Đức Giáo Hoàng Leo XIV vác đường thánh giá, trao gửi bài học về quyền lực

Đức Giáo Hoàng Leo XIV vác đường thánh giá , trao gửi bài học về quyền lực

Elise Ann Allen  /  Apr 4, 2026

 https://cruxnow.com/…/pope-leo-xiv-walks-the-way-of-the…

Đức Giáo hoàng Leo XIV đã chủ trì nghi thức sùng kính Đàng Thánh Giá truyền thống vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh; chính Ngài đã tự mình vác Thánh Giá suốt cả chặng đường tại Đấu trường Colosseum ở Rome,trong khi những lời suy niệm liên tục được cất lên, phản ảnh về ý nghĩa của quyền lực đích thực—thứ quyền lực bắt nguồn từ sự khiêm nhường và tinh thần phục vụ, chứ không phải từ vũ lực hay sự thống trị.

 Bài suy niệm tại chặng thứ nhất—trong số mười bốn chặng của nghi thức Đàng Thánh Giá truyền thống mùa Chay—đã khẳng định rằng, trong khoảnh khắc bị kết án tử hình, Chúa Giêsu đã “vạch trần mọi sự ngạo mạn của con người về quyền lực.”

 “Ngay cả trong thời đại ngày nay, vẫn có những kẻ tin rằng quyền bính của họ là vô hạn, và cho rằng họ có thể sử dụng hay lạm dụng quyền lực ấy theo ý thích của riêng mình,” bài suy niệm viết; đồng thời dẫn chiếu đến Thánh Phanxicô Assisi như một lời nhắc nhở rằng: “mọi người nắm giữ quyền bính đều sẽ phải chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa về cách thức mà họ thực thi quyền lực của mình.”

 Bài suy niệm chỉ rõ rằng quyền lực này bao gồm: “quyền phán xét; quyền khởi xướng hoặc chấm dứt chiến tranh; quyền gieo rắc bạo lực hay kiến ​​tạo hòa bình; quyền khơi dậy lòng thù hận hay thúc đẩy sự hòa giải; quyền sử dụng nền kinh tế để áp bức con người hay giải phóng họ khỏi cảnh lầm than; quyền chà đạp lên phẩm giá con người hay tôn vinh phẩm giá ấy; và quyền cổ võ, bảo vệ sự sống, hay khước từ và hủy diệt sự sống.”

 Tương tự như vậy, Thiên Chúa mời gọi mỗi người chúng ta phải đối mặt trả lời về thứ quyền lực mà ta thực thi trong đời sống thường nhật—bài suy niệm nhấn mạnh; đồng thời trích dẫn lời Chúa Giêsu trong Kinh Thánh: “Hãy sử dụng cách hữu ích quyền lực đã được trao ban cho các con; và hãy ghi nhớ rằng: bất cứ điều gì các con làm cho một con người khác—đặc biệt là những kẻ bé nhỏ và yếu thế—thì chính là các con đang làm cho Ta. Và chính trước mặt Ta, một ngày nào đó, các con sẽ phải biện bạch khi bị phán xét.”

 Bài suy niệm khép lại bằng một lời cầu nguyện, xin Chúa Giêsu nhắc nhở nhân loại rằng Ngài luôn đồng hóa chính mình với “mọi con người đang phải chịu sự phán xét”; và xin cho các Kitô hữu đừng để mình bị dẫn dắt bởi những định kiến, mà thay vào đó hãy nhận thức sâu sắc rằng: “quyền lực đích thực nằm nơi tình yêu thương; rằng lòng thương xót luôn chiến thắng sự phán xét; và rằng điều thiện hảo phải luôn được lựa chọn, ngay cả khi việc lựa chọn ấy đòi hỏi một sự hy sinh đắt giá.”

 Vị Giáo hoàng cuối cùng đã tự mình vác Thánh Giá suốt trọn vẹn mười bốn chặng của cuộc rước truyền thống này là Đức Giáo hoàng Thánh Gioan Phaolô II; Ngài đã thực hiện điều đó liên tục từ năm 1979 đến năm 1994, trước khi bắt đầu chỉ vác Thánh Giá trong một số chặng nhất định của nghi thức này kể từ năm 1995.

 Cả Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI lẫn Đức Giáo hoàng Phanxicô đều đã đảm nhận việc vác Thánh Giá trong một số chặng của cuộc rước này suốt thời gian trị vì của các Ngài, cho đến khi tuổi cao sức yếu và tình trạng sức khỏe suy giảm không còn cho phép các Ngài tiếp tục thực hiện điều đó nữa.

Năm nay đánh dấu lần đầu tiên trong suốt ba thập kỷ, một vị Giáo hoàng tự mình vác Thánh giá trong trọn vẹn cuộc rước.

 Các bài suy niệm cho nghi thức Via Crucis năm nay được soạn thảo bởi Linh mục dòng Phanxicô Francesco Patton—cựu Giám quản Thánh Địa—và tập trung làm nổi bật sự khác biệt giữa quyền lực nhân thế và quyền lực thiêng liêng; qua đó đối lập lòng khao khát thống trị của con người với sự khiêm hạ, tinh thần phục vụ và lòng hy sinh quên mình của Chúa Giêsu. 

Lưu ý rằng năm nay đánh dấu kỷ niệm 800 năm ngày mất của Thánh Phanxicô Assisi, linh mục Patton phát biểu rằng lời cầu nguyện này không chỉ dành cho những người sùng đạo hay những ai tìm kiếm sự tĩnh lặng để suy ngẫm, mà còn là một minh chứng cho thấy đức tin, đức cậy và đức mến cần phải được lan tỏa giữa một thế giới đầy hỗn loạn và ồn ào. 

Trong những lời suy niệm của mình, linh mục Patton nhấn mạnh sự khiêm hạ của Chúa Giêsu – không chỉ ở việc Ngài không hề sợ hãi khi đón nhận cây thập giá, mà còn ở việc Ngài đã ngã xuống đất. 

“Dù là Thiên Chúa, Ngài đã trút bỏ vinh quang của mình để trở thành con người. Dù vốn giàu sang, Ngài đã trở nên nghèo khó,” ông nói, đồng thời cầu xin Thiên Chúa giúp các Kitô hữu “lựa chọn một cuộc sống phục vụ khiêm hạ, thay vì chạy theo sự nổi danh và quyền lực thống trị.” 

Khi suy ngẫm về cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Mẹ Maria, linh mục Patton bày tỏ nỗi xót xa rằng: cũng giống như Mẹ Maria – người đã tận mắt chứng kiến ​​con mình trút hơi thở cuối cùng – “có quá nhiều người mẹ… đang phải chứng kiến ​​cảnh con cái mình bị bắt bớ, tra tấn, kết án và sát hại.” 

“Xin ban cho chúng con một trái tim của người mẹ, để chúng con biết thấu hiểu và sẻ chia những nỗi đau khổ của tha nhân; và nhờ đó, chúng con cũng học được ý nghĩa đích thực của tình yêu thương,” ông cầu nguyện. 

Khi suy ngẫm về việc ông Simon người Cyrene đã giúp Chúa Giêsu vác thập giá, linh mục Patton đã cầu nguyện cho những tình nguyện viên đang trợ giúp những người gặp phải “tình cảnh vô cùng ngặt nghèo” – những người đang cung cấp lương thực, thuốc men, giáo dục “và cả công lý” cho những ai đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn.

 Khi chiêm ngắm cử chỉ bà Veronica lau khuôn mặt Chúa Giêsu, linh mục Patton cầu xin cho các Kitô hữu ngày nay – cũng giống như bà Veronica xưa kia – biết cách lau đi khuôn mặt của Chúa Giêsu; một khuôn mặt “vẫn còn vương đầy bụi đất và máu huyết, vẫn còn bị biến dạng bởi mọi hành vi chà đạp lên phẩm giá con người.” 

