Những ngày tĩnh tâm linh thao với Linh Mục Nguyễn Tầm Thường – Tác giả Phùng Văn Phụng 

Tác giả Phùng Văn Phụng 

 Cuối tháng 11 năm 2006 tôi có đi Palacios để tĩnh tâm trong ba ngày. Địa điểm tĩnh tâm nằm sát bờ biển nên tôi thường đi dạo loanh quoanh mé biển, lắng động tâm hồn mình, nhìn trời nước bao la, mênh mông vô tận, thấy con người mình quá bé nhỏ trước vũ trụ bao la. 

Lần này tĩnh tâm năm ngày, địa điểm là dòng tu Missionary Carmelites ở đường Deer Trail gần Veteran Memorial và Belway 8. 

Trong năm ngày thinh lặng hoàn toàn, mình về với chính mình, tương quan mình với Thiên Chúa. Đi lang thang trong vườn nhà tĩnh tâm, ngồi suy niệm dưới gốc cây bóng mát, trong không khí tĩnh lặng hoàn toàn, dưới bầu trời trong xanh, khí hậu thật mát mẽ dễ chịu của mùa xuân mới, bông hoa bắt đầu ra nụ, cành lá bắt đầu sinh sôi nẩy nở sau mùa đông lạnh lẻo, cành lá trơ trụi, xác xơ. 

1)Được làm con Thiên Chúa: 

Ngày xưa, dưới các triều vua nhà Nguyễn, chỉ có nhà vua xưng mình là Thiên tử tức con Trời. Mỗi năm nhà vua thay mặt dân chúng đến Đàn Nam Giao ở Kinh đô Huế để tế cáo trời đất xin ông Trời, là Thiên Chúa, mang đến mưa hoà, gió thuận để dân chúng làm ruộng được mùa. 

Chúng ta, ngày hôm nay, sau khi chịu phép rửa được làm con Thiên Chúa tức là con Trời và được gọi Thiên Chúa là Cha. 

Nhìn lại quá trình lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thì vào năm 1533 đã có người Tây dương tên là Ynêxu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân ngấm ngầm truyền giáo, nói về đạo Giatô. Theo gia phả dòng họ Đỗ thì vào năm 1580 có một người trong họ, Đỗ Hưng Viễn theo đạo Hoa lang.(1) 

Lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thăng trầm, không phải thời nào cũng dễ dàng được làm con Thiên Chúa vì có lúc người ta được tự do giữ đạo, sống đạo, nhưng cũng có thời kỳ bị bách hại dữ dội, nhất là dưới triều đại các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Lúc đó nếu ai tuyên xưng đức tin, con Thiên Chúa, là chịu đủ mọi thứ hình phạt và có thể bị tử hình. Bằng chứng là trong suốt dòng lịch sử thời gian cuối thế kỷ thứ 16 đến hết đời Tự Đức đã có hàng trăm ngàn người tử đạo ở Việt Nam, họ là những “thánh tử đạo vô danh”, trong đó có được 117 vị Thánh tử đạo được biết đến tên trong buổi lễ kỹ niệm long trọng vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 ở Roma. 

Ngày hôm nay, chúng ta được tự do theo đạo, tự do hành đạo, tự do sống đạo, tự do tuyên xưng đức tin là đìều quý giá vô cùng vì trên thế giới bây giờ cũng còn rất nhiều nơi, nhiều người không được tự do xác tín niềm tin của mình. 

“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (Sách Sáng thế ký, câu 27) cho nên mình là con của Thiên Chúa được gọi Thiên Chúa là Cha. 

Thánh Phao lô gởi tín hữu Ga-lát: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi”. Vậy anh em không phải là nộ lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.” (Gal 4: 6,7) 

Cảm nghiệm nào vui hơn, hạnh phúc cho bằng, mình là con của Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là “Áp-ba., Cha ơi”. 

2)Lòng tin của con đã cứu con

a)Chúa chữa người đàn bà bị băng huyết: 

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc, đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giê su, bà lách qua đám đông tiến đến sau Người và sờ vào áo Người. “Tôi mà sờ vào áo Người thôi là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại và bà cảm thấy trong người được khỏi bịnh.  …Bà đến phủ phục trước mặt Người và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bịnh.” (Mc 5: 25-34) 

b)Chúa chữa người con gái ông trưởng hội đường: 

Có mấy người từ nhà ông truởng hội đường đến bảo “ Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa. Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”. Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê rô, ông Gia cô bê và em ông này là ông Gioan. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ầm ỹ. Người bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy.” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người vào nơi nó đang nằm. Người cầm lấy tay nó và nói: “Ta-li-tha-kum” nghĩa là “Này bé, Thầy truyền cho con: hãy trỗi dậy đi. Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được… người ta kinh ngạc sững sờ. (Mc 5: 35-42) 

c)Chúa chữa người mù: 

Đức Giêsu còn chữa người mù tên là Ba-ti-mê con ông Ti-mê ở Giê-ri-khô.  Vừa nghe nói, đó là Đức Giêsu Nadaret, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, con vua David, xin dủ lòng thương tôi.” Đức Giêsu đứng lại và nói “Gọi anh ta lại đây.” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy.” Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh ” Tức khắc anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi. (Mc 10: 46-52) 

d)Chúa chữa người phong cùi.

 Lúc Người vào một làng kia thì có mười người phong hủi đến gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: “ Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi.” Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.” Đang khi đi thì họ được sạch. Một người trong bọn thấy mình được khỏi liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri. Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này.? Rồi Người nói với anh ta: “Đứng dậy về đi. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.” (Luca 7: 12-19) 

3)Hồi tâm hay tĩnh tâm theo thánh I-Nhã. 

Nhớ lại hồi những năm 1980, 1981 tôi bị giam giữ ở trại cải tạo K3 Vĩnh Phú, ăn uống rất kham khổ, đói khát, mỗi ngày chỉ được phát cho một tô canh rau muống luộc với muối, lỏng bỏng vài cộng rau, một nắp bình thủy cơm độn vài củ khoai lang, khoai mì hay bắp luộc. Có lúc mất luôn phần cơm chỉ còn khoai mì lát không còn mùi vị gì, khoai lang hay bắp trái hay khoai mì nghĩa vụ. Khoai mì này thường là loại khoai mì chỉ có hai đầu của củ khoai do dân đóng thuế. Người dân họ giữ lại phần giữa để họ ăn. Một chén khoai mì loại này anh em chỉ mấp mấp một chút tinh bột, rồi phải nhả ra hết vì toàn là sơ của hai đầu củ khoai mì. Nhiều khi nhận được vài củ khoai lang trong mỗi bửa ăn, nhưng đó lại có khoai sùng ăn vào đắng nghét.  

Trong hoàn cảnh đói khát dữ dội, triền miên như thế, làm cách nào tìm nguồn vui để sống trong sự đói. Đói cồn cào, đói mờ mắt, đói quá cứ gặp nhau là nói về thức ăn cho đỡ đói. Thì giờ rảnh, ngồi viết về cách nấu ăn, làm các món ăn, pha chế các món ăn. Ăn hàm thụ cho đỡ đói. 

