Dị ứng với chữ nghĩa!

Dị ứng với chữ nghĩa!

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Tôi đồng ý với nhiều người đã cho rằng không có ngôn ngữ Việt Cộng, ngôn ngữ miền Nam mà chỉ có ngôn ngữ Việt Nam và ngôn ngữ phát triển và đa dạng hóa theo thời gian. Nhưng là một người sinh ra và lớn lên, sống ở miền Nam ít nhất là nửa thế kỷ, tôi cảm thấy hụt hẫng và cảm thấy dị ứng với thứ ngôn ngữ hôm nay, nói rõ là thứ ngôn ngữ phát sinh ra từ sau ngày đại họa, khi mà Việt Cộng cai trị toàn bộ đất nước miền Nam.

Người dân Việt Nam hiện nay dùng chữ “siêu” để thay cho chữ “rất
nhiều” hay “rất cao” như bảng quảng cáo này. (Hình: Getty Images)

Không phải dị ứng với chữ nghĩa, mà tôi còn dị ứng với giọng nói của Hà Nội bây giờ, nó khác xa với Hà Nội thanh lịch của bốn mươi năm về trước. Làm sao tôi quên được giọng nói của đài phát thanh Hà Nội, “thủ đô của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” mà mỗi tối, tôi vẫn thường phải nghe cái giọng the thé của cô xướng ngôn viên qua chiếc loa rè treo ở cái chòi gác đầu trại, những đêm rét buốt ở trong những trại tù Hoàng Liên Sơn. Giọng nói đó còn theo đuổi, ám ảnh tôi cho đến ngày hôm nay.

Từ ngày bị anh em “ngoài ta” thống trị, ngoài những tiếng “ngụy ngôn” xảo trá như cách mạng, giải phóng, học tập cải tạo, ngụy quân, ngụy quyền… chúng ta thấy cả một rừng chữ nghĩa đảo lộn trong một xã hội điên đảo. Dân Sài Gòn đã nhìn tận mắt loại chữ nghĩa quái đản, sản phẩm của chế độ mới như “xưởng đẻ,” “cửa hàng thịt phụ nữ,” “nhà đái nam, nhà đái nữ…”

Cũng không phải vì lý do chính trị mà tôi ghét nó, hoặc có định kiến, kiểu “ghét ai ghét cả tông nhân họ hàng,” nhưng tôi ghét cái thứ ngôn ngữ tùy tiện, vô nghĩa và lai căng hay bắt chước Tàu một cách hoàn toàn vô ý thức và thiếu khôn ngoan.

Trước khi đi quá xa, và để cho độc giả khỏi quên, tôi xin nói ngay vào lối nói kiểu Tàu của người trong nước bây giờ. Chúng ta vẫn nghe những tiếng lạ tai từ khi nón cối dép râu “tiến về Sài Gòn,” thứ ngôn ngữ đặc sệt Tàu, mà chúng ta chưa hề nghe, chưa biết dùng nhưng cuối cùng cũng phải dùng, phải nghe nếu không sợ bị lạc đường. Đó là những tiếng hộ khẩu, hộ lý, hải quan, xuất khẩu, trợ lý, thủ trưởng, đăng ký, đường cao tốc, vô tư, bức xúc, bảo vệ, cơ địa, xử lý, khẩn trương, triều cường, giải phóng mặt bằng, quân hàm, sư trưởng… khác xa những gì mà chúng ta đã dùng thời trước.

Cái thì quá Hán, nhưng có cái thì quá nôm na. Thủy Quân Lục Chiến thì gọi là “Lính Thủy Đánh Bộ,” Bạch Ốc là “Nhà Trắng,” trực thăng là “máy bay lên thẳng,” tài xế thì gọi là “lái xe,” đại tiện hay tiểu tiện thì gọi là “ỉa, đái”… có khi nửa nôm nửa hán như “cán bộ gái,” có khi thô bỉ như “giường cứng- giường mềm,” có lúc ngớ ngẩn và vô nghĩa như “làm gái!”

Nếu chữ nghiêm trang, nghiêm chỉnh của chúng ta để nói về một thái độ, một nhân dáng thì vì sao trong nước lại dùng chữ nghiêm túc (nghĩa của nó là đứng yên – toàn thể túc lập!) Nếu chữ “liên lạc” của chúng ta dùng trong nghĩa trao đổi, thông tin thì cũng với nghĩa đó, họ dùng chữ “liên hệ,” như trong nghĩa nó có nghĩa trói buộc với nhau như gia tộc, con cái, họ hàng. Vì chúng ta đâu cần phải “liên hệ” qua điện thoại với một công ty khi chỉ cần mua một món hàng.

Có những địa hạt, việc dùng chữ nghĩa quá tùy tiện và ngu dốt, một cách “nói chữ” như chữ “xử lý” bị lợi dụng một cách nặng nề và không cần thiết như nói “xử lý cá xong” thì đến “xử lý” rau. Thay vì nói đơn giản “một con bọ xít” thì họ nói “một cá thể bọ xít,” thay vì nói “đi dạy học tại trường X.” thì người ta nói “nhận công tác giảng dạy…”

Nói chung là người ta thích dùng “đại ngôn” cho nó oai, ra điều chữ nghĩa, như ông bà ta có câu: “dốt thì hay nói chữ,” quảng cáo cho mấy cái bồn rửa nhà cầu, người ta cũng dùng đến tiếng “hoành tráng.”

Ba chữ “dòng, luồng và chùm” bị lạm dụng và gán ép một cách ngây ngô như: – “Dòng kem dưỡng da;” – “Luồng tư duy, luồng thông tin , luồng văn hóa , khám bệnh ngoài luồng;” – “Chùm ảnh, chùm thơ…”

Trong nước bây giờ thích nói chữ, Tây hay Tàu hơn là thuần Việt: Ảnh “nude” hơn là ảnh khỏa thân , “VIP” hơn là nhân vật quan trọng , “logic” là lý luận, “tuổi teen” hơn là tuổi thiếu niên, “ô tô” thay vì xe hơi, “nội y” thay vì áo quần lót , “sở hữu” hơn là có , “khẩn trương” thay vì nhanh lên.

Nếu vì trời sương mù mà trên xa lộ nhiều chiếc xe hơi đụng nhau dây chuyền (xe nọ đụng đít xe kia) thì vì sao họ dùng chữ “đụng liên hoàn,” cho ra Tàu, trong khi chữ liên hoàn còn có nghĩa “trở lại” như thơ liên hoàn là bài thơ mà câu cuối lặp lại câu đầu tiên. Cái xe đầu tiên bị đụng không thể nào đụng lại cái xe cuối cùng trên đường!

Trong khi chúng ta dùng chữ máy thu thanh (radio) thì Cộng Sản dùng chữ “đài,” chữ này chỉ có thể dùng để chỉ nơi phát thanh, như đài phát thanh Hà Nội. Cũng với lối nói tắt này, đôi khi vô nghĩa, nhưng theo thói quen ở trong nước, người ta vẫn hiểu, như vừa “xuất viện” là mới ở bệnh viện (nhà thương) ra, “nhập viện” là vào nhà thương. Nếu nói “điện” thì phải hiểu nghĩa là điện thoại. Thu phí là thu lệ phí!

Cộng Sản lấy tên Hồ Chí Minh đặt thay cho Sài Gòn có nhiều điều bất tiện và bất kính, vì người ta không thể nói: “Tôi đi… Hồ Chí Minh,” hay “Hồ Chí Minh bây giờ nạn cướp bóc tràn lan” mà phải dùng nguyên câu “thành phố Hồ Chí Minh.” Vì cái tên quá dài, nên bây giờ người Cần Thơ đi Sài Gòn thì chỉ cần nói là “lên thành phố!” là người ta đã hiểu.

Cỡ lớn láo như Phùng Quang Thanh, lên tới đại tướng mà còn mở miệng nói, “Không phong tướng, anh em tâm tư!” thì “chị em ta” cũng có thể nói, “Chị làm em cũng tâm trạng theo chị!” hay “con ấy… cực kỳ!” Danh từ, động từ, tĩnh từ, trạng từ… cứ loạn cả lên, toàn là những thứ “lộng ngôn” và “loạn ngôn” một cách rất “bất quy tắc!”

Thời trước đi học, mà viết, làm luận văn, nói lối này thì chắc chắn là bị thầy, cô giáo sổ…toẹt! Và thời nay nếu bỏ nước ra đi khá lâu, về thăm lại quê hương nên có một người đi theo để thông dịch.

Nói chuyện chữ nghĩa thời nay, thì phải viết thành một cuốn từ điển dày nghìn trang. Tôi không có tham vọng làm một cuộc nghiên cứu hay thống kê mà chỉ ghi.. tạp một vài chuyện mua vui. Nhưng chúng ta cũng nên cẩn thận, đừng ngộ nhận, khi có những tiếng ít nghe, ít dùng, nghe chưa quen tai đã vội chụp nón cối cho nó. Có lần tôi dùng tiếng “xiển dương” trong một bài viết, đã bị một ông bạn già khiển trách “sao lại dùng chữ Việt Cộng?”

Điều đau lòng tôi muốn trình bày với độc giả hôm nay là chúng ta lệ thuộc Tàu cả nghìn năm mà còn giữ được tiếng nói, chữ viết và bản sắc dân tộc. Trong nước nô lệ Cộng Sản mới bốn mươi năm mà dễ chừng ngôn ngữ đã có những sự thay đổi, nhất là ảnh hưởng không ít với những người đã đi ra nước ngoài, đã từng là nạn nhận của Cộng Sản. Tôi đã gặp những người tù chính trị đã ở trong nhà tù tập trung năm, mười năm mà vẫn dùng những danh từ “đi học tập- cải tạo” hay “trước giải phóng- sau giải phóng” một cách không suy nghĩ, thì trách gì vợ con họ, lấy lý do vì ở với Cộng Sản một thời gian dài, nên bị “đồng hóa!”

Một chuyện khác là các cơ quan truyền thông ở hải ngoại, vẫn cho mình là có lập trường chống Cộng nhưng vẫn dùng nguyên bản những tin tức, chương trình trong nước mà không chịu bỏ thời giờ sửa đổi lại theo cách nói và cách viết truyền thống của người Việt tại miền Nam trước 1975 và kể cả tại miền Bắc trước năm 1954.

Có khi vì thiếu vốn, lười biếng hay thỏa hiệp, truyền thông hải ngoại đem luôn cả chương trình làm sẵn, các cuốn phim của các nhà sản xuất hay đài truyền hình Việt Nam chiếu trong chương trình hằng ngày. Do vậy, tuy trên đài truyền hình không có cờ đỏ sao vàng, có chân dung lãnh tụ cộng sản, nhưng ngôn ngữ, hình ảnh, và chương trình từ giải trí đến thời trang, thi hoa hậu, đố vui, thực chất là những đài truyền hình Cộng Sản được soạn ra công phu để dành làm quà cho hải ngoại.

Người ta đã nói đến chuyện con ếch được luộc chín từ từ trong nước lạnh, hay chiến thuật vết dầu loang. Dần đà, chúng ta sẽ nghe quen tai, nhìn quen mắt và bị “luộc” lúc nào không hay.

Và những con người vốn chân chất, thật thà, tin người, chỉ thấy cái lợi trước mắt và cho cá nhân mình, không cảnh giác sẽ còn thua… nữa!

Người Sài Gòn sống như dân du cư du canh

Người Sài Gòn sống như dân du cư du canh

Nguoi-viet.com

Trần Tiến Dũng/Người Việt

SÀI GÒN (NV) – Ở Sài Gòn lúc này, chỉ cần dừng xe máy ở các giao lộ là sẽ được nhân viên các công ty bất động sản phát cho một xấp giấy quảng cáo mua bán nhà.

Nhìn lên cột điện, thậm chí nhìn vào vách các bô rác chung cư cũng thấy xanh xanh đỏ đỏ những áp phích quảng cáo bán nhà, bán đất nền… đủ cỡ, nhưng than ôi hàng triệu người Sài Gòn chỉ biết ngó cho vui mắt vậy thôi chớ giấc mơ mua được một căn nhà dạng nhà xã hội trả góp cũng là chuyện viển vông, thế nên chuyện họ sống du canh du cư như đồng bào các dân tộc thiểu số ở giữa lòng một đô thị hào nhoáng như là một kiếp nạn.

Từng cột đèn Sài Gòn đều dán quảng cáo bán nhà nhưng hàng triệu người
du cư không bao giờ với tới. (Hình: Trần Tiến Dũng)

Một giảng viên đại học Bách Khoa Sài Gòn ghé nhà thầy cũ mình để mời thầy dự tiệc mừng nhà mới của anh. Người giảng viên gốc Cà Mau, có con trai học lớp ba này kể, “Phải làm dân du cư ở Sài Gòn hơn 20 năm mới có chỗ định cư đó thầy.”

Không hề quá đáng khi cho rằng ở Sài Gòn trong hàng chục năm qua, hàng triệu người dân từ các địa phương đến nhập cư ở trọ nhà tập thể, mướn nhà và họ thường xuyên thay đổi chỗ ở vì giá thuê nhà hay vì nhu cầu công việc đã hình thành nên số lượng người du cư khổng lồ.

Có một nhà thơ, cũng là dân du cư lâu năm ở Sài Gòn ví von rằng, “Giống như đồng bào dân tộc thời xưa, dân ở trọ như bọn tôi chuyện du cư hết chỗ này đến chỗ kia thì coi các tòa cao ốc là núi, các con đường là sông, còn các hẻm phố chằng chịt như những cánh rừng khó tìm lối ra.”

Trả lời trên bản tin kinh tế, vị chủ tịch hiệp hội bất động sản thành phố Hồ Chí Minh cho biết, các dự án đầu tư nhà ở xã hội chỉ chiếm không tới 30% trong tổng số các dự án. Lý do đưa ra là lợi nhuận thu được khi đầu tư nhà ở xã hội rất thấp.

Từ ngày 1 tháng 7, 2015, chế độ Hà Nội áp dụng luật cho phép Việt kiều và người Ngoại Quốc mua nhà, điều này khiến các tư sản đỏ bất động sản hứng thú và một lần nữa chuyện nhà cho người Sài Gòn thu nhập thấp cùng hàng triệu người đang sống du cư cũng hoàn toàn vô vọng về chuyện định cư.

Cô L, một giáo viên ở trường trung cấp dạy nghề, có mức lương khoản sáu triệu một tháng nói, “Từ lúc còn là sinh viên đến lúc đi làm, tôi đã thay đổi nhà trọ năm lần. Giá nhà từ năm trăm ngàn nay lên một triệu rưỡi, tôi chuyển chỗ ở không chỉ vì giá nhà mà còn vì đường ngập, an ninh, hàng xóm không hợp… Nói chung tôi biết chắc mình không thể quay về quê nhưng càng không chắc là mình có ngày được định cư ở Sài Gòn.”

Với những ai có mức thu nhập trung bình thấp như cô L, thì hy vọng sau mười, hai mươi năm nữa mua được một căn chung cư trả góp dưới 40 mét vuông ở Sài Gòn để chấm dứt đời du cư là khó có thể.

Các xóm nhà ven kênh rạch ở quận 8, quận 7… là nhà trọ “lý tưởng” của
người ngoài mới bắt đầu vào thành phố. (Hình: Trần Tiến Dũng)

Hỏi chuyện hai vợ chồng người Thanh Hóa làm nghề bán cháo lòng dạo ở quận 12, rằng họ có nghĩ ngày nào sắm được nhà để làm nghề không. Anh chồng có ba con đang gởi cho nhà nội ở quê này nói, “Mơ làm gì, cứ nhà mướn cho nhẹ đầu mà để dành tiền gởi về quê cất nhà, mai kia hết sức làm thì còn có chỗ mà về.” Hai tiếng “mai kia” từ miệng một người chỉ chừng ba lăm tuổi đã chỉ ra một cuộc đời, một gia đình ly hương sống du cư dai dẳng vằn vặt.

