNG PHẦN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người yêu thương họ đến cùng!”.

“Chỉ có tình yêu mới đáng tin!” – Von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

“Người yêu thương họ đến cùng!”. Nhưng Lời Chúa hôm nay cho thấy: nếu tình yêu không được đón nhận trọn vẹn, hiệp thông cũng không trọn vẹn – ‘chưa đến cùng, chưa chung phần!’.

Một chi tiết kín đáo mà là chìa khoá. Trước khi cúi xuống, Chúa Giêsu biết giờ của mình đã đến – “giờ bỏ thế gian mà về với Chúa Cha”. Chính trong ý thức trọn vẹn ấy, Ngài cởi áo và rửa chân cho các môn đệ. Không phải vì quên mình là ai, nhưng vì biết rõ mình là ai. “Đến cùng” – eis telos – không phải là lúc kết thúc, nhưng là mức độ: tình yêu đạt tới trọn vẹn khi dám đi xuống, chạm đến điều thấp nhất nơi con người. Với chúng ta, khi yêu mà phải chạm tới điều thấp nhất, chúng ta thường chùn bước. “Nơi nào không có tình yêu, hãy đặt vào đó tình yêu, và bạn sẽ kéo tình yêu ra!” – Gioan Thánh Giá.

“Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”. Một chút khựng lại rất thật của Phêrô khi Thiên Chúa bước xuống quá thấp. Nhưng Chúa Giêsu dứt khoát: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy”. Từ chối được rửa là từ chối hiệp thông. Ở đây, ‘chưa đến cùng, chưa chung phần’. Với chúng ta, điều khó không phải là yêu, nhưng là để mình được yêu đến cùng.

Từ chỗ từ chối, Phêrô chuyển sang thái quá: “Xin cứ rửa… cả tay và đầu con nữa”. Nhưng Chúa Giêsu chặn lại: “Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa!”. Ân ban không theo cách con người đòi, nhưng theo cách Chúa Kitô trao. Giữa từ chối và chiếm hữu chỉ là một bước rất nhỏ. Và nhiều khi, không phải thiếu thiện chí, nhưng là chúng ta muốn tình yêu theo cách của mình. “Kẻ thù lớn nhất của tình yêu không phải là thù ghét, mà là yêu chính mình!” – Thomas Merton.

Đặt hành động rửa chân trong toàn bộ hành trình của Chúa Giêsu, “đến cùng” đạt đỉnh trên thập giá: “đã hoàn tất”. Điều được diễn tả trong bữa tiệc sẽ hoàn tất trên thập giá. Ở đó, tình yêu đi tới tận cùng của nó: không giữ lại gì – và cũng không để ai đứng ngoài phần của mình. Không ai được đứng ngoài tình yêu đã đi đến cùng. Và nếu còn một nơi nào trong lòng chúng ta chưa được chạm tới, thì chính nơi đó vẫn còn đứng ngoài phần của Ngài.

Anh Chị em,

“Chỉ có tình yêu mới đáng tin!”. Từ Tiệc Ly đến Tiệc Thập Giá, tình yêu của Chúa Kitô thật đáng tin. Ngài không chỉ dạy chúng ta yêu, nhưng dạy chúng ta yêu theo cách cúi xuống và hiến trao đến cùng. Khi dám để Ngài rửa, dám để Ngài yêu theo cách của Ngài, chúng ta mới thực sự hiệp thông với Ngài. Và trong đời sống, điều khó nhất không phải là làm điều lớn lao, nhưng là để một tình yêu rất cụ thể chạm tới đến cùng những chỗ chúng ta còn khép lại – vì lẽ ‘chưa đến cùng, chưa chung phần’. “Điều quan trọng không phải là tầm mức việc ta làm, mà là lượng tình yêu ta đặt vào đó!” – Mẹ Têrêxa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con ngại cúi xuống, xin dạy con khiêm hạ; khi con sợ bị chạm tới, xin cho con tin tưởng; khi con đứng bên ngoài hiệp thông, xin đưa con vào ở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần Thánh

Đức Giê-su yêu họ đến cùng.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 13,1-15

1 Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.

2 Ma quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Đức Giê-su. 3 Đức Giê-su biết rằng : Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa, 4 nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. 5 Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau.

6 Vậy, Người đến chỗ ông Si-môn Phê-rô, ông liền thưa với Người : “Thưa Thầy ! Thầy mà lại rửa chân cho con sao ?” 7 Đức Giê-su trả lời : “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu.” 8 Ông Phê-rô lại thưa : “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu !” Đức Giê-su đáp : “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.” 9 Ông Si-môn Phê-rô liền thưa : “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa.” 10 Đức Giê-su bảo ông : “Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa ; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu !” 11 Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói : “Không phải tất cả anh em đều sạch.”

12 Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giê-su mặc áo vào, về chỗ và nói : “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không ? 13 Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’, là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. 14 Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. 15 Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.” 


 

HỘ CHIẾU NƯỚC TRỜI

 

 
HỘ CHIẾU NƯỚC TRỜI
Chuyện kể rằng: có một bà lão qua đời, suốt cuộc sống bà chẳng làm được việc thiện nào. Vì thế, Satan chộp lấy bà ném vào biển lửa. Nhưng Thiên Thần bản mệnh của bà không chịu thua. Ngài suy nghĩ một lúc lâu và nói:

– Lạy Chúa, có một lần bà đã đào một củ hành nhỏ trong vườn cho người ăn xin.

Chúa nói:

– Ðược, vậy con hãy lấy củ hành nhỏ tương tự, thả xuống biển lửa và kéo bà lên bằng củ hành nhỏ đó. Nếu con thành công, bà ấy sẽ được cứu.

Thiên Thần cẩn thận kéo bà lên. Nhưng khi những người khác thấy bà bắt đầu đi lên, họ liền bám theo bà. Bà vội vàng đá tung họ ra và la lên:

– Chỉ có tôi là được cứu bằng củ hành này, nó thuộc về tôi chứ đâu có thuộc về các người.

Lúc đó, củ hành bị tách ra và bà rơi trở lại biển lửa. Thiên Thần quay mặt đi khóc cho số phận của một con người quá ích kỷ.

***

Chúa về trời và Người muốn cho các con cái cũng được lên trời với Người. Vì Người đã cầu xin với Cha: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con” (Ga 17,24). Nhưng muốn được lên trời cũng phải có hộ chiếu của Nước Trời. Hộ chiếu đó chính là Tình Yêu Thương. Trước khi về trời, Ðức Giêsu đã truyền cho các môn đệ: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy cho họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,18-20a). Mọi điều Thầy truyền chỉ tóm lại có một điều là “Mến Chúa yêu người”.

