ĐẤT CỦA HEO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cả thành ra đón Đức Giêsu, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ”.

“Điều duy nhất còn lại để sự dữ chiến thắng là người tốt không làm gì cả!” – Edmund Burke.

Kính thưa Anh Chị em,

Sự dữ không luôn chiến thắng bằng sức mạnh của ma quỷ. Nhiều khi, chỉ cần con người không làm gì cả. Tin Mừng hôm nay kể về một vùng đất, nơi người ta coi tài sản quý hơn con người; và cuối cùng, quý hơn Thiên Chúa. Tôi gọi đó là ‘đất của heo’.

Matthêu mở đầu trình thuật bằng một chi tiết tưởng như rất nhỏ: Chúa Giêsu “sang bờ bên kia”. Đó không chỉ là một di chuyển địa lý, nhưng là một vượt biên thần học. Hy Lạp gọi to peran – không chỉ bờ bên kia Galilê, nhưng bờ bên kia của mọi ranh giới. Đó là miền đất dân ngoại, có mồ mả và đàn heo – tất cả đều gợi lên sự ô uế đối với người Do Thái. Thế nhưng, nơi con người tránh né, Chúa Giêsu lại bước vào. “Thiên Chúa luôn ở nơi con người tưởng Ngài không thể có mặt!” – Madeleine Delbrêl.

Vùng đất ấy có hai người bị quỷ ám, sống giữa mồ mả, bị tước mất nhân phẩm. Nhưng chỉ một lời của Chúa Giêsu, họ được trả lại tự do. Tưởng như cả thành sẽ vui mừng vì hai con người được tìm lại. Vậy mà không! Họ ra đón Chúa Giêsu chỉ để xin Ngài rời khỏi vùng đất của mình. Hai người anh em vừa được cứu vẫn không quý bằng một đàn heo. Đó là lúc Matthêu cho thấy thế nào là ‘đất của heo’.

Và này, thật chua chát: “Hỡi Con Thiên Chúa!”. Ma quỷ nhận ra Chúa Giêsu trước con người! Chúng biết mình đang đối diện với ai, biết ngày phán xét sẽ đến: “Chưa tới lúc mà ông đã đến đây hành hạ chúng tôi sao?”. Nhưng chúng chỉ biết run sợ, chứ không quy phục. Dân thành thì không nhận ra Chúa Giêsu; họ không phủ nhận phép lạ, nhưng lại không muốn Đấng làm phép lạ ở lại. Hoá ra, nhận ra Đức Kitô chưa phải là thuộc về Ngài; và gặp Chúa chưa hẳn là đón nhận Ngài.

Amos cho thấy ‘đất của heo’ không chỉ ở Gađara. Đó là bất cứ nơi nào công lý bị đánh đổi lấy quyền lợi, và con người bị hy sinh cho lợi ích. Mỗi lần như thế, chúng ta lại âm thầm mời Chúa rời khỏi vùng đất của mình. Vì thế, Amos cất tiếng: “Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào, cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca xác quyết: “Ai sống đời hoàn hảo, Ta cho hưởng ơn cứu độ Chúa Trời!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã không quay lưng với miền đất khước từ Ngài. Dù bị đuổi khéo, Ngài vẫn tiếp tục bước tới. Chính nơi con người muốn loại trừ Ngài, Thiên Chúa lại khai mở ơn cứu độ. Từ thập giá đến Phục Sinh, Đức Kitô đã biến mọi “bờ bên kia” thành lối về với Cha. Vì thế, điều quyết định không phải là chúng ta đang thuộc về vùng nào, nhưng là có để Ngài ở lại hay không. Chỉ khi ấy, ‘đất của heo’ mới có thể trở thành đất của Tin Mừng. “Thiên Chúa không ép ai yêu; Ngài chỉ xin được đón nhận!” – Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đuổi khéo Chúa; cho con biết quý Chúa hơn mọi lợi ích, quý con người hơn mọi của cải; để đất lòng con trở thành mảnh đất của Tin Mừng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần XIII Thường Niên, Năm Chẵn

Chưa tới lúc mà Ngài đã đến đây làm khổ loài ma quỷ chúng tôi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 8,28-34

28 Khi ấy, Đức Giê-su sang bờ bên kia, đến vùng đất của dân Ga-đa-ra, thì có hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả ra đón Người ; chúng rất dữ tợn, đến nỗi không ai dám qua lại lối ấy. 29 Chúng la lên rằng : “Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông ? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây hành hạ chúng tôi sao ?” 30 Khi ấy, ở đàng xa, có một bầy heo rất đông đang ăn. 31 Bọn quỷ nài xin Người rằng : “Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia.” 32 Người bảo : “Đi đi !” Chúng liền ra khỏi hai người đó và nhập vào bầy heo. Thế là tất cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống biển và chết đuối hết. 33 Các người chăn heo bỏ chạy vào thành, kể lại mọi sự, và những gì đã xảy ra cho những người bị quỷ ám. 34 Bấy giờ, cả thành ra đón Đức Giê-su, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ.


 

PHỤC SINH TRONG THUYỀN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Rồi Người trỗi dậy, ngăm đe gió và biển: biển liền lặng như tờ”.

“Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời!” – Thư Hipri.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ: Đấng “vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” lại ngủ trong một con thuyền giữa bão tố. Chính qua đó, Matthêu kín đáo kể câu chuyện ‘phục sinh trong thuyền’.

Các môn đệ đánh thức Chúa Giêsu giữa cơn bão. Nhưng Matthêu không viết đơn giản: “Ngài thức dậy”. Ông dùng động từ Hy Lạp egertheis – “trỗi dậy”, một động từ sẽ ngân vang ở cuối Tin Mừng. Matthêu cũng không giữ chi tiết “chiều đến” của Marcô, vì điều ông muốn nhấn mạnh không phải là thời điểm, nhưng là chính con người Chúa Giêsu. Ông còn gọi cơn bão là seismos, “cơn địa chấn”, một từ sẽ trở lại dưới chân thập giá và ngôi mộ trống vào một buổi sớm khi trời còn tờ mờ. Như vậy, ngay giữa cảnh biển động, Matthêu đã gieo một âm vang Phục Sinh.

Con thuyền từ rất sớm đã trở thành hình ảnh Hội Thánh. Sự hiện diện của Chúa Giêsu không làm sóng gió biến mất; nhưng chính giữa bão, đức tin mong manh của các môn đệ mới được phơi bày. Vậy mà Hội Thánh không chìm, không phải vì con thuyền vững chắc, cũng không vì các môn đệ chèo giỏi, nhưng vì Chủ thuyền vẫn ở đó. Hoá ra, nền tảng của Hội Thánh không nằm ở sức mạnh con người, nhưng ở Đấng không bao giờ rời con thuyền của mình. “Hãy biết rằng Đức Kitô luôn ở với bạn, cho đến tận thế. Nếu Đức Kitô ở với tôi, tôi còn sợ gì?” – Gioan Kim Khẩu.

Có những cơn bão không nổi lên ngoài biển, nhưng âm thầm nổi lên trong lòng một dân đã quên công lý. Amos đã nghe tiếng gầm của cơn bão ấy từ lâu: “Sư tử đã gầm lên: ai mà không sợ hãi?” – bài đọc một. Điều Thiên Chúa dẹp yên không chỉ là sóng gió bên ngoài, mà còn là hỗn mang trong lòng người. Con thuyền ấy cũng là con thuyền của giáo xứ, cộng đoàn, gia đình và mỗi người chúng ta. Điều đáng sợ không phải sóng lớn, nhưng là khi chúng ta để nỗi sợ lèo lái đời mình. Vì thế, chúng ta cần Đấng “vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” hướng dẫn. Lời cầu của Thánh Vịnh trở nên rất thật: “Xin lấy đức công chính của Ngài mà hướng dẫn con!”.