Thật không thể xác định độ tuổi của dòng người khổng lồ đang sống du cư hiện nay, bé sơ sinh có, người già tuổi gần đất xa trời có. Chưa thời đại nào mà toàn cảnh và thực trạng người tứ xứ du cư ở Sài Gòn lại đa dạng và phức tạp như hiện nay. Nào là cộng đồng du cư được biết theo nguyên quán như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, Phú thọ, Cà Mau… hay cộng đồng du cư theo ngành nghề như hủ tiếu gõ, bánh tráng, ve chai, thợ mộc, thợ xây… thậm chí có cả những nhóm du cư “ làm ăn” với các nghề tệ nạn xã hội.

Từ lúc chế độ mở cửa kinh tế, hàng chục năm qua nguồn nhân lực phổ thông và trí thức du cư này đã là nhân tố chính làm thay đổi toàn diện chất lượng và diện mạo các đô thị lớn, nhưng phần lớn nguồn nhân lực quan trọng đó vẫn không thể đặt chân về chính căn nhà mình sở hữu sau một ngày làm việc.

Việc hàng triệu người không sở hữu được căn nhà ở đô thị nơi mình kiếm sống, sống du cư kéo dài có khi cả đời người hoặc nhiều thế hệ gia đình. Trừ một số ít người nhập cư có tài năng, ý chí, nguồn vốn, đã có ngôi nhà để yên ổn mà mơ ước một tương lai thành đạt, thử hỏi hàng triệu người không thể mong gì được an cư kia, họ làm cách nào để yên tâm nâng cao nghề nghiệp, tri thức và chất lượng sống của họ. Những hiện tượng tiêu cực xã hội như sử dụng bạo lực bất thường, sa đà trong bia rượu, số đề, lối sống thụ động buông xuôi… việc họ bị tướt đi quyền được an cư rõ ràng cho thấy bộ mặt u tối của thực trạng mất nhân quyền ở các đô thị lớn Việt Nam hiện nay.

Ý hướng Xây Đời Mới

 

Ý  hướng  Xây  Đời  Mới

Trong Chương Trình Phát Triển Quận 6, 7, 8 Saigon (1965 – 1971)

Hồi tưởng của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Vào khỏang tháng 6 năm 1965, một số thanh niên chúng tôi đang ở lứa tuổi 25 – 30 cùng hội họp bàn thảo với nhau liên tục trong nhiều ngày và cuối cùng chúng tôi đã đúc kết cuộc thảo luận thành một tài liệu lấy tên là Dự Án về một chương trình họat động xã hội, tài liệu này dài chừng 30 trang có nhan đề là :

“Phong Trào Xây Đời Mới

Chương Trình Phát triển Quận 8 Saigon”

Bản Dự Án này liền được đệ trình lên văn phòng của vị Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung ương (tức là Thủ tướng Chính phủ) lúc đó do Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảm trách.

Sau khi xem xét ít lâu, Tướng Kỳ đồng ý chấp thuận trên nguyên tắc mấy đề nghị của chúng tôi và chỉ thị cho Bô Thanh niên và Tòa Đô chính Saigon cùng đứng ra bảo trợ cho công việc thực hiện Chương Trình Phát Triển này.

Thế là vào khỏang trung tuần tháng 8 năm 1965 đó, anh em thiện nguyện chúng tôi bắt đầu cùng “xuất quân” xuống quận 8 là một địa phương tương đối nghèo túng và kém mở mang nhất tại Saigon thời ấy.

Sau một năm họat động, chương trình này đã mở rộng phạm vị họat động sang hai quận lân cận là quận 6 và quận 7. Và trong suốt 6 năm hăng say họat động (1965 – 1971), chương trình đã thực hiện được một số công trình xây dựng cụ thể đem lại sự thay đổi cải tiến rõ rệt trong nếp sống vật chất và tinh thần của người dân trong cả ba quận ở về phía Tây Nam thành phố Saigon.

Trong mấy năm gần đây, tôi đã có dịp tường thuật chi tiết về chương trình xây dựng này trong nhiều bài viết, nên trong bài này tôi khỏi cần nhắc lại những điều đã ghi ra trước đây nữa. Mà tôi chỉ xin nhắc lại cho rõ hơn về cái ý hướng tích cực góp phần vào công cuộc xây dựng Đời Sống Mới của lớp thanh niên thiện nguyện chúng tôi vào cái thời kỳ đất nước mình còn đang sôi động với cuộc chiến tranh tàn khốc cách nay đã gần 50 năm. Xin thật ngắn gọn trong vài mục như sau :

I – Không phải “Phong trào Xây Đời Mới” – mà là “Kế Hoạch Xây Đời Mới”

Mặc dầu như đã ghi ở trên, bản Dự Án đệ trình lên văn phòng Thủ tướng có viết rõ là “Phong trào Xây Đời Mới” như là một tổ chức thực hiện “Chương trình Phát triển Quận 8” – thì đến khi tra tay vào giai đọan hành động cụ thể tại địa phương, anh em chúng tôi lại không bao giờ nhắc đến danh xưng “Phong trào Xây Đời Mới” nữa.

Lý do là vì các anh em trong ban điều hành cho rằng danh xưng “Phong trào Xây Đời Mới” này dễ gây hiểu lầm nơi nhiều người coi như đây là một thứ tổ chức chính trị – chứ không phải là một chương trình thuần túy họat động xã hội nữa. Vì thế mà mọi họat động của nhóm anh em thiện nguyện chúng tôi – ngay kể từ lúc khởi đầu vào tháng 8 năm 1965 – thì đều được đặt trong khuôn khổ của một chương trình phát triển cộng đồng tại địa phương quận 8 mà thôi. Và chỉ sau một thời gian ngắn, qua những việc làm cụ thể có ích lợi rõ rệt cho đồng bào địa phương, thì chương trình đã bắt đầu tạo ra được sự tin tưởng của số đông người dân – để rồi từ đó mà tiến lên thêm bước nữa với những công tác có quy mô lớn lao rộng rãi hơn mãi.

Vì thế mà qua năm 1966, khi được phép mở rộng phạm vi họat động sang các quận 6 và 7, thì cơ cấu tổ chức cũng phải được nới rộng ra. Cụ thể là, ngòai Chương trình Phát triển Quận 8 rồi, thì lại có thêm hai đơn vị nữa, đó là : Chương trình Phát triển Quận 6 và Chương trình Phát triển Quận 7. Và ở trên cả ba Chương trình này là một cơ quan để phối hợp điều khiển – được anh em cho khai sinh dưới cái tên chính thức là: “Kế Hoạch Xây Đời Mới”.

Qua danh hiệu Kế hoạch Xây Đời Mới này, ta có thể thấy ngay được cái ý hướng Xây Đời Mới vẫn được duy trì như từ lúc ban đầu. Tức là mọi họat động nhằm cải thiện về gia cư, chỉnh trang các ngõ hẻm, đặt hệ thống thóat nước cho đến việc mở mang thêm trường học, tổ chức các lớp dậy nghề, chăm sóc về y tế vệ sinh công cộng v.v…- thì tất cả những công tác đó đều nhằm mục tiêu duy nhất là : Góp phần xây dựng cuộc sống mới tại địa phương sao cho mỗi ngày một thêm tốt đẹp, thoải mái tươi vui hơn mà thôi.

II – Vai trò làm “chất men, chất xúc tác” nhằm khơi động quần chúng tham gia vào công cuộc xây dựng ở địa phương.

Vì chủ trương theo đuổi công cuộc phát triển lâu bền tại hạ tầng cơ sở ở địa phương (at the grassroots), nên anh em chúng tôi phải kiên trì bám sát địa bàn họat động qua những cuộc tiếp súc tham khảo thường ngày với các vị thân hào nhân sĩ là những nhân vật có uy tín đối với đồng bào trong khu vực. Các vị này thường là giới giáo chức, giới tu sĩ của các tôn giáo, giới công tư chức đã về hưu và cả giới tiểu thương tiểu chủ của các cơ sở kinh doanh nhỏ v.v… Qua những cuộc tham khảo bàn luận với quý vị tôn trưởng như vậy, chúng tôi lần hồi mới đề ra được những công tác có ích lợi cụ thể thiết thực  để mời gọi bà con trong cộng đồng cùng ra tay chung sức với nhau – người góp công, kẻ góp của – mà thực hiện cho có kết quả tốt đẹp, đem lại sự cải tiến cho môi trường sinh họat của địa phương sở tại.

Làm việc sát cánh với bà con trong các xóm hẻm trong thời gian lâu dài, chúng tôi nhận ra được là nơi đâu, lúc nào thì cũng đều có những người có tấm lòng tốt luôn quan tâm đến việc giúp đỡ những người kém may mắn hơn mình – cũng như lưu tâm đến sự an vui của tập thể dân chúng ở địa phương nơi gia đình mình cùng sinh sống. Những người có thiện chí như thế chính là những nhân tố thiết yếu cho sự thay đổi của xã hội (essential agent for social change). Họ khôn ngoan tìm cách khuyến dụ lôi kéo thêm những bà con khác cùng tham gia vào công việc đem lại ích lợi chung cho cả tập thể cộng đồng. Và chỉ khi nào mà số đông bà con ở địa phương cảm nhận được cái nhu cầu cần phải cải thiện xã hội như thế nào đó (felt need), thì chính khối quần chúng nhân dân đông đảo đó họ mới hăng hái đem hết công sức ra mà thực hiện những công việc có ích lợi chung cho tòan thể cộng đồng.

Như vậy, vai trò chính yếu của mỗi thanh niên thiện nguyện chúng tôi là làm chất men, chất xúc tác (catalyst) được vùi trong môi trường quần chúng nhân dân – nhằm khơi động mọi người ý thức được cái nhu cầu cải tiến xã hội – và rồi tiếp theo là họ sẽ nhập cuộc tham gia vào công việc xây dựng cộng đồng cho thêm phần tốt đẹp hơn. Một anh bạn khi đến thăm và thấy công chuyện chúng tôi làm ở quận 8, thì anh đã phát biểu như thế này: “Các bạn đích thực là những người đang khơi động công trình phát triển cộng đồng ở địa phương này đấy” (nguyên văn tiếng Pháp :  Animateurs de développement communautaire).

Nói khác đi, điều chúng tôi thực hiện lúc đó, thì chính là khai mở ra cái quá trình gây lên men, gây ý thức và vận động quần chúng dấn thân tham gia vào công cuộc phát triển tòan diện ngay tại địa phương sở tại (mass fermentation, mass conscientisation, mass mobilization).

Linh mục Bernard Pineau có lần nói với tôi như sau : “ Luật sư Trần Văn Tuyên trong dịp gặp gỡ gần đây, có trao đổi với tôi về chuyện công tác xã hội các em đang làm ở Quận 8 – thì cả hai chúng tôi đều coi đó là một việc làm thật sự có ích. Rõ ràng đây là một thứ “micro-réalisation” (nguyên văn) rất thích hợp trong hòan cảnh chiến tranh hiện nay…”

III – Một số công trình xây dựng điển hình với giá trị lâu bền.

Trong những năm tháng họat động hăng say nhiệt thành sát cánh với bà con tại địa phương các quận 6,7 và 8 Saigon thời ấy, chương trình đã thực hiện được hàng mấy trăm những công trình xây dựng lớn nhỏ trong các lãnh vực chỉnh trang tái thiết gia cư, cải thiện hạ tầng cơ sở nơi các khu ổ chuột (slum areas), mở mang thêm trường học, tổ chức các lớp dậy nghề v.v… Anh chị em thiện nguyện viên phải chia nhau đến tham dự các phiên họp của ủy ban công tác nơi các xóm hẻm – hầu hết là hội họp vào ban đêm hay các ngày nghỉ thứ bảy, chủ nhật – vì chỉ lúc đó bà con mới có thời gian rảnh rỗi để tham gia sinh họat cộng đồng, sau khi đã làm xong công việc buôn bán hay ở sở làm.

Xin đơn cử một số công trình xây dựng điển hình mà hiện vẫn còn có giá trị thiết thực ở địa phương như sau.

1 – Trường Trung học Lương Văn Can khởi sự từ năm 1966 tại Quận 8.

Trường này được thành lập do sự vận động của số đông thân hào nhân sĩ trong quận 8 và được Bộ Giáo dục chấp thuận cho họat động với điều kiện địa phương phải lo xây dựng sao cho đày đủ cơ sở vật chất và trang bị bàn ghế cho các lớp học – trong khi Bộ cử giáo sư về lo việc giảng dậy. Như thế, đây là một thứ trường công lập để học sinh khỏi phải đóng học phí – nhờ vậy mà con em các gia đình nghèo túng ở địa phương mới có cơ hội học tiếp lên bậc trung học.

Vì thế mà ban đầu, trường có tên là “Trung học Cộng đồng Quận 8” – đây là lọai trường trung học đầu tiên ở miền Nam mà do người dân địa phương đứng ra xây dựng và thành lập, rồi được Bộ Giáo dục chấp thuận và cử thày giáo đến chăm lo phụ trách việc dậy dỗ. Sau này, trường đổi tên là “Trung học Lương Văn Can” và hiện vẫn còn họat động cho đến ngày nay. Và sau 47 năm họat động, thì tính ra đã có đến hàng vạn học sinh đã hòan tất chương trình học tập tại cơ sở này, và nhiều cựu học sinh Lương Văn Can nay đã trở thành ông nội, bà ngọai với tuổi đời trên dưới 60 nữa rồi.

2 – Cây cầu “Phát Triển” ngang qua rạch Ụ Cây, sau chợ Xóm Củi.

Rạch Ụ Cây là một con rạch nhỏ bề ngang chừng 40 mét, ngăn cách khu vực Xóm Đầm thuộc phường Hưng Phú với phường Xóm Củi là nơi thị tứ sầm uất nhất ở quận 8. Hằng ngày, có đến hàng ngàn người dân ở Xóm Đầm phải băng qua con rạch này để đến mua bán ở chợ Xóm Củi và học sinh thì qua học tại trường Tiểu học Xóm Củi. Mà họ phải trả tiền cho người chủ con đò nổi trên con rạch – chủ đò mỗi năm phải đấu thầu nơi Sở Tài chính của đô thành Saigon để được độc quyền khai thác dịch vụ chuyên chở ngang qua con rạch. Có gia đình vì nhu cầu mua bán ở chợ và con cái đi học, thì phải trả rất nhiều tiền cho việc đi qua con đò nổi này. Vì thế mà bà con bày tỏ sự mong ước có được một cây cầu bác ngang qua con rạch để vừa đi lại cho an tòan, thuận tiện, mà cũng vừa đỡ tốn tiền nữa.

Về phương diện kỹ thuật, việc xây cất một cây cầu nho nhỏ với bề rộng cỡ 2 mét và chiều dài chừng 50 – 60 mét, thì tương đối không phải là chuyện quá khó khăn. Nhưng cái khó là làm sao vận động để chánh quyền tại Tòa Đô chánh chấp thuận cho xây dựng cây cầu đó – và như vậy thì phải bãi bỏ chuyện đấu thầu – khiến cho ngân sách hàng năm của nhà nước mất đi một khỏan thu nhập đáng kể. Đó là chưa kể sự chống đối rất mạnh mẽ quyết liệt của người chủ con đò – vì họ không muốn mất đi một số lợi khá lớn cho cả gia đình, nói gì đến quyền lợi của giới có chức có quyền mà vẫn được người chủ con đò mua chuộc lấy lòng bằng đủ thứ lọai quà cáp này nọ.

Nhưng vì cần phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của số đông bà con lao động như vậy, nên chương trình chúng tôi đã phát động một chiến dịch vận động rất mạnh mẽ rộng lớn để giới chức chính quyền thể theo nguyện vọng của đồng bào mà chấp thuận việc xây dựng cây cầu này. Và kết cục chính quyền đã đồng ý và dự án xây dựng cây cầu được thực hiện trong một thời gian thật ngắn. Và đó là căn nguyên của công trình được mang tên là Cầu Phát Triển như nhiều bà con tại khu Xóm Đầm ngày nay vẫn còn nhớ đến vậy.