Ông cầu nguyện xin Chúa Giêsu giúp nhân loại nhận ra hình ảnh của Ngài “nơi mỗi con người đang bị định kiến ​​kết án; nơi những người nghèo khổ đang bị tước đoạt phẩm giá; nơi những người phụ nữ đang là nạn nhân của nạn buôn người và nô dịch hóa; (và) nơi những trẻ thơ đang bị đánh cắp tuổi thơ và bị hủy hoại tương lai.” 

Nhấn mạnh sự khiêm hạ của Chúa Giêsu qua lần ngã xuống thứ hai, linh mục Patton chia sẻ rằng khi Chúa Giêsu chấp nhận để bản thân ngã xuống, Ngài làm điều đó “chính là để nâng chúng ta dậy sau những lần vấp ngã của chính mình.”

 “Ngài làm như vậy để nâng dậy những ai đang bị chà đạp xuống đất bởi sự bất công, bởi sự dối trá, bởi mọi hình thức bóc lột và bạo lực, và bởi nỗi khốn cùng do một nền kinh tế gây ra—một nền kinh tế chỉ tìm kiếm lợi nhuận cá nhân thay vì lợi ích chung,” ông nói. 

Linh mục Patton cũng nhấn mạnh sự gần gũi của Chúa Giêsu đối với nhân loại trong những lúc yếu đuối, khi nói rằng: “Không có sự sa ngã nào của chính chúng ta mà trong đó Ngài lại không ở bên cạnh chúng ta… Tình yêu, sự tha thứ và lòng thương xót của Ngài lớn lao vô cùng so với sự yếu đuối mỏng manh của chúng ta.”

 Tại Chặng thứ Tám—khi Chúa Giêsu gặp gỡ những người phụ nữ thành Giêrusalem—linh mục Patton đã đưa ra một bài suy niệm dài về vai trò của phụ nữ; ông lưu ý rằng phụ nữ luôn hiện diện “bất cứ nơi nào có sự đau khổ hoặc nhu cầu cần thiết,” cho dù đó là bệnh viện hay viện dưỡng lão, các trung tâm dành cho người khuyết tật, các cơ sở nuôi dưỡng trẻ mồ côi và trẻ cần sự bảo trợ, hay các trường học và phòng khám tại những vùng đất truyền giáo xa xôi hẻo lánh.

 Ông nói rằng phụ nữ thường là những người “chăm sóc những người bị thương và an ủi những người sống sót tại các vùng chiến sự và khu vực xung đột.” 

“Trong suốt nhiều thế kỷ qua, họ đã khóc thương cho chính bản thân mình và cho con cái của họ—những đứa trẻ bị bắt đi và giam cầm trong các cuộc biểu tình, bị trục xuất bởi những chính sách thiếu vắng lòng trắc ẩn, bị đắm tàu ​​trên những hành trình tìm kiếm hy vọng đầy tuyệt vọng, bị sát hại tại các vùng chiến sự, và bị thảm sát tại các trại tử thần,” ông chia sẻ. 

Ông cầu nguyện xin Chúa ban cho nhân loại một trái tim giàu lòng trắc ẩn và khả năng cảm thông với nỗi đau khổ của người khác, thay vì cứ mãi dửng dưng vô cảm. 

Tại chặng đường này, linh mục Patton cầu xin Chúa ban cho nhân loại hồng ân của những giọt nước mắt: “Để khóc thương sự tàn phá của chiến tranh; để khóc thương những cuộc thảm sát và diệt chủng; để khóc cùng những người mẹ và người vợ; để khóc thương sự hoài nghi và vô cảm của những kẻ nắm quyền; và để khóc thương chính sự dửng dưng của chúng ta.” 

Khi Chúa Giêsu bị lột bỏ y phục tại Chặng thứ Mười, linh mục Patton nhận định rằng hành động này là một nỗ lực “nhằm làm nhục” Ngài và tước đoạt phẩm giá của Ngài.

 “Sự xâm phạm này vẫn đang lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác ngay cả trong thời đại ngày nay: khi các chế độ độc tài buộc tù nhân phải ở trong tình trạng bán khỏa thân giữa những phòng giam trần trụi hoặc ngoài sân trại giam; khi những kẻ tra tấn không chỉ xé toạc y phục mà còn xé nát cả da thịt của nạn nhân; và khi các nhà chức trách cho phép những hình thức giám sát và xâm phạm đời tư, bất chấp mọi phẩm giá con người,” ông nói. Ông cũng cho biết, điều này lại tiếp diễn “khi những kẻ hiếp dâm và lạm dụng biến nạn nhân của mình thành những vật thể đơn thuần; khi ngành công nghiệp giải trí lợi dụng sự khỏa thân vì mục đích lợi nhuận; khi giới truyền thông phơi bày các cá nhân trước dư luận; và thậm chí ngay cả khi chính chúng ta—do sự tò mò của mình—đã không tôn trọng sự kín đáo, sự riêng tư và đời sống cá nhân của người khác.” 

Ông cầu nguyện rằng những ai không nhận ra phẩm giá của người khác và không đối xử với họ theo tình người những người này sẽ được nhắc nhở rằng, khi làm như vậy, “phẩm giá của chính chúng ta bị suy giảm” và “chính chúng ta trở nên kém nhân bản hơn.” 

Khi suy ngẫm về việc Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá, linh mục Patton nói rằng Người đã bị đối xử như một tên tội phạm nhưng lại được ban cho tước hiệu vương giả; qua đó, Người đã minh chứng cho “thế nào là quyền lực đích thực.” 

“Đó không phải là quyền lực của những kẻ tin rằng mình có thể định đoạt sinh mạng người khác bằng cách tước đi sự sống của họ; mà là quyền lực của những ai thực sự có thể chiến thắng cái chết bằng cách trao ban sự sống—và thậm chí có thể trao ban sự sống ngay cả khi chấp nhận cái chết,” ông phát biểu.

 Ông khẳng định rằng quyền lực đích thực không thuộc về những kẻ “sử dụng vũ lực và bạo tàn để áp đặt ý chí của mình lên người khác”; trái lại, quyền lực ấy thuộc về những ai “có khả năng gánh lấy những điều ác của nhân loại… và tiêu diệt chúng bằng sức mạnh của tình yêu thương—sức mạnh được biểu lộ qua sự tha thứ.” 

“Chúng ta không tìm đến thứ quyền lực giả tạo của các đạo quân, mà tìm đến sự bất lực tưởng chừng như hiển nhiên của tình yêu thương,” linh mục Patton nói. Ông cho rằng các Kitô hữu cũng cần phải “học cách tha thứ vì tình yêu thương, và học cách đón nhận những gian nan của cuộc đời trong sự bình an; bởi lẽ, thứ chiến thắng không phải là lòng khao khát quyền lực, mà chính là sức mạnh của tình yêu thương.”

 

Trong bài suy niệm tại Chặng thứ mười ba—chặng Chúa Giê-su được hạ xuống khỏi thập tự giá—linh mục Patton nhận định rằng hành động ấy là một biểu hiện của lòng trắc ẩn, đồng thời là sự thừa nhận phẩm giá con người nơi Chúa Giê-su. 

“Không bao giờ được phép để thi hài của con người bị bỏ mặc vô thừa nhận hoặc không được chôn cất tử tế. Những người mẹ, thân nhân và bạn hữu của những người bị kết án không bao giờ được buộc phải hạ mình quỳ lụy trước các nhà chức trách chỉ để xin nhận lại thi hài bầm dập của những người thân yêu,” ông nhấn mạnh. 

Ngay cả khi đã qua đời, thi hài con người vẫn giữ trọn phẩm giá của mình; do đó, “thi hài ấy không được phép bị xúc phạm, bị che giấu, bị hủy hoại, bị giữ lại hoặc bị từ chối quyền được chôn cất theo nghi thức xứng hợp,” ông nói, đồng thời khẳng định rằng nguyên tắc này cũng hoàn toàn đúng đối với cả những kẻ đã bị kết án hình sự.