Anh Chị em,

Con thuyền rồi cũng cập bến, không phải vì biển đời hết bão, nhưng vì Đức Kitô đã đi trọn hành trình ấy trước. Ngài đã đi qua thập giá để mở lối vào vinh quang Phục Sinh. Vì thế, con thuyền của Hội Thánh và của mỗi người vẫn có thể tiếp tục hành trình. Đức Lêô XIV nhắc rằng, cơn bão chưa phải là câu hỏi lớn nhất; câu hỏi lớn nhất vẫn là: “Người này là ai?”. Khi nhận ra Đấng đang ở trong thuyền là ai, nỗi sợ không còn cầm lái. “Khi Đức Kitô bước vào thuyền, gió liền yên!” – Hilary of Poitiers. Chính vì thế, ‘phục sinh trong thuyền’ không chỉ là câu chuyện của biển hồ Galilê, nhưng còn là niềm hy vọng của mọi con thuyền đang hướng về Nước Cha trên trời.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gìn giữ Hội Thánh giữa biển đời; nâng đỡ chúng con trong mọi thử thách; và cho chúng con luôn nhận ra Chúa đang ở trong con thuyền của mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần XIII Thường Niên, Năm Chẵn

Đức Giê-su trỗi dậy, ngăm đe gió và biển : biển liền lặng như tờ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 8,23-27

23 Khi ấy, Đức Giê-su xuống thuyền, các môn đệ đi theo Người. 24 Bỗng nhiên biển động mạnh khiến sóng ập vào thuyền, nhưng Người vẫn ngủ. 25 Các ông lại gần đánh thức Người và nói : “Thưa Ngài, xin cứu chúng con, chúng con chết mất !” 26 Đức Giê-su nói : “Sao nhát thế, hỡi những kẻ kém lòng tin !” Rồi Người trỗi dậy, ngăm đe gió và biển : biển liền lặng như tờ.

27 Người ta ngạc nhiên và nói : “Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh ?”


 

Tắc Sậy, ngày 2 Tháng Bảy: Khi Vatican phải đến tận một cánh đồng ở Cà Mau

Nguoi-Viet 

 Tắc Sậy, ngày 2 Tháng Bảy: Khi Vatican phải đến tận một cánh đồng ở Cà Mau

Vũ Đình Trọng tổng hợp

Suốt gần 500 năm, mọi nghi thức tuyên Chân Phước liên quan đến người Việt đều diễn ra ở Roma. Lần này, Vatican cử cả một Hồng Y bay sang Cà Mau. Sáng 2 Tháng Bảy, tại một khu đất 5 hécta đối diện nhà thờ Tắc Sậy, hơn 70,000 người sẽ đứng giữa nắng để chứng kiến giáo hội làm điều chưa từng làm cho một linh mục Việt Nam: mang nghi thức tuyên Chân Phước về đúng nơi ông đã sống và chết.

Người được vinh danh là linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp, cái tên giáo dân miền Tây vẫn gọi thân thương là “Cha Diệp.” Ông sinh ngày 1 Tháng Giêng, 1897 tại họ đạo Cồn Phước, An Giang. Thụ phong Linh mục năm 1924 ở Nam Vang. Sáu năm sau, ông về nhận xứ Tắc Sậy, và ở đó cho đến ngày cuối cùng.

Một quyết định không có trong sách giáo lý

Tháng Ba, 1946, chiến sự loạn lạc, quân Nhật bắt giữ cha Diệp cùng hơn 70 giáo dân. Ông được khuyên lánh đi. Ông từ chối, với một câu nói mà sau này trở thành biểu tượng: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên.”

Sau lần thứ ba bị gọi đi “làm việc,” ông không trở về. Vài ngày sau, giáo dân tìm thấy xác ông tại một cái ao, vết chém ngang sau ót. Thi hài ban đầu được chôn tại họ đạo Khúc Tréo. Đến năm 1969 mới được cải táng về Tắc Sậy, nơi từ đó trở thành điểm hành hương lớn nhất miền Tây, đón cả người không theo Công Giáo.

Đó là phần lịch sử mà hầu như ai quan tâm đến Cha Diệp cũng đã biết. Phần ít người để ý nằm ở chỗ khác.

Mười ba năm cho một buổi sáng hai giờ

Án điều tra cấp giáo phận mở năm 2013. Hồ sơ hoàn tất năm 2017, chuyển sang Roma. Năm 2019, Bộ Phong Thánh xác nhận đủ căn cứ để khởi sự án. Phải đến 25 Tháng Mười Một, 2024, Đức Giáo Hoàng mới ký sắc lệnh công nhận đây là một vụ tử đạo thực sự, bị giết vì lòng căm thù đức tin, không phải một cái chết ngẫu nhiên giữa thời loạn.

Mười ba năm, để đi đến một buổi lễ kéo dài khoảng hai giờ.

Người chủ trì buổi lễ phong Thánh là Hồng Y Luis Antonio G. Tagle, 69 tuổi, người Philippines, Quyền Tổng Trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng, đặc phái viên do Giáo Hoàng Lêô XIV cử sang Việt Nam. Ông sẽ công bố Tông Sắc tuyên phong ngay tại lễ đài, trước sự chứng kiến của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và một số giám mục thuộc Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu.

Bài toán của 70,000 người và một trục đường

Giáo Phận Cần Thơ chia khu vực tổ chức thành hai phần: khu nhà thờ và phần mộ Cha Diệp chứa khoảng 25,000 người; khu đất 5 hécta đối diện làm quảng trường chính, chứa thêm khoảng 47,000. Cộng lại, ban tổ chức tính ra con số chính thức: hơn 70,000. Một lãnh đạo Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch Cà Mau nói với báo giới con số thực tế có thể chạm tới 100,000.

Vấn đề không phải là chỗ ngồi. Vấn đề là một con đường.

Trước Trung Tâm Hành Hương chỉ có một trục lộ chính, Quốc Lộ 1. Công an Cà Mau quyết định không bố trí xe trung chuyển, vì thêm xe vào trục đường độc đạo đó chỉ khiến ùn tắc nặng hơn. Giải pháp: khách hành hương xuống xe tại một vòng xoay cách lễ đài 500 đến 700 thước, rồi đi bộ vào. Quốc Lộ 1 đoạn qua Tắc Sậy sẽ cấm xe hoàn toàn từ 4 giờ sáng đến 5 giờ chiều ngày 2 Tháng Bảy. Một bệnh viện dã chiến cùng các trạm y tế vệ tinh được dựng lên. Giáo dân trong giáo phận tự nguyện chuẩn bị hơn 40,000 phần ăn sáng miễn phí.

Không ai ra lệnh phải làm những việc đó. Nhưng tất cả đều được làm, cho một linh mục đã qua đời 80 năm.

Một chi tiết gia đình ít ai nhắc

Có một sợi dây ít xuất hiện trên các bản tin chính thức: Cha Diệp là bác họ của Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, cố Tổng Giám Mục Sài Gòn, và được ghi nhận có vai trò dẫn dắt vị hồng y này trên đường tu đạo. Một linh mục xứ nghèo ở Cà Mau, gián tiếp đặt nền cho một trong những vị giáo phẩm cao nhất của Công Giáo Việt Nam sau này, đó là một chi tiết nằm khuất phía sau những con số 70,000 người và hai giờ nghi thức.

Còn một chi tiết nhỏ hơn, mang tính kỹ thuật nhưng cũng đáng nói: theo sổ rửa tội tại họ đạo Cồn Phước, tên thánh chính xác của ông là “Phanxicô,” không có “Xaviê.” Nhưng phần lớn báo chí, kể cả văn bản giáo phận, vẫn dùng song song hai cách gọi, một sự nhầm lẫn nhỏ đã sống lâu hơn nhiều thứ khác.

