Tình yêu, đi theo chúng ta trọn kiếp người”-Truyen ngan HAY

Nguyễn Thái Sơn

“Bà ấy nói: “Đừng gọi bác sĩ, em muốn ngủ yên, với tay anh trong tay em. ” ông ấy nói với bà ấy về quá khứ, cách họ gặp nhau, nụ hôn đầu tiên của họ. Họ không khóc, họ mỉm cười. Họ không hối tiếc bất cứ điều gì, họ rất biết ơn. Rồi bà ấy lặp lại nhẹ nhàng, ‘Em yêu anh mãi mãi! ‘Ông trả lời bà, và trao l một nụ hôn nhẹ lên trán. Rồi bà ấy nhắm mắt lại và ngủ một cách nghẹ nhàng trong tay người mình yêu trọn đời.

Tình yêu là điều quan trọng bởi vì con người đến với thế giới này không có gì khác ngoài tình yêu và ra đi không có gì khác ngoài tình yêu , sự nghiệp, tài khoản ngân hàng, và mọi thứ của chúng ta chỉ là công cụ tiêu khiển cuộc đời, không hơn.

Nhưng, Tình yêu, đi theo chúng ta trọn kiếp người”

HAI ANH EM.-Truyen ngan HAY

Nghệ Lâm Hồng

Anh trai từ bỏ em gái sau khi bố mẹ qua đời và sự thật nghẹn ngào nước mắt…

Khi bố mẹ qua đời, anh trai là chỗ dựa duy nhất của cô bé. Cô ngoan ngoãn nghe lời anh, vì sợ rằng anh cũng sẽ bỏ cô mà đi. Một buổi sáng kia khi tỉnh dậy, cô bé không tìm thấy anh đâu nữa. Trong lòng cô chỉ còn niềm oán hận với người anh bạc bẽo của mình, cho đến một ngày hiểu ra sự thật cô mới òa khóc…

Năm cô 6 tuổi, cô mất cả bố lẫn mẹ, họ bị tai nạn ô tô trong lần về quê thắp hương cho ông bà nội.

6 tuổi, cô chưa thể hiểu hết mọi chuyện đang xảy ra trong gia đình, cô chỉ biết khóc suốt ngày vì bố mẹ không quay về.

Cô còn một người anh trai tên là Nam, cậu bé 14 tuổi, dáng người to cao giống bố. Lúc bố mẹ mất, cậu không khóc, không gào thét mà chỉ ôm chặt cô em gái vào lòng cho đến khi ngủ thiếp đi.

Suốt ngày cô đều theo sau anh trai đòi bố, đòi mẹ; cô không thích ăn cơm nửa sống nửa chín của anh trai nấu, không thích mặc bộ đồ nhăn rúm anh trai giặt,…

Kể từ ngày hiểu ra rằng bố mẹ mãi mãi không về, cô bắt đầu dựa dẫm vào anh trai vì sợ anh lại bỏ cô mà đi

Đêm hôm đó, trời đã rất muộn, rất muộn nhưng cô không chịu ngủ mà ngồi dậy kéo anh trai và hét to: “Em muốn gặp mẹ!”.

Bỗng nhiên, Nam kéo cô từ trong chăn ra, hai tay nắm lấy đôi vai bé nhỏ của cô và nói:

“Mẹ mất rồi, đừng có tìm mẹ nữa, bố mẹ đều không còn nữa, họ sẽ không quay về nữa đâu!”.

Giọng nói của Nam vang lên rất to khiến cô phải im lặng vì sợ hãi. Sau đó, cô dần dần hiểu được bố mẹ cô mãi mãi không quay về, cô hiểu được trên thế giới này chỉ còn anh trai là người thân duy nhất của mình.

Nam úp mặt xuống giường và khóc thật to, đó là lần đầu tiên cô nhìn thấy anh trai khóc kể từ ngày bố mẹ mất.

Cô nhẹ nhàng cúi xuống rồi nằm trên lưng anh trai, cô dùng đôi tay bé nhỏ của mình ôm lấy anh, cảm giác ấm áp như ôm bố mẹ vậy.

Cô bắt đầu dựa dẫm vào anh trai giống như trước kia từng dựa vào bố mẹ: đi học, cô đòi anh chở đi; tan học, anh trai phải đến đón cô.

Trường của cô cách nhà khá xa, mỗi buổi sáng Nam đều chở cô đến trường, đến nơi người Nam ướt đẫm mồ hôi. Ngồi trên xe, cô nắm chặt lấy vạt áo của anh không rời, cô không khóc đòi bố mẹ như trước nữa. Trước giờ cô chưa từng nói với anh, kể từ khi hiểu ra rằng bố mẹ mãi mãi không quay về nữa, trong lòng cô luôn bao trùm một nỗi sợ hãi, cô sợ rằng một ngày nào đó, anh trai cũng sẽ rời xa cô.

Cảm giác sợ hãi đó khiến một đứa bé 6 tuổi trở nên ngoan ngoãn, nghe lời đến lạ. Thế rồi, có mơ cô cũng không tưởng tượng được rằng: cuối cùng, anh trai vẫn bỏ rơi cô.

Hôm đó là ngày cuối tuần, mới sáng sớm, Nam đã phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ chăm chút buộc cho cô hai bím tóc, mặc cho cô bộ váy màu trắng mà cô không biết anh mua cho cô từ khi nào, sau đó cô được anh trai dẫn đi công viên chơi rất nhiều trò, ăn rất nhiều món, cho đến khi mệt, cô ngủ say trên lưng anh.

Sáng hôm sau tỉnh dậy, cô thấy mình nằm trên giường của nhà khác, còn anh trai thì không thấy đâu nữa.

Cô hốt hoảng chạy đi tìm anh, sau đó một người hàng xóm mà cô gọi là “thím” nói với cô rằng anh trai cô đi làm thuê rồi, từ nay về sau, cô sẽ sống cùng với gia đình họ. Mặc dù cô biết, chú thím là bạn thân thiết của bố mẹ mình, nhưng cảm giác bị anh trai bỏ rơi lúc này còn tuyệt vọng, đau đớn hơn khi bố mẹ rời đi. Là anh trai đã bỏ rơi cô, cô đã bị anh trai bán lấy tiền, anh trai không cần cô nữa.

Sau khi biết anh trai cũng bỏ đi không về như bố mẹ, cô nhanh chóng thích nghi với cuộc sống mới, có nhiều sự thay đổi. Sự thích nghi nhanh chóng đó mãi đến khi lớn lên, cô nhận ra rằng: đó chính là một kiểu để quên đi đau thương.

Cô chủ động học làm việc nhà, tự giặt quần áo, cô biết đây không phải là nhà của mình, họ không phải người thân của mình, nên cô dần dần cũng không còn có ý nghĩ dựa dẫm vào ai nữa. Kể từ khi anh trai bỏ đi, cô hoàn toàn mất đi quyền được nũng nịu, đòi được yêu chiều. Cô cũng có một người anh trai nữa, người đó hơn cô một tuổi, rất nghịch ngợm và đôi lúc còn bắt nạt cô.

Cũng may là bố mẹ nuôi rất thương cô, mỗi năm họ đều mua quần áo mới cho cô, có đồ ăn ngon cũng luôn để phần. Tình cảm của cô đối với bố mẹ nuôi, có yêu thương, nhưng sự cảm kích, ơn huệ lại là phần nhiều.

Năm cô 11 tuổi, lúc đó cô đang học lớp 4, một buổi tối nọ, cô đang giúp mẹ vá lại chiếc áo, bỗng mẹ nuôi nói:

“Mấy năm nay, con không nhớ Nam sao? Lúc đó, nó còn bé, sao có thể chăm lo cho con được?”

Cô im lặng không nói, đúng vậy, cô không nhớ anh trai, mới nghĩ đến, cô đã thấy hận, vì thế cô không muốn nghĩ. Cô nói với mẹ: “Mẹ à, đừng nhắc đến anh con nữa”.

Mẹ nuôi thở dài, hình như trong lòng vẫn còn điều gì đó muốn nói, nhưng cô đã đi về phòng mất.

Chính xác, cô hận anh, cô không sợ khổ khi đi theo anh, không được đi học thì có gì đáng sợ đâu, cô sẽ theo anh đi kiếm cơm vậy. Nhưng, anh đã đập tan mộng tưởng của cô, đã làm mất đi chỗ dựa của người thân duy nhất, đó chính là sự hủy diệt triệt để, không để lại điều gì cả. Vì thế, cô không thể tha thứ cho anh trai mình.

Năm 16 tuổi, thành tích học tập đứng đầu toàn trường đã giúp cô thi đỗ vào trường cấp ba, người anh lớn hơn cô một tuổi đang học lớp 11.

Một năm sau, khi người anh đó đang chuẩn bị tốt nghiệp cấp ba, bố nuôi nghỉ việc, ông thuê một cửa hàng nhỏ ở chợ để bán rau. Tối hôm đó, đang ngồi học cô khát nước nên đi ra phòng khách uống thì tình cờ nghe được cuộc trò chuyện bên phòng của bố mẹ. Anh trai nuôi nói với mẹ rằng: “Mẹ, con không biết, dù thế nào đi nữa con cũng phải học đại học”.

“Không được, cái Mai học tốt hơn con, nó có khả năng thi đỗ đại học”. Tiếng nói của bố nuôi nhỏ nhẹ nhưng rất quyết đoán.

“Lấy đâu ra tiền mà nuôi hai đứa ăn học cùng một lúc chứ?” Mẹ nuôi nói.

Nghe đến đó, cô vội quay về phòng, cô không muốn nghe gì nữa. Lúc đó, cô quyết định để cho anh trai học đại học, còn cô, học xong cấp ba, cô sẽ đi tìm việc. Bởi, từ khi anh trai bỏ cô mà đi, bố mẹ nuôi đã cho cô quá nhiều, cô không muốn thêm gánh nặng cho họ nữa.

Đáng tiếc là anh trai nuôi của cô thi không đỗ và bố nuôi cô vẫn kiên quyết rằng cô phải vào đại học.

Cô vẫn kiên quyết: “Con không thi đâu, con quyết định rồi!”.

Tranh luận hồi lâu không được, mẹ nuôi cô từ trong bếp nói vọng ra: “Mai à, con bắt buộc phải thi vào đại học. Con có biết không, anh trai con đã gửi đủ số tiền học phí cho con rồi nên con nhất định phải học đại học, đừng phụ lòng nó, nó không dễ dàng gì…”.

Cô ngẩn người.

11 năm sau, lần đầu tiên cô lại tìm về hồi ức của anh trai mình.

Bố mẹ nuôi nói với cô: “Năm đó, anh trai con biết: một đứa trẻ 14 tuổi như nó, sẽ không có khả năng để nuôi em gái, nên nó mới quyết định ra ngoài đi làm kiếm cơm, còn gửi con lại cho bố mẹ. Nó đã bán nhà và đưa hết số tiền đó cho bố mẹ, bởi nó tin rằng bố mẹ sẽ chăm sóc tốt cho con. Buổi sáng sớm hôm đó, trước khi rời đi, anh con ôm con đang ngủ say trong lòng và đưa cho mẹ bế, sau đó nó nhìn con và hứa rằng: “Thím à, con nhất định sẽ về đón em con, mong thím chăm sóc tốt cho nó…”.

“Từ khi con bắt đầu lên lớp 4, mỗi tháng nó đều gửi tiền về cho mẹ, bố mẹ cũng tích góp lại cho nó. Là bố mẹ vô dụng, nhiều năm qua luôn để con phải chịu ấm ức…” Bố mẹ nuôi nghẹn lòng không nói nên lời, họ cầm lấy tay cô và khóc.

Vậy những năm qua anh ấy đi đâu, sống như thế nào?…

Hàng loạt câu hỏi hiện lên trong đầu, thì ra anh trai chưa từng bỏ rơi cô, anh trai vẫn luôn yêu cô, nhưng bằng cách mà mấy năm qua cô không thể lý giải được.

“Thế tại sao anh lại không về thăm mình chứ, không phải anh đã hứa sẽ về thăm mình rồi ư?…”.

Số tiền gửi từ Sài Gòn về, bên ngoài phong bì không ghi địa chỉ cụ thể, cô hạ quyết tâm nhất định phải vào Sài Gòn tìm anh.

Một năm sau, cô thi đỗ và vào Sài Gòn học tập, cô vẫn không thôi nghĩ đến việc tìm anh trai; thế nhưng, giữa đất Sài Gòn rộng lớn như thế, đi tìm một người quả như là mò kim đáy bể.

Tốt nghiệp xong, cô ở lại Sài Gòn và làm việc ở đó, cũng là để tìm anh trai luôn. Vào lúc cô gần như tuyệt vọng, bỗng nhiên cô nhìn thấy một bức ảnh trên mạng: “Trước một quầy báo nhỏ, có một chàng trai người gầy gò ốm yếu, bị mất một tay, đang sửa xe đạp…” Khi nhìn thấy dòng chữ ghi tên Nam, cô hoa mắt, người đó chẳng phải là anh trai mình sao? Đúng rồi, là anh ấy.

Cô xem tiếp: “Năm 19 tuổi, người thanh niên làm việc ở một công trường xây dựng, trong lúc đang làm việc thì do gặp sự cố về máy móc nên anh ta đã bị mất đi một cánh tay, từ đó anh lang thang phiêu bạt khắp nơi, làm đủ nghề để mưu sinh: nhặt phế thải, đi bán báo, phát tờ rơi… Và, 3 năm trước, anh ta mở một quầy báo nhỏ vừa bán báo vừa sửa xe đạp. Động lực duy nhất để anh sống lạc quan như thế chính là cô em gái…”.

Khi cô xuất hiện trước quầy báo, anh trai cô đang bận rộn với công việc sửa xe đạp, mặc dù mất một tay, nhưng động tác của anh vô cùng nhanh nhẹn và điêu luyện. Cô nhẹ nhàng bước lại gần, nước mắt cô rơi xuống lã chã, trước mắt cô chính là người anh mà cô từng hận vì đã bỏ rơi cô, chính là người yêu thương cô nhất, bất chấp tất cả để lo cho cô có một cuộc sống đầy đủ.

“Cô gái, cô…” Anh ngạc nhiên khi nhìn thấy cô, cô khóc nức nở và ngồi xuống nhẹ nhàng lấy khăn lau mồ hôi cho anh.