Một người bạn nằm kế bên tôi tên là Minh chỉ cho tôi tập thiền (thiền ông tám). Cứ mỗi đêm khoảng 11, 12 giờ khuya ngồi xếp bằng và bắt đầu thiền. Anh Minh nói rằng khi ngồi thiền cần hít vô cho sâu và thở ra cho hết hơi của mình. Trong khi hít thở như vậy, niệm Nam Mô A Di Đà Phật, phải dùng ý chí, tư tưởng chuyển qua sáu luân xa, thuộc nhâm mạch và đốc mạch. Tập thiền như vậy để quên đói, quên suy nghĩ vẫn vơ, quên buồn phiền, mà có thể “tiếp xúc với gia đình bất cứ lúc nào” trong đêm cũng được. Sau khi tôi tập một thời gian vài tháng, tôi đã thấy vầng ánh sáng thật to ngay trước trán. Tôi sợ quá không dám tập nữa. Tôi sợ tẩu hỏa nhập ma, sẽ bị mát mát. Đói quá, thiếu ăn, mất hàng chục kí lô, đã ốm nhôm, ốm nhách mà nửa đêm còn ngồi dậy “thiền” tôi thấy có cái gì đó không ổn. Tôi cần ngủ để lấy lại sức không thể thiền vào lúc nửa đêm như vậy được.  

Hồi tâm hay tĩnh tâm theo thánh I-Nhã là lòng hướng Thiên Chúa toàn năng. Đọc phúc âm, dùng trí tưởng tượng, đặt mình vào hoàn cảnh địa lý, nhân vật, lắng nghe sự đối thoại của các nhân vật đó, lắng đọng tâm tư mình xuống, hướng về Thiên Chúa nhân từ, yêu thương, để nghe Chúa nói gì với mình và mình nói gì với Chúa, để nhặt các hạt cát, hạt sạn trong đời sống của mình đã gây cho mình đau khổ. Cha Nguyễn Tầm Thường đã dùng chữ “đau khổ dư thừa”. Khi vất những hạt sạn, hát cát đó đi thì đời sống mình càng đẹp hơn, càng vui hơn, hạnh phúc hơn. 

3)Ơn thánh biến đổi chính mình: (Transform) 

Trong bài đầu tiên trong sách ca nguyện Linh Thao, nói đến Nguyên Lý Nền Tảng và Mục Tiêu cuộc đời đã nhắc nhở: “Mục tiêu cuộc đời là sống mãi với Thiên Chúa, đấng ban cho chúng ta cuộc sống vì yêu thương chúng ta. Khi chúng ta ngợi khen, tôn kính và phục vụ ngài, tâm linh chúng ta được cứu thoát.” 

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải biết giữ bình tâm, thăng bằng đối với mọi sự trên mặt đất… 

Để cứu thoát tâm linh của chính mình, một điều nên làm là lúc nào cũng ca ngợi Thiên Chúa dầu mình gặp bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào. Tôi có viết một câu ngắn để trước bàn làm việc ở nhà, cũng như ở chỗ làm, để tự nhắc nhở chính mình như sau: “Tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh” 

Khi đi linh thao Cha có nói đến ơn Thánh biến đổi, ơn thánh “transform” sự xấu thành sự tốt. “Ơn thánh” không cất nhắc khó khăn. Luật tự nhiên trời mưa, trời nắng, trời nóng, trời lạnh. Theo luật tự nhiên mình có lúc khỏe mạnh, có lúc đau yếu, binh tật v.v…Chúng ta không thể thay đổi luật tự nhiên này theo ý mình được, vậy chúng ta phải “transform” nó cho thích hợp với chúng ta vì lúc nào chúng ta cũng có Thiên chúa “ở cùng”. Con đau khổ thì Cha cũng đứng bên con chia sẻ đau khổ với con. Khi nhìn Chúa Kitô trên thập giá, đối diện với Chúa, ơn thánh sẽ biến đổi tâm tư, tình cảm chúng ta để giúp chúng ta đủ sức chịu đựng được những khó khăn, đau khổ. 

Hoa quả của Thần khí là: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tính, hiền hòa, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. (Gal 5: câu 22-23). Khi mình gặp những sự gì đi ngược lại với thần khí này tức là mình đang xa lìa Thiên Chúa. 

Tĩnh tâm cho lòng mình quy về cội nguồn Thiên Chúa, trong tâm tình cầu nguyện và tạ ơn Thiên Chúa mỗi ngày cho đến khi chúng ta được trở về quê trời. 

Đêm cuối cùng hai mươi anh chị em chúng tôi ngồi tâm sự chia sẻ những tâm tư, tình cảm trong mấy ngày tĩnh tâm, đã cảm nghiệm gần gũi Chúa như thế nào. Có Chúa trong đời sống hoàn toàn khác biệt với tình trạng sống xa lìa Thiên Chúa. 

Cho nên được làm con Thiên Chúa, cuộc sống mình sẽ luôn luôn vui tươi, luôn luôn hạnh phúc vì lúc nào cũng “ có Chúa ở cùng ” với chúng ta. Trong gia đình, cộng đoàn hay cá nhân nào “có Chúa ở cùng” thì gia đình, cộng đoàn, cá nhân đó bình an. 

Theo Chúa, học cách tĩnh tâm mỗi ngày như thánh I-Nhã, đời sống hiện tại đẹp biết bao nhiêu, mình cũng biết được mục đích cuối cùng của đời sống và khi chết, linh hồn mình sẽ đi về đâu? 

Phùng Văn Phụng  

(1)  Để Hiểu Lịch Sử Sách Đạo Thiên Chúa ở

      Việt Nam đầu thế kỷ 17 của Nguyễn Khắc Xuyên 

 (Kỹ niệm 5 ngày tĩnh tâm 17-22 tháng tư năm 2007)


 

Những kẻ bất chính sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp sao?

Hôm nay Thứ 7 đầu tháng, kính Đức Mẹ, chúc bạn và gia đình một ngày bình yên trong Chúa và Mẹ yêu nhé. Đừng quên làm một hy sinh nhỏ như là một đoá hoa thiên dâng lên cho Mẹ trong ngày hôm nay. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và thế giới được Bình An nhé

Cha Vương

Thứ 7: 09/05/2026.    (n7-22)

TIN MỪNG: Nào anh em chẳng biết rằng những kẻ bất chính sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp sao? Anh em đừng lầm. Những kẻ dâm đãng, thờ ngẫu tượng, ngoại tình, trụy lạc, kê gian, những kẻ trộm cướp, tham lam, say sưa rượu chè, quen chửi bới, sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp. (1 Cr 6:9-10)

SUY NIỆM: Nhiều người sau khi đã đi đường nhân đức ít lâu, liền ngừng chân nghỉ bước vui lòng ở lại đường lối mình đã đi; xong ơn thánh sủng không khi nào nói được rằng: “Đủ rồi”. Có người lại nghĩ miễn sao đừng sống đạo ngược thì thôi; như thế chưa đủ! Người tốt hằng ngày phải gắng sức tiến tới trên đường lành. Đến ngày thế mạt nhiều giáo dân sẽ phải bỡ ngỡ thấy mình mắc nợ Chúa vì đã không dùng những phương thế tốt để nên thánh. Trên đường nhân đức ai không tiến tới, tức là lùi lại; ai không lợi dụng các dịp mình đã được, tức là hỏng mất. Ai tận tâm làm tôi Chúa, Người sẽ ban xuống cho muôn ơn lành. Và dầu con cư xử hẹp hòi với Chúa, người cũng sẽ ở nhân từ quảng đại với con. 

(x. Sách Gương Đức Mẹ, Q1:4:3) 

LẮNG NGHE: Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí. (2 Cr 3:18)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, đôi khi con cố gắng một hồi rồi đuối sức, vì con rất giới hạn, tầm thường và yếu đuối, hơn nữa con còn bị chi phối bởi hoàn cảnh và môi trường sống nữa, bị chi phối bởi sức mạnh của ma quỉ nữa. Chúa dạy con: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5:48) Lạy Mẹ Maria, xin cầu bầu cùng Chúa cho con để con mỗi ngày một tiến trên đàng nhân đức và đừng để con dừng chân lùi bước làm mất lòng Chúa hôm nay.