Ngày 2 Tháng Bảy, khi Hồng Y Tagle công bố Tông Sắc giữa cánh đồng Cà Mau, đám đông 70,000 người đứng đó sẽ không ai hỏi về tên thánh hay những con số hậu cần. Họ đến vì một lý do đơn giản hơn nhiều: gần một thế kỷ sau cái chết của một linh mục nghèo, lòng tin của người dân vẫn đủ lớn để buộc cả Vatican phải thay đổi nơi tổ chức nghi thức. Câu hỏi còn lại, có lẽ không nằm ở giáo hội, mà ở chính những người sẽ đi bộ 700 thước dưới nắng sáng đó: điều gì, sau 80 năm, vẫn kéo người ta về một ngôi mộ ở Tắc Sậy?

***

Khu vực Thánh đường Tắc Sậy được chỉnh trang trước đại lễ Phong Thánh. Hình: Thanh Niên


 

TỪ TRỜI RƠI XUỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy!”.

Elon Musk từng dự đoán, rồi đây robot sẽ đông hơn cả dân số thế giới; có thể mỗi người sẽ có vài robots phục vụ. Một viễn cảnh vừa khơi dậy háo hức, vừa gợi lên lo lắng.

Kính thưa Anh Chị em,

Dù AI có thông minh đến đâu, chúng ta vẫn phải tự hỏi: ai đã ban cho con người trí thông minh để tạo ra AI? Lời Chúa hôm nay hé mở một quy luật: những bước ngoặt lớn của lịch sử không bắt đầu từ đất, nhưng ‘từ trời rơi xuống’.

Sau lời tuyên xưng của Phêrô, Chúa Giêsu nói: “Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy!”. Động từ Hy Lạp apekalypsen không có nghĩa là con người khám phá ra Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa tự mở ra cho con người. Khác biệt ấy làm nên điều có một không hai của Kitô giáo. Đức tin không phải là kết quả của một cuộc chinh phục thần linh, nhưng là hoa trái của một Thiên Chúa tự tỏ mình. Hội Thánh không bắt đầu từ tài năng của Phêrô, nhưng từ hồng ân ông đã lãnh nhận.

Và rồi, Chúa Giêsu trao cho Phêrô chìa khoá Nước Trời. Trong Kinh Thánh, chìa khoá không chỉ mở cửa, nhưng còn nói đến quyền đại diện. Người cầm chìa khoá không nhân danh mình, nhưng nhân danh chủ. Vì thế, quyền bính trong Hội Thánh không phải là quyền sở hữu, nhưng là quyền được trao; không phải để thay thế Thiên Chúa, nhưng để làm cho Thiên Chúa hiện diện giữa con người. “Đối với con người, quyền bính thường có nghĩa là chiếm hữu, quyền lực và thống trị. Nhưng đối với Thiên Chúa, quyền bính có nghĩa là phục vụ, khiêm nhường và yêu thương!” – Bênêđictô XVI.

Sự hiện diện ấy tỏ lộ dưới hai hình thức khác nhau. Phêrô được thiên thần đưa ra khỏi ngục tối – bài đọc một; còn Phaolô, giữa lúc mọi người bỏ rơi, vẫn xác tín: “Có Chúa đứng bên cạnh, Người ban sức mạnh cho tôi” – bài đọc hai. Một người được mở cửa ngục, người kia được nâng đỡ giữa ngục đời; và cả hai cùng có một trải nghiệm: ơn cứu giúp không đến từ dưới đất, nhưng từ trời. Bởi thế, các ngài có thể hát lên: “Chúa đã giải thoát tôi khỏi mọi nỗi kinh hoàng!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Ai trong chúng ta cũng từng chờ một cánh cửa mở ra. Nhưng nhiều khi, điều Chúa ban lại là sức mạnh để bước tiếp. Thiên Chúa không luôn thay đổi hoàn cảnh, nhưng Ngài chưa bao giờ ngừng hiện diện. Chính sự hiện diện ấy mới là điều không bao giờ đổi thay. “Hoàn cảnh, cảm xúc có thể đổi thay, nhưng tình yêu Thiên Chúa không bao giờ đổi thay!” – Warren W. Wiersbe.

Anh Chị em,

Nếu có một Đấng làm đổi thay lịch sử nhân loại, thì đó chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng ‘từ trời rơi xuống’. Nơi Ngài, Thiên Chúa không chỉ tỏ mình, nhưng trao ban chính mình. “AI” có thể phục vụ con người; nhưng chỉ Đức Kitô mới ban cho con người ơn cứu độ đời đời qua Hội Thánh. Vì thế, Hội Thánh không đứng vững nhờ tài năng của Phêrô hay nhiệt huyết của Phaolô, hay bất cứ ai; nhưng vì Đức Kitô vẫn hằng hiện diện và dẫn dắt Hội Thánh. “Đức Kitô và Hội Thánh hợp thành một ‘Đức Kitô toàn thể!’” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho chúng con đừng bao giờ làm lu mờ khuôn mặt Mẹ Hội Thánh; biết phản chiếu dung nhan Đức Kitô giữa đời; và dám sống Tin Mừng mỗi ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************

LỜI CHÚA KÍNH THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ TÔNG ĐỒ 29/6

Anh là Phê-rô, Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 16,13-19

13 Khi ấy, Đức Giê-su đến miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng : “Người ta nói Con Người là ai ?” 14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, người khác lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.”


 

MẤT KHÔNG PHẢI LÀ MẤT- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được!”.

“Chỉ điều gì được trao đi vì tình yêu mới thật sự thuộc về chúng ta!” – Hans Urs von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy một nghịch lý: có những điều càng nắm chặt càng vuột mất; nhưng càng dám hiến trao, chúng ta lại càng nhận lại nhiều hơn. Điều được trao đi vì Đức Kitô không đi vào hư vô. Tưởng là mất; thật ra, ‘mất không phải là mất’.

“Ai yêu cha mẹ hơn Thầy… Ai tìm giữ mạng sống mình…”. Thật ngạc nhiên khi Chúa Giêsu không đòi người môn đệ từ bỏ những điều xấu; Ngài đòi những điều tốt đẹp nhất của con người phải đứng sau Thiên Chúa. Nghịch lý của Tin Mừng nằm ở đây: chúng ta không chỉ có thể mất Thiên Chúa vì những điều xấu, nhưng còn vì những điều tốt chiếm lấy chỗ chỉ dành cho Ngài. Và khi một điều tốt chiếm chỗ Thiên Chúa, nó cũng bắt đầu chiếm luôn quyền quyết định mọi sự. Như vậy, điều đáng sợ nhất không phải là mất một điều tốt, nhưng là mất một Thiên Chúa vì những điều tốt. “Hãy đặt điều hàng đầu lên hàng đầu, và những điều thứ yếu sẽ được ban thêm; đặt điều thứ yếu lên hàng đầu, và chúng ta sẽ mất cả điều hàng đầu lẫn điều thứ yếu!” – C. S. Lewis.

Chúa Giêsu không nói: ai mất mạng sống mình vì Thầy sẽ được trả lại nguyên vẹn. Ngài nói: “sẽ tìm thấy được”. Động từ Hy Lạp heurēsei không chỉ là tìm lại điều đã mất, nhưng còn là khám phá một sự sống mà trước đó họ chưa từng biết. Vì thế, người môn đệ không bước vào con đường từ bỏ để nghèo đi, nhưng để trở nên phong nhiêu hơn. Điều được trao đi vì Đức Kitô không khép lại một cuộc đời; nó mở ra một chân trời mới. Tưởng là mất; thật ra, ‘mất không phải là mất’.

