Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN (1)

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN (1)

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2015-06-18

06182015-the-vn-new-wav-of-refug.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Sau tám năm chờ đợi, chiều thứ Ba 25/11 vừa qua thêm 39 người Việt cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan đã đặt chân xuống phi trường quốc tế Vancouver của Canada. Đây là đợt thứ nhì. Đợt đầu tiên với 28 người đã tới Vancouver hôm 13 tháng 11, 2014.

Sau tám năm chờ đợi, chiều thứ Ba 25/11 vừa qua thêm 39 người Việt cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan đã đặt chân xuống phi trường quốc tế Vancouver của Canada. Đây là đợt thứ nhì. Đợt đầu tiên với 28 người đã tới Vancouver hôm 13 tháng 11, 2014.

Từ khi VN tiến hành cải cách về kinh tế vào năm 1986, cho dù nền kinh tế đã phần nào phát triển. Tuy vậy trước việc chính quyền VN tiếp tục, bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ và tôn giáo, thì đến nay vẫn có một làn sóng ngầm không ít những người đấu tranh tìm đường trốn khỏi VN để xin tỵ nạn vì lý do chính trị và tôn giáo.

Cuộc sống hiện nay của họ ra sao và những người này còn sẽ tiếp tục đấu tranh hay không?

Trong bài thứ nhất, Anh Vũ sẽ giới thiệu về chặng dừng chân đầu tiên của những người tỵ nạn này ở Thái lan và Campuchia.

…Buộc phải rời bỏ quê hương

Sau khi chiến tranh VN kết thúc, do sự sai lầm trong các chính sách chính trị và kinh tế của nhà cầm quyền cộng sản, đã dẫn đến một làn sóng người VN lên đến gần một triệu người bỏ nước ra đi để tìm kiếm cơ hội tỵ nạn ở nước ngoài.

Từ năm 1986, đảng CSVN phải thực hiện một cuộc cải cách kinh tế để thoát ra khỏi bờ vực phá sản. Đời sống kinh tế trong nước có khá hơn, cũng như sau đó các trại tỵ nạn của người Việt ở nhiều nơi trên thế giới bị đóng cửa, các nước không còn muốn nhận thuyền nhân nữa; khi đó cuộc khủng hoảng người tị nạn Việt nam tưởng như đã chấm dứt.

Tuy vậy ít người biết rằng từ đó đến nay, vẫn còn một làn sóng người Việt nam tị nạn chính trị mới. Nhiều người trong số họ buộc phải bỏ nước ra đi, mà các nước trong khu vực Đông Nam Á là chặng dừng chân đầu tiên của họ.

Theo số liệu thống kê, hiện tại ở Thái lan đang có khoảng 950 người tỵ nạn, tương tự ở Campuchia cũng có đến gần 200 người.

Nói về lý do khiến bản thân phải chạy sang Campuchia để tỵ nạn, ông Hồ Văn Chỉnh cho chúng tôi biết:

” Trước đây tôi ở tỉnh Vĩnh long, tôi đã bị chính quyền VN bắt cóc từ Campuchia đưa về VN bỏ tù. Sau khi tôi vượt ngục và trốn sang đây thì tôi bị kết án vắng mặt 17 năm, vì liên quan đến việc đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ và đòi đa nguyên, đa đảng

ông Hồ Văn Chỉnh”

“Trước đây tôi ở tỉnh Vĩnh long, tôi đã bị chính quyền VN bắt cóc từ Campuchia đưa về VN bỏ tù. Sau khi tôi vượt ngục và trốn sang đây thì tôi bị kết án vắng mặt 17 năm, vì liên quan đến việc đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ và đòi đa nguyên, đa đảng.”

Anh Hoàng Đức Ái một nhà tranh đấu ở Nghệ An bị truy đuổi nên buộc phải bỏ nước ra đi đến Thái lan, anh nói:

“Lý do tôi phải đến Thái lan tỵ nạn là do tôi là 1 trong 8 người ở Nghệ An đã rải truyền đơn tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội.”

Thân phận tỵ nạn này còn dành cho những người sắc tộc H’mông, vì bị chính quyền đàn áp buộc họ phải từ bỏ tôn giáo mà họ tin theo. Một thầy truyền đạo người H’mông đang tỵ nạn ở Thái lan, yêu cầu được dấu danh tính cho chúng tôi biết. Ông nói:

Một gia đình dân tộc theo đạo Tin Lành, từ vùng Tây Nguyên chạy sang Thái Lan xin tị nạn năm 2010. Sau đó gia đình của anh Siu A Nem và 7 người con khi đến Canada tháng 7 năm 2014 (RFA)

Một gia đình dân tộc theo đạo Tin Lành, từ vùng Tây Nguyên chạy sang Thái Lan xin tị nạn năm 2010. Sau đó gia đình của anh Siu A Nem và 7 người con khi đến Canada tháng 7 năm 2014 (RFA)

“Quê quán của tôi ở VN là ở Lào cai, vì lý do ở VN tôi là một lãnh đạo tôn giáo, đã đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo cũng như tranh đấu chống việc chính quyền cướp đất của cộng đồng người H’mông chúng tôi.”

Khó khăn nơi “đất khách quê người”

Những khó khăn của những người bỏ nước ra đi tìm đường tỵ nạn ở nước ngoài khó mà kể hết, vì đối với họ tất cả đều mới lạ. Nói về những khó khăn hiện nay, anh Hoàng Đức Ái ghi nhận:

“Khó khăn thứ nhất là về công việc, mình không có việc làm. Thứ 2 là chính quyền Thái lan họ không cho mình nhập cư, nên nếu mình ra ngoài làm việc thì sợ họ bắt, vì nếu bị họ bắt thì chắc chắn sẽ nguy hiểm. Thứ 3 là vấn đề ngôn ngữ, vì không có ngôn ngữ thì rất khó khăn cho mình.”

Thầy truyền đạo người H’mông tiếp lời:

” Quê quán của tôi ở VN là ở Lào cai, vì lý do ở VN tôi là một lãnh đạo tôn giáo, đã đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo cũng như tranh đấu chống việc chính quyền cướp đất của cộng đồng người H’mông chúng tôi

Một thầy truyền đạo người H’mông”

“Ở Thái lan này thì cuộc sống nói chung cũng có nhiều cái khó khăn lắm, một là mình phải cố gắng đi kiếm việc làm, song vì mình là người sống bất hợp pháp nên người thuê mình làm họ ép giá rất là thấp. Cũng vì Thái lan họ không ký cái Công ước Quốc tế năm 1951 để bảo vệ người tỵ nạn, vì thế chúng tôi sang lánh nạn ở đây thì sự nguy hiểm luôn thường trực 24/24.”

Những khó khăn thì chồng chất như vậy, song việc có được Cao ủy tỵ nạn LHQ (UNHCR) cứu xét để cấp quy chế tỵ nạn cho những người tỵ nạn hay không thì là cả một vấn đề lớn và cũng hết sức khó khăn. Anh Hoàng Đức Ái khẳng định:

“Hiện tại, tình hình những người tỵ nạn ở Trung Đông hay những người tỵ nạn ở VN cũng rất là nhiều, mà Cao ủy (tỵ nạn) ở đây thì làm việc hết sức chậm trễ. Cho nên các hồ sơ tỵ nạn sau này càng lâu hơn vì số người tỵ nạn ngày càng đông. Như lịch phỏng vấn của tôi cũng đã dời lại 2-3 lần, bây giờ cũng đã hết 1 năm rồi.”

Kể cả những trường hợp đã được chấp nhận cho hưởng quy chế tỵ nạn ở Campuchia, song quyết định đó cũng không có hiệu lực. Từ đó dẫn đến tình cảnh những người này vẫn phải sống một cuộc đời vô tổ quốc từ nhiều năm nay. Từ Campuchia, ông Hồ Văn Chỉnh nói với chúng tôi:

“Sau khi UN rút quân thì họ giao tôi lại cho phía Capuchia và họ cấp cho tôi một cái giấy do Phó Thủ tướng ký, nhưng cái giấy này không có hiệu lực gì hết. Bây giờ thì họ khong công nhận, mà họ chỉ công nhận giấy nhập tịch thôi. Do đó hiện tại cuộc sống của chúng tôi cũng hết sức khó khăn và ở Campuchia bây giờ chúng tôi không có tương lai gì hết.”

Tuy nhiên, ở miền đất mới đa số những người tỵ nạn vẫn không từ bỏ công việc đấu tranh của mình, họ vẫn tiếp tục tham gia công việc đấu tranh trong điều kiện có thể. Anh Hoàng Đức Ái bày tỏ:

“Đối với những người tỵ nạn như tôi hay một số người bạn ở đây, hàng ngày vẫn theo dõi tình hình ở VN để tiếp tục đồng hành đấu tranh với những người đấu tranh trong nước. Đặc biệt là đối với các bạn trẻ, bằng những bài viết trên các trang blog.”

” Hiện tại, tình hình những người tỵ nạn ở Trung Đông hay những người tỵ nạn ở VN cũng rất là nhiều, mà Cao ủy (tỵ nạn) ở đây thì làm việc hết sức chậm trễ. Cho nên các hồ sơ tỵ nạn sau này càng lâu hơn vì số người tỵ nạn ngày càng đông

Anh Hoàng Đức Ái”

Thầy truyền đạo người H’mông cho chúng tôi biết hiện tại số người H’mông tỵ nạn về vấn đề tôn giáo ở Thái lan có khoảng 350 người và ông vẫn tiếp tục đấu tranh để bảo vệ quyền lợi cho bà con sắc tộc H’mông ở trong nước. Ông nói:

“Tôi vẫn tiếp tục hoạt động về niềm tin tôn giáo ở đây. Trước tình hình cộng sản VN đã ngăn cấm không cho đồng bào hoạt động tôn giáo tự do theo ý muốn của người dân thì tôi cũng tìm hiểu các thông tin về vấn đề này để viết các báo cáo để cho các tổ chức Nhân quyền biết, để lên tiếng bảo vệ đồng bào H’mông của chúng tôi.”

Về nguyện vọng chung của những người tỵ nạn hầu như cũng giống nhau, tất cả đều mong nhận được sự giúp đỡ của cộng đồng người Việt nam ở khắp nơi trên thế giới và mong muốn nhanh chóng được đi định cư ở nước thứ 3. Ông Hồ Văn Chỉnh cho biết:

“Bây giờ cộng đồng thế giới hãy lên tiếng để giúp chúng tôi được đi định cư ở nước thứ 3, vì chỉ có thế chúng tôi mới có tương lai cho con cái sau này. Cho đến giờ tôi đã tỵ nạn ở đây 15 năm rồi, mà họ không cho chúng tôi nhập tịch gì hết. Chẳng biết tương lai của chúng tôi sẽ ra sao nữa.”

Được biết không phải chỉ có ở các nước Đông Nam Á, nhất là Thái lan mới có những người VN tỵ nạn về các lý do chính trị và tôn giáo. Tại một số quốc gia thuộc các châu lục khác hiện nay cũng có người tỵ nạn Việt Nam.

Trong bài sau, mời quý vị đón nghe phần tường trình của thông tín viên Tường An từ Paris, về cuộc sống của những người tỵ nạn đến từ VN ở Âu châu và Úc châu.

Siêu dông: thói dối trá và bọn lưỡi gỗ

Siêu dông: thói dối trá và bọn lưỡi gỗ

Sau cơn dông hung hãn như cơn bão cấp 8, cấp 9, Hà Nội cây ngã hàng loạt và đã có hai người thiệt mạng. Lập tức báo Hà Nội Mới, cơ quan của Thành ủy Hà Nội đăng bài (xin xem ở đây) khẳng định những thiệt hại đó “cho thấy chủ trương thay thế, cải tạo cây xanh ở nhiều tuyến phố trên địa bàn Hà Nội là hết sức đúng đắn và cần thiết”! Hai bài sau đây, một của luật sư Trần Vũ Hải và một của nhà báo Lan Uyên, bóc trần thói dối trá và vạch mặt bọn lưỡi gỗ một cách đích đáng.

Bauxite Việt Nam

Thy gì sau trn lc kinh hoàng chiu 13.6.2015

Trn Vũ Hi

Cơn lốc chiều 13/6/2015 gây đổ khoảng 500 cây xanh, 2 người chết và nhiều người bị thương, nhiều xe hơi bị bẹp. Có vẻ cơn lốc này xảy ra đúng thời điểm sau khi ông Bí thư Hà nội và một ông Phó thủ tướng nói theo tinh thần, kết luận của thanh tra Hà Nội rằng sai sót trong vụ chặt cây ở Hà nội cùng chỉ dạng vừa vừa thôi, không lớn đâu, chỉ cần rút kinh nghiệm, kiểm điểm.

Nhiều người cho rằng việc chặt hạ và thay thế cây là cần thiết, cơn lốc này chứng minh chủ trương của Hà Nội đó. Sự thật của cơn lốc này đã cho thấy những điều sau:

1. Đây là cơn lốc lớn và có mức tàn phá kinh hoàng nhất trong nhiều thập kỷ qua ở Hà Nội.

2. Không chỉ cây đổ mà còn một loạt cột điện, cột đèn, biển quáng cáo các cỡ các loại, mái nhà, thậm chí móng nhà bị đổ, bị đứt, bị bật, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ người đi đường và chung quanh không kém thậm chí còn hại hơn so với cây đổ.

3. Không chỉ cây xà cừ (được nhiều kẻ coi là tội đồ trong mùa mưa bão) đổ mà đủ loại cây các loại, lớn nhỏ đổ, trong đó có những cây trồng trong những dự án bất động sản hiện đại nhất Hà Nội. Đặc biệt những cây mới trồng và từng mệnh danh “vàng tâm quý hiếm” cũng đổ, trơ những gốc còn nguyên bao bì để chứng minh chủ trương thay thế cây đúng như thế nào.

4. 500 cây đổ trong cơn lốc khủng khiếp này, nhưng phần không ít cây đổ sẽ nhanh chóng được dựng lại. Trong khi 2000 cây xanh (mà phần nhiều là cây cổ thụ cần được bảo tồn theo luật định) được con người chặt hạ trong thời gian ngắn vừa qua tại Hà Nội vĩnh viễn không được phục hồi.

