20 nhà văn ‘từ bỏ Hội nhà văn Việt Nam’

20 nhà văn ‘từ bỏ Hội nhà văn Việt Nam’

Một số thành viên của nhóm vận động thành lập Văn đoàn độc lập

Hơn 20 nhà văn, nhà thơ đã ký tên vào đơn tuyên bố từ bỏ Hội nhà văn Việt Nam (HNVVN), trong đó có nhiều người nổi tiếng như nhà văn Nguyên Ngọc, nhà thơ Đỗ Trung Quân, giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Lá đơn được đăng tải trên trang mạng xã hội của các thành viên trong nhóm viết:

“Là những người viết văn đã nhiều năm tham gia Hội Nhà Văn Việt Nam, đã góp sức xây dựng Hội qua thời chiến cũng như thời bình, đã đau xót trước sự xuống cấp ngày càng nghiêm trọng của Hội trong những năm gần đây và tích cực góp ý với Hội để khắc phục tình trạng ấy.”

“Đến hôm nay, nhận thấy tình trạng suy thoái của Hội đã trở nên không thể cứu vãn nếu không có sự thay đổi nhiều điều căn bản trong điều lệ và tổ chức của Hội để Hội thực sự là một tổ chức nghề nghiệp tập hợp những người viết muốn xây dựng một nền văn học Việt Nam đích thực, tự do, nhân bản.”

“Nhận thấy khả năng thay đổi trên càng không thể xảy ra khi lãnh đạo HNVVN đã tự tiện tước quyền tham gia Đại hội lần 9 sắp tới của chúng tôi với lý do chúng tôi là thành viên của một ban vận động thành lập một văn đoàn tương lai – đó là việc làm vi phạm trắng trợn điều lệ hiện hành của HNVVN, tước bỏ một trong những quyền cơ bản của hội viên và công dân, xúc phạm nghiêm trọng danh dự của người cầm bút”

“Chúng tôi tuyên bố từ bỏ Hội nhà Văn Việt Nam kể từ ngày hôm nay, 11 tháng 5 năm 2015”.

Hội Nhà văn Việt Nam trước đó đã có hành động được cho là “loại bỏ” những hội viên trong nhóm vận động thành lập Văn đoàn độc lập Việt Nam.

Trong phiên bỏ phiếu bầu đại biểu đi dự Đại hội toàn quốc diễn ra ở TP. HCM ngày 5/5, lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam đề nghị những người tham dự gạch tên chín người sinh sống ở TP. HCM và tham gia Văn đoàn độc lập.

Chín người này là Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Lập, Dạ Ngân, Ý Nhi, Hiền Phương, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Quang Thân, và Phạm Đình Trọng.

Tổ chức này xuất hiện tháng Ba năm ngoái với lời kêu gọi về “quyền tự do sáng tác và công bố tác phẩm”.

Lý do Hội nhà văn Việt Nam đưa ra để loại chín người này là họ tham gia một tổ chức “không được thừa nhận và có dấu hiệu phạm pháp”, theo tin từ đại hội nhà văn khu vực TP. HCM.

‘Điều cần thiết’

Các nhà văn, nhà thơ ký tên từ bỏ Hội nhà văn Việt Nam

Nguyên Ngọc

Đỗ Trung Quân

Nguyễn Quang Lập

Nguyễn Huệ Chi

Phạm Đình Trọng

Võ Thị Hảo

Bùi Minh Quốc

Đặng Văn Sinh

Hoàng Minh Tường

Lê Hiền Phương

Ngô Thị Kim Cúc

Nguyễn Quang Thân

Thùy Linh

Vũ Thế Khôi

Ý Nhi

Dư Thị Hoàn

Trịnh Hoài Giang

Dạ Ngân

Nguyễn Duy

Trần Kỳ Trung

Trả lời BBC ngày 12/5, nhà thơ Đỗ Trung Quân, một trong những người ký tên vào đơn, nói cá nhân ông cho rằng đó là “điều cần thiết”.

Ông cũng cho biết ông “không ngạc nhiên” trước quyết định của Hội nhà văn Việt Nam.

“Thực ra mà nói cá nhân tôi thì có thể đoán trước , chỉ có không biết rõ thời điểm, và tôi không ngạc nhiên lắm.”

“Sự lựa chọn của cá nhân tôi đối với Hội nhà văn, không có nghĩa là tôi phê phán các hội viên chưa từ bỏ Hội.”

“Tôi bày tỏ thái độ đối với những người cầm nắm hội chứ không phải các anh em hội viên. Không phải khi chúng tôi ra rồi thì xem anh em trong hội là thế này thế nọ.”

Ông cho biết cho đến nay, ông chưa nhận được phản hồi nào từ những người bên trong Hội nhà văn Việt Nam về quyết định của mình.

“Nhưng tôi nhận được nhiều phản hồi của những người bên ngoài hội,” ông nói.

“Một trong những lời chú sâu sắc nhất với cá nhân tôi, là ‘chúc mừng anh đã trở về nhân cách ngang bằng với một người dân đen’,” ông cho biết thêm.

Trong số 20 người, có bốn người cũng đồng thời tuyên bố rời bỏ cả Văn đoàn độc lập, gồm: Nguyễn Quang Lập, Dạ Ngân, Nguyễn Duy và Trần Kỳ Trung.

Ông Trần Kỳ Trung nói với BBC: “Nhà văn muốn có tự do, không muốn phải lệ thuộc. Văn đoàn hay Hội nhà văn mình đều tôn trọng, nhưng tôn trọng nhất là sự tự do.”

Ông Trung cho biết “không có ai” vận động buộc ông rời bỏ cả hai tổ chức.

Nhìn về tương lai, ông nói: “Bất cứ ai, khi thấy một tổ chức đáp ứng được yêu cầu của họ, tổ chức đó làm đất nước tiến bộ, sẽ có rất nhiều người ủng hộ tổ chức đó.”

52 người bị tù vì tội ‘giết người’

52 người bị tù vì tội ‘giết người’

Nhiều báo tại Việt Nam đưa tin về vụ xử

52 bị cáo bị tòa án ở thành phố Cần Thơ xét xử về tội giết người.

Hôm 12/5, tòa án ở Cần Thơ tuyên phạt án chung thân với một bị cáo và tổng cộng 359 năm tù cho 51 người khác, theo truyền thông trong nước.

Những người này bị cáo buộc tham gia truy sát hai thanh niên tại Cần Thơ năm 2013.

Ông Trương Phong Hiền, bị nói là một “giang hồ khét tiếng”, nhận án chung thân, còn người em ruột, Trương Phong Khánh, bị 20 năm tù, cùng về tội “Giết người”.

50 bị cáo còn lại bị tuyên từ hai đến 19 năm tù về các tội “Cố ý gây thương tích” và “Giết người”.

Theo cáo trạng, được các báo trong nước trích thuật, vụ án bắt đầu từ tối 30/5/2013, khi nhóm của ông Trần Ngọc Tuấn, sinh năm 1985, đến nhậu ở một quán ở khu vực Long Thạnh 1, phường Thốt Nốt, quận Thốt Nốt.

Tại đây xảy ra mâu thuẫn giữa nhóm khách hàng và nhân viên, dẫn đến việc chủ quán, Chế Thị Lệ Trinh, gọi “đàn em” chém đứt gân chân của ông Tuấn.

Sau vụ này, ông Trương Phong Hiền huy động người của mình để trả thù.

Gần 60 người kéo đến quán, tấn công hai người, Chế Hoàng Việt và Tô Văn Tuấn Em.

Truyền thông trong nước nói hai người này được đưa đi cấp cứu với tỉ lệ thương tật lần lượt là 64% và 6%.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc Tuấn bị án 2 năm 6 tháng tù về tội không tố giác tội phạm.

Đức Giáo hoàng: Hãy mang chính trị vào các giáo xứ

Đức Giáo hoàng: Hãy mang chính trị vào các giáo xứ

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-05-10

Audio: Đức Giáo hoàng: Hãy mang chính trị vào các giáo xứ Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg8382406.jpg

Bức chân dung Giáo Hoàng Francis tại cổng chính của một nhà thờ ở Hà Nội hôm 15/3/2013

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Trong một lần trả lời về việc dấn thân của người tu sĩ trong giáo hội, Đức Giáo hoàng Phan Xi Cô nói rằng “Nếu Chúa gọi anh chị em trên con đường này thì xin anh chị em lên đường, hãy làm chính trị dù con đường này có thể làm anh chị em đau khổ”.

Giáo hội Công giáo Việt Nam đã đem giáo huấn của Đức Giáo Hoàng vào đời sống như thế nào và liệu câu hỏi người tu sĩ không nên làm chính trị có còn đứng vững hay không? Mặc Lâm phỏng vấn linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.

Mặc Lâm: Thưa Linh mục, xin ông cho biết giáo huấn của Đức Giáo Hoàng về việc dấn thân trong đời sống chính trị có được áp dụng vào mục vụ của giáo hội Công giáo Việt Nam hay không và các tu sĩ thực hiện giáo huấn này cụ thể như thế nào?

LM Lê Ngọc Thanh: Về mặt giáo huấn chung của Giáo hội tôi xin được nói cái giáo huấn gần nhất của giáo hội đó là thông điệp “Niềm vui tin mừng” của Đức Giáo hoàng Phan xi cô vừa ban hành cách đây hơn một năm. Trong chương IV ngài nói rất rõ những việc phải dấn thân trong xã hội. Ngài chỉ ra hàng loại những vấn đề rất cụ thể và ngài bảo rằng tôi muốn một giáo hội lem luốc trên đường phố với người nghèo hơn là ẩn mình trong sự an toàn giả tạo. Và ngài bảo rằng cần phải cơ cấu lại, không phải bài giảng đâu, mà cần thiết thì phải cơ cấu lại giáo xứ để làm sao đáp ứng được nhu cầu đó và ngài nhấn mạnh rằng việc phục vụ cộng đồng, xã hội trong tư cách là một chính trị gia của giáo dân nó là một việc bác ái cao cả hơn cả bởi vì nếu việc bác ái bình thường chỉ giúp được một hai người, còn một vị chính trị gia làm việc nghiêm túc, công minh thì sẽ giúp cả một cộng đồng xã hội hàng ngày cứu giúp giáo dân.

