TÌNH YÊU CAO VỜI – Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Gioan (3,16-18) Lễ Chúa Ba Ngôi)

 Khát vọng cháy bỏng nhất của tổ phụ Áp-ra-ham là có con nối dõi tông đường. Sau nhiều năm trời mòn mỏi đợi trông, mãi đến trăm tuổi, Cụ Áp-ra-ham mới được diễm phúc có con nối dõi. I-xa-ác chào đời đem lại niềm vui vỡ òa cho cả gia đình. I-xa-ác là lẽ sống, là gậy chống đỡ tuổi già, là tương lai cho giống nòi và là niềm hy vọng của Cụ Áp-ra-ham (Sáng thế 22, 1-18).

Thế mà, oái oăm thay, Thiên Chúa truyền cho Cụ sát tế đứa con quý yêu để tế lễ cho Ngài. Trời đất như quay cuồng sụp đổ khi Cụ Áp-ra-ham nghe lệnh truyền của Thiên Chúa.

Phải tự tay sát tế đứa con một rất đỗi yêu dấu là nỗi đau thương làm tan nát cõi lòng, thế nhưng vì tình thương và lòng thần phục đối với Thiên Chúa, Cụ Áp-ra-ham chấp nhận hy sinh.

 Tuy nhiên, Thiên Chúa chỉ thử lòng Cụ Áp-ra-ham thôi. Ngài không nỡ để cho một người cha già phải gánh chịu một nỗi đau thương lớn lao đến thế. 

 Trao ban Người Con Một 

Thế nhưng ít ai ngờ có một người Cha khác đã thể hiện một hy sinh lớn lao hơn rất nhiều, chỉ vì tình yêu thương vô bờ dành cho nhân loại. Đó là Thiên Chúa Cha. 

 Vì quá yêu thương nhân loại lỗi lầm, vì không muốn cho muôn người phải lâm vào cảnh trầm luân muôn đời vì tội lỗi ngút ngàn của họ, Thiên Chúa Cha đã hiến tế Người Con Một yêu dấu của mình, cho Con Một chết thay cho nhân loại lầm than và để cho những ai tin vào Con của Ngài thì được sống muôn đời. Chúa Giê-su xác nhận điều nầy như sau:

 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.  Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Ngài, mà được cứu độ” (Gioan 3, 16-17).

 Tuyệt vời thay!

 Xưa kia, Thiên Chúa không nỡ để cho I-xa-ác phải chết dưới lưỡi dao oan nghiệt của Cụ Áp-ra-ham, không để cho thân xác của I-xa-ác phải chịu thiêu đốt trên bàn thờ để làm lễ tế cho Thiên Chúa, nhưng đến một thời, Thiên Chúa Cha lại để cho Con Một Ngài, là Ngôi Hai Thiên Chúa, phải chịu đóng đinh, chịu quằn quại đau thương và chịu chết trên thập giá để đền tội thay cho nhân loại và để ban cho muôn dân được sống đời đời. Thiên Chúa đã yêu thế gian như thế đó. Yêu đến nỗi trao ban Người Con Một… 

Người tôi tớ thấp hèn liều mình chết thay cho chủ nhân quyền quý, hay người dân đen cùng khốn chết cho hàng vua chúa cao sang… là điều dễ chấp nhận; đằng nầy Ngôi Hai Thiên Chúa là Chúa Tể trời đất lại hiến thân chết thay cho loài người hèn mọn thì quả là điều vượt quá trí tưởng tượng con người. Chỉ vì quá đỗi yêu thương loài người, Thiên Chúa mới có thể hy sinh đến thế.

 Kính lạy Thiên Chúa Ba Ngôi,

 Chúa Cha yêu thương chúng con đến nỗi hiến ban Người Con Một xuống thế cứu sống chúng con; Chúa Con đã yêu thương chúng con đến nỗi hiến dâng cả mạng sống và trao ban cho chúng con  đến giọt máu cuối cùng; Chúa Thánh Thần thông ban sự sống vĩnh cửu cho chúng con.

 Xin cho chúng con đừng thờ ơ hững hờ, vô tâm vô cảm trước tình yêu trời bể ấy nhưng biết đền đáp tình yêu của Chúa bằng cách hiến dâng cuộc sống mình để phụng sự Chúa và đem công sức, khả năng giúp đỡ những người bệnh tật, đau buồn hay gặp khó khăn. Amen.

 Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin mừng Gioan (3,16-18)

16 Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, Nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. 18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

MẶT TIỀN XANH TỐT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Muôn đời sẽ chẳng còn ai ăn trái của mày nữa!”.

Ở Hollywood, có những dãy phố nhìn từ phía trước trông hoàn toàn như thật: ban công, cửa sổ, quán cà phê, khách sạn… Nhưng bước ra phía sau, tất cả chỉ là những tấm phông mặt tiền chống đỡ những khoảng trống.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cũng kể về một cây vả như thế: một thứ ‘mặt tiền xanh tốt’ – rất nhiều lá, nhưng bên trong lại không có trái.

Marcô rất ý tứ khi “kẹp” câu chuyện cây vả vào giữa việc Chúa Giêsu thanh tẩy Đền Thờ – một kiểu Markan sandwich quen thuộc; nghĩa là, cây vả và Đền Thờ soi sáng cho nhau. Điều Chúa Giêsu nguyền rủa không chỉ là một cái cây không sinh trái, nhưng còn là một thứ tôn giáo chỉ còn những tán lá bên ngoài. Đền Thờ đầy người hành hương, đầy nghi lễ và hoạt động, nhưng lại thiếu điều Thiên Chúa tìm kiếm nhất: hoa trái của một đời sống thật. Tắt một lời, có những nơi nhìn rất giống đức tin, nhưng bên trong lại trống sự sống. “Có những Kitô hữu sống như những xác ướp trong viện bảo tàng!” – Phanxicô.

Điều gây ngỡ ngàng là Marcô ghi rất rõ: “không phải là mùa vả”. Nghĩa là, Chúa Giêsu không đến tìm một sản phẩm nông nghiệp đúng mùa, nhưng tìm hoa trái nơi một đời sống giao ước. Trong truyền thống ngôn sứ Do Thái, cây vả thường tượng trưng cho Israel và đời sống tôn giáo của dân Chúa. Vì thế, điều làm cây vả bị nguyền rủa không phải vì nó thiếu lá, nhưng vì nó chỉ có lá. Nó tạo ra dáng vẻ xanh tươi của sự sống, nhưng bên trong lại không có gì để nuôi dưỡng ai. Có những đời sống đạo cũng như thế: ‘mặt tiền xanh tốt’ – lá nhiều, trái ít; rất nhiều hoạt động, rất nhiều mỹ từ tôn giáo đã trở thành sáo ngữ, nhưng không còn hoa trái của hoán cải, của công lý và lòng thương xót.

Phêrô nhắc các tín hữu: “Thời cùng tận của vạn vật gần đến rồi!”. Vì thế, điều quan trọng không còn là vẻ bề ngoài của một đời sống đạo, nhưng là những hoa trái thật của tỉnh thức, yêu thương và phục vụ: “Hãy hết tình yêu thương nhau… Hãy tiếp đón nhau!” – bài đọc một. Vì sẽ đến ngày “Chúa ngự đến xét xử trần gian” – Thánh Vịnh đáp ca. Thiên Chúa đến xét xử mà không bị đánh lừa bởi những tán lá xanh của một “tôn giáo trang điểm” – thuật ngữ của Đức Phanxicô. Trước mặt Thiên Chúa, điều còn lại không phải là những gì con người phô trương, nhưng là trái trăng mà đời sống họ thật sự sinh ra cho người khác.

Anh Chị em,

Đức Kitô không sống bằng lớp “lá” của danh tiếng hay nghi thức, nhưng sinh trái bằng một tình yêu trao hiến đến tận cùng. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là giữ cho đời mình xanh tốt bề ngoài, nhưng là để đời mình thật sự sinh hoa kết trái cho Thiên Chúa và cho người khác. Tắt một lời, điều Thiên Chúa tìm kiếm không phải là lá, nhưng là trái; Ngài chán ngấy thứ tôn giáo ‘mặt tiền xanh tốt’. Henri Nouwen từng cảnh báo, cám dỗ lớn nhất của con người là trốn sau những công thức tôn giáo để khỏi phải đối diện sự thật của đời mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con chỉ sống một thứ tôn giáo trình diễn như phim trường; xin cho con sống một đức tin có thể nuôi dưỡng người khác!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc. Anh em hãy tin vào Thiên Chúa.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 11,11-26

11 Đang khi đám đông reo hò vang dậy, Đức Giê-su tiến vào Giê-ru-sa-lem và đi vào Đền Thờ. Người rảo mắt nhìn xem mọi sự, và vì giờ đã muộn, Người đi ra Bê-ta-ni-a cùng với Nhóm Mười Hai.

12 Hôm sau, khi thầy trò rời khỏi Bê-ta-ni-a, thì Đức Giê-su cảm thấy đói. 13 Trông thấy ở đàng xa có một cây vả tốt lá, Người đến xem có tìm được trái nào không. Nhưng khi lại gần, Người không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi, vì không phải là mùa vả. 14 Người lên tiếng bảo cây vả : “Muôn đời sẽ chẳng còn ai ăn trái của mày nữa !” Các môn đệ đã nghe Người nói thế.

15 Thầy trò đến Giê-ru-sa-lem. Đức Giê-su vào Đền Thờ, Người bắt đầu đuổi những kẻ đang mua bán trong Đền Thờ, lật bàn của những người đổi bạc, và xô ghế của những kẻ bán bồ câu. 16 Người không cho ai được mang đồ vật gì đi qua Đền Thờ. 17 Người giảng dạy và nói với họ : “Nào đã chẳng có lời chép rằng : Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc sao ? Thế mà các người đã biến thành sào huyệt của bọn cướp !” 18 Các thượng tế và kinh sư nghe thấy vậy, thì tìm cách giết Đức Giê-su. Quả thế, họ sợ Người, vì cả đám đông đều rất ngạc nhiên về lời giảng dạy của Người. 19 Chiều đến, Đức Giê-su và các môn đệ ra khỏi thành.