THỰC HÀNH: Bạn sẵn sàng chưa? Cố gắng hết sức từ bỏ một tật xấu để trở nên hoàn thiện hơn.

From: Do Dzung

******************************************

Hiền Thục – Mẹ Hằng Cứu Giúp

SỰ VẮNG MẶT BIẾT THỞ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thầy sẽ không để anh em mồ côi!”.

“Cô độc không đến từ việc không có ai ở quanh mình, nhưng từ việc không thể chia sẻ những điều mình cho là quan trọng và sâu xa!” – Carl Jung.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói rằng các môn đệ sẽ không mồ côi, chẳng phải vì Chúa Giêsu vẫn ở quanh họ, nhưng vì Ngài ở trong họ bằng hơi thở của Thánh Thần. Khởi đầu của một ‘sự vắng mặt biết thở’.

Thần học Gioan xem Thánh Thần không như “người thay thế”, nhưng là cách Chúa Giêsu tiếp tục ở lại sau Phục Sinh. Vì thế, sự ra đi của Ngài không tạo nên khoảng trống; nhưng mở ra một cách thức ở lại. Chính Thánh Thần làm cho Chúa Giêsu không còn chỉ ở trước mặt họ, nhưng trong họ. “Thầy về cùng Cha” không phải là rút lui khỏi thế gian, nhưng là sự chuyển đổi từ hữu hình sang nội tại và sâu hơn. Càng không thể bị chạm tới, Ngài càng đi vào chiều sâu con người! “Ngài ở trong con còn sâu hơn phần sâu thẳm nhất của con, và cao hơn phần cao nhất nơi con!” – Augustinô.

Chúa Giêsu gọi Thánh Thần là “Thần Khí sự thật” – Pneuma tēs alētheias. “Sự thật” không chỉ là điều đúng, nhưng là điều làm lộ con người thật. Vì thế, công việc của Thánh Thần không phải là thêm kiến thức, nhưng là kéo con người ra khỏi những phiên bản giả của chính mình. Có lẽ vì vậy mà thế gian không thể đón nhận Thánh Thần; bởi thế gian chỉ quen tin vào những gì có thể nắm giữ, đang khi Thánh Thần không như một vật thể. Còn người môn đệ, họ không sống như kẻ nhớ Chúa, nhưng như kẻ đang được Chúa cư ngụ. Ngài vắng mặt, một ‘sự vắng mặt biết thở’.

Thánh Thần cũng không làm người môn đệ khép kín trong những cảm xúc thiêng liêng, nhưng mở họ ra cho thế giới. Nhờ “thở hơi Thánh Thần”, đức tin không còn là một ký ức về vị Thầy đã vắng bóng, nhưng trở thành một sự sống lan rộng và làm rung động lòng người. Tại Samaria, các tông đồ đặt tay để tín hữu lãnh nhận Thánh Thần – bài đọc một; Phêrô mời gọi các Kitô hữu “hãy luôn sẵn sàng trả lời cho ai chất vấn về niềm hy vọng” của mình – bài đọc hai. Từ đó, dân ngoại mừng, tín hữu vui – “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa!” như Thánh Vịnh đáp ca cất lên.

Anh Chị em,

“Thầy sẽ không để anh em mồ côi!”. Điều đáng sợ không phải Thiên Chúa vô hình, nhưng là một thế giới không còn ai hiện diện với ai. Đức Giêsu Kitô không hề mồ côi, Ngài hằng ở với Cha, cùng Cha và trong Cha; ngay cả trên thập giá khi mọi tương quan tưởng như tan vỡ. Từ sự hiệp thông ấy, Ngài không để người môn đệ sống như kẻ bị bỏ rơi. Theo Yves Congar, Thánh Thần không bao giờ tách khỏi Đức Kitô; chính Ngài làm cho Đức Kitô tiếp tục hiện diện trong Giáo Hội và nơi người tín hữu. Chúa Thánh Thần là cách Ngài ở lại! Nhờ đó, nỗi cô độc sâu nhất nơi lòng người được chữa lành nhờ thở hơi Thánh Thần.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con sống giữa một thế giới đầy kết nối nhưng thiếu hiện diện; xin cho con biết ở lại trong Ngài và hiện diện cho tha nhân!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT, TUẦN VI PHỤC SINH, NĂM A

Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 14,15-21

15 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. 16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. 17 Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. 18 Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. 19 Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. 20 Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. 21 Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.”


 

 “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9:3-4)-Cha Vương

Một ngày tươi vui rạng ngời trong Chúa nhé. Không quên cầu nguyện cho nhau  và toàn thế giới nhe 

Cha Vương

Thứ 6: 8/5/2026.      (n9-25)

TIN MỪNG: Vậy đang khi ông [Phaolô, Sao-lô] đi đường và đến gần Đa-mát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9:3-4)

SUY NIỆM: Vài ngày trước khi các Hồng y bước vào mật nghị, có người hỏi mình rằng liệu Giáo Hội kỳ này có một vị giáo hoàng người Mỹ không? Mình trả lời là “hơi nghi ngờ đó!” Rõ ràng là mình đã sai tuốt tuồn tuột! Trong Kinh Hoà Bình của Thánh Phanxicô có câu: “Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan.” Bây giờ mới tin vào việc Chúa làm thì không ai có thể đoán trước được. 

   Cuộc sống thường không thể đoán trước. Sáng thức dậy bạn lập ra một chương trình cho ngày mới nhưng đến giữa trưa thì mọi sự đều thay đổi hết. Như Phao-lô, phải nói  là đã thay đổi 180 độ. Từ một kẻ bắt bớ các tín hữu tin theo Chúa Giê-su, Phao-lô chẳng những đã trở thành kẻ tin theo Chúa Giê-su mà còn trở thành một người chết cho Chúa nữa. 

   Bạn cũng vậy, mỗi ngày bạn được mời gọi đến để gặp Chúa Giê-su trong Bí tích Thánh Thể. Nếu bạn muốn thay đổi đời mình 180 độ thì hãy đến cùng Giê-su đi. Nếu Ngài sống lại từ cõi chết được thì Ngài cũng có thể biến mảnh đời khô quạnh của bạn thành cuộc đời vui tươi và bình an. Hãy đến để Ngài bổ sức cho…

LẮNG NGHE: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng. (Mc 16:15)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, xin hãy biến đổi con và hãy sử dụng con như một khí cụ trong bàn tay quyền năng của Chúa, để con nên một “Phao-lô nhỏ”, nên một chứng nhân sống động của Tin Mừng trong các môi trường sống của con.

THỰC HÀNH: Cố gắng là một “Phao—lô nhỏ” hôm nay nhé.

From: Do Dzung

******************************************

BIẾN ĐỔI ĐỜI CON – HIỆP LỄ CHÚA HIỂN DUNG – Lm Thái Nguyên

Khác biệt giữa CHỦNG VIỆN, TU VIỆN và  ĐAN VIỆN, giữa linh mục TRIỀU và DÒNG.

Khác biệt giữa CHỦNG VIỆN, TU VIỆN và  ĐAN VIỆN, giữa linh mục TRIỀU và DÒNG.

1) CHỦNG VIỆN:

Chủng viện (tiếng Latinh: seminarium, có nghĩa là vườn ươm): là nơi đào tạo các linh mục tương lai. Các chủng sinh, sau khi hoàn tất chương trình Triết học và Thần học, sẽ được lãnh tác vụ/thiên chức linh mục, họ mang sứ mệnh trông coi các xứ đạo và thuộc quyền một Giám mục của giáo phận sở tại. Các linh mục này được gọi là linh mục triều (secular priest).

