Việt Nam – 70 năm dưới thể chế cướp bóc

Việt Nam – 70 năm dưới thể chế cướp bóc

Nhà văn Võ Thị Hảo

RFA

“Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa”.  Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng”…

(Thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ – đại biểu QH Bến Tre)

Trên đời này có nhiều loại cướp bóc nhưng không loại cướp bóc nào có thể hủy hoại cả một đất nước như loại dùng thể chế chính trị và bộ máy chính quyền làm công cụ cướp đoạt của người dân. Bao đau thương khổ nạn của loài người cũng chủ yếu từ đó mà ra.

Cướp bóc theo kiểu nói trên là những cuộc cướp bóc tầm quốc gia, qua những Hiến pháp, luật, thông tư chỉ thị, bảo hộ độc quyền, các loại thuế và phí… nhằm cướp bóc của dân. Những tội ác này được cả hệ thống truyền thông nô lệ và bộ máy đàn áp che giấu, mỵ dân. Ai dám nói sự thật hoặc phản đối sẽ phải hứng chịu bạo lực dưới nhiều hình thức. Bạo lực của bộ máy cướp bóc này được tung ra từ tất cả các khâu từ Đảng cộng sản, nhà nước, cơ quan, hội đoàn tới lập pháp, tư pháp, hành pháp. Bạo lực cũng thể hiện rõ nhất ở hệ thống công an và bộ máy hành chính các cấp.

Việc “rút xương tủy” của dân dưới nhiều hình thức để tham nhũng dưới danh nghĩa công dân phải đóng góp xây dựng tổ quốc là chiêu bài cướp bóc mà bộ máy độc tài luôn tận dụng.

Tăng thuế, phí và lạm thu

Chỉ tính riêng giá xăng dầu, kể từ đầu năm 2015 đến nay, giá đã tăng 3 lần liên tiếp. Theo các chuyên gia thì nguyên do tăng không phải do giá xăng dầu thế giới mà bởi nhà nước vô cớ tăng thuế môi trường lên 300%. Dù là nước xuất khẩu dầu, nhưng giá xăng tại VN đắt hơn Mỹ. Trong khi đó Mỹ có mức thu nhập cao hơn Việt Nam (2011) lên tới 31,7 lần. Mỗi lần tăng giá xăng, điện, tăng thuế và phí, giá thị trường tăng theo và dân càng khốn cùng.

Theo báo Tuổi trẻ, nhiều khoản thuế và phí lạm thu đã khiến cho nhiều gia đình ở Hà Tĩnh ngập chìm trong nợ vì họ đã đói ăn mà vẫn phải vay để nộp. Trưởng phòng tài chính huyện Can Lộc thừa nhận, có rất nhiều khoản thuế và phí vô lý. Sự lạm thu đang khiến người dân bị bần cùng hóa, nhiều người phải tha phương cầu thực.

Tình trạng này đã xẩy ra từ nhiều năm trước nhưng không khắc phục mà ngày càng lạm thu vô tội vạ. Báo cáo tại Quốc hội cho biết, ngay từ năm 2002, qua khảo sát thấy rằng các cơ quan cấp TƯ và địa phương có  quyền đặt định thu của dân ít nhất 432 khoản phí và lệ phí ngoài thuế. Việc đặt mức thu hết sức tùy tiện, lộn xộn, không thể quản lý nổi.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho biết, mức thu từ thuế và phí tại VN ngày càng tăng vọt. Trong 5 năm vừa qua, nguồn thu từ thuế và phí của VN dẫn đầu khu vực, là 20% GDP. Báo cáo “Tổng quan môi trường thuế VN 2014” cho biết, tình trạng phí chồng lên phí và lạm thu đang khiến mỗi người dân phải gánh tỉ lệ chịu thuế, phí/GDP cao gấp 1,4-3 lần so với các nước trong khu vực, trong khi thu nhập bình quân đầu người VN vào hàng thấp nhất.

Thống kê của Bộ NNPTNT cũng cho biết nông dân phải gánh đến 131 khoản đóng góp, trong đó có 93 loại phí, lệ phí theo quy định và 38 khoản “đóng góp xã hội” khác.

Theo T.S Lê Đăng Doanh – nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế trung ương (CIEM), thì chính “thói quen” chi tiêu ngân sách như hiện nay là căn nguyên khiến gia tăng các loại phí và lệ phí đối của người dân, DN. Theo lý giải của TS Doanh, năm 2015 xuất hiện nhiều hình thức thu phí, lệ phí là nhằm bù đắp thiếu hụt của thu ngân sách Nhà nước.

Chẳng hạn đoạn đường  cao tốc Pháp Vân – Ninh Bình (chỉ dài 20km) cũng đã được Bộ này ban hành mức thu phí xe container 400 feet cao nhất lên đến 5 triệu/tháng. Hay ngày 8/4 tại cầu Đồng Nai đã áp dụng mức thu phí 15.000 – 120.000/vé/phương tiện… Đây chỉ là một trong số các ví dụ của việc Nhà nước đang dùng nhiều cách để tăng thu, bù đắp cho thâm hụt ngân sách.

Cái chết hàng loạt trong nhiều năm của các doanh nghiệp VN và sự nghèo khó khốn cùng của người dân VN chính là hệ quả của những hành vi cướp bóc qua thuế, phí, qua các chính sách bảo hộ doanh nghiệp độc quyền như xăng dầu, điện…

Thắng lợi của Đảng: đổi bằng xương máu dân

Nhân dịp Đảng CS VN kể công rầm rộ nhân dịp kỷ niệm 85 năm thành lập, người VN không thể không nhìn lại lịch sử 70  năm của thể chế độc tài cộng sản VN.

Căn cứ các sự kiện lịch sử, thì thấy đúng là Đảng „đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác“, nhưng Đảng thắng là dân thua. Đảng chỉ có nghĩa là một nhóm người có quyền lực chiếm được quyền lãnh đạo. Mỗi thắng lợi của Đảng đều đổi bằng hoặc xương máu và nước mắt của dân VN.

„Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa“.  Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng“. Tội tham ô, tham nhũng mà không tử hình thì không hợp lòng dân, bởi tham nhũng không phải là những người nhỏ mà đều là người làm to có chức có quyền, đục khoét công quỹ, bóc lột nhân dân”.

(Phát biểu của thiếu tướng Nguyễn Xuân Tỷ, phó giám đốc Học viện Quốc phòng (đại biểu Bến Tre) Tuổi trẻ – 277572015)

Có thể thấy, hầu hết những thắng lợi của Đảng cộng sản và chính quyền VN ngay từ khi mới thành lập cho đến nay đã lấy phương châm „cướp“ làm kim chỉ nam cho mọi hành động.

Chúng ta có thể thấy vô số từ „cướp“, „giết“… trong các văn bản trang trọng của nhà cầm quyền độc tài cộng sản VN: “cướp của người giàu chia cho người nghèo“, „cướp chính quyền“, cướp kho thóc của Nhật“, „Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ“…

Chính quyền cộng sản VN cũng do cướp mà có được và từ đó nhiều hành xử của nó đối với những người dân cũng theo „tôn chỉ cướp bóc“. Chẳng hạn việc quyền lực trong bộ máy đều trao cho các đảng viên. Chỉ một nhóm người trong đảng nhưng lại tự đoạt lấy quyền đại diện cho quyền lợi của công dân cả nước là  bất công và phản lại quyền con người.

Untitled-1-400.jpg

Ông Hoàng Văn Ngài bị tra tấn đến chết trong đồn công an Đak nông nhưng họ đã dựng hiện trường giả, đổ cho ông tự tử. Ảnh do thính giả gửi cho RFA

Cải cách Ruộng đất là cuộc đại cướp bóc làm đảo lộn toàn bộ tổ chức xã hội bằng cách phế bỏ quyền tư hữu đối với tất cả ruộng, đất, vườn, ao, hoa màu, trâu bò và công cụ sản xuất. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì nó không khác gì một cuộc diệt chủng áp dụng lên chính đồng bào của mình.

Người VN sẽ không bao giờ quên những cuộc giết người rùng rợn, do chính người VN, mà trước đây có thể là bạn bè, hàng xóm sống yên vui đầm ấm. Để không bị chính quyền đoạt mạng, con tố oan cha, chồng vợ tố oan nhau. Nguyên tắc hành động căn bản của các Ủy ban Cải cách ruộng đất là „Thà chết mười người oan còn hơn là để sót một địch“( Hồ sơ của Hội đồng CCRĐ –  Thư viện Pháp luật VN).

Theo con số thống kê chưa đầy đủ, sách Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 – 2000, tập 2 xuất bản tại Hà Nội năm 2004, chỉ riêng cuộc CCRĐ đợt 5(1955- 1956) được thực hiện ở 3.563 xã, có khoảng 10 triệu dân và tổng số người bị sát hạt trong đợt này lên đến 172.008 người, trong đó có tới 123.266 người(71,66%) là giết oan!

Cải cách ruộng đất với hàng trăm ngàn cuộc đấu tố, giết lương dân vô tội đã khiến dân VN táng đởm kinh hồn, đành khuất thân làm nô lệ. Nông dân được chia đất từ chỗ cướp lại của địa chủ  nhưng sau đó thì việc tổ chức các hợp tác xã nông nghiệp đã cướp tất cả đất đai của họ vào tay chính quyền và nông dân lại trở thành vô sản đến tận bây giờ vì Luật, Hiến pháp vẫn quy định „đất đai là sở hữu toàn dân“.

Một trong những hành động cướp bóc quyền của dân lớn nhất gần đây là vào năm 2013, khi sửa đổi Hiến pháp, điều 4 Hiến pháp này quy định Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo Việt Nam, trong khi ngay cả những Hiến pháp trước đó, mặc dù đã rất mất dân chủ, cũng không đủ can đảm để quy định một điều phi dân chủ và và vi phạm nhân quyền như vậy.

Xóa độc tài để giữ mạng Dân và mạng Nước

Chính vì sự lãnh đạo độc tài và theo phương châm cướp bóc đã khiến cho dân VN không những nghèo khó mà còn bị mất quyền làm người, có thể bị đoạt mạng sống bất kỳ lúc nào bởi nhân viên công quyền.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng công an là đối tượng chính phải chịu trách nhiệm về việc có tới hơn 260 người chết trong lúc bị tạm giam chỉ trong vòng 3 năm gần đây.

Làm chết người nhưng kẻ giết người lại được bao che bởi chính các đảng viên cộng sản cấp trên và đồng nghiệp cùng hệ thống tư pháp, hành pháp.

Sự bao che ấy thực sự là hành vi bật đèn xanh cho nhân viên công quyền tha hồ cướp bóc, đánh giết dân. Điều đó tung ra một thông điệp ngầm: cơ quan công quyền, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là vua, là trời, để dân sống thì dân được sống, bắt dân chết là dân phải chết, bất cần pháp luật.

Sự bao  che ấy thể hiện quyền sinh sát của nhà cầm quyền trong việc đánh đập, giết dân hoặc giả dạng côn đồ để hãm hại, mạt sát, bỏ tù  những người đi kêu oan, người dám lên tiếng đòi nhân quyền và dân chủ…Sau khi đã làm cho dân khiếp sợ, biết rắng mình có kêu oan cũng vô vọng, nhà cầm quyền càng tha hồ cướp bóc. Và chính sự cướp bóc này đã khiến cho vận mạng VN, trước sự xâm lấn của TQ, trước sự tiếp tay của những kẻ bán nước, đang hết sức nguy ngập.

Ông là một người làm thơ được chính quyền vinh danh vì công lao trong việc tụng ca thể chế độc tài này và cho Đảng. Vì thế, ông  lên đến tận chức Phó Thủ tướng thường trực. Có lẽ con đường thành đạt của ông đã được xây bằng những bậc thang tụng ca mục đích tôn chỉ của nhà cầm quyền cướp bóc:

„Giết! Giết nữa, bàn tay không phút nghỉ

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong

Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Stalin bất diệt“

(Trăm hoa đua nở trên đất Bắc- trang 37- Nguồn: Truclamyentu.infor).

Bài thơ của ông mặc dù được nhiều người có uy tín đánh giá là „khát máu“, nhưng chỉ trong bốn câu văn vần này mà ông đã thâu tóm, khắc họa được phương thức hành xử của chính quyền độc tài này với nhân dân.và cũng cắt nghĩa được người VN khốn khổ vì đâu.

Rõ ràng là thể chế này cần phải xóa bỏ vì nó đã lỗi thời, mục ruỗng và càng vận hành càng gây nhiều hành vi cướp bóc. Thay đổi VN bằng một thể chế chính trị đa nguyên, dân chủ,  xóa bỏ sự độc quyền của Đảng cộng sản, liên kết với các nước dân chủ và văn minh là con đường để giữ mạng nước Việt và người Việt.

VTH

Những con ma ẩn mình chờ chết

Những con ma ẩn mình chờ chết

Blog RFA

CanhCo

20-07-2015

The Thorn Birds của nhà văn nữ người Úc, bà Colleen McCullough khi được dịch ra tiếng Việt trở thành “Những con chim ẩn mình chờ chết”.  Theo nhà báo Trần Trọng Thức thì “The Thorn” là một loài chim huyền thoại, cái chết của chúng đã thi vị hóa từ nhà thơ Phạm Thiên Thư trong Đưa em tìm động hoa vàng khi viết “Chim ơi chết dưới cội hoa, tiếng kêu rơi rụng giữa giang hà….”