 Vì thế, Tình Yêu Thương chính là thước đo, là điều kiện, là bảo đảm cho người tín hữu được lên trời với Chúa. Chúng ta tưởng trời ở thật xa nhưng thật ra lại rất gần. Ðức Giêsu nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20b). Ở đâu có Chúa là ở đấy có thiên đàng, vậy trời không phải ở trong lòng chúng ta đấy sao ?”. Trời ở ngay trong trái tim chúng ta, những trái tim đầy ắp yêu thương, ngập tràn Thiên Chúa. Trời ở ngay trong thế giới này, nếu đó là một thế giới yêu thương và hoà bình, chia sẻ và tha thứ cho nhau. Chúng ta tưởng mình chỉ được lên trời sau cuộc sống này, nhưng thực ra thì chúng ta đang vui hưởng hạnh phúc Nước Trời. Hạnh phúc Nước Trời là khi chúng ta không màng lợi danh lạc thú, cũng chẳng ngần ngại trước khổ đau và nỗi chết. Nhưng luôn biết chia sẻ cho anh em, xả thân phục vụ hết mọi người. Vì phục vụ là tên gọi của tình yêu.

***

Lạy Chúa, con đường về trời là con đường yêu thương. Xin chỉ cho chúng con biết đường về trời bằng cách sống hiến thân, phục vụ và trao ban.

 Xin đừng để những truân chuyên nơi cuộc sống này làm chúng con quên mất trời cao. Xin đừng để những quyến rũ của trần gian cản lối chúng con về trời. Ước gì qua cuộc sống chúng con, mọi người sẽ nhận ra con đường về trời. Amen.

 From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Lạy Đức Mẹ, xin Mẹ lấy lòng thương xót mà cầu nguyện cho chúng con.. – Cha Vương

Chúc bạn một ngày tràn đầy ân sủng của Chúa nhé. Chỉ còn ít ngày nữa là đến lễ Tam Nhật Vượt Qua—Thứ Năm Thánh, Thứ Sáu Thánh, Thứ Bảy Thánh, rồi Chúa Nhật Phục Sinh, là Lễ Trọng nhất của Kitô giáo. Bạn chuẩn bị tâm hồn chưa nhỉ? Luôn nhớ đến nhau trong lời cầu nguyện và cho toàn thế giới xin cảm ơn.

Cha Vương

Thứ 3: 31/03/2026 (n12-4-22)

MỞ ĐẦU: Lạy Đức Mẹ, xin Mẹ lấy lòng thương xót mà cầu nguyện cho chúng con được nhờ công nghiệp Đức Chúa Giêsu cùng nhờ công nghiệp Đức Mẹ, cho được khỏi tội lỗi chúng con đã phạm, cùng những hình phạt chúng con đáng phải chịu. Xin Đức Mẹ phù hộ cho chúng con làm việc này nên, cho được những phép ân xá Hội Thánh ban cho kẻ làm việc kính những sự thương khó Đức Mẹ. (Nêu ra ý chỉ cầu xin….)

LƯỠI GƯƠM THỨ TƯ: Ba mươi năm Mẹ cùng với Con nơi mái nhà Na-ra-rét, cùng đồng cam cộng khổ trong mưu kế sinh nhai, cùng cầu nguyện, cùng sống chan hòa yêu thương với hàng xóm láng giềng. Ngày Con từ giã Mẹ lên đường thi hành sứ vụ, Mẹ buồn… Nhưng Mẹ biết đó là ý định của Thiên Chúa, Mẹ âm thầm lặng lẽ theo Con. Bỗng Mẹ nhận được tin dữ khi người ta kết án tử hình Con yêu, “Bấy giờ ông Phi-la-tô trao Đức Giê-su cho họ đóng đinh vào thập giá.” (Ga.19,16) Hai con mắt Đức Mẹ nên như hai suối nước chảy xuống, đau đớn trong lòng như dao sắc thâu qua lòng vậy. Khi ngắm sự ấy, thì nguyện một kinh Lạy Cha, một kinh Kính Mừng.  Xin Đức Mẹ cầu cho chúng con được vác Thánh giá theo Đức Chúa Giêsu, ấy là chớ theo ý mình, một theo ý Đức Chúa Giêsu luôn.  Amen.

+ Kinh Lạy Cha 

+ Kinh Kính Mừng

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria! Con đường đi theo Chúa là con đường khổ giá, con đường gánh chịu những vết thương từ bỏ ý riêng, hy sinh, phục vụ vì tình yêu dành cho Chúa và cho nhau, Mẹ đã đi trọn con đường đó, qua đời sống Mẹ sống kết hiệp mật thiết với Chúa. Xin Mẹ dẫn con đến với Chúa, để tạ lỗi với Chúa vì sự thờ ơ, thoái thác bước theo con đường Chúa đã vạch sẵn cho con. Xin Mẹ giúp con biết noi gương Mẹ, luôn sống kết hiệp mật thiết với Chúa qua đời sống cầu nguyện, đặc biệt là kết hiệp với Chúa nơi bí tích Thánh Thể. Nhờ đó mà con mới có sức mạnh đi tron con đường Chúa đã hoạch định cho con. Mẹ đã gánh chịu những vết thương lòng của khổ đau, thử thách, buồn phiền, xin Mẹ nâng đỡ con, an ủi con và tất cả mọi người đang mang trong tâm những buồn khổ, xin đồng hành với con và mọi người trong những lúc gặp gian nan và thử thách trong cuộc sống này. Amen

From: Do Dzung

***********************

Ánh Mắt Mẹ Nhân Từ (Đinh Công Huỳnh) – Trình bày: Mai Thiên Vân

Bẩy di ngôn trên Thánh giá – Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Có hai sứ điệp nổi bật nhất của Chúa Cứu Thế được gởi đến cho loài người.Sứ điệp đầu tiên là Tám Mối Phúc Thật được Chúa công bố trên một sườn núi.Sứ điệp cuối cùng là Bảy Di Ngôn trên Thánh Giá.

Tuần Thánh, chiêm ngắm cuộc thương khó của Chúa, dừng lại nơi Bảy Di Ngôn của Đấng Cứu Thế để nhận thấy Calvê là ngọn núi đầy hấp dẫn, lôi cuốn chúng ta hưởng nếm tình yêu hiến dâng phục vụ.