 Ông cầu nguyện xin Chúa Giê-su dạy cho nhân loại biết sống với lòng trắc ẩn, để nhờ đó: “Chúng ta có thể cảm thấu nỗi đau khổ của những người tù; Chúng ta có thể đứng trong tình liên đới với các tù nhân chính trị; Chúng ta có thể thấu hiểu nỗi thống khổ của thân nhân các con tin; Chúng ta có thể khóc thương cho những ai đã bỏ mình dưới đống đổ nát; Và chúng ta có thể bày tỏ lòng tôn kính đối với tất cả những người đã khuất.” Các bài suy niệm khép lại bằng lời tạ ơn Chúa Giê-su khi suy ngẫm về Chặng thứ mười bốn — lúc Chúa Giê-su được đặt vào mộ — vì Ngài đã “ban cho chúng ta một nền tảng vững chắc cho niềm hy vọng về sự sống đời đời.”

 Elise Ann Allen  /  Apr 4, 2026

 *****

Pope Leo XIV led the traditional Via Crucis devotion on Good Friday, carrying the cross himself the whole way at the Colosseum in Rome, as a running reflection was offered on the meaning of real power as rooted in humility and service, rather than force or dominance.

The meditation for the first station of the fourteen stations of the traditional Lenten Way of the Cross said that Jesus in his condemnation to death “unmasked every human presumption of power.”

“Even today, there are those who believe their authority is limitless, thinking they may use or abuse it at their whim,” it said, pointing to Saint Francis of Assisi as a reminder that “every person in authority will have to answer to God for the way they exercise their power.”

This power, it said, includes “the power to judge; the power to start or end a war; the power to instill violence or peace; the power to fuel the desire for revenge or for reconciliation; the power to use the economy to oppress people or to liberate them from misery; the power to trample on human dignity or to uphold it; and the power to promote and defend life, or reject and stifle it.”

Likewise, each person is asked by God to give an account for the power they exercise in their daily lives, the meditation said, quoting Jesus in scripture, who said, “Make good use of the power given to you, and remember that whatever you do to another human being, especially to the small and vulnerable, you do unto me. And it is to me that you will one day give an account.”

The meditation closed with a prayer that Jesus would remind humanity that he identifies with “every person who is judged,” and that Christians would not be guided by prejudice, realizing instead that “power consists in love: That mercy triumphs over judgment: That the good must be chosen even when it comes at a cost.”

The last pontiff to carry the Cross for the entire fourteen-station procession was Pope St. John Paul II, who did so from 1979 through 1994, and in 1995 began carrying the Cross only for portions of the devotion.

Both Benedict XVI and Francis led portions of the procession during their pontificates, until frailty and ill health prevented them. This year was the first time in three decades that a pope carried the Cross for the entire procession.

Meditations for this year’s Via Crucis were written by Franciscan Father Francesco Patton, former Custos of the Holy Land, and focused on the distinction between human and divine power, contrasting humanity’s lust for dominance with Jesus’s humility and sense of service and self-sacrifice.

Noting that this year marks the 800th anniversary of St. Francis of Assisi’s death, Patton said the prayer is not just for the pious and those looking for quiet reflection, but is a demonstration that faith, hope and charity must be conveyed in a chaotic and noisy world.

In his meditations, Patton underlined Jesus’s humility, in being unafraid to embrace the cross, but also in falling to the ground.

“Though you are God, you divested yourself of your glory to become man. Rich as you were, you became poor,” he said, asking God to help Christians “choose a life of humble service rather than seeking prominence and dominance.”

Reflecting on Jesus’s encounter with his mother Mary, Patton lamented that, like Mary who watched her son die, “too many mothers…see their children arrested, tortured, condemned and killed.”

“Grant us a maternal heart, that we may understand and share in the suffering of others, and learn, in this way too, what it truly means to love,” he said.

Patton prayed, in reflecting on Simon of Cyrene helping Jesus carry his cross, for those who volunteers who assist people in “extreme situations,” providing food, medicine, education “and justice” to those in situations of difficulty.

Contemplating Veronica’s act of wiping Jesus’s face, Patton prayed that Christians today would, like Veronica, be also capable of wiping Jesus’s face, “still covered with dust and blood, still disfigured by every act that tramples upon the dignity of the human person.”

He prayed that Jesus would help humanity recognize his image “in every person condemned by prejudice; In the poor deprived of their dignity; In women who are victims of trafficking and enslavement; (and) In children whose childhood has been stolen and whose future has been compromised.”

Highlighting Jesus’s humility by falling a second time, Patton said that when Jesus allowed himself to fall, he did so “in order to lift us up from our own falls.”

“You do so to raise up those who are crushed to the ground by injustice, by falsehood, by every form of exploitation and violence, and by the misery produced by an economy that seeks individual profit rather than the common good,” he said.

Patton also stressed Jesus’s closeness to humanity in times of weakness, saying, “there is no fall of our own in which you are not beside us…Your love, forgiveness and mercy are infinitely greater than our frailty.”

During the eighth station, when Jesus meets the women of Jerusalem, Patton offered a lengthy reflection on the role of women, noting that women are present “wherever there is suffering or need,” whether it be a hospital or nursing home, centers for the disabled, foster care and orphanages, and schools and clinics in remote mission lands.

Women, he said, are often the ones “tending to the wounded and comforting survivors in war zones and areas of conflict.”

“For centuries, they have wept for themselves and for their children, children taken away and imprisoned during protests, deported by policies devoid of compassion, shipwrecked on desperate journeys of hope, killed in war zones, and wiped out in death camps,” he said.

He prayed that God would give humanity a compassionate heart and the ability to be sympathetic to the suffering of others, rather than remaining indifferent.

In that station Patton prayed that God would give humanity the gift of tears, “To weep over the devastation of war; To weep for massacres and genocides; To weep with mothers and wives; To weep over the cynicism of the powerful; To weep over our own indifference.”

When Jesus is stripped of his garments in the tenth station, Patton said this act was an attempt “to humiliate” him and strip him of his dignity.

“This violation is repeated time and again even today: when authoritarian regimes force prisoners to remain half-naked in bare cells or courtyards; when torturers tear away not only clothing but also skin and flesh; when authorities permit forms of surveillance and intrusion that disregard human dignity,” he said.

It is also repeated, he said, “when rapists and abusers reduce their victims to mere objects; when the entertainment industry exploits nudity for the sake of profit; when the media exposes individuals to public opinion; and even when we ourselves, through our curiosity, fail to respect the modesty, intimacy and privacy of others.”

He prayed that those who fail to recognize the dignity of others and treat them humanly would be reminded that in doing so, “our own dignity is diminished” and “we ourselves become less human.”

Reflecting on Jesus being nailed to the cross, Patton said he was treated like a criminal but given the title of royalty, thus demonstrating “what true power is.”

“Not the power of those who believe they can dispose of the lives of others by putting them to death, but the power of those who can truly conquer death by giving life, and who can give life even by accepting death,” he said.

True power, he said, is not that of those “who use force and violence to impose themselves,” but it is father “that of those who are capable of taking upon themselves the evil of humanity…and destroying it with the power of love that is manifest in forgiveness.”

“You do not resort to the supposed power of armies, but to the apparent powerlessness of love,” Patton said, saying if Christians must also “learn to forgive for love of you and to bear the difficulties of life in peace, because it is not love of power that conquers, but the power of love.”

Patton in the meditation for the thirteenth station, when Jesus is taken down from the cross, said the act is one compassion and is a recognition of Jesus’s human dignity.

“There should never be bodies left unclaimed or unburied. Mothers, relatives and friends of the condemned should never be forced to abase themselves before authorities in order to recover the battered remains of their loved ones,” he said.

Even in death, the body retains its dignity and therefore “must not be desecrated, hidden, destroyed, withheld or denied a proper burial,” he said, saying this is also true of convicted criminals.

He prayed that Jesus would teach humanity to have compassion so that “we may feel the suffering of prisoners; That we may stand in solidarity with political prisoners; That we may understand the anguish of the families of hostages; That we may mourn those who have died beneath the rubble; That we may show respect for all the dead.”

The meditations closed with a word of thanks to Jesus in reflecting on the fourteenth station, when Jesus is laid in the tomb, for having “bestowed upon us a firm foundation for our hope of eternal life.”