2) TU VIỆN :

Trong Giáo hội Công giáo, có hai loại hình tu trì sống theo cộng đoàn: tu hoạt động và tu chiêm niệm. Theo cách gọi thông thường, tu viện là nơi ở dành cho những ai tu theo lối hoạt động (active), họ được gọi là tu sĩ và thường làm các công việc ngoài khuôn viên tu viện.

3) ĐAN VIỆN

Đan viện là nơi ở dành cho những ai tu theo lối chiêm niệm (contemplative). Họ được gọi là đan sĩ (dù là linh mục hay không linh mục). Họ sinh hoạt chủ yếu trong đan viện của mình với tinh thần “Ora et Labora” (cầu nguyện và lao động). Mỗi ngày các đan sĩ dành phần lớn thời gian đọc kinh chung và cầu nguyện theo phương pháp đặc thù.

4) LINH MỤC TRIỀU VÀ LINH MỤC DÒNG

Phân biệt linh mục triều và linh mục dòng

“Triều” và “Dòng” là những từ ngữ khác nhau được dùng để chỉ về hai lối sống khác nhau trong cộng đồng Giáo Hội.

– Linh mục triều (secular priests), phục vụ trong các giáo xứ, ở giữa dân chúng hay “giữa thế gian” (theo tiếng Latin, thế giới là “saeculum”), còn được gọi là các linh mục giáo phận (diocesan priests), “nhập tịch” vào Giáo phận, trực thuộc Giáo phận, trực tiếp dưới quyền Giám mục Giáo phận, vâng lời và thi hành chức vụ linh mục, đảm nhận những công tác do Giám mục chỉ định. Thông thường, các linh mục triều hoạt động trong địa hạt Giáo phận của mình.

– Linh mục dòng hội nhập vào các dòng tu, là tu sĩ, phần tử của các dòng tu, tuyên giữ lời khấn dòng (khiết tịnh, khó nghèo, và vâng lời bề trên), trực tiếp vâng lời bề trên dòng trong mọi sự việc và đảm nhận những công tác do bề trên chỉ định. Các công việc của các linh mục dòng tùy thuộc đoàn sủng mỗi dòng. Họ có thể thi hành những việc về phụng vụ, quản trị, mục vụ, truyền giáo, giáo dục, xã hội, y tế, nghệ thuật, truyền thông, lao động… Các linh mục dòng có thể được gửi đi hoạt động bất cứ nơi nào nhà dòng được phép hoạt động, cũng được bề trên gửi đến các Giáo phận để phục vụ như các linh mục triều và trong khi phục vụ khó phân biệt họ với linh mục triều.

– Ngoài ra, trong thực tế, ta còn thấy sau chữ ký hay danh xưng của các linh mục dòng còn có thói quen viết thêm chữ tắt tên của dòng mình như:

S.J. (Societas Jesus – Dòng Tên),

O.P. (Ordo Predicatorum – Dòng Đa Minh),

O.F.M. (Ordo Fratrum Minorum – Dòng Thánh Phanxicô),

CSsR (Congregatio Sanctissimi Redemptoris – Dòng Chúa Cứu Thế),

Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc (Congregatio Redemptoris Matris – CRM).

M.S. (Missionarus Salettensis – Dòng LaSalette),

C.F.C.(Congregatio Fratrum Christianorum – Dòng Sư Huynh Lasan),

O.H. (Ordo Hospitalis – Dòng Bệnh Viện – Gioan Thiên Chúa),

S.D.B. (Società Salesiana di San Giovanni Bosco – Dòng Salesian Don Bosco),

O.S.B (Ordo Sancti Benedicti – Dòng Biển Đức),

S.V.D. (Societas Verbi Divini – Dòng Ngôi Lời), v.v 

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

PHẦN CÒN LẠI, NGÀI LO-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước”.

“Một khi bị dồn vào đường cùng, rắn đuôi chuông có thể tự cắn mình. Người nuôi hận thù cũng thế: tưởng làm đau người khác, nhưng lại huỷ hoại chính mình. Tốt nhất, bạn hãy đón nhận sự thù ghét, tìm dịp để yêu thương và phó thác cho Chúa. Phần còn lại, Ngài lo!” – E. Stanley Jones.

Kính thưa Anh Chị em,

Trước một nền văn hoá chống lại Thiên Chúa, Chúa Giêsu vẫn tìm dịp để yêu thương và phó mình cho Cha. Tin Mừng hôm nay hé mở một nghịch lý: yêu thương không phải là yếu đuối, nhưng là một sức mạnh – ‘phần còn lại, Ngài lo!’.

Trong thần học Gioan, “thế gian” – kosmos – không chỉ là thế giới con người đang sống, nhưng còn là một thế giới khước từ ánh sáng. Vì thế, càng mặc khải sự thật và tình yêu của Cha, Chúa Giêsu càng bị chống đối. Ngài vẫn yêu giới biệt phái, yêu Giuđa và yêu đến cùng cả những kẻ sẽ đóng đinh Ngài. Ở đây, yêu thương chính là phản kháng! “Sự thật không vũ trang và tình yêu vô điều kiện sẽ là tiếng nói cuối cùng!” – Martin Luther King Jr..

Thế nhưng, với Gioan, ánh sáng không biến mất trước bóng tối; trái lại, càng bị khước từ, ánh sáng càng bừng lên mạnh mẽ hơn. Chính vì thế, tình yêu Kitô giáo không phải là trốn chạy xung đột, nhưng là từ chối để sự dữ quyết định cách mình sống và cách mình yêu. Người Kitô hữu không nuôi dưỡng cay đắng, cũng không tự huỷ mình trong hận thù; trái lại, vẫn nhu mì và tiếp tục yêu thương. Và đó cũng là thách đố lớn nhất của người môn đệ hôm nay: giữa một thế giới dễ đáp trả bằng giận dữ, chúng ta được mời gọi phản kháng bằng yêu thương; ‘phần còn lại, Ngài lo!’. “Tình yêu là căn tính đích thực của tôi; quên mình là con người thật của tôi!” – Thomas Merton.

Tình yêu luôn tìm kiếm giải pháp! Các tông đồ đã sống điều đó. Được đón tiếp, các ngài lưu lại; bị khước từ, các ngài lên đường. Không dừng lại, nhưng luôn mở ra những con đường mới. Từ Đerbê, Lystra đến Phygia, Galat rồi Makêđônia – bài đọc một – đã xuất hiện những cộng đoàn mới, những con tim mới và những niềm vui mới. Chính khi không để mình bị nhốt lại trong chống đối, Hội Thánh sơ khai tiếp tục lớn lên; tín hữu vui, dân ngoại mừng, “Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã đi đến tận cùng con đường ấy trong một cuộc kenosis – tự huỷ hoàn toàn vì yêu. Trên thập giá, bị kết án, Ngài vẫn thứ tha; bị trao nộp, Ngài vẫn một mực phó mình cho Cha. Thập giá vì thế không còn là thất bại, nhưng trở thành mặc khải tối hậu của một tình yêu mạnh hơn sự dữ và mạnh hơn cả sự chết. “Tôi không muốn trở thành kẻ chống lại ai; tôi chỉ muốn xây dựng một lời khẳng định lớn lao!” – Oscar Romero. Bởi thế, người môn đệ Đức Kitô không phản kháng bằng cay đắng, nhưng bằng một tình yêu như Thầy mình; tiếp tục yêu thương, tiếp tục phó thác – ‘phần còn lại, Ngài lo!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để thế gian ghét con vì con dễ ghét; cứ để họ ghét con vì con dễ thương! Cho con vẫn cứ thương, dù bị ghét. Được thế, con mới giống Chúa phần nào!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần V Phục Sinh

Anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn anh em khỏi thế gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 15,18-21

18 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. 19 Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. 20 Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em. 21 Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy.”