  1. (33) Khi đến nơi gọi là “Ðồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. (34) Bấy giờ Ðức Giêsu cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Rồi họ bắt thăm mà chia nhau áo của Người.” (Lc 23,33-34)
  2. (42) Rồi anh ta thưa với Ðức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (43) Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng”. (Lc 23,42-43).
  3. (33) Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. (34) Vào giờ thứ chín, Ðức Giêsu kêu lớn tiếng: “Êlôi, Êlôi, lama sabácthani!” Nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”(Mc 15, 33-34).
  4. (44) Bấy giờ đã gần tới giờ thứ sáu, thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. (45) Mặt trời tối đi. Bức màn trướng trong Ðền Thờ bị xé ngay chính giữa. (46) Ðức Giêsu kêu lớn tiếng: Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. Nói xong, Người tắt thở.” (Lc 22, 44-46).
  5. (25) Ðứng gần thập giá Ðức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của bà thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. (26) Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Ðức Giêsu nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà”. (27) Rồi Người nói với môn đệ: “Ðây là mẹ của anh”. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình. (Ga 19, 25-27).
  6. (28) Sau đó, Ðức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: “Tôi khát!”(Ga 19,28).
  7. (29) Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. (30) Nhắp xong, Ðức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất!” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” (Ga 19, 29-30)\

*****

  1. Lạy Cha, xin tha thứ cho họ vì họ chẳng hiểu biết việc họ làm (Lc 23,34)

Lẽ thường, vào giờ hấp hối, tự đáy lòng con người bộc lộ những lời tha thiết với người thân yêu, người lân cận. Lời đầu tiên của Chúa là xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ bách hại, kết án, lăng nhục, đóng đinh Ngài. Triết gia Xê-nê-ca kể lại rằng, người bị treo trên thập giá trù ẻo cha mẹ,nguyền rủa ngày sinh tháng đẻ,mắng nhiếc lý hình,thậm chí còn khạc nhổ vào bất cứ ai qua lại đứng ngồi dưới chân cây thập giá.

Nhà hùng biện Si-sê-rô còn cho biết rằng, đôi khi phải cắt lưỡi người bị đóng đinh vào thập giá, để họ thôi buông lời phạm thượng. Bởi thế, dân chúng bồn chồn. Đám lý hình,luật sĩ,biệt phái chờ đợi tiếng la thét,mắng nhiếc,nguyền rủa của người bị đóng đinh đang hấp hối. Nhưng,cũng như loại hương mộc tiết hương thơm ra cho cả chiếc rìu hạ chúng,Thánh Tâm trên cây Tình Thương tự đáy lòng đã thoát toả ra một lời nguyện thầm thỉ đầy êm ái về sự dung thứ và xá tội “Lạy Cha xin tha thứ cho họ vì họ chẳng hiểu biết việc họ làm”. Tha thứ,vì họ không biết. Giả mà họ biết tội họ phạm kinh tởm đến đâu khi lên án chết cho Đấng ban sự sống;giả mà họ biết rằng họ đang đổ máu Đức Giêsu dùng để cứu chuộc họ,giả mà họ biết như thế thì đời nào họ lại được tha ? Giả mà ta biết tội lỗi khủng khiếp dường nào mà cứ phạm tội;giả mà ta biết Chúa yêu ta đến nổi Nhập Thể Làm Người mà ta vẫn khước từ không chịu đón nhận và tin yêu; giả mà ta thấu hiểu tình yêu tha thứ trong Bí Tích Giải Tội thật là vô biên mà không chịu xưng tội; giả mà ta biết Bí Tích Thánh Thể hàm chứa một sức sống vô song mà cứ khước từ không chịu ăn Mình Thánh và uống Máu Thánh. Giả mà ta biết rõ những điều ấy,ta sẽ bị hư mất.Ta không thấu hiểu lòng lành Thiên Chúa,đó là lý lẽ độc nhất rộng thứ cái tội chưa chịu làm thánh của ta. Chúa không chấp nhất,nhưng lại tha thứ,thì ta cũng phải tha thứ cho nhau.( x Mt 6,12 ;6,15;18,23-35).

  1. Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng(Lc 23,43)

Kẻ tử tội bị đóng đinh bên hữu ngoảnh đầu nhìn sang đọc được tấm bảng: Giêsu Nazareth,Vua dân Do thái.Trong tâm hồn người đạo chích này dậy lên những tâm tình nồng nàn. Một tia sáng từ Thập giá chiếu ra làm rực sáng đức tin của anh nên anh đã dâng lời khẩn cầu: Xin Ngài nhớ đến con khi Ngài về nơi vương quốc. Chính lúc tử thần rình rập bên cạnh,chỉ có một người nhìn biết Chúa Kitô là minh chủ một vương quốc. Chúa đã cứu chữa anh khi phán: Hôm nay, con sẽ ở trên thiên đàng cùng với Ta. Trước đó đã chẳng có ai được hứa ban như vậy, cho dù là Môisen hay Gioan, Mađalêna hay cả Đức Maria. Người đạo chích đã gõ cửa, đã cầu xin chỉ có một lần, anh đã dám làm tất cả nên đã được tất cả. Liệu có thể nói được rằng: Người trộm này đến chết vẫn còn hành nghề đạo chích, vì đến lúc chết, còn ăn trộm được thiên đường ? Lòng từ ái của Chúa đối với người trộm gợi nhớ lời sấm ngôn: Tội lỗi con có thắm như hồng điều, cũng sẽ nên trắng sạch như tuyết, có thẫm như vải đỏ, cũng sẽ mịn mướt như lông chiên. Ơn dung thứ Chúa ban cho người trộm thống hối càng làm chúng ta hiểu hơn lời Chúa phán:” Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi kẻ tội lỗi …không phải người mạnh khoẻ nhưng người bệnh tật mới cần đến lang y …một người tội lỗi thống hối làm cho cả thiên đường vui mừng hơn là chín mươi chín người công chính không cần phải thống hối.”. Người trộm biết sám hối ăn năn tiêu biểu cho thế giới dân ngoại tin và tuyên xưng Đức Giêsu là Vua. Miễn là con người biết sám hối,Thiên Chúa luôn bao dung và từ ái.