Mặc Lâm: Có phải vì thế mà nhiều bài giảng thuộc DCCT gần đây đã không ngại nêu bật những khiếm khuyết của xã hội lẫn chính quyền và trong một chừng mực nào đó đã gây cảm hứng mới cho giáo dân. Xin linh mục cho biết những bài giảng như thế có được sự đồng thuận từ giáo hội hay không?

LM Lê Ngọc Thanh: Trước tiên thì tôi phải khẳng định rằng là bài giảng nơi tòa giảng trong nhà thờ luôn xuất phát từ lời Chúa chứ không phải tùy ý do sở thích của một linh mục hay của một nhóm một cộng đoàn riêng lẻ  nào đó. Cái đó không thuộc phạm vi tự quyết của cá nhân một linh mục hay của một cộng đoàn như Dòng Chúa cứu thế mà đây là sứ điệp của Chúa trong hội thánh được công bố hàng tuần. Chúng tôi công bố lời Chúa vì chính lời Chúa xuất phát từ trong một cộng đồng xã hội cụ thể và quay lại áp dụng cho một cộng đồng cụ thể với những vấn đề mà chúng ta không thể im lặng, với những vấn đề chúng ta không thể cho qua.

Những vấn đề mà anh em DCCT thật ra không nằm ngoài lề giáo hội mà triển khai những vấn đề của giáo hội mà có thể nhiều cha xứ khác, ở nhiều nơi khác, vì lý do mục vụ cụ thể hoặc là vì sự đơn độc khi ở một mình có thể dễ dàng bị tấn công, bị trả thù nên các ngài khôn khéo hơn, cẩn thận hơn trong cách nói công khai trên tòa giảng. Nhưng có thể nói một điều chắc chắn như thế này là ở lúc gặp gỡ và chia sẻ với giáo dân tất cả các linh mục đều nói rõ về bản chất dấn thân cho xã hội của Giáo hội Công giáo mà không ngoại trừ DCCT.

Mặc Lâm: Phản ứng của giáo dân đối với giáo huấn mới của Đức Thánh Cha có tích cực lắm hay không trong bối cảnh o ép hiện nay tại Việt Nam và sau những bài giảng sống động trong nhà thờ giáo dân có phản ứng như thế nào?

LM Lê Ngọc Thanh: Tôi lấy kinh nghiệm ở Thái Hà ở Hà Nội và Đền Đức mẹ hằng cứu giúp ở Sài Gòn để chúng ta thấy.

” Ban đầu thì giáo dân hơi sợ hãi nhưng sau khi nghe giảng xong thì giáo dân nói với chúng tôi rằng chúng con chỉ sợ rằng là đang thánh lễ hay sau thánh lễ họ sẽ vô bắt các cha.
– LM Lê Ngọc Thanh”

Ban đầu thì giáo dân hơi sợ hãi nhưng sau khi nghe giảng xong thì giáo dân nói với chúng tôi rằng chúng con chỉ sợ rằng là đang thánh lễ hay sau thánh lễ họ sẽ vô bắt các cha. Ban đầu là như vậy nhưng dần dần họ thấy và nói với chúng tôi rằng đây là điều mà họ chỉ nghe được ở đây. Họ là những người thuộc nhiều giáo xứ khác cứ canh giờ lễ đó mà đến để được hiệp thông, cầu nguyện để được nghe giáo huấn.

Tôi thấy rằng ít nhất là vào buổi lễ Công Lý Hòa bình vào 8 giờ tối Chúa nhật cuối tháng, một thánh lễ quy tụ trên 3.000 người ở tại Sài Gòn và Hà Nội cũng vậy.

Có đến 80% người tham dự là những người biết rõ và họ chủ động tìm đến để được giáo huấn theo cách như vậy chứ không phải chỉ đi lễ như một giáo dân bình thường vào ngày Chúa Nhật.

Mặc Lâm: Xin linh mục cho biết những hoạt động dấn thân, những bài giảng thiết thực với đời sống rõ ràng là đụng đến vấn đề mà nhà nước cho là nhạy cảm. Chính quyền đã có những hành động nào để ngăn chặn hay cản trở hay không?

LM Lê Ngọc Thanh: Trước đây khi chúng tôi bắt đầu những chia sẻ như vậy với giáo dân thì họ dùng những tờ truyền đơn dán vào các cột điện, gốc cây trong khu vực nhà thờ. Họ rải trong sân nhà thờ, họ rải trong khu xóm, trong quán ăn để nói xấu và lên án các cha. Họ không dừng lại ở việc lên án về nội dung bài giảng, họ bắt đầu vu khống kể cả việc dựng đứng lên họ nói đó là đời sống vô đạo đức của các cha như vậy.

Riêng đối với nhà cầm quyền thì có một lần họ đã chất vấn về tính hợp pháp của website chúng tôi, còn về tòa giảng thì họ chỉ nói với cá nhân linh mục này, với cá nhân cha kia để gây sự chia rẻ trong nội bộ của anh em chúng tôi và cũng có dùng nhóm giáo dân này nhóm giáo dân kia chống lại nhau. Nhưng có thể nói rằng là những tác động giảm dần và đến bây giờ không còn tác động gì nữa cả.

Mặc Lâm: Xin cám ơn linh mục Lê Ngọc Thanh.

Bài diễn văn của ông Trọng nhiều hàm ý’

Bài diễn văn của ông Trọng nhiều hàm ý’

Nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đang đấu đá để tranh quyền lãnh đạo?

Một nhà quan sát từ trong nước cho rằng bài diễn văn bế mạc hội nghị trung ương lần thứ 11 hôm 7/5 của ông Trọng nêu ra một loạt các tiêu chuẩn để được vào Ban Chấp hành Trung ương khóa tới là ‘có nhiều hàm ý’.

Hội nghị trung ương 11 đã bàn bạc về các tiêu chí lựa chọn những người vào ban lãnh đạo tối cao của Đảng trong khóa tới.

Nhiều tiêu chí

Trong diễn văn bế mạc, ông Trọng đã nêu một loạt các ‘khuyết điểm’ mà theo ông Đảng ‘kiên quyết không để lọt vào Ban Chấp hành trung ương’, trong đó có: cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm, không dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải, mị dân, chuyên quyền, độc đoán, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, để xảy ra tình trạng mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng, tham nhũng, tiêu cực lớn ở địa phương, đơn vị, không chịu nghiên cứu học hỏi, bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc, bản thân và vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính…

Trao đổi với BBC, Tiến sỹ Phạm Chí Dũng, một nhà quan sát chính trị từ Tp HCM, nhận định rằng ông Trọng đề cập đến tiêu chí ‘không tham vọng quyền lực’ là ‘muốn đề cập đến người vì tham vọng quyền lực mà gom góp cho cá nhân mình’.

“Tham vọng quyền lực thật ra không xấu nếu nó có thể giúp giải quyết những vấn đề cho nhân dân,” ông Dũng giải thích, “Còn tham vọng quyền lực để củng cố địa vị độc tôn cho mình để gom góp lợi ích cho cá nhân, gia đình mình thì điều đó hoàn toàn xấu.”

“Ở Việt Nam bây giờ có quá nhiều nhóm lợi ích.”

” Sắp tới còn có chuyến đi của ông Trọng đến Hoa Kỳ và nếu như ông Trọng được Tổng thống Barack Obama tiếp và thậm chí tiếp đón trọng thị thì lúc đó uy tín của ông Trọng và uy tín của người được ông Trọng đề cử (cho vị trí tổng bí thư) sẽ được nâng lên đáng kể.

Tiến sỹ Phạm Chí Dũng “

“Đối với nhiều người dân đánh giá Đảng Cộng sản chỉ là nhóm lợi ích mà thôi chứ không phải cái gì mang tính chất ý thức hệ như hồi xưa,” ông nói thêm.

Hàm ý nữa mà ông Trọng muốn đề cập tới là ‘cuộc tranh giành đấu đá nội bộ trong Đảng’, theo ông Dũng.

“Những người phe này không chấp nhận những người phe kia tham vọng quyền lực trong khi những người phe này cũng có tham vọng quyền lực,” ông nói.

Không còn giằng co?

Theo nhận định của ông Dũng thì bài diễn văn này cho thấy cuộc đấu đá nội bộ trong Đảng ‘không còn ở thế tương quan giằng co lực lượng như giữa năm trước nữa’.

“Dường như sau diễn văn kỷ niệm ngày 30/4 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sau Hội nghị trung ương 11 thì vấn đề tương quan lực lượng khó mà giằng co được nữa mà bên Đảng đang chiếm ưu thế,” ông Dũng nói.

“Theo nhiều người quen của tôi làm trong Nhà nước thì hiếm khi nào họ chứng kiến bài diễn văn nêu ra những từ ngữ như cơ hội, xu nịnh, mị dân của Tổng bí thư Đảng Cộng sản rõ đến như vậy,” ông nói thêm, “Điều đó làm cho người ta có cảm giác ông Trọng nếu không phải ở thế thượng phong thì cũng là đang chiếm ưu thế trong nội bộ Đảng.”

“Sắp tới còn có chuyến đi của ông Trọng đến Hoa Kỳ và nếu như ông Trọng được Tổng thống Barack Obama tiếp và thậm chí tiếp đón trọng thị thì lúc đó uy tín của ông Trọng và uy tín của người được ông Trọng đề cử (cho vị trí tổng bí thư) sẽ được nâng lên đáng kể,” ông Dũng nói.

Kiều hối

Kiều hối

Blog RFA

Nguyễn Vũ Bình

Kiều hối theo định nghĩa là số tiền của người dân một quốc gia đi làm ăn bên ngoài biên giới mang, gửi về đất nước mình. Đối với Việt Nam, đây là một số lượng tiền, ngoại tệ khá lớn, hàng năm trên dưới 10 tỷ đô-la. Theo số liệu thống kê năm 2014, lượng kiều hối về Việt Nam đạt mức 12 tỷ đô-la. Việc xác định ý nghĩa của kiều hối và những vấn đề liên quan cũng giúp hiểu thêm về nên kinh tế Việt nam hiện nay.