 

THỜI CỦA THÁNH THẦN – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

Đức Giê-su đã hoàn tất công trình cứu độ trần gian, và Người đã về với Chúa Cha.  Hy tế của Chúa Giê-su được dâng một lần trên thập giá là đủ cho con người được cứu rỗi.  Tuy vậy, con người ở mọi thời đại và mọi nền văn hóa lại luôn cần đến ơn Cứu độ, nên Chúa Giê-su hứa: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.”  “Đấng Bảo trợ khác” là Chúa Thánh Thần, Ngôi Ba Thiên Chúa, Đấng có cùng bản thể và cùng quyền năng với Chúa Cha và với Chúa Con.  Như vậy, sau thời của Chúa Giê-su, là thời của Thánh Thần.  Chúa Thánh Thần tiếp nối công việc Chúa Giê-su đã làm, để giúp con người ở mọi thời đại đón nhận ơn Cứu độ.  Chúa Giê-su không bỏ các môn đệ mồ côi.  Người chăm sóc họ bằng những hành động của Chúa Thánh Thần. 

Trong ngày lễ Ngũ Tuần, lời hứa của Chúa Giê-su đã được thực hiện.  Chúa Thánh Thần đã đến với các tông đồ đang khi các ông cầu nguyện bên Đức Ma-ri-a.  Ngay từ lúc đó, các tông đồ đã được biến đổi.  Từ những dân chài đơn sơ chất phác, các ông trở thành những nhà giảng thuyết hùng hồn và can đảm.  Chúa Thánh Thần đã hoạt động trong Giáo hội kể từ ngày ấy. 

Lịch sử hai ngàn năm của Giáo hội đã chứng minh sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần.   Ngài là Đấng Canh tân luôn làm cho Giáo hội trẻ trung và phù hợp với các nền văn hóa.  Ngài là Đấng Bảo trợ luôn gìn giữ các môn đệ của Chúa Ki-tô trong những hoàn cảnh khó khăn thử thách.  Trong bối cảnh sa sút về đức tin của Giáo hội tại một số quốc gia tây phương hôm nay, nhiều người cảm thấy lo ngại cho tương lai của Giáo hội.  Họ đặt câu hỏi: phải chăng giáo huấn của Chúa Giê-su đã trở thành lỗi thời với con người thời nay?  Tuy vậy, nếu chúng ta nghiên cứu lịch sử, chúng ta sẽ thấy có những giai đoạn Giáo hội gặp nhiều thử thách cam go, thậm chí có những chia rẽ ngay từ thượng tầng của Giáo hội.  Ấy vậy mà Chúa Thánh Thần vẫn gìn giữ con thuyền của Giáo hội, và dẫn đưa con thuyền ấy vượt trùng dương, thoát nguy biến.  Chúng ta tin vào quyền năng Thiên Chúa và cầu nguyện.  Chúa sẽ có cách giải quyết của Người. 

Mặc dù Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động trong Giáo hội, và mặc dù Chúa Giê-su vẫn hiện diện nơi trần thế như Người đã hứa: “Này đây Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế,” Ki-tô hữu không được chủ quan và ỷ lại.  Mệnh lệnh Chúa Giê-su đã truyền cho các tông đồ, và hôm nay cho chúng ta, là: “hãy giữ điều răn của Thầy.”  Điều răn của Thầy là điều nào?  Là yêu thương nhau.  Điều răn của Thầy còn là trọn vẹn giáo huấn mà Thầy đã rao giảng trong xứ Pa-lét-ti-na.  Tình yêu của tín hữu dành cho Chúa Giê-su không dừng lại ở lý thuyết và ngôn từ trên môi miệng, nhưng phải được chứng minh bằng việc làm cụ thể, đó là thực hiện những gì Chúa đã dạy.  Nhờ yêu mến và thực hành lời Chúa Giê-su, tín hữu được gặp gỡ Chúa Cha, được Chúa Cha yêu mến và được ở trong Chúa Cha, như đắm chìm vào đại dương yêu thương viên mãn vĩnh cửu.  Đây là huyền nhiệm mà lý trí con người không sao hiểu thấu. 

Tác giả sách Công vụ Tông đồ kể lại, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi đã đạt được mùa màng bội thu (Bài đọc I).  Số người tin Chúa gia tăng nhanh chóng, trong số đó có một số tư tế cũng đón nhận đức tin.  Khi suy tư về Giáo hội, chúng ta thấy đây quả là công trình của Thiên Chúa.  Từ một nhóm nhỏ dân chài ở biển hồ Ga-li-lê-a, những người tin theo Chúa ngày một đông, lớn mạnh và ngày nay đã hiện diện trên toàn thế giới.  Giáo hội là công trình của Thiên Chúa, và công trình ấy lại được thực hiện qua những cố gắng và nỗ lực của con người.  Ki-tô hữu có bổn phận học biết Chúa Giê-su, gặp gỡ Người, để có thể nói về Người cho anh chị em mình.  Thánh Phê-rô khuyên chúng ta: “Hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.  Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng” (Bài đọc II).  Hai yếu tố “hiền hòa và kính trọng” được thánh Tông đồ nêu như điều kiện cần thiết để việc giới thiệu Đức Giê-su mang lại hiệu quả tích cực.  Quả vậy, truyền giáo không bao giờ là áp lực, là lôi kéo, đe dọa, chiêu dụ hay mua chuộc.  Truyền giáo phải như hoa tỏa hương xung quanh, để những người chưa biết Chúa cảm nhận được hương thơm qua đời sống của các tín hữu.  Những ai gia nhập Đạo do bị ép buộc, sẽ sớm bỏ Đạo, khi gặp khó khăn thử thách. 

“Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên, mừng Danh thánh rạng ngời!”  Dẫu rằng cuộc sống còn nhiều bi thương và thử thách, là Ki-tô hữu, chúng ta hãy vui mừng tạ ơn và cậy trông nơi Chúa.  Đấng Bảo trợ là Chúa Thánh Thần luôn ở cùng chúng ta, để yêu thương nâng đỡ và để soi sáng khích lệ chúng ta trong cuộc sống đời thường.  Đây là thời của Thánh Thần, cũng là thời của yêu thương, canh tân và ân sủng.  Xin Chúa cho chúng ta cảm nhận được niềm vui thiêng liêng ấy. 

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

From: Langthangchieutim

MẤT TÔI – ĐƯỢC TÔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em!”.

“Cho tôi một trăm người yêu mến Thiên Chúa hết lòng và không sợ gì ngoài tội lỗi, tôi sẽ đem cả thế giới về cho Chúa Kitô!” – John Wesley.

Kính thưa Anh Chị em,

Để đem cả thế giới về cho Chúa Kitô, con người trước hết phải biết quên mình. Lời Chúa hôm nay hé mở một nghịch lý lạ lùng: chính lúc ‘mất tôi’, chúng ta lại ‘được tôi’ cách sâu xa nhất. Chỉ lúc đó, chúng ta mới thật sự biết yêu như Ngài yêu và có sức biến đổi lòng người.

Nếu áp dụng lời Chúa Giêsu hôm nay, một câu hỏi có thể nảy sinh: vậy tình yêu có thể truyền dạy được sao? Đức Bênêđictô XVI giải thích: Thiên Chúa không đòi một cảm xúc mà chúng ta không thể tạo ra. Tình yêu Kitô giáo không chỉ là cảm xúc, nhưng còn là chọn lựa của ý chí. Chính khi ý chí con người dần trùng khớp với ý chí Chúa Kitô, chúng ta mới bắt đầu biết yêu như Ngài yêu; và cũng chính lúc đó, chúng ta bắt đầu ‘mất tôi – được tôi’. “Con người không thể gặp lại chính mình cách trọn vẹn nếu không chân thành hiến trao chính mình!” – Gioan Phaolô II.