“Anh à, em là Mai đây!…”

Cô vội vàng ôm lấy anh, đã lâu lắm rồi cô không được ôm anh như vậy, cảm giác đó vẫn ấm áp như hồi bé, cảm giác được an toàn, được yêu chiều…

Tình cảm gia đình luôn thiêng liêng như vậy, nó luôn là chỗ dựa để ta lớn lên, luôn là động lực để ta bước tiếp, dù người thân có làm gì thì hãy luôn nhớ rằng, tất cả đều vì những người mà họ thương yêu mà thôi!.

ST

Hoangtuan Nguyen


Tướng mệnh-Truyện ngắn

Đức Năng Thắng Số hay Có Đức Không Sức mà ăn.   

Tướng mệnh

Có một mẫu người, thầy tướng số không thể xem đúng mệnh được !

Mỗi người đều có một vận mệnh, mỗi người đều có một lá số an bài. Nhưng như Nguyễn Du từng nói: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”, phải chăng con người vẫn có thể cải biến số mệnh của mình?

Lúc đó vào khoảng tháng 5 hoặc tháng 6 năm 1981, thời tiết rất oi bức. Mấy đứa nhỏ muốn đi ra ngoài dạo chơi, tôi cũng thuận đường đến hiệu sách tìm mua mấy cuốn hướng dẫn đan len mới xuất bản bằng tiếng Nhật.

Khi đi ngang qua hành lang, vị thầy tướng số đã gọi lại và ngỏ ý muốn xem tướng cho tôi. Thấy tôi lắc đầu xua tay từ chối, vị thầy tỏ vẻ rất buồn giống như có điều bí ẩn gì khó nói.

Cô con gái lớn không đành lòng liền kéo tay tôi đến xem một chút và nói: “Mẹ cho ông này xem mệnh được không ạ? Giúp ông có ít tiền để ăn cơm được không mẹ? Nhìn ông đáng thương quá mẹ à”.

Tôi vốn là người không thích xem tướng số, cũng không có ấn tượng tốt về họ. Nhưng vì mấy đứa nhỏ quá lương thiện, tôi đã động lòng. Vậy là tôi đành để mấy đứa nhỏ kéo đến tiệm nhờ vị tiên sinh kia xem tướng cho.

Sau khi nhìn hồi lâu, xem tay của tôi rồi lại xem tay của từng đứa nhỏ, vị tiên sinh nói: “Không cần xem nữa, cũng không phải trả tiền, tất cả đều là số mệnh, con người không thể thay đổi dù chỉ một chút”.

Xem hồi lâu vị tiên sinh không nói gì nhiều cũng không muốn lấy tiền.

Nhưng bốn đứa nhỏ cứ nhất mực muốn tôi trả tiền cho thầy tướng số này..

Cuối cùng, vị tiên sinh xem tướng số cũng miễn cưỡng nhận tiền. Hai mắt ông đỏ hoe sờ lên đầu mấy đứa nhỏ và nói lẩm bẩm: “Ôi! Ông Trời thật không có mắt, ông Trời thật không có mắt!”.

Mấy đứa nhỏ nói lời tạm biệt, ông đã xua tay ra hiệu đi đi mà không nói lời nào. Tinh thần của ông lộ ra trạng thái vô cùng đau khổ.

Sau đó, đi ngang qua công viên, chúng tôi thấy một đám đông người đang tụ tập. Mấy đứa nhỏ rất thích những gì náo nhiệt, chúng vừa nhìn thấy đã vội chạy tới. Chúng len qua đám đông để vào xem nguyên nhân của sự náo nhiệt. Một lát sau, chúng chạy lại và kéo bằng được tôi tới xem.

Thì ra, một bà mẹ đang quỳ trên mặt đất cầu xin mọi người giúp đỡ. Bà cần một khoản tiền lớn để điều trị cho con trai đang nằm tại bệnh viện.

Mấy đứa nhỏ nói với người đàn bà đang quỳ trên mặt đất: “Bà ơi, bà không cần phải quỳ đâu, mẹ của cháu đến đây rồi, mẹ nhất định sẽ giúp bà lo việc này”.

Chúng hợp sức cùng nhau đỡ người đàn bà này đứng lên. Tôi không chỉ lấy hết tiền trong túi ra làm phúc mà còn hướng đến mọi người nói lời giúp đỡ bà mẹ đáng thương này. Sau đó, tôi cùng bà đến bệnh viện để nộp tiền viện phí.

Sau khi mọi việc được làm tốt đẹp, mấy đứa nhỏ mới chịu buông tha cho tôi và nói: “Mẹ à, cảm ơn mẹ! Chúng con sẽ không làm phiền mẹ nữa, về nhà thôi mẹ nhỉ!”.

Một tháng sau, không rõ lý do gì mà đàn kiến lũ lượt kéo đến nhà tôi, chúng bâu kín tường. Vì không muốn làm tổn thương chúng, tôi đã mua 20 chiếc ghế đẩu để làm lối đi lại.

Mấy đứa nhỏ nhìn thấy kiến kéo đến bâu khắp phòng đã vô cùng sợ hãi. Tuy nhiên chúng lại rất nghe lời tôi, không làm phiền cũng không làm hại những con kiến này. Chúng cũng hiểu, kiến đến nhà là khách, lại càng biết đạo đãi khách, nên đã cẩn thận để vào góc nhà một ít đường và nước coi như là khao thưởng đàn kiến vì đã hành quân đến nhà tôi làm khách.

Lúc này là vào mùa hè, mấy đứa nhỏ không phải đến trường nên chúng ở trong nhà với người giúp việc. Công việc của tôi lại đang rất bận.

Khi đang trong cuộc họp, tôi lờ mờ nghe được thông tin về một đám cháy lớn. Tôi định bụng sau khi họp xong sẽ đến hiện trường để xem tình hình.

Thấy con đường quen thuộc quá, tôi nói với đồng nghiệp lái xe: “Tôi chưa vội về nhà. Tôi muốn đến hiện trường phát sinh hỏa hoạn, sao cậu cứ chạy về hướng nhà của tôi thế?”.

Đồng nghiệp trả lời rằng, chúng ta cách hiện trường đám cháy không xa, một lát nữa là đến thôi.

Do quá mệt nên tôi đã ngủ thiếp đi, khi nhìn thấy hiện trường tôi mới bừng tỉnh và thốt lên: “Đây là nhà tôi!”.

Tôi không kìm được vội chạy tới tòa nhà, lao thẳng lên tầng 3 tìm các con, miệng không ngớt nói: “Con của tôi đâu rồi? Con của tôi đâu rồi?”. Lúc này đội chữa cháy mới tá hỏa đi tìm, còn tôi bị sốc quá mức mà ngất đi.

Cuối cùng cũng đã tìm thấy, mấy đứa nhỏ đang ở trong tình trạng sặc khói và nằm lịm trên mặt đất. Do chỉ bị sặc khói nên đến nửa đêm, mấy đứa nhỏ đã tỉnh lại.

Điều mọi người kinh ngạc chính là căn phòng đầy sách nhưng một đám cháy lớn như thế lại không thiêu đốt nổi.

Nhân viên cứu hộ đã ngỡ ngàng mà thốt lên: “Cái nhà này hẳn phải rất có phúc”. Đám cháy lớn đã thiêu rụi gần như tất cả tòa nhà cao tầng nhưng lại chừa lại căn phòng này.

Nhân viên phòng cháy còn nói: “Khi phun nước, tôi không nhìn thấy căn phòng này. Dường như căn phòng bị biến mất, do đó ngọn lửa lớn tầng dưới không thể thiêu đốt tới căn phòng này được”.

Tôi nghĩ trong phòng của tôi có hơn 1000 cuốn sách quý…

Đến ngày khai giảng, tôi dẫn các con đi mua sách. Chúng tôi đi ngang qua quầy xem bói của vị tiên sinh kia. Lúc nhìn thấy mấy đứa trẻ, ông đã ôm chặt lấy chúng, vô cùng kích động nói: “Sao các cháu vẫn còn sống? Sao các cháu vẫn bình an vô sự?”.

Thì ra, vị thầy xem trong mệnh thấy rằng, mấy đứa nhỏ lương thiện này không thể sống qua mùa hè và chúng sẽ bị chết bởi hỏa hoạn. Do đó lúc trước ông mới không ngớt lời nói rằng “ông Trời không có mắt” như thế. Lúc đó, ông đã khóc đến mức không muốn dọn quán nữa mà ra về.

Dù biết trước sự việc, nhưng ông không thể làm gì, giống như người bất lực. Nhưng có lẽ do bản tính lương thiện, mấy đứa nhỏ gặp đại nạn không chết.

Tuy mệnh đã hết nhưng có lẽ do bản tính lương thiện mà mấy đứa nhỏ gặp đại nạn không chết.

Nói về số sách quý trong nhà, tôi đã mua chúng ở một tiệm sách cũ. Cũng vì muốn giúp đỡ ông lão bán sách, để ông bớt việc dọn sách ra dọn sách vào mà ảnh hưởng sức khỏe. Vậy là hàng ngày, tôi đều qua tiệm của ông mua sách. Thật không ngờ số sách này lại cứu cả nhà tôi.

Con người khi còn sống, có một số sự tình ngoài ý muốn mà chúng ta không thể đoán trước được, cũng không giải thích nổi. Gặp đại nạn không chết, có lẽ vì chúng tôi đã sống theo lời Thần Phật dạy, sống thiện lương, giúp đỡ người khác và nghĩ cho người khác. Con người luôn tính toán mọi sự nhưng lại thường tính không trúng. Bởi vì chúng ta không biết rằng ông Trời đã có sự sắp đặt của riêng mình.

Trong suốt cuộc đời, tôi nhận thấy rằng con người thật sự quá nhỏ bé, không thể tự mãn mà coi mình hơn hết thảy, càng không nên quá tự tin. Bởi vì con người nhìn không thấy Thần Phật nhưng các Ngài lại nhìn con người rõ như lòng bàn tay…

Sưu tầm

My Lan Phạm

From: Tu Phung


 

LƯƠNG THIỆN-Truyện ngắn HAY

Người Việt Hải Ngoại 

Ngày nọ, ông Walter phải đi công tác ở ngoại thành. Trong lúc ông đứng đợi ở ga tàu thì nhìn thấy một cậu bé đánh giày chừng hơn 10 tuổi.

Cậu bé hỏi: “Ông có muốn đánh giày không?”

Ông Walter cúi đầu nhìn đôi giày mới đánh xong, bèn lắc đầu.

Kể chuyện " Cậu bé đánh giày" | Tiếng Việt lớp 3 - Tập 2 | Kết nối tri ...

Khi ông Walter bước đi được mấy bước, thì đột nhiên cậu bé mặt đỏ bừng chạy đến phía trước nhìn ông với đôi mắt khẩn cầu: “Thưa ông, cả ngày hôm nay tôi không có gì để ăn, ông có thể cho tôi vay ít tiền được không? Từ mai tôi sẽ cố gắng đánh giày, đảm bảo sau một tuần là có thể trả lại tiền cho ông!”

Nhìn cậu bé trước mặt trong bộ dạng đói khát, quần áo tả tơi lòng ông có chút thương cảm. Ông liền móc túi đưa cho cậu mấy đồng. Cậu bé rất cảm kích, nói: “Cảm ơn ông”, sau đó liền rời đi.

Ông Walter lắc đầu. Ông đã gặp quá nhiều những đứa trẻ lừa gạt trên đường như thế này rồi.

Nửa tháng sau, ông Walter đã hoàn toàn quên chuyện cậu bé đánh giày vay tiền mình. Trong một lần ông Walter đi qua nhà ga, bỗng nhìn thấy một bóng dáng gầy gò, từ xa đã vẫy tay gọi: “Ông ơi, hãy đợi một chút”.

Một cậu bé mặt nhễ nhại mồ hôi chạy đến đưa tiền trả lại thì ông mới nhận ra là cậu bé đánh giày lần trước.

Cậu bé vừa thở hổn hển vừa nói: “Tôi đã ở đây đợi ông rất lâu rồi, hôm nay mới gặp được ông để trả lại tiền.”

Ông Walter, nhìn những đồng xu vẫn còn ướt do mồ hôi trên tay, trong lòng cảm thấy ấm áp lạ thường. Ông nhìn lại cậu bé một lần nữa, chợt phát hiện thấy cậu chính là người mà ông luôn muốn tìm cho vai diễn mới.

Ông Walter đút mấy đồng tiền xu vào túi cậu bé, và nói: “Số tiền này là tôi cho cậu, cậu không cần phải trả lại.” Ông nói tiếp: “Ngày mai cậu hãy đến phòng đạo diễn của công ty điện ảnh ở trung tâm thành phố gặp tôi, tôi sẽ có một bất ngờ lớn cho cậu.”

Sáng sớm hôm sau, bảo vệ của công ty đã nói với ông Walter rằng, có một nhóm trẻ con đường phố đã đến.

Ông Walter kinh ngạc đi ra ngoài cửa, liền nhìn thấy cậu bé đánh giày chạy đến nói với ông với vẻ mặt ngây thơ: “Thưa ông, những đứa trẻ lang thang này đều không có bố mẹ giống tôi, chúng cũng muốn có những điều bất ngờ!”

Ông Walter hoàn toàn không thể nghĩ tới, một cậu bé lang thang bần cùng nhưng lại có một trái tim rất lương thiện.

Vinícius de Oliveira, de ‘Central do Brasil’, volta às novelas após 15 ...

Ông Walter quan sát và chọn lọc rất kỹ lưỡng, và phát hiện quả thực có một vài cậu bé rất lanh lợi, càng phù hợp với vai diễn hơn. Nhưng cuối cùng, ông chỉ giữ lại cậu bé đánh giày, đồng thời trong hợp đồng tuyển dụng, ông đã viết tại mục miễn thử việc là: “Lương thiện không cần thông qua sát hạch.”

Ông Walter nói, cậu bé rất lương thiện, tuy bản thân cậu vẫn phải đối diện với hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn vô tư mang hy vọng và cơ hội của mình chia sẻ cho người khác. Mà diễn viên trong bộ phim chính là một người lương thiện tốt bụng như thế.

Cậu bé đánh giày tên là Vinícius de Oliveira. Dưới bàn tay của đạo diễn Walter, anh Vinícius de Oliveira đã rất thành công trong vai diễn của mình. Bộ phim này mang tên “Central do Brasil”, có nhiều tình tiết cảm động, đã giành được giải thưởng Gấu Vàng tại Liên hoan phim quốc tế Berlin, Quả cầu vàng, và được đề cử giải Oscar cho bộ phim nước ngoài hay nhất.