Với một lượng tiền trên dưới 10 tỷ đô-la một năm chuyển vào nền kinh tế, mà không cần một yêu cầu, điều kiện nào được các chuyên gia đánh giá rất cao vai trò của lượng kiều hối này. Nhà nước Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của kiều hối nên đã có một chính sách kiều hối vô cùng thông thoáng và cầu thị. Số lượng không hạn chế với người gửi, mang ngoại tệ về nước. Không yêu cầu chuyển đổi ngoại tệ khi nhận tiền…Về cơ cấu kiều hối được sử dụng, theo phân tích chung nhất, trên 60% số tiền kiều hối được sử dụng vào đầu tư, mua nhà đất, gửi tiết kiệm, mở công ty. Số còn lại, gần 40% giành cho tích lũy và tiêu dùng.

Vai trò của kiều hối trong trường hợp nền kinh tế Việt nam rất đặc biệt và vô cùng quan trọng. Nền kinh tế Việt Nam, tuy bên ngoài và tuyên truyền là nền kinh tế thị trường nhưng thực chất không phải như vậy. Nó không đi theo nguyên lý của nền kinh tế thị trường, đó là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Ở Việt nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân chính là yếu tố quan trọng để nói, nền kinh tế Việt Nam không theo nguyên lý kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường quyết định các yếu tố của quá trình sản xuất cũng không được áp dụng ở Việt Nam. Những mặt hàng thiết yếu như điện, nước, xăng dầu đều do nhà nước quy định về giá cả. Điều quan trọng nhất liên quan tới vấn đề kiều hối, đó là việc nhà nước Việt Nam quyết định việc in tiền hoàn toàn không theo nguyên tắc nào của nền kinh tế thị trường.

Đối với các quốc gia đi theo nền kinh tế thị trường, việc in và phát hành tiền phải tuân thủ các nguyên tắc nghiêm ngặt về lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế. Có hai yếu tố liên quan hữu cơ với số lượng tiền phát hành đưa vào lưu thông. Đó là lượng hàng hóa sản xuất ra và số lượng ngoại tệ đang lưu hành. Ví dụ, nền kinh tế Việt Nam một năm sản xuất được 100 đơn vị hàng hóa, hiện có 50 đơn vị ngoại tệ, thì số tiền phát hành đưa vào lưu thông là 500 đơn vị. Như vậy, tỷ lệ (100 hàng hóa – 50 ngoại tệ – 500 nội tệ) sẽ là tỷ lệ để phát hành tiền đưa vào lưu thông. Đây là nguyên tắc bắt buộc, là kỷ luật sắt trong một nền kinh tế thị trường vì nếu vi phạm nguyên tắc này sẽ xảy ra tình trạng lạm phát, hoặc biến động về tỷ giá dẫn tới méo mó trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, và có thể dẫn tới những đảo lộn lớn cho toàn bộ nền kinh tế. Chính vì vậy mà các nước giám sát và kiểm soát vấn đề này cực kỳ chặt chẽ. Nhưng tại Việt Nam, có thể nói, từ ngày khai sinh ra nhà nước cộng sản Việt Nam, việc in và phát hành tiền là bí mật quốc gia. Nếu như việc in, phát hành tiền tuân thủ các nguyên tắc thì không ai cần giữ bí mật cả. Trên thực tế, việc in tiền ở Việt Nam hoàn toàn tùy tiện, in liên tục và không có một giới hạn nào cả. Chúng ta đều biết, tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam trung bình từ 20-50% và kéo dài hàng mấy chục năm, có những giai đoạn còn lạm phát phi mã. Trong khi ở các nước, lạm phát trung bình và lành mạnh khoảng từ 5-7%/năm.

Nếu như trước đổi mới, hoặc trước hội nhập quy mô của nền kinh tế còn khiêm tốn và ảnh hưởng của lạm phát (tức là việc in tiền vô tội vạ) còn chưa rõ và sức tàn phá còn chưa lớn. Nhưng khi đã hội nhập, quy mô nền kinh tế đã lớn, nhất là mối quan hệ làm ăn, đối tác với các nền kinh tế trên thế giới thì lạm phát sẽ là nỗi kinh hoàng của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ, chúng ta thấy, việc in tiền và phát hành tiền của nhà nước Việt Nam vẫn được thực hiện như cũ, có nghĩa là phát hành theo yêu cầu chính trị, khi cần sẽ in tiền ra. Điều kỳ lạ là với một nền kinh tế khủng hoảng từ năm 2008, nền sản xuất bị bóp nghẹt bởi muôn vàn quy định và hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc, mỗi năm có hàng chục ngàn doanh nghiệp phá sản vậy mà lượng tiền in ra và phát hành với số lượng cực lớn mà Việt Nam không bị siêu lạm phát, mặc dù tỷ lệ lạm phát đã rất cao. Đồng thời tỷ giá hối đoái cũng không hề tăng đột biến.

Câu trả lời cho việc nền kinh tế không bị siêu lạm phát, trong khi lượng hàng hóa sản xuất ở Việt Nam hoàn toàn không tương xứng với lượng tiền in ra là Việt Nam ở sát cạnh Trung Quốc, hàng năm nhập khẩu số lượng cực lớn hàng giá rẻ, chất lượng thấp, theo cả đường chính ngạch và tiểu ngạch. Theo số liệu công bố năm 2014 vừa qua, thì Việt nam công bố nhập của Trung Quốc 43,9 tỷ đô-la. Nhưng phía Trung Quốc lại công bố con số xuất khẩu sang Việt nam là 63,8 tỷ đô-la. Như vậy, lượng hàng hóa nhập khẩu cực lớn, giá rẻ chất lượng thấp đã tiêu diệt nền kinh tế Việt Nam nhưng lại giúp nhà cầm quyền Việt Nam in tiền vô tội vạ mà không bị siêu lạm phát. Điều này cũng phản ánh sự lệ thuộc của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế Trung Quốc là rất lớn. Nhưng sự lệ thuộc này còn ít người nói tới.

Về câu hỏi, lượng tiền in ra và phát hành rất lớn của nhà nước Việt Nam nhưng lại không có đột biến trong tỷ giá hối đoái chúng ta tìm thấy câu trả lời trong vấn đề kiều hối, cùng với lượng ngoại tệ từ đầu tư nước ngoài FDI, từ viện trợ phát triển ODA. Đó chính là ý nghĩa lớn nhất của kiều hối đối với nền kinh tế Việt Nam. Một lượng tiền trên dưới 10 tỷ đô-la trong những năm gần đây giúp nhà nước Việt Nam in ra một số lượng tương đương lớn hơn để sử dụng và đưa vào lưu thông. Có những ý kiến cho rằng, cần kêu gọi ngăn nguồn kiều hối, đồng bào không gửi tiền về Việt Nam nữa. Tôi cho rằng việc này không thực hiện được và có lẽ không cần thiết. Chúng ta biết rằng, nhà nước Việt Nam hiện nay, toàn quyền khai thác khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên để bán, in tiền vô tội vạ, thu thuế, phí cao nhất Đông Nam Á…tức là không còn lợi thế gì người ta không khai thác, không tận dụng vậy mà với mức chi tiêu hiện nay, tham nhũng, lãng phí đến mức độ số nợ đang gấp đôi GDP hoàn toàn không có khả năng thanh toán, trong khi nền kinh tế làm ra không đủ chi tiêu trong hiện tại. Chính vì vậy chúng ta không cần phải kêu gọi, vận động một việc rất nhỏ (và khó thực hiện được) so với tình trạng đại suy thoái và khủng hoảng của Việt Nam hiện nay./.

Hơn một chục ngân hàng của Việt Nam sẽ biến mất

Hơn một chục ngân hàng của Việt Nam sẽ biến mất

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV)Tiến trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ còn tiếp tục sôi động trong thời gian tới, với khoảng 10 ngân hàng nữa sẽ bị xóa tên khỏi thị trường.

Ngày 7 tháng 5, Dân Trí loan tin, theo nhận định của công ty chứng khoán Ngân hàng BIDV (BSC), tiến trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng ở Việt Nam sẽ còn tiếp tục sôi động trong thời gian tới, nhằm đạt mục tiêu của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNN) là sẽ rút gọn số lượng ngân hàng thương mại (NHTM) xuống cỏn khoảng 20 trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.


Ngân hàng Ðại Dương (OceanBank) sẽ biến mất khỏi hệ thống ngân hàng Việt Nam. (Hình: Dân Trí)

Theo đó, nhiều cặp đôi ngân hàng cũng sẽ tiếp tục được sáp nhập. Cụ thể như Ngân hàng Nam Á (NamABank) và Ngân hàng Xuất nhập khẩu (Eximbank); Ngân hàng An Bình (ABBank) và ngân hàng Ðông Á (DongABank); Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) và ngân hàng Phương Nam (SouthernBank)…

Trong tháng 4, 2015 vừa rồi, vấn đề tái cơ cấu hệ thống ngân hàng đã được tiến hành rất mạnh mẽ. Ðiển hình là kế hoạch cho việc sáp nhập Ngân hàng Thương mại Công thương Việt Nam (VietinBank) với Ngân hàng Thương mại Xăng dầu Petrolimex (PGBank) và Ngân hàng Thương mại Ðầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) với Ngân hàng Thương mại Phát triển Nhà Ðồng bằng sông Cửu Long (MHB).

Ngoài ra, NHNN cũng đã thông báo mua lại Ngân hàng Ðại Dương (OceanBank) với giá 0 đồng do OceanBank không có các giải pháp khả thi để tăng vốn điều lệ bảo đảm mức vốn pháp định theo yêu cầu của NHNN. VietinBank được NHNN chỉ định tham gia quản trị, điều hành OceanBank. Trước đó, NHNN cũng đã mua lại Ngân hàng Xây dựng (VNCB) với giá 0 đồng và giao Vietcombank tham gia quản trị, điều hành.

Tin cho hay, một thông tin đáng chú ý khác là chính phủ CSVN cũng đã chỉ đạo NHNN và các cơ quan liên quan nghiên cứu sửa đổi quy định theo hướng tăng tỷ lệ sở hữu tối đa 30% hiện tại của các nhà đầu tư nước ngoài tại các NHTM của Việt Nam. (Tr.N)

Mỹ áp lực Việt Nam cải thiện nhân quyền để vào TPP

Mỹ áp lực Việt Nam cải thiện nhân quyền để vào TPP

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) .- Chính phủ Hoa Kỳ gây áp lực nhà cầm quyền Việt Nam phải cải thiện nhân quyền bằng hành động cụ thể để có thể tham gia hiệp định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) hiện đang được hai bên đàm phán.

Phái đoàn Hoa Kỳ chụp hình chung với đại diện xã hội dân sự tại Việt Nam ngày 6/5/2015 trước cuộc đối thoại nhân quyền với nhà cầm quyền CSVN tại Hà Nội. (Hình của Tòa đại sứ Hoa Kỳ)

“Chính phủ Hoa Kỳ dùng cuộc đối thoại nhân quyền với Việt Nam để yêu cầu nước này có những cải thiện nhân quyền cụ thể hầu có thể gia nhập được tổ chức Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương mà Việt Nam đang đàm phán và rất mong muốn kết thúc.”

Luật sư Nguyễn Văn Đài, một luật sư nhân quyền từng bị nhà cầm quyền CSVN bỏ tù và tước quyền hành nghề hiện đang ở Hà Nội, cho nhật báo Người Việt hay như vậy trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại hôm Thứ Sáu 8/5/2015.

Trong cuộc tiếp xúc riêng với ông Tom Malinowski, phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động, một ngày trước khi phái đoàn hai nước gặp nhau, ông Nguyễn Văn Đài cho hay ông đã trình bày những khó khăn của các cá nhân và tổ chức xã hội dân sự trong các cuộc vận động dân chủ hóa đất nước.

Theo ông, luật lệ của Việt Nam có nhiều điều trái với thông lệ quốc tế. Luật hình sự có nhiều điều dùng để bỏ tù người dân trong khi hiến pháp công nhận các quyền tự do căn bản của dân. Chỉ riêng sự cấm cản người dân đi lại trong nước cũng như xuất ngoại một cách tùy tiện với những ai họ thấy không muốn cho, bất chấp luật lệ, là một trong những cái cần phải loại bỏ.

Luật sư Nguyễn Văn Đài và rất nhiều người khác vận động nhân quyền và dân chủ hóa đất nước từng bị cấm ra khỏi nhà, bị đập phá nhà, bị công an đánh đổ máu, vỡ đầu ngay trên đường phố. Một số người còn bị công an tông xe gắn máy, thương tích trầm trọng.

Ông Đài cho hay ông Malinowski đã ghi nhận các ý kiến của ông cũng như của đại diện các tổ chức xã hội dân sự và sẽ đem thảo luận với đại diện nhà cầm quyền CSVN. Dịp này, ông xác nhận sẽ thúc đẩy Hà Nội phải có các hành động chứng tỏ họ có cải thiện nhân quyền thật sự để cuộc đàm phán TPP có thể kết thúc thành công.

Song song với cuộc tiếp xúc hôm 6/5/2015 với các tổ chức xã hội dân sự của phái đoàn ông phụ tá Malinowski, một phái đoàn dân biểu Hoa Kỳ cũng đi nhiều nơi tiếp xúc với các tổ chức tôn giáo độc lập và các người bất đồng chính kiến, ghi nhận các phản ảnh của họ về sự đàn áp nhân quyền tại Việt Nam và nghe những đề nghị cần làm để người dân Việt Nam có nhân quyền thật sự.

Phái đoàn dân biểu Alan Lowenthal đã gặp một số người ở Sài Gòn như Hòa thượng Thích Quảng Độ, tăng thống Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, chủ tịch Cao Trào Nhân Bản Việt Nam, thạc sĩ tin học Nguyễn Tiến Trung v.v….

Trong cuộc phỏng vấn truyền thanh của đài RFA, dân biểu Lowenthal cho hay, theo ông “sẽ không có bất cứ một hiệp định nào được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua nếu vấn đề nhân quyền chưa được cải thiện từ phía Việt Nam”.

Theo bản thông cáo báo chí của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, phái đoàn ông phụ tá Alan Molinowski đối thoại với đại diện của nhà cầm quyền CSVN hôm 7/5/2015 về nhiều mặt như tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, quyền của người lao động, người khuyết tật, cải tổ luật pháp cũng như tăng cường hợp tác đa phương về nhân quyền.

Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) hôm Thứ Sáu đưa tin về cuộc đối thoại nhân quyền vòng 19 tại Hà Nội trong đó phía CSVN, do ông Vũ Anh Quang, Vụ trưởng Vụ các Tổ chức quốc tế, Bộ Ngoại giao làm trưởng đoàn và có sự tham gia của đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an, Tòa án Nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tôn giáo Chính phủ.

TTXVN viết rằng “Hai bên đã thông báo cho nhau các nỗ lực, thành tựu, cũng như các thách thức của mỗi nước trong việc thúc đẩy và bảo đảm các quyền con người; trao đổi về tất cả các lĩnh vực quyền con người cùng quan tâm, đặc biệt tập trung vào các vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền, quá trình cải cách tư pháp, quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, quyền của người lao động, quyền của người khuyết tật.”

Bản tin năm ngoái về cuộc đối thoại nhân quyền vòng 18 tại Washington DC, TTXVN viết cuộc đối thoại  “nhằm giúp hai nước tăng cường hiểu biết, thu hẹp khác biệt về lĩnh vực nhân quyền, góp phần thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ”.

Năm nay không thấy còn “thu hẹp khác biệt” gì nữa mà như vẻ ngầm cho hiểu là Hà Nội “nhất trí” theo các yêu cầu của Washington. Tuy nhiên, theo luật sư Nguyễn Văn Đài, mức độ mở rộng thêm nhân quyền của nhà cầm quyền CSVN chưa biết sẽ có những gì cụ thể. Vì các dấu hiệu cho thấy họ không loại bỏ các điều luật hình sự mơ hồ như 79, 88, 245, 258 dùng để bỏ tù các người bất đồng chính kiến hoặc sử dụng mạng xã hội để bầy tỏ chính kiến cá nhân.

“Ông Malinowski hứa rằng trong cuộc đối thoại, ông sẽ thúc đẩy rất nhiều để Việt Nam phải cải thiện nhân quyền mọi mặt trong đó có cả quyền cấm cản người dân đi lại, và quyền xuất cảnh”. Luật sư Đài nói với Người Việt. (TN)

Chút Lính Miền Nam

Chút Lính Miền Nam

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Cho tôi thắp một nén nhang

Khóc người đồng chí

Mà bấy lâu nay tôi cứ đinh ninh là ngụy

Tha thứ cho tôi một thế hệ bị lừa !

Lê Phú Khải

Bạn tôi, tất cả, đều là lính ráo. Chúng tôi không chỉ có chung những năm cầm súng, và một quãng đời tù mà còn chia chung rất nhiều … cố “tật!” Hễ gặp nhau là uống, và câu chuyện trên bàn rượu trước sau gì rồi cũng xoay quanh kỷ niệm về đám chiến hữu hồi còn chinh chiến: những thằng đã chết, những đứa đang vất vưởng ở quê nhà, hay lưu lạc (đâu đó) nơi đất lạ xứ người.

Thỉnh thoảng, khi (quá) vui, chúng tôi cũng hay mang những vị thượng cấp cũ ra làm đề tài giễu cợt. Hai ông huynh trưởng thường bị nhắc tới để cười chơi là Trần Hoài Thư, và Phan Nhật Nam. Lý do: cả hai vị vẫn nhất định chưa chịu giải ngũ, dù cuộc chiến đã tàn tự lâu rồi!

Trung Úy Trần Hoài Thư vẫn thản nhiên đưa quân Qua Sông Mùa Mận Chín. Đại Úy Phan Nhật Nam vẫn cứ la hét um xùm qua máy truyền tin (giữa Mùa Hè Đỏ Lửa) như thể là cái mùa Hè năm 1972 đó vẫn còn kéo dài đến bây giờ, dù hơn 40 năm đã lặng lẽ trôi, với cả đống nước sông – cùng nước suối, nước mưa, nước mắt… – đã ào ạt chẩy qua cầu và qua cống.

Sau khi cạn mấy đầy, rồi đầy mấy ly cạn (và sau màn trình diễn “một ngàn bài Bolero”) tôi hay xin “trân trọng tuyên bố cùng toàn thể các chiến hữu các cấp” rằng :

  • Ai viết cái gì tôi cũng đọc tuốt luốt, trừ hai vị thẩm quyền (nhí) này thì khỏi!
  • Sao vậy cà?
  • Bởi vì thơ với văn của hai ổng có nhiều câu mà “lỡ” đọc một là nó bị kẹt luôn trong đầu, gỡ không ra, nên tui không dám đọc thêm nữa:

Trên đầu ta mũ rừng nhẹ hẩng
Trong túi ta một gói thuốc chuồn
Bắt tù binh mời điếu thuốc thơm
Ðể thấy miền Nam lính hiền ghê gớm

Ta lính miền Nam hề, vận nước ngửa nghiêng
Ta cũng lênh đênh cùng cơn mạt kiếp
Ta trèo lên cây hỏi rừng cho biết
một nơi nào hơn ở Việt Nam ?
Có người lính nào bi tráng hơn lính miền Nam ?

Trần Hoài Thư (“Ta Lính Miền Nam”)

Nguồn ảnh:internet

Không chỉ bi tráng, bi hùng, hay bi phẫn mà (đôi khi) người lính miền Nam còn phải đối diện với lắm nỗi bi thương:

“Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chỏng hỗn độn bốc khói xám… Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẵng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch đôi mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi đi vào chị ta đứng dậy, đứng thẳng người như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác. Thằng bé theo tôi cùng cùng tên hiệu thính viên lẻn ngay vào bếp kiếm thức ăn. Tôi đi đến trước chị đàn bà…

– Làm gì chị ngồi đây, không biết đang đánh nhau sao?

Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẵng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như một người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên tôi đưa tay đón lấy… Hai bộ áo quần, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng dây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai.

– Của chị đây hả? – Vẫn im lặng. Nỗi im lặng ngột ngạt, lạ lùng.

– Con mẹ này điên rồi thiếu uý, chắc sợ quá hóa điên…

Tên lính xua tay đuổi người đàn bà đi chỗ khác. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng.

– Chị kia quay lại đây tôi trả cái này…  Tôi nói vọng theo.

Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng đôi mắt bây giờ vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hỏang thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi… Chị ta còn trẻ lắm, khỏang trên dưới hai bảy, hai tám tuổi, da trắng mát tự nhiên, một ít tóc xõa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú.

Tôi đưa trả chiếc lẵng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẳng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta:

– Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bực tam cấp. Khi nào tụi tôi đi thì chị đi theo… Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ…  Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa… Từ từ chị đưa bàn tay lên hàng nút áo trước ngực…

Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi… Người đàn bà đã hiểu lầm tôi…

Chị ta không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này.

Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này… (Phan Nhật Nam. Dấu Binh Lửa. Sài Gòn: Hiện Đại, 1969).

Ở thời điểm này, có lẽ, Phan Nhật Nam không hề biết rằng “sự ngộ nhận đớn đau tủi hổ” của dân chúng với những người lính miền Nam chả phải là “ngẫu nhiên” đâu. Nó đã được đối phương chuẩn bị rất kỹ, và tuyên truyền rất công phu – theo như nhận xét (gần đây) của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“Ngày xưa ở miền Bắc VN, tôi đoán người ta tuyên truyền nói xấu về chế độ miền Nam VN dữ lắm. Bộ máy tuyên truyền ngoài đó đã thành công gieo được vào đầu óc của người dân thường rằng chế độ Mĩ Nguỵ rất ác ôn; lính Nguỵ chỉ đánh thuê, rất ác ôn đến nỗi họ ăn gan uống máu người…”

Và đây cũng chả phải chỉ là chuyện “ngày xưa ở miền Bắc” đâu. Sau khi thắng cuộc “bộ máy tuyên truyền” vẫn tiếp tục bôi bẩn và xỉ nhục những người lính miền Nam, như thể họ vẫn còn là những kẻ thù ác độc và  nguy hiểm.

Rảnh, thử xem qua vài đoạn trong một truyện ngắn (“Chuyện Vui Điện Ảnh”) của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Bà viết viết về “tai nạn nghề nghiệp” xẩy đến cho một tài tử nghiệp dư, chỉ vì lỡ thủ vai một thằng lính miền Nam:

Chú Sa diễn vai thiếu úy Cón (nghe cái tên thôi cũng thấy ghét rồi), một tên ác ôn giết vợ, hãm hại vợ người, tàn sát trẻ nít, huênh hoang phá xóm phá làng, sau chết vì bị chó điên cắn…

Khi chú mặc bộ đồ rằn ri vô mình rồi, ông đạo diễn không chê vào đâu được. Long Xưởng hô máy một cái là nét mặt chú Sa lạnh như người chết, con mắt trắng dã, lừ đừ, nụ cười bí hiểm. Lúc quay cận cảnh khuôn mặt chú còn ghê nữa, da sần sùi, u uẩn như da cóc, tay chân đầy lông lá, cái răng cửa gãy chìa ra một nụ cười chết chóc với lỗ trống sâu hun hút.

Hồi đầu mọi người còn khen chú mặc bộ đồ mắc toi đó coi oai thiệt, nhưng rồi sau đó nín bằn bặt, người ta quên chú Sa ở hẻm Cựa Gà đi, chỉ còn lại thằng Cón ác ôn. Thằng Cón cưỡng hiếp vợ một cán bộ Đảng mình đang mang thai.

Tới chừng biết đứa bé kia không phải con mình, hắn xé đứa nhỏ làm hai ngay trên giường đẻ, trước mặt người mẹ, cầm bằng đã giết chị ta. Phim bạo liệt, trần trụi. Thằng Cón chết, nó cũng không chết bình thường như người ta, nó chết trong dằn vặt.

Cái mặt lạnh tanh gớm ghiếc của nó co giật méo xệch, bọt mép sùi sụt. Nó cắn vô mấy thằng lính đứng quanh nó. Điên dại tới lúc bị bắn chết. Mọi người theo dõi thằng Cón chết, vừa hể hả vừa ghê tởm…

Chú Sa vẫn tiếp tục đi về trên con hẻm hẹp te mà nghe trống vắng thênh thang. Tụi con nít nghe tiếng xe đạp chú tè tè lọc cọc thì chắc mẩm đứa nào đứa nấy mặt xanh mặt tím chạy vô nhà trốn. Tụi nó hỏi nhau: “ổng đi chưa?”, cũng tại má tụi nó nhát hoài, lì lợm, không ăn cơm là bị chú Sa ăn thịt. Rõ ràng là ấn tượng về thằng thiếu úy Cón mạnh mẽ quá sức tưởng tượng, rõ ràng là người ta bị giật mình bởi tội ác.

Bà con ngại ngần ác cảm giạt xa chú … Chú Sa thấy đây đúng là một tai nạn …

Cái “tai nạn” riêng của Chú sa chỉ xẩy ra trong phạm vi của một con hẻm nhỏ và sẽ không kéo dài lâu.  Còn hàng triệu thằng lính miền Nam thật –  cùng vợ con, thân nhân của chúng – không chỉ phải chịu đựng sự “ngại ngần ác cảm” của đám đông mà còn bị Nhà Nước Cách Mạng kỳ thị (và miệt thị) không biết đến bao giờ!

Mãi cho đến ngày 2 tháng 5 năm 2014, người ta mới nghe một viên chức ngoại giao của phe thắng cuộc, Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn, nói đôi lời tử tế:

Ngày xưa ta không thể nói là không có chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam. Đó là chính phủ cũng được quốc tế thừa nhận chứ. Đó cũng là một nhà nước có quân đội thực thi nhiệm vụ quốc gia của họ để bảo vệ chính nghĩa theo lý tưởng của họ.

Và đó cũng chỉ là sự tử tế ngoài miệng! Ngày 12 tháng 4 vừa qua, công an quận Hoàn Kiếm đã bắt giữ và buộc tội (“gây rối trật tự công cộng”) một số thanh niên đã mặc quân phục hay áo thun màu đen có biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, trong cuộc tuần hành vì cây xanh ở Hà Nội.

Các bạn trẻ mặc áo thun đen có biểu tượng QLVNCH. Ảnh: Nguyễn Lân Thắng

Hai tuần sau, sáng 27/4/2015, công an quận Hoàn Kiếm đã kết hợp với công an Nghệ An khám xét nhà của anh Nguyễn Viết Dũng (tức Dũng Phi Hổ) tịch thu quân phục lính VNCH của anh Dũng.

Việc gì mà phải hốt hoảng đến nỗi “khám nhà,” “tịch thu” và “vu vạ” tội trạng cho vài thanh niên chỉ vì y phục mà họ mặc trên người như thế? Chả lẽ cái chế độ hiện hành có thể bị rung chuyển chỉ bởi vài cái áo (“thun màu đen, có biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hoà”) sao?

Hơn nửa thế kỷ tuyên truyền lừa gạt, bôi bẩn, miệt thị những kẻ thua cuộc (bộ) chưa đủ nguôi ngoai thù hận hay sao?  Nắm trọn quyền bính của cả một nhà nước trong tay mà sao có thể hành sử một cách đê tiện, và tiểu tâm đế́n thế?

Dù thế, thời gian đã không đứng về phe thắng cuộc, và đã dần hé mở dần chân dung của những người lính miền Nam:

Cho tôi thắp một nén nhang

Khóc người đồng chí

Mà bấy lâu nay tôi cứ đinh ninh là ngụy

Tha thứ cho tôi một thế hệ bị lừa !

Năm tháng đi qua

Gần hết cuộc đời tôi mới ngộ ra

Không giọt máu Việt Nam nào là ngụy

Trừ những thằng bán nước – đi đêm

Lê Phú Khải

Cử nhân thất nghiệp gia tăng, vì sao?

Cử nhân thất nghiệp gia tăng, vì sao?

Hòa Ái, phóng viên RFA
2015-05-08

Cử nhân thất nghiệp gia tăng, vì sao? Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg10120669.jpg

Sinh viên làm lễ Tốt nghiệp đại học tại Văn Miếu, Hà Nội hôm 18/11/2014

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT của VN vừa công bố số liệu cử nhân thất nghiệp tăng gấp đôi trong vòng 4 năm qua. Hiện trạng cử nhân thất nghiệp được cho là đang ở mức báo động. Nguyên nhân của hiện trạng này là gì?

Tại phiên giải trình Chính phủ hôm 24/4 /15, Bộ trưởng GD-ĐT Phạm Vũ Luận báo cáo số liệu thống kê trong giai đoạn 4 năm từ 2011đến 2014 mặc dù chỉ tiêu tuyển sinh Đại học (ĐH) và Cao đẳng (CĐ) hệ chính quy giảm trung bình năm ở mức 2,5%, hệ vừa học vừa làm giảm bình quân 18%/năm nhưng số lao động trình độ ĐH-CĐ thất nghiệp từ năm 2010 đến cuối năm 2014 lại tăng cao đến mức 103%.

Qua trao đổi với nhiều cử nhân ở VN với tấm bằng tốt nghiệp ĐH-CĐ, họ tự tin bước vào đời để làm việc và cống hiến. Tuy nhiên theo họ, nguyên nhân khiến tỉ lệ thất nghiệp trong 4 năm qua tăng gấp đôi là vì nguồn cung ứng lao động có trình độ cử nhân nhiều hơn nhu cầu tuyển dụng của xã hội. Nhiều người trong số họ phải làm việc không liên quan đến chuyên môn thậm chí chấp nhận các công việc lao động phổ thông.

Ngoài ra còn một nguyên nhân mà đa số những cử nhân đài RFA tiếp xúc được chia sẻ thất nghiệp là vì không có đủ tiền để xin việc hoặc một mối quan hệ quen biết chứ không phải tấm bằng ĐH hay CĐ là điều kiện ưu tiên. Một giáo viên không muốn nêu tên cho biết mỗi khi trường có chỉ tiêu thì người bình thường không thể xin việc được dù trường tổ chức thi tuyển giáo viên biên chế. Giáo viên này nói:

“Tùy từng trường từ 100 đến 200 triệu hay nhiều hơn. Ở trường nào thì Chủ tịch Hội đồng coi thi trường đấy thường là Hiệu trưởng là người ra giá. Mối quan hệ thì sẽ được đặt lên hàng đầu. Thi cử cũng chỉ lòe nhau thôi nên tiền quyết định hết. Không kể bằng giỏi, thạc sĩ hay tiến sĩ thi cũng không vào được”.

Sau khi giải quyết được khoản tiền chạy việc hay có mối quan hệ quen biết và có được việc làm rồi, những nhân viên mới cũng không dễ gì bảo đảm công việc đó.

” Tùy từng trường từ 100 đến 200 triệu hay nhiều hơn. Ở trường nào thì Chủ tịch Hội đồng coi thi trường đấy thường là Hiệu trưởng là người ra giá. Mối quan hệ thì sẽ được đặt lên hàng đầu.
– Một giáo viên “

Một tân cử nhân ở Sài Gòn vừa tốt nghiệp Đại học Ngân hàng và gia đình đã hỗ trợ 450 triệu đồng để xin vào làm việc trong 1 ngân hàng nhưng sau 3 tháng đành phải tự xin thôi việc. Lý do vì ngân hàng đặt chỉ tiêu hàng tháng phải cho khách hàng vay trên 300 triệu và một nhân viên mới làm việc không thể nào đáp ứng được chỉ tiêu này. Cô tân cử nhân phân trần:

“Đối với khách hàng doanh nghiệp thì số tiền lại nhỏ so với nhu cầu nên người ta không vay mặc dù đủ điều kiện để vay. Còn đối với các khách hàng cá nhân thì số tiền đó có thể người ta muốn vay nhưng lại không đủ điều kiện vì điều kiện đưa ra khá là khó khăn, có rất nhiều chi tiết, điều kiện cao so với khả năng của một khách hàng cá nhân muốn vay tiền. Dù một ngày như vậy em có thể gọi đến hàng trăm cuộc gọi, 2-3 trăm cuộc gọi là bình thường nhưng hầu như không thể nào cho vay được vì người có tiền thì không muốn vay còn người muốn vay thì lại không đủ điều kiện”.

Tìm hiểu nguyên nhân vì sao các cử nhân tốt nghiệp ĐH-CĐ khi ra trường thường không thích ứng được với yêu cầu tuyển dụng và gặp nhiều trở ngại khi đi làm việc, Chuyên gia về quản trị Duy Lê cho rằng Giáo trình ở các trường ĐH-CĐ không phù hợp với thực tiễn, thậm chí dù có những trường giảng dạy giáo trình của các trường đại học Anh, Mỹ như Oxford hay Stanford nhưng không thể áp dụng vào môi trường làm việc của VN. Ông Duy Lê nhấn mạnh yếu tố vô cùng quan trọng là các cử nhân không có kỹ năng thực hành xã hội. Ông Duy Lê phân tích:

“Có 2 phần: một là dạy kiến thức và hai là dạy về kỹ năng. Hiện nay các trường đa phần tập trung vào dạy kiến thức mà kỹ năng thì không chắc họ làm tốt. Hiện có một số trường năng động có mở một số lớp về ‘kỹ năng cần thiết’ (source skills) nhưng lại cục bộ do người của trường dạy mà những người này chẳng bao giờ ra môi trường thực tiễn bên ngoài. Kiến thức thì có thể mời thạc sĩ, tiến sĩ về trường dạy nhưng ‘kỹ năng mềm’ thì có thể mời các anh chị có kinh nghiệm lâu năm trong các công ty về để chia sẻ, cùng làm việc thì mới phù hợp hơn. Còn nhà trường tìm giáo viên nào đó từ trường Đại học Sư phạm học tâm lý về dạy về ‘kỹ năng cần thiết’ là không đúng. Những ‘kỹ năng cần thiết’ là nhữngkinh nghiệm mà những người có trải nghiệm trong công việc họ có khả năng đã làm và thành công thì họ đến chỉ cho sinh viên”.

Các chuyên gia về quản trị và chuyên gia giáo dục đánh giá từ bao lâu nay tình trạng không có sự nối kết giữa trường học và công ty vẫn không được cải thiện. Nhiều chuyên gia chia sẻ họ được các trường ĐH-CĐ mời đến các cuộc hội thảo để đóng góp ý kiến cải tổ quá trình giảng dạy có hiệu quả hơn nhưng đâu rồi lại vào đấy, hầu như không có sự biến chuyển nào. Nhà trường thì cứ dạy theo chương trình của trường mà không áp dụng vào nhu cầu cần thiết tuyển dụng của doanh nghiệp.

Trong khi đó, qua phiên giải trình mới nhất hồi cuối tháng 4, Bộ trưởng GD-ĐT Phạm Vũ Luận nêu lên nguyên nhân đáng chú ý là do học phí thấp dẫn đến nhiều hệ lụy trong quá trình đầu tư, đào tạo khiến tình trạng cử nhân thất nghiệp ngày càng gia tăng. Những người quan tâm đến lần giải trình này của người đứng đầu ngành giáo dục VN thì lại cho rằng Bộ GD-ĐT thật sự sai lầm khi cấp phép mở trường đại học tràn lan, chất lượng thả nổi. Dư luận đặt ra câu hỏi cho ông Phạm Vũ Luận có dám cam kết tỉ lệ cử nhân thất nghiệp sẽ giảm đáng kể một khi học phí gia tăng hay không?

Trong lúc toàn xã hội chờ đợi một giải pháp tầm vĩ mô cải cách nền giáo dục ở VN thì các cử nhân né tránh tình trạng thất nghiệp bằng giải pháp tiếp tục trở lại trường, học cao học, tìm kiếm tấm bằng thạc sĩ, tiến sĩ.

Hiện nay, VN được xếp vào danh sách quốc gia có nhiều tiến sĩ trong khu vực nhưng chưa có con số thống kê cụ thể nào cho biết bao nhiêu phần trăm trong gần 25 ngàn tiến sĩ chỉ là “tiến sĩ giấy” mà thôi.

Blogger Điếu Cày: Tự do báo chí ở VN không thể cản trở

Blogger Điếu Cày: Tự do báo chí ở VN không thể cản trở

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tiếp các nhà báo bị đàn áp tại Tòa Bạch Ốc hôm 1 tháng 5, blogger Điếu Cày ngồi bên phải Tổng thống Obama

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tiếp các nhà báo bị đàn áp tại Tòa Bạch Ốc hôm 1 tháng 5, blogger Điếu Cày ngồi bên phải Tổng thống Obama

Trà Mi-VOA

09.05.2015

Ngày Tự do Báo chí Thế giới năm nay 3/5 ghi dấu một sự kiện đáng chú ý đối với nền tự do báo chí Việt Nam khi một blogger bị Hà Nội xem là phản động và cầm tù hơn 6 năm trước khi trục xuất thẳng từ nhà giam sang Hoa Kỳ được Tổng thống Mỹ mời đến Tòa Bạch Ốc để thảo luận về thực trạng tự do ngôn luận, tự do thông tin tại Việt Nam.

” Vi 3 nhà báo được la chn t danh sách trên 30 nhà báo đ được gp Tng thng hôm y là mt ch du ca chính quyn Tng thng Obama cho thy nn t do báo chí Vit Nam rt ti t.

Điếu Cày “

Đây là lần thứ nhì blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải), một trong những người đi đầu phong trào dân báo Việt Nam, được Tổng thống Barack Obama vinh danh nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới sau khi được nhà lãnh đạo Mỹ nhắc tên cách đây 3 năm khi ông còn ngồi sau song sắt nhà tù.

Sáng lập viên Câu lạc bộ Nhà báo Tự do nói cuộc gặp với Tổng thống Barack Obama diễn ra chỉ vài ngày trước cuộc đối thoại nhân quyền thường niên Việt-Mỹ (7/5) cho thấy tình trạng nhân quyền ở Việt Nam tồi tệ ra sao và Hoa Kỳ quan tâm đến thực trạng này đến mức nào trong mối bang giao Việt-Mỹ.

Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay, tiếng nói tiên phong tranh đấu cho tự do báo chí tại Việt Nam và là tác giả của các bài viết về các vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo cũng như phản đối Trung Quốc xâm lược chủ quyền Việt Nam cũng khẳng định rằng ‘tự do báo chí ở Việt Nam là không thể cản trở,’ đồng thời kêu gọi Hà Nội ‘không nên tiếp tục tuyên truyền gây thêm hận thù với người dân’ sau 40 năm chiến tranh kết thúc.

Trà Mi: Một cựu tù nhân lương tâm Việt Nam được Tổng thống Mỹ vinh danh 2 lần, anh có cảm nghĩ thế nào?

Blogger Điếu Cày: Đây là điều rất vinh dự đối với tôi, tôi rất cảm động. Gặp Tổng thống lần này, tôi đã gửi lời tri ân sâu sắc đến Tổng thống và chính phủ Mỹ đã giúp đỡ tôi có được tự do hôm nay. Trong cuộc gặp, tôi đã trình bày đầy đủ các vấn đề về tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam, và vấn đề tù nhân lương tâm. Tôi đã nhắc tới một danh sách các bạn bè cần Tổng thống quan tâm, giúp đỡ. Tôi nói với Tổng thống đôi khi những sự lên tiếng không đem lại tự do ngay tức khắc cho tù nhân lương tâm nhưng đem lại sức mạnh cho họ đứng vững trong các nhà tù, để họ hiểu rằng họ không đơn độc.

” Nhân quyn ca các nước không th khác nhau. Vì vy, h phi sa đi nhng điu lut bt công và xây dng mt xã hi văn minh, tiến b. H không nên tiếp tc tuyên truyn gây thêm hn thù vi người dân”

Trà Mi: Còn những ưu tiên mong muốn hàng đầu của anh gửi gắm qua cuộc gặp lần này ra sao?

Blogger Điếu Cày: Tất cả những điều tôi nói đều nhằm vào các điều luật của Việt Nam vì nếu không thay đổi các luật mơ hồ cho phép chính quyền bắt giữ bất kỳ ai có chính kiến khác thì việc đàn áp, bắt bớ sẽ còn tiếp diễn. Điều quan trọng nhất chúng tôi muốn là Mỹ phải gây sức ép với chính phủ Việt Nam, phải gắn nhân quyền vào các cam kết về kinh tế như TPP. Việt Nam phải từ bỏ các điều luật mơ hồ như 258, 88, 79; bãi bỏ Thông tư 37 của Bộ Công an; và sửa đổi Luật thi hành án hình sự. Tất cả quyền của tù nhân được ghi trong Luật này đã bị Thông tư 37 tước đoạt hết. Họ giam giữ tù nhân với chế độ rất khắc nghiệt, làm cho các tù nhân lương tâm thời gian gần đây liên tục tuyệt thực để phản đối.

Trà Mi: Ngoài đối thoại với nhà cầm quyền Việt Nam về vấn đề nhân quyền hằng năm, Mỹ cũng muốn lắng nghe trực tiếp từ những người đã kinh qua các kinh nghiệm từ Việt Nam. Hành động của nhà lãnh đạo Mỹ đối với anh, một nhân vật bị Việt Nam xem là phản động, theo anh, có thông điệp thế nào?

Blogger Điếu Cày: Với 3 nhà báo được lựa chọn từ danh sách trên 30 nhà báo để được gặp Tổng thống hôm ấy là một chỉ dấu của chính quyển Tổng thống Obama cho thấy nền tự do báo chí ở Việt Nam rất tồi tệ.

Trà Mi: Gặp Tổng thống lần này không chỉ là dịp để trình bày mà còn là cơ hội để thể hiện. Anh muốn thể hiện điều gì với nhà cầm quyền Việt Nam và người dân Việt Nam qua cơ hội này?

Blogger Điếu Cày: Tôi muốn nói với bạn bè còn trong nước rằng chúng tôi tuy ra ngoài này nhưng không quên họ, chúng tôi vẫn tiếp tục đấu tranh cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trong nước. Anh em Câu lạc bộ nhà báo tự do chúng tôi vẫn tiếp tục chung tay để làm những công việc đó.

Trà Mi: Đó là thông điệp anh muốn gửi tới những người có cùng suy nghĩ với mình. Còn với những người khác suy nghĩ với anh, chẳng hạn như nhà cầm quyền Việt Nam, anh muốn gửi thông điệp gì tới họ qua sự xuất hiện lần này bên cạnh Tổng thống Obama?

Blogger Điếu Cày: Tôi nghĩ chính quyền Việt Nam sau 40 năm chiến tranh và giờ đây đã bang giao với Mỹ, nên xem xét lại thái độ của mình hành xử trong cộng đồng quốc tế, một xã hội loài người đang tiến tới các chuẩn mực nhân quyền phổ quát chung cho cả nhân loại. Nhân quyền của các nước không thể khác nhau. Vì vậy, họ phải sửa đổi những điều luật bất công và xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ. Họ không nên tiếp tục tuyên truyền gây thêm hận thù với người dân.

“… thông tư 37 ca B Công an, mt văn bn được giu kín và được s dng đ tước đot các quyn mà tù nhân được hưởng trong Lut Thi hành án hình s. Ln này, Hoa Kỳ s làm rõ, h không mun chính quyn Vit Nam s dng các điu lut không được công b đ đàn áp tù nhân...”

Trà Mi: Nhìn lại tự do báo chí ở Việt Nam 10 năm trước với thời điểm này, anh nhận xét thế nào?

Blogger Điếu Cày: Tôi thấy có những tiến triển rất mạnh về số người tham gia mạng truyền thông xã hội ngày càng mạnh mẽ. Các thông tin nhà nước muốn bưng bít không thể bưng bít được nữa. Sự phản biện trên các phương tiện truyền thông tự do giờ đã rất mạnh mẽ. Trong tương lai, việc cản trở thông tin là không thể. Hiện nay Việt Nam có 20 triệu trang Facebook. Chỉ cần 1% trong số đó dùng Facebook của mình như một trang báo nhỏ độc lập thì chúng ta có biết bao nhiêu tờ báo nhỏ độc lập. Trong tương lai, sẽ không gì ngăn cản nổi truyền thông internet và tự do báo chí ở Việt Nam là không thể cản trở được.

Trà Mi: Với tư cách một nhà báo độc lập của Việt Nam được thế giới biết tiếng, anh sẽ đóng góp cho tiến trình đó ra sao một cách cụ thể và hiệu quả nhất?

Blogger Điếu Cày: Khi còn trong nước, chúng tôi thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, thành lập Câu lạc bộ Nhà báo tự do vì những quyền đó. Sau thời gian hoạt động, tôi nhận ra rằng khi các blogger cùng lên tiếng, sẽ tạo ra một mạng lưới truyền thông rất mạnh. Vì vậy, chúng tôi phát động phong trào dân báo từ 1/1/2008: Mỗi blogger hãy là một nhà báo công dân. Phong trào dân báo đã đem lại hiệu quả nhất định. Hiện nay người dân Việt Nam sử dụng blog để cất lên tiếng nói ngày càng nhiều. Mặc dù chúng tôi bị đàn áp, nhưng đã đóng góp được phần nhỏ bé vào phong trào dân báo đó. Trang Danlambao với lượng truy cập rất cao cũng cho thấy sự thành công của mạng lưới báo công dân, hoặc anh em blogger cũng đã lập ra Mạng lưới blogger Việt Nam. Đó là những chỉ dấu của một phong trào dân báo đã bước lên một bước cao. Chúng tôi và Câu lạc bộ nhà báo tự do cũng vinh dự là đóng góp được một phần vào đó.

Trà Mi: Anh từng chia sẻ ước muốn làm cầu nối giúp mở rộng mạng lưới truyền thông độc lập trong-ngoài. Những khó khăn nhất đối với kế hoạch đó tới thời điểm này là gì?

Blogger Điếu Cày: Vì tôi mới ở tù ra, anh em chúng tôi cũng không có kinh phí hoạt động, phải đi khắp nơi để vận động đóng góp. Chúng tôi cũng xây dựng các hồ sơ về các tù nhân lương tâm để lên tiếng bảo vệ họ.

Trà Mi: Điếu Cày sau song sắt nhà tù cách đây 3 năm được Tổng thống Mỹ nhắc tới nhân ngày Tự do báo chí thế giới và hiện nay bên cạnh Tổng thống Mỹ khác nhau thế nào?

Blogger Điếu Cày: Tôi vẫn là Điếu Cày như cũ, chỉ khác là trách nhiệm giờ nặng nề hơn rất nhiều, chúng tôi sẽ cố gắng hơn nữa để đáp ứng mong mỏi của mọi người.

Trà Mi: Nếu có cơ hội chia sẻ với những người khao khát tự do báo chí trong nước, anh sẽ ưu tiên chia sẻ điều gì với họ và anh cần họ chia sẻ điều gì với anh?

Blogger Điếu Cày: Tôi muốn các bạn đoàn kết hơn nữa để chúng ta hướng tới một nền tự do báo chí, tự do ngôn luận cho Việt Nam. Các bạn chính là liên kết những cầu nối với nhau để tạo nên những mạng lưới truyền thông mạnh mẽ. Còn chúng tôi ngoài này sẽ cố gắng giúp các bạn, tìm mọi cách thúc đẩy quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trong nước, lên tiếng bảo vệ các bạn khi các bạn bị tù đày, sẽ chuyển tải thông điệp các bạn muốn chuyển tới quốc tế. Tôi mong muốn cộng đồng, tất cả những người quan tâm đến nhân quyền Việt Nam cố gắng chung tay giúp đỡ, đặc biệt trong việc ký thỉnh nguyện thư gửi lên Liên hiệp quốc sắp tới, đòi hỏi nhà cầm quyền Việt Nam phải sửa đổi những điều luật về nhân quyền. Trong những ngày diễn ra đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ, tôi biết rằng chính phủ Hoa Kỳ lần này cũng rất quan tâm đến thông tư 37 của Bộ Công an, một văn bản được giấu kín và được sử dụng để tước đoạt các quyền mà tù nhân được hưởng trong Luật Thi hành án hình sự. Lần này, Hoa Kỳ sẽ làm rõ, họ không muốn chính quyền Việt Nam sử dụng các điều luật không được công bố để đàn áp tù nhân như vậy. Tôi hy vọng các bạn tù của tôi trong nước nghe được những tin này sẽ biết rằng chúng tôi không quên họ, chúng tôi vẫn đang tiếp tục đấu tranh cho các bạn ấy.

Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn anh đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi này.

Học giả = làm ruộng

Học giả = làm ruộng

GS Nguyễn Văn Tuấn

Nguyễn Đổng Chi là một học giả nổi tiếng. Mới đọc bên fb của Hoàng Oanh thấy người ta tổ chức hội thảo 100 năm ngày sinh của ông, và cái hình chụp lại tờ “Giấy thông hành” cấp cho ông vào ngày 24/5/1955 (tức thời Cải cách ruộng đất) rất thú vị. Tờ giấy ghi nghề nghiệp của ông là “làm ruộng”, nhưng phía dưới ghi mục đích của chuyến đi là “gặp Ban nghiên cứu Văn Sử Địa”. Vui thật! Một anh nông dân mà có việc gì phải đi gặp một cơ quan nghiên cứu, mà còn nghiên cứu văn sử địa!

Tờ giấy thông hành là một chứng từ cho một thời tăm tối. Thời đó, dĩ nhiên những người như cụ Nguyễn Đổng Chi được xem là thành phần trí thức, tức là nằm trong nhóm bị “Đào tận gốc, trốc tận rễ”. Cho nên, ông quan chức công an Hà Tĩnh mới thương tình cho ông cái nghề rất hiền lành là “làm ruộng” cho an toàn trên đường đi từ Hà Tĩnh ra Hà Nội.

Tôi không rõ có bao nhiêu bạn trẻ ngày nay còn nhớ — hay thậm chí biết — đến Nguyễn Đổng Chi, chứ những người thuộc thệ hệ tôi lớn lên ở miền Nam trước 1975 thì ông là học giả rất nổi tiếng. Gia đình tôi có một bộ sách do Ba tôi sưu tầm. Bộ sách gồm nhiều truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Thuỷ Hử, Hán Sở Tranh Hùng, v.v.. Đặc biệt là cuốn Kho Tàng Truyện Cổ Tích của Nguyễn Đổng Chi. Có thể nói tôi lớn lên với những truyện trong cuốn đó. Ngày ngày đi học về, tôi ngấu nghiến đọc những truyện trong đó và tha hồ .. tưởng tượng. Ôi, một thời thiếu niên thật thần tiên với những truyện con sam, sự tích cái chổi, ông bình vôi, cái chân con chó, v.v. Văn chương giản dị, nhân cách hoá sự vật làm cho mình rất gần với sự vật, cộng với minh hoạ (chỉ vẽ tay) làm cho cuốn sách là một cuốn không thể thiếu được trong tủ sách gia đình.

Ấy thế mà sau này tôi được biết ông cụ này cũng bị lọt vào dòng xoáy của cơn lốc “Nhân văn giai phẩm”. Dưới áp lực của đảng, ông viết bài chỉ trích và vu khống cụ Phan Khôi, một học giả nổi tiếng khác. Nhưng cụ Đổng Chi là người đàng hoàng và nhà văn hoá lớn, nên ông có chối lại cho con trai (tức là Giáo sư Nguyễn Huệ Chi) giải oan cho cụ.

Nhưng qua buổi hội thảo kỉ niệm ngày sinh của ông, chúng ta mới biết “người ta” vẫn còn rất dè dặt với các học giả đương thời. Theo Hoàng Oanh kể lại thì hội thảo không phải suôn sẻ như chúng ta nghĩ. Oanh viết:

“Để hội thảo có thể tiến hành được thì Ban tổ chức (Hội Văn học Nghệ thuật TPHCM, Nhà xb Trẻ, Tập đoàn truyền thông Thanh Niên) không được đăng tham luận của nhà văn Nguyên Ngọc vào kỷ yếu hội thảo, không được mời nhà văn Nguyên Ngọc; ông con Nguyễn Huệ Chi không được phát biểu cám ơn và những người tham dự hội thảo mà phải giao cho cô út, muốn trao đổi với các ý kiến tham luận thì đứng dưới hội trường chứ không được lên bục diễn giả, và nhiều chuyện khác …”

Hoàng Oanh nói là “chuyện bên lề”, nhưng tôi thì thấy đó là chuyện quan trọng. Quan trọng là vì những câu chuyện như thế nói lên một sự thật là có những thế lực vô hình cố tình gây cản trở cho tự do học thuật. Và, thế lực này không từ bỏ một tiểu tiết nào, cho dù là rất hèn, để đạt được mục tiêu của họ. Do đó, tôi cũng rất ngạc nhiên như Hoàng Oanh là “Nền tự do như vậy mà lại đi ‘giải phóng’ một nơi tự do khác”. Thế mới có ông nhạc sĩ nào đó sáng tác bài “Anh giải phóng tôi, hay tôi giải phóng anh”.

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

Thêm một chứng từ không hay

Thêm một chứng từ không hay

GS Nguyễn Văn Tuấn

Chúng ta, người Việt, gọi tên Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này thì ai cũng biết. Nhưng bạn nghĩ sao nếu chính phủ VN gọi theo người Tàu là “Tây Sa” và “Nam Sa”? Ấy thế mà đó là cách gọi trên giấy trắng mực đen của Bộ Ngoại giao VNDCCH!

Tôi mới đọc trên fb của bác Hoàng Dzũng viết về một tài liệu được trưng bài trong buổi hội thảo kỉ niệm 100 năm ngày sinh của học giả – nhà văn Nguyễn Đổng Chi. Tài liệu là một văn bản của Bộ Ngoại giao VNDCCH gửi cho học giả Nguyễn Đổng Chi vào ngày 22/1/1974. Nhưng cái tên trong văn bản đó mới là đáng nói. Nguyên văn như sau:

“BỘ NGOẠI GIAO VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Số LS/BG Độc lập Tự do Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 22 tháng 1 năm 1974

Kính gửi: Đ/c Giám đốc Thư viện nhà nước
Đ/c Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội
Đ/c Cục trưởng Cục Lưu trữ
Đ/c Viện trưởng Viện Sử học

Thủ tướng Chính phủ cần tư liệu về vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Tây sa và Nam sa.

Đề nghị đồng chí bố trí cán bộ làm việc trong mấy ngày tết sưu tầm gấp các tư liệu, bản đồ về vấn đề này để trong vài ba ngày kịp trình lên đồng chí Thủ tướng. Chúng tôi xin cử cán bộ đến trực tiếp trình bày với các đồng chí để nói rõ thêm vấn đề này.

KT/BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO
Thứ trưởng
Hoàng Văn Tiến”

Để đặt cái công văn này trong bối cảnh, chúng ta cần phải nhớ rằng Tàu cộng đánh chiếm Hoàng Sa từ VNCH vào ngày 19/1/1974. Trận hải chiến đó (do VNCH nổ súng trước) làm cho 75 lính hải quân hi sinh.

Ba ngày sau, Bộ Ngoại giao VNDCCH mới gửi công văn này đến học giả Nguyễn Đổng Chi để … “sưu tầm tài liệu” trình Thủ tướng. Nói cách khác, VNDCCH có vẻ chẳng biết chủ quyền hai quần đảo đó là thuộc Việt Nam! Chuyện khó tin nhưng có thật. Chuyện càng khó tin khi Bộ Ngoại giao VNDCCH mà dùng danh xưng của Tàu cộng để chỉ 2 quần đảo của Việt Nam! Nhưng nhìn chung, cái công văn đó cho thấy khi Tàu cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, phía VNDCCH … không biết nói gì. Nói cách khác, họ mù mờ về sự thật lịch sử.

Trước đây, tôi vẫn bán tín bán nghi khi Tàu cộng chúng rêu rao rằng VNDCCH từng tuyên bố rằng Hoàng Sa thuộc về Tàu. Chúng tung tài liệu nói rằng “Ngày 15/6/1956, trong khi tiếp đại diện lâm thời của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, Lý Chí Dân, Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói với ông rằng: ‘Theo dữ liệu của Việt Nam, quần đảo Tây sa và quần đảo Nam Sa về mặt lịch sử là một phần lãnh thổ của Trung Quốc’” (1). Tuyên bố này có thật, vì cuốn sách “Cuộc tranh chấp Việt – Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của ông Lưu Văn Lợi do Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội phát hành năm 1995, xác nhận.

Trong một bài viết mới đây, Gs Vũ Cao Đàm (ĐHQG Hà Nội) có nói đến quan điểm của ông Lê Duẩn lúc Tàu cộng đám chiếm Hoàng Sa từ VNCH như sau:

“Còn khi Tàu Cộng chiếm Hoàng Sa thì mấy ông tuyên huấn của Bác Duẩn lại báo tin mừng cho chúng tôi biết, là ‘bạn’ đã giúp ta lấy lại Hoàng Sa ‘từ tay quân ngụy’. […] Hỏi quân ngụy là ai mà dám chiếm đóng Hoàng Sa, thì mới tá hỏa ra là bọn họ cũng là người Việt Nam, đang cầm súng chiến đấu bảo vệ đảo của nước ta” (2).

Câu chuyện trên đây do bác Vũ Cao Đàm kể lại, cùng với chứng từ “Tây Sa, Nam Sa” của Bộ Ngoại giao VNDCCH, và phát biểu của ông Ung Văn Khiêm tiết lộ một cách khá nhất quán rằng thời đó mấy quan chức và lãnh đạo cao cấp ngoài Bắc rất mơ hồ về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa. Do đó, ngày nay khi những người nối nghiệp họ phải gặp khó khăn lớn khi đương đầu với những chứng từ do chính họ sản sinh.

___

(1) Miền Bắc có tuyên bố Hoàng Sa của TQ? (BBC).

(2) Bác Trọng làm theo lời dạy của Bác Hồ hay lời dạy của các bác khác? (BVN/ Ba Sàm).

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

____

Lam Điền

Công văn Mật ở hội thảo Nguyễn Đổng Chi

08-05-2015

Hôm qua hội thảo 100 năm ngày sinh Nguyễn Đổng Chi. Ngoài phần tham luận của học giới các chuyên ngành, phía gia đình đem đến một triển lãm nho nhỏ, bao gồm hình chụp các tư liệu, bản thảo, giấy tờ công tác hồi GS Nguyễn Đổng Chi còn sinh thời và còn làm việc.

Trong số hình ảnh triển lãm ấy có 1 bản công văn của Bộ Ngoại giao, chữ đánh máy, có đóng dấu Mật và Hỏa tốc, đề ngày 22-1-1974, gửi cho các nơi như này: – Đ/c Giám đốc Thư viện Nhà nước; Đ/c Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội; Đ/c Cục trưởng cục Lưu trữ; Đ/c Viện trưởng Viện Sử học.

Nội dung là:

Thủ tướng Chính phủ cần tư liệu về vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa.

Đề nghị đồng chí bố trí cán bộ làm việc trong mấy ngày Tết sưu tầm gấp các tư liệu, bản đồ về vấn đề này để trong vài ba ngày kịp trình lên đồng chí Thủ tướng.

Chúng tôi xin cử cán bộ đến trực tiếp trình bày với các đồng chí để nói rõ thêm về vấn đề này.

Công văn có dấu Bộ Ngoại giao, chữ ký của Thứ trưởng Hoàng Văn Tiến.

Ngoài ra, bên cạnh còn có bút tích ghi bằng mực màu đen: Đề nghị anh Chi tích cực thực hiện giúp. Chữ ký bên dưới đọc có lẽ là “Văn Tạo”.

Đây là công văn ra đời 3 ngày sau khi Hoàng Sa bị Trung Quốc tiến chiếm (19-1-1974). Nội dung thể hiện không khí gấp gáp của Chính phủ thông qua ý muốn của Thủ tướng cần có tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nên đã chỉ thị các cơ quan liên quan tìm ngay trong mấy ngày tết.

Ảnh chụp công văn này khi đưa triển lãm được chú thích là: “Chỉ thị mật của Bộ Ngoại giao yêu cầu khảo sát tài liệu về Hoàng Sa và Trường Sa trong những ngày tết năm 1974”.

Vấn đề là, mình chưa tra ra được vào thời điểm công văn này phát ra, thì GS Nguyễn Đổng Chi giữ chức vụ/ nhiệm vụ gì cụ thể. Tương tự, mình cũng chưa biết vào lúc đó GS Văn Tạo giữ chức vụ/ nhiệm vụ gì. Nhiều khả năng bút phê kia là của Văn Tạo, nếu vậy, công văn này từ chỗ Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đến chỗ GS Văn Tạo, rồi mới đến GS Nguyễn Đổng Chi. Và quan trọng hơn, kết quả của chuyến làm việc gấp rút trong mấy ngày tết 1974 ấy là gì? Rồi sau đó Chính phủ đã làm gì tiếp theo.

Tuy nhiên, cách dùng chữ Tây Sa và Nam Sa trong công văn này gợi cho mình một ý muốn tìm hiểu là cụm từ Hoàng Sa, Trường Sa xuất hiện lần đầu tiên trong văn bản hành chính của chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là vào lúc nào, ở đâu?