Vì thế, giới răn yêu thương của Gioan không còn là chuyện “thích hay không thích”, nhưng là để con tim được biến đổi. Khi yêu như Chúa Kitô yêu, con người không đánh mất tự do; trái lại, tự do đạt tới sự viên mãn, vì ý muốn của chúng ta bắt đầu cùng nhịp với ý muốn của Thiên Chúa. Và một khi không còn bị cái tôi khép kín điều khiển, chúng ta mới có thể yêu mà không tính toán, không phân biệt và không sợ mất mát. Chính vì thế, một trăm con người yêu mến Thiên Chúa hết lòng và không sợ gì ngoài tội lỗi có thể biến đổi cả thế giới. Khi không còn sống cho chính mình nữa, tình yêu của họ bắt đầu tạo nên một khác biệt. Và cũng chính lúc ‘mất tôi’, họ lại ‘được tôi’ cách sâu xa nhất.

Đó cũng là điều đã xảy ra với Hội Thánh sơ khai. Các tông đồ và kỳ mục đã dám “mất” đi những bảo đảm quen thuộc để đón nhận những anh em dân ngoại vào cùng một đức tin. Họ không đặt thêm gánh nặng nào khác ngoài “những điều cần thiết” – bài đọc một. Đó là dấu của một cộng đoàn không còn sống theo ý riêng, nhưng theo ý muốn của Chúa Thánh Thần. Và chính khi dám ‘mất tôi’, Hội Thánh sơ khai lại ‘được tôi’, để rồi có thể reo lên: “Lạy Thiên Chúa, trước mặt chư dân, con dâng lời cảm tạ!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã sống nghịch lý ấy cách trọn vẹn nhất. Trên thập giá, Ngài đã “mất” tất cả: bị khước từ, bị trao nộp và hiến dâng đến giọt máu cuối cùng; một cuộc kenosis – tự huỷ hoàn toàn vì yêu. Nhưng cũng chính lúc mất đến tận cùng, Ngài lại được tôn vinh; vì thập giá trở thành vinh quang, phục sinh trở thành khải hoàn và muôn dân trở thành gia nghiệp. Bởi thế, ai dám mất mình trong tình yêu của Đức Kitô sẽ không đánh mất cuộc đời, nhưng gặp lại chính mình trong Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dạy con biết ‘mất tôi’ để ‘được tôi’; dám yêu mà không tính toán; dám hiến trao mà không giữ lại chính mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần V Phục Sinh

Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 15,12-17

12 Khi ấy, đến giờ lìa bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13 Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. 14 Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. 15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.

16 “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. 17 Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.”


 

YÊU MẾN CHÚA NƠI THA NHÂN-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Gioan (Ga 14,15-21)-(Chúa nhật 6 Phục sinh)

Sứ điệp: Chúa Giê-su muốn chúng ta thể hiện lòng yêu mến Ngài bằng cách yêu mến, phục vụ tha nhân.

***

Thể hiện tình thương

 Có nhiều cách thể hiện tình thương: Các đôi tình nhân bày tỏ tình thương bằng những món quà; cha mẹ bày tỏ lòng thương con bằng chăm sóc chu đáo, ân cần giáo dục… Bạn bè thân thiết tỏ lòng yêu thương nhau bằng chia ngọt sẻ bùi…

 Còn Chúa Giê-su, Ngài thể hiện tình yêu đối với Chúa Cha bằng cách nào?

Thưa, bằng sự vâng phục tuyệt đối. Ngài vâng theo ý Chúa Cha cho dù phải hiến thân chịu chết.

 Trước khi nộp mình chịu khổ nạn, Chúa Giê-su cho các môn đệ biết sở dĩ Ngài hiến thân chịu khổ nạn, là “để thế gian biết rằng Ngài yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền dạy,” là chấp nhận chịu khổ nạn theo ý Chúa Cha để mang ơn cứu độ cho muôn người (Ga 14, 30-31).

 Cụ thể là,

  • Vì yêu mến Chúa Cha, Chúa Giê-su vâng lời Chúa Cha đến nỗi để cho người ta bắt bớ, vu cáo, phỉ nhổ, tát vào mặt… mà không hề chống đối;

– Vì yêu mến Chúa Cha, Chúa Giê-su vâng theo ý Chúa Cha, để cho người ta đánh đòn hung bạo, để cho vòng gai nhọn cắm sâu vào đầu, lảo đảo vác thập giá lên đồi Sọ, chịu đóng đinh vào thập giá và chết quằn quại đau thương tủi nhục để đền tội cho muôn dân.

Chúa Giê-su đã vâng lời Chúa Cha đến mức phải chết thảm thương như thế cho thấy tình yêu của Ngài dành cho Chúa Cha là vô biên, vô hạn. 

 Chúa Giê-su yêu cầu chúng ta thể hiện lòng yêu mến bằng cách nào?

 Chúa Giê-su thể hiện lòng yêu mến Chúa Cha bằng cách vâng phục Chúa Cha, thì Ngài cũng yêu cầu những ai yêu mến Ngài cũng hãy vâng giữ huấn lệnh của Ngài.

 Qua Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su nói: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy”  và một lát sau, Ngài nhấn mạnh: “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy.”  

 Như vậy, Chúa Giê-su đòi buộc chúng ta thể hiện lòng yêu mến bằng cách tuân giữ điều răn Chúa dạy, và điều răn đó được Chúa Giê-su tóm gọn như sau:

“Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”

Như thế, Chúa Giê-su mong muốn chúng ta thể hiện lòng yêu mến Ngài bằng cách yêu thương chăm sóc người lân cận.

 Khi sống vô cảm với người chung quanh, khi thờ ơ trước những nỗi đau của người khác, khi không ra tay giúp đỡ kẻ khốn khổ bần cùng… là chúng ta quay lưng lại với Chúa.

 Lạy Chúa Giê-su,

Thể hiện lòng yêu mến Chúa bằng những lời ca khen chúc tụng, bằng những câu kinh lời nguyện thì dễ, nhưng thể hiện lòng mến Chúa bằng cách yêu mến mọi người chung quanh là điều rất khó.

 Xin mở rộng con tim vô cảm và đổ đầy tình thương Chúa vào lòng chúng con, để chúng con hết lòng yêu mến, phục vụ Chúa hiện diện nơi anh chị em chung quanh. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

***************************

Tin mừng thánh Gioan (14,15-21)

15 Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. 16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. 17 Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. 18 Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. 19 Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. 20 Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. 21 Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.”

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Chính Ta là bánh ban sự sống-Cha Vương

Hôm nay  Houston trời mưa dầm, ước chi tình yêu Chúa như hạt mưa rơi thấm vào con tim khát khao của bạn. Luôn nhớ nhau trong lời cầu nguyện và thế giới 

Cha Vương

Thứ 4, 6/5/2026.      (t7-25)

TIN MỪNG: Khi ấy, Chúa Giêsu phán với đám đông rằng: “Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ. (Ga 6:35) 

SUY NIỆM: Nhìn vào đời sống hôn nhân của những người xung quanh, đằng sau vẻ hào nhoáng vui tươi có thể là những nỗi đau không ai biết. Có thể họ đang sống bên nhau nhưng tim họ lại xa hàng ngàn cây số. Họ nói yêu nhau nhưng không đến với nhau, cảnh “chăn ấm lạnh lòng”, không ít thì nhiều, cũng đang xảy ra đó. Có bao giờ bạn nói yêu thương ai mà chỉ một tuần mới hỏi thăm một lần, và đôi khi hai tuần mới trò chuyện? Yêu nhau nhưng không đến với nhau cũng là một vấn đề trong mọi mối quan hệ, nhất là mối quan hệ với Chúa. Hôm nay Chúa mời gọi bạn hãy đến với Chúa. Khi tâm hồn bạn cảm thấy đói khát và trống vắng, bạn đã “đến với” ai, với cái gì? Bạn có “đến với” Chúa không? Nếu bạn thực sự yêu mến Chúa thì phải thể hiện vào việc đến với Ngài. Một ngày bạn dành bao nhiêu thời gian để “đến với” Chúa. Bạn có thể “đến với” Chúa bằng nhiều cách: tưởng nhớ, cầu nguyện, suy gẫm, viếng Thánh Thể và nhất là tham dự Thánh Lễ. “Ai đến với Ta, sẽ không hề đói; ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ.”