3 . Thưa Bà, đây là con Bà (Ga 19,26)

Những lời Sứ thần Gabriel nói tại Nazareth :”Kính chào Bà đầy ân phúc” ( Lc 1,28) cũng soi sáng cho khung cảnh Calvê. Biến cố Truyền tin báo hiệu một khởi đầu,Thánh giá đánh giá một kết thúc.Trong cảnh Truyền tin, Mẹ Maria trao ban bản tính loài người cho Con Thiên Chúa trong cung lòng Mẹ; dưới chân Thánh giá,nơi Thánh Gioan,Mẹ đón nhận toàn thể nhân loại vào tâm hồn Mẹ. Là Mẹ Thiên Chúa ngay từ lúc đầu tiên của biến cố nhập thể, Mẹ đã trở thành mẹ của loài người trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu, con Mẹ. Dưới chân Thánh giá, Mẹ đón nhận từ Chúa Giêsu như một lời truyền tin thứ hai : “Hỡi Bà này là con Bà” ( Ga 19,26). Lời truyền tin thứ nhất do Sứ thần đem đến, lần truyền tin thứ hai lại do chính Chúa phán ra. Lời truyền tin thứ hai long trọng, Đức Giêsu, Ngôi Lời truyền tin cho Mẹ mình, công bố vai trò vai trò Đức Maria là Mẹ Nhân Loại, Mẹ Giáo Hội. Ở gốc cây biết lành biết dữ, Evà đã mất chức làm mẹ loài người.

Ở dưới chân Thánh giá, Đức Mẹ đón nhận chức vị làm Mẹ loài người. Đức Maria là mẹ Thiên ân vì là mẹ của Tác giả ơn thánh.Các con hãy hoàn toàn tín nhiệm phó thác cho Mẹ ! Hãy chiếu toả rạng ngời vẻ đẹp của Chúa Kitô khi cởi mở đón nhận hơi thở của Thánh Linh.

4 .Lạy Thiên Chúa! lạy Thiên Chúa của con ! sao Ngài bỏ rơi con ( Mt 27,46)

Ba Lời Di Ngôn đầu từ thánh giá phán ra được gởi đến các kẻ được Thiên Chúa yêu thương theo thứ tự : kẻ thù địch, kẻ tội lỗi, người lành thánh. Hai lời thứ tư, thứ năm biểu lộ sự đau khổ của Thiên Chúa làm người trên thánh giá. Lời thứ tư biểu lộ sự khốn khổ của con người bị Thiên Chúa phế bỏ. Lời thứ năm nói lên nổi cay cực của Thiên Chúa bị con người chối bỏ. Ngày Thứ Sáu Chịu Nạn là ngày đen tối nhất trần gian.Bóng tối bao trùm trái đất in mờ Thập Giá Đức Kitô trên nền trời đen thẳm.Mọi sự đều tối tăm mịt mùng! Ngài từ bỏ Mẹ hiền và môn đệ yêu dấu. Thiên Chúa xem ra cũng như từ bỏ Ngài luôn. “Eli ! Eli ! Lamma sabacthani ! Chúa ơi ! Chúa ơi ! sao Chúa bỏ con ? ! Tiếng kêu than này, trong ngôn ngữ huyền nghĩa Do thái tiết diễn một mầu nhiệm kinh khủng về sự kiện : Thiên Chúa từ bỏ Thiên Chúa. Chúa Con gọi Chúa Cha là Thiên Chúa.Khác hẳn lời cầu ngày nào Ngài dạy :”Lạy Cha chúng con ở trên trời”. Chúa Cha cũng có vẻ như ngoảnh mặt đi,khi Ngài hứng chịu lấy tội lỗi trần gian.Ngài cam chịu nổi đớn đau bi thống đó vì con người để chúng ta hiểu rằng : Khi con người mất Thiên Chúa thì tình trạng khủng khiếp chừng nào.

5 . Ta Khát ( Ga 19,28)

Đây là lời ngắn nhất trong bảy Di Ngôn, chỉ vỏn vẹn một tiếng Ta khát.Tận đáy tâm hồn Chúa chỉ bật ra một nổi thao thức:Ta Khát . Hiện tượng khát nước là sự kiện bình thường của một người tử tội đóng đinh thập giá, do việc người đó mất quá nhiều máu trong người. Nhưng ở đây, chắc chắn Gioan không có ý nói tới điều đó mà nói đến nghĩa thiêng liêng. Đức Giêsu khao khát thông truyền hiệu quả cuộc khổ nạn của Người là Ơn cứu độ cho tất cả mọi người và như thế thì lời Kinh thánh mới nên trọn.Ý nghĩa của lời Ta Khát gắn liền với việc “để lời kinh thánh được nên trọn”. Lời Kinh Thánh có thể hiểu là Lời các Tiên tri trong Cựu ước loan báo về sứ mạng Cứu thế của Đấng Messia; Lời Kinh Thánh còn có thể hiểu là chính công việc cứu thế của Đức Giêsu. Vì thế, Đức Giêsu biết rằng sứ mạng cứu thế của Người đã được thi hành trọn vẹn và đầy đủ; kể từ nay bắt đầu giai đoạn mới của lịch sử cứu độ, con người sẽ lãnh nhận hiệu quả do cuộc khổ nạn người đem đến thì Ngài nói : Ta Khát. Trong Phúc âm Gioan, từ ngữ “khát” thường chỉ nguyện vọng sâu xa của con người khát mong những hồng ân của Thiên Chúa vào thời Đấng Messia “Ai uống nước Ta ban thì đời đời sẽ không còn khát nữa,nước Ta ban sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,13); ” Ai đến với Ta sẽ không hề đói,và kẻ tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ” ( Ga 6,35); ” Ai khát hãy đến với Ta,ai tin vào ta hãy đến mà uống ! Như kinh thánh đã nói : Tự lòng Ngài sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” ( Ga 7,37). Như thế Di Ngôn “Ta Khát” chính là nguyện vọng sâu thẳm của Chúa muốn mọi người lãnh nhận ơn cứu độ mà cuộc khổ nạn Ngài đem đến cho thế gian.

6 . Mọi sự đã hoàn tất ( Ga 19,30)

Mọi sự là sự gì ? thưa là Thánh ý Chúa Cha. Lật trong sách Tin mừng rất nhiều chỗ nói “để ứng nghiệm lời Thiên Chúa,để lời các Ngôn sứ được hoàn tất”.Trong cuộc đời dương thế, Đức Giêsu luôn thực thi Thánh ý. Và giờ đây trong giây phút cuối đời trên thập giá, hình như Đức Giêsu làm bảng tổng kết : mọi sự Chúa Cha đã hoạch định, Ngài đã chu toàn, mọi sự đã hoàn tất từ ngày lọt lòng mẹ tại Bêlem cho đến nghiêng đầu trước khi chết. Công cuộc cứu độ trần gian đã được thể hiện. Đây là lời Ngài trình lại với Chúa Cha và đây cũng chính là lời loan báo sự chiến thắng của Ngài.Quyền lực bóng tối đã giết được thân xác Ngài,vị vua Messia. Nhưng qua cái chết này, ơn cứu độ được trao ban cho mọi người và giải thoát con người khỏi vòng cương toả của bóng tối, tội lỗi, satan. Đúng như Thánh Gioan đã suy niệm “Sự sáng đã rạng trong tối tăm và tối tăm đã không triệt được ánh sáng’ ( Ga 1,5).