3 – Khu tái thiết 1,200 căn nhà tại phường Cầu Tre Bình Thới, quận 6.

Trong vụ tấn công xâm nhập vào thành phố của quân đội cộng sản hồi Tết Mậu Thân năm 1968, thì có đến mấy chục ngàn căn nhà tại 3 quận 6,7, 8 bị phá hủy. Vì thế mà chương trình phát triển chúng tôi phải ưu tiên dồn mọi cố gắng vào công cuộc tái thiết thật quy mô mà được dàn trải ra đến trên 20 khu chỉnh trang tái thiết – do các gia đình nạn nhân cùng hợp nhau thành lập thành các Ban Tái thiết cho từng khu vực để điều hành công việc xây dựng thật khó khăn mệt nhọc này.

Khu tái thiết lớn nhất nằm trong địa hạt phường Cầu Tre thuộc quận 6, giáp ranh với quận Tân Bình Gia Định, phía sau ngôi chùa cổ Giác Viên, thì có đến trên 1,200 đơn vị gia cư. Cái khó trong việc này là khu vực đó không bị tàn phá bình địa, mà vẫn còn lại nhiều căn nhà còn nguyên vẹn hay chị bị hư hại nhẹ – thế nhưng vì cần phải mở rộng đường xá cho ngay ngắn tại khu tái thiết rộng lớn này, thì cần phải hy sinh đập bỏ hết số căn nhà đó đi, để mà xây dựng lại thành những lô nhà theo họa đồ chỉnh trang hòan tòan mới. Việc này, nếu chính các chủ nhân không tự nguyện cho đập bỏ, thì chương trình chúng tôi cũng không có phương cách nào mà bó buộc cưỡng ép họ được. Do đó mà chúng tôi chỉ có thể gợi ý cho Ban Tái thiết trong khu ráng tìm cách thuyết phục các vị chủ nhân đó thỏa thuận cho phá bỏ căn nhà của mình đi – với điều kiện họ được quyền ưu tiên chọn căn nhà ở lô mặt tiền hay căn bìa.

Và kết cục, sau chừng vài năm khu tái thiết Cầu Tre Bình Thới này đã được hòan tất tốt đẹp như ta còn có thể thấy ngày nay vậy.

*     *     *

Bài viết đã dài rồi, tôi chỉ xin ghi tóm tắt thêm một vài chi tiết thật ngắn gọn như sau :

*  Trong lòng khối quần chúng nhân dân, thì bất kỳ ở đâu, lúc nào cũng đều có sẵn một tiềm năng thật quý báu dồi dào phong phú – để có thể sử dụng vào công cuộc xây dựng và cải tiến xã hội về mọi mặt tại mỗi địa phương. Như vậy, vấn đề là người cán bộ xây dựng xã hội phải tìm ra đúng cái phương pháp để khơi động khai thác được cái kho tàng năng lựợng vô biên đó. Có làm được như vậy, thì mới mong phát huy được cái sức mạnh tổng hợp của quần chúng hầu thực hiện được những công trình có quy mô rộng lớn.

*  Chương trình phát triển ở các quận 6,7,8 Saigon mới chỉ là một thí điểm trong thời gian ngắn ngủi có 6 năm đó (1965 – 1971) – mà lại giữa cái thời chiến tranh ác liệt – thì cũng chỉ mới gặt hái được một số thành quả tương đối còn khiêm tốn hạn chế mà thôi.

*  Tuy nhiên, chương trình này cũng đã có thể coi như là một chứng minh cho cái phương thức vận động quần chúng phấn khởi hăng hái tham gia nhập cuộc vào những dự án phát triển cụ thể thiết thực ở mỗi địa phương. Điểm đáng ghi nhớ tại đây là ở chỗ chương trình đã tìm cách đáp ứng đúng với nguyện vọng sâu xa cuả quần chúng là được sống an vui trong một xã hội trong đó phẩm giá của mỗi con người đều được tôn trọng đúng mức.

*  Cụ thể là cái ý hướng “Xây dựng Đời Sống Mới” đã được thể hiện thông qua nhiều công trình xây dựng cải tiến thiết thực – ngay tại nơi những xóm hẻm khuất nẻo nghèo túng, trong các khu nhà ổ chuột của tầng lớp người dân lao động cần cù lương hảo.

Và đây cũng là một minh họa cho vai trò của các đơn vị thuộc khu vực Xã hội Dân sự trong công cuộc xây dựng một cuộc sống tươi vui tốt đẹp cho chính khối quần chúng nơi những khu vực kém may mắn trong xã hội chúng ta vậy (the most underpriviledged areas)./

Costa Mesa California, trung tuần tháng Bảy năm 2013

Đoàn Thanh Liêm

Phụ   Lục

*           *           *

Vào giữa năm 1990, lúc tôi bị giam giữ tại trại B34 trong khu Tổng Nha Cảnh Sát cũ ở Saigon, thì nhân kỷ niệm năm thứ 25 ngày khởi sự của Chương trình Phát triển Quận 8 (1965 – 1990), tôi có làm mấy câu thơ để tặng các bạn cùng làm việc chung với nhau tại Chương trình này trong khuôn khổ của Kế Hoạch Xây Đời Mới (1965 – 1971).

Bài thơ gồm có 4 câu như sau đây. Xin được ghi lại để đính kèm bài viết có nhan đề “Ý hướng Xây Đời Mới trong Chương trình Phát triển Quận 6,7,8 Saigon (1965 – 1971)

Tặng các bạn Xây Đời Mới

Quận Tám năm xưa cùng Phát Triển

Ngày đêm lặn lội – vai sánh vai

Đời Mới ước mơ thời trai trẻ

Vẫn còn tươi nét – chẳng phôi phai.

Trại B34 Saigon

Tháng 8 năm 1990

Đoàn Thanh Liêm

Vẫn Đỏ nhưng bớt giáo điều?

Vẫn Đỏ nhưng bớt giáo điều?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-07-03

Vẫn Đỏ nhưng bớt giáo điều? Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tranh cổ động chào mừng ngày 2/9 tại Hà Nội, ảnh chụp hôm 28/8/2014.

Tranh cổ động chào mừng ngày 2/9 tại Hà Nội, ảnh chụp hôm 28/8/2014.

AFP PHOTO / HOANG DINH Nam

Your browser does not support the audio element.

Đảng sau Tổ quốc, dân tộc và Hiến pháp?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có vẻ thể hiện điều gọi là mới mẻ bớt giáo điều hơn các nhà lãnh đạo khác của chế độ, khi ông là người đầu tiên xếp vị trí của Đảng đi phía sau Tổ quốc, dân tộc và Hiến pháp.

Báo chí Việt Nam trong đó có Thanh Niên Online đưa tin, trong dịp tham dự Đại hội thi đua quyết thắng toàn quân lần thứ IX tổ chức ngày 1/7/2015 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ mong muốn quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Dân tộc, với Hiến pháp. Lâu nay, tất cả các nhà lãnh đạo của nhà nước cộng sản Việt Nam khi phát biểu chính trị đều rập khuôn công thức quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng sau đó mới tới Tổ quốc và Nhân dân.

Khái niệm quân đội phải trung thành với Đảng sau đó mới đến Tổ quốc và Nhân dân là một sự quen thuộc đến hiển nhiên ở Việt Nam và chỉ từ khi mạng xã hội bùng nổ, các nhà báo tự do, giới blogger mới có nhiều bài viết châm biếm về khái niệm gọi là không giống ai này. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thể hiện một sự điều chỉnh đáng chú ý, dù rằng ở vế thứ hai ông vẫn xác định quân đội phải nghiêm túc chấp hành sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước….

” Ông ấy cũng không coi nhẹ chuyện trung thành với Đảng đâu ạ, đến câu sau thì ông ấy nói rất kỹ về điều đó… những ai mà nghĩ rằng có một sự thay đổi gì lớn… thì họ nên đọc kỹ lời phát biểu của ông Thủ tướng.
-TS Nguyễn Quang A”

Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có hàm chứa sự thay đổi nào hay không trong khái niệm quân đội Việt Nam trước tiên là phải trung thành với Đảng. TS Nguyễn Quang A, nhà phản biện độc lập từ Hà Nội nhận định:

“Không có gì là mới cả, bởi vì ông ấy nói trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân rồi với Hiến pháp. Thực sự thứ tự đó cũng giống như ở trong Hiến pháp là Tổ quốc Nhân dân rồi Đảng. Tôi nghĩ có thể ông ấy hơn những người khác có những đầu óc cũ kỹ của thời xưa đặt Đảng lên trên đầu, còn ông Thủ tướng tuân thủ đúng như lời văn của Hiến pháp vừa rồi. Nhưng ông ấy cũng không coi nhẹ chuyện trung thành với Đảng đâu ạ, đến câu sau thì ông ấy nói rất kỹ về điều đó… những ai mà nghĩ rằng có một sự thay đổi gì lớn… thì họ nên đọc kỹ lời phát biểu của ông Thủ tướng.”

Giáo sư Tiến sĩ Vũ Minh Giang Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương Khóa 10 từ Hà Nội nói với chúng tôi, là ông không thấy có sự thay đổi gì trong phát biểu của Thủ tướng vì khái niệm Quân đội trung thành với Đảng không xa lạ với Việt Nam. Theo ông, dư luận bên ngoài chú ý nhiều tới thứ tự câu chữ khi nói về sự trung thành của quân đội, vì thực sự có sự khác biệt giữa các quốc gia. GSTS Vũ Minh Giang nhận định:

“Nếu mà nói về sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước thì có vấn đề ấy thật là bởi vì ngay cả trong những qui định có tính chất pháp luật thì quân đội là tổ chức chịu sự lãnh đạo toàn diện tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy cho nên trung thành với Đảng là cách ở Việt Nam nghe cũng quen rồi và cũng bình thường.”

Đối với các ý kiến trên mạng xã hội cho rằng, quân đội ở bất kỳ quốc gia nào cũng có lời thề trung thành và bảo vệ tổ quốc, còn ở Việt Nam thì quân đội có lời thề theo trình tự là trung thành với Đảng sau mới đến Tổ quốc và nhân dân. Sự kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người đầu tiên đã thay đổi trình tự gần hơn với quan niệm chung trên thế giới được nhìn nhận như thế nào. GSTS Vũ Minh Giang nhận định:

“Tôi cũng nghĩ rằng, một quân đội thì trước hết phải vì lợi ích của dân tộc, lợi ích của quốc gia. Tất cả những giá trị khác theo tôi nó cũng xoay quanh giá trị cốt lõi ấy. Một đất nước nào thì dân tộc và quốc gia cũng được coi là giá trị trung tâm, tất cả những giá trị khác kể cả chính trị …đều phải xoay quanh giá trị này thôi. Vì vậy Thủ tướng có nói phải trung thành với Tổ quốc thì cũng là quan niệm bình thường thôi.”

000_DV1889379.jpg

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị thượng đỉnh Á Âu (ASEM) tổ chức tại Milan, Ý vào ngày 16 tháng 10 năm 2014.

Trong bài nói chuyện tại Đại hội Thi đua quyết thắng toàn quân lần thứ IX Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đảo ngược trình tự về nhiệm vụ của quân đội, ông mong muốn quân đội một lòng xây dựng quân đội ngày cảng vững mạnh về mọi mặt; kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân; bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ.

GSTS Vũ Minh Giang nhận định:

“Trong những văn kiện đưa ra lấy ý kiến rộng rãi và đây có lẽ cũng là điểm mới của Đại hội 12, nêu rất cao lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia, coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Tôi coi xác định như thế là đúng, thế còn các hệ thống chính trị, lực lượng chính trị hay tất cả những cái khác thì phải coi đó là cốt lõi lợi ích dân tộc của một quốc gia là hàng đầu. Vì vậy quân đội là quân đội nhân dân được nhân dân nuôi nấng, được trang bị bằng tiền thuế của người dân thì trước nhất phải bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc. Thế còn đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị theo qui định Điều 4 Hiến pháp là lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị thì quân đội có trách nhiệm bảo vệ Đảng. Tôi nghĩ Thủ tướng nói như thế là đúng.

Cần minh bạch thông tin

Đọc các báo trên mạng tuần này, như Tuổi Trẻ, Tiền Phong, VnExpress chúng tôi ghi nhận tin Đại tướng Phùng Quang Thanh Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam được giải phẫu cắt khối u ở phối ở Pháp và sắp trở về Việt Nam. Tuy vậy những thông tin chính thức xuất hiện ngày 2/7/2015 chậm một tuần sau khi ông Phùng Quang Thanh đã rời Việt Nam và trên các trang facebook râm ran tin đồn ông bị ám sát chết.

GSTS Vũ Minh Giang nhận định:

“Cũng có thể do thói quen mang tính truyền thống, cũng có thể do tính nguyên tắc của mỗi nước. Xưa nay cán bộ cao cấp đi chữa bệnh điều trị thì không bao giờ loan báo, hình thành lệ thường như thế. Vài ngày qua có những tin tức như vậy nên cũng cần có thông báo như cách để cải chính lại những tin không đúng. Bình thường nếu không có những tin đồn đoán thì chắc cũng chẳng đưa. Tôi nghĩ đưa tin đó ra bởi vì có tin trên mạng nói ông ấy gặp nạn ở Paris thì việc đưa tin là một cách cải chính.”

” Tôi được bạn bè cho biết ông Phùng Quang Thanh sang Pháp chữa bệnh, ông được mổ cũng năm ba ngày rồi. Những thông tin như thế họ phải có nghĩa vụ đưa ra để cho dư luận được biết nhưng mà họ không đưa ra.
-TS Nguyễn Quang A”

Ở những quốc gia văn minh dân chủ, chính phủ công khai thông tin về tình trạng sức khỏe của các giới chức cao cấp kể cả thủ tướng, tổng thống để người dân được biết. Có ý kiến cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam cần thay đổi tư duy về vấn đề này. TS Nguyễn Quang A nhận định:

“Đấy là một sự thiếu khôn ngoan của họ về vấn đề bí mật thông tin. Bởi vì họ càng giấu bao nhiêu, càng bí mật bao nhiêu thì càng làm cho dư luận nghi ngờ. Bản thân tôi được bạn bè cho biết ông Phùng Quang Thanh sang Pháp chữa bệnh, ông được mổ cũng năm ba ngày rồi. Những thông tin như thế họ phải có nghĩa vụ đưa ra để cho dư luận được biết nhưng mà họ không đưa ra và đến sáng nay thì Tuổi Trẻ mới đưa và vừa rồi ở trong buổi chiêu đãi quốc khánh Mỹ tôi gặp một vài người, họ cho biết Tuổi Trẻ đang bị kiểm điểm. Tôi nghĩ rằng đấy là một cách rất là không khôn ngoan về việc minh bạch thông tin và chính việc không minh bạch thông tin đã làm cho sự chính danh của chế độ cộng sản này bị xói mòn đi. Điều này họ phải tự trách mình vì chính họ làm hỏng cho họ.”

Theo Infonet và Tiền Phong Online, chiều 2/7 GS Phạm Gia Khải, thành viên Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương cho biết Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh sang Paris Pháp chữa bệnh từ ngày 24/6/2015 vừa qua. Ông Thanh đã được giải phẫu cắt bỏ khối u xơ ở phổi. Tình trạng sức khỏe của Đại tường Phùng Quang Thanh là ổn định không có diễn biến xấu và tới đây sẽ về Việt Nam. Tuy vậy bản tin không xác định bao giờ ông Bộ trưởng trở về nước.

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh 66 tuổi là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng và được dự báo ở trong danh sách ứng cử các chức vụ lãnh đạo chủ chốt trong kỳ Đại hội Đảng khóa 12 năm 2016. Ông Phùng Quang Thanh nổi tiếng về những phát biểu thân Trung Quốc trong thời gian vừa qua. Hiện chưa rõ tình trạng sức khỏe của ông Phùng Quang Thanh có ngăn trở bước đường công danh của ông hay không.