Đảng cộng sản Việt Nam ngoài công việc chính trị “nặng nhọc” khả năng viết tiểu thuyết của họ không hề kém thế giới tư bản. Tựa quyển tiểu thuyết diễm tình của Colleen McCullough được cải biên rất hay, rất phù hợp với thể trạng cộng sản: Quyền sinh sát của tập thể lãnh đạo đối với đồng chí của mình là tuyệt đối. Họ cho sống thì sống họ bắt chết thì phải chết.

Khi họ bắt chết thì trăm phương ngàn kế nạn nhân sẽ trở thành một cái xác nằm im bất động dưới lòng đất hoặc sống mà như đã chết trong các nhà tù nổi tiếng. Họ có biệt tài đối phó với người đồng chí khiến nạn nhân có miệng mà như không lời, đến khi được thả ra khỏi nhà tù rồi vẫn còn sợ không dám thở mạnh huống chi là tố cáo.

Đó là người sống, những con người.

Còn những con ma thì sao?

Vâng, ma là tiếng dùng để chỉ con người đã chết, mà theo y học thì “chết” thông thường được xem là sự chấm dứt các hoạt động của một sinh vật hay ngừng vĩnh viễn mọi hoạt động sống, không thể phục hồi, của một cơ thể. Tim, phổi và não khi ngưng không hoạt động nữa thì bác sĩ sẽ xác nhận là đã chết. Và sau khi chết thì không thể gọi là người mà phải gọi là ma.

Đảng cộng sản Việt Nam không chấp nhận cách khám nghiệm của y khoa trước một xác chết mà nó phải được Đảng có chấp nhận cho nó chết thì mới được chết. Những con ma này trong tiểu thuyết nhiều tập có tên “Những con ma ẩn mình chờ chết”.

Sở dĩ chúng ẩn mình vì không thể lên tiếng công khai cho cái chết của chúng và vì vậy chưa được gia nhập vào thế giới ma. Những con ma ấy thường là cấp lớn nhất trong hệ thống lãnh đạo và do đó Đảng phải đắn đo ngày giờ phù hợp cho nó chết. Trong lịch sử Đảng “đương đại” con ma gây tốn giấy mực nhất là Nguyễn Bá Thanh, đã chết từ bên Mỹ và xác được chở về Việt Nam nằm đó chờ thủ tục được gia nhập “tập đoàn ma” tức là các đồng chí của ông ta. Ông ta nằm trong tư thế một thi hài nhưng Đảng nằng nặc nói là ông ta chưa chết.

Trước tiên thẩm quyền nhất là ông GS Phạm Gia Khải, bác sĩ riêng của Bộ chính trị, người chuyên bắt mạch cho toàn bộ cấp lãnh đạo khi họ đã vào một bệnh viện nào đó ở ngoại quốc. Vì bắt mạch từ xa nên có khi “nhiễu sóng”. Ông Khải bảo ông Nguyễn Bá Thanh sức khỏe tốt đang diễn tiến thuận lợi. Vài ngày sau ông Bá Thanh rất thuận lợi nằm trên máy bay riêng hạ cánh xuống phi trường Đà Nẵng.

“Tau khỏe mà có chi mô” là lời kể của một ông Đảng viên ưu tú tại thành phố khi ra đón ông Thanh để rồi vài ngày sau đó, phái đoàn cao cấp của Đảng lục tục xếp hàng phúng điếu, xác nhận ôngThanh đã chết, đã thành ma.

Con ma thứ hai cũng tên Thanh nhưng chưa được phép chết.

Phùng Quang Thanh sang Pháp chữa bệnh không ai biết. Tin đồn râm ran trên trang mạng xã hội ngày càng nhiều khiến GS Phạm Gia Khải lại được lệnh Đảng một lần nữa ngồi tại Hà Nội, bắt mạch một con ma tận Paris để rồi đưa ra kết quả rất khả quan: Phùng tướng quân đã hoàn toàn bình phục.

Tin đồn bổng trở thành tin nóng sốt khi hãng tin DPA của Đức chính thức thông báo ông Phùng Quang Thanh đã trở thành ma, tức là đã chết vào chiều ngày 19 tháng 7 năm 2015 tại bệnh viện Georges Pompidou tại Paris.

Đảng lại một lần nữa không cho ông Thanh Phùng chết vào lúc này, lúc mà bọn phản động đang chăm chăm nhìn vào hoạt động thay ngựa giữa dòng của Đảng. Lập tức Thứ trưởng Bộ quốc phòng Võ Văn Tuấn yêu cầu DPA cải chính vì ông Thứ trưởng xác nhận như đinh đóng cột rằng ông vừa gọi điện cho ông Thanh và ông ấy vẫn còn khỏe sẽ về Việt Nam vào cuối tháng này.

Hảng tin DPA ghi lại nguyên văn lời ông tướng Tuấn nói, và vẫn giữ ý chính của bản tin đã được loan đi vào ngày hôm qua, nguyên văn như sau:

“An earlier dpa report said the general died Sunday after receiving treatment at the hospital, citing a source at the hospital.”

“Bản tin của dpa trước đó tường thuật rằng Tướng (Thanh) đã chết vào ngày Chúa Nhật sau khi được chữa trị tại bệnh viện, trích từ một nguồn tin của bệnh viện”’

Có nghĩa là DPA chả cải chính gì sất mà nó còn mượn lời phát biểu của ông Thứ trướng quốc phòng để khoáy sâu thêm vào sự ngờ vực của dư luận về một con ma chưa được Đảng cho chết.

Con ma họ Phùng vậy là còn “ẩn mình” chờ chết.

Nhưng một con ma khác, lớn hơn và “vĩ đại” hơn sẽ không bao giờ được chết mặc dù ông có lăng có miếu đường bệ. Ông là Hồ Chí Minh, vẫn sống mãi trong lòng các Đảng viên và vì vậy ông sẽ không bao giờ chết.

Đảng không cho ông chết mặc dù khi lâm chung ông đã yêu cầu được hỏa thiêu và nhất là không được làm rầm rộ trên xác chết của ông. Nhưng Đảng muốn rầm rộ thì toàn dân phải rầm rộ. Đảng muốn ông chưa được chết thật sự thì dù ông là ma cao cấp nhất vẫn phải ẩn mình chờ chết.

Ông đợi hơi lâu, vì duy nhất chỉ có một sức mạnh khẳng định cho cái chết của ông chính là lịch sử. Lịch sử đến từ từ nên ông vẫn còn phải vật vạ ẩn mình.

Buổi tiếp chuyện với Linh mục Vitaly Borovoy

Chuyện  xưa  chuyện  nay (13)

Buổi tiếp chuyện với Linh mục Vitaly Borovoy

(tại Geneva, tháng Ba năm 1972)

Hồi tưởng của Đòan Thanh Liêm

Suốt tháng Ba, năm 1972, trong dịp đến làm việc với văn phòng của Hội Đồng Tôn giáo Thế giới” (The World Council of Churches = WCC) tại thành phố Geneva Thụy sĩ, tôi có cơ hội tiếp xúc với một số nhân vật trong các bộ phận chuyên môn của tổ chức quốc tế này. Trụ sở chính của WCC tọa lạc trong một khu vực khá rộng lớn phía ngọai ô của cái thành phố êm ả thanh bình có danh tiếng trong lịch sử Âu châu, trên Đại lộ Route de Ferney, là khu vực mà xưa kia vào thế kỷ XVIII văn hào nổi danh người Pháp Voltaire đã từng có thời gian dài cư ngụ tại đây. Dù đã là tiết xuân, nhưng tại vùng đồi núi ở đây, trời vẫn còn khá lạnh lẽo với nhiều ngày có tuyết đổ làm trắng xóa cả các bụi cây ven đường, nhất là mỗi khi trời nắng thì khối tuyết trên các đỉnh núi cao ngất lại phản chiếu ánh sáng mặt trời, coi thật uy nghi lộng lẫy.

Vào một buổi sáng, tôi đã có cuộc tiếp chuyện dài đến 2 giờ đồng hồ với vị Linh mục thuộc Nhà thờ Chính thống giáo nước Nga, tên là Vitaly Borovoy. Năm 1972 đó ông đã ngòai 55 tuổi, người tầm thước trong bộ áo tu sĩ dài màu đen phủ kín tòan thân, cổ đeo một thập giá mạ vàng khá lớn, và với bộ râu quai nón cũng khá rậm rạp vốn là hình ảnh đặc trưng của các Linh mục trong hàng ngũ Giáo phẩm Chính thống giáo (Orthodox Hierarchy). Linh mục đã từng làm việc trong bộ phận phụ trách về ngọai vụ của Giáo hội Chính thống giáo Nga. Ông nói tiếng Anh với giọng lắp bắp ngập ngừng, nhưng lại sử dụng từ ngữ khá chính xác.

Biết tôi từ miền Nam Việt nam tới, ông hỏi thăm về tình hình chiến tranh mỗi ngày một leo thang ở đó ra sao. Tôi nói với ông rằng suốt đời tôi từ khi có trí khôn vào năm 1941- 42 đến nay đã 30 năm rồi, tôi chỉ biết có chiến tranh tàn sát trên quê hương tôi mà thôi. Tôi đã chứng kiến nạn đói tại làng quê tôi vào năm 1945, làm chết bao nhiêu người bà con và bạn hữu, kể cả ông chú út là em của cha tôi nữa. Tôi thật đau lòng trước bao nhiêu tang thương đau khổ liên miên ròng rã đã bao lâu nay xảy đến cho những người thân yêu của tôi như vậy. Nghe tôi trình bày rõ ràng thành thật như thế, ông tỏ vẻ thông cảm và câu chuyện giữa hai chúng tôi đã mau lẹ trở thành thân mật và cởi mở, giống như giữa hai người anh em bà con trong cùng một dòng họ vậy.

Sau câu chuyện mở đầu thân mật đó, vị Linh mục bắt đầu tâm sự với tôi bằng lời lẽ thẳng thắn, quả quyết đại khái có thể tóm lược vào mấy điểm như sau :

1 – Thứ nhất, về phương diện đối ngọai, Giáo hội Chính thống chúng tôi không thể nào mà có thể có được một quan điểm công khai trái ngược với lập trường của chánh phủ Liên bang Xô Viết. Cụ thể như đối với cuộc chiến tranh hiện nay ở Việt nam, thì chúng tôi phải đứng về phe Xã hội chủ nghĩa mà bênh vực chánh phủ Hanoi, để chống lại chánh phủ Saigon và phe Tư bản do người Mỹ lãnh đạo. Dĩ nhiên là chúng tôi vẫn cố gắng để mà giữ được vị thế và sắc thái riêng biệt theo truyền thống lâu đời của Tôn giáo mình, chứ chúng tôi không phải là một thứ cơ quan trực thuộc chánh quyền hay là một thứ cơ sở ngọai vi của đảng cộng sản Liên Xô. Nhưng xin ông cũng thông cảm cho việc chúng tôi bị “kiểm sóat, khống chế” khá là ngặt nghèo trong cung cách giao dịch với thế giới bên ngòai, đặc biệt là trong lãnh vực chính trị và bang giao quốc tế.

2 – Thứ hai, về phương diện sinh họat nội bộ, thì từ khi chế độ cộng sản được thiết lập và củng cố vững chắc trên tòan thể nước Nga và các nước Cộng hòa khác thuộc Liên bang Xô Viết, thì Giáo hội Chính thống chúng tôi phải liên tục chịu đựng những sự hạn chế, đàn áp vô cùng là ngặt nghèo tàn bạo không làm sao mà kể cho xiết được. Trong hơn nửa thế kỷ nay, chúng tôi đã có đến hàng chục vạn thánh đường, các tu viện, cơ sở tôn giáo, các chủng viện, các cơ sở văn hóa xã hội bị triệt hạ đến mất hết cả dấu tích luôn. Và bao nhiêu đồ tượng ảnh quý báu được dát bằng quý kim vàng bạc, cẩm thạch đá quý tích lũy từ bao nhiêu thế hệ xa xưa trong các cơ sở phụng tự đó đều bị tịch thu và mang đi đâu chẳng còn ai mà biết được nữa.

Đó là về phương diện cơ sở và tài sản vật chất. Còn về tinh thần và nhất là về phương diện nhân sự tức là thành phần các tu sĩ, giáo sĩ, thì thật là thảm thương bi đát không một ai lại có thể tưởng tượng được nữa. Đã có hàng ngàn giáo sĩ bị hành quyết (executed), hàng nhiều ngàn bị bắt, bị đầy ải ở Siberia và trong các trại tập trung và hầu hết đều đã kiệt sức vì đói, vì lạnh, vì bị làm việc nặng nhọc quá sức chịu đựng của con người. Đó là chưa kể đến con số hàng triệu tín đồ bị hành hạ, bạc đãi, bị cưỡng bức phải di chuyển đi đến những vùng khô cằn hẻo lánh. Chưa bao giờ Giáo hội chúng tôi lại bị bách hại thảm thương tàn ác đến thế!

3 – Nói chung, thì nhà nước Xô Viết vẫn triệt để tìm mọi cách để tiêu diệt tôn giáo và thay thế vào đó bằng chủ thuyết vô thần. Nếu có được một sự nới lỏng, dễ thở nào đó cho sinh họat tôn giáo, thì chỉ vì nhu cầu giai đọan cấp thời mà thôi. Cụ thể như từ lúc nước Nga bị quân Đức Quốc Xã đến xâm lăng vào năm 1941, thì ông Stalin mới ra lệnh cho thuộc cấp trả lại một số cơ sở phụng tự, trả tự do cho một số giáo sĩ, tu sĩ và cho tín đồ được hành đạo tương đối thỏai mái. Nhưng đó chỉ vì muốn lấy lòng các tầng lớp dân chúng để cho họ cùng tham gia vào công cuộc bảo vệ tổ quốc mà thôi. Sau chiến tranh rồi, thì guồng máy kềm kẹp lại tiếp tục vận hành, mà lại càng dã man cuồng nhiệt hơn nữa.

Cả ngay dưới thời của ông Krushchev, thì nạn bài trừ và đàn áp tôn giáo vẫn còn rất ngặt nghèo sắt máu, có đến hàng vạn nhà thờ bị phá hủy hay tịch thu trong các năm dưới quyền của ông lãnh tụ này. Chỉ gần đây, dưới thời của ông Brezhnev, thì mới có sự nới lỏng đôi chút mà thôi.

4 – Ngày nay, nhờ áp lực mạnh mẽ của quốc tế mà Giáo hội chúng tôi cũng mới bắt đầu phục hồi lại được phần nào. Nhưng nói chung, mọi tôn giáo ở Liên Xô, kể cả Chính thống giáo, Tin lành, Công giáo, Hồi giáo, Phật giáo…, thì vẫn còn phải chịu nhiều sự khốn khó hạn chế đủ mọi bề.

Những điều tôi nói với ông lúc này, thì các sách báo ở phương Tây đều đã viết lên đầy đủ cả rồi, dựa trên những chứng từ đáng tin cậy của bao nhiêu người đào thóat từ nước Nga, hay do các nguồn tin do chính người dân ở Liên Xô tiết lộ ra cho các bạn hữu của họ ở nước ngòai. Tôi vừa là nạn nhân, vừa là chứng nhân để có thể xác nhận với ông về những sự việc thực tế hết sức phũ phàng đau đớn này.

Nhưng tôi cũng xin lưu ý ông là không nên công bố danh tính của tôi khi ông viết thuật lại những điều tôi tâm sự riêng tư với ông bữa nay, vì nếu nhà nước Liên Xô mà biết được chuyện “tôi nói không tốt về họ”, thì họ sẽ trách cứ và làm phiền cho văn phòng ngọai vụ của chúng tôi.

Tại nước Thụy sĩ này, tôi được chứng kiến sự thịnh vượng sung túc và cuộc sống thanh thản an bình của người dân, mà tôi càng cảm thương cho dân tộc Nga thật là bất hạnh của tôi. Tôi cũng thương xót cho bao nhiêu đồng đạo, bao nhiêu anh em tu sĩ của tôi đã bị tàn sát do bàn tay của người cộng sản. Và tôi cũng xót thương cả đối với một ít tu sĩ đã vì hèn nhát mà cam tâm làm tay sai cho công an mật vụ, để phản bội lại chính các anh em đồng đạo của mình nữa…

Vitaly Borovoy, vị Linh mục cao tuổi và có thâm niên nhất của Giáo hội Chính thống giáo nước Nga, – tính theo ngày được thụ phong năm 1944 – đã qua đời vào năm 2008, ở tuổi thọ 92 (1916 – 2008). Ông được đánh giá là người đã góp công rất lớn vào công cuộc giữ vững và phục hồi nếp sống tinh tuyền trong truyền thống lâu đời của Giáo hội Chính thống Nga.

*Sau cùng, người viết chỉ xin ghi thêm vài dòng vắn tắt về Giáo hội Chính thống Nga đã tồn tại trên đất nước này từ trên một ngàn năm nay, đã bám rễ sâu vào nếp sống văn hóa và tình cảm tâm linh của dân tộc Slave này. Và dù chế độ cộng sản trong suốt trên 70 năm đã dùng mọi phương cách bạo hành thâm độc nhằm tiêu diệt tôn giáo này, thì rốt cuộc chính các thủ phạm tàn ác là người cộng sản lại bị người dân Nga lọai trừ chối bỏ. Và các nạn nhân khốn khổ là những tín đồ tôn giáo nay đang trên đà phục hồi lại được cái truyền thống đạo hạnh và nhân ái ngàn xưa của cha ông mình.

Và công cuộc phục hồi này, dù vẫn còn khó khăn phức tạp, thì vẫn rõ ràng đang là một quá trình không thể nào mà có thể đảo ngược lại được nữa vậy (an irreversible processus)./

California, Tiết Trung Thu Ất Mão 2011

Đòan Thanh Liêm

Người sắc tộc thiểu số tại vùng cao nguyên miền Nam

Chuyện  xưa  chuyện  nay (14)

Người sắc tộc thiểu số tại vùng cao nguyên miền Nam

Đòan Thanh Liêm

Tôi chỉ mới đi tới Đà lạt mấy lần, kể cả sau năm 1975, chứ chưa bao giờ được đặt chân đến vùng Ban mê thuật, Pleiku, Kontum… Nên phải thú thật là mình chưa thực sự sinh sống tại vùng cao nguyên, để mà có kinh nghiệm thực tế cụ thể với người thuộc các sắc dân thiểu số vốn đã lâu đời định cư tại vùng đó.

Tuy nhiên, do sự gặp gỡ với một số người có quan tâm mật thiết tới số phận của các sắc dân thiểu số, cũng như được đọc nhiều sách báo viết về họ, nên tôi cũng để tâm theo dõi những vấn đề nan giải tại vùng này, đặc biệt là kể từ khi chuyện khai thác quặng beauxite đã và đang gây ra sự phản ứng sôi nổi trong dư luận ở trong cũng như ở ngòai nước trong mấy năm gần đây. Tôi xin lần lượt kể lại một ít điều tôi được biết liên quan đến vấn đề này.

*  1 -Trước hết là cuộc gặp gỡ với Linh mục Jacques Dournes tại Paris vào cuối năm 1970. Linh mục này thuộc Dòng Thừa sai ngọai quốc ở Paris, thường được biết đến với tên gọi quen thuộc là : “Missions Étrangères de Paris” ( MEP). Ông sinh năm 1922 và mất năm 1993 tại Pháp. Trong hơn 20 năm sinh sống với người dân thiểu số tại vùng cao nguyên miền Nam Việt nam từ cuối thập niên 1940 đến năm 1968, ông chú trọng nhiều đến việc tìm hiểu về ngôn ngữ, phong tục, văn hóa của các sắc dân này, đặc biệt là của sắc dân Jarai và có lòng yêu mến cùng tìm mọi cách bảo vệ họ trước cảnh khai thác bất công và xâm lấn của đa số người Kinh tại vùng đất rừng núi hẻo lành này. Trong bộ áo chùng thâm, trông ông có vẻ khắc khổ, nghiêm trang với đôi mắt đày vẻ nhiệt thành.

Trong một bữa ăn trưa tại một nhà dòng của các nữ tu Phan Sinh  (Franciscaines) trong quận 14, gần với khu Đại học xá (Cité universitaire), tôi đã có cả một buổi chuyện trò trao đổi với vị linh mục này. Ngay từ mấy phút đầu tiên gặp gỡ, ông đã tới tấp trút lên người tôi những lời lẽ thật là nặng nề, lên án những bất công tệ hại do người Kinh là sắc dân đa số gây ra đối với các sắc dân thiểu số ở vùng cao nguyên. Ông thuật lại những sự việc hết sức tồi tệ tiêu cực, mà bản thân ông đã chứng kiến sau nhiều năm tháng sinh sống và truyền giáo tại đó.

Sau khi ông đã bớt cơn giận dữ, tôi mới từ tốn thưa lại với ông là tôi sinh trưởng tại miền đồng bằng ngòai Bắc, rồi vào sinh sống tại Saigon từ năm 1954, nên không được biết gì về vùng cao nguyên, nói gì đến chuyện của các sắc dân ở đó. Nhưng là một luật sư, thì tôi có nhiệm vụ phải bênh vực những nạn nhân của các vụ bóc lột, đàn áp bất công ở xã hội. Tôi sẵn sàng tiếp thu những điều cáo buộc của ông và sẽ cố gắng trong khả năng hạn hẹp của mình để tìm cách góp phần làm giảm thiểu được những điều tệ hại đó. Và cuộc trao đổi giữa chúng tôi đã trở nên thân mật, cởi mở với sự thông cảm về cả hai phía. Đại cương, tôi có thể ghi lại cái ấn tượng sâu sắc mà vị linh mục này đã đem lại cho tôi, đó là cần phải chú ý đến thân phận của những sắc dân đang là nạn nhân khốn khổ không những của chiến tranh, mà còn của sự bành trướng thế lực của kẻ mạnh là người Kinh như tôi, khiến gây ra những sự thiệt thòi quá đáng của các người thiểu số vốn ngây thơ chậm chạp mà đã định cư tại địa phương từ bao nhiêu thế hệ trước đây.

* 2 – Vào hồi những năm 1965 – 66 trở đi, thì tôi lại có dịp tiếp súc với những người ngọai quốc làm việc trong tổ chức chuyên môn có tên là “Viện Ngôn ngữ Mùa Hè” (Summer Institute of Linguistics = SIL), có trụ sở trên đường Nguyễn Minh Chiếu – Phú Nhuận gần với doanh trại của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Đây là các chuyên gia về ngữ học hay các nhà truyền giáo thuộc các quốc gia nói tiếng Anh như Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan. Họ chuyên sống tại những bản làng của người thiểu số để nghiên cứu về ngôn ngữ khác lạ và tìm cách ghi thành chữ viết theo mẫu tự La tinh (phonetic transcription), rồi từ đó dịch bản Kinh thánh ra nhằm sử dụng cho việc truyền giáo. Thành ra đây là sự cộng tác giữa các nhà ngữ học (linguists) và các nhà truyền giáo (missionaries), mà kết quả là điều có ích lợi cho cả việc phổ biến ngôn ngữ và văn hóa của các sắc dân thiểu số trước kia ít người bên ngòai biết đến được. Dĩ nhiên là các vị trong viện này có thiện cảm với người thiểu số mà họ có dịp tiếp cận và sinh sống lâu năm chung nhau tại các bản làng hẻo lánh ở vùng cao nguyên. Họ cho tôi một số sách báo trình bày về những kết quả của việc nghiên cứu kiên trì về ngôn ngữ và văn hóa của các sắc dân thiểu số tại Việt nam.

Trong các tác giả nghiên cứu về vấn đề này, tôi chú ý đến ông Gerald Hickey là chuyên gia về dân tộc học và nhân chủng học. Sau khi làm việc ít lâu ở Việt nam cho tổ chức nghiên cứu RAND Corporation, ông Hickey trở về Mỹ và làm công việc giảng dậy và nghiên cứu tại các Đại học Chicago và Cornell. Ông mới qua đời năm 2010 ở tuổi 85. Cuốn sách “Sons of the Mountains” của ông xuất bản năm 1982  viết về người sắc tộc vùng cao nguyên được nhiều người chú ý và đánh giá cao.

* 3 – Sau năm 1975, thì có nhiều đợt di dân từ ngòai Bắc vào các tỉnh miền cao nguyên. Trong số người di dân này, thì có khá nhiều bà con từ vùng quê tỉnh Hà Nam Ninh xưa kia của tôi, vốn là nơi “đất hẹp người đông”. Họ là dân thường, nhưng cũng có người là bộ đội giải ngũ hay cựu viên chức của chính quyền ở ngòai Bắc, do vậy mà dễ được chính quyền địa phương hỗ trợ trong việc khai thác đất đai rộng mênh mông ở cao nguyên. Sự việc này gây thêm sự bất mãn của người dân thiểu số tại chỗ, đến nỗi gây ra những mâu thuẫn xung đột giữa các sắc dân tại đây.

Vào các năm 1992 trở đi, khi ở trại tù Hàm Tân, thì tôi có nghe nói là đã có nhiều người thiểu số bị giam giữ tại đây, sau những vụ “bạo lọan nổi dậy lẻ tẻ ở vùng cao nguyên” vào cuối thập niên 1970 qua đầu thập niên 1980. Tôi hiểu được phản ứng của họ trước việc bị mất đất đai canh tác như vậy, nhưng rõ ràng đây là những cuộc chiến đấu tuyệt vọng, kiểu như “lấy trứng chọi đá” vậy. Làm sao mà các nhóm dân lẻ tẻ lại có thể đối chọi cho được với cái guồng máy quân sự và an ninh đồ sộ của chính quyền cộng sản Hanoi vốn triệt để áp dụng sách lược “vô sản chuyên chính”?

Và kể từ khi ra đến hải ngọai từ năm 1996, thì tôi đã dễ dàng tìm hiểu thêm về tình hình thật đáng thương tâm của bà con người thiểu số tại vùng cao nguyên này. Cụ thể là Trung tá Nguyễn Văn Nghiêm, người đã gắn bó lâu năm với cơ quan thuộc Bộ Phát triển Sắc tộc thời chính quyền của Việt nam Cộng hòa trước năm 1975. Ông đã viết nhiều bài báo cũng như diễn thuyết trình bày về vấn đề gai góc này. Cũng như tổ chức Human Rights Watch trong mấy năm gần đây cũng đã liên tục phổ biến nhiều tài liệu nói về sự đàn áp của chính quyền cộng sản đối với các sắc dân thiểu số ở vùng cao nguyên, đến nỗi nhiều người đã phải trốn thóat sang nước láng giềng Cambodia. Những người tỵ nạn mới này tố cáo về thảm trang bị cán bộ chiếm hết đất đai của họ, rồi còn ngăn cản họ không được sinh họat tôn giáo, đặc biệt là theo đạo Tin lành trong các nhà thờ nhóm họp tại các tư gia (House Churches).

