ĐÚNG ĐƯỜNG – Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

“Cứ đến!”.

“Người chọn nơi bắt đầu của một con đường cũng chọn luôn nơi nó dẫn đến!” – Harry Fosdick.

Kính thưa Anh Chị em,

Mỗi điểm đến đều khởi đi từ một con đường. Lời Chúa hôm nay mặc khải một điều: đến với Chúa Giêsu thôi chưa đủ; điều quyết định là đến ‘đúng đường’.

Matthêu không ngẫu nhiên đặt liền hai câu chuyện Phêrô đi trên mặt nước để đến với Chúa Giêsu và chuyện dân thành Ghenêxarét chạm vào tua áo Ngài. Hai cảnh quay, một mặc khải: đến với Chúa Giêsu có nhiều cách, nhưng chỉ một cách dẫn đến ơn cứu độ. Bản Hy Lạp viết erchomai – “đến”. Với Matthêu, erchomai không chỉ là một chuyển động của thân xác, mà còn là chuyển động đức tin: đến với Chúa theo cách Ngài mở ra. Đức tin không giữ con người khỏi mọi sóng gió; nhưng giữ con người ở lại trên con đường Chúa mở giữa sóng gió.

Phêrô là người đầu tiên bước vào con đường ấy. “Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài!”. Chúa Giêsu đáp: “Cứ đến!”. Ông bước được không phải vì mặt biển hoá cứng, nhưng vì đã bước trên một lời mời. Chỉ đến khi rời mắt khỏi Đấng đã gọi mình để nhìn vào sóng gió, ông mới bắt đầu chìm. Điều đánh gục Phêrô không phải là biển cả, nhưng là rời khỏi con đường Chúa đã mở. Dân thành Ghenêxarét đến với Chúa Giêsu theo một cách khác. Họ chỉ xin được chạm vào tua áo Ngài. Matthêu kết luận: “Ai đã sờ vào thì đều được cứu chữa”. Điều cứu họ không nằm ở tua áo, nhưng ở Đấng họ đã chạm đến.

Vậy mà không phải lời mời nào cũng đến từ Thiên Chúa. Giêrêmia kể về Khanangia, người hứa hẹn một lối giải thoát thật dễ tin: chiếc gông bằng gỗ sẽ được bẻ gãy; nhưng Thiên Chúa lại cho biết: gông gỗ sẽ nhường chỗ cho gông sắt – bài đọc một. Hoá ra, con đường không do Thiên Chúa mở ra chỉ làm chiếc ách nặng hơn. Thánh vịnh đáp ca, vì thế, không xin một lối thoát dễ dàng, nhưng xin chỉ cho một con đường: “Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con!”.

Với chúng ta, người ta hiếm khi lạc đường vì yếu đuối; nhưng thường vì tin nhầm một lối đi. Điều dễ tin chưa hẳn là điều dẫn đến sự sống. Có những lối đi không làm chúng ta xa Chúa ngay lập tức, nhưng từng bước làm chúng ta thôi bước theo Ngài. Đức tin đích thực không dừng lại ở việc tìm đến Chúa, mà là vững vàng tiến bước trên con đường Ngài thương mở lối. “Không có hai con đường, chỉ có một: con đường Thầy đã đi. Người môn đệ không thể tự mở cho mình một lối khác!” – Gioan Phaolô II.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ mở đường cho con người đến với Thiên Chúa; chính Ngài là Đường: khởi đầu và điểm đến của hành trình cứu độ. Từ lời “Cứ đến!” trên mặt biển đến thập giá và vinh quang phục sinh, mọi nẻo đường đều quy về Ngài. Vì thế, nơi Đức Kitô, ‘đúng đường’ không còn là chọn đúng một lối đi, nhưng là gắn trọn đời mình với đúng một Đấng. “Đức tin không phải là bám vào một điều gì, nhưng là thuộc về Một Đấng!” – Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết từ bỏ những lối đi dễ dãi; tín thác con đường Chúa mở ra; và mỗi ngày chọn bước trên con đường Chúa Giêsu!”, Amen.

Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

***********

Thứ Hai Tuần XVIII – Mùa Thường Niên, Năm Chẵn 

https://l1nq.com/0rkcai7

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

22 Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. 23 Giải tán họ xong, Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. 24 Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió. 25 Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. 26 Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên. 27 Đức Giê-su liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” 28 Ông Phê-rô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” 29 Đức Giê-su bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su. 30 Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” 31 Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Hỡi kẻ kém lòng tin! Sao lại hoài nghi?” 32 Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng. 33 Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!”

34 Khi qua biển rồi, thầy trò lên đất liền, vào Ghen-nê-xa-rét. 35 Dân địa phương nhận ra Đức Giê-su, liền tung tin ra khắp vùng, và người ta đem tất cả những kẻ đau ốm đến với Người. 36 Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo choàng của Người thôi, và ai đã sờ vào thì đều được cứu chữa.


 

PHÉP LẠ HÓA BÁNH RA NHIỀU NHỜ TIN VÀ NHỜ ĐỨC ÁI – Lm. Jos Tạ Duy Tuyền 

 Lm. Jos Tạ Duy Tuyền 

Có ai đó nói rằng: Tôi có một quả táo, chia cho bạn một nửa, đó là tình bạn.  Khi tôi có một quả táo, tôi cắn một miếng rồi đưa cho bạn, đó là tình yêu.  Khi tôi không cắn miếng nào, đưa hết cho bạn, đó là tình thân.  Cuối cùng là khi tôi cố tình giấu quả táo đi, không cho bạn biết hoặc phũ phàng nói rằng tôi cũng đói và đó là thực tế xã hội.

Xã hội con người chính là vậy.  “Lúc gian nan mới hiểu được lòng người!”  Con người chỉ khi thất bại, túng quẫn hay sa sút tinh thần một lần mới biết và hiểu được ai là người chân thành dành sự quan tâm cho chúng ta. 

Nhưng có một Đấng không bao giờ bỏ rơi ta như lời Người nói: “Người phụ nữ nào có thể quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương xót con ruột mình đã sinh ra?  Cho dù họ có quên nữa, Ta sẽ không quên ngươi bao giờ” (Isaia 49:15).  Đó chính là Thiên Chúa.  Đấng mà Thánh Gioan định nghĩa rằng: Thiên Chúa là tình yêu.  Tình yêu Ngài bền vững qua muôn thế hệ.  Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, Ngài vẫn luôn trung thành với tình yêu của Ngài. 

 Đây cũng là tình yêu của những người tin vào Thiên Chúa.  Nhờ tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa mà họ sống đức ái triệt để trong cả những hoàn cảnh khó khăn nhất như bà góa thành Xarepta.  Vào thời tiên tri Êlia, có một đợt hạn hán kéo dài dẫn đến lương thực và nguồn nước đều cạn kiệt.  Thiên Chúa truyền lệnh cho tiên tri Êlia đến Xarépta, thuộc vùng Si-đôn.  Tại đây, ông gặp một bà góa đang nhặt củi.  Ông xin bà cho ông một chút nước uống và một miếng bánh.  Bà góa trả lời rằng bà chỉ còn một nắm bột và một ít dầu, đủ để làm một chiếc bánh nhỏ cho bà và con trai trước khi họ chết đói. 

Ê-li-a nói với bà rằng nếu bà làm theo lời ông, thì hũ bột sẽ không bao giờ cạn và vò dầu sẽ không bao giờ vơi cho đến ngày Chúa cho mưa xuống trên đất.  Bà góa đã tin tưởng và làm theo lời Ê-li-a.  Kết quả là hũ bột và vò dầu thực sự không bao giờ cạn, và bà cùng con trai và tiên tri Ê-li-a đã có đủ lương thực trong suốt thời gian hạn hán .

 Kinh Thánh Chúa Nhật 17 Năm B kể lại sự kiện khi đám đông say mê nghe Chúa giảng đến quên cả thời gian.  Hàng ngàn người vẫn ở nơi hoang vắng và không có đủ thức ăn.  Chính trong sự bế tắc của con người ta lại thấy Thiên Chúa mở cánh cửa mới cho dân của Người. 

 Cả hai phép lạ này đều xảy ra trong hoàn cảnh mà con người đều bất lực trước khó khăn vì hạn hán kéo dài hay vì ở nơi hoang vắng.  Cả hai phép lạ đều được thực hiện trong sự tin tưởng và vâng phục Thiên Chúa.   Bà góa đã vâng lời tiên tri Ê-li-a khi dám cho đi cả phần lương thực còn lại trong nhà.   Các môn đệ của Chúa Giê-su đã vâng lời Thầy khi đi gom 5 chiếc bánh và hai con cá, rồi chia đám đông ngồi từng nhóm, dẫn đến phép lạ hóa bánh ra nhiều. 