Hai minh hoạ thật đẹp cho nghịch lý ấy: Người phụ nữ Sunêm – bài đọc một – chỉ dành cho người của Chúa một căn phòng nhỏ, nhưng lại nhận được một người con; Phaolô còn đi xa hơn: ai cùng chết với Đức Kitô sẽ cùng sống “một đời sống mới” với Ngài – bài đọc hai. Đó là một quy luật của đời sống thiêng liêng: điều được trao đi vì Chúa không biến mất; nó được biến đổi và trở về trong một sự sống lớn hơn và cao cả hơn. Có lẽ ai trong chúng ta cũng đang giữ rất chặt một điều gì đó: một tương quan, một dự tính, một cái tôi; thế nhưng, chỉ khi dám buông, chúng ta mới nhận ra bàn tay Chúa đang mở ra cho mình một sự sống lớn hơn.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã mất tất cả để không mất một ai. Trên thập giá, xem ra Ngài đã mất tất cả; nhưng chính khi trao hiến mạng sống, Ngài lại trở thành nguồn sống cho muôn người. Phục sinh là lời xác nhận rằng: nơi Thiên Chúa, không có tình yêu nào được trao đi mà phải mất mát. Theo Chúa Kitô là dám bước vào nghịch lý ấy. Bởi vậy, những ai dám trao đi như thế sẽ không ngừng hát lên: “Lạy Chúa, tình thương Chúa, đời đời con ca tụng!”- Thánh Vịnh đáp ca. “Tình yêu là hình thức duy nhất của sự sở hữu không dẫn đến nghèo đi!” – Gabriel Marcel.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi nỗi sợ mất mát; dạy con biết quảng đại hiến trao; và cho con xác tín rằng, nơi Ngài, mất không phải là mất!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XIII TN, NĂM A

Ai không vác thập giá, thì không xứng với Thầy. Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.( Mt 10,37-42)

  37Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. 38Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. 39Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được. 40Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.

41“Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính.

42“Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” 


 

SỐNG HÔM NAY NHƯ NGÀY CUỐI CỦA CUỘC ĐỜI- Lm. Anmai, C.Ss.R.

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt!”  Câu nói của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất quen thuộc với chúng ta.

Chẳng có ai đi mà chẳng mỏi mệt cả.  Một lúc nào đó, với một biến cố nào đó ta sẽ dừng lại để nhìn lại chặng đường mình đã đi qua, nhìn lại cuộc đời của mình còn lại ở phía trước.  Dù cho cố quên đi sự thật nhưng sự thật vẫn là sự thật và sự thật đó không bao giờ chối bỏ được.

 “Con chim ở trọ cành cây, con cá ở trọ trong khe suối nguồn, tôi nay ở trọ trần gian…”  Cũng là cảm nghiệm về phận con chim, phận con cá và cả con người ở cái cõi tạm này.  Đã gọi là cõi tạm thì chúng ta biết rằng cái gì nó cũng có ngần, có hạn chứ chẳng có gì là bất hũ cả.

 Sách Giảng viên gợi lên cho ta điều này.  Giảng viên đã nói: Phù vân trên mọi phù vân: phù vân trên mọi phù vân, và mọi sự đều là phù vân.  Ích lợi gì cho con người làm lụng vất vả dưới mặt trời?  Một thế hệ qua đi, một thế hệ khác lại đến: nhưng địa cầu vẫn đứng vững muôn đời.  Mặt trời mọc lên rồi lại lặn xuống, trở về chỗ cũ nơi nó lại mọc lên.  Gió thổi về hướng nam, rồi quay về hướng bắc; nó thổi xoay chiều khắp bốn phương, rồi quay về vòng cũ.  Mọi sông ngòi đều chảy ra biển mà biển không đầy tràn: nước sông trở về chỗ cũ rồi lại chảy đi.  Muôn vật đều phải làm việc vất vả, và không ai có thể cắt nghĩa tại sao.  Mắt xem mãi cũng không chán, tai nghe hoài cũng không thỏa.  Sự đã qua là gì?  Chính nó là sự sẽ có.  Sự đã xảy ra là gì?  Chính nó là sự sẽ xảy ra.  Chẳng có chi mới lạ dưới mặt trời, cũng chẳng ai nói được rằng: “Ðây cái này mới.”  Vì nó đã có từ lâu đời trước chúng ta.  Người ta cũng chẳng còn nhớ đến tổ tiên và những con cháu sau này; cũng chẳng nhớ đến những người sẽ đến sau.

 Tất cả rồi cũng qua đi!  Thế nhưng, chẳng lẽ cuộc đời này nó vô vị và nó nhạt nhẽo như vậy sao?  Như vậy chẳng lẽ cuộc đời là vô nghĩa?

 Tùy quan niệm của mỗi người, mỗi dân tộc về cái chết.  Có những người coi chết như là hết như là chấm hết mọi sự ở cuộc đời này nhưng với niềm tin của người Kitô hữu thì chết không phải là hết nhưng chết chỉ là cái ngưỡng cửa để bước qua cõi tạm này để vào cõi vinh quang của Thiên Chúa.  Sách Khôn Ngoan vừa xác tín đến niềm tin của những ai tin vào Chúa: Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài.  Đối với con mắt người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt.  Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an.  Và trước mặt người đời, dầu các ngài đã chịu khổ hình, lòng cậy trông của các ngài cũng không chết.  Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao: vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.

 Khi đến giờ Chúa ghé mắt nhìn các ngài, các người công chính sẽ sáng chói và chiếu tỏ ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau.  Các ngài sẽ xét xử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài muôn đời.  Các ngài đã tin tưởng ở Chúa, thì sẽ hiểu biết chân lý, và trung thành với Chúa trong tình yêu, vì ơn Chúa và bình an sẽ dành cho những người Chúa chọn.

 Vấn đề lớn là sống công chính để được Thiên Chúa ghé mắt nhìn.  Thiên Chúa ghé mắt nhìn để rồi Thiên Chúa sẽ ngự trị trong những người công chính hay nói khác đi là những người công chính ở trong cung lòng của Thiên Chúa.

 Lời hứa những ai đi theo Chúa đó không phải là lời hứa suông nhưng chính là lời cầu nguyện, lời mà Chúa Giêsu luôn tha thiết nài xin Chúa như tâm tình của Chúa Giêsu được Thánh Gioan ghi lại.  Tâm tình đó hết sức hay: “Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thì Con muốn rằng Con ở đâu chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến Con trước khi tạo thành thế gian.  Lạy Cha công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng Con biết Cha, và những người này cũng biết rằng Cha đã sai Con.  Con đã tỏ cho chúng biết danh Cha, và Con sẽ còn tỏ cho chúng nữa, để tình Cha yêu Con ở trong chúng, và Con cũng ở trong chúng nữa.”

 Thật tuyệt vời!  Những người mà Thiên Chúa trao cho Chúa Giêsu rồi thì Chúa Giêsu muốn rằng khi mà Chúa Giêsu ở đâu thì những người mà Thiên Chúa Cha trao cũng ở đó với Ngài.

 Những ai được Thiên Chúa tuyển chọn nghĩa là được chịu phép rửa, phép thanh tẩy trong Đức Giêsu nghĩa là chịu phép rửa trong sự chết của Chúa Giêsu thì cùng chịu mai táng với Chúa và rồi như lời Thánh Phao lô nói: “Để như Đức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế.  Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy.

 Niềm tin của người Kitô hữu là như vậy.

Chẳng ai lột da để sống đời cả!

Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,

mạnh giỏi chăng là được tám mươi, *

mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khó,

cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.

Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi,

Ngài phán bảo:

“Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi!”

 Ngàn năm Chúa kể là gì,

tựa hôm qua đã qua đi mất rồi,

khác nào một trống canh thôi!

 Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng,

như cỏ đồng trổi mọc ban mai, *

nở hoa vươn mạnh sớm ngày,

chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn.  (Tv 89)

 Ngày mỗi ngày qua đi lại là một ngày mà ta gần với Chúa hơn.  Đó là câu nói thường ngày mà người ta vẫn thường nói để diễn tả niềm tin sau cái chết.  Thế nhưng, muốn gần Chúa thì phải sống cuộc đời công chính như lời sách Khôn Ngoan đã nói.  Và, Chúa Giêsu đã hơn một lần nhắc nhớ các môn đệ cũng những người theo Chúa: Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 5,20).