G1 > Cinema - NOTÍCIAS - Dez anos após ‘Central do Brasil’, Vinícius de ...

Nhiều năm sau, anh Vinícius de Oliveira đã trở thành chủ tịch của một công ty Văn hóa Điện ảnh. Anh đã viết cuốn tự truyện “Cuộc đời diễn viên của tôi”. Trên bìa cuốn sách có dòng chữ mà chính đạo diễn Walter từng viết: “Lương thiện không cần qua sát hạch”. Và ở dưới là đánh giá của ông đối với anh Vinícius de Oliveira: “Sự lương thiện, đã từng đem cơ hội của anh ta trao cho người khác. Cũng chính là sự lương thiện, đã khiến cơ hội của cuộc đời không bỏ qua anh ta!”

 


 

  Trái Tim Người Cha-Truyen ngan HAY

Một ngày nọ, Cha tới mượn tiền tôi. Cha nói sức khỏe không tốt, cần phải tới bệnh viện để kiểm tra tổng quát, vậy nên tôi đã gửi tiền cho Cha.

Không ngờ, chưa được bao lâu, Cha lại gọi điện tới, nói muốn mua một chiếc xe điện 3 bánh. Tôi lưỡng lự một lúc, Cha dường như nghe thấy sự do dự của tôi bèn nói:

“Con cho Cha một nửa, Cha tự bỏ ra một nửa, đem bán mấy con dê nhà nuôi”.

Nghe thấy vậy, tôi liền mềm lòng. Mấy năm gần đây, Cha tôi đã nuôi hơn chục con dê, nuôi lớn rồi lại đem bán để trang trải chi tiêu hàng ngày. Sau khi Mẹ tôi mất đi, tôi muốn đón Cha lên thành phố ở chung, Cha quyết không chịu đi.

Thằng em trai đang sống ở thị trấn cũng muốn đón Cha tới, nhưng Cha nói đã quen với cuộc sống ở quê, quen với những người trong thôn nên không muốn rời đi.

Không có cách nào thuyết phục, đành theo ý Cha. Tuy nhiên, muốn biếu Cha chi phí sinh hoạt hàng ngày ông cũng không lấy, lần nào cũng nói, cuộc sống thôn dã đơn giản, chi phí ít, cũng không tiêu gì. Mà bây giờ… chuyển tiền cho Cha, nhưng tôi vẫn cảm thấy có gì đó không đúng.

3 tháng trôi qua, tôi quyết định đưa con gái về nhà thăm Cha.

Cửa nhà khóa, chú hàng xóm nói Cha tôi đang đi chăn dê. Tôi bèn dắt con gái xuống dốc, từ xa đã nhìn thấy đàn dê, tới gần mới thấy Cha đang ngồi ngủ bên gốc cây, bên cạnh trải một tấm vải, trên tấm vải có một cái bánh đã ăn được một nửa, một túi dưa muối nhỏ, còn có một bình nước… Trong lòng chợt thấy chua xót, tôi liền gọi: “Cha ơi”!

Cha giật mình tỉnh giấc, hồi lâu sau mới nói:

“Con bé này, sao về nhà mà không báo trước?”.

Con gái tôi liền giành nói trước: “Mẹ con nói muốn cho ông ngoại một bất ngờ”.

Cha tôi thực sự rất vui mừng, không nói thêm với tôi điều gì, chỉ kéo cháu gái tới làm quen với bầy dê bảo bối của mình. Một bầy dê nho nhỏ có trên chục con, Cha tôi vui vẻ nói:

“Đợi thêm một khoảng thời gian nữa có thể bán được rồi, chắc chắn sẽ bán được rất nhiều tiền! Bây giờ giá dê đang tăng”.

Về tới nhà, trong sân có chút bừa bộn, chiếc xe 3 bánh Cha tôi đã đi nhiều năm nằm ở một góc sân.

Tôi thuận miệng liền hỏi:

“Cha, chiếc xe 3 bánh Cha mới mua đâu rồi?”.

Ông bối rối trả lời:

“Cha… vẫn chưa mua! Nghe người ta nói tháng sau giá sẽ giảm”.

Trong lúc tôi dọn dẹp ngoài sân, nghe thấy Cha gọi điện cho thằng em trai nói:

“Chị gái con về nhà, tối nay con cũng về nhà cùng ăn cơm đi!”.

Sau đó Cha còn dặn nhỏ một câu:

“Mua thêm nhiều đồ ăn ngon nhé”!

Tôi định nói vài câu, rồi lại thôi. Hồi trước, tôi luôn để ý tới sự thiên vị của cha mẹ. Bởi vì sự đố kỵ lúc còn nhỏ mà tôi luôn xa cách thằng em trai, sau đó thì giận dỗi quyết định thi vào một trường đại học thật tốt, cuối cùng có thể hãnh diện rời khỏi nhà.

Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi vào làm việc ở một công ty nước ngoài khá tốt, còn em trai tôi miễn cưỡng cũng học xong trung cấp nghề, trở thành một công nhân làm trong một dây chuyền lắp ráp tại thị trấn, thằng út lại càng ngưỡng mộ và tôn trọng tôi hơn.

Buổi chiều, thằng em trai mang theo con về nhà, còn mua rất nhiều đồ.

Cha tôi đích thân xuống bếp, cùng với em trai làm rất nhiều món ngon, đều là những món tôi ưa thích. Lúc Mẹ tôi còn sống, Cha tôi chưa từng nấu ăn. Thật kỳ lạ là mỗi món ăn Cha làm đều giống y như mùi vị thức ăn Mẹ nấu. Ăn từng miếng, tôi dường như sắp khóc.

Buổi tối, tôi ngồi nói chuyện với Cha trong sân, chỉ là không ngờ tới, ông vòng vo một hồi lâu, nói từ chuyện trong thôn, nói tới việc lúc còn sống Mẹ tôi muốn xây lại nhà,… cuối cùng mới nói tới vấn đề chính:

“Các con, nếu như không quá khó khăn, có thể… con biết đấy, thằng em của con…”

Tôi ngắt lời ông, hỏi:

“Cha, sửa nhà cần bao nhiêu tiền”, trong lòng đột nhiên có một nỗi buồn không thể diễn đạt bằng lời.

“Khoảng, khoảng 200 triệu …..”, giọng của ông nhỏ lại, liền lập tức bổ sung, “nếu bán được bầy dê cũng sẽ được vài chục triệu”.

Tôi ngạc nhiên một lúc, 200 triệu với tôi cũng không phải là con số nhỏ, tôi ngập ngừng nói: “Cha, đợi con về nhà tính lại rồi nói, cũng không phải vấn đề quá lớn”.

Ông cúi thấp đầu nói:

“Con gái, làm khó con rồi. Con xem có thể được bao nhiêu, Cha già rồi, sẽ không tiêu tốn khoản nào nữa….”.

Tôi cười nhẹ. trong ánh trăng mờ ảo, chắc chắn Cha không thấy được sự cay đắng trong nụ cười đó.

Bàn bạc với chồng về chuyện của Cha, cả nửa ngày, anh ấy cũng không nói gì, chồng tôi không phải một người nhỏ mọn, nhưng năm nay, tình cảnh của anh ấy còn tệ hơn tôi. Chồng tôi mở một công ty xuất khẩu nhỏ, bây giờ đến tiền lương cũng trở thành vấn đề.

Cuối cùng anh ấy nói:

“Em đưa tiền cho Cha đi, chúng ta tự thắt chặt chi tiêu chút, vẫn có thể chịu được”.

Nửa tháng sau khi tôi chuyển tiền cho Cha, tôi gặp được một người họ hàng lên thành phố làm việc, trong lúc trò chuyện tôi liền thuận miệng hỏi:

“Nhà của con đã bắt đầu sửa lại chưa ạ”?

Ông ấy hơi ngạc nhiên:

“Không thấy Cha con nói tới việc sửa lại nhà!”, nghĩ một lúc người đó nói, “Đúng rồi, Cha con đem dê bán hết rồi, giúp em trai con mua một chiếc xe giao hàng nhỏ, em trai con không còn làm ở chỗ cũ nữa, đã tự lái xe đi giao hàng rồi. Kiếm được kha khá…”.

Trái tim tôi giống như bị ném vào băng vậy, cảm thấy thực sự lạnh lẽo.

Hoá ra Cha đã nói dối tôi, từ đầu tới cuối luôn đứng về phía thằng em trai, thiên vị tới mức nói dối tôi lấy tiền giúp đỡ nó, không thể oán hận Cha nhưng có bao nhiêu bất mãn chính tôi cũng không rõ.

Về tới nhà, tôi không thể chịu đựng được nữa, nhốt mình trong phòng vệ sinh, vừa mở nước vừa khóc một trận.

Vài ngày sau đó, tôi đều không chủ động gọi điện thoại cho Cha. Cuối cùng cũng làm Cha gọi trước, tôi chỉ trả lời lấy lệ, Cha cũng đành phải cúp máy. Nhưng không ngờ rằng, đó lại là lần cuối cùng tôi được nghe giọng của ba…

3 ngày sau, tôi nhận được điện thoại của thằng em trai, nói rằng Cha đã qua đời vì bị nhồi máu cơ tim… bỗng nhiên nhớ lại cuộc điện thoại 3 ngày trước, những lời dặn dò vụn vặt cùng sự lạnh lùng của tôi, khiến tôi không thể nhớ nổi.

Lập tức trở về nhà, lần đầu tiên tôi và thằng em trai ôm nhau khóc, lúc Mẹ mất tôi vẫn có thể dựa vào vòng tay Cha, còn bây giờ… tất cả những oán trách đối với Cha đều bị sự ra đi đột ngột này làm tan đi hết, chỉ còn sự đau thương bao trùm lấy tôi.

Sau khi lo liệu xong hậu sự của Cha, lúc rời đi, thằng em trai tiễn tôi tới bến xe rồi nói:

“Chị ơi, hãy thường về nhà nhé, Cha Mẹ đều không còn, nhưng nhà của chúng ta vẫn còn”.

Một câu nói đó đã khiến cho tôi vốn đã khóc tới cạn nước mắt lại dâng lên dòng lệ. Nắm tay thằng em trai tôi dặn dò nó giữ gìn sức khỏe rồi lên xe đi. Tôi đã nghĩ rằng, có thể sau này tôi sẽ không thường về nơi được gọi là nhà của chúng tôi nữa!

Trải qua vài ngày, tôi mới có thể bình tĩnh lại sau việc Cha qua đời…

Nhưng cuộc đời con người, quả thật là hoạ vô đơn chí, chuyện bất hạnh lại tiếp tục xảy tới, công ty của chồng tôi gặp sự cố, anh ấy bị khách hàng lừa mất toàn bộ tài sản.

Chồng tôi lúc đó gần như sụp đổ, từ một người không bao giờ uống rượu lại thành kẻ say sưa tối ngày. Tôi vô cùng lo lắng, sốt ruột, lại không có cách nào có thể giúp đỡ, suy nghĩ một đêm, cuối cùng quyết định bán nhà.

Trưa ngày hôm đó thằng em trai gọi điện tới, sau khi Cha mất, thằng em ngược lại rất thường xuyên gọi điện thoại tới. Tôi không có tâm trạng nói chuyện với nó, nó cũng hiểu được sự nôn nóng của tôi, nhẫn nại hỏi, tôi cố gắng mới nói được hết cho thằng út nghe.

Không ngờ được rằng, em trai tôi ngồi tàu hỏa, sáng hôm sau liền tới, bước vào nhà không nói gì hết, từ trong tay lấy ra một cọc tiền. “Chị, đây là 500 triệu, không nhiều, dùng giải quyết trước đã”.

Tôi vô cùng ngạc nhiên hỏi:

“Tiền này em lấy ở đâu?”. “Một phần từ mấy tháng nay em chở hàng kiếm được 300 triệu, nhà trên thị trấn không được bao nhiêu, chỉ có điều có được từng này…”.

Tôi cảm động, cầm tiền đưa lại cho em trai, nói:

“Chị không thể cầm tiền của em”.

Nó vội vã nói:

“Chị ơi, năm ngoái xưởng đóng cửa, em và vợ bị mất việc, muốn mua một chiếc xe chở hàng nhưng không có tiền, chị đã đưa ba 400 triệu, nói Cha đưa cho em, còn dặn Cha không được cho tụi em biết là tiền của chị”.

Tôi ngây người, em trai nói tiếp:

“Cha nói, hồi nhỏ, đều là chị nhường em, bởi vì em là em, bây giờ em phải bảo vệ chị, bởi vì chị là con gái. Cha còn nói, tới lúc Cha không còn nữa, em chính là nhà của chị…”.

“Cha”!

Tôi quay đầu, nước mắt rơi xuống như mưa. Tôi là đứa con bất hiếu! Sao lại không hiểu cho sự khổ tâm của Cha. Cha đã biết trước không còn sống được bao lâu, lại càng biết tôi vốn là đứa kiêu ngạo, ngay cả người thân cũng sẽ không nhờ vả dựa dẫm, chính vì vậy đã để lại sự yêu thương, dành cho tôi sau này.

Lúc đầu, khi Cha mượn tiền tôi, trong lòng Cha đã biết khó xử, đã phải dùng bao nhiêu dũng khí. Nhưng Cha vẫn làm vậy, chỉ để khi ông mất đi, chúng tôi còn có chỗ dựa, còn có người thân.

Thì ra đứa con mà ông yêu thương nhất lại chính là tôi. Tôi quay lại ôm lấy em trai, không thể nói một lời nào, chỉ ôm thật chặt nó.

Giây phút này, Cha tôi đang ở trên thiên đường cũng cảm thấy an lòng, bởi vì đứa con được sống trong tình yêu của ông mà hoàn toàn không biết, cuối cùng đã hiểu được tất cả.

(Nguồn: Những câu chuyện nhân văn)

 From: Tu-Phung


 

HÓA ĐƠN THANH TOÁN CHO TÌNH NGƯỜI…

Helen Tran is  José Machín 

Tại một thành phố ở Ấn Độ.. có vị thương gia nọ bận rộn cả ngày vì công việc.. mệt mỏi.. ông vào một nhà hàng tự thưởng cho mình bữa tối thịnh soạn..!