Chuyện Của Đám Con Sen & Thằng Ở

Chuyện Của Đám Con Sen & Thằng Ở

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

RFA

Những đứa bé trai và gái bưng thức ăn cho khách vẫn là những đứa bé đã được mô tả trong tiểu thuyết Nam Cao hay Trương Tửu cách đây năm sáu thập niên, còm cõi, nhọc nhằn, cơ cực, chỉ biết cúi đầu vâng dạ và sống quen với lo âu, sợ hãi….

Bùi Bích Hà

Qua đến mùa mưa thứ hai ở Cambodia thì tôi đủ tự tín để nghĩ rằng: chỉ cần vài ba trăm đô la là mình có thể sống “ung dung” cả tháng ở cái xứ sở (dễ thương) này.

Ăn sáng rẻ rề hà. Cà phê pha vợt thêm một cái bánh tiêu hay bánh quẩy chỉ 60 xu, nếu tính theo Mỹ Kim bản vị. Cháo lòng và hủ tíu thì mắc hơn chút xíu, giá cả “dao động” từ 80 xu đến 90 xu thôi.

Cơm trưa hoặc chiều [canh chua cá (đủ loại) canh khổ qua nhồi thịt, giá xào đậu hũ, sườn ram, cá lóc nướng (cỡ cườm tay), trứng chiên, thịt heo kho tầu, mắm chưng, bò xào khóm …] đồng gía 4.000 riel, tương đương với một dollar. Thêm phần cơm trắng một quarter nữa là xong bữa.

Nhớ thử canh chua nấu theo kiểu Khmer nha, mấy cha. Bất cứ loại cá, hay loại rau nào mà lọt vô tay người dân xứ này là họ đều bỏ vô nồi canh chua tuốt luốt. Bởi vậy, thực khách có thể thưởng thức mười bốn tô canh chua liên tiếp trong một tuần, với mùi vị hoàn toàn khác nhau, và tô nào cũng ngon hết biết luôn.

Chỉ có điều phải phàn nàn là khứa cá thường nhỏ xíu, và mỏng tanh hà, nhứt là cá lóc. Nói là mỏng như tờ giấy thì hơi quá đáng nhưng nói khác đi thì thiệt tình là tôi không biết nói làm sao cho đúng. Nhưng nói tóm lại thì chỉ cần một đồng rưỡi, và đừng bầy đặt bia bốc hay rượu chè gì ráo, là sẽ được một bữa ăn bảo đảm là no bụng tuy hơi có phần đạm bạc.

Muốn cho tươm tất và bảnh bao thì phải ra khỏi những con hẻm nhỏ (“hắt hiu vàng ánh điện câu”) ở ngoại ô Phnom Penh, rồi “giả dạng” làm du khách, hiên ngang kêu Taxi ra trung tâm thủ đô cho nó ngon lành.

Trên đại lộ Shihanouk có Ngon Restaurant. Không phải món nào ở đây cũng “ngon” nhưng phần lớn đều ăn được. Thử kêu một ơ cá rô kho tiêu với một tô cơm trắng coi, chắc chắn là sẽ quên đường về luôn – nhứt là khi mình (lại) chưa biết là sẽ về đâu.

Còn muốn đổi không khí cho nó có vẻ Tây chút xíu thì ghé quán Cái Muỗm (The Spoon Restaurant) nằm trên Tchecoslovaquie Blvd. Thực khách chỗ này, ngó bộ, đều hơi snobbish. Nghe nói phần lớn họ đều là giới chức hành chánh hay quân sự cao cấp của xứ Chùa Tháp. Cả hai loại người này tôi đều rất ghét (vì cái hối lộ hay thói tham nhũng vô độ của họ) nên ghét luôn …cái quán, dù các em tiếp viên nam/nữ đều rất dễ thương và nước mắm (để ăn với cơm gà Hải Nam) ở đây ngon tuyệt̉.

Có bữa, tôi và cả đám cộng tác viên – tân cũng như cựu – của RFA (ở Nam Vang) được ông Mặc Lâm mời ăn trưa tại Khmer Surin Restaurant, trên đường 57. Tiệm ăn nhiều tầng, có luôn khách sạn, rất sạch sẽ, rất đẹp đẽ và giá cả – tất nhiên – không nhân nhượng xíu nào ráo trọi. Bù lại là thức ăn không dở, với khung cảnh thiên nhiên và tình tứ.

Từ trái: Quốc Việt, Danh Hồng, Mặc Lâm. Ảnh: Sơn Trung

Tui uống rất tiết độ, nếu uống một mình. Còn khi được “mời” (nghĩa là uống free) thì khác. Tôi uống tì tì. Đang săm soi tìm rượu, tính kiếm một chai gì đó thiệt mắc cho có cha đứt ruột chơi thì chợt nghe tiếng đám đông lào xào trong quán.

Tôi ngẩng nhìn và thấy hàng trăm thực khách, phần lớn đều là phụ nữ, mặc đồng phục, có in đậm ba chữ ILO (International Labour Organization) đang xếp hàng đi qua trước mặt.

  • Ủa, chuyện gì vậy cà?

Sơn Trung, thổ công của Phom Penh, đáp liền:

  • Ồ, bữa nay là ngày hội của “domestic worker” mà anh. Hội của những người giúp việc. Chắc họ họp ở tầng trên bây giờ xuống ăn trưa đó.
  • Trời, ô sin mà cũng họp hành ở khách sạn nữa sao? Em nói thiệt không vậy?
  • Dạ, thiệt chớ. Đây là Phnom Penh, chớ đâu phải Sài Gòn hay Hà Nội.

Những người giúp việc nhà ở Phnom Penh đang dùng cơm trưa tại Khmer Surin Restaurant. Ảnh: Quốc Việt.

Tôi bán tin bán nghi cho đến khi đọc được bản tin (“Domestic Workers Push for Protections”) của ký giả Pech Sotheary trên  The Phnom Penh Post:

“Những Người Giúp Việc Nội Trợ Thúc Đẩy Việc Bảo Vệ Quyền Lợi”

Ngày hôm qua, bốn mươi tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế đã kêu gọi Chính phủ Căm Bốt phê chuẩn Hiệp định năm 2011 về NNGVNT của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nhằm bảo vệ tốt hơn quyền của NNGVNT Căm Bốt, cả ở bên trong lẫn bên ngoài đất nước.

Bức thư, trong đó nói rõ NNGVNT của Vương quốc hiện nay không được luật pháp bảo vệ, đã được các nhóm đấu tranh cho nhân quyền đồng ký tên, như “Licadho”, “Trung tâm hướng dẫn luật pháp Căm Bốt”, “Mạng lưới NNGVNT Căm Bốt” (CDWN), cùng nhiều nhóm khác.

Theo Hiệp định của ILO, NNGVNT phải được hưởng những điều kiện sống và làm việc xứng đáng, có ngày nghỉ, có quyền thương lượng tập thể và “được bảo vệ chống lại mọi hình thức hành hạ, sách nhiễu và bạo lực.

Phó Giám đốc CDWN, bà Yem Sothy cho biết, 240000 NNGVNT trong nước và nhiều nghìn người ở nước ngoài sẽ được hưởng lợi nhờ sự tham gia của Căm Bốt vào Hiệp định. “Nếu có được sự đồng thuận, những công nhân này sẽ được trả lương đúng mức… và được hưởng những ngày lễ để họ về thăm nhà”, bà nói.

Hai Somaly, 20 tuổi, quê ở Kandal, đã đến Phnom Penh làm người giúp việc, khi cô mới chỉ có mười tuổi. Theo cô, những người giúp việc phải đứng ở một địa vị thấp kém trong xã hội Căm Bốt, và thường bị bóc lột.

“Tôi muốn luật pháp bảo vệ chúng tôi và tôi cũng muốn được hưởng mức lương tối thiểu như những công nhân ngành khác”.

(“Domestic Workers Push for Protections, The Phnom Penh Post, 11 Dec. 2014. Trans. Bùi Xuân Bách”).

Cái thứ con sen và thằng ở (ở) Việt Nam mà cũng ăn nói kiểu đó thì có mà bỏ mẹ, hay … bỏ mạng. Tất cả có bao giờ  dám nói năng gì đâu mà vẫn cứ bị roi vọt đều đều:

VNEXPRESS :

“Sau khi bị tra tấn bằng kìm, chọc que sắt nóng vào vùng kín đến ngất xỉu, một nữ nhân viên nhà hàng đặc sản thú rừng Thanh Loan (huyện Lương Sơn, Hòa Bình) đã bị vứt ra đường.”

Tiền Phong:

“Nguyễn Thị Bình quê ở huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) được mẹ đưa ra Hà Nội làm tại quán phở của ông Chu Minh Đức và vợ là Trịnh Hạnh Phương …  từ năm em 10 tuổi.

Suốt hơn 10 năm qua, Bình phải làm việc quần quật suốt từ 3 giờ sáng đến tận đêm khuya. Sau khi làm xong việc trong nhà, em phải ra quán phở xách nước, thu dọn bát đũa, chuyên chở nước dùng, bánh phở, đưa thịt đi thái, quét dọn… nhưng vẫn bị hành hạ, đối xử như một nô lệ.

Theo lời Bình kể, em bị đánh thường xuyên, lúc thì do làm mất lòng chủ, lúc thì do sơ suất để vỡ một cái bát hoặc làm đổ nước ra nhà. Ông, bà chủ dùng dây điện thắt nút quất liên tiếp vào mặt, lưng; dùng kìm kẹp vào mạng sườn; bắt em quỳ ngoài sân giữa đêm khuya, trời lạnh nhiều tiếng đồng hồ…”

Trong khi Nguyễn Thị Bình bị hành hạ ở Việt Nam thì “đồng nghiệp” của cô cũng đồng loạt bị ngược đãi ở xứ người –  theo tin tức được phổ biến bởi Ban Điều Hợp VNSN (Những Cuộc Đời Bất Hạnh) vào hôm 15 tháng 5 năm 2015:

1. Lấy Chồng Nước Ngoài: 1 Phụ Nữ Việt Nam Chết sau một ngày làm dâu
http://www.youtube.com/watch?v=OCk8YlOORTw

2. Lời cầu cứu của nô lệ xứ người !
http://www.youtube.com/watch?v=8FN3QRcJ6Ac

3. Tiếng kêu than của công nhân Xuất Khẩu Lao Động
http://www.youtube.com/watch?v=SvRnaD_1YA8

4. Nạn Buôn Người Ở Việt Nam 2 – Nữ công nhân Việt xuất khẩu qua Malaysia
https://www.youtube.com/watch?v=vEo9tXIFxpM

5. Nạn Buôn Người Ở Việt Nam 1 – Những Nữ công nhân Việt Ở Jordan Bị Bóc Lột
https://www.youtube.com/watch?v=7we6ZMhH84k

6. Nạn Buôn Người Ở Việt Nam 3 – Nữ Osin Việt Nam ở Malaysia bị bóc lột
https://www.youtube.com/watch?v=jN5jQRpjqvE

7. Tệ Nạn Buôn Bán Phụ Nữ và Trẻ Em tại Việt Nam
https://www.youtube.com/watch?v=L8jyWiq2lWQ

Ngoài ra, trên tạp chí Bốn Phương (phát hành tại Đài Loan) người ta đọc được một lá thư – song ngữ, Việt/Hoa – của linh mục Nguyễn Văn Hùng, kêu gọi giúp đỡ cho một nam công nhân vừa bị tai nạn. Xin chỉ ghi lại nguyên văn (phần tiếng Việt) để rộng đường dư luận:

“Kính thưa anh chị em công nhân, cô dâu Việt Nam tại Đài Loan!

Tôi xin quý anh chị em công nhân và cô dâu người Việt hãy rộng tay giúp đỡ cho trường hợp của chị Dương Thị Toàn.”

“Sau khi người thân của anh Hùng, chồng chị Toàn, liên lạc với Văn Phòng nhờ giúp đỡ, Văn phòng đã cho nhân viên xã hội lên bệnh viện thăm anh Hùng. Nếu anh Hùng không phải trả một số tiền khổng lồ cho môi giới Việt Nam, thì có lẽ anh đã không phải trốn ra ngoài để đi làm kiếm tiền trả nợ mà đã về đoàn tụ với vợ con gia đình. Vì số tiền môi giới quá lớn đã trói chặt anh vào số phận lao động nô lệ, biến anh thành nạn nhân của tệ nạn bóc lôt và buôn bán con người.”

“Chính phủ Việt Nam vẫn làm ngơ trước những hành vi bóc lột công nhân qua số tiền môi giới phải trả trước khi rời Việt Nam! Bao lâu chính phủ Việt Nam chưa có luật pháp chế tài đối với các trung tâm môi giới hút máu người qua việc thu tiền lệ phí quá cao thì những trường hợp thương tâm như anh Hùng vẫn còn xảy ra hàng ngày.”

Mười năm sau, “Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục làm ngơ,” cứ y như chưa bao giờ có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra – theo tường thuật của ký giả Anh Tuấn, báo Lao Động, số ra ngày 18 tháng 4 năm 2015:

“Hơn tháng qua, hai lao động do chi nhánh Cty CP Việt Hà – Hà Tĩnh (VIHATICO, ngõ Anh Sơn, đường Đỗ Đức Dục, phường Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội) đưa đi làm việc tại Qatar đang sống vật vờ do không được bố trí việc làm, phải đi xin ăn từng bữa nơi đất khách.”

Những Người Giúp Việc Nhà biểu dương lực lượng trước Bộ Lao Động, ở thủ đô Phnom Penh. Ảnh: Sen David. Nguồn: The Phnom Penh Post

Bao giờ thì ở cái nước Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc của chúng ta sẽ có Trung Tâm Hướng Dẫn Luật Pháp (Legal Education Center) và Mạng Lưới Người Nội Trợ (Domestic Worker Network) để bảo vệ quyên lợi của những người giúp việc nhà trong, cũng như ngoài nước – để họ “phải đi xin ăn từng bữa nơi đất khách”?

Khi nào thì giới ô sin Việt Nam được quyền đòi hỏi nhận tiền lương tối thiểu, ngày nghỉ cuối tuần, và những ngày nghỉ lễ được về thăm nhà – như đồng nghiệp của họ ở bên Cambodia?

Hội Nhà báo ĐLVN ra tuyên bố số 6 phản đối công an đàn áp ông Phạm Chí Dũng

Hội Nhà báo ĐLVN ra tuyên bố số 6 phản đối công an đàn áp ông Phạm Chí Dũng

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-06-29

06292015-indp-repor-asso-prots-poli-perse.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chính thức ra mắt hoạt động vào ngày 4 tháng 7 năm 2014.

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chính thức ra mắt hoạt động vào ngày 4 tháng 7 năm 2014.

File photo

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, một tổ chức xã hội dân sự không thuộc Nhà nước, hôm nay ra tuyên bố số 6 phản đối Công an Thành phố Hồ Chí Minh đàn áp chủ tịch hội là ông Phạm Chí Dũng.

Theo nhận định thì biện pháp của công an nhằm loại bỏ tờ báo của hội mà sau chưa đầy một năm ra đời đã thu hút được nhiều độc giả quan tâm tình hình đất nước, muốn biết sự thật.

Thực tế đàn áp

Tuyên bố nhắc lại việc chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, ông Phạm Chí Dũng trong hai ngày 25 và 26 tháng 6 vừa qua bị nhân viên an ninh ép đi làm việc.

Đây không phải là lần đầu tiên mà trong vòng chưa đầy hai năm kể từ cuối năm 2013 sau khi công khai từ bỏ đảng Cộng sản Việt Nam, rồi tham gia thành lập Hội Nhà báo Độc lập, ông Phạm Chí Dũng từng bị triệu tập gần 20 lần, bị bắt giữ một số lần, bị tịch thu hộ chiếu cấm xuất cảnh. Và cơ quan an ninh thường xuyên theo dõi ông.