 Công chính là sống một đời trong sạch không có gì vương bẩn trước mặt Chúa.

 Này là dòng dõi những người tìm Chúa, đây là những người mong bệ kiến Ngài, một đời lòng ngay không hề gian dối… (Tv 23)

 Vẫn là con người mang trong mình phận con người yếu đuối và rất cần ơn của Chúa để sống trong cuộc lữ hành trần thế này.

 Hôm nay, nhớ lại những hình ảnh thân thương của ông bà cha mẹ, những người thân thương cũng nhắc nhớ cho phận người ở trọ của chúng ta.  Để được hưởng nhan Thánh Chúa ắt hẳn phải sống công chính, phải sống trong sạch thì mới được hưởng nhan thánh Chúa như Chúa đã nói.

 Cuộc đời này rất vắn và rất vội.  Hãy sống ngày hôm nay như là ngày cuối đời của mình và hãy sống hết sức công chính để đến giờ Chúa gọi ta thưa vâng để ra trước tòa của Chúa và hầu mong được hưởng nhan thánh của Ngài như lòng ta hằng mong ước.

 Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

From: Langthangchieutim


 

BẤT LỰC, ĐIỂM MẠNH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta!”.

“Thập giá là tiếng ‘xin vâng’ của Thiên Chúa đối với con người, là biểu hiện cao nhất và mãnh liệt nhất của tình yêu Ngài!” – Bênêđictô XV.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mặc khải một nghịch lý: Thiên Chúa không tránh né sự bất lực của con người; Ngài ‘xin vâng’ với nó, mang lấy nó và biến nó thành tình yêu cứu độ. Vì thế, trước mặt Ngài, có khi ‘bất lực – điểm mạnh’.

Viên đại đội trưởng bất lực trước bệnh tình của người đầy tớ; nhạc mẫu Phêrô bất lực trên giường bệnh. Điều đáng ngạc nhiên là Chúa Giêsu không chỉ chữa lành bệnh tật của con người; Ngài còn mang lấy nó. Matthêu ghi nhận: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta!”. Thiên Chúa không cứu chúng ta bằng cách đứng ngoài, nhưng bằng cách đi vào nỗi đau của chúng ta và để mình bị liên luỵ bởi nó. Hoá ra, sự bất lực của con người không phải là điều khiến Thiên Chúa quay đi, nhưng lại là nơi Ngài muốn đến gần nhất. “Chính nơi con người chạm tới giới hạn của mình, Thiên Chúa bắt đầu!” – Karl Barth.

Viên đại đội trưởng có đủ quyền lực, kẻ dưới phải thi hành; nhưng trước bệnh tình của người đầy tớ, quyền lực của ông khựng lại. Chính ở ranh giới đó, đức tin của ông bắt đầu. Ông không kéo Chúa Giêsu vào logic quyền lực của mình; ông chỉ thưa: “Xin Ngài chỉ nói một lời!”. Chính đó là điểm mạnh của ông: biết quyền lực của mình buộc phải giới hạn trước sự sống, và ông dám trao phần không thể ấy cho Thiên Chúa.

Nhạc mẫu Phêrô lại cho thấy một hình thức bất lực khác. Bà không nói một lời, cũng không xin một phép lạ. Bà chỉ nằm đó, sốt liệt giường. Chúa Giêsu cầm lấy tay bà; cơn sốt biến mất và bà “trỗi dậy”. Matthêu dùng động từ ēgeirō – động từ của phục sinh. Không có phục sinh nào chỉ cho riêng mình; người được nâng dậy là người được trao lại cho tình yêu và sự phục vụ. “Tình yêu luôn là một tiến trình đi ra khỏi chính mình!” – Joseph Ratzinger.

Israel cũng đã đi qua kinh nghiệm bất lực ấy. Thành thánh hoang phế, Đền Thờ đổ nát, mọi chỗ dựa đều sụp đổ – bài đọc một. Vậy mà Thánh Vịnh đáp ca vẫn kêu lên: “Đừng mãi mãi quên đi mạng sống dân nghèo khổ của Ngài!”. Đó vẫn là tiếng của lòng trông cậy. Trong Kinh Thánh, người nghèo trước hết là người không còn gì để bám víu ngoài Thiên Chúa. Rõ ràng, có những lúc, sự cùng quẫn và bất lực lại trở thành nơi đức tin tinh tuyền được sinh ra.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô đã đi vào tận cùng của sự bất lực nơi con người. Ngài mang lấy thương tật, bệnh hoạn, tội lỗi và cái chết của chúng ta. Nhưng chính nơi tưởng như vô vọng nhất ấy, quyền năng cứu độ được tỏ bày. Vì thế, trong Đức Kitô, ‘bất lực – điểm mạnh’. “Chỉ một Thiên Chúa đau khổ mới có thể cứu độ!” – Jürgen Moltmann.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con không còn lời để mấp máy, xin cầu nguyện thay con; khi con không còn sức để đứng lên, xin mang lấy con; và khi con không còn biết phải làm gì, cho con biết đó có thể là khởi đầu của ân sủng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần XII Thường Niên, Năm Chẵn

Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.   Mt 8,5-17

5 Khi ấy, Đức Giê-su vào thành Ca-phác-na-um, có một viên đại đội trưởng đến gặp Người và nài xin : 6 “Thưa Ngài, tên đầy tớ của tôi bị tê bại nằm liệt ở nhà, đau đớn lắm.” 7 Người nói : “Chính tôi sẽ đến chữa nó.” Viên đại đội trưởng đáp : 8 “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh. 9 Vì tôi đây, tuy dưới quyền kẻ khác, tôi cũng có lính tráng dưới quyền tôi. Tôi bảo người này : ‘Đi !’, là nó đi, bảo người kia : ‘Đến !’, là nó đến, và bảo người nô lệ của tôi : ‘Làm cái này !’, là nó làm.” 10 Nghe vậy, Đức Giê-su ngạc nhiên và nói với những kẻ theo Người rằng : “Tôi bảo thật các ông : tôi không thấy một người Ít-ra-en nào có lòng tin như thế. 11 Tôi nói cho các ông hay : Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Trời. 12 Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng.” 13 Rồi Đức Giê-su nói với viên đại đội trưởng rằng : “Ông cứ về đi ! Ông tin thế nào, sẽ được như vậy !” Và ngay giờ đó, người đầy tớ được khỏi bệnh.

14 Đức Giê-su đến nhà ông Phê-rô, thấy bà mẹ vợ ông đang nằm liệt và lên cơn sốt. 15 Người đụng vào tay bà, cơn sốt dứt ngay và bà trỗi dậy phục vụ Người.

16 Chiều đến, người ta đem nhiều kẻ bị quỷ ám tới gặp Đức Giê-su. Người nói một lời là trừ được các thần dữ và Người chữa lành mọi kẻ ốm đau, 17 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói : Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta.


 

Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. (Mt 1:24)  – Cha Vương

 Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. (Mt 1:24)  – Cha Vương

Chúc bình an, một ông bố nói: “thật cảm động khi nhận được những món quà tinh thần từ những người con yêu quý của mình…” cứ tiếp tục đi nhé, còn 4 món quà nữa.