  1. Lạy Cha ! con phó thác linh hồn con trong tay Cha ( Lc 23,46)

Lời thứ sáu là lời biệt ly trần gian. Lời thứ bảy là lời khải hoàn thiên quốc. Chúa Kitô, Đấng từ trời xuống,đã chu toàn nhiệm vụ, hoàn thành cuộc hành trình, nay lại trở về cùng Chúa Cha để tỏ niềm tôn phục Đấng đã phái Ngài đi thực thi công cuộc cứu chuộc thế gian: “Lạy Cha,Con phó thác linh hồn con trong tay Cha” Ba mươi năm trước, Ngài từ bỏ Nhà Cha để đến một xứ xa lạ là trần gian. Ở đó, Ngài sống cuộc đời tiêu xài không kể mức độ nào cả. Quyền năng và sự khôn ngoan được Ngài phân phát vô số kể. Ân sủng và lòng ái tuất được Ngài chuẩn ban cách quãng đại. Đến giờ sau hết, Ngài còn ban luôn cả bản thể của mình cho kẻ tội lỗi. Và Ngài đã đổ đến giọt máu cuối cùng để làm giá cứu chuộc thế gian.Trên đường về Nhà Cha, từ Thập giá Ngài dâng lên Chúa Cha lời nguyện hoàn hảo nhất “Lạy Cha, con phó thác linh hồn con trong tay Cha”. Sau khi đã hạ mình xuống ở giữa những con cái hư mất của nhà Ít-ra-en, Ngài đã phung phí thời giờ của Ngài với những người đau ốm tật nguyền, với những người tội lỗi. Ngay cả với những gái điếm, Ngài cũng hứa cho họ vào Nước của Cha Ngài. Sau khi đã bị đối xử như một tên tham ăn, như một bợm nhậu, như một người bạn của bọn thu thuế và tội lỗi, như một người Sa-ma-ri-a, một người bị quỷ ám, một kẻ phạm thượng; sau khi đã hiến dâng tất cả mọi sự, ngay cả thân xác và máu Ngài; và khi linh hồn Ngài cảm thấy một nỗi buồn sâu xa, hấp hối, phiền sầu; sau khi đã đi tới đáy của sự tuyệt vọng, Ngài muốn mặc lấy nơi mình sự bị bỏ rơi bởi Cha, lìa xa ngưồn Nước Hằng Sống, Ngài đã kêu lên từ Thánh Giá nơi Ngài bị đóng đinh: “Ta khát”. Ngài đã yên nghỉ trong bụi đất và bóng đêm sự chết. Ngài đã mang lấy tội lỗi của chúng ta, Ngài đã gánh hết những đau thương của chúng ta. Phó thác linh hồn cho Chúa Cha, thân xác Ngài trao trong tay Đức Mẹ.Từ chén cứu chuộc những giọt máu cuối cùng nhỏ xuống nhuộm đỏ cây thập giá. Đây cũng là giờ bi thảm nhất của Đức Mẹ.Có nổi đớn đau nào hơn của nổi đớn đau của người Mẹ ôm xác người con yêu dấu? Đức Giêsu sinh ra trong vòng tay mẹ hiền, đến chết vẫn ở trong vòng tay Mẹ từ ái.

Chúa Giêsu đã để lại sứ điệp cuối cùng: Bảy Di Ngôn trên thánh giá.Trong cao điểm mầu nhiệm cứu độ, Chúa đã mạc khải tình yêu hiến tế qua Bảy Di Ngôn do lòng yêu thương. Những lời này vang dội qua mọi thời đại, xuyên qua tâm trí nhân loại, cải hoá và dẫn đưa bao linh hồn về với Chúa. Calvê nơi hành hình tội nhân giờ đây đã trở thành ngọn núi đầy hấp dẫn lôi cuốn thế giới đến chiêm ngắm và đón nhận tình yêu của Đấng chịu đóng đinh.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

( Viết theo cuốn:Trên đỉnh cao thập giá của ĐGM Fulton Sheen)

Nguon: Tonggiaophanhanoi


 

CHƯA RỜI TIỆC, ĐÃ RỜI TÌNH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Rabbi, chẳng lẽ con sao?”.

“Hai tình yêu đã làm nên hai đô thị: yêu mình đến khinh Chúa; và yêu Chúa đến quên mình!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không đặt chúng ta trước một hành động bộc phát, nhưng trước một chuyển động trượt dần của con tim: khi tình yêu bắt đầu đổi hướng! Giuđa ‘chưa rời tiệc’, nhưng ‘đã rời tình’: “Rabbi, chẳng lẽ con sao?”.  

Một chi tiết rất kín kẽ nhưng lại thật thâm trầm. Các môn đệ hỏi, “Thưa Ngài, có phải con không?”, còn Giuđa – “Thưa Rabbi, có phải con không?”. Không chỉ khác cách xưng hô, nhưng là một “chuyển trục tương quan”. “Ngài” là “Chúa”, Đấng tôi thuộc về; “Rabbi” chỉ còn là người tôi học hỏi. Khi Chúa không còn là Chúa mà chỉ còn là “Thầy” của tôi, thì sự rạn nứt đã chớm nở – một sự đổi hướng âm thầm, nhưng quyết định. Tội không bắt đầu ở ba mươi đồng bạc, mà bắt đầu ở cách xưng hô. ‘Chưa rời tiệc’, Giuđa ‘đã rời tình!’. “Sự băng hoại bắt đầu từ những điều rất nhỏ!” – Phanxicô.

Chi tiết “chấm chung một đĩa” cũng không phải là một cử chỉ ngẫu nhiên. Văn hoá Do Thái coi đó là dấu chỉ của sự gần gũi, sự thân tình sâu sắc nhất được chia sẻ trong một bàn ăn. Người cùng chấm là người được đón vào vòng thân mật, không còn khoảng cách. Thế mà chính trong dấu chỉ hiệp thông ấy, sự phản bội lại đâm chồi. Nghịch lý ở đây là Giuđa không phản bội từ xa, nhưng từ chính nơi thiết thân nhất; không ở ngoài bàn ăn, nhưng ngay trong cử chỉ yêu thương nhất. Khi hiệp thông bị rạn từ bên trong, thì cả dấu chỉ đẹp nhất cũng có thể trở thành nơi khởi đi của sự đổ vỡ. “Sự băng hoại của điều tốt nhất là điều tồi tệ nhất!” – Tôma Aquinô.