Một người biết vụ việc của chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, nhà báo Võ Văn Tạo, từ Nha Trang cho biết:

“ Về yêu cầu của bên Công an đối với anh Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập yêu cầu phải dẹp bỏ tờ Việt Nam Thời báo- tờ báo mạng của Hội Nhà báo Độc lập, thì tôi cũng biết thông tin này. Ngay tối anh Dũng được thả ra sau khi bị bắt lúc sáng đến 5 giờ chiều mới được thả ra; sau đó có thông tin trên mạng Internet là công an yêu cầu anh như thế.

Công an hỏi về liên quan với nhà văn Nguyễn Quang Lập- Bọ Lập; họ lấy cớ vụ án của Nguyễn Quang Lập là chưa điều tra, nên muốn điều tra những quan hệ với nhà văn; nhưng chủ yếu là họ yêu cầu anh Dũng chấm dứt trang báo đó.”

Nhận định lý do

Bản thân chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, ông Phạm Chí Dũng cũng có nhận định là cơ quan an ninh muốn loại bỏ mạng Việt Nam Thời Báo của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam:

” Cuối cùng họ đưa ra yêu cầu đóng trang Việt Nam Thời báo, và tôi hiểu là tiếp sau trang Việt Nam Thời báo là họ nhấn mạnh phải loại trừ vai trò ở Hội Nhà báo Độc lập đối với cá nhân tôi

ông Phạm Chí Dũng”

“ Họ mời tôi với cớ về vụ Nguyễn Quang Lập vì vụ đó chưa đình chỉ; nhưng tôi hiểu đó chỉ là cái cớ thôi vì hầu hết những câu hỏi không phải hỏi về Nguyễn Quang Lập mà hỏi về Hội Nhà báo Độc lập và trang Việt Nam Thời báo thôi. Cuối cùng họ đưa ra yêu cầu đóng trang Việt Nam Thời báo, và tôi hiểu là tiếp sau trang Việt Nam Thời báo là họ nhấn mạnh phải loại trừ vai trò ở Hội Nhà báo Độc lập đối với cá nhân tôi.”

Ông Phạm Chí Dũng trong một lần đi biểu tình phản đối Trung Quốc

Ông Phạm Chí Dũng trong một lần đi biểu tình phản đối Trung Quốc

Một người cho biết hằng ngày vẫn phải vượt tường lửa để vào mạng xem Việt Nam Thời báo của Hội Nhà báo Độc lập cho biết lý do phải tìm đến với tờ báo này:

“ Tại vì tờ báo đó là tờ báo đa chiều, nó tập hợp những bài viết, những quan điểm khác nhau và không giấu diếm những sự thật.

849 cơ quan báo đài của Nhà nước thì thông thường những bài viết ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà Nước cho dù đó là sự thật đi nữa cũng không được đăng lên. Những tiếng nói trái chiều hay không đúng chủ trương Nhà nước thì lại không được đăng tải. Cho nên tôi phải đi tìm những trang như Việt Nam Thời báo để tìm những tin tức, những sự thật để hiểu biết chính xác về tình hình của đất nước.”

Nhà báo Võ Văn Tạo đưa ra nhận định về lý do tại sao công an thẳng thừng đưa ra yêu cầu đối với chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam phải ngưng Việt Nam Thời báo:

“ Ở Việt Nam ai sống lâu năm ở thể chế này đều biết rằng mọi thứ mà không do Đảng cộng sản chủ trương lập ra thì đều bị coi là bất hợp pháp và là kẻ thù nguy hiểm của thể chế. Không chỉ hội Nhà báo, kể cả những hội thông thường nhất như Hội Làm vườn; bất cứ hội gì Đảng đều tìm cách cài cắm người mình vào. Từ lâu chúng tôi biết rằng những hội đó do Đảng lập ra chẳng qua chỉ là những thứ hình thức để xiềng xích tất cả những giai tầng trong xã hội thôi.

Trang mạng tờ Việt Nam Thời Báo ngày 29 tháng 6, 2015

Trang mạng tờ Việt Nam Thời Báo ngày 29 tháng 6, 2015

Thế thì Hội Nhà báo Độc lập do anh Phạm Chí Dũng làm chủ tịch khi ra mắt thì như cái gai. Mà trong năm 2014 không chỉ có Hội Nhà báo Độc lập mà có một số hội đoàn, xã hội dân sự khác nữa như Công đoàn Độc lập, Hội Phụ nữ cũng độc lập… chừng trên 20 hội độc lập như thế  và họ tự tuyên bố thành lập chứ không đăng ký vì có đăng ký cũng không bao giờ được công nhận; mà theo truyền thống là đăng ký với cơ quan Sở Nội vụ thì tôi tin chắc chắn họ sẽ cung cấp cho đăng ký vì những tổ chức đó không phải do Đảng lập ra. Nên Hội Nhà báo Độc lập như một cái gai đối với thể chế này và đối với an ninh.”

” Ở Việt Nam ai sống lâu năm ở thể chế này đều biết rằng mọi thứ mà không do Đảng cộng sản chủ trương lập ra thì đều bị coi là bất hợp pháp và là kẻ thù nguy hiểm của thể chế. Không chỉ hội Nhà báo, kể cả những hội thông thường nhất như Hội Làm vườn; bất cứ hội gì Đảng đều tìm cách cài cắm người mình vào

Nhà báo Võ Văn Tạo”

Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, nhà báo Phạm Chí Dũng, chia sẽ một số nguồn tin mà ông có được về mạng Việt Nam Thời báo của hội này:

“ Tôi có nghe những thông tin ( không biết có đúng không) là phía chính quyền đánh giá trang Việt Nam Thời báo và Hội Nhà báo Độc lập hiện nay có tầm ảnh hưởng khá rộng; đặc biệt ảnh hưởng đến cả khối công chức và người về hưu thành thử có thể đó là lý do họ không muốn tồn tại một chủ thể mặc dù đã được hiến định trong Hiến pháp năm 1992 và 2003. Họ không muốn tồn tại một Hội Nhà báo Độc lập bên cạnh một Hội Nhà báo Việt Nam. Và vẫn muốn giữ vai trò chuyên chế, độc tài về các hội đoàn dân sự của Nhà nước. Đó là nguồn thông tin riêng của tôi, tôi nghe được như vậy.

Một cơ sở nữa có lẽ lượng truy cập đối với Việt Nam Thời báo tăng đáng kể trong thời gian một năm vừa qua. Lượng truy cập bình quân hiện nay của Việt Nam Thời báo một ngày là từ 70- 80 ngàn; khi cao hơn có 100 ngàn một ngày. Có lẽ đó là một lý do để Nhà nước và ngành Công an cảm thấy lo ngại sự ảnh hưởng của trang Việt Nam Thời báo; đặc biệt là chúng tôi đặt ra yêu cầu trang Việt Nam Thời báo phải gia tăng tính phản biện về các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị và kể cả tôn giáo nữa; phản ánh sự thật khách quan và nói lên tiếng nói của người dân.

Tôi nghĩ rằng trong một xã hội mà người ta không quan tâm nhiều lắm, hay quan tâm rất ít về tự do ngôn luận và kể cả vấn đề tự do tư tưởng, tự do báo chí thì có lẽ người ta chưa quen với sự tồn tại của cơ chế xã hội dân sự và các tổ chức xã hội dân sự độc lập như là Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam.”

Báo chí Nhà nước và báo chí độc lập

Nhà báo Võ Văn Tạo cho biết trong thực tế tại Việt Nam có nhiều trang mạng của những người được gọi là ‘trí thức dấn thân’ cũng bị chặn tại Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều người quan tâm đến thông tin sự thật vẫn tìm cách vượt tường lửa để đến với các trang mạng đó và nhà báo Võ Văn Tạo cho rằng cuộc chiến giữa cơ quan tuyên truyền Nhà nước và truyền thông ‘lề dân’ không chịu sự kiểm soát nào là một cuộc chiến một mất, một còn.

“ Trong thời đại phát triển khoa học- kỹ thuật có Internet, có facebook  và có các phương tiện truyền thông khác và rất khó chặn. Có những quốc gia như Trung Quốc họ cũng ngặt nghèo hơn nhưng tôi cho rằng cũng vẫn bị lọt vì theo tôi việc họ chặn thì vẫn cứ ngăn chặn nhưng cái đà tiến bộ của khoa học- kỹ thuật và tiếp cận của cộng đồng ‘trí thức dấn thân’ thì tôi cho rằng người ta vẫn tìm cách vượt qua.

Hiện nay ở Việt Nam một số trang web trang blog cá nhân mà mạnh dạn, tương đối thẳng thắn và can đảm cũng bị chặn; rất khó vào nhưng những người biết cách bày nhau để vào xem.”

Xin được nhắc lại Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam với tờ báo mạng Việt Nam Thời báo ra đời vào ngày 4 tháng 7 năm ngoái.

Làn sóng người tỵ nạn chính trị từ Việt Nam (4)

Làn sóng người tỵ nạn chính trị từ Việt Nam (4)

Anh Vũ, thông tính viên RFA
2015-06-27

Làn sóng người tỵ nạn chính trị từ Việt Nam (4) Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Một nhóm người Thượng Việt Nam từ Campuchia chạy qua Thái Lan.

Một nhóm người Thượng Việt Nam từ Campuchia chạy qua Thái Lan.

RFA Photo

Your browser does not support the audio element.

Trong làn sóng những người Việt Nam đi tỵ nạn ở nước ngoài, không thể không nhắc đến những người Thượng Tây nguyên đang tỵ nạn ở Thái Lan. Cuộc sống của họ hiện nay ra sao và họ có những mong muốn gì?

Vì mất đất canh tác

Trong những năm 2001 đến 2007, trước hiện trạng đất canh tác dần dần bị rơi vào tay các đồn điền cao su của người Kinh di cư từ miền xuôi lên, cộng với sự cấm đoán ngặt nghèo của chính quyền đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, hàng loạt các cuộc biểu tình của người Thượng Tây nguyên đã nổ ra để đòi trả lại đất đai bị thu hồi và đòi nới rộng quyền tự do tôn giáo.

Để đối phó với các cuộc biểu tình đông người, chính quyền VN đã tiến hành nhiều đợt đàn áp nhằm vào người Thượng ở Tây Nguyên, từ đó nhiều người Thượng Tây nguyên tìm đường trốn chạy sang Campuchia để tìm qui chế tỵ nạn.

” Người Thượng mình hiện nay ở Thái Lan nếu gom lại thì có khoảng hơn 300 người. Chạy sang đây tỵ nạn vì mình không có tự do tín ngưỡng về tôn giáo, còn về đất đai của mình thì chính quyền họ đã cướp đi. Họ còn đàn áp những người có niềm tin tôn giáo, có người bị bắt bỏ tù và cũng có người đã chết trong tù.
-Ông R’Ma B’Lie”

Nói về lý do phải chạy sang Thái Lan tỵ nạn, ông R’Ma B’Lie người dân tộc Jarai, ở tỉnh Gia rai đến Thái Lan tỵ nạn vào tháng 12/2011 cho chúng tôi biết:

“Người Thượng mình hiện nay ở Thái Lan nếu gom lại thì có khoảng hơn 300 người. Chạy sang đây tỵ nạn vì mình không có tự do tín ngưỡng về tôn giáo, còn về đất đai của mình thì chính quyền họ đã cướp đi. Họ còn đàn áp những người có niềm tin tôn giáo, có người bị bắt bỏ tù và cũng có người đã chết trong tù.”

Ông Y Thoat Knul dân tộc M’Nông ở tỉnh Đaklac, một tín đồ Tin lành tiếp lời:

“Do sự truy đuổi của cộng sản VN nên tôi đã phải bỏ chạy sang Campuchia xin tỵ nạn. Trong thời gian ở trong trại tỵ nạn ở Campuchia tất cả những người Thượng đang tỵ nạn đã bị Cao ủy LHQ trục xuất về Việt Nam. Tôi không thể chấp nhận quay trở về VN vì nếu quay về VN thì sẽ bị cầm tù hoặc là chết. Chính vì thế tôi đã phải liều chết để chạy trốn sang Thái Lan để xin tỵ nạn.”

Ông Y Heo KNuil Ly dân tộc Ê đê ở tỉnh Đaklac đã chạy sang tỵ nạn tại Thái Lan từ năm 2008 nói với chúng tôi:

“Từ trại tỵ nạn ở Campuchia chúng tôi phải chạy trốn sang Thái Lan vào năm 2008, lý do tôi phải bỏ trốn khỏi đất nước quê hương tôi một phần cũng vì vấn đề chính trị. Trước việc đất đai của cha ông chúng tôi đã bị chính quyền thu hết thì chúng tôi đã đi biểu tình để phản đối cái đó và yêu cầu chính phủ Hà nội phải tôn trọng quyền của người Thượng ở Tây nguyên. Một phần nữa họ đã ghép tôi tội hoạt động tôn giáo Tin lành và họ đã ghét bỏ tôi nên buộc tôi phải chạy sang Campuchia để tỵ nạn.”

Nói về những khó khăn của những người Thượng Tây nguyên tỵ nạn ở Thái Lan đã và đang gặp phải trong thời gian vừa qua, ông Y Thoat Knul bày tỏ:

Ngày 20/03/2014, hàng ngàn người dân tộc H'mong tập trung phản đối phiên tòa kết tội hai người H'mong vi phạm điều 258.

Ngày 20/03/2014, nhiều người dân tộc H’mong cũng đã tập trung phản đối phiên tòa kết tội hai người H’mong vi phạm điều 258. (Hình minh họa)

“Vì mình không có giấy tờ nên phải đi làm chui thôi, làm phụ hồ, làm rửa xe, làm đủ các công việc. Mỗi ngày phải làm việc từ 10-14 tiếng đồng hồ, không có nghỉ, phải chấp nhận làm nô lệ thôi. Với cuộc sống bơ vơ hiện tại thì khôngbiết tin vào ai, không biết phải làm gì và không biết mình sẽ rơi vào tay ai. Đó còn chưa kể đến chuyện ốm đau, bệnh tật và biết bao các thứ chuyện khác.”

Trước cuộc sống vô vàn khó khăn của họ như vậy, song việc cứu xét để chấp thuận quy chế tỵ nạn cho những người Thượng Tây nguyên hiện nay của Cao ủy LHQ cũng hết sức khó khăn. Ông R’Ma B’Lie khẳng định:

“Tình trạng người Thượng tỵ nạn ở đây hết sức là khó khăn, cuộc sống thì tạm bợ không có giấy tờ, về vật chất thì hết sức thiếu thốn. Còn thủ tục giấy tỵ nạn thì UN hoãn đi hoãn lại, có khi UN hẹn ngày phỏng vấn rồi họ hoãn lại sang ngày khác nữa. Trung bình một người thì họ hoãn tới 2-3 lần.”

Gia đình còn ở lại VN

Một trong những khó khăn của những người Thượng Tây nguyên tỵ nạn là gia đình, vợ con họ còn ở lại VN đã bị chính quyền phân biết đối xử và liên tục sách nhiễu. Ông Y Heo KNuil Ly bày tỏ:

“Trước khi tôi rời bỏ VN thì gia đình tôi còn ở lại VN hết, gia đình tôi có 02 cháu và một vợ và đã bị họ phân biệt đối xử rất khó nghe lắm. Họ bảo với con tôi là bố mày là phản quốc bán nước, còn vợ tôi là giáo viên thì bị họ làm khó dễ. Vừa rồi vợ tôi có nhắn cho tôi trên facebook rằng họ đang làm khó khăn cho mẹ con em ở nhà.”