Thực vậy, sau khi đón nhận 5 chiếc bánh và 2 con cá từ lòng quảng đại của một em bé.  Chúa Giêsu đã có thể nhân rộng ra thành hàng trăm, hàng ngàn tấm bánh.  Với quyền năng của một vì Thiên Chúa có thể tạo dựng mọi sự từ hư vô.  Ngài có thể làm tất cả nhưng Thiên Chúa lại muốn hành động ngang qua con người.  Bởi vì con người là họa ảnh của Thiên Chúa.  Ngài muốn con người tiếp tục thay Ngài gieo yêu thương vào trong thế gian.  Hay nói cách khác, con người được tạo dựng để yêu thương.  Do đó, ai không yêu thương là vong thân, là đang chết dần trong ích kỷ và cô đơn.  Người ta sống để yêu, mà không còn khả năng yêu thương, tức là con người đã mất giá trị đích thực của đời người. 

 Có lẽ nhân loại hôm nay không chết đói cho bằng chết vì thiếu tình thương.  Những người đang chờ chết cũng là những người đang chờ từng nghĩa cử yêu thương, san sẻ của đồng loại.  Con người cần cơm bánh để sống.  Nhưng con người lại rất cần tình thương để tồn tại.  Thật là một bất hạnh cho con người, nếu hai chữ tình yêu không còn có ở trên đời.  Và cũng thật bất hạnh cho những ai không có ai đó để thương, để nhớ.  Tình yêu là lẽ sống còn của con người.  Con người không có tình yêu sẽ đầy đọa mình và làm khổ anh em.

         Lời Chúa hôm nay dường như đang chất vấn bạn và tôi về những thiếu sót của chúng ta trước sự khốn cùng của tha nhân.  Chúng ta hãy hành động yêu thương trong tư cách là môn đệ Chúa Giê-su, để bánh và cá tiếp tục được nhân rộng đến cho mọi người, để tình yêu đem lại hạnh phúc cho con người hôm nay.

 Xin Chúa ban thêm đức tin và lòng quảng đại để vì Chúa chúng ta yêu thương, chia sẻ và dấn thân lan tỏa tình yêu Chúa đến cho mọi người. Amen

 Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

From: Langthangchieutim


 

Trọn cuộc đời chỉ là đau khổ, bao công khó chỉ đem lại ưu phiền!(Gv 2:23) – Cha Vương

Ngày Chúa Nhật bình yên và hạnh phúc trong sự quan phòng của Chúa nhé. Luôn nhớ nhau trong cầu nguyện nhé cho cả thế giới luôn được bình an 

Cha Vương

CN: 2/8/2026. (n 3-26)

TIN MỪNG: Phải, đối với con người ấy, trọn cuộc đời chỉ là đau khổ, bao công khó chỉ đem lại ưu phiền! Ngay cả ban đêm, nó cũng không được yên lòng yên trí. Điều ấy cũng chỉ là phù vân! (Gv 2:23)

SUY NIỆM: Nếu bạn nhìn vào Sách Giảng Viên dưới một lăng kính tiêu cực thì cuộc đời chỉ là một quyển sách chứa đựng những khoảnh khắc bất mãn và thất vọng. Nhưng nếu bạn nhìn nó dưới góc độ tích cực thì những lời trên đây là một chân lý. Dù bạn là ai, một vị tổng thống hay quân nhân, giàu có hay nghèo hèn, khi giờ điểm đã tới thì tất cả chỉ là hai chữ “phù vân”. Không có gì trong cuộc đời là bền vững, là vĩnh cửu. Tất cả đều tàn phai theo thời gian. Tiền tài, danh vọng và sắc đẹp rồi cũng sẽ có một ngày vuột ra khỏi tầm tay của. Chính cả Vua Salomon đã hiểu ý nghĩa cuộc đời là phù vân này, nên ông đã thốt lên rằng: “Phù vân rất mực phù vân, khó nhọc vất vả thế rồi phải trao lại cho kẻ không vất vả hưởng”.

Khi ta nằm xuống…

Những gì ta xài… đã mất.

Những gì ta để lại… người khác xài.

Ta chỉ đem theo được… những gì ta đã cho.

Khi bạn cho đi thì bạn sẽ lãnh nhận. Nếu bạn muốn nhận nhiều thì bạn hãy cho nhiều đi. Nhạc Sĩ Duy Nhạc đã diễn tả được chân lý “cho đi” này trong bài hát, “Cho Đi Là Lãnh Nhận”: Cho đi một chút mến thương / Nhận về đại dương thắm tình / Cho đi một giọt sương đêm / Nhận về êm đềm cơn mưa. Cho đi một ánh nắng mai  / Nhận về ngày mai tươi nắng / Cho đi một nhịp khởi đầu / Nhận về đẹp mầu tương lai…

Tương lai của bạn không thuộc về thế gian này. (x. Ga 18:36) Nếu bạn muốn có một tương lại và đời sống vĩnh cửu hãy tìm kiếm Thiên Chúa qua đời sống dấn thân, hy sinh và phục vụ, tật dụng những tài năng và khả năng thời gian và tiền bạn Chúa ban để để “cho đi”. Thánh Gioan Phao-lô II nói: “Không ai giàu đến độ không có gì cần phải nhận. Không ai nghèo đến mức không có cái gì để cho”. Nếu không có tiền bạc, ít nhất bạn cũng có thể chia sẻ cho anh chị em nụ cười, sự quan tâm, lời khích lệ và sự cảm thông. Tất cả những điều này, được thực hiện đúng lúc, đúng nơi và với tâm tình trân trọng quý mến, sẽ có giá trị tuyệt vời đó.

LẮNG NGHE: Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó.” (Lc 12:20-21)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin ban cho con một tấm lòng quảng đại hôm nay.

THỰC HÀNH: Bạn đang tích trữ cho mình những gì vậy? Của cải thế gian hay tìm kiếm nước Thiên Đàng? Làm một việc thiện hôm nay nhé. 

From: Do Dzung

**************

Cho Đi Là Lãnh Nhận (Sáng tác: Duy Nhạc) – Ca đoàn Cecilia

TINH HOA ÍT NGỌT – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Ai nấy đều ăn và được no nê”.

“Thiên Chúa thì thầm với chúng ta trong niềm vui, nói với chúng ta qua lương tâm, nhưng kêu lớn trong đau khổ!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những lần Thiên Chúa chỉ cất tiếng khi cuộc đời bắt đầu có vị đắng. Có những lần khi nếm qua, chúng ta mới nhận ra đó là phần tinh hoa Ngài dành cho mình. Lời Chúa hôm nay mặc khải một sự thật: không ít lần, điều Thiên Chúa chọn cho chúng ta lại là một ‘tinh hoa ít ngọt’.

“Ai nấy đều ăn và được no nê”. Bản Hy Lạp viết echortásthēsan – “no đầy, thoả thuê”. Đó không chỉ là cái no của bánh ăn, nhưng là sự no đầy mà chỉ mình Thiên Chúa biết điều gì thật sự làm no lòng mỗi người, và chỉ mình Ngài mới có thể ban điều ấy. Ngài ban cho người này niềm hạnh phúc, người khác thời gian thử thách; cho người này một người dễ thương, người khác một người khó thương; cho người này những ngày thuận lợi, người khác những hoàn cảnh bất tiện. Và dù thế nào đi chăng, Ngài vẫn chọn phần tinh hoa tốt nhất cho mỗi người; không ai giống ai. “Để mỗi người nên thánh, Thiên Chúa luôn ban cho họ điều gì là tốt nhất!” – François de Sales.

Nhưng làm sao nhận ra phần tinh hoa ấy? Isaia không định nghĩa, nhưng đặt một câu hỏi đầy trăn trở: “Sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống, tốn công lao vất vả vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng?” – bài đọc một. Hoá ra điều chúng ta tưởng là bánh nhiều khi không nuôi được tâm hồn; điều chúng ta ngại đón nhận lại có thể là lương thực đang làm mình lớn lên. Vì thế, Thiên Chúa mời gọi: “Đến mà ăn!”. Ngài không trao cho chúng ta điều chúng ta muốn, nhưng trao đúng điều chúng ta cần. “Điều Thiên Chúa muốn luôn tốt hơn điều chúng ta chọn!” – François Fénelon.