20 Sáng sớm, khi đi ngang cây vả, các ngài thấy nó đã chết khô tận rễ. 21 Ông Phê-rô sực nhớ lại, liền thưa Đức Giê-su : “Kìa Thầy xem : cây vả Thầy rủa đã chết khô rồi !” 22 Đức Giê-su nói với các ông : “Anh em hãy tin vào Thiên Chúa. 23 Thầy bảo thật anh em : nếu có ai nói với núi này : ‘Dời chỗ đi, nhào xuống biển !’, mà trong lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì sẽ được như ý. 24 Vì thế, Thầy nói với anh em : tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý. 25 Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng tha lỗi cho anh em. [26 Nhưng nếu anh em không tha thứ, thì Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng sẽ không tha lỗi cho anh em].”


 

BA NGÔI THIÊN CHÚA – Lm. Mark Link, S.J.

 Lm. Mark Link, S.J. 

Một cô giáo lớp giáo lý giải thích cho học sinh về Thiên Chúa Ba Ngôi.  Sau phần trình bày, cô nói học sinh hãy viết bài trả lời cho câu hỏi này: “Trong Ba Ngôi, em thấy có liên hệ tốt đẹp nhất với Ngôi nào trong thời gian này?”

 Tôi muốn chia sẻ với quý vị câu trả lời của ba học sinh.  Một em trai viết:
Cha em và em không có sự tương quan gì hết.  Em cần một người cha, và vì em không thể nói chuyện với cha em, em quay về với Chúa Cha trên trời.  Nhiều khi em nói chuyện với Người về các vấn đề của em theo cùng một kiểu cách mà em muốn nói với cha em. 

Một em gái viết:
Anh trai của em sống với cha em, còn em sống với mẹ.  Từ khi cha mẹ em ly dị hai năm trước đây, chúng em không còn gặp nhau như trước.  Không bao giờ em nghĩ rằng sẽ phải xa anh mình, nhưng sự thật là như vậy.  Vì vậy, bây giờ, em muốn chấp nhận Đức Giêsu như một người anh. 

Sau cùng, một em trai viết: Mới gần đây em cầu nguyện với Chúa Thánh Thần.  Em sẽ lên đại học vào năm tới, và em không biết sẽ lấy môn gì.  Em hy vọng Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng cho em.  Dầu gì đi nữa, em cầu xin Người hướng dẫn em.

 Tôi thấy những nhận xét này rất thành khẩn.  Tôi cũng nhận thấy rằng điều đó khiến tôi tự hỏi mình, “Trong Ba Ngôi, tôi thấy có liên hệ tốt đẹp nhất với Ngôi nào?”

 Vì vậy, trong ngày lễ Thiên Chúa Ba Ngôi, thật xứng hợp để chúng ta suy nghĩ về mầu nhiệm này và về học thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi.

 Một cách cô đọng, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi nói rằng trong sự hiệp nhất của Thiên Chúa, có ba ngôi riêng biệt: Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần.

 Ngôi Cha là Thiên Chúa, Ngôi Con là Thiên Chúa, và Ngôi Thánh Thần là Thiên Chúa.  Tuy nhiên, không phải ba chúa, mà chỉ có một Chúa. 

Để giúp dân chúng có một ý niệm về Ba Ngôi, Thánh Y Nhã dùng thí dụ của một hợp âm.  Nó được tạo bởi vài nốt nhạc nhưng chỉ có một âm thanh. 

Một văn sĩ tân thời dùng thí dụ nước.  Nó hiện diện trong ba thể khác nhau — hơi, nước đá và mưa, đó là thể hơi, thể đặc, và thể lỏng — nhưng mỗi thể thì giống nhau về phương diện hóa học. 

Nhớ rằng, đây chỉ là những so sánh mờ nhạt, nhưng chúng có thể giúp chúng ta biết quý trọng mầu nhiệm vô cùng cao cả của Ba Ngôi. 

Trong Kinh Thánh, sự nhắc đến Ba Ngôi hiển nhiên nhất là trong câu sau cùng của Phúc Âm Mátthêu, khi Đức Giêsu dậy bảo các môn đệ:Hãy ra đi… đến với mọi người ở khắp nơi và hãy làm cho họ trở thành môn đệ của Thầy: hãy rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.” 

Hình ảnh ấn tượng nhất trong Kinh Thánh về Ba Ngôi là khi Đức Giêsu chịu thanh tẩy.  Thánh Luca viết:

Khi Đức Giêsu đang cầu nguyện, các tầng trời mở ra, và Chúa Thánh Thần ngự trên người dưới hình dạng chim bồ câu.  Và từ trời có tiếng phát ra, “Con là con yêu dấu của Ta.  Ta hài lòng về con.” (Luca 3:21-22) 

Ba Ngôi thường được nhắc đến trong Phúc Âm Gioan.  Thí dụ, Đức Giêsu nói về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong các đoạn như đoạn này:

Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, Người sẽ ở với các con mãi mãi.  Người là Thánh Thần, sẽ tiết lộ chân lý về Thiên Chúa” (Gioan 14:16-17) 

Những câu nói như vậy làm giới cầm quyền Do Thái rất tức giận đến độ họ quyết định giết Đức Giêsu bởi vì “hắn nói rằng Thiên Chúa là Cha của hắn và như vậy coi mình ngang hàng với Thiên Chúa” (Gioan 5:18) 

Hiểu biết thần học hấp dẫn nhất về Ba Ngôi thì được thấy trong Luca.  Trong Phúc Âm Luca và trong sách Công Vụ Tông Đồ, hiển nhiên rằng thánh sử nhìn thấy lịch sử cứu độ trong viễn cảnh ba ngôi. 

Với Luca, thời kỳ Cựu Ước là “thời của Chúa Cha.”  Thời Phúc Âm là “thời của Chúa Con.”  Và giai đoạn hậu Phúc Âm, được bắt đầu với lễ Pentecost, là “thời của Chúa Thánh Thần.” 

Và sau cùng, chúng ta thấy rất nhiều ám chỉ về Ba Ngôi trong các thư của Thánh Phaolô.  Tiêu biểu là lời chúc lành của thánh nhân trong bài đọc hai hôm nay . Thư viết: 

Nguyện xin ơn sủng của Chúa Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em. 2 Cor. 13:13

 Điều này đưa chúng ta đến phụng vụ.  Trong đó có vô số đề cập đến Ba Ngôi.  Hãy suy nghĩ về một vài điểm.

 Chúng ta rửa tội và thêm sức “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.”

 Hội Thánh cũng xức dầu bệnh nhân và tha tội cho hối nhân, “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.”

 Tuy nhiên, trong Thánh Lễ, Ba Ngôi thường được nhắc đến nhiều nhất.  Ngoài lúc bắt đầu và kết thúc “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.”  Thánh Lễ thì đầy dẫy những lời cầu xin với Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.

 Tiêu biểu là Kinh Tin Kính, mà chúng ta sẽ tuyên xưng trong giây lát.  Kinh này có cơ cấu ba ngôi. Kinh khởi đầu với Thiên Chúa Cha là Đấng Tạo Hóa, đi sang Chúa Con là Đấng Cứu Thế, và chấm dứt với Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống.

 Điều này đưa chúng ta trở về với câu hỏi mà cô giáo đã hỏi học sinh: “Trong Ba Ngôi, quý vị thấy có liên hệ tốt đẹp nhất với Ngôi nào trong thời gian này?”

 Có phải chúng ta thấy liên hệ tốt đẹp nhất với Chúa Cha, Đấng đã dựng nên chúng ta và yêu thương chúng ta hơn cả chính chúng ta yêu mình?

 Hoặc chúng ta có liên hệ tốt đẹp nhất với Chúa Con, Người đã sống giữa chúng ta và đã chứng tỏ tình yêu dành cho chúng ta bằng cái chết trên thập giá?

Hoặc chúng ta thấy liên hệ tốt đẹp nhất với Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Cha và Chúa Con đã sai đến để hướng dẫn chúng ta đến đường chân lý và sự thánh thiện?

 Hay chúng ta thấy liên hệ với cả Ba Ngôi trong một phương cách chung dưới danh hiệu là Thiên Chúa? 

Hãy kết thúc với đoạn trích từ kinh Tin Kính Athanasia, có từ thế kỷ thứ tư:

 Đây là đức tin Công Giáo…
Chúng ta thờ phượng một Thiên Chúa trong ba ngôi
và ba ngôi trong một Thiên Chúa,
mà không lẫn lộn các ngôi
cũng không chia cách thần tính.
Vì Chúa Cha là một ngôi,
Chúa Con là một ngôi khác,
và Chúa Thánh Thần lại là một ngôi khác nữa.
Nhưng chỉ có một Thiên Chúa, Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần,
cả ba cùng ngang bằng vinh quang và uy nghi vĩnh viễn…
Đây là đức tin thực sự mà chúng ta tin…
Đây là đức tin Công Giáo.

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

VẤT ÁO CHOÀNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu!”.

Tương truyền, khi đưa quân đổ bộ Mexico, Cortéz đã cho đốt các con tàu phía sau. Nhìn những con tàu bốc cháy, họ chỉ còn một chọn lựa duy nhất: tiến lên!

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay kể về một người đã làm điều tương tự. Khi nghe Chúa Giêsu gọi, anh mù Bartimê ‘vất áo choàng’, đứng phắt dậy mà đến gần Ngài.

Bartimê xuất hiện như một con người “ngồi bên vệ đường”. Trong Tin Mừng Marcô, hodos – “con đường” – không chỉ là nơi để đi, nhưng còn là hành trình theo Chúa Giêsu lên Giêrusalem và thập giá. Suốt nhiều chương trước đó, các môn đệ vẫn đi trên con đường ấy mà chưa hiểu Thầy mình đang đi về đâu. Bartimê thì khác: anh đang ở bên lề con đường, nhưng lại là người đầu tiên dám đứng dậy để bước vào hành trình. Vì thế, điều xảy ra nơi Bartimê không chỉ là một phép lạ mở mắt, nhưng còn là khởi đầu của một hành trình môn đệ. “Marcô kết thúc câu chuyện: Bartimê đã bắt đầu đi theo Chúa Giêsu; ông tự nguyện chọn đi theo Ngài, Đấng là Đường đi!” – Leo XIV.