Khi những món ăn đã được dọn sẵn trên bàn.. bất chợt ông nhìn thấy một cậu bé đang nhìn trộm ông qua cửa kính với ánh mắt thèm thuồng.. hình ảnh ấy như có gì làm nhói tim ông..!

Ông đưa tay vẫy cậu bé.. cậu liền bước vội vào.. theo sau cậu là 1 bé gái nhỏ.. 2 đứa trẻ nhìn chăm chăm vào những đĩa thức ăn còn nóng hổi.. mà chẳng cần biết người vừa gọi chúng vào là ai..?

Vị thương gia bảo chúng cứ tự nhiên mà ăn thỏa thích…

Không nói.. không cười.. cả hai ngấu nghiến ăn hết các món ăn trên bàn một cách ngon lành…

Vị thương gia im lặng.. nhìn hai đứa trẻ ăn đắm đuối.. và khi chúng rời đi.. chúng đã không quên nói lời cám ơn với ông..!

Cơn đói trong lòng vị thương gia lúc ấy được xua tan một cách lạ kỳ.. kèm theo một cảm giác khó tả đang lâng lâng trong lòng…

Mãi một hồi sau.. vị thương gia gọi tiếp các món ăn lần nữa.. rồi từ từ thưởng thức.. đến khi gọi thanh toán.. nhìn tờ hóa đơn.. không ghi số tiền.. mà chỉ là một hàng chữ:

– “Thật đáng tiếc.. tiệm chúng tôi không in được HÓA ĐƠN THANH TOÁN CHO TÌNH NGƯỜI.. xin chúc ngài mãi luôn hạnh phúc..!”

Một giọt nước mắt đã rơi từ vị thương gia.. ông quay nhìn người đàn ông đang đứng tại quầy thu ngân rồi gật đầu mỉm cười.. ông ta đáp lại bằng một nụ cười rạng rỡ…

Vị thương gia đã dùng “Đức” đối xử với người nghèo.

Chủ nhà hàng dùng “Nghĩa” đáp lại “Đức” không biết ai hơn ai.?

Người xưa có câu :

– Ngồi trên đống Cát.. ai cũng là hiền nhân.. quân tử.

– Ngồi trên đống Vàng.. mới biết rõ.. ai mới là quân tử.. hiền nhân.

Tình yêu thương luôn đem đến những sự kỳ diệu từ hai phía:

– “người cho và người nhận”.

Hạnh phúc của TÌNH NGƯỜI là cảm giác bình yên và thật sâu lắng.. xóa tan tất cả những đau khổ và bất hạnh.

Vạn vật tồn tại trên thế giới này đều không thể sống mãi với thời gian.. ngay cả con người cũng không thể đi ngược lại hay cưỡng cầu với quy luật ấy.

– Theo thời gian.. mọi thứ đều biến hóa và thay đổi..

– Tất cả có thể sinh ra hoặc mất đi.. có thể phát triển hay lụi tàn..

– Cái gì có đến chắc chắn sẽ rời đi.. không bao giờ là tồn tại mãi mãi.

– Vật chất là ngoại thân.. TÌNH NGƯỜI là vĩnh cửu.

—Zen cafe ST—

(Nguyễn Hoàng Diễm chuyển bài)


 

TÔI ĐÃ KHÓC KHI ĐỌC BÀI VIẾT NÀY

Lính  Nguoi – Câu Chuyện Thú Vị  

Bố mẹ mình ly hôn khi mình 12 tuổi, sau 4 năm bố và mẹ có gia đình mới.

Mình luôn liên lạc với mẹ mỗi khi rảnh nhưng từ khi mẹ có mái ấm mới mình hạn chế việc này lại, vì không muốn làm phiền gia đình nhỏ của mẹ.

Bố kết hôn với Dì, bố dường như quên mất sự hiện diện của mình trong căn nhà này. Vì biết cả 2 đều bận rộn với công việc nên mình tranh thủ những lúc rảnh liền làm hết việc nhà.

Cứ như thế trôi qua 2 năm. Bố và Dì có thêm em Mực.

Mực ra đời, mình cũng dần vô hình.

Những bữa cơm mình cố tình ăn chậm để dọn bàn giúp Dì để Dì có thời gian nghỉ ngơi chăm Mực.

Những lúc đi học về thấy Dì ngủ quên mình cũng bế Mực giúp Dì.

Những lúc bố quên tắt tivi khi xem bóng đá, mình liền tắt giúp bố để bố có thể ngủ cùng gia đình nhỏ của bố.

Vào ngày Dì bệnh bố đi công tác mình lại đi học, Dì gọi mình, mình xin nghỉ hôm đó để chăm Dì.

Bố đi công tác về luôn có quà cho Dì và Mực.

Bố luôn làm Dì cười.

Bố luôn nhắc Mực mỗi khi có khách đến.

Thấy bố và Dì định đèo Mực đi du lịch mình liền nói rằng bận học thêm trên trường, không phải không muốn đi mà là mình không muốn bố và Dì mất không gian riêng.

Cưới Dì về được 3 năm, bố đưa Dì đi du lịch còn hơn số lần bố hỏi mình ăn cơm chưa.

Nhiều lúc mình nhớ mẹ mình khóc nhưng chỉ dám lên lầu vào đêm ngắm sao rồi xếp sao bỏ đầy lọ. Mình không dám làm phiền bất cứ ai cả, mình sợ họ sẽ bối rối giữa mình và gia đình của họ….


 

CÓ MỘT GIA ĐÌNH NHƯ THẾ-My Lan Phạm

My Lan Phạm

My Lan Pham- Lời hay ý đẹp Tuổi Trung Niên

Tôi mới quen biết và chơi bời qua lại với gia đình anh, chị ba bốn năm nay. Gia đình anh cũng có cuộc sống kinh tế bình thường như bao gia đình khác. Có khác chăng là gia đình truyền thống. Cha, mẹ anh là giáo viên. Anh, chị cũng là giáo viên. Năm nay anh “mới có sáu mươi sáu tuổi thôi”. Ở tuổi này tất nhiên là con, cháu đề huề, nội ngoại đầy đủ. Chúng cũng đã phương trưởng và ở riêng. Anh, chị vẫn ở chung với cha, mẹ. Cha sinh năm 1927 vừa khuất núi được 5 năm. Hiện tại còn Mẹ, cụ sanh 1931, nay 93tuổi. Mẹ rất minh mẫn, khỏe mạnh.

Vì thường lui tới thăm chơi nên tôi chứng kiến rất nhiều chuyện. Xin kể vài chuyện điển hình các bạn cùng suy ngẫm.

Buổi chiều khoảng 17 giờ, tôi cùng mấy anh bạn tới nhà anh nhậu (hẹn trước). Chị làm con gà nấu cháo cho tụi tôi nhậu. Mẹ ngồi uống nước vối ở bàn bên. Tụi tôi lăng xăng người một tay dọn bàn nhậu. Tôi thấy chị đến bên Mẹ, chị nhỏ nhẹ

– Mẹ ơi! Con nấu cháo gà, con múc mẹ ăn thử một miếng xem có ngon không nha mẹ. Nếu mẹ thấy ngon thì ăn thêm.

– Không, mẹ đã bảo mẹ không ăn mà cứ bắt mẹ ăn là sao!?

– Dạ không, con có bắt mẹ ăn đâu. í là con mời mẹ ăn thử một ít xem con nấu có ngon không để con đem cho các anh ấy nhậu mà. Mẹ thử giùm con nha, một ít thôi.

Rồi chị bưng chén cháo tới (chị múc nãy giờ cũng đã nguội vừa ăn)

– Mẹ thử giùm con xem có ngon không nha.

Bà mẹ tươi cười ăn hết chén cháo vơi.

Tôi đã lặng người, đứng im hồi nào không hay. Bất giác tôi nghẹn ngào vội đưa tay quẹt nhanh ngấn lệ.

Chị ấy là nàng dâu. Vậy còn anh ấy, con trai mẹ thì sao?

Sáu mươi sáu tuổi đầu nhưng chưa bao giờ bước chân khỏi nhà mà không xin phép mẹ.

Bây giờ đã nghỉ hưu nhiều năm nhưng muốn đi chơi phải xin phép hẳn hoi. Mẹ cho mới được đi nếu không cho phải cáo bạn ở nhà. Mỗi khi cho đi, ra tận nơi dặn dò. Đi cẩn thận, nhớ về đúng giờ vv… chuẩn bị đến giờ về là gọi điện nhắc chừng. Có điều mẹ vẫn rất sáng suốt. Đó là đi chơi, đi nhậu thôi. Sợ con say, sợ đường xa, sợ tai nạn vv… chứ còn đi làm, đi công việc thì thoải mái.

Có một lần tôi ghé nhà rủ anh đi nhậu xa. Anh lại xin mẹ. Mẹ đồng ý nhưng dặn:

– Con phải về trước 9 giờ đừng để mẹ trông nha.

– Dạ con biết rồi ạ.

Đương nhiên gần tới giờ về là mẹ gọi điện nhắc anh, nhưng tôi đâu biết (đi chung xe), mải vui nên cứ nhậu. Khi về tới nhà thì đã 10 giờ. Tôi thấy mẹ không đi ngủ mà bắc ghế ngồi chờ , bên cạnh có một cây roi nhỏ đúng nghĩa. Vì đã hiểu gia đình, tôi dắt xe ra khỏi cổng rình coi chứ không về. Bà mẹ gọi

– Con lại đây mẹ bảo

– Dạ! Anh tới khoanh tay đứng trước mặt mẹ.

– Mẹ bảo thế nào? Còn nhớ không?

– Dạ, mẹ dặn 9 giờ về

– Sao giờ mới về?

– Dạ, vì vui bạn nên con ngồi thêm một chút.

– Vui bạn mà quên lời mẹ à. Tưởng lý do gì chính đáng thì mẹ tha chứ vui bạn mà quên lời mẹ thì phải đánh cho chừa. Quay lại! Lần này mẹ đánh một roi chứ lần sau là ba roi nghe chưa.

– Dạ con xin lỗi mẹ không có lần sau đâu ạ.

Tôi biết, một roi đó không hề đau trên da thịt.

Hôm sau gặp anh tôi thỏ thẻ.

– Hồi hôm em đứng ngoài xem anh ăn đòn

– Ừ anh biết, em có nổ máy đâu.

– Nhưng sao anh không nói lý do gì cho mẹ khỏi đánh?

– Thứ nhất, mẹ đánh có đau đâu. Thứ hai không nên nói dối mẹ, mẹ già rồi sống bao lâu nữa. Thứ ba, mẹ rất cần cảm giác được làm mẹ dạy dỗ con cái. Nên chiều mẹ một chút kẻo hối không kịp đó em. Nói thật với em anh làm tất cả để mẹ vui sống. Khi đã chết là hết có muốn ăn đòn cũng không ai đánh nữa đâu.!

Quỳnh toong 3/2023

Sưu tầm

My Lan Phạm


 

 MẸ TÔI – Hoàng Nguyên Linh

 Hoàng Nguyên Linh

Sách vở, báo chí, đài phát thanh và truyền hình nguời ta nói nhiều về mẹ. Đa số đều nhắc đến những kỷ niệm êm đềm bên nguời mẹ hiền, nhưng tôi thì khác. Tôi có mẹ mà như không có. Nỗi buồn này hầu như theo đuổi suốt cuộc đời tôi… Mẹ tôi là nguời vợ thứ hai của bố tôi. Bố tôi là một địa chủ khá giầu, đã có vợ cả và nhiều con nhưng bố tôi lại là một nguời ham mê sắc đẹp nên ông đã lấy mẹ tôi. Tôi không nhớ rõ mẹ tôi đẹp thế nào, chỉ nhớ mẹ tôi có đôi môi hồng, làn da trắng, nguời cao cao, mặt trái xoan, nhưng nghe bố tôi nói thì mẹ tôi đẹp lắm nên ông quyết lấy cho bằng đuợc dù phải bỏ ra rất nhiều tiền.

*****

Gia đinh bên ngoại không giầu bằng bên nội nhưng ông ngoại tôi có nhiều con, hình như có tới tất cả 11, 12 nguời, trong đó có 8 nguời con gái. Hai nguời chị của mẹ tôi đã lấy hai nguời em họ của bố tôi. Cũng vì bố tôi hai vợ nên tôi đã phải chịu những sự đau buồn, tủi nhục.

Ở ngòai Bắc thời xưa, đa số các ông địa chủ có tiền đều thi nhau lấy nhiều vợ. Ông nội tôi có 3 vợ, bố tôi có 2, nhưng ông nội tôi là nguời có bổn phận và có trách nhiệm. Tuy có 3 vợ nhưng mỗi bà ở một nơi, mỗi bà một giang sơn riêng nên không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra, nếu có ghen tuông chắc không đến nỗi trầm trọng. Bố tôi không như ông nội tôi, bố tôi lấy vợ hai về song lại để hai bà ở chung với nhau nên mới gây ra nhiều chuyện phiền phức sau này, sự ghen tuông hầu như đã xẩy ra hàng ngày, tôi nghe cô tôi nói vậy. Tôi ra đời một năm sau khi mẹ tôi lấy bố tôi. Cũng vì tôi là con trai nên sự ghen tuông càng đi đến chỗ quyết liệt hơn. Bà cả sau khi sanh nguời con trai đầu lòng thì sanh liên tiếp 4 nguời con gái. Bà đi xem bói, thầy bói nói rằng số của bố tôi chỉ có 2 nguời con trai thôi, bà cả nghĩ rằng bà không thể có con trai thêm nữa, vậy là tại mẹ tôi đã lấy đi phần con trai của bà. Như sợ mất thế lực với mẹ tôi nên sự ghen tuông càng tăng lên, bà cả bảo với bố tôi là một mình bà đẻ đủ rồi, lấy mẹ tôi về là để làm lụng chứ không phải để đẻ nên bà nghĩ cần phải loại trừ mẹ tôi ra khỏi nhà cho bằng đuợc. Trời mùa Đông gía lạnh mà bà cả nhẩy xuống ao đòi tự tử. Bố tôi sống trong cảnh ghen tuông thì mệt quá, đáng lẽ làm như ông nội tôi tức là đưa bà hai ra ở riêng một nơi thì bố tôi lại không làm thế… Mẹ tôi sau khi sanh ra tôi vì không trưng diện, ăn mặc xuề xoà nên sắc đẹp không đủ để lôi cuốn bố tôi. Bố tôi một phần vì mệt với sự ghen tuông, một phần vì nhan sắc mẹ tôi không còn như xưa nữa nên ông đã thờ ơ, lạnh nhạt với mẹ tôi, để mặc mẹ tôi muốn làm gì thì làm.