 Elise Ann Allen 

Apr 4, 2026

 From: taberd & NguyenNThu


 

MỘT LẦN QUAY KHÁC-Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu”.

“Đức Giêsu được thấy; nhưng chưa được nhận biết!” – Origen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho biết, Maria thấy; nhưng không nhận ra. Không phải vì cô thiếu ánh sáng; nhưng vì việc nhận ra không đến từ cái nhìn, mà từ một tương quan. Cùng một cử chỉ quay lại; nhưng không cùng một nhận thức – vì thế, cần ‘một lần quay khác!’.

Thật thú vị, trong bản văn Gioan, convertere – “quay lại” – được nhắc đến hai lần nhưng không cùng một chuyển động: “conversa est” và “conversa” – Maria quay lại và lại quay. Lần thứ nhất, cô quay nhưng không nhận ra; lần thứ hai, cô quay và nhận ra. Không phải vì thay đổi vị trí; nhưng vì thay đổi tương quan. Với Gioan, nhận ra không đến từ cái nhìn; nhưng từ một hiện diện được mở ra. Đó cũng là kinh nghiệm của chúng ta: có những lần chúng ta đã quay; nhưng vẫn ở lại trong cách hiểu cũ, trong những mất mát… chỉ vì thiếu một cách quay khác – ‘một lần quay khác’ về một Đấng rất gần. “Thiên Chúa gần tôi hơn chính tôi!” – Augustinô.

Maria không nhận ra, không phải vì thiếu dữ kiện; nhưng vì đặt sai câu hỏi. Cô tưởng Chúa Giêsu là người làm vườn. Một chi tiết nhỏ; nhưng không vô nghĩa: khu vườn là nơi của sự sống, không phải nghĩa địa của cái chết. Nhưng trước mắt cô vẫn chỉ là một ngôi mộ; và cô hỏi: “Ông để Người ở đâu?” – một câu hỏi về một xác chết có thể bị di chuyển. Maria không hoàn toàn sai; nhưng vẫn chưa đủ để nhận ra Thầy. Như Đức Phanxicô nhắc, khi đánh mất khu vườn, con người đánh mất chính mình! Khi câu hỏi sai, mọi câu trả lời đều trượt. Vì thế, không phải chỉ cần quay; còn phải bỏ đi câu hỏi sai.

May thay – “Maria!”. Không phải một dữ kiện mới; nhưng là một lời gọi. Không thêm điều gì vào điều cô đã thấy; nhưng đặt cô lại trong một hiện diện. Với Gioan, nhận biết không đến từ việc biết thêm; nhưng từ việc được gọi đúng chỗ của mình; không phải đổi cảnh; nhưng đổi vị trí của mình trước Chúa. Ngài gọi tên từng con chiên. Vì thế, không phải sửa lại câu hỏi; nhưng là được gọi trở lại. Nhận ra không bắt đầu từ mắt; nhưng từ một tiếng gọi chạm tới chính mình – từ đó, ‘một lần quay khác’ thay đổi mọi sự. “Tình yêu tự nó là nhận biết!” – Grêgôriô Cả.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, quay lại là quay về với Cha. Không theo Satan nơi hoang địa; không chiều nó để gieo mình từ nóc đền thờ; cũng không nán lại để được tôn làm vua. Ngài không quay theo điều dễ; nhưng theo ý Đấng sai mình. Và chính trong lần quay cuối cùng lên núi Sọ, ơn cứu độ nở hoa. Từ đó, lần quay của Ngài trở thành con đường. Với chúng ta, quay về; quay nhiều; nhưng vẫn giữ lại những tính toán cũ, những vết thương chưa chịu buông. Vì thế, vẫn ở lại chốn xưa. Chỉ khi dám quay như Chúa Giêsu – không theo điều thuận, nhưng theo Cha – thì lần quay của chúng ta mới thành lối. “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi!” – Ga 10, 27.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con nhận ra tiếng Chúa giữa bao tiếng khác; thuộc về Chúa giữa những điều khác; và khi lạc hướng, cho con biết quay về!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

*******************************************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Tôi đã thấy Chúa, và Người đã nói với tôi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 20,11-18

11 Khi ấy, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, 12 thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giê-su, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. 13 Thiên thần hỏi bà : “Này bà, sao bà khóc ?” Bà thưa : “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !” 14 Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giê-su. 15 Đức Giê-su nói với bà : “Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?” Bà Ma-ri-a tưởng là người làm vườn, liền nói : “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” 16 Đức Giê-su gọi bà : “Ma-ri-a !” Bà quay lại và nói bằng tiếng Híp-ri : “Ráp-bu-ni !” (nghĩa là ‘Lạy Thầy’). 17 Đức Giê-su bảo : “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ : ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em’.” 18 Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà. 


 

Niềm vui Phục sinh

Anmai CSsR

Niềm vui Phục sinh.

Vậy là đã qua ngày sinh nhật vui vẻ với nhiều lời chúc, hoa và quả. Tôi trở về với cuộc sống thường nhật. Hụt hẫng! Cố níu kéo cảm giác hạnh phúc hôm qua. Nhưng đành bất lực.

… Có một niềm vui bên cạnh tôi chẳng bao giờ tan biến nhưng tôi nào hay biết: Chúa của tôi phục sinh. Một niềm vui trọng đại, một ân điển lớn lao, cho bạn và cho tôi.

Bởi lẽ:

Tình yêu đã chiến thắng.

Sự thật đã lên ngôi.

Bạn và tôi hãy xóa bỏ hận thù, tranh chấp; hãy xa lánh mọi điều dối gian, để thế giới và nhân loại được phục sinh nơi Ngài.

Ước gì niềm vui của Đấng Phục Sinh tràn ngập hồn con, để con đem sinh khí cho người tuyệt vọng; đem nụ cười cho kẻ khóc than; làm tươi trẻ những tâm hồn héo úa; dọi ánh sáng vào nơi tối tăm; đem niềm vui và hạnh phúc đến mọi người; xây Thiên đàng ngay trần thế hôm nay


 

SỰ THẬT KHÔNG BÁN, NGƯỜI TA VẪN MUA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy”.

“Con người làm điều xấu cách hăng say nhất khi họ tin mình đang làm điều đúng!” – Blaise Pascal.

Kính thưa Anh Chị em,

Lính đã thấy; nhưng không nói điều họ thấy. Họ nhận tiền; và nói theo điều được dạy. Ở đó, sự thật không bị chối bỏ; nhưng bị thay thế; và người ta có thể làm điều sai, mà vẫn tin mình đang làm điều đúng. ‘Sự thật không bán; người ta vẫn mua’.

Trong trình thuật Matthêu, chi tiết tưởng như phụ lại mang trọng lượng quyết định: “họ đã nhận tiền”. Động từ Hy Lạp elabon – “đã nhận” – không chỉ là một hành vi; nhưng là một chọn lựa. Từ đó, điều họ nói không còn xuất phát từ điều họ thấy; nhưng từ điều họ đã nhận. Thực tại không đổi; nhưng lời kể đã đổi. Vì thế, vấn đề không còn là biến cố; nhưng là cách biến cố được kể lại. Đó còn là câu chuyện của chúng ta; khi một điều mình nhận – một lợi ích, một số tiền, một hứa hẹn – quyết định điều mình nói và cách mình kể lại sự thật; thì sự thật, dù không phải để bán, đã bị mua.

Nhưng bản văn không dừng ở việc “nhận”; Matthêu nói rõ hơn: “và làm theo lời họ dạy”. Đây không còn là lời tự phát; nhưng là lời được sắp đặt. Câu chuyện ấy không đứng vững: nếu là cướp xác, sao mọi sự lại được xếp gọn gàng như Gioan đã thấy? Một lời kể có vẻ hợp lý; nhưng không hơn sự thật. Vậy mà, điều được dạy lại thắng điều được thấy. Vì thế, Matthêu thật tinh tế khi thêm một chi tiết lạnh lùng: “Câu chuyện ấy còn được phổ biến giữa người Do Thái cho đến ngày nay”. Không phải vì nó đúng; nhưng vì nó được kể. Sự thật không cần được làm cho mạnh; chính việc bị bóp méo cho thấy nó mạnh đến mức nào. Và chúng ta cũng thường chọn tin như thế, khi sự thật đòi chúng ta phải trả giá quá đắt.