Một chi tiết rất Marcô: Bartimê “vất áo choàng lại”. Trong tiếng Hy Lạp, himation không chỉ là áo mặc bên ngoài, nhưng còn là tài sản cuối cùng của một người nghèo. Đó là thứ che thân ban đêm, là chỗ dựa cuối cùng để tồn tại. Vì thế, hành động của Bartimê không đơn thuần là vội chạy đến với Chúa Giêsu; anh đang quăng bỏ điều mình còn bấu víu. Chỉ những ai dám mất đi nơi trú ẩn cũ – dám ‘vất áo choàng’ – mới có thể bước vào một hành trình mới. “Thiên Chúa không được tìm thấy bằng cách chất thêm điều gì vào linh hồn, nhưng bằng một hành trình loại bỏ!” – Meister Eckhart.

Phêrô mời gọi các Kitô hữu trở nên “những viên đá sống động” – bài đọc một; nhưng không một viên đá nào có thể thành hình cho ngôi nhà mới nếu vẫn nằm yên chỗ cũ. Đức tin không lớn lên bằng tích trữ, nhưng bằng việc con người dám rời khỏi nơi mình từng trú ẩn. “Hãy vào trước thánh nhan Chúa giữa tiếng hò reo!” – Thánh Vịnh đáp ca – niềm vui ấy chỉ mở ra khi con người dám giã từ những gì cũ kỹ để bước theo Chúa với đôi tay trống. Sau cùng, Thiên Chúa không ngự vào một trái tim chất đầy toan tính sở hữu, Ngài cần một cõi lòng trống để bước vào. “Muốn sở hữu tất cả, con người phải thôi giữ lấy bất cứ điều gì!” – Gioan Thánh Giá.

Anh Chị em,

Đức Kitô là Đấng đã từ bỏ mọi sự cách tận căn. Ngài không bám víu vào vinh quang của Con Thiên Chúa, nhưng bước vào phận người mong manh; không giữ lấy quyền lực, nhưng mang lấy thân phận tôi tớ; và cuối cùng, trao cả mạng sống trên thập giá. Vì thế, theo Chúa Kitô không chỉ là xin được mở mắt, nhưng còn là dám bỏ lại chiếc “áo choàng an toàn” của cái tôi để bước theo Ngài. Ánh sáng của Đức Kitô chỉ mở ra cho những ai chấp nhận bước đi trong bất định. Tắt một lời, chỉ những ai dám ‘vất áo choàng’ mới có thể bước vào ánh sáng cùng Chúa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thường sợ mất những gì quen thuộc hơn là sợ sống xa Chúa; xin dạy con biết vất bỏ những gì còn vướng bận để tự do bước trên con đường Ngài đi!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 10,46-52

46 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đến thành Giê-ri-khô. Khi Đức Giê-su cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giê-ri-khô, thì có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, anh ta tên là Ba-ti-mê, con ông Ti-mê. 47 Vừa nghe nói đó là Đức Giê-su Na-da-rét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng : “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi !” 48 Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng : “Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi !” 49 Đức Giê-su đứng lại và nói : “Gọi anh ta lại đây !” Người ta gọi anh mù và bảo : “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy !” 50 Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giê-su. 51 Người hỏi : “Anh muốn tôi làm gì cho anh ?” Anh mù đáp : “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” 52 Người nói : “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh !” Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.


 

HOA QUẢ THỨ 9: Tiết Độ – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Nguyện xin hồng ân và tiết độ của Thiên Chúa tuôn đổ trên bạn như mưa hôm nay. Hãy cầu nguyện cho nhau và thế giới nhé.

Cha Vương

Thư 4: 27/05/2026.  (n1-6-22)

TIN MỪNG: Vì Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ. (2 Tm 1:7)

HOA QUẢ THỨ 9: Tiết ĐộTiết độ là nhân đức nhân bản giúp ta kiềm chế sức lôi cuốn của dục vọng—những thú vui, giúp làm chủ bản năng và sử dụng chừng mực những của cải đời này. 

SUY NIỆM: Bạn đang sống trong môi trường tràn ngập với những lời mời gọi hấp dẫn để đáp ứng cho nhu cầu dục vọng của con người. Mọi thứ “thượng vàng hạ cám” lẻn vào gia đình, vào mảnh vườn tâm hồn của bạn một cách quá dễ dàng qua các thiết bị vi tính điện tử, mạng Internet, v.v…  từ đó bạn trở nên u mê ù lì trong  cõi riêng tư của chính mình, rồi bạn theo đuổi những tham vọng của bản ngã, của những đam mê vô trật tự… bạn không cần ai nữa kể cả Thiên Chúa.  

Một khi bạn nói “CÓ” một cách dễ dàng với “đủ thứ” chung quanh thì việc rèn luyện nhân đức tiết độ lại càng trở thành khó khăn và có khi được coi như là việc làm cổ lỗ sĩ nữa. Ngược lại khi bạn nói ‘KHÔNG’, bạn sẽ đương đầu với một cuộc chiến nội tâm. Cuộc chiến này sẽ giúp bạn nhận định ra địa vị của mình trong thế giới, trong môi trường sống của mình. Đôi khi bạn phải mạnh dạn nói “KHÔNG” với những cám dỗ, những hào nhoáng tạm thời, những tư tưởng nông cạn và tiêu cực… để bạn có thể nói “CÓ” với những gì có giá trị thật sự và thể hiện chúng bằng hành động với lòng yêu thương và trung tín. Để rèn luyện nhân đức tiết độ bạn phải làm quen với việc nói ‘KHÔNG’ để dành phần thắng trong cuộc chiến nội tâm này, chắc chắn nó sẽ dẫn bạn đến một cuộc sống bình thản và hạnh phúc hơn đó.

LẮNG NGHE: Hãy khuyên các cụ ông phải tiết độ, đàng hoàng, chừng mực, vững mạnh trong đức tin, đức mến và đức nhẫn nại. Các cụ bà cũng vậy, phải ăn ở sao cho xứng là người thánh, không nói xấu, không rượu chè say sưa, nhưng biết dạy bảo điều lành. (Tt 2:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin rửa sạch trong con những gì nhơ bẩn, và xin chữa lành trong con mọi vết thương của tội lỗi, và xin thêm sức cho con để con biết nói “KHÔNG” với những dục vọng của thế tục.

THỰC HÀNH: Người Anh có câu: “All things in moderation and moderation in all things” (mọi thứ phải điều độ và điều độ trong mọi thứ). Tự kiểm tra lãnh vực thể xác như ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi, tình dục… bạn đang quá lố ở chỗ nào nhỉ? Tập sống một cách điều độ hơn.

From: Do Dzung

*****************************

SỐNG YÊU THƯƠNG-LOVE | D.O.N.G | QUỐC KHÁNH-NENITA-SA ANH-THÁI BẢO TRÂM-PHƯỢNG NGHI | VHOPE

ĐI TRƯỚC NỖI SỢ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đang trên đường lên Giêrusalem, Người dẫn đầu các ông”.

“Thế gian trao cho con người sự an ổn; nhưng con người không được dựng nên cho sự an ổn, mà cho một điều cao cả hơn!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở ra một khung cảnh khác thường: trên đường lên Giêrusalem, Chúa Giêsu đi trước; các môn đệ theo sau, đầy kinh ngạc và sợ hãi. Không chỉ đi trước họ, Ngài còn ‘đi trước nỗi sợ’ của họ.

Với Marcô, “lên Giêrusalem” không chỉ là một chuyển động địa lý, nhưng là một nghịch lý thần học. Tin Mừng hôm qua vừa nhắc: ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống. Với Chúa Giêsu, đi lên lại là đi xuống: xuống tận khổ đau, bị trao nộp và chết trên thập giá. Khi các ông mơ những chỗ cao, Ngài tự nguyện bước xuống chỗ thấp, đáy của phận người. “Ảo tưởng lớn nhất của người lãnh đạo là nghĩ rằng mình có thể dẫn người khác ra khỏi sa mạc mà chưa từng đi qua nó!” – Henri Nouwen.

Trớ trêu thay, khi Thầy nói đến khổ nạn và chết chóc, trò lại nghĩ đến chức trọng quyền cao – Giacôbê và Gioan xin một chỗ bên hữu bên tả. Các môn đệ nghĩ vinh quang là ascendere – đi lên trên kẻ khác; Chúa Giêsu lại mặc khải một vinh quang descendere – đi xuống vì kẻ khác. Ngài không hứa cho họ một vị trí; nhưng mời họ cùng uống một chén. Theo Đức Kitô không phải là tìm một chỗ an toàn bên Ngài, nhưng trở nên cao cả khi dám đi xuống phục vụ tha nhân. Muốn bước vào Nước Trời mà vẫn cố giữ một chân trong logic của thế gian, con người sẽ không bao giờ hiểu được con đường của Đức Kitô. Chính nơi đó, Chúa Giêsu ‘đi trước nỗi sợ’ của các môn đệ.

Thánh Phêrô nhắc các tín hữu, họ đã được cứu chuộc “không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc”, nhưng “nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn” – bài đọc một. Nghĩa là, đời sống mới của người môn đệ không được đo bằng giá trị của những gì sở hữu hay leo tới, nhưng bằng tình yêu tự hiến. Vì thế, giữa một thế giới luôn muốn thống trị, Đức Kitô lại cứu độ bằng con đường tự hạ. Và chỉ những ai dám tự hạ để làm đầy tớ phục vụ mới biết thế nào là vinh quang của Hội Thánh, Giêrusalem mới: “Giêrusalem hỡi, nào tôn vinh Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Không chỉ dạy con người con đường đi xuống; chính Đức Kitô đã đi trọn con đường ấy. Ngài đi trước các môn đệ lên Giêrusalem cũng như đi trước nhân loại vào bóng tối của đau khổ, cô đơn và cái chết. Vì thế, thập giá không còn là nơi của thất bại, nhưng trở thành nơi vinh quang Thiên Chúa tỏ lộ. Có những nỗi sợ con người không thể tự mình bước qua; nhưng Đức Kitô đã đi vào đó trước chúng ta. Và nhiều khi, điều làm con người nên cao cả không phải là leo lên cao, nhưng là dám cúi xuống vì yêu thương. Vinh quang không nằm ở vương miện thống trị, nhưng khắc trên những vết sẹo phục vụ. “Ai cũng có thể trở nên cao cả, vì ai cũng có thể phục vụ!” – Martin Luther King Jr..