Điều Thiên Chúa chọn không bao giờ sai lầm. Vì thế, Thánh Vịnh hân hoan hát lên: “Chúa thương rộng mở tay ban, đoàn con hết thảy muôn vàn thoả thuê!”. Đó không phải là lời hứa về một cuộc đời không còn thiếu thốn, nhưng là niềm xác tín rằng Thiên Chúa luôn biết đâu là lương thực thật. Bởi vậy, Phaolô quả quyết: “Trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta!” – bài đọc hai. Nghĩa là, trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, không biến cố nào vô nghĩa, không mảnh đời nào bị bỏ phí. Tất cả đều có thể trở thành phần tinh hoa làm nên một con người.

Anh Chị em,

Chúa Cha đã không dành cho Chúa Con một con đường dễ dàng, nhưng dành cho Ngài chính thập giá. Và Chúa Con đã đón nhận chén đắng ấy trong yêu thương và tuyệt đối vâng phục. Vì thế, điều xem ra cay đắng nhất lại trở thành nguồn mạch cứu độ nhân loại. Theo Đức Kitô là tin rằng phần Chúa Cha dành cho chúng ta, dẫu hôm nay chưa hiểu, vẫn đang dẫn chúng ta đến sự sống đời đời. “Hãy đón nhận mọi sự như hồng ân của Thiên Chúa; điều đó có thể biến đổi tận gốc cuộc đời bạn!” – Hans Urs von Balthasar. Chỉ dưới ánh sáng thập giá, chúng ta mới nhận ra đó chính là một ‘tinh hoa ít ngọt’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết tín thác điều Chúa an bài; đón nhận điều Chúa trao, dẫu trong nước mắt; và can đảm thi hành thánh ý Ngài, dẫu phải nghẹn ngào!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

************

Chúa Nhật Tuần XVIII – Mùa Thường Niên

https://l1nq.com/d6zpwsp

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

13 Khi ấy, được tin ông Gio-an Tẩy Giả chết, Đức Giê-su xuống thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.

15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người : “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” 16 Đức Giê-su bảo : “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” 17 Các ông đáp : “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá !” 18 Người bảo : “Đem lại đây cho Thầy !” 19 Sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. 20 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21 Số người ăn khoảng chừng năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.


 

MẤT ĐẦU – KHÔNG MẤT LỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy!”.

“Họ có thể giết tôi, nhưng họ không thể giết được những ý tưởng của tôi. Họ có thể nghiền nát thân xác tôi, nhưng không thể nghiền nát tinh thần tôi!” – Bhagat Singh.

Kính thưa Anh Chị em,

Người ta có thể giết sứ giả, nhưng không thể giết sứ điệp; có thể lấy đi một cái đầu, nhưng không thể lấy đi một lời thật. Tin Mừng hôm nay kể câu chuyện về một người ‘mất đầu – không mất lời’.

“Đó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy”. Bản Hy Lạp viết ēgerthē – “trỗi dậy”. Matthêu sẽ dùng động từ này để loan báo biến cố Phục Sinh. Hêrôđê tưởng Gioan đã trỗi dậy, nhưng điều thật sự trỗi dậy không là người nói, mà là sự thật người ấy đã nói. Lương tâm vua không thể chôn vùi tiếng nói ấy. Ngôn sứ có thể ngã xuống, nhưng Lời Thiên Chúa vẫn đứng vững và tiếp tục cất tiếng qua những ngôn sứ khác. “Lời chân lý mang trong mình chính uy quyền của nó!” – Justin Martyr.

Sự thật ấy mang một nghịch lý: càng bị khước từ, lời càng bộc lộ sức sống; càng bị bịt miệng, lời càng vang xa. Người ta có thể dập tắt tiếng nói của người được sai đi, nhưng không thể xoá bỏ sự thật người ấy đã loan báo. Quyền lực có thể buộc một chứng nhân im tiếng, nhưng không thể làm cho Lời Thiên Chúa câm lặng. Bởi lẽ, Lời không sống nhờ sức mạnh của người loan báo, nhưng nhờ quyền năng của Đấng đã phán dạy. Vì thế, khi một chứng nhân ngã xuống, Ngài sẽ chọn một người khác để trao Lời.

Gioan mất đầu không là một biến cố cá biệt. Trước Gioan, Giêrêmia cũng bị kết án vì đã nói nhân danh Thiên Chúa: “Các người cứ xử với tôi thế nào như các người coi là tốt đẹp và chính đáng!” – bài đọc một. Bởi thế, Thánh Vịnh đáp ca mới cất lên: “Lạy Chúa, xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày!”. Thế gian đáp lại chứng nhân bằng bản án; Thiên Chúa đáp lại họ bằng tín nghĩa. Đời sống của người môn đệ trung kiên chính là bằng chứng hùng hồn rằng gươm giáo hay bạo lực chưa bao giờ thắng nổi Ngôi Lời.

Phần chúng ta, điều đáng sợ không phải là thế gian khước từ Tin Mừng, nhưng là tâm hồn chúng ta không còn là nơi Lời cư ngụ. Bởi lẽ, điều làm cho Lời tiếp tục sống không phải là lời nói, nhưng là sự vâng phục của một con người. Chính ở đó, mỗi Kitô hữu được mời gọi trở thành nơi Lời dựng lều.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ mang Lời cho thế gian; Ngài là Ngôi Lời. Điều Thiên Chúa nói sau cùng với nhân loại không còn là một giáo huấn, nhưng là một Con Người. Thập giá là nơi Ngôi Lời bị khước từ; Phục Sinh là nơi Ngôi Lời cất tiếng sau hết. Kết hợp với Đức Kitô là để đời mình trở thành tiếng nói của Ngài giữa thế gian. Vì thế, nơi Đức Kitô, ‘mất đầu – không mất lời’ không còn là một bi kịch, nhưng là tiếng nói sau cùng của một tình yêu mạnh hơn sự chết.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho lòng con đủ thinh lặng để thấm nhuần Lời; đủ trung tín để gìn giữ Lời; và đủ yêu mến để đời con trở thành chứng nhân!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XVII Thường Niên, Năm Chẵn:

Vua Hê-rô-đê sai người vào ngục chặt đầu ông Gio-an. Môn đệ ông đi báo tin cho Đức Giê-su.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, tiểu vương Hê-rô-đê nghe danh tiếng Đức Giê-su, 2 thì nói với những kẻ hầu cận rằng : “Đó chính là ông Gio-an Tẩy Giả ; ông đã từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ.”

3 Số là vua Hê-rô-đê đã bắt ông Gio-an, xiềng ông lại, và tống ngục vì chuyện bà Hê-rô-đi-a, vợ ông Phi-líp-phê, anh của nhà vua. 4 Ông Gio-an có nói với vua : “Ngài không được phép lấy bà ấy.” 5 Vua muốn giết ông Gio-an, nhưng lại sợ dân chúng, vì họ coi ông là ngôn sứ. 6 Vậy, nhân ngày sinh nhật của vua Hê-rô-đê, con gái bà Hê-rô-đi-a đã biểu diễn một điệu vũ trước mặt quan khách, làm cho nhà vua vui thích. 7 Bởi đó, vua thề là hễ cô xin gì, vua cũng ban cho. 8 Nghe lời mẹ xui bảo, cô thưa rằng : “Xin ngài ban cho con, ngay tại chỗ, cái đầu ông Gio-an Tẩy Giả đặt trên mâm.” 9 Nhà vua lấy làm buồn, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên truyền lệnh ban cho cô. 10 Vua sai người vào ngục chặt đầu ông Gio-an. 11 Người ta đặt đầu ông trên mâm, mang về trao cho cô, và cô ta đem đến cho mẹ. 12 Môn đệ ông đến lấy thi hài ông đem đi mai táng, rồi đi báo cho Đức Giê-su.


 

Tất cả mục đích của giáo lý và lời giảng dạy phải được đặt trong Tình Yêu vĩnh cửu…- Cha Vương

Chúc bạn và gia đình ngày Thứ 5 tràn đầy Tình Yêu của Thiên Chúa, đừng quên dành ra một chút thời gian để tâm sự với Chúa nhé. Nhớ cậu Nguyện cho nhau và thể giới đầy tình yêu thương nhé

Cha Vương

Thứ 5: 30/07/2026.    (t6-21)

GIÁO LÝ:  Tất cả mục đích của giáo lý và lời giảng dạy phải được đặt trong Tình Yêu vĩnh cửu… điều chính yếu là phải làm nổi bật lòng yêu mến Chúa, để mọi người hiểu rằng mọi hành vi tốt theo đúng nghĩa Kitô giáo không có nguồn gốc nào khác ngoài Tình Yêu và không có cùng đích nào khác ngoài Tình Yêu. (SGLHTCG, số 25)

SUY NIỆM: Trên hết mọi sự là ĐỨC ÁI! Đức ái là thước đo rõ ràng nhất để bạn kiểm tra sự tiến bộ của mình trong cuộc sống hằng ngày và đời sống đức tin. Mặc dù bạn thuộc lòng toàn bộ Sách Giáo Lý Công Giáo hoặc làm được tất cả mọi việc, nếu bạn không có đức ái, thì việc làm của bạn cũng chẳng có lợi ích gì. Vậy đức ái là gì? Là nhân đức dạy ta biết yêu thương, phục vụ và tha thứ cho người khác, theo gương Chúa Giêsu Kitô.