___

My ý kiến tiếp theo nhân cơn lc chiu 13/6/2015 ti Hà Ni

1. Đây là cơ hội tuyệt vời cho kiến trúc sư Nguyễn Thế Thảo tìm hiểu về chất lượng các công trình trên đường phố Hà Nội và các loại cây xanh đáng thay thế.

2. Chất lượng các cột điện, cột đèn, biển báo giao thông như thế nào, sao bị đổ nhiều thế.http://phapluattp.vn/…/giat-minh-voi-chat-luong-cot-dien-sa…

3. Cây xà cừ có đáng xá tội không, khi chiếm 10% cây trong nội thành nhưng chỉ có 4% cây đổ (34/800 cây đổ trong nội thành)?

4. Những nơi tập trung nhiều cây xà cừ như Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, Đường Láng hầu như không có cây đổ. Trong khi khu vực vừa thay thế hàng loạt cây xà cừ cổ thụ là phố Quang Trung, cây xà cừ bị đổ và được coi gây chết người.

5. Hai khu chung cư cao cấp nhất của một tập đoàn đều có cây bị đổ, nhưng ngay tối chủ đầu tư đã cho dựng lại và dọn dẹp như chưa xảy ra trận cuồng phong. Trong khi đến sáng nay, Hà nội vẫn còn ngổn ngang những vết tích của cơn lốc.

6. Hy vọng sau cơn lốc này kiến trúc sư Nguyễn Thế Thảo sẽ có bảng tổng kết, rút kinh nghiệm và các biện pháp cụ thể để đời thị trưởng Hà Nội sau sẽ không lặp lại những “sai sót” không đáng có. Đây có thể là đóng góp đáng giá nhất của ngài kiến trúc sư trước khi về vườn chăm sóc cây xanh và nhà của mình.

Chùm ảnh:

 

T. V. H.

Nguồn: http://xuandienhannom.blogspot.de/2015/06/tran-vu-hai-thay-gi-sau-tran-loc-kinh.html

Cht cây và cây đ: Ming lưỡi con người tàn ác như thiên tai

Lan Uyên

(VTC News) – Hu qu đ li ca cơn dông lc chiu 13/6 đến nay vn khiến nhiu người hong s, nhưng có l đáng s hơn chính là lòng người trong cơn dông đó.

Sự khó lường của thời tiết mà nhiều người gọi đó là hiện tượng “cực đoan” đang trở thành nỗi ám ảnh của con người. Thời tiết cực đoan hay lòng người cực đoan, khó lường, khó đoán… là vấn đề được đặt ra sau vụ dông lốc mới đây.

Thống kê của Sở Xây dựng Hà Nội cho thấy, trận dông lốc chiều 13/6 đã khiến 1.350 cây xanh bật gốc, làm 2 người chết, 7 người bị thương, 140 ngôi nhà bị tốc mái, 25 ôtô và nhiều xe máy bị hư hại… Hậu quả thật vô cùng khủng khiếp. Khủng khiếp hơn khi nó lại tiếp tục liên quan đến cả ngàn cây xanh vô tri ở Hà Nội.

Cảnh tan hoang sau trận cuồng phong ở Hà Nội

Mạng xã hội chia sẻ hàng loạt các hình ảnh tan hoang sau cơn dông lốc với đủ các lời bình luận. Sự tức giận, tiếng la ó, bất bình chủ yếu tập trung vào việc đổ tội cây xanh, đổ tội cho những người từng bảo vệ cây xanh trong vụ chặt hạ thay thế 6.700 cây của Hà Nội.

Cây gãy đổ, người đau thương… có liên quan gì đến nhau? Tất nhiên là có. Người ta đổi tại cây xanh Hà Nội mục ruỗng quá nhiều, loại cây rễ chùm bám nông nên dễ dàng bật gốc, đổ rạp… gây ra cơ sự. Một vài người lên tiếng, sau đó là đám đông ăn theo, la ó, chửi bới, đổ tội cho các cơ quan chức năng của Hà Nội không chịu chặt hạ, thay thế những cây “đáng bị thay thế” này.

Hàng ngàn, vạn hình ảnh được chia sẻ trên mạng xã hội với nhiều lời bình luận, ít thấy ai tỏ ra thương xót trước sự hoang tàn đổ nát của Hà Nội, phần nhiều còn có vẻ thích thú trước hậu quả đau lòng từ cơn dông đó.

Họ là ai? Có thể, phần lớn họ là những người đã từng bảo vệ đề án chặt cây xanh của Hà Nội mới đây, nay được dịp rủa xả những “người yêu cây xanh Hà Nội”, rằng thấy chưa, việc chặt cây là đúng, các người yêu cây sao không đứng ra bảo vệ cây trong dông tố; những lúc đó các người đang yên ấm ở đâu, để mặc cây gãy đổ…

Thôi thì đủ các loại phát ngôn, đủ những lời rủa xả, một làn sóng chửi bới ào ào, theo kiểu “tát nước theo mưa” được dịp tuôn ra. Rất có thể, trong đám đông chửi bới kiểu “ăn theo” đó, có nhiều người trước đây từng “ăn theo” trong vụ chửi bới phản đối chặt hạ cây xanh trong đề án 6.700 cây của Hà Nội mới đây.

Video: Người Hà Ni nháo nhác trong trn cung phong

Lại vẫn là hiệu ứng đám đông, một người chửi, mười người, rồi trăm ngàn vạn người chửi theo. Những người từng lên tiếng bảo vệ cây xanh trước đề án chặt hạ, thay thế 6.700 cây của Hà Nội mới đây bỗng chốc biến thành kẻ tội đồ. Không biết, cuộc chiến này ai thắng, ai thua? Hà Nội có hả hê không trước cơn dông trời ban đúng nghĩa, cứu vớt đề án đang bị thanh tra, kết tội?

Nhưng sự thật, việc cây đổ trong cuồng phong chiều 13/6 với những lùm xùm trong vụ chặt hạ thay thế cây xanh chẳng liên quan gì đến nhau. Đám đông la ó, chửi bới, chắc hẳn cũng không phải là những người thực sự quan tâm đến đề án chặt cây của Hà Nội, mà phần đông, chỉ là chửi cho “hợp thời”, kiểu “té nước theo mưa”.

Mới đây, một tờ báo của Hà Nội còn lên tiếng, bảo sau dông lốc mới thấy rõ sự đúng đắn của đề án chặt hạ thay thế cây xanh của Hà Nội thế nào.

Chắc chắn không ai phản đối việc chặt hạ, thay thế cây xanh của Hà Nội nếu như việc đó được thực hiện cẩn trọng, đúng mục đích “thay thế cây hỏng, mục ruỗng, cây có dễ bám nông…”. Không ai phản đối nếu Hà Nội làm việc đó công khai, minh bạch. Có điều, một số đơn vị, cá nhân đã sai phạm, đã mượn danh đề án để làm việc khuất tất, chặt cây tươi tốt, thay thế cây “mỡ” mà bảo “vàng tâm”, trồng cây còn nguyên lớp nilong bọc gốc…

Ai đó bảo, đừng “mượn gió bẻ măng”, bởi rõ ràng việc thiếu minh bạch trong vụ 6.700 cây xanh đã có kết luận rồi. Dông lốc lớn đổ cây đè chết người lại là câu chuyện khác. Gió mạnh đổ xe tải trên cầu Thanh Trì thì cũng sẽ làm đổ cây. Cây che chắn cho nhà cửa. Chặt hết cây, đổ nhà chết người khủng khiếp hơn nhiều…

Quả đúng, thay vì gán ghép việc này sang việc khác, hò nhau chửi bới cho hợp thời, có lẽ mỗi người hãy dành thời thời gian suy nghĩ, hiến kế cho nhà quản lý, cách nào đó để việc chặt hạ, thay thế cây đúng mục đích, để việc quản lý an toàn xây dựng, hành lang lưới điện… tốt hơn, tránh những hậu quả đau lòng từng xảy ra như chiều 13/6.

Xin đừng “gió chiều nào, theo chiều ấy”, đừng cực đoan như thời tiết. Cuộc sống vốn đã đầy những bất an, sẽ càng bất an hơn, khi chúng ta cứ hò nhau la ó, chửi bới kiểu phong trào mà không biết, đôi khi có những chính sách ra đời, chính do bị dẫn dắt bởi hiệu ứng đám đông. Hậu quả khi đó thật khó lường!

L. U.

Nguồn: http://vtc.vn/chat-cay-va-cay-do-mieng-luoi-con-nguoi-tan-ac-nhu-thien-tai.2.558022.htm

Muốn chống lại Trung Quốc, Việt Nam cần phải làm gì?

Muốn chống lại Trung Quốc, Việt Nam cần phải làm gì?

Nguyễn Hưng Quốc

Trong bài “Ba kịch bản trên Biển Đông”, tôi nêu lên ba tình huống chính có thể xảy ra trong những năm sắp tới: Một, chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ; hai, chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam; và ba, Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành, nghĩa là, họ cứ tiếp tục theo đuổi chính sách tằm ăn dâu trên Biển Đông và Việt Nam cứ tiếp tục nhịn nhục, cho đến một lúc nào đó, họ có được tất cả những gì họ muốn mà không cần gây chiến tranh với ai cả.

Cả ba tình huống ấy đều là những bi kịch, đặc biệt đối với phận một nước nhỏ và yếu như Việt Nam.

Vậy, có cách gì Việt Nam thoát khỏi những bi kịch ấy?

Theo tôi, có. Có nhiều biện pháp. Nhưng biện pháp đầu tiên sẽ phải là: dân chủ hoá.

Chính quyền Việt Nam lúc nào cũng cố tìm cách trì hoãn quá trình dân chủ hoá với ba lý do chính: Một là do dân trí còn thấp, dân chúng không biết cách hành xử thích hợp khi được tự do; hai là cần giữ sự ổn định về chính trị để kinh tế được phát triển; và ba, chính trị trong nước cần ổn định và mạnh mẽ để đối phó với hiểm hoạ xâm lược từ Trung Quốc.

Ở đây, tôi chỉ tập trung vào lý do thứ ba vừa kể. Theo tôi, đó chỉ là một nguỵ biện. Sự thật không phải độc tài mà chính dân chủ mới bảo đảm độc lập và chủ quyền của Việt Nam trong thế trận đối đầu với Trung Quốc.

Khẳng định như thế, tôi có bốn lý do chính:

Thứ nhất, chỉ có dân chủ và cùng với nó, sự minh bạch của chính phủ cũng như sự tự do, trước hết là tự do ngôn luận, của dân chúng, mới bảo đảm tránh được những chính sách sai lầm của nhà cầm quyền. Chúng ta dễ dàng thấy rõ điều này trong các chính sách kinh tế, xã hội, môi trường và giáo dục tại Việt Nam: Nhà nước cứ lẳng lặng làm, đến khi dân chúng phản đối, mới thú nhận là…sai sót. Trong lãnh vực quốc phòng cũng vậy. Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng như các cam kết khác của Việt Nam và Trung Quốc mà biểu hiện cụ thể nhất là các phương châm “4 tốt” và “16 chữ vàng” là những sai lầm tai hại, nhầm thù là bạn và gây nên sự mất cảnh giác không những của dân chúng mà còn của cán bộ các cấp trước những âm mưu xâm lấn hiểm độc của Trung Quốc. Ngay chính sách “ba không” (không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự; không tham gia liên minh; không liên minh với nước này để chống lại hay phá hoại nước khác) cũng là một chính sách dại dột bởi vì trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay không có nước nào thực sự cô lập, một nước nhỏ và yếu đang bị uy hiếp bởi một quốc gia giàu, lớn và mạnh hơn mình cả mấy chục lần lại càng không thể nào chọn thái độ tự cô lập, không liên minh với các quốc gia khác. Tuyên bố như thế chả khác gì đầu hàng hay tự trói tay mình trước trận đấu. Nếu Việt Nam có dân chủ và dân chúng có quyền góp ý, những sai lầm dại dột và tai hại ấy sẽ dễ dàng tránh khỏi.

Thứ hai, có dân chủ mới thực sự có sự thống nhất thực sự giữa chính quyền và nhân dân. Những sự thống nhất dưới một chế độ độc tài khi mọi người dân đều bị bịt miệng chỉ là một sự thống nhất giả. Cách đây mấy tháng, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thấy dân chúng ai cũng ghét Trung Quốc, ông “lo quá”. Cái “lo” ấy rõ ràng phản ánh sự khác biệt to lớn giữa lãnh đạo và quần chúng. Sự khác biệt ấy cho thấy hai điều: Một, về phía giới lãnh đạo, họ không hiểu dân hoặc hiểu, nhưng làm ngơ và tiếp tục hô những khẩu hiệu hoang đường về mối quan hệ môi hở răng lạnh với Trung Quốc; và hai, về phía dân chúng, họ nhìn giới lãnh đạo như những kẻ nhu nhược, bất lực, thậm chí, bán nước, và hậu quả là, người ta đồng loạt quay lưng lại chính quyền. Đến lúc chiến tranh bùng nổ thật, sự quay lưng ấy là một tai hoạ. Ngày xưa, đối diện với nguy cơ xâm lược của nhà Minh, Hồ Quý Ly hỏi ý kiến con trai về phương sách đánh giặc. Con trai ông, Hồ Nguyên Trừng, đáp: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”. Khi dân không theo chính quyền, cái gọi là thống nhất trong những vấn đề liên quan đến Trung Quốc chỉ là một ảo tưởng. Mà không chỉ có tình cảm của dân chúng đối với Trung Quốc. Trong vô số các vấn đề khác, kể cả vấn để then chốt nhất là sự lãnh đạo mặc nhiên và độc tôn của đảng Cộng sản, dân chúng cũng bất đồng với giới lãnh đạo. Chỉ có dân chủ mới cho phép dân chúng nói lên sự thật và cũng buộc giới lãnh đạo nói sự thật: Trên căn bản của những sự thật như thế, người ta mới có thể nói đến sự đồng tâm và thống nhất.