Và ở đây, một chi tiết làm lộ ra sự thật. Theo Đức Phanxicô, trong luật Do Thái, lời chứng của phụ nữ không có giá trị. Thế nhưng, chính họ lại là những người đầu tiên ra mộ và báo tin. Nếu câu chuyện này được dựng lên, người ta đã không kể như thế; không ai chọn những nhân chứng như vậy cho một câu chuyện cần được tin. Vậy mà các Tin Mừng vẫn giữ nguyên. Không phải vì nó đáng tin; nhưng vì nó thật.

Anh Chị em,

Đứng trước Đức Kitô, sự thật không còn là điều có thể bị định hướng; nhưng là một Đấng đang sống. Ngài không cần được bảo vệ bằng những câu chuyện “đáng tin”; vì chính Ngài là sự thật. Người ta có thể trả tiền cho lời nói; nhưng không thể mua được Đấng đã sống lại. Người ta có thể dựng nên một câu chuyện; nhưng không thể thay thế một biến cố. Và vì thế, điều quyết định không còn là điều được dạy; nhưng là Đấng chúng ta gặp. Không phải điều người ta nói; nhưng là Đấng đang sống. Và đứng trước Ngài, chúng ta không còn hỏi: điều này có đáng tin không; nhưng: tôi có dám tin không? “Phúc cho những ai không thấy mà tin!” – Gioan.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con không chạy trốn sự thật; đừng đổi sự thật lấy điều có lợi; và xin cho con dám trả giá, khi sự thật trở nên quá đắt!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Hãy về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 28,8-15

8 Khi ấy, các người phụ nữ vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay.

9 Bỗng Đức Giê-su đón gặp các bà và nói : “Chào chị em !” Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người. 10 Bấy giờ, Đức Giê-su nói với các bà : “Chị em đừng sợ ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.”

11 Các bà đang đi, thì có mấy người trong đội lính canh mồ vào thành báo cho các thượng tế biết mọi việc đã xảy ra. 12 Các thượng tế liền họp với các kỳ mục ; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn, 13 và bảo : “Các anh hãy nói như thế này : Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác. 14 Nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự.” 15 Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy. Câu chuyện này được phổ biến giữa người Do-thái cho đến ngày nay. 


 

Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng (1 Cr 14:15)-Cha Vương

Ha-lê-lui-a!!! Mừng hát lên, Chúa đã Sống Lại rồi! Nguyện xin niềm vui và ẩn sủng của Chúa Phục Sinh ở lại trong tâm hồn bạn và gia quyến hôm nay và mãi mãi nhé. Luôn nhớ nhau trong lời cầu nguyện và cho cả thế giới trong hoàn cảnh này

Cha Vương

CN: 05/04/2026.  (n17-22)

TIN MỪNG: Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

SUY NIỆM: Ha-lê-lui-a!!! Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ. (Tv 117:24) Mừng vui lên! Vì Chúa đã sống lại thật rồi. Thánh Phao-lô đã quả quyết rằng: Mà nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. (1 Cr 14:15)

 Đây là điều làm cho đức tin Ki-tô Giáo trổi vượt trên các đạo khác. Không có gì tách bạn ra Tình Yêu của Thiên Chúa ngay cả sự chết. Nếu bạn tin vào Chúa thì bạn cũng tin vào sự sống lại của người. Sự chết của phận người nảy sinh một sự sống mới trong Đức Ki-tô. Cảm nhận được điều này, bạn có cảm thấy trong lòng ước ao đi công bố Tin Mừng Phục Sinh không? Hãy chỗi dậy hỡi những ai đang ngủ mê trong bóng tối của sự chết. Chúa đã sống lại rồi! Hãy vui lên! Ha-lê-lui-a!!!

LẮNG NGHE: Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, / không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. / Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống: trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề, ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi! (Tv 16)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su phục sinh, thật là diễm phúc cho con khi được Chúa đến để cứu chuộc con và hứa ban cho con đời sống vĩnh cửu, xin cho con biết đáp đền cho cân xứng qua việc lành phúc đức và chân thành yêu thương nhau.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Tinh Kính

From: Do Dzung

********************

Hoan Ca Phục Sinh | Lm Nguyễn Duy 

TÔI TẠ ƠN CHÚA . . .- G.S.Trần Duy Nhiên dịch

Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh.(1)

 Tình cờ tìm được bài “ Tôi tạ ơn Chúa” , tôi thấy nhiều điều hữu ích, đáng suy gẫm, có thể đem áp dụng trong đời sống hàng ngày để tìm thấy niềm vui, hạnh phúc đơn sơ mà chúng ta nhiều khi không cảm nhận được. Có những chuyện nho nhỏ làm cho chúng ta bực mình, mất vui, mất bình an vì cái nhìn từ phía chúng ta, từ trong tấm lòng của chúng ta.. Các bạn thử đọc lại bài này và áp dụng thử xem sao?

 Tôi Tạ Ơn Chúa. . .

 Tôi tạ ơn Chúa vì chồng tôi cứ phàn nàn khi bữa cơm chưa dọn kịp, bởi lẽ chàng đang ở ngay bên cạnh tôi, chứ không phải bên ai khác.

Tôi tạ ơn Chúa vì con tôi cứ càu nhàu khi phải phụ rửa chén đĩa cho tôi, bởi lẽ thằng bé đang ở nhà chứ không phải lêu lổng ngoài đường.

Tôi tạ ơn Chúa vì số thuế thu nhập mà tôi phải trả quá cao, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có một công việc tốt để làm.

Tôi tạ ơn Chúa vì có nhiều thứ phải dọp dẹp sau bữa tiệc nhỏ, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi luôn được bạn bè quý mến đến chơi.

Tôi tạ ơn Chúa vì quần áo tôi bỗng trở lên hơi chật, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có đủ ăn,

Tôi tạ ơn Chúa vì cái bóng của tôi cứ nhìn tôi làm việc, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang sống tự do ngoài nắng.

Tôi tạ ơn Chúa vì sàn phòng cần quét, cửa sổ cần lau, ma’ng xối cần sửa, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang có một mái nhà để cư ngụ.

Tôi tạ ơn Chúa vì tất cả những lời than phiền về chính phủ, bởi lẽ như thế nghĩa là chúng ta đang được tự do ngôn luận.

Tôi tạ ơn Chúa vì hóa đơn đóng tiền cho hệ thống sưởi thật cao,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang được ấm áp.

Tôi tạ ơn Chúa vì người phụ nữ ngồi phía sau tôi trong nhà thờ hát sai, bởi lẽ như thế nghĩa tai tôi còn nghe được rất tinh tế.

Tôi tạ ơn Chúa vì đống đồ phải giặt ủi, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi có đầy đủ quần áo để ăn mặc tử tế.

Tôi tạ ơn Chúa vì các cơ bắp của mình thấy mỏi mệt vào cuối ngày,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi có sức để làm việc nhiều.

Tôi tạ ơn Chúa vì tiếng đồng hồ reo to thật sớm ban mai, bởi lẽ như thế nghĩa là tôi còn đi lại, hít thở và cười nói,  bởi lẽ như thế nghĩa là tôi đang còn sống.

và cuối cùng…

Tôi tạ ơn Chúa vì nhận quá nhiều thư từ gửi về,
bởi lẽ như thế nghĩa là tôi vẫn còn có nhiều bạn bè đang nhớ đến tôi…

Tôi gửi bài này để các bạn hiểu rằng :

“Thiên Chúa luôn đến với con người bằng một quả tim yêu thương, cho dù chúng ta đang ở trong bất cứ tình trạng nào!”

G.S.Trần Duy Nhiên dịch

 (1)   Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu .(1 TX 5 câu 18)

Đây là thơ thứ nhứt của thánh Phao lô gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca một thành phố lớn và là thủ phủ của  miền  Ma-kê-đô-ni-a .