❦ Xét về tự nhiên: Tứ hải giai huynh đệ. Người trong bốn biển đều là anh em. Vì thế, cần cổ võ tình thương nhân loại, tình người, tình nghĩa anh em, tình đồng loại…

❦ Xét về siêu nhiên: Từ Cựu Ước đến Tân Ước. Thiên Chúa luôn dạy dỗ Dân Chúa, cũng như tất cả chúng ta: Hãy yêu thương nhau, như Chúa đã yêu thương chúng ta.

❦ Nền tảng của Đức ái chính là Thiên Chúa: Thiên Chúa là Tình Yêu, ai biết yêu thương là đang trở nên giống như Thiên Chúa.

Ước mong bạn hãy cố gắng trở nên giống như Chúa mỗi ngày.

LẮNG NGHE: Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng… Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được. (1 Cr 13:1, 4-8)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin hãy biến đổi tim con nên giống như trái tim của Chúa để con có một tình yêu sâu sắc và chân thành đối với mọi người con gặp gỡ hôm nay.

THỰC HÀNH: Quyết tâm dâng trí lòng, hồn xác, mọi tài năng trong ngoài để kính mến Chúa, và làm mọi việc chỉ vì vinh Danh Chúa mà thôi.

From: Do Dzung

https://www.youtube.com/watch?v=v-G9eQckkFk

Tình Yêu Của Chúa – Dao Do

HÔM QUA CHE KHUẤT HÔM NAY – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Bởi đâu ông ta được như thế?”.

“Chúng ta phải luôn luôn gột rửa cửa sổ của mình, để những gì quá quen thuộc không che khuất điều kỳ diệu!” – J. R. R. Tolkien.

Kính thưa Anh Chị em,

Đôi khi, chính điều quá quen lại che khuất điều kỳ diệu. Tin Mừng hôm nay kể ra một bi kịch như thế. Đồng hương của Chúa Giêsu biết rất rõ về Ngài, nhưng lại không nhận ra Đấng Messia đang đứng giữa họ. Họ để ‘hôm qua che khuất hôm nay’.

“Bởi đâu ông ta được như thế?”. Bản Hy Lạp viết póthen – “bởi đâu, từ đâu”. Trong Matthêu, đó không chỉ là câu hỏi về những gì Chúa Giêsu làm, mà còn về chính Ngài là ai. Người Nazareth tưởng mình đã biết câu trả lời: con bác thợ mộc, con bà Maria, anh em ông, chị em ông… Nhưng Matthêu đã trả lời ngay từ chương đầu: “Bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần”. Họ chỉ dừng ở nguồn gốc trần thế, trong khi mặc khải mở ra chiều kích mầu nhiệm. Vì thế, họ đã biến điều mình biết thành giới hạn của điều mình có thể tin.

Chúa Giêsu không biện minh; Ngài chỉ lặng lẽ nói: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương và trong gia đình mình”. Ngài không phủ nhận những gì họ biết về mình, cũng không dùng một phép lạ để buộc họ phải tin. Thiên Chúa không phá vỡ dáng vẻ bình thường của Con Một để cưỡng ép đức tin; trái lại, Ngài để mầu nhiệm lớn nhất của lịch sử cứu độ lớn lên trong một gia đình đơn sơ, một làng quê vô danh và một nghề nghiệp bình dị. Bởi lẽ, tình yêu không cần ánh hào quang để chứng minh. “Chỉ có tình yêu mới đáng để người ta tin!” – Hans Urs von Balthasar.

Một tình yêu không cần ánh hào quang cũng là một tình yêu chấp nhận bị khước từ. Giêrêmia chỉ nói điều Chúa truyền, nhưng người ta đã túm lấy ông và quát lên: “Thế nào ông cũng phải chết!” – bài đọc một. Ngôn sứ không bị khước từ vì nói sai, nhưng vì nói đúng; chân lý không làm con người khó chịu vì thiếu sức thuyết phục, nhưng vì đòi họ phải thay đổi. Từ Giêrêmia đến Chúa Giêsu, rồi đến chúng ta hôm nay, Thiên Chúa không ngừng gõ cửa lòng người bằng sự thật, nhưng chưa bao giờ phá cửa để bước vào.

Phần chúng ta, ký ức giúp nhận ra một người anh em, nhưng cũng có thể giữ họ mãi trong định kiến. Điều đã biết trở thành lăng kính của điều đang thấy. Vì thế, điều Thiên Chúa đang thực hiện và muốn nói với chúng ta qua họ rất dễ bị che khuất. “Đức Kitô trong lời của người anh em mạnh hơn Đức Kitô trong trái tim của chính chúng ta!” – Dietrich Bonhoeffer.

Anh Chị em,

Đức Kitô không ngừng vượt quá những gì chúng ta hiểu về Ngài. Ngày xưa, người Nazareth chỉ thấy một bác thợ mộc; ngày nay, chúng ta cũng có thể chỉ thấy một thói quen đạo đức, một nghi thức phụng vụ hay một khuôn mặt quá quen. Đức tin không phải là biết thêm về Đức Kitô, nhưng là luôn để Ngài mặc khải chính mình vượt quá mọi hiểu biết. Chỉ khi đó, cái nhìn của đức tin mới mở ra cho điều Thiên Chúa đang tỏ bày.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để điều con biết ngăn con gặp Chúa; cho con nhận ra Chúa trong những điều rất quen, trong những con người rất gần!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

********

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XVII Thường Niên, Năm Chẵn:

https://sl1nk.com/kz5w13m

Ông không phải là con bác thợ sao ? Bởi đâu ông làm được những phép lạ như thế ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.        Mt 13,54-58

54 Khi ấy, Đức Giê-su về quê, giảng dạy dân chúng trong hội đường của họ, khiến họ sửng sốt và nói : “Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và làm được những phép lạ như thế ? 55 Ông không phải là con bác thợ sao ? Mẹ của ông không phải là bà Ma-ri-a ; anh em của ông không phải là các ông Gia-cô-bê, Giô-xếp, Si-môn và Giu-đa sao ? 56 Và chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ? Vậy bởi đâu ông ta được như thế ?” 57 Và họ vấp ngã vì Người. Nhưng Đức Giê-su bảo họ : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình và trong gia đình mình mà thôi.” 58 Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin.


 

LẮNG NGHE TIẾNG CHÚA KHI GẶP KHÓ KHĂN – chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

Ngắm Bức Tranh Lớn

 Sẵn lòng lắng nghe Thiên Chúa và chú ý vào Người trong cầu nguyện có nghĩa là chúng ta cảm nghiệm hơn sự bình an và niềm vui, không chỉ trong khi chúng ta đang cầu nguyện, nhưng đặc biệt khi những lời cầu nguyện của chúng ta liên kết cách sâu sắc hơn với phần còn lại của cuộc sống chúng ta. 

Việc xét mình cách thường xuyên giúp chúng ta ngày càng nhận thức hơn về nhu cầu thống hối tội lỗi của mình – những tội lỗi mà chúng ta thậm chí có thể không chú ý trước khi chúng ta ngước nhìn lên Chúa Giêsu Kitô như mẫu gương và mục đích của chúng ta – và hoa trái của việc thực hành này cũng sẽ mang lại bình an và niềm vui cho chúng ta.

 Tuy nhiên, việc gia tăng sự bình an và niềm vui và thậm chí, chúng ta dám nói điều đó, sự thánh thiện không có nghĩa là chúng ta sống trên mây, không phải chịu ảnh hưởng bởi sự đau đớn, thất bại và thất vọng.  Chúng ta cần tỉnh táo để nghe Thiên Chúa nói, không chỉ trong những sự cao cả của sự bình an tôn giáo và sự thành công bên ngoài, nhưng còn trong cả những cuộc chiến đấu và các vấn đề của cuộc sống.