Vậy mà trình thuật không hề ghi một cử chỉ loại trừ nào từ phía Chúa Giêsu. Ngài không rời bàn, vẫn trao bánh, vẫn để Giuđa ở lại đến cùng. Đây không chỉ là bao dung, nhưng còn là một mặc khải: Thiên Chúa không rút lại hiệp thông! Ở đây, nghịch lý được đẩy lên: ở lại bàn không đồng nghĩa với ở lại trong sự hiệp thông. Đã có một khoảng cách vô hình mở ra ngay giữa sự gần gũi hữu hình. Vì thế, điều đáng sợ không phải là rời bàn, nhưng là ở lại bàn mà không còn thuộc về. Gần Chúa – mà lòng đã quá xa – ‘chưa rời tiệc, đã rời tình!’. “Họ có Thiên Chúa trên môi, nhưng không có Ngài trong lòng!” – Gioan Kim Khẩu.

Anh Chị em,

Trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đang lập lại điều ấy: trao chính mình, cả khi biết có những trái tim lạnh dần và đang rạn từ bên trong; những chọn lựa quay lưng lạnh lùng. Nhưng Ngài không rút lại bánh, không đóng cửa bàn tiệc – “Hãy cầm lấy mà ăn!”; và câu hỏi ngày nào vẫn vang lên: “Chẳng lẽ con sao?”. Bạn và tôi sẽ thưa “Ngài” hay “Rabbi?”. Không phải để tuyệt vọng, nhưng để nhận ra: phản bội không bắt đầu bằng một hành động lớn, mà bằng một dịch chuyển nhỏ trong tim – khi Giêsu không còn là “Chúa” của tôi nữa! “Đối nghịch của đức tin không phải là nghi ngờ, nhưng là dửng dưng!” – Elie Wiesel.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành những trượt dần âm thầm làm con xa Chúa; giữa bàn tiệc đời mình, xin đừng để con đổi cách xưng hô mà không hay!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần Thánh

Con người phải ra đi như Kinh Thánh đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.   Mt 26,14-25

14 Khi ấy, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, đi gặp các thượng tế 15 mà nói : “Tôi nộp ông Giê-su cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.” Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc. 16 Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su.

17 Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giê-su : “Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu ?” 18 Người bảo : “Các anh đi vào thành, đến nhà một người kia và nói với ông ấy : “Thầy nhắn : thời của Thầy đã gần tới, Thầy sẽ đến nhà ông để ăn mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ của Thầy.” 19 Các môn đệ làm y như Đức Giê-su đã truyền, và dọn tiệc Vượt Qua.

20 Chiều đến, Đức Giê-su vào bàn tiệc với mười hai môn đệ. 21 Đang bữa ăn, Người nói : “Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” 22 Các môn đệ buồn rầu quá sức, lần lượt hỏi Người : “Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao ?” 23 Người đáp : “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy. 24 Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người : thà nó đừng sinh ra thì hơn !” 25 Giu-đa, kẻ nộp Người cũng hỏi : “Ráp-bi, chẳng lẽ con sao ?” Người trả lời : “Chính anh nói đó !”


 

CÀNH LÁ PHẢN BỘI (Mt 26,14-27,66) 

Một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của danh hoạ Rembradt, người Hoà Lan, sống vào thế kỷ 17, đó là bức tranh “Ba Thập Giá”.  Nhìn vào tác phẩm, ai cũng bị thu hút ngay vào trung tâm: giữa thập giá của hai người bất lương, thập giá của Chúa Giêsu trổi lên một cách ngạo nghễ.  Dưới chân thập giá là cả một đám đông mà gương mặt nào cũng biểu lộ hận thù oán ghét… Tác giả như muốn nói rằng: không trừ một người nào mà không dính líu vào việc đóng đinh Chúa Giêsu.

 Nhìn kỹ vào đám đông, người ta thấy có một gương mặt như mất hút trong bóng tối, nhưng một vài nét cũng đủ cho các nhà chuyên môn chuẩn đoán rằng đó chính là khuôn mặt của danh họa Rembrandt, tác giả của bức tranh này.

 Tại sao giữa đám đông của những kẻ đằng đằng sát khí khi tham dự vào cuộc thảm sát Chúa Giêsu, Rembradt, nhà danh họa lại chen vào khuôn mặt của mình?

 Câu trả lời duy nhất mà người ta có thể đưa ra để giải thích về sự hiện diện của tác giả giữa đám người lý hình: đó là ý thức tội lỗi của chính ông.  Rembrandt muốn thú nhận rằng: chính tội lỗi của ông đã đóng góp vào việc treo Chúa Giêsu lên thập giá.  Và qua sự có mặt của ông, tác giả cũng muốn nói với mỗi người chiêm ngắm bức tranh rằng, họ cũng dự phần vào việc đóng đinh Chúa Giêsu.

 Anh chị em thân mến,

Dưới cái nhìn lịch sử thì quả thực cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là hành động tội ác của những người Do Thái và La Mã cách đây hai ngàn năm.  Phêrô đã chối bỏ Ngài.  Philatô đã rửa tay để chối bỏ trách nhiệm của ông.  Những người Do Thái đã cuồng tín kêu gào đóng đinh Ngài vào thập giá.  Các binh sĩ La Mã đã đánh đập, hành hung Ngài và cuối cùng treo Ngài lên thập giá.

 Nhưng dưới cái nhìn của người có niềm tin, thì cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một mầu nhiệm.  Mầu nhiệm bởi vì chúng ta không thể hiểu được tại sao Con Một Thiên Chúa đã phải trải qua một thân phận đớn đau như thế?  Mầu nhiệm, bởi vì một cách nào đó, người có niềm tin cũng cảm thấy mình đã thực sự tham dự vào việc đóng đinh ấy.  Chúng ta tuyên xưng rằng Ngài đã chịu đóng đinh vì chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, nghĩa là chính do tội lỗi của chúng ta mà Ngài đã phải bị treo trên thập giá.  Tội lỗi của chúng ta ngày này, cho dù cách xa hai ngàn năm, vẫn là một chối bỏ, một tiếng reo hò, một xỉ vả hoặc chính là một cái đinh đóng vào thân thể Ngài…

 Thử hỏi, nếu tôi là người đương thời có liên quan đến vụ án của Chúa Giêsu, tôi sẽ đứng trong nhóm người nào và với thái độ nào?