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con muốn được nâng lên hơn là cúi xuống, được cung phụng hơn là phục vụ, được biết đến hơn là quên mình; xin dạy con biết rằng: vinh quang thật luôn mang dáng dấp thập giá!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 10,32-45

32 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Người dẫn đầu các ông. Các ông kinh hoàng, còn những kẻ theo sau cũng sợ hãi. Người lại kéo riêng Nhóm Mười Hai ra, và bắt đầu nói với các ông về những điều sắp xảy đến cho mình : 33 “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người, và sẽ nộp Người cho dân ngoại. 34 Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại.”

35 Hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói : “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây.” 36 Người hỏi : “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì ?” 37 Các ông thưa : “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” 38 Đức Giê-su bảo : “Các anh không biết các anh xin gì ! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?” 39 Các ông đáp : “Thưa được.” Đức Giê-su bảo : “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống ; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. 40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.”

41 Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. 42 Đức Giê-su gọi các ông lại và nói : “Anh em biết : những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 43 Nhưng giữa anh em thì không được như vậy : ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em ; 44 ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ mọi người. 45 Vì Con Người đến, không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.”


 

 Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mt 5,4)- Cha Vương

 Sau ngày lễ nghỉ, uể oải quá đi thôi. Chúc bạn ngày mới tràn đầy nghị lực và hiền lành như con chim bồ câu vậy nhé. Nhớ nhau trong câ`u nguyện không quên cho một lời nguyện thế giới được Hoà Bình, xin đa tạ

Cha Vương

Thứ 3: 26/05/2026.  (n28-24)

TIN MỪNG: Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mt 5,4)

HOA QUẢ THỨ 8: Hiền Hoà— Hiền hoà (hiền lành) là một nhân đức, không để cho mình bị lôi cuốn bởi cơn giận dữ quá đáng so với nguyên nhân gây ra nó, nghĩa là không để cho mình bị lôi cuốn theo một cảm xúc phi lý. Người hiền lành thì luôn có tâm hồn đơn sơ, sống chân thật, không ích kỷ, không tìm tư lợi, nhưng sẵn sàng quên mình, biết dấn thân và biết sống vì người khác. Hiền hòa cũng có phần nào liên quan đến nhịn nhục và chịu đựng, đó là biết vui vẻ chấp nhận sự thua thiệt, hiền lành và chịu thua thiệt chứ không là nhu nhược.

SUY NIỆM: Trong cuộc sống tại thế này bạn phải đối diện với đủ loại thử thách: những thất bại, bất trắc, đau khổ,…. có khi phải đối diện với những nghịch cảnh bi đát và nghiệt ngã bất công. Vấn đề là cách bạn ứng xử thế nào trước mỗi khó khăn thử thách như vậy. Lời khuyên của  Đức Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận sau đây có thể giúp bạn hiểu được tầm quan trọng của nhân đức hiền hoà khi ngài viết: “Đừng nản lòng vì thất bại. Nếu con tìm ý Chúa thực sự, thì chính sự thất bại đó là thành công. Chúa muốn như vậy. Xem gương Đức Giêsu trên thánh giá”; “ Chỉ có một sự thất bại là không hy vọng vào Chúa. Con đã hy vọng vào Chúa và con sẽ không hổ thẹn đến muôn đời” (ĐHV, số 41. 43). Người hiền lành có thể bị người đời ăn hiếp hoặc luôn chịu phần thiệt thòi nhưng ngược lại họ lại là người mạnh mẽ và dễ mến vì chẳng có ai chống lại người hiền lành cả. Tiền nhân có câu: “No mất ngon, giận mất khôn”. Đúng quá! Một giây phút không kiềm hãm được những cảm xúc phi lý của mình không những bạn sẽ làm tổn thương đến những người chung quanh mà còn tự hại mình nữa. Nguy quá!

LẮNG NGHE: Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi, Chúa đã gần đến. (Pl 4,4-5)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần là Chủ nhân hiền hòa của tâm hồn con, là nguồn dịu dàng tươi mát dường bao, xin cất khỏi tim con những yếu đuối, những cảm xúc nóng nảy, thô lỗ, cộc cằn, và ban cho con đức đơn sơ, điềm tĩnh, khôn ngoan, hiền dịu và quả cảm để con sống hiền lành thánh thiệt như Chúa hằng mong ước.

THỰC HÀNH: Tập không phản ứng mạnh khi gặp chuyện trái ý, không làm dữ khi ý kiến của bạn bị bác bỏ.

From: Do Dzung

**********************************************

Chúa chiên lành -tinmung.net

THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV VỀ VIỆC GÌN GIỮ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

THÔNG ĐIỆP MAGNIFICA HUMANITAS
CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
VỀ VIỆC GÌN GIỮ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI
TRONG THỜI ĐẠI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

DẪN NHẬP

  1. Nhân loại, được Thiên Chúa tạo dựng trong tất cả sự cao cả của mình, hôm nay đang đối diện với một chọn lựa mang tính quyết định: hoặc kiến tạo một Tháp Babel mới, hoặc xây dựng thành đô nơi Thiên Chúa và nhân loại cùng cư ngụ. Mỗi thế hệ đều lãnh nhận trách nhiệm định hình thời đại của chính mình, hướng dẫn lịch sử trở thành nơi mà phẩm giá của mỗi con người được bảo vệ, công lý được cổ võ, và tình huynh đệ được trở nên khả thi. Tuy nhiên, mỗi thời đại cũng luôn mang trong mình nguy cơ tạo ra một thế giới càng ngày càng phi nhân và bất công hơn. Mỗi khi nhân loại đứng trước nguy cơ làm hoen ố căn tính đích thực của mình, chúng ta là những Kitô hữu hướng mắt lên Thiên Chúa Nhập Thể, bởi chúng ta biết rằng: “chỉ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, mầu nhiệm về con người mới thực sự được sáng tỏ.” Nơi Đức Chúa Giêsu Kitô, nhân tính ấy trong tất cả sự cao cả của mình trở thành Đường, Sự Thật và Sự Sống, mở ra con đường để mỗi người chúng ta tiến tới sự viên mãn.
  2. Được xây dựng trên Đức Kitô, tảng đá sống động, chúng ta cảm nghiệm hoạt động quyền năng và huyền nhiệm của Chúa Thánh Thần; đồng thời chúng ta tin rằng mọi nỗ lực chân chính của con người nhằm cộng tác với Ngài để thực hiện điều thiện đều sẽ được Cha trên trời chúc lành, trong Ngài chúng ta đặt trọn niềm hy vọng. Vì lý do ấy, chúng ta có thể chuyên cần góp phần vào mọi sáng kiến nhằm xây dựng một thế giới công chính hơn, đồng thời mời gọi những người khác cộng tác trong việc cổ võ sự phát triển toàn diện của mỗi con người. Chúng ta mong muốn bước vào cuộc đối thoại với tất cả những người nam và nữ của thời đại hôm nay, là những người cùng chia sẻ với chúng ta các biến cố, những thao thức và những khát vọng của nhân loại. Cùng với họ, chúng ta tìm kiếm những con đường mới nhằm phục vụ công ích và thăng tiến một đời sống xứng hợp với phẩm giá con người cho tất cả mọi người. Thật vậy, sự cởi mở đối với đối thoại là một phần thiết yếu trong ơn gọi của Hội Thánh, bởi vì Hội Thánh, được thiết lập trong Đức Kitô như “bí tích… của sự hiệp thông với Thiên Chúa và của sự hợp nhất toàn thể nhân loại”, nhận biết lịch sử là nơi mà Tin Mừng chất vấn và định hướng kinh nghiệm nhân sinh.
  3. Trong tinh thần ấy, Đức Giáo hoàng Lêô XIII đã công bố Thông điệp Tân Sự (Rerum Novarum) vào năm 1891; năm nay, chúng ta cử hành kỷ niệm 135 năm văn kiện ấy với lòng tri ân sâu xa.
  4. Qua văn kiện này, vị tiền nhiệm khả kính của tôi đã khơi lên một dòng suy tư về xã hội, kinh tế và chính trị, điều mà ngày nay được biết đến như “Học thuyết Xã hội của Hội Thánh”. Khi có những người phản đối rằng Hội Thánh không nên phung phí năng lực vào những vấn đề trần thế, nhưng chỉ nên tập trung vào việc loan báo sứ điệp sự sống đời đời, Đức Lêô XIII đã đáp lại bằng sự thực tế và khôn ngoan rằng việc loan báo Tin Mừng không thể làm ngơ trước đời sống cụ thể của con người. Nhiều thập niên đã trôi qua kể từ đó, và Huấn quyền, các mục tử, các nhà thần học cùng các tín hữu vẫn tiếp tục suy tư về những vấn đề xã hội dưới ánh sáng của Tin Mừng. Ngày nay, Học thuyết Xã hội của Hội Thánh là một gia sản khôn ngoan, trong đó chúng ta tìm thấy những nguyên lý để suy tư, những tiêu chuẩn để phân định và phán đoán, những định hướng cụ thể cho hành động. Được đặt nền trên Thánh Kinh và Thánh Truyền, đồng thời đối thoại với các ngành khoa học, học thuyết này giúp chúng ta giải thích cách sáng tỏ những thách đố của hiện tại và nhận ra những con đường thích hợp để sống chứng tá Kitô giáo một cách minh bạch, trong niềm vui và tinh thần phục vụ thế giới. Đây không phải là một tập hợp bất động của các khái niệm, nhưng là một kho tàng chân lý sống động, gìn giữ và diễn giải ơn gọi của nhân loại hướng tới một đời sống viên mãn và công chính. Vì thế, tôi cũng mong muốn góp tiếng nói của mình vào truyền thống sống động ấy, khi khẩn cầu sự trợ giúp của Thần Khí Khôn Ngoan, Đấng đã hiện diện trong thế gian ngay từ thuở ban đầu (x. Cn 8,22–31).