 Câu chuyện về Giuse (x. St 37,39-50), một trong những tường thuật dài nhất trong Cựu ước, cho thấy cách Thiên Chúa đã dùng con người này để cứu toàn thể gia đình của ông – tuy điều này xảy ra chỉ qua một chuỗi những biến cố đau khổ.  Trước hết, Giuse rõ ràng được Thiên Chúa và cha cậu là Giacóp yêu thương, ưu ái.  Những quần áo đặc biệt từ cha cậu cùng với những giấc mơ đặc biệt từ Thiên Chúa, những giấc mơ cho biết rằng Giuse một ngày kia sẽ cai trị trên các anh cậu.  Thay vì chấp nhận những giấc mơ này như ý của Thiên Chúa, các anh lại bán Giuse làm nô lệ, một bước nhỏ trong kế hoạch ban đầu để giết ông.  Là một nô lệ ở Ai Cập, Giuse hoàn toàn tiến xa trong gia đình của Potipha – dường như rất tốt.  Vợ của Potipha cố dụ dỗ Giuse nhưng thất bại vì ông là người quá nhân đức, không nỡ phạm tội chống lại chủ mình.  Nhân đức này đã được báo đáp bởi những lời cáo buộc hiếp dâm của người đàn bà này, sau đó Giusu bị bỏ tù.  Trong khi ở tù, Giuse đã giải thích cách chính xác những giấc mơ của hai viên chức hoàng gia, người nướng bánh chính và hầu rượu của Pharaô.  Một thời điểm đáng kể sau đó, người hầu rượu của hoàng gia đã giới thiệu Giuse với Pharaô, vua bị phiền toái ghê gớm bởi hai giấc mơ của chính mình.  Lời giải thích của Giuse về bảy năm mùa màng bội thu được theo sau bởi bảy năm đói kém nghiêm trọng đã xảy ra đúng như thế, do vậy ông được chỉ định làm Đại Tể Tướng Ai Cập, vị trí thứ hai chỉ sau Pharaô.  Trong suốt bảy năm đói kém, các anh của Giuse đến với ông để tìm kiếm lương thực, họ cúi lạy ông như trong những giấc mơ thời thơ ấu của ông.  Họ không nhận ra ông, nhưng cuối cùng ông đã tiết lộ chính mình, được hòa giải và gặp lại cha mình, là Giacóp.

 Không có gì trong những điều này đã xảy ra nếu các anh em Giuse không bán ông làm nô lệ.  Sẽ không có việc Giuse lên nắm quyền nếu ông đã không bị cáo buộc cách sai trái về tội hiếp dâm và bị bỏ tù cùng với các viên chức hoàng gia.  Nếu không bị bỏ tù, Giuse sẽ không ở vào vị trí phân phát lương thực trong bảy năm đói kém và cứu chính gia đình ông cũng như những người Ai Cập.  Giuse cuối cùng đã nhận ra kế hoạch của Thiên Chúa, như ông công bố với các anh em của mình trong Sách Sáng Thế chương 45,5-8.

 “Nhưng bây giờ, các anh đừng buồn phiền, đừng hối hận vì đã bán tôi sang đây: chính là để duy trì sự sống mà Thiên Chúa đã gửi tôi đi trước anh em.  Thật vậy, đây là năm thứ hai có nạn đói trong xứ, và sẽ còn năm năm nữa không cày không gặt.  Thiên Chúa đã gửi tôi đi trước anh em, để giữ cho anh em một số người sống sót trong xứ, và để cứu sống anh em, nhằm thực hiện cuộc giải thoát vĩ đại. Vậy không phải các anh đã gửi tôi đến đây, nhưng là Thiên Chúa.  Người đã đặt tôi làm cha của Pharaô, làm chúa tất cả triều đình, và làm tể tướng trên khắp cõi Aicập” (St 45,5-8).

 Một Kế Hoạch Lớn Hơn

Thật tốt khi chúng ta đọc toàn bộ câu chuyện trong Sách Sáng Thế bởi vì nó được viết rất hay.  Các bản văn thực sự chỉ ra những chi tiết quan trọng và tuyệt vời mà bản tóm tắt của chúng tôi nhất thiết bỏ qua.  Mỗi chúng ta có thể lắng nghe câu chuyện của Giuse và học cách nhận ra Thiên Chúa đang hành động qua những hoàn cảnh khó khăn và những giai đoạn trong cuộc sống của chúng ta, hãy biết rằng một kế hoạch lớn hơn nhiều có thể đang mở ra – lớn hơn chúng ta có thể tưởng tượng ngay giây phút này.

 Cầu nguyện trong những hoàn cảnh khó khăn không phải lúc nào cũng cất đi sự đau đớn hay giải quyết tình huống.  Chẳng hạn, cầu nguyện không có nghĩa là bạn hoặc những người thân yêu của bạn sẽ không bao giờ mắc bệnh.

 Tôi chưa bao giờ thấy ích lợi khi hỏi “Tại sao là tôi? Tại sao điều này đã xảy ra với tôi?”  Nó đặc biệt vô ích khi câu hỏi là một cách khoa trương để nói với Chúa: “Ngài không bao giờ nên để cho con phải đau khổ.  Lạy Chúa, có chuyện gì xảy ra với Ngài vậy?”  Nếu tôi hỏi tại sao một vấn đề xảy ra cho tôi, thật tốt hơn để hỏi điều đó trong cách cầu nguyện: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì trong tình huống này?  Sứ mạng Chúa dành cho con bây giờ là gì?  Có người nào đó, có lẽ là một bác sĩ, một y tá hoặc một bệnh nhân, người mà Chúa muốn con nói chuyện với?  Phải chăng Chúa muốn dùng hoàn cảnh này để giúp con giới thiệu ai đó khác cho Chúa?  Ý của Chúa trong tình huống này là gì?”

 Đối với những người cầu nguyện, dường như là một thất bại của đức tin khi họ trải nghiệm sự đau đớn, những vấn đề và sự đau khổ trong cuộc sống, bởi vì họ mong đợi Thiên Chúa ngăn cản những vấn đề như thế cho những người mà Người yêu thương.  Tuy nhiên, Chúa cho phép những điều như thế xảy ra cho những kẻ Người yêu thương, từ Người Con của mình là Đức Giêsu Kitô đến kẻ tội lỗi nhất trong chúng ta.  Nhưng khi chúng ta nhận ra những điều tốt đẹp đã được thực hiện trong những tình huống khó khăn này, chúng ta sẽ tốt hơn để lắng nghe Thiên Chúa khi ở giữa những hoàn cảnh ấy.

 Đây là bài viết đã được trích ra từ cuốn sách có tên là Làm Cách Nào để Lắng Nghe khi Thiên Chúa Nói, tác giả là Cha Mitch Pacwa (The Word Among Us Press, 2011), có thể truy cập tại www.wau.org/books.

 Mitch Pacwa – chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

Nguồn: WAU

From:  ngocnga_12 & NguyenNThu


 

KHO KHÔNG KHOÁ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Về Nước Trời, thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ”.

“Chân lý là một ngọn lửa; nó chỉ sống khi được trao đi!” – Hans Urs von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Ngọn lửa chỉ sáng khi được chuyền đi; nhốt lại, nó sẽ tắt. Chân lý cũng thế. Nước Trời không lớn lên nhờ những kho báu được cất kín, nhưng nhờ những ‘kho không khoá’.

“Chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình”. Bản Hy Lạp viết ekbállei – “đưa ra, lấy ra”, một động từ diễn tả một chuyển động mạnh từ bên trong ra bên ngoài. Chúa Giêsu không ca ngợi một kho tàng đầy ắp, nhưng ca ngợi một người chủ dám lấy ra. Điều làm nên người chủ không phải là sở hữu kho báu, nhưng là đưa kho báu ấy ra dòng chảy sự sống. Chỉ khi ấy, kho tàng đức tin mới không trở thành một viện bảo tàng, nhưng là một nguồn sống luôn mở ra.

Nhưng kho tàng ấy là gì? Không phải vàng bạc châu báu, nhưng là chính sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa. Lời Chúa, đức tin và truyền thống Hội Thánh chỉ có ý nghĩa vì làm cho sự hiện diện ấy trở nên hữu hình, có thể sờ đụng: “Phúc thay người được Chúa Trời nhà Giacóp phù hộ!” – Thánh Vịnh đáp ca. Chính sự hiện diện cứu độ ấy là kho tàng càng được trao ban càng thêm phong phú, càng được chia sẻ càng sinh nhiều hoa trái.

Kho tàng ấy không ngừng trẻ lại; không phải là một di sản của quá khứ, nhưng là sự hiện diện của Đức Kitô hằng sống. Hai ngàn năm đã trôi qua, Tin Mừng vẫn không ngừng soi sáng những khát vọng mới của con người. Không phải vì Tin Mừng thay đổi, nhưng vì Đấng Phục Sinh không ngừng đổi mới những ai được Ngài chạm đến. Chỉ những gì tách khỏi Ngài mới già cỗi. Vì thế, Hội Thánh trao ban kho tàng đức tin không phải để lưu giữ quá khứ, nhưng để đem sự sống của Đức Kitô đến cho hiện tại và mở ra tương lai.