Cha Vương

Thư 6: 26/06/2026.   (t5-23-22)

Quà tặng thứ 5 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, mẫu gương khiêm nhường

TIN MỪNG: Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. (Mt 1:24)

SUY NIỆM: Nơi thánh cả Giuse, chúng ta thấy nổi bật về nhân đức khiêm nhường. Thuộc dòng dõi Vua Đavit, nhưng Ngài sống hết sức khiêm tốn, bình dị với nghề thợ mộc tại ngôi làng Nazaret. Là Cha nuôi Đấng cứu thế nhưng ngài không vênh vang, hãnh diện về sứ mạng cao cả của mình. Trái lại, Ngài âm thầm phục vụ, không quản ngại hy sinh, vất vả để dưỡng nuôi gia đình thánh. Đức khiêm nhường nơi Thánh Cả Giuse được thể hiện rõ nhất khi Ngài hoàn toàn quy phục Thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, cho dù có những điều ngài không thể hiểu được.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse là Đấng rất khiêm nhường, xin giúp chúng con biết noi gương ngài, sống khiêm tốn và hy sinh, để đem lại niềm vui cho những người chúng con gặp gỡ. Xin giúp chúng con dám loại trừ tính kiêu căng, ích kỷ, ghen tương, đố kị, để cuộc sống này bớt đi những khổ đau. Đặc biệt, xin giúp chúng con biết khiêm tốn đón nhận Thánh ý Chúa, ngay cả khi điều đó không hợp với ý riêng của chúng con. Lạy Thánh Giuse hiển vinh, nếu đẹp lòng Chúa và ích lợi cho linh hồn chúng con, xin Cha bảo trợ cho chúng con luôn can đảm vâng phục Thánh ý Chúa, biết sống tự hạ và tự hủy theo gương Đức Giêsu Kitô. Chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con trung thành với bổn phận, và mai sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. 

(Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng Phanxicô và cho các người cha trong gia đình còn sống cũng như đã qua đời.

KINH KHẤN THÁNH GIUSE BẢO TRỢ KHÓ KHĂN: Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu. Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Lạy Cha hiền xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này Cha đã từng là Cha nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con Chí Thánh, này xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó nơi Cha vụ khó khăn này (Nêu ra ý chỉ cầu xin, hoặc tên của các người cha… ) xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới và bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng, vâng chúng con tin tưởng Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi khổ cực ưu sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy. Cha không bỏ qua điều gì giúp cho người sầu khổ kêu cầu Cha. Chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con và chúc lành cho chúng con. 

Amen

From: Do Dzung

*****************************

Lạy Thánh Giuse Khiêm Nhường 


 

KHÔNG AI QUÁ NHƠ NHỚP – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi muốn, anh sạch đi!”.

“Tôi đã tuyệt vọng vì vết thương phải chết của mình, nếu tôi không gặp được một Vị Lương Y nhân từ đến thế!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

“Tôi muốn!”. Câu trả lời của Chúa Giêsu dành cho người phong hôm nay làm tan biến mọi tuyệt vọng. Vết thương có thể rất sâu, tội lỗi có thể rất nặng; nhưng trước một Vị Lương Y nhân từ và quyền năng đến thế, ‘không ai quá nhơ nhớp’, cũng không có vết thương nào Ngài không thể chữa lành.

Người phong không đưa ra bất cứ yêu sách nào. Anh chỉ nói: “Nếu Ngài muốn!”. Nguyên ngữ Hy Lạp dùng động từ thelō – “muốn, ưng thuận”. Điều anh tìm kiếm không phải trước hết là một phép lạ, nhưng là sự ưng thuận, hay đúng hơn, là cái nhìn đoái nhận của Chúa Giêsu trên đời mình. Và chính khi một con người dám phó thác tất cả trong sự đoái nhận ấy, câu trả lời vang lên: “Tôi muốn!”. Phép lạ thường bắt đầu khi con người thôi quyết định thay Thiên Chúa và dám trao quyền định đoạt mọi sự cho Ngài.

Bi kịch của người phong không chỉ là những vỡ vụn và hôi hám, nhưng là anh đã quen nghĩ mình không còn đáng được ai muốn, ai đón nhận, ai đến gần. Vì thế, phép lạ đầu tiên không phải là lành sạch, nhưng là một con người tưởng mình không còn đáng được nghe: “Tôi muốn!”, nay được nghe chính lời ấy. Hoá ra, điều nhơ nhớp không phải là những vết thương hay tội lỗi, nhưng là khi chúng ta tuyệt vọng đến mức không còn tin mình có thể được yêu và được tha. ‘Không ai quá nhơ nhớp’ trước Thiên Chúa; chỉ có những con người quá ngã lòng. “Lòng thương xót Chúa luôn lớn hơn tội lỗi của chúng ta!” – Phanxicô.

Israel cũng đã đi qua kinh nghiệm lưu đày nội tâm ấy. Giêrusalem thất thủ, Đền Thờ sụp đổ, vua tôi lưu đày. Mọi điều từng bảo đảm cho họ rằng Thiên Chúa đang ở cùng mình dường như đều bị lấy mất. Đó là khoảnh khắc cả một dân tộc có lý do để nghĩ rằng Thiên Chúa đã lãng quên họ – bài đọc một. Thế nhưng, giữa những hoang tàn ấy, Thánh Vịnh đáp ca vẫn cất lên: “Giêrusalem hỡi, lòng này nếu quên ngươi, lưỡi xướng ca sẽ dính với hàm!”. Chính trong nỗi tuyệt vọng, một điều vẫn còn nguyên: Thiên Chúa có thể bị cảm thấy như vắng mặt, nhưng Ngài chưa bao giờ bị xoá khỏi ký ức của dân Ngài.

Anh Chị em,

Người phong cùi hôm nay là hình ảnh của cả một nhân loại hủi cùi, mang những vết thương vô vọng, tội lỗi và sự cùng khốn. Đức Kitô là Vị Lương Y nhân từ và quyền năng, nhưng cũng là Vị Lương Y đã mang lấy chính những vết thương ấy – theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, Ngài đã nên gần gũi với sự uế tạp của con người đến nỗi ‘không ai quá nhơ nhớp’ để không được yêu, không ai chìm sâu trong thất vọng để không được tha và được cứu. Nói cách khác, trong Chúa Kitô, không ai ở ngoài tình yêu xót thương của Thiên Chúa, cũng không ai ở ngoài tầm với của ơn cứu độ. “Cử chỉ và lời nói ấy của Chúa Kitô chứa đựng toàn bộ lịch sử cứu rỗi!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con thất vọng, cho con nhớ mình vẫn được yêu; khi con lở loét, cho con dám chạy tìm Ngài; và khi con không còn thấy lối ra, cho con nghe lại lời: ‘Tôi muốn!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần XII Thường Niên, Năm Chẵn

Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 8,1-4

1 Khi Đức Giê-su ở trên núi xuống, đám đông lũ lượt đi theo Người. 2 Bỗng có một người mắc bệnh phong tiến lại, bái lạy Người và nói : “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” 3 Người giơ tay đụng vào anh và bảo : “Tôi muốn, anh sạch đi.” Lập tức, anh được sạch bệnh phong. 4 Rồi Đức Giê-su bảo anh : “Coi chừng, đừng nói với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế và dâng của lễ, như ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết.”


 

BƯỚC THEO HAY CHỈ THÁN PHỤC –  Lm. Mark Link, S.J. 

Lm. Mark Link, S.J. 

Chủ đề: “Khi thánh giá chúng ta trở nên quá nặng, chúng ta nên bắt chước Chúa Giêsu là chấp nhận cho kẻ khác giúp đỡ mình.” 

Clarence Jordan là người từng phát hành bản dịch Tân Ước của Cotton Patch vào hai thập niên 1950 và 1960.  Suốt thời kỳ này ông còn tham dự vào công việc giao hoà giữa các chủng tộc ở vùng Georgia. 

Ðây không phải là một công việc có nhiều người làm ở miền Nam vào những năm 1960.  Sự căng thẳng giữa dân da đen và dân da trắng đang lên cao.  Người ta ngồi ăn vạ trong các nhà hàng, xuống đường ở các phố.  Cảnh sát phải dùng chó và vòi phun lửa để giải tán đám dân chống đối dân da đen và ủng hộ dân da trắng.  Chẳng bao lâu công việc của Clarence cũng bị chỉ trích gắt gao.  Ông đến với em trai mình là Robert để xin sự giúp đỡ của luật pháp.  Ông em này hiện là luật sư cũng là một chính trị gia rất sáng gía ở Georgia.  Clarence sững sờ khi thấy em ông từ chối không giúp đỡ ông. 

Robert Mc Clendon, người kể lại câu chuyện này trong cuốn “Biography As theology” (tiểu sử được viết như thần học) nói rằng: điều khiến cho Clarence sửng sốt hơn hết là cả hai anh em ông đã cùng nhau dâng hiến cuộc đời cho Chúa Giêsu, thế mà em ông lại từ chối việc ấy.  Lập tức Clarence trách em về việc đã từng thề nguyền việc ấy.  Robert tự bào chữa: “Anh Clarence ơi!  Em theo Chúa Giêsu đến một mức độ nào đó thôi.  Em chỉ theo Người đến thập giá chứ không theo Người lên trên thập giá đâu!  Em không thích bị đóng đinh đâu.”  Clarence nhìn thẳng vào người em và nói: “Robert, chú không phải là người theo Chúa Giêsu!  Chú chỉ thán phục Người mà thôi!” 

Nhận xét của Clarence khiến Robert phải xét lại tâm hồn mình theo lời Chúa Giêsu trong bài phúc âm hôm nay: “Ai không vác thập giá mình và theo Ta, người ấy không xứng đáng là môn đệ Ta.” 

Tất cả chúng ta đều có những lúc suy nghĩ giống Robert.  Trong đời sống chúng ta, việc ta dâng mình cho Chúa Giêsu nhiều khi bị thử thách đến mức muốn bỏ Chúa luôn.  Nhiều khi trong cuộc đời chúng ta ấn tượng mạnh mẽ lời của Chúa Giêsu trong bài phúc âm hôm nay thực sự có sức mạnh hăm doạ.  Vào lúc đó vì sự khó khăn hoặc bi đát nào đó vùi dập, chúng ta bị cám dỗ từ bỏ thánh giá và không vác thánh giá theo Chúa Giêsu nữa, chúng ta bị cám dỗ rồi bỏ Chúa Giêsu và không bước theo Người nữa. 

Chẳng hạn sau khi người tình mà mình yêu thương khôn tả ruồng bỏ mình, thì đối với một thiếu phụ quả là khó mà vực nổi thánh giá lên, quả là khó mà cúi xuống vác thập giá lên tiếp tục bước theo Chúa.  Hay như cha mẹ sau khi đã bị cưỡng bức đưa vào viện dưỡng lão.  Cũng như đối với một bà vợ thật khó mà vực nổi thập giá lên để tiếp tục vác theo Chúa Giêsu khi chồng bà đêm nào cũng bỏ bê bà và đám con.  Và một thanh niên bị một gã say rượu xô đẩy phần đời còn lại của mình vào chiếc xe lăn thì đối với anh qua thực là khó mà vực nổi thập giá lên để tiếp tục bước theo Chúa Giêsu. 

Những người như trên sẽ làm gì khi mà cây thập giá thình lình đè xuống trên họ một sức nặng khiến họ dường như vác không nổi?  Chúng ta sẽ làm gì khi cây thập giá thình lình đè xuống trên chúng ta một sức nặng khiến chúng ta dường như không thể nào vác nổi nữa? 

Khi cây thánh giá nặng quá mức như thế ụp xuống đời mình, chúng ta nên nhớ lại rằng Chúa Giêsu đã từng có lúc cảm thấy thánh giá của mình nặng quá sức.  Lúc đó, Người đã chấp nhận để cho người lạ là Simon Cyrênê giúp đỡ. 

Xin anh chị em hãy suy nghĩ về điều ấy! 

Ðường đường là Con Thiên Chúa, là đấng cứu độ trần gian, thế mà Chúa Giêsu đành thú nhận với chính mình và với thế gian rằng Người không đủ sức vác nổi thập giá của mình nữa.  Nếu Con Thiên Chúa còn có đủ khiêm nhượng để làm điều đó thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ phải đủ khiêm nhượng để theo gương Người.  Khi thập giá trong đời trở nên nặng quá sức vác của mình.  Chúng ta phải kêu cầu sự giúp đỡ giống như Chúa Giêsu đã từng làm.  Nhưng chúng ta sẽ kêu cầu ai giúp đây?

 Trước hết và trên hết, chúng ta kêu cầu chính Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu đã từng biết thế nào là lảo đảo và té sấp xuống đất dưới một cây thánh giá.  Người cũng biết rõ cảm tưởng khi phải thú nhận rằng cây thập giá đã trở nên nặng quá không thể vác nổi một mình nữa.  Người đã biết rõ cảm tưởng khi phải khiêm nhường chấp nhận sự giúp đỡ của kẻ khác. 

Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta tự vấn mình câu hỏi khiêm nhượng sau: Có phải đã có những lúc trong đời chúng ta gần như không thể vác nổi thập giá mình để tiếp tục bước theo Chúa Giêsu nữa không? – Nếu có thì bài phúc âm hôm nay quả là đưa ra cho chúng ta một thách đố.  Nó thách đố chúng ta bắt chứơc Chúa Giêsu khi thánh giá của Người nặng qúa không vác nổi nữa.  Nó thách đố chúng ta làm giống như Clarence Jordan là kêu cầu sự giúp đỡ của người khác, nó thách đố chúng ta cầu cứu kẻ khác giúp đỡ. 

Cuối cùng, câu chuyện Simon Cyrênê giúp đỡ Chúa Giêsu vác thập giá như thế nào, cũng như câu chuyện Robert Jordan đã từ chối giúp đỡ anh mình lúc cần thiết ra sao, khiến chúng ta phải tự vấn mình xem: “Chúng ta trả lời thế nào với những kẻ đến yêu cầu chúng ta giúp đỡ?  Chúng ta có từ chối họ không?  Chúng ta giúp đỡ họ một cách miễn cưỡng với lời càu nhàu không?  Hay là chúng ta nồng nàn tiếp đón vui vẻ giúp đỡ họ?”

 Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện sau đây, nó tóm tắt được cả lời mời gọi lẫn thách đố chứa đựng trong bài Phúc âm hôm nay: 

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con sức mạnh của Ngài vì đôi khi sự việc quá cam go khiến chúng con sẵn sàng bỏ cuộc.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con tình yêu của Ngài, bởi vì đôi khi bị thiên hạ ruồng rẫy, chúng con bị cám dỗ căm ghét họ.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con đôi mắt Ngài bởi vì đôi khi cuộc đời trở nên tối tăm và chúng con lạc mất lối đi.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con lòng can đảm của Ngài, bởi vì khi thường chúng con hay bị áp lực khiến chúng con khó làm được điều gì đúng đắn.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con chính Ngài bởi vì tâm hồn chúng con được tạo nên cho Ngài và chúng con có thể được an nghỉ trong Ngài. Amen.” 

Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

DÔNG TỐ BIẾT NÓI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ!”.

“Nghịch cảnh không tạo nên con người; nó chỉ bày tỏ con người ấy là ai!” – James L. Allen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, nghịch cảnh có thể làm lộ nền móng thật của một con người. Mưa sa, nước cuốn, bão táp không làm cát chắc hơn hay đá cứng hơn; chúng chỉ khiến cát và đá lộ diện. Đó chính là lúc ‘dông tố biết nói’.

“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’… nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy!”. Hoá ra, điều quyết định không phải là điều chúng ta tuyên xưng, nhưng là điều chúng ta trở nên. Nguyên ngữ Hy Lạp dùng động từ poieō – “làm, thực hiện”. Đời sống Kitô hữu không được xây trên kinh nguyện hay những lời đạo đức, nhưng trên việc thi hành ý muốn của Thiên Chúa trong những chọn lựa cụ thể của đời sống. Những gì được kiên trì sống trong âm thầm mới dần tạo nên vóc dáng thiêng liêng của một con người. “Điều quan trọng không phải là nói những điều lớn lao về Chúa, nhưng là làm những điều nhỏ bé vì tình yêu Ngài!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Nền móng không chỉ được xây trong những ngày bình yên, nhưng cả khi dông bão đang ập xuống. Mỗi lần vâng phục, mỗi lần trung tín trong âm thầm, mỗi lần tha thứ đều đào sâu thêm nền đá của đời mình. Khi cuồng phong đến, ngôi nhà đứng vững không nhờ những gì được hứa, nhưng nhờ những gì đã được sống. Chính phần ẩn sâu ấy quyết định liệu nó có đứng vững khi bão táp ập vào. Đức tin cũng vậy. Và đó là lúc ‘dông tố biết nói’.