Thứ ba, chỉ có dân chủ mới giúp Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ của thế giới. Ai cũng biết một sự thật đơn giản: trong trận đối đầu với một nước lớn và mạnh như Trung Quốc, Việt Nam cần phải nhận được sự hỗ trợ của càng nhiều quốc gia trên thế giới bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nhưng trong thời đại ngày nay, không có một quốc gia dân chủ nào lại muốn hỗ trợ một chế độ độc tài. Không ai có thể phủ nhận được thực tế là hình ảnh của Việt Nam trên thế giới rất xấu với những vụ đàn áp nhân quyền thường xuyên xuất hiện trên các cơ quan truyền thông quốc tế.

Thứ tư, còn độc tài, Việt Nam càng không thể tạo thành liên minh với các quốc gia Tây phương, đứng đầu là Mỹ. Muốn liên minh, người ta phải có những điểm chung. Cái chung về các quyền lợi trên Biển Đông chỉ là một. Người ta cần một điểm chung sâu sắc và căn bản hơn: điểm chung của các bảng giá trị. Đó chính là quyền làm người. Trước đây, Lý Quang Diệu từng biện minh cho các chính sách độc tài của ông tại Singapore bằng cách đề cao những bảng “giá trị Á châu” vốn được xem là khác biệt hẳn với các bảng giá trị ở Tây phương. Càng ngày người ta càng thấy đó chỉ là một sự nguỵ biện. Hiện nay, người ta xem nhân quyền và việc tôn trọng nhân quyền là những giá trị phổ quát của nhân loại. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi trong các cuộc đối thoại với Việt Nam, Mỹ cũng như các quốc gia Tây phương luôn luôn đề cập đến vấn đề nhân quyền. Họ xem việc tôn trọng nhân quyền là một điều kiện để ký kết các hiệp định thương mại. Đối với việc liên minh về quốc phòng, điều kiện ấy lại càng cần thiết hơn.

Có thể khẳng định: Sẽ không có nước nào sẵn sàng chung vai sát cánh với Việt Nam để đương đầu với Trung Quốc nếu Việt Nam cứ độc tài mãi.

“Ám ảnh” giang hồ trong làng báo

“Ám ảnh” giang hồ trong làng báo

Lang Thang Internet

(PetroTimes) – Gọi là nỗi “ám ảnh”, hay gọi là “nỗi nhục” cũng không ngoa. Chưa bao giờ mà làng báo lại “run rẩy” vì giang hồ như thế. Đơn giản là đã có kẻ giang hồ chui được vào làng báo và có cả những cơ quan báo chí sử dụng chúng làm phóng viên. Cứ có chuyện xảy ra là những người làm báo chân chính lại yếu thế, “xẹp lép như con tép”.

Một thực trạng buồn không ai muốn nói ra khi ngày 21-6 đang tới gần.

Trước đây, dân giang hồ Sài Gòn vẫn đồn câu chuyện Năm Cam mỗi buổi sáng vẫn xách giày ra công viên chạy bộ, chỉ đơn giản là để lân la, làm quen được với mấy nhà báo cũng hay tập thể dục ở đây. Rồi buổi ăn nhậu nào mà Năm Cam mời được 1, 2 anh nhà báo ra uống vài chén rượu thì ông trùm lấy làm hãnh diện và lên mặt với đàn em lắm…

Còn bây giờ thì chỉ vài tay dân chơi “oi khói” ở Hà Nội cũng đã có thể “vặt lông” hẳn một ông nhà báo không thương tiếc. Nguy hiểm hơn, trong hàng ngũ làm báo lại có những người có máu anh chị và có quan hệ mật thiết với dân giang hồ. Những người này đã vô tình “hạ giá” tư cách của những người cầm bút.

“Doanh nghiệp đó là của tao, mày tránh ra cho xa”.

Đang hăm hở điều tra về sai phạm của một doanh nghiệp, phóng viên của một tờ báo như chưng hửng khi đồng nghiệp gọi điện đến can thiệp. Lời qua tiếng lại, ngay chiều hôm đó, tay đồng nghiệp anh chị này dẫn hẳn một toán đầu gấu xăm trổ đầy mình đến tòa soạn để xử lý anh phóng viên kia.

Tổng biên tập tờ báo này cũng hèn, không có động thái bảo vệ “lính” của mình, cũng không gọi công an xử lý. Thế là anh phóng viên kia được một trận no đòn.

Chưa hết, sau đó, phóng viên này còn bị tay đồng nghiệp anh chị kia gọi đầu gấu tẩn thêm cho một trận thừa sống thiếu chết nữa.

Vụ việc hiện đã được trình báo lên cơ quan công an và cảnh sát hình sự đang được giao trực tiếp thụ lý vụ việc.

Trao đổi với Báo Năng lượng Mới – PetroTimes, Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung – Giám đốc Công an Hà Nội cho biết sẽ chỉ đạo xử lý nghiêm vụ việc vì đây không phải là lần đầu tiên tay phóng viên anh chị này gọi côn đồ “xử” đồng nghiệp.

Thượng tá Võ Hồng Phương – Trưởng Công an quận Đống Đa cũng cho biết đã triệu tập tay phóng viên côn đồ này và đây không phải lần đầu tiên cơ quan công an làm việc với gã.

Điều đáng thất vọng là phóng viên bị đánh cũng đã không dũng cảm, không chịu nổi áp lực, đã rút đơn tố cáo và tự “đầu hàng” trong việc bảo vệ chính mình. Tuy nhiên, cơ quan công an cũng có thể căn cứ vào hành vi và mức độ vụ việc để chủ động xử lý.

Buồn hơn là ông “sếp” của tay phóng viên có lối hành xử giang hồ kia, biết nhân viên của mình côn đồ, làm bậy nhưng cũng không xử lý gì, tệ hơn còn đứng ra dàn xếp, xin xỏ các báo không đăng bài. Rồi còn ngỏ ý để 2 bên dàn hòa mà không đưa vụ việc ra pháp luật.

Như vậy là lòi ra: Không chỉ có chuyện côn đồ đội lốt phóng viên mà còn có cả chuyện tổng biên tập để cho kẻ có máu giang hồ hoạt động trong cơ quan báo chí. Rồi lại có cả ông tổng biên tập cũng “gan thỏ đế”, nhắm mắt không dám bảo vệ quyền lợi của anh em làm báo chân chính.

Kể như vậy để biết: Nói giang hồ ám ảnh làng báo cũng không ngoa.

Nhà báo, vốn được kỳ vọng là đại diện cho cái tốt, cái đúng, đại điện cho sự thật và đứng về những người yếu thế cần bảo vệ. Nhưng trong làng báo hiện nay, đến cái thân mình, nhà báo còn không tự bảo vệ được thì còn nói gì đến chuyện bảo vệ ai?

Nguyên nhân của việc này là do làng báo tự làm yếu mình bằng việc dung nạp những người mà nghề ngỗng đâu chưa thấy, nhưng đã sớm có lối hành xử kiểu chợ búa, côn đồ.

Thế mới có chuyện nhà báo bảo kê doanh nghiệp sai phạm, bảo kê công trình xây dựng sai phép, bảo kê buôn lậu…

Thực trạng phóng viên dọa dẫm, “bóp nặn” doanh nghiệp đã được nói đến rất nhiều. Trong thời gian qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã thẳng tay xử lý rất kiên quyết đối với những tờ báo, phóng viên có việc làm sai, có trường hợp phải chuyển sang cơ quan pháp luật xử lý. Tuy nhiên, thực trạng này xem ra vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm.

Và hệ lụy là nó lan sang cả cách hành xử của những người làm báo với nhau.

Trên hết trong vấn đề này, trách nhiệm thuộc về các ông Tổng biên tập. Người đứng đầu cơ quan báo chí đã dễ dãi trong khâu tuyển dụng, lơ là trong quản lý phóng viên để các đối tượng có lối hành xử côn đồ có đất sống.

Điều này dẫn đến việc làng báo tự làm yếu, tự vấy bẩn nghề nghiệp vốn cao quý của mình.

Như Thổ

http://petrotimes.vn/news/vn/dam-luan-doi-thoai/am-anh-giang-ho-trong-lang-bao.html

Trung Quốc mời quan chức Việt Nam sang thảo luận gì?

Trung Quốc mời quan chức Việt Nam sang thảo luận gì?

Ủy viên Quốc vụ Viện Trung Quốc Dương Khiết Trì và Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh trong một cuộc họp về vấn đề Biển Đông tại Hà Nội ngày 18/6/2014.

Ủy viên Quốc vụ Viện Trung Quốc Dương Khiết Trì và Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh trong một cuộc họp về vấn đề Biển Đông tại Hà Nội ngày 18/6/2014.

VOA Tiếng Việt

Ủy viên Quốc vụ Viện Trung Quốc Dương Khiết Trì đã mời Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh sang Bắc Kinh để đồng chủ trì cuộc họp lần thứ 8 của Ban Chỉ đạo hợp tác song phương, kéo dài trong hai ngày, từ 17 tới 19/6.

Các thông tin ngắn ngủi trên báo chí nhà nước của cả hai phía hôm qua không cho biết là đôi bên sẽ thảo luận các vấn đề cụ thể gì.

Nhà nghiên cứu về quan hệ Việt – Trung, ông Dương Danh Dy, nhận định với VOA Việt Ngữ về cuộc gặp song phương này:

“Nó là cái thường lệ của hai bên. Đến hẹn thì họ lại gặp nhau thôi. Họ bàn với nhau xem kế hoạch năm sau làm cái gì và kiểm điểm năm vừa rồi làm được những cái gì. Cái này cũng không phải là vấn đề quan trọng. Phải nói thẳng là ủy ban này không quản vấn đề quan trọng.”

Phiên họp sẽ diễn ra một ngày sau khi Trung Quốc tuyên bố sẽ sớm kết thúc việc bồi đắp, xây đảo nhân tạo trên các bãi đá ở quần đảo Trường Sa theo đúng như kế hoạch đã định.

” Không khí hiện nay căng thẳng rồi. Hai bên, nhất là phía Việt Nam, cố tránh, không làm cho vấn đề căng thẳng thêm. Tình hình lúc này căng cũng chẳng giải quyết được gì cả. Những điều gì cần nói với họ mà được phép của Bộ Chính trị thì ông Bình Minh sẽ nói. Quyết định là ở bên này, chứ không phải ông Bình Minh.

Nhà nghiên cứu về quan hệ Việt-Trung Dương Danh Dy nhận xét.”

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng cho biết như vậy hôm nay tại cuộc họp báo ở Bắc Kinh, nhưng không cho biết thời gian cụ thể.

Ngoài ra, ông Lục cũng không cho hay là dự án nào trên 7 bãi đá mà Trung Quốc đang tiến hành cải tạo sẽ hoàn thành trong thời gian tới.

Trước đó, một thông cáo đăng tải trên trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói sẽ tiến hành xây các cơ sở phục vụ cho cả mục đích quân sự lẫn dân sự.

Chưa rõ là Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh có nêu vấn đề xây đảo nhân tạo của Trung Quốc trong cuộc họp với Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì hay không. Ngoài ra, không rõ là ông Minh có gặp quan chức cấp cao nào khác của Trung Quốc hay không.

Về nghị trình thảo luận giữa hai bên lần này, cựu quan chức ngoại giao Việt Nam Dương Danh Dy nói:

“Không khí hiện nay căng thẳng rồi. Hai bên, nhất là phía Việt Nam, cố tránh, không làm cho vấn đề căng thẳng thêm. Tình hình lúc này căng cũng chẳng giải quyết được gì cả. Những điều gì cần nói với họ mà được phép của Bộ Chính trị thì ông Bình Minh sẽ nói. Quyết định là ở bên này, chứ không phải ông Bình Minh.”

” Trung Quốc nói một đằng, làm một nẻo, và bây giờ nó có nói thì cũng thế thôi. Mình phản đối về ngoại giao như thế nhưng Trung Quốc nó có nói hay không nói cũng vậy thôi. Chẳng có tác dụng gì cả. Nói cho có thôi chứ, còn đối với Trung Quốc, có là cái gì đối với nó đâu mà. Nó coi trời bằng vung ấy mà. Anh hỏi Trung Quốc ấy

Ông Phan Huy Hoàng, Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Quảng Ngãi nói.”

Trong khi đó, một số nhà quan sát nhận định với VOA Việt Ngữ rằng những diễn biến gần đây trên biển Đông, nhất là việc một số ngư dân ở tỉnh Quảng Ngãi tố cáo Trung Quốc tấn công tàu cá của họ, sẽ làm phức tạp thêm cuộc gặp giữa ông Minh và ông Dương Khiết Trì.

Ông Phan Huy Hoàng, Chủ tịch Hội Nghề cá tỉnh Quảng Ngãi, cho VOA Việt Ngữ biết về vụ tố cáo tàu Trung Quốc “rượt đuổi, phun vòi rồng, tấn công và cướp ngư cụ” hôm 7 và 10/6:

“Tôi đã thông báo cho Hội nghề cá của trung ương. Người ta đã có gửi văn bản lên chính phủ báo cáo, phản đối. Trung Quốc nó nói một đằng, làm một nẻo, và bây giờ nó có nói thì cũng thế thôi. Mình phản đối về ngoại giao như thế nhưng thằng Trung Quốc nó có nói hay không nói cũng vậy thôi. Chẳng có tác dụng gì cả. Nói cho có thôi chứ, còn đối với Trung Quốc, có là cái gì đối với nó đâu mà. Nó coi trời bằng vung ấy mà. Anh hỏi Trung Quốc ấy. Đừng hỏi tôi.”

Hiện cũng chưa rõ Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam có nêu hai vụ việc xảy ra chỉ cách nhau có vài ngày này hay không.

Cuộc họp lần cuối cùng của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương diễn ra hồi tháng Mười năm ngoái tại Hà Nội, và đại diện phái đoàn của hai nước cũng là ông Minh và ông Dương.

Đó là lần thứ hai Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc tới Việt Nam sau chuyến công du hồi tháng Sáu, khi căng thẳng giữa Hà Nội và Bắc Kinh lên tới đỉnh điểm vì gian khoan dầu Hải Dương 981.

Các bức ảnh chụp tại cuộc gặp mà giới quan sát nói diễn ra vào thời điểm nhạy cảm đó cho thấy Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh thể hiện sự bất bình ra mặt với quan chức nước láng giềng phương bắc.