Phung van Phung suu tam


 

MỘT HÔM NAY KHÁC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, cô Maria Mađalêna đi đến mộ”.

“Ngày của Chúa là ngày phục sinh!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Maria ra mộ từ sáng sớm. Nhưng không phải như mọi ngày. Cô mang theo một hôm qua. Một mất mát mà chúng ta cũng biết rõ. Và vì thế, cô không nhận ra – ‘một hôm nay khác!’.

“Sáng sớm, lúc trời còn tối”. Thời gian đã sang ngày thứ nhất, một ngày mới đã bắt đầu – dies nova – nhưng bóng tối vẫn còn đó. Gioan không vô tình đặt hai điều này cạnh nhau! Ánh sáng đã được ban, nhưng chưa được nhận ra. Cô thấy ngôi mộ trống, nhưng không hiểu. Cô đứng trong buổi sáng của một ngày mới, nhưng vẫn nhìn bằng ánh mắt của một đêm cũ. Ngày đã khác nhưng lòng cô chưa khác. Đó cũng là kinh nghiệm của chúng ta; có ánh sáng, nhưng đêm vẫn còn. “Trong đêm tối của linh hồn, dòng sông của Thiên Chúa vẫn sáng chảy!” – Gioan Thánh Giá.

Maria thấy; nhưng vẫn ở trong đêm – cũng thế, nhiều khi chúng ta đã thấy, mà vẫn không thoát khỏi đêm. Cô thấy tảng đá đã lăn, ngôi mộ trống; nhưng cô không nhận ra điều đã thấy. “Thấy” không dẫn đến “hiểu”; nó chỉ dừng lại ở dấu vết; Maria vẫn đọc mọi sự theo logic của cái chết: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Cô bị giới hạn bởi một cách hiểu cũ – một cách hiểu được định hình bởi mất mát. Cũng vậy, chúng ta hiểu theo cách của nỗi đau mình mang. Và vì thế, dù đứng ngay trong bình minh của một ngày mới – như Maria – chúng ta vẫn ở lại trong thế giới của ngày hôm qua, nơi mọi sự đã khép lại quá sớm.

May thay, Maria quay lại; và lần này, cô không còn đứng yên. Cô chạy đi tìm Phêrô và người môn đệ kia; cô nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Từ đó, mọi sự bắt đầu chuyển động; không còn đứng yên; không còn khép kín. Phêrô và người môn đệ kia cũng chạy, cũng tìm; họ cùng bước vào trong dấu vết của một điều chưa hiểu. Việc nhận ra không dừng lại nơi một mình Maria; nhưng lan ra, kéo người khác vào cuộc tìm kiếm. Và rồi đây, tại nhà Cornêliô, Phêrô sẽ đứng lên mà nói – bài đọc một. Điều được thấy không còn giữ lại cho riêng mình; nhưng trở thành lời công bố. Mộ trống không mở ra để Đấng Phục Sinh bước ra; nhưng để con người nhận ra. Không đóng kín; nhưng khai mở sứ vụ.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, ngày không còn là một ý niệm; nhưng là một con đường, một hành trình. Với Ngài, mỗi ngày với Cha luôn là ngày mới; một ngày sinh ra từ tương quan, không từ những gì đã qua. “Đây là ngày Chúa đã làm ra” – Thánh Vịnh đáp ca; ngày của thập giá, cũng là ngày của phục sinh. Ngày mà chúng ta không còn tìm những gì thuộc hạ giới; nhưng hướng lòng về thượng giới – bài đọc hai. Không còn sống từ những điều đã qua; nhưng từ Đấng đang sống. Không còn ở trong cái chết; nhưng trong sự sống – một sự sống không còn bị quá khứ định nghĩa. ‘Một hôm nay khác’ bắt đầu – không từ những gì chúng ta giữ lấy, nhưng từ những gì chúng ta dám trao ban.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin gọi tên con giữa đêm không hiểu; cho con nhận ra một hôm nay khác; xin đưa con đi, khỏi nơi con muốn nán lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT PHỤC SINH

Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 20,1-9

1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. 2 Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”

3 Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. 4 Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. 5 Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. 6 Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, 7 và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. 8 Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. 9 Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết. 


 

 Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” (Lc 24:5-7)- Cha Vương

 Chúc bạn và gia đình một ngày bình an trong Tình Yêu mạnh hơn sự chết của Thiên Chúa nhé. Xin luôn nhớ nhau trong lời cầu nguyện và cho toàn thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 7: 04/04/2026. (n16-22)

TIN MỪNG: Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói : “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết ? 6 Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, 7 là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” (Lc 24:5-7)

SUY NIỆM: Mấy ngày qua bạn suy niệm 7 lưỡi gươm đâm vào tim Mẹ, bạn đã cảm nhận được những khoảnh khắc đau buồn của Mẹ Maria khi theo Con mình trên đường tới pháp trường, chứng kiến con bị đóng đinh, và đứng dưới chân thập giá để nhìn người ta dùng đòng đâm thấu trái tim của con bà, rồi đau đớn ôm lấy xác con trong vòng tay của mình. Hôm nay là Thứ 7 Thánh. Trọng tâm suy niệm và cầu nguyện của ngày hôm nay là “sống trong thinh lặng và mong đợi”. Thiết tưởng rằng bạn đã có một lần tham dự buổi canh thức cầu nguyện của người quá cố. Người đó có thể  là người thân yêu của bạn mới qua đời. Cảnh thinh lặng và mong đợi nói lên mối chân tình sâu đậm trong niềm tin vào Đức Kitô sống lại từ cõi chết. Chính trong tình yêu này mà tất cả những người tin vào “xác loài người ngày sau sống lại; tôi tin hằng sống vậy” có được mối dây liên hệ thắm thiết đang nối kết trong một không gian thinh lặng tràn đầy sức mạnh của đức tin. Vậy hôm nay mình mời bạn hãy ôn lại những khoảnh khắc đó để xin Chúa tăng thêm niềm tin cho bạn nhé.

LẮNG NGHE: Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. (Rm 6:8-9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin mở mắt con để con nhìn thấy những điều trong chiều sâu của đức tin đó là bên kia thân xác bầm dập, bên kia nơi an táng và tảng đá che giấu Chúa Giêsu là sự sống và niềm vui phục sinh mà Chúa hứa ban cho những ai tin vào Chúa. Lạy Chúa xin tăng thêm niềm tin cho con và đừng để con nao núng trước cảnh hư nát mau qua của thế gian này.

THỰC HÀNH: Làm một việc hy sinh trong ngày hôm nay để cầu nguyện cho các ACE tân tòng nhé.

From: Do Dzung

*********************

Hứa Với Chúa – Hiền Thục

ĐÊM NGÀI KHÔNG NGỦ – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Đó là đêm Đức Chúa canh thức để đưa họ ra khỏi đất Ai Cập!”.

“Này là đêm xiềng xích bị bẻ tung!” – Exsultet.

Kính thưa Anh Chị em,

Đêm nay không chỉ là một đêm tưởng niệm, nhưng là một đêm đang tiếp diễn. Đây là đêm xiềng xích tử thần bị bẻ tung. Và Thiên Chúa vẫn hành động: từ đêm tạo dựng đến đêm Abraham; từ đêm Xuất Hành đến đêm nghĩa địa… khi mọi sự tưởng như kết thúc, thì chính lúc ấy, Ngài khởi sự. Chỉ khi hồi tưởng, chúng ta mới nhận ra: đó là những ‘đêm Ngài không ngủ’.

Trong Thánh Kinh, đêm không chỉ là thời gian, nhưng còn là không gian, nơi Thiên Chúa ưa chọn để hành động. Từ buổi đầu, khi “bóng tối bao trùm vực thẳm”, Ngài không xua đêm; nhưng từ đêm, Ngài tạo ánh sáng. Với Abraham – được hứa giữa đêm – người đếm các vì sao; nhưng đêm cũng trở thành một “tentatio” – thử thách – nơi lời hứa và dao sát tế con cùng xuất hiện. Trong đêm Xuất Hành, khi “bên này không thấy bên kia”, Ngài không chọn lúc thấy rõ, nhưng lúc mù mịt; và chính ở đó, lối đi được mở ra. Và nơi đêm mồ, khi mọi sự tắt lịm, Ngài khởi sự một điều mới. Thiên Chúa không vội hành động theo cách chúng ta chờ. “Nếu Thiên Chúa xem ra chậm đáp lời, là vì Ngài đang chuẩn bị một ân ban tốt hơn!” – Augustinô.