Mẹ tôi sống trong cảnh ghen tuông của bà cả và sự thờ ơ của chồng nên đã phải ra đi, chịu cảnh bơ vơ trong tay không có một đồng ! Tôi đuợc giữ lại trong nhà để làm em một anh và bốn chị.

Giai đọan này tôi còn bé nên không biết gì, lại nữa vì thầy bói nói số của bố tôi chỉ có hai con trai nên vai trò “con trai” của tôi đã giúp tôi đỡ khổ. Tôi thực sự khổ từ khi biết nhận thức, tức là lúc 6,7 tuổi trở đi.

Khi tôi đuợc 5 tuổi thì bà cả sanh thêm đuợc nguời con trai nữa, thế là thầy bói đã nói sai và vai trò “con trai” của tôi không còn cần thiết, tôi như bị bỏ rơi. Hai nguời hành hạ tôi nhiều nhất là bà nội và nguời chị lớn. Bà nội rất mực yêu thương nguời con trai mới sanh sau này của bà cả. Bà nội yên tâm khi có đuợc nguời cháu trai phòng hờ để sau này có nguời cúng giỗ và thờ phượng, chứ một nguời cháu lớn bà chưa yên tâm…

Nguời ta nói đến mẹ, nói đến bà như một kỷ niệm đẹp, nào bà ôm cháu vào lòng, bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe, mẹ thì xoa lưng con, hát ù ơ ru con ngủ v.v.. nhung tôi lại khác, tôi không có đuợc cái kỷ niệm đó. Bà nội tôi và chị tôi thuờng hay đánh tôi vào đầu, hai nguời này thuờng dùng tay để “cốc” tôi. Cốc tức là cong nguợc 4 ngón tay lại để chìa ra 4 đốt xương và đập vào đầu. Chỉ những ai đã bị cốc mới biết đuợc cái đau buốt trong đầu, nhất là đầu của một đứa trẻ mới 6,7 tuổi. Tự điển Nguyễn Văn Khôn định nghiã “cốc” ( knuckle) tức là đánh một vật gì bằng khớp xương của ngón tay, thực ra phải nói “cốc” tức là đánh “vào đầu” bằng khớp xương của ngón tay mới đúng, chứ nếu đánh vào tay, chân, lưng, bụng thì không đau và cũng không ai nói “cốc” vào lưng, vào bụng bao giờ. Không những chỉ đánh mà còn chửi, mang tên mẹ tôi ra để chửi, gọi mẹ tôi là con này, con nọ, mang cả tên ông ngoại tôi ra chửi, gọi tôi là “ giống thằng cả Kiều” tức là tên ông ngoại tôi. Chị tôi có nét mặt thật ác, bố tôi bảo những đứa mà mắt nó có ve là ác lắm, tôi cũng không biết mắt có ve là mắt thế nào, chỉ nghe bố tôi nói vậy. Nhưng trái nguợc với chị tôi, bà nội tôi ai cũng khen là bà cụ đẹp lão và phúc hậu, tóc bà bạc trắng hết cả đầu. Mỗi khi tôi thấy có nguời khen dù còn bé nhưng tôi cũng lấy làm ngạc nhiên, bà nội ác với tôi như thế mà họ khen bà phúc hậu kể cũng lạ. Ngày nay tôi mới hiểu ra là sở di bà nội ghét tôi là để lấy lòng bà cả. Bà nội tưởng bà cả ghét mẹ tôi tức là ghét tôi nên bà nội muốn mọi nguời thấy rằng nay bà nội đứng về phía bà cả và những nguời con bà cả. Ngoài tôi ra, bà nội chưa hề đánh hay chửi một nguời cháu nào bao giờ. Việc đánh chửi tôi nhiều quá đã khuấy động lương tâm bà cả. Chính bà cả đã than với nhiều người mà tôi nghe đuợc: “Ngày xưa mẹ nó ở nhà thì bà bênh vực mẹ nó, về phe với mẹ nó, nay mẹ nó đi rồi sao bà lại ghét nó quá vậy !”. Bà cả chỉ ghen với mẹ tôi nhưng tốt với tôi và cũng rất thương tôi, có lẽ bà tội nghiệp tôi, tội nghiệp cho một đứa trẻ cô thế. Tôi không hề oán trách bà về chuyện ghen tuông với mẹ tôi vì tôi hiểu đó chỉ là sự thuờng tình giữa hai nguời đàn bà có chung một chồng. Tôi vẫn thầm cám ơn bà đã không đối xử tệ với tôi như những nguời mẹ ghẻ khác. Truớc khi chết bà còn căn dặn nguời chị kế tôi là lúc nào cũng phải nóí tôi là con trai của bà. Chỉ nói có thế rồi bà nhắm mắt. Có thể trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời bà đã có sự ân hận. Ngày nay tôi vẫn thờ cúng bà như mẹ ruột của tôi đúng như bà đã mong muốn.

Nỗi khổ thứ hai của tôi là bị chế diễu, trêu chọc bởi những đứa cùng lớp, cùng tuổi. Chúng gọi tôi là “ thằng không có mẹ ”. Tôi rất xấu hổ khi có nguời biết tôi không có mẹ, biết tôi là con người vợ thứ hai của bố tôi. Đã thế tôi còn bị đặt tên là “Thứ” (là con nguời vợ thứ) để khỏi lẫn với con nguời vợ cả. Cũng vì sợ có nguời biết và chế nhạo nên mỗi lần gặp mẹ là tôi sợ run lên. Nhưng mẹ tôi không biết tôi sợ nên bà hay đón tôi lúc tan truờng. Mẹ tôi thuờng mặc áo nâu, yếm màu đỏ nhạt, trên đầu chít khăn mỏ quạ, miệng cuời rất tươi mỗi khi gặp tôi. Mẹ tôi từ khi bỏ nhà ra đi , bà buôn bán hàng xén, gánh những đồ lặt vặt ra chợ bán như cái kim, sợi chỉ để sống qua ngày. Tôi không biết rõ mẹ ở đâu, hình như vừa ở nhà ông ngoại, vừa ở nhà họ hàng hay bạn bè gì đó. Tôi sợ bị chế diễu nên tuyệt đối không dám nghĩ tới mẹ và cũng không dám nói chuyện với ai về mẹ. Mỗi khi đi học về gặp mẹ là tôi chạy trốn để khỏi phải ở bên bà. Tôi chưa kịp trông thấy mẹ thì mấy đứa trẻ cùng lớp đã gọi “Thứ kìa, bu của Thứ kìa !” thế là tôi lại phải một phen sợ hãi. Có lần đi ngược chiều với mẹ, tôi không thể chạy thoát đuợc. Mẹ tôi nắm tay tôi và nói: “Thứ lại đây với bu, con của bu ngoan, bu thương con…” Tôi giật tay ra khỏi mẹ và hét: “Bỏ tay người ta ra, bỏ ra ! bỏ ra !” rồi tôi vụt chạy. Cũng có lần mẹ nắm đuợc tay tôi lâu hơn và bỏ tiền vào túi tôi. Hôm ấy về nhà, bị bà chị lớn vặn hỏi, tôi sợ quá vất tiền vào gầm giường và thầm trách sao mẹ tôi lại cho tiền để tôi bị mắng. Tuy sợ hãi như vậy nhưng tôi lúc nào cũng mong mẹ tôi về với tôi, để tôi có mẹ ở bên như những đứa trẻ khác, tôi sẽ không bị mấy đứa trẻ chê cười là “thằng không có mẹ” nữa. Sự khao khát có mẹ không phải chỉ trong lúc còn bé mà ngay cả khi tôi truởng thành. Tôi nhớ lúc đã là sinh viên ban Cao học, tôi quen một cô nữ sinh Trưng Vương, tôi với nàng tình cảm chưa có gì đậm đà nhưng tôi quý bà mẹ của nàng, bà rất dịu dàng, ôn tồn, bà bảo tôi: “ cháu uống ly nuớc chanh cho mát ”, “ cháu uống ly nuớc trà cho ấm ” mỗi khi trời trở lạnh hoặc “ cháu đợi một lát em ra bây giờ … ”. Bà ngồi bên tôi, nụ cuời của bà thật hiền hậu, bà hỏi han tôi những câu chân tình mà trong đời tôi chưa bao giờ có ai hỏi tôi như vậy. Mỗi lần đến chơi tôi mong đuợc gặp bà, đuợc nói chuyện với bà hơn là gặp nguời con gái út của bà. Ngày nay mỗi khi tôi nghe ai nói đến mẹ hiền là tôi liên tưởng tới bà. Tôi cũng hay đi chơi với nguời con trai thứ hai của cô tôi. Cô tôi thương con trai rất mực, mỗi khi bọn tôi đi chơi về khuya cô tôi nhẹ nhàng trách con “ Sao con đi chơi về khuya quá vậy? ” hoặc “ Con nhớ về sớm không rồi lại ho ”. Con trai cô muốn đuợc tự do, không muốn bị gò bó, nhưng nguợc lại tôi thèm có đuợc nguời mẹ săn sóc như vậy mà tôi không có. Tôi đã đọc nhiều lần cuốn Bông Hồng Cài Áo. Mỗi lần đọc càng khiến tôi thêm buồn, thêm tủi cho một nguời con có mẹ mà không đuợc ở bên, có mẹ mà không dám nhận mẹ mình là mẹ.

Tôi sống trong sự khiếp sợ mọi nguời trong gia đình. Bản năng tự vệ của một đứa trẻ trong tôi thúc đẩy tôi phải thật ngoan, thật lễ phép cho tôi bớt bị hành hạ. Tôi nghĩ rất đơn giản là mẹ tôi bị mọi nguời trong nhà ghét, tôi cần phải từ khước mẹ thì tôi mới là đứa trẻ ngoan, đứa trẻ có hiếu trong gia đinh. Nhưng mấy nguời thợ làm cho nhà tôi, họ không biết lại chửi tôi là đứa con bất hiếu, tệ bac, không nhìn nhận mẹ đẻ ra mình. Lúc đó tôi không hiểu và lấy làm lạ tại sao tôi là đứa trẻ ngoan ngoãn, không bao giờ dám cãi lại ai trong gia đinh mà họ lại chửi tôi là đứa con bất hiếu. Tôi nghe nguời nhà nói mẹ tôi tranh để làm vợ cả không đuợc nên bỏ nhà ra đi. Như vậy là mẹ tôi bỏ tôi, chứ tôi đâu có bỏ mẹ, còn tôi đến gần mẹ thì tôi bị chế diễu, chê cuời và nhất là sợ nguời nhà, tôi đâu có làm gì khác hơn đuợc… Sự ngoan ngoãn, sợ sệt của tôi chỉ đuợc lòng bà cả và nguời anh lớn, còn đối với bà nội và nguời chị thì không lay chuyển đuợc. Có lần chị lớn đánh tôi đau quá cũng động lòng bố tôi. Bố tôi không có một sự ngăn cản nào nhưng rủ tôi ra ngoài ruộng xem mấy nguời nông dân gặt lúa cho nhà tôi, ý ông muốn tôi xa lánh bà chị độc ác. Gió đồng thổi nhẹ làm lay động những bông lúa vàng tạo nên âm thanh êm dịu và bay lên mùi thơm của lúa mới. Tôi cảm thấy thật thoải mái, tôi chạy nhẩy tung tăng đi bắt những con cào cào, châu chấu và đã quên đi cái đau do chị tôi đánh lúc ban trưa. Nhưng tối về tôi bị nguời chị chửi một trận: “ Chỉ có một mình bố bênh mày, còn mọi nguời ghét mày, bố không làm gì đuợc đâu ! ”. Gần đây tôi có đọc một truyện ngắn của một tác giả vô danh, đại ý câu chuyện nói về tâm sự của một nguời con có mẹ mù một mắt. Đứa trẻ bị bạn bè chế nhạo và gọi là “ cái thằng có mẹ một mắt ” nên rất xấu hổ khi đi với mẹ, không muốn ai biết về mẹ mình, không dám nhận mẹ mình là mẹ. Tôi hiểu đuợc tâm trạng của tác giả lúc đó, tâm trạng của một đứa trẻ như tôi, nhưng tôi không hiểu được khi tác giả của câu chuyện này lúc đã truởng thành, đã có vợ con, mẹ từ nơi xa sang tận Singapore để thăm mà còn sợ bị vợ con chê cuời để xua đuổi mẹ vì mẹ có một mắt. Điểm cảm động nhất của câu chuyện là sở di mẹ có một mắt vì lúc còn nhỏ con bị tai nạn và hỏng một bên mắt người mẹ đã hy sinh để bác si lấy mắt mình thay cho con nên mẹ chỉ còn một mắt. Khi người con biết đuợc việc này thì mẹ đã chết… Đọc xong chuyện tôi thấy bàng hoàng và gần gui với tác giả. Nhưng tôi cầu mong đây không phải là chuyện thật, nếu có thật thì chỉ thật ở phần trên chứ không thể thật ở phần duới, tức là phần nguời con đã trưởng thành, đã có đầy đủ lý trí mà còn trốn chạy mẹ, hất hủi mẹ thì không chấp nhận đuợc.

Cuộc di cư năm 1954 xẩy ra, bố tôi vào Nam, tôi đuợc cho đi theo để sau này săn sóc bố. Gia đình tôi ở miền quê, một vùng truớc kia đa từng là nơi kháng chiến nên sự ra đi rất khó khăn, phải đi thành từng nhóm nhỏ. Bố tôi đi truớc, tôi đi sau và giữ khoảng cách khá xa để không ai biết. Tôi phải gỉa làm đứa trẻ đi câu, chân đi đất, quần xắn đến đầu gối và đi tắt qua những cánh đồng lúa. Hai bố con đi bộ từ sáng sớm đến tối và nằm ở duới thuyền bến đò Khuể chờ gần nửa đêm nguời lái đò mới dám chở sang đất Kiến An. Sang đuợc Kiến An rồi bố con tôi không biết ở đâu cho hết đêm. Ban đầu chúng tôi định ngồi ở gốc cây đa bên đuờng đợi sáng về sau nghĩ lại thấy tình trạng an ninh có vẻ nguy hiểm nếu ngồi đó nên đã cố gắng đi tìm một nơi khác trú ngụ cho an toàn hơn. Sao may đi đuợc chừng nửa giờ thì gặp một ngôi chùa. Chúng tôi vào xin tạm trú, mới đầu sư bà rất ngại vì là chùa nữ và đã quá khuya nhưng lòng từ bi đối với khách lỡ độ đường nên đã thuận cho chúng tôi ở tạm nơi gác chuông bên ngoài chứ không cho vào trong chùa. Sư bà sai người mang nuớc uống và cho mượn chăn đắp. Tôi nghe tiếng cầu kinh và tiếng gõ mõ nho nhỏ biết là sư bà đã thức suốt đem hôm đó như để cầu nguyện và canh chừng khách lạ. Sáng sớm hôm sau bố con tôi cám on sư bà rồi đáp xe đò đi Hải Phòng và ở trại tạm trú Lạch Chay, nơi đây cũng có rất nhiều gia đình trú ngụ để đợi chuyến tàu vào Nam. Khoảng hơn một tuần lễ hai bố con tôi xuống đuợc tàu vào Sài Gòn. Giai đoạn này thật là đen tối vì gia đinh tôi ra đi với hai bàn tay trắng, mọi tài sản phải bỏ lại hết. Nguời chị lớn và bà nội bị kẹt lại ngoài Bắc không vào Nam đuợc. Tôi đuợc nguời cô, chị ruột của bố tôi ở Sài Gòn nuôi hai năm cho đi học. Cũng tại đây, cô tôi đã cho tôi biết sự thật về mẹ tôi, khác hẳn với những tin tức truớc kia mà gia đinh nói sai về bà.

Tôi ý thức đuợc và đã ngẩng đầu lên nhìn nhận mẹ đẻ ra mình chứ không như truớc nữa, nhưng không có cách nào để gặp mẹ. Khi tôi vào Nam rồi mẹ tôi vì nhớ con, đã đi khắp nơi dò hỏi, mãi sau mới biết đuợc địa chỉ của tôi tại Saì Gòn do con trai lớn của cô tôi ở lại Hà Nội cung cấp nên đã viết bưu thiếp cho tôi. Bưu thiếp là một miếng bìa cứng to bằng nửa trang giấy học trò theo điều kiện của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đinh Chiến chứ không đuợc viết thư có phong bì dán kín để cho hai bên dễ kiểm soát. Đại ý mẹ tôi hỏi thăm tôi và mong tôi học giỏi, khỏe mạnh v. v. Tôi rất cảm động về tấm lòng rộng luợng của mẹ vì đã nhiều lần tôi chạy trốn mà mẹ không bỏ rơi tôi, vẫn tìm tôi và vẫn muốn đến gần tôi. Lòng mẹ thật bao la như nguời ta đã nói. Tôi viết hồi âm cho mẹ, lần đầu tiên tôi đuợc gọi mẹ tôi là mẹ, xưng con, và an ủi mẹ tôi là vì chế độ phong kiến, lạc hậu nên hai mẹ con phải xa nhau và hứa với mẹ là sẽ chăm học rồi ký tên: “ Thứ, con trai của mẹ bên này vi tuyến”. Viết xong nước mắt tôi tự nhiên chảy ra, nếu có mẹ ở bên chắc tôi đã gục đầu vào lòng mẹ để khóc thật to cho vơi đi nỗi buồn bao năm tôi phải ôm giữ. Sau này tôi đuợc biết khi nhận đuợc tin, mẹ tôi mừng lắm và mang tờ bưu thiếp đi khoe với mọi nguời là tôi không còn trốn chạy mẹ tôi. Mẹ con tôi đã nhận nhau, hiểu nhau và thương nhau tuy không còn cơ hội gần nhau nữa…

Cuộc chiến mỗi ngày một khốc liệt, thư từ Nam-Bắc bị gián đoạn, tôi không sao liên lạc đuợc với mẹ tôi thêm một lần nào nữa kể từ đấy.

Rồi vận nuớc nổi trôi, tôi sang đuợc Hoa Kỳ. Sau một thời gian đời sống nơi đây đã tạm ổn định, đường bưu điện giữa hai quốc gia Mỹ và Việt Nam được thiết lập, tôi cố gắng liên lạc về Sài Gòn để nhờ tìm mẹ. Tiếc thay, tôi đuợc tin mẹ tôi đã qua đời từ lâu tại vùng quê xứ Bắc. Mẹ tôi chết trong cô đơn, mang theo xuống huyệt lạnh tất cả nỗi buồn khổ của một nguời đàn bà không chồng, không con bên cạnh…

Hôm nay là ngày giỗ mẹ, tôi viết những dòng này là tâm sự của một nguời con suốt đời không có mẹ ở bên và thành kính dâng lên hương hồn mẹ như một nén nhang thắp muộn.

Cám ơn mẹ đã gửi bưu thiếp cho con để trong đời con đuợc một lần gọi “ Mẹ ”.

Hoàng Nguyên Linh

Viết theo tâm sự của nguời con một đời phải xa mẹ… _____________________________________________________________

(Trích trong Tập Truyện “Mẹ Và Những Mùa Xuân” của Hoàng Nguyên Linh

Đã xuất bản.)


 

Tiếc cho “hạt giống” tốt”-Truyen ngan

Truyện ngắn cuộc sống: “Tiếc cho “hạt giống” tốt”

Nhớ lần đầu, trông thấy thằng bé chừng 8 – 9 tuổi, chị ấn tượng, bởi cậu có gương mặt sáng láng, nói chuyện hoạt bát. Khi ấy, nó đặt túi giấy nhỏ trên bàn, giọng nài nỉ:

– Cô mua giúp con bịch hạt dẻ đi, nay ế quá!

Chị chỉ vào miếng xốp màu trắng thật dài, thằng nhỏ đang ôm ghì trong lòng, thắc mắc.

– Cái này… con mang theo làm gì?

Nó cười tươi, cầm miếng xốp lượn qua, lượn lại trước mặt chị, khoe:

– Đây là xe hơi của con! Cô coi nó chạy nhanh hông?

Niềm vui từ trò chơi “lái xe hơi” tưởng tượng, dường như khiến cậu bé quên cả công việc mưu sinh vất vả mỗi đêm.

– Con có đi học không?

Nó lúc lắc đầu, ánh mắt có vẻ thẹn thùng.

– Sao con không đi học?

Nó nắm chặt túi hạt dẻ, nhìn xuống đất, giọng nhi nhí:

– Nhà con khó khăn… đi bán hạt dẻ… phụ ngoại kiếm tiền!

Một chút chạnh lòng, chị mua giúp nó một túi hạt dẻ, không quên khen ngợi nó:

– Con có một vầng trán cao, đôi mắt rất sáng! Con hẳn là một cậu bé thông minh. Nếu đi học, con nhất định sẽ học rất giỏi!

Nó cười tủm tỉm, gương mặt vừa tự hào, pha chút ngại ngùng. Từ hôm ấy, hễ gặp chị ở đâu là nó đưa tay vẫy chào đầy mến mộ.

Một hôm ghé quán cũ, vừa gặp nó, chị làm bộ rầu rĩ, thở than:

– Nay cô đang buồn lắm! Không mua hạt dẻ đâu!

Thằng nhỏ vội ngồi xuống kế bên, nhìn chị lo lắng, hỏi:

– Cô buồn tình hả?

Dù muốn bật cười, trước câu hỏi lạ đời của cậu bé mới tí tuổi đời nhưng chị vẫn “cố gắng” giữ vẻ mặt âu sầu. Chị lắc đầu. Nó lại đoán già, đoán non:

– Vậy chắc là cô buồn tiền rồi?

Không chờ chị trả lời, nó nhanh nhẹn, móc trong túi ra mấy chục ngàn tiền lẻ, chìa ra.

– Con cho cô tiền nè! Cô đừng buồn nữa!

Đến nước này, chị không thể “diễn kịch” được nữa. Chị mỉm cười, cảm kích trước tấm lòng hào sảng của cậu bé.

Chị nhận ra: Người lớn đôi khi chỉ tặng cho trẻ con, một ngọn lửa nhỏ, chút quan tâm nhưng không ngờ, chúng sẽ tặng lại họ, cả mặt trời yêu thương ấm áp, một cách vô tư lự, chẳng hề tính toán, so đo…

– Mà sao con lại đoán: Cô không buồn… tình thì là buồn… tiền?

Nó cười bẽn lẽn, triết lý như một ông cụ non.

– Thì con thấy người lớn… chỉ có hai chuyện đó làm họ buồn thôi!

Khi nó quay đi, chị cứ nhìn theo cái dáng nhỏ xíu xiu của nó, từ phía sau mà tiếc thầm: “Đôi khi, một hạt giống tốt còn phải may mắn… gặp được một miếng đất màu mỡ, mới có cơ hội sinh trưởng, phát triển rực rỡ… . Nếu được sinh ra trong gia cảnh tốt, biết đâu, con sẽ có một cuộc đời khác đi…!?”.

Chị hy vọng, mai này, trên bước đường mưu sinh, vạn ngã rẽ, cậu bé có gương mặt sáng ngời kia sẽ như một hạt giống, gặp may, được cơn gió cuộc đời, thổi đến vùng đất hứa…tốt tươi.

Tác giả: Nguyễn Nga

(Trích từ tập truyện ngắn những câu chuyện giúp nuôi dưỡng tâm hồn)

Nếu thấy câu chuyện hay, ý nghĩa, bạn đọc đừng quên chia sẻ nhé!

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

NGƯỜI CHA YÊU DẤU-Truyen ngan HAY

 

Một ngày, anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen. Câu đầu tiên khi gặp anh, chị nói trong sự cáu gắt: Ông lại bán xe rồi hay sao mà đi tàu lên đây?

– Anh cúi đầu trả lời lí nhí trong hổ thẹn: Ừ thì bán rồi, vì cũng không có nhu cầu lắm!

– Chị sầm mặt xuống: Ông lúc nào cũng vậy, suốt đời không ngóc đầu lên được. Hẹn tôi ra đây có chuyện gì vậy?

Khó khăn lắm anh mới mở lời nhờ. Chị cũng không dễ dàng khi chối: Nhưng mà gia đình tôi đang yên lành, nếu đưa con bé về e sẽ chẳng còn được bình yên nữa!

– Anh bối rối năn nỉ: Con bé đã đến tuổi dậy thì, anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ chu đáo cho nó được. Anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi. Chỉ cần nửa năm hay vài ba tháng gì cũng được. Em là phụ nữ em gần nó, em hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian để nó tập làm quen với cuộc sống của một thiếu nữ, sau đó anh sẽ lại đón nó về.

– Chị thở dài: Ông lúc nào cũng mang xui xẻo cho tôi. Thôi được rồi, ông về đi, để tôi về bàn lại với chồng tôi đã. Có gì tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau.

Anh nhìn chị với ánh mắt đầy hàm ơn. Anh đứng dậy, đầu cúi xuống như có lỗi. Tiễn chị ra xe rồi lầm lũi bước vào nhà ga đáp tàu trở lại Hamburg.

Anh và chị trước kia là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Chị theo học Ðại học Sư phạm rồi về làm giáo viên cấp 3. Anh đi lao động xuất khẩu ở Ðức. Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về làm đám cưới với chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Ðức. Thấy bạn bè anh ai cũng thành đạt, có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn bán, còn anh vẫn còn đi làm phụ bếp thuê cho người ta. Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu: Ðể có đủ tiền bạc và điều kiện lo thủ tục cho chị sang đây, anh đã vất vả tiết kiệm mấy năm trời. Anh đã không dám mạo hiểm ra làm ăn. “Ðồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng…”. Đó là câu nói cửa miệng chị dành cho anh. Giông tố thực sự bắt đầu nổi lên khi bé Hương ra đời. Bé Hương sinh thiếu tháng, bị thiểu năng bẩm sinh phải nuôi lồng kính đến hơn nửa năm. Khi đó: Chị trách anh, đến một đứa con cũng không làm cho ra hồn thì hỏi làm được gì chứ. Anh ngậm đắng nuốt cay nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số

Bé Hương được 3 tuổi vẫn chưa biết nói, chị muốn ly dị. Chị nói, ông buông tha cho tôi, sống với ông đời tôi coi như tàn. Anh đồng ý vì anh biết chị nói đúng. Anh là người chậm chạp, không có chủ kiến và không có chí tiến thân, sống an phận thủ thường. Nếu cứ ràng buộc sẽ làm khổ chị. Chị cũng rất thương con, nhưng vì bận bịu làm ăn nên nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn.

Ly dị được gần 1 năm thì chị tái giá và có thêm một bé trai. Thành phố Bremen nhỏ, người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố. Chị gặp và nói với anh điều đó. Cha con anh liền chuyển về Hamburg sinh sống.

Chị không phải là người vô tâm. Thỉnh thoảng vẫn gửi tiền nuôi dưỡng và gửi quà cho con bé những dịp năm mới hay Noel. Thấm thoát đó mà giờ đây con bé đã sắp trở thành một thiếu nữ.

Con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng con bé rất ngoan. Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà.

Chồng chị đồng ý cho đón con bé về sống cùng vài tháng, với điều kiện anh không được ghé thăm. Chị cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc với vẻ mặt đần đần dài dại của anh. Vợ chồng chị đã mua 1 căn nhà rộng, nên con bé được ở phòng riêng. Chị xin cho con bé theo học tạm thời ở một trường khuyết tật gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về nhà. Ði học về, nó cứ thui thủi một mình trong phòng. Ðứa em trai cũng như mẹ và bố dượng rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn, nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe

Nhà mẹ nó có cái đàn piano rất đẹp để ở phòng khách cho em trai nó chơi. Có lần nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó không được phá đàn của em. Từ đó nó không dám đụng đến nữa.

Có hôm anh gọi điện thoại cho con, nó nghèn nghẹn nói lõm bõm: “… đàn… klavia… con muốn…”. Anh thở dài và hát cho con nghe. Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho con. Rồi thưa dần, thưa dần. Cho đến một ngày anh không gọi cho con nữa. Sau một tuần anh không gọi điện thoại, Con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà không đi học. Chị không biết gì cứ mắng nó giở chứng.

Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh vừa hát thì thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm ra kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra, đã có lần anh nói với chị, con bé ở trường khuyết tật có học đàn piano, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Chị tưởng anh kể chuyện lấy lòng nên chị không quan tâm. Chị đến gần sau lưng nó, và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống và lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì… Và chị sởn cả da gà, khi chị nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại là hát bằng tiếng Việt hẳn hoi: “… Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo… sống với cha êm như làn mây trắng… Nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con… với tháng năm nhanh tựa gió… Ôi cha già đi, cha biết không…”.

Chị vòng tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lồng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó. Nó chìa cho chị một tờ giấy đã gần như nhàu nát. Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra nhìn nó hỏi, con biết bố con bị ung thư lâu chưa. Nó chìa bốn ngón tay ra trước mặt mẹ. Chị hỏi, bốn tháng rồi hả. Nó gật đầu.

Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy, và từ từ ngồi thụp xuống nền nhà. Con bé hốt hoảng đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ, rồi vừa ấp úng nói vừa ra hiệu cho mẹ đại ý là:

– Bố ở trên Thiên Ðường rồi! Mẹ yên tâm, con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg. Ngày mai con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu. Con về ở tạm đây là vì bố muốn thế. Bố muốn mình ra đi được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con…”.

Chị ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói: con gái ngoan của mẹ. Ngày mai nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con về Hamburg…

Theo facebook: Anh Q. Tran (TS. Trần Quốc Anh).

From: haiphuoc47& NguyenNThu


 

Người Hạ Sĩ Nhứt- Truyen ngan

Lời giới thiệu: Một câu chuyện hiếm có, đầy tình người rất cảm động với những hình ảnh hãi hùng không bao giờ quên….

******

Mọi chuyện dường như là có sự sắp đặt. Trong cuộc đời tui, bao nhiêu lần vào sanh ra tử, cứ tưởng là sắp đi thăm ông bà ông vải, nhưng lại chưa. Bà xã, thỉnh thoảng vẫn chọc quê, “Nghèo mà ham; anh tưởng muốn đi là đi hả? Tui chưa cho anh đi thì hổng được đi đó. Nghe chưa?”

Chuyện tình duyên thì cũng rụp, rụp, rụp – ý tui muốn nói là suôn sẻ đó. Còn chuyện người anh kết nghĩa thì như trên trời rớt xuống. Đúng là người tính hổng bằng Trời tính mà. Tía tui hay nói như dzậy.

Nói xa nói gần hổng bằng nói thiệt.  Tui là con một trong gia đình nông dân nghèo. Nghe Má kể lại thì lúc được một tuổi rưỡi, tui bị bịnh ban gì đó, mà hai thầy thuốc Nam trong miệt cồn Dừa (tỉnh Phong Dinh) này đều bó tay. Tía bằng lòng bán miếng ruộng duy nhất của gia đình để có tiền đưa tui lên Sài Gòn chữa bịnh, nhưng đường đi quá cực khổ, và có thể tui sẽ chết trên đường trước khi tới nhà thương, thành ra lại phải trở về khi đi chưa được một phần năm đường.

Hổng lẽ ngồi khoanh tay nhìn con mình chết, Tía nghe người ta mách hái mấy lá gì đó trộn với sả nấu cho tôi uống. Uống xong, nghe Má kể lại, tôi giựt giựt mấy cái rồi nằm xụi lơ, rồi ngủ luôn 2 ngày. Khi tui thức dậy, Má khóc quá trời vì quá mừng. Qua được cơn bịnh này thì tui hơi chậm lớn và cũng hơi chậm nói – nghe Má nói như dậy. Giờ ngồi nghĩ lại thấy thương ổng bả quá trời.

Khi được 5 hay 6 tuổi tui hay theo Tía ra đồng coi dùm Tía mấy cái cần câu trong lúc ổng làm ruộng. Ngồi hổng có gì làm, tui thường lượm gạch hay sỏi để chọi chim, rắn hay chuột đồng. Nhiều hôm tui chọi trúng được vài con chuột hay chim đem về cho Má nướng. Còn cá trê Tía câu Má kho tiêu ngon lắm. Thỉnh thoảng Tía uống rượu đế với mồi cá kho tiêu, và khi uống rượu Tía nói nhiều hơn mọi ngày. Phải nói là cuộc sống khá êm đềm.

Tới 8 tuổi tui mới đi học, nhưng tui học dở lắm, chắc là tại quá ham chơi. Khi rảnh tui làm ná bắn chim (thay vì chọi đá như hồi nhỏ). Tui cũng hay chơi bắn bi với tụi nhỏ hàng xóm. Phải nói là tui dùng ná rất giỏi vì ngày nào tui cũng đem chim, vịt trời hay chuột về cho Má làm đồ ăn. Khi bắn bi cũng vậy, tụi bạn thua tui dài dài, thành ra có tiền mua bánh tráng, xôi với “cà lem” ăn. Chỉ có học là tui dở thôi. Học đó rồi quên đó. Phải học lớp Năm đến 2 hay 3 lần mới được lên lớp Tư.

Có lần tan học, trên đường về, tui theo bạn bè vào vườn mía đỏ bỏ hoang (thân mía màu ưng đỏ hồng, mềm và ngọt khỏi chê luôn). Muốn được mía lớn tui phải đi tuốt vô trong sâu. Đang kéo chiến lợi phẩm ra, thì tui thấy đau điếng dưới chưn.Nhìn xuống thì trời ơi, một con trăn bự đang cắn chặt vô cái bắp chuối. Tui cố kéo chưn ra nhưng hổng xong vì con trăn mạnh quá. Thân nó trườn tới và quấn luôn chưn kia.

Biết là hổng xong nếu tiếp tục cái đà này, tui la cầu cứu nhưng vì ở tuốt trong sâu, hổng ai nghe. Hai chưn bị trăn cột xiết rồi, tui ngã xóng xoài – chuyện đi thăm ông bà là cầm chắc trong tay. Hai chưn đã tê cứng. Chợt nghĩ tới Tía và Má, tui như bừng tỉnh và quơ đại cái cặp táp. Đang dùng cái cặp táp da đập vô đầu con trăn, cây viết văng ra. Tui dùng cây viết đâm túi bụi vào mắt con trăn. Đâm hết mắt này rồi đâm qua mắt kia. Chắc là bị tui đâm khá sâu vào mắt, con trăn tự nhiên nhả chưn ra, lăn lộn, hổng xiết nữa, và bò đi nơi khác.

Hôm đó Má khóc nhiều lắm. Má cứ lẩm bẩm cám ơn ông bà che chở. Má nói là cái số tui chưa rụng. Tía tới vườn mía hoang và bắt được con trăn mù cổ bà chảng. Đem ra chợ bán thịt được gần hai chục đồng. Lúc đó 1 lượng vàng chỉ có 65 đồng. Tía nói sẽ dùng tiền này cho tui khi đi học xa, hay lúc cưới vợ. Tía cấm hổng được đi vô rừng mía đó nữa. Nói cho cùng, sau cái vụ trăn quấn thì có cho tiền tui cũng hổng dám vô.

Tui học ạch đụi tới năm 15 tuổi mới học xong lớp Nhứt. Thấy tui học chậm, Tía cho tui ở nhà phụ làm rẫy. Mùa hè năm sau nhóm trẻ tụi tui đá banh thắng nhóm bên cồn Cát 3-2. Tui đá vô “gôn” luôn 2 trái trong vài phút chót vì tui chạy lẹ lắm. Được 80 đồng phần thưởng, tui dẫn “đội banh nhà” ra chợ ăn gỏi đu đủ và uống nước mía.

Thắm, cô bán nước mía, nhận ra tui, nhưng tui hổng nhận ra cổ. Hỏi ra mới hay là tui học cùng lớp với Thắm 6 năm trước. Cổ khác hẳn con nhỏ ốm nhom, đen thui hồi đó. Thắm giờ có da có thịt, da bánh mật, nói chuyện có duyên, và biết buôn bán.

Sau lần đó, tụi tui kết nhau. Đưa Thắm về nhà, Tía và Má mừng lắm. Má nói là Má luôn muốn tui có người anh để giúp đở bảo bọc vì tui chậm chạp và thật thà. Nay có người bạn đời giỏi như Thắm đến với tui, Má vui lắm. Tám tháng sau, tụi tui lập gia đình. Khoảng 1 năm sau khi cưới vợ thì tui phải nhập ngũ.

Chỉ sau vài tháng trong Quân Trường Quang Trung, vì được nhiều sự chú ý của các huấn luyện viên cao cấp bởi tui chạy đua rất mau (chắc vì muốn thắng đá banh để có tiền mua nước mía), và tui bắn súng hết xẩy (hay là vì chọi đá bắt chuột, dùng ná bắn chim, bắn bi kiếm tiền mua đồ ăn… hồi nhỏ), tui được huấn luyện đặc biêt để trở thành xạ thủ.

Khi mãn khóa ở Quang Trung, tui được chuyển đi Kontum với cấp bực binh nhì trong đội Biệt Kích. Nhiệm vụ của tui là trốn trên những đồi cao có nhiều cây, quan sát, truyền tin và bắn tẻ khi được lịnh. Có khi tui đi chung nhóm 3 hay 5 người, và có khi chỉ có mình ên. Thường được thả trên rặng Trường Sơn vào những đêm sương mù dầy đặc.

Những lúc đi xa, tui nhớ Thắm, nhớ Má và Tía lắm. Cái sướng của công việc này là tui dùng sở trường của mình (chạy mau và bắn giỏi) để phục vụ đất nước. Tui cũng khoái vụ trốn trên núi cao vì hồi nhỏ thích chơi Năm Mười. Xếp tui dặn là bất cứ ai hỏi thì tui phải nói tui là lính kiểng gác kho gạo trên Đà Lạt.

Mà cũng hay, vì sau khi núp trên núi vài tháng nên da trắng và tóc dài, tui dòm cũng giống lính kiểng lắm chớ bộ. Sau mỗi lần đi công tác vài tháng tui được nghỉ phép cả tháng với rất nhiều tiền (hình như là tiền tử) khi về thăm gia đình. Tiền bạc dồi dào, tui mua đồ cho mọi người mút chỉ. Vì vậy bạn bè, hàng xóm thương, che chở và giúp đỡ tui.

Lần đó sau khi về thăm nhà chưa được 2 tuần lễ, tui bị gọi về gấp vì có chuyện lớn. Đi lẹ ra Ô Môn, vô sân bay Trà Nóc, bay thẳng về KonTum để nhận lịnh. Trước khi được điều động lên một địa điểm bí mật trên rặng Trường Sơn để thăm dò như các lần trước, tui được dặn là phải cố gắng nhiều vì 2 đồng nghiệp Biệt Kích (BK) đã mất tích trong vùng đó.

Điều may mắn lần này là tui tìm được 2 người BK kia không xa nơi đáp xuống. Một người đang bị bịnh. Máy truyền tin bị hư, và đạn dược thiếu thốn tại một số lớn quân nhu bị rớt mất khi thả dù. Tụi tui núp trong 1 hang núi có nhiều cây rậm rạp. Điều không may mắn lần này là tụi Việt Cộng biết được sự có mặt của nhóm BK vì họ tìm ra số quân nhu và dụng cụ bị rớt. Họ lùng kiếm ráo riết. Để được an toàn, tụi tui im hơi lặng tiếng và chỉ bắn khi thiệt cần.

Sau cùng cũng phải bắn trả vì tụi nó tới quá gần, nhưng tụi tui bắn thật ít vì thiếu thốn đạn dược. Bọn việt cộng dù đông hơn, nhiều đạn hơn, nhưng hổng dám mạnh dạn tiến lên vì bọn chúng ở vị trí dưới thấp, trong khi nhóm tụi tui phía trên cao bắn xuống phát nào trúng phát nấy. Cầm cự được hơn 6 tiếng đồng hồ, thì nhóm tui gần như hết đạn. Chỉ còn vài trái lựu đạn để tử thủ. Tui không nghĩ là mình qua được con trăng này. Nghĩ tới Thắm, Tía và Má, tui chạnh lòng.

Trong cơn nguy hiểm như chỉ mành treo chuông, bỗng nhiên máy bay trực thăng tiếp cứu tới. Máy bay phải đánh đông phạt tây (điệu hổ ly sơn) và dùng hỏa mù để cứu nhóm tui. Trong phi vụ này, tui bị thương vì té gẫy tay và được đưa về Chẩn Y Viện Cộng Hòa điều trị.

Sau thời gian dưỡng thương, tại tay hổng còn khỏe và chính xác như ngày trước, tui được chuyển về một quận lỵ nhỏ gần Suối Dây, tỉnh Tây Ninh với cấp bực Hạ Sĩ Nhứt và giã từ cuộc sống BK Đặc Biệt từ đó.

Khoảng 4 tháng sau thì Thiếu Úy Đức (TUĐ) người Bắc tới làm Phó Quận Trưởng. Tui được lựa làm gạc đờ co (bảo vệ) cho ông Phó. Vài lần đang lái xe jeep chở ông Phó đi quan sát ngoài biên giới quận thì tụi cộng phỉ bên kia rừng tràm bắn lén. Vừa nghe tiếng nổ là tui phản xạ đẩy TUĐ nằm xuống, che cho ông, và cùng lúc tui nhả hàng loạt đạn về phía tiếng nổ.

Sau vài lần như vậy, tui được tin cẩn hơn và trở thành cánh tay trái của ổng. Tui luôn khuyên ổng phải cẩn thận, vì đây là vùng xôi đậu không biết ai là địch, ai là thù. TUĐ là thượng cấp, nhưng ổng cũng xem tui như người nhà.

Một lần đưa ổng đi xem nhà cửa của dân làng do nhóm lính sửa chữa, TUĐ gặp cô Hân (con gái bà chủ căn nhà ở cuối quận, kế bên con sông nhỏ ngăn cách khu rừng Tràm âm u bên kia). Theo như tui thấy thì hình như lúc gặp cô Hân, TUĐ bị tiếng sét ái tình hay sao đó vì ổng đứng như trời trồng và nói năng lắp bắp. Thấy kỳ quá, thêm nữa khu này nguy hiểm khi trời sâm sẩm tối, tui nói thay cho ổng:

– Trễ rồi, Thiếu Úy. Mình phải đi dzề. Chào cô.

Cô Hân đẹp, ăn nói khéo léo… chắc là người bên kia, gài lại đây. Tía của cô vắng mặt. Hay là ông ta đã tập kết ra Bắc? Thêm nữa, tên Ba Thọt (ở đối diện nhà cô) – một người có tiểu sử và hành động rất khả nghi – thường qua lại nhà cô thăm viếng.

Mỗi sáng khi cô Hân đi làm ngang văn phòng quận, tui thấy cô cố tình đi chậm lại. Hay là cô đang nghe ngóng tin tức? Hay là xem cá có cắn câu chưa? Hay là đang dò xét tình hình trong văn phòng quận để tường trình cho phe bên kia?… Hàng trăm câu hỏi, nhưng hổng có câu trả lời. Thôi, tốt nhứt là đề phòng thì vẫn hơn.

Vài tháng sau, Kontum, Ban Mê Thuột và nhiều vùng cao nguyên thất thủ. Rồi Bảo Lộc-Madagui vào tay bọn qủy đỏ…

Một buổi chiều tháng tư, tụi cộng phỉ đem xe tăng, súng lớn tới tấn công quận. Đại Úy Long quận trưởng mất tích. TUĐ và các anh em quân đội tụi tui liều chết bắn chặn quân địch. Trước hỏa lực quá mạnh của địch, lực lượng tiểu đoàn phòng thủ quận tan rã. Kẻ chết, người bị thương, người chạy trốn.

Tui và TUĐ đều bị thương nhẹ. Cùng đường, hai thầy trò chạy về phía cuối quận. Đinh ninh là Ba Thọt hay cô Hân sẽ chờ để bắt sống hay thanh toán tụi tui ở đó, tui cầm chắc khẩu tiểu liên sẳn sàng mạng đổi mạng. Khi chạy tới gần con sông cuối quận (gần nhà cô Hân), TUĐ ngã quỵ vì kiệt sức.

Đang đỡ TUĐ lên, thì cô Hân chạy ra mở cửa rào ra dấu cho tụi tui vào nhà gấp. Khi vào trong, cô băng bó cánh tay của TUĐ. Cô đưa cho tụi tôi 2 nắm cơm và ít nước lạnh để ăn cầm hơi. Trong lúc tui và TUĐ ăn, cô lấy 2 ruột xe đạp, bơm lên, và đưa cho tụi tui. Cô ta chỉ tay vào con sông sau nhà:

– Hai anh thả nổi chừng 8 hay 9 cây số tới nhà thờ Suối Dây. Nhớ tìm người linh mục gốc Nam Định xin giúp đỡ. Chừng nào khỏe lại thì đi. Nếu tình hình lộn xộn quá, thì trốn qua Kampuchia. Hai anh đi cho lẹ trước khi họ tới đây.

Lúc đó tui mới biết là mình sai. Cô Hân là người ơn, chứ không phải là vẹm như tui nghĩ. Món nợ cứu mạng này lớn lắm.

Khi tụi tôi xuống sông thì trời đã tối. Nương theo dòng nước hai thầy trò tới nhà thờ Suối Dây khoảng 2 giờ sáng. Người Linh Mục dấu tụi tui ở đó gần 3 tuần lễ dưỡng thương. Khi gần như hồi phục hoàn toàn, TUĐ và tui chia tay. Hôm đó cả hai đều khóc. TUĐ nghẹn ngào:

– Hạ Sĩ Nhất Sơn. Tôi bao giờ cũng xem chú… như người nhà. Cám ơn chú… đã làm việc với tôi trong 2 năm qua, và… đã giúp đỡ tôi trong cơn hoạn nạn này. Nếu còn duyên thì anh em mình sẽ gặp lại.

Sau khi từ giã TUĐ và người Linh Mục, tui về Cần Thơ đoàn tụ với gia đình. Mất mấy ngày mới về tới Sài Gòn. Thành phố giờ có tên mới – cái tên của kẻ sát nhơn. Tui hổng quen dùng cái tên mới đó. Phải mất thêm cả tuần nữa mới quá giang về đến cồn Dừa vì xe cộ bị đình trệ sau ngày đổi đời – cái ngày mà hàng vạn người vui, nhưng hàng triệu người buồn. Khi bước vô nhà, Má bật khóc vì quá mừng. Thắm thấy tui tiều tụy quá cũng khóc. Tía thì nhờ người hàng xóm đi mua ít đồ ăn mừng ngày đoàn tụ.

Hai hôm sau, ba tên công an tới nhà chỉa súng bắt tui đi lên xã. Tên xã trưởng là một tên Bắc Kỳ răng hô mã tấu bẩn thỉu với khuôn mặt khắc khổ nhăn nheo như một cái mền rách. Hắn đập bàn đánh phủ đầu với giọng Bắc đặc sệt vô văn hóa:

– Mày có biết tội phản động làm việc cho CIA cũa Mỹ Ngụy nặng như thế nào không? Tội ác của mày lớn lắm. Mày có nợ máu với nhân dân.

– Thưa đồng chí xã trưởng…

– Ai là đồng chí với bọn phản động như mày.

– Dạ thưa xã trưởng. Tui chỉ là lính kiểng gác kho ở Đà Lạt. Tui có bắn giết ai đâu?

– Tao có hồ sơ của mày. Đừng chối cãi nữa. Nhận tội đi. May ra được đảng khoan hồng.

– Thưa xã trưởng, chắc là có người trùng tên, chứ tui đâu có làm gì như dậy.

– Giam thằng này lại. Đồ ngoan cố, mất dạy. Tuần tới đưa nó lên phòng công an tỉnh để giải quyết.

Tui bị nhốt 8 ngày trước khi bị chuyển lên ty công an tỉnh Cần Thơ. Khi vào gặp tên trưởng phòng công an, tui không dè đó là thằng Huân trong đội đá banh ngày nào. Nó ăn gỏi đu đủ bò khô và uống nước mía với tui sau các trận đá banh vài lần. Thêm nữa mỗi lần tui về thăm nhà, tui đều có mua đồ cho thằng Huân và cho dì Tám má nó. Tui cũng nói là làm lính kiểng trên Đà Lạt, khi nó hỏi.

Thằng Huân nhận ra tui ngay. Tui chỉ trả lời bằng những gì mà sếp cũ của tui dặn nói. Tui đổ thừa là có người trùng tên. Nhờ thằng Huân dễ dãi, tui thoát nạn.

Tui đi tù cộng sản mấy ngày dành cho Hạ Sĩ Quan. Sau đó về làm rẫy với gia đình ở cồn Dừa.

Xã hội dưới tay bọn đảng CSVN xuống dốc như xe hổng thắng. Ai cũng nghèo, đói, và khổ cực. Gia đình tui làm rẫy, cũng bữa đói, bữa no, nhưng đỡ hơn nhiều người. Tui lại bắn chim sẻ, vịt trời như hồi nhỏ. Tiếp tục bắt chuột đồng, bắt cá lóc hay cá trê dưới ruộng làm khô lén để dành cho những ngày mưa gió.

Hai năm sau Thắm cho gia đình tui một tin vui là thằng con trai đầu tiên. Rồi năm sau nữa thì thằng thứ hai. Khi miếng ruộng duy nhất của gia đình bị xung công, Tía rầu rĩ sanh bệnh và ra đi năm sau đó. Mất đất trồng trọt, gia đình dọn về Ô Môn năm 1979. Vợ chồng tui làm công làm mướn bất cứ thứ gì ở chợ Ô Môn để kiếm tiền.

Đã 8 năm từ ngày rời Suối Dây, tui hổng có tin tức gì về Thiếu Úy Đức (TUĐ). Tình cờ năm 1983 khi đi mua bán đồ ở chợ Cái Răng, tui gặp Đại Úy Long (ĐUL) Quận Trưởng năm nào. ĐUL mới được thả về từ trại tù khổ sai của cộng sản trước đó 6 tháng, và còn đang bị quản chế. Đi đâu cũng phải xin phép và trình diện mỗi tuần. Thấy tình trạng ĐUL thảm quá, tui cho ổng 1 con khô mực và nửa ký gạo dấu trong sách tay. ĐUL nói là có gặp TUĐ trong trại tù cộng sản mùa thu năm 1977.

Khoảng 2 năm sau, nghe nói là TUĐ vượt ngục rồi bị bắn chết ở gần biên giới Lào làm gương cho kẻ khác. ĐUL cũng cho biết là khi được thả, trên đường về ổng nghỉ một đêm tại quận lỵ ngày xưa vì không còn xe về Sài Gòn. Quận tiêu điều lắm. Tui hỏi về mấy người ở cuối quận kế bên con sông nhỏ. ĐUL nói là 2 căn nhà đó đã bỏ hoang, xiêu vẹo, không người ở. Nghe làng xóm nói là bà già (má cô Hân) đã chết và chôn trong ngôi mộ nhỏ sau nhà. Đứa con gái (cô Hân) thì biệt tăm. Hình như đã chết trôi vì người ta tìm thấy dép của cổ và cục xà bông ở bờ sông sau nhà.

Tui nghe xong cảm thấy choáng váng như bị trúng gió. Hôm đó tui về nhà khóc. Vợ tui hỏi. Tui kể lại sự tình. Tội nghiệp vợ tui. Thắm làm một bàn thờ cho TUĐ trên nóc tủ kế bên bàn thờ của Tía và Má, và tối đó cúng 1 chén cháo trắng.

Làm ăn ở chợ Ô Môn khó khăn, gia đình tui mướn một miếng đất cách Ô Môn 20 cây số để trồng khoai mì và khoai lang. Tui dậy 2 đứa nhỏ làm bẫy bắt chuột đồng, làm ná bắn chim… Vợ chồng tui thì quen cảnh nghèo rồi. Chỉ tội 2 đứa nhỏ thiếu ăn và tương lai mù mịt. Nhiều đêm nóng nực hổng ngủ được, tui cứ nhớ lại những ngày tui ở Suối Dây. Nhớ TUĐ và nhớ cả người đã cứu hai thầy trò. Chỉ biết chắc lưỡi thở dài cho người vắn số.

Sau nhiều kế hoạch kinh tế do những “đỉnh cao trí tuệ” của đảng cộng sản đưa ra đều bị thất bại thê thảm, chính quyền thả lỏng và có ý muốn đi theo kinh tế thị trường tự do. Cuộc sống dân nghèo trở nên dễ thở hơn một chút. Gia đình tui bắt đầu nuôi heo để thanh toán số khoai lang ung thúi khi bán hổng hết.

Làm sao tui quên được buồi chiều hôm ấy. Đó là một buổi chiều đầu tháng Tư năm 1995, khi tui đang làm rẫy, ngăn nước không cho vào đất trồng trọt quá nhiều, thì Thắm ra rẫy gọi về nhà có khách. Khi về nhà thì thấy 2 người ăn mặc sang trọng có vẻ đàng hoàng. Tui không nhận ra người đàn bà, nhưng người đàn ông thì nhìn quen lắm.

Sau vài giây ngỡ ngàng, người đàn ông nhìn tui và nói một cách ngậm ngùi trong nước mắt:

– Chú Sơn có nhận ra tôi không? Anh Đức đây!

– “Hả … Ôi trời, Thiếu Úy Đức… ông Phó!” Tui trả lời khi nước mắt bắt đầu ứa ra vì quá mừng.

– Đừng gọi như vậy. Gọi là anh hay anh Đức vì chú là em của tôi mà.

– Dạ, dạ… ông Phó, à quên…  anh Đức. Tưởng là anh đã… Gia đình tui làm bàn thờ cho anh mười mấy năm nay.

– Thắm ơi, đây là anh Đức. Thằng Tân, thằng Hoàng, ra chào Bác Đức.

– Còn đây là bà xã của anh.

– “Dạ, chào chị. Dạ, chị tên gì?”  Tui hỏi.

– “Chú nhìn kỹ xem ai? Cô Hân ở Suối Dây đó.”  TUĐ trả lời.

Tui lặng cả người và đứng chết trân. Người ơn của tui bằng xương bằng thịt ngay trước mặt. Thời gian như dừng lại. Nước mắt bắt đầu chảy tràn trên mặt, và giọng nói lạc đi:

– Tui hổng có dè có ngày này… 20 năm rồi. Cám ơn anh chị … đã nhớ đến tui… Tui mừng quá. Sao… tới bây giờ anh chị mới tới ? Tui có nằm mơ hông?

TUĐ lau nước mắt, rồi chậm rãi nói:

– Chuyện dài lắm. Sẽ kể sau. Bây giờ anh chị mời cả nhà đi ăn mừng. Tốn cả tuần đi kiếm cô chú đó.

* * *

Nghe anh kể lại chuyện trốn khỏi trại tù năm 1979, và bao nhiêu lần vượt biên hụt, tui nể quá. Chuyện chị giả chết trôi để trốn khỏi Suối Dây và những lần vượt biên bị bắt thì cũng ly kỳ quá trời. Rồi đến khúc hai người gặp lại nhau bên Mỹ, tui mừng như là chuyện của mình. Tui hãnh diện có được ông anh và bà chị dâu giỏi như vậy.

Mấy bữa sau, vợ chồng anh mướn xe đưa gia đình tui đi thăm Suối Dây. Trên đường về, có ghé Vũng Tàu tắm biển. Thấy thương bà xã và 2 đứa con tui quá. Lần đầu tiên vợ con tui được đi xe hơi, được đi ra khỏi Cần Thơ, được lên Sài Gòn, được đi Suối Dây, được ra tắm biển Vũng Tàu, được đi ăn nhà hàng, được uống nước ngọt cô ca cô la…

Trước khi về Mỹ, tui hổng dè vợ chồng anh lại giúp một số tiền lớn để mua một cửa hàng gần chợ Ô Môn buôn bán nông phẩm cho gia đình tui đỡ cực. Anh chị nói sẽ về thăm thường xuyên hơn.

Tối hôm đó tui thắp nhang cho Tía và Má. Tui thì thầm “Má ơi, Má luôn muốn là con có người anh để che chở cho con. Má ơi, điều Má muốn đã xẩy ra. Con cám ơn Tía và Má.”

Như tui đã nói, cuôc đời tui như có sự an bài hay sắp xếp. Vào sanh ra tử bao lần, mà hổng sao. Duyên phận củng thẳng tắp. Khúc sau cuộc đời, cực thiệt, nhưng lại có thêm người anh nuôi và chị dâu hổ trợ. Bây giờ tui hổng có kỳ vọng nào hơn là sẽ có một ngày cái nhóm mắc dịch, khốn nạn, vô thần, vô đạo đức này tan rã cho tui nhờ và cho người dân bớt khổ.

(Nguyễn Vô Danh)

Nguồn : Sài Gòn Trong Tôi .

Hình chỉ có tính cách minh họa, không phải những nhân vật trong bài viết.


TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM

From: Tu-Phung