Phần chúng ta, điều quan trọng không phải là chọn cái cũ hay cái mới, nhưng là nhận ra điều gì dẫn con người đến gần Đức Kitô hơn. Chúa Thánh Thần không để Hội Thánh chạy theo cái mới hay níu giữ cái cũ, nhưng ban ơn phân định để luôn trung thành với chân lý và đáp ứng những khát vọng của con người hôm nay. “Đừng sợ sự mới mẻ của Tin Mừng hay sự đổi mới mà Chúa Thánh Thần thực hiện!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Đức Kitô là Kho Tàng tối hậu của Chúa Cha; nơi Ngài, mọi kho tàng của Nước Trời được mở ra trọn vẹn trên thập giá. Hội Thánh không có kho tàng nào khác ngoài chính Ngài. Vì thế, điều Ngài chờ đợi không phải là chúng ta làm mới Hội Thánh, nhưng là để Ngài không ngừng làm mới lòng chúng ta. Lúc đó, chúng ta mới biết lấy ra từ Kho Tàng ấy “cả cái mới lẫn cái cũ” để phục vụ tha nhân. Một trái tim đầy Đức Kitô sẽ tự nhiên trở thành một ‘kho không khoá’, luôn biết trao đi điều mình đã lãnh nhận. “Người giàu không phải là người sở hữu, nhưng là người biết trao ban!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin làm mới lòng con mỗi ngày, để con không giữ Chúa cho riêng mình, nhưng biết trao ban sự hiện diện cứu độ của Ngài bằng chính đời sống con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần XVII Thường Niên, Năm Chẵn:

https://l1nq.com/egiq1eq

Người ta nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.          Mt 13,47-53

47 Khi ấy, Đức Giê-su kể cho dân chúng nghe dụ ngôn này : “Nước Trời giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. 48 Khi lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài. 49 Đến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, 50 rồi quăng chúng vào lò lửa ; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng.

51 “Anh em có hiểu tất cả những điều ấy không ?” Họ đáp : “Thưa hiểu.” 52 Người bảo họ : “Bởi vậy, bất cứ kinh sư nào đã được học hỏi về Nước Trời, thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ.”

53 Khi Đức Giê-su kể các dụ ngôn ấy xong, Người đi khỏi nơi đó.


 

SỐNG NIỀM HY VỌNG NGÀY CÁNH CHUNG – Tác giả: Lm. Anmai, CSsR 

 Vũ Quốc Thịnh

Tác giả: Lm. Anmai, CSsR 

Sau khi giải tán đám đông, Chúa Giêsu trở về nhà. Chính trong không gian thân tình ấy, các môn đệ đến gần và xin Người giải thích dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng. Chúa không chỉ giải thích một câu chuyện, nhưng dẫn các ông đi sâu vào mầu nhiệm lịch sử cứu độ, vào cuộc chiến âm thầm nhưng quyết liệt giữa ánh sáng và bóng tối, giữa điều thiện và sự dữ, giữa công trình của Thiên Chúa và sự phá hoại của ma quỷ. Người nói rõ: “Kẻ gieo giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ” (Mt 13,37-39). Như thế, thế giới này không nằm ngoài bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Dẫu có những lúc sự dữ dường như lan tràn, bóng tối như bao phủ, gian ác như thắng thế, thì Thiên Chúa vẫn là Chủ của cánh đồng, là Đấng làm chủ mùa gặt và là Đấng định đoạt chung cuộc của lịch sử. Ma quỷ có thể gieo cỏ lùng, nhưng không thể cướp quyền làm chủ khỏi tay Thiên Chúa. Sự dữ có thể gây đau khổ, có thể làm con người hoang mang, có thể làm cho lúa tốt bị chen lấn, nhưng sự dữ không bao giờ có tiếng nói cuối cùng.

Dụ ngôn cỏ lùng mặc khải cho chúng ta mầu nhiệm Nước Trời vừa “đã hiện diện” nhưng vẫn “chưa hoàn tất”. Nước Thiên Chúa đã đến trong Đức Kitô, đã hiện diện qua lời giảng dạy, qua những phép lạ, qua thập giá và sự phục sinh của Người. Thế nhưng, Nước ấy chỉ được hoàn tất trọn vẹn trong ngày cánh chung, khi mọi quyền lực sự dữ bị tiêu diệt và Thiên Chúa trở nên tất cả trong mọi sự. Vì thế, giữa thời gian hiện tại, chúng ta vẫn phải sống trong một thế giới có lúa tốt lẫn cỏ lùng, có ánh sáng lẫn bóng tối, có thánh thiện lẫn tội lỗi, có yêu thương lẫn hận thù. Thiên Chúa không lập tức nhổ bỏ mọi sự dữ, không phải vì Người bất lực, cũng không phải vì Người dung túng cho tội lỗi, nhưng vì Người kiên nhẫn và giàu lòng thương xót. Người “không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn mọi người ăn năn sám hối” (2 Pr 3,9). Sự chậm trễ của Thiên Chúa không phải là dấu hiệu Người quên lời hứa, nhưng là cơ hội để con người quay về. Hôm nay người ta còn là cỏ lùng, nhưng nhờ ân sủng, ngày mai họ có thể trở thành lúa tốt. Hôm nay một người còn yếu đuối, tội lỗi, lạc xa, nhưng ngày mai có thể trở nên chứng nhân của lòng thương xót. Vì thế, khi Thiên Chúa chưa khép lại lịch sử, con người cũng không có quyền khép lại tương lai của bất cứ ai.

Thánh Gioan Kim Khẩu đã nhận định rằng Thiên Chúa không nhổ cỏ lùng ngay vì lòng thương xót của Người luôn để ngỏ con đường hoán cải. Người không muốn tiêu diệt con người tội lỗi, nhưng muốn tiêu diệt tội lỗi trong con người. Người không muốn khép lại đời ai trong thất vọng, nhưng muốn mở ra cho họ một con đường trở về. Thánh Augustinô cũng nhấn mạnh rằng Hội Thánh tại thế luôn là một cánh đồng có người thánh thiện và người tội lỗi cùng hiện diện. Hội Thánh không phải là cộng đoàn của những người hoàn hảo, nhưng là cộng đoàn của những con người đang được chữa lành, đang được thanh luyện, đang trên đường trở nên thánh. Bởi vậy, chúng ta không được chiếm lấy quyền phán xét vốn chỉ thuộc về Thiên Chúa. Con người thường nhìn dáng vẻ bên ngoài, còn Thiên Chúa thấu suốt cõi lòng. Ta có thể thấy nơi một người toàn khuyết điểm, nhưng Thiên Chúa lại thấy nơi họ một khả năng hoán cải. Ta có thể nhìn người khác bằng quá khứ của họ, còn Chúa nhìn họ bằng tương lai mà ân sủng có thể thực hiện. Ta có thể đóng khung một người trong lỗi lầm, còn Chúa vẫn mở cửa và chờ họ trở về.

Tuy nhiên, lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa không có nghĩa là ngày phán xét sẽ không đến. Chúa Giêsu nói rõ: “Mùa gặt là ngày tận thế” (Mt 13,39). Sẽ có một ngày lịch sử khép lại, mọi mặt nạ rơi xuống, mọi điều kín ẩn được phơi bày, mọi lựa chọn của con người được đặt trước ánh sáng của sự thật. Con Người sẽ sai các thiên thần thi hành cuộc phán xét chung. Những gì thuộc về sự dữ sẽ bị loại bỏ, còn “bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời trong Nước của Cha họ” (Mt 13,43). Đây không phải là hình ảnh nhằm gieo sợ hãi, nhưng là lời khẳng định về công lý của Thiên Chúa. Những người sống ngay lành có thể bị thiệt thòi hôm nay, những người trung tín có thể âm thầm chịu đau khổ, những người bảo vệ sự thật có thể bị hiểu lầm, nhưng không một giọt nước mắt nào của họ bị quên lãng. Thiên Chúa sẽ trả lại công bằng cho những ai bị chà đạp, trả lại danh dự cho những ai bị vu khống, và làm cho những người trung tín được sáng chói trong Nước của Người. Ngày cánh chung vì thế không chỉ là ngày phán xét, nhưng còn là ngày của hy vọng, ngày sự thật chiến thắng, ngày tình yêu được hoàn tất, ngày mọi đau khổ của người công chính được biến thành vinh quang.