Những sự mới mẻ (res novae) của thời đại chúng ta

  1. Trong khi Đức Lêô XIII, vào thời của ngài, đã nói đến “những sự mới mẻ hay tân sự” (rerum novarum), thì ngày nay, chúng ta không thể chỉ đơn thuần lặp lại những giáo huấn đầy minh triết ấy. Trái lại, chúng ta phải cầu xin Thiên Chúa ban cho sự khôn ngoan để có thể diễn giải những xu hướng lớn của thời đại chúng ta, đặc biệt là các tiến bộ về công nghệ. Trong những năm gần đây, càng ngày càng trở nên hiển nhiên rằng tiến trình số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và robot học đang biến đổi thế giới của chúng ta một cách nhanh chóng và sâu rộng như thế nào. Tự bản chất, công nghệ không nên bị xem như một sức mạnh đối nghịch với con người. Trái lại, ngay từ khởi nguyên của lịch sử, công nghệ đã là một phần trong hành trình phát triển của nhân loại, như “một thực tại mang tính nhân bản sâu sắc, gắn liền với quyền tự chủ và tự do của con người.” Qua nhiều thế kỷ, sự phát triển công nghệ đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện điều kiện sống của nhân loại. Tuy nhiên, đồng thời, mỗi giai đoạn tiến bộ cũng cho thấy tính mơ hồ của các công cụ ấy, bởi khi không được hướng về điều thiện, chúng có thể trở thành căn cớ gây tổn hại. Tuy nhiên, ngày nay, chúng ta đang phải đối diện với một hoàn cảnh mới. Sức mạnh và mức độ hiện diện khắp nơi của các công nghệ mới phát triển đã đan xen vào chính kết cấu của đời sống thường nhật, định hình các tiến trình ra quyết định và tác động sâu xa đến trí tưởng tượng tập thể của nhân loại: Chưa bao giờ nhân loại lại có quyền năng lớn lao đến thế trên chính mình.” [6] Những công nghệ mới mở ra một chân trời trải rộng theo những hướng mà chúng ta có thể hình dung, nhưng vẫn chưa thể tiên liệu cách trọn vẹn. Điều này khiến cho việc lượng định những tác động tiềm tàng của chúng, cũng như những hệ quả lâu dài mà chúng có thể gây ra đối với phẩm giá con người và công ích, trở nên phức tạp hơn nhiều.
  1. Giờ đây, trách nhiệm của chúng ta là phải đối diện với những thách đố của thời đại mình bằng sự rõ ràng trong tư tưởng và tinh thần trách nhiệm. Điều cần thiết là phải thiết lập những công cụ pháp lý thích hợp, có khả năng bảo vệ công lý và kiềm chế những tác động bóp méo do quyền lực của công nghệ gây ra. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ giới hạn ở bình diện pháp lý. Như Đức Phanxicô đã cảnh báo, chúng ta phải thành thật tự hỏi: ai đang nắm giữ quyền lực ấy hôm nay, và họ sử dụng nó như thế nào: “Cũng phải nhìn nhận rằng năng lượng hạt nhân, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, hiểu biết về chính DNA của chúng ta, cùng nhiều khả năng khác mà chúng ta đã đạt được… đã trao cho những người sở hữu tri thức, và đặc biệt là các nguồn lực kinh tế để vận dụng chúng, một quyền thống trị đáng kinh ngạc trên toàn thể nhân loại và trên cả thế giới.” Trong quá khứ, vai trò định hướng và điều phối đổi mới phần lớn thuộc về Quốc gia. Thế nhưng ngày nay, những tác nhân chính thúc đẩy phát triển lại là các chủ thể tư nhân, thường có tính xuyên quốc gia, được trang bị nguồn lực và khả năng can thiệp vượt xa nhiều chính phủ. Vì thế, quyền lực công nghệ ngày nay có một chiều kích chưa từng có tiền lệ, chủ yếu có tính “tư nhân”, và chính điều này làm cho việc nhận định, quản trị và hướng quyền lực ấy về công ích trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.
  2. Vì lý do ấy, điều cần thiết là phải khởi sự một tiến trình phân định chung nhằm nhận diện những cội rễ thiêng liêng và văn hóa của các biến đổi đang diễn ra. Nếu chỉ chú tâm đến những tình huống trước mắt, chúng ta có nguy cơ để cho chuỗi những khủng hoảng liên tiếp quyết định hướng đi của mình. Chúng ta đang sống trong một giai đoạn chuyển tiếp nhanh chóng, một “sự thay đổi của cả một thời đại”, trong đó, khi một số người đang tranh giành quyền định hình tương lai của các công nghệ mới, và những người khác chuyên tâm suy tư về vấn đề này, thì phần lớn nhân loại chỉ đứng nhìn và chờ đợi, quan sát từ xa và đơn thuần hy vọng rằng mọi sự sẽ diễn tiến tốt đẹp. Chính vì thế, những câu hỏi hệ trọng đang chất vấn lương tâm chúng ta và không thể tiếp tục bị né tránh: Chúng ta đang đi về đâu? Chúng ta mong muốn hướng mình đến mục tiêu nào? Là một dân tộc và như một cộng đồng nhân loại, chúng ta phải chọn hướng đi nào?

Hai hình ảnh trong Kinh Thánh

  1. Để trả lời những câu hỏi ấy và phân định phương thức định hướng một cách có trách nhiệm trong thời đại trí tuệ nhân tạo, tôi muốn gợi lại hai khung cảnh trong Kinh Thánh: việc xây dựng Tháp Babel (x. St 11,1–9) và việc tái thiết các bức tường của Giêrusalem (x. Nkm 2–6). Trình thuật về Babel xuất hiện trong sách Sáng Thế, ngay từ buổi đầu lịch sử nhân loại, liền sau các gia phả của con cháu ông Nôê. Sau khi định cư tại một đồng bằng thuộc miền Sinar, dân chúng quyết định xây dựng một thành phố và một ngọn tháp “có đỉnh chạm tới trời” (St 11,4). Vì sợ bị phân tán khắp mặt đất, họ tìm cách bảo đảm cho mình sự ổn định và quyền lực, và trên hết, để “làm cho mình nổi danh.” Đó quả là một công trình đầy ấn tượng: một ngôn ngữ duy nhất, một công nghệ duy nhất, một định hướng duy nhất. Tuy nhiên, dự án ấy che giấu một hiểm họa sâu xa. Đó là một công trình được hình thành mà không quy chiếu về Thiên Chúa, được nâng đỡ bởi một sự đồng nhất hóa loại trừ tính đa dạng, và lựa chọn sự đồng nhất thay vì hiệp thông. Khi một thành phố được xây dựng trên lòng kiêu ngạo và ảo tưởng tự mãn, sự truyền thông sẽ đổ vỡ, ngôn ngữ trở nên hỗn loạn, và con người không còn hiểu nhau nữa. Kết quả không phải là hiệp nhất, nhưng là phân tán. Tháp Babel, vì thế, cho thấy giới hạn của mọi nỗ lực, dù có vẻ huy hoàng đến đâu đi nữa, nếu phát xuất từ tham vọng đề cao chính mình, hy sinh phẩm giá con người vì hiệu quả, và mong chạm tới trời cao mà không có phúc lành của Thiên Chúa.
  • 8. Ngược lại, sách Nêhêmia mở ra trong một thời khắc đầy mong manh của lịch sử Israel cổ đại. Sau cuộc lưu đày Babylon, một phần dân Chúa đã trở về Giêrusalem, nhưng thành vẫn còn đổ nát, tường thành sụp đổ và các cổng thành bị thiêu rụi (x. Nkm 1–2). Nêhêmia, một người Do Thái đang phục vụ triều đình vua Ba Tư Artaxerxes, nhận được tin về tình trạng thảm khốc của thành phố tổ tiên mình. Trước khi hành động, ông ăn chay, cầu nguyện và cầu thay cho dân. Sau đó, ông xin nhà vua cho phép trở về Giêrusalem, và khi đến nơi, ông âm thầm khảo sát những khu vực bị tàn phá. Ông không áp đặt giải pháp từ trên xuống. Trái lại, ông quy tụ các gia đình, giao cho mỗi gia đình một phần tường thành để tái thiết, lắng nghe những mối quan tâm của họ, phối hợp các nỗ lực chung và đối diện với mọi chống đối phát sinh. Trình thuật cho thấy thành phố được hồi sinh không phải nhờ sáng kiến của riêng một cá nhân, nhưng nhờ trách nhiệm chung của tất cả mọi người: nam giới và nữ giới, tư tế, thợ thủ công, các trưởng gia đình, người trẻ. Đó là một công trình đặt Thiên Chúa ở trung tâm, tái thiết các mối tương quan trước khi tái thiết bằng gạch đá. Nhờ đó, Giêrusalem xưa khám phá lại một ngôn ngữ chung, không phải ngôn ngữ của sự đồng nhất, nhưng là ngôn ngữ của sự hiệp thông; nghĩa là sự hòa hợp nảy sinh khi mỗi người đảm nhận vai trò riêng của mình và nhận biết rằng sức mạnh của họ đến từ Chúa.
  • 9. Dưới ánh sáng của hai hình ảnh ấy, Chúa Thánh Thần hôm nay đang chất vấn chúng ta về mối tương quan của mình với công nghệ và với cuộc cách mạng kỹ thuật số đang diễn ra. Các khám phá khoa học là những nén bạc được trao phó cho nhân loại để sinh hoa kết quả (x. Mt 25,14–30). Công nghệ có khả năng: chữa lành, kết nối, giáo dục, bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta; nhưng nó cũng có thể: chia rẽ, loại trừ, tạo ra những hình thức bất công mới. Xét trên bình diện trừu tượng, công nghệ tự nó không phải là giải pháp cho các vấn đề của nhân loại, cũng như tự nó không phải là điều xấu xa. Tuy nhiên, trong thực tế, công nghệ không bao giờ hoàn toàn trung lập, bởi nó luôn mang dấu ấn của những người: sáng tạo ra nó, tài trợ cho nó, kiểm soát nó và sử dụng nó. Vì thế, chọn lựa nền tảng không phải là nói “có” hay “không” với công nghệ. Nhưng là chọn giữa: xây dựng Tháp Babel, hay tái thiết Thành Giêrusalem; giữa: một quyền lực muốn thống trị cả trời cao, hay một dân tộc cùng nhau làm việc trước nhan Thiên Chúa để tái thiết những bức tường của sự chung sống huynh đệ.
  • 10. Do đó, chúng ta phải tránh “hội chứng Babel”, tức là: sự tôn thờ lợi nhuận đến mức hy sinh những người yếu thế; một sự đồng nhất hóa làm triệt tiêu khác biệt; và ảo tưởng rằng chỉ cần một ngôn ngữ duy nhất, kể cả ngôn ngữ kỹ thuật số, là có thể chuyển dịch mọi sự, kể cả mầu nhiệm con người, thành dữ liệu và hiệu suất. Nguy cơ phi nhân hóa, tức xây dựng một tương lai loại trừ Thiên Chúa và biến tha nhân thành phương tiện, là một cám dỗ vừa cổ xưa vừa luôn mới mẻ, nhưng hôm nay khoác lên mình diện mạo công nghệ. Thay vào đó, chúng ta hãy chọn “con đường của Nêhêmia”, con đường nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cộng tác để làm cho Thành của Thiên Chúa trở thành nơi an toàn cho những người lưu đày trở về. Tái thiết hôm nay có nghĩa là nhìn nhận rằng chính từ sự đa dạng của những tiếng nói và viễn tượng, dù đôi khi gợi lại sự hỗn loạn của nhiều ngôn ngữ, vẫn có thể xuất hiện một sự khả thi rạng ngời. Thực ra, đó là việc có thể cùng nhau xây dựng, biến khác biệt thành nguồn lực, và lấy lắng nghe cùng đối thoại làm nền tảng chung để vun trồng công lý và tình huynh đệ. Trong sứ mạng chung ấy, các Kitô hữu khám phá vai trò đặc thù của mình là hướng mọi hành động về Thiên Chúa, để dưới ánh sáng của Ngài, tính đa nguyên không tan biến thành hỗn loạn, nhưng nhờ thực hành tính hiệp hành, trở thành không gian trong đó nhân loại tái khám phá ra nền tảng vững chắc và cùng đích tối hậu của mình. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan chiêm ngắm Thành Giêrusalem mới “từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống” (Kh 21,2) như một hồng ân dành cho toàn thể nhân loại. Và thị kiến đầy ân sủng ấy là lời mời gọi chúng ta, những Kitô hữu, cùng cộng tác để kiến tạo một đời sống cộng đồng bình an, công chính và xứng hợp với phẩm giá con người trong những “thành phố” của thế giới hôm nay.