 Phải thú nhận rằng, tôi không dễ gì làm được như ông Simon thành Syrênê đã vác đỡ thập giá Chúa Giêsu.  Nhưng cũng đừng vội quả quyết rằng, tôi không thể đứng về phía đám quần chúng đả đảo Chúa, không thể là Phêrô chối Chúa, hoặc là nhóm tông đồ trốn chạy, hoặc là Philatô lên án người vô tội, hoặc là đám quân lính đánh đòn và đóng đinh Chúa.  Trái lại, kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy rõ ràng tôi rất yếu đuối, dễ đứng về phe kẻ mạnh thế, không dám can đảm bênh vực công lý và dễ dàng trung thành với Chúa trên môi miệng cũng như khi mọi sự đều xuôi chảy, nhưng lại phản bội Chúa dễ dàng trong hành động cụ thể và khi gặp nghịch cảnh, tương tự hành động của Giuđa!  Chúng ta không ai vô tội trước cái chết của Con Thiên Chúa. Ngài vẫn còn hấp hối cho đến ngày tận thế.

 Thưa anh chị em, với Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay, Tuần Thánh đã bắt đầu.  Đức Giêsu vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua đem lại ơn cứu độ cho loài người.  Bề ngoài, cuộc tiến vào thành Giêrusalem giữa tiếng tung hô của đám đông quần chúng nô nức phất cao cành lá “hoan hô Con Vua Đavit” có vẻ một cuộc toàn thắng vang dội.  Thực ra, đây là một cuộc mở màn Thương Khó mỉa mai nhất và có lẽ cũng là giai đoạn bi thương nhất của cuộc Thương Khó.  Bởi vì Chúa biết rõ rằng trong niềm phấn khởi chóng qua của quần chúng đã chất chứa một sức phản bội sẽ bùng nổ dữ dội trước mặt Tổng trấn Philatô, trong tiếng kêu gào và những bàn tay nắm chặt đưa lên: “Đả đảo!  Đóng đinh nó đi!  Đóng đinh nó vào thập giá!”.

 Rước lá đi theo Chúa Giêsu trong vài giờ không phải là một điều khó khăn lắm.  Đi theo Chúa giữa lúc Ngài được tung hô chúc tụng là điều dễ dàng.  Nhưng tiếp tục đi theo Ngài khi Ngài đã bị mọi người bỏ rơi và lên án, điều đó khó hơn nhiều.  Tin Mừng không thấy nói đến một ai dám lên tiếng bênh vực cho Chúa Giêsu vào lúc đó, mà chỉ thấy lên tiếng đòi phóng thích cho tên đạo tặc Baraba.  Nếu Kitô hữu được định nghĩa là người đi theo Chúa Giêsu, thì chắc chắn chúng ta sẽ có lúc nghiệm thấy nỗi khó khăn khi phải đến nơi mà mình không muốn đến.  Con đường bước theo Chúa có lúc vui, lúc buồn.  Chúng ta phải có mặt ở trong đám đông hoan hô Chúa khi vào thành đô Giêrusalem và cũng không được vắng mặt khi Ngài hấp hối trên thập giá.

 Trong những ngày thánh này, chúng ta phải tìm thời giờ đọc lại chậm rãi cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.  Hãy để cho tâm tình, lời nói và hành động của Chúa Giêsu thấm nhuần và biến đổi chúng ta. Trong cuộc khổ nạn của Chúa, chúng ta bắt gặp rất nhiều tình huống tăm tối của đời thường: vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết… Nhưng trên hết, chúng ta bắt gặp một tình yêu.  Tình yêu vô cùng lớn của Đức Giêsu đối với Chúa Cha và nhân loại.  Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau có giá trị cứu độ.

 Càng suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ thấy mình càng yêu thánh giá của Chúa hơn, yêu thánh giá của mình hơn và kính trọng thánh giá của người khác hơn.

 Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’ của – R. Veritas

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

THINH LẶNG LÀ MỘT CÂU TRẢ LỜI – Phaolô Nguyễn Văn Cầu C.P.

Phaolô Nguyễn Văn Cầu C.P.

 Cuộc sống con người đôi lúc quá hối hả, ồn ào và bận rộn với mọi nhu cầu của cơm-áo-gạo-tiền và nhiều thứ khác, nên lắm lúc người ta chẳng còn giờ để lặng, để lắng và để nghe tiếng lòng mình.  Lắng nghe để thẩm, để thấu và để đi vào chiều sâu nội tâm của cõi lòng.  Lặng để chìm sâu vào và để tìm ra ý nghĩa hiện hữu của thân phận con người.  Người ta thường đòi hỏi mình phải được nói, được bày tỏ và được nói nhiều hơn để nghe. 

Ta đòi hỏi, nói phải có người đáp, hỏi phải có câu trả lời, phải có phản hồi thì mới thỏa mãn con người bản năng tự nhiên của mình.  Nhiều lúc người ta bị cuộc sống lôi cuốn vào những vòng xoáy của sự hấp dẫn bên ngoài, lao vào những nhộn nhịp của hào nhoáng trước mắt và rồi, khi không đáp ứng được những thỏa mãn đó, người ta dễ mất đi niềm tin vào cuộc sống, đánh mất đi giá trị và ý nghĩa của sự hiện hữu.  Người ta dễ đi vào ngõ cụt và nhìn cuộc đời với cặp mắt tiêu cực, phủ đầy cám dỗ và không lối thoát.  

Khác với con người, Thiên Chúa là Đấng yêu thích sự cô tịch và Ngài lại nói trong sự thinh lặng.  Sau những lần bận rộn với sứ vụ của mình, Đức Giêsu thường lui vào trong cô tịch, lên núi một mình để thầm thì, chuyện trò, để nguyện cầu cùng Thiên Chúa Cha.  Chính nơi sự thinh lặng đó, Ngài thường được kết hiệp một cách sâu xa với Chúa Cha và học lấy thánh ý Cha cho sứ mạng của mình. 

Với thân phận con người yếu đuối và đầy những lo toan, đôi lúc ta muốn chìm vào thinh lặng đôi chút, nhưng bên trong ta, tâm hồn ta còn đầy những vướng mắc, đầy những sóng gió đang vô vập bởi những lo lắng và hoang mang, của những sợ hãi và vô vọng.  Ta chưa thể lặng để lắng được, sóng gió trong cõi lòng ta vẫn còn cuồn cuộn của lối sống tìm kiếm để lấp đầy cho bản năng, tâm hồn ta vẫn còn ồn ào với những toan tính của cuộc sống tạm bợ này, khiến sóng lòng vẫn chưa thể ngưng và lặng được. 