Sống niềm hy vọng ngày cánh chung không có nghĩa là chỉ ngồi chờ một tương lai xa xôi. Niềm hy vọng ấy phải biến đổi cách chúng ta sống hôm nay. Bởi ngày phán xét chưa đến nên hôm nay vẫn là thời gian của ân sủng. Hôm nay ta còn có thể trở về, còn có thể làm lại, còn có thể xin lỗi, tha thứ, chấm dứt một thói quen xấu, sửa chữa một bất công và bắt đầu một đời sống mới. Hôm nay ta còn có thể để cho Lời Chúa đi vào lòng và biến đổi mình. Chúa nói: “Ai có tai thì hãy nghe” (Mt 13,43). Nghe không chỉ bằng đôi tai, nhưng bằng cả trái tim. Nghe để nhận ra trong mình có những cỏ lùng nào đang mọc lên. Có thể đó là tính kiêu ngạo khiến ta luôn cho mình đúng; sự ganh ghét khiến ta không vui trước thành công của người khác; thói giả hình khiến ta bên ngoài đạo đức nhưng bên trong đầy toan tính; lòng ích kỷ khiến ta chỉ nghĩ đến bản thân; sự thỏa hiệp khiến ta biết điều sai mà vẫn làm vì lợi ích riêng. Những cỏ lùng ấy nếu không được nhận diện và loại bỏ sẽ dần bóp nghẹt hạt giống tốt mà Chúa đã gieo trong tâm hồn.

Bởi vậy, điều cần làm trước hết không phải là nhìn vào cánh đồng của người khác để tìm cỏ lùng, nhưng là cúi xuống cánh đồng lòng mình. Ta thường dễ dàng nhận ra khuyết điểm của người khác nhưng lại rất khó nhìn thấy bóng tối của bản thân. Ta có thể lên án người này nóng nảy nhưng không thấy mình cay nghiệt; trách người kia ích kỷ nhưng không nhận ra mình chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng; phê phán người khác giả hình nhưng quên rằng nhiều khi chính ta cũng sống hai mặt. Lời Chúa hôm nay mời gọi ta phải thành thật với chính mình, khiêm tốn xin Chúa soi sáng và can đảm nhổ bỏ những gì không thuộc về Nước Trời. Công việc ấy không dễ dàng, vì cỏ lùng thường mọc rất sâu trong thói quen và bản tính. Nhưng với ân sủng Chúa, không có tội lỗi nào không thể vượt qua, không có vết thương nào không thể chữa lành, không có quá khứ nào không thể được đổi mới.

Đồng thời, dụ ngôn cũng dạy chúng ta phải kiên nhẫn trước những yếu đuối của tha nhân. Kiên nhẫn không phải là dung túng cho cái xấu, cũng không phải là im lặng trước bất công. Kiên nhẫn là biết phân biệt giữa con người và lỗi lầm của họ, là biết góp ý trong yêu thương, sửa dạy trong khiêm tốn và cầu nguyện trong hy vọng. Có những người thay đổi không phải vì bị kết án, nhưng vì được yêu thương. Có những tâm hồn trở về không phải vì bị xua đuổi, nhưng vì có người kiên nhẫn chờ đợi. Có những người bước ra khỏi bóng tối chỉ vì họ gặp được một ánh mắt không khinh miệt, một bàn tay không loại trừ và một lời nói không làm họ tuyệt vọng. Chúng ta không thể biến cỏ lùng thành lúa tốt bằng sự cay nghiệt, nhưng có thể cộng tác với ân sủng Chúa bằng lòng thương xót, lời cầu nguyện và một đời sống chứng tá.

Người Kitô hữu sống giữa thế gian nhưng không thuộc về tinh thần thế gian. Chúng ta vẫn sống trong cánh đồng có nhiều cỏ lùng, nhưng được mời gọi trở thành những bông lúa tốt. Lúa tốt không cần ồn ào, chỉ cần trung thành lớn lên, âm thầm hút lấy nhựa sống từ lòng đất và ánh sáng từ trời cao, rồi đến mùa sẽ trổ sinh bông hạt. Cũng vậy, người môn đệ của Chúa không cần chứng minh mình hơn người khác, nhưng cần trung thành sống yêu thương, công chính, khiêm nhường và phục vụ. Giữa một thế giới đầy gian dối, hãy sống chân thật. Giữa một xã hội đầy hận thù, hãy gieo bình an. Giữa một môi trường thích kết án, hãy sống lòng thương xót. Giữa những người chỉ biết nghĩ cho mình, hãy biết hy sinh. Mỗi việc tốt âm thầm hôm nay chính là một hạt giống cho mùa gặt mai sau.

Niềm hy vọng ngày cánh chung giúp chúng ta không thất vọng trước sự dữ và cũng không kiêu ngạo về sự thiện mình đang có. Ta không thất vọng vì biết sự dữ rồi sẽ bị đánh bại. Ta không kiêu ngạo vì biết mọi điều tốt lành nơi mình đều nhờ ân sủng. Ta không vội kết án vì biết quyền phán xét thuộc về Thiên Chúa. Ta không trì hoãn hoán cải vì biết mùa gặt sẽ đến vào giờ ta không ngờ. Hãy sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng, nhưng cũng hãy yêu thương như thể ta còn cả một đời để làm điều tốt. Hãy để Lời Chúa thanh luyện ta, để khi mùa gặt đến, ta được tìm thấy không phải là một bông lúa trống rỗng, nhưng là bông lúa trĩu hạt của lòng tin, đức cậy và đức mến. Khi ấy, ta sẽ không sợ ngày cánh chung, nhưng sẽ đón ngày ấy như cuộc gặp gỡ với Đấng ta đã yêu mến và trung thành chờ đợi suốt cả cuộc đời.

Tác giả: Lm. Anmai, CSsR 


 

KHÔNG PHẢI ĐIỀU GÌ, NHƯNG LÀ AI – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh – Tgp. Huế

“Chị có tin thế không?”; “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô!”.

Đức tin, về nhiều mặt, như chiếc xe cút kít. Cách đơn sơ, bạn phải thực sự đẩy nó để nó có thể hoạt động. Nếu không sống nó; bạn không tin nó!

Kính thưa Anh Chị em,

Có những điều chỉ thực sự hiện hữu khi chúng ta dám đặt sức nặng đời mình lên đó. Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta đến cốt lõi của đức tin: ‘không phải điều gì, nhưng là Ai’.

“Chị có tin thế không?”. Câu hỏi Chúa Giêsu dành cho Matta không khởi đi từ một giáo huấn cần ghi nhớ, nhưng từ một Ngôi Vị đang hiện diện. Thần học gọi đó là chuyển động từ fides quae – ‘điều chúng ta tin’, sang fides qua – ‘cách chúng ta tin’. Nói khác đi, đức tin không dừng ở những chân lý về Thiên Chúa, nhưng đưa chúng ta đến chính Ngài. “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một ý tưởng, nhưng là cuộc gặp gỡ với một Ngôi Vị!” – Bênêđictô XVI.

Matta không trả lời câu hỏi bằng một công thức, nhưng bằng một lời tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Cô không biết điều gì sẽ xảy ra; nhưng cô nhận ra Đấng mình đang gặp là ai. Đức tin ấy được Gioan tóm tắt: “Ai tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy và người ấy ở lại trong Thiên Chúa!” – bài đọc một. Vì thế, chân lý không còn là một khái niệm cần giải mã, nhưng là một con người để gắn bó. Tin, vì thế, không ở chỗ hiểu, nhưng ở chỗ thuộc về; ‘không phải điều gì, nhưng là Ai’.

Với chúng ta cũng thế. Có thể chúng ta biết nhiều về Thiên Chúa mà vẫn chưa thật sự tin; có thể hiểu rất rõ về Ngài mà vẫn đứng ngoài tương quan với Chúa Kitô. Đức tin không được đo bằng điều chúng ta hiểu, nhưng bằng mức độ chúng ta sống thân tình với Chúa. Chỉ khi ấy, điều được biết mới thôi là một khái niệm, để trở thành một kinh nghiệm sống: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy!” – Thánh Vịnh đáp ca. “Tin Đức Giêsu là để Ngài sống đời sống của Ngài trong ta, làm nhà của Ngài nơi ta!” – Henri Nouwen.

