Tất cả những gì của con đều là của Cha – Cha Vương

 Một ngày bình yên và hãy yêu như Chúa đã yêu nhé. Nhớ nhau trong nguyện cầu, không quên cho thế giới được hòa bình nhé

Cha Vương

Thứ 3: 2/6/2026.       (n3-25)

TIN MỪNG: Tất cả những gì của con đều là của Cha, tất cả những gì của Cha đều là của con; và con được tôn vinh nơi họ. Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian; phần con, con đến cùng Cha. (Ga 17:10-11)

SUY NIỆM: Đoạn Tin Mừng hôm nay nói về lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trước khi từ giã các môn để của Ngài. Sự ra đi nào cũng để lại những khoảnh khắc xúc động lưu luyến bùi ngùi. Chúa về trời để lại con sống giữa thế gian được coi như là một “bể khổ”.  Là người Ki-tô hữu, tuy chân chạm đất nhưng bạn thuộc về Chúa qua bí tích rửa tội và nhờ đức tin. Đây là một giằng co lớn của người tín hữu trước sức mạnh cám dỗ của thế gian. Để giữ lòng chung thuỷ với Chúa trong ơn gọi, bạn cần phải liên lỉ kết hiệp mật thiết với Chúa để khỏi bị mất đi phẩm giá cao cả của người môn đệ theo Chúa. Là con Chúa, tuy chân chạm đất nhưng lòng phải luôn hướng về cõi trên để dù phải đau khổ hy sinh bạn vẫn can đảm sống trọn vẹn cho vinh quang Chúa và cho phần rỗi của linh hồn.

LẮNG NGHE: Mọi kẻ tin vào Người sẽ không phải thất vọng. (Rm 10:11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin gìn giữ con trong tình yêu của Chúa.

THỰC HÀNH: Cầu nguyện và nâng đỡ nhau trong môi trường sống và làm việc của mình.

From: Do Dzung

**************************

Yêu Chúa Yêu Người | Sáng tác: Nguyễn Trung Hải (Tin Yêu)

KHÔNG AI SỞ HỮU AI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ?”.

“Con cái các bạn không phải là con cái của các bạn. Chúng đến qua các bạn, nhưng không từ các bạn!” – Kahlil Gibran.

Kính thưa Anh Chị em,

Điều khó chấp nhận nhất không phải là mất người mình yêu, nhưng là nhận ra họ chưa bao giờ thực sự thuộc về mình. Tin Mừng hôm nay hé mở một sự thật lớn hơn mọi quyền sở hữu: trước mặt Thiên Chúa, ‘không ai sở hữu ai’.

Sau khi kể về một người phụ nữ lần lượt kết hôn với bảy anh em, người Sađucêô chỉ quan tâm một điều: khi sống lại, bà sẽ là vợ của ai? Trong toàn bộ câu chuyện, bà không có một tiếng nói, không một lựa chọn, chỉ xuất hiện như một đối tượng được chuyển từ người đàn ông này sang người đàn ông khác. Vì thế, điều họ thực sự quan tâm không phải là sự sống lại, nhưng là quyền sở hữu. Định nghĩa bản thân bằng những gì mình có là khởi đầu của sự vong thân. Chúa Giêsu đã tháo gỡ tận gốc não trạng ấy. “Khởi đầu của yêu thương là để người mình yêu được là chính họ!” – Thomas Merton.

Chúa Giêsu nhìn bà khác hẳn. Với Ngài, bà không phải là một hồ sơ pháp lý hay một hồ sơ hôn nhân của ai; nhưng là một persona – một ngôi vị sống trước mặt Thiên Chúa. Mà ngôi vị thì không ai có thể sở hữu. Người ta có thể làm chủ một cánh đồng, một ngôi nhà; nhưng không thể sở hữu một con người. Biến người mình yêu thành vật sở hữu là đang tự tay tước đi ngôi vị của họ!

Người Sađucêô nhìn con người qua lăng kính sở hữu; Chúa Giêsu nhìn họ trong tương quan thuộc về. Với Ngài, vấn đề không phải “của ai”, hay ngay cả “ai thuộc về ai”, nhưng tất cả đều thuộc về Thiên Chúa. “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng của kẻ sống”. Vì thế, Abraham, Isaac và Giacóp không thuộc về quá khứ. Nước Trời không có tủ đựng hồ sơ. Trước mặt Thiên Chúa, không ai là một ký ức đã khép lại; tất cả đều sống trong Ngài. “Nếu tôi là những gì tôi có, và những gì tôi có bị mất đi, thì tôi còn là ai?” – Erich Fromm.

Phaolô hiểu rất rõ điều đó, ông không định nghĩa mình bằng những gì đang sở hữu, nhưng bằng Đấng mình thuộc về. Từ ngục tù, giữa thử thách và cô đơn, Phaolô vẫn xác tín: “Tôi biết tôi tin vào ai” – bài đọc một. Đó là một lời tuyên xưng tín thác. Biết mình tin vào ai, người tín hữu có thể ngước nhìn lên cao giữa mọi bất định của cuộc đời: “Lạy Chúa, con ngước mắt hướng nhìn lên Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô là con người tự do nhất, vì Ngài thuộc về Chúa Cha cách trọn vẹn nhất. Ngài không chiếm hữu ai, nhưng luôn dẫn mọi người về với Cha. Trên thập giá, Ngài phó thác tất cả trong tay Cha. Vì thế, Phục Sinh mặc khải một chân lý lớn lao: con người không được dựng nên để sở hữu nhau, nhưng để cùng thuộc về Thiên Chúa. Yêu mà không dám buông tay để họ đến với Thiên Chúa chỉ là thứ tình cảm vị kỷ. Trước mặt Thiên Chúa, ‘không ai sở hữu ai’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con yêu mà không chiếm hữu, gắn bó mà không nắm giữ, hầu dẫn mọi người con yêu về với Chúa, vì chúng con đều thuộc về Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,18-27

18 Khi ấy, có những người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Họ hỏi Người : 19 “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta rằng : “Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ goá mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình.” 20 Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không có con nối dòng. 21 Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không có con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. 22 Cả bảy người đều không có con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. 23 Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ ? Vì cả bảy người đều đã lấy bà làm vợ.”

24 Đức Giê-su nói : “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao ? 25 Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. 26 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, các ông đã không đọc trong sách Mô-sê đoạn nói về bụi gai sao ? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào ? Người phán : ‘Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp’. 27 Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to !”


 

TIỀN TRUNG THÀNH HƠN NGƯỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa!”.

Chỉ cần nhìn một đồng xu, nhà sưu tập tiền cổ có thể biết ngay nó thuộc triều đại nào, đúc ở đâu, giá trị bao nhiêu. Nhưng khi được hỏi điều gì là quan trọng nhất trong đời, ông lúng túng.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhà sưu tập biết gốc gác một đồng tiền cổ; nhưng không biết gốc gác của mình. Tin Mừng hôm nay đưa ra một nghịch lý: đồng tiền mang hình Caesar, thuộc về Caesar; con người mang hình Thiên Chúa nhưng không phải lúc nào cũng thuộc về Ngài. Bởi thế, có lúc ‘tiền trung thành hơn người’.

Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi có nên nộp thuế không; Ngài chỉ xin xem đồng tiền và hỏi: “Hình và danh hiệu này là của ai?”. Từ được dùng ở đây là eikōn – “hình ảnh”; nhưng Kinh Thánh còn nói đến một eikōn khác: con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Vì thế, câu hỏi của Ngài không dừng lại ở đồng tiền: đã hẳn, đồng tiền mang hình Caesar, thuộc về Caesar; còn con người mang hình Thiên Chúa thì thuộc về ai?

Điều nghịch lý là những người chất vấn Chúa Giêsu, chống lại việc nộp thuế cho Caesar, lại muốn kéo Ngài vào cuộc; đang khi chính họ vẫn rủng rỉnh Caesar trong túi. Chúa Giêsu không vội trả lời; Ngài để chính đồng tiền lên tiếng. Vấn đề vì thế không còn là thuế, nhưng là sự thật về chính mình. Đôi khi điều tố cáo chúng ta không phải lời nói, mà là những gì chúng ta đang nắm giữ. “Giá mà người ta hiểu được sự ngọt ngào của một tâm hồn không giữ lại gì cho mình trước mặt Thiên Chúa!” – Thérèse Couderc.

Điều đáng suy ngẫm là Chúa Giêsu không nói: “Dâng cho Thiên Chúa”, nhưng: “Trả về Thiên Chúa”. Người ta chỉ trả lại điều vốn thuộc về chủ của nó: Caesar nhận lại đồng tiền của mình; còn con người phải được trả về cho Thiên Chúa. Vì thế, điều Ngài đòi hỏi không phải là một phần, nhưng là toàn bộ con người. Vấn đề không phải chúng ta cho Thiên Chúa bao nhiêu, nhưng giữ lại cho mình bao nhiêu.