Xây dựng vì công ích

  1. Xây dựng một thành đô được đặt nền trên công ích, trước hết và trên hết, đòi hỏi phải xây dựng trên một mối tương quan vững chắc với Thiên Chúa. Điều đó có nghĩa là nhìn nhận rằng chân lý về tình yêu của Ngài mời gọi chúng ta bước vào sự sống “dồi dào” (Ga 10,10) và sự hiệp thông với chính Ngài. Cùng với Thánh Augustinô, chúng ta cũng có thể thưa: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.” Quả thật, Thiên Chúa đã ghi khắc trong tâm hồn con người một khát vọng hạnh phúc bao trùm mọi chiều kích của đời sống. Trong cuộc đối thoại với những người nam nữ của thời đại hôm nay, Hội Thánh nhận thấy nhu cầu cấp thiết phải bảo vệ và hướng dẫn khát vọng ấy tới chân lý sâu xa nhất của nó.
  2. Thứ đến, xây dựng vì công ích có nghĩa là chấp nhận những giới hạn và sự mong manh của con người, mà không xem đó như một lỗi lầm cần phải sửa chữa. Ngày nay, khát vọng đạt tới sự viên mãn của đời sống con người đang đứng trước nguy cơ bị dẫn dắt lệch hướng bởi những mục tiêu đầy mê hoặc nhưng sai lạc, chẳng hạn như viễn tượng về một công nghệ hứa hẹn giải phóng chúng ta khỏi mọi yếu đuối, hay những mô hình an sinh chỉ dành chỗ cho một số ít, trong khi bỏ lại phía sau cả những cộng đồng dân cư rộng lớn. Quá thường xuyên, chúng ta đặt hy vọng vào những hình thức “nâng cấp” không giới hạn, vào những kiểu tiến bộ làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng, và vào những giải pháp tức thì vốn không đủ sức chữa lành những thương tích sâu xa của con người. Kết quả là, trong khi một số người theo đuổi ảo tưởng về sự tự khẳng định chính mình vô hạn, thì nhiều người khác lại bị tước mất cả những nhu cầu căn bản nhất. Hội Thánh, với một tiếng nói vừa khiêm tốn vừa kiên định, nhắc nhở chúng ta rằng sự viên mãn đích thực không đạt được bằng cách loại bỏ sự yếu đuối, nhưng bằng sự tăng trưởng hài hòa của con người. Sự viên mãn ấy được tìm thấy ở nơi mà tự do gắn liền với trách nhiệm; sự chăm sóc lẫn nhau; tình liên đới chân chính. Ở đó, tiến bộ được đo lường không phải bằng hiệu suất hay quyền lực, nhưng bằng phẩm giá của từng con người và thiện ích của mọi dân tộc.
  1. Thứ ba, xây dựng một thế giới trong đó mọi người đều có thể phát triển viên mãn đòi hỏi trách nhiệm chung và lòng can đảm. Không ai có thể một mình gánh vác toàn thể sức nặng của những thách đố mà thế giới đang phải đối diện, cũng như không ai quá yếu đến mức không thể góp phần của mình, bởi vì: “Quyền năng được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” (2 Cr 12,9) Mỗi người đều được trao một phần việc riêng trên bức tường chung ấy: các nhà khoa học và giới nghiên cứu, các doanh nhân và người lao động, các nhà giáo dục và các nhà lập pháp, xã hội dân sự, các phong trào quần chúng, các cộng đồng đức tin. Đó chính là logic của nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity), nguyên tắc đề cao sự cộng tác giữa: các thế hệ, các dân tộc, các ngành tri thức, các nền văn hóa, như con đường tốt nhất để xây dựng sự ổn định, thịnh vượng và hòa bình. Chúng ta không nên sợ hãi trước những căng thẳng hay khác biệt, bởi khi được dẫn dắt bởi tinh thần trách nhiệm chung, chúng có thể trở thành những nguồn lực sáng tạo.
  2. Sau cùng, xây dựng vì công ích đòi hỏi một ngôn ngữ mang tinh thần Tin Mừng. Chúng ta phải tránh những lời nói mang tính hạ nhục hay đối kháng, nhưng thay vào đó chọn sự minh bạch có khả năng soi sáng, và sự thẳng thắn có thể mở ra những khả thi mới. Chúng ta không thể: dung túng cho những nhiệt tình ngây thơ, cũng không thể nuôi dưỡng những nỗi sợ hãi vô căn cứ. Trái lại, chúng ta phải thiết lập những tiêu chuẩn để phân định, bao gồm: phẩm giá con người; đích đến phổ quát của của cải; sự ưu tiên dành cho người nghèo; việc chăm sóc ngôi nhà chung; hòa bình. Đồng thời, chúng ta phải chuyển hóa những tiêu chuẩn ấy thành các thực hành cụ thể, như: hoạch định có trách nhiệm, lượng giá các tác động nhân bản và xã hội, bao gồm những người dễ bị tổn thương nhất, cổ võ khả năng hiểu biết kỹ thuật số và định hướng nghiên cứu và công nghiệp về phía công lý và hòa bình.

Vẫn luôn là con người

  1. Trong Năm Thánh Thông thường 2025 vừa qua, chúng ta đã cùng nhau bước đi như những người hành hương của hy vọng, và đã lãnh nhận biết bao ân sủng. Được củng cố bởi những hồng ân ấy, chúng ta có thể tiến bước với lòng tín thác để đối diện với những công việc nặng nề và những thách đố đòi hỏi nhiều hy sinh đang ở phía trước. Trong thời đại của trí tuệ nhân tạo, khi phẩm giá con người đang bị đe dọa bởi những hình thức phi nhân hóa mới, thì bổn phận cấp thiết của chúng ta là vẫn luôn giữ mình cách sâu xa như là con người. Chúng ta phải yêu mến gìn giữ sự cao cả của nhân tính đã được trao ban cho chúng ta, một sự cao cả được mặc khải cách viên mãn trong Đức Kitô, vẻ huy hoàng mà không một cỗ máy nào có thể thay thế. Sự tiến bộ đích thực luôn phát xuất từ một tâm hồn rộng mở với tha nhân, một trí tuệ biết lắng nghe và một ý chí tìm kiếm điều giúp chúng ta hợp nhất thay vì điều chia rẽ chúng ta.

16. Tôi ngỏ lời kêu gọi chân thành này đến toàn thể các tín hữu Công giáo, mọi Kitô hữu và tất cả những người nam nữ thiện chí. Chúng ta đừng sợ làm cho đôi tay mình vấy bẩn tại “công trường xây dựng” của thời đại mình. Như ông Nêhêmia, chúng ta hãy cầu nguyện, hoạch định cách khôn ngoan, kiên trì làm việc, đặt Thiên Chúa ở vị trí hàng đầu trong mọi hành động của mình, và đặt con người ở trung tâm của mọi chọn lựa. Như thế, những “viên đá bị loại bỏ”, là những người nghèo, người đau yếu, người di cư, những người bé mọn nhất giữa chúng ta, sẽ trở nên viên đá góc tường, và một ngôi nhà chung vững chắc, rộng mở và đầy đón tiếp sẽ được hình thành trên mặt đất, ở đó “tình thương và lòng thành tín giao hòa, công lý và bình an hôn nhau.” (x. Tv 85,10) Đó là phúc lành mà chúng ta khẩn cầu Thiên Chúa ban xuống. Và nhiệm vụ trước mắt chúng ta là trở nên những người xây dựng sự hiệp thông, chứ không phải những Thiên Chúa đang đến, thay vì làm chủ những ngọn tháp vốn chỉ được định sẵn để sụp đổ. Với tâm tình của một mục tử và người cha, tôi kêu gọi mọi người hãy từ bỏ việc xây dựng thêm một Tháp Babel khác nữa, và cùng nhau hợp sức để kiến tạo công ích, ngõ hầu nhân loại không bao giờ đánh mất vẻ đẹp của mình, và để thế giới một lần nữa nhận ra rằng trái tim con người chính là nơi Thiên Chúa mong muốn ngự trị.