Hãy cùng Giêsu trong chiều thứ Sáu Tuần Thánh này, đi vào một chiều sâu cô tịch và lặng chìm với Ngài trên đỉnh đồi Canvê hoang vu.  Lặng với Ngài để chiêm ngắm tình yêu và khám phá cùng đích của phận người là gì.  Dưới chân Thập Giá, hãy ghì chặt lấy chân Chúa Giêsu đang rỉ từng giọt máu, để kiếm tìm câu trả lời cho chính mình.  Ngài vẫn ghim chặt thân mình trên thập giá trong một sự tĩnh lặng tưởng chừng như vô vọng, nhưng kỳ thực “THINH LẶNG LÀ MỘT CÂU TRẢ LỜI” vĩ đại nhất của Thiên Chúa. 

Thiên Chúa nơi Đức Giêsu trên đồi Gôngôtha ấy, Ngài vẫn thinh lặng đến tột cùng, tưởng chừng như hoàn toàn bất lực trước sự dữ.  Trên đồi hiu mông quạnh đó, không một tiếng than khóc ỉ ôi thương tiếc Con Thiên Chúa vô tội, nhưng là sự thinh lặng đến nghẹt thở của sự vô ơn và trở mặt của con người.

 Nhưng sự thinh lặng của Thiên Chúa đó, không hề mở miệng than trách Thiên Chúa Cha và cũng không hề mở miệng lên án sự bất nhân, bất công và tội lỗi của con người. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để trao ban ơn tha thứ, van nài Chúa Cha tha thứ cho con người “vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).  Là sự thinh lặng để Thiên Chúa cảm thông, chia sẻ phận người với nhân loại.  Là sự thinh lặng sâu thẳm để từng giọt máu giọt nước từ thánh thể Ngài thấm sâu vào tận cõi lòng của nhân gian, là để gột sạch và tẩy rửa mọi ô nhơ, tội lỗi của con người.  

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để chạm vào từng nỗi đau, từng vết thương đang rên rỉ than khóc của nhân loại, là để từng giọt nước mắt còn lăn trên gò má Ngài xoa dịu những nóng rát, cồn cào trong cõi lòng con người và để chữa lành những thương đau của kiếp người. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để máu và nước từ cạnh sườn Con Thiên Chúa trào tràn dội xuống và thấm vào lòng nhân loại, để xoa dịu những cơn đói cơn khát đang quằn quại rên siết và để ân sủng Thiên Chúa khỏa lấp sự trống rỗng trong cõi lòng con người. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để trở nên sức mạnh cho ơn cứu độ và để giải thoát con người khỏi cảnh trầm luân của sự chết, mang lại sự sống và hạnh phúc vĩnh cửu cho nhân loại. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để mở ra một cánh cửa mới, một lối đi mới cho con người, là khai thông ngõ cụt cho con người và để con người được tìm đến cùng đích là hạnh phúc cứu độ. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là từ cao trên Thánh Giá Ngài với xuống và đoái trông đến thân phận hèn yếu, tội lỗi của con người.  Là dang cánh tay ôm lấy trọn vẹn kiếp người và để cho con người được đi vào, được nên một và được kết hiệp vào thần tính với Thiên Chúa. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để cho Thiên Chúa có cơ hội và tự do đến với con người, chạm lấy trọn vẹn cùng khổ của con người và để con người được cảm nếm sự êm ái, dịu ngọt của Thiên Chúa. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để con người được lên núi và đi vào cô tịch, thoát ra những ồn ào của thế sự và buông bỏ những thứ không cần thiết, để làm no thỏa cơn đói sự thánh thiện của nhân loại. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là giúp con người lộ rõ được bản chất và sự trần trụi của chính mình, và cảm nhận được lòng thương xót bao la của Thiên Chúa.  Để con người được sống vô biên vô diệt và đạt tới sự tự do bất diệt của chính Thiên Chúa. 

Thinh lặng của Thiên Chúa, là để giao hòa Trời Cao với Đất Thấp, để nối kết lại tương quan giữa Trời với Đất-tương quan bị phá đổ bởi Ađam cũ và nhờ Ađam Mới, kéo Trời Cao xuống gần với Đất hơn, để Trời nhập thể và nhập thế, sống đồng kiếp phàm nhân với con người. 

Ngước nhìn thập giá, và Ngài vẫn lặng thinh – đó là câu trả lời cho mỗi chúng ta.  Ngài muốn ta chìm đắm trong cô tịch, cúi sâu lòng mình để khám phá giá trị và ý nghĩa qua từng biến cố của cuộc sống.  Ngài muốn ta học lấy sự thinh lặng và học cách đón nhận mọi sự trong thinh lặng để tìm đến cùng đích của kiếp người.  Bởi thinh lặng không có nghĩa là vô nghĩa, vô vọng; không là thất vọng, thất bại; không là chấm hết, kết thúc; nhưng là câu trả lời mở ra cho ta vô vàn lối thoát, cho ta sức mạnh để lớn lên trong ân sủng với Thiên Chúa. 

Trong những nghịch cảnh tưởng chừng như bế tắc nhất, nghiệt ngã nhất, tuyệt vọng nhất mà con người phải đối diện, thì thinh lặng dường như là câu trả lời ý nghĩa hơn cả cho mỗi chúng ta.  Mọi sự rồi sẽ qua đi, chỉ còn lại Chúa đó, Ngài vẫn ở đó và kiên trì chờ đợi ta.  Một Giêsu trần trụi trên thập giá vẫn âm thầm và lặng lẽ tiếp bước trong ta.  Lặng thinh trên thập giá, Đức Giêsu Kitô muốn ta tiếp tục khám phá chính mình, khám phá và cảm nếm sự ngọt ngào, tươi mát hòa lẫn sự bình an sâu thẳm trong thinh lặng.  Ngài mời gọi ta tiếp tục đi tìm ý nghĩa câu trả lời “Thinh Lặng” cả hôm nay, ngày mai và suốt cuộc đời ta. 

Cùng với Ngài bước lên đồi Gôngôtha của đời mình trong thinh lặng, để trên đỉnh đồi, ta được Ngài biểu lộ vinh quang phục sinh của Ngài cho cuộc đời ta. 

Phaolô Nguyễn Văn Cầu C.P.

From: Langthangchieutim