Con người có thể quên mình thuộc về ai; Thiên Chúa thì không bao giờ quên con người thuộc về Ngài. Vì thế, Phêrô mời gọi các tín hữu lớn lên trong ân sủng và sự hiểu biết Đức Giêsu Kitô – bài đọc một. Đó là hành trình trở về sâu hơn với Đấng đã in dấu Ngài nơi chúng ta. Và qua bao thế hệ, Kitô hữu vẫn chỉ có một nơi trú ẩn không đổi thay: “Trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Nếu có lúc ‘tiền trung thành hơn người’, thì Đức Kitô cho thấy con người được tạo dựng để trung thành hơn cả đồng tiền. Ngài là hình ảnh Chúa Cha và hoàn toàn thuộc về Cha; không quyền lực, đám đông hay thập giá nào khiến Ngài phản bội tư cách làm Con. Chính nhờ sự trung tín của Người Con mà chúng ta được trở nên nghĩa tử, và được đưa về với Đấng đã nắn đúc nên mình. Với chúng ta, để vật chất định đoạt giá trị bản thân là đang tự xoá hình ảnh Thiên Chúa nơi mình. “Con người đáng giá vô cùng hơn những gì mình sở hữu!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con thuộc về những gì con đang nắm giữ, hay những gì đang nắm giữ con; nhưng thuộc trọn về Đấng đã in dấu Ngài nơi linh hồn con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,13-17

13 Khi ấy, người ta cử mấy người Pha-ri-sêu và mấy người thuộc phe Hê-rô-dê đến cùng Đức Giê-su để Người phải lỡ lời mà mắc bẫy. 14 Những người này đến và nói : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Vậy có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ? Chúng tôi phải nộp hay không phải nộp ?” 15 Biết họ giả hình, Đức Giê-su nói : “Tại sao các người lại thử tôi ? Đem một đồng bạc cho tôi xem !” 16 Họ liền đưa cho Người. Người hỏi : “Hình và danh hiệu này là của ai đây ?” Họ đáp : “Của Xê-da.” 17 Đức Giê-su bảo họ : “Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” Và họ hết sức ngạc nhiên về Người.


 

Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian. (Ga 16:33)-Cha Vương

Ngày Thứ 2 thật can đảm để yêu thương và tha thứ nhé. Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới nhé . Xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho nhau  

Cha Vương

Thứ 2: 1/6/2026.       (n2-25)

TIN MỪNG: Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan, khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian. (Ga 16:33)

SUY NIỆM: Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo số 180 dạy rằng: “Tin” là hành vi của con người, có ý thức và tự do, xứng hợp với phẩm giá con người. Vì biết rằng đức tin của con người dễ bị lung lay như thế nào, Chúa Giêsu củng cố đức tin của họ bằng lời nhắn nhủ rằng: “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.” Chúa biết rằng vững tin vào Chúa không phải là chuyện dễ nhất là khi những gian nan thử thách của thế gian đang bủa vây cuộc sống hàng ngày của bạn. Chính vì vậy Ngài mới trấn an những tâm hồn yếu đuối: “Can đảm lên!” Trong thế gian này có những chuyện thật là khó hiểu, đó là chưa kể đến lòng người. Nó lại còn khó hiểu hơn nữa. Mặc dù bạn biết rằng Chúa dạy “đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được.” (Mt 19:26) nhưng trong lòng vẫn cảm thấy lo sợ. Một khi “lô-gic” không trả lời được thì bạn cần phải có đức tin. “Người tin thì không cần giải thích, người không tin thì giải thích cũng vô ích!” (Thánh Bernadette, Lộ Đức). Đức tin đóng một vai trò chính yếu trong đời sống của người Kitô hữu. Mặc dù Thiên Chúa là Đấng quyền năng và đầy lòng yêu thương, có thể cho bất kỳ một phép lạ nào xảy ra ở bất cứ nơi đâu, nhưng nếu bạn không có đức tin, thì phép lạ ấy cũng chỉ là một “sự kiện lạ” chóng qua.  Vậy hôm nay bạn hãy xin Chúa Thánh Thần soi trí mở lòng bạn để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mọi biến cố của cuộc sống hàng ngày mà vững tin vào Ngài là đấng “đã thắng thế gian.”

LẮNG NGHE: CHÚA nói: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi: Thầy sẽ lại đến với anh em, và lòng anh em sẽ vui mừng.” (Ga 14:18;16:22)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con tin vào Chúa: xin gia tăng đức tin của con. Con tín thác vào Chúa: xin củng cố lòng tin của con. Con yêu mến Chúa: xin cho con yêu mến Chúa ngày một nhiều hơn.

THỰC HÀNH: Khi gặp điều không vừa ý, thay vì nguyền rủa, hãy tập động viên và khuyến khích nhau bằng câu: “Hãy can đảm lên!”

From: Do Dzung

https://www.youtube.com/watch?v=Yh69LmHbhSA

Can Đảm Lên – Nguyễn,Hữu | Ca Đoàn Đồng Tâm Choir Gx St. Maria Goretti  

https://www.youtube.com/watch?v=wrJcNpILLX8

Ca Khúc Trầm Hương – Hoàng Oanh

Tạ Ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh (1)- Tác giả: Phùng Văn Phụng

Người ta dễ dàng cám ơn khi thành công, khi nhận được lời nói yêu thương, khi nhận quà tặng với tâm tình yêu mến. Khi gặp sự thất bại, bị hành hạ, tủi nhục, đau đớn, bất hạnh… mở lời nói cám ơn Chúa vì những bất hạnh, đau khổ, bịnh tật nghèo nàn, cô đơn thật khó vô cùng. Nhưng giữa sự oán trách, hận đời, bực tức, đắng cay và nếu nhìn sự kiện đó với khía cạnh sâu xa hơn, chịu đựng sự khó khăn để thông phần đau khổ với Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập tự, lòng ta sẽ dịu lại và dễ chấp nhận khó khăn, đau khổ đó. 

1)Tạ ơn Thiên Chúa vì bị tù đày.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 hầu hết những người có trình độ ở miền Nam đều bị đi tù cộng sản.

Những người ưu tú của miền Nam làm việc cho Việt Nam Cộng hoà đều đóng tiền đi tù vì nghe theo lời của Ủy Ban Quân Quản Sài gòn lúc bấy giờ ra thông báo học tập một tháng cho sĩ quan từ thiếu úy trở lên và các viên chức của chánh quyền Sài gòn từ Chánh sở trở lên.

Sự thơ ngây, lầm tưởng thông báo trên của cộng sản là sự thật, cho nên quân nhân, công chức miền Nam đều bị lừa gạt đi tù từ 5 năm đến 17 năm.

Tôi cũng chung số phận những người miền Nam thơ ngây đó. Tôi trình diện đi tù từ ngày 14 tháng 6 năm 1975 và được thả ra ngày 28 tháng 02 năm 1983. Còn thiếu 3 tháng 14 ngày nữa là đủ trọn vẹn 8 năm. Chịu đựng thiếu thốn, đói rét, lạnh lẽo ở các miền rừng núi âm u ở miền Bắc: Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh… Trong tù có nghe tin Tướng Nguyễn Hữu Có đang xây dựng trại ở Thanh Hóa, Nghệ An để các tù nhân cộng sản định cư và vợ con muốn đoàn tụ thì xin ra khu định cư đó để ở cùng các tù nhân.

 ***

Sau khi được thả về, tôi thường nghe lén đài VOA, BBC có nói đến chương trình ra đi trong trật tự cho những người cải tạo.

Cuối cùng có sự thoả thuận giữa Mỹ và Việt Nam. Những người ở tù trên ba năm được di cư sang Mỹ. Dưới ba năm thì không được.

Tôi tạ ơn Chúa vì tôi đã ở tù trên ba năm nên được qua Mỹ theo diện HO cùng với gia đình.

Từ ngày qua Mỹ cách nay 29 năm tôi được hưởng không khí tự do, không còn hồi hộp, lo âu, bị bắt bỏ tù lại bất cứ lúc nào. Không có ai khám nhà, hỏi thăm, theo dõi, rình mò.

Không đi tù không cảm nghiệm được tự do là quý.

Không đi tù không học được tính khiêm nhường, chịu nhẫn nhục trước cán bộ đáng em cháu mình.

Không đi tù, cuộc sống bình thường trôi chảy, đi dạy học và con đường hoạn lộ êm ả, thênh thang, không có bất cứ trở ngại nào để làm tôi suy nghĩ, có lẽ tôi không biết đến đạo Chúa, không biết Chúa Giê su là ai. 

2)Tạ ơn Thiên Chúa vì bị bịnh nan y: 

Khi bị bịnh nặng bịnh nan y chẳng hạn, thông thường con người phản ứng, tức giận trách Chúa sao người khác không bịnh mà Chúa để tôi bịnh. Cho nên tạ ơn Thiên Chúa khi bịnh nan y là một điều rất khó. Làm sao có thể tạ ơn được khi thân thể đau nhức, mệt mỏi, rã rời và biết mình sắp chết. Nhưng cũng có người nhân lúc bịnh hoạn, có thì giờ suy nghĩ, soát xét lại cuộc đời của mình, để ăn năn sám hối những lỗi lầm đã qua. Và trong bài: Lời tạ ơn lạ thường, một bà 84 tuổi đau đớn vì bịnh ung thư, đã dâng lời tạ ơn Chúa như sau: 

“Tôi rất cám ơn Chúa đã cho tôi một cơ hội để tỏ lòng biết ơn Ngài! Năm nay tôi 84 tuổi, đang bị bệnh ung thư và phải nằm cấm cung ở nhà. Tôi xin dâng những tật bệnh và những cơn đau này cho Chúa để cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục, cho những người mẹ đã và đang dự định phá thai, và cho các thai nhi vô tội…! Tôi rất vui và hạnh phúc khi có được cơ hội để đền đáp lại hồng ân và tình yêu vô bờ bến mà Ngài đã dành cho tôi, một tạo vật nhỏ bé và bất xứng…!”(2)  

3)Tạ ơn Thiên Chúa vì bị tật nguyền. 

Rất khó tạ ơn Chúa vì bị tật nguyền. Thông thường tạ ơn Chúa vì ta được lành lặn, làm ăn giàu có, thành công. Chứ tật nguyền làm sao tạ ơn Chúa cho được.

Nhưng có nhiều trường hợp con người vẫn tạ ơn Chúa vì những bất hạnh, khiếm khuyết của cơ thể. Như trường hợp Nick Vujicic.(3)

Nicholas James “Nick” Vujicic sinh ngày 4 tháng 12 năm 1982, tại Brisbane, Úc, là một người truyền bá Phúc Âmdiễn giả truyền cảm hứng người Úc gốc Serbia, khi được sinh ra đã không có tứ chi mà chỉ có 1 bàn chân và 2 ngón chân nhỏ. 

Nick bị hội chứng tetra-amelia bẩm sinh, một loại rối loạn hiếm gặp, gây ra sự thiếu vắng cả bốn chi.

 Cha mẹ của anh là Dushka (Душка) và Boris Vujicic (Борис Вујичић). Mặc dù là một đứa trẻ khỏe mạnh nhưng từ khi sinh ra Nick đã không có cả hai chi trên và dưới mà chỉ có hai bàn chân nhỏ (một trong số đó có hai ngón chân). Anh có hai anh chị em ruột là Michelle và Aaron.

Nick Vujicic có đến Việt Nam từ ngày 22 tháng 5 đến ngày 26 tháng 5 năm 2013. 

Nick viết sách để truyền bá sự lạc quan, vui vẻ, niềm tin vào tương lai, niềm tin vào Chúa và niềm hy vọng.

Cuốn sách đầu tay của Nick – Life Without Limits: Inspiration for a Ridiculously Good Life (nhà xuất bản Random) – ra mắt công chúng năm 2010. Nick đưa ra thị trường DVD Life’s Greater Purpose – một bộ phim tài liệu được bấm máy vào năm 2005, có nội dung thuật lại cuộc sống gia đình và những hoạt động thường ngày của Nick. Phần thứ hai của DVD được quay tại hội thánh Tin Lành địa phương của anh ở Brisbane – một trong những bài nói chuyện về động lực cuộc sống đầu tiên của anh. Nick cũng giới thiệu đĩa DVD dành cho giới trẻ với nhan đề No Arms, No Legs, No Worries: Youth Version.

 Nick vẫn làm việc bình thường giống như mọi người.  

 Anh đã tốt nghiệp đại học và trở thành một diễn thuyết gia nổi tiếng về chủ đề làm chủ cuộc sống. Anh truyền cảm hứng cho rất nhiều người nhất là giới trẻ.

Nick hiện đang định cư ở Los Angeles, California, Mỹ.  Ngày 12 tháng 2 năm 2012, anh kết hôn với Kanae Miyahara. Ngày 13 tháng 2 năm 2013, con trai họ là Kiyoshi James Vujicic chào đời, cân nặng khoảng 3,9 kg.

 Nick đã xuất bản ba cuốn sách và hai DVD:

Sách: Life Without Limits, 2010 (Cuộc sống không giới hạn, dịch giả: Nguyễn Bích Lan) 

Sách: Unstoppable (Không thể bị cản)

Sách: Limitless (Không giới hạn)

DVD: Life’s Greater Purpose (Mục đích lớn hơn của cuộc sống)

DVD: No Arms, No Legs, No Worries: Youth Version (Không tay, Không chân, Không lo lắng: Phiên bản Tuổi trẻ) 

Nick là một tấm gương kiên nhẫn đáng học hỏi và bắt chước, nhất là giới trẻ có nhiều cơ hội, tương lai phía trước đầy triển vọng. 

Nick Vujicic đang nói chuyện tại một nhà thờ ở Ehringshausen, Đức (tháng 4 năm 2011) 

(1)Thánh Phaolô viết: “Anh em hãy tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, vì đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1Tx 5, 18).

(2) https://keditim.net/?p=118876     

(3) Nick Vujicic – Wikipedia tiếng Việt 

Tác giả: Phùng Văn Phụng

 24 tháng 11 năm 2022

   (ngày lễ Tạ ơn)

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

CÂU CHUYỆN PHI THƯỜNG VỀ NHỮNG “KITÔ HỮU KAKURE KIRISHITAN TẠI NHẬT BẢN

Joseph Phạm Nguyên

CÂU CHUYỆN PHI THƯỜNG VỀ NHỮNG “KITÔ HỮU KAKURE KIRISHITAN TẠI NHẬT BẢN

Vào đầu những năm 1600, chính quyền Nhật Bản đã trục xuất toàn bộ các nhà truyền giáo Kitô giáo và phát động những cuộc bách hại tàn khốc. Các linh mục bị sát hại hoặc buộc phải rời đi, bỏ lại hàng ngàn người Nhật trở lại đạo trong sự cô lập hoàn toàn với Giáo hội.

Suốt hơn 250 năm, những tâm hồn trung kiên này — được biết đến với tên gọi “Kitô hữu ẩn danh” (Kakure Kirishitan) — đã sống trong thầm lặng. Họ không có linh mục, không có Thánh lễ công khai, không có các bí tích và cũng chẳng có Kinh Thánh. Thế nhưng, đức tin Công giáo của họ chưa bao giờ lụi tàn.

Họ truyền lại lời dạy của Chúa Kitô từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ bí mật rửa tội cho con cái mình. Và trong tĩnh lặng của mái nhà, họ bám chặt vào một sợi dây cứu sinh mạnh mẽ: Kinh Mân Côi.

Thay vì dùng chuỗi hạt, họ thắt những nút dây thừng đơn sơ để đọc Kinh Mân Côi mỗi ngày. Các Mầu nhiệm về cuộc đời Chúa Kitô trở thành sách giáo lý của họ. Những kinh Kính Mừng, kinh Lạy Cha trở thành lời cầu nguyện, niềm an ủi và là “Thánh lễ thầm lặng” của họ.

Chính nhờ Kinh Mân Côi, họ vẫn hiệp thông cùng Chúa Giêsu và Đức Mẹ ngay cả trong những thập kỷ đen tối nhất của cuộc bách hại.

Khi các nhà truyền giáo quay trở lại Nhật Bản vào giữa những năm 1800, họ đã vô cùng kinh ngạc khi thấy toàn bộ các cộng đồng vẫn gìn giữ vẹn toàn Đức tin Công giáo — tất cả là nhờ Kinh Mân Côi.

Bài học cho chúng ta hôm nay:

Câu chuyện phi thường này nhắc nhở chúng ta rằng Kinh Mân Côi không chỉ đơn thuần là một việc đạo đức. Đó là một vũ khí thiêng liêng, một trường học đức tin và là sợi xích ân sủng nâng đỡ chúng ta vượt qua những thử thách, cô độc và bất định của cuộc sống.

Trong một thế giới bận rộn và đôi khi đầy thách thức như hiện nay, nguyện xin gương sáng của các Kitô hữu ẩn danh truyền cảm hứng cho chúng ta biết siêng năng đọc Kinh Mân Côi với lòng mến yêu và trung thành sâu sắc hơn.

Theo dõi trang để đọc thêm nhiều bài viết từ Joseph Phạm Nguyên

Nguyện xin Thiên Chúa ban phước lành cho bạn!

#catholic #catholicfaith #FaithInAction #rosary #culture #christianity #GiaohoiConggiao #KinhManCoi #DucTin 


 

GIẾT THỪA KẾ – ĐỂ LÀM CHỦ – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta!”.