  • Còn tiếp

From: NguyenNThu

VẬT LỘN VỚI CHÍNH SỰ PHỨC TẠP CỦA BẢN THÂN – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Catherine de Hueck Doherty, người sáng lập Madonna House, đã từng có một cuộc phỏng vấn rất sâu sắc.  Là một nhân vật thiêng liêng nổi tiếng và được kính trọng, bà thẳng thắn thừa nhận rằng con đường của mình không hề dễ dàng, rằng bà cũng có rất nhiều giằng co nội tâm.  Tại sao?  Vì giống như tất cả chúng ta, bà mang một sự phức tạp gần như “bệnh lý.”  Làm người – bà nói – không hề đơn giản. 

Bà mô tả chính mình như thế này (diễn lại ý): 

“Trong tôi,” bà nói, “dường như có ba con người.  Có một người tôi gọi là ‘Nữ Bá tước.’  ‘Nữ Bá tước’ là người thiêng liêng, hiệu quả, sống cầu nguyện và khổ chế.  Đó là con người đạo đức trong tôi.  Chính người này đã lập nên một cộng đoàn tu trì, viết sách thiêng liêng, thách đố người khác, và hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa và người nghèo.  ‘Nữ Bá tước’ đọc Tin Mừng và cảm thấy thiếu kiên nhẫn với những chuyện trần thế.  Đối với bà, cuộc sống hiện tại phải được hy sinh cho đời sau.

 Nhưng trong tôi cũng có một người khác, tôi gọi là ‘Catherine.’  ‘Catherine’ là người phụ nữ thích những điều đẹp đẽ, xa hoa, tiện nghi và khoái lạc.  Bà muốn tận hưởng sự nhàn rỗi, những bồn tắm dài, quần áo đẹp, trang điểm, thức ăn ngon, và (khi còn kết hôn) từng tận hưởng đời sống vợ chồng lành mạnh.  ‘Catherine’ yêu thích cuộc sống này và không thích hy sinh.  Bà không mấy đạo đức và thường không ưa ‘Nữ Bá tước.’  Hai người này không phải lúc nào cũng hòa hợp.

 Nhưng vẫn còn một con người nữa trong tôi – không phải ‘Catherine,’ cũng không phải ‘Nữ Bá tước.’   Trong tôi còn có một cô bé nằm trên sườn đồi ở Phần Lan, nhìn mây và mơ mộng.  Cô bé này không đặc biệt thích cả ‘Catherine’ lẫn ‘Nữ Bá tước’. … “và khi tôi già đi, tôi cảm thấy mình giống ‘Nữ Bá tước’ hơn, vẫn còn khao khát ‘Catherine,’ nhưng tôi nghĩ con người thật trong tôi có lẽ là cô bé đang mơ mộng trên đồi.”

 Nếu những lời này được nói bởi một người còn đang loay hoay với việc hoán cải căn bản, thì có lẽ không gây ấn tượng mạnh.  Nhưng đây lại là lời của một “người khổng lồ thiêng liêng,” một người đã từ lâu sống đời môn đệ cách nghiêm túc và dấn thân triệt để phục vụ Thiên Chúa và người nghèo. 

Nếu các vị thánh còn giằng co như vậy, thì chúng ta sẽ thế nào? 

Sự thật là: tất cả chúng ta đều phải vật lộn, bởi vì tất cả chúng ta đều phức tạp.  Làm người vốn đã không đơn giản, và còn phức tạp hơn nữa khi ta cố gắng sống vượt lên trên những gì tự nhiên nơi mình.

 Giống như Catherine, trong mỗi chúng ta đều có nhiều “con người.”  Trong ta có một phần có đức tin, muốn sống các Mối Phúc, muốn hòa nhịp với chân lý Tin Mừng.  Trong ta có một vị tử đạo muốn hy sinh vì người khác, một vị thánh muốn phục vụ người nghèo, một “nghệ sĩ luân lý” muốn sống nội tâm sâu sắc. 

Nhưng đồng thời, trong ta cũng có một phần muốn tận hưởng cuộc sống và mọi khoái lạc của nó.  Trong ta có một kẻ hưởng thụ, một người chạy theo cảm giác, một kẻ buông thả, một người duy vật, một kẻ hoài nghi, và một cái tôi ích kỷ.

 Chưa hết, trong mỗi chúng ta còn có một đứa trẻ – vô tư, mơ mộng, nằm nhìn mây trên một sườn đồi nào đó – không hẳn nghiêng về phía “thánh” hay “tội nhân”.

 Vậy con người thật là ai?  Tất cả đều là ta.  Ta vừa là thánh vừa là kẻ tìm khoái lạc, vừa vị tha vừa ích kỷ, vừa tử đạo vừa hưởng thụ, vừa có đức tin vừa hoài nghi, vừa nghệ sĩ luân lý vừa buông thả, vừa trẻ thơ vừa chai sạn.  Và nhiệm vụ của đời sống không phải là tiêu diệt phần này để giữ phần kia, mà là giúp tất cả những phần đó hòa giải với nhau.

 Và bình an – ta biết – không chỉ đơn giản là không có xung đột.  Nó là một phẩm chất tích cực.  Điều gì tạo nên bình an?  Hai điều: hòa hợp và trọn vẹn.

 Hòa hợp: Một giai điệu trở nên êm đẹp khi các nốt nhạc khác nhau được kết nối thành hòa âm.  Có bình an là không còn chói tai, không còn lệch tông.

 Trọn vẹn: Muốn chơi một bản nhạc phức tạp, bạn cần một bàn phím đầy đủ.  Bình an đòi hỏi bạn có đủ “phím” để chơi tất cả những nốt mà cuộc đời yêu cầu.

 Điều này cũng đúng với bản tính con người.  Sự phức tạp của ta không phải là kẻ thù mà là người bạn.  Tất cả những đối nghịch trong ta đòi hỏi một “bàn phím đầy đủ.”  Vì ta vừa là tội nhân vừa là thánh, vừa hưởng thụ vừa hy sinh, vừa người lớn vừa trẻ thơ – ta cần đầy đủ các “phím” để chơi những bản nhạc mà cuộc đời trao cho.

 Bí quyết là đạt tới sự hòa hợp – nơi các phần khác nhau trong đời ta tạo thành một giai điệu.  Nói cách khác, ta phải vượt qua kiểu “gõ loạn” trên bàn phím tạo ra âm thanh hỗn độn.  Đồng thời, ta cũng phải sử dụng trọn vẹn bàn phím để chơi được tất cả những nốt mà cuộc sống đòi hỏi.

 Kinh nghiệm sống đủ lâu sẽ dạy ta điều này: 

Bình an đến khi ta biết sắp xếp tất cả những mảnh phức tạp trong mình thành một bản nhạc đẹp.

Và dĩ nhiên, càng nhiều nốt, bản nhạc càng phong phú – và giai điệu cuối cùng càng sâu sắc.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

BỎ MỘT THẾ GIỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!”.

“Nếu tôi khám phá nơi mình những khát vọng mà không gì trong thế giới này có thể làm thoả mãn, thì lời giải thích hợp lý nhất là: tôi đã được dựng nên cho một quê hương khác!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy, đi theo Chúa Kitô, người môn đệ không chỉ từ bỏ những thứ này thứ kia; họ từ bỏ cả một cách thuộc về thế giới. Tắt một lời: ‘bỏ một thế giới’.

Trong Tin Mừng Marcô, điều Phêrô nhấn mạnh không phải “chúng con theo Thầy”, nhưng là “chúng con đã bỏ mọi sự”. Ông vẫn nghĩ theo logic mất để được, từ bỏ để được đền bù. Nhưng Chúa Giêsu đưa các môn đệ đi xa hơn. Đong đếm hơn thiệt với Trời cao là chưa bước hẳn vào Tin Mừng. Theo Ngài, người môn đệ không chỉ từ bỏ những gì thuộc về thế gian; họ từ bỏ một cấu trúc sở hữu để bước vào một cấu trúc thuộc về. “Đừng sợ Đức Kitô! Ngài không lấy đi điều gì, nhưng trao ban cho bạn tất cả!” – Bênêđictô XVI.

Vì thế, điều Chúa Giêsu hứa không phải một sự bù đắp vật chất cho những gì đã hy sinh, nhưng là một tương quan mới. Người môn đệ bỏ lại một mái nhà, nhưng nhận được nhiều mái nhà; rời một gia đình, nhưng bước vào một đại gia đình. Nước Trời không lấy con người ra khỏi mọi tương quan; Nước Trời chữa lành cách con người sống với nhau. Như vậy, “được gấp trăm” trước hết không phải là có nhiều hơn, nhưng là sống trong một sự hiệp thông rộng lớn hơn. Nói cách khác, theo Chúa Kitô là bước ra khỏi một trật tự cũ của đời sống – ‘bỏ một thế giới’ – để đi vào một thế giới mới của sự thuộc về.