‘Loạn thánh, loạn thần’ ở VN tới mức nào?

‘ Loạn thánh, loạn thần’ ở VN tới mức nào?

Lang Thang Internet

Hoàng Xuân (viết cho BBC)

Cách đây mười mấy năm, có hôm tôi đi về tối thấy trên góc phố Hàng Bột (nay là đường Tôn Đức Thắng) đoạn cắt với phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội, ngay trên lề đường sáng trưng nhang đèn, người đông đen khấn vái xì xụp.

Hỏi thì biết đoạn ấy ngày xưa gọi là miếu hai cô, thờ hai cô gái nghe đồn là lao đầu vào xe điện chết hồi đầu thế kỷ 20. Đến tận năm ngoái, thành phố cho rước bát hương vào đền thờ và phá bục thờ ở lề đường đi, quây rào và cho người túc trực ở đó, dân vẫn đến cúng vái.

Bây giờ, không quá lời khi nói niềm tin của người Việt là tin búa xua. Xưa, cái thời y học chưa phát triển, ông bà nói “có bệnh thì vái mười phương”, cầu may trúng phương nào nhờ phương ấy.

Giờ, căn bệnh trong tâm của người Việt cũng rất nặng. Nó xuất phát từ thực trạng xã hội bất an, pháp luật không nghiêm minh tạo nên một đời sống quá nhiều bất trắc. Từ khi còn trong thai đến khi xuôi tay, người Việt luôn nơm nớp.

Bệnh viện quá tải và hay “nhầm”, thực phẩm bẩn, môi trường ô nhiễm, tai nạn giao thông cao nhất nhì thế giới, bạo lực trong xã hội tăng, thậm chí có một câu truyền miệng nghe có vẻ khoa trương nhưng hoàn toàn chính xác “sáng bước ra cửa, tối về đến nhà mới yên tâm mình còn sống”.

Không biết tin vào đâu, kể cả vào những hệ thống xã hội sinh ra với mục đích bảo vệ người dân, trong khi nhu cầu được trấn an lên rất cao, vậy thì phải tin ở thánh thần. Cả xã hội nháo nhác đi tìm niềm tin, bấu víu được đâu tin nấy. Tưởng như bây giờ, bất cứ cái gì cũng là thần thánh tiềm năng cả.

Một con rắn dạn dĩ ở Hà Giang, một hòn đá hình dạng khác lạ ở huyện Phú Xuyên, Hà Nội, một cái cây mọc tán lá hiếm thấy… ngay lập tức, một đám đông từ xa lắc mò tới, vái lạy.

Thậm chí mua xe hơi cũng phải có bài cúng bài bản, gồm cả đồ chay lẫn đồ mặn và nhất thiết không được thiếu bộ quần áo tế thay người lái, tùy giới tính chủ nhân mà mua đồ nam hay nữ.

Trên một diễn đàn lớn dành cho phụ nữ, có người bán xe kể về một người mua:

“Khi đi xem xe bác ấy phải đi kèm 2 người hạp tuổi hạp mạng, đi đúng 12h trưa. Rồi do thủ tục chuyển vùng bị trục trặc nên bác ấy không lấy xe được đúng theo ngày giờ chỉ đạo của vợ. Thế là vẫn đến đúng ngày giờ ấy bác sắm sửa lễ vật trái cây nhang đèn, mượn chìa khóa xe nổ máy, hướng về phía Bắc mà khấn”. Cũng chỉ để cầu bình an.

Người nghèo vái cục đá, tán cây, con rắn nước. Người giàu đến những nơi thờ phượng ngày càng to lớn và xa hoa. Cái sau phải to lớn hơn, tốn nhiều tiền hơn cái trước. Hết chùa Bái Đính nghìn tỷ đến Văn Miếu thờ Khổng Tử xây hết trên 300 tỷ đồng ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngay cả Phật giáo

Ngay cả Phật giáo vốn lấy sự đơn sơ làm nguyên lý tu tập thì bây giờ chùa cũng rực rỡ sang trọng.

Năm 2011, chùa Sùng Đức, quận Thủ Đức TP. Hồ Chí Minh có bốn pho tượng Phật bằng ngọc bích nguyên khối, mỗi pho khoảng 60 kg, mặt tượng dát vàng, phần áo phật cẩn gần 2.000 viên kim cương nhân tạo.

Thì năm sau, Đại hội Phật giáo Việt Nam hoan hỉ báo tin trong thời gian diễn ra đại hội sẽ trưng bày bức tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông cũng từ một khối ngọc bích nặng 4, 5 tấn nhập về từ Canada, phần đầu cũng thếp vàng toàn bộ, tạo tác xong còn trên 2 tấn. Dường như tượng càng to, càng đắt tiền thì chùa càng được tiếng là giàu phật tính, danh tiếng nhà chùa càng vang xa.

Ngày xưa, khi Thái tử Tất Đạt Đa rũ bỏ ngôi báu và đời sống tột đỉnh cao sang để khổ tu nhằm khuyên mọi người không thiên danh lợi, Ngài chắc không hình dung nổi ngày nay rất nhiều nhà chùa Việt Nam đã trở thành một thứ cung điện còn xa hoa hơn nhiều lần.

Con đường chánh niệm đã bị rời xa. Bản thân không ít những người tu hành mê lầm nên không đảm đương được vai trò hướng dẫn niềm tin cho cộng đồng được nữa. Bù lại, những “tôn giáo” mới đẻ ra với đủ thứ quái dạng.

Có “đạo” xui người ta mua đồ cúng tốn hết vài chục triệu, mua cả con heo quay rồi đào hố chôn tất, không được ăn miếng nào. Đồ dùng trong nhà phải dỡ ra bán sạch, lấy tiền góp cho đạo chủ. Không được làm việc.

Có “đạo” bắt người mẹ đẻ dùng kim và dùi nóng chích vào đứa con mới mấy tháng tuổi của mình đến thủng lỗ to trên người, chỉ vì nó hay khóc, “có ma nhập vào người”. Vậy mà vẫn có nhiều người tin theo, chính quyền dẹp lên dẹp xuống nhiều lần không dứt.

Tại chùa Vân Tiêu, Yên Tử (Quảng Ninh) nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông tu tập, người ta từng đặt cúng hai chiếc lộc bình trên có đôi câu thơ tả cảnh ân ái theo điến tích tình dục nổi tiếng của Trung Hoa:

“Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương/Vu sơn vân vũ uổng đoạn trường” (“Một nhành hồng thắm móc ngưng hương/Chuyện mây mưa ở Vu Sơn vốn đoạn trường” – Tiến sĩ Trần Trọng Dương, Viện nghiên cứu Hán Nôm dịch nghĩa).

“Phật hoàng ngồi ở đỉnh Vân Tiêu chơi cánh diều. Cụ chơi diều chứ chơi gì những cái Vu Sơn Vu Giáp ấy!”-ông Dương nói.

Niềm tin hời hợt

Nhưng mặc dù bề ngoài có vẻ cuồng nhiệt, thực ra niềm tin vào thần thánh ở Việt Nam là niềm tin hời hợt và nông cạn. Nói đúng hơn, những người sắm lễ hậu đi van vái vé số rơi vào đầu, đối thủ bị triệt hạ hay được phù hộ thăng chức… cũng y như đi hối lộ. Họ mặc cả, đi đêm với thánh thần và sẵn sàng ngoảy đi tìm thần thánh khác linh thiêng hơn, hoặc khi sự cầu mong của mình không được đáp ứng.

Nhiều người nhận xét Việt Nam đang ở ‘thời mạt pháp’. Ngay những việc tốt nho nhỏ thường ngày cũng bị nghi ngờ và ném đá. Hai chữ “niềm tin” xuất hiện khắp nơi trên báo chí, diễn đàn xã hội và cả những nghị quyết của Đảng theo nghĩa phải làm gì để tìm lại nó.

Nhưng ai làm, và làm như thế nào?

Từ nhiều năm nay, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn được vận động làm theo ‘tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh’.

Nhưng tấm gương này xa quá. Người ta thấy việc hạch sách bắt chẹt và tham nhũng ở các tấm gương – cũng là đảng viên- gần hơn rất nhiều: từ cô nhân viên làm giấy tờ ở phường, thuế, cảnh sát giao thông, hải quan sân bay đến những người có quyền cấp phép kinh doanh, làm dự án, cho đến những cấp cao hơn thế.

Cũng có người bị phát hiện và trừng phạt, nhưng dân gian Việt Nam có câu an ủi “Trời kêu ai nấy dạ”, việc ‘các đồng chí bị lộ’ xem ra chỉ do xui xẻo chứ không phải là hậu quả tất yếu của hành vi sai trái lẽ ra phải bị pháp luật trừng trị.

Còn các ‘đồng chí chưa bị lộ’ thì ai cũng giàu lên cực nhanh, vậy việc gì phải kiêng khem cho khổ?

Thôi thì trong thời hỗn quân hỗn quan, mình cứ đụng đâu lạy đó, cho lành!

Hãy chống Trung Quốc bằng sức mạnh ý chí

Hãy chống Trung Quốc bằng sức mạnh ý chí

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok

Cám ơn nhà báo Mặc Lâm đã thực hiện một cuộc phỏng vấn rất hay. Cám ơn Thiếu tướng Lê Văn Cương đã phát biểu rất thẳng thắn và chí lý. Tôi cũng đã viết rõ: “Việt Nam không liên minh với nước này để chống nước khác, nhưng Việt Nam cần có đồng minh trong cuộc chiến để tự vệ”.

Tôi rất tiếc trong lần gặp Thiếu tướng Lê Văn Cương ở một hội nghị Việt-Mỹ tại Đại học Johns Hopkins sau khi hai nước thiết lập quan hệ bình thường, tôi đã không có dịp trao đổi riêng với ông. Có lẽ vào thời điểm đó, hai bên còn có sự nghi ngại về quan điểm và thái độ đối với nhau.

Bài trả lời phỏng vấn của Thiếu Tướng Cương cần phổ biến thật rộng rãi ở trong nước. Cũng cần được dịch ra Anh văn để gửi cho các Đại sứ quán ngoại quốc và truyền thông quốc tế.

Lê Xuân Khoa

Có những chân lý đơn giản, hiển nhiên, bàng bạc trong tâm trí nhiều người từ lâu, nhưng khi được một nhân vật tầm cỡ nào đấy nói lên thì bỗng  nhiên trở thành chân lý phổ biến, có sức lan tỏa lớn. Thiếu tướng Lê Văn Cương đã làm được một điều như vậy đúng vào những ngày cuối tháng Giêng năm 2015 này. Ông nói đại ý: Liên minh với Mỹ là yêu cầu lịch sử của Việt Nam, không phải để tấn công một nước nào khác mà để chống lại sự xâm lược của kẻ thù truyền kiếp Trung Quốc. Thật rõ ràng, giản dị, như hai với hai là bốn, và đúng là chân lý được bảo đảm bằng vàng, bởi người nói là một nhà chiến lược quân sự uy tín, từng nghiên cứu Trung Quốc trong rất nhiều thập niên. Theo quan sát của chúng tôi, từ lâu ông cũng là người đã thoát khỏi quan điểm “đu dây” nhập nhằng cố hữu của Đảng Cộng sản.

Cám ơn Giáo sư Lê Xuân Khoa đã có nhã ý nhắc chúng tôi đăng lại bài phỏng vấn đã cũ này, với lý do đã là chân lý thì không bao giờ cũ. Nói chính xác hơn, thực tiễn nóng bỏng ở Biển Đông trong những tháng vừa qua, không khí tranh luận ở một số hội nghị bàn tròn quốc tế gần đây, cũng như việc mời đón ngọt nhạt và ký kết xỏ xiên của Tập Cận Bình đối với TBT ĐCS Việt Nam trước khi ông này đi Mỹ, cho thấy chân lý mà Thiếu tướng Lê Văn Cương đã vạch ra, đang thực sự trở thành  ý chí mạnh mẽ của người dân Việt.

Bauxite Việt Nam



Báo chí TQ có hàng loạt bài viết cho rằng từ đảo Chữ Thập quân đội của họ có thể triển khai tấn công TP-HCM chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ. RFA/Google map

Báo chí Trung Quốc lại tiếp tục gây hấn Việt Nam với những bài viết cho rằng Bắc Kinh có thể tấn công thành phố Hồ Chí Minh chỉ trong vòng 1 giờ từ đảo Chữ Thập, nơi họ công khai xâm chiếm của Việt Nam trước đây. Hành động khiêu khích nước lớn này xảy ra liên tục nói lên điều gì khi Việt Nam luôn luôn nhẫn nại chịu đựng? Mặc Lâm phỏng vấn Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Bộ Công an để tìm hiểu thêm quan điểm của một chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc.
Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng báo chí Trung Quốc đang có chiến dịch khiêu khích Việt Nam khi hàng loạt bài viết cho rằng từ đảo Chữ Thập quân đội của họ có thể triển khai tấn công TP.HCM chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ, ông nghĩ thế nào về những luận điệu này và phía sau nó là gì ạ?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Thật ra mà nói thì đây không có vấn đề gì mới. Sách lược của Trung Quốc chưa kể lịch sử 4.000 năm với họ, chỉ kể từ mùng 1 tháng 10 năm 1949 tới giờ và có lẽ mãi mãi về sau cũng thế thôi.
Trước hết chúng ta phải nhận diện họ là ai cái đã. Nói theo tiếng Nga, Trung Quốc họ là ai? (китай, кто ты?) Đến giờ chúng ta vẫn mơ hồ về chuyện này, vẫn bị một cái bóng ý thức hệ nó đè lên lợi ích dân tộc. Bản chất chính quyền Trung Quốc ở Bắc Kinh hiện nay là một chính quyền theo đường lối dân tộc Sô vanh nước lớn chứ không có phần trăm nào cộng sản cả. Làm gì có cái chuyện cộng sản như ông Marx ông Lenin khuyến khích Trung Nam Hải làm cái trò vớ vẩn như vậy được? Điều thứ nhất là phải nhận thức cho rõ.
Điều thứ hai bản chất của họ là “mềm nắn rắn buông”. Trong 2.500  năm lịch sử khi Việt Nam đứng vững thì Trung Quốc không dám lấn nhưng khi Việt Nam tỏ ra yếu kém, hèn yếu nhu nhược thì nó lấn. Đấy là quy luật mà không chỉ riêng Việt Nam cả thế giới đều thế cả, chỗ nào rắn thì bỏ chỗ nào mềm thì dấn tới.
Tôi có cảm giác rằng lãnh đạo Trung Quốc đã ngửi thấy mùi chúng ta đang lùi và đang lùi thì họ tiến thôi. Không phải bây giờ mà cách đây mười, mười lăm năm đã lùi rồi. Chuyện đe dọa tấn công thành phố Hồ Chí Minh không phải bây giờ mà trước đây họ đã có đưa ra kịch bản đánh và chia đôi Việt Nam từ Nghệ Tĩnh trở ra là một phương án, chia đôi Việt Nam từ Nam Trung Bộ là một phương án và người ta làm rất nhiều rồi chứ không phải bây giờ đâu ạ.
Các phương án ấy chuẩn bị đầy đủ và được tung ra trên báo Hoàn Cầu và các báo khác để thử xem phản ứng của Việt Nam thế nào. Ở Việt Nam còn khối người còn sợ Trung Quốc, đến giờ phút này vẫn sợ. Cho nên đây là đòn gió nếu mà sợ thì nó làm thật, còn không sợ thì họ sẽ tính lại. Cái trò của Trung Quốc là vừa nắn vừa thăm dò nhưng cái này không có gì mới cả đâu ạ, bản chất Trung Quốc là thế rồi. Điều thứ ba tôi muốn nói là không có gì mới.
Điều thứ tư là chúng ta phải phản đối vì chúng ta không phản đối thì họ tiếp tục. Phản đối có nhiều cách. Tờ Hoàn Cầu là báo của đảng chứ không phải là báo lá cải vì vậy Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương Đảng phải gửi công hàm cho Trung Quốc hỏi họ xem tại sao các ông lại có những việc như vậy? Những việc này đi ngược lại tuyên bố của ông Tập Cận Bình đã ký với ông Trương Tấn Sang vào tháng 6 năm 2013. Nó cũng đi ngược lại tuyên bố của ông Lý Khắc Cường ký với ông Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 10 năm 2013.
Mấy chuyện này thì phải nói chứ chúng ta im lặng như thế là sao? Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh phải gửi công hàm cho Vương Nghị yêu cầu các ông không nên tung những loại như vậy lên báo chí, làm cho người Việt Nam hiểu sai Trung Quốc và kích động lên chủ nghĩa dân tộc, nó đi ngược lại những điều các ông cam kết. Chúng ta phải phản đối chứ? Tại sao chúng ta không phản đối, thiếu gì cách? Cho nên nếu chúng ta lùi thì họ tiến, cuộc đời chỉ đơn giản như vậy thôi. Có lẽ Trung Quốc đang cảm thấy Việt Nam đang lùi đang sợ họ thì họ lấn chứ có gì đâu!
Khi Việt Nam đứng vững thì họ không làm gì hết. Chín mươi triệu người chứ không phải chín trăm ngàn người. Chín mươi triệu người là một khối sắt đá bất khả xâm phạm. Nhưng chín mươi triệu người rời rạc thì không bằng chín trăm ngàn người cố kết với nhau, quan điểm của tôi không có gì mới cả.
Sau 44 năm tôi nghiên cứu Trung Quốc thì cái trò này không có gì. Tôi rất buồn vì không biết tại sao chúng ta không có phản ứng. Bây giờ các nhà khoa học có nói đến đâu.
Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng, về câu hỏi tại sao chúng ta không có bản lĩnh có thể xuất phát từ các vấn đề yếu kém nội tại của chúng ta như vũ khí, kinh tế, tiền bạc và là một nước nhỏ cho nên chính phủ có thể là đang…
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Hoàn toàn không phải, hoàn toàn không phải… anh nhớ rằng năm 938 Ngô Quyền dành độc lập trong trận Bạch Đằng thì lúc ấy sức mạnh nhà Tống là hai mươi mà Việt Nam chỉ có một. Cái trận Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt năm 1077 khi ấy phương Bắc là ba mươi mà ta chỉ một. Trận Xương Giang Chí Linh năm 1426 Lê Lợi, Nguyễn Trãi khi ấy triều đại rực rỡ nhất Trung Quốc cũng là ba mươi ba với một nhưng Việt Nam cũng vẫn thắng đấy ạ. Đấy là chưa nói trận nhà Thanh năm 1789 với Nguyễn Huệ đánh không còn cái lai quần, khi ấy nhà Đại Thanh đang ghê gớm lắm ta vẫn thắng cơ mà… cho nên không phải! không phải vì ta thiếu vũ khí, ta thiếu người.
Có lẽ chúng ta thiếu ý chí, có lẽ như vậy. Chính cái này mới quan trọng chứ chạy theo vũ khí thì 1.000 năm nữa Việt Nam vẫn không bì với Trung Quốc được. Phải có ý chí, phải có bản lĩnh chính trị, phải có quyết tâm chính trị. Cái này Trung Quốc mới sợ chứ làm sao trang bị mà đuổi kịp họ? Trung Quốc bây giờ đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Nga, họ chỉ sợ ý chí của Việt Nam thôi.
Ý chí người dân quy tụ chín mươi triệu người trong nước và tám tỷ người trên hành tinh này, đấy là sức mạnh vô địch mà Trung Quốc không thể muốn làm gì thì làm được. Chứ còn mấy cái tàu ngầm thì có đủ sức răn đe gì đâu, không ăn thua. Tất nhiên vẫn phải sắm, vẫn phải có máy bay, tàu ngầm tên lửa nhưng những cái này không có ý nghĩa gì cả. Nếu như chín mươi triệu người mà rời rạc không quy tụ về một mối thì tất cả vũ khí đều chẳng có ý nghĩa gì hết.
Trung Quốc không bao giờ sợ Việt Nam trang bị những loại tàu ngầm tên lửa vớ vẩn ấy. Họ sợ nhất là 90 triệu người này một khối sắt đá.
Mặc Lâm: Xin Thiếu tướng một câu hỏi nữa là một trong các biện pháp đối phó với Trung Quốc thì người trong nước cho rằng Việt Nam nên liên minh với các nước trong khu vực để tạo thành một sức mạnh nhằm đối phó với Trung Quốc hữu hiệu hơn, ông thấy ý tưởng này đưa ra vào thời điểm hiện nay có thích hợp hay không?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Thật ra mà nói thì thế này, cứ chơi bài ngửa, chỉ liên minh với Mỹ thôi chứ ASEAN như một bị khoai tây chẳng ý nghĩa gì đâu. Nga bây giờ cũng đang khốn nạn đừng hy vọng gì ở Nga nữa, lợi ích của họ là tối thượng. Ấn Độ thì ốc mang mình ốc chưa nổi nữa thì làm sao? Duy nhất trên hành tinh này chỉ có mình Mỹ thôi. Mở rộng quan hệ hợp tác với Mỹ mở toang cánh cửa ra. Phải tiến tới quan hệ Mỹ Việt mà trên bạn bè dưới liên minh, cứ nói thẳng như thế.
Trung Quốc phải hiểu thấu người Trung Quốc, Trung Quốc rất sợ Mỹ. Trên hành tinh này Trung Quốc chỉ sợ Mỹ thôi. Bây giờ cho ăn kẹo Bắc Kinh cũng không dám đụng tới Mỹ vì đụng tới Mỹ là tự sát. Bản chất của họ là dọa nạt cưỡng bức những kẻ yếu chứ còn đối với kẻ mạnh như Mỹ thì cho họ ăn kẹo chocolate họ cũng không dám đụng tới Mỹ.
Bây giờ đặt ra cuộc thảo luận nói thẳng như thế này chứ không giấu giếm gì cả. Chúng ta không  liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc, hoàn toàn không, nhưng cùng tạo một sức mạnh như thế khi cần thiết thì ứng phó với hành động của Trung Quốc. Nói thẳng với Trung Quốc chơi bài ngửa: Việt Nam không liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc nhưng chúng tôi cần sức mạnh của Mỹ để răn đe mọi thế lực ngoại bang muốn xâm lược Việt Nam.
Nhà nước phải chơi bài ngửa với người dân, công khai và minh bạch. Với thế giới cũng thế.
Mặc Lâm: Xin cám ơn Thiếu tướng rất nhiều về những bộc bạch này.
M.L
Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/fight-cn-wt-pwr-of-wills-01292015052321.html

Tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc tấn công gần Hoàng Sa

Tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc tấn công gần Hoàng Sa

Một chiếc thuyền của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần quần đảo Hoàng Sa hồi tháng 5/2014. Đã xảy ra nhiều vụ đụng độ của các tàu Trung Quốc với tàu của ngư dân Việt ở khu vực này.

Một chiếc thuyền của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần quần đảo Hoàng Sa hồi tháng 5/2014. Đã xảy ra nhiều vụ đụng độ của các tàu Trung Quốc với tàu của ngư dân Việt ở khu vực này.

15.06.2015

Tàu cá Việt Nam đụng độ với tàu Trung Quốc gần quần đảo Hoàng Sa hồi tuần trước, nêu bật những căng thẳng đang sôi sục giữa hai nước cộng sản, ngay giữa lúc lãnh đạo hai bên đang thảo luận việc cải thiện mối quan hệ song phương.

Hãng tin Bloomberg hôm 14/6 tường thuật rằng tàu Trung Quốc đã phun vòi rồng gây hư hại cho 1 tàu cá Việt Nam hôm 7 tháng 6, trong khi tờ Thanh Niên hôm qua tường thuật rằng 3 ngày sau sự cố vừa kể, một tàu cá Việt Nam khác bị tấn công, sau đó nhiều thiết bị và số lượng cá đánh bắt được trên chiếc tàu đều bị tịch thu.

Báo Lao Động cho biết tàu đầu tiên là tàu cá QNg 95193 TS do ông Phạm Trung Kiên thuộc xã Bình Châu, làm chủ.

Tờ Thanh Niên hôm qua thuật lời ngư dân trên hai tàu cá Việt Nam cho biết họ đã bị tàu Trung Quốc tấn công trong khi đang hoạt động trên ngư trường truyền thống gần quần đảo Hoàng Sa.

Báo này trích lời một ngư phủ tên Bùi Tấn Đoàn, 23 tuổi, thuật lại rằng anh và một thuyền viên khác tên Cao Xuân Ly, bị thương sau khi tàu Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu của anh trong suốt 2 giờ đồng hồ hôm 7 tháng 6. Trên tàu lúc đó có 13 ngư dân.

Trả lời phỏng vấn của tờ Thanh Niên hôm thứ Bảy sau khi trở về quê ở Quảng Ngãi, anh Đoàn cho biết thân tàu bị hư hại, và tàu bị tràn nước.

Anh Đoàn kể rằng thuyền viên Việt Nam đã ra dấu hiệu xin tàu Trung Quốc ngưng xịt nước, nhưng cuộc tấn công vẫn tiếp tục giữa lúc những người trên tàu tìm cách tát nước ra khỏi tàu. Anh Đoàn cho biết xương chân trái của anh bị gãy và bác sĩ nói anh sẽ không đi được trong 3 tháng tới.

Trong một vụ việc khác hôm 10 tháng 6, chủ chiếc tàu thứ nhì bị tấn công, thuyền trưởng Nguyễn Văn Phú thuật lại rằng anh cùng 10 thuỷ thủ trên tàu bị tấn công và tài sản cũng bị tịch thu.

Anh Phú, 29 tuổi, nói 4 tàu Trung Quốc đã bao vây tàu cá của anh có số hiệu QNg 90657 TS. Từ trên tàu 6 người Trung Quốc đã xuống 2 tàu có màu trắng sọc đỏ trên thân có ghi chữ Trung Quốc, rồi lao về phía tàu cá Việt Nam, kẹp chiếc tàu này từ 4 phía.

Báo chí Việt Nam kể rằng các thuyền viên trên tàu cá Việt Nam “bị dồn về phía mũi tàu, rồi bị dùng áo trùm đầu”. Sau đó tàu bị cướp hết tôm cá, phía Trung Quốc đã phá hỏng nhiều dụng cụ trên tàu trước khi bỏ đi. Theo báo Lao Động, số hải sản, trang thiết bị bị cướp phá ước lượng lên tới 550 triệu đồng.

Các vụ đụng độ như thế này này đã trở nên thường xuyên hơn quanh quần đảo Hoàng Sa, nơi có sự hiện diện hùng hậu của các tàu Trung Quốc.

Giáo sư Lê Hồng Hiệp thuộc Viện Đại học Quốc gia ở Saigon nói rằng những vụ chạm trán ấy ‘đã diễn ra từ lâu, nhưng mãi tới bây giờ mới được tường thuật bởi vì chính phủ Việt Nam muốn lên tiếng phản đối và tìm cách bảo vệ ngư dân.’

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hứa sẽ tài trợ cho ngư dân để xây tàu chắc chắn hơn để có thể tự vệ tốt hơn.

Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình hôm 11/6 nhắc lại rằng nhà chức trách Việt Nam đã ‘có các biện pháp cần thiết’ để tăng sức ép buộc tàu thăm dò dầu khí Trung Quốc, tàu 517, rời khỏi vùng biển của Việt Nam.

Nguồn: Bloomberg, Tuoi Tre, Thanh nien.

Cách Mạng Mùa Thu: Oán thù chồng chất!

Cách Mạng Mùa Thu: Oán thù chồng chất!

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

Năm 2015 này đánh dấu 70 năm kể từ Việt nam dành lại được nền tự chủ độc lập thóat khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp sau biến cố đảo chính vào ngày 9 Tháng Ba, 1945 (1945 – 2015). Nhưng đến ngày 19 Tháng Tám năm đó, thì người Việt Minh Cộng Sản lại tổ chức một “cuộc cướp chính quyền” và tuyên bố ngày đó là khởi sự cho “Cách Mạng Mùa Thu” ở nước ta – theo khuôn khổ “Cách Mạng Tháng Mười” của Liên Xô bắt đầu vào năm 1917.

Sau 70 năm, thời gian đã đủ nguôi ngoai lắng đọng để cho người Việt chúng ta có thể bình tâm luận định về biến cố lịch sử đày dãy những tang thương thống khổ – với biết bao nhiêu máu và nước mắt của hàng triệu người lương dân vô tội đã đổ ra tại khắp nơi trên quê hương đất nước mình.

Nói chung, thì cũng chỉ vì cái chủ trương cuồng tín quá khích gọi là “bạo lực cách mạng”, “chuyên chính vô sản” mà người cộng sản du nhập từ Liên Xô và Trung Cộng vào đất nước ta ngay từ năm 1945, nên mới xảy ra bao nhiêu cuộc thảm sát hàng lọat những người quốc gia yêu nước mà người cộng sản gán cho đủ các thứ nhãn hiệu xấu xa như : “ quân ngụy”, “việt gian”, “phản quốc”, “phản động”, “lưu manh”,“tay sai ngọai bang” v.v… Để rồi họ ra tay truy lùng, trừ diệt khủng bố cực kỳ dã man tàn bạo, không mảy may xót xa thương tiếc đối với người anh em cùng một nòi giống da vàng máu đỏ như chính mình.

Bài viết này nhằm ghi lại những cuộc thảm sát rùng rợn đó và tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của những hành vi cực kỳ tàn ác man rợ do người cộng sản cố tình gây ra ngay kể từ lúc họ mới nắm được chính quyền trong tay kể từ năm 1945 cho đến ngày nay. Xin trình bày một số vụ thảm sát điển hình theo thứ tự thời gian xảy ra lần lượt tại khắp các miền Trung, Nam, Bắc.

I-Những cuộc khủng bố tàn sát man rợ do người cộng sản gây ra tại khắp các nơi trong nước.

1-Vụ thảm sát tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi Tháng Tám và Tháng Chín, 1945.

Ngay sau khi Việt Minh Cộng Sản chiếm được chính quyền trong tay vào Tháng Tám, 1945, thì tại nhiều làng xã thuộc các huyện Bình Sơn, Đức Phổ, Mộ Đức, Nghĩa Hành trong tỉnh Quảng Ngãi đã đồng lọat xảy ra các cuộc tàn sát tập thể (mass killing) tổng cộng lên đến gần 3,000 tín đồ Cao Đài. Có vùng người dân “bị giết hết cả già trẻ lớn bé mà mồ chôn tập thể cùng khắp các miền quê…” Sự việc này đã được Giáo Hữu Ngọc Sách Thanh tại Hoa Kỳ trình bày chi tiết trước Ủy Hội Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc gần đây vào Tháng Tư, 1999.

Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài có bảng liệt kê danh tánh các nạn nhân lên đến con số 2,791 người. Và trong tài liệu nghiên cứu có nhan đề là “Colonial Caodaists” do sử gia Janet Hoskins biên sọan, thì cũng ghi nhận con số 2,791 nạn nhân này. Danh sách này cũng được ghi nơi Đài Tưởng Niệm thiết lập từ năm 1956 tại Quảng Ngãi – mà sau năm 1975 chính quyền cộng sản đã cho triệt hạ phá bỏ hết tất cả mọi dấu tích đi.

Người đồ tể khét tiếng trong vụ thảm sát này có tên là Đặng Bửu sau này giữ chức vụ hiệu trưởng Trường Chính Trị Nguyễn Ái Quốc ở Hà nội.

So với cuộc thảm sát tại Huế hồi Tết Mậu Thân 1968, thì cuộc tàn sát này tại Quảng Ngãi năm 1945 cũng thật là khủng khiếp ghê rợn không kém – nhưng mà nó lại ít được công chúng ở miền Nam trước năm 1975 biết đến. Nhưng có dấu hiệu lạc quan là gần đây giới học giả quốc tế cũng đã có điều kiện tìm hiểu nhiều về vụ thảm sát năm 1945 này.

Nhân tiện, cũng xin ghi thêm là nhà ái quốc Tạ Thu Thâu cũng đã bị Cộng Sản giết hại tại Quảng Ngãi hồi mùa thu năm 1945, vào lúc ông trên đường trở lại miền Nam sau cuộc viếng thăm miền Bắc vài tháng trước đó.

2-Những vụ khủng bố tiêu diệt người quốc gia yêu nước tại miền Nam trong thời gian từ 1945 đến 1947.

Tại miền Nam vào năm 1945, thì tuy không có vụ tàn sáp tập thể có quy mô lớn như tại Quảng Ngãi, nhưng lại có vô số những cuộc ám sát khủng bố giết hại những người quốc gia yêu nước do cán bộ cộng sản theo khunh hướng Đệ Tam Quốc Tế gây ra. Và tổng số các nạn nhân bị giết hại trong các năm 1945, 1946 và 1947 có thể lên đến hàng nhiều ngàn người.

Cụ thể là những nhân vật trí thức có tên tuổi thuộc khuynh hướng Đệ Tứ Quốc Tế (thường được gọi là Trotskystes) thì đều bị giết hại như: Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Phan Văn Hùm v.v… Còn phải kể đến những vị lãnh đạo chính trị nổi tiếng cũng đều bị Cộng Sản chém giết, điển hình như nhân sĩ Bùi Quang Chiêu, vợ chồng bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và Nguyễn Thị Sương, luật sư Dương Văn Giáo. v.v…

Tệ hại nhất là vụ sát hại Giáo Chủ Hùynh Phú Sổ người sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo ở miền đồng băng sông Mekong – do người Cộng Sản thực hiện vào Tháng Tư, 1947. Sự việc động trời này đã gây ra mối hận thù dai dẳng kinh khiếp cho hàng triệu tín đồ Hòa Hảo tại khắp miền Nam.

Đối với các tín đồ Cao Đài tại miền Đông Nam Bộ cũng vậy, cán bộ Cộng Sản cũng ra tay tàn sát đến cả hàng ngàn nạn nhân nữa.

Chỉ riêng có một ngày 13 Tháng Mười, 1947, thì đã có đến con số 300 nạn nhân bị Việt Minh Cộng Sản ra tay sát hại tại khu vực Hóc Môn, Thủ Đức chỉ cách thành phố Sài Gòn có chừng vài chục cây số mà thôi.

Người chủ chốt phát động các cuộc tàn sát này chính là Tướng Nguyễn Bình (tên thật là Nguyễn Phương Thảo) do Trung Ương ở Hà Nội phái vào miền Nam để phụ trách điều hành guồng máy chính trị và quân sự tại đây.

3-Những vụ sát hại các thành viên ưu tú của các đảng Đại Việt, Duy Dân và Quốc Dân Đảng ở miền Bắc.

Tại miền Bắc, thì các đảng phái quốc gia như Đại Việt, Duy Dân, Quốc Dân Đảng đều lần lượt bị người Cộng Sản dùng mọi thủ đọan tàn bạo thâm độc mà tiêu diệt cho bằng hết. Điển hình là các lãnh tụ nổi danh như Trương Tử Anh của Đại Việt, Lý Đông A của Duy Dân và vô số những đảng viên ưu tú khác của Quốc Dân Đảng cũng đều bị ám hại bằng cách thủ tiêu hay giam giữ ngặt nghèo trong các trại tù đến nỗi phải bỏ xác nơi xa xôi hẻo lánh – mà thân nhân không hề được thông báo để lo việc ma chay chôn cất và cúng giỗ. Có thể nói tổng số nạn nhân bị sát hại như vậy ở miền Bắc trong thời gian từ năm 1945 đến 1954 phải lên đến con số nhiều ngàn người.

Xin ghi lại vài trường hợp bị bắt giam rồi bị sát hại rất thương tâm của mấy nhân vật rất nổi tiếng như sau:

A-Nhà văn Khái Hưng.

Khái Hưng là một nhà văn nổi tiếng từ thập niên 1930 trong Nhóm Tự Lực Văn Đòan do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khởi xướng. Vào năm 1940, Khái Hưng và họa sĩ Nguyễn Gia Trí bị thực dân Pháp bắt đi an trí tại vùng quê xa Hà nội. Năm 1947, ông đang ở nhà nhạc phụ trong huyện Trực Ninh, Nam Định, thì bị công an Việt Minh đến bắt đi và sát hại rồi vất xác xuống dòng sông Ninh Cơ chỗ gần bến đò Cựa Gà.

B-Bộ trưởng Chu Bá Phượng.

Ông Chu Bá Phượng sinh năm 1908 tại Bắc Giang là một kỹ sư đã từng tham gia vào công trình thiết lập đường xe lửa Đông Dương vào hồi thập niên 1930. Ông còn là một người trong thành phần lãnh đạo nòng cốt của Quốc Dân Đảng. Năm 1946, ông Chu Bá Phượng giữ chức bộ trưởng Kinh Tế trong Chính Phủ Liên Hiệp trong đó có ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch, ông Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch, ông Nguyễn Tường Tam làm bộ trưởng Ngọai Giao. Cuối năm 1946, vì các nhân vật quốc gia như Bảo Đại, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam đều đào thóat ra nước ngòai, nên chỉ còn có một mình ông Chu Bá Phượng bị kẹt lại và phải đi theo văn phòng chính phủ di tản lên chiến khu ở Việt Bắc.

Không bao lâu sau, ông Phượng bị đem đi quản chế ngặt nghèo tại vùng Hà Giang, Sơn La. Và từ cuối năm 1960, thì gia đình ông ở Hà Nội không hề nhận được bất kỳ tin tức nào của ông nữa. Mấy chục năm sau vào đầu thập niên 1990, con cháu mới nhờ người sử dụng ngọai cảm mà tìm được hài cốt của ông tại nơi rừng núi hoang vắng vùng Việt Bắc giáp giới với Trung Quốc và cải táng đem về quê nhà ở miền xuôi.

Giám đốc công an ở miền Bắc thời đó chính là ông Lê Giản, ông này phải chịu trách nhiệm nghiêm trọng về các cuộc đàn áp và giết chóc này.

II-Tìm hiểu nguyên do tại sao người cộng sản lại gây ra những vụ tàn sát với quy mô rộng lớn khủng khiếp như thế?

Trước khi đi sâu vào vấn đề, ta cần phải tĩnh trí để nhận định tình hình xã hội chính trị thực tế ở nước ta vào thời kỳ trước năm 1945 đại khái như thế này:

1-Không hề có sự ân óan thù hận nào giữa người cộng sản với người không Cộng Sản cả. Bởi lẽ vào lúc đó, tất cả hai nhóm đều là những người yêu nước và cùng hành động giống nhau là chống thực dân Pháp. Như vậy là tất cả đều ở cùng chung một phe để đối nghịch chống lại cái ách đô hộ của người Pháp để cùng dành lại nền độc lập tự chủ cho người Việt Nam. Và cả hai nhóm đều bị chính quyền Pháp đàn áp, bị bắt giam chung với nhau trong cùng một nhà tù nữa. Vì cùng có tinh thần yêu nước như nhau, lại cùng là nạn nhân khốn khổ vì sự tàn ác của đế quốc thực dân, cho nên giữa người cộng sản và không cộng sản lúc đó lại có sự thương yêu đùm bọc liên đới gắn bó chặt chẽ với nhau nữa.

Điều này khác hẳn với hai phe Quốc Gia và Cộng Sản ở bên Trung Quốc, vì hai phe đánh phá giành giật, giết chóc lẫn nhau suốt trong mấy chục năm kể từ cuối thập niên 1920 cho đến năm 1949, thì phe Cộng Sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo mới tòan thắng và buộc phe Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu phải rút lui qua đảo Đài Loan. Từ đó mà phe Cộng Sản thắng trận phát động chiến dịch trả thù những người thua trận nào mà còn bị kẹt lại ở nội địa Trung Quốc. Tình trạng này chỉ xảy ra tại Việt Nam năm 1975 sau khi quân đội Cộng Sản từ miền Bắc xâm chiếm được tòan thể lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa.

2-Ấy thế mà tại sao vào năm 1945, khi có chính quyền nắm trong tay được rồi, thì người Cộng Sản lại ra tay tận diệt người quốc gia một cách tàn bạo man rợ đến thế?

Câu trả lời cho vấn nạn này có thể thật ngắn gọn như sau: Đó là do họ áp dụng triệt để cái chủ trương “Bạo Lực Cách Mạng” (the Revolutionary Violence) mà họ học tập được từ Trung Ương Đệ Tam Quốc Tế Comintern do Liên Xô lãnh đạo.

Ngay từ thập niên 1920 cho đến năm 1945, thì đã có đến hàng trăm cán bộ cao cấp của đảng Cộng Sản Việt Nam được đào tạo rất bài bản tại Trường Đông Phương tại Moscow do Comintern điều hành. Tại đây, họ được học rất kỹ về kỹ thuật gọi là “agitprop = agitation – propaganda” – tức là tổ chức vận động quần chúng, tuyên truyền và đặc biệt về phương thức gây bạo lọan để tạo thời cơ cướp chính quyền. Họ cũng học được kỹ thuật xây dựng guồng máy công an mật vụ theo mô hình của Liên Xô để kềm kẹp dân chúng một khi họ đã nắm giữ được chính quyền.

Nói vắn tắt là Cộng Sản Việt Nam được Comintern đào tạo hương dẫn rất kỹ về mọi thủ đọan tinh vi để thiết lập được một chế độ độc tài chuyên chính vô sản (proletarian dictatorship). Do đó mà họ đã không từ bỏ bất kỳ một thủ đọan tàn ác vô nhân đạo nào – miễn sao đạt được mục đích tối hậu của đảng Cộng Sản là nắm vững được chính quyền trong gọng kềm sắt thép của mình.

Trái lại, các đảng phái quốc gia khác, thì không hề có được sự huấn luyện đào tạo hay sự yểm trợ vật chất tinh thần nào từ phía ngọai quốc tương tự như của Comintern cấp phát dồi dào cho đảng cộng sản Việt Nam.

Do đó mà từ năm 1945, Cộng Sản đã mặc sức tung hòanh ở Việt Nam với đủ mọi thứ đòn phép thâm độc và quỷ quyệt để vô hiệu hóa và tiêu diệt được mọi sức đối kháng của các đảng phái quốc gia hay của các tổ chức tôn giáo.

III-Tóm lược

Ta có thể tóm lược bài viết này bằng mấy nét chính yếu như sau:

1-Trước năm 1945, những người yêu nước dù là Cộng Sản hay không Cộng Sản, thì đều cùng theo đuổi một mục tiêu là đánh đổ chế độ thực dân Pháp để giành lại nền độc lập cho Việt Nam.

Thế nhưng, từ khi người Cộng Sản nắm giữ được quyền hành trong tay, thì ngay tức khắc họ ra tay tiêu diệt những người yêu nước khác để dành độc quyền riêng cho mình trong mọi lãnh vực chính trị, kinh tế cũng như văn hóa tinh thần. Đó là một thứ độc tài chuyên chế tòan trị (totalitarian dictatorship).

Hâu quả tai hại trầm trọng nhất của chủ trương này là đã phá hoại tận gốc rễ cái nền nếp nhân bản, nhân ái truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta.

2-Dĩ nhiên là trong cái xã hội do thực dân, phong kiến tạo lập ra, thì có đầy rẫy những bất công áp bức. Nhưng vì người Cộng Sản đã cuồng tín du nhập cái chủ trương “hận thù giai cấp”, “bạo lực cách mạng” của Liên Xô và Trung Quốc vào đất nước ta, cho nên mới gây ra không biết bao nhiêu tang thương khổ nhục chết chóc cho tòan thể dân tộc ròng rã suốt 70 năm qua.

Như cha ông chúng ta từ xưa vẫn cảnh báo rằng “Lấy óan báo óan, óan ấy chập chùng”. Thì rõ ràng từ năm 1945 đến nay, đảng Cộng Sản đã liên tiếp gây ra biết bao nhiêu điều oan trái, khốn khổ cho cả hàng mấy chục triêu gia đình lương dân vô tội. Đó là một cái tội tày đình mà “Trời không dung, Đất không tha” cho người Cộng Sản vẫn còn cực kỳ ngoan cố mãi được.

3-Bài viết này là một lời nhắc nhở cho giới lãnh đạo chóp bu Cộng Sản ở Hà Nội phải biết phục thiện và thành khẩn công khai nhận lỗi của mình trước tòan thể dân tộc và dám có can đảm nói lên sự xám hối ăn năn về các tội ác man rợ kinh khủng như thế.

Có làm được như vậy, thì họ mới xứng đáng đón nhận được sự khoan dung tha thứ của đại khối dân tộc Việt Nam vậy./

Westminster California, Tháng Sáu 2015

Tài liệu tham khảo

Bài viết này được xây dựng trên những chứng từ của một số gia đình nạn nhân bị cộng sản sát hại với sự tham khảo từ một số bài nghiên cứu nghiêm túc mới đây của các chuyên gia sử học quốc tế. Cụ thể xin được trưng dẫn ra như sau đây :

1-Nhiều thư của ông Chu Bá Phượng viết về cho con vào cuối thập niên 1950 lúc ông bị quản chế tại Việt bắc. Búc thư sau cùng viết vào cuối năm 1960, sau đó thì biệt tăm luôn.

2-Thông tin do gia đình cụ Lê Quang Sách cung cấp. Cụ Sách năm nay đã 88 tuổi, cụ là người thóat chết trong vụ thảm sát gần 3,000 tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi vào Tháng Tám và Tháng Chín, 1945.

3-Về các tư liệu lấy từ Internet, thì đặc biệt có các tài liệu sau đây:

A-Vụ tàn sát tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi vào Tháng Tám và Tháng Chín, 1945 (tiếng Việt). Do tổ chức của Giáo Hội Cao Đài phổ biến trên Trang Nhà “Hành Trình về Chân Lí Đạo” vào ngày 21/3/2015.

B-“Caught between Propaganda and History” by Shawn McHale, 2014. Tài liệu dài 10 trang là bài Điểm sách về cuốn “Lịch sử Nam bộ Kháng chiến” được đăng trong Tủ sách “Cold War International History Project”

C-“Autopsy of a Massacre” – “On a Political Purge in the Early Days of the Indochina War” (Nam Bộ 1947)  by Francois Guillemot, 2010. Tài liệu này dài 40 trang là một bài nghiên cứu rất công phu về sự khủng bố và tàn sát vì lí do chính trị ở miền Nam được đăng trong European Journal of Asian Studies.

D-“The Viet Minh Elimination of National Parties and Groups (1945-47)” by Human Rights Watch, April 23, 2013. Tài liệu dài 17 trang viết chi tiết về việc Việt minh tiêu diệt các đảng phái chính trị tại miền Nam trong giai đọan 1945 – 1947./

Đoàn Thanh Liêm

Pháp phá vụ buôn lậu ngà voi lớn dính tới Việt Nam

Pháp phá vụ buôn lậu ngà voi lớn dính tới Việt Nam

Giá ngà voi đã tăng nhanh chóng mặt trong những năm gần đây, lên mức khoảng hơn 1.500 đôla Mỹ một kg (khoảng 30 triệu đồng).

Giá ngà voi đã tăng nhanh chóng mặt trong những năm gần đây, lên mức khoảng hơn 1.500 đôla Mỹ một kg (khoảng 30 triệu đồng).

Quan chức hải quan Pháp hôm 11/6 cho biết đã chặn đứng việc vận chuyển 136 kg ngà voi từ Cộng hòa Dân chủ Congo trên đường tới Việt Nam.

Đây là lần ngăn chặn vụ vận chuyển ngà voi lậu lớn nhất ở Pháp trong gần một thập kỷ. Hồi tháng 12 năm 2006, giới hữu trách nước này cũng đã phát hiện 600 kg “vàng trắng”

Hơn một chục ngà voi được cưa thành 37 miếng nhỏ, và  được giấu trong các thùng phía dưới các đĩa nhôm nhằm tránh bị máy soi phát hiện.

Đồ thủ công mỹ nghệ chế biến từ ngà voi vẫn là những mặt hàng “ăn khách” ở các quốc gia châu Á như Việt Nam, Thái Lan, và Trung Quốc.

Giá ngà voi đã tăng nhanh chóng mặt trong những năm gần đây, lên mức khoảng hơn 1.500 đôla Mỹ một kg (khoảng 30 triệu đồng).

Các nhà hoạt động cho rằng việc mua bán lậu ngà voi đã đẩy đàn voi hoang ở châu Phi tới cảnh tuyệt chủng.

Điểm mặt

Ngoài việc nhiều gia đình người Việt sử dụng ngà voi để trang trí trong nhà, Việt Nam thời gian qua đã bị nhắc tên nhiều trên truyền thông quốc tế vì tình trạng mua bán sừng tên giác và các loại động vật hoang dã khác để làm thuốc.

Các nhân vật tranh đấu bảo vệ môi trường đề nghị áp dụng các biện pháp chế tài thương mại đối với Việt Nam vì Hà Nội đã không hành động để chống lại nạn mua bán sừng tê giác.

Báo cáo của các tổ chức bảo vệ môi trường nói rằng có “các bằng chứng  cho thấy Việt Nam và các nhân viên ngoại giao Việt Nam nằm ở trung tâm của một hoạt động mua bán sừng tê giác bất hợp pháp qui mô lớn, góp phần gây ra vụ khủng hoảng săn bắt tê giác trái phép lớn nhất trong vòng hơn 30 năm.”

Tuy nhiên, các giới chức Việt Nam đã phủ nhận tố cáo cho rằng Việt Nam là động lực thúc đẩy các hoạt động mua bán sừng tê giác trái phép.

Theo AFP, VOA

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đã ngưng tuyệt thực

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đã ngưng tuyệt thực

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-06-14

06142015-polit-pris-ta-p-tan-stop-hunger.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5

File photo

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần được gia đình cho biết tuyệt thực trong trại giam từ ngày 13 tháng 5. Hôm nay 14 tháng 6, thân nhân đến Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa để tìm hiểu tình hình thực tế của cô và được biết cuộc tuyệt thực đã ngưng cách đây 10 hôm.

Tuy nhiên tình trạng giam giữ đối với những tù nhân chính trị ở Việt Nam vẫn đáng quan ngại; và biện pháp tuyệt thực để đấu tranh trong nhà tù như của cô Tạ Phong Tần vừa qua luôn được nhiều người quan tâm đồng hành.

Tin mới nhất

Những người quan tâm đến tình hình của tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần trong suốt tháng qua tỏ ra lo lắng về sức khỏe của cô. Trong chuyến đi thăm cô lần này ngoài hai người em là anh Tạ Minh Tuấn và chị Tạ Minh Tú còn có một số nhà hoạt động khác ở Việt Nam cùng đi.

Người trực tiếp được gặp tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần là cô em Tạ Minh Tú. Sau khi thăm gặp chị từ trại giam ra, chị Tạ Minh Tú cho biết thông tin mới nhất:

“Tình hình ổn rồi, chị Tần ngưng tuyệt thực từ ngày 4 tháng 6. Hôm  nay có những anh chị ủng hộ con đường dân chủ nhân quyền cũng chung chí hướng với chị Tần ủng hộ đến ngay trước trại giam đễ cùng đòi hỏi quyền lợi được gặp chị và khuyên chị ngưng tuyệt thực.

Trong đó khi gặp tôi cũng báo cho chị là các anh chị 3 miền tụ về để ủng hộ cho chị và bên ngoài người ta đang có cuộc vận động từ trong và ngoài nước ( yêu cầu) nhà cầm quyền phải trả tự do cho chị Tần. Chị gửi lời cám ơn.

” Chị Tần ngưng tuyệt thực từ ngày 4 tháng 6. Hôm nay có những anh chị ủng hộ con đường dân chủ nhân quyền cũng chung chí hướng với chị Tần ủng hộ đến ngay trước trại giam đễ cùng đòi hỏi quyền lợi được gặp chị và khuyên chị ngưng tuyệt thực

chị Tạ Minh Tú”

Nói với chị chỉ được 10 phút thôi và chị cho biết những ngược đãi đối với chị vẫn không có gì thay đổi. Sức khỏe của chị vì vừa mới tuyệt thực nên không có gì khả quan lắm!”

Quan ngại

Cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên hiện đang bị quản chế tại nhà ở Hải Phòng vào ngày 12 tháng 6 vừa qua cũng tuyệt thực một ngày để bày tỏ sự đồng hành cùng tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần trong nhà tù. Vào ngày 13 tháng 6 chị Phạm Thanh Nghiên chia sẻ sự quan tâm đối với người đang phải đấu tranh trong tù:

Có một người vừa trở về được vài tháng và họ cho biết khi chị Tần, Nguyễn Đặng Minh Mẫn và một số người khác vào thì họ sửa lại khu buồng giam kỷ luật; tức trong trại tù có khu kỷ luật và những tù nhân bị cho vi phạm kỷ luật thì bị nhốt vào đó 7 ngày, 10 ngày hoặc hằng tháng với những điều kiện rất khắc nghiệt. Tôi chưa bao giờ bị giam giữ trong những khu đó cả; nhưng những người tù từng ở với tôi nói lại rằng khi họ xây những trại giam đó thì những phần bệ nằm ( phần đủ cho một người tù nằm) được cho muối vào. Tôi không biết trong ngành xây dựng khi cho muối trộn vào xi măng để làm gì; nhưng những người kia nói lại với tôi là để khi vào mùa hè thì vào mùa hè như ở Thanh Hóa đã nóng rồi thì với kỹ thuật đó lại càng nóng hơn; vào mùa đông đã lạnh thì càng lạnh hơn.

Chị Tạ Minh Tú và Thượng tọa Thích Thiện Minh kêu gọi trả tự do cho blogger Tạ Phong Tần

Chị Tạ Minh Tú và Thượng tọa Thích Thiện Minh kêu gọi trả tự do cho blogger Tạ Phong Tần

Và cũng xin nói thêm là khi bị kỷ luật thì không được đắp chiếu mà chỉ có một bộ quần áo tù, không có đồ lót bên trong. Đến kỳ kinh nguyệt thì phải xin cán bộ trại giam mới có quần lót và băng vệ sinh. Đó là sự tra tấn vô cùng man rợ và trong thời gian tuyệt thực hằng ngày cán bộ trại giam vào hành hạ rất ghê gớm vì tôi chứng kiến trường hợp của chị Trần Ngọc Anh cũng như của tôi là mỗi ngày hai lần họ mang biên bản vào và bắt minh ký. Họ còn dùng nhiều hình thức khác để tra tấn tinh thần của mình. Vì chính là người từng ở trong đó nên tôi rất đồng cảm, tôi hiểu. Tôi cho rằng chị Tần là người phụ nữ phi thường.

Cô Phạm Thanh Nghiên cũng cho biết thông điệp của hành động tuyệt thực cùng với tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần:

“ Tôi muốn bằng khả năng hạn hẹp của mình do sức khỏe không tốt và đang bị quản chế là chỉ góp một chút tình cảm, tiếng nói để đồng hành với những đau khổ, khốn khó của chị Tạ Phong Tần người mà tôi rất yêu quí đang phải chịu trong nhà tù.

” Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5″

Tôi cũng xin gửi đến thông điệp mà thông điệp này tôi cũng gửi đi cách đây 2 năm khi mà tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ tuyệt thực. Lúc đó mở đầu là bác sĩ Phạm Hồng Sơn sau đó đến tôi và nhiều người khác đồng hành với cuộc tuyệt thực của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ. Thông điệp của tôi là không ai phải chịu cô đơn trên con đường tìm kiếm tự do và công bằng cho dù người đó đang ở trong chốn lao tù.”

Ủng hộ

Sau khi có tuyên bố tuyệt thực của cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên nhằm đồng hành cùng Tạ Phong Tần, blogger Mẹ Nấm từ Nha Trang cũng công khai trên trang Dân Làm Báo là sẽ tuyệt thực ba ngày để chia sẽ cùng các tù nhân Tạ Phong Tần, Bùi thị Minh Hằng, Nguyễn Hữu Vinh, Trần Huỳnh Duy Thức, Ngô Hào, Trần Minh Nhật, Thái Văn Dung, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương…

Từ khi có tin tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần tuyệt thực trong tù để phản đối sự ngược đãi tù chính trị của trại giam, nhiều người hiện ở nước ngoài cũng bày tỏ quan ngại và lên tiếng cho tình trạng của cô Tạ Phong Tần.

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua  phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5.

Xin được nhắc lại cô Tạ Phong Tần năm nay 46 tuổi. Cô bị bắt từ tháng 9 năm 2011 và tháng 9 năm 2012 bị kết án 10 năm tù với cáo buộc ‘tuyên truyền chống nhà nước theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam trong phiên xử cùng với hai người cùng sáng lập Câu lạc Bộ Nhà báo Tự do là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và AnhbaSaigon PhanThanh Hải.

Từ khi bị kết án tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đạ bị đưa qua ba nhà tù khác nhau ở Bình Dương, Đồng Nai và Thanh Hóa. Tại Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa hiện có những nữ tù nhân lương tâm khác là Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Cấn Thị Thêu…

Cô Tạ Phong Tần vào dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ năm 2013 được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh là một trong 10 phụ nữ can đảm trên thế giới.

Nhân ngày Tự do Báo chí Thế giới năm nay, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại nêu tên tù nhân Tạ Phong Tần cho rằng cô bị chính quyền Hà Nội bỏ tù một cách sai trái chỉ vì dán vạch trần tình trạng tham nhũng của chính phủ Hà Nội. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền Việt Nam hiện nay trả tự do cho tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần.

Thấy gì từ đề xuất 3 cải cách đối với Đảng

Thấy gì từ đề xuất 3 cải cách đối với Đảng

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-06-12

Thấy gì từ đề xuất 3 cải cách đối với Đảng Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg4466727.jpg

Hình minh họa chụp năm 2011 tại Hà Nội.

AFP

Your browser does not support the audio element.

Nhóm chuyên gia của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại Saigon vừa có đề xuất khá đặc biệt gọi là “liên minh cải cách và phát triển cho Việt Nam gồm: Đảng, cơ quan dân cử, tư pháp, hành chính công vụ, kinh tế tư nhân.” Sự cải cách tập hợp này được xem như là điều kiện cần thiết để nền kinh tế Việt Nam có thể trở lại mức phát triển cao 7,5%-8%  trong mười năm tới.

“Không chịu uống thuốc đủ liều”

Theo Thời báo Kinh tế Saigon Online, tại cuộc tọa đàm về “Cải cách thể chế: từ tầm nhìn tới thực tiễn” do Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tổ chức ở Saigon sáng 10/6/2015, PGSTS Phạm Duy Nghĩa một thành viên của Chương trình đã nhận định rằng, thể chế của Việt Nam hiện nay không theo kịp yêu cầu cuộc sống. Học giả này ví von  nền kinh tế Việt Nam hiện nay như một người bệnh đã được định bệnh, kê toa cho thuốc nhưng lại không chịu uống đủ liều.

” Vấn đề ở Việt Nam là cách làm và hình thức làm, bước đi…cho nên những phản biện thẳng thắn đặt tất cả vấn đề ra thì người ta cho rằng nên làm trong một phạm vi hẹp, vừa phải vì Việt Nam chưa quen việc có môi trường để thực hiện dân chủ rộng rãi như ở các nước khác.
-LS Trần Quốc Thuận”

Đặt ra liên minh cải cách để hình thành mô hình phát triển mới, nhóm nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright đặt nặng tư duy cải cách cần thiết đối với Đảng Cộng sản. Vẫn theo SaigonTimes Online, một thành viên của nhóm, TS Huỳnh Thế Du đề xuất cải cách ba điểm mà Đảng trong vai trò lãnh đạo và dẫn đắt cần tập trung. Thứ nhất để định hướng chính sách quyết định đến sự phát triển của Việt Nam, để có chính sách tốt hợp lòng dân thì thảo luận chính sách phải công khai và để đạt mục đích này Đảng phải chấp nhận một xã hội cởi mở, chấp nhận vai trò phản biện của trí thức mạnh mẽ hơn.

Thứ hai là Đảng cần thúc đẩy cơ chế cạnh tranh, tìm ra nhân lực lãnh đạo có thực tài. Như vậy phải có một quá trình lựa chọn dân chủ, cởi mở, đựa trên nền tảng cạnh tranh.

Thứ ba là cần luật hóa vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng. Đảng cần gương mẫu là người đầu tiên tuân thủ chế độ pháp quyền, thượng tôn pháp luật.

Những đề xuất cải cách được cho là thẳng thắn đối với Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ có tính khả thi hay không trong cơ chế một đảng độc quyền ở Việt Nam. Chúng tôi sẽ lấy ý kiến chuyên gia theo từng điểm một.   Đối với điểm thứ nhất, Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội từ Sài Gòn nhận xét:

“Câu chuyện kêu gọi khuyến khích phản biện và giám sát thì Bộ Chính trị đã có có hai Nghị quyết 217, 218 để mà đặt vấn đề và tôi cho những việc đó cũng phù hợp với Hiến pháp 2013 là phát huy dân chủ, phát huy nhân quyền, tôi cho rằng điều đó không có gì trái. Nhưng vấn đề ở Việt Nam là cách làm và hình thức làm, bước đi…cho nên những phản biện thẳng thắn đặt tất cả vấn đề ra thì người ta cho rằng nên làm trong một phạm vi hẹp, vừa phải vì Việt Nam chưa quen việc có môi trường để thực hiện dân chủ rộng rãi như ở các nước khác.”

Đi đường vòng về tự do ngôn luận?

024_138495-250.jpg

Một bức tranh cổ động trên đường phố Sài Gòn, ảnh minh họa chụp trước đây. AFP PHOTO.

Việc kêu gọi Đảng chấp nhận một xã hội cởi mở, chấp nhận vai trò phản biện của trí thức mạnh mẽ hơn có thể hiểu là một cách nói khác đi đường vòng về tự do ngôn luận, tự do lập hội. TS Phạm Chí Dũng, nhà phản biện độc lập từ TP.HCM đưa ra nhận định:

“Vấn đề là cần phải có đề xuất cụ thể hơn nữa, chứ bây giờ chỉ đưa ra vấn đề xã hội cởi mở thì Đảng trước giờ vẫn nói xã hội cởi mở, vẫn có chủ trương phản biện, dân chủ từ trên xuống từ dưới lên và mới đây thì ông Trọng lại đưa ra lời kêu gọi trí thức đóng góp phản biện và ông Nguyễn Tấn Dũng cũng có Quyết định 501 xây dựng diễn đàn trí thức phản biện chuyên nghiệp giao cho Liên hiệp Hội Khoa học Kỹ thuật thí điểm xây dựng. Như vậy nếu như nhóm Chương trình Fulbright hay tổ chức nào khác không có đề xuất cụ thể hơn mà chỉ nói chung chung như vậy thì sẽ khó có thể thuyết phục được ai, đặc biệt là khó thuyết phục được đối tượng đang đề cập là Đảng và Nhà nước.”

Điểm thứ hai trong đề xuất cải cách của Chương trình Fulbright liên quan tới việc gọi là cơ chế cạnh tranh tìm nhà lãnh đạo thực tài, thông qua quá trình lựa chọn dân chủ. Luật sư Trần Quốc Thuận nhận xét:

“Câu chuyện cạnh tranh thi để giữ các chức vụ thì hiện nay có Bộ Giao thông Vận tải thực hiện rất mạnh mẽ. Nhưng cũng chỉ là cấp dưới Bộ còn thực hiện cạnh tranh rộng rãi thì cũng có đặt ra cho bầu cử ở cấp cơ sở phường xã chứ chưa đặt ra ở cấp cao hơn. Cho nên việc đặt ra là có bầu cử tranh cử tự do hay không thì có lẽ Đại hội Đảng 12 này chưa đặt ra được,”

Cùng một câu hỏi được nêu ra về tính khả thi của đề xuất: Đảng thúc đẩy cơ chế cạnh tranh, bầu cử dân chủ để lựa chọn nhân sự lãnh đạo. Ghi nhận một vài thí điểm thi tuyển ở cấp Vụ Cục Bộ GTVT hoặc ở cấp địa phương như Đà Nẵng, TS Phạm Chí Dũng nhấn mạnh:

“Vấn đề cạnh tranh vẫn là yếu huyệt rất lớn trong Đảng, trong nhà nước và chính phủ từ cấp trung ương tới cấp địa phương. Thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề cạnh tranh đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là chỉ ở cấp nhỏ cấp địa phương.
-TS Phạm Chí Dũng”

“Vấn đề cạnh tranh vẫn là yếu huyệt rất lớn trong Đảng, trong nhà nước và chính phủ từ cấp trung ương tới cấp địa phương. Thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề cạnh tranh đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là chỉ ở cấp nhỏ cấp địa phương.  Bởi vì muốn cạnh tranh được phải có con người cạnh tranh, muốn xây dựng được con người cạnh tranh phải xây dựng được cơ chế tổ chức cạnh tranh. Như đã thấy ở trong Đảng, trong nhà nước, trong bộ máy chính quyền gần như chưa có yếu tố cạnh tranh vẫn chỉ chủ yếu là cán bộ con ông cháu cha, hay mua quan bán chức là nhiều. Chưa có yếu tố thực tài nhân tài, chưa trải thảm đỏ chưa thu hút người tài mà tất cả chỉ là lời nói miệng mị dân mà thôi.”

Điểm thứ ba trong đề xuất cải cách ba điểm đối với Đảng Cộng sản, nhóm nghiên cứu Chương trình Fulbright TP. HCM cho rằng cần luật hóa vai trò và hoạt động của Đảng. Vì hơn ai hết Đảng cần gương mẫu là người đầu tiên tuân thủ chế độ pháp quyền, thượng tôn pháp luật. Đối với điểm này, LS Trần Quốc Thuận nhận xét:

“Câu đó người ta đã đặt ra và bàn nhiều trong khi làm Hiến pháp 2013 và Điều 4 vẫn tiếp tục ghi vai trò lãnh đạo của Đảng nhưng trong đó cũng ghi là Đảng chịu trách nhiệm về quyết định của mình, chịu sự giám sát của nhân dân. Điều này là tốt, cho nên Luật Mặt trận Tổ quốc vừa qua có người cũng đặt vấn đề này. Tuy nhiên Luật Mặt trận Tổ quốc cũng chưa đi thẳng vào là có nên giám sát Đảng hay không. Trên nguyên tắc Đảng là toàn quyền lãnh đạo và có giám sát triệt để các cơ quan chấp hành của Đảng. Ở Việt Nam cũng được hiểu như thế là gián tiếp giám sát Đảng, nhưng trực tiếp giám sát cá nhân Đảng Cộng sản giao cho xã hội, cho đoàn thể khác thì vấn đề đó Việt Nam chưa đặt ra.”

Cùng về vấn đề luật hóa vai trò và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nội dung ba điểm cải cách của nhóm nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright TP.HCM. Tiến Sĩ Phạm Chí Dũng nhận định:

“Vấn đề này không mới, người ta thường nói là có một tổ chức hoạt động trái pháp luật từ trước tới giờ, ai cũng thấy nhưng không ai dám nói, đó là tổ chức Đảng vì không có một luật nào cho Đảng cả. Tôi nghĩ đây là đề nghị đáng chú nhất của nhóm Chương trình Fulbright mặc dù đã có nhiều người nêu rồi. Đảng cần được luật hóa và đưa vào trong Hiến pháp và xây dựng nguyên một bộ luật về những điều kiện hoạt động riêng cho đảng cầm quyền. Tôi muốn nói là luật đó không chỉ áp dụng cho đảng cầm quyền hiện nay mà còn áp dụng cho những đảng cầm quyền cho những thế hệ sau này trong những năm sắp tới trong điều kiện có nhiều đảng hơn một đảng hiện nay.”

Theo tường thuật của SaigonTimes Online, diễn giả TS Huỳnh Thế Du thuộc nhóm nghiên cứu Chương trình giảng dậy kinh tế Fulbright TPHCM còn làm rõ hơn những góp ý cải cách với Đảng. Theo đó song song với những vấn đề mà Đảng cần tập trung cải cách vì là người định hướng chính sách quyết định đến sự phát triển của Việt Nam, Đảng cần tập trung một cách chủ động vào năm vấn đề mà ông gọi là năm cấu phần quan trọng của việc hình thành một liên minh cải cách và phát triển đúng nghĩa.

Đó là chuyên nghiệp hóa hoạt động của cơ quan dân cử và dân biểu; tạo dựng một nền hành chính công vụ chuyên nghiệp đủ năng lực quản lý và điều hành quốc gia; tạo dựng hệ thống tư pháp đủ quyền lực để bảo vệ công lý; xem kinh tế tư nhân trong nước như một đối tác liên minh của chính quyền trong việc tạo ra một Việt Nam thịnh vượng; thừa nhận sự tồn tại và vai trò tất yếu của các tổ chức xã hội; chấp nhận quyền giám sát nhà nước và thị trường của các các tầng lớp trong xã hội và giới truyền thông.

Vẫn theo tường thuật của Saigon Times Online, các chuyên gia khách mời tham dự Tọa đàm do Chương trình giảng dậy kinh tế Fulbright tổ chức trong đó có TS Trần Đình Thiên thuộc Viện Kinh tế Việt nam, LS Trần Hữu Huỳnh thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đều có chung nhận định là bộ máy hành pháp của Việt Nam hiện nay quá mạnh, trong khi tiếng nói của lập pháp và tư pháp quá yếu ớt nên cần phải có cơ chế mới để cân bằng.

Người đọc báo cảm nhận là đề xuất ba cải cách dành cho Đảng, cũng như thực hiện liên minh cải cách với năm cấu phần, với mục đích tối thượng để Việt nam chuyển đổi sang mô hình phát triển mới sẽ khó có khả năng thực hiện toàn phần, hay nói cách khác đó là một đề xuất ước mơ của giới học thuật. Các chuyên gia mà chúng tôi trao đổi nói rằng, cải cách như thế chẳng khác nào đổi tên chế độ chính trị hiện tại của Việt Nam, thực hiện tam quyền phân lập, bầu cử tự do dân chủ và người dân có đầy đủ dân quyền cũng như nhân quyền.