* 4 – Tại trong nước, thì nhà văn Nguyên Ngọc từ lâu nay đã lên tiếng rất mạnh mẽ, tố cáo chính sách tàn phá nặng nề đến môi sinh tại vùng rừng núi cao nguyên, khiến cho các sắc dân thiểu số tại đây phải lâm vào cảnh khốn đốn cùng cực không làm sao có thể cứu vãn được nữa. Và đặc biệt từ ngày chính quyền Hanoi để cho người Trung quốc vào khai thác quặng beauxite tại cao nguyên, thì đã gây ra những phản ứng rất mãnh liệt của giới trí thức chuyên gia nêu ra các phản biện chống lại dự án có thể gây ra những thiệt hại khủng khiếp đối với môi trường và cuộc sống của bao nhiêu con người hiện đang sinh sống trong vùng này. Trang web Beauxite Việt nam hiện đang được rất nhiều người dân trong nước, cũng như ngòai nước theo dõi tham gia và gây ra một phản ứng chống đối cực kỳ mạnh mẽ trong công luận.

Về phần mình, thì từ đầu năm 2000 tôi đã viết một bài báo nhan đề là : “Lẽ công bằng đối với người thiểu số ở Việt nam”, bài này đã được đăng tải trên nhiều tờ báo, đặc biệt là tạp chí Thế kỷ XXI phát hành tại California. Rồi trong nhiều cuộc hội thảo quốc tế được tổ chức tại các trường đại học ở các tiểu bang Virginia, Tennessee, Indiana…, tôi đã có dịp nêu ra những sự bất công đàn áp bóc lột đối với các sắc dân thiểu số ở Việt nam hiện nay. Cử tọa phần đông là các sinh viên trẻ tuổi từ nhiều quốc gia đến tham dự, và họ đã bày tỏ sự thông cảm đối với những nỗi khó khăn thiệt thòi của lớp người dân thiểu số này.

Là một luật gia, tôi phải đứng về phía những nạn nhân yếu đuối thân cô thế cô, chứ không bao giờ lại đồng lõa tiếp sức cho giới cầm quyền chuyên môn áp bức đè nén những người dân thấp cổ bé miệng, đặc biệt là các người thuộc sắc tộc thiểu số, như đã được ghi rõ chi tiết trong bài viết này vậy./

California, tháng Chín năm 2011

Đòan Thanh Liêm

Sức khoẻ của lãnh đạo và hệ thống

Sức khoẻ của lãnh đạo và hệ thống

Nguyễn Giang bbcvietnamese.com

Hai ông Putin và Bush: dư luận luôn chú ý đến sức khoẻ của lãnh đạo

Bệnh tình của Đại tướng Phùng Quang Thanh đang là đề tài số một thu hút dư luận Việt Nam và gợi lại cả vấn đề muôn thuở rằng sức khoẻ của quan chức cao cấp đôi khi còn phản ánh nhịp tim của quốc gia.

Hồi 2002, Tổng thống Hoa Kỳ khi đó, ông George W Bush ngất vài giây khi bị hóc miếng bánh vòng (pretzel) lúc đang xem thể thao một mình trong phòng.

Nhà Trắng chỉ mất 2 tiếng 30 phút sau đã có thông cáo giải thích với dư luận mọi chi tiết của vụ việc, trích lời các bác sỹ.

Nhưng chính quyền vẫn không làm được gì khi báo Mỹ chạy đầy các bài với tựa đề như ‘Choking on Pretzel, Bush Faints Briefly’, tạm dịch là ‘Nghẹn vì nuốt bánh Bush đã chợt bất tỉnh’.

Sức khoẻ và chính trị

Trước đó, các đài truyền hình Mỹ cho ông Bush điểm cao về độ tín nhiệm của dân, có lúc lên tới 90% vào tháng 11/2001.

Và không hiểu vì sao từ năm 2002 thì ‘điểm’ của ông tụt dần đều.

Đến hết nhiệm kỳ đầu ông chỉ còn được chừng 50% dân Mỹ ủng hộ, vẫn đủ để thắng cử nhưng hết nhiệm kỳ 2 vào năm 2008 thì chỉ còn 20% dân Mỹ mến mộ ông.

Miếng bánh ‘nghẹn cổ’ có thể chỉ là một sự cố nhưng chuyện ngồi ăn bánh cũng ngã và ngất hẳn không giúp cho hình ảnh của vị tổng thống ‘cường quốc số một’.

Ngược lại, người ta cũng có thể nói bộ máy của Hoa Kỳ về cơ bản là mạnh khoẻ vì luôn có một phó tổng thống sẵn sàng thế chỗ cho nhân vật số một nếu xảy ra chuyện gì.

Nhưng tại Liên Xô cũng thì lại khác.

Sử sách nhắc lại ‘kỷ nguyên trì trệ Brezhnev’ để nói về Liên Xô suy thoái.

null

Tranh biếm họa của Sergei Yelkin về ông Brezhnev nhìn 5 vòng tròn Olympics đọc thành 5 chữ O.

Năm 1975, ông Leonid Brezhnev, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (69 tuổi) bị một cú đột quỵ, báo hiệu thời kỳ đau yếu kéo dài.

Nhưng Liên Xô không có cơ chế thay ông và chỉ có thể trao bớt quyền cho hai ủy viên Bộ Chính trị khác, Mikhail Suslov và Andrey Kirilenko.

Đến năm 1978 thì ông Brezhnev còn yếu hơn nữa và quyền lực được chuyển dần cho người mà ông tin cẩn là Konstantin Chernenko.

Một cuộc tranh giành quyền lực bùng nổ với Cựu lãnh đạo KGB Yuriy Andropov tìm cách hạ uy tín của cả Brezhnev và Suslov.

Năm 1982, ông Brezhnev bị đột quỵ một lần nữa và ông Suslov qua đời, khiến ông Andropov gần như nắm trọn quyền lực.

Nhưng phải đợi đến lúc ông Brezhnev mất vào tháng 11/1982, ông Andropov mới lên thay.

Tất cả diễn ra sau bức tường Điện Kremlin và báo chí Liên Xô không được phép nói gì vì sức khoẻ lãnh tụ là ‘bí mật quốc gia’.

Nhưng các bản cáo phó liên tiếp đưa ra cũng khiến giới quan sát quốc tế đặt câu hỏi về sự lão hóa của hệ thống.

Ông Andropov lên cầm quyền vào tháng 6/1983 thì đến tháng 2/1984 đã chết.

Ông Chernenko lên kế nhiệm ngay để rồi đến ngày 10/3/1985 cũng qua đời.

Vì thế ở Đông Âu từng có tiếu lâm nói Đài Tiếng nói Moskva đưa tin ‘Dù sức khoẻ chưa thật tốt, sau khi phẫu thuật và vẫn còn hôn mê, đồng chí tổng bí thư vẫn chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị”.

Các khách nước ngoài kể lại những cuộc gặp mà lãnh đạo Liên Xô được đẩy trên xe lăn ra gật đầu chào mấy câu rồi quay vào bệnh viện.

Người kế tục trẻ tuổi là Michail Gorbachev đã chuyển hẳn hướng đi của chính trị Liên Xô nhưng văn hóa chính trị Nga thì vẫn luôn có một truyền thống đầy sức sống về những đồn đoán liên quan tới sức khoẻ lãnh đạo.

Lý do là vận mệnh quốc gia ở đó thường gắn liền với sức khoẻ quan chức.

Gần đây nhất, tháng 3/2015, Tổng thống Vladimir Putin vắng mặt một số ngày, làm nổ ra nhiều đồn đại, khiến Điện Kremlin phải họp báo giải thích.

null

Ông Putin luôn tỏ ra ‘cường tráng’ hơn bình thường

Người ta quan tâm vì ông Putin luôn tỏ ra ‘rất cường tráng’ với các màn cởi trần cưỡi ngựa, lái phản lực được tuyên truyền rộng rãi.

Còn tại Trung Quốc, nhiều nhân vật trong bộ máy Đảng Cộng sản và Quân Giải phóng vào thời Cách mạng Văn hóa đã bị hạ bệ, xét xử, thậm chí để cho chết, báo hiệu một thời đại loạn.

Nguyên soái Hạ Long (1896-1969), nhân vật số hai trong Quân ủy Trung ương và từng làm Phó Thủ tướng, chỉ vì muốn bảo vệ Bành Đức Hoài mà bị Giang Thanh quy kết là ‘đầu sỏ hữu phái’.

Báo chí Trung Quốc hùa theo và gọi ông là kẻ phản Đảng.

Năm 1966 ông bị hạ bệ và giam tại gia cho tới lúc qua đời năm 1969 vì ngã bệnh nhưng chính quyền cắt điện nước vào nhà và không cho chạy chữa.

Nhu cầu thông tin

Những trường hợp kinh khủng như trên ở Trung Quốc xảy ra đã lâu nhưng ngày nay, quy luật sinh lão bệnh tử vẫn xảy ra với mọi con người, kể cả họ là chính trị gia.

null

Không thấy thông tin chính thức ai tạm thay Tướng Thanh khi ông ra nước ngoài chữa bệnh

Điều quan trọng là tin về bệnh tật của quan chức có được thông báo công khai, đồng thời tôn trọng quyền riêng tư của bệnh nhân và gia đình họ hay không.

Mới hồi tháng 2/2015, Thủ tướng Lý Hiển Long của Singapore phải phẫu thuật khối u tiền liệt tuyến.

Chính phủ thông báo rõ trong một tuần ông vắng mặt chữa bệnh (medical leave), Phó Thủ tướng Teo Chee Hean sẽ tạm điều hành nội các Singapore.

Ở Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã “ở Pháp chữa bệnh” nhiều tuần liền mà chưa thấy thông tin ai tạm thay ông nếu ta đọc Cổng Thông tin Điện tử Bộ Quốc phòng.

Dư luận ở đâu cũng có nhu cầu chính đáng cần được thông tin về quan chức cao cấp.

Đồn đoán, bình phẩm là thứ không tránh khỏi nhưng các thủ tục rõ ràng về quyền nghỉ ốm và cơ chế kiêm nhiệm chức vụ sẽ giúp làm giảm bớt lời đồn thổi và tạo được niềm tin là quan chức ốm nhưng hệ thống vẫn vận hành mạnh khoẻ.

Tướng Phùng Quang Thanh còn sống hay đã chết?

Tướng Phùng Quang Thanh còn sống hay đã chết?

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-07-20

07202015-abt-ne-of-vn-defens-minister-died.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

 

Hình chụp trang bìa tờ báo online DPA-International, trong tin có phần ghi: Một báo cáo trước đây của DPA cho biết ông tướng đã qua đời hôm Chủ Nhật sau khi được điều trị tại bệnh viện, dựa theo một nguồn tin tại bệnh viện.

Hình chụp trang bìa tờ báo online DPA-International, trong tin có phần ghi: Một báo cáo trước đây của DPA cho biết ông tướng đã qua đời hôm Chủ Nhật sau khi được điều trị tại bệnh viện, dựa theo một nguồn tin tại bệnh viện.(ngày 20 tháng 7, 2015)

Screenshot

<

Hãng tin DPA của Đức vào ngày 19 tháng 7 loan tin ông bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh qua đời trong cùng ngày tại một bệnh viện ở Pháp, nơi ông này đang chữa bệnh ung thư phổi.

Vào ngày 20 tháng 7, truyền thông trong nước loan đi phát biểu của phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, trung tướng Võ Văn Tuấn là sức khỏe của ông bộ trưởng vẫn ổn định và sẽ về nước trong vài ngày tới. Bên cạnh đó là tin bộ trưởng quốc phòng họ Phùng gửi thư chúc mừng hai đơn vị quân đội nhân ngày truyền thống.

Tin hai lề

Sau khi thông tin trên mạng loan tải về sự vắng mặt của người đứng đầu ngành quốc phòng tại những sự kiện quan trọng của quân đội trong thời gian gần đây; truyền thông chính thống Nhà nước Việt Nam vào đầu tháng 7 mới trích dẫn phát biểu của một thành viên trong Ban Chăm sóc Sức khỏe cho cán bộ cấp trung ương, giáo sư Phạm Gia Khải, xác nhận là ông bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh đang hồi phục sau phẩu thuật khối u lành tính trong phổi.

Báo mạng DPA nhắc lại tuyên bố của giáo sư Phạm Gia Khải nói rằng ông Phùng Quang Thanh sẽ về nước trong vòng hai tuần lễ nữa. Tuy nhiên, hơn hai tuần lễ sau khi có tuyên bố này thì DPA loan tin ông Thanh từ trần theo một nguồn từ chối không nêu tên vì không được phép cho báo giới biết.

Quan tâm về bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn ngay sau khi đọc tin của DPA cũng có một bài viết ngắn đưa lên mạng với tựa (Tin dè dặt ) Phùng Quang Thanh qua đời.

Ông cho biết quan tâm của ông đối với người đứng đầu ngành quốc phòng Việt Nam hiện nay:

“ Tôi cũng như nhiều người khác ở nước ngoài quan tâm đến ông bộ trưởng quốc phòng vì ông ấy có những quan điểm nói thẳng ra là thân với bên Tàu. Điều đó hình như bên Tàu họ cũng không có giấu diếm gì cả, họ cũng nói thẳng như thế.

Và như tất cả chúng ta đều biết gần đây kết của của một điều tra xã hội do Trung tâm PEW công bố cho thấy rằng đa số, gần 80%, người Việt xem Tàu là một mối đe dọa và không có thiện cảm. Điều đó trong công chúng, trong người dân thành ra người ta quan tâm; kể cả tôi nữa đến ông bộ trưởng vì có vẻ ông có một quan điểm rất khác với người dân nên người ta quan tâm rất sát sao đến sức khỏe của ông ấy.

” Ở trong nước người ta không công bố, chắc cũng có lý do, về tình hình sức khỏe của ông bộ trưởng…. Nhưng một tin quan trọng như thế thì khó mà nói phía bên Việt Nam không công bố được, thành ra tôi xem tin đó rất dè dặt chứ không xem tin đó là một tin chính xác

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn”

Nhưng ở trong nước người ta không công bố, chắc cũng có lý do, về tình hình sức khỏe của ông bộ trưởng…. Nhưng một tin quan trọng như thế thì khó mà nói phía bên Việt Nam không công bố được, thành ra tôi xem tin đó rất dè dặt chứ không xem tin đó là một tin chính xác. Quan điểm của tôi là vậy.”

Hình chụp trang bìa tờ báo online DPA-International, trong tin có phần ghi: Một báo cáo trước đây của DPA cho biết ông tướng đã qua đời hôm Chủ Nhật sau khi được điều trị tại bệnh viện, dựa theo một nguồn tin tại bệnh viện.

Hình chụp trang bìa tờ báo online DPA-International, trong tin có phần ghi: Một báo cáo trước đây của DPA cho biết ông tướng đã qua đời hôm Chủ Nhật sau khi được điều trị tại bệnh viện, dựa theo một nguồn tin tại bệnh viện.

Nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng có những đánh giá cụ thể về ông bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh như sau:

“ Với Phùng Quang Thanh tôi nghĩ ông ta gắn liền với việc ‘Phùng Quang Thanh- Phùng Quang Hải với hơn 100 héc ta đất của Gia Lâm, của Tân Sơn Nhất. Tôi quan tâm đến chuyện ấy.

Đấy là một ông võ biền chứ không phải một nhà chính trị. Một nhà chính trị với cương vị bộ trưởng Bộ Quốc phòng thì không thể nói năng như thế được. Tất cả những nói năng như thế chứng tỏ là một ông võ biền, quan điểm thiển cận và chỉ biết lợi ích cá nhân cục bộ chứ không biết lợi ích đất nước. Trung Quốc đe dọa xâm lược Việt Nam và cả dân tộc Việt Nam từ lớn đến nhỏ đều căm phẫn lên án Trung Quốc; thì ông ấy lại lo lắng tâm lý ghét Trung Quốc nguy hiểm cho dân tộc. Nói như thế thì ông chưa đủ tư cách là người Việt Nam chứ chưa nói đến một ông bộ trưởng quốc phòng có trách nhiệm giữ nước. Tức không phải một chính khách, một nhà chính trị.

Ông ấy nói thế vì Trung Quốc có vai trò rất quan trọng đến ‘số phận, vị trí’ chính trường Việt Nam. Trước đại hội 12 ông ấy nói thế để lấy lòng Trung Quốc nhằm có được vị trí thèm muốn của ông trên chính trường, chứ không phải vì lợi ích của đất nước.”

Kỳ vọng về một bộ trưởng quốc phòng cũng như lớp lãnh đạo sắp đến.

Tin tức chính thức cho biết vào đầu sang năm Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành đại hội 12 và dịp này sẽ quyết định lớp nhân sự lãnh đạo trong nhiệm kỳ 5 năm sắp đến.

DPA nhắc lại rằng ông Phùng Quang Thanh 66 tuổi trước khi đi chữa bệnh được xem là một ngôi sao đang lên trong Đảng Cộng sản Việt Nam, là một ứng viên cho chức vụ chủ tịch nước tại kỳ đại hội đảng 12 sắp đến.

” Nhưng ít ra đứng trước tình trạng ngư dân của mình bị ức hiếp và thậm chí có thể dùng chữ rất thẳng thừng là bị bên phía Tàu ăn cướp; thì đáng lẽ quân đội của mình phải có mặt đâu đó để cho người ta thấy rằng mình cũng có quan tâm đến ngư dân của mình. Còn ở VN trong những ngày tháng gần đây thì ngư dân chúng ta bị ức hiếp, bị ăn cướp, thậm chí bị tông chìm tàu suýt chết; nhưng không có sự can thiệp của quân đội mặc dù là gián tiếp thôi

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn”

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn bày tỏ kỳ vọng về một vị bộ trưởng quốc phòng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:

“ Tôi nghĩ rằng Việt Nam không muốn bạo lực hay chiến tranh với nước láng giềng. Đó là nguyên tắc đương nhiên. Nhưng ít ra đứng trước tình trạng ngư dân của mình bị ức hiếp và thậm chí có thể dùng chữ rất thẳng thừng là bị bên phía Tàu ăn cướp; thì đáng lẽ quân đội của mình ( Việt Nam) phải có mặt đâu đó để cho người ta thấy rằng mình cũng có quan tâm đến ngư dân của mình. Còn ở Việt Nam trong những ngày tháng gần đây thì ngư dân chúng ta bị ức hiếp, bị ăn cướp, thậm chí bị tông chìm tàu suýt chết; nhưng không có sự can thiệp của quân đội mặc dù là gián tiếp thôi. Thậm chí không có phát biểu nào từ mấy người trong Bộ Quốc phòng liên quan đến chuyện ngư dân mình bị ức hiếp.

Thành ra tôi nghĩ rằng, là người dân chỉ ở ngoài thôi, một ông bộ trưởng quốc phòng cũng phải có tiếng nói nào đó, một phát biểu nào đó để làm cho người dân cảm thấy an tâm coi như vẫn có một lực lượng đứng đàng sau mình, bảo vệ  mình. Đàng này điều đó không xảy ra nên tôi nghĩ đó là điều đáng tiếc!”

Nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng tỏ ra không mấy lạc quan về một vị bộ trưởng quốc phòng mới cũng như cả lớp lãnh đạo mới tại Việt Nam trong thời gian tới:

“ Hiện nay tôi cũng chưa rõ những người mới đó như thế nào bởi vì những phái đoàn tướng công an, tướng quân đội nối nhau, thay nhau đi Trung Quốc tập huấn ở Tây An. Tức sang Trung Quốc chỉ để nhồi nhét về chính trị, về giai cấp thôi chứ không phải dân tộc. Mà mấy chục năm, gần cả thế kỷ, chúng ta đã đặt giai cấp lên trên dân tộc và đã dẫn đến tình trạng như ngày nay rồi; thì với những tướng, tá của quân đội và công an sang chỉ để ( được) giáo dục về giai cấp về đảng thôi; đó là điểu chả chờ đợi gì cả! Vừa rồi đưa lên đầu những người xuất phát từ lợi ích của Đảng tức trung thành với Đảng nên khó có những người ở lập trường quốc gia, đất nước. Thứ hai có thể có nhưng người ta không dám xuất hiện, không dám bộc lộ vì bộc lộ thì sẽ bị chặn đứng ngay.”

Tuy nhiên, nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng nói rằng ông lạc quan về xu thế dân chủ không thể đảo ngược tại Việt Nam.

Và theo lẽ tự nhiên, trước một xu thế tất yếu như thế những vị lãnh đạo nếu thức thời bao giờ cũng phải thuận theo.

Thông tấn xã Đức: Đại Tướng Phùng Quang Thanh qua đời

Thông tấn xã Đức: Đại Tướng Phùng Quang Thanh qua đời

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Đại Tướng Phùng Quang Thanh, ủy viên Bộ Chính Trị Đảng CSVN kiêm bộ trưởng Quốc Phòng, vừa qua đời tại Pháp hôm Chủ Nhật, 19 Tháng Bảy, hãng thông tấn DPA của Đức trích lời một giới chức quân sự cho biết như vậy.

Đại Tướng Phùng Quang Thanh. (Hình: commons.wikimedia.org)

Trong khi đó, tại Việt Nam, chưa thấy một cơ quan truyền thông nào đưa tin về vụ này.

Ông Thanh, 66 tuổi, qua đời tại bệnh viện Georges Pompidou ở Pháp, sau khi được chữa trị bệnh ung thư phổi, DPA trích nguồn tin quân sự nói, nhưng không cho biết danh tánh nguồn, vì người này không được phép nói với truyền thông.

Trước khi bị bệnh, ông Thanh, cũng là phó bí thư Quân Ủy Trung Ương, được coi là một ngôi sao sáng trong Đảng CSVN, theo DPA.

Trong thời gian qua, có nhiều tin đồn về sức khỏe của ông Thanh, sau khi ông đột ngột vắng mặt tại một số sự kiện quan trọng, ví dụ như cuộc họp của chính phủ và đại hội toàn quân.

Lần cuối cùng ông Thanh xuất hiện trước công chúng là vào ngày 19 Tháng Sáu, lúc được ông Jean-Yves Le Drian, bộ trưởng Quốc Phòng Pháp, tiếp đón tại Paris.

Hôm 9 Tháng Bảy, Giáo Sư Phạm Gia Khải, thành viên Ban Bảo Vệ, Chăm Sóc Sức Khỏe Trung Ương, nói với BBC rằng ông Thanh “đã được xuất viện sau khi được giải phẫu một khối u trong phổi, nhưng ông vẫn tiếp tục ở lại Pháp để đợi được kiểm tra.”

Trong cuộc phỏng vấn trước đó với BBC ngày 2 Tháng Bảy, Giáo Sư Khải cho biết ông Thanh được chuyển sang Pháp từ ngày 24 Tháng Sáu để giải phẫu khối u trong phổi.

Theo dự trù, ông Thanh có thể được đưa lên nắm chức chủ tịch nước sau Đại Hội Đảng CSVN lần thứ 12 được tổ chức vào năm tới, DPA trích nguồn tin quân sự cho biết như vậy. (Đ.D.)

Bản tin được đăng tại đây: http://www.dpa-international.com/news/asia/vietnam-defence-minister-dies-in-france-after-cancer-treatment-a-46003499.html

Dân gánh đủ phí, cán bộ trốn việc đi chơi golf

Dân gánh đủ phí, cán bộ trốn việc đi chơi golf

Mi An

Nhiều xã ở Can Lộc (Hà Tĩnh), dâ phải góp tiền nuôi cán bộ thôn, xã. Có hộ không chịu nổi, đã phải bỏ ruộng bỏ nhà đi tha phương cầu thực.

Bà Lê Thị Hương xóm Văn Minh xã Thường Nga khóc khi kể khổ với nhà báo.Ảnh: Báo Nông nghiệp Việt Nam.   

Bà Lê Thị Hương xóm Văn Minh xã Thường Nga khóc khi kể khổ với nhà báo.

Ảnh: Báo Nông nghiệp Việt Nam.

Nếu như giải báo chí quốc gia có một giải riêng cho “loạt bài điều tra buồn nhất trong năm”, có lẽ tôi xin đề cử ngay loạt bài “Gánh nặng quê nghèo” của các nhà báo Hoàng Anh- Thiện Nhân ở báo Nông nghiệp Việt Nam, vừa khởi đăng những ngày gần đây.

Tất nhiên, không giải báo chí nào có cái giải buồn đó cả, nhưng rõ ràng, đọc loạt bài này, chắc nhiều độc giả giống như tôi, nghẹn ngào, uất ức đến trào nước mắt vì những gánh nặng phi lý mà hệ thống cán bộ xã, thôn ở huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) đang trút lên người nông dân.Nếu như giải báo chí quốc gia có một giải riêng cho “loạt bài điều tra buồn nhất trong năm”, có lẽ tôi xin đề cử ngay loạt bài “Gánh nặng quê nghèo” của các nhà báo Hoàng Anh- Thiện Nhân ở báo Nông nghiệp Việt Nam, vừa khởi đăng những ngày gần đây.

Ròng rã suốt 10 năm nay, người dân xã Thường Nga không hề được thụ hưởng chính sách miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp như Nghị quyết của Quốc hội mà trái lại, họ còn phải đóng góp nhiều khoản thu nặng nề do cán bộ xã tự đặt ra.

Cái phí này gọi là “thu theo hạng đất”, các ông cán bộ chia đất ruộng của dân ra thành nhiều hạng, rồi ấn định mỗi loại đất phải nộp số kg thóc tương ứng sau khi thu hoạch. Năm nay, dân xã Thường Nga còn phải nộp Quỹ giao thông thủy lợi phục vụ sản xuất, có hộ lên tới ngót 1 triệu đồng, xã chỉ thu trong 3 ngày, chậm ngày nào sẽ bị phạt thêm 5%.

Còn ở xã Thanh Lộc thì sao, “Trong phương án thu các loại quỹ năm 2015, xã Thanh Lộc xây dựng một loại quỹ có tên là “Quỹ hành chính phúc lợi”. Chủ tịch UBND xã Lê Văn Nhiếu thẳng thắn thừa nhận, mục đích thu loại quỹ này nhằm chi trả chế độ cho những người hoạt động công tác ở xã, ở thôn không nằm trong đội ngũ cán bộ tịnh biên”- bài báo viết.

Theo điều tra của các PV NNVN, chỉ riêng trong tháng 6/2015, xã Kim Lộc đã phải chi trả hơn 62.000.000 đồng cho đội ngũ cán bộ, giúp việc ngoài biên chế. Trong số đó có những chức danh nghe khá lạ tai như “bảo vệ di tích quốc gia”, “bảo vệ di tích cấp tỉnh”…

Thú thật, đọc loạt bài điều tra, tôi hoa cả mắt với những con số đóng góp của các hộ dân, nhức cả đầu với chiêu bài đặt ra các ban bệ ở cấp thôn, xóm để bắt dân đóng tiền nuôi, vì diện “cán bộ” này không nằm trong diện được trả lương bằng ngân sách nhà nước.

Tâm sự với nhà báo, nhiều nông dân đã khóc ròng, bởi họ không biết làm thế nào, bán hết toàn bộ số thóc thu được cũng không đủ 2 khoản thu của xóm và của xã. Không nộp thì bị phạt 5%, cắt hết mọi giao dịch giấy tờ, đọc tên ra rả trên loa phóng thanh.

Trong khi người dân cùng cực như thế, thì đối lập là hình ảnh ông Trần Văn Hữu-  Chủ tịch xã Kim Lộc ngồi trong phòng máy lạnh chạy ro ro nhưng vẫn thở than với nhà báo: “Mới chỉ đạt được khoảng 70% so với chỉ tiêu, cán bộ xã, thôn đang tiếp tục vận động các hộ dân còn lại”.

Nếu quan tâm, bạn đọc có thể tìm đọc loạt bài “Gánh nặng quê nghèo” này để thấy nông dân ở Can Lộc đang khổ sở thế nào.

Trộm nghĩ, thường những người lành lặn chân tay, đầu óc minh mẫn thì mới được chọn làm cán bộ, vậy thì tại sao những cán bộ này lại vô liêm sỉ tới mức chọn cách sống ký sinh trên hạt thóc nhọc nhằn đẫm mồ hôi nước mắt của người dân như vậy?

Xin đề nghị các cán bộ xã, thôn ở huyện Can Lộc nên học tập ông Thiều Kim Quỳnh- Phó Tổng giám đốc Tổng công ty điện lực miền Bắc. Trên báo Thanh Niên số ra ngày 15/7/2015, có một mẩu tin cho biết, ông Quỳnh bị tố cáo “thường xuyên đi chơi gofl trong giờ hành chính” và có bản sao nhật ký sân golf Vân Trì (Hà Nội) để chứng thực điều này.

Tuy nhiên, trong giải trình, ông Quỳnh chỉ thừa nhận “thỉnh thoảng đi chơi golf trong giờ làm việc” và vẫn được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vào các năm 2013-2014.

Thay vì bắt dân cõng phí nuôi mình, các cán bộ xã, thôn ở Can Lộc nên học hỏi lấy kinh nghiệm làm sao để vẫn có thể vừa đi chơi golf, vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ như bác lãnh đạo EVN kia.

Thế mới là người cán bộ tài giỏi.

M.A

Nguồn: http://baodatviet.vn/van-hoa/nguoi-viet/dan-ganh-du-phi-can-bo-tron-viec-di-choi-golf-3277563/

‘Mồm loa mép giải’

‘Mồm loa mép giải’

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Thành ngữ “mồm loa mép giải” của Việt Nam có nghĩa là “to tiếng và lắm lời, nói át cả người khác.” Một định nghĩa khác gay gắt hơn là “lắm mồm, ngoa ngoắt, đanh đá, luôn lấn át người khác, bất chấp cả đúng hay sai!”

Những cái loa phóng thanh ở phố phường Hà Nội.
(Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Thành ngữ này làm chúng ta nhớ đến cái loa.

Loa và cái mã tấu là hai dụng cụ đáng sợ nhất thời Việt Minh. Ở những vùng “xôi đậu,” nửa đêm nghe giọng nói oang oang qua chiếc loa giấy kết tội Việt gian là sáng ra, thế nào cũng thấy một xác người bị cắt họng hay mất đầu nằm ngoài ngõ. Ba mươi năm từ mã tấu đến AK, rồi tên lửa, cái loa cũng thay hình đổi dạng, từ thời thô sơ làm bằng giấy bồi đến thời hiện đại, loa sắt có đường kính 1.7 m, có công suất từ 500w đến 600w do Liên Xô và Trung Cộng viện trợ.

Trong một bài trước, chúng tôi khi viết bài cái cột đèn có nhắc tới một vật gắn liền, đè đầu cưỡi cổ cái cột đèn, làm khổ lỗ tai, nhức đầu thiên hạ là cái loa.

Nói về loa, tài liệu trong nước cho biết loa thường gắn thành cụm (chùm), mỗi cụm thường có hai đến ba loa, các cụm loa đặt cách nhau từ 400 đến 600 mét.

Mỗi xã có từ 12 đến 20 cụm loa, ở các huyện thị trên toàn quốc có trung bình từ 300 đến 400 loa. Cả nước có 698 huyện, nên tổng số loa trong cả nước là 279,000 cái.

Theo tài liệu của Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn nêu ra, thì trong cả nước Việt Nam hiện nay có 900,000 cái loa (http://press.anu.edu.au/wp-content/uploads/2013/11/Vietnam.pdf.) Hệ thống loa tiếp cận dân số hơn 58 triệu người (chiếm 67.1% dân số Việt Nam). Như vậy cứ hai người dân xã hội chủ nghĩa thì có hơn một người phải chịu cảnh đày đọa tra tấn của cái loa phóng thanh mỗi ngày.

Con số loa nêu ở trên còn ít ỏi nếu so với loa thời nay. Xã Tả Phời, thuộc thành phố Lào Cai, theo quy định của Bộ Thông Tin và Truyền Thông, toàn phố đã lắp đặt 380 cụm loa, với tổng số 900 loa công cộng, chuyển âm thanh từ 85% 2010 lên 90% năm 2014, 100% (theo Nghị Quyết Đại Hội Chi Bộ 2010-2015). Loa trong XHCN không những sắp đặt san sát, mà năng suất của loa càng ngày càng lớn đủ sức làm cho người dân chảy máu tai.

Thời gian trước năm 1975, ở bờ Bắc Bến Hải, Cộng Sản Bắc Việt đã lắp đặt những chiếc loa có công suất 500W với đường kính rộng đến 1.7m và bổ sung thêm 20 loa loại 50W, bốn loa loại 250W của Liên Xô.

Bắc Việt lấy lý do “đài địch” ở bờ Nam, Tháng Tám, 1963, quyết định xây dựng một mạng lưới loa dày đặc dọc theo tuyến bờ bắc sông Bến Hải. Bốn cụm loa 500W được mọc lên (mỗi cụm gồm 20 loa nén loại 25w), thêm ba cụm loa cực mạnh ở Hiền Lương, mỗi cụm loa 1,000w gồm 40 loa loại 25w. Tại mỗi cụm, loa được gắn vào một dàn sắt kiên cố hình chữ nhật đứng trên hai trụ bê tông cốt thép cao 11 m, hướng miệng loa sang bờ Nam. Họ khoe là mỗi lần hệ thống loa cất lên “giống như sấm rền, làm cả một vùng sông nước cứ sôi lên ùng ục!” Như vậy chưa đủ, Bắc Việt xây thêm trạm tiếp âm lớn đặt ở ngã ba Hiền Lương với hai máy khuếch âm 10,000W. Vĩnh Linh còn có một xe lưu động có máy nổ riêng, gắn loa 180W và loa đại có công suất 500W do Trung Cộng sản xuất.

Hệ thống loa là để tuyên truyền nhắm về phía Nam, nhưng ai nghe?

Truyền thông miền Bắc nói rằng “đêm đêm, nhân dân bờ Nam ngóng về phương Bắc, lặng lẽ lấy ảnh Bác Hồ được cất giấu kỹ ra xem và cầu mong lực lượng vũ trang miền Bắc tấn công tiêu diệt hết lũ xâm lược…” hay “những ngày lễ tết, đoàn văn công trung ương từ miền Bắc vào thường ghép thuyền, dựng sân khấu bên mép sông để biểu diễn cho nhân dân xem, người dân mà cả lính miền Nam cũng đổ ra bờ sông để ngóng vọng sang thưởng thức. Nội dung tin, bài rất phong phú, đa dạng… hấp dẫn đến mức cảnh sát bờ Nam đến giờ đài Vĩnh Linh phát sóng là lẳng lặng bấm nhau trốn ra nơi vắng để nghe,” và “một số cảnh sát ngụy háo hức đứng xem văn nghệ,” và “nghe tiếng loa vang lên, mặc dù bị lính ngụy ngăn cản, đồng bào bờ Nam vẫn đổ xô đứng dọc bờ sông Bến Hải hoan hô, reo hò: ‘Bà con ơi, o Nhạn, eng Tích chưa chết. Đài Vĩnh Linh còn. Quốc gia nói láo!’”

Thậm chí “lợi dụng lúc pháo sáng của ta bắn sang, bà con các xã ven sông như Trung Sơn, Xuân Mỹ, Bạch Lộc… hô nhau chạy ùa ra sông, lội bộ sang bờ Bắc” … “một số binh lính ngụy ngồi trên một xe quân sự chạy thẳng qua cầu Hiền Lương để cố vượt sang phía ta, song chiếc ô tô bị cảnh sát ngụy bắn thủng lốp và tất cả xuống xe chạy bộ, đều bị chúng bắt lại, tống vào nhà tù…”

Đúng là miệng lưỡi XHCN: “Xạo Hết Chỗ Nói!”

Những ai đã từng đi du lịch Dubai, Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, một xứ theo Hồi Giáo, dù ở đâu, trong khách sạn sang trọng hay ngoài đường phố, mỗi ngày ba lần, đều phải chịu cảnh tra tấn bằng cách phải nghe kinh Koran qua những chiếc loa mà công suất không kém loa Hà Nội.

Trong một bài viết về cái loa, Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn ở Úc đã phát biểu, “Tôi nghĩ cái loa phường ở Việt Nam cũng là một loại nghi thức tôn giáo, nhưng chỉ có khác là nó rè và cũ mèm hơn cái loa bên Saudi Arabia.”

Du khách đến Hà Nội cũng phải chịu cảnh tra tấn tương tự bằng những chiếc loa chõ mồm vào cửa sổ khách sạn, oang oang vào lúc 5 giờ sáng, và những du khách đã đi nhiều nơi, ngạc nhiên vì họ đã gặp loại tuyên truyền này “ở Moscow năm 1956 thì nay nó xuất hiện (hay tồn tại) ở một quốc gia Đông Nam Á vào năm 2014.”

Người ta không hiểu vì sao trong một thời đại văn minh như hiện nay, Việt Nam còn cần đến cái loa sắt kiểu này? Một cái loa không đem lại kiến thức gì cho con người mà chỉ nhồi nhét vào tai của người dân, theo ký giả Michael Totten, một ký giả người Mỹ thường viết về Việt Nam, “những loại ‘rác rưởi’ (bullshit) bất kể người dân có thích hay không!”

Nếu nay mai, chế độ Cộng Sản tàn mạt trên đất nước Việt Nam, thì thể chế mới, xin làm ơn dẹp hết 900,000 cái loa, đem bán ve chai, vì quả cái loa, nó là một điều gì ám ảnh, một ám ảnh khôn nguôi về cái bóng ma Cộng Sản, từ thời Việt Minh cho đến hôm nay.

TRỞ VỀ CỐ HƯƠNG

TRỞ VỀ CỐ HƯƠNG

Phương-Vũ Võ Tam-Anh

Được tin chị tôi đau nặng, tôi vội vã bay về Việt Nam mà lòng áy náy tưởng chừng như đang đi vào lòng địch. Trước ngày lên máy bay, ông sui tôi đến cho hay là có người trong toà đại sứ VC báo rằng họ đã đọc hết những bài viết của tôi, kể cả cuốn sách mới in xong chỉ phổ biến trong vòng thân mật. Người này còn thêm rằng những hình chụp các cuộc biểu tình ở Paris không thấy có mặt tôi (chỉ vì đơn giản là tôi không ở Paris) nên kết luận rằng tôi không có hành động chống đối cụ thể do đó được cấp visa về Việt Nam trong ba tháng. Trở ngại ban đầu được trót lọt. Ngồi trên máy bay mà tôi cứ hình dung đến một Hà Nội diễm kiều trước năm 54, khi tôi vào học y khoa Hà Nội. Phố Hàng Ngang, Hàng Đào ngày xưa với những cô gái kiêu sa lịch thiệp đang lờ mờ hiện ra trong trí nhớ. Con đường Cổ Ngư mộng mơ với những hàng cây sà mình xuống mặt hồ Trúc Bạch như để in dấu gót chân thướt tha của trai thanh gái lịch Hà thành vào những buổi chiều cuối tuần ấm áp…

Qua cái ải kiểm soát Nội Bài dù sao tôi cũng không khỏi hồi hộp khi nhìn những cặp mắt lầm lừ của đám công an súng sính trong bộ áo màu cứt ngựa, nhất là sau khi lật qua lật lại tấm hộ chiếu rồi trao lại cho tôi như còn tiếc rẻ một cái gì. Có lẽ tôi cũng chỉ tưởng tượng và tự nổ một mình thôi, chứ hạng cắc ké như tôi thì phiền hà chi cho đáng, vì hình như lúc này nhà nước đang còn bận lo đấu đá nhau coi bộ hấp dẫn hơn. Tuy vậy tôi vẫn cứ lo nơm nớp vì biết đâu mấy ông cao hứng đuổi tôi trở lại Pháp như nhiều vị đi trước hù dọa thì hóa ra mất toi tiền máy bay mà vừa không được gặp bà chị gần chín chục tuổi như mục đích và . nguyện tha thiết của tôi. Không lẽ nhà nước lại để đánh rơi mấy ngàn đô la “kiều hối” mà tôi mang về để lo cho bà chị?

Khi ra khỏi sân bay Nội Bài thì tôi mới hoàn hồn. Như vừa qua được một trở ngại (dù chỉ trong tưởng tượng), tôi vui vẻ khen với thằng em ra đón tôi:

– Sân bay này khá đấy, có tầm vóc quốc tế, ai xây vậy?

Thằng em nhanh nhẩu:

– Ta đấy.

Tôi như bị dị ứng với chữ “ta”, nhưng cũng khen:

– Bốn mươi năm hoà bình có khác, nhưng ai thiết kế?

Thấy tôi có vẻ hoài nghi, thằng em xuống giọng:

– Đúng ra thiết kế và công trình là do kỷ sư Nhật, ta chỉ phụ thôi.

Tôi buộc miệng:

– Ta làm thợ vịn mà được như vậy là giỏi lắm rồi…

Để cho không khí nhẹ hơn, tôi bèn đổi sang chuyện hỏi thăm gia đình. Thằng em cho biết chị tôi  vừa mới “nhập viện”.

Tôi nghĩ bụng: quái, ở cái xứ Việt Nam này có biết bao là Viện, nào là Viện Dưỡng Lão, Viện Bào Chế, Viện Uốn Tóc, Viện Thẩm Mỹ, Viện Ung Bướu, Viện Mồ Côi, Viện Kiểm Sát Nhân Dân và gần đây lại có thêm Viện Khổng Tử v.v… thì không biết chị tôi đã nhập viện nào? Hoá ra chỉ có đơn giản là chị tôi mới vào nằm nhà thương. Sau đó tôi biết thêm nhiều chi tiết: lúc đầu chị tôi được đưa vào “trạm trung chuyển” (tức trạm chuyển tiếp) ở bệnh viện Hoàn Mỹ, nhưng ở đây không đúng “tuyến” nên phải “điều” qua bệnh viện Đa Khoa Đà Nẵng, hiện đang nằm ở “khu yêu cầu” của “khoa Nội Tổng Hợp”.

Sau cái chuổi văn chương tân tiến đó thì tôi có được một khái niệm lờ mờ về con đường bệnh hoạn của chị tôi, nhưng tôi lại thấy rất rõ ràng về triệu chứng hiện tại của tôi, xây xẩm mặt mày, choáng váng, nhức đầu… Tôi nhờ thằng em đưa đến một nhà thuốc tây, nhưng nửa đường tôi lại đổi ý vì nghĩ rằng bệnh của tôi chắc không chửa bằng thuốc được, nên vào một hiệu sách lớn nhất Thủ Đô ở phố Trường Tiền để kiếm một cuốn tự điển may ra giải cứu được chứng nhức đầu của tôi.

Tôi hí hửng tìm được cuốn Tự Điển của cụ Đào Duy Anh và may mắn không phải sốt ruột xếp hàng chờ đợi để trả tiền như mỗi lần mua sách ở mấy tiệm sách Fnac hay Vỉrgin. Ở đây thì vắng như chùa Bà Đanh. Ở chốn ngàn năm văn vật này, người dân thích chen chúc ở mấy tiệm phở tiệm cà phê hơn là ở mấy tiệm sách (những biển ngữ “Hà Nội Ngàn Năm Văn Vật” được treo đầy khắp phố phường trong dịp Tết sắp đến). Nhưng tôi lại thất vọng thêm một lần nữa vì sách của cụ Đào Duy Anh đã viết trước năm 1975 nên không có những danh từ huyền bí mà tôi cần phải tra cứu trong mấy ngày ở Việt Nam.

Trên đường tới sứ quán Pháp để thông báo sự có mặt của tôi tại Việt Nam theo đề nghị của bộ Ngoại Giao, tôi có dịp đi ngang qua Hàng Ngang Hàng Đào, những âm thanh rất gần gủi với Hà Nội, như dội lại trong tôi lòng rạo rực của sáu mươi năm về trước. Tôi cố tìm lại cái hình ảnh bẽn lẽn của mấy cô gái Trưng Vương năm xưa dưới những mái tóc hình dấu phết dịu  dàng, thì nay chỉ thấy lại những khuôn mặt cứng đơ, dấu kín trong chiếc khẩu trang bí ẩn, mái tóc mượt mà thì như đang vùng vẫy trong chiếc nón bảo hộ nặng nề láng bóng, đang chen nhau lòn lách trên những chiếc Honda như mắc cưỡi. Không hiểu vì mãi mê cái hoạt cảnh đó hay vì nhát gan mà tôi không dám qua đường.

Ảnh của Llewelling King

Đi qua đường là một khổ nạn. Không như con dâu tôi (người Pháp) phải mướn một chiếc taxi để qua đường, còn tôi thì theo triết lý của thằng em là muốn qua đường thì phải nhắm mắt lại mà bước tới, còn hể mở mắt thì cả ngày cũng không qua được, ở đây xe tránh mình chứ không phải mình tránh xe. Tôi đem triết l. đó ra áp dụng, tuy hơi rợn người nhưng lại hiệu nghiệm. Đến Đà Nẵng, tôi vọt ngay vào bệnh viện. Trước kia tôi cũng có làm việc ở bệnh viện, nhưng cái “khu yêu cầu” làm tôi điên đầu tôi không biết là khu gì vì chưa hề nghe tới. Vì nôn nóng, tôi cũng đếch cần tìm hiểu . nghĩa của cái khu đó là gì mà chỉ nhờ người dẫn tới khu đó và vui mừng ôm chầm lấy chị tôi giữa đám con cháu bao quanh. Đến đây tôi mới vỡ lẽ là “khu yêu cầu” chỉ có nghĩa đơn giản là “phòng riêng”, tôi như đang ở một nước lạ mà mình không biết tiếng.

Ở Việt Nam nằm bệnh viện có nghĩa gần như mướn một phòng khách sạn mà có được bác sĩ khám, còn mọi dịch vụ khác như cơm nước, vệ sinh, thuốc men… là mình phải lo lấy, vì vậy lúc nào cũng phải có người nhà bên cạnh, không những để lo săn sóc người bệnh mà còn để trả tiền trước cho mỗi dịch vụ y khoa như xét nghiệm, X quang, siêu âm v.v…, mà phần lớn không ăn nhập gì với bệnh tình lúc đó. Chị tôi, một bà già gần chín chục tuổi đang hôn mê và bị chảy máu đường ruột ào ào thì được bs phán cho đi “siêu âm tim” và “nội soi”. Bác sĩ chuyên khoa nội soi chờ phải cầm chắc biên nhận đã thanh toán ba triệu VND rồi mới bắt tay vào việc.

Bệnh viện đã chấp hành nghiêm chỉnh câu phương châm “tiền bạc đi trước, thầy thuốc đi sau”, mặc dầu ở đầu trại có tấm bảng lớn sơn bốn chữ đỏ “Bệnh Viện Văn Hoá”!

Vào lúc nửa khuya, vì máu đường ruột ra nhiều quá nên phải đưa chị vào khu cấp cứu cách ly với bên ngoài. Tôi cũng theo đám người nhà để chen lấn nằm la liệt trước cửa phòng để nghe ngóng tin tức và nhất là để chờ gọi đến tên mà thanh toán khoảng tiền cho mỗi dịch vụ y khoa như truyền máu, thở oxy, xét nghiệm v.v. .. mà trong kia chị tôi đang chờ được thi hành nếu trả tiền xong. Được hai hôm thì bác sĩ trưởng khu cấp cứu khuyên người nhà đưa chị tôi về để lo hậu sự vì nhà thương đã “chạy”, tình trạng hoàn toàn tuyệt vọng, hôn mê, sốt cao, có triệu chứng viêm màn ruột và máu vẫn tiếp tục chảy trong đường ruột…

Vào lúc nửa khuya, chúng tôi đưa chị về nhà mà ruột gan tơi bời. Trong sự tuyệt vọng tột cùng, nhưng còn nước còn tát nên chúng tôi vẫn tiếp tục điều trị như ở bệnh viện (chị có một rể bác sĩ và một dâu y tá), chỉ khác một điều là dùng được những thuốc tôi đã mang từ Pháp về mà khi còn ở bệnh viện, chúng tôi có đề nghị nhưng bị từ chối. Ở VN bác sĩ của bệnh viện chỉ được phép điều trị với những thứ thuốc trong một danh sách nhất định có bán ở bệnh viện mà thôi. Điều đáng nghi ngờ là bệnh viện có dùng nhiều kháng sinh mà triệu chứng nhiểm trùng càng ngày càng nặng, phải chờ đến sau khi dùng kháng sinh tôi đem về từ Pháp mới thấy hiệu nghiệm.

Rồi từ đó, bệnh tình chị tôi thuyên giảm rõ rệt như một phép lạ. Nếu có phép lạ chăng là ở sự khác biệt giữa “thuốc nội” và “thuốc ngoại”, thứ mà người dân ráng tìm cho được không phải vì óc vọng ngoại mà chỉ để cứu mạng sống của người thân. Một tháng sau, tôi từ giả chị tôi với một nụ cười phấn khởi.

Nhớ lại khi mua giấy máy bay để về Việt Nam tôi vô cùng bối rối vì tôi phải làm trái với . định và sợ rằng khi trở lại Pháp sẽ vô cùng đau buồn vì e rằng chị tôi khó qua khỏi s ố mệnh. Thế nhưng không ngờ tôi lại được đi lang thang để có những nhận xét ngộ nghĩnh về cách sống của bà con nơi quê nhà.

Bức hình tôi chụp được bên ngoài hàng rào bệnh viện Đà Nẵng, nơi chị tôi (và cả ông vua Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh) nằm điều trị cho thấy còn có người vô tình mang bệnh tiểu đường hay lại cố coi thường hay thách thức cái “hoành tráng” của toà nhà hành chánh chọc trời đồ sộ ngay phía trước? Cơn bệnh này còn lây nhiễm đến cả thủ đô Hà Nội, nơi có con đường Trần Nhật Duật, hay còn gọi là đường Gốm Sứ, dài 4km dọc theo sông Hồng, gồm những bức tranh khảm ghép công phu tốn kém, coi như một kỳ quan nghệ thuật, một kiêu hảnh của chốn ngàn năm văn vật thì cũng được người dân thủ đô chiếu cố một cách “vô tư”.

Một sung sướng khác của dân mình là rất nhàn rỗi. Với 3 triệu công chức phục vụ cho 90 triệu dân thì lấy đâu ra việc mà làm, vì vậy ngày Tết được nghỉ những chín ngày tha hồ mà du hí.

 

Một anh taxi lái ngược đường vui vẻ khoe với tôi là sẽ không bị phạt vì giờ này mấy chú công an giao thông bận đi đón con ở trường thì lấy ai mà phạt. Anh taxi thoải mái ra mặt nhưng tôi thì lại lên ruột.

Vào giờ làm việc mà mấy tiệm cà phê vẫn đông nghẹt, toàn người trẻ, họ thích la cà ở đây hơn là ngồi trong thư viện. Một bà mẹ than phiền là đã cẩn thận đưa rước con đúng giờ giấc ở trường nhưng cuối cùng cũng phát giác ra là cậu quí tử vẫn trốn học… rất đúng giờ.

Nhà chị tôi có một đứa cháu 13 tuổi mà tôi chưa bao giờ gặp mặt trong bửa cơm tối vì vào giờ đó nó phải đi học, nó học 7 tiếng mỗi ngày, 4 tiếng với cô giáo ở trường, 3 tiếng học thêm với chính cô giáo đó. Như một thông lệ, trong giờ chính thức cô giáo chỉ dạy…chiếu lệ, còn giảng dạy đúng chương trình thì phải đợi vào giờ học thêm để cô kiếm chút tiền còm, nếu không cô sẽ…đói.

Nguyên tắc đó được một nhóm bạn trẻ mặc những chiếc áo có in mấy chữ “du học sinh.net” mà tôi gặp trong một chyến du lịch ở Campuchia xác nhận như vậy. Họ còn cho tôi biết thêm là phần lớn du học sinh đều nhắm mục đích chính là để… ở lại nước ngoài.

Trong số những tự do mà dân mình được hưởng phải kể đến tự do giao thông mà gần đây ký giả Mỹ Llewelling King gọi đó là một kỳ quan giao thông. Tất cả những quy luật trên thế giới đều vô hiệu với Việt Nam đưa đến cho người lái xe cái cảm giác… tứ khoái.

Khoái thứ nhất là được “U turn” bất cứ lúc nào ở đâu, ngay cả nơi có bảng cấm hay trên đường một chiều.

Khoái thứ hai là coi đèn xanh đèn đỏ như… “ne pas”.

Khoái thứ ba là đi ngược chiều, ngay cả trên xa lộ. Tôi bắt gặp được hai lần có xe chạy ngược chiều trên đoạn đường “cao tốc” từ Nội Bài về Hà Nội, được trang trí như là một tủ kính bày hàng nhằm loè du khách đến thăm Hà Nội.

Khoái thứ tư là được “vô tư” chen lấn, không có ưu tiên phải trái, mạnh ai nấy đi và được bóp còi thoải mái…Ngay cả con tàu “Thống Nhất” xuyên Việt cũng chen chúc qua các phố phường chật hẹp như chốn không người, giữa những chùm giây điện dọc ngang chằng chịt.

Trên đường đi Angkor Wat phải ghé qua Saigon, khi tôi bước xuống hôtel, mọi người la ó nhìn tôi như nhìn người từ hành tinh khác, không phải vì tôi ăn mặc kỳ dị mà chỉ vì tôi mang theo trên người cái máy chụp hình và cái điện thoại di động. Ở tuổi tôi đi trên đường phố Saigon mà mang những thứ đó là một cách tự sát. Khi trở lại Saigon tôi muốn về ngay Đà Nẵng thì các bạn trẻ cùng đi tours khuyên tôi không nên đứng đón taxi một mình với hành l. trên tay vì đó cũng là một hình thức tự sát khác (vì tôi còn yêu đời nên không muốn tự sát trong mấy ngày liên tiếp) nên phải nhờ anh hướng dẫn theo tôi lên taxi ra tận phi trường Tân Sơn Nhất. Trên taxi tôi thường nghe chửi bới chế độ, không biết là thật tình hay cò mồi nên tôi không dại gì mà hùa theo. Dân mình hay có óc châm biếm, như để mô tả cái xã hội được rêu rao là dân làm chủ thì người dân lại h. lộng về 3 thứ chợ ở Hà Nội đẳng cấp khác nhau bằng mấy câu:

Tôn Đản là của vua quan,

Nhà Thờ là của bầy tôi nịnh thần,

Vỉa hè là của nhân dân anh hùng…

Tuy thỉch châm biếm nhưng con người sống dưới chế độ cộng sản lại mất đi cái tính khôi hài dí dỏm của người Việt, nếu có khôi hài thì lại rẻ tiền, kiểu Hoài Linh, mà có khi còn thô tục nữa. Ở Hà Nội, ngay bên cạnh Trung Tâm Văn Hoá Ca Múa Âu Cơ trên đường Huỳnh Thúc Khang (lớn thứ hai sau Nhà Hát Lớn) thì lại có nhà hàng ăn với bảng hiệu đồ sộ “Chim To Dần” để cho các bà đi ngang phải đỏ mặt.

Về Việt Nam mà không ăn phở là một thiếu sót, tuy nhiên tôi cũng chưa tìm được cái hương vị tuyệt vời như ở Berlin hay ở Sydney. Sau mấy ngày lục lạo, tôi may mắn được bước vào một tiệm phở lịch sử đã đứng vững từ nửa thế kỷ nay và còn in dấu vết trong lòng người Hà Nội để nhớ lại thời kỳ bao cấp kinh hoàng. Trong thời đó, tiệm phở gà số 2 đường Nam Ngư này đã làm một cuộc cách mạng và đã thách thức với chính quyền cách mạng vì đã phá rào để bán phở “có người lái” nghĩa là có thịt trong tô phở, trong khi cả nước đều phải ăn phở không người lái nghĩa là không có thịt. Ngay cả khách sạn Phú Gia lớn nhất Hà Nội cũng chỉ được bán phở không thịt, ba chữ “không người lái” trở thành những chữ cấm kỵ châm biếm chế độ. Một cựu biên tập viên báo Nhân Dân than thở với tôi rằng anh ta đã bị công an bắt đứng nghiêm để đọc 100 lần chữ “phở không có thịt” vì anh ta đã vào tiệm mà ngang nhiên gọi một “tô phở không người lái”.

Sở dĩ bà chủ tiệm phở Nam Ngư làm ăn được là vì đã lợi dụng sự sơ hở của chế độ. Lúc đó nhà nước quản l. ba loại súc vật: trâu (để đi cày), bò (nói là bị Mỹ dội bom chết), heo (thì để làm nghĩa vụ đóng thuế), chỉ có gà là thoát khỏi tầm tay nhà nước, nên bỏ một miếng thịt gà vào tô phở không thể coi là hành động chống đối.

Tuy làm ăn khắm khá nhưng bà chủ Nam Ngư vẫn giữ nguyên trạng tiệm phở từ hồi mới mở tới nay, với những cái bàn con và những chiếc ghế nhựa thấp lè tè, kể cả cái thau nước rửa bát bên lề đường, như để nhắc nhở người dân Hà nội rằng dấu vết của thời bao cấp đang còn đó. Trong khi bao cấp kinh tế chỉ liên quan tới thể xác, thì ngày nay bao cấp chính trị nguy hiểm hơn, lại bao gồm luôn cả tinh thần. Khốn nạn thay cho người dân Việt, không biết còn phải chịu đựng cho tới bao giờ.

Paris, Tết Ất Mùi 2015

Phương-Vũ Võ Tam-Anh

Vụ xe ủi cán người biểu tình: Giới trẻ phản ứng

Vụ xe ủi cán người biểu tình: Giới trẻ phản ứng


Nạn nhân nằm dưới bánh của máy xúc trong đoạn video clip gây xôn xao dư luận.

Nạn nhân nằm dưới bánh của máy xúc trong đoạn video clip gây xôn xao dư luận

Trà Mi-VOA

Chính quyền tỉnh Hải Dương phủ nhận chuyện một nông dân biểu tình bị xe ủi cán qua người khi tham gia phản đối vụ cưỡng chế đất cho dự án khu công nghiệp Lương Điền-Cẩm Điền ở huyện Cẩm Giàng hôm 10/7 do giá đền bù không thỏa đáng.

Video do nhân chứng tại hiện trường quay phổ biến rộng rãi trên các trang mạng xã hội cho thấy khi nửa phần thân thể của bà Lê Thị Châm, 54 tuổi, đã nằm lọt dưới bánh xích của máy xúc, tài xế vẫn chưa cho xe lùi lại trước sự la ó, cầu cứu của đoàn người biểu tình.

Trước những phẫn nộ và tranh cãi trong công luận, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương hôm 11/7 gửi báo cáo chính thức lên trung ương khẳng định ‘không có xảy ra việc xe ủi đất đè lên người’, mà do bà Châm ‘bị ngã có chạm vào xe ủi.’

Kết luận này có thuyết phục hay không và phản hồi của những người trẻ quan tâm đến bi kịch mới nhất trong chính sách đất đai tại Việt Nam như thế nào? Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay mời quý vị cùng gặp gỡ với ba thanh niên từ Hưng Yên, Hà Nội, và Sài Gòn: anh Sang, người ở gần địa phương có đến tận nơi tìm hiểu vụ việc, chị Thảo vừa vào viện thăm nạn nhân Lê Thị Châm, và anh Duy theo dõi sự việc đa chiều qua báo chí chính thống và các trang mạng truyền thông xã hội.

Bấm vào nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn

Trà Mi: Các bạn ở đây đã xem qua đoạn video đó chưa? Các bạn thấy thế nào?

Sang: Mình có coi video đó và hôm nay mình có đi ngang qua khu đó. Trước hết, mình thấy đó là video thật vì đưa lên cùng lúc đấy luôn chứ không phải đợi một thời gian sau mà nói là có thời gian để cắt ghép được. Chiều nay, mình có tới đó, cách chỗ mình mấy chục cây số.

Trà Mi: Hai tháng ròng trước ngày 10/7 khi vụ việc xảy ra, bà con địa phương hằng ngày ra đó giữ đất. Sau vụ này, hiện giờ khu vực đó ra sao? Bà con có còn ra đó và công việc thi công họ có vẫn xúc tiến?

Sang: Tôi qua đó không thấy người nào, chỉ còn máy xúc, cờ quạt, và các băng-rôn. Công trình chưa thấy thi công, có một băng-rôn ghi là ‘Đất chưa đền bù, xin đừng thi công.’ Còn lại thấy cờ cắm ở đó nhiều lắm.

Trà Mi: Anh có hỏi chuyện ai ở đó không?

Sang: Không mình chỉ đi qua thôi.

Trà Mi: Chị Thảo theo dõi vụ này, chị thấy đoạn video đó thế nào?

Thảo: Video đó đương nhiên là thật rồi. Rất phẫn nộ trước việc họ làm. Ngay hôm nay tôi cùng một số anh em có vào viện thăm bà Châm. Sức khỏe bà cũng ổn đi rồi. Ngay hôm đầu tiên, khi sự việc đang nóng, chính quyền họ cho côn đồ giả dạng lãng vãng trong đó. Hôm nay chúng tôi vào không còn bị ngăn cản nữa. Hôm đầu không thể tiếp cận bà Châm được. Hôm nay mới bắt đầu vào thăm được. Bà ấy rất yếu, con mắt phải có khả năng không nhìn thấy được. Bây giờ không còn nhìn thấy tròng đen nữa. Rất đáng thương. Họ sẽ tìm cách dập vụ này cho chìm xuồng.

Trà Mi: So với hình ảnh chụp cảnh bà bị xe ủi cán với thương tích chị nhìn thấy tận mắt, chị thấy thế nào?

Thảo: Bà hôm nay đã qua cơn nguy kịch rồi. Máy xúc rõ ràng đè qua người bà nhưng rõ ràng vào chỗ đất xốp nên đất cát cản bớt, giảm tối đa thương tật. Chứ nếu vào chỗ đất bằng thì người đã bẹp dí. Chính quyền họ trắng trợn chối, bảo là clip giả. Ngay cả người lái xe ủi đó nó bỏ chạy, bà con túm được có ảnh đàng hoàng. Họ không thể nói không có chuyện đó được. Lúc bà con xô đẩy nhau, có thể bà bị ngã xuống. Khi bà con kêu la, nó vẫn cố tình chèn. Đến khi người ta nói có người chết nó mới lùi lại. Khi nó nhảy xuống xe, bà con túm được. Chính chúng tôi vào viện thăm bà để tìm hiểu, chứ không phải nghe ai nói cả. Mặt mũi bà giờ sưng tấy hết, mắt bị nặng, giờ còn đang nẹp phần bụng với phần sườn. Bà khóc tủi thân, vì giờ trên báo đài nhà nước bảo là video cắt ghép.

Duy: Tôi đã xem qua video lan truyền trên mạng. Không chỉ tôi mà ai xem qua cũng bị sốc. Đó là một clip quay thô sơ, hình ảnh không rõ nét nhưng đủ để thấy cảnh một phụ nữ bị xe ủi cán qua người. Sau khi xem video, tôi lên các trang báo tìm hiểu xem chính quyền địa phương nói thế nào. Ngay cả ông Trung tá Nguyễn Văn Hiển, phó trưởng công an huyện Cẩm Giàng phát biểu rất bất nhất. Ngay lúc đầu ông khẳng định xe không cán qua dân dù chưa mở điều tra.

Trà Mi: Tranh cãi nảy sinh không chỉ ở chuyện xe thi hành công vụ có cán dân hay không mà cả ở vấn đề thông tin giữa lề phải vs lề trái, và vấn đề giải tỏa đất đai. Trước khi nói về vấn đề nóng: cưỡng chế, thu hồi đất, hãy bàn về vấn đề thông tin. Các bạn phản hồi thế nào trước những thông tin từ các trang mạng xã hội, lề dân, và thông tin từ báo chí nhà nước, lề đảng, qua vụ việc ở Hải Dương?

Sang: Báo chí lề đảng mình ít đọc lắm vì thông tin không chính xác, chỉ theo định hướng thôi.

Thảo: Mấy trăm tờ báo chỉ từ một Ban Tuyên giáo mà ra, thông tin chắc chắn là không trung thực, toàn có lợi cho tuyên truyền nhà nước thôi, bao giờ họ chả lấp liếm, bao che sự thật. Đất đai là vấn đề vô cùng bức xúc với dân.

Duy: Trong bối cảnh toàn bộ báo chí Việt Nam đều do chính quyền kiểm soát. Họ không đưa những gì bất lợi cho chính quyền cho nên sự công tâm của họ khi đưa tin là không có.

Trà Mi: Từ sự việc ở Hải Dương, vấn đề nóng của xã hội Việt Nam lại khơi dậy bức xúc công luận: chính sách trưng thu đất đai đã dẫn tới những vụ việc đáng tiếc, nếu không muốn nói là đau lòng. Người trẻ có quan tâm và quan sát thời sự xã hội, các bạn ghi nhận và phản hồi thế nào về vấn đề này?

Sang: Quan trọng nhất là vấn đề luật pháp về đất đai, về quyền tư hữu. Người dân không có quyền sở hữu mảnh đất của mình. Bất cập từ đó mà ra, đất đai mà chỉ được quyền sử dụng mà không được quyền sở hữu thì nhà nước muốn lấy lúc nào thì lấy. Doanh nghiệp muốn mảnh đất nào chỉ tác động lên chính quyền thì sẽ thu hồi được với giá chẳng nghĩa lý gì. Người dân có đồng ý bồi thường thì vẫn bị thiệt thòi như thường.

Trà Mi: Việt Nam từ nước nông nghiệp tiến lên công nghiệp tất phải cần xây dựng, quy hoạch để phát triển. Vướng phải những sự phản đối thế này làm thế nào để có thể tiến hành công tác đó?

Sang: Bây giờ doanh nghiệp muốn đất thì bàn trực tiếp với dân, tôi có dự án, anh có đất thì phần trăm cổ phần ra, đồng ý thì làm. Người dân thấy chỗ nào có lợi họ sẽ hợp tác, thị trường mà.

Thảo: Nhà nước bảo đất đai của toàn dân nhưng nhà nước quản lý. Cái đó rất vô lý. Đất tôi mua, đổ mồ hôi lao động, đóng thuế đàng hoàng mà tới hồi họ cần họ muốn lấy là lấy. Không được thì họ cưỡng chế, dùng sức mạnh đàn áp thôi. Đất của người ta chứ có ai cấp cho đâu mà muốn lấy là lấy. Nhà nước đứng giữa ăn chặn, trưng thu đất của dân giá rẻ bán lại cho doanh nghiệp giá cao đút túi. Còn dân mất cửa mất nhà không biết kêu ai. Càng ngày càng nhiều dân oan khắp các tỉnh vùng miền đổ dồn lên Hà Nội khiếu kiện đất đai. Đó là vấn đề khó khăn nhất của cái nhà nước này. Trên bất chính hạ tắc loạn. Dân họ phải phản kháng thôi.

Duy: Theo thống kê của chính phủ, đa số các vụ khiếu kiện liên quan đến đất đai. Nguồn gốc là do quyền sở hữu đất đai không rõ ràng. Đất thuộc sở hữu toàn dân. Toàn dân là tất cả mà cũng không là ai hết, cho nên sự nhập nhằng trong đất đai dẫn tới tình trạng khiếu kiện ngày càng nhiều. Quyết định giá đền bù theo cơ chế thị trường và công khai minh bạch tiến trình và giá cả trưng thu đất dựa trên quyết định của người dân thì mới tránh được những khiếu kiện.

Trà Mi: Để nguyện vọng đó sớm đạt thành, người trẻ có thể góp phần thế nào không?