Nếu đêm là nơi Thiên Chúa hành động, thì đêm ấy đạt tới đỉnh trong biến cố phục sinh. Tin Mừng không kể lại khoảnh khắc Đức Kitô sống lại; mọi sự xảy ra trong thinh lặng. Các phụ nữ đến khi trời còn tối, chỉ thấy tảng đá đã lăn ra – ngôi mộ trống. Phục sinh không phải là điều được thấy, nhưng là điều được nhận ra. Chính trong khoảng không ấy, đức tin được khai sinh. Có những lúc trong đời, đứng trước những đêm mộ trống như thế – và chỉ khi ở lại, chúng ta mới nhận ra: Thiên Chúa vẫn hành động – đó là những ‘đêm Ngài không ngủ’.

Phục sinh không phải là một hành động bên ngoài, nhưng là một “anastasis” – đứng dậy từ bên trong; không ai thấy, vì đó không phải là một biến cố để quan sát, nhưng là một chuyển động quyết định của sự sống. Cái chết không bị phá vỡ từ bên ngoài, nhưng bị xuyên thủng từ bên trong. Và nếu không có một sự trỗi dậy như thế, thì Phục Sinh nào còn ý nghĩa gì! “Thiên Chúa đang hoạt động trong mọi hoàn cảnh, ngay cả những hoàn cảnh tăm tối nhất!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ sống lại, nhưng đứng dậy từ trong cái chết; Ngài không được kéo ra, nhưng tự trỗi dậy như sự sống không thể bị giữ lại. Và nếu Ngài đã phục sinh như thế, thì Ngài cũng chạm đến chúng ta theo cách ấy: không từ bên ngoài, nhưng từ nơi sâu nhất, nơi chúng ta tưởng đã khép lại; và chính ở đó, không phải tự sức mình, nhưng bởi quyền năng Thiên Chúa, chúng ta được trỗi dậy. Vì thế, điều Ngài làm trong đêm mồ, Ngài vẫn đang làm trong chính chúng ta; giữa bao biến cố, vẫn có những đêm Ngài không ngủ. “Trong đêm tối, Thiên Chúa âm thầm dạy dỗ linh hồn!” – Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mọi sự tối sầm, cho con biết ở lại; khi lạc mất phương hướng, cho con tin lối Ngài đang mở; và trong đêm tối nhất, cho con nhận ra: Chúa không ngủ!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

***************************************************

LỜI CHÚA THỨ BẢY VỌNG PHỤC SINH

Người đã trỗi dậy và đi Ga-li-lê trước các ông.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 28,1-10

1 Chiều ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a, đi viếng mộ. 2 Thình lình, đất rung chuyển dữ dội : thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên ; 3 diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. 4 Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi. 5 Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ : “Này các bà, các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. 6 Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, 7 rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này : Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Đấy, tôi xin nói cho các bà hay.” 8 Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay.

9 Bỗng Đức Giê-su đón gặp các bà và nói : “Chào chị em !” Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người. 10 Bấy giờ, Đức Giê-su nói với các bà : “Chị em đừng sợ ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.” 


 

CHÚA GIÊ SU CÓ THẬT SỰ SỐNG LẠI KHÔNG? – Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

 Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

(Suy niệm lễ Phục sinh)

Có dư luận cho rằng Chúa Giê-su không sống lại, chẳng qua là các môn đệ đánh cắp xác Ngài ra khỏi mồ rồi đem đi nơi khác. Sau đó, họ toa rập với nhau, phao tin Chúa đã sống lại, xác Ngài không còn nằm trong mồ nữa. 

Thực hư thế nào? Có bằng chứng nào chứng tỏ Chúa Giê-su đã sống lại không?

Có nhiều bằng chứng khác nhau, ở đây chúng ta chỉ nêu lên bằng chứng thuyết phục nhất.

Đó là các Tông đồ sẵn sàng chịu chết để làm chứng Chúa Giêsu sống lại.

BẰNG CHỨNG CỦA CÁC TÔNG ĐỒ

Nếu Chúa Giêsu chết đi mà không sống lại như lời Ngài báo trước, thì tình huống sau đây sẽ xảy ra:  

-Thứ nhất: Các Tông đồ sẽ nhận ra rằng Thầy Giêsu mà họ đem lòng tin tưởng, yêu mến và ngưỡng mộ bấy lâu không phải là Con Thiên Chúa như lời Ngài nói mà chỉ là người phàm tự xưng là Con Thiên Chúa, vì Ngài cũng chết như bao người khác chẳng hơn gì. Các ông sẽ thất vọng cách cay đắng về Ngài, sẽ oán hận và phế bỏ Ngài vì Ngài đã lừa dối các ông, đã làm cho cuộc đời các ông dang dở: bỏ công theo Ngài ba năm, giờ chẳng được tích sự gì. Thế là, Nhóm Mười Hai môn đệ sẽ như rắn mất đầu và tất nhiên phải rã đám… và Giáo hội Chúa Giê-su mới lập cũng rã theo!

-Thứ hai: Các ông sẽ không bịa đặt chuyện Chúa Giêsu sống lại rồi đi rao truyền khắp nơi để lừa bịp người khác; vì khi làm như thế, các ông chẳng được lợi lộc gì, mà còn mất tất cả, kể cả mạng sống mình.

Thứ ba: Các ông sẽ không điên rồ đến nỗi tiếp tục từ bỏ gia đình, chịu đựng gian lao đau khổ và chịu chết để loan truyền một điều dối trá trắng trợn là Chúa Giêsu sống lại.  

Trong thực tế, các Tông đồ tiếp tục hy sinh tất cả, từ bỏ gia đình, cha mẹ, vợ con, chấp nhận đòn vọt, tù đày và chấp nhận chịu chết để làm chứng cho mọi người biết Chúa Giêsu đã thực sự sống lại từ cõi chết, vì đó là sự thật rành rành.

Khi người làm chứng sẵn sàng chịu chết và mất tất cả để minh chứng mình nói thật, thì lời chứng của người đó là chân thật. Không ai liều chết và đánh mất tất cả chỉ vì một điều bịa đặt bao giờ. 

Tóm lại, nếu Chúa Giê-su không sống lại, Nhóm môn đệ Ngài sẽ tan tác, rã đám ngay từ đầu và vì thế Giáo hội Chúa Giê-su thành lập cũng tiêu tan từ trong trứng nước chứ không thể tồn tại đến ngày hôm nay.

Chúa Giê-su có thực sự sống lại mới củng cố tinh thần sa sút của các môn đệ bị giao động nặng nề sau cái chết của Chúa Giê-su và các ngài mới có thể hiến dâng thân xác và cuộc sống mình để rao giảng và xây dựng Hội thánh Chúa. 

Lạy Chúa Giê-su,

Chúng con vô cùng diễm phúc vì Chúa chịu khổ nạn để cứu độ chúng con và càng hạnh phúc hơn vì Chúa đã sống lại để mở cửa Trời cho chúng con, dẫn chúng con đến cõi phúc muôn đời. Amen.

Linh mục Inha-xi-ô Trần Ngà

From: NguyenNThu


 

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh gia nhập Ðạo Công Giáo

Tony Nguyễn

 Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh gia nhập Ðạo Công Giáo

California (VietCatholic News 21-10-2016)

– Hôm 19 tháng 10 năm 2016, Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã được Ðức Giám Mục Mai thanh Lương làm phép Thánh Tẩy gia nhập Ðạo Công Giáo tại nhà thờ Saint Bonaventure Church ở Huntington Beach, California. Ông cũng đã được lãnh nhận bí tích Thêm Sức và Thánh Thể cùng ngày. Hiện diện trong dịp trọng đại này có gia đình thân quyến và các bạn hữu lâu năm của ông đến từ xa, và Bác sĩ Nguyễn Ngọc Kỳ là người đỡ đầu trong nghi thức Thánh Tẩy. Trong thánh lễ đồng tế có Cha Mai Khải Hoàn, Cha Cao Phương Kỷ, Cha Trần Ðức, phó tế Chu Bình.