Vấn đề của chúng ta không phải là thiếu hiểu biết, nhưng là biến đức tin thành một điều phải hiểu – hiểu rồi mới tin, nắm rồi mới bước, kiểm soát rồi mới phó mình. Khi đó, đức tin không còn là cuộc gặp gỡ với Chúa, nhưng chỉ còn là một đối tượng để nghiên cứu. Nỗi lầm lớn nhất là mải miết nắm giữ những điều mình biết về Thiên Chúa, nhưng lại không để Ngài bước vào đời mình. Karl Rahner từng cảnh báo: “Người Kitô hữu của tương lai sẽ là một người có kinh nghiệm về Thiên Chúa, hoặc sẽ không tồn tại!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đến để chúng ta biết về Chúa nhiều hơn, nhưng để đưa chúng ta vào chính sự sống của Ngài ngày càng mật thiết hơn. Ngài không trao thêm lời giải thích, nhưng trao chính mình để chúng ta tin. Từ đó, đức tin không còn là nỗ lực nắm bắt, nhưng là để mình được Thiên Chúa nắm lấy; không còn là chiếm hữu một điều gì, nhưng là được chính Thiên Chúa đón nhận.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con thuộc về Chúa hơn là biết về Chúa; phó mình cho Chúa hơn là cậy sức mình; và luôn sống dưới ánh mắt Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh – Tgp. Huế

************

Lời Chúa 29/7 Thánh Matta, Maria và Lazarô, Thứ Tu Tuần XVII Thường Niên

Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.       Ga 11,19-27 

19 Khi ấy, nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô là La-da-rô mới qua đời. 20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”


 

NGUY CƠ CỦA QUÁ AN TOÀN – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Tôi thường hay được nhắc nhở là phải thận trọng cả hồn lẫn xác: “Cẩn thận!  Đừng mắc sai lầm!  Hãy thận trọng!  Đừng làm điều gì khiến mình phải hối tiếc!”  Đúng là tôi đã hấp thụ những lời này ngay từ khi còn nhỏ, những năm học ở trường dòng, và phần lớn những năm tháng làm linh mục.  Đây cũng là những lời trối trăn cuối cùng của cha tôi, cha tôi là một trong những người đàn ông chân thật nhất mà tôi được biết.  Đêm đó, anh tôi và tôi đến bệnh viện thăm cha đang bị bệnh ung thư, sau đó chúng tôi ra về không hề biết sáng sớm hôm sau cha ra đi, cha nhắc chúng tôi: “Cẩn thận nghe!”  Ông nhắc chúng tôi lái xe cẩn thận trên con đường mùa đông đầy băng tuyết.  Lời nhắc nhở này cho thấy cá tính, tâm hồn nhạy cảm và sự lo lắng đúng đắn của ông dành cho con cái, và về mặt tinh thần nó cũng có nghĩa: “Cẩn thận!  Thận trọng!”  Đây là lời nhắc nhở thường xuyên của cha tôi.

 Bây giờ những lời đó là một phần tính di truyền của tôi.  Con cái không những thừa hưởng các đặc tính sinh học của cha mẹ mà còn hơn thế nữa, đặc biệt nếu may mắn có một đấng sinh thành có lập trường đạo đức vững chắc.  Và sự thận trọng đó giúp ích cho tôi rất nhiều.  Tôi biết ơn nó.  Hơn năm mươi năm qua, tôi đã giữ gìn nguyên vẹn cả xác lẫn hồn.  Một món quà không phải là nhỏ. 

 Tuy vậy sự thận trọng đó đôi lúc cũng không tốt cho tôi.  Một người có thể  không sứt mẻ, nhưng thận trọng đến mức nhút nhát, rụt rè nhiều hơn yêu thương thì sự thận trọng đó trở thành tâm điểm cuộc đời họ.  Mối nguy cơ trong việc luôn luôn muốn toàn hảo dễ đi đến tâm trạng giống như tâm trạng của người anh cả của người con hoang đàng, đặt niềm tin cứng ngắc vào mọi sự, nhưng lại hay xét đoán, đố kỵ, gắt gỏng cay chua; không bao giờ thỏa hiệp về mặt đạo đức và tín lý, trong khi lại ham muốn những chuyện phi luân lý và tâm hồn như tê cứng với cuộc sống thật.  Đôi lúc một sự thận trọng được rèn giũa kỹ lưỡng trong từng hành vi là do quả tim cảnh giác nhiều hơn là quảng đại, ham muốn nhiều hơn là khẳng định, xét đoán nhiều hơn là tha thứ.  Đôi lúc nó làm do một quả tim mà yêu thương và tha thứ được xem như phần thưởng chứ không phải cho và nhận không vụ lợi.  Nó là kết quả của một quả tim âm thầm sung sướng khi người khác đi lầm đường vì không sống giống như mình.  Không phải lúc nào cũng như vậy, nhưng nó cũng dễ xảy ra, phải thẳng thắn và khiêm tốn nói thỉnh thoảng trong cuộc đời tôi, tôi cũng vướng vào những trường hợp như vậy.

Goethe, nhà thơ người Đức đã viết: Cuộc sống chứa đựng nhiều nguy cơ, và sự an toàn là một trong những mối nguy cơ đó.  Đối với một vài người thì có lẽ lời nhắc nhở ngược lại mới thích hợp hơn.  Tuy nhiên đối với hầu hết chúng ta, những người luôn được nhắc nhở phải trở nên người tử tế và có đạo thì câu nói của Goethe cũng mang một sự thật làm chúng ta bối rối.

 Có phải chúng ta đang sống quá thận trọng?  Liệu chúng ta có đủ can đảm để nhìn vào những kiềm chế, ghen tương, luận phạt tôn giáo của chúng ta một cách thẳng thắn không?  Có phải cuộc sống của chúng ta bị nỗi sợ hướng dẫn thay vì được tình yêu hướng dẫn không?  Liệu chúng ta có thể yêu đời mà không bị phán xét và cay đắng không?  Người khác có xem chúng ta là những người cứng ngắc không?  Lần cuối cùng chúng ta thật sự tha thứ cho người làm tổn thương mình là lần nào?  Cuộc sống chúng ta có nói lên tình yêu thương và lòng quảng đại hơn là sợ hãi và tự vệ không?  Mối nguy cơ trong việc sống quá thận trọng là đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ cuộc đời nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ sự nghèo nàn của chính đời sống mình, đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ đức hạnh, nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ những kiềm chế và sợ hãi của chính mình, và có khi chúng ta nghĩ chúng ta đang nói về sự quan phòng của Thiên Chúa cho thế gian nhưng, như người anh cả của người con hoang đàng, thật ra chúng ta đáng nói về lòng ghen tương giấu kín trong con người mình.

 Nhân vật nam chính trong bộ phim Những cỗ xe rực lửa là Eric Liddell, một chàng thanh niên hết sức đạo đức, là lực sĩ chạy bộ tham dự Thế Vận Hội Olympic với triển vọng được huy chương vàng, nhưng anh từ chối tham dự cuộc tranh tài vì vòng tranh sơ khởi nhằm vào ngày Chúa Nhật, ngày anh giành cho Chúa.  Rất dễ phê phán việc làm của Eric Liddell là việc làm xuất phát từ nguyên tắc tôn giáo cứng ngắc.  Đối với ai đó thì điều này có thể đúng.  Nhưng đối với Eric Liddell thì không.  Tại sao?  Bởi vì anh không bị cuốn đi bởi nỗi sợ hãi hay nguyên tắc cứng ngắc.  Anh được cuốn đi bởi tình yêu.  “Khi tôi chạy,” anh nói, “tôi cảm thấy niềm vui của Thiên Chúa.”

 Thỉnh thoảng tôi cũng hỏi tôi câu hỏi đó trong mối liên hệ của tôi với tôn giáo và những kiềm chế tinh thần: Liệu Thiên Chúa có vui trong sự thận trọng của tôi?  Liệu Thiên Chúa có vui trong các hy sinh của tôi?  Liệu Thiên Chúa có vui trong những khắc khoải của tôi về những khiếm khuyết đạo đức của thế giới?  Hay có phải Người Cha đang đứng bên cạnh tôi, bên ngoài bàn tiệc, nài nỉ tôi như ông từng nài nỉ với người con cả, con không thể vì cha mà chấp nhận em con sao?

 Tôi biết ơn sự giáo dục tôi được hưởng, dù tính dè dặt bẩm sinh đi kèm với nó không còn ở tôi nữa.  Thận trọng là điều hay.  Đó là cách sống đầy yêu thương và có trách nhiệm.  Nhưng tôi lớn lên một cách thẳng thắn hơn trên các nguy cơ này.  Đa số thời gian tôi như được trọn vẹn, tuy nhiên đôi lúc tôi sợ hãi nhiều hơn quảng đại, tự vệ nhiều hơn yêu thương, ghen tương nhiều hơn quan tâm lành mạnh.  Sự thận trọng đôi lúc đã không cho tôi một quả tim lớn.  An toàn cũng là một mối nguy cơ.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim