Vấn đề an toàn điện ở VN

Vấn đề an toàn điện ở VN

Nhóm phóng viên tường trình từ VN

Vấn đề an toàn điện ở VNPhần âm thanh Tải xuống âm thanh

800.jpg

Dây điện chằng chịt ở Saigon

RFA photo

Có thể nói rằng điện là thứ năng lượng vô cùng quan trọng đối với con người trong hiện tại. Mọi hoạt động, sinh hoạt của con người đều cần sự hỗ trợ của điện và điện đóng vai trò khởi động cổ máy xã hội mỗi ngày. Nhưng, với Việt Nam, đặc biệt là với người dân Sài Gòn, từ dây điện cho đến cách tính tiền điện và bắc đồng hồ điện, cầu dao tổng ngoài trụ chẳng khác nào cái bẫy lửa đối với mọi nhà. Người dân Sài Gòn luôn sống trong nỗi lo thấp thỏm về cháy nổ do điện gây ra.

Coi đồng tiền lớn hơn mạng người

Một cư dân tên Lạc ở quận Tân Bình, Sài Gòn, bày tỏ bức xúc: “Sợ nhất là mấy trụ điện cao thế, mấy hộp điện đó. Ở trên trời khi mưa gió thì có thể có những tai nạn từ trên trời rơi xuống, có thể là dây nó rơi trúng người mình chẳng hạn. Ở dưới đất thì có những đường cống, nhiều khi họ làm rồi họ mở nắp cống, trời mưa, nhiều người bước chân ra rồi rơi xuống cống luôn, bao nhiêu trường hợp vậy rồi. Ở Việt Nam thì ngay cả thợ điện cũng không biết an toàn điện luôn, nhiều khi họ trèo lên, không có mũ bảo hộ, không có bảo hộ, cứ vậy trèo à. Ở những thành phố lớn đông dân như Sài Gòn thì nó tùm lum à. Đó là lỗi hệ thống rồi, giờ muốn chỉnh thì phải chỉnh lại từ gốc luôn, chứ cắt đầu này ráp đầu kia thì cũng y chang vậy à.”

Theo ông Lạc, vấn đề dây điện đan chằng chịt khắp thành phố có thể nói đã trở nên phổ dụng và không có gì đáng ngạc nhiên. Mà cũng không riêng gì Sài Gòn mới có, hầu như mọi thành phố, mọi ngõ quê đều có thể bắt gặp hình ảnh dây điện chằng chịt, điều này giống như một biểu tượng của ngành điện lực Việt Nam, nơi nào có dây chằng chịt, nhằng nhịt, nơi đó có điện lực Việt Nam.

Nhưng thành phố Sài Gòn vẫn cho cảm giác đặc biệt hơn, một thứ cảm giác vừa bất an vừa rất thú vị mà chỉ có những ai thần kinh đủ mạnh hoặc vượt quá ngưỡng bình thường như say rượu, tâm thần và cảm giác bị chai lì mới có thể bắt gặp được trạng thái này. Ông lạc nói rằng đôi lần ông say rượu và nhìn thấy Sài Gòn là một thành phố lãng mạn chim lồng cá chậu, mỗi người dân trở thành một con chim nhỏ bay tung tăng dưới chiếc lồng bằng dây điện và mỗi sợi dây điện trở thành một sợi dây lưới che chở cuộc đời người dân Sài Gòn.

“ Thì nó chằng chịt sẵn rồi, chuyện lớn khủng khiếp mà không lo, lo cái mớ dây điện chằng chịt làm chi. Một cái mớ dây điện còn chẳng chịt trong trí tuệ con người mà không giải quyết được.
– Ông Minh, Sài Gòn “

Đó là cảm giác khi say rượu, lúc tỉnh táo, ông Lạc nói rằng mỗi sáng bước ra đường, nếu chỉ nhìn từng đoàn xe máy, xe hơi ngược xuôi không thôi thì còn đỡ. Nếu ngồi lại chỗ nào đó, nhìn ngang thì xe cộ vù vù, nhìn lên thì dây điện như mạng nhện, cảm giác ngột ngạt và xa lạ kéo đến, nếu thần kinh không đủ mạnh sẽ dẫn đến stress. Và Sài Gòn, nếu tính ra cho một đời người, những thứ lặp đi lặp lại trong một ngày kiếm cơm sẽ là kẹt xe, nhìn thấy dây điện đan lưới và ngập nước vào mùa mưa.

Đáng sợ nhất là thành phố này có lưu lượng xe cộ, người đi lại quá đông đúc, trong khi đó, nạn kẹt xe và ngập nước là thường xuyên mà dây điện lại quá chằng chịt, thật là đáng sợ. Chỉ cần một cú chập điện, hở điện đâu đó vào mùa mưa thì khó mà lường được hậu quả của nó. Vào mùa nắng thì nếu có sự cố về điện, sẽ dẫn đến cháy nổ.

Trong khi đó, những hộp đồng hồ điện và cầu dao tổng lại gắn ngoài trụ điện, gắn khá cao, gọi là để chống trộm hoặc tránh tình trạng khách hàng gian lận tiền điện. Nhưng trong tình trạng có chập mạch, hở dây, người dân muốn ngắt cầu dao điện thì vô cùng khó, phải gọi đến những thợ điện khu vực, có khi vài giờ đồng hồ sau họ mới có mặt. Không có nhân viên nhà đèn thường trực cũng như không có đường dây nóng cho việc này. Mà nếu có số điện thoại nóng thì khi xảy ra sự cố, gọi điện thứ bảy, thứ hai số điện thoại nóng mới trả lời và có khi chủ nhật tuần sau mới có người đến xử lý. Đợi người đến xử lý thì mọi thứ đã thành tro.

Ông Lạc bức xúc kết luận rằng nhà nước quá coi thường mạng dân, vì ngành điện lực do nhà nước quản lý, nếu nhà nước không coi thường mạng dân thì phải thiết kế làm sao để người dân dễ bề xử lý nhất khi có sự cố. Đằng này chỉ vì sợi người dân ăn gian tiền điện, chỉnh gian đồng hồ hay mà tập trung toàn bộ đồng hồ và cầu dao tổng ngoài trụ, mỗi khi có sự cố, người dân rơi vào thế bị động. Những vụ hỏa hạn do điện gây ra ở Sài Gòn trong nhiều năm trở lại đây là một bằng chứng đau đớn cho việc coi đồng lãi hằng tháng cao hơn sinh mạng người dân.

Và việc này là do nhà nước. Nếu nhà nước không coi thường mạng dân thì ngành điện sẽ không bao giờ lộm thuộm, tệ hại như hiện nay.

Mối nguy đầu mùa mưa

Một người dân Sài Gòn khác tên Minh, tỏ ra lo lắng:“Thì nó chằng chịt sẵn rồi, chuyện lớn khủng khiếp mà không lo, lo cái mớ dây điện chằng chịt làm chi. Một cái mớ dây điện còn chẳng chịt trong trí tuệ con người mà không giải quyết được.”

400.jpg

Cầu dao tổng gắn trên cột điện. RFA photo

Theo ông Minh, tình trạng dây điện chằng chịt ở Sài Gòn là tình trạng không thể cứu vãng được nữa. Vì cách tổ chức và bố trí điện hết sức manh mún, trong đó tham nhũng, móc ruột quá nhiều nên chất lượng dây điện thấp, tải lực cũng thấp, chính vì vậy mỗi khi có một hộ kinh doanh mới thì nhà đèn buộc phải kéo một đường dây mới đi kèm với đường dây cũ. Cứ như vậy, dây mới và dây cũ đi với nhau, kết thành chùm dưới những tán cây, nếu có sự cố điện va chập thì những cành cây sẽ trở thành mồi lửa, những búi dây nhanh chóng thành bó đuốc thần tốc mang lửa đền nhà dân.

Và một khi dây điện đã chằng chịt đến độ thành mạng lưới bao phủ khắp thành phố, vấn đề an toàn điện sẽ trả về số không. Hiện tại, mạng lưới dây điện cũng như cách bố trí dây điện, cầu dao điện trên cao hoặc dưới lòng đất tại thành phố Sài Gòn sẽ trở thành cái bẫy giết chết hàng ngàn người trong phút chốc khi mùa mưa tới.

“Ở Việt Nam thì ngay cả thợ điện cũng không biết an toàn điện luôn, nhiều khi họ trèo lên, không có mũ bảo hộ, không có bảo hộ, cứ vậy trèo à.
– Ông Lạc, Sài Gòn”

Ông Minh lắc đầu nói rằng cũng may Sài Gòn là thành phố ít bị bão, chỉ có mưa và ngập lụt. Nhưng cả mưa và ngập lụt sẽ trở nên nguy hiểm vô cùng khi có một đường dây điện nào đó hở mối hoặc hỏng vỏ. Lúc đó, cả con đường ngập nước sẽ thành một dòng sông điện chôn sống đoàn người mắc kẹt trong đó.

Vả lại, người ta phân bổ dây điện đi luồn dưới cây xanh là chuyện hết sức ngô nghê, khôi hài mà có lẽ chỉ có Việt Nam mới có. Hơn nữa Việt Nam là nước có nhiều thiên tai, gió bão, không hiểu sao ngành điện lại tư duy ra được một kiểu bố trí dây điện nằm lẫn trong cây xanh. Trong khi đó, để tránh được tình trạng này thì không cần phải học cho cao, chỉ cần một người xóa mù chữ cũng có thể vẽ được bản thiết kế tránh dây điện móc vào cây xanh.

Với mức nguy hiểm và bất an như hiện tại, cộng thêm giá tiền điện mỗi ngày một tăng nhanh đến độ ngộp thở. Người dân chỉ còn mong vào một ngày nào đó ngành điện không còn độc quyền nhà nước. Và tư nhân sẽ đứng ra kinh doanh điện, cạnh tranh lành mạnh. Chỉ có như vậy người dân mới có thể yên tâm mà sống. Ông Minh đưa ra kết luận này trước khi kết thúc câu chuyện về điện.

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

 

Chương trình Phát triển Quận 6, 7, 8 Saigon đã chấm dứt như thế nào?

Chương trình Phát triển Quận 6, 7, 8 Saigon đã chấm dứt như thế nào?

Bài viết nhân kỷ niệm năm thứ 46 kể từ ngày thành lập

(1965 – 2011)

Đòan Thanh Liêm

Trong mấy năm gần đây, tôi đã viết nhiều bài về họat động của các bạn thanh niên sinh viên trong khuôn khổ sinh họat của chương trình phát triển cộng đồng tại các quận 6,7 và 8 Saigon vào hồi cuối thập niên 1960. Bài mới nhất viết hồi tháng Tám năm 2010 có nhan đề là : “Làm Men trong Bột”. Và kỹ sư Võ Long Triều, trong cuốn 1 Bộ Hồi ký của ông phổ biến trong năm 2010, cũng đã viết nhiều về chương trình này rồi.

Nhưng vì có một số bạn đọc thắc mắc muốn biết thêm chi tiết về giai đọan kết thúc của chương trình này, nên tôi thấy cần phải trình bày thêm về giai đọan cuối của chương trình, mà chưa được đề cập với chi tiết khả dĩ trong các tài liệu đã được phổ biến trước đây. Để giúp những bạn đọc chưa có dịp đọc các bài viết đó, tôi xin ghi vắn tắt lại những nét chính yếu của chương trình này, trước khi viết về giai đọan kết thúc của nó vào năm 1971.

I – Đại cương về sinh họat của chương trình phát triển cộng đồng tại các quận 6,7,8 Saigon khởi sự từ tháng 8 năm 1965.

Vào hồi tháng 6/1965, một số bạn trẻ chúng tôi cỡ tuổi 25 -30 họp bàn với nhau để thành lập một chương trình họat động tại quân 8 Saigon. Anh em sọan thảo một tài liệu về dự án phát triển tại địa phương quận này, và đem đệ trình nơi văn phòng của vị Thủ tướng Chánh phủ lúc đó do Tướng Nguyễn Cao Kỳ cầm đầu với danh xưng là “Chủ tịch Ủy Ban Hành phápTrung ương”.

Tướng Kỳ chấp thuận dự án này, và quyết định như sau :

A – Bổ nhiệm hai sĩ quan biệt phái là các Anh Hồ ngọc Nhuận và Mai Như Mạnh làm Quận trưởng và Phụ tá Quận trưởng Quận 8 Saigon.

B –  Đặt Chương trình Phát triển Quận 8 dưới sự bảo trợ của Bộ Thanh niên và Tòa Đô chánh Saigon. Lúc đó Bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng là Ủy viên Thanh niên điều khiển Bộ Thanh niên, và Bác sĩ Văn Văn Của là Đô trưởng Saigon

C –  Cấp ngân khỏan 10,000,000 VN$ (10 triệu) trích từ Ngân sách quốc gia để làm quỹ hoạt động của chương trình.

Như vậy là chỉ có hai người trong Nhóm chúng tôi giữ nhiệm vụ về hành chánh của Nhà nước, còn tất cả đều là các thiện nguyện viên. Nói theo ngôn ngữ hiện nay, thì đây là một sự hợp tác của Xã hội Dân sự với chánh quyền Nhà nước ở tại địa phương Quận 8 Saigon. Vì thế Ban Quản lý Chương trình có được sự độc lập tự trị, mà không bị ràng buộc chi phối theo quy chế của một cơ sở hành chánh thông thường. Bác sĩ Hồ Văn Minh và tôi Đòan Thanh Liêm giữ nhiệm vụ làm Quản lý và Phụ tá Quản lý của chương trình này.

Thế là vào trung tuần tháng 8, anh chị em chúng tôi khởi sự “ra quân” tại 5 Phường thuộc Quận 8 nằm bên kia cầu chữ Y, cầu Chà Và, cầu Nhị Thiên Đường, dọc theo mấy con kinh Tàu Hủ, Ụ Cây, kinh Đôi phiá nam của Chợ Lớn.

Công tác chính yếu của Chương trình là vận động quần chúng các khóm hẻm tham gia vào các dự án cải tiến dân sinh, cụ thể như khai thông ngập lụt, sửa đường trong các ngõ hẻm, tu sửa nhà vệ sinh công cộng, đặc biệt là chỉnh trang nhà cửa ở các khu ổ chuột, mở thêm các lớp học, các lớp dậy nghề, chăm sóc y tế v.v…Vai trò của các thiện nguyện viên là làm chất men, chất xúc tác nhằm khơi động quần chúng ý thức rõ ràng về các nhu cầu thiết thực của cộng đồng lối xóm (felt needs) và rồi cùng nhau góp công sức và vật liệu vào các công trình cải thiện môi trường tại địa phương, cũng như phát triển về giáo dục, về y tế, về sinh họat tương thân tương trợ lẫn nhau trong các thành viên của cộng đồng địa phương.

Qua năm 1966, chương trình lại mở rộng địa bàn họat động thêm nữa sang các quận 6 và 7, nâng tổng số dân mà chương trình nhằm phục vụ trong cả 3 quận lên đến gần 500,000 người. Chương trình lại được cấp thêm ngân khỏan 20 triệu đồng cũng trích từ Ngân sách quốc gia. Về vật liệu xây dựng như sắt, ciment và tôle, thì chúng tôi được cơ quan USAID cung ứng cho khá đày đủ theo nhu cầu của các dự án tái thiết và phát triển cộng đồng.

Còn các dụng cụ trang bị cho lớp dậy nghề như máy may, máy đan, máy đánh chữ, máy động cơ v.v…, thì chúng tôi đi xin nơi các cơ quan xã hội quốc tế có trụ sở ở Saigon.

Tính ra trong 6 năm họat động (1965 – 1971), chương trình đã cùng với đồng bào địa phương thực hiện được rất nhiều công tác cải tiến dân sinh, điển hình như sửa sang cả trăm ngõ hẻm lầy lội, tái thiết đến 8,000 đơn vị gia cư trong 20 khu vực bị tàn phá trong các cuộc tấn công năm Mậu Thân 1968… Đặc biệt là thành lập được 2 trường Trung học Cộng đồng tại quận 6 và 8, mà vào niên khóa 1974 -75, tổng số học sinh trong 2 trường này đã lên đến 3,000 em.

II – Chương trình được lệnh phải đóng cửa vào tháng 4 năm 1971.

Như đã trình bày ở trên, đây là một chương trình họat động xã hội, chủ yếu là để phục vụ tầng lớp đồng bào thiếu may mắn tại khu vực ven đô, mà phần đông là dân tỵ nạn từ các vùng mất an ninh ở miền quê phải đổ xô về thành phố. Chương trình không hề chịu ảnh hưởng của một nhóm chính trị hay tôn giáo nào, mà chỉ do các bạn trẻ cỡ tuổi 20-30 cùng hợp lại với nhau trong những công tác cụ thể, thiết thực sát cánh với bà con ở địa phương. Đặc biệt là kể từ cuối năm 1968 trở đi, thì anh chị em rất bận rộn với công việc chỉnh trang tái thiết tại 20 khu vực bị tàn phá nặng nề nhất trong cả 3 quận, với tổng số nhà phải xây cất lại lên đến 8,000 đơn vị.

Thế nhưng, do có sự mâu thuẫn căng thẳng giữa hai vị lãnh đạo quốc gia là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, mà chương trình chúng tôi nhận được lệnh của phía Tướng Thiệu là phải chấm dứt họat động kể từ tháng 4 năm 1971.

Nguyên do dẫn đến việc này là vào tháng 9 năm 1971 đó, sẽ có cuộc bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống, mà cả hai Tướng Thiệu và Kỳ đều tranh đua với nhau để mỗi bên đứng ra lập một liên danh riêng biệt. Và cả hai phía đều ráo riết tổ chức việc vận động để dành phần thắng cử về cho mình, nên đã sử dụng mọi đòn phép chính trị mua chuộc sự ủng hộ khắp nơi, chỗ này chỗ nọ.

Vì như đã ghi ở trên, chương trình phát triển này lúc khởi sự vào năm 1965 là do Tướng Kỳ với thẩm quyền là Thủ tướng đã chấp thuận cho chúng tôi họat động và còn cấp ngân khỏan điều hành nữa. Nên phía Tướng Thiệu lúc đó lại có thành kiến cứ coi chương trình này là của riêng Tướng Kỳ, hay cũng ngả về phe phái của Tướng Kỳ, và từ đó mà đưa đến việc ra lệnh cho chương trình phải chấm dứt họat động. Thời đó, Tổng thống Thiệu đã nắm hết quyền hành trong tay mình, và Phó Tổng thống Kỳ chỉ còn giữ tính cách tượng trưng về nghi lễ, không có thực quyền như lúc giữ vai trò của một vị Thủ tướng như thời kỳ 1965 – 67 nữa.

Trước chỉ thị của chánh quyền như vậy, Ban Điều hành của chương trình phát triển chúng tôi đâu có thể làm gì khác, ngòai việc phải tuân theo mà thôi. Cơ quan chính quyền trước đây cho phép họat động, bây giờ rút lại cái giấy phép đó, thì đó là thuộc phạm vi quyền hạn của nhà nước, mình chỉ là một nhóm thiện nguyện viên tư nhân thì làm sao mà cưỡng lại được?

III –  Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ chủ tọa Lễ Bế mạc Chương trình Phát triển.

Và, theo đúng chỉ thị của cấp trên, anh chị em chúng tôi đã tổ chức một buổi lễ khá long trọng vào thượng tuần tháng 4 năm 1971, với số tham dự gồm đông đủ các thân hào nhân sĩ địa phương cả 3 quận và rất nhiều giới chức quan khách – để tuyên bố kết thúc sự họat động của chương trình phát triển mà đã khởi sự từ năm 1965. Chúng tôi mời Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đến chủ tỏa Lễ Bế mạc này, vì dầu sao lúc đó Ông cũng là nhân vật lãnh đạo đứng hàng thứ hai của quốc gia, chỉ đứng sau vị Tổng thống mà thôi. Lại nữa vào năm 1965, chính Tướng Kỳ với cương vị là Thủ tướng chánh phủ đã cho phép chương trình họat động, nay đến lúc kết thúc, thì cũng nên mời Phó Tổng thống đến tham dự và chủ tọa buổi lễ, đó là điều cũng hợp lý, phải đạo và sòng phẳng vậy thôi. Lúc đó thì có một người bạn phê một câu bằng tiếng Pháp rằng : “Commencé par Kỳ, terminé aussi par Kỳ “ (Khởi sự bởi Kỳ, thì cũng kết thúc bởi Kỳ).

Sau buổi lễ này, chương trình trao lại các cơ sở, xe cộ, vật dụng và hồ sơ giấy tờ cho Tòa Đô chính Saigon Và chúng tôi chia tay nhau một cách êm thắm nhẹ nhàng, người nào cũng còn giữ lại được những kỷ niệm đẹp đẽ trong suốt nhiều năm tháng sát cánh bên nhau trong bao nhiêu công tác phát triển cộng đồng cùng hợp chung với bà con trong các khu xóm trong cả 3 quận. Ai nấy, mỗi người trở về lại với nghề nghiệp và cương vị riêng của mình.

Có điều đáng ghi nhớ là cho đến nay, sau 40 năm chia tay nhau, anh chị em chúng tôi vẫn tiếp tục còn gắn bó mật thiết với nhau trong tinh thần anh chị em ruột thịt một nhà, vì tất cả đều cùng theo đuổi một lý tưởng nhân ái là phục vụ đồng bào, nhất là các nạn nhân chiến cuộc hồi đó.

Hai trường Trung học ở quận 6 và 8 thì vẫn tiếp tục họat động bình thường, không hề bị ảnh hưởng của việc đóng cửa chương trình này. Lại nữa, trong hàng ngũ chúng tôi, thì có 2 người được bầu làm Dân biểu Hạ Nghị Viện, đó là các anh Hồ Văn Minh và Hồ Ngọc Nhuận. Và 3 người được bầu làm Nghị viên Hội đồng Đô thành Saigon, đó là các anh Mai Như Mạnh, Dương Văn Long và Lê Xuân Tảng. Hai người được bầu vào làm Ủy viên Hội đồng Văn hóa Giáo dục, đó là các Hiệu trưởng Võ Văn Bé và Uông Đại Bằng.

Và quan trọng nhất là hàng ngàn các cựu học sinh xuất thân từ 2 trường Trung học quận 6 và quận 8, nay đã vào lớp tuổi 50 – 57, thì các em vẫn nối tiếp cái tinh thần hy sinh phục vụ xã hội tại địa phương trong tầm tay với của mình. Đó là niềm hy vọng và an ủi cho tất cả anh chị em chúng tôi vậy.

Nhân dịp này, tôi cũng xin được bày tỏ lòng thương tiếc đến với các bạn đã ra đi, điển hình như các anh Trần Kim Hoa, Nguyễn Trọng Khánh, Lương Bá Cậy, Nguyễn Văn Bọt, Nguyễn Ngọc Phan, Đặng Kỳ Trân, Nguyễn Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu An… Các bạn này đã cùng sát cánh với anh chị em chúng tôi trong suốt thời gian công tác tại các địa phương quận 6,7 và 8 Saigon giữa thời kỳ chiến tranh khói lửa kinh hòang thuở ấy.  Xin cầu chúc các bạn luôn thanh thản nơi cõi Vĩnh Hằng. R.I.P./

California, Trung tuần tháng Tám năm 2011

Đòan Thanh Liêm

Làm Men trong Bột

Làm  Men  trong  Bột

(Bài viết nhân kỷ niệm năm thứ 45 Ngày Thành Lập Chương Trình Phát Triển Quận 8 Saigon 1965-2010)

Đòan Thanh Liêm

Tháng 8 năm 1965, giữa lúc chiến tranh bắt đầu leo thang dữ dội tại nhiều nơi trên khắp lãnh thổ miền Nam Việt nam, thì một nhóm anh chị em trẻ cỡ tuổi 18 đến 30 chúng tôi hợp chung lại với nhau, để khởi xướng một chương trình xây dựng cụ thể tại một địa phương còn kém phát triển ở Saigon. Đó là một chuơng trình phát triển cộng đồng có danh hiệu là : “Chuơng Trình Phát Triển Quận 8 Saigon”.

Đây là một chương trình họat động có tính cách tự nguyện của giới thanh niên, sinh viên và học sinh, mà được sự chấp thuận và yểm trợ của cơ quan nhà nuớc, cụ thể là Tòa Đô chánh Saigon và Bộ Thanh niên.  Nói theo ngôn ngữ ngày nay, thì đó là sự hợp tác của một thành phần thuộc lãnh vực Xã hội Dân sự với cơ quan Nhà nước, để cùng theo đuổi việc cải tiến dân sinh tại một khu vực ven biên thành phố thủ đô, nơi có nhiều đồng bào phải rời bỏ miền quê mất an ninh , để về tá túc tại những khu nhà ổ chuột, thiếu thốn mọi tiện nghi vật chất như đường xá, điện, nước và mọi dịch vụ công cộng thông dụng nhất của một đô thị bình thường.

Vì là một chương trình thí điểm của giới trẻ, vốn chỉ có lòng hăng say nhiệt thành muốn đóng góp công sức vào việc cải tiến xã hội một cách thiết thực cụ thể, nhưng tất cả lại chưa hề có kinh nghiệm họat động trong một môi trường với đông đảo quần chúng xa lạ, như ở một địa phương tương đối hẻo lành này. Vì thế, phải mất một thời gian dò giẫm, thử nghiệm, rồi các bạn mới tìm ra được phương cách thích hợp trong công tác vận động bà con ở địa phương cùng tham gia vào công cuộc xây dựng tại hạ tầng cơ sở, nơi mà người dân đang phải sinh sống trong các điều kiện hết sức khó khăn chật vật.

Công tác đầu tiên mà các bạn trẻ này làm để “ra mắt trình diện với đồng bào ở địa phương”, đó là việc hòan thành được một ngôi trường với 5 phòng học tương đối rộng rãi khang trang, tại phường Hưng Phú gần với khu Lò Heo Chánh Hưng. Ngôi trường này được xây cất gấp rút trong vòng 2 tuần lễ với vật liệu nhẹ, cột bằng gỗ, tường bằng ván dăm bào aerolith và mái lợp tôn, nhằm đáp ứng với việc “giải tỏa các lớp học ban trưa nóng bức”, bởi lẽ hồi đó trường ốc rất thiếu thốn, nên  nhiều nơi đã phải mở thêm các suất học từ 11 giờ sáng đến 2 giờ trưa, nhằm dậy thêm được một số học sinh. Công tác đầu tay này đã gây được sự phấn khởi của giáo chức, và nhất là của đông đảo phụ huynh học sinh tại địa phương, với hậu quả là các thân hào nhân sĩ, giới lãnh đạo tôn giáo đã bắt đầu tìm hiểu và có sự tin tưởng, thông cảm với nhóm thanh niên thiện nguyện từ các nơi xa mà đến góp phần vào công việc xây dựng tại khu vực, vốn xưa kia là lãnh địa của quân đội Bình Xuyên vào hồi đầu thập niên 1950.

Và rồi nhờ sự thông cảm và hợp tác của các bậc tôn trưởng tại địa phương như vậy, mà Chương trình Phát triển đã lần hồi lôi cuốn được đông đảo bà con cùng quy tụ lại với nhau, để thực hiện những công việc xây dựng tích cực, cụ thể như khai thông tình trạng ngập lụt, sửa sang các đường hẻm, cải thiện các nhà vệ sinh công cộng v.v… Qua những dự án hợp tác đại loại như thế, mà bà con lối xóm có dịp quen biết lẫn nhau và gắn bó thân thương với nhau, mỗi ngày một bền chặt, khắng khít hơn. Và các thiện nguyện viên từ nơi xa đến cũng gây dựng được sự tin tưởng, và thiện cảm của quần chúng nhân dân trong cộng đồng địa phương. Đó chính là mấu chốt của sự thành công trong việc “Gây được sự hưởng ứng tự nguyện của chính đồng bào là đối tượng phục vụ của Chương trình Phát triển ở Quận 8” vậy.

Sau trên một năm hoạt động, Chương trình Phát triển này lại được chánh quyền chấp thuận cho khuếch trương  thêm, kể từ năm 1966, sang các quận 6 và 7 lân cận, để phục vụ cho khối dân số tổng cộng trong cả 3 quận lên đến 500,000 người. Từ những công tác cải thiện môi trường với quy mô đơn sơ nhỏ bé, trong các khu xóm lầy lội, chật hẹp, tối tăm, Chương trình đã tiến tới việc thực hiện được những công trình chỉnh trang gia cư khá rộng lớn, điển hình như khu chỉnh trang xóm nghĩa địa thuộc liên khóm 14 &15 thuộc khu Xóm Đầm ở phường Hưng Phú Quận 8, với trên 130 căn nhà được phân phối trong 7 lô gồm các căn nhà sát vách với nhau. Rồi đến khu định cư Nam Hải dành riêng cho đồng bào tỵ nạn từ Phước Long chạy về, với  con số trên 300 căn nhà xây cất trên  khu bãi đổ rác Chánh Hưng của thành phố v.v…

Và nhất là công trình chỉnh trang tái thiết đến gần 20 khu vực nhà cửa bị tàn phá trong mấy đợt tấn công của quân đội công sản trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968, tổng cộng lên tới gần 8,000 đơn vị gia cư trong cả ba quận 6, 7 và 8 Saigon. Điển hình như tại khu tái thiết ở phường Cầu Tre-Bình Thới thuộc Quận 6, thì có đến 1,200 đơn vị gia cư được xây cất lại.

Tất cả các khu chỉnh trang này đều được thực hiện theo phương thức “Phát triển Cộng đồng”, tức là người dân địa phương đóng vai trò chủ động chính yếu vừa góp công, vừa góp của, để thực hiện việc xây dựng lại nhà cửa cho chính mình. Cán bộ của Chương trình Phát triển chỉ đóng vai trò tổ chức cho bà con hội họp bàn thảo và quyết định với nhau trong việc phân phối căn nhà cho từng gia chủ. Và rồi hướng dẫn kỹ thuật cho việc xây cất theo họa đồ thiết kế đã được các chuyên viên kỹ sư phác họa sẵn.

Chứ đó không phải là những công trình xây cất thuần túy do Nhà nước thực hiện từ đầu đến cuối, như tại các khu cư xá của Tổng Nha Kiến Thiết, hay của  Khu Gia cư Liêm giá cuộc của Tòa Đô chánh Saigon.

Có hai công trình với quy mô và ảnh hưởng lâu bền nhất, đó là việc thành lập được Trường Trung học Cộng Đồng ở quận 8, rồi cả ở quận 6, với tổng số học sinh lên tới 3000 em vào niên khóa 1974-75. Chương trình Phát triển đã kêu gọi được sự hợp tác rất hăng say của giới phụ huynh và các thân hào nhân sĩ địa phương, để thực hiện được công cuộc phát triển giáo dục mà cho đến ngày nay, sau trên 40 năm  thì vẫn tiếp tục được duy trì để phục vụ cho các thế hệ trẻ mỗi ngày một thêm đông đảo. Các em học sinh lớp đầu tiên nhập học vào năm 1966 lúc đó ở tuổi 13-14, thì năm 2010 này đã ở vào lứa tuổi 57 – 58, với nhiều em đã lên tới chức ông nội, bà ngoại cả rồi.. Và đặc biệt các cựu học sinh này vẫn còn gắn bó thân thương với nhau trong tổ chức Hội Ái Hữu Cựu Học sinh với Ngày Họp Truyền Thống của trường xưa vào tháng 12 mỗi năm..

Ngoài ra, Chương trình còn yểm trợ rất nhiều lớp Dậy nghề do các Chùa và Nhà thờ ở địa phương tổ chức và điều hành, cụ thể như tại Chùa Huê Lâm ở quận 6, Chùa Bình Đông , Nhà thờ Rạch Cát ở quận 7, Nhà thờ Bình An ở quận 8 v.v…Về y tế, Chương trình còn tổ chức cả một xe Y tế lưu động để lo khám bệnh và cấp phát thuốc cho bệnh nhân tại một số khóm hẻm ở quá xa với trạm y tế.

Về thành phần nhân sự, thì tất cả đều tham gia họat động trong khuôn khổ chương trình với tinh thần tự nguyện. Có em là học sinh dưới 20 tuổi, còn đang theo học tại các trường trung học. Có em là sinh viên cấp đại học. Và cũng có những bạn lớn tuổi hơn, nhưng phần đông đều vào lứa tuổi trên dưới 30. Những người làm việc thường xuyên, thì được hưởng một số trợ cấp sinh họat tối thiểu, chứ không phải là một thứ lương bổng nào theo quy chế của cơ quan nhà nước. Các bạn trẻ này vốn đã từng được đào tạo trong các tổ chức thanh thiếu niên, như tại Phong trào Hướng Đạo, Sinh viên Phật tử, Sinh viên Công giáo, Thanh niên Thiện chí, Phong trào Học đường Phục vụ Xã hội v.v… Đó là những nhân sự cơ hữu công tác thường xuyên, mà tỗng số chỉ có vào khỏang từ 30 đến 40 người. Còn số thiện nguyện viên lâu lâu đến hợp tác trong một dự án ngắn hạn, mà cần thêm nhiều lao động vào một vài ngày nghỉ cuối tuần, thì có thể kể đến con số hàng ngàn người, số này do các đòan thể hiệp hội bạn hướng dẫn đến để tăng cường cho nhân số cơ hữu vốn luôn ít ỏi của chương trình phát triển.

Về phương tiện tài chánh và vật liệu, thì chương trình được chánh quyền cấp cho một số ngân khỏan trong 2 đợt đầu từ năm 1965 đến 1969, tổng cộng là 30 triệu đồng, trích từ ngân sách quốc gia, và trong đợt cuối vào năm 1970 thêm được 10 triệu nữa, trích từ ngân sách ngọai viện. Còn các vật liệu xây dựng chính yếu là sắt, tôle và ciment, thì do Cơ quan Viện trợ Mỹ USAID cung ứng cho khá đày đủ. Ngòai ra, chương trình cũng còn được sự trợ giúp về dụng cụ huấn nghệ như máy may, máy đan, máy đánh chữ, dụng cụ sửa radio, sửa máy nổ , về thuốc men và một số vật dụng linh tinh khác…từ các tổ chức từ thiện quốc tế như CARE, Catholic Relief Service, Asian Christian Service, Vietnam Christian Service, Adenauer Foundation, OXFAM…Các dụng cụ này được sử dụng vào việc trang bị cho các trung tâm dậy nghề, do các tổ chức tôn giáo ở địa phương trực tiếp điều hành.

*            *           *

Đẻ tóm lược lại, ta có thể ghi nhận vài nét chính yếu như sau đây :

1 / Trong suốt quá trình hoạt động sôi nổi từ những năm 1965 trở đi, các anh chị em thiện nguyện viên này luôn ý thức được vai trò chủ yếu của mình là : “Vận động quần chúng tự nguyện tham gia vào các công trình cải tiến dân sinh” tại chính địa phương của họ. Đây đích thực là vai trò “làm chất men, chất súc tác” được vùi vào trong môi trường của quần chúng nhân dân, nhằm gây được một “tác dụng dây chuyền”, theo lối “vết dầu loang”, để mỗi ngày một phát triển rộng thêm mãi ra. Thành ra lớp người cán bộ tự nguyện như vậy chính là một thứ tác nhân có khả năng góp phần khơi động được thành cả một “Phong trào quần chúng tham gia vào công cuộc phát triển xã hội ngay tại hạ tầng cơ sở, nơi địa phương của chính họ” (Mass Fermentation/Mobilisation at the grassroots). Một anh bạn đã phát biểu tóm gọn vai trò của anh chị em thiện nguyên viên một cách thật chính xác là : “Những người vận động cho công cuộc phát triển toàn diện và điều hòa” (animateurs de de’veloppement total et harmonise’) tại địa phương các quận 6,7 và 8 Saigon thời đó vậy.

2 / Nếu cần phải đánh giá chung về Chương trình Phát triển này đã hoạt động liên tục trong 6 năm, từ 1965 đến 1971, thì ta có thể nói rằng : “Đây mới chỉ là một lọai hình họat động tiêu biểu trong số đông những Mảnh Nhỏ Cố Gắng của cả một Phong trào Thanh Thiếu niên lúc đó, nhằm góp phần vào công cuộc Xây dựng Xã hội tại miền Nam Việt nam thời kỳ trước năm 1975”. Và theo như lối mô tả của Giáo sư Karl Popper thuộc Trường Kinh tế Luân Đôn (LSE = London School of Economics) trong cuốn sách thời danh xuất bản từ năm 1945 của ông, với nhan đề là : “The Open Society & its enemies”, thì đây chính là một cách thể hiện cái phương thức : “Piecemeal Social Engineering”, tức là  “Xây dựng Xã hội từng Mảnh một” vậy.

3 / Và cuối cùng, nhân dịp kỷ niệm năm thứ 45 ngày thành lập Chương trình Phát triển Cộng đồng này, người viết xin được bày tỏ lòng thương tiếc và quý mến sâu sắc đối với một số bạn và thân hữu đã lìa trần trong mấy năm gần đây, cụ thể điển hình như các bạn Đặng Kỳ Trân, Trần Kim Hoa, Luơng Bá Cậy, Nguyễn Trọng Khánh, Lương Văn Tròn, Nguyễn Ngọc Phan, Nguyễn Văn Bọt, Nguyễn Ngọc Thạch… Và các thân hữu như Nguyễn Hữu An, Trần Hữu Hải,Trần Đại Lộc, Đỗ Ngọc Yến…

Tuy các bạn đã đi xa, nhưng cái kỷ niệm thân thương gắn bó keo sơn ấy của tất cả tập thể anh chị em chúng ta, trong bao nhiêu ngày tháng miệt mài say mê với công tác xã hội sát cánh cùng với đồng bào tại các quận 6,7, 8 Saigon những năm xưa, giữa cuộc chiến tranh khói lửa mịt mù tàn bạo lúc đó, thì không bao giờ lại có thể phai mờ quên lãng đi được./

California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010

Đoàn Thanh Liêm

Xây dựng và sụp đổ

Xây dựng và sụp đổ

Nguyễn Đình Cống

Từ xưa đến nay việc xây dựng công trình hoành tráng có thể làm cho chủ đầu tư phát triển rực rỡ hoặc sụp đổ. Để đạt được sự phát triển thì phải có đủ cả hai điều kiện quan trọng là cơ sở kinh tế vững chắc và lòng người phấn khởi. Thiếu một trong hai, đặc biệt là thiếu cả hai, mà cứ cố xây dựng công trình hoành tráng vì duy ý chí, vì để lợi dụng một việc nào đó thì có nhiều khả năng bị sụp đổ. Không chỉ sụp đổ công trình mà sụp đổ cả sự nghiệp đến mức nước mất, nhà tan. Xin kể vài thí dụ: Nhà Tần ở Trung Quốc, sau khi thống nhất đất nước, tưởng sẽ thống trị thiên hạ lâu dài, không ngờ bị sụp đổ chỉ sau vài chục năm. Một trong những nguyên nhân làm thiên hạ chán ghét, chống lại là do nhà vua ra sức bóc lột và đàn áp nhân dân để xây cung A Phòng, một công trình hết sức hoành tráng. Vua Suryavarman xây dựng đền đài Angkor từ thế kỷ 12, làm cho đất nước Campuchia suy kiệt đến mức kinh thành bị bỏ hoang phế mấy trăm năm, nhân dân lầm than, đói khổ. Các vua Chămpa quá mê say xây dựng cung điện, nhân dân bị huy động kiệt quệ cả lực lượng và tài sản, dẫn đến sự mất nước Chiêm Thành.

Trong lịch sử Việt Nam, các đời Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê đều xây dựng cung điện một cách vừa phải. Sự khai quật Hoàng thành Thăng Long phát hiện ra di chỉ đời sau chồng lên di chỉ đời trước. Điều đó chứng tỏ: 1- Công trình đời trước chẳng có gì đáng giá để lại cho đời sau. 2- Đời sau không tiếp nhận và phát huy được công trình đời trước mà phá hủy gần hết để xây chồng lên (tôi biết nhiều người rất tự hào về di tích Hoàng thành nhưng không biết tự hào vì nỗi gì).

Vào thời Lê – Trịnh, vua Lê Tương Dực muốn xây Cửu Trùng Đài, một công trình hoành tráng, định để lại di tích cho hậu thế. Cửu Trùng Đài do kiến trúc sư Vũ Như Tô thiết kế và chỉ đạo thi công. Việc xây dựng đó đã vắt kiệt sức dân, hàng chục vạn người phải lao dịch trong đói rách, hàng ngàn người bị bỏ mạng vì tai nạn, ốm đau, bị đánh đập. Công trình đang thi công nửa chừng (theo giá bây giờ thì có lẽ đã tiêu tốn hàng ngàn tỷ) thì bị Trịnh Duy Sản chỉ huy binh lính và nhân dân phá bỏ (chính những người đang xây dựng đã quay lại đập phá), giết chết Lê Tương Dực. Vũ Như Tô cũng bị chém chết trong vụ này. Việc này gây ra hai luồng ý kiến trái ngược nhau, người hoan hô, kẻ tiếc nuối. Sau này nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã than thở “Cửu Trùng Đài không thành nên mừng hay nên tiếc. Tháp người Hời nguyên là giống Angkor…” (người Hời là người Chiêm Thành cổ). Tháp người Hời vốn giống với Angkor về kiến trúc. Angkor làm dân Campuchia kiệt quệ trong lịch sử (và hiện tại mang lại lợi trong du lịch), còn tháp người Hời mang lại sự sụp đổ của đế chế, sự mất nước của Chiêm Thành.

Gần đây Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam lại đang say sưa xây dựng nhiều công trình hoành tráng, không giống Cửu Trùng Đài, không giống Angkor, mà là các nhà bảo tàng, các tượng đài, các văn miếu. Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Hà Nội xây nhà bảo tàng hết trên 2300 tỷ (giá năm 2010, quy ra giá năm 2015 có thể gần 3000 tỷ). Một ngôi nhà mà giá thành phần xây dựng tính trên mỗi mét vuông sàn là đắt nhất thế giới. Tôi ước tính công trình này bị thất thoát và lãng phí gần 50%. Xây xong rồi, nó không những biến thành “Chùa Bà Đanh mới” mà còn tốn thêm nhiều tiền để duy tu và bảo vệ. Các công trình hoành tráng giá hàng trăm, hàng ngàn tỷ được xây dựng vội vàng với chất lượng thấp rất dễ dàng mang lại món lợi to lớn cho nhiều quan chức là người có quyền trong việc đề xuất và xét duyệt dự án và mang lại sự sụp đổ cho bản thân công trình, cho những người thực sự bỏ tiền ra để xây dựng, đó là những người dân đóng thuế. Xét cho cùng thì nhân dân mới là chủ đầu tư thật sự. Lợi ích từ rút ruột dự án thì quan chức hưởng còn sự sụp đổ thì nhân dân chịu.

Trong “LỜI TUYÊN BỐ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ CÔNG DÂN VỀ NHỮNG DỰ ÁN TƯỢNG ĐÀI TRĂM TỶ, NGÀN TỶ” đã chỉ ra sự xây dựng những công trình hoành tráng này thiếu cả hai điều kiện quan trọng là lòng dân và cơ sở kinh tế, vì vậy sự sụp đổ một cái gì đấy là điều khó tránh.

Ngoài việc tham gia ký tên và vận động bạn bè ký tên vào LỜI TUYÊN BỐ nói trên, tôi viết bài này mong thức tỉnh thêm những người lãnh đạo, có chức quyền ở các địa phương và trung ương, chớ vì món lợi được chia chác vài phần trăm đến vài chục phần trăm giá cuả dự án mà bán rẻ lương tâm cho quỷ dữ, để lại tội ác và tiếng xấu nhiều đời.

N. Đ. C.

Cậu bé lớp 8 đòi làm thay việc của Bộ trưởng Giáo dục

Cậu bé lớp 8 đòi làm thay việc của Bộ trưởng Giáo dục


Em Vũ Thạch Tường Minh phát biểu trong buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng Việt lớp 6 của nhóm Cánh Buồm tại Hà Nội hôm 12/8. (Ảnh chụp từ clip trên youTube).

Em Vũ Thạch Tường Minh phát biểu trong buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng Việt lớp 6 của nhóm Cánh Buồm tại Hà Nội hôm 12/8. (Ảnh chụp từ clip trên youTube).

Khánh An-VOA

14.08.2015

Phát biểu của một cậu bé lớp 8 trong buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng Việt lớp 6 của nhóm  tại Hà Nội hôm qua (12/8) đã được lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội. Nhiều người gọi cậu bé là ‘Bộ trưởng Giáo dục tương lai’ của Việt Nam. Cậu bé đã nói gì? Tại sao có nhiều người tỏ ra đồng tình với nhận định của cậu bé đến thế? Khánh An tìm hiểu thêm chi tiết.

Nhấp vào để nghe phần âm thanh

Đoạn ghi âm được đăng tải lên mạng Youtube về buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng việt lớp 6 của nhóm Cánh Buồm hôm 12/8, trong phần đặt câu hỏi, một học sinh đã đứng lên phát biểu như sau:

“Một điều mà con muốn nói với chính phủ Việt Nam, hay cụ thể hơn là Bộ Giáo dục, theo con, các vị bộ trưởng, thứ trưởng giáo dục không phải là nên áp dụng cả bộ sách này, mà là áp dụng cái lối giáo dục của bộ sách này vào giáo dục Việt Nam, bởi vì bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là, con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả. Nên bây giờ con muốn các vị bộ trưởng, thứ trưởng hãy thay đổi đường lối giáo dục của Việt Nam, có thể theo đường lối của Cánh Buồm cũng được, các vị có thể thay cả bộ sách giáo khoa cũng được. Các vị có thể nói là mất thời gian, nhưng con thấy là thời gian các vị cải tiến, cải lùi còn mất thời gian hơn. Giáo dục Việt Nam không cần cải cách gì nữa, giáo dục Việt Nam cần được cách mạng. Đó mới là điều các vị trong Bộ Giáo dục nên làm. Còn nếu bây giờ các vị không làm thì đến khi nào con thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục con sẽ làm”.

Giáo dục Việt Nam không cần cải cách gì nữa, giáo dục Việt Nam cần được cách mạng. Đó mới là điều các vị trong Bộ Giáo dục nên làm. Còn nếu bây giờ các vị không làm thì đến khi nào con thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục con sẽ làm.

Em Vũ Thạch Tường Minh, học sinh trường chuyên Amsterdam, nói.

Nhà giáo Phạm Toàn, người lập ra nhóm Cánh Buồm, một nhóm gồm nhiều nhà khoa học hoạt động độc lập đang làm công việc soạn thảo lại các bộ sách giáo khoa mới nhằm góp phần cách tân giáo dục theo phương pháp hiện đại, gọi phát biểu của em Vũ Thạch Tường Minh, học sinh trường chuyên Amsterdam, là một dạng “trưng cầu dân ý”.

“Những ý kiến của cậu bé bột phát một cách hồn nhiên, tức là một thứ ‘trưng cầu dân ý’ bột phát đấy. Xưa nay người ta vẫn nghĩ những đứa bé học ở những trường chuyên, lớp chọn như thế thì không có ý kiến gì về việc học nữa vì nó thỏa mãn rồi. Thế mà cậu bé này không thỏa mãn. Thứ hai nữa là cậu bé này đã nhìn ra không phải chỉ cho nó, rất nhiều trường chuyên lớp chọn khi học sinh vào đấy là tự thỏa mãn cuộc đời mình, cậu bé này vẫn nhìn ra xã hội nữa, phải nhìn ra xã hội thì mới thấy được ý nghĩa của bộ sách mà nhóm Cánh Buồm làm. Khi nào người ta hồn nhiên và không bị điều khiển bởi một động lực ngoài ý nghĩa giáo dục, ngoài sự học của con người, thì người ta đồng ý với nhóm Cánh Buồm. Nếu người ta nghĩ đến những thứ khác như uy tín, danh giá, tiền, quyền lợi…, thì người ta sẽ tự ái”.

Suy nghĩ của cậu bé không những được tán dương trong buổi hội thảo mà còn được chia sẻ rất nhiều trên mạng xã hội. Nhiều người nhận xét cậu bé có nhận thức chững chạc hơn rất nhiều người lớn, thậm chí có người đề nghị cho cậu làm thay công việc của Bộ Giáo Dục để con em họ được nhờ.

Nhà giáo Phạm Toàn và các em học sinh.

Nhà giáo Phạm Toàn và các em học sinh.

Nhà giáo Phạm Toàn cho rằng cậu bé đã nói thay nguyện vọng của nhiều người.

“Nguyện vọng của người dân là người ta muốn có một nền học vấn khác, nhưng đấy không phải là tất cả số đông người dân. Số đông người dân vẫn đang chịu sự ép dàn mỏng ra của ý thức hệ, của thói quen của nhà cầm quyền và thỏa mãn với bất kỳ cái gì của nhà nước đề ra”.

Nhà giáo Phạm Toàn nhận xét thái độ của đại đa số người dân Việt Nam vẫn là tìm cách thích nghi với hoàn cảnh hơn là thay đổi nó, một số người khác thậm chí còn tìm cách kiếm lợi trên những hoàn cảnh đó. Ông nói:

“Quan trọng nhất là những người hiểu biết, những nhà sư phạm phải tìm con đường càng ngày càng phải đúng hơn cả. Nếu cứ cắm cúi làm theo cách cũ thì sẽ làm tan hoang cả một tâm hồn dân tộc”.

Bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là, con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả. Nên bây giờ con muốn các vị bộ trưởng, thứ trưởng hãy thay đổi đường lối giáo dục của Việt Nam

Cậu bé lớp 8, Vũ Thạch Tường Minh, phát biểu.

Thực trạng của nền giáo dục Việt Nam lâu nay vẫn bị xã hội lên án vì những bất cập, lạc hậu, giáo điều và thiếu thực tế. Rất nhiều sáng kiến, cải cách đã được đưa ra những không cải thiện được tình trạng này nên nhiều người dân Việt Nam đã gọi đùa những “cải tiến” là “cải lùi”.

Chỉ riêng trong các bộ sách giáo khoa hiện hành thôi, đã có rất nhiều lỗi nghiêm trọng bị người dân phát hiện ra trong thời gian qua. Theo báo Đời sống & Pháp luật, chỉ tính riêng trong năm 2013 đã có 5 trường hợp sách giáo khoa, sách tham khảo bị phát hiện có in cờ Trung Quốc với “đường lưỡi bò 9 đoạn”.

Soạn lại bộ sách giáo khoa đúng đắn, nghiêm chỉnh cho các cấp bậc là mục tiêu chính của nhóm Cánh Buồm. Nhà giáo Phạm Toàn cho biết các thành viên của nhóm gặp nhau ở tâm huyết, lý tưởng dành cho nền giáo dục nước nhà, chứ không theo một tổ chức nào. Mọi người đều có công việc riêng để kiếm sống và việc soạn sách chỉ là tình nguyện.

Những nỗ lực của nhóm Cánh Buồm đôi khi cũng gặp phải sự phản kháng từ phía cơ quan chức năng, nhưng có một trường tiểu học đã chấp nhận áp dụng thực nghiệm bộ sách. Chỉ trong một năm, số lượng học sinh lớp 1 xin vào trường đã tăng lên gấp đôi, mặc dù học phí của trường này khá cao so với mặt bằng chung. Nhà giáo Phạm Toàn cho biết nhóm không có ý định ‘chạy chọt’ hay ‘vận động’ cho việc sử dụng sách rộng rãi, mà nhóm dành quyền lựa chọn đó cho chính người dân Việt Nam.

Thực trạng của nền giáo dục Việt Nam lâu nay vẫn bị xã hội lên án vì những bất cập, lạc hậu, giáo điều và thiếu thực tế. Rất nhiều sáng kiến, cải cách đã được đưa ra những không cải thiện được tình trạng này nên nhiều người dân Việt Nam đã gọi đùa những ‘cải tiến’ là ‘cải lùi’.

Nhà giáo Phạm Toàn nhận xét.

“Chúng tôi chỉ cần làm đúng đã, chúng tôi không cầu cạnh để thắng lợi vì chạy vạy, lobby này khác thì có thể có lợi nhưng về lâu về dài thì không có lợi. Chúng tôi cứ để thế này cho xã hội chọn lọc. Nếu Bộ Giáo dục chưa thừa nhận thì họ cũng phải cảnh giác khi họ làm những sản phẩm mới. Họ phải làm thế nào để họ không thua. Chứ còn [chúng tôi] không lobby, dứt khoát không lobby!”.

Với hơn 10 năm làm việc nghiêm túc, nhóm đã hoàn thành bộ Sách giáo khoa tiểu học và cho ra mắt bộ sách này hôm 12/8. Bộ sách có sự tham gia của nhiều soạn giả nổi tiếng và được thông qua một ban duyệt bản thảo gồm nhiều nhà nghiên cứu, giáo sư, tiến sĩ. Nhóm đang bắt tay thực hiện bộ sách dành cho lớp 6 trở lên, ngoài hai cuốn Tiếng Việt và Văn lớp 6 còn có hai cuốn Tự học Tiếng Việt và Tự học Văn. Đặc điểm của sách giáo khoa của nhóm Cánh Buồm là có thể sử dụng sách trong lớp học với giáo viên hoặc dành cho học sinh tự học.

httpv://www.youtube.com/watch?v=Jwq9TBYXIYc

“Bộ trưởng Giáo dục tương lai” bức xúc

Một phần ba doanh nghiệp ở Việt Nam hối lộ khi trả thuế

Một phần ba doanh nghiệp ở Việt Nam hối lộ khi trả thuế

Kết quả khảo sát cho thấy 40% doanh nghiệp tin rằng họ sẽ bị làm khó dễ nếu không hối lộ, hay còn gọi là 'trả chi phí không chính thức' cho cán bộ thuế.

Kết quả khảo sát cho thấy 40% doanh nghiệp tin rằng họ sẽ bị làm khó dễ nếu không hối lộ, hay còn gọi là ‘trả chi phí không chính thức’ cho cán bộ thuế.

13.08.2015

Kết quả khảo sát do Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) thực hiện cho thấy 32% trong số 2.542 doanh nghiệp có đăng ký cho biết họ đã hối lộ cho nhân viên thuế vụ.

Bản tin của tờ Channel News Asia ở Singapore trích dẫn kết quả cuộc khảo sát đầu tiên thuộc loại này của VCCI cho biết 40% doanh nghiệp tin rằng họ sẽ bị làm khó dễ nếu không hối lộ, hay còn gọi là “trả chi phí không chính thức” cho cán bộ thuế.

Tại cuộc họp báo hôm thứ ba tại Hà Nội, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế của VCCI nói “Đa số doanh nghiệp cho biết phiền hà lớn nhất mà họ gặp phải là các biểu mẫu hay thay đổi.

Thứ hai là cán bộ thuế yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các thông tin, giấy tờ không cần thiết.

Riêng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho biết thời gian giải quyết thủ tục thuế quá dài, không được cán bộ thuế hướng dẫn đầy đủ, tận tình thủ tục thuế.”

“Cần xây dựng con người chứ không phải tượng đài”

“Cần xây dựng con người chứ không phải tượng đài”

Hoà Ái, phóng viên RFA
2015-08-12

08122015-need-to-build-real-idol-no-statue.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

32 mẫu phác thảo tượng đài Hồ Chí Minh được trưng bày từ năm 2013 tại UBND TPHCM

32 mẫu phác thảo tượng đài Hồ Chí Minh được trưng bày từ năm 2013 tại UBND TPHCM

Báo NLD

Trong xu thế khắp các tỉnh, thành cả nước VN, chính quyền địa phương đua nhau xây tượng đài và mới đấy nhất dự án tượng đài Bác Hồ 1400 tỷ ở tỉnh Sơn La vừa được thông qua gây nên làn sóng phản đối mạnh mẽ trong công chúng. Tìm hiểu về góc độ văn hóa, liệu rằng việc xây dựng tượng đài trong bối cảnh hiện tại có còn phù hợp?

Hòa Ái có cuộc trao đổi ngắn với Giáo sư Trần Ngọc Thêm, Giám đốc Trung tâm Văn hóa Lý luận và Ứng dụng thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. HCM, xoay quanh vấn đề vừa nêu. Mời quý thính gải cùng nghe.

Hòa Ái: Xin chào Giáo sư Trần Ngọc Thêm. Thưa Giáo sư, trước hết, câu hỏi của Hòa Ái về nét văn hóa đúc tượng, xây tượng đài của người Việt bắt đầu xuất hiện từ khi nào trong lịch sử VN?

Giáo sư Trần Ngọc Thêm: Nền văn hóa VN, theo như cách định danh và phân loại của tôi thì thuộc loại nền văn hóa âm tính. Khu vực ĐNA là khu vực trồng lúa nước nên văn hóa rất âm tính, thiên về tinh thần hơn thiên về vật chất, thiên về văn hóa nghe, nói hơn là văn hóa nhìn. Vì vậy, trong lịch sử VN văn chương rất phát triển còn hội họa thì ngược lại. Đối với phương Tây thì hội họa, tượng đài, kiến trúc rất phát triển. Ở VN thì tượng đài rất gần đây thôi, đặc biệt từ khi người Pháp đến thì mới bắt đầu có xây dựng một số tượng đài chổ này, chổ kia, chổ khác. Thời kỳ xã hội chủ nghĩa thì ảnh hưởng theo Liên Xô cũng có thêm một số tượng đài nữa. Và trong giai đoạn cuối, giai đoạn sau của thời kỳ đổi mới thì việc xây dựng tượng đài bắt đầu ồ ạt. Văn hóa VN có một đặc điểm khác, tức là tính cộng đồng, rất hay theo nhau, thấy chổ này làm điều gì hay thì chổ khác làm theo. Trong lịch sử VN có rất nhiều những phong trào như vậy. Giai đoạn hiện nay khi phong trào phần nhiều phát triển tới mức độ cao thì lại chuyển sang làm hỏng, tiêu cực.

” Việc đồng thời xây dựng kinh tế thì xây dựng văn hóa, xây dựng cái này cái khác là cần thiết. Tất nhiên tượng đài cũng cần nhưng có mức độ thôi, nghĩa là quy hoạch như thế nào chứ không phải xây dựng tràn lan. Hiện nay có vẻ như tràn lan rồi. Số lượng quá nhiều

Giáo sư Trần Ngọc Thêm”

Hòa Ái: Theo như nhận xét của Giáo sư là do phong trào xây tượng đài hiện đang phát triển với mức độ cao đã gây ra chiều hướng tiêu cực. Có phải vì tính chất tiêu cực ngày mỗi một trầm trọng hơn đến nỗi cả đề án xây dựng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Sơn La và thêm 14 tượng đài nữa ở các địa phương khác cho đến năm 2030 cũng bị dư luận trong nước phản đối?

Giáo sư Trần Ngọc Thêm: Tượng đài chỉ đơn thuần là một hình tượng thôi. Và đối với đại đa số người VN thì Bác Hồ là một hình tượng như vậy. Chúng ta có thể nhớ lại ở ngay miền Nam trong hoàn cảnh còn đang chiến tranh ở những vùng của chính quyền VNCH quản lý, trong những vùng của người Mỹ thì sau khi Bác Hồ mất nhiều nơi người ta tự giác, tự nguyện làm những đề thờ Bác Hồ và người ta hy sinh xương máu để bảo vệ những đền thờ này. Đây là một ví dụ để cho thấy thôi. Như vậy, hiện nay trong số các tượng đài thì hình tượng Bác Hồ có không phải là ít. Vả lại xây dựng tượng đài không nhất thiết quy mô phải thật to, phải cao bao nhiêu mét, nặng bao nhiêu tấn…thì mới là tượng đài. Tượng đài có thể to, có thể nhỏ nhưng căn bản phải phù hợp với không gian, phải có hình tượng độc đáo, hình tượng đẹp với mức kinh phí hạn chế hơn nhưng vẫn có thể đạt được hiệu quả.

Tượng đài Hồ Chí Minh được làm bằng hợp kim đồng có chiều cao là 7,2 m được đặt trước mặt UBND TPHCM.

Tượng đài Hồ Chí Minh được làm bằng hợp kim đồng có chiều cao là 7,2 m được đặt trước mặt UBND TPHCM (Kiến Thức)

Hòa Ái: Nhiều ý kiến của dân chúng cho rằng VN đang trong bối cảnh gánh nặng nợ công, nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn, đời sống an sinh xã hội của người dân còn ở mức thấp…Cho nên Nhà nước không cần thiết xây dựng dựng các tượng đài như hiện nay. Xét về góc độ văn hóa, ý kiến của Giáo sư như thế nào?

Giáo sư Trần Ngọc Thêm: Tôi nghĩ không hẳn hoàn toàn như vậy. Là thế này, cùng với việc xây dựng kinh tế thì văn hóa cũng phải được phát triển và văn hóa có nhiều khía cạnh. Văn hóa là nền tảng, mục tiêu của kinh tế. Bởi vì làm kinh tế cuối cùng để nâng hạnh phúc đời sống cho con người. Thế thì đời sống tinh thần cũng được xây dựng chứ không phải cứ còn khó khăn thì cứ tập trung lo xong kinh tế, mọi thứ khác cứ để đó thì không phải. Cho nên việc đồng thời xây dựng kinh tế thì xây dựng văn hóa, xây dựng cái này cái khác là cần thiết. Tất nhiên tượng đài cũng cần nhưng có mức độ thôi, nghĩa là quy hoạch như thế nào chứ không phải xây dựng tràn lan. Hiện nay có vẻ như tràn lan rồi. Số lượng quá nhiều. Hơn nữa vì không có văn hóa xây dựng tượng đài cho nên cũng không có kinh nghiệm về mọi mặt, từ thiết kế ý tưởng, xây dựng biểu tượng cho đến kỷ thuật…Cho nên trong thời gian qua, nhiều tượng đài sau khi xây xong bộc lộ rất nhiều khiếm khuyết. Vì vậy, tôi cho rằng cần phải hạn chế, cần phải có chừng mực hơn, có kế hoạch hơn chứ như hiện nay là quá nhiều và như vậy không phải là tốt. Và tôi cho rằng sự phản ứng của dân chúng là có lý.

” Trong xây dựng văn hóa thì tôi cho rằng đầu tiên phải xây dựng con người chứ không phải tượng đài

Giáo sư Trần Ngọc Thêm”

Hòa Ái: Hòa Ái cũng ghi nhận nguyện vọng của phần lớn dân chúng mong rằng Chính phủ phải quan tâm nhiều hơn nữa và tập trung cải thiện đời sống an dân thì hiển nhiên trong lòng họ sẽ luôn sừng sững những tượng đài các vị lãnh đạo vì nước thương dân chứ không cần phải có những tượng đài hoành tráng như hiện nay. Giáo sư nghĩ sao về quan điểm này?

Giáo sư Trần Ngọc Thêm: Điều đó thì đúng bởi vì mọi thứ tượng đài nào cũng không vững chắc cho bằng tượng đài trong lòng của người dân. Khi người dân có niềm tin, người ta yêu quý thì đã là có tượng đài rồi.

Hòa Ái: Giáo sư có chia sẻ rằng song song với việc xây dựng kinh tế thì cũng phải phát triển văn hóa. Trong giai đoạn hiện tại theo Giáo sư, VN cần chú trọng phát triển văn hóa như thế nào?

Giáo sư Trần Ngọc Thêm: Trong xây dựng văn hóa thì tôi cho rằng đầu tiên phải xây dựng con người chứ không phải tượng đài. Con người hiện nay có rất nhiều những mặt xấu của văn hóa truyền thống trong môi trường mới là môi trường đô thị, môi trường công nghiệp trong hòan cảnh toàn cầu hóa, kinh tế thị trường như thế này, có nhiều thói hư tật xấu bộc lộ ra. Cần phải tập trung vào xây dựng điều đó, phải có những con người hoàn thiện để đáp ứng những yêu cầu của giai đoạn toàn cầu hóa, hiện đại hóa, công nghiệp hóa và đô thị hóa thì mới có thể làm tất cả mọi việc khác được.

Hòa Ái: Chân thành cảm ơn thời gian của Giáo sư dành cho đài ACTD.

Cô bé 14 tuổi đi tìm công lý cho ba mẹ và anh trai

Cô bé 14 tuổi đi tìm công lý cho ba mẹ và anh trai

Sự việc liên quan tới gia đình em Nguyễn Mai Thảo Vy (ngoài cùng bên trái) rộ lên hồi tháng Tư vừa qua trong vụ phản kháng cưỡng chế đất đai ở huyện Thạnh Hóa, Long An.

Sự việc liên quan tới gia đình em Nguyễn Mai Thảo Vy (ngoài cùng bên trái) rộ lên hồi tháng Tư vừa qua trong vụ phản kháng cưỡng chế đất đai ở huyện Thạnh Hóa, Long An.

 

VOA Tiếng Việt

12.08.2015

Một bé gái mất nhà, có cả cha mẹ và anh trai rơi vào vòng lao lý vì chống lại lực lượng thu hồi đất mà em cho là bất công, nói em chỉ mong trở lại cuộc sống bình thường và đang làm tất cả những gì có thể để gia đình được đoàn tụ.

Sự việc liên quan tới gia đình em Nguyễn Mai Thảo Vy rộ lên hồi tháng Tư vừa qua trong vụ phản kháng cưỡng chế đất đai ở huyện Thạnh Hóa, Long An.

Hơn một chục người bị bắt, trong đó có ba mẹ của em Vy, và 4 tháng sau, mới đây, ngày 6/8, anh trai của em là Nguyễn Mai Trung Tuấn, 15 tuổi, đã bị bắt theo “lệnh truy nã”.

Vy kể với VOA Việt Ngữ: “Con cảm thấy mình giống như là bước vào con đường cùng không có lối thoát. Con tưởng cuộc đời con chấm hết rồi. Không còn cha mẹ, không còn nhà cửa. Tinh thần của con rất là suy sụp”.

Vy cho biết đã tận mắt xem “thông báo về việc bắt người đang bị truy nã” đối với anh trai mình, do công an Huyện Thạnh Hóa – tỉnh Long An ban hành, nhưng em nói trước đó, gia đình “không nhận được lệnh truy nã nào”.

Theo thông báo trên, học sinh Nguyễn Mai Trung Tuấn bị bắt “vì đã có hành vi cố ý gây thương tích, phạm vào điều 104 Bộ Luật hình sự”.

Trên mạng xã hội nhiều người lên tiếng phản đối việc truy tố và bắt giam một người dưới tuổi vị thành niên như em Tuấn.

Tuy nhiên, theo luật sư Lê Thị Công Nhân, việc bắt giữ và truy tố đối với những người ít tuổi thì luật Việt Nam có quy định tương đối rõ ràng.

Bà nói: “Luật Việt Nam quy định trường hợp ít tuổi nhất mà bị bắt giữ theo luật hình sự là 14 tuổi, là tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng chỉ đối với các tội nằm trong các nhóm rất nghiêm trọng cho tới đặc biệt nghiêm trọng. Nhưng mức độ nguy hiểm và mức độ nghiêm trọng của tội không phải là yếu tố duy nhất để cơ quan thẩm quyền người ta ra quyết định bắt giữ mà người ta còn dựa vào các yếu tố khác như nhân thân của các nghi can; thái độ, tâm tính của nghi can đó; nơi ở của nghi can, nghi can ở với gia đình có nhân thân tốt hay là nghi can ở trong môi trường cũng có khả năng nguy hiểm, tiếp tục phạm tội nào đó và có thể bỏ trốn. Họ xét nhiều khía cạnh như vậy. Nếu mà nhân viên công vụ người ta làm việc khách quan, người ta phải xem xét rất là kỹ những yếu tố đó để đưa ra một quyết định bắt giữ nghi can tuổi vị thành niên”.

Em Tuấn là con trai đầu của bà Mai Thị Kim Hương và ông Nguyễn Trung Can ở tỉnh Long An.

Kháng cự

Hồi giữa tháng Tư vừa qua, cặp vợ chồng này cùng với khoảng 10 người thuộc hai hộ dân khác đã bị bắt sau khi sử dụng acid và bom xăng để kháng cự lực lượng cưỡng chế đất.

Tranh chấp bùng lên vì dự án giải phóng mặt bằng để xây dựng bờ kè ở thị trấn Thạnh Hóa. Em Nguyễn Mai Thảo Vy  cho biết chính quyền “có đền bù nhưng không phù hợp với cá giá mà cha mẹ con mua”.

Em Nguyễn Mai Trung Tuấn phản đối việc bắt giữ cha mẹ.

Em Nguyễn Mai Trung Tuấn phản đối việc bắt giữ cha mẹ.

Trong thông báo về việc “bắt người đang bị truy nã”, công an huyện Thạnh Hóa không nói rõ “hành vi cố ý gây thương tích” của em Tuấn là gì. VOA tiếng Việt không thể liên hệ phỏng vấn với công an huyện Thạnh Hóa.

Luật sư Lê Thị Công Nhân nói về tội này: “Tội cố ý gây thương tích là một tội tương đối là phức tạp bởi vì nó liên quan tới việc giám định tỷ lệ thương tật của bị hại, của nạn nhân. Nó chia ra làm nhiều mức độ. Nhưng tỷ lệ thương tật đó nó chỉ là một phần để đi tới quyết định là hành vi phạm tội có phải là nghiêm trọng hay không bởi vì nó liên quan tới hành vi phạm tội được thực hiện như thế nào, với một thái độ cố ý đến cùng, với một sự tổ chức, với một sự xảo quyệt, với một sự tàn độc, hoặc với một động cơ đê tiện… Nó có rất nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ cố ý gây thương tích thì cứ mặc định nó là tội rất nghiêm trọng”.

Điều 104 Bộ luật hình sự có 4 khung hình phạt từ 6 tháng tù giam tới 20 năm tù hoặc tù chung thân. Tin cho hay, cha mẹ của em Tuấn cũng bị truy tố về tội “cố ý gây thương tích”, nhưng không rõ là theo điều nào.

Giờ con chỉ mong muốn nho nhỏ thôi là nhà cầm quyền cộng sản thả cha mẹ con và anh hai con ra rồi trả tất cả nhà lại cho gia đình con sống bình thường.

Em Nguyễn Mai Thảo Vy nói.

Dù giờ phải sống nương nhờ vào người dì, em Vy nói rằng còn nhiều người ở khắp Việt Nam “còn tội hơn gia đình con gấp trăm lần” vì “bị mất đất, mất nhà và bị cướp quyền làm người”.

Em nói tiếp: “Giờ con chỉ mong muốn nho nhỏ thôi là nhà cầm quyền cộng sản thả cha mẹ con và anh hai con ra rồi trả tất cả nhà lại cho gia đình con sống bình thường. Con chỉ mong luật pháp của Việt Nam đừng có làm trái luật mà quốc tế quy định. Nó đừng có xâm phạm nhân quyền nữa. Hàng ngày con lên Facebook con tố cáo tội ác mà Đảng Cộng sản đã cướp của gia đình con để cho Đảng Cộng sản Việt Nam mau sám hối”.

Thu hồi đất đai ở Việt Nam đã gây ra nhiều vụ đối đầu nghiêm trọng giữa người dân và lực lượng cưỡng chế.

Trước vụ liên quan tới gia đình em Vy và Tuấn, gia đình nông dân Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng dùng mìn tự thế và súng để chống lại lực lượng cưỡng chế năm 2012.

Vụ việc khiến nhiều người bị thương cũng như đẩy nhiều thành viên trong gia đình người nông dân này vào cảnh tù tội.

Phó Chánh án Tòa án tối cao Hoa Kỳ thăm Việt Nam

Phó Chánh án Tòa án tối cao Hoa Kỳ thăm Việt Nam

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok

RFA

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Thẩm phán Toà án tối cao Hoa kỳ Ruth Bader Ginsburg

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Thẩm phán Toà án tối cao Hoa kỳ Ruth Bader Ginsburg

Photo Nhat Bac/chinhphu.vn

Phó chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, bà Ruth Bader Ginsburg, hôm nay kết thúc chuyến làm việc chính thức tại Hà Nội.

Thông cáo báo chí của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội cho biết trong chuyến thăm và làm việc tại thủ đô Hà Nội, phó chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kỳ Ruth Bader Ginburg gặp thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng thảo luận về pháp quyền.

Bà Ruth Bader Ginburg còn có các cuộc gặp với phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn thị Kim Ngân, chánh án Trương Hòa Bình, người đứng đầu Hội đồng Thẩm phán của Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam mới được bổ nhiệm vào tháng 7 vừa qua.

Tại các cuộc gặp phó chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kỳ thảo luận với các cơ quan chức năng Việt Nam về cải cách luật pháp, trình bày về Hệ thống Tòa án của Hoa Kỳ cũng như Tòa án Tối cao nước Mỹ.

Ngoài ra khi có mặt tại Hà Nội, bà phó chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kỳ còn gặp gỡ, trao đổi với những thành viên của Chương trình Sáng kiến Thủ Lĩnh Trẻ Đông Nam Á, các sinh viên luật, các học giả về pháp quyền và truyền thông trong nước Việt Nam.

Luật sư Nguyễn Văn Đài, một cựu tù nhân chính trị tại Việt Nam, cho rằng hợp tác cải cách tư pháp như các hoạt động lâu nay giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ không có hiệu quả nếu không có cải cách về hệ thống chính trị tại Việt Nam:

“ Muốn cải cách hệ thống luật pháp thì trước hết phải cải cách hệ thống chính trị, vì hệ thống chính trị sinh ra luật pháp. Nếu hệ thống chính trị mà duy trì hệ thống toàn trị, độc đảng như Việt Nam thì cho dù các văn bản luật pháp từ Hiến pháp cho đến các đạo luật được viết hay như thế nào chăng nữa thì trong thực tế không được thi hành một cách triệt để. Một ví dụ điển hình là tất cả các quyền con người đều được ghi nhận trong hiến pháp Việt Nam và kể cả các chuyên gia pháp lý trên thế giới cũng đánh giá rất cao những quyển con người được ghi trong đó. Thế nhưng trên thực tế từ năm 1946 đến nay, trải qua 4-5 lần sửa đổi hiến pháp rồi mà quyền con người ở Việt Nam vẫn chưa được thực hiện, chưa được tôn trọng.

Quan điểm của tôi là dù chính phủ Hoa Kỳ hay bất kỳ chính phủ và tổ chức quốc tế nào muốn giúp Việt Nam thì điều đầu tiên là cần khuyến cáo chính quyền Việt Nam sửa chữa hay khắc phục hệ thống chính trị, tôn trọng quyền tự do- dân chủ cho dân trước; tức tôn trọng thể chế chính trị đa đảng. Có thế thì khi những luật pháp được viết ra mới có giá trị trong thực tiễn. Còn nếu không cho dù viết hay đến đâu nó vẫn không có giá trị trong thực tiễn đâu.”

Xin được nhắc lại chuyến thăm của phó chánh án Tóa án Tối cao Hoa Kỳ Ruth Bader Ginburg được Chương trình Diễn giả của Bộ Ngoại giao Mỹ tổ chức. Hoạt động này nằm trong khuôn khổ những cố gắng thúc đẩy quan hệ Đối tác Toàn diện Việt- Mỹ được ký kết vào tháng 7 năm 2013.

Năm nay Hoa Kỳ và Việt Nam cũng tiến hành nhiều hoạt động để kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa đôi bên.

Bà phó chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kỳ sau khi kết thúc làm việc tại Hà Nội còn vào Sài Gòn tiếp tục chuyến thăm 5 ngày tại Việt Nam.

Đảng lên gân: không đa nguyên chính trị

Đảng lên gân: không đa nguyên chính trị

Nam Nguyên, RFA
2015-08-11

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cảnh báo về các thông tin đa nguyên đa đảng Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

nguyenphutrong-600.jpg

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Đại hội lần thứ 10 Hội Nhà báo Việt Nam ở Hà Nội hôm 9/8/2015.

Courtesy of CPV online newspaper

Tại Đại hội lần thứ 10 Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức ở Hà Nội, hôm 9/8/2015 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo truyền thông báo chí nhà nước cần tỉnh táo trước thông tin lợi dụng dân chủ đòi đa nguyên đa đảng, lợi dụng chống tham nhũng để bôi xấu chế độ và chia rẽ nội bộ. Câu hỏi đặt ra là Việt Nam sẽ cải cách bằng cách nào khi tiếp tục không chấp nhận đa nguyên chính trị?

Phát biểu của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng được đưa ra ít ngày, sau khi ông Ted Osius Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội xác định Mỹ không tìm cách thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam. Đại sứ Ted Osius đã tuyên bố như vừa nêu trong cuộc họp báo vào cuối tháng 7 ở Hà Nội.

Theo lời ông Đại sứ, Chính sách của Mỹ là tôn trọng sự khác biệt trong hệ thống chính trị của các quốc gia khác. Cách  duy nhất  để có thể tăng cường lòng tin giữa hai nước là phải nói rõ sự tôn trọng của Hoa Kỳ đối với một hệ thống chính trị khác biệt.

Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi, TS Phạm Chí Dũng chủ tịch Hội Nhà báo độc lập một tổ chức nằm ngoài sự quản lý của chính quyền, nhận định:

“Điều đó lên giây cót cho chế độ chính trị ở Việt Nam và như vậy họ có thể đương nhiên nghĩ rằng, Mỹ chấp nhận triết lý chính trị của họ. Điều đó cũng lên giây cót cho ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, khẳng định lại không thể có đa nguyên đa đảng ở Việt Nam. Tôi cũng nghe những thông tin chuẩn bị cho Đại hội 12 là trong Đại hội 12 sẽ không diễn ra sự thay đổi lớn về triết lý chính trị. Đây là khái niệm mới được Hoa Kỳ cùng Việt Nam đưa ra và Việt Nam rất thích… Tôi hiểu là tất nhiên họ vẫn không chấp nhận đa nguyên đa đảng.”

Theo TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển IDS, tổ chức tư nhân duy nhất về nghiên cứu chính sách ở Việt Nam nhưng đã giải thể sau đó vì bị mất tính độc lập, thì nguyên nhân của tình trạng bê bết vì tham nhũng, kinh tế ách tắc là vì nhà nước không chấp nhận đa nguyên chính trị.

Trong dịp trả lời chúng tôi trước đây, TS Nguyễn Quang A nhận định:

“Do chuyện chỉ có độc đảng, không có cạnh tranh chính trị không có một thế lực độc lập lành mạnh nó luôn luôn canh chừng để vạch ra những việc làm bậy bạ của những người đương chức và nó luôn kè kè là đến cuộc bầu cử tới mà các ông làm bậy, thì dân bằng lá phiếu của mình sẽ đẩy các ông xuống và chúng tôi sẽ lên. Đây là một cơ chế hùng mạnh vô cùng, để buộc người ta bớt tham nhũng đi. Khi buộc người ta bớt tham nhũng đi thì các chính sách mới thực sự thúc đẩy nền kinh tế thị trường…”

Cái cách chính trị: chuyện viễn vông

Sự kiện Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kêu gọi báo chí cảnh giác trước luồng thông tin đòi đa nguyên đa đảng, thật ra không có gì mới vì đây là lập trường cố hữu của ông và của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Điều ngạc nhiên là vì qua chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng tới Hoa Kỳ vào đầu tháng 7 vừa qua, dư luận cho rằng Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã xích lại gần với Hoa Kỳ hơn và điều này sẽ tiến tới chấp nhận những cải cách về dân chủ nhân quyền.

Việt Nam sau hơn hai thập niên đổi mới đang bị tắc trong điều gọi là bẫy thu nhập trung bình, nền kinh tế khựng lại và không còn động lực phát triển. Trong câu chuyện với chúng tôi, TS Phạm Chí Dũng đồng thuận với những ý kiến cho rằng không thể thay đổi định chế kinh tế nếu nó không xuất phát từ sự thay đổi hệ thống chính trị. Ông nói:

“Một dẫn chứng gần gũi nhất là vừa rồi Việt Nam cùng với Liên minh Châu Âu đạt được sự thống nhất về Hiệp định thương mại tự do nhưng chỉ trên nguyên tắc mà thôi, chứ không phải là một sự ký kết thực chất và đi vào triển khai cụ thể như là phía Việt Nam mong muốn.

Vì sao lại như vậy, ít nhất có một lý do là Việt Nam chưa bảo đảm được sự thực thi hoàn chỉnh được một nền kinh tế thị trường đầy đủ như là các nước khối Tây Âu và người Mỹ họ yêu cầu.

Muốn thực thi được điều đó, có được khái niệm nền kinh tế thị trường đầy đủ thì thứ nhất phải bảo đảm được tính minh bạch. Việt Nam quá thiếu minh bạch, luôn luôn đứng gần chót bảng xếp hạng của Tổ chức minh bạch thế giới.

Thứ hai là luôn luôn ưu tiên cho các khối tập đoàn doanh nghiệp kinh tế lớn của nhà nước và gần như có sự cạnh tranh bất bình đẳng sâu xa và sâu sắc đối với khối doanh nghiệp tư nhân…

Tôi chỉ đặt ra dẫn chứng như thế để chúng ta thấy là không thay đổi những bản chất gốc rễ về thể chế kinh tế, thì sẽ không thể phát triển nền kinh tế và tất nhiên sẽ càng làm cho nền kinh tế Việt Nam bế tắc mà nền kinh tế hiện nay vốn đang đủ thứ bế tắc.”

Trong khoảng thời gian trước chuyến đi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Hoa Kỳ, hệ thống tuyên giáo Trung ương Đảng cũng liên tục cảnh báo về diễn biến hòa bình, về điều gọi là tự diễn biến tự chuyển hóa.

Ngay lúc đó nhiều nhà phân tích đã cho rằng, thật là viễn mơ khi trông đợi Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận cải cách chính trị quan trọng, chỉ sau một chuyến đi dù là lần đầu tiên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Hoa Kỳ.

Sự quyến rũ từ các Hiệp định thương mại tự do như với Liên minh Châu Âu EU, hoặc Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP với Hoa Kỳ và các đối tác khác luôn gây sự trăn trở cho Đảng và nhà nước Việt Nam. Nhưng làm thế nào để cải cách chính trị, thực hiện dân chủ nhân quyền mà vẫn giữ được vị thế độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là câu hỏi khó có câu trả lời hoàn hảo.

Nước… không chịu phát triển!

Nước… không chịu phát triển!

FB Nhân Thế Hoàng

Trên thế giới người ta chia ra các mô hình kinh tế như nước phát triển, nước đang phát triển và nước chậm phát triển để đánh giá vị thế của các nước đó so với phần còn lại của thế giới.

Anh Việt Nam không chơi với 3 mô hình trên mà nằm vào mô hình thứ tư, mô hình kỳ lạ và độc nhất vô nhị trên thế giới, đó là “nước…không chịu phát triển”. Gọi không chịu phát triển là vì trong 20 năm qua từ khi gia nhập Asean, Việt Nam nhận từ ODA hơn 90 tỷ đô, rồi tiền kiều hối xấp xỉ cả chục tỷ đô mỗi năm, ngoại tệ từ xuất khẩu tài nguyên khoáng sản..vv…nhưng Việt Nam vẫn nằm trong top lạc hậu nhất Asean, xếp chung với Lào, Cam, Myanma.

Nguyên nhân chính được đưa ra cho tình trạng “không chịu phát triển” này là do tham nhũng, theo điều tra thì để kiếm 1 đồng lợi nhuận, doanh nghiệp cần phải bỏ 1,02 đồng tiền bôi trơn. Hiểu nôm na là bạn còng lưng thức khuya, dậy sớm để nấu tô bún bán chẳng hạn, bạn muốn lời 5000 đồng/1 tô thì bạn phải nộp hơn 5000 đồng cho cha dân phòng nằm vắt dái ngủ khì không làm gì cả, nó chỉ có cái quyền duy nhất là quản lý cái vỉa hè bạn đang bán bún mà thôi.

Bà Phạm Chi Lan-chuyên gia kinh tế nêu rõ: “không chỉ xếp hạng về môi trường kinh doanh mà xếp hạng về thể chế của Việt Nam hiện nay cũng khá thấp. Đặc biệt, trong xếp hạng về thể chế thì Việt Nam xếp ở mức rất kém trong các chỉ số về chi phí ngoài pháp luật, chi phí “bôi trơn” so với nhiều nước khác.”

Tức là nếu cải thiện thể chế để bài trừ tham những thì lợi nhuận của doanh nghiệp có thể tăng lên hơn 100%. Từ lợi nhuận tăng thêm đó doanh nghiệp mới tái đầu tư, mở rộng quy mô, góp phần vào sự phát triển kinh tế; chứ đằng này, làm vả mồ hôi dái mà lợi nhuận phải chia phần hơn cho thằng chuyên hoạch hoẹ mình, làm cho chó ăn thì làm làm gì cho nó nhọc thân.

Đây cũng là lý do mà quy mô doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhỏ, so với 10 năm trước đây thì quy mô của doanh nghiệp Việt Nam hiện tại đã giảm chỉ còn một nữa. Đó, làm kinh tế kiểu ngược đời như vậy thì bảo sao Việt Nam không mãi nghèo nàn, lạc hậu, ăn rồi xách cái bát lân lê các nước để ăn xin cho được.

Bởi ta nói “thiên tai do bởi thiên tài đảng ta” là nó chính xác gì đâu luôn á, không cãi được.

____

KHÔNG CHỊU PHÁT TRIỂN

Võ Xuân Sơn

10-08-2015

Không biết các chuyên gia của IMF nói đùa hay thật, nhưng những gì ở Việt nam cho thấy họ nói đúng.

Cách đây vài ngày Singapore tổ chức kỉ niệm 50 năm thành lập nước. Sau 50 năm, từ một vùng đất hoang sơ, Sing gapore đã hoàn toàn vươn lên chiếu trên, kể cả trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Việt nam, một đất nước có dân số gấp nhiều lần, tài nguyên thiên nhiên phong phú, truyền thống lâu đời… mọi xuất phát điểm đều hơn hẳn Singapore. Sau 40 năm thống nhất đất nước, chúng ta có cái gì? Chúng ta được xếp ở đâu so với Singapore?

Như vậy thì câu nói không chịu phát triển đâu có sai.

Nhưng mà sai. Người dân Việt nam, doanh nghiệp Việt nam đâu có không muốn phát triển. Muốn lắm chứ. Ai mà không muốn dân giàu nước mạnh, Họa có điên mới không muốn, mà dân Việt nam đâu có điên hết cả lũ đâu.

Nhưng mà có đấy. Có những kẻ chỉ muốn giàu lên nhanh chóng, giàu bằng ăn cắp, giàu bằng cách làm nghèo đất nước. Để có 1 đồng lợi nhuận, người dân phải chi cho chúng 1,02 đồng để “bôi trơn”, và doanh nghiệp chúng ta cứ thế mà bị “li ti” hóa, co dần, teo tóp dần, chết dần chết mòn.

Chúng tôi, người dân Việt nam, đâu có ai muốn cái mô hình “đặc biệt nhất thế giới”, mô hình không chịu phát triển. Nhưng họ, những kẻ không muốn đất nước này phát triển, những kẻ chỉ muốn trục lợi cá nhân, làm giàu cho cá nhân mình, cho gia đình mình bằng cách ăn cắp tiền của dân, đục khoét ngân sách, vắt cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, làm mất khả năng phát triển của cả nền kinh tế nước nhà, chỉ có những kẻ đó là muốn duy trì cái mô hình quái gở như vậy mà thôi.

Tham nhũng và cái mô hình duy trì tham nhũng chính là sức cản để đưa Việt nam đi lên, nó chính là phản động lực, chống lại sự phát triển, sự đi lên của dân tộc Việt nam, của đất nước Việt nam.

Ông Phùng Quang Thanh tiếp Tướng Trung Quốc

Ông Phùng Quang Thanh tiếp Tướng Trung Quốc

Ông Phùng Quang Thanh tươi cười nắm chặt tay Phó Tổng Tham mưu trưởng Trung Quốc, Thượng tướng Tôn Kiến Quốc.

Ông Phùng Quang Thanh tươi cười nắm chặt tay Phó Tổng Tham mưu trưởng Trung Quốc, Thượng tướng Tôn Kiến Quốc.

VOA Tiếng Việt

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh hôm qua, 10/8, đã nắm chặt tay Phó Tổng Tham mưu trưởng Trung Quốc, Thượng tướng Tôn Kiến Quốc, sau khi quan chức hai nước tiến hành cuộc đối thoại chiến lược về quốc phòng.

Ông Tôn là quan chức nước ngoài đầu tiên được cho là gặp mặt ông Thanh, sau khi nhà lãnh đạo quân sự của Việt Nam trở về nước sau khi chữa bệnh ở Pháp giữa ‘cơn bão’ tin đồn.

Các bức ảnh đăng tải trên truyền thông trong nước cho thấy ông Thanh tươi cười đón tiếp Phó Tổng tham mưu trưởng Trung Quốc, và thay vì bắt tay theo kiểu thường thấy, hai bàn tay của ông Thanh và ông Tôn siết chặt lấy nhau, thu hút nhiều bình luận trên các trang mạng ở hải ngoại về mức độ thân thiết của đôi bên.

Trước đó, trong cuộc đối thoại chiến lược quốc phòng lần thứ năm giữa hai nước, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, được trích lời nói rằng cuộc họp “nhằm tạo sự tin cậy chiến lược, thu hẹp bất đồng, phát huy điểm tương đồng, góp phần thúc đẩy quan hệ giữa quân đội và nhân dân hai nước”.

”  Hai anh đu gi miếng vi nhau và hai anh đu gi trò vi nhau c thôi nên không có gì thc cht c. Mâu thun gia hai bên làm sao mà gii quyết được. Chng qua là trước tình hình thế gii phn ng vi Trung Quc như vy nên Trung Quc h buc phi t ra là h cũng biết điu, h cũng hòa bình, thế n thế kia thôi…”

Chuyên gia v quan h Vit-Trung Dương Danh Dy nói.”

Trong khi đó, Tân Hoa Xã trích lời ông Tôn, trưởng đoàn Trung Quốc, nói tại cuộc đối thoại rằng Bắc Kinh và Hà Nội “nên củng cố tình đoàn kết, mở rộng hợp tác và thúc đẩy quan hệ quân sự song phương”.

Nhận định về các tuyên bố của quan chức hai nước, chuyên gia về quan hệ Việt – Trung Dương Danh Dy nói với VOA Việt Ngữ:

“Hai anh đều giữ miếng với nhau và hai anh đều giở trò với nhau cả thôi nên không có gì thực chất cả. Mâu thuẫn giữa hai bên làm sao mà giải quyết được. Chẳng qua là trước tình hình thế giới phản ứng với Trung Quốc như vậy nên Trung Quốc họ buộc phải tỏ ra là họ cũng biết điều, họ cũng hòa bình, thế nọ thế kia thôi, chứ ý đồ của họ là muốn bá chiếm biển Đông, chiếm hết biển Đông và của các nước có liên quan nữa. Làm sao mà yên ổn được?”

Cuộc đối thoại diễn ra vài ngày sau khi Trung Quốc tuyên bố đã ngừng việc bồi lấp và xây đảo nhân tạo trên biển Đông, sau khi Việt Nam, Philippines và Mỹ đồng loạt bày tỏ quan ngại.

Ngoài mục tiêu thắt chặt quan hệ quốc phòng giữa hai nước, báo chí Việt Nam đưa tin, cuộc họp lần này diễn ra với mục đích “phản bác lại những luận điệu xuyên tạc sai trái của các thế lực thù địch về những vướng mắc trong quan hệ hai nước thời gian qua”.

Tân Hoa Xã cũng dẫn lời Phó Tổng Tham mưu trưởng Tôn Kiến Quốc nói rằng “Trung Quốc sẽ chung tay với Việt Nam để xử lý các khác biệt và tăng cường nỗ lực vì quyền lợi của người dân hai nước cũng như vì hòa bình và ổn định trong khu vực”.

” Phía Vit Nam thì cũng có th có mt s ít người nào đó có o tưởng vi Trung Quc, nhưng cá nhân tôi, tôi thy rng trong chuyn bin Đông, không có o tưởng gì vi Trung Quc c. Trung Quc chiếm đo ca người ta ri nó xây dng căn c quân s, xây dng sân bay thì làm sao hòa bình được?”

Ông Dương Danh Dy nhn xét.”

Về tuyên bố này, cựu quan chức ngoại giao Dương Danh Dy nói:

“Phía Việt Nam thì cũng có thể có một số ít người nào đó có ảo tưởng với Trung Quốc, nhưng cá nhân tôi, tôi thấy rằng trong chuyện biển Đông, không có ảo tưởng gì với Trung Quốc cả. Phía Trung Quốc chiếm đảo của người ta rồi nó xây dựng căn cứ quân sự, xây dựng sân bay thì làm sao hòa bình được?”

Đưa tin về cuộc đối thoại quốc phòng này, báo chí Trung Quốc nhấn mạnh tới những thỏa thuận mà Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã đạt được trong cuộc gặp với Chủ tịch Tập Cận Bình hồi tháng Tư vừa qua, coi đó là “kim chỉ nam” cho bất kỳ các cuộc họp bàn sau này.

Khi ấy, ông Trọng và ông Tập đã “đi sâu trao đổi thẳng thắn và đạt được nhận thức chung quan trọng, sâu rộng” về quan hệ song phương.

Ngoài ra, hai quan chức Việt – Trung cũng chứng kiến nhiều lễ ký kết các thỏa thuận, trong đó có “kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2016-2020” hay việc hợp tác giữa Bộ Quốc phòng hai nước.