Ba kịch bản trên Biển Đông

Ba kịch bản trên Biển Đông

Chiến đấu cơ F/A-18 Hornet của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz trong một cuộc tuần tra ở Biển Đông.

Chiến đấu cơ F/A-18 Hornet của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz trong một cuộc tuần tra ở Biển Đông.

Nguyễn Hưng Quốc

Mấy tuần vừa qua, Mỹ liên tục lên án gay gắt việc Trung Quốc bồi đắp và xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa và kêu gọi Trung Quốc ngừng ngay tức khắc những hành động mà họ cho là phi pháp, khiêu khích và nguy hiểm ấy. Mặc kệ, Trung Quốc vẫn tiếp tục xây dựng, thậm chí còn đặt cả mấy khẩu pháo trên những hòn đảo nhân tạo ấy. Chuyện gì sẽ xảy ra trên Biển Đông?

Theo tôi, sẽ có một trong ba kịch bản sau đây:

Thứ nhất, Biển Đông sẽ châm ngòi cho cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ.

Điều này, thật ra, đã có nhiều người nói đến từ lâu. Một số học giả đưa ra các lý do khiến Trung Quốc sẵn sàng mở một cuộc chiến tranh với Mỹ, trong đó, có ba lý do chính: Một, là một nước có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, Trung Quốc cần khẳng định vị thế siêu cường của mình, ít nhất là trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và sự khẳng định ấy chỉ có thể thực hiện được qua chiến tranh. Hai, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc hiện nay đã bắt đầu khựng lại, sự phân hoá giàu nghèo càng ngày càng trở nên to lớn, sự bất mãn của dân chúng càng ngày càng sâu sắc, xu hướng đòi hỏi dân chủ càng ngày càng mạnh mẽ, Trung Quốc cần một cuộc chiến tranh để nâng cao chủ nghĩa quốc gia, thống nhất lòng dân và dập tắt mọi ngọn lửa phản kháng, từ đó, duy trì sự thống trị của đảng Cộng sản. Ba, để tiếp tục phát triển, Trung Quốc rất cần nhiên liệu mà Biển Đông, theo họ, là nguồn chứa dầu khí thuộc loại lớn nhất thế giới, do đó, họ xem việc chiếm cứ Biển Đông là một “lợi ích cốt lõi”, không thể nhân nhượng, ngay cả khi họ phải trực tiếp đối đầu với Mỹ.

Về phía Mỹ, có nhiều lý do để họ ngại một cuộc đối đầu quân sự như vậy. Chiến tranh ở Afghanistan và Iraq chưa chấm dứt. Tình hình chính sự ở Trung Đông vẫn còn ngổn ngang. Dân chúng Mỹ đã bắt đầu mệt mỏi với việc can thiệp ở nước ngoài. Tổng thống Barack Obama chỉ còn một năm rưỡi nữa là hết nhiệm kỳ, chắc chắn ông không muốn tham dự vào một cuộc phiêu lưu mới đầy bất trắc. Tổng thống kế tiếp cũng chắc không muốn mở đầu một nhiệm kỳ bằng chiến tranh. Đó là chưa kể kinh tế Mỹ, một mặt, vẫn chưa hồi phục hẳn; mặt khác, có quan hệ chặt chẽ với kinh tế Trung Quốc. Chỉ có hai lý do có thể khiến Mỹ vượt qua tất cả những sự khó khăn và trở ngại ấy: Một, Trung Quốc quyết định khống chế hoàn toàn con đường hàng hải đi ngang qua Biển Đông; và hai, Trung Quốc nổ súng trước vào máy bay hay chiến hạm của Mỹ.

Chuyện Trung Quốc nổ súng trước không phải không có khả năng xảy ra. Nó có thể xảy ra một cách cố ý với một sự tính toán rõ rệt từ nhà cầm quyền Trung Quốc nhưng cũng có thể xảy ra một cách ngẫu nhiên và bất ngờ, hay nói theo giáo sư Michael Auslin, như “một tai nạn” khi máy bay hoặc chiến hạm hai bên đụng vào nhau gây ra thương vong, từ đó, dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ từ cả hai phía và hậu quả là chiến tranh sẽ bùng nổ.

Một cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc chắc chắn sẽ vô cùng khốc liệt và rất dễ dẫn đến nguy cơ lan rộng thành chiến tranh thế giới, và đặc biệt, chiến tranh hạt nhân. Viễn cảnh ấy chắc chắn sẽ làm chột dạ mọi người. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn có thể khẳng định vị thế siêu cường trong khu vực của mình bằng một cuộc chiến tranh khác, ví dụ, chiến tranh với một nước đang tranh chấp nào đó. Đó là những nước nào? Có ba nước tranh chấp biển và đảo quyết liệt nhất với Trung Quốc: Nhật Bản, Philippines và Việt Nam. Trong ba nước ấy, mạnh nhất là Nhật Bản. Về quân sự, trừ vũ khí hạt nhân, có khi Nhật Bản còn mạnh hơn cả Trung Quốc. Hơn nữa, sau Nhật Bản là Mỹ. Có lẽ Trung Quốc sẽ không phiêu lưu vào cái nơi nguy hiểm và không nắm chắc phần thắng ấy. Nước yếu nhất là Philippines. Nhưng Philippines lại có liên minh về quốc phòng với Mỹ. Nếu Trung Quốc muốn tránh đương đầu với Mỹ, họ cũng sẽ không gây chiến với Philippines. Chỉ còn lại Việt Nam là vừa yếu vừa thân cô thế cô, dễ đánh nhất. Bởi vậy, chúng ta có kịch bản thứ hai: Chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Trong bài “Why A War Between China And Vietnam Is Inevitable” đăng trên tờ Business Insider vào tháng 7 năm 2011, Dee Woo cho chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam là chuyện không thể tránh khỏi. Ông cho cuộc chiến tranh ấy phục vụ lợi ích của chính quyền ở cả hai nước: Trung Quốc thì muốn chiếm trọn Trường Sa và, từ đó, Biển Đông, còn Việt Nam thì muốn làm lệch hướng sự quan tâm của dân chúng để không ai còn lên án những thất bại thảm hại về phương diện kinh tế và xã hội của nhà cầm quyền. Nhưng Dee Woo lại vẽ nên một viễn cảnh thê thảm của Việt Nam: sau khi tấn công cả trên biển lẫn trên đất liền, Trung Quốc sẽ phá huỷ toàn bộ các cơ sở hạ tầng của Việt Nam rồi rút về, để lại ở Việt Nam một cảnh tan hoang và thậm chí, nội chiến triền miên cả nửa thế kỷ sau cũng chưa chắc đã hồi phục được.

Viễn cảnh ấy, tuy bi quan, nhưng không có gì quá đáng. Tương quan lực lượng của Việt Nam và Trung Quốc hiện nay khác xa với thời chiến tranh biên giới vào năm 1979. Trung Quốc không những giàu hơn về kinh tế mà còn có kho vũ khí, khi tài cũng như các phương tiện phục vụ chiến tranh dồi dào và tối tân hơn Việt Nam cả mấy chục lần.  Việt Nam có đổ thêm bao nhiêu tiền để mua sắm vũ khí thì cũng không thể nào bắt kịp được Trung Quốc. Hơn nữa, cần lưu ý: Đánh nhau trên bộ người ta còn có thể sử dụng chiến thuật du kích và huy động chiến tranh nhân dân nhưng trên mặt biển, yếu tố quyết định nhất vẫn là vũ khí và kỹ thuật. Thua vũ khí và thua kỹ thuật là thua hẳn cuộc chiến. Chắc chắn chính quyền Việt Nam biết rõ điều đó nên họ vẫn tiếp tục chịu đựng và nhân nhượng. Nếu sách lược này kéo dài mãi, chúng ta sẽ có kịch bản thứ ba: Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành.

Nên nhớ một trong những sách lược chính của Trung Quốc ở Biển Đông là sách lược tằm ăn dâu (salami slicing). Họ cứ lấn dần dần. Lấn đến cỡ nào Việt Nam cũng nhịn, đến một lúc nào đó, tất cả những gì họ muốn đều biến thành hiện thực. Họ tuyên bố về đường lưỡi bò bao trùm lên 80% diện tích Biển Đông của Việt Nam: Việt Nam nhịn. Họ đem giàn khoan đến thềm lục địa Việt Nam: Việt Nam nhịn. Họ tái tạo bãi đá ngầm thành đảo nhân tạo: Việt Nam nhịn. Một lúc nào đó, họ tuyên bố thành lập vùng nhận dạng hàng không: Việt Nam lại nhịn. Thậm chí, họ có thể chiếm nốt các hòn đảo khác ở Trường Sa: Việt Nam cũng vẫn tiếp tục nhịn. Đến lúc đó, thực tình họ chả cần đánh nhau với Việt Nam làm gì: Họ đã có tất cả những gì họ muốn. Và đến lúc ấy, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc không còn nữa. Chỉ còn mâu thuẫn trong nội bộ Việt Nam: giữa nhân dân và một chính quyền bất lực, nhu nhược và đớn hèn.

Phải truy tới cùng bọn quan tham

Phải truy tới cùng bọn quan tham

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Nghị trường của Quốc Hội VN đang nổi lên những cuộc tranh luận gay gắt về một số vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Có hai vấn đề đáng chú ý nhất, trong bài trước tôi đã tường thuật cùng độc giả là “quyền im lặng” của một can phạm khi bị cơ quan điều tra tạm giữ. Vấn đề thứ hai là “nên hay không nên bãi bỏ án tử hình cho tội tham nhũng.” Tuần này tôi đề cập đến vấn đề thứ hai. Cũng trong buổi thảo luận ấy đã có nhiều ý kiến trái ngược nhau, hầu hết ý kiến đều đồng tình là không bỏ án tử hình với các tội tham ô tài sản, nhận hối lộ nhằm trừng trị nạn tham nhũng. Tuy nhiên, nguyên Phó Chánh Án Tòa án Nhân Dân (TAND) Tối cao Trần Văn Độ, thành viên Hội Đồng Thẩm Định các dự án luật của chính phủ, lại có quan điểm khác hẳn.

Tử hình quan tham không giải quyết được gì?

Ông Độ ủng hộ bỏ án tử hình trong hai tội tham ô tài sản và nhận hối lộ. Trên số báo ngày 4-5, Pháp Luật đã đăng bài phỏng vấn ông Trần Văn Độ. Ông nói: “Tội tham ô, nhận hối lộ là các tội tham nhũng mang tính kinh tế. Hiện hầu hết các nước đã bỏ án tử hình đối với những tội danh này. Ở Trung Quốc cũng có tuyên án tử hình với hành vi tham nhũng nhưng là tử hình treo, tức hoãn thi hành, sau hai năm chuyển sang tù chung thân. Chỉ có Việt Nam là còn áp dụng án tử hình đối với tội tham ô, nhận hối lộ và hiện nay vẫn đang muốn giữ lại án tử hình trong dự thảo BLHS (sửa đổi).” Ông cho rằng cách hành xử “không được bao nhiêu” đối với tham nhũng càng làm mất lòng tin của người dân.

Căn dinh thự của ông Truyền được mệnh danh là hoa hậu xứ Dừa.

Ông chỉ ra một thực tế: “Tội tham ô, nhận hối lộ chúng ta quy định hình phạt tử hình nhưng thực tế không xử lý được bao nhiêu cả. Dân bảo các ông hô hào thôi chứ có làm được đâu? Nghiêm minh tức là tham ô 4-5 tỷ đồng trở lên phải tử hình, nhưng chúng ta có làm được đâu. Thậm chí có những người tham ô nhưng về mặt đảng chỉ cảnh cáo thôi. Tức là có độ chênh giữa quy định và thực thi trên thực tiễn. Chúng ta chỉ xử lý những vụ tham nhũng vặt, dăm ba chục triệu, vài ba trăm triệu. Quy định thật nặng, thật to nhưng không thực hiện được thì càng làm mất lòng tin của người dân.”
Ý kiến này lập tức bị phản đối ngay trong nghị trường, nhất là làn sóng phản kháng dữ dội của người dân.

Duy trì án tử để chống quan tham

Theo Viện Trưởng Đinh Xuân Thảo của Viện Nghiên Cứu Lập Pháp, việc thu hẹp án tử hình là phù hợp với xu hướng thế giới. Tuy nhiên việc Dự thảo luật đề xuất bỏ hình phạt tử hình với một số tội danh như cướp tài sản, phá hủy công trình quan trọng quốc gia là chưa phù hợp, cần cân nhắc lại.
Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ thì cho rằng, đối với tội phạm tham nhũng, khi sửa luật, điều quan trọng vẫn phải bảo đảm tính răn đe của pháp luật. “Tội tham nhũng nếu bảo bỏ người ta lại bảo không đấu tranh chống tham nhũng nữa. Điều này chưa thuyết phục.” ĐB Trần Du Lịch (TP Sài Gòn) cũng cho rằng, đối với tội tham nhũng là không thời hiệu, do vậy cần phải truy tới cùng, phát hiện đến cùng mới có thể trừng trị được.
Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Tư Pháp Nguyễn Đình Quyền cũng đề nghị không nên bỏ án tử hình bằng mọi giá để phúc đáp yêu cầu của thế giới. Đại biểu Quyền cũng không đồng tình với việc không áp dụng hình phạt tử hình đối với người già từ 70 tuổi trở lên. Vì hiện nay tuổi thọ đã được nâng cao, trong khi đó nhiều đối tượng ở độ tuổi này lại “phạm tội kinh khủng,” với tâm lý “hy sinh đời bố, củng cố đời con.”

Căn nhà lụp xụp, rách nát của một người dân nghèo ngay bên cạnh dinh thự của ông Truyền. Và ở rất nhiều địa phương khác, ai cũng thấy nghịch cảnh này.

Cưỡi lên đầu nhân dân còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản…!?

Đó là lời nhận xét của ông Nguyễn Xuân Tỷ, Phó Giám Đốc Học Viện Quốc Phòng, Đoàn đại biểu Quốc Hội tỉnh Bến Tre. Ông Tỷ nói nguyên văn như sau: “Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng. Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa.”
Có lẽ đây là lời nhận xét thẳng thắn nhất của một đại biểu Quốc Hội về việc giàu lên nhanh chóng của “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, công chức. Ông Nguyễn Xuân Tỷ đã nói ra một điều tưởng như vô lý, đó là có hẳn một “đội ngũ” làm cán bộ có “mấy năm” mà trong nhà có “vài ba trăm tỉ” đồng, thậm chí cả “ngàn tỉ đồng” thì quả là khủng khiếp. Chuyện vô lý đã nghiễm nhiên trở thành một sự thật tràn lan không thể chối cãi ở VN ngày nay.
Trên báo Tiền phong, Giám Đốc Công An thành phố Hà Nội, tướng Nguyễn Đức Chung bày tỏ: “Người nghèo đi buôn ma túy bị lĩnh án tử hình, không cớ gì người có chức vụ, kiến thức mà tham ô, tham nhũng lại không bị tử hình.”
Về phía người dân, đã có rất nhiều lời phẫn nộ, tôi chỉ nêu một ý kiến trên báo Kiến Thức của bạn Nguyễn Duy Xuân:
“Bỏ tử hình là nương tay với quan tham nhũng! Chỉ có những kẻ tham nhũng chưa lộ mặt là hả hê chuẩn bị một quy trình đục khoét mới… Cách đây khoảng vài năm, ở quê tôi có một vị cán bộ chức tước cũng cỡ trưởng phòng cấp huyện, được dân tặng cho cái biệt danh cá rô phi. Hôm nghe ông tổ trưởng dân phố gọi thế, tôi ngạc nhiên hỏi lại nguyên do. Ông tổ trưởng giải thích ngắn gọn: Vì lão ta ăn tạp, không từ một thứ gì.
“À ra thế! Cứ nghĩ dân không biết gì, ai dè họ tinh đời lắm! Chuyện ông trưởng phòng tham lam ăn tạp, dư luận ai cũng tường, nhưng tặng cho cái biệt danh là cá rô phi thì chỉ có dân mới thâm thúy đến thế. Bây giờ nghĩ lại, bỗng thấy rùng mình. Giờ không chỉ một con rô phi mà cả một bầy rô phi nhung nhúc. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thì gọi là một bầy sâu. Một bầy sâu hay một bầy rô phi – đều là lũ ăn tàn phá hại – núi non cũng sạt chứ nói gì đến tài sản quốc gia. Những con sâu bự, những con cá rô phi tổ chảng ấy được che chắn bằng những chiếc bình phong liêm khiết trong sạch, thấy đó nhưng không dễ gì lột mặt nạ chúng được.”

Không tham nhũng thì là tội gì?

Cũng trên báo Kiến Thức, nhân dịp ồn ào này, Luật sư (LS) Phan Xuân Xiểm nêu quan điểm về những sai phạm của quan Phó Tổng Thanh Tra chính phủ Trần Văn Truyền mà LS xác định đây là tham nhũng. Tôi tóm tắt những điểm chính của ông LS này:
– “Ông Trần Văn Truyền đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nói dối cấp trên chưa có nhà để được cấp nhà, có nhà rồi vẫn cố tình xin nhà ở các nơi khác nhau, thế không gọi là tham nhũng thì là gì? Nếu chỉ thu hồi tài sản và xử lý kiểm điểm thì không thỏa đáng.”
– “Ngay từ lúc ông Truyền mới ra Hà Nội công tác đã có những đơn tố cáo về lối sống, đạo đức, không xứng đáng làm cán bộ lãnh đạo, gửi về Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương. Khi đó tôi còn đang làm, quá trình xác minh cũng được tiến hành nhưng rồi không hiểu sao không thấy phát hiện vấn đề gì. Nói thế để thấy những sai phạm của ông ấy không phải mãi đến gần lúc nghỉ hưu mới có mà có tính quá trình. Lợi dụng quyền hạn để có những đặc quyền đặc lợi cho bản thân, cho gia đình. Có nhà bảo chưa có, có đất bảo chưa, xây những dinh thự nguy nga hoành tráng, sống xa hoa gây ra sự phẫn nộ của người dân.”
LS phân tích tiếp: “Nếu kết luận có tội tham nhũng thì phải xử lý hình sự. Vấn đề là phải làm rõ tham nhũng như thế nào. Còn tôi khẳng định không tự nhiên cán bộ có tài sản nhiều như vậy được. Chỉ có thể là do tham nhũng, móc ngoặc thì mới có. Thứ trưởng Bộ Xây Dựng Nguyễn Trần Nam từng phát biểu trong một cuộc hội thảo rằng, cỡ lương thứ trưởng thì phải 40 năm mới mua được nhà thu nhập thấp cơ mà. Thế nên nói ông Truyền không tham nhũng là vô lý.”
Khi được PV hỏi: Từ câu chuyện này, có ý kiến cho rằng có thêm một bài học về phòng chống tham nhũng là kiểm soát chặt những cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo sắp nghỉ hưu để tránh tình trạng “hốt mẻ lưới, hạ cánh an toàn,” ý kiến của ông thế nào?
– Tôi nghĩ sai phạm của ông Truyền có tính quá trình, phải rất lâu mới tích tụ được khối tài sản lớn như vậy, không phải gần đến lúc nghỉ hưu ông ấy mới sai. Thế nên phải kiểm tra, giám sát chặt cả quá trình công tác, nhất là ở những vị trí, lĩnh vực nhạy cảm chứ không riêng là người sắp về hưu hay mới được bổ nhiệm.
Tóm lại vị LS này cho rằng cần phải tịch thu toàn bộ tài sản của ông Truyền đồng thời tịch thu tài sản của các con cháu do quan tham để lại hoặc cho đứng tên.
Chúng ta hãy thử phân tích trường hợp này.

Tâm lý hy sinh đời bố cũng cố đời con

Đó là một “khẩu hiệu” của những ông quan già đời, sắp về hưu. Trước khi “hạ cánh” cố gắng làm một vài vụ lớn và bất chấp luật lệ, sẵn sàng nhận lãnh án tù. Bởi ông già rồi, có sống thêm cũng chỉ vài năm nên làm vài quả thật lớn chừng vài ba trăm tỷ để lại cho con cháu.
Như trên tôi đã đề cập đến lời của Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Tư Pháp Nguyễn Đình Quyền không đồng tình với việc không áp dụng hình phạt tử hình đối với người già từ 70 tuổi trở lên. Vì hiện nay tuổi thọ đã được nâng cao, trong khi đó nhiều đối tượng ở độ tuổi này lại “phạm tội kinh khủng,” với tâm lý “hy sinh đời bố, củng cố đời con.”
Bạn Nguyễn Hùng (e-mail: thehung191073@gmail.com) viết: “Kiếm vài ba trăm tỉ, chấp nhận án tù vài chục năm, vào tù chỉ cần ngoan ngoãn chấp hành tốt, án sẽ được giảm còn dăm ba năm. Sướng thật. Đời cứ thế mà ung dung hưởng thụ bởi có tịch thu tài sản thì giỏi lắm nhà nước cũng chỉ lấy lại được phần nào bởi tất cả đều đã được tẩu tán, hợp thức hóa bằng cách cho vợ con cháu chắt đứng tên hết rồi.”
Đây là một thực trạng diễn ra từ lâu ở VN, đến bây giờ vẫn chưa có quan nào bị tịch thu tài sản, con cháu cứ việc ung dung thụ hưởng khối tài sản vĩ đại của ông cha để lại. Cần phải truy tận gốc những tài sản đó do đâu mà có. Không thể tin vào việc kê khai tài sản của các quan chức. Cần phải có những cuộc điều tra trung thực, quy mô hơn. Đừng để họ hàng hang hốc các quan tham cưỡi mãi lên đầu người dân nữa. Và không thể bãi bỏ án tử hình cho tội tham nhũng. Nếu pháp luật đã quy định “tham ô 4-5 tỷ đồng trở lên phải tử hình” thì cứ thế mà thi hành, còn bàn đi tán lại làm chi nữa cho dân nghi ngờ: Chắc có ông nào sợ chết nên mới khơi ra vụ bỏ án tử hình?

Văn Quang

(12-6-2015)

Nỗi Đau Của Núi

Nỗi Đau Của Núi

tuongnangtien

Sổ Tay Thượng Dân K’ Tiên

“Chính quyền từ trung ương đến địa phương đều cùng một duộc… chỉ nói vu vơ ngoài pháp luật… không giải quyết gì, tôi đến chỗ Hà Nội này tôi mới biết được rằng có rất nhiều người dân oan như chúng tôi cũng đang phải gánh chịu những hậu quả mà đảng và nhà nước đã gây cho mọi dân tộc…”

Ma Văn Pá (Dân Oan H’mông)

Báo Dân Trí, số ra ngày 20 tháng 5 năm 2015, đã vô cùng hân hoan gửi đến cho độc giả một tin vui:

Cô bé H’mông vượt “cổng trời” ra phố đi học… 11 tuổi, Mị vượt 50 cây số đường rừng, vượt những con dốc cao, lội qua những con suối mùa mưa nước cuồn cuộn chảy để đi học thêm cái chữ.

Học giỏi, múa hay, là liên đội trưởng xuất sắc, Mị vinh dự đại diện cho hàng nghìn bạn nhỏ H’mông được ra Hà Nội báo công với Bác nhân dịp kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Người.

Vừa qua, trong Hội thi “Chúng em kể chuyện Bác Hồ”, bằng giọng kể trầm ấm, diễn xuất sinh động, cô học trò người H’mông Vừ Y Mị vinh dự đạt giải Nhất toàn huyện. Câu chuyện “Bác Hồ với câu hát dân ca” mà Mị kể khiến nhiều người cảm động. “Chúng em chỉ được gặp Bác qua những câu chuyện kể và biết rằng, Bác dành nhiều tình yêu mến cho những làn điệu dân ca đã nuôi dưỡng tâm hồn Người từ thửa thiếu thời. Yêu Bác, em thêm yêu hơn nhưng câu ví, giặm quê mình. Người H’mông nay không còn du canh du cư nữa, trẻ em H’mông được cắp sách tới trường… Người H’mông ơn Đảng, ơn Bác Hồ nhiều”, Vừ Y Mị chia sẻ.

Ảnh: Dân Trí

Lời lẽ của cháu Mị khiến tôi nhớ đến bản nhạc (Người Mèo Ơn Đảng) của Thanh Phúc:

Bao đời nay sống nghèo lam lũ
Nay cuộc sống dân Mèo từ đây sáng rồi …
Người Mèo ơn Đảng suốt đời.

Đảng vốn hảo ngọt nên “nhạc sĩ” pha chế nước đường (cho uống bằng thích) là chuyện thuận lý nhưng nếu chỉ vì thế mà bắt cả một sắc tộc, hàng triệu người miền núi, phải “ơn Đảng suốt đời” thì chơi hơi bị ép . “Cuộc sống của dân Mèo” (nói nào ngay) không “sáng” gì cho lắm, nếu chưa muốn nói là ngược lại. Gia cảnh của ông Thắng A Di có thể được coi là một trong những trường hợp (tối tăm) tiêu biểu:

“Cùng với 6.500 người Hmong khác, cũng chạy nạn từ Lào sang, gia đình ông Thắng A Di bị nhà cầm quyền Thái Lan coi là những di dân bất hợp pháp. Từ ngày 4 tháng 7, họ bị xua đuổi và không còn chỗ nào khác hơn là tập trung trên hành lang dài 2 KM, dọc theo con lộ chính nơi Bản Làng Bên Dòng Sông Trắng.

Họ che những tấm vải nhựa, nhưng rõ ràng là khó vượt qua được cái nóng vẫn còn gay gắt, hoặc những trận mưa đầu mùa ở vùng đông Bắc Thái … Họ đã trải qua bốn ngày điêu đứng như người chạy loạn, không nơi che mưa nắng, không thực phẩm, không nước sạch, kể cả không có chỗ làm công việc vệ sinh cần thiết …”

Dù vậy, vẫn theo tường trình của Nam Nguyên (từ Phet Chabun – Bắc Thái) ông Thắng A Di cứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần với phóng viên RFA rằng “nếu phải chết em thà chết tại đây.”

Ủa, chớ cớ sao mà cái ông Thắng A Di này lại nói năng lạng quạng (và liều mạng) dữ vậy cà? Câu trả lời có thể tìm được qua lời phát biểu của một thanh niên H’mông khác, anh Ma Văn Pá (tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng) vào hôm 9 tháng 10 năm 2013:

“Chính quyền từ trung ương đến địa phương đều cùng một duộc… chỉ nói vu vơ ngoài pháp luật… không giải quyết gì, tôi đến chỗ Hà Nội này tôi mới biết được rằng có rất nhiều người dân oan như chúng tôi cũng đang phải gánh chịu những hậu quả mà đảng và nhà nước đã gây cho mọi dân tộc…”

Người H’Mông biểu tình ở Hà Nội. Ảnh: Trần Thị Cẩm Thanh

Những lời lẽ thẳng thắn và bộc trực (thượng dẫn) cũng giúp cho công luận hiểu thêm tại sao có biến động Mường Nhé – xẩy ra hồi năm 2011, ở tỉnh Điện Biên –  khiến cho hàng trăm người H’mông bị sát hại, hàng ngàn người khác bị bắt giữ, và vô số kẻ phải rời bỏ quê hương bảng làng để tìm đường lánh nạn.

Cùng với những sách nhiễu (thường xuyên) liên quan đến vấn đề tôn giáo, văn hoá và sắc tộc …, môi trường sống của người H’mông hiện nay cũng đang bị huỷ hoại không thương tiếc. Từ Hà Nội, tác giả Đặng Hoàng Giang (qua BBC – vào hôm 4 tháng 3 năm 2015) đã bầy tỏ sự lo ngại “Rồi Tất Cả Sẽ Trở Thành Đồ Sơn” trong tương lai gần:

“Từ sau khi đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai khánh thành, lượng khách tới Sapa tăng đột biến. Dịp Tết Nguyên đán vừa rồi, ô tô và xe khách biển số 29 và 30 chen chúc nhau nhích từng tí một trên những con phố dốc và hẹp ở trung tâm, rú ga giữ máy, bấm còi inh ỏi…

Không còn nhìn thấy núi non gì nữa vì hai bên đường đã kín hàng quán bán đồ lưu niệm. Trẻ con Hmong xếp hàng đợi được phát bánh kẹo như là khỉ trong sở thú.

Những đứa bạo dạn hơn thì đi giật lùi trước mặt khách, chúng từ chối kẹo, chỉ nhận tiền, và đồng thanh kêu như những cái máy vô hồn, tiếng Kinh không sõi ‘cô cho hai nghìn, cô cho hai nghìn.’ Một cộng đồng và một vùng thiên nhiên đã đánh mất nhân phẩm của mình vì du lịch…

Hiện nay, mỗi du khách tới Sapa sau khi bỏ ra 1 triệu đồng cho việc đi lại, khách sạn, ăn uống – tất cả chảy vào túi người Kinh, kể cả tiền cho một chai nước trắng – thì mới bỏ ra 10 nghìn mua mấy cái đồ thổ cẩm của người dân tộc. Thậm chí nhiều hướng dẫn viên du lịch còn dẫn khách tới các cửa hàng bán thổ cẩm nhập từ Trung Quốc vì họ được hoa hồng từ đây.

Và như vậy, những người Hmong, người Dao, người Tày, người Giáy, sẽ chủ yếu là đứng chầu rìa ở ngay trên quê hương họ.”

Bên lề cuộc đời. Ảnh lấy từ BBC

Thay vì được quan tâm, nâng đỡ để có thể dễ dàng hoà nhập vào dòng sống chung của cả dân tộc thì tất cả những sắc dân bản địa đều bị “chầu rìa” ráo trọi, chứ có riêng chi người H’mông. Và sau khi bị đẩy ra khỏi biên giới Việt Nam thì hầu như họ đều sống bấp bênh (“bên lề cuộc đời”) dù trôi dạt đến bất cứ nơi đâu.

Tôi có theo dõi nhưng không tìm được tin tức gì thêm về gia đình của ông Thắng A Di, chả biết họ cầm cự được bao lâu trong điều kiện sống “không nơi che mưa nắng, không thực phẩm, không nước sạch, kể cả không có chỗ làm công việc vệ sinh cần thiết …” nơi Bản Làng Bên Dòng Sông Trắng và – chung cuộc – đã lưu lạc đến chân trời góc biển nào rồi?

Cuối tháng Năm vừa qua, ở Thái Lan, tôi có dịp ngồi uống rượu suốt buổi với một người H’mông khác. Ông không đồng ý cho tôi chụp hình, và cũng chỉ cho biết mình họ Sùng nhưng không muốn nêu tên vì sợ những chuyện phiền phức có thể xẩy ra cho bà con hay bè bạn ở quê nhà.

Ông Sùng quê ở Hà Giang, mang gia đình vào Đắc Nông làm ruộng rẫy đã lâu. Ông hơi nghễng ngãng sau khi “bị các ông cán bộ thay phiên tát tai liên tục mấy giờ đồng hồ liền vì tôi không chịu thề bỏ đạo.” Chuyện cưỡng bức đức tin, tuy thế, không phải là nguyên do chính để ông rời bỏ Việt Nam.

Đất đai canh tác bị thu hồi mới thực sự là giọt nước  tràn ly khiến ông Sùng đã dắt díu vợ con chạy băng qua Lào, rồi (cuối cùng) đến Thái.

  • Nó bảo đất mới khai thác chưa được 10 năm thì nhà nước không có đền bù đồng nào cả. Không có đất thì chúng tôi biết sống làm sao nên phải tìm chỗ để đi thôi.

“Đi đâu ?” Có lẽ chưa bao giờ là câu hỏi ông Sùng đặt ra một cách … nghiêm trang:

  • Người ta chạy thì chúng tôi cũng chạy theo, chứ muốn ở lại cũng không được đâu. Khó sống với Nhà Nước lắm!

Kiểu lập luận giản dị của ông Sùng, tất nhiên, không được cả Cao Ủy Tị Nạn và chính quyền Thái Lan chấp nhận. May mắn là IDC (Immigration Detention Center, Nhà Giam Của Cơ Quan Di Trú) ở Thái Lan luôn ở trong tình trạng quá tải nên cả gia đình ông không ai bị truy tố và giam giữ về tội nhập cư trái phép.

Thế là cả nhà sống lêu bêu giữa thủ đô Bangkok. Tiền không có một cắc, tiếng không biết một chữ, và cũng chả quen biết bất cứ ai để có thể nhờ cậy hay tá túc.

Cuối cùng – cứ như là phép lạ – họ may mắn được “cứu sống” bởi những nhân viên của cơ quan thiện nguyện ở Thái. Hiện ông Sùng đang chen chúc với nhiều gia đình, gồm cả trăm người H’mông Việt Nam khác, trong một căn nhà thuê bốn tầng (do một hội thánh Tin Lành tài trợ ) ở ngoại ô Bangkok.

Cả ông lẫn bà đều đã ngoài sáu mươi nên ở nhà giữ mấy đứa cháu. Con trai ông Sùng đứa làm nghề phụ hồ, đứa bán kem. Hai cô con dâu đi rửa chén cho quán ăn gần đó.

  • Cũng kiếm đủ ăn đấy nhưng buồn quá ông ơi. Chúng tôi nhớ nương rẫy lắm. Ở đây chả có cây cối gì cả. Vợ tôi cứ khóc hoài. Nó đòi về nhưng làm sao mà mình về được?

Nam vô tửu như kỳ vô phong. Chúng tôi đã cưa gần hết một chai Regency Brandy Thai (một loại rượu mạnh rất rẻ tiền và bốc rất hỗn) nhưng cả hai đều vẫn ngồi xụi lơ, buồn bã. Trầm ngâm một lát, rồi ông Sùng ngại ngần tiếp:

  • Thế liệu rồi chúng tôi có được đến Mỹ không?
  • Dạ, chắc phải được chứ!

Tôi nói láo, tất nhiên. Thực tình thì tôi không “chắc” lắm. Sau đợt cưỡng bách mấy ngàn người H’mông phải quay về Lào, hồi cuối năm 2009, cả chính phủ Thái lẫn Cao Ủy Tị Nạn bị dư luận chỉ trích nặng nề. Nhờ thế, những người H’mông Việt Nam đến sau (sau biến động Mường Nhé) như gia đình ông Sùng, mới được “yên lành” cho mãi đến hôm nay.

Vô hình trung nhóm người H’mông này (bỗng) trở thành một thứ “cây cảnh về lòng nhân đạo” để trang điểm cho cả nước Thái lẫn Cao Ủy Tị Nạn. Họ không đông lắm, chỉ vài trăm người nên không phải là một ghánh nặng đáng kể. Họ lại rất thuần phác, hiền lành, chăm chỉ và chả bao giờ dám lên tiếng đòi hỏi hay làm phiền chi cả.

Sự hiện diện của họ tránh cho Thái Lan, cũng như Cao Ủy, khỏi bị điều tiếng về chuyện trục xuất người tị nạn. Chính vì vậy,  rất có thể, họ sẽ không bao giờ có cơ hội được đặt chân đến nước thứ ba.

Lý do, giản dị, ai cũng biết là nếu mấy trăm con  người khốn khổ này mà được định cư thì chỉ vài tuần sau (hay vài ngày sau) thôi sẽ có ít nhất là hàng ngàn (hay chục ngàn) người H’mông khác – từ Việt Nam và Lào – lại tiếp tục ồ ạt chạy qua biên giới Thái. Cái cột đèn mà còn phải đi thì nói chi đến người, nhất là người H’mông hay người Thượng.

Ngoài bờ biển phía Đông ra, phần biên giới còn lại của Việt Nam đều là nơi cư ngụ của những dân tộc bản địa tự ngàn xưa. Với cuộc sống đơn giản và hài hoà cùng thiên nhiên, họ đã giữ cho môi trường sinh thái được quân bằng và tạo một “vòng đai xanh” cho cả nước.

Cũng chính họ là những kẻ đứng ở tuyến đầu, giữ gìn vòng đai an ninh cho tổ quốc. Cớ sao lại tỏ thái độ kỳ thị, khinh thị, và cương quyết tìm mọi cách đẩy người ta đến tận bước đường cùng như thế?

“Khi bọn bành trướng Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979, một bộ phận không nhỏ dân tộc thiểu số, sống ở vùng biên giới, đã đồng loạt ngả theo, làm tay sai cho ngoại bang. Ðó chính là hậu quả của chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” (Lý Hồng Xuân. Nhận diện chân dung nhà văn. Văn Nghệ: California 2000,177).

“Bọn bành trướng Bắc Kinh” (rõ ràng) đang muốn tràn sang lần nữa, và “những chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” thì mỗi lúc lại một thêm ngu xuẩn và tệ hại hơn!

Dẫu chỉ một ngày

Dẫu chỉ một ngày

Phạm Thanh Nghiên (blog)

Ngày mai 11 tháng 6 năm 2015, tôi sẽ tuyệt thực để như là một cách bày tỏ sự đồng cảm, sự  sẻ chia nỗi khổ đau mà Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đang phải gánh chịu trong nhà tù cộng sản.

Ngày mai, Blogger Tạ Phong Tần sẽ bước sang ngày thứ 30 tuyệt thực trong nhà tù để phản đối hành vi ngược đãi tù nhân chính trị của cán bộ Trại giam số 5 Thanh Hóa.

Một ngày so với ba mươi ngày là quá ít ỏi. Nhưng với tình trạng sức khỏe của một người bệnh đang phải điều trị tại nhà sau khi ra viện, và với thân phận của một người tù đang bị quản chế, tôi không thể làm nhiều hơn những gì mình mong muốn.

Hành động rất nhỏ bé này, xin được góp một tiếng nói, góp một bàn tay cho bước hai của chiến dịch Nhân quyền 2015 “tranh đấu cho Tù Nhân Lương Tâm” tại Việt Nam.

Hành động rất nhỏ bé này cũng là để “bày tỏ sự khâm phục và sẻ chia tinh thần tranh đấu” với Blogger Tạ Phong Tần cũng như với tất cả những Tù Nhân Lương Tâm can trường khác: Bùi Thị Minh Hằng, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Trần Huỳnh Duy Thức, Hồ Đức Hòa, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Đặng Xuân Diệu, Ngô Hào…

Và qua hành động rất nhỏ bé này xin được gửi một lời nhắn nhủ rằngKhông một ai phải độc hành trên con đường tìm kiếm Tự do và Công bằng cho dù người đó đang trong chốn ngục tù.”

Hy vọng, cuộc tuyệt thực của người phụ nữ phi thường Tạ Phong Tần trong nhà tù sẽ được công luận và những người yêu chuộng tự do- công lý quan tâm, tiếp sức như đã dành những điều ấy cho cuộc tuyệt thực của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, của Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải.

Hải Phòng ngày 10 tháng 6 năm 2015

P.T.N

Ngun: http://phamthanhnghien.blogspot.com/2015/06/dau-chi-mot-ngay.html

Đại sứ Mỹ: Tổng bí thư Đảng CSVN đến Mỹ tháng 7

Đại sứ Mỹ: Tổng bí thư Đảng CSVN đến Mỹ tháng 7

Nguoi-viet.com

CẦN THƠ  (NV) – Tổng bí thư Đảng CSVN dự trù đến thăm Hoa Kỳ vào tháng 7 và Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương cũng có thể được ký kết vào mùa hè năm nay.

Người Việt Nam từ nhiều nơi trên nước Mỹ và Canada đã tập trung trước Tòa
Bạch Ốc biểu tình khi chủ tịch nước CSVN Trương Tấn Sang đến đây ngày 25
tháng 7, 2013. (Hình: Karen Bleier/AFP/Getty Images)

Cả hai điều vừa kể được đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius nói trong cuộc họp báo chiều ngày 8 tháng 6, 2015 tường thuật trên tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn nhân dịp ông tới Cần Thơ và vùng đồng bằng Sông Cửu Long.

Trước đây, các lãnh tụ CSVN như Trương Tấn Sang, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Phan Văn Khải, từng đến Hoa Kỳ vào dịp tháng 6 hay tháng 7. Năm nay hai nước đã chuẩn bị để tổ chức kỷ niệm 20 năm thiết lập bang giao giữa hai kẻ cựu thù. Nhờ vậy chuyến viếng thăm này sẽ mang ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh những căng thẳng về chủ quyền biển đảo trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Những lãnh tụ CSVN đến Mỹ trước đây hoặc là thủ tướng hoặc chủ tịch nước. Nếu ông Nguyễn Phú Trọng đến Mỹ sẽ là người tổng bí thư Đảng CSVN đầu tiên thăm viếng chính thức Hoa Kỳ mà đại sứ Ted Osius nói đó là “cuộc thăm viếng lịch sử” trong mối bang giao giữa hai bên và “Chuyến thăm này sẽ đưa ra một tầm nhìn chung giữa hai nước.”

Đại sứ Osius không cho biết đích xác ngày nào ông Nguyễn Phú Trọng sẽ tới Mỹ mà chỉ cho hay “Tôi là một trong số người đang lo thu xếp chi tiết cho chuyến đi. Tôi tin là chuyến thăm sẽ diễn ra vào tháng 7 tới.”

Cách đây 20 năm, Tổng Thống Mỹ Bill Clinton loan báo chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam từ ngày 11 tháng 7, 1995. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ từ hơn 300 triệu USD vọt lên nhanh chóng, liên tục năm sau nhiều hơn năm trước. Thống kê của Bộ Công Thương CSVN cho thấy năm 2014 Việt Nam xuất cảng sang Mỹ một số lượng hàng hóa lên tới 28.6 tỷ USD trong khi nhập cảng từ nước này 6.28 tỷ USD.

Dịp này, về một hiệp định kinh tế hai nước đang đàm phán, ông Osius cho hay, tuy thượng nghị viện đã thông qua, Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama đang chờ hạ nghị viện thông qua đạo luật cho phép tổng thống được quyền ký nhanh các hiệp định quốc tế, gồm cả Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong đó Việt Nam là một thành phần.

“Nếu lưỡng viện Quốc Hội Mỹ thông qua xong thì TPP sẽ được ký kết nhanh trong mùa Hè này,” Đại Sứ Osius bày tỏ hy vọng. Theo ông, nhờ bản hiệp định TPP, hàng hóa từ Việt Nam xuất cảng sang Mỹ sẽ tăng cao hơn và có thể đạt đến 40 tỷ USD. Trên tờ TBKTSG, ông nói đến tương lai gia tăng của nông sản Việt Nam, đặc biệt là trái cây.

“Lô hàng nhãn đầu tiên xuất sang Mỹ rất là ngon. Gia nhập TPP, cơ hội xuất hàng nông sản, nhất là trái cây của Việt Nam, sang Mỹ sẽ gia tăng.”

Giơ cao một trái chuối chín vàng đem theo trong cuộc họp báo, ông nói, “Hai bữa nay tôi đã ăn chuối và măng cụt ở Cần Thơ, rất là ngon. Ngày mai tôi sẽ thử ăn sầu riêng, một loại trái cây nổi tiếng ngon của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)”.

Trên trang Facebook của mình, Đại Sứ Osius cho hay, “Hoa quả ở Việt Nam rất là ngon. Thật thú vị khi mua dứa trực tiếp từ người bán buôn ở đồng bằng sông Cửu Long!”

Sau cuộc họp báo khoảng 30 phút, Đại Sứ Ted Osius đã nói chuyện với sinh viên đại học Cần Thơ về hợp tác và bang giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 20 năm qua cũng như triển vọng quan hệ giữa hai nước cho 20 năm tới.

Trên trang Facebook, ông cho hay ông đã đến thăm một chùa Khmer ở tỉnh Sóc Trăng và đến thăm một dự án điện gió tại tỉnh Bạc Liêu mà Mỹ đang tài trợ giai đoạn 2. (TN)

Việt Nam lại ‘ngậm bồ hòn làm ngọt’ với Trung Quốc

Việt Nam lại ‘ngậm bồ hòn làm ngọt’ với Trung Quốc

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Ông Đinh La Thăng, bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải CSVN vừa phân trần với công chúng Việt Nam rằng, mua 13 tàu điện của Trung Quốc là chuyện thuộc loại “bất khả kháng.”

Dự án tuyến metro Cát Linh-Hà Đông lẽ ra phải hoàn tất vào năm 2012 nhưng
đến nay vẫn đang còn… xây dựng. (Hình: Bộ Giao Thông-Vận Tải)

Trước đó, công chúng Việt Nam tỏ ra hết sức giận dữ sau khi các viên chức Ngành Giao Thông-Vận Tải Việt Nam loan báo, sẽ bỏ ra 63.2 triệu Mỹ kim để mua 13 tàu điện (mỗi tàu có bốn toa) do công ty trang thiết bị tàu điện ngầm Bắc Kinh của Trung Quốc sản xuất, để dùng cho tuyến metro Cát Linh-Hà Đông.

Viên bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam kêu gọi dân chúng thông cảm vì khi ký hợp đồng vay vốn ODA của Trung Quốc cho dự án xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông, Việt Nam bị buộc phải mua các tàu điện do Trung Quốc sản xuất.

Ông Thăng nói thêm rằng, nhà thầu Trung Quốc thực hiện dự án xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông “yếu kém, chúng tôi rất bức xức nhưng muốn thay thì lại vướng các điều kiện đã ký nên không thay được.”

Có thể xem dự án xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông là một trường hợp Việt Nam phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” khi nhận “hỗ trợ” từ Trung Quốc.

Chiều dài của tuyến metro này chỉ có 13 cây số, lẽ ra phải hoàn tất vào năm 2012 nhưng đến nay vẫn còn dở dang. Năm ngoái, nhà thầu Trung Quốc cam kết sẽ hoàn tất công trình vào tháng 6 năm 2015 nhưng gần đây, thời điểm khánh thành được thông báo là tiếp tục dời lại đến cuối năm song tin mới nhất cho biết, phải đến hết quí 1 năm tới mới có thể vận hành tuyến metro Cát Linh-Hà Đông.

Hồi hạ tuần tháng 11 năm ngoái, tại điểm xây dựng một nhà ga trong tuyến metro Cát Linh-Hà Đông, ở đoạn chạy qua quận Thanh Xuân, do cẩu bị đứt cáp, ba thanh dầm bằng thép đã rớt xuống đường, đè chết một người và làm hai người trọng thương.

Lúc đó, Bộ Giao Thông-Vận Tải Việt Nam đã ra lệnh cho nhà thầu Trung Quốc tạm ngưng thi công để kiểm tra toàn bộ quy trình giám sát bảo đảm an toàn. Nửa tháng sau, nhà thầu Trung Quốc được phép tiếp tục thi công và chỉ trong hai tuần lại gây thêm tai nạn khác.

Rạng sáng 28 tháng 12, năm 2014, giàn giáo trong công trình xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông, ở đoạn sát bến xe Hà Đông đột nhiên sụp xuống lúc đang đổ bê tông. May mắn là tai nạn xảy ra vào lúc rạng sáng, đường chưa đông người qua lại nên không có tổn thất nhân mạng. Sắt thép, bê tông chỉ đè nát phần đầu của một chiếc taxi vừa trờ tới. Tài xế taxi và ba hành khách trong xe không bị thương. Theo một số chuyên gia, giàn giáo sập do bị dịch chuyển lúc đang đổ bê tông.

Công trình xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông không chỉ thiếu an toàn, kém chất lượng mà còn nổi tiếng vì sự tráo trở của nhà thầu Trung Quốc. Nhà thầu Trung Quốc đã đòi nâng vốn đầu tư dự án từ 553 triệu Mỹ kim lên 892 triệu Mỹ kim. Tuy yêu sách này phi lý song chế độ Hà Nội vẫn bất chấp sự can gián của chuyên gia nhiều giới, vay thêm của Trung Quốc 339 triệu Mỹ kim để đáp ứng đòi hỏi của nhà thầu Trung Quốc!

Lúc đó, theo tường thuật của báo chí Việt Nam, tại cuộc họp với ông Chu Hằng Vũ, phó tổng giám đốc tập đoàn hữu hạn của Cục 6 Ngành Đường Sắt Trung Quốc, ông Đinh La Thăng, bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam, nhận định, tuyến metro Cát Linh-Hà Đông là công trình giao thông tồi tệ nhất ở Việt Nam. Công trình này khiến dân chúng Việt Nam lo ngại về mức độ an toàn, chất lượng và phẫn nộ vì nhà thầu Trung Quốc không thèm đếm xỉa đến những yêu cầu của Bộ Giao Thông-Vận Tải Việt Nam.

Ông Thăng yêu cầu nhà thầu Trung Quốc phải tìm một người “có trình độ và lương tâm” để thay thế tổng chỉ huy công trường, đổi ngay công ty Trung Quốc đang giữ vai trò giám sát (công ty giám sát xây dựng thuộc viện nghiên cứu thiết kế công trình đường sắt Bắc Kinh). Cũng đến lúc đó, Bộ Giao Thông-Vận Tải Việt Nam mới đòi nhà thầu Trung Quốc phải sử dụng công ty giám sát do bộ này chỉ định và loại toàn bộ các nhà thầu phụ để trực tiếp ký hợp đồng với các tổng công ty xây dựng công trình giao thông của phía Việt Nam.

Viên bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam khẳng định, nếu nhà thầu Trung Quốc không chấp nhận những yêu cầu đó thì ông ta sẽ đề nghị chính phủ Việt Nam loại họ để kiếm một nhà thầu khác. Cũng phải đến lúc đó, đại diện nhà thầu Trung Quốc mới nhượng bộ, mới xin lỗi hứa sẽ đáp ứng tất cả các yêu cầu của viên bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam.

Tuy nhiên chuyện “cảnh cáo” nhà thầu Trung Quốc của ông Thăng bị cả báo giới lẫn cựu viên chức ngoại giao của Trung Quốc cho là kích động “bài Trung.”

Hồi đầu năm nay, Hoàn Cầu Thời Báo dẫn lời ông Tề Kiến Quốc, từng là đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, khuyến cáo, lẽ ra, ông Thăng không nên làm như thế đối với nhà thầu Trung Quốc, không nên làm sự việc trở thành rùm beng vì tai nạn ở các công trường tại Việt Nam là… bình thường. (G.Đ)

Xem thêm:

Vay tiền Trung Quốc: lợi bất cập hại (RFA)

Dự án đường sắt đô thị Hà Nội, tuyến Cát Linh – Hà Đông được thực hiện theo Hiệp định vay vốn ODA được ký giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2003. Theo Hiệp định này, phía Trung Quốc tài trợ vốn kiêm luôn thầu thi công và giám sát.

Xe của dân bị biến thành rác ở bãi nhà nước

Xe của dân bị biến thành rác ở bãi nhà nước

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2015-06-10

06102015-priva-mbike-in-poli-storage.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Hàng nghìn xe dầm mưa, dãi nắng tại một bãi giữ xe vi phạm trên địa bàn quận Long Biên, Hà Nội

Hàng nghìn xe dầm mưa, dãi nắng tại một bãi giữ xe vi phạm trên địa bàn quận Long Biên, Hà Nội

Photo courtesy Xaluan.com

Trường hợp xe của người dân bị cảnh sát giao thông thổi phạt, sau đó tạm giữ xe và mang về bãi xe của nhà nước bỏ mặc nắng mưa, xe nhanh chóng xuống cấp, khi bị thu là xe tốt, khi lấy ra là chiếc xe không thể xài được đang làm nhức nhối người dân.

Chuyện này có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính vẫn là sự thiếu trách nhiệm đã thành một căn bệnh trầm kha của ngành công an giao thông nói riêng và các ban ngành trực thuộc nhà nước nói chung. Trong thời gian gần đây, tình trạng xe bị tạm giam một thời gian trở thành khối sắt vụn đang làm nhức nhối người dân thủ đô Hà Nội.

Bãi tạm giữ xe cũng là nơi “luộc xe”

Một người tên Thành, sống ở quận Hà Đông, Hà Nội, chia sẻ: “Quá trình xử phạt phải có đầy đủ các thứ, như nơi cất giữ xe. Như việc bắt giữ xe máy là nhằm mục đích buộc anh mang tiền đến nộp phạt. Trái với mục tiêu xử phạt. Cũng như nhà tù là để chặn đứng hành vi của anh chứ không phải để hành hạ. Một khi anh hành hạ người tù cũng như hành hạ chiếc xe trong bãi tạm giữ như vậy thì không còn gì để bàn!”.

Theo ông Thành, trước đây hai tháng, con gái ông bị công an giao thông thổi phạt ở đầu cầu Thắng Long, sông Hồng và bị giữ xe vì lý do không mang theo bằng lái mặc dù cô gái này đã có bằng lái xe gắn máy, có đội mũ bảo hiểm và có giấy tờ xe hẳn hoi. Sau khi kiểm soát một số thứ trong xe, họ kết luận còi xe không đạt tiêu chuẩn, đèn xi-nhan không đạt tiêu chuẩn, mũ bảo hiểm cũng không đạt tiêu chuẩn và mẫu mã xe có sự thay đổi vì có dán thêm decal hình con chim phượng hoàng. Mức phạt lên đến hai triệu năm trăm ngàn đồng.

Vì thất nghiệp, gia đình cũng không mấy thoải mái về tài chính nên con gái ông Thành phải chấp nhận để xe trong bãi tạm giữ của công an, đợi nhận lương hằng tháng, tích lũy đủ mới nộp phạt và mang xe về. Không bàn về chuyện kiểm tra, thổi phạt vô cớ của cảnh sát giao thông khi con gái ông không hề phạm lỗi trong lúc tham gia giao thông, ông Thành muốn nhấn mạnh về tình trạng chiếc xe sau khi lấy ra khỏi bãi tạm giữ của công an.

Theo mô tả của hai cha con ông Thành thì không thể nào gọi đây là bãi tạm giữ xe được mà phải nói chính xác nơi hàng ngàn chiếc xe của dân đang bị phơi mưa phơi nắng để mục dần theo thời gian và là một cái bãi rác thải công nghiệp. Nghĩa là không riêng gì xe máy mà bất kì thứ gì bỏ vào đây đều có thể mục nát bởi cây cỏ um tùm, dộ ẩm cao, không có mái che, kẽm gai và dây leo quấn khắp nơi, xe cộ bỏ chồng chất, đùn ép nhau trong bãi khiến cho lớp vỏ sơn bên ngoài nhanh chóng bị bong tróc, hệ thống dây điện, ống dẫn xăng gặp nhiệt độ cao cũng nhanh chóng thoái hóa, chảy nhựa, làm cho xăng và dầu nhớt chảy ra loang lổ trên mặt đất.

Xe máy vẫn là phương tiện giao thông chính ở Việt Nam

Xe máy vẫn là phương tiện giao thông chính ở Việt Nam

Nói không may, chỉ cần ai đó vô tình để rơi tàn thuốc vào đây hoặc dây điện chập tạo ra tia lửa sẽ lập tức biến bãi xe thành một đám cháy để từ đó lan tỏa khu vực lân cận. Nhìn bãi tạm giữ xe của công an chẳng khác nào bãi rác công nghiệp. Đó là chưa muốn nhắc đến trò luộc xe của nhiều viên công an.

Trò luộc xe này diễn ra không mấy kín đáo nhưng chẳng ai dám nói gì. Một chiếc xe mới toanh với mọi phụ tùng đều chính hãng, khi vào bãi giữ xe, chỉ trong vòng nửa ngày sau, những phụ tùng chính hàng bị tháo mở, thay vào đó là những thứ phụ tùng lô, khi lấy ra, chiếc xe chạy èo ọp, cà rịch cà tàng chẳng giống thứ gì. Và bất kì người nào bị tạm giữ xe cũng vấp phải kinh nghiệm đáng sợ này.

Ông Thành đặt câu hỏi: Vì sao xe ở trong bãi cùa ngành công an mà lại để bị luộc? Ai có thể vào trong khuôn viên quản lý của công an để luộc xe của dân? Liệu công an giao thông và những viên công an có liên quan đến bãi tạm giữ xe này có liên đới, có toa rập với nhau để luộc xe của dân?

Đương nhiên là câu hỏi của ông Thành không có ai trả lời được ngoài các quan chức ngành công an, trong đó, ông Trần Đại Quang Bộ trưởng Bộ Công an và ông Đinh La Thăng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vân tải phải là những người có trách nhiệm trả lời với dân bằng mọi giá.

Luật lệ chồng chéo

Một cựu cảnh sát giao thông không muốn nêu tên, đang sống ở phố Hàng Bạc, Hà Nội, chia sẻ: “Khi làm việc với công an giao thông thì người dân mình nên tự đề nghị họ viết thông tin về tình trạng chiếc xe vào biên bản, giấy tờ để sau này có cơ sở để làm việc với họ. Vì dù mình muốn hay không thì công an cũng nắm quyền trong tay về pháp luật. Cái mà mình có thể trông đợi đó là yêu cầu của người dân về việc minh bạch hơn trong mọi thứ, cần có thông tin rõ ràng, chiếc xe đó ở tình trạng như thế nào để sau này có bằng chứng mà đối chiếu. Luật mình quá chồng chéo…”.

Theo ông này, sở dĩ có chuyện bắt xe, nhốt xe vô tội vạ của công an giao thông, biến một chiếc xe đang đi trở thành chiếc xe hỏng hóc, phá hoại tài sản của dân như vậy là do luật pháp chồng chèo, tham nhũng và chiếm dụng đất vẫn là ung nhọt gây nhức nhối xã hội.

Ở khía cạnh tham nhũng thì miễn bàn, lợi dụng vào sự sơ hở của luật giao thông và người dân thiếu hiểu biết về pháp luật bởi mỗi năm có hàng ngàn văn bản dưới luật ra đời chẳng đâu vào đâu. Ngành công an nói chung và công an giao thông nói riêng đã hù dọa người đi đường để ăn đút lót, nhét tay hoặc làm những phiếu phạt sai luật để thu giữ xe, tạo ra nguồn thu.

Nếu như được nhét tiền hối lộ thì bản thân viên công an giao thông đứng đường sẽ có tiền tươi, trường hợp giam xe, chủ xe nộp tiền vào kho bạc, thì viên công an giao thông sẽ có tiền khác thông qua chuyện luộc phụ tùng xe của dân. Vì chỉ có hai khoản này mới bù lỗ cho số tiền đút lót cho cấp trên khi vào ngành hoặc mua chỗ đứng đường.

Và chuyện giam xe trong bãi là một chỉ tiêu bắt buộc, phải có một số lượng xe nhất định bị giam nhằm đảm bảo khoản thu cho ngân sách ngành và giữ bãi. Trong trường hợp ngược lại, nếu lâu ngày không có xe trong bãi, bãi sẽ bị nhà nước trưng thu để mở rộng xây dựng, bán cho các dự án. Chính vì vậy, chất đầy xe trong bãi, nằm chồng chất với nhau mặc cho mưa dầm nắng cháy, mặc cho chiếc xe rệu rã, hoen gỉ là cách tốt nhất để giữ bãi đất trống cho ngành, cho cơ quan.

Vô hình trung, những chiếc xe phương tiện làm ăn của người dân lại thực hiện đến hai chức năng: Bổ sung ngân sách ngành và ngân sách nhà nước; Làm phương tiện giữ bãi cho cơ quan công an để đến khi cần thiết, họ sẽ biến bãi đất này thành những chung cư hoặc một loại văn phòng nào đó có tính hợp lệ.

Ông cựu cảnh sát giao thông này đưa ra kết luận: Một khi tham nhũng và vô trách nhiệm còn hoành hành thì người dân mãi mãi là những con cá trên thớt!

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Hãy ‘cám ơn’ Trung Quốc

Hãy ‘cám ơn’ Trung Quốc

Tàu nạo vét của Trung Quốc trong vùng biển quanh đảo Đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Các chuyến bay trinh sát của Mỹ gần những bãi cạn mà Trung Quốc đang cải tạo cho thấy mấy mươi chiếc tàu đang ráo riết tiến hành hoạt động lấy đất lấp biển.

Tàu nạo vét của Trung Quốc trong vùng biển quanh đảo Đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Các chuyến bay trinh sát của Mỹ gần những bãi cạn mà Trung Quốc đang cải tạo cho thấy mấy mươi chiếc tàu đang ráo riết tiến hành hoạt động lấy đất lấp biển.

Nguyễn Hưng Quốc

10.06.2015

Từ đầu năm 2014 đến nay, Trung Quốc ra sức bồi đắp và tái tạo các bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa mà họ chiếm của Việt Nam vào năm 1988 thành những hòn đảo nhân tạo đủ lớn để làm căn cứ quân sự với hải cảng và phi trường cho các loại máy bay, kể cả máy bay phản lực. Báo chí Tây phương xem những hòn đảo nhân tạo này như một vạn lý trường thành bằng cát Trung Quốc sẽ sử dụng như những căn cứ quân sự nhằm chiếm cứ các hòn đảo còn lại ở Trường Sa và khống chế toàn bộ Biển Đông. Hầu như ai cũng nhận định giống nhau: đó là những việc làm nguy hiểm có thể đẩy các tranh chấp trong khu vực thành những xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và các quốc gia liên hệ gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei cũng như, sau các quốc gia ấy, là Mỹ và các đồng minh của Mỹ.

Những nguy hiểm ấy dĩ nhiên là có thật. Tuy nhiên, một mặt, tôi không mong chiến tranh sẽ bùng nổ, mặt khác, tôi lại cho những việc xây dựng ấy là điều may mắn cho Việt Nam.

May mắn thứ nhất là chúng thu hút sự quan tâm của quốc tế trước các âm mưu bành trướng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước, ai cũng biết Trung Quốc có tham vọng chiếm gần trọn Biển Đông. Họ không hề giấu giếm tham vọng ấy. Nó được công khai hoá qua con đường 9 đoạn hoặc con đường lưỡi bò mà họ công bố trước thế giới. Tuy nhiên, người ta vẫn xem lời tuyên bố ấy như những dự định và với dự định, cuộc chiến chỉ dừng lại phạm vi ngôn ngữ, hay nói cách khác, những cuộc khẩu chiến. Bây giờ, với việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo, người ta nhận ra dự định ấy không phải chỉ là một ước mơ. Nó đang được Trung Quốc biến thành hiện thực và hiện thực ấy khiến cho thế giới không khỏi lo lắng. Hệ quả đầu tiên là phần lớn các quốc gia thuộc khối ASEAN (trừ Lào và Campuchia) cảm nhận rõ hơn nguy cơ xâm lấn của Trung Quốc và từ đó, đoàn kết hơn trong nỗ lực chống lại dã tâm xâm lấn ấy.

May mắn thứ hai là chúng thúc đẩy Mỹ phải chính thức nhảy vào cuộc tranh chấp trên Biển Đông. Trong mấy tháng vừa qua Mỹ thường xuyên theo dõi sát sao mọi chuyển biến trong quá trình xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Trường Sa. Trong cuộc hội nghị thượng đỉnh về an ninh châu Á – Thái Bình Dương ở Shangri-la, Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter phê phán một cách thẳng thắn và gay gắt các hành động khiêu khích của Trung Quốc trên Biển Đông. Sự phê phán của Mỹ nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của hai quốc gia đồng minh là Nhật và Úc. Trong chuyến đi thăm Việt Nam ngay sau đó, Bộ trưởng Ashton Carter và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Phùng Quang Thanh đã ký bản “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng” nhằm định hướng cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước trong tình hình mới. Liên quan đến quốc phòng, có hai sự kiện mới đáng chú ý trong quan hệ song phương ấy: Một là Mỹ sẽ viện trợ cho Việt Nam 18 triệu Mỹ kim để mua tàu tuần tra cao tốc của Mỹ; và hai là, cả Bộ trưởng Carter lẫn thượng nghị sĩ John McCain đều hứa hẹn Mỹ có thể sẽ nới lỏng hơn nữa việc bán vũ khí cho Việt Nam để Việt Nam có thể tự vệ trong các cuộc tranh chấp trên Biển Đông.

May mắn thứ ba là việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo tại Trường Sa sẽ làm thức tỉnh giới lãnh đạo Việt Nam. Lâu nay, bất chấp các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam vẫn khăng khăng lặp đi lặp lại mấy khẩu hiệu dối trá và cũ rích về “4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) và 16 chữ vàng (Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai). Năm ngoái, khi Trung Quốc cho giàn khoan Hải Dương 981 vào thềm lục địa Việt Nam, có lẽ chính quyền Việt Nam phần nào đã thức tỉnh. Từ đó, việc lặp lại các khẩu hiệu trên có chiều hướng giảm dần. Nhưng dù sao việc mang giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam cũng ít nguy hiểm hơn việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo và quân sự hoá chúng: từ các căn cứ ấy, việc đánh chiếm các hòn đảo khác ở Trường Sa do Việt Nam làm chủ sẽ trở thành dễ dàng hơn rất nhiều. Đó là chưa kể đến việc, trên cơ sở sự hiện hữu của các hòn đảo nhân tạo ấy, Trung Quốc sẽ tuyên bố thành lập vùng nhận diện hàng không trên toàn bộ Biển Đông.

Khi cho việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Trường Sa sẽ “thức tỉnh” giới lãnh đạo Việt Nam, tôi có hai hàm ý: Một, trước đó, họ chưa biết; và hai, họ quan tâm và tha thiết đến việc bảo vệ chủ quyền cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Với hàm ý thứ hai, có thể sẽ có một số người cho là tôi nhẹ dạ: theo họ, trên thực tế, giới cầm quyền Việt Nam đã đầu hàng hoặc thậm chí, bán đứng Biển Đông cho Trung Quốc. Tôi cố không tin như vậy. Một số người thì có thể, nhưng rất khó tin cả một tập thể đông đảo đến gần 200 người trong Ban chấp hành Trung ương đảng đều đang tâm làm việc đó. Tôi nghĩ, sẽ thuyết phục hơn, nếu chúng ta cho: Một, họ biết nhưng mức độ biết còn hạn chế, chưa thấy hết toàn cảnh những hiểm hoạ đến từ phương Bắc; hai, họ biết nhưng có ảo tưởng là cùng chia sẻ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc sẽ nhẹ tay, không đẩy họ vào thế đường cùng; ba, họ biết nhưng họ theo đuổi sách lược kềm chế và nhân nhượng với hy vọng có đủ thời gian để tìm liên minh cũng như trang bị thêm khí giới chuẩn bị cho những chiến tranh mà theo một số quan sát viên quốc tế, “không thể tránh khỏi”.  Thôi thì, rộng lượng, chúng ta thiên về khả năng thứ ba.

Tuy nhiên, sách lược kềm chế và nhân nhượng cũng phải có giới hạn của chúng: kềm chế và nhân nhượng đến mức nào? Trước, vào năm 2011, tôi đã đặt ra vấn đề ấy trong bài “Nhịn đến chừng nào?”.

Gần đây, trong bài “Phải ấn định một lằn ranh cho Trung Cộng”, nhà báo Ngô Nhân Dụng cũng đặt ra vấn đề tương tự. Ông viết: “người Việt Nam phải xác định một lằn ranh, nếu Trung Cộng bước qua thì sẽ phản ứng quyết liệt. Một chính phủ Việt Nam biết bảo vệ danh dự và chủ quyền dân tộc không thể để cho Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục lấn lướt. Phải xác định trước cả thế giới “lằn ranh” của lòng kiên nhẫn. Nêu rõ những hành động nào của Trung Cộng sẽ được coi là bước qua lằn ranh đó, công bố cho cả vùng Ðông Nam Á và các cường quốc có quyền lợi trong vùng biết rõ. Lằn ranh này được xác định là “bước đường cùng,” tới đó thì nước Việt Nam không thể chịu đựng với lòng nhẫn nhục. Phải báo trước nếu Bắc Kinh bước qua lằn ranh đó thì sẽ sinh chuyện lớn.”

Lâu nay, giới lãnh đạo Việt Nam vẫn lần khân trong việc công bố những giới hạn của sự kềm chế và nhân nhượng của họ. Sự kiện Trung Quốc xây dựng các hòn đảo nhân tạo buộc họ phải suy nghĩ đến những điều đó. Hoặc, nếu họ vẫn có ảo tưởng về lòng tốt của người bạn láng giềng cùng theo chủ nghĩa xã hội thì họ sẽ thức tỉnh và quay lại lo toan cho chủ quyền và tương lai của đất nước.

Tôi cho những sự kiện vừa xảy ra là một điều “may mắn” và chúng ta cần “cám ơn” Trung Quốc là vì thế.

Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-06-09

06092015-gene-asse-of-envir-pollu-vn.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Một người bán ve chai thu gom bao nylon hoặc các thứ gì may ra có thể bán được dọc theo một con kênh bị ô nhiễm nặng tại Hà Nội, ngày 20 tháng mười năm 2006

Một người bán ve chai thu gom bao nylon hoặc các thứ gì may ra có thể bán được dọc theo một con kênh bị ô nhiễm nặng tại Hà Nội, ngày 20 tháng mười năm 2006

AFP

<

Ô nhiễm môi trường là vấn nạn chung của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam… Trước thảm trạng đó các nước đều phải có biện pháp khắc phục trước khi phải trả giá đắt lúc mà ô nhiễm vượt quá mức được giới chuyên môn gọi là ‘điểm tới hạn’.

Thực tế ô nhiễm tại Việt Nam ra sao? Và biện pháp giải quyết được tiến hành thế nào?

Bài học Trung Quốc

‘Phát triển bằng mọi giá bất chấp đánh đổi môi trường’ là điều mà giới chuyên gia nêu ra qua thực tế Trung Quốc. Đây là nơi được mệnh danh ‘công xưởng sản xuất’ của thế giới từ mấy thập niên qua.

Chính các cơ quan chức năng chuyên về môi trường của Trung Quốc trong thời gian gần đây phải thừa nhận tình trạng môi trường không khí, nước, đất bị hủy hoại sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy về mặt kinh tế và xã hội.

Bộ trưởng Bảo vệ Môi trường Trung Quốc hiện nay, ông Trần Cát Ninh, lên tiếng thừa nhận những phản đối về môi trường ô nhiễm sẽ gây ra bất ổn xã hội, từ đó có thể khiến bất ổn chính trị.

Việt Nam cũng được cho là đang theo ‘vết xe đổ’ của Trung Quốc: chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng mà không quan tâm đúng mức đến môi trường. Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, người quan sát kỹ tình hình ô nhiễm tại Việt Nam trong nhiều năm qua, có đánh giá về điểm này:

“ Về mức độ phát triển cũng như ô nhiễm, Việt Nam chỉ rập khuôn đi theo con đường của Trung Quốc. Trung Quốc từ khi mở cửa từ năm 1979 trở đi, chúng ta thấy rõ ràng tình trạng mà như hiện nay có những ngày thành phố Bắc Kinh người dân không hề thấy ánh sáng mặt trời. Và một số khói bụi từ các nhà máy sản xuất ở Vân Nam có nhiều lần được khám phá ra ở thành phố Seattle tận bên Hoa Kỳ, phía tây Thái Bình Dương. Điều đó chứng tỏ mức độ ô nhiễm đó.

Việt Nam mở cửa từ năm 1986, nghĩa là chừng 10 năm sau Trung Quốc. Và Việt Nam chập chững đi vào khủng hoảng về môi trường giống y hệt như của Trung Quốc. Điều này có thể càng ngày càng tệ hại hơn vì có thể nói hầu hết các cơ sở sản xuất hạng nặng như cơ sở sản xuất gang thép, cơ sở sản xuất điện năng dùng than đá và đặc biệt hai cơ sở khai thác bô xít lớn ở Tân Rai và Nhân Cơ. Và dự trù còn có thêm 6 cơ sở nữa tại Daknong; thì chúng ta thấy rõ với qui trình sản xuất lạc hậu, với não trạng sản xuất như người Trung Quốc đã làm cho đất nước Trung Hoa thì tình trạng của Việt Nam có thể càng ngày càng mau trầm trọng hơn, càng mau nguy kịch hơn nếu chúng ta không có biện pháp nào để giải quyết vấn đề.”

Về mức độ phát triển cũng như ô nhiễm, Việt Nam chỉ rập khuôn đi theo con đường của Trung Quốc. Trung Quốc từ khi mở cửa từ năm 1979 trở đi, chúng ta thấy rõ ràng tình trạng mà như hiện nay có những ngày thành phố Bắc Kinh người dân không hề thấy ánh sáng mặt trời

TS Mai Thanh Truyết

Chuyên gia môi trường thuộc Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, giáo sư Lê Huy Bá, đưa ra đánh giá về điều được nói là ‘vết xe đổ’ của Trung Quốc trong vấn nạn ô nhiễm môi trường:

“Bởi vì mình là dạng các nước xã hội chủ nghĩa với nhau; nói chung không hoàn toàn giống nhau nhưng cũng có phần tương đối đúng vì đang phát triển với khát vọng phát triển về kinh tế mạnh mẽ mà không coi trọng về môi trường sẽ dẫn đến những chuyện khó xử.

Nếu làm mạnh tay cách đây 10 năm thì đỡ lắm rồi; bây giờ mạnh tay thì cũng tốt thôi nhưng chỉ có tính chất vớt vát, chữa cháy thôi!”

Thực tế ô nhiễm tại Việt Nam

Qua theo dõi tình hình môi trường tại Việt Nam, tiến sỹ Mai Thanh Truyết hiện sinh sống tại bang California, có những đánh giá cụ thể về tình trạng ô nhiễm của các lĩnh vực khác nhau như sau:

“Đứng về tổng thể thì tất cả môi trường: không khí, đất, cũng như nước mặt, nước ngầm càng ngày càng tệ hại.

Giờ cao điểm trên đường phố TPHCM (donre-hochiminhcity-gov)

Giờ cao điểm trên đường phố TPHCM (donre-hochiminhcity-gov)

Nói về không khí thì ngày nay Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hay Sài Gòn cũ, chúng ta không còn thấy những bàn tay, bộ mặt trong trắng mà chỉ những bộ mặt như người ninja của Nhật bản- bịt mặt, đeo găng tay. Thứ nhất vì bụi ô nhiễm quá cao. Theo tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc, tiêu chuẩn của hạt bụi đường kính 10 micro meter quá nhiều nên phải bịt mặt. Ngoài nguồn bụi là nguồn khí độc thải ra do hằng triệu xe máy hai bánh. Nguồn xăng ở Việt Nam có độ octane cao, nhưng trong thực tế pha nhiều benzene. Do đó khí benzene tồn tại trong không khí; mà khí benzene là một khí có nguy cơ tạo ra ung thư. Cũng do vậy ‘tầng ozone mặt đường’ tức từ 1-2 thước chứa nhiều hóa chất độc hại trong có có benzene. Thực tế cho thấy hằng năm tỷ lệ người mắc bệnh phổi tăng cao, đặc biệt trẻ em dưới 5 tuổi.

Qua 19 năm phát triển Việt Nam có trên 265 khu gọi là khu chế xuất hay là khu phát triển công nghiệp. Khu chế xuất Tân Thuận là khu đầu tiên. Với trên 265 khu như thế từ bắc chí nam, và ở thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn còn có trên 20 ngàn cơ sở sản xuất lẫn lộn trong khu dân cư khiến cho khí thải, chất thải rắn và chất thải lỏng đều ‘không được’!

Đối với mặt nước, các chất phế thải lỏng do không có hệ thống thanh lọc, xử lý do đó nguồn nước thải đi vào các sông rạch. Đến nay chúng ta thấy rõ các sông Đuống, sông Luộc quanh Hà Nội cũng như hệ thống kênh rạch trong nội thành Sài Gòn hầu như biến thành những dòng sông đen.

Các nước xã hội chủ nghĩa với nhau; nói chung không hoàn toàn giống nhau nhưng cũng có phần tương đối đúng vì đang phát triển với khát vọng phát triển về kinh tế mạnh mẽ mà không coi trọng về môi trường

GS Lê Huy Bá

Đó là một hệ lụy mà nếu không giải quyết thì ngay cả sông Đồng Nai, sông Sài Gòn sẽ biến thành dòng sông đen vì nguồn chảy tự nhiên, sự điều tiết tự nhiên, sự thanh lọc thiên nhiên đã đến ‘điểm tới hạn’.

Đối với đánh giá về ‘điểm tới hạn’ của tình trạng ô nhiễm mà tiến sỹ Mai Thanh Truyết nêu ra; giáo sư Lê Huy Bá tại Sài Gòn có ý kiến:

“Điểm tới hạn thì nói cũng hơi quá. Có một số kênh rạch ở thành phố (Sài Gòn) thì tới hạn thật; nhưng môi trường đất chưa đến mức tới hạn. Về nước sông thì có một số sông tới hạn nhưng có một số sông thì chưa như sông Đồng Nai chưa tới hạn, còn sông Sài Gòn thì gần đến tới hạn. Kênh rạch của thành phố quá tới hạn chứ không phải tới hạn. Không khí của nông thôn còn sạch, không khí của thành thị rất bụi gần mức tới hạn. Tại các khu công nghiệp của thành phố thì tới hạn rồi, khu nông thôn thì chưa, còn khu ngoại thành mà có các khu công nghiệp thì tới hạn rồi.

Các trục giao thông chính ô nhiễm bụi đã tới hạn.”

Thực thi luật pháp

Tương như như nhiều nước khác trên thế giới, chính phủ cũng như các cơ quan chức năng tại Việt Nam cho ban hành luật cũng như những qui định pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Vậy việc thực thi và công tác kiểm tra, chế tài trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam lâu nay ra sao?

Tiến sỹ Mai Thanh Truyết đưa ra nhận định:

“Chính cơ chế này tạo ra một tập thể cán bộ từ trên xuống dưới cùng nhóm lợi ích với nhau ‘tham nhũng’. Lấy ví dụ giản dị là việc khai thác bô xít tại Tân Rai và Nhân Cơ hoàn toàn không qua nghiên cứu tác động môi trường nên vừa qua bùn đỏ nhiều lần tràn xa xã Tân Thắng cách Bảo Lộc 15 cây số. Mặc dù trong bộ Luật Môi trường, bộ Luật Đầu tư, luật xây dựng các cơ sở sản xuất hóa chất đều có ghi cần phải nghiên cứu tác động môi trường cũng như phải có hệ thống xử lý chất phế thải nhưng điều đó hầu như không xảy ra tại Việt Nam.”

Đối với mặt nước, các chất phế thải lỏng do không có hệ thống thanh lọc, xử lý do đó nguồn nước thải đi vào các sông rạch. Đến nay chúng ta thấy rõ các sông Đuống, sông Luộc quanh Hà Nội cũng như hệ thống kênh rạch trong nội thành Sài Gòn hầu như biến thành những dòng sông đen

TS Mai Thanh Truyết

Một người sinh sống và hoạt động trong ngành môi trường ở Việt Nam như giáo sư Lê Huy Bá cũng chỉ ra những bất cập tồn tại lâu nay trong nước về tình trạng thực thi luật pháp bảo vệ môi trường:

“Nói chung luật, qui định dưới luật khá đầy đủ, nhưng ngay cả luật, nghị định đôi lúc chồng chéo nhau như qui định về chất thải nguy hại người ta cũng cãi nhau khiến cho các cơ sở quản lý luật pháp ở cấp tỉnh, huyện khó thực thi.

Nhiều người thấy điều đó nhưng cách quản lý của mình (Việt Nam) trì trệ, không linh hoạt và ‘trên bảo dưới không nghe’. Ngoài ra không phải tất cả nhưng còn có một số chưa thống nhất.”

Giáo sư Lê Huy Bá nêu ra một số dẫn chứng:

“Ví dụ để theo dõi ô nhiễm không khí, có khoảng 6-7 trạm quan trắc tự động nhưng nay hư hết rồi, không còn chính xác nữa; nhưng mấy năm rồi cứ để như thế; không đầu tư thêm, không sửa chữa, không thay thế gì cả.

Ví dụ thứ hai là vấn đề quản lý lưu vực sông, cách đây gần mười mấy năm rồi có lập ra Ban Quản lý Lưu vực Sông nhưng có hoạt động gì đâu. Mỗi tỉnh có cách quản lý riêng, không ai nói ai được cả, không thống nhất với nhau. Mỗi tỉnh muốn đi một mình, có khi dẫm đạp lên nhau, có khi lại để cả khoảng trống, không ai lo cả!”

Cảnh báo cũng như thực tế cho thấy nếu chỉ hô hào suông mà không có biện pháp ngay từ lúc này thì một khi ô nhiễm đạt ‘điểm tới hạn’ thì đã quá muộn và giá phải trả sẽ đắt gấp nhiều lần so với hiện nay.

Tuy nhiên hầu như mọi cảnh báo của giới khoa học vẫn không được các nhà quản lý đất nước tại Việt Nam nghe như chính thừa nhận của giáo sư Lê Huy Bá; một chuyên gia trong ngành ngay tại Việt Nam.

Mục Khoa học- Môi trường kỳ này tạm dừng tại đây. Hẹn gặp lại các bạn trong chương trình kỳ tới.

‘Luật rừng’ giao thông trên đường phố Sài Gòn

‘Luật rừng’ giao thông trên đường phố Sài Gòn

Nguoi-viet.com

Văn Lang/Người Việt

SÀI GÒN (NV) – Giao thông trên đường phố Sài Gòn thường xuyên nhìn thấy những các vụ đụng xe gắn máy, va chạm nhẹ, nhưng do cách cư xử mà có khi chuyện này biến thành chuyện kia. Chuyện không lớn biến thành chuyện nhỏ, còn chuyện nhỏ có khi lại biến thành chuyện đau lòng.

Giao thông chật chội ở Sài Gòn là nguyên nhân của những vụ đụng xe, sau đó
có thể dẫn tới ấu đả và người thiệt mạng. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Nếu như ở Mỹ nếu hai chiếc xe hơi đụng nhau nhẹ, nghĩa là không ai bị thương, không ai chết, thì hai người chủ xe có thể xuống xe bắt tay nhau, cùng ngồi chờ bảo hiểm, cảnh sát và có thể xe cứu thương hụ còi chạy tới liền sau ít phút.

Nhưng Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông một thời, bây giờ rất khác. Khác vì sau bốn mươi năm “Cộng Sản từng ngày,” tâm tính con người cũng có nhiều thay đổi.

Xin kể về những câu chuyện trên đường phố Sài Gòn, để góp thêm một cái nhìn nữa về diện mạo của Sài Gòn muôn mặt!
Chết vì quá lương thiện

Chuyện đầu tiên không thể không nhắc tới là câu chuyện về anh D, người thanh niên 22 tuổi, quê Phú Yên.

Rời quê nhà vô Sài Gòn, anh D chỉ mang theo một ước mơ đơn giản, lương thiện là làm thuê kiếm tiền gởi về cho cha mẹ già nuôi hai em ăn học.

Nhưng giấc mơ của anh D đã sớm gẫy gánh một cách tức tưởi, chỉ vì một vụ va chạm nhẹ trên đường phố Sài Gòn.

Bữa đó, cuối tuần, anh D cùng hai người bạn đi chơi bằng xe Honda. Trên đường, không may anh D đụng xe nhằm một em nhỏ chạy ra đường.

Vụ đụng xe cũng nhẹ, nhưng vốn bản tính lương thiện, thay gì như dân thành phố thường rú ga bỏ chạy thì anh D lại cùng hai người bạn dừng xe, hỏi thăm, rồi chở em bé khoảng 3 tuổi, cùng mẹ của em vô bệnh viện Triều An, gần Xa Cảng Miền Tây để bác sĩ khám và chụp X quang.

Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình Sài Gòn (Sùng Chính), nơi tiếp nhận đa số
bệnh nhân bị tai nạn giao thông, hoặc do đâm chém nhau, số bị tai nạn do lao
động thì rất ít. (Hình: Văn Lang/Người Việt
)

Bác sĩ sau khi khám cho bé, đã kết luận cho anh D cũng như mẹ bé biết, là em chỉ bị xây xước nhẹ phần mềm không có gì đáng ngại.

Trong khi anh D ngồi chờ đóng viện phí cho bé, thì người nhà của bé gọi điện báo tin cho thân nhân của họ biết.

Lập tức, gần chục thanh niên hung hăng phóng xe tới bệnh viện, và câu duy nhất họ hỏi là, “Thằng nào chạy xe đụng cháu tao?”

Khi anh D đứng ra nhận, không thèm nói thêm lời nào. Nhóm thanh niên nhào tới, dùng nón bảo hiểm đập và đấm đá anh D tới tấp, khiến anh gục xuống. Hai người bạn anh D chạy tới can ngăn, cũng bị đánh xịt máu phải bỏ chạy.

Khi toán người nhà hung hãn kia đánh đã tay, bỏ đi thì người ta mới dám tới khiêng anh D vô phòng cứu cấp. Bác sĩ trực chỉ định chuyển gấp lên bệnh viện chợ Rẫy. Nhưng anh D đã chết mà không kịp nói một lời nào với ai.

Dư luận ồn ào, căm phẫn chuyện bảo vệ bệnh viện để người ta đánh chết người ngay trong khuôn viên bệnh viện mà không can thiệp.

Nhưng không thấy ai nhắc tới khía cạnh đáng buồn nhất của câu chuyện. Đó là, lâu nay thường khi đụng xe trên đường thì người gây tai nạn thường rú ga bỏ chạy, bỏ mặc nạn nhân.

Nhưng anh D đã dừng xe, cùng bạn đưa hai mẹ con em bé tới bệnh viện khám. Chính vì đàng hoàng mà anh D chết, nếu anh D cũng lưu manh, vô cảm như bao nhiêu kẻ khác thì có lẽ anh cũng đã sống “mạnh giỏi” như bao nhiêu kẻ không có trái tim khác.

Sống chết mặc bây

Mặc dù Việt Nam có luật là, nếu ai bỏ mặc không trợ giúp người khác trong khi người đó rơi vào tình trạng nguy hiểm, khẩn cấp thì sẽ bị pháp luật truy tố.

Nhưng chúng tôi đã chứng kiến sự việc từ một chuyến xe đêm.

Đó là, trên quốc lộ tuyến từ miền Tây về Sài Gòn. CSGT phải ra đứng giữa đường trong đêm, dùng đèn pin ra hiệu cho xe chạy trên đường dừng lại. Nhưng khi tài xế tới gần, phát hiện ra có vụ tai nạn giao thông, và có người phải đưa đi bệnh viện cứu cấp, thì họ liền “đánh tay lái” và chạy luôn.

Thấy vậy, chúng tôi liền hỏi bác tài xe khách mà chúng tôi đang đi, sao không dừng xe giúp người bị nạn thì được trả lời, “Máu me tùm lum, chết luôn trên xe thì còn xui nữa. Chưa kể thủ tục rắc rối lắm, tụi tôi chạy mướn, đúng giờ đúng tuyến, còn lo ‘tăng bo’ mà nuôi vợ con, ai giúp mình đâu?”

Và ở Việt Nam, luật thì vậy, nhưng cũng chưa bao giờ nghe có ai bị truy tố về tội không giúp người bị nạn trong lúc nguy cấp.

Trong khi, luật “rừng xanh” thì đầy.

Chạy xe, vô ý thức phóng qua vũng nước, văng nước dơ lên người đi đường. Lập tức bị ba bốn tay “yên hùng” dí đuổi tới cùng. Và chỉ vì cái tội mất dạy, làm văng nước lên người khác mà lãnh một dao chí mạng, tử vong du hí luôn.

Người bạn của chúng tôi kể, mười năm trước, trên một chuyến xe buýt, anh nhường chỗ cho hai mẹ con cô gái kia. Bà mẹ đã trọng tuổi, nói với con gái ,“Con cám ơn chú đi con, người tốt bây giờ hiếm lắm!”

Nhưng một người bạn khác của chúng tôi, cũng có kể là hai lần anh bị đụng xe trên đường, thì người gây tai nạn đều dừng xe hỏi thăm, cũng như được người đi đường giúp đỡ. Và chỉ sau khi anh bình tĩnh coi xét lại, thấy mình không bị gì, đồng ý cho người gây lỗi đi thì lúc đó người dân bên đường mới “thả” cho người kia đi.

Người tốt ở Sài Gòn, có lẽ chẳng bao giờ hết. Nhưng có lẽ một phần tại cơ chế quản lý xã hội thiếu sự khoa học và minh bạch. Cũng như mấy vị “phụ mẫu chi dân” thích nói một đàng làm một nẻo, tạo ra một xã hội – thượng bất chính hạ tất loạn!

Giao dịch ngầm với Trung Quốc: Việt Nam thua đủ đường

Giao dịch ngầm với Trung Quốc: Việt Nam thua đủ đường

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Năm 2014, nhập siêu trong quan hệ thương mại với Trung Quốc là 43.8 tỷ Mỹ kim chứ không phải chỉ là 28.9 tỷ Mỹ kim như Việt Nam công bố. Xuất cảng sang Trung Quốc cũng có chênh lệch.

Hàng Trung Quốc vẫn ồ ạt tràn vào Việt Nam theo đủ mọi đường: chình ngạch,
tiểu ngạch và buôn lậu. (Hình: VOA)

Tại cuộc thảo luận về việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội-ngân sách năm 2014 và sáu tháng đầu năm 2015, ông Mai Hữu Tín, một đại biểu Quốc Hội Việt Nam đã công bố những nghiên cứu riêng, cho thấy các số liệu về xuất cảng và nhập cảng trong quan hệ thương mại với Trung Quốc mà Tổng Cục Thống Kê Việt Nam công bố, đều có sự chênh lệch rất lớn so với những số liệu mà Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc công bố.

Chẳng hạn theo Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc, năm 2014, Trung Quốc xuất cảng sang Việt Nam số lượng hàng hóa trị giá 63,7 tỷ Mỹ kim, trong khi Tổng Cục Thống Kê Việt Nam chỉ ghi nhận đã nhập cảng số lượng hàng hóa trị giá 43,9 tỷ Mỹ kim từ Trung Quốc. Chênh lệch giữa số liệu hai bên là gần 20 tỷ Mỹ kim.

Cũng vì vậy, chênh lệch trong nhập siêu từ Trung Quốc tăng thêm 15 tỷ Mỹ kim (43,8 tỷ Mỹ kim) so với mức nhập siêu từ Trung Quốc mà Việt Nam công bố (28,9 tỷ Mỹ kim).

Tương tự, theo Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc, năm 2014, Trung Quốc nhập cảng từ Việt Nam số lượng hàng hóa trị giá 19,9 tỷ Mỹ kim, trong khi Tổng Cục Thống Kê Việt Nam chỉ ghi nhận đã xuất cảng số lượng hàng hóa trị giá 14,9 tỷ Mỹ kim sang Trung Quốc. Chênh lệch giữa số liệu hai bên là khoảng 5 tỷ Mỹ kim.

Sự chênh lệch đó cho thấy Việt Nam không chỉ thua thiệt mà còn đối mặt với nhiều nguy cơ khác.

Các số liệu của Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc cho thấy, nhập cảng từ Trung Quốc chiếm tới 38% tổng kim ngạch nhập cảng của Việt Nam trong năm 2014, chứ không phải là 30% như Tổng Cục Thống Kê Việt Nam công bố. Do đó, mức độ phụ thuộc của kinh tế Việt Nam vào nguyên liệu, vật liệu, phụ liệu của Trung Quốc lớn hơn mức từng được dự liệu.

Chênh lệch giữa số liệu hai bên về hàng hóa nhập cảng từ Trung Quốc cho thấy đã có hơn 20 tỷ Mỹ kim hàng hóa từ Trung Quốc tràn vào thị trường Việt Nam mà không phải chịu thuế nên Việt Nam không thống kê được. Việt Nam không chỉ thất thu về thuế nhập cảng mà khối lượng hàng nhập cảng lậu từ Trung Quốc tiếp tục đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đến chỗ lụn bại.

Còn chênh lệch giữa số liệu hai bên về hàng hóa xuất cảng sang Trung Quốc cho thấy, Việt Nam không kiểm soát được những loại hàng hóa chiến lược cấm xuất cảng. Những loại hàng hóa chiến lược cấm xuất cảng này chủ yếu là tài nguyên, khoáng sản của Việt Nam.

Ông Tín nhận định, chính các giao dịch ngầm giữa các băng nhóm tại Việt Nam với thương nhân Trung Quốc đã tạo ra sự chênh lệch lớn cả về nhập cảnh lẫn xuất cảng trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Tuy những giao dịch ngầm này đã được cảnh báo từ lâu nhưng chưa rõ vì sao, chính quyền Việt Nam vẫn không ngăn chặn được. Ông Tín lưu ý, nếu sử dụng số liệu của Tổng Cục Thống Kê Trung Quốc thì tính về tổng thể, trong các năm từ 2012 đến 2014, Việt Nam không xuất siêu mà vẫn tiếp tục nhập siêu như 20 năm trước đó.

Bởi nhập siêu tiếp tục kéo dài, tăng nhanh, số lượng hàng hóa nhập cảng càng lúc càng lớn sẽ khiến Việt Nam khó kiềm giữ được tỷ giá giữa đồng Việt Nam và Mỹ kim.

Ông Tín ví von, quốc gia nào cũng cần một tấm áo giáp để bảo vệ nền kinh tế của mình và bảo đảm sự cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp với nhau nhưng trong quan hệ với Trung Quốc, tấm áo giáp đó càng ngày càng nát. (G.Đ)

Quyền bầy tỏ trong sự kiểm soát của chính phủ

Quyền bầy tỏ trong sự kiểm soát của chính phủ

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok

RFA

06072012-the-right-to-express.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Sau chiến thắng của U23 Việt Nam, trong sự phấn khích cao độ, hàng nghìn người hâm mộ Hà Nội đã xuống đường tỏ nỗi vui mừng ngày 3 tháng 6, 2015

Sau chiến thắng của U23 Việt Nam, trong sự phấn khích cao độ, hàng nghìn người hâm mộ Hà Nội đã xuống đường tỏ nỗi vui mừng ngày 3 tháng 6, 2015

Photo courtesy kienthuc.net

Có những dịp đông đảo người Việt tràn ra đường để bày tỏ cảm xúc hay ý kiến riêng được chính quyền để diễn ra một cách tự do, thoải mái. Trong khi đó có những nhóm người dân tập trung lại bị cơ quan chức năng thẳng tay giải tán.

Tại sao lại có tình trạng như thế?

Đám đông tự do ăn mừng thắng lợi bóng đá!

Nhiều ngưởi hâm mộ bóng đá Việt Nam tại Hà Nội và Sài Gòn vào tối ngày 2 tháng 6 vừa qua lại được dịp đổ xô xuống đường với cờ xí, băng rôn, giải đeo trên đầu … để ăn mừng thắng lợi của đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam 5-1 trước đội Malaysia trong trận tranh chiếc vé vào vòng bán kết Sea Games 28.

Vào những đêm ăn mừng chiến thắng của bóng đá như thế, các fan cuồng thường được thỏa thích phóng xe máy theo từng tốp mà không bị cảnh sát giao thông phạt vi phạm. Rồi những hoạt động gây ách tắc giao thông, làm náo động thành phố… cũng đều được lực lượng chức năng nhắm mắt làm ngơ để người hâm mộ được dịp bày tỏ sự sung sướng tột độ về chiến thắng mà những cầu thủ đội nhà đem đến cho họ. Đối với nhiều người đó cũng là một niềm ‘tự hào dân tộc’ vì thành tích vẻ vang trước đội mang ‘màu cờ, sắc áo’ của một quốc gia khác.

Thực lực đội nhà!

Để có được chiến thắng làm nức lòng người, nhiều nước đã phải đầu tư lâu dài cho các thế hệ cầu thủ từ khi còn nhỏ. Tiếp đó trong suốt quá trình đào tạo cho đến khi được tuyển chọn để đi thi đấu, ngân sách quốc gia cũng phải được chi ra cho việc rèn luyện, bồi dưỡng, thuê huấn luyện viên… với mục tiêu giành chức vô địch trước nước khác để mang vinh quang về cho nước nhà.

Một thành viên của CLB bóng đá No-U FC tại Hà Nội, anh Lã Việt Dũng nói về thắng lợi mà đội U23 Việt Nam đạt được vừa qua:

“Tôi thấy thắng lợi cũa đội U23 Việt Nam không phải đùng một cái họ thắng mà là một quá trình. Tất nhiên nó xuất phát từ việc đào tạo cầu thủ trẻ của Việt Nam, đặc biệt là Hoàng Anh Gia Lai, Học viện Hoàng Anh Gia Lai họ cũng đào tạo ra được một lứa cầu thủ bài bản. Nhưng theo tôi thấy về vấn đề chuyên môn thuần túy thì đó vẫn chưa là bền vững. Bởi vì Việt Nam còn đang trong vùng trũng của Đông Nam Á, mà Đông Nam Á còn là vùng trũng của thế giới nữa. Cho nên chiến thắng đối với đối thủ trong vùng chưa là gì cả so với thế giới. Thứ hai về phát triển của bóng đá Việt Nam thì chúng tôi chưa thấy có ‘chiều sâu và chiều rộng’ vì những đội bóng, doanh nghiệp làm được như Hoàng Anh- Gia Lai rất ít.

” Vào những đêm ăn mừng chiến thắng của bóng đá như thế, các fan cuồng thường được thỏa thích phóng xe máy theo từng tốp mà không bị cảnh sát giao thông phạt vi phạm. Rồi những hoạt động gây ách tắc giao thông, làm náo động thành phố… cũng đều được lực lượng chức năng nhắm mắt làm ngơ “

Theo tôi nghĩ vấn đề ở đây là kinh tế Việt Nam chưa được phát triển; và bản thân các doanh nghiệp tư nhân chưa có điều kiện để đầu tư vào bóng đá.

Các môn thể thao khác còn tệ hơn bóng đá. Mặc dù Sea Games đang diễn ra, có thể Việt Nam giành được khá nhiều huy chương vàng. Ngoại trừ bơi lội và những môn điền kinh cơ bản ra ( mà không được nhiều lắm) thì những môn như bi sắt, đấu kiếm không phải là những môn thể thao mang tính cơ bản của người Việt Nam. Nền thể thao Việt Nam còn phải cố gắng rất nhiều. Đó chưa phải gì là thành công cả!”

Cuộc biểu tình phản đối chính quyền TP Hà Nội chặt hạ 6.700 cây hồi tháng 4 vừa qua đã nhanh chóng bị công an đàn áp dã man

Cuộc biểu tình phản đối chính quyền TP Hà Nội chặt hạ 6.700 cây hồi tháng 4 vừa qua đã nhanh chóng bị công an đàn áp dã man

Cùng chia xẻ ý kiến của anh Lã Việt Dũng, nhiều người Việt Nam cũng thừa nhận việc chạm đến chiếc cúp vàng bóng đá trong khu vực vẫn còn là niềm mơ ước của họ. Có lúc tưởng chừng gần chạm vào lại bị vuột mất!
Trong lần tham gia Sea Games 28 do Singapore đăng cai năm nay, Việt Nam cũng chỉ đặt mục tiêu lọt vào nhóm các nước đứng đầu như trình bày của ông Hoàng Vĩnh Giang, phó chủ tịch Ủy ban Olympic Châu Á đồng thời là phó chủ tịch thường trực Ủy ban Olympyc Việt Nam sau đây:

“Việt Nam căn cứ vào khả năng của mình ở những môn trọng điểm đầu tư. Người ta tổ chức 36 môn, Việt Nam chỉ tham gia 26 môn thôi và mục tiêu cũng chỉ đạt tốp đầu!”

Sách lược khi cấm, khi thả!

Theo nhiều người thì việc bày tỏ vui mừng trước thắng lợi của đội bóng đá nước nhà như một niềm tự hào dân tộc thì không có gì là qúa đáng và đây là tình cảm tự nhiên của con người. Dân chúng những nước khác cũng hành xử tương tự khi đội đại diện cho quốc gia họ giành được những thành tích thể thao trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, theo những người luôn đau đáu với tình hình đất nước hiện nay tại Việt Nam, còn có những ưu tiên khác cần phải để cho dân chúng bày tỏ ý kiến một cách công khai như phải cùng nhau xuống đường để lên tiếng phản đối Trung Quốc có những hành động ức hiếp Việt Nam. Một nhà hoạt động tại Việt Nam, anh Nguyễn Lân Thắng bày tỏ ý kiến về thắng lợi của đội tuyển U23 Việt Nam và đưa ra nhận định về hành xử của chính quyền trước việc để cho người hâm mộ bóng đá được thoải mái có những hành vi bộc phát ăn mừng chiến thắng; trong khi lại mạnh tay đối với những nhóm tập trung lên tiếng vì bất công xã hội, vì đât nước lâm nguy:

“ Trước hết tôi cũng thấy rất vui khi đội tuyển bóng đá Việt Nam có một chiến thắng giòn giã trước Malaysia. Nhưng nhìn xa hơn một chút, những chiến thắng này chỉ trong lĩnh vực thể thao; cái điều mà theo tôi nghĩ người dân Việt Nam cần hơn là chiến thắng trong cuộc sống, chiến thắng trong lao động, trong chính những điều cần thiết hơn rất nhiều ở trong cuộc sống.

” Tất cả những hoạt động lễ hội, những hoạt động bóng đá rồi thể thao có số đông quần chúng tham gia thì họ không bao giờ can thiệp. Thế nhưng hễ như có hoạt động dù nhỏ thôi mà có sự phản kháng, phản đối của người dân đối với những chính sách, đến những đòi hỏi quyền lợi dân sinh rất bình thường thì người ta ngăn chặn một cách quyết liệt

anh Nguyễn Lân Thắng”

Thế còn việc Nhà nước để cho những hoạt động ăn mừng chiến thắng, rồi đổ ra đường, rồi chạy xe cả đêm… Vấn đề đó ở Việt Nam từ trước đến nay vẫn vậy: tất cả những hoạt động lễ hội, những hoạt động bóng đá rồi thể thao có số đông quần chúng tham gia thì họ không bao giờ can thiệp. Thế nhưng hễ như có hoạt động dù nhỏ thôi mà có sự phản kháng, phản đối của người dân đối với những chính sách, đến những đòi hỏi quyền lợi dân sinh rất bình thường thì người ta ngăn chặn một cách quyết liệt.”

Anh Lã Việt Dũng cũng có ý kiến về điểm này:

“Không những Nhà nước cho những hoạt động như vậy, mà họ còn mong và chờ những cơ hội như vậy để họ cải thiện hình ảnh. Ví dụ như trận bóng đá giữa Việt Nam và Malaysia vừa rồi tôi thấy có cả ca sĩ Phương Thanh rồi hoa hậu, á hậu được họ tài trợ sang. Những ai theo dõi bóng đá Việt Nam gần đây thì thấy có những câu lạc bộ cổ động viên mà tôi có cảm giác như là dư luận viên để đánh bóng thành công nhất thời của thể thao Việt Nam để người dân họ có thể quên đi những cái bất cập xã hội khác. Và cũng rất logic khi có một sự kiện chiến thắng thể thao như vậy, thì chính quyền bật đèn xanh, cổ vũ mọi người ăn mừng làm như Việt Nam ta đây cũng rất là giỏi, cũng rất yêu nước; trong khi những sự việc xảy ra mà những người có tâm tư, có quan tâm đến tình hình đất nước hơn một chút họ rất lo lắng như tình hình về Biển Đông, tình hình về kinh tế- chính trị- xã hội thì chính quyền Việt Nam lờ đi và thậm chí ngăn cản người dân bày tỏ ý kiến.”

Thực tế vào năm ngoái cho thấy ngay cả trong lúc tình hình căng thẳng giàn khoan 981 của Trung Quốc được ngang nhiên cho hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; có những cuộc biểu tình ‘phản đối’ được cơ quan chức năng tổ chức trong trụ sở cơ quan, trong khi đó những cuộc tuần hành của người dân đã bị ngăn trở và cuối cùng bị dẹp.