LẮNG NGHE: Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. (Mt 11:28)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, xin giúp con luôn tìm đến Chúa để được sống trong vòng tay yêu thương của Ngài.

THỰC HÀNH: Hãy xét mình xem lòng bạn có thực sự “đến với” Chúa không?

From: Do Dzung

******************************************

HIỆP LỄ – ĐẾN VỚI CHÚA -THỨ TƯ LỄ TRO – Lm Thái Nguyên

KHÔNG CHỈ LÀ CHÚA KITÔ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy!”.

“Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội; chống đối Chúa Kitô, thì không chỉ chống đối Ngài, nhưng còn là Giáo Hội của Ngài!” – William Barclay.

Kính thưa Anh Chị em,

“Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Giáo Hội”. Vì thế, không thể tách rời Giáo Hội khỏi Chúa Kitô; ở lại trong Ngài cũng là ở lại trong Giáo Hội của Ngài – ‘không chỉ là chúa Kitô’.

Động từ “ở lại” không chỉ mang nghĩa luân lý; nó diễn tả một tương quan. Tình yêu không khởi đi từ nỗ lực, nhưng từ một thực tại có trước: “Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em”. Vì thế, “ở lại” là để mình được ở trong chuyển động tình yêu giữa Cha và Con; đức tin không còn là làm cho đúng điều phải, nhưng là để mình được ở trong đó. Ở đây, câu hỏi trở nên rất cụ thể: tôi có thật sự ở lại không, hay chỉ đang làm cho đúng?

Bên cạnh đó, “giữ các điều răn” không phải là một đòi buộc, nhưng là cách tình yêu trở thành cụ thể; nó là hình hài của tình yêu. “Ở lại” mà không “gìn giữ”, tình yêu dễ tan thành cảm xúc; còn “gìn giữ” mà không “ở lại” thì trở nên khô cứng. Có khi nào chúng ta chỉ còn “giữ” mà không còn ở lại? Vì một khi tình yêu đối với Chúa Kitô đã mang lấy hình hài cụ thể như thế, nó không còn dừng lại nơi cá vị, nhưng tự nó mở ra thành hiệp thông, thành một thân thể sống động – Giáo Hội; vì thế, ‘không chỉ là chúa Kitô’.

Tình yêu nơi Gioan không dừng ở cảm xúc hay bổn phận, nhưng là caritas – tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa và tự thông ban. Tình yêu ấy không chỉ là mẫu mực, nhưng là một chuyển động sống. Vì thế, ở lại trong tình yêu không phải là giữ lấy, nhưng là để mình được ở trong tình yêu ấy. “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một chọn lựa luân lý hay một ý niệm cao cả, nhưng là cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người!” – Joseph Ratzinger.

Cụ thể của tình yêu ấy không nằm ở cảm xúc, nhưng ở một quyết định mở ra: Công đồng Giêrusalem không đặt thêm gánh nặng, nhưng nhận ra Thiên Chúa đang hành động nơi mọi dân – bài đọc một. Vì thế, tình yêu trở thành sứ vụ: “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm”. Khi tình yêu là caritas, nó luôn mang chiều kích loan báo; lan ra thành lời chứng sống động giữa muôn dân – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Khuôn mẫu của tình yêu đó, quy tụ nơi Đức Giêsu Kitô, đạt tới tột đỉnh trên thập giá: không giữ lại, nhưng trao ban đến cùng – cho Cha và cho nhân loại. Ở lại trong Ngài là bước vào chính nhịp tự hiến ấy; và từ đó, người môn đệ không còn sống cho riêng mình, nhưng được cuốn vào một đời sống trao ban của một thân thể mầu nhiệm – Giáo Hội – ‘không chỉ là chúa Kitô’. “Ngài là đầu, chúng ta là chi thể; Ngài và chúng ta hợp lại thành một con người toàn thể!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết ở lại trong tình thương của Ngài, để con dám trao như Chúa đã trao!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần V Phục Sinh

Hãy ở lại trong tình thương của Thầy, để niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 15,9-11

9 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. 10 Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. 11 Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.”


 

BÌNH AN LÀ ÂN BAN CỦA ĐỨC TIN – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

 BÌNH AN LÀ ÂN BAN CỦA ĐỨC TIN – KHI TÂM HỒN ĐƯỢC Ở LẠI TRONG TRÁI TIM THIÊN CHÚA

(Ga 14, 27-31a)

Bình an – hai tiếng nghe rất quen, rất gần, nhưng cũng rất xa. Quen bởi vì ai cũng nói đến, cũng chúc cho nhau: chúc bình an, cầu bình an, tìm bình an. Nhưng lại xa, bởi vì càng tìm, con người dường như càng cảm thấy nó vuột khỏi tầm tay. Bình an trở thành một điều vừa thiết yếu nhất, vừa mong manh nhất trong cuộc đời con người.

Từ thuở xa xưa cho đến hôm nay, từ những đế quốc hùng mạnh cho đến những gia đình nhỏ bé, từ những người quyền lực đến những con người bình thường, ai cũng khao khát bình an. Người ta xây dựng hệ thống luật pháp, phát triển khoa học, tích lũy của cải, thiết lập các tổ chức xã hội… tất cả cũng chỉ nhằm một điều: tìm kiếm sự ổn định, sự bảo đảm, và cuối cùng là một trạng thái gọi là “bình an”.

Nhưng điều đáng nói là: càng cố gắng xây dựng bình an theo cách của con người, thì con người lại càng cảm thấy bất an. Chiến tranh này qua chiến tranh khác. Bạo lực này nối tiếp bạo lực kia. Bệnh tật cũ chưa qua, bệnh mới đã tới. Những nỗi lo không còn chỉ ở bên ngoài, mà len lỏi sâu vào bên trong: lo âu, trầm cảm, sợ hãi, cô đơn… như những căn bệnh vô hình nhưng lại tàn phá con người cách âm thầm và dai dẳng.

Điều đó cho thấy một sự thật: bình an mà con người tự tạo dựng chỉ là một lớp vỏ mỏng manh. Nó có thể làm dịu đi phần nào những xáo trộn bên ngoài, nhưng không thể chạm đến tận đáy sâu của tâm hồn. Nó giống như một mặt hồ phẳng lặng trong chốc lát, nhưng bên dưới vẫn là những dòng xoáy ngầm đang cuộn chảy.

Chính trong bối cảnh đó, lời của Đức Giêsu vang lên trong bữa Tiệc Ly trở nên vừa tha thiết, vừa đầy sức nặng:

“Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban bình an của Thầy cho anh em. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng.”

Đây không phải là một lời chúc xã giao trước khi chia tay. Đây là một lời trăn trối, một gia sản thiêng liêng mà Đức Giêsu để lại cho các môn đệ – và cho mỗi chúng ta. Nhưng để hiểu được giá trị của món quà này, chúng ta phải đi vào chiều sâu của nó.