Khi còn là hoàng tử, Absalom đã âm thầm thu phục cảm tình dân chúng và cuối cùng nổi loạn chống lại Đavít, vua cha. Bi kịch là: người sẽ được thừa kế lại muốn sở hữu ngay điều mình chưa được trao. Và trên đường chiếm đoạt vương quyền, ông đánh mất tất cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Muốn chiếm lấy điều chỉ có thể đón nhận như hồng ân là một cám dỗ cổ xưa. Những tá điền trong Tin Mừng hôm nay cũng vậy, “Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta!”. Đó là một thứ logic của tội lỗi: ‘giết thừa kế – để làm chủ’.

Dụ ngôn xoay quanh người klēronomos – người thừa kế. Trong Kinh Thánh, đó không chỉ là người nhận gia sản, nhưng còn là dấu chỉ của quyền sở hữu chính đáng. Vì thế, các tá điền vừa thấy người con đã biết ngay anh là ai: một chướng ngại. Chừng nào người thừa kế còn đó, họ mãi chỉ là tá điền. Muốn làm chủ, họ phải loại bỏ người thừa kế. Họ muốn chiếm đoạt điều lẽ ra phải đón nhận như quà tặng. Từ Ađam đến hôm nay, con người vẫn nghĩ mình sẽ giàu hơn khi gạt Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời; nhưng càng xa Thiên Chúa, con người càng vong thân. “Ai để Đức Kitô bước vào đời mình thì không mất gì cả; trái lại, người ấy tìm thấy sự sống đích thực!” – Bênêđictô XVI.

Nếu các tá điền gây ngạc nhiên vì lòng tham, thì chủ vườn còn gây ngạc nhiên hơn vì lòng quảng đại. Sau cảnh những đầy tớ bị đánh đập, sỉ nhục và giết hại, ông vẫn sai người con. Theo cái nhìn nhân loại, đó là một quyết định liều lĩnh. Nhưng chính ở đây dụ ngôn hé mở dung mạo Thiên Chúa. Con người luôn muốn giữ lại điều quý nhất; Thiên Chúa lại trao chính điều quý nhất. Nếu các tá điền nói: “Nào ta giết quách nó đi!”, thì Thiên Chúa lại nói: “Ta vẫn sai con ta đến!”.

Nhưng dụ ngôn không kết thúc ở cái chết của người con. “Tảng đá thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”. Con người loại bỏ điều họ cho là chướng ngại; Thiên Chúa lại biến chính điều ấy thành nền móng. Người con bị giết trở thành con đường để kế hoạch được hoàn tất. Thập giá không phải là thất bại của công lý, nhưng là vương quyền của tình yêu. Chính tình yêu ấy mở ra cho con người khả năng được “thông phần bản tính Thiên Chúa” – bài đọc một. Vì thế, người tín hữu không sống bằng sự chiếm hữu, nhưng bằng sự tín thác: “Lạy Thiên Chúa, con tin tưởng vào Ngài” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là Người Thừa Kế mà các tá điền muốn loại bỏ. Con người ‘giết Người Thừa Kế – để làm chủ’; Thiên Chúa lại trao Người Thừa Kế để chúng ta được làm nghĩa tử. Bởi đó, thay vì nắm giữ như các tá điền, người môn đệ học sống bằng sự tín trung. Chỉ người biết đón nhận mới thực sự giàu có. Kẻ sống bằng sự chiếm hữu là kẻ đang nuôi dưỡng một linh hồn nghèo đói. Người biết đón nhận mọi sự như hồng ân sẽ khám phá rằng: điều quý giá nhất trong đời không phải là điều mình sở hữu, nhưng là Đấng mình thuộc về.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi cám dỗ chiếm hữu điều chỉ có thể được đón nhận như quà tặng!” Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Họ đã bắt người con yêu dấu, giết chết rồi quăng ra bên ngoài vườn nho.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,1-12

1 Khi ấy, Đức Giê-su bắt đầu dùng dụ ngôn mà nói với các thượng tế, kinh sư và kỳ mục. Người nói : “Có người kia trồng được một vườn nho ; ông rào giậu chung quanh, đào bồn đạp nho và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 2 Đến mùa, ông sai một đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi vườn nho mà họ phải nộp. 3 Nhưng họ bắt người đầy tớ, đánh đập và đuổi về tay không. 4 Ông lại sai một đầy tớ khác đến với họ. Họ đánh vào đầu anh ta và hạ nhục. 5 Ông sai một người khác nữa, họ cũng giết luôn. Rồi ông lại sai nhiều người khác : kẻ thì họ đánh, người thì họ giết. 6 Ông chỉ còn một người nữa là người con yêu dấu : người này là người cuối cùng ông sai đến gặp họ ; ông nói : ‘Chúng sẽ nể con ta.’ 7 Nhưng bọn tá điền ấy bảo nhau : ‘Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta.’ 8 Thế là họ bắt cậu, giết chết rồi quăng ra bên ngoài vườn nho. 9 Vậy ông chủ vườn nho sẽ làm gì ? Ông sẽ đến tiêu diệt các tá điền, rồi giao vườn nho cho người khác. 10 Các ông chưa đọc câu Kinh Thánh này sao ? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. 11 Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta !”

12 Họ tìm cách bắt Đức Giê-su, nhưng lại sợ dân chúng ; quả vậy, họ thừa hiểu Người đã nhắm vào họ mà kể dụ ngôn ấy. Thế là họ để Người lại đó mà đi.


 

MỘT CHUYỂN ĐỘNG – KHÔNG PHẢI MỘT CÔNG THỨC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đến nỗi ban Con Một!”.

“Con Thiên Chúa đã làm người để con người được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa!” – Athanasiô.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay không mặc khải Chúa Ba Ngôi như một công thức để giải thích, nhưng như một chuyển động để bước vào: Chúa Cha ban Con Một cho thế gian, để thế gian được dự phần sự sống của Thiên Chúa. Đó là ‘một chuyển động – không phải một công thức’.

Điều đáng chú ý là Gioan không mô tả Thiên Chúa bằng những khái niệm siêu hình, nhưng bằng những động từ: yêu, ban, sai và cứu. Chúng ta biết Thiên Chúa là ai nhờ những gì Ngài thực hiện cho thế gian. Vì thế, Ba Ngôi không được mặc khải như một công thức về Thiên Chúa, nhưng như một lịch sử tình yêu. Đóng khung Thiên Chúa vào công thức là đang thờ lạy một ngẫu tượng thần học. Hans Urs von Balthasar gọi chuyển động ấy là theo-drama – “vở kịch thần linh”, trong đó Chúa Cha trao ban Chúa Con cho thế gian để thế gian được cứu độ.

Điều gây ngạc nhiên nhất không phải là việc Thiên Chúa yêu, nhưng là đối tượng được Ngài yêu. Gioan dùng từ kosmos – “thế gian”. Trong Tin Mừng thứ tư, kosmos còn là thế giới khước từ Thiên Chúa và chống lại ánh sáng. Thế nhưng, chính thế giới ấy lại được yêu thương. Tình yêu đi trước sự hoán cải; ân sủng đi trước mọi công trạng. Yêu một thế giới dễ thương là thoả hiệp; yêu một thế giới tội lỗi mới là cứu độ.

Nhưng chuyển động tình yêu của Ba Ngôi không cưỡng ép ai. Thiên Chúa không sai Con đến để kết án thế gian, nhưng để cứu độ thế gian. Vì thế, phán xét trong Gioan trước hết là một sự tự phán xét. Khi khước từ Đấng được trao ban, con người tự tách mình khỏi sự sống phát xuất từ Chúa Cha. Thiên Chúa không ngừng yêu thương; chính việc khước từ tình yêu ấy mới trở thành phán xét. “Cửa hoả ngục được khoá từ phía trong!” – C. S. Lewis.

Các bài đọc hôm nay cho thấy điều đó. Môsê không gặp một định nghĩa về Thiên Chúa, nhưng gặp một Thiên Chúa “từ bi và nhân hậu”; Phaolô cũng không trình bày một công thức tín lý, nhưng một lời chúc: “ân sủng, tình yêu và hiệp thông”. Và Hội Thánh đáp lại bằng khúc tụng ca của Đaniel: “Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời!”. Trước mầu nhiệm Ba Ngôi, thái độ đầu tiên không phải là giải thích; nhưng là bước vào, ở lại và tôn thờ. Có những thực tại chỉ được hiểu từ bên trong khi người ta tham dự vào đó.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ mặc khải Thiên Chúa; Ngài đưa chúng ta vào chính sự sống của Thiên Chúa. Nơi Ngài, chuyển động yêu thương của Chúa Cha trở nên hữu hình. Vì thế, tin không chỉ là đồng ý với một công thức, nhưng là bước vào một tương quan; không chỉ là hiểu một mầu nhiệm, nhưng là sống trong mầu nhiệm ấy. Đức tin không phải là một bài kiểm tra giáo lý; đó là cuộc xuất hành vào tình yêu. Thiên Chúa không cần những khán giả đứng xem, Ngài cần những chứng nhân dám nhập cuộc. Đó là ‘một chuyển động – không phải một công thức’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Ba Ngôi, xin kéo con vào ‘vở kịch thần linh’ của tình yêu Chúa, để con biết yêu thương, trao ban như Chúa đã không ngừng trao ban cho thế gian!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT CHÚA BA NGÔI, NĂM A

Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 3,16-18

16 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. 18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án ; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.”


 

Ý NGHĨA CỦA “MAGNIFICA HUMANITAS” ĐƯỢC GIẢI THÍCH MỘT CÁCH ĐƠN GIẢN, VÀ ĐẦY BẤT NGỜ

Legio Mariae Dao Binh Duc Me

28/05/2026 Phêrô Phạm Văn Trung

Thông điệp Rerum Novarum là cuộc gặp gỡ với Cách mạng Công nghiệp. Thông điệp Magnifica Humanitas là cuộc gặp gỡ với trí tuệ nhân tạo, và yêu cầu chúng ta lựa chọn giữa Tháp Babel và Thành phố của Chúa. Dưới đây là một câu trích dẫn từ mỗi chương.

Năm 1891, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII nhìn vào một thế giới đang bị tàn phá bởi quá trình công nghiệp hóa và đã viết Rerum Novarum, một thông điệp đã mãi mãi thay đổi cách Giáo hội tương tác với xã hội. Vào ngày 15 tháng 5 năm 2026, đúng 135 năm sau, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã ký thông điệp Magnifica Humanitas. Hoàn cảnh khác nhau, nhưng tính cấp thiết vẫn như nhau.

Thông điệp này dài, giàu nội dung thần học, và đôi khi táo bạo đến bất ngờ. Dưới đây là nội dung của từng chương, và một yếu tố trong mỗi chương có thể khiến bạn ngạc nhiên.

Lời giới thiệu: Hai thành phố, một sự lựa chọn

Thông điệp của Đức Lêô XIV mở đầu bằng hai hình ảnh Kinh Thánh: Tháp Babel và việc xây dựng lại Giêrusalem dưới thời Nơkhemia. Một là dự án của sự kiêu hãnh và đồng nhất; dự án kia thì chậm rãi, mang tính cộng đồng và bắt nguồn từ Thiên Chúa. Toàn bộ thông điệp đều xuất phát từ sự lựa chọn này. Chúng ta đang xây dựng Babel, hiệu quả, mạnh mẽ, nhưng phi nhân tính, hay đang xây dựng Giêrusalem, từng viên gạch một cách kiên nhẫn?

Chương 1: Một truyền thống sống động

Đức Giáo Hoàng đã truyền lại giáo huấn xã hội của Giáo hội từ thời Đức Lêô XIII đến thời Đức Phanxicô, cho thấy mỗi vị giáo hoàng đã ứng phó với các cuộc khủng hoảng thời bấy giờ như thế nào. Dòng chảy này trải dài từ quyền lợi người lao động đến chiến tranh hạt nhân, sự sụp đổ môi trường và bất bình đẳng toàn cầu.

Điều bất ngờ: Đức Giáo Hoàng Lêô XIV không chỉ áp dụng Học thuyết Xã hội vào Trí tuệ Nhân tạo. Ngài nói rằng Trí tuệ Nhân tạo chủ động thách thức các phạm trù của của Học thuyết Xã hội đó từ bên trong, và đòi hỏi truyền thống này phải phát triển hơn nữa.

Đoạn số 17 viết:

“Trí tuệ nhân tạo…không nên được coi chỉ là một chủ đề khác để nghiên cứu hay một cuộc khủng hoảng cần được giải quyết, mà đúng hơn là một sự phát triển thách thức các phạm trù của Học thuyết Xã hội từ bên trong, đòi hỏi sự phát triển hơn nữa của chúng trong sự trung thành với Tin Mừng”.

Chương 2: Những nguyên tắc bất biến

Thông điệp này tái khẳng định những trụ cột nền tảng: phẩm giá con người, lợi ích chung, nguyên tắc bổ trợ, tình đoàn kết, công bằng xã hội và sự phát triển toàn diện của con người. Những nền tảng vững chắc, quen thuộc, cho đến khi chúng không còn như vậy nữa.

Điều bất ngờ: Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đề cập rõ ràng đến thuật toán, dữ liệu, nền tảng kỹ thuật số và bằng sáng chế theo nguyên tắc về mục đích sử dụng chung của hàng hóa. Dữ liệu không phải là tài sản của một công ty công nghệ. Nó thuộc về tất cả mọi người, theo đúng nghĩa.

Điều 67 viết:

“Ngày nay, bên cạnh những của cải được dành cho tất cả mọi người, chúng ta cũng cần bao gồm những hình thức sở hữu mới, chẳng hạn như bằng sáng chế, thuật toán, nền tảng kỹ thuật số, cơ sở hạ tầng công nghệ và dữ liệu. Trong bối cảnh mà sự giàu có của các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào tri thức và công nghệ, nếu những của cải này vẫn tập trung trong tay một số ít người, mà không có các hình thức chia sẻ và tiếp cận phù hợp, thì sẽ tạo ra một sự mất cân bằng mới, trái ngược với mục đích phổ quát của của cải.”

Chương 3: Trí tuệ nhân tạo là gì và không phải là gì

Đây là trọng tâm giáo lý của thông điệp. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV viết rõ ràng rằng trí tuệ nhân tạo (AI) không phải là trí tuệ con người. Nó xử lý dữ liệu. Nó không thể cảm nhận, đau khổ, yêu thương, hay gánh vác trách nhiệm đạo đức. Nó có thể mô phỏng sự đồng cảm mà không hiểu được sự đồng cảm đó. Điều đó vô cùng quan trọng khi chúng ta trao cho trí tuệ nhân tạo quyền lực chi phối cuộc sống của con người.

Điều bất ngờ: Đức Giáo Hoàng kêu gọi “giải giáp” trí tuệ nhân tạo, giải phóng nó khỏi logic cạnh tranh địa chính trị và thương mại, khỏi sự kiểm soát độc quyền, và trả lại cho sự đa dạng của các nền văn hóa nhân loại.

Đoạn số 110 ghi:

“Cuối cùng, tôi muốn sử dụng cụm từ “giải giáp”, một cụm từ rất gần gũi với trái tim tôi. Giải giáp AI có nghĩa là giải phóng nó khỏi tư duy cạnh tranh “có vũ trang”, điều mà ngày nay không chỉ giới hạn trong bối cảnh quân sự, mà còn là một hiện tượng kinh tế và nhận thức. Điều này dẫn đến cuộc chạy đua để có được các thuật toán ngày càng mạnh mẽ hơn và các tập dữ liệu lớn hơn, được thúc đẩy bởi mong muốn giành được sự thống trị về địa chính trị hoặc thương mại. Giải giáp có nghĩa là bác bỏ giả định rằng sức mạnh kỹ thuật tự động mang lại quyền cai trị. Giải giáp không có nghĩa là từ chối công nghệ, mà là ngăn chặn nó thống trị nhân loại. Giải giáp có nghĩa là giải phóng công nghệ khỏi sự kiểm soát độc quyền và mở ra cho thảo luận và tranh luận, do đó làm cho công nghệ thân thiện với con người và khôi phục công nghệ đưa nó vào sự đa dạng của các nền văn hóa và lối sống của con người. Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay không chỉ là đạo đức hay kỹ thuật. Đạo đức hay kỹ thuật mang tính sinh thái theo nghĩa sâu sắc nhất, bởi vì nó liên quan đến một chiều kích mới của ngôi nhà chung của chúng ta. AI đã là một môi trường mà chúng ta đang sống trong đó, cũng như một lực lượng mà chúng ta phải tương tác. Vì lý do này, chỉ điều chỉnh nó thôi là chưa đủ; nó phải được giải giáp, trở nên thân thiện và dễ tiếp cận.”

Chương 4: Chân lý, lao động và tự do

Chương bốn là chương có phạm vi bao quát rộng nhất. Chương này đề cập đến thông tin sai lệch và dân chủ, sự chuyển đổi công việc do công nghệ tự động hóa, sự mong manh của các gia đình dưới áp lực kinh tế, những nguy hiểm của chứng nghiện kỹ thuật số và sự bóc lột người lao động ẩn giấu trong chuỗi cung ứng AI.

Điều bất ngờ: Trong một đoạn văn về chế độ nô lệ hiện đại và nền kinh tế kỹ thuật số, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV chính thức thừa nhận, nhân danh Giáo hội, sự đồng lõa trong lịch sử của Giáo hội đối với chế độ nô lệ. Đó là một khoảnh khắc đáng chú ý của sự khiêm nhường trong một văn kiện về tương lai.

Đoạn số 176 viết:

“Thật đúng là không thể đánh giá các sự kiện trong quá khứ một cách lỗi thời, như thể các tiêu chí đạo đức, vốn được hoàn thiện theo thời gian, đã luôn luôn tồn tại. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận hay xem nhẹ sự chậm trễ mà cả xã hội và Giáo hội trong việc lên án tệ nạn nô lệ. Trong thời Cổ đại và Trung Cổ, nhiều cá nhân và thậm chí cả các thể chế giáo hội đều có nô lệ. Ngay từ thời kỳ cận đại, Tòa Thánh La Mã, đáp lại yêu cầu từ các vị vua, đã can thiệp nhiều lần để điều chỉnh và hợp pháp hóa các hình thức áp bức, và trong một số trường hợp, là việc nô dịch những người “ngoại đạo”. Chỉ đến thế kỷ XIX, một sự lên án chính thức, tuyệt đối và phổ quát đối với chế độ nô lệ mới được nêu rõ ràng, đặc biệt là dưới thời Đức Giáo Hoàng Lêô XIII.”

Chương 5: Nền văn minh của tình yêu

Chương cuối cùng đề cập đến chiến tranh. Nội dung rất thẳng thắn: chi tiêu quân sự đang gia tăng, các giới hạn đạo đức đang bị xói mòn, và trí tuệ nhân tạo đang đưa ra những quyết định chết người nhanh hơn và vô cảm hơn bao giờ hết.

Điều bất ngờ: Đức Giáo Hoàng Lêô XIV tuyên bố rõ ràng rằng lý thuyết chiến tranh chính nghĩa truyền thống giờ đã lỗi thời. Trong một thế giới của vũ khí tự động và chiến tranh hỗn hợp, khuôn khổ cũ không thể trụ vững. Ngoại giao, đối thoại và chủ nghĩa đa phương là con đường thực tế duy nhất phía trước.

Đoạn 192 viết:

“Ngày nay, hơn bao giờ hết, bất kể quyền tự vệ theo nghĩa chặt chẽ nhất, điều quan trọng là phải khẳng định lại rằng lý thuyết “chiến tranh chính nghĩa”, vốn thường được sử dụng để biện minh cho bất cứ loại chiến tranh nào, giờ đây đã lỗi thời. Nhân loại sở hữu những công cụ hiệu quả và có khả năng hơn nhiều để thúc đẩy sự sống con người và giải quyết xung đột, chẳng hạn như đối thoại, ngoại giao và tha thứ. Việc sử dụng vũ lực, bạo lực và vũ khí phản ánh sự nghèo nàn về mặt quan hệ, điều luôn dẫn đến những hậu quả thảm khốc đối với dân thường.”

Kết luận: Bài học của Nơkhemia

Thông điệp kết thúc bằng một chương trình thực tiễn: hãy trung thành với chân lý, đầu tư vào giáo dục, vun đắp các mối tương quan chân thật, yêu công lý và hòa bình. Hình ảnh được thể hiện là Nơkhemia, xắn tay áo lên, xây dựng lại từng bức tường một. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV gợi ý rằng đó chính là hình ảnh của việc trở thành người Công giáo trong thời đại trí tuệ nhân tạo.

Daniel Esparza, 25/05/2026

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ

Từ https://aleteia.org

THÔNG ĐIỆP NÀY DẪN CHỨNG 224 TÁC GIẢ:

TOLKIEN, FRANKL, MONTESSORI, V.V.

Thông điệp mới của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV kết hợp các biểu tượng thế tục và các nhà tư tưởng hiện đại vào giáo huấn xã hội Công giáo, dựa trên một nguồn tư liệu bất ngờ gồm 224 nguồn tham khảo.

Tolkien, Marie Curie, Viktor Frankl, Plato, Guernica , Schindler’s List và Maria Montessori… Trong thông điệp Magnifica humanitas, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã đề cập đến một loạt các cá nhân và tác phẩm mà người ta có thể không ngờ tới từ ngòi bút của một vị giáo hoàng. Chúng tôi đã xem xét 224 dẫn chứng rải rác trong văn bản này, nhiều dẫn chứng được mượn từ các giáo hoàng trước đây nhưng cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ thế giới Anglo-Saxon.

Từ Trung Địa đến Auschwitz

Một trong những trích dẫn đáng chú ý nhất trong thông điệp Magnifica Humanitas đến từ nhà văn người Anh J.R.R. Tolkien (1892–1973), hay chính xác hơn, từ Gandalf, vị pháp sư huyền thoại trong bộ ba tiểu thuyết Chúa tể những chiếc nhẫn. Để nhấn mạnh rằng mỗi người phải hành động theo khả năng của mình, Đức Giáo Hoàng đã trích dẫn những lời khôn ngoan của vị pháp sư dành cho Frodo, là người mang chiếc nhẫn, cảm thấy nản lòng trước sự vĩ đại của nhiệm vụ: “Việc của chúng ta không phải là làm chủ mọi dòng chảy của thế giới, mà là làm những gì trong khả năng của mình để giúp đỡ những năm tháng mà chúng ta đang sống, nhổ tận gốc cái ác trên những cánh đồng mà chúng ta biết, để những người sống sau có thể có đất đai sạch sẽ để canh tác.”

Đức Giáo Hoàng cũng nhắc đến nhà tâm thần học người Áo Viktor Frankl (1905–1997), người sáng lập ra “liệu ​​pháp ý nghĩa”, tập trung vào việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Thông điệp này mượn kết luận từ một cuốn sách của người sống sót sau thảm họa Holocaust này, khẳng định rằng trong những giờ phút đen tối nhất của nhân loại, “chúng ta đã hiểu được con người thực sự là gì. Xét cho cùng, con người chính là kẻ đã tạo ra các phòng hơi ngạt ở Auschwitz; tuy nhiên, họ cũng chính là kẻ đã bước vào những phòng hơi ngạt đó với tư thế đứng thẳng, miệng vẫn đọc Kinh Lạy Cha hoặc Kinh Shema Yisrael.”

Thông điệp Magnifica humanitas cũng nhắc đến một nhân vật Do Thái nổi bật khác, người đã chứng kiến ​​sự trỗi dậy đen tối của chủ nghĩa Quốc xã trước khi di cư đến Hoa Kỳ: nhà lý luận chính trị Hannah Arendt (1906–1975). Nổi tiếng với những hiểu biết sâu sắc về “sự tầm thường của cái ác”, bà cũng có bằng tiến sĩ về Thánh Augustinô. Đức Giáo Hoàng dựa trên công trình của bà về chủ nghĩa toàn trị để giải thích rằng những người dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các hệ thống ý thức hệ là “những người mà đối với họ không còn có sự phân biệt giữa sự thật, tức là kinh nghiệm thực tế, và hư cấu, và sự phân biệt giữa đúng, tức là các chuẩn mực tư duy, và sai”.

Nghệ thuật mang tính tiên tri và những người phụ nữ dũng cảm

Xuyên suốt các trang sách, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nhấn mạnh những tác phẩm văn hóa và nghệ thuật “mang ý nghĩa gần như tiên tri”. Trong âm nhạc, ngài xem bản giao hưởng số 9 của Beethoven như một biểu hiện của “khát vọng hiệp nhất”. Trong hội họa, ngài coi bức tranh Guernica của Picasso là “lời lên án sự phi nhân hóa”. Cuối cùng, trong điện ảnh, ngài chỉ ra bộ phim Schindler’s List của Steven Spielberg như “một lời kêu gọi không được để quá khứ bị lãng quên”.

Ngoài việc viện dẫn Hiến chương Liên Hợp Quốc, với mục tiêu “cứu các thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh”, Đức Giáo Hoàng còn vinh danh những cá nhân đã thay đổi tiến trình lịch sử bằng cách đấu tranh cho phẩm giá con người. Ngài ca ngợi “lời chứng của Martin Luther King Jr., hay việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi sau khi Nelson Mandela được trả tự do và quyết định không để tương lai bị chi phối bởi lòng thù hận”.

Thông điệp Magnifica humanitas nêu bật danh sách những người phụ nữ “can đảm và hào phóng” đã góp phần làm cho “lịch sử trở nên nhân văn hơn”. Danh sách này bao gồm hai vị thánh, Thánh Laura Montoya và Thánh Têrêsa thành Calcutta, cũng như những phụ nữ thuộc các tôn giáo và hoàn cảnh khác. Đức Giáo Hoàng chọn tưởng nhớ nhà hoạt động Công giáo người Mỹ Dorothy Day, nhà vật lý theo chủ nghĩa bất khả tri người Pháp-Ba Lan Marie Skłodowska-Curie, nhà giáo dục người Ý Maria Montessori, nhà truyền giáo Tin Lành người Mỹ Elisabeth Elliot, nhà hoạt động môi trường người Kenya Wangari Maathai và chính trị gia Hồi giáo người Pakistan Benazir Bhutto.

Những tia sáng của triết học và đức tin Công giáo

Thông điệp này gợi nhắc triết gia Hy Lạp Platon (427–347 trước Công nguyên) cảnh báo về hậu quả của sự thỏa mãn tức thời trong giáo dục do trí tuệ nhân tạo điều khiển. Đức Giáo Hoàng lưu ý: “Như Platon đã viết, những điều sâu sắc và quan trọng nhất chỉ được học sau nhiều thời gian và nỗ lực, bằng cách tham gia thảo luận với người khác, cùng nhau khám phá các ý tưởng và kinh nghiệm như dùng đá lửa cho đến khi tia lửa hiểu biết được nhen nhóm trong chúng ta.”

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trích dẫn nhà thần học và triết gia người Đức Romano Guardini (1885–1968), giống như Đức Giáo Hoàng Phanxicô, coi triết gia này là một người có ảnh hưởng lớn, nhắc lại lời cảnh báo của ông: “Con người hiện đại chưa được rèn luyện để sử dụng quyền lực một cách đúng đắn.” Ngài cũng nhắc đến cựu thị trưởng Florence, Giorgio La Pira (1904–1977), người ủng hộ “phương pháp đàm phán, gặp gỡ, phối hợp, tức là phương pháp đích thực của con người!”

Một tác giả người Pháp cũng được nhắc đến trong số những nguồn cảm hứng của vị Đức Giáo Hoàng thứ 267: Hồng y Pierre de Bérulle (1575–1629), người sáng lập Dòng Oratory tại Pháp, và là cha đẻ của Trường phái Linh Đạo Pháp. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV cũng lấy cảm hứng từ hai nhà thần học vĩ đại của Giáo hội Công giáo: Thánh Tôma Aquinô (1225–1274) và Thánh Augustinô (354–430), bậc thầy tâm linh của ngài, là vị được nhắc đến bốn lần. Trong số các nhân vật Công giáo, ngài nhắc đến một số vị tử đạo, Thánh Maximilian Kolbe, một tu sĩ dòng Phanxicô người Ba Lan, Thánh Oscar Romero người El Salvador, và Giám mục Enrique Angelelli người Argentina, cùng với Đức Hồng Y Phaxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận người Việt Nam.

Hơn nữa, khi đề cập đến tính chất bấp bênh của việc làm, vị giáo hoàng người Mỹ đã tạo cơ hội cho các giám mục Hoa Kỳ khẳng định rằng “công việc không chỉ đơn thuần là nguồn thu nhập mà còn là một lĩnh vực quan trọng, nơi hình thành bản sắc, vun đắp tình bạn và các mối tương quan, học hỏi trách nhiệm thực tiễn và nhận ra ơn gọi của mình.”

Dựa trên những giáo huấn gần đây của các Giáo Hoàng.

Trong văn kiện này, góp thêm tiếng nói của mình vào những giáo huấn xã hội của các giáo hoàng, Đức Lêô XIV đã đề cập rộng rãi đến các vị tiền nhiệm gần đây của ngài, những vị đã suy ngẫm về các chủ đề này, bắt đầu từ Đức Giáo Hoàng Lêô XIII. Vị giáo hoàng được trích dẫn nhiều nhất trong phần chú thích của Magnifica humanitas chắc chắn là Đức Phanxicô, với 55 lần xuất hiện. Tiếp theo là Thánh Gioan Phaolô II, người được nhắc đến 39 lần, và Đức Bênêđíctô XVI, được trích dẫn 18 lần.

Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI cũng được nhắc đến 16 lần, tiếp theo là Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII (ba lần), Đức Giáo Hoàng Piô XII (ba lần) và Đức Giáo Hoàng Piô XI (một lần). Đức Lêo6 XIII, người mà vị giáo hoàng thứ 267 đã lấy tên, xuất hiện trong ba chú thích nhưng được mô tả là người tiên phong của giáo huấn xã hội Công giáo hiện đại. Công đồng Vatican II cũng nằm trong số các nguồn tư liệu cung cấp cho văn bản, với khoảng 15 lần nhắc đến được ghi nhận, cùng với Bộ Giáo lý Đức tin.

Cuối cùng, để nhấn mạnh nhu cầu cải cách của Giáo hội hướng tới “một nền văn hóa minh bạch, trách nhiệm giải trình và đánh giá”, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã nhắc lại Thượng Hội đồng về Tương lai của Giáo hội. Dự án đồ sộ này, được người tiền nhiệm của ngài khởi xướng nhằm làm cho Giáo hội trở nên bao dung hơn, nay đã được ghi khắc vĩnh viễn vào một thông điệp.

I.Media, 25/05/2026

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ

Từ https://aleteia.org


 

TẠI SAO THINH LẶNG  LẠI CẦN THIẾT? – Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

Thánh Biển Đức dạy các môn sinh của mình: giữ thinh lặng, ngay cả đối với những điều lành thánh.  Một lời nói đúng cũng thành sai, bởi vì ngay khi ta dùng lời để nói về sự thật, nó đã bị bóp méo; dù ta có nói đúng về Thiên Chúa, thì, cũng giống như ngón tay vẽ trên mặt đại dương, sự thật không nằm trong ngôn từ, Thiên Chúa không nằm trong các định nghĩa. 

Có một nghịch lý: người càng hiểu sâu, thì càng nói ít, còn người càng biết ít, thì càng nói nhiều.  Khôn ngoan thật sự không nằm ở lời nói, nhưng ở thinh lặng, nơi không còn gì để chứng minh, không còn gì để khoe khoang.  Thinh lặng không phải là yếu đuối, mà là, dấu hiệu của sự trưởng thành: khi ta còn nhiều sợ hãi, ta nói để bảo vệ mình; khi ta còn nhiều mong cầu, ta nói để được người khác chấp nhận; khi ta còn nhiều lo âu, ta nói để khỏa lấp khoảng trống; nhưng, khi đã đủ sâu, ta bắt đầu thấy: không phải điều gì biết cũng cần nói, không phải điều gì tốt cũng cần chia sẻ, không phải sự thật nào cũng cần lời để thể hiện.  Thinh lặng là không gian để sự thật được hiển lộ: giống như mặt nước phẳng lặng, mới có thể phản chiếu bầu trời; tâm hồn tĩnh lặng mới phản ánh những điều sâu xa.

 Lời nói chỉ quý khi nó được sinh ra từ sự tĩnh lặng, chứ không phải, từ sự bất an.  Có người chọn im lặng vì sợ: sợ bị đánh giá, sợ bị hiểu lầm, sợ bị bỏ rơi.  Có người nói rất nhiều cũng vì sợ: sợ bị lãng quên, sợ bị coi thường, sợ mất quyền lực.  Thinh lặng không phải là trạng thái trống rỗng, mà là, một cánh cửa mở vào một thế giới sâu nhất bên trong ta: khi ta thinh lặng, ta không còn bận rộn để nói, cũng không còn bị cuốn theo phản ứng, lúc đó, ta mới đủ tỉnh táo để nhận ra mọi chuyện đang diễn ra: ta sẽ nhận ra nỗi giận vừa rồi, hóa ra không đến từ người kia, mà, từ một tổn thương cũ; hóa ra sự ghen tỵ vừa thoáng qua, là vì, mình chưa nhận ra các ân huệ mà mình nhận được; hóa ra tâm hồn ta vốn rất đẹp, nhưng, từ lâu đã bị phủ bởi quá nhiều tiếng ồn. 

Có người ít nói, lâu lâu mới nói một câu, không triết lý, không giảng giải, nhưng, sự tĩnh lặng nơi họ sâu hơn mọi điều được đọc trong sách vở.  Có người thông minh, nói giỏi, biết nhiều, tư duy sắc bén, nhưng, mỗi lần trò chuyện với họ, ta lại thấy áp lực, không phải vì họ không tốt, mà vì, họ quá muốn đúng: luôn cần thắng lý, luôn phải giải thích, luôn cố để người khác hiểu mình, câu chuyện nào cũng dài, ý nào cũng phải bảo vệ, và thế là, đối thoại biến thành tranh luận gay gắt.  Có người bước vào phòng không nói gì, chỉ mỉm cười nhẹ và không khí như dịu lại.  Có người bước vào, ngay lập tức, khiến bầu khí trở nên căng thẳng, sự khác biệt nằm ở nội tâm, người càng bất an, thì càng phải lên tiếng; người càng tĩnh lặng, thì càng không cần thể hiện.  Có người bị trách mắng, cúi xuống không nói gì, nhưng thật ra, đang co mình lại vì sợ hãi, đang im lặng vì không biết phải phản ứng sao.  Có người thinh lặng, vì đã thấy rõ mọi điều, không còn tức giận, không còn kháng cự, chỉ đơn giản, thấy và buông.  Vì vậy, ta đừng nhầm lẫn giữa hai sự thinh lặng: một bên là co rút, một bên là thấu suốt; một bên là sợ, một bên là hiểu; một bên là đè nén, một bên là buông lơi.

 Người chưa thật sự thinh lặng, bên trong vẫn còn tranh cãi, vẫn còn diễn tập từng câu đáp trả, như đang chống lại cả thế giới.  Người thật sự thinh lặng thì không còn tranh với ai nữa, không cần phải thắng trong bất kỳ cuộc trò chuyện nào, không cần được khen, chỉ cần sống thật với lòng mình.  Ước gì ta trở nên người thật sự tĩnh lặng, để khi ai đến gần ta, họ đều cảm thấy bình yên, không phải vì ta nói đạo lý, mà vì ta lặng mà thấu: không ồn ào nhưng sâu, không sắc bén nhưng sáng, không cháy rực nhưng nóng nhẹ, đủ để họ được ấm lòng.  Ước gì ta đủ can đảm để chọn không nói, không biện minh, không tô vẽ, nhưng hiện diện đơn sơ, chân thật, trần trụi trước Nhan Thánh Chúa, đủ tĩnh lặng, đủ khiêm cung để nghe được tiếng Chúa nói trong lòng ta.  Ước gì được như thế! 

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

From: Langthangchieutim


 

Thân xác không hư nát của Thánh Gioan Maria Vianney, Cha sở họ Ars.

Joseph Phạm Nguyên

 Một trong những minh chứng sống động nhất về sự thánh thiện trong thời hiện đại chính là thân xác không hư nát của Thánh Gioan Maria Vianney, vị Cha sở họ Ars.

Sinh năm 1786 tại Pháp, ngài từng gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tập nhưng sau cùng vẫn được thụ phong linh mục. Khi được bổ nhiệm về Ars — một ngôi làng nhỏ bé và dường như đã nguội lạnh về mặt đức tin, ngài đã hoán cải nơi này bằng đời sống cầu nguyện mãnh liệt, những hy sinh hãm mình ngặt nghèo và sự tận tụy không biết mệt mỏi nơi tòa giải tội.

Ngài thường dành từ 12 đến 18 tiếng mỗi ngày để ban bí tích hòa giải, thu hút hàng ngàn khách hành hương từ khắp châu Âu đổ về. Dù liên tục bị ma quỷ quấy phá và hành hạ về mặt thể xác, Cha Vianney chưa bao giờ lung lạc ý chí.

Ngài qua đời ngày 4 tháng 8 năm 1859.

Năm 1904, trong tiến trình phong chân phước, mộ phần của ngài được cải táng. Dù quan tài bằng gỗ đã mục nát và phẩm phục đã tiêu tan, nhưng thân xác của ngài lại hoàn toàn nguyên vẹn — mềm mại và sống động như thể vừa nằm xuống dù đã trải qua 45 năm dưới lòng đất.

Ngày nay, thánh thể không hư nát của ngài được tôn kính trong một hòm kính tại Vương cung thánh đường Ars, Pháp, nơi đón tiếp hàng triệu khách hành hương đến kính viếng. Gương mặt và đôi tay của ngài được phủ một lớp mặt nạ sáp mỏng để bảo quản, nhưng toàn bộ phần thân thể còn lại vẫn vẹn nguyên một cách kỳ diệu — một minh chứng mạnh mẽ cho cuộc đời thánh thiện của ngài.

Thánh Gioan Vianney là Quan thầy của các linh mục chính xứ. Ngài từng nói:

“Chức linh mục chính là tình yêu từ Thánh Tâm Chúa Giêsu.”

Cuộc đời của ngài nhắc nhở chúng ta rằng: sự thánh thiện đích thực không đến từ những tài năng xuất chúng, mà đến từ sự phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa và lòng mến yêu các linh hồn.

Bạn có ước mong một lần đến Ars để chiêm ngưỡng thánh thể không hư nát của ngài không? Bạn đã bao giờ cầu xin sự chuyển cầu của ngài chưa?

Thánh Gioan Vianney, xin cầu cho chúng con.

Nguồn: Totus Tuus

Theo dõi trang để đọc thêm nhiều bài viết từ Joseph Phạm Nguyên

Nguyện xin Thiên Chúa ban phước lành cho bạn!

#StJohnVianney #IncorruptSaints #CatholicSaints #CureOfArs #Faith #Holiness #FaithInAction #miracles #ThanhGioanVianney #ChaSoArs #GiaoXo #CongGiao #DucTin


 

KHÔNG SỢ CHÚA – SỢ ĐÁM ĐÔNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúng tôi không biết!”.

Khi cả nước tuyên thệ trước Henry VIII, công nhận vua là thủ lãnh tối cao của Giáo Hội Anh Quốc, Thomas More vẫn cự tuyệt. Ông chấp nhận mất địa vị, tự do và cả mạng sống hơn là phản bội lương tâm. More hiểu rằng vấn đề không nằm ở sự thật, nhưng ở nỗi sợ.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, các thượng tế, kinh sư và kỳ mục không trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu bằng một lập luận, nhưng bằng một câu thoái lui: “Chúng tôi không biết!”. Thực ra, họ biết nhiều hơn điều họ dám nói. Họ ‘không sợ Chúa’, nhưng ‘sợ đám đông’. Vấn đề không nằm ở sự thật, nhưng ở nỗi sợ!

Câu hỏi của các thượng tế xuất hiện ngay sau khi Chúa Giêsu thanh tẩy Đền Thờ, đụng chạm trực tiếp đến trung tâm quyền lực tôn giáo tại Giêrusalem. Khi hỏi Ngài lấy quyền nào mà làm các điều ấy, họ không thực sự tìm kiếm một câu trả lời. Trong Marcô, exousia là quyền bính đến từ Thiên Chúa. Vấn đề là họ hiểu quá rõ hệ quả của câu trả lời ấy. Thừa nhận quyền bính của Chúa Giêsu cũng đồng nghĩa với việc phải xét lại quyền bính của chính mình. Vì thế, vấn đề của họ không phải là thiếu bằng chứng, nhưng là sợ hệ quả của bằng chứng. Giả vờ ‘không biết’ trước đòi hỏi của Tin Mừng là một hình thức phản bội tinh vi. “Chân lý không được quyết định bởi biểu quyết của số đông!” – Fulton Sheen.

Điều trớ trêu là câu trả lời “Chúng tôi không biết!” lại phát xuất từ những người biết quá nhiều. Họ không thiếu dữ kiện để kết luận, nhưng thiếu can đảm để kết luận. Vì thế, “không biết” ở đây không còn là một tình trạng tri thức, nhưng trở thành một nơi trú ẩn. Họ chọn sự an toàn của dư luận hơn sự đòi hỏi của chân lý.

Từ góc độ Kinh Thánh, nỗi sợ luôn đi theo khát vọng. Con người sẽ bảo vệ điều họ yêu thích và sợ mất nhất. Vì thế, giới lãnh đạo sợ đám đông vì họ đã gắn đời mình với quyền lực và sự công nhận. Trái lại, Thánh Vịnh đáp ca cho thấy một trật tự khác: “Linh hồn con đã khao khát Chúa!”. Khi Thiên Chúa trở thành khát vọng tối hậu, Ngài cũng trở thành nền tảng tối hậu, “Đấng có quyền năng gìn giữ anh em khỏi sa ngã và cho anh em đứng vững” – bài đọc một. Chỉ lúc đó, những nỗi sợ khác mới mất quyền chi phối. Vì nơi nào có nỗi sợ lớn nhất, nơi đó chính là ngẫu tượng bạn đang thờ lạy.

Anh Chị em,

Đức Kitô là phản đề của giới lãnh đạo tôn giáo. Ngài không cần ai xác nhận mình là ai. Khi dân chúng muốn tôn Ngài làm vua, Ngài lánh đi; khi đám đông hô “Đóng đinh nó đi!”, Ngài không thay đổi. Đức Kitô không sống bằng tiếng vỗ tay, cũng không chết vì những tiếng la ó. Ngài chỉ tìm và thi hành ý muốn của Cha. Chỉ khi Thiên Chúa là Đấng chúng ta yêu nhất, bạn và tôi mới thôi ‘sợ đám đông’ để biết ‘sợ Chúa’. “Tôi chết như một bề tôi trung thành của nhà vua, nhưng trước hết là của Thiên Chúa!” – Thomas More.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con núp sau những câu ‘con không biết!’. Cho con đủ can đảm để sống điều con đã biết và làm điều con phải làm!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 11,27-33

27 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ lại vào Giê-ru-sa-lem. Đang khi Người đi đi lại lại trong Đền Thờ, thì các thượng tế, kinh sư và kỳ mục đến cùng Người và hỏi : 28 “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy, hay ai đã cho ông quyền làm các điều ấy ?” 29 Đức Giê-su đáp : “Tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi. Các ông trả lời đi, rồi tôi sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. 30 Vậy, phép rửa của ông Gio-an là do Trời hay do người ta ? Các ông trả lời cho tôi đi !” 31 Họ bàn với nhau : “Nếu mình nói : ‘Do Trời’, thì ông ấy sẽ vặn lại : ‘Thế sao các ông lại không tin ông ấy ?’ 32 Nhưng chẳng lẽ mình nói : ‘Do người ta’ ?” Họ sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gio-an thật là một ngôn sứ. 33 Họ mới trả lời Đức Giê-su : “Chúng tôi không biết.” Đức Giê-su liền bảo họ : “Tôi cũng vậy, tôi cũng không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy.”