Israel đã trải nghiệm điều đó. Vua, Đền Thờ, thành thánh – tất cả đều lần lượt sụp đổ. Họ mất những gì từng làm nên niềm tự hào và cảm giác an toàn của mình – bài đọc một. Có những điều chỉ mất đi mới cho biết chúng chưa bao giờ là chỗ dựa sau cùng; bởi chỗ dựa đích thực không phải là những gì thuộc về Thiên Chúa, nhưng là chính Ngài. Vậy mà giữa cảnh lưu đày, Thánh Vịnh đáp ca lại cất lên, “Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con!”. Chính trong cảnh trắng tay ấy, dân Chúa mới học lại bài học căn bản: vinh quang Thiên Chúa không ở nơi những gì con người sở hữu, nhưng ở sự hiện diện và lòng trung tín của Ngài. “Điều Thiên Chúa ban trước hết không phải là một điều gì, nhưng là chính Ngài!” – Karl Rahner.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ dạy chúng ta xây đời trên đá; Ngài chính là Đá Tảng ấy. Ngài đến để trở nên nền móng không lay chuyển của một nhân loại vốn quen xây đời mình trên cát của quyền lực, của cải, thành công và cái tôi. Bởi đó, điều cứu chúng ta không phải là một đức tin chỉ ở trên môi miệng: “Lạy Chúa! Lạy Chúa!”, nhưng là một đức tin dự phần vào sự vâng phục hiếu tử của Đức Giêsu đối với Chúa Cha. Khi mọi chỗ dựa khác sụp đổ, người tín hữu khám phá rằng mình vẫn chưa mất tất cả, vì vẫn còn Đức Kitô. Đến lúc ấy, dông tố không cần nói thêm gì nữa. “Ai có Thiên Chúa thì không thiếu gì; chỉ mình Ngài là đủ!” – Têrêxa Avila.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con chỉ xây cao, nhưng biết xây sâu; để khi bão đến, đời con vẫn đứng vững trên Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần XII Thường Niên, Năm Chẵn

Nhà xây trên đá và nhà xây trên cát.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 7,21-29

21 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : ‘Lạy Chúa ! lạy Chúa !’ là sẽ được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. 22 Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng : ‘Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao ?’ 23 Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ : ‘Ta không hề biết các ngươi ; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác !’

24 “Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. 25 Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. 26 Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát. 27 Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành”.

28 Khi Đức Giê-su giảng dạy những điều ấy xong, dân chúng sửng sốt về lời giảng dạy của Người, 29 vì Người giảng dạy như một Đấng có uy quyền, chứ không như các kinh sư của họ.


 

RỒI RA SẼ THẾ NÀO? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây? Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em!”.

“Thiên Chúa sử dụng bạn để trở thành một ai đó mà bạn không bao giờ có thể tự mình trở thành!” – Philip C. Brewer.

Kính thưa Anh Chị em,

“Không biết ‘rồi ra sẽ thế nào?’”, đó cũng là điều họ hàng của Zacharia – Êlisabeth tự hỏi về Gioan; và có lẽ, mỗi người cũng từng âm thầm tự hỏi điều ấy về chính mình.

Một em bé chào đời là cách Thiên Chúa nói với thế giới rằng, “Nó sẽ tiếp tục!”. Mỗi sự sống mới là một phóng chiếu của Thiên Chúa đã mang lấy hình hài. Một đôi hiếm muộn ‘mong mỏi’ nó; Thiên Chúa thì ‘khát khao’ nó! Với bất cứ một sinh linh nào, chúng ta đều tin như vậy, phương chi đối với vị Tiền Hô của Con Thiên Chúa! “Gioan” – Yôhanan – nghĩa là “Đức Chúa đã thi ân”. Trước khi Gioan làm bất cứ điều gì cho Đấng Cứu Thế, chính tên của ông đã là một Tin Mừng.

“Rồi ra sẽ thế nào?” là câu hỏi của con người; “Ta muốn nó trở thành ai?” mới là câu hỏi của Thiên Chúa. Chúng ta thường lo về tương lai; Thiên Chúa lại chăm sóc một ơn gọi. Vì thế, “có bàn tay Chúa phù hộ em” không chỉ nói đến sự che chở, nhưng nói đến một bàn tay đang nhào nặn. Điều quan trọng nhất nơi một con người không phải là điều họ sẽ làm, nhưng là con người họ được mời gọi trở nên. “Gioan được thánh hoá từ dạ mẹ!” – Tôma Aquinô; “Gioan đầy Thánh Thần trong lòng mẹ!” – Luca.

Như vậy, Gioan đã có một tên gọi trước khi có một cuộc đời. Được sinh ra đã là một huyền nhiệm; được gọi tên là một ân ban; được sai đi lại là một huyền nhiệm lớn hơn. Isaia xác tín, “Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ!” – bài đọc một. Những lời ấy ứng nghiệm cách sung mãn nơi Chúa Giêsu, cách đặc biệt nơi Gioan và, theo một nghĩa nào đó, nơi mỗi người chúng ta. Phaolô xác nhận, “Để dọn đường cho Người, ông Gioan đã rao giảng” – bài đọc hai. Trước mầu nhiệm được dựng nên và được sai đi ấy, Thánh Vịnh đáp ca cất cao lời tri ân, “Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng!”.

Ân sủng Bí tích Rửa Tội nhắc chúng ta rằng: trước khi thuộc về bất cứ ai, chúng ta đã thuộc về Thiên Chúa; trước khi chọn một con đường, chúng ta đã được Ngài biết đến và sai đi. “Bạn không phải là một sự tình cờ. Bạn được Chúa muốn, được Chúa biết và được Chúa yêu!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Gioan sinh ra không để người khác dừng lại nơi mình, nhưng để dẫn họ đến với Đức Kitô. Tên Giêsu – Iēsous, trong Hy Lạp – có nghĩa là “Đức Chúa cứu”. Ngài đến không chỉ để cứu chúng ta khỏi tội lỗi, nhưng còn để mặc khải chúng ta là ai trước mặt Thiên Chúa. Chỉ nơi Đức Giêsu, câu hỏi ‘Rồi ra sẽ thế nào?’ của mỗi người mới tìm được câu trả lời sau cùng: chúng ta được dựng nên để được cứu độ, để cộng tác vào công trình cứu độ của Ngài và để nên thánh. “Hãy trở nên con người Chúa muốn bạn trở thành, và bạn sẽ làm bừng cháy cả thế giới!” – Catarina Siêna.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con phụ lòng Chúa khi không đáp lại điều Chúa hằng ước mong nơi con từ muôn đời!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************

LỜI CHÚA,  SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ 

24/6, Thứ Tư, Tuần XII

Tên cháu là Gio-an.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 1,57-66.80

57 Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Ê-li-sa-bét sinh hạ một con trai. 58 Nghe biết Chúa đã quá thương bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà.

59 Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha là Da-ca-ri-a mà đặt cho em. 60 Nhưng bà mẹ lên tiếng nói : “Không! Phải đặt tên cháu là Gio-an.” 61 Họ bảo bà : “Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả.” 62 Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì. 63 Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết : “Tên cháu là Gio-an.” Ai nấy đều bỡ ngỡ. 64 Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa. 65 Láng giềng ai nấy đều kinh sợ. Và các sự việc ấy được đồn ra khắp miền núi Giu-đê. 66 Ai nghe cũng để tâm suy nghĩ và tự hỏi : “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây ?” Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em.

80 Cậu bé càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en.