Thánh Phêrô kêu gọi: “Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở!” – bài đọc một. Một khi đã bước vào “đời sống mới của hiệp thông”, người môn đệ không thể tiếp tục sống theo những đam mê và lề thói cũ. Cứ bám mãi vào vùng đất cũ, con người sẽ đánh mất khả năng lớn lên của linh hồn. Sự thánh thiện Kitô giáo không hệ tại ở việc rút khỏi thế gian, nhưng ở khả năng sống khác giữa chính thế gian ấy. Và chính đời sống ấy làm cho “ơn cứu độ Chúa đã biểu dương” – Thánh Vịnh đáp ca – không còn là một ý niệm trừu tượng, nhưng trở thành một thực tại.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là Đấng đã từ bỏ mọi sự trọn vẹn nhất. Ngài từ bỏ vinh quang của Con Một Thiên Chúa để bước vào thân phận giới hạn của con người; từ bỏ quyền lực để sống kiếp tôi tớ; cuối cùng, từ bỏ cả mạng sống mình trên thập giá. Vì thế, theo Chúa Kitô chưa bao giờ là một chọn lựa nửa vời. Có những lúc con người phải bước ra khỏi những gì từng định nghĩa đời mình, để khám phá rằng: điều làm cho con người sống không phải những gì họ nắm giữ, nhưng là Đấng họ thuộc về. Và nhiều khi, muốn bước vào sự sống mới ấy, người môn đệ phải dám ‘bỏ một thế giới’. “Sống là thay đổi; và nên hoàn thiện là đã nhiều lần đổi thay!” – Henry Newman.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa một thế giới luôn chèo kéo để giữ con lại với những sở hữu, cho con biết can đảm từ bỏ những gì không dẫn con đến với Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Anh em nhận được gấp trăm ở đời này cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 10,28-31

28 Khi ấy, ông Phê-rô lên tiếng thưa với Đức Giê-su rằng : “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy !” 29 Đức Giê-su đáp : “Thầy bảo thật anh em : Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, 30 mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con, hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau. 31 Quả thật, nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.”


 

NHÀ KHÔNG MỒ CÔI -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình!”.

Một nhà tâm thần học nhận định: điều giúp một đứa trẻ lớn lên không chỉ là mái nhà, nhưng là sự hiện diện dịu dàng và bảo bọc của một người mẹ.

Kính thưa Anh Chị em,

Dưới chân thập giá, Chúa Giêsu trao Mẹ Maria cho Gioan; và Gioan “rước bà về nhà mình”. Đó không chỉ là cử chỉ cuối cùng của Đức Giêsu, nhưng là giây phút một ngôi nhà mới được khai sinh; để từ nay, nhân loại có một ‘nhà không mồ côi’.

Khi đặt Mẹ Maria dưới chân thập giá đúng vào “giờ” Đức Giêsu được tôn vinh, Gioan không chỉ coi đó là giờ khổ đau, nhưng còn là giờ khai sinh nhân loại mới. Vì thế, khi trao Mẹ cho Gioan, Chúa Giêsu không chỉ lo cho tương lai của Mẹ mình, nhưng còn trao Hội Thánh cho tình mẫu tử của Mẹ. Nếu Eva cũ từng hiện diện bên cây biết lành biết dữ trong ngày nhân loại đánh mất ngôi nhà Địa Đàng – bài đọc một, thì giờ đây, dưới cây thập giá, Eva mới đứng đó để đón nhân loại trở về. Từ cạnh sườn Đấng chịu đóng đinh, Hội Thánh được sinh ra và đã có một người mẹ. “Maria là Mẹ Hội Thánh vì Mẹ là Mẹ Đức Kitô!” – Phaolô VI.

Gioan viết, người môn đệ “rước bà về nhà mình”. Động từ Hy Lạp elaben không chỉ có nghĩa “đưa về”, nhưng còn là “đón nhận”; nghĩa là Maria được trao cho người môn đệ như một gia sản đức tin. Vì thế, Maria không đứng ngoài mầu nhiệm Hội Thánh như một yếu tố đạo đức phụ thêm, nhưng hiện diện ngay nơi căn tính sâu xa của Hội Thánh. Chiều kích Phêrô xây cơ cấu; chiều kích Maria mới làm nên tổ ấm. Hội Thánh được sinh ra dưới chân thập giá và lớn lên trong tình mẫu tử của Mẹ – một ‘nhà không mồ côi’.

Giữa một thế giới ngày càng đông đúc nhưng cũng ngày càng cô độc, con người vẫn khao khát một nơi để thuộc về. Hội Thánh không chỉ là một cơ cấu tôn giáo, nhưng là “Giêrusalem mới”, là ngôi nhà nơi con người thôi lưu lạc và học lại cách thuộc về nhau; và muôn dân sẽ hát lên “Thành của Thiên Chúa hỡi, thiên hạ nói bao điều hiển hách về thành!” – Thánh Vịnh đáp ca. Giữa thành thánh ấy, Maria hiện diện như người mẹ giữ cho Hội Thánh mang hơi ấm của một mái nhà. “Chiều kích Maria của Hội Thánh có trước chiều kích Phêrô!” – Hans Urs von Balthasar.

Anh Chị em,

“Người môn đệ rước bà về nhà mình!” không chỉ là việc dành cho Đức Maria một chỗ ở, nhưng là mở lòng để đón Mẹ vào đời sống đức tin. Có những Kitô hữu yêu mến Hội Thánh nhưng sống đức tin như những đứa con thiếu hơi ấm của một mái nhà; họ giữ đạo nhưng lòng vẫn lưu lạc. Một đức tin chỉ còn luật lệ mà thiếu tình mẫu tử rất dễ biến Hội Thánh thành cơ chế thay vì mái nhà. Vì thế, rước Mẹ về nhà cũng là để học nơi Mẹ cách ở lại dưới chân thập giá, cách tin giữa đau khổ và cách làm cho đời mình trở thành một ngôi nhà có chỗ cho Thiên Chúa và cho nhau. Chỉ khi ấy, con người mới thôi sống như những tâm hồn không có mái nhà cho linh hồn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Mẹ Maria, xin làm cho lòng con trở thành một mái nhà có hơi ấm của Mẹ và Tin Mừng, nơi Thiên Chúa được đón nhận và con người được yêu thương!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************

Lời Chúa Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh, Thứ Hai sau lễ Hiện Xuống

Đây là con của Bà. Đây là mẹ của anh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 19,25-27

25 Khi ấy, đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. 26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng : “Thưa Bà, đây là con của Bà.” 27 Rồi Người nói với môn đệ : “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.


 

Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (Ga 20:22) – Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội Công Giáo mừng đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, hay được gọi là ngày Sinh Nhật của Giáo hội. Chúc mừng Sinh Nhật nhé. Nhớ nhau trong lời cầu nguyện và cho cả thế giới nhé

Cha Vương

CN: 24/05/2026   (n5-6-22)

TIN MỪNG: Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (Ga 20:22)

SUY NIỆM:  Trước khi về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu đã sẽ xin Chúa Cha gửi một Đấng Bảo Trợ khác là Chúa Thánh Thần đến ở với ta mãi mãi. Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa Ngôi Ba, Ngài cũng là Thiên Chúa như ngôi Cha và Ngôi Con. Ngài bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra. Ngài là Đấng Phù Trợ và là Đấng ban sự sống. Thánh Gioan Maria Vianê có viết, “Người yêu mến Chúa Thánh Thần sẽ cảm nghiệm mọi thứ vui sướng trong mình. Thánh Thần dẫn chúng ta giống như một người mẹ dẫn dắt đứa con nhỏ, hoặc giống như một người sáng dẫn một người mù. Những người yêu mến Chúa Thánh Thần sẽ thấy việc cầu nguyện đầy hoan lạc đến nỗi họ không thấy có đủ giờ để cầu nguyện.” Nếu bạn muốn có bình an và hạnh phúc thật trong cuộc sống, bạn cần áp dụng nguyên tắc “xem quả để biết cây” vào trong công việc hằng ngày. Bạn hãy lấy 12 Hoa Quả Chúa Thánh Thần (Sách Giáo Lý Công Giáo, #1832) làm quy tắc chung để hướng dẫn tư tưởng, hành động, và lời nói của mình. Đây là 12 Hoa Quả Chúa Thánh Thần:

1/ Bác Ái—Giúp ta làm mọi việc vì mến Chúa.

2/ Hoan Lạc—Giúp ta nhận biết lòng nhân từ của Chúa.

3/ Bình An—Kết quả của niềm vui, làm cho ta được thư thái.

4/ Kiên Nhẫn—Giúp ta chịu đựng những nghịch cảnh ở đời 

5/ Quảng Đại—Quảng đại là sự rộng lượng cho đi hay hiến tặng những gì mình có (sở hữu) cách bất vụ lợi, không so đo ích kỷ, không toan tính thiệt hơn, trái lại chỉ mưu cầu lợi ích cho tha nhân.

6/ Nhân Từ—Thôi thúc ta làm sự lành cho mọi người.

7/ Từ Tâm—Phát sinh do lòng nhân từ trong lời nói và trong việc làm.

8/ Khoan Dung—Khoan Dung—là thái độ của người có quyền, sẵn sàng làm ngơ hoặc tỏ lòng thương xót và tha thứ cho những người phạm pháp, là sự tha thứ khoan hồng của người trên đối với người, sự quên đi lầm lỗi và thông cảm của đồng bạn với nhau, là không chấp nhất, không trả thù…, là yêu thương tôn trọng người yếu thế hơn,… là sống luật bác ái của Chúa một cách triệt để. 

9/ Trung Tín—Giúp ta trung thành, thẳng thắn trong những giao tế với mọi người.

10/ Khiêm Nhu—Trong tự điển tiếng Việt định nghĩa là: 1. tính khiêm tốn, tính nhún nhường, tính nhũn nhặn, 2. tính thùy mị, tính nhu mì, tính e lệ, 3. tính vừa phải, tính phải chăng, tính bình thường, tính giản dị. Nhưng theo ý nghĩa truyền thống và thần học, khiêm nhu mang tính yếu đuối, nhưng người khiêm nhu chiến thắng cơn tức giận của mình, biết kiềm chế, biết điều chỉnh và điều khiển năng lực để làm điều tốt hơn điều xấu.

11/ Tiết Độ—Chế ngự những dục vọng.

12/ Khiết Tịnh—Giúp canh phòng ngũ quan để chúng không trở nên dịp tội cho ta; giúp ta coi thân xác mình và thân xác người khác như đền thờ Chúa Thánh Thần.

Cây cuộc sống của bạn ngay bây giờ đang sinh ra những trái gì vậy?

LẮNG NGHE: Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an nhờ đức tin, để nhờ quyền năng của Thánh Thần, anh em được tràn trề hy vọng. (Rm 15:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin gửi thần khí Chúa vào tâm hồn con để con sinh ra những hoa trái thơm lành trong cuộc sống và cho mọi người con gặp gỡ. 

THỰC HÀNH: Tập đếm hoa quả Chúa Thánh Thần mỗi ngày để sống tốt đẹp hơn.

From: Do Dzung

************************

Thần Khí Chúa – Lệ Hằng