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là nhà toán học, nhà khoa học không gian xuất sắc của Hoa Kỳ, nhà văn và nghệ sĩ. Ông cũng là cựu Ðại tá Tư lệnh Không Quân Việt Nam (1958-1962). Sau khi từ nhiệm quân vụ, ông sang Hoa Kỳ du học.

Ông sinh năm 1930 tại Yên Bái, sinh viên khoa học Hà Nội, động viên theo học Khóa 1 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức tháng 9 năm 1951; thi đậu vào Trường Võ Bị Không Quân Pháp ở Salon de Provence, 1952; và sau ba năm được huấn luyện ở Pháp và Bắc Phi, tốt nghiệp sĩ quan phi công với nhiều văn bằng đại học trước khi trở về nước phục vụ trong Quân Ðội Quốc Gia.

– Tiến sĩ Khoa học Hàng không và Không gian tại Ðại Học Colorado vào năm 1965;

– Tiến sĩ Quốc gia Toán học tại Ðại Học Paris VI vào năm 1972;

Ông được bầu vào Hàn Lâm Viện Quốc Gia về Hàng Không và Không Gian (Académie Nationale de l’ Air et de l’Espace) của Pháp, từ 1984; và Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế (International Academy of Astronautics) từ năm 1986.

Trong suốt hai mươi năm (1979- 1999) là phó chủ bút đặc trách môn Cơ Học Vũ Trụ (Astrodynamics) cho nguyệt san Acta Astronautica là tờ báo khoa học chính thức của Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế.

Năm 1986 là viện sĩ chính thức của Viện Hàn Lâm Không Gian Quốc Tế (International Academy of Astronautics).

Năm 1998, khi về hưu, được Hội đồng Quản trị (Board of Regents) tại Ðại học Michigan phong tặng chức Giáo sư danh dự vì công lao đóng góp cho khoa học và giáo dục.

Trong nhiều năm ông đã được tham gia thuyết trình thỉnh giảng tại rất nhiều đại học lớn cũng như hội nghị quốc tế khắp nơi trên thế giới bao gồm Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Áo, Ðức, Ý, Hoà Lan, Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Ðiển, Hungary, Israel, Nhật, Trung Quốc, Ðài Loan và Úc.

Về văn học, ông Nguyễn Xuân Vinh lấy bút hiệu Toàn Phong và là tác giả Ðời Phi Công, một cuốn sách bán rất chạy và được giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1961.

Ông cũng là tác giả cuốn Gương Danh Tướng do Nha Chiến Tranh Tâm Lý, Bộ Quốc Phòng, in năm 1957 và tập tùy bút Theo Ánh Tinh Cầu do nhà sách Ðại Nam xuất bản năm 1990.

Khi còn trong quân đội, Toàn Phong đã viết bốn cuốn Sách giáo khoa Toán học bằng tiếng Việt trong đó có hai cuốn do Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam xuất bản.

Ông đã viết hàng trăm tiểu luận về toán, động học không gian (astrodynamics) và tối ưu hóa quỹ đạo (trajectory optimization). Các sách viết bao gồm:

– Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics. 1980. Vinh, N. X.; Busemann, A.; Culp, R. D. University of Michigan Press.

– Optimal Trajectories in Atmospheric Flight 1981. Vinh N. X., Studies in Astronautics 2, Elsevier Scientific Publishing Company, Amsterdam.

– Flight Mechanics of High-Performance Aircraft. 1993. Nguyen X. Vinh. Cambridge Aerospace Series. ISBN 052134123X.

Ðồng Nhân & Kingston Bùi


 

Thứ 6 Thánh, tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa- Cha Vương

Hôm nay Thứ 6 Thánh, tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa , ước mong bạn cảm nhận được Tình Yêu tự hiến trên thập giá mà Chúa dành cho bạn hôm nay.  Cầu nguyện cho nhau và cho toàn thế giới nhé.

Cha Vương

Thư 6: 03/04/2026. (n15-22)

MỞ ĐẦU: Lạy Đức Mẹ, xin Mẹ lấy lòng thương xót mà cầu nguyện cho chúng con được nhờ công nghiệp Đức Chúa Giêsu cùng nhờ công nghiệp Đức Mẹ, cho được khỏi tội lỗi chúng con đã phạm, cùng những hình phạt chúng con đáng phải chịu. Xin Đức Mẹ phù hộ cho chúng con làm việc này nên, cho được những phép ân xá Hội Thánh ban cho kẻ làm việc kính những sự thương khó Đức Mẹ. (Nêu ra ý chỉ cầu xin….)

LƯỠI GƯƠM THỨ BẢY: Ngày khởi đầu của Con yêu nơi hang đá Be-lem Mẹ hạnh phúc bao nhiêu, thì giờ đây Mẹ đau đớn bấy nhiêu khi xác Con yêu được táng trong mộ đá, còn đâu nữa nụ cười ngây thơ dễ thương của Con những ngày đầu đời; còn đâu nữa tiếng gọi Mẹ ơi khi Con cất những tiếng nói đầu đời; còn đâu nữa tiếng nguyện cầu cùng Mẹ nơi mái nhà Na-ra-rét; còn đâu nữa giọng thuyết giảng của Con đầy sức mạnh của Thiên Chúa và những lời Con an ủi, động viên những kẻ khốn cùng vvv… 

Trái tim Mẹ như muốn ngừng đập theo Con “ Cùng đi với ông Giô-xếp, có những người phụ nữ đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào ” (Lc.23,55). 

 Môn đệ táng xác Đức Chúa Giêsu vào huyệt đá mới. Khi tắm xác Đức Chúa Giêsu mà táng trong hang đá, đoạn lấy hòn đá lớn mà che ngoài cửa hang thì lòng Đức Mẹ đau đớn như đã chết mà chôn một mồ cùng con vậy, vì khi trước còn xem thấy xác Con mà còn đau đớn khốn cực dường ấy, song le bây giờ chẳng còn xem thấy xác Con nữa, thì biết đau đớn khốn cực là thế nào!  Như dao sắc thâu qua lòng vậy. Khi ngắm sự ấy, thì nguyện một kinh Lạy Cha, một kinh Kính Mừng.  Xin Đức Mẹ cầu cho chúng con được ăn năn lo buồn mọi tội, vì làm cho mất nghĩa cùng Đức Chúa Giêsu, cùng xin in những sự thương khó Đức Chúa Giêsu vào lòng chúng con cho đến trọn đời.  Amen.

+ Kinh Lạy Cha 

+ Kinh Kính Mừng

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria! Con đường đi theo Chúa là con đường khổ giá, con đường gánh chịu những vết thương từ bỏ ý riêng, hy sinh, phục vụ vì tình yêu dành cho Chúa và cho nhau, Mẹ đã đi trọn con đường đó, qua đời sống Mẹ sống kết hiệp mật thiết với Chúa. Xin Mẹ dẫn con đến với Chúa, để tạ lỗi với Chúa vì sự thờ ơ, thoái thác bước theo con đường Chúa đã vạch sẵn cho con. Xin Mẹ giúp con biết noi gương Mẹ, luôn sống kết hiệp mật thiết với Chúa qua đời sống cầu nguyện, đặc biệt là kết hiệp với Chúa nơi bí tích Thánh Thể. Nhờ đó mà con mới có sức mạnh đi tron con đường Chúa đã hoạch định cho con. Mẹ đã gánh chịu những vết thương lòng của khổ đau, thử thách, buồn phiền, xin Mẹ nâng đỡ con, an ủi con và tất cả mọi người đang mang trong tâm những buồn khổ, xin đồng hành với con và mọi người trong những lúc gặp gian nan và thử thách trong cuộc sống này. Amen

From: Do Dzung

************************

Thập giá tiếng nói tình yêu