Bình an mà Đức Giêsu nói đến không phải là sự vắng bóng của đau khổ. Ngài nói những lời này không phải trong lúc mọi sự êm đềm, nhưng trong bầu khí của sự chia ly, của phản bội, của cái chết đang đến gần. Ngài biết rõ Giuđa sắp nộp Ngài. Ngài biết các môn đệ sẽ bỏ chạy. Ngài biết con đường trước mặt là Thập Giá. Và chính trong hoàn cảnh đó, Ngài lại nói về bình an.

Điều này đảo lộn hoàn toàn cách hiểu thông thường của con người. Bởi vì con người thường nghĩ: có bình an là khi không có đau khổ. Nhưng Đức Giêsu lại cho thấy: có một thứ bình an vẫn tồn tại ngay giữa đau khổ. Một thứ bình an không bị phá hủy bởi nghịch cảnh, không bị lay chuyển bởi thử thách, không bị tiêu tan bởi cái chết.

Đó chính là bình an của đức tin.

Đức tin không làm cho cuộc đời bớt khó khăn. Đức tin không xóa bỏ đau khổ. Đức tin không bảo đảm rằng người tin Chúa sẽ không gặp thử thách. Nhưng đức tin mở ra một cái nhìn mới: nhìn mọi sự trong ánh sáng của Thiên Chúa.

Khi có đức tin, con người không còn nhìn đau khổ như một sự vô nghĩa, nhưng như một phần của hành trình cứu độ. Không còn nhìn thất bại như dấu chấm hết, nhưng như một cánh cửa dẫn đến một điều tốt đẹp hơn mà Thiên Chúa đang chuẩn bị. Không còn nhìn sự dữ như là chiến thắng cuối cùng, nhưng tin rằng Thiên Chúa có thể biến đổi tất cả.

Chính vì thế, người có đức tin có thể sống bình an ngay trong những hoàn cảnh mà người khác chỉ thấy bất an.

Có những người bên ngoài rất ổn định: công việc vững vàng, gia đình đầy đủ, sức khỏe tốt… nhưng bên trong lại đầy lo lắng, sợ hãi. Ngược lại, có những người sống trong thiếu thốn, bệnh tật, hiểu lầm, thậm chí bị bách hại… nhưng tâm hồn lại bình an một cách lạ lùng.

Sự khác biệt không nằm ở hoàn cảnh, mà nằm ở đức tin.

Bình an của Đức Giêsu không phải là món quà “gói lại” để chúng ta cất giữ, nhưng là một sức sống được đặt vào trong tâm hồn. Đó là sự hiện diện của chính Ngài. Khi Ngài nói: “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em”, điều đó có nghĩa là: Ngài ban chính con người của Ngài, ban chính sự hiệp thông của Ngài với Chúa Cha.

Vì thế, bình an đích thực không phải là “có mọi sự theo ý mình”, mà là “ở lại trong Thiên Chúa”. Khi tâm hồn ở lại trong Chúa, thì dù bên ngoài có sóng gió, bên trong vẫn có một điểm tựa vững chắc.

Đó là lý do tại sao Đức Giêsu tiếp tục nói: “Lòng anh em đừng xao xuyến và đừng sợ hãi.” Đây không phải là một lời trấn an tâm lý đơn thuần, nhưng là một lời mời gọi bước vào một tương quan: tương quan tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa.

Sợ hãi thường đến từ cảm giác mất kiểm soát. Khi con người nghĩ rằng mình phải nắm giữ mọi sự, phải kiểm soát mọi biến cố, thì chỉ cần một điều vượt khỏi tầm tay là lập tức bất an. Nhưng đức tin giúp con người buông mình vào tay Thiên Chúa, tin rằng Ngài đang dẫn dắt mọi sự, ngay cả khi mình không hiểu.

Đức Giêsu nói: “Thầy đi, rồi Thầy sẽ trở lại với anh em.” Đây là một mầu nhiệm: sự ra đi không phải là mất mát, nhưng là điều kiện để một sự hiện diện sâu xa hơn được thiết lập. Qua cái chết và phục sinh, Đức Giêsu không còn hiện diện theo cách giới hạn của thân xác, nhưng hiện diện trong tâm hồn những ai tin.

Vì thế, bình an của Ngài không lệ thuộc vào việc Ngài “ở gần” hay “ở xa” theo nghĩa vật lý, nhưng lệ thuộc vào đức tin của người môn đệ.

Nếu có đức tin, thì ngay cả trong những lúc tưởng chừng Chúa vắng mặt nhất, con người vẫn cảm nhận được sự hiện diện của Ngài. Và chính sự hiện diện đó làm nên bình an.

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay không chỉ dừng lại ở việc giải thích về bình an, nhưng còn là một lời mời gọi sống bình an.

Sống bình an không phải là trốn tránh thực tại, nhưng là dám đối diện với thực tại bằng ánh sáng đức tin. Không phải là phủ nhận đau khổ, nhưng là mang đau khổ vào trong tương quan với Thiên Chúa. Không phải là tìm cách loại bỏ mọi khó khăn, nhưng là học cách ở lại vững vàng giữa khó khăn.

Điều này rất cụ thể trong đời sống hằng ngày. Khi bị hiểu lầm, thay vì phản ứng tức giận, ta chọn bình an. Khi gặp thất bại, thay vì tuyệt vọng, ta chọn tin tưởng. Khi đối diện với bất công, thay vì nuôi hận thù, ta chọn tha thứ. Khi đứng trước tương lai bất định, thay vì lo âu, ta chọn phó thác.

Đó không phải là những lựa chọn dễ dàng. Nhưng chính trong những lựa chọn đó, bình an của Đức Giêsu được thể hiện.

Và khi một người sống bình an như thế, họ không chỉ giữ bình an cho riêng mình, nhưng còn trở thành người mang bình an đến cho người khác. Bình an của đức tin không bao giờ là một kinh nghiệm khép kín, nhưng luôn lan tỏa.

Trong một thế giới đầy chia rẽ, người Kitô hữu được mời gọi trở thành người kiến tạo hòa bình. Nhưng hòa bình bên ngoài chỉ có thể bắt đầu từ bình an bên trong. Nếu tâm hồn còn đầy bất an, thì lời nói và hành động cũng dễ trở thành nguồn gây xáo trộn.

Ngược lại, một tâm hồn bình an có sức mạnh làm dịu đi những căng thẳng, hàn gắn những rạn nứt, và mang lại hy vọng cho người khác.

Cuối cùng, bình an mà Đức Giêsu ban không chỉ dừng lại ở cuộc đời này, nhưng hướng đến sự sống vĩnh cửu. Đó là bình an của người biết mình thuộc về Thiên Chúa, đang đi về với Thiên Chúa, và sẽ được ở lại trong Thiên Chúa mãi mãi.

Vì thế, dù cuộc đời có nhiều biến động, dù con đường phía trước có nhiều thử thách, người có đức tin vẫn có thể bước đi với một tâm hồn bình an. Không phải vì họ mạnh mẽ, nhưng vì họ tin vào Đấng mạnh mẽ hơn họ.

Xin cho mỗi người chúng ta, giữa những xáo trộn của thời đại, biết quay về với nguồn mạch của bình an là chính Đức Kitô. Xin cho chúng ta không chỉ tìm kiếm bình an theo kiểu thế gian, nhưng biết đón nhận bình an như một ân ban của đức tin. Và xin cho bình an đó không chỉ ở lại trong tâm hồn chúng ta, nhưng còn lan tỏa đến những người chung quanh, để thế giới này, dù còn nhiều bóng tối, vẫn có thể bừng sáng lên nhờ những tâm hồn biết tin và biết yêu.

Lm. Anmai, CSsR