” Trước khi tôi rời bỏ VN thì gia đình tôi còn ở lại VN hết, gia đình tôi có 02 cháu và một vợ và đã bị họ phân biệt đối xử rất khó nghe lắm. Họ bảo với con tôi là bố mày là phản quốc bán nước, còn vợ tôi là giáo viên thì bị họ làm khó dễ.
-Ông Y Heo KNuil Ly”

Song vượt lên các khó khăn của cuộc sống hiện tại, các sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng người Thượng Tây nguyên vẫn được duy trì thường xuyên. Ông R’Ma B’Lie cho hay:

“Việc sinh hoạt tôn giáo ở Thái Lan thì bây giờ chúng tôi đang làm lễ ở một nhà thờ  người Thái của mục sư Phonchai. Hiện tại vào mỗi ngày chủ nhật vào buổi chiều thì tôi qua đó làm thông dịch cho nhà thờ để bà con người Thượng đang tỵ nạn ở Thái Lan.”

Tuy vậy, cũng có một số người cũng không có điều kiện để thực hiện mong muốn của họ. Ông Y Thoat Knul nói với chúng tôi:

“Bây giờ ở Thái Lan một thân một mình tôi không thể tham gia sinh hoạt về tôn giáo, vì hàng ngày bây giờ chỉ biết cắm đầu cắm cổ để đi làm nên không có thì giờ. Cũng vì ở chỗ tôi đang ở bây giờ cũng không có nhà thờ, không có hội thánh. Từ đây đi đến nhà thờ nếu đi bằng xe taxi 500-600 baht, cả đi cả về tới 1.000 baht thì lấy đâu ra tiền để đi.”

Bất kể ở trong hoàn cảnh nào song không ít những người Thượng Tây nguyên vẫn mong muốn được tiếp tục đấu tranh cho một nước VN có tự do và dân chủ một cách thực sự. Ông Y Heo KNuil Ly ghi nhận:

“Bây giờ thú thật việc đấu tranh thì hiện tại chưa có, song cũng rất muốn có một ai hoặc một tổ chức nào để tâm sự. Tôi muốn có một người nào đó thúc đẩy tôi để tham gia đấu tranh vì dân chủ, vì tôi nghĩ rằng chỉ khi nào đất nước mình có nhân quyền và dân chủ thì con người mình ở VN mới có được tự do. ”

Tình cảnh những người Thượng Tây nguyên đang tỵ nạn ở Thái Lan khó khăn là như vậy, song sự quan tâm của các tổ chức và cá nhân người Việt đối với họ còn ở mức hết sức khiêm tốn. Trong một tâm trạng buồn tủi, ông Y Thoat Knul nói về nguyện ước của ông và bà con người Thượng Tây nguyên đang tỵ nạn ở Thái Lan. Ông nói:

“Cuộc sống của chúng tôi rất mong manh, không biết sẽ đi đâu, về đâu khi mà Cao ủy LHQ đã bỏ rơi chúng tôi hoàn toàn. Chúng tôi bây giờ chỉ cầu mong tất cả cộng đồng người Việt ở Hải ngoại và các tổ chức hãy quan tâm đến sự sống của người Thượng tỵ nạn. Đây là lời nói chân thành từ đáy lòng.”

Chính quyền Hà Nội luôn cho rằng những người Thượng lợi dụng vỏ bọc tôn giáo nhằm hoạt động chính trị, từ đó có thể gây bất ổn và ảnh hưởng đến quyền lực của đảng CSVN. Trong lúc đó, những người Thượng ở Tây nguyên thì cho rằng các chính sách thiếu công bằng của chính quyền đã biến họ trở thành các sắc tộc thiểu số bị chèn ép ngay trên quê hương xứ sở của họ.

MỘT CÁI TÊN ĐÃ THÀNH DANH: TRẦN QUANG CƠ

MỘT CÁI TÊN ĐÃ THÀNH DANH: TRẦN QUANG CƠ

Huy Đức

28-06-2015

Tuy từ chối chức bộ trưởng Ngoại giao, ông Trần Quang Cơ vẫn là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất lên đường lối đối ngoại của Việt Nam – không phải bằng quyền lực, chức vụ mà bằng những gì ông bạch hóa trong cuốn Hồi Ức & Suy Nghĩ được “leak” ra hồi đầu thập niên 2000s. Cuốn hồi ký có giá trị cảnh báo nguy cơ Việt Nam rơi vào thời kỳ Bắc thuộc mới.

Năm 1991, ông Nguyễn Cơ Thạch chịu nhiều áp lực phải rời khỏi chính trường. Chiếc ghế bộ trưởng ngoại giao được chuẩn bị cho ông Trần Quang Cơ nhưng ông từ chối. Khi Quốc hội đã nhóm họp, ông Trần Quang Cơ vẫn “công tác” ở Lào. Ông Đỗ Mười tưởng ông Cơ “đòi” cái ghế ủy viên Bộ chính trị nên hứa là nếu ông Cơ nhận, Trung ương sẽ bổ sung. Ông Cơ kiên quyết từ chối.

Thật tình cờ, tôi nhận được điện thoại của đại sứ Đinh Hoàng Thắng báo ông Trần Quang Cơ đồng ý trả lời phỏng vấn khi đang ở trong Thành phỏng vấn Tướng Lê Đức Anh. Phải ngồi với cả hai mới thấy được sự khác nhau giữa họ về nhân cách, tầm nhìn; sự khác nhau giữa tham vọng quyền lực và lòng yêu quê hương đất nước.

Trong cuộc gặp vào chiều cùng ngày (có đại sứ Đinh Hoàng Thắng), tôi hỏi, vì sao ông lại không nhận chức bộ trưởng Ngoại giao. Ông Cơ thẳng thắn: “Lúc ấy, trong Bộ chính trị đã phân công cho Tướng Lê Đức Anh, Chủ tịch Nước, phụ trách quốc phòng, an ninh và ngoại giao. Tướng Lê Đức Anh là kiến trúc sư chính của Hội nghị Thành Đô. Nghị quyết Đại hội VII xác định đường lối ngoại giao đa phương. Nhưng chúng tôi biết rõ ‘phương ưu tiên’ của ông ta là ai, là ngược lại với chúng tôi, dẫu có nhận chức, trước sau cũng mất chức”. Tôi nói: “Tại sao anh không nhận chức rồi đấu tranh, nếu có mất chức vì bất đồng quan điểm thì lịch sử càng làm rõ ai công, ai tội”. Ông Trần Quang Cơ cười: “Cậu nghĩ là người ta sẽ cho tôi mất chức vì bất đồng quan điểm ư”. Khi ông Cơ nói điều đó, chưa xảy ra vụ “hai bao cao su” nhưng tôi cũng phần nào hiểu được.

Rồi các đồng nghiệp của ông Trần Quang Cơ sẽ đánh giá về sự nghiệp ngoại giao của ông. Nhưng, việc ông và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch bị gạt khỏi cuộc chơi hồi thập niên 1990s đã để lại một khoảng trống trí tuệ to lớn cho Hà Nội. Trong khoảng trống đó, người ta mặc sức sử dụng con ngoáo ộp “diễn biến hóa bình” những con ngoáo ộp “made in” Trung Quốc.

Chúng ta chỉ mới biết đến những mất mát ở thác Bản Giốc, bãi Tục Lãm, điểm cao 1509… Chúng ta còn rất ít biết đến những mất mát to lớn hơn: những cơ hội để cải cách chính trị; những cơ hội để cải cách kinh tế theo hướng thị trường; những cơ hội hội nhập sâu rộng hơn với các quốc gia tiến bộ; những cơ hội để ký BTA, đi trước Trung Quốc trong làm ăn với Mỹ.

Cho dù rất chia sẻ với quyết định của ông; vẫn kính trọng tài năng và tâm huyết của ông; không dám trách ông “bỏ cuộc chơi”… nhưng vẫn tiếc, vận nước vào những lúc khó khăn, lại quá thiếu vắng những con người tử tế.

Xin tiễn biệt ông. Ông ra đi nhưng người đời sẽ còn nhắc tên ông, một cái tên đã thành danh: TRẦN QUANG CƠ.

Vô trách nhiệm và vô cảm

Vô trách nhiệm và vô cảm

Nguyễn Hưng Quốc

Xã hội Việt Nam hiện nay có nhiều khuyết tật, nhưng hai khuyết tật chính, theo tôi, có ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng nhất đối với sự phát triển của đất nước là: Một, sự vô trách nhiệm của các cán bộ, kể cả các cán bộ lãnh đạo; và hai, sự vô cảm của dân chúng, kể cả các thành phần trí thức.

Đã có nhiều người viết và nói về sự vô cảm của dân chúng. Nói một cách tóm tắt, sự vô cảm ấy có ba biểu hiện chính.

Thứ nhất, vô cảm trước những đau khổ của người khác. Đã đành ở Việt Nam vẫn có những người quan tâm đến dân oan, đến những người bệnh tật và nghèo khổ trong xã hội. Nhưng rõ ràng đó chỉ là thiểu số, một thiểu số cực kỳ ít ỏi. Còn đại đa số thì vẫn dửng dưng. Tai nạn xảy ra ngoài đường: người ta dửng dưng. Vô số người không có đủ cơm ăn, áo mặc: người ta dửng dưng. Bao nhiêu người bị chà đạp: người ta dửng dưng. Hình ảnh tiêu biểu nhất cho loại dửng dưng này là các youtube ghi hình ảnh một số học sinh bị bạn bè đánh đập một cách tàn nhẫn: Tất cả những người chung quanh đều yên lặng đứng nhìn, không có chút nỗ lực can thiệp hay thậm chí, cũng không bày tỏ một thái độ nào cả. Họ nhìn một cách hờ hững như không có chuyện bất bình thường nào đang xảy ra ngay trước mắt mình cả.

Thứ hai, vô cảm các các tệ nạn trong xã hội. Ai cũng biết xã hội Việt Nam đầy những tệ nạn. Tệ nạn từ trong nhà đến trường học và ngoài xã hội. Tuy nhiên số người thực sự quan tâm rất ít. Thấy kết quả điều tra của quốc tế về chất lượng sống, ở đó, Việt Nam bị xếp vào dưới đáy cùng của thế giới, thậm chí, còn thua cả Campuchia và Lào, cũng không có mấy người động lòng. Mỗi người hầu như chỉ nhìn vào sự thành công hay thất bại của bản thân mình, còn tệ nạn xã hội nói chung là thuộc về trách nhiệm của những ai khác.

Thứ ba, vô cảm trước tình hình của đất nước. Ở đây lại có nhiều khía cạnh. Kinh tế Việt Nam càng lúc càng sa lầy trong nợ nần: người ta mặc kệ. Giáo dục Việt Nam càng ngày càng xuống dốc: người ta mặc kệ. Văn hoá càng lúc càng suy thoái: người ta mặc kệ. Đạo đức càng ngày càng suy đồi: người ta mặc kệ. Quan trọng nhất, Việt Nam càng ngày càng đối diện với nguy cơ bị Trung Quốc xâm lược: người ta cũng mặc kệ. Tất cả những thái độ mặc kệ ấy có một cái tên chung: sợ chính trị. Ai cũng né tránh chính trị. Người ta phó thác chuyện chính trị, từ đối nội đến đối ngoại, cho chính phủ và đảng cầm quyền. Người ta thừa biết chính phủ và đảng cầm quyền cũng đang bế tắc, không tìm ra một phương hướng hay sách lược nào để giải quyết cả, người ta vẫn bất chấp.

Tôi có khá nhiều bạn bè thuộc giới trí thức trong nước. Hỏi chuyện, ai cũng biết tất cả những nguy cơ mà Việt Nam đang đối diện, trong đó có cả nguy cơ mất nước, nhưng hầu như ai cũng chỉ thở dài ngao ngán: Trung Quốc bây giờ mạnh quá, làm sao chống lại được? Rồi thôi. Người ta xem đó như những chuyện không thể tránh khỏi. Và vì không thể tránh khỏi, chúng cũng không còn là vấn đề nữa. Sau đó, người ta an tâm tập trung hết tâm trí vào việc kiếm sống. Chuyện nước non như thuộc về ai khác.

Dân chúng như thế, còn cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo thì sao? Thì ở đâu cũng thấy một điều: Vô trách nhiệm.

Biển hiện đầu tiên của tinh thần vô trách nhiệm ấy được nhìn thấy trong công việc làm hàng ngày của họ. Ví dụ gần đây nhất là những chuyện liên quan đến cây xanh ở Hà Nội. Thành phố chủ trương chặt hơn 7000 cây xanh mà không hề nghiên cứu cẩn thận những cây nào là đáng chặt. Đến lúc dân chúng phản đối kịch liệt, người ta mới dừng lại. Sau đó, trồng cây thế. Hứa trồng cây vàng tâm nhưng thực tế lại trồng cây mỡ, một loại cây rẻ tiền hơn. Cũng chưa hết. Sau trận dông lốc vừa rồi làm hàng ngàn cây bị bứng gốc đổ nhào, người dân mới phát hiện rễ những cây mới trồng còn để nguyên cả bao ny lông chung quanh. Đến lúc dân chúng tố cáo, người ta mới lén lút để cào đất và cắt các bao ny lông ấy ra. Tất cả diễn tiến chặt cây rồi trồng cây ấy cho thấy điều gì? – Sự vô trách nhiệm. Không phải chỉ những người thợ chặt cây hay trồng cây vô trách nhiệm mà cả giới lãnh đạo của họ, thậm chí, lãnh đạo của cả thành phố cũng vô trách nhiệm.

Những hành động vô trách nhiệm ấy xuất hiện ở khắp nơi: xây đường thì chỉ vài tháng, hay có khi, vài tuần là bị sụp lún. Trồng trụ điện thì không có cốt sắt nên cứ gặp gió lớn là bị đổ. Dây điện treo lằng nhằng và lòng thòng ngay trên đầu dân chúng cũng không ai để ý.

Nhưng nguy hiểm nhất là thái độ vô trách nhiệm đối với đất nước. Trong cái gọi là đất nước ấy, khía cạnh quan trọng nhất là độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ; trong khía cạnh ấy, yếu tố nòng cốt là các hiểm hoạ đến từ Trung Quốc. Chỉ nêu các sự kiện gần đây nhất làm ví dụ. Đó là việc Trung Quốc cho bồi đắp các bãi đá ngầm hoặc rạn san hô làm đảo nhân tạo. Việt Nam phản ứng ra sao? Cũng chỉ là những lời phản đối lấy lệ của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao. Ngay trên diễn đàn cuộc đối thoại Shangri-la ở Singapore vừa rồi, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh cũng không tham dự. Chỉ có Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh hiện diện. Nhưng ông Vịnh cũng không phát biểu gì cả. Ông chỉ làm một việc như ông tự nhận là “lắng nghe”. Như những diễn biến mới nhất liên quan đến cuộc tranh chấp ở Biển Đông là thuộc trách nhiệm của ai khác.

Theo dõi tin tức từ báo chí những tháng gần đây, người ta thấy rõ quốc gia có phản ứng gay gắt nhất trước hành động xây đảo nhân tạo ở Trường Sa chính là Mỹ. Cho máy bay vờn qua vờn lại chung quanh các hòn đảo nhân tạo ấy là Mỹ. Tố cáo và phản đối âm mưu xây đảo nhân tạo ấy của Trung Quốc cũng là Mỹ. Vận động dư luận thế giới, đặc biệt các quốc gia thuộc nhóm G7, để mọi người thấy rõ âm mưu của Trung Quốc cũng lại là Mỹ. Việt Nam, từ trước đến sau, giữ một sự im lặng rất khó hiểu.

Dường như nhà cầm quyền Việt Nam xem chuyện mang Trung Quốc ra các toà án quốc tế là trách nhiệm của Philippines và lên án các hành động xây dựng đảo nhân đạo trái phép ở Trường Sa là nhiệm vụ của Mỹ. Giới chức Việt Nam thì chỉ khoanh tay đứng nhìn.

Khoanh tay thật ra cũng là một hình thức bó tay.

Bó tay ngay cả trước khi nỗ lực làm một cái gì đó là một sự bó tay rất vô trách nhiệm.

Sống tiền Pháp, chữa thuốc Tây, Đi xế Nhựt, ăn cơm Tàu, thờ Việt Cộng –

Sống tiền Pháp, chữa thuốc Tây, Đi xế Nhựt, ăn cơm Tàu, thờ Việt Cộng –

Tác Giả: TS. Phan Văn Song

17 Tháng 6 2015

Bài viết của ký giả Xuân Mai trên báo áp phê số 4 tại Paris như sau:

« Ông Nguyễn Văn Tuyền, 59 tuổi đến định cư tại Pháp năm 1980. Với lá đơn thống thiết như sau: “Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp, vui lòng chấp thuận cho tôi được tỵ nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do nầy, và tôi chỉ trở về quê cũ khi nào quê hương tôi không còn chế độ độc tài Cộng Sản.”

Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tỵ nạn của ông đến 7 lần từ năm 1995 đến năm 2000. (Theo tài liệu của OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn và Vô Tổ quốc)

Ngày 27-6-2000, ông Tuyền và 544 Việt kiều Pháp bị OFPRA gởi thơ thông báo rút lại thẻ tỵ nạn, với lý do trở về quê cũ khi còn chế độ độc tài Cộng Sản. “Chiếu theo điều 1, khoản 2A của Hiệp Định Genève ngày 28-7-1951, chúng tôi thu hồi thẻ tỵ nạn. Đồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, kể từ nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội theo diện người tỵ nạn chính trị”.

Được biết, từ năm 1988 đến năm 2000, tổng số người Việt ở Pháp bị truất bỏ quyền tỵ nạn và quyền lợi, với con số là 22,417. Bài viết ghi như sau: “Chính phủ Việt Cộng qua các đại sứ từ Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái đến Nguyễn Chiến Thắng đã coi người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, hoặc áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông. Đó là, dễ giãi trong việc cấp chiếu khán cho họ, để họ bị OFPRA cắt quyền tỵ nạn và trợ cấp xã hội.

Sau khi cấp chiếu khán, tòa đại sứ thông báo danh sách cho Bộ Nội vụ Pháp biết tên họ của những người vi phạm luật tỵ nạn.Một khi mất thẻ tỵ nạn, thì mất luôn thẻ thường trú (Carte de Séjour) nên không xin được việc làm.Trường hợp đó, muốn sống ở Pháp trên 3 năm, thì phải có Passport của chính phủ CSVN, để trở thành công dân Việt Cộng cho đến mãn kiếp. »


Và Nhà báo kết luận :
«Cái thâm độc của VC là như thế! ».

Chúng tôi xin phép quý độc giả trích nguyên văn bài viết của báo Ép-Phê Paris là tờ báo việt ngữ duy nhứt được phát không ở các thương hiệu và chợ Á đông ở Paris và nhở vậy được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt tại Paris và vùng lân cận. Dĩ nhiên với điện thoại, người Việt tỵ nạn phe ta sẽ thông báo cho bà con toàn xứ Pháp biết. Nhưng theo điều tra và hiểu biết của chúng tôi thì cho đến ngày hôm nay bản tin giựt gân nầy của báo Ép-phế hổng có Ép-phê tí nào. Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều, vì từ năm 2000 trở về nay, phe ta vào quốc tịch Pháp đông hơn.

Quy chế tỵ nạn chánh trị ở Pháp

Nhắc sơ đến quý độc giả hải ngoại rằng từ ngày 30 tháng tư 1975 trở đi. Người Việt Nam đến ở Pháp có thể xin phép ở lại thường trú với quy chế là người tỵ nạn chánh trị. Quy chế tỵ nạn chánh trị được chứng minh bằng tư cách vượt biên trốn chạy ra khỏi biên giới nước Việt Nam của mình, …vượt biên bằng đường bộ, đường biển, vượt biển được tàu buôn vớt, hay vượt biên đến một trại tỵ nạn…Nhưng khi đến nước Pháp, nghĩa là khi được nước Pháp nhận rước vào, việc đầu tiên là làm đơn xin tỵ nạn, kể lể thống thiết nỗi khổ khi phải sống dưới chế độ Cộng sản và tuyên thệ không trở về quê cũ, nói rằng (hù dọa rằng) khi mình trở về nước mình, thì sẽ lãnh cái búa của Việt Cộng. Và cơ quan bảo vệ người tỵ nạn, ( tức là OFFRA – Office Français des Réfugiés et des Apatrides) sau khi mình tuyên thệ và ký tên hứa hổng về Việt Nam nữa, sẽ cấp cho cái thẻ tỵ nạn, gọi là thẻ OFFRA. Với cái thẻ nầy, người mang thẻ được chứng minh là người réfugié, tức là người tỵ nạn, và từ nay réfugié cũng là người apatride luôn, nghĩa là mình mất luôn cái quyền có một đất nước, có một tổ quốc, mình hết còn là người Việt Nam Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa nữa ( mà mình đã trốn chạy thục mạng thì cũng đâu cần có quốc tịch ấy làm gì ! Mình chỉ còn giữ cái (chủng) tộc Việt, cái Văn hóa, cái tập tục của người Dziệt mình đó thôi ! Từ nay mình nhận nhau, gọi nhau là người mình.

Từ ngữ tây Apatride là vô tổ quốc. Từ ngữ họp bởi tiếp ngữ đầu a = không, phi, hổng có, mậu, (thí dụ apolitique = phi chánh trị). patrie = tổ quốc. a-patride = mậu tổ quốc, phi tổ quốc, hổng có tổ quốc. Từ nay, khi đã vượt biên rồi, người gốc gác miền Nam Việt Nam ta, vì mất cái thẻ căn cước Việt Nam Cộng hòa ( mà dù có, cũng không ai nhìn nhận, vì Việt Nam Cộng hòa đã chết sau ngày 30 tháng tư năm 1975 rồi) và cũng chẳng có, hay chưa có cái chứng mình nhơn dân Việt Cộng nên khi đến Pháp. Sau vài ngày ói mữa, thoát chết, khát nước, bị hải tặc, lêng đêng sóng nước lưng trời, giữa biển cả hãi hùng …, sau một cuộc sống vài tháng, chen chúc nóng nực, chen lấn chầu chực phờ người…. ở một Pilau nào đó ở Mãlai, hay một trại kiểu Songkla ở Thái lan, hay trại gì gì đó… hoặc được tàu Đảo Ánh sáng rước, hoặc theo quy chế đoàn tụ gia đình kiểu tây giấy, tây thiệt, tây giả, tây dỏm … gì cũng được, nhưng khi làm thủ tục với Offra, lãnh giấy réfugié đều mất quy chế công dân Việt Nam và thành người apatride hết trọi.

Mà apatride ngon lắm, apatride và réfugié, là được giấy tạm trú nè (Carte de séjour temporaire), với giấy tạm trú nhận được giấy đi làm (Carte du travail). Có carte du travail, cũng như có thẻ xanh bên Mỹ, là có quyền tự kiếm ăn sanh sống, tự lập, tự chủ đời sống mình rồi !. Đi làm ! có quyền đi làm ! mà bên Tây nầy, có quyền đi làm là có trợ cấp Bảo hiểm Xã hôi (Sécurité Sociale), do ông chủ đóng tiền, do mình đóng tiền, (chút chút thôi),… do Nhà nước Chánh phủ Tây tổ chức : đi Bác sĩ gần như miễn phí ( 75 % chí phí được hoàn lại), nằm Nhà thương cũng gần như miễn phí (75 %), sản phụ sanh con, thì chắc chắc free rồi (100%), còn thuê nhà không trả nỗi thì có trợ cấp nhà, APL (Allocation Pour le Logement = một loại tiền housing kiểu Mỹ). Chưa kể một lô trợ cấp khác : trợ cấp con nhiều con ít, trợ cấp mẹ đơn chiếc không chồng mà phải nuôi con, đẻ con cho con bú thì trợ cấp cho con bú – allocation d’allaitement, không có sữa, hay sợ xệ vú không cho con bú mà phải đi mua sữa bò hay sữa bột (hiệu Guigoz chẳng hạn) thì có trợ cấp mua sữa. ..Nói tóm lại khi đã có giấy tỵ nạn tạm trú rồi thì cũng như dân tây local địa phương đẻ ở đây dzậy! Họ hưởng cái gì mình hưỏng cái đó. Có thẻ đi làm, có nghĩa là không phải bắt buộc phải đi làm. Tiếng Tây ba xí ba tú, chưa thông ? Tây cho đi học, thế là kể như đi làm, trợ cấp dzô đầy mâm. Hổng biết nghề vì hồi bên Việt Nam, chuyên ra Chợ cũ chạp áp-phe, bây giờ phải đi học nghề, Tây cho đi học. Mà đi học, thì kể như đi làm. Réfugié mới đến có quy chế đi học nghề, đi tìm nghề, chưa làm việc ngày nào cũng lãnh tiền đi học, ngang bằng tiền thất nghiệp. Dân Tấy nó làm thụt con mắt, điếc con ráy, mới được lãnh thất nghiệp, đây mình chưn ướt chưn ráo, ba xí ba tú, có tiền đi học tiếng Tây, học nghề học nghiệp vẫn lãnh tiền khỏe re ! Còn muốn đi du lịch, no problem, có cái giấy Thông hành – Titre de Voyage. Thẻ Du lịch, nghĩa Thẻ đi chơi ( Vì quyền du lịch đi lại là một Nhơn quyền). Quốc gia nào cần visa thì ta mua visa, quốc gia nào tư do đi lại như các quốc láng giềng Pháp ở Tây Âu là cứ đi thả giàn : Ý, Đức, Hòa Lan, Bỉ, Toà Thánh Roma, Đức mẹ Lộ Đức, Fatima, hành hương, du lịch chụp hình tự do…

Chỉ có một cái cấm: dù sao mình cũng là người tỵ nạn mà, là cấm đi du lịch ở các quốc gia gần Việt Nam, nơi mình bỏ xứ ra đi vì « nạn Cộng sản » Lào, Miên và Thái và dỉ nhiên là không đi về Việt Nam, vì mình đã khai là «hổng dìa khi còn bóng dáng Cộng sản là kẻ đã hành hạ mình » để nhận cái căn cước người vô tổ quốc và tỵ nạn.

Nói tóm lại, apatride , réfugié, tỵ nạn có tất cả quyền lợi như người bản địa, trừ một điểm là không phải công dân Pháp, không có quyền ứng cử, bầu cử thôi ! Nhưng thật sự phe ta cũng lè phè, sống theo Tây, bắt chước Tây thích ăn bánh mì Tây, nhưng thích ăn cái cùi (hay bánh mì thịt), thích ra la cà các tiệm cà-phê Tây nhưng để đánh lô tô và cá ngựa. Phần còn lại đời sống xã hội Tây, mặc kệ nó.

(Tây cũng có trò chơi tên là Kéno – người viết biết tên nhưng hổng biết chơi ra sao – ai biết viết lên báo chỉ dùm. Cá nhơn người viết có một cái ngu rất lớn là hổng biết luật lệ cờ bạc gì cả : hổng biết cờ tướng vì khó quá toàn chữ Tàu đã đành, hổng biết cờ échec của Tây, hổng biết cờ dame đánh sao ăn thua sao Tứ sắc không biết, xập xám cũng không, belote cũng chịu, bridge cũng “no-way”, biết đánh croix-zéro, làm chữ thập với vòng tròn chơi lúc thuở học trò thôi. Bạn dắt đi viếng Casino, ở Úc, ở Monaco, ở Las Vegas nhìn vào như nhìn trận đồ bát quái chẳng hiểu gì cả. Poker, phé nghe dzậy OK, nhưng cũng không hiều ra sao. Chắc bữa nào phải tìm một anh bạn chỉ giáo vài chiêu để nói chuyện với đời. Quê quá !)

Việt Kiều

Báo Ép phê khi đang cái tựa dùng từ « Việt kiều Pháp » là sai. Người tỵ nạn ở Pháp gốc Việt Nam không phải là Việt kiều. Vì đã là tỵ nạn là chúng ta đã là apatride rồi, chúng ta không có quốc tịch Việt Nam nữa. Chúng ta là người Việt, chứ chúng ta không phải là công dân Việt Nam, nghĩa là chúng ta không phải là người của nước Việt Nam.

Từ ngữ Việt kiều (les resortissants vietnamiens) nên dùng để gọi những người quốc tịch của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, với Thông hành Việt Nam (từ Việt cộng gọi là Hộ chiếu). Việt kiều là người quốc tịch Việt cư ngụ tại Pháp và như vậy có giấy tạm trú của Pháp. Nhưng muốn được tạm trú, phải có giấy chứng nhận của Lãnh sự quán Việt Nam, chứng nhận họ là công dân Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, thông hành Việt Nam, phải hoặc là sanh viên ( có ghi danh ở đại học đóng tiền hoặc có học bổng) hoặc làm việc ở một cơ quan Việt Nam thuộc ngoại giao đoàn, hay có hợp đồng làm việc với một công ty địa phương (Pháp) hay ngoại quốc nhưng có địa chỉ tại địa phương (Pháp) và như vậy được cấp thẻ làm việc của Pháp, và đóng thuế lợi tức cho nước mình cư ngụ và làm việc làm nước Pháp. . Người có quốc tịch Việt Nam đi du lịch ba tháng qua Pháp, cũng không được gọi là Việt kiều, nên gọi là người Việt đi du lịch thôi. (les touristes vietnamiens).

3. Thẻ tạm trú, thể đi làm, thông hành

Thẻ tạm trú (carte de séjour temporaire) hạn định một năm, gia hạn ba lần, sau ba lần được thẻ thường trú hạn định ba năm (carte de résident), sau hai lần có thể xin carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt ! Nếu không phải Việt kiều, vì Việt kiều có thông hành (hộ chiếu Việt Cộng) đi về Việt Nam, dân tỵ nạn có một cái nhức đầu là làm sao dìa Việt Nam chơi đây bây ? Lỡ đưa tay thề với thằng Tây là đến Tết Congo, còn thằng Việt Cộng là ta hổng dìa. Nhưng nhớ đồng nhớ ruộng, nhớ mắm con ba khía, nhớ con cá nướng trui, nhớ làng nhớ xóm…làm sao đây bây?

Dễ lắm : dễ ợt. Tòa Đại sứ Việt Nam Công sản ở Paris bèn tổ chức rất điệu nghệ. Mặc dù hồi đó, tụi bây bỏ tao ra đi theo tiếng gọi tư bản nhưng ngày nay tao cũng ráng thương tụi bây vì tình nghĩa khúc ruột ngàn dặm tha hương. Dễ lắm, tụi bây ráng dzô Hội Việt Kiều Đoàn kết (cựu Liên Hiệp Việt Kiều, cựu Việt Kiều Yêu nước Chống Mỹ Ngụy Cứu nước ). Vô Hôi Đoàn kết xong, vì Hôi có Travel Agency – Agence de Voyage của Hôi, Hội sẽ bán giấy đi du lịch Mã lai. Đến Mã lai, Toà Đại sứ CHXHCN Việt Nam sẽ cầp cho một cái giấy rời xuất cảng nhập cảng Mã lai/ Việt Nam/ Mã lai Aller Retour, Khứ hồi Round trip, giá phải chăng. Về Việt Nam incognito, chẳng ai biết, khi về Pháp cũng chẳng thằng Tây nào biết, mình đi du lịch Mã lai mà, báo hại mấy năm đó sao mà thông kê Mã lai thấy sao nhiều khách du lịch ở Pháp tới đông quá vậy ? nhưng sao các khách sạn hổng có khách phương Tây vãng lai ? Thế là dân tỵ nạn phe ta quên hết tất cả lời thề Kinh kha, « một ra đi không bao giờ trở lại », thiên hạ ùn ùn rủ nhau về Việt Nam. Người Việt tây giấy về đã đành, người tỵ nạn càng về đông hơn. Thoạt đầu còn mắc cở với đám bạn bè chống cộng, lén lén lút lút về …chơi tí, thăm má, thăm tía nay đã già . riết rồi cũng chả thành mắc cở gì nữa, bây giờ tranh nhau xem thằng nào về nhiều hơn thằng nào. Riết rồi, nếu lở tía má có mất, thì về xây mồ, sửa mả. Riết rồi … kẹt quá …ở lại hổng xong với bà xã, bỏ về thì nhớ …con nhỏ vừa mới quen. Rồi bắt đầu trong cộng đồng có những chuyện nho nhỏ « wánh ghen wánh tương » … ! Vài gia đình thôi, hổng bao nhiêu, một thiểu số mà !. Thiệt tình ! quý vị nghĩ coi, đi tù Cộng sản, học tập cải tạo tù đày gia đình không bể, ngon lành ; đi kinh tế mới cũng hổng bể, vượt biên cũng ngon lành hổng bể, qua Tây làm cu-li cực như con chó cũng hổng… Nay mới về Việt nam chợi có một hai chiến gì đó, thằng chả gặp con nhỏ, cà chớn, thế là gia đình bể.

Và một buổi đẹp trời ,Việt cộng nó chơi cú xí mứn ! Nó đưa cách danh sách những người tỵ nạn Việt Nam đi lậu về Việt Nam. Ô thôi bỏ mạng sa trường, thằng hành chánh Tây nó thật thà, thôi kệ tụi tỵ nạn, nó nhớ nhà, nostalgie… mà ! Nhưng Cơ quan Offra, nó đâu có chịu vậy, các anh đã hứa mà, … « Có Việt Cộng là tui hổng dìa ». Nhưng nay cac anh dìa. Mất mặt bầu cua, Offra cúp, không cấp thẻ tỵ nạn nữa !. Thế là mất cả, chì chài, ghe thuyền…mất quy chế tỵ nạn là hết đi làm, hết tạm trú, thường trú… Chỉ còn một cách hoặc về Việt Nam, hoặc vô quốc tịch Việt Nam (Cộng sản). Làm Công dân Công sản Việt Nam tại quốc nội hay làm Việt kiều tại Pháp. To be or not to be .. that is the question!

Chúng tôi đã nghe câu chuyện Việt Cộng chơi cú xí mứn nầy một lần vào năm 1988 rồi. Danh sách lúc ấy vào khoảng đô chưa đến 2000 người ? Nhưng lúc bấy giờ, Offra chơi đẹp, lờ đi và nói rằng từ nay, nếu có những chuyện cần thiết, tang ma, hôn lễ gì gì đó thì được phép về, nhưng phải xin phép và phải chứng minh đàng hoàng. Nhưng phe ta ngon lắm ! chả nhẽ đi sợ thằng Tây. Vả lại Việt Cộng cần tiền mình mà, cần mình về du lịch, chơi đâu cũng dzậy, chơi đây cho em nhờ. Mình hằng năm về ào ào, nó đâu có dại gì mà nó giết con gà đẻ trứng vàng. Nhưng than ôi, cũng tại vì tin cái thằng Bàng Quyên mà ngày hôm nay Tôn Tẩn què giò. Và Việt công chơi luôn một cú thứ hai, rồi cú thứ ba …và từ năm 1988 đến năm 2000, chơi tới luôn bác Tài: trên 22 ngàn tên tỵ nạn bị rút thẻ tỵ nạn.

Và kết quả của ngày nay, Việt kiều càng ngày càng đông vì vô dân Việt Công để ở lại làm ăn ở Pháp ( bắt buộc, vì kẹt giỏ, Có thề ở lại như thường trú nhờ có việc làm, với quy chế immigrant/di cư nhưng vẫn apatride). Và cũng nhờ vậy, người tỵ nạn gốc Việt cũng dzô dân Pháp ào ào cho nó phẻ. Bây giờ mỏa français rồi, mỏa dìa Dziệt Nam vã cẳng (vacances), mỏa hổng sợ chết thằng Tây nào cả. Ngày nay không biết mấy ai còn thẻ tỵ nạn Offra nữa không ? và chuyện dài carte de séjour temporaire chắc cũng chẳng mấy ai kể lể nữa.

4. Người Việt tỵ nạn / Việt Kiều

Nếu ai cắt cớ hỏi, ở Pháp có bao nhiêu người Việt Nam, chúng tôi đành chịu thua, không làm sao biết được, thứ nhứt là vì chánh sách Pháp đối với người ngoại quốc nhập tịch không có thống kê theo cộng đồng. Khi một người ngoại quốc đã nhập Pháp tịch, người ấy vào thống kê người Pháp và phía người ngoại quốc giảm đi một đơn vị. Vì không có thống kê kiểu cộng đồng nên không thể biết cộng đồng Việt Nam bao nhiêu người, còn muốn biết thành phần cộng đồng người Việt Quốc gia tỵ nạn Cộng sản sau năm 1975 trở đi thì càng khó nữa vì rất nhiều người vào Pháp tịch, thêm hồi tịch nữa ( những thành phần sanh ở Nam kỳ trước 1954). Chỉ biết chung chung người gốc Việt Nam chúng ta khá đông, ở nhiều xung quanh các thành phố lớn như Paris và vủng phụ cận, gọi chung là Île de France – tên đặc biệt của vùng phụ cận Paris, đừng dịch, đừng tìm hiểu. Île de France là Île de France, hổng phải Đảo Tây Đảo France gì cả. nó gồm Paris (tỉnh Seine số 75) rồi các tỉnh phụ cận, 77,78, 92,93,95, chúng tôi có dịp sẽ nói đến – Người Việt cũng có mặt ở Marseille rất sớm, hồi thời đệ nhứt thế chiến lận, Montpellier, Toulouse, Bordeaux, Lyon… Người Việt hội nhập rất tốt với dân bản xứ. Các thế hệ 2,3 có mặt đầy ở tất cả các nghề nghiệp. Nhưng rất ít người gốc Việt tham gia vào các đoàn thể chánh trị. Vì pour vivre heureux, vivons cachés( Muốn sống hạnh phúc ta nên sống kín đáo). Trái với cộng đồng người Việt ở Mỹ, người Việt ở Pháp sống rất kín đáo.

Nhưng người tỵ nạn Cộng sản ? nhưng tại sao có cái tin của báo Ép phê?

Người Việt tỵ nạn Cộng sản với các tin giựt gân của tờ báo Ép phê cho biết là một sự thật. Người Việt tỵ nạn Cộng sản ở Pháp phần đông không phải tỵ nạn chánh trị, họ chỉ là những người tỵ nạn kinh tế. Vì vậy khi làm ăn thoải mái ở Pháp rồi thì phải về khoe của với bà con bên nhà. Quyền lợi công dân bên Pháp rất bảo đảm. Người Việt Nam quen tằn tiện, 150 grammes thịt bò xào củ hành cả nhà ăn với cơm và nước mắm. Tây mỗi người một miếng bít tết 250 grammes, đủ so sánh rồi. dành dụm tậu nhà tậu cửa. Gia đình con cái lớn vẫn còn ở với cha mẹ. Con cái Tây 18 tuổi là nói đi ra khỏi nhà rồi.

Thiệt tình, theo kinh tế mà nói, thì người Việt phe ta hổng đem lợi nhuận gì cho Tây cả, ăn thì đi chợ Tàu ( nói chợ Việt nam cho đở tủi thân chứ thật sự hàng hóa Tàu nhiều hơn). Người Việt Nam mình ít tiêu thụ, hàng ăn uống thì á đông, sách báo thì cũng á đông, vừa xin, vừa photocopie, tranh ảnh trên tường trang trí thì lịch tàu lịch tây xin về, treo lẫn với hình chụp đi du lịch. Ít thấy nhà một người Việt nam nào có các tranh thật các họa sĩ, có chăng cũng copies căt từ báo. Đi làm, ăn tiền ông chủ Pháp, ăn tiền chánh phủ Phủ, bệnh hoạn có bảo hiểm xã hội Tây lo, đi Bác sĩ miễn phí, uống thuốc pharmacie Tây miễn phí, (lâu lâu cũng gặp người ghiền cạo gió bằng dầu cù là con cọp phải gời mua tận Mã lai hay Singapore, nhưng đó là trường
hợp rấy hiếm hoi, hi hữu).

Vậy thì sắm xế ? Xế thì có tiền đi xế xịn Mercedès. Xế ít tiền, đi xế Toyota, hay Hyundai, nói tóm lại cũng không mua xe Tây. Vây dư tiền làm gì ? dạ thưa , về chơi Việt Nam. Chơi đâu cũng vậy, chơi đây em nhờ. Giờ đây về Việt Nam, ở Hôtel 5 sao, ở Tây ở Mỹ sức mấy mà vào được những Palace 5 sao ấy. Sức mấy mà có bồi bếp phục vụ. Về Việt Nam có cả. Nào Mủi Né, nào Nha Trang… Người Việt ở Pháp, suốt một năm làm thợ, nghỉ hè, nghỉ Tết, về Việt Nam một tháng làm thầy, thôi cũng đặng !

Chỉ tôi nghiệp cho những người còn tâm huyết ký tên thỉnh nguyện với chánh phủ Mỹ, chánh phủ Úc xin hãy đặt điều kiện Nhơn quyền với chánh phủ Việt Nam. Người Việt tỵ nạn chúng ta có ai đặt điều kiện Nhơn quyền với Hà nôi không ? khi hằng năm gởi về 10 tỷ, khi hằng năm trở về du hý, du lịch ? Mình không thể nhờ người ta đấu tranh Nhơn quyền, cho Dân chủ cho Tự do của dân tộc mình khi mình hổng làm gì hết !

Ít hàng tâm sự cùng quý vị, có đụng chạm phật lòng ai, xin mở lòng tha thứ cho người viết.

Tác Giả: TS. Phan Văn Song

Việt Nam và những điều kỳ lạ

Việt Nam và những điều kỳ lạ

Cao Huy Huân

26.02.2015

Đầu năm Ất Mùi, xin kính chúc các độc giả một năm mới thành công và thắng lợi. Vì là dịp đầu năm cho nên tôi cũng dành cho bài viết này những điều trăn trở nhất của mình về đất nước mà tôi sinh sống. Thời đại này là thời đại mở cửa ra thế giới, nhìn ra xung quanh và ngẫm nghĩ lại chính mình để thay đổi những điều đang cần thay đổi, điều chỉnh những cái chưa hay, bãi bỏ những cái trì trệ và phát huy những cái tốt đẹp. Ở xứ này, có nhiều điều rất kì lạ, kì lạ đến mức khó mà tìm thấy ở nơi nào trên thế giới. Vấn đề là những điều kì lạ này không phải tự nhiên mà có, mà tất cả đều xuất phát từ con người. Sau đây xin phép liệt kê những điều kì lạ đó.

1. Trên thế giới này chỉ có ba quốc gia áp dụng hình thức sổ hộ khẩu là Trung Quốc, BắcTriều Tiên và Việt Nam. Chưa biết hình thức này có ích lợi gì không nhưng ba quốc gia này cũng là những quốc gia bị liệt vào hàng không có nhân quyền. Thử tưởng tượng, đem khẩu hiệu “nhà nước của dân, do dân và vì dân” ra so sánh với sổ hộ khẩu thì bỗng dưng cái khẩu hiệu đó mất hiệu lực từ khi nào. Mặc dù là công dân của nước Việt Nam nhưng lại không được phép tự do chuyển chỗ ở trong vòng lãnh thổ Việt Nam, đi đâu cũng phải trình phải báo, đăng ký tạm trú tạm vắng.

2. Thêm một vấn đề nữa cũng liên quan đến cái hộ khẩu. Đại loại là nếu như Hoa Kỳ cũng áp dụng hình thức hộ khẩu như Việt Nam thì khi một người đang sinh sống ở Hawaii nhưng có hộ khẩu ở Alaska, thì khi người đó mua một chiếc xe ở Hawaii, vẫn phải tìm cách đưa chiếc xe đó về Alaska mà đăng ký lưu hành. Thật là khó khăn, mất thời gian, công sức và lãng phí biết bao nhiêu thứ chỉ vì cái hình thức nhảm nhí này. Cũng chả biết mục đích của hình thức đăng ký lưu hành phương tiện giao thông này có ý nghĩa gì, chỉ biết là nó vô cùng phiền toái và vô nghĩa.

3. Chưa có quốc gia nào trong mỗi chương trình đại học hay cao đẳng đều phải có chứng chỉ về lý thuyết triết học Marx – Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Các quốc gia khác không tuyên truyền về những lý thuyết đó cho tầng lớp trí thức tương lai của mình. Với họ, làm người tốt và có ích cho xã hội là đủ rồi. Nếu hỏi thử các bạn sinh viên xem có thích học những lý thuyết đó không, chắc chắn đa số câu trả lời sẽ là không. Bản thân tôi cũng từng học qua, vấn đề là thời gian đi học những môn đó, tôi chỉ đến cho có mặt điểm danh rồi ngồi dưới làm việc riêng, những sinh viên khác cũng như vậy, chả ai muốn lắng nghe những lý thuyết suông như vậy. Đến khi thi cử, thật xấu hổ, nhưng tôi phần học vẹt phần chuẩn bị tài liệu quay cóp chứ thật tình chẳng thể nào thấm nổi những lý thuyết đó vào đầu để mà trả lời câu hỏi. Mỗi sinh viên trung bình tốn 3 học kỳ cho các lý thuyết đó, và cuối cùng cái nhận được là con số không và sự mơ màng về giá trị nền thể chế.

4. Luật lao động quy định phải cung cấp sơ yếu lý lịch khi tham gia lao động thậm chí ở những doanh nghiệp nước ngoài. Trong sơ yếu lý lịch cần nêu rõ thông tin bản thân và gia đình trước và sau năm 1975 đã và đang làm gì. Thật sự cần thiết thông tin đó sao? Năng lực làm việc của một người thứ nhất không liên quan đến gia đình họ và thứ hai cũng chẳng liên quan gì đến cái năm 1975 đó. Và thực tế đã chứng minh, năng suất làm việc của dân Việt Nam được xếp hàng lè tè ở thế giới và khu vực. Chắc là có liên quan đến năm 1975.

5. Luật Việt Nam quy định không cho phép một người nam mang quốc tịch nước ngoài và một người nữ mang quốc tịch Việt Nam ở chung một phòng khách sạn khi hai người không có giấy chứng minh đã kết hôn với nhau. Tuy nhiên, nếu một người nam mang quốc tịch Việt Nam và một người nữ mang quốc tịch nước ngoài ở chung một phòng khách sạn thì không sao. Cũng chẳng có vi phạm gì nếu đó là hai người nam hoặc hai người nữ. Vậy cuối cùng, mục đích của cái luật đó là gì? Nếu luật đưa ra mà chẳng để có mục đích gì thì chẳng khác nào làm trò cười cho thiên hạ.

6. Mới đây Bộ Công thương ra nghị định mới về việc đóng thuế đối với hình thức kinh doanh qua mạng xã hội, mà phổ biến ở Việt Nam hiện là Facebook. Điều đáng nói là những quy định mới này rất mập mờ và khó áp dụng, ví như chuyện kinh doanh qua Facebook thì người bán hàng phải có nghĩa vụ đóng thuế thế nhưng khi được hỏi là hình thức quản lý và quy trình kiểm tra thuế như thế nào thì Bộ này lại đẩy trách nhiệm sang Bộ Tài chính. Sao các Bộ cứ thích làm khó nhau và làm khó người dân như vậy nhỉ?

Thực sự có những điều ở Việt Nam rất khó hiểu nhưng đến giờ vẫn còn áp dụng. Trên đây chỉ là một cơ số nhỏ mà tôi cảm thấy băn khoăn và e ngại nhất cho tình hình xã hội ở Việt Nam nhất. Chắc là còn nhiều điều kì lạ khác nữa nhưng trong vốn kiến thức nông cạn của tôi chưa khám phá ra hết. Đầu năm Ất Mùi chỉ xin cầu cho những điều kì lạ ở Việt Nam sẽ dần thay đổi và biến thành những điều bình thường. Để cho quốc thái, dân an, và mùa xuân luôn ở lại với đất nước mà đáng lẽ ra đã là số một ở châu Á như phát biểu của cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu.