Lá thư hai mươi năm và mô hình không muốn phát triển

Lá thư hai mươi năm và mô hình không muốn phát triển

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-08-17

08172015-20y-lett-an-not-will-to-develop-model.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

File photo

Bức thư hai mươi năm trước

Một số báo xuất bản tại Việt nam cho đăng tải bức thư của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi Bộ chính trị đảng cộng sản Việt nam 20 năm trước đây. Trong bức thư này ông Kiệt đề nghị đảng cộng sản nên nhìn nhận tình hình thế giới lúc ấy khác đi với thời chiến tranh lạnh, tức là không theo quan điểm cổ điển của những người cộng sản rằng thế giới này chia thành hai phe tư bản và xã hội chủ nghĩa.

Một nội dung quan trọng khác mà ông Kiệt gửi đến các đồng chí của ông đang nắm giữ quyền lực là không nên duy trì sự ưu đãi cho nền kinh tế phi thị trường.

Tuy nhiên tờ báo không viết thêm về số phận chính trị của ông Kiệt sau khi gửi bức thư này.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh viết trên trang Diễn Đàn của nhóm trí thức tại Pháp về bước ngoặt của cuộc đời ông Kiệt sau bức thư đó. Ông Kiệt đã bị các đồng chí phê phán kịch liệt, đã phải từ chức Thủ tướng. Ngoài ra một số người liên quan đến bức thư, trong đó có nhà bất đồng chính kiến Hà Sĩ Phu bị bắt và kết án trong cái mà ông Lê Đăng Doanh gọi là một làn sóng đàn áp và khủng bố.

Trong bức thư được viết cách nay gần một thế hệ, ông Kiệt còn kêu gọi việc thực thi dân chủ trong đảng của ông cũng như trong xã hội.

Blogger Trần Minh Khôi nhận định về bức thư này:

Nếu những điều ông Kiệt đề nghị trong lá thư gởi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam hai mươi năm trước được thực hiện thì đất nước Việt Nam ngày nay đã tốt đẹp hơn rất nhiều. Và điều tốt đẹp nhất là Đảng Cộng sản đã không còn giữ độc quyền cai trị. Đối với những lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tương lai đất nước chưa bao giờ quan trọng bằng sự tồn vong của Đảng. Điều này đúng hai mươi năm trước và vẫn đúng lúc này.

Nhận xét của Trần Minh Khôi không biết có giống với ý muốn của ông cố Thủ tướng gửi gắm trong bức thư hay không, vì ngoài những điều ông Kiệt đề nghị về sự kỷ luật, về việc dân chủ hóa đảng của ông, người ta không thấy đề cập đến sự thay đổi thể chế chính trị, mà chỉ có chuyện cải cách kinh tế, người ta cũng không thấy ông đề cập đến ý thức hệ Mác Lê nin, mà trong đó vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng cộng sản là điều không thể bàn cãi.

“ Nếu những điều ông Kiệt đề nghị trong lá thư gởi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam hai mươi năm trước được thực hiện thì đất nước Việt Nam ngày nay đã tốt đẹp hơn rất nhiều. Và điều tốt đẹp nhất là Đảng Cộng sản đã không còn giữ độc quyền cai trị

Blogger Trần Minh Khôi”

20 năm sau bức thư của ông Kiệt, giới trí thức Việt nam công khai lên tiếng chỉ trích chủ nghĩa Mác Lê Nin. Một trong những người đó là Giáo sư Nguyễn Đình Cống, ông cho rằng bản chất của chủ nghĩa này là một sự ngụy biện, và nếu đeo đuổi nó, người ta sẽ chịu những hậu quả tai hại:

Một con người sống bằng dối trá và lừa đảo sẽ đến lúc bị mọi người thấy rõ và xa lánh. Một học thuyết dựa chủ yếu vào ngụy biện sớm muộn cũng bị phát hiện và tẩy chay. Một chính quyền phải dùng đến ngụy biện trong hành xử sẽ mất lòng tin của dân, mất lòng tin của các nước. Dù cho người ta có đón tiếp đại diện của bạn một cách trọng thị, có ký kết với bạn hiệp ước về quan hệ đối tác toàn diện hay đối tác chiến lược thì ngoài những cái bắt tay chào hỏi xã giao, trong lòng họ vẫn canh cánh một tinh thần cảnh giác là đang quan hệ với một người dối trá đáng khinh bỉ.

Ông Nguyễn Đình Cống có ý muốn nói đến những mối quan hệ ngoại giao nồng ấm lên trong thời gian gần đây giữa nước Việt nam cộng sản và các quốc gia phương Tây, về nguyên tắc là những kẻ đối đầu ý thức hệ với đảng cộng sản Việt nam.

Tác giả Vũ Ngọc Yên viết trên trang blog Bauxite Việt nam:

Trong thời gian qua dư luận rất kinh ngạc khi thấy giới lãnh đạo Đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam tích cực mở rộng hợp tác với Mỹ và Âu châu trên mọi bình diện. Dư luận đánh giá các hoạt động này chỉ là những tính toán chiến lược tìm ngõ thoát cho chế độ độc đảng trước những áp lực nội và ngoại hầu có thể tiếp tục trụ được.

Một người bán hàng rong trên phố đầy cờ đảng ở TPHCM

Một người bán hàng rong trên phố đầy cờ đảng ở TPHCM

Nói chung, Đảng Cộng sản hy vọng qua các Hiệp định thương mại, sẽ tạo được niềm tin ở quốc tế và tính chính danh cầm quyền vốn đã không tồn tại từ nhiều thập niên qua.

Còn trang Bauxite Việt nam bình luận về việc bầu cử trong chế độ do đảng cộng sản lãnh đạo từ trước đến nay như sau:

Đảng nói rất hay về dân chủ. Nhưng đồng thời Đảng bao giờ cũng cố gắng tối đa để siết chặt “dân chủ” trong bàn tay sắt của mình. “Đảng cử dân bầu” là một trong những biện pháp để làm điều đó. Nói cho cùng, có chế độ toàn trị nào mà không sợ dân chủ thực chất? Xóa “Đảng cử dân bầu” là đặt Đảng vào sự thử thách thực sự, buộc Đảng phải lo lắng đến phản ứng của người dân. Duy trì “Đảng cử dân bầu” thì yên chí lớn: tất cả những vị trí lãnh đạo đều một tay Đảng sắp xếp. Quyền lực ở đấy mà quyền lợi cũng ở đấy.

Lời bình của Bauxite Việt nam có ý nói rằng cũng có chuyện bầu cử ở Việt nam nhưng chỉ do đảng cộng sản dàn dựng mà thôi, qua câu nói đảng cử dân bầu đầy mỉa mai.

Bản chất của chế độ và mô hình không muốn phát triển

Blogger Nguyễn Vũ Bình viết bài Bản chất và Hiện tượng.

Trong bài này ông cho rằng có những ý kiến biện minh cho những điều không tốt trong xã hội Việt nam hiện nay chỉ là hiện tượng chứ không phải là bản chất. Những ý kiến này nói rằng bản chất của chế độ cộng sản hiện nay ở Việt nam vẫn là tốt đẹp.

Nguyễn Vũ Bình phản bác điều này. Ông cho rằng nếu liên tục có những điều tệ hại xảy ra thì không thể nói là bản chất của chế độ là tốt đẹp được. Ông dẫn chứng là từ lúc đảng cộng sản Việt nam thống trị nền chính trị Việt nam cho đến nay, liên tục có những điều tệ hại xảy ra, đó là: Cải cách ruộng đất, Đàn áp nhân văn giai phẩm, Thảm sát Mậu thân, Cải tạo tư sản tại miền Nam.

Hãy nghe cây bút Nguyễn Đình Ấm mô tả cảnh tượng tàn phá văn hóa ở quê ông:

Từ sau cải cách ruộng đất chính quyền phát động phong trào phá đình chùa. Vào các buổi tối, thanh thiếu niên đốt đuốc tuần hành rầm rập hô đả đảo địa chủ rồi ban ngay đi phá đình, chùa, miếu. Những pho tượng cổ sơn son thiếp vàng cớ lớn tượng quan âm nghìn mắt, nghìn tay bị xà beng bật lên khênh vứt xuống sông Lô, các tượng gỗ mít nhẹ hơn bị mang về bổ củi đun, mùi sơn khét lẹt.

“ Đảng nói rất hay về dân chủ. Nhưng đồng thời Đảng bao giờ cũng cố gắng tối đa để siết chặt “dân chủ” trong bàn tay sắt của mình. “Đảng cử dân bầu” là một trong những biện pháp để làm điều đó. Nói cho cùng, có chế độ toàn trị nào mà không sợ dân chủ thực chất?

Lời bình của Bauxite VN”

Một điều quan trọng mà các blogger nhận xét về những hành động của đảng cộng sản từ khi lên cầm quyền đến nay là tất cả những sai lầm đó đều được thực hiện nhân danh danh Nhân dân. Điều mà Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn cho là một sự ngụy biện nhân danh số đông. Ngoài ra ông còn cho rằng để thực hiện các chính sách của mình từ trước đến nay đảng cộng sản thường đưa ra những hy vọng, và ông gọi họ là những người buôn bán hy vọng. Và điều mà ông ngạc nhiên là vẫn có người tin vào những món hàng hy vọng đó.

Điều Giáo sư Tuấn ngạc nhiên cũng là điều một tác giả trên trang blog Triết học đường phố đặt ra là sau bao nhiêu tệ hại của sự độc tài, tại sao đảng cộng sản vẫn nắm quyền? Tác giả tự trả lời rằng đảng cộng sản cầm quyền đã nắm hai lĩnh vực cần thiết để cho người ta không thắc mắc về quyền lực của họ, đó là giáo dục và báo chí. Ngoài ra tác giả này còn đưa ra một điều quan trọng nữa mà theo đó những người cộng sản đặt nền móng chế độ của mình, đó là gieo rắc sợ hãi trong toàn xã hội.

Trong một tinh thần xã hội như vậy, mô hình kinh tế Việt nam vẫn tiếp tục được khẳng định là một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với các đại công ty quốc doanh làm động lực, một mô hình được Tiến sĩ Vũ Hồng Lâm gọi là của những người cộng sản thực thi chủ nghĩa tư bản.

Nói về mô hình này, bà Phạm Chi Lan trích dẫn lời nhận định của một nhà quan sát từ Ngân hàng thế giới, rằng mô hình hiện tại của Việt nam không phải là của một quốc gia kém phát triển, cũng không phải của một quốc gia đang phát triển, càng không phải đã phát triển, mà đó là một mô hình Không chịu phát triển.

Tác giả Võ Xuân Sơn nói rằng ông và nhiều người Việt nam khác không muốn mô hình đó:

Chúng tôi, người dân Việt nam, đâu có ai muốn cái mô hình “đặc biệt nhất thế giới”, mô hình không chịu phát triển. Nhưng họ, những kẻ không muốn đất nước này phát triển, những kẻ chỉ muốn trục lợi cá nhân, làm giàu cho cá nhân mình, cho gia đình mình bằng cách ăn cắp tiền của dân, đục khoét ngân sách, vắt cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, làm mất khả năng phát triển của cả nền kinh tế nước nhà, chỉ có những kẻ đó là muốn duy trì cái mô hình quái gở như vậy mà thôi.

Và trong những ngày tháng tám có nhiều kỷ niệm lịch sử không chỉ của Việt nam mà của cả thế giới, người Việt nam không khỏi chạnh lòng so sánh đất nước mình với các quốc gia khác.

Ông Nguyễn Văn Đực Phó giám đốc một công ty địa ốc nhìn sang Singapore, đảo quốc nhỏ bé vừa kỷ niệm 50 năm ngày độc lập, xuất ý làm một bài thơ ngắn đầy mỉa mai:

Năm mưoi Quốc Khánh nước Sing
Từ hòn đảo nhỏ mà : lên đỉnh Rồng
Bảy mưoi Quốc Khánh nước RỒNG
Từ đất nước lớn mà : không có gì ….
Quý hơn độc lập tự do

Người khác thì nhìn sang Nhật bản, đất nước chịu thảm họa nguyên tử cách đây 75 năm:

Hơn 40 năm qua từ ngày đất nước thống nhất, thế hệ ông cha làm được gì vẻ vang cho đất nước? Chỉ có thể kể ra nhiều việc làm xấu, làm nhục, làm cạn kiệt nguồn lực đất nước. Nước Nhật bại chiến bị tàn phá bởi bom nguyên tử, sau 40 năm trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới. Nước ta chiến thắng oanh liệt nhưng sau hơn 40 năm vẫn là nước nghèo, ngửa tay xin vay tiền giá rẻ của thế giới. Kết quả ấy, thế hệ nào phải gánh chịu trách nhiệm?

Le lói ánh sáng cuối đường hầm?

Có phải tất cả đều là một màu đen?

Dự án 1400 tỉ đồng xây dựng quảng trường cùng tượng ông Hồ Chí Minh tại tỉnh Sơn La bị nhiều chỉ trích đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu phải báo cáo.

Người ta cho rằng nhà cầm quyền đã phải để ý đến dư luận xã hội, đến một quyền lực mà nhà văn Bùi Minh Quốc gọi là quyền lực thứ hai, quyền lực truyền thông.

Ông Quốc đặt tên quyền tự do ngôn luận trong xã hội hiện tại của Việt nam là quyền lực thứ hai với lý do là xã hội này hiện nay vẫn chưa có tam quyền phân lập như các quốc gia phát triển bình thường, trong đó tự do ngôn luận là đệ tứ quyền. Ông nhận xét về cộng đồng những người Việt nam sử dụng mạng xã hội để thực hiện quyền lực thứ hai đó là từ chổ chỉ phát triển tự phát, những người Việt nam đã dùng mạng xã hội ngày càng có trách nhiệm hơn.

Quyền lực từ mạng xã hội đã góp phần làm cho nhà cầm quyền xem xét lại quyết định 1400 tỉ đồng mất lòng dân.

Từ đó, blogger Kami nhận định rằng đã có một xu hướng đa nguyên đáng mừng trong xã hội Việt nam. Điều làm le lói tia hy vọng bên cạnh thảm trạng mô hình Không muốn phát triển mà nhiều blogger nói đến trong tháng tám này.

Chóp bu CSVN về hưu được lấy luôn “xe công”

Chóp bu CSVN về hưu được lấy luôn “xe công”

Người Việt

HÀ NỘI (NV) .-“Tứ trụ triều đình” khi về hưu được lấy luôn “xe công” mà các ông vẫn sử dụng khi còn đương chức, một quy định quyền lợi khá đặc biệt không biết có ở các nước khác hay không.

Điều 3 của Quyết định cho “tứ trụ triều đình” lấy luôn “xe công” về nhà xài riêng dù đã nghỉ hưu. (Hình: chụp lại từ Facebook)

Điều 3 của Quyết định cho “tứ trụ triều đình” lấy luôn “xe công” về nhà xài riêng dù đã nghỉ hưu. (Hình: chụp lại từ Facebook)

Theo một “Quyết định” mới được ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 4/8/2015 thì bốn ông thường được gọi “tứ trụ triều đình” là tổng bí thư đảng CSVN, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch Quốc hội, sau khi nghỉ hưu, được mang theo về với mình chiếc xe hơi vẫn dùng khi còn đương chức, và cái xe đó “không quy định mức giá cụ thể”.

Điều này nằm ở điều 3 Chương II về “Tiêu chuẩn, định mức, chế độ trang bị, sử dụng xe ô tô phục vụ công tác” của bản Quyết Định mang số 32/2015/QĐ-TTg “Quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”.

Cái xe của các ông “tứ trụ triều đình” không quy định giá cụ thể nên có thể là Mercedes, Lexus, Acura,  Rolls Royce hay một thứ xe xịn gì khác trong khi những ông bà ở những vị thế trong đảng và nhà nước CSVN thấp hơn đều có quy định cụ thể. Những người này được ấn định là được quyền sử dụng xe công  chỉ trong thời gian còn ở chức vụ đó và giá chiếc xe tối đa cũng được ấn định.

Cũng vì vậy mà những năm qua người ta thấy có nhiều lời tố cáo một số ông bà có chức có quyền của chế độ đã “mua xe công vượt tiêu chuẩn” và cũng có những lời đe dọa thu hồi, nhưng “hô hào nhiều, xử phạt ít” như một bản tin trên báo điện tử VNExpress trước đây.

Cái quyết định số 32 do ông thủ tướng Dũng ký ban hành nói trên không những tham chiếu “Luật tổ chức chính phủ”, “Luật ngân sách nhà nước”, “Luật quản lý tài sản nhà nước” mà còn tham chiếu cả “Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngày 26/11/2013”.

Thỉnh thoảng, người ta vẫn thấy báo chí tại Việt Nam, từ trung ương đến các tỉnh thị địa phương vẫn đăng tải các bản tin về học tập “gương chống tham ô lãng phí” của ông Hồ, hay những phiên họp về thực hiện “phòng, chống tham nhũng, lãng phí”.

Các đảng bộ khắp các tỉnh thị đều phải “tổ chức học tập, quán triệt  đến toàn thể Cán bộ, đảng viên, CCVC Văn phòng UBND tỉnh, xây dựng chương trình hành động cho toàn khoá. chỉ đạo sát sao việc nghiên cứu, học tập và chấp hành các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.”

Như cái “quyết định” nói trên mà ông Nguyễn Tấn Dũng ký thì “tứ trụ triều đình” được mang xe công “không quy định mức giá cụ thể” về nhà xài riêng vĩnh viễn, không được coi là tham nhũng.

Người ta chỉ thấy quyết định đó quy định “chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô” cho các quan chức tại “các cơ quan, tổ chức, đơn vị, ban quản lý dự án và công ty nhà nước” mà các tốn kém “tổ chức hạch toán và công khai chi phí sử dụng…”

Không thấy nói tiền xăng, tiền sửa chữa bào trì xe, tiền thuế xe “không quy định mức giá cụ thể” ai sẽ trả khi ‘tứ trụ’ về hưu. Mục này thấy không được đề cập trong “Quyết định”.

Lạm dụng xe công rất phổ biến tại Việt Nam. Các quan lấy xe công đi chợ, đi lễ hội thấy báo chí chụp bảng số xe phơi trên mặt báo khá nhiều. Thậm chí xe cứu thương được dùng làm xe cho quan y tế đi họp. (TN)

Vì sao chúng ta bị đối xử tệ?

Vì sao chúng ta bị đối xử tệ?

VietTuSaiGon

RFA

Trong một lần cà phê và trò chuyện ở Sài Gòn, nhà thơ Khúc Duy có kể cho tôi nghe một câu chuyện mà anh đọc được: Có một anh chàng vốn rất lương thiện, chỉ biết lo làm ăn và tìm cách hoàn thiện bản thân với cái nhìn cuộc đời rất xanh và lạc quan. Đùng một cái, anh ta bị vu khống, rồi bị ghép án oan, bị kết tội mười năm tù. Anh bắt đầu ngày tháng hoang mang và bi kịch của mình. Anh bắt đầu nguyền rủa cuốc sống trong những ngày ngồi tù.

Và rồi đùng một cái, mới ba năm, anh được thả ra, được minh oan, được đền bù danh dự và thiệt hại với một số tiền tương đối lớn. Anh bắt đầu thực hiện việc trả thù cuộc đời, anh đặt câu hỏi: “Kẻ nào đã đẩy ta vào tù?”. Và anh bỏ suốt quãng đời còn lại, gần bốn mươi năm cùng với số tiền có được nhờ đền bù danh dự để tìm kẻ đã hại anh. Nhưng anh vẫn không tìm ra được kẻ thù.

Đến ngày cuối cùng trong cuộc đời của anh, trên giường bệnh, anh gọi một người hàng xóm thân quen lại để thủ thỉ, anh nói rằng: “Tiếc quá, tôi đặt sai câu hỏi rồi! Giá như lúc đó tôi đặt câu hỏi ‘vì sao tôi được ra tù?’ thì tôi chỉ mất có ba năm trong tù, đằng này tôi đặt câu hỏi ‘vì sao tôi bị vào tù?’ nên suốt cuộc đời còn lại của tôi chưa bao giờ hết ngục tù. Tiếc thật!”.

Câu chuyện ngụ ý rằng cuộc đời này sẽ ra sao và sẽ đi đến đâu là do cách anh đặt câu hỏi về nó, với nó. Nếu anh đặt một câu hỏi thông minh, tử tế thì phần trả lời thông minh, tử tế phía sau sẽ là phần cuộc đời và số phận của anh. Cuộc đời tốt hay xấu tuy thuộc vào cách anh đặt câu hỏi và giải quyết với nó.

Không hiểu vì sao mấy ngày nay, sau khi đọc bản tin về việc cảnh sát Singapore đối xử tệ với những phụ nữ Việt Nam trong vấn đề nhập cảnh vào nước họ, rồi liên tưởng đến những tấm bảng ghi bằng tiếng Việt đại ý người Việt Nam phải ăn hết món mình đã gắp trong tiệc buffet và không được trộm cắp, xả rác bừa bãi… Chung qui là người viết nội dung này không mấy thiện cảm nếu không muốn nói là e dè, tránh trớ người Việt như một thứ dịch hủi nào đó. Phải công tâm để nhìn thẳng vào vấn đề mà nói như vậy!

Tự dưng, tôi lại nhớ đến câu chuyện kể trong một buổi cà phê của nhà thơ Khúc Duy, cách đây chừng 15 năm thì phải! Câu chuyện này mặc dù không liên quan gì mấy đến chuyện người Việt bị đối xử tệ ở nước ngoài nhưng nó khiến tôi phải suy nghĩ rất nhiều về cách đặt câu hỏi về số phận riêng chung cũng như định vị danh phận người Việt chúng ta trước thế giới bao la rộng lớn này. Phải chăng chúng ta đã đặt sai câu hỏi về thế giới và chúng ta đã giải quyết sai câu hỏi về lịch sử cũng như thân phận dân tộc để đi đến cái kết của ngày hôm nay?

Rất có thể điều đó đã xảy ra, chúng ta đã đặt câu hỏi và giải quyết câu hỏi bị sai. Dân tộc chúng ta có bề dày lịch sử chiến tranh cũng giống như nước Nhật, nhưng người Nhật, chính phủ Nhật đã biết đặt câu hỏi về tương lai của họ và biết nhìn nhận sự thất bại, sự nghèo nàn của quốc gia để cho con cháu của họ trả lời câu hỏi này bằng hiện tại quật cường. Và Hàn Quốc, Singapore hay nhiều nước khác cũng vậy, họ biết cách đặt câu hỏi và giải quyết câu hỏi trong tiến trình vận động của thế giới.

Họ không như chúng ta, tự ma mị mình bằng “rừng vàng biển bạc, tài nguyên phong phú”, bằng “người Việt Nam anh hùng, thông minh và giỏi giang” và bằng nhiều mỹ từ khác để nói về người Việt. Kết cục của sự ma mị này chính là chúng ta tự đánh lừa mình, đánh lừa tương lai của cả một dân tộc, quốc gia. Thay vì chúng ta nhìn vào sự lạc hậu của mình, hỏi vì sao chúng ta lạc hậu để mà nỗ lực học hỏi các nước tiến bộ, chúng ta lại xem mình là người thông minh, là “đỉnh cao trí tuệ”. Và kết cục của nó là một thứ đỉnh cao của tội ác và lòng dối trá.

Thay vì chúng ta thấy mình nghèo, được “điểm nhãn” cho cái nghèo hiện hình để mà xua nó bay đi bằng kiếm pháp dân chủ, tiến bộ, chúng ta lại khư khư ôm thứ lý luận mù mờ và tự dối lừa mình để dẫn đến hệ quả là nhiều thế hệ giỏi trộm cắp, toa rập nhưng rất dở làm kinh tế. Bằng chứng của việc này là nếu như không dựa vào thế lực đảng, không tàn phá tài nguyên, môi trường và không tùng xẻo quĩ đất để thổi phòng cái bong bóng bất động sản, liệu Việt Nam có được mấy tay nhà giàu và có được mấy kẻ nổi tiếng giàu có, “đại gia” như hiện tại?

Và tư duy lười biếng, hưởng thụ, trộm cắp, mánh khóe vặt, toa rập, đội trên đạp dưới đã đẩy chúng ta đến chỗ không sản xuất được một con ốc cho nên hình nhưng có những ông chủ có thể chơi ngông bằng cách đổi cả một khoản tiền tương đương với tài sản lớn của một người dân nước giàu có chỉ để đổi một con ốc. Cách chơi ngông này chỉ cho thấy chúng ta đã mất hết khả năng hoạch toán kinh tế và lương tri chúng ta cũng đã bị hỏng đến độ phung phí mồ hôi, xương máu và nỗi khổ của người khác một cách vô tư. Bởi chúng ta chưa bao giờ đủ sâu sắc để nhìn thấy mồ hôi và nước mắt của người khác dính trên đồng tiền mình đang cầm trên tay. Cũng như chúng ta chưa bao giờ đủ tự trọng để nhận ra là sự giàu có của chúng ta có nguồn gốc ăn cắp thiên nhiên, ăn cắp của nhân dân và ăn cắp của tổ tiên.

Chúng ta quen với việc ăn cắp giống như người thiểu số quen với đường rừng và ngư dân quen với tôm cá. Chính vì vậy, chúng ta tự đẩy căn tính dân tộc đến chỗ ăn cắp và lười biếng, cầu toàn và hèn nhát. Bởi khi sự ăn cắp thành bản chất, chúng ta rất dễ dàng ăn cắp bất cứ nơi đâu và ăn cắp bất cứ thứ gì bắt mắt… Cho đến lúc bị bắt, chúng ta vẫn cứ kêu trời vì nghĩ mình oan, mình không biết nên mới ăn cắp! Và sau khi chúng ta bị vạch tội ăn cắp, thay vì ăn năn, hối cãi, phản tỉnh, chúng ta vẫn xem như không có gì xảy ra và tiếp tục đứng lên đảm nhận những công việc mẫu mực, chúng ta tự xem mình là gương mẫu!

Mãi cho đến khi thế giới nhìn chúng ta như một thứ man di mọi rợ. Chúng ta lại trách tại sao thế giới chúng quanh đối đãi tệ với người Việt? Trong khi đó, câu hỏi xác đáng cần đặt ra là: Chúng ta đã sống như thế nào mà thế giới phải e dè, kinh hãi và coi thường chúng ta đến vậy?

Câu chuyện những phụ nữ Việt Nam, những cô gái Việt Nam sang Singapore bị hất hủi, bị đối xử tệ lại khiến chúng ta chỉ biết trách người khác tệ nhưng chúng ta cũng chẳng tỏ ra thương tình hay chia sẻ với các phụ nữ bị xử tệ. Trong khi đó, có bao giờ chúng ta tự hỏi chúng ta đã làm gì, đã mang đến đất nước văn minh này loại gió gì mà chúng ta bị ngăn chặn như một trận gió độc? Và tại sao những phụ nữ Việt Nam lại chọn con đường bán dâm ở nước ngoài mặc dù đây là con đường nguy hiểm và tủi nhục?

Câu hỏi này không chỉ riêng người dân tự hỏi, và người dân cũng không bao giờ tự hỏi và tự trả lời nổi những câu hỏi như thế này. Mà nhà cầm quyền phải có trách nhiệm đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi kịp thời trước khi chúng ta bị tuột xuống hố sâu, trước khi các chính khách của nước văn minh phải bụm mũi trước các nguyên thủ Việt Nam!

Đổi tù chính trị lấy thương mại và ngoại giao

Đổi tù chính trị lấy thương mại và ngoại giao

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-08-17

08172015-politi-pris-for-buis.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch "Tháo còng báo chí” (Press Uncuffed ), Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới

Ngày 25 tháng 3 năm 2015 tổ chức Bảo Vệ Ký Giả Quốc Tế (CPJ) mở chiến dịch “Tháo còng báo chí” (Press Uncuffed ), Tạ Phong Tần được nêu tên trong danh sách 9 người trên khắp thế giới

RFA files

Vào đầu tháng tám năm nay, tin từ gia đình của người nữ tù nhân chính trị Tạ Phong Tần cho biết là cơ quan công an Việt nam đã tiếp xúc với bà với lề đề nghị bà làm đơn xin đi Hoa Kỳ để được trả tự do. Tin này cùng với những thông tin về đợt đặc xá sắp tới nhân ngày quốc khánh Việt nam 2/9, làm nhiều người hy vọng là sẽ có một số tù nhân chính trị được thả trước thời hạn.

Hy Vọng

Luật sư Nguyễn Văn Đài, một cựu tù chính trị nhận xét những diễn biến xung quanh đợt đặc xá nhân ngày 2/9 năm nay:

Ngày hôm 15 vừa rồi thì ông Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch hội đồng đặc xá trung ương đã ngồi cùng với một ban liên ngành gồm Bộ công an, Tòa án tối cao, Mặt trận Tổ quốc, và Bộ tư pháp. Thì theo luật về đặc xá thì các cơ quan này họ sẽ tư vấn cho hội đồng đặc xá trung ương những trường hợp đặc xá đặc biệt. Ở đây chúng ta hiểu những trường hợp đặc xá đặc biệt là họ không có căn cứ trên tiêu chuẩn nào cả. Tức là có thể người đó không có nhận tội, không chịu cải tại, hay cái việc mà họ đánh giá hạnh kiểm, lao động trong trại là kém.

Việc ân xá đặc biệt nằm trong hai lý do. Một là vì lý do nhân đạo, hai là vì các mối quan hệ quốc tế của họ mà họ sẳn sàng đặc xá những tù nhân như vậy. Thì đây là trường hợp đầu tiên mà truyền thông chính thống Việt nam đưa tin về những trường hợp đặc xá đặc biệt.”

Tuy nhiên theo ghi nhận của anh Nguyễn Anh Tuấn, thành viên của tổ chức dân sự Voice thì chuyện đặc xá đặc biệt đã từng được truyền thông chính thống trong nước đề cập đến. Đó là vào năm 2013 khi ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang thăm Hoa Kỳ.

Xung quanh chuyện có thả tù nhân chính trị vào ngày 2/9 tới đây hay không, Luật sư Nguyễn Văn Đài đề cập đến chuyện Bộ chính trị, cơ quan quyền lực nhất Việt nam đã họp vào lúc ông Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng đang ở Hawaii để đàm phán về Hiệp ước đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương:

Những cái chuyện này từ xưa đến nay rất hiếm khi xảy ra, bởi vì khi Bộ chính trị đã họp, để ủy thác một vị Bộ trưởng việc đàm phán với Hoa Kỳ, thì chắc chắn nó liên quan đặc biệt đến những vấn đề chính trị, những vấn đề nhân quyền.”

“ Việc ân xá đặc biệt nằm trong hai lý do. Một là vì lý do nhân đạo, hai là vì các mối quan hệ quốc tế của họ mà họ sẳn sàng đặc xá những tù nhân như vậy. Thì đây là trường hợp đầu tiên mà truyền thông chính thống Việt nam đưa tin về những trường hợp đặc xá đặc biệt

Luật sư Nguyễn Văn Đài”

Theo ông Đài thì ông hy vọng là sắp tới đây các tù nhân chính trị như bà Tạ Phong Tần, nhạc sĩ Việt Khang, ông Phạm Minh Vũ,… và một số người nữa sẽ được trả tự do.

Nhà báo Trương Duy Nhất, cũng là một người tù chính trị vừa được trả tự do trong năm nay cũng hy vọng là những người như ông Đài đề cập cùng với ông Trần Huỳnh Duy Thức sẽ được trả tự do. Ông nhận xét rằng trong chuyến thăm Việt nam vừa qua, ông John Kerry Ngoại trưởng Mỹ có lên tiếng về vấn đề nhân quyền, và vì thế ông Nhất rất hy vọng là người nữ tù chính trị Tạ Phong Tần sẽ được trả tự do.

“Khi Ngoại trưởng Hoa kỳ đã nêu tên thì những sức ép, những động thái đối với chính phủ Việt nam tất nhiên có đủ sức mạnh để chị Tần có thể đi.”

Nhưng một cựu tù chính trị khác là ông Nguyễn Tiến Trung lại có một nhận định tương đối khác:

“Theo Trung thì sẽ có một số trường hợp tù nhân chính trị được thả. Nhưng mà một số người được quốc tế chú ý đặc biệt như chị Tạ Phong Tần, hay anh Trần Huỳnh Duy Thức thì sẽ khó khăn hơn nhiều tại vì nhà nước Việt nam muốn các anh chị ấy ra nước ngoài chứ không phải ở trong nước, cho nên là nếu các anh chị ấy không muốn rời Việt nam thì Trung nghĩ là khó được đặc xá trong đợt này.”

Nhà báo Trương Duy Nhất lại cho rằng điều đó không thành vấn đề, ông chứng minh bằng trường hợp người tù chính trị Nguyễn Văn Hải Điếu Cày, một người bạn tù của ông được trả tự do sang Hoa Kỳ:

“Trước khi anh Hải Điếu cày đi thì Bộ công an họ cử một đoàn vào làm việc cũng theo như cái kiểu họ làm việc với chị Tạ Phong Tần bây giờ. Họ bảo anh ấy làm một cái đơn xin ra tù trước thời hạn, nhưng mà đời nào anh ấy làm! Rồi cuối cùng anh ấy cũng đi.”

Vô hiệu hóa và đổi chác

Trong lịch sử tù chính trị ở Việt nam trong vài chục năm trở lại đây đã có nhiều trường hợp người tù bước thẳng từ trại giam ra sân bay để đi ra nước ngoài, như ông Đoàn Viết Hoạt, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải,… Nói về việc này, anh Nguyễn Anh Tuấn tự đặt mình vào vị trí của nhà cầm quyền Việt nam:

“Mình cứ tưởng tượng mình là nhà nước thì mình sẽ chọn ai. Thứ nhất trong bối cảnh hiện nay sẽ chọn những người nào mà phía Mỹ gia tăng áp lực. Những người đó có thể là Trần Huỳnh Duy Thức, Tạ Phong Tần, Bùi Thị Minh Hằng, hoặc Anh Ba Sàm, tức là các trường hợp phía Mỹ người ta gia tăng áp lực nhiều. Một phương án nữa, ưu tiên của họ nữa là sẽ chọn những người mà họ tin rằng sau khi ra tù thì sẽ không còn tranh đấu gì được nhiều, ví dụ như hồi năm ngoái, trường hợp Đinh Đăng Định, khi đó đang bệnh tật, thì họ nghĩ rằng cho ra tù thì không sớm thì muộn cũng qua đời thôi, không thể đóng góp gì được nhiều nữa.”

“ Trường hợp anh Hải Điếu cày, rồi trước đây là trường hợp Cù Huy Hà Vũ, rồi anh Nguyễn Tiến Trung, những trường hợp này khi trả tự do thì đồng thời lúc đó lại có những thỏa ước giữa Việt nam và Mỹ

nhà báo Trương Duy Nhất”

Ông Nguyễn Tiến Trung cũng chia sẻ quan điểm này khi nói về những người tù bước thẳng từ trại giam ra sân bay quốc tế:

“Theo Trung thì có lẽ họ sợ những người đó có một sự ảnh hưởng lớn trong xã hội, hay họ sợ những người có thể trở thành lãnh tụ của phong trào dân chủ, nên không thể để trong nước mà phải trục xuất ra nước ngoài.”

Trở lại vấn đề công luận lâu nay nói rằng chính quyền Việt nam đổi chác số phận những người tù chính trị để lấy những quyền lợi thương mại, ngoại giao, nhà báo Trương Duy Nhất có nhận xét:

“Cái đó có đúng hay không thì phải hỏi các quan chức chính phủ, tôi không thể trả lời cái điều đó được. Nhưng mà sự việc nó xảy ra là như thế này: từ xưa đến giờ, một số nhân vật, một số vụ án nổi cộm, có hiệu ứng, ví dụ như trường hợp anh Hải Điếu cày, rồi trước đây là trường hợp Cù Huy Hà Vũ, rồi anh Nguyễn Tiến Trung, những trường hợp này khi trả tự do thì đồng thời lúc đó lại có những thõa ước giữa Việt nam và Mỹ!”

Chính quyền Việt nam chưa bao giờ công nhận chuyện đổi chác như vậy. Tuy nhiên trong bộ luật về đặc xá hiện hành, được ra đời vào năm 2007, có điều số 21 về những trường hợp đặc xá đặc biệt, điều này nói rằng những trường hợp đặc xá đặc biệt là để đáp ứng yêu cầu về đối nội, đối ngoại của Nhà nước.

Như vậy những lời bình luận về việc nhà nước Việt nam đổi tù chính trị lấy lợi ích ngoại giao bấy lâu nay không phải là không có cơ sở.

Trả lời chúng tôi rằng liệu khi nào thì chuyện này sẽ chấm dứt, Luật sư Nguyễn Văn Đài trả lời:

Việc này không phụ thuộc vào chính quyền cộng sản Việt nam, cũng không phụ thuộc vào Hoa kỳ. Mà việc này kết thúc khi nào là phụ thuộc vào nội tại phong trào dân chủ Việt nam. Khi phong trào dân chủ Việt nam tự mình đứng lên, đủ sức mạnh gây áp lực chính phủ Việt nam không được bắt người một cách tùy tiện, không chà đạp công lý và Hiến pháp nữa, thì lúc đó mới chấm dứt. Còn nếu như chúng ta, phong trào dân chủ Việt nam còn rất là yếu, phải trông chờ vào sức ép của Mỹ, EU hay là các nước khác thì chuyện mặc cả này sẽ tiếp tục diễn ra trong thời gian tới.”

Còn người cựu tù nhân chính trị trẻ tuổi Nguyễn Tiến Trung thì nói rằng nếu việc độc quyền cai trị của đảng cộng sản Việt nam vẫn còn tiếp tục thì việc đổi chắc đó sẽ không chấm dứt.

Thêm người bị tống giam vì “Lợi dụng tự do dân chủ..”

Thêm người bị tống giam vì “Lợi dụng tự do dân chủ..”
Nguoi-viet.com

THANH HÓA 16-8 (NV) – Nhà cầm quyền tỉnh Thanh Hóa vừa tống giam một dân oan, từng khiếu kiện, tố cáo suốt nhiều năm trời không được giải quyết thỏa đáng, với cáo buộc “xúc phạm, vu khống lãnh đạo.”

Ông Đinh Tất Thắng vừa bị Công an Thanh Hóa khởi tố, bắt tạm giam 3 tháng. (Hình: CA Thanh Hóa)

Theo một số báo tại Việt Nam, ông Đinh Tất Thắng, 72 tuổi, vừa bị Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Thanh Hóa “ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam.” Ông là cư dân ở thôn Quyết Thắng 2, xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân bị cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước…”

Ông Đinh Tất Thắng từng khiếu kiện suốt một thời gian dài từ 1999 đến 2008 cho những bất công mà ông và gia đình phải chịu đựng và không được giải quyết thỏa đáng. Không những vậy, ông còn bị nhà cầm quyền bỏ tù 9 tháng hồi tháng Giêng 2008 cũng với tội danh “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ…”

Theo báo chí ở Việt Nam tường thuật “Sau khi ra tù từ năm 2009 đến nay, Đinh Tất Thắng không chịu hối cải vẫn tiếp tục tái phạm. Từ tháng 6/2015 đến nay, Đinh Tất Thắng đã liên tiếp gửi đơn, thư tố cáo vu khống, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân một số đồng chí lãnh đạo Trung ương, tỉnh Thanh Hóa và tập thể Huyện ủy, UBND huyện và Công an huyện Thọ Xuân.”

Ông Đinh Tất Thắng không phải là dân oan đầu tiên và duy nhất bị chế độ Hà Nội bỏ tù với cáo buộc như thế. Nhiều người đi khiếu kiện từ địa phương đến trung ương, cáo buộc nhà cầm quyền bao che tham nhũng và lợi dụng quyền thế để làm bậy, cướp ngang tài sản của dân. Nhưng họ đều thất bại, có khi phải tự thiêu vì quá uất ức.

Cho tới nay, các trụ sở tiếp dân của nhà cầm quyền, đặc biệt là cơ quan tiếp dân tại Hà Nội vẫn có hàng đoàn người chầu chực kêu oan trong vô vọng. Họ ăn ngủ ở lề đường, công viên từ năm này sang năm khác và không biết đến bao giờ.

Một trong những dân oan nổi tiếng sau trở thành người đấu tranh dân chủ rất cam đảm là bà Hồ Thị Bích Khương từng bị bỏ tù với cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ” theo điều 258 luật hình sự CSVN. Bà đã bị nhà cầm quyền CSVN kết án tù 3 lần mà lần sau cùng là tháng Giêng 2011 bà bị vu cho tội “Tuyên truyền chống nhà nước…” với bản án 5 năm tù kèm theo 3 năm quản chế.

Chế độ Hà Nội đang phải sửa đổi Bộ Luật Hình Sự theo áp lực của Hoa Kỳ để có thể gia nhập tổ chức Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tuy nhiên, điều 258 của Bộ luật Hình sự hiện hành được chuyển thành điều 343 của “dự luật” hình sự đang được “lấy ý kiến nhân dân” để sửa đổi mà không mấy ai tin nó sẽ được bãi bỏ.

Nhà báo tự do, blogger Nguyễn Hữu Vinh được mọi người biết dưới bút danh “Ba Sàm”  bị nhà cầm quyền CSVN giam giữ từ đầu Tháng 5-2014 với cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” hiện vẫn không ai biết bao giờ sẽ bị lôi ra tòa kết án. (TN)

“Bộ trưởng Giáo dục” tương lai, đừng sợ!

“Bộ trưởng Giáo dục” tương lai, đừng sợ!

Đoan Trang

Thảo Gạo: Buổi hội thảo hôm đó mình cũng có mặt, cùng nhóm bạn của mình. Bạn mình là người up clip đó lên mạng, clip thì do một người bạn khác làm, còn mình là người đầu tiên chia sẻ clip về facebook. Bọn mình, tuổi đời lần lượt 23, 24, 25, khi nghe những gì cậu bé đó chia sẻ đều phấn khích, bởi em nói thẳng, bởi em nói những điều mà chưa chắc ba bọn mình và nhiều người lớn ở đó đã dám nói trong một hội thảo có cả “rừng an ninh”.

Vì sự phấn khích đó mà bạn mình nhiệt tình up clip lên mạng, nhìn cái cách bạn ấy đếm số người xem, số like thật là buồn cười. Ai mà ngờ được một thằng bé 14 tuổi nói vài lời bức xúc lại khiến số đông phấn khích đến như vậy. Mấy ngày qua, tốc độ lan truyền của clip đó chóng mặt, số người quan tâm và nói về cậu bé đó cũng rất đông. Đúng là thời buổi này, công thức để nổi tiếng rất đa dạng và… khó đoán.

Quay trở lại ngày hôm đó, khi tan hội thảo, mình có tìm gặp cậu bé, cậu đi cùng mẹ. Cả hai mẹ con em đều rất lịch sự và hợp tác. Mình giới thiệu bản thân và xin em cách thức để liên lạc, mẹ em gợi ý là nên cho cả facebook, số điện thoại và địa chỉ email, nhưng em quyết định ghi cho mình mỗi địa chỉ email. Nhưng chắc có lẽ em viết nhầm chỗ nào đó mà những ngày qua, tất cả những email của tụi mình đều không được hồi đáp.

Do vậy, nếu ai đó là người thân, người quen của Minh thì mong rằng hãy gửi cho mình cách thức để liên lạc với Minh. Hoặc giả như những dòng chữ này được Minh đọc thì xin em hãy inbox cho chị.

Chị chỉ muốn nói rằng nếu phản ứng của “một bộ phận dư luận” vừa qua gây tác động tiêu cực đến em thì chị rất lấy làm xin lỗi. Và nếu em có đọc những gì người ta bình phẩm không hay về em thì mong rằng em đừng vội vàng tin đó là thật mà nghi ngờ bản thân mình. Em có nhớ bác Phạm Toàn nói gì không? “Nhiều người lớn cho rằng mình đúng hơn trẻ nhỏ, để tự cho mình cái quyền áp đặt lên chúng, dạy bảo chúng…”.

Cậu bé mà chị gặp hôm đó cho chị cái ấn tượng mạnh mẽ, không nhất định vì những gì em nói ra là đúng, là chân lý mà bởi vì sự nhiệt tình em tỏa ra, sự tự chủ em cho thấy. Chị thật lòng tin, dù em có trở thành bộ trưởng hoặc ông nọ bà kia hay không, thì em cũng sẽ trở thành một con người có giá trị – hơn rất nhiều những người đang cho mình cái quyền phán xét, dạy bảo mọi thứ ngoài kia.

Theo FB Thảo Gạo

Đôi khi, phản ứng của “một bộ phận dư luận” thật đáng ngạc nhiên.

Khi nhà báo Mỹ Thomas A. Bass viết một loạt bài dài về tình trạng kiểm duyệt ở Việt Nam (năm 2014), ông cứ hí hửng tưởng đâu các bài viết của mình sẽ gây một làn sóng dư luận về vấn nạn kiểm duyệt văn hóa, xuất bản tại đất nước này. Điều khiến ông bất ngờ là khi các bản dịch của loạt bài được công bố, quả thật đã có một làn sóng, nhưng nói chung đó là sự phẫn nộ dành cho một tên “nhà báo-chỉ điểm” đã không bảo vệ nguồn tin, đã lôi tuột hết danh tính các nạn nhân của kiểm duyệt lên truyền thông, khiến cho họ có nguy cơ gặp rầy rà, phiền nhiễu với chính quyền sau đó.

Ông nhà báo Mỹ kêu trời: “Nhưng tại sao tôi phải chịu trách nhiệm về những gì chính quyền Việt Nam làm? Họ mới là kẻ kiểm duyệt. Họ mới là kẻ sẽ xử lý người này, trừng phạt người kia vì đã tiết lộ thông tin về kiểm duyệt ở Việt Nam”.

* * *

Ngày 12/8 vừa qua, tại một hội thảo giới thiệu sách của nhóm Cánh Buồm ở Hà Nội, em Vũ Thạch Tường Minh, học sinh trường Hà Nội-Amsterdam, phát biểu: “… Con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả…. Giáo dục Việt Nam không cần cải cách gì nữa, giáo dục Việt Nam cần được cách mạng. Đó mới là điều các vị trong Bộ Giáo dục nên làm. Còn nếu bây giờ các vị không làm thì đến khi nào con thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục con sẽ làm”.

Phát biểu của em Minh tạo nên không chỉ một mà nhiều làn sóng dư luận: Một bên hoan hỉ, khen ngợi cậu bé “hậu sinh khả úy”, tranh thủ đả kích thêm một nền giáo dục thối nát tới mức “thằng bé 14 tuổi nó cũng phải chửi”.

Một bên khác, đáng kinh ngạc thay, lại ném đá – nhưng không phải vào nền giáo dục nước nhà, vì chắc họ cũng thấy không thể tình trạng giáo dục Việt Nam hiện giờ là không thể đỡ nổi nữa.

Họ ném đá vào em Minh, vì cho rằng phát biểu như thế chỉ là thỏa mãn cái bức xúc cá nhân, tức thời, chứ chẳng mang lại điều gì tốt đẹp.

Họ cũng ném đá em, vì họ khẳng định một thằng bé 14 tuổi thì không thể phát biểu như thế được. Từ đây họ gợi ý rằng hẳn đã phải có những kẻ xấu, những người lớn xấu xa, cơ hội, phản động, thù địch “gài” cho em Minh có những phát ngôn “lạ”, không đúng lứa tuổi của em.

* * *

Họ đã suy đoán và gợi ý như vậy, thì chúng ta cũng có thể suy đoán và gợi ý như sau:

Phần tiếp theo hội thảo này, sẽ có những người lớn đến gặp gia đình em Tường Minh và khuyên nhủ:

“Anh chị ạ, vừa rồi chắc anh chị cũng biết là trên mạng, người ta có phản ánh chuyện cháu Minh nhà mình đi dự một cái hội thảo giáo dục gì đấy của nhóm Cánh Buồm… Rồi ở đấy cháu nó có phát biểu mấy câu, được hoan nghênh lắm. Thật ra nội dung thì cũng không có gì đâu, nhưng khổ cái là nó lại bị đưa lên mạng anh chị à. Rồi thì mạng người ta làm dữ quá, thế là ầm ĩ cả lên, bây giờ cái video đó phải tới hơn 200.000 lượt người xem.

Chúng tôi thì cũng không dám có ý kiến gì đâu, nhưng mà anh chị cũng biết rồi đấy, bây giờ tình hình xã hội nó phức tạp lắm. Tệ nạn thì nhiều, game online, chat sex, lừa đảo trên mạng… xểnh ra một cái là có chuyện. Nhiều vị cứ thương con, chiều con, cho nó giao du, cho nó lên mạng, đi chơi, v.v. nhiều rồi tới ngày xảy ra chuyện xấu, công an đến nhà hỏi, mới ngớ người “Chúng tôi có biết đâu, thường ngày cháu nó ngoan lắm mà”.

Chuyện dạy con thì nhà ta đây là gia đình trí thức, có ăn học có hiểu biết cả, chúng tôi không dám can thiệp. Nhưng chỉ xin nhắc để anh chị lưu ý, anh chị bảo ban cháu Minh, là lần sau tránh những hội thảo kiểu như vậy, mà nếu có đi dự thì nên hạn chế phát biểu linh tinh… Ấy, ý chúng tôi là nên hạn chế phát biểu tiêu cực, dễ bị bọn xấu nó lợi dụng, nó tung lên mạng, rồi thiên hạ lại ầm ĩ lên, phức tạp lắm mà chả giải quyết được việc gì cả… Anh chị công nhận không ạ?”.

Những người lớn đó cũng có thể sẽ đến gặp Ban Giám hiệu trường Hà Nội-Amsterdam nữa, để nhắc nhở, lưu ý các thầy cô về một trường hợp học sinh “có thể nói là cá biệt, dễ bị bọn xấu lợi dụng”.

Và sau đó Ban Giám hiệu nhà trường sẽ phải có biện pháp phối hợp giữa gia đình và nhà trường để tăng cường quản lý học sinh, nhất là về tư tưởng, tránh để các em bị thế lực thù địch tác động, lôi kéo, lợi dụng…

“Bộ trưởng Giáo dục”” tương lai ơi, đừng sợ. Và các thầy cô, Ban Giám hiệu trường Hà Nội-Amsterdam (trường cũ của tác giả bài này) cũng đừng e ngại điều gì từ những “người lớn” đầy tinh thần cảnh giác kia, nếu họ xuất hiện.

Một đứa trẻ trung thực và thông minh lớn lên sẽ là một công dân tốt.

Em Vũ Thạch Tường Minh tại hội thảo giáo dục của nhóm Cánh Buồm, chiều tối 12/8/2015 tại Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Đình Hà

* * *

Những suy đoán và gợi ý trên chắc chắn là có cơ sở thực tế hơn nhiều so với suy đoán và gợi ý rằng em Tường Minh đã bị người lớn nào đó gài bài.

Còn chuyện một cậu bé 14 tuổi có thể phát ngôn như em Minh hay không, thì có một câu chuyện có thật thế này:

Tháng 11/1989, nhân một kỳ bầu cử Quốc hội nào đó, toàn bộ khối học sinh lớp 6-7-8 của một trường cấp II tại Hà Nội được huy động ra ngoài đường diễu hành. Các em phải đi bộ khoảng 2 km từ cổng trường, vòng vèo qua khu Chợ Giời, ra phố Huế, rồi quay lại trường; vừa đi vừa đánh trống và hô khẩu hiệu: “Toàn dân bầu cử”, “Bầu cử là quyền và nghĩa vụ của công dân”…

Có một em học sinh lớp sáu, 11 tuổi, đã không hô mà còn cằn nhằn suốt buổi: “Bầu cử là gì? Trẻ con biết bầu cử là cái đếch gì mà các cô bắt bọn em đi thế này?”. Được cái em ấy không bị ai để ý. Bạn bè của em thì chỉ thấy được đi cùng nhau trên phố và gõ trống là vui rồi.

Em học sinh ấy còn viết thư gửi cô chủ nhiệm, có ghi một câu là “Em không thích tham gia các hoạt động phù phiếm, vô bổ”. Sau đó, em cũng quên bẵng lá thư ấy đi, cho đến một buổi họp phụ huynh cuối năm, cô chủ nhiệm mới gặp riêng mẹ em và khuyên nên chú ý đến trường hợp này. Cô nói: “Nó mới 11 tuổi, mà nó dùng từ lạ lắm chị ạ, nó bảo làm như thế là “phù phiếm, vô bổ”, nó không thích”. Cũng may, mẹ em chỉ kể lại chuyện đó cho em, và cả cô và mẹ đều không nhắc nhở gì em.

Nhưng đúng là em học sinh 11 tuổi đó đã dùng từ ấy thật, để nói về việc học sinh phải đi vận động bầu cử, cấp II thì phải làm “phụ trách Đội” cho cấp I, mùa hè thì không được nghỉ mà sáng nào cũng phải dậy từ 5h để ra tập thể dục tập thể cạnh bãi rác của khu phố…, và nhiều chuyện khác.

Em học sinh 11 tuổi ấy là người bây giờ ngồi viết những dòng này.

Đ.T.

Nguồn: http://www.phamdoantrang.com/2015/08/bo-truong-giao-duc-tuong-lai-ung-so.html

Bộ Ngoại Giao Mỹ tài trợ cho đại học Fulbright Việt Nam

Bộ Ngoại Giao Mỹ tài trợ cho đại học Fulbright Việt Nam

Nguoi-viet.com

WASHINGTON 14-8 (NV) – Bộ Ngoại giao Mỹ tài trợ $2.5 triệu Mỹ kim để chuyển chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright ở Sài Gòn thành đại học độc lập và phi lợi nhận ngoại quốc đầu tiên tại Việt Nam.

Lễ tốt nghiệp chương trình thạc sĩ quản trị mà đại học Hawaii tổ chức riêng cho sinh viên Việt nam. (Hình: University of Hawaii)

Mới đây, nhà cầm quyền Hà Nội đã cấp giấy phép để Hoa Kỳ thành lập một đại học độc lập và phi lợi nhuận ngoại quốc đầu tiên và do Hoa Kỳ tài trợ cũng như giảng dạy theo khuôn mẫu của trường đại học Harvard danh tiếng của nước Mỹ.

Từ năm 1994, chính phủ Mỹ đã tài trợ một phần để thiết lập ở Sài Gòn một chương trình giảng dạy thạc sĩ về kinh tế “Fulbright Economic Teaching Program” liên kết với phân khoa quản trị hành chính công của viện đại học Harvard.

Nay thì chương trình này được mở rộng và biến thành một trường đại học gồm ba phân khoa dự trù sẽ khai khóa đầu tiên vào mùa thu năm 2016. Theo một bản tin của trường đại học Harvard, 3 phân khoa đó gồm phân khoa Quản trị và chính sách công quyền, phân khoa kỹ sư và khoa học ứng dụng, và phân khoa khoa học nhân văn, xã hội và khoa học tự nhiên.

Tại Việt Nam, ngoài hệ thống giáo dục đại học do nhà cầm quyền thiết lập, còn có một ít đại học tư được mở ra để đầu tư sinh lợi. Dù vậy, chúng đều có sự nhòm ngó kiểm soát của nhà cầm quyền chứ không được hoàn toàn độc lập. Nạn mua bán bằng cấp, mua điểm từng được đề cập trên báo chí tại Việt Nam.

Các đại học Mỹ, dù là đại học công lập hay đại học tư, đều mang tính cách độc lập từ quản trị đến giảng huấn. Một điều nổi trội của hệ thống giáo dục đại học Mỹ là khả năng nghiên cứu dẫn đến phát minh hay sáng kiến rất cao nhờ các ngân khoản tài trợ của cả chính phủ cũng như tư nhân. Các điều này là ước vọng của những người dự tính thành lập đại học Fulbright.

Các nhà làm chính sách ở Hoa Thịnh Đốn ca ngợi đại học Fulbriht sắp mở vào năm tới là một bước quan trọng trong việc phát triển quan hệ ngoại giao và giáo dục với Việt Nam.

“Đại học Fulbright sẽ trở thành tài sản tuyệt vời của Việt Nam vì với tự do giáo dục và cùng với nỗ lực cũng như liên kết với đại học Harvard để dẫn đến những gì sẽ được mang tới, chúng sẽ trở thành tài sản  đáng kể để nước này đem nền giáo dục lên một mức cao hơn.” Ngoại trưởng John Kerry đọc bài nói chuyện ở Hà nội ngày 7/8/2015 vừa qua nói như vậy nhân dịp ông đến đây dự kỷ niệm 20 năm hai nước thiết lập bang giao.

Hiện các viên chức quản trị đại học Fulbright Việt Nam đặt mục tiêu gây quỹ hoạt động cho trường là 100 triệu đô la để thu nhận 2,000 sinh viên cho 5 năm đầu tiên. Đến nay, họ mới chỉ nhận được hứa hẹn yểm trợ 40 triệu đô la.

Ngoài chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, đại học Hawaii cũng thành lập một chương trình đào tạo thạc sĩ quản trị (MBA) cho Việt Nam. Mới đây, khoảng 50 sinh viên đã tốt nghiệp chương trình này. (TN)

Nỗi vinh nhục của tượng đài

Nỗi vinh nhục của tượng đài

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Năm 1999, việc Trần Trường treo ảnh Hồ Chí Minh và cờ đỏ sao vàng trong tiệm băng nhạc của y đã đưa đến một cuộc biểu tình phản đối dữ dội của những người tỵ nạn Cộng Sản tại Nam California kéo dài 52 ngày đêm ròng rã. Trần Trường nghĩ rằng hành động của y đáng để cho Việt Cộng mang ơn, nhưng sự thật đây là một chuyện trắc nghiệm, gây hậu quả không ai lường trước được và lòng căm thù Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản bộc phát, dâng cao.

Tượng Lenin ở Kiev, Ukraine, bị kéo đổ hôm 8 Tháng Mười Hai, 2013.
(Hình: Anatoli Boiko/AFP/Getty Images)

Vào đầu Tháng Tám năm nay, chính quyền tỉnh Sơn La vừa tuyên bố sẽ xây tượng đài Hồ Chí Minh 1,400 tỷ tại đây. Chuyện chưa biết sẽ ra sao, nhưng từ ngày Sơn La có quyết định này, cả nước, và đồng bào hải ngoại không ngớt lên tiếng chê bai, chửi rủa hết lời. Hình ảnh xấu xa của Hồ Chí Minh và bọn cầm quyền vô lại, lại được đưa ra làm mục tiêu cho quần chúng ném đá, trát bùn. Phải chăng đây cũng là một lần trắc nghiệm nữa về hình ảnh của “Bác?”

Bọn bồi bút và ngay cả “chính Bác”(CB) vẫn thường tranh nhau viết về cuộc đời thanh liêm, đơn giản của “Bác.” Tiêu biểu nhất là chuyện “đôi dép râu.”

Trong thời gian kháng chiến, mà sau ngày trở về Hà Nội, “Bác” vẫn đi đôi dép cao su đã mòn vẹt, “bảo vệ” đề nghị với “Bác” mua một đôi dép mới để thay, nhưng “Bác” gạt đi cho là lãng phí! Anh em “bảo vệ” liền tráo một đôi dép khác, không mới để “Bác” khó nhận ra, nhưng còn tươm tất. Nhưng cuối cùng “Bác” cũng biết, và nằng nặc đòi bảo vệ trả lại đôi dép cũ cho “Bác!”

Trong thư gửi Báo Vệ Quốc Quân vào Tháng Ba, 1947, “Bác” có câu: “Tuyệt đối không đem của công dùng vào việc tư, không động đến cái kim sợi chỉ của dân; khi đến đóng, lúc kéo đi, phải giữ gìn nhà, vườn của dân cho sạch sẽ; mua bán phải công bình, mượn cái gì phải trả tử tế, hỏng cái gì phải bồi thường.”

Chuyện này, đám con cháu “Bác” chuyên làm ngược lại.

Trong di chúc trước khi “bước sang từ trần,” “Bác” đã dặn phải thiêu xác và rải tro đi khắp nước, tuy nhiên chúng nó không chịu thiêu “Bác” mà rình rang xây lăng mộ như các bậc vua chúa thời xưa. Số tiền tốn kém cho lăng này không bao giờ được tiết lộ, nhưng chỉ việc phải nhờ chuyên viên ướp xác Liên Xô, lăng chống được bom đạn, địa chấn, được xây dựng bằng đủ các thứ gỗ, đá, cây trồng quý giá vận chuyển từ khắp các địa phương trong nước, trong lúc còn chiến tranh thì tổn phí phải nói là không nhỏ.

Xây lăng xong, Bắc Việt phải nghĩ đến việc bảo vệ lăng.

Để bảo vệ lăng “Bác” một đơn vị quân đội được đặt tên là Đoàn 969 với quân số của một sư đoàn (10,000 người) do nhân dân đóng thuế nuôi, chỉ dùng cho mỗi việc bảo vệ một các xác khô. Bảo vệ là đúng, vì chúng ta còn nhớ, vào ngày 3 Tháng Hai, 2014, bốn thành viên của Pháp Luân Công đã mang búa tạ vào để đập bể lăng “Bác.”

Về chuyện “không động đến cái kim sợi chỉ của dân; …mua bán phải công bình, mượn cái gì phải trả tử tế, hỏng cái gì phải bồi thường” như lời “Bác” dạy thì chúng không thèm “động đến cái kim sợi chỉ của dân” nhưng tham ô, cướp đất, đuổi nhà, làm giàu trên chuyện tham ô, hối lộ khiến cho đảng càng ngày càng giàu mà dân mỗi năm mỗi đói.

Câu kinh nhật tụng của bọn tham ô vận dụng để xây tượng “Bác” là “nhằm đáp ứng nguyện vọng và tình cảm” của đồng bào các dân tộc, trong khi thật sự nguyện vọng của đồng bào xứ này là cầu cho có bữa cơm no, có trường cho trẻ em học đàng hoàng và đến trường khỏi đu dây “biệt kích!” Trong khi nguyện vọng của chính quyền là muốn có thêm tiền bỏ túi.

Chúng ta khó tưởng tượng ra là hiện nay trên cả nước đã có 134 tượng đài “Bác” xây dựng trong khuôn viên trụ sở cơ quan, đơn vị, trong đó có tới 45 tượng “Bác” với bộ đội Biên Phòng và “Bác” đứng ngồi tại các quảng trường là 31 cái.

Như vậy cũng chưa đủ, hiện nay chúng còn muốn xây thêm 58 tượng đài “Bác” nữa, theo đề nghị ở các tỉnh đủ loại như “Bác” đứng vẫy tay chào, “Bác” ngồi đọc sách, “Bác” với các cháu thiếu nhi, “Bác” với đồng bào dân tộc… Đại khái là sẽ có tượng đài “Bác” với thanh niên xung phong ở tỉnh Bắc Kạn; tượng “Bác” với nông dân ở Thái Bình; tượng “Bác” và bố “Bác” tại Bình Định… Các tỉnh được hưởng “xái” xây tượng đài là Bắc Kạn, Bắc Ninh, Bình Định, Đà Nẵng, Điện Biên, Hải Phòng, Hải Dương, Kiên Giang, Quảng Bình, Quảng Trị, Sơn La, Thái Bình, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc.

Ngay tại Tòa Đô Chánh cũ ở Sài Gòn trước đây đã xây tượng “Bác” ngồi đọc sách, có lẽ ngồi lâu sợ “Bác” đau lưng, không tiếc tiền của dân, Cộng Sản đập đi và thay vào đó là bức tượng “Bác” đứng, lại khánh thành tưng bừng, có các em chân dài múa may trước mặt “Bác.” Các tỉnh tranh nhau để được xây tượng “Bác.” Bắc Ninh nói: “Tỉnh có vinh dự đón Bác 18 lần, vậy mà chưa có tượng đài nào!” Hải Phòng cũng khiếu nại muốn dựng tượng Bác vì “Bác” đã chín lần về thăm Hải Phòng. Như vậy rồi đây, tượng “Bác” sẽ lềnh khênh, ra ngõ là “gặp anh… hồ!”

Sẽ có tượng “Bác” ở làng Sen, nơi Bác sinh ra; ở Pắc Bó nơi “Bác” tắm suối và gặp mẹ của Nông Đức Mạnh; ở số 66 Hàng Bông Nhuộm, nơi xảy ra mối tình “Bác” với Nông Thị Xuân; ở Phan Thiết, nơi “Bác” đi qua, ở bến Nhà Rồng nơi “Bác” lên tàu… Ôi làm sao kể xiết những dấu chân của “Bác” để lại!

Việt Nam sẽ điên đầu với những tượng đài!

Với chủ trương tôn sùng cá nhân, tượng đài các quốc gia Cộng Sản mọc lên như nấm sau cơn mưa. Từ Lenin, Stalin, cho đến Mao Trạch Đông, cha con nhà họ Kim II-sung, Kim Jong-il, và Hồ Chí Minh. Cũng theo thứ tự như thế, lần lượt các chế độ Cộng Sản tàn lụi trên trái đất, sẽ chôn vùi theo các tượng đài.

Những năm gần đây, thế giới đã muốn xóa bỏ dấu tích của quá khứ Cộng Sản. Năm 1991, sau khi Liên Xô sụp đổ một thời gian, hàng ngàn người tụ tập ở quảng trường Dushanbe (thủ đô của Tajikistan), kéo sập tượng Lenin. Năm 1994, chính quyền Hungary đã quyết định hạ tượng Karl Marx ở khuôn viên đại học Corvinus, và ở khắp nơi các tượng đài Lenin, Stalin đều đã bị phá bỏ.

Cuối năm 2012, Mông Cổ đã cho dỡ bỏ bức tượng Lenin cuối cùng khỏi thủ đô Ulan-Bator. Tháng Tám, 2013, tượng Lenin ở Kiev đã bị giật sập, khởi đầu từ đó, tượng của Lenin trở thành mục tiêu phá bỏ tại các thành phố Ukraina khác như Zhytomyr, Boyarka, Slavuta, Bila Tserkva, Khmelnitsky và Bila Tservka.

Trong khi ở Việt Nam, ông Lenin của nước Nga vẫn còn đứng ở vườn hoa nước mình!

Ngày nay Stalingrad đã trở lại với Volgograd, Leningrad đã trả lại cái tên cũ là Saint Petersburg.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày trở lại tên Sài Gòn là lúc dân chúng Việt Nam “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc…” chúng ta kéo nhau đi đập nát những tượng đài…

Nỗi nhục của tượng đài không phải là lúc bị lật đổ, mà cả những lúc được dựng lên trong nỗi ta oán của quần chúng. Đó cũng là một lối tiêu xài hoang phí của đám cầm quyền trên nỗi lầm than, cơ cực của những người dân sống chung quanh tượng đài.

Sài Gòn và Hà Nội

Sài Gòn và Hà Nội

Tạp ghi Huy Phương

Sau khi đi tù về vài năm, khoảng 1985, tôi có mở một tiệm làm hình và tráng phim gia công trên đường Lý Thái Tổ, Sài Gòn.

Nhờ vậy, ở đây tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người đủ mọi tầng lớp xã hội và ở khắp mọi miền, nhất là dân miền Bắc, sau Tháng Tư, 1975, đổ xô vào Nam kiếm ăn rất nhiều. Vì dù miền Nam sau ngày “giải phóng” đã xuống cấp tột cùng, trông cũng còn khá giả, tươm tất hơn ở miền Bắc sau 20 năm dưới chế độ cộng sản.

Sài Gòn ngày nay. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Một ngày nọ, tôi gặp một người trung niên miền Bắc, trông mặt mày cũng khôi ngô, nhưng áo quần nhàu nát, làn da xanh mét như người thiếu ăn, anh vào tiệm, ngửa tay ra, nói mấy câu. Nghe giọng nói tôi biết ngay là người này ở ngoài Bắc mới vào, đang hành nghề xin ăn.

Tôi hỏi anh, “Tận ngoài Bắc, sao anh vào đây đi ăn xin?”

Không hề ngượng nghịu, anh nói rõ, “Vào đây xin 10 người cũng có được 6 người móc túi cho, lại chẳng bao giờ bị chửi bới. Ngoài Bắc, nhất là Hà Nội, thì đừng hòng! Có mà chết đói.”

Ðó là điều tôi nhận ra, như vậy là có sự khác biệt nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội. Hà Nội đại diện cho miền Bắc và Sài Gòn phản ánh cho những đặc tính của miền Nam.

Cộng Sản vào không phải làm điện khí hóa cho nông thôn trở thành thành thị, nhưng thật tình đã “nông thôn hóa” thành thị, nên dân Sài Gòn thường trực bị cúp điện, nhiều nơi tìm cách đào giếng để kiếm nước và sẵn sàng bới sân gạch lên để trồng khoai lang cải thiện, hay như ông bạn tôi ở chung cư Thanh Ða, bớt chỗ sinh hoạt để nuôi hai con heo nái trên sân thượng.

Sài Gòn sau thời gian đổi tên, nguyên do chỉ vì cái bến Nhà Rồng chết tiệt, chẳng mấy chốc xuống gần bằng Hà Nội. Bằng Hà Nội hơn, nhất là sau khi họ ồ ạt “vào thành phố” như một câu hát của Trịnh Công Sơn, với những “cửa hàng thịt phụ nữ,” “cửa hàng chất đốt thanh niên” mọc ra, cái cảnh phơi áo quần trên cửa sổ, treo khăn lông trong “xe con,” nuôi heo, trồng rau ngay trong sân nhà, hay hai anh bộ đội lái xe khác chiều dừng xe ngay giữa lộ để nói chuyện với nhau, bất cần tiếng chửi của thiên hạ.

Mới thoạt nhìn, Sài Gòn bỏ ngỏ và bắt đầu nhếch nhác giống Hà Nội, nhưng sự thật trong gan ruột, hai thành phố đối cực, đối đầu này đang có những điều khác biệt, một bên là “nơi hang ổ cuối cùng và đâu cũng thấy tàn dư Mỹ Ngụy,” và Hà Nội, “thủ đô của lương tri, phẩm giá con người!” Vì vậy mà ngày nay, sau gần 40 năm “thống nhất” người ta còn đi tìm và thấy ra có quá nhiều khác biệt giữa Sài Gòn, Hà Nội. Cách biệt vì cách đối xử chính trị như vậy, trách sao Sài Gòn và Hà Nội không cách biệt về văn hóa, mặc dầu lúc nào hai bên cũng cho bên kia là “quê hương tù dày!” Tuy vậy, Hà Nội thắt lưng, buộc bụng, tẩy não, “dốc hết hạt gạo, cục muối cho miền Nam đánh Mỹ,” làm sao so được với Sài Gòn “bơ thừa sữa cặn!”

Nói về giáo dục, sau Tháng Tư, 1975, đồng bào và thầy cô giáo miền Nam hẳn đã biết loại văn hóa ăn nói vô lễ, thô tục của lũ trẻ miền Bắc mới vào Nam, vì miền Bắc không có khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” treo trong các lớp tiểu học. Ngày ra Bắc, lên tận Hoàng Liên Sơn, tôi đã trông thấy những nét văn hóa tiêu biểu, được viết bậy lên vách tường nhà trường tiểu học, chưa kịp xóa sạch, nói đến sự quan hệ của ngành công an và giáo dục: “Công An (đ.) Cô Giáo!”

Trên đường làng Cẩm Nhân, Yên Bái, chúng tôi đi ngang một nhà giữ trẻ của hợp tác xã, nghe tiếng trẻ khóc la và tiếng quát của một phụ nữ: “Bố mẹ chúng mày đéo cho lắm vào, để chúng mày làm khổ thân bà!” “Bà” đây là người giữ trẻ của hợp tác xã nông nghiệp, bà có nhiệm vụ giữ trẻ thì khỏi ra đồng như các hợp tác xã viên khác. Liệu lũ trẻ này lớn lên dưới sự chăm sóc của những người này này, ngôn ngữ của chúng sẽ ra sao?

Trên các blog và báo chí trong nước, đề tài “những sự khác biệt giữ Sài Gòn và Hà Nội” tương đối là một đề tài hấp dẫn.

Tôi dẫn một vài ví dụ:

Giao tiếp:

– Ở Sài Gòn, bạn dửng dưng khi thấy cô bán hàng cúi gập người chào bạn.
– Ở Hà Nội, bạn xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó nói lời cảm ơn.

Hàng quán:

– Tô hủ tíu mì Sài Gòn được bưng ra với tô được đặt trên chiếc đĩa.
– Bát phở gà Hà Nội được khuyến mại với ngón tay cái của con bé bưng bê!

Ca ve:

– Khi bạn vừa thanh toán xong tiền cho cave…

Cave Hà Nội: “Cho em xin thêm 10 nghìn để còn đi xe ôm về.”
Cave Sài Gòn: “Em bớt cho anh 10 ngàn, lần sau nhớ kiu em nha!”

Nhà sách:

– Hà Nội: Nhân viên hách dịch.
– Sài Gòn: Vào đọc chùa thoải mái, nhất là các em bé, có thể ngồi tại chỗ đọc mà không sợ bị đuổi!

Trong quán ăn:

– Sài Gòn: “Vâng em làm ngay đây.”
– Hà Nội: “Làm gì mà cuống lên thế! Muốn nhanh thì xéo sang hàng khác!”

Bạn bè:

– Hà Nội: Hay để bụng, ghét mà trước mặt vẫn chơi, về nhà nói xấu.
– Sài Gòn: Mau huề, ghét là biến, không chạm mặt!

Nhưng liệu những sự khác biệt này kéo dài được bao lâu nữa? Bây giờ, Sài Gòn và Hà Nội đã bắt đầu đầu giống nhau, ảnh hưởng và bị đồng hóa, vì người Nam ra Bắc thì ít mà người Bắc vô Nam càng ngày càng đông, như một người tên Jor Dan viết trên blog: “Mỗi người có một cách suy nghĩ riêng. Nhưng đa phần chỉ nói yêu Hà Nội, nhưng lại thích được sống ở Sài Gòn. Ca sĩ Hà Nội vào Sài Gòn lập nghiệp nhiều quá còn gì!”

Sau gần 40 năm bây giờ hai thành phố này đã có những chuyện giống nhau. Ở đâu cũng kẹt xe kinh khủng, và sau một trận mưa, không chỉ ở thành phố “bác” mà ở Hà… cũng lội!

Vô kỷ luật:

Sinh viên:

– Hà Nội: Nhiều em cave trông như sinh viên.
– Sài Gòn: Nhiều em sinh viên trông như cave.

Giao thông:

– Sài Gòn: Bạn có thể vượt đèn đỏ thoải mái.
– Hà Nội: Bạn có thể lượn lờ trước mũi xe hơi.

Chúng ta không hy vọng gì Hà Nội và Sài Gòn sẽ mãi mãi khác nhau. Sự đồng hóa và việc di dân ồ ạt sẽ làm cho Sài Gòn càng ngày càng gần với Hà Nội. Ðiều rõ nhất là Hà Nội trước năm 1954 và Hà Nội bây giờ hoàn toàn khác nhau. Năm 1954, sau Hiệp Ðịnh Geneva, một số người đã mang sự thanh lịch của Hà Thành năm xưa đi xa, để “Hà Lội” ngày nay cho những người mới vào tiếp thu, từ giọng nói đến văn hóa cư xử đã hoàn toàn khác biệt.

Người Sài Gòn hôm nay sẽ không còn là người Sài Gòn của những ngày tháng cũ, tất cả chỉ còn là chuyện thời gian.

Chỉ sợ sau ngày Sài Gòn trở lại tên cũ, chất Sài Gòn sẽ không còn nữa.

“Đảng là hạnh phúc, là văn minh, là dân chủ, là hoà bình, là ấm no”

“Đảng là hạnh phúc, là văn minh, là dân chủ, là hoà bình, là ấm no”

FB Nhân Thế Hoàng

Qua khẩu hiệu “Đảng là hạnh phúc, là văn minh, là dân chủ, là hoà bình, là ấm no” được treo trước cổng một cơ quan nhà nước cho chúng ta thấy điều gì?

Từ khẩu hiệu trên nếu đem so sánh với thực tế, chúng ta có thể kết luận là: “thấy zậy mà không phải zậy à nghe.”

Giờ thử phân tích xem vì sao lại đưa ra kết luận trên nhé:

1. Nếu đảng là hạnh phúc thì sao dưới sự lãnh đạo của đảng, dân Việt hiện nay lại cảm thấy không hạnh phúc đến vậy. Với phần đông dân số sống trong nghèo khó, thu nhập không đủ cho chi tiêu hàng ngày thì hạnh phúc cái nỗi gì; chưa kể đến thực phẩm độc hại, môi trường ô nhiễm, thuế phí chồng chất, đường xá thì ổ gà, ổ voi…vv…Vậy lấy gì để khẳng định là hạnh phúc như khẩu hiệu mà đảng đưa ra đây?

2. Nếu Đảng là văn minh, thì sao dưới sự lãnh đạo của đảng, dân Việt lại thiếu văn minh đến vậy? Đi đến đâu thì trộm cắp, làm gái đến đó, thảm sát diễn ra như cơm bữa; cướp, giết, hiếp thì lộng hành như chốn không người, vượt đèn đỏ, xã rác, khạc nhổ nơi công cộng đã ăn sâu vào số đông dân số…vv…. Vậy như thế nào gọi là văn minh?

3. Nếu đảng là dân chủ thì sao mở miệng nói trái ý đảng đều bị quy vào thành phần suy thoái hoặc phản động? Tại sao dân không được chọn người dẫn dắt mình mà toàn là “đảng cử dân bầu”? Tại sao dân không có quyền lập hội nhóm, biểu tình…vv…. Vậy như thế nào gọi là dân chủ?

4. Nếu Đảng là hoà bình thì tại sao dưới sự dẫn dắt của đảng, ngư dân lúc ra biển toàn bị “tàu lạ” cướp phá, Hoàng-Trường Sa thì địch nó xây cả căn cứ quân sự trên đó, rồi thác bản giốc, ải nam quan giờ ở đâu? Vậy có phải cam chịu để họ cướp phá, muốn làm gì thì làm trên lãnh thổ của mình được gọi là hoà bình?

5. Nếu Đảng là ấm no thì sao dưới sự lãnh đạo của đảng Việt Nam giờ như một cái trại từ thiện khổng lồ đến vậy? Trẻ em miền núi phải bắt chuột để bữa ăn có thịt, dân đau ốm nằm chờ chết vì không tiền đi viện; trẻ em, người già đi bán vé số, ăn xin đầy đường, người dân phải bán cả nội tạng để cải thiện cuộc sống…vv….
Vậy ấm no mà đảng hứa mang lại cho dân sao những điều trên vẫn còn nhiều vô kể?
…………………

Một số người sẽ nguỵ biện rằng những trường hợp trên nước nào cũng có, rằng chỉ là con sâu làm rầu nồi canh, rằng sao toàn nhìn vào những điều tiêu cực để phán xét….nhưng bạn có công nhận rằng những điều kể trên nó hiếm xảy ra ở các nước văn minh (nơi không hề có khẩu hiệu như kiểu trên), trong khi ở nước ta thì nó hiện hữu đầy rẫy từ thành thị cho đến tận nông thôn, nhìn đâu cũng thấy tiếng kêu ai oán khắp nơi.

Có lẽ đảng nên đưa ra khẩu hiệu cho dễ hiểu rằng “các thành viên của đảng luôn được hưởng những điều trên” thì nó đúng hơn là dành cho dân. Người cộng sản làm cách mạng không phải là để đem lại hạnh phúc cho người dân, họ làm cách mạng để người dân mang lại hạnh phúc cho họ là khẩu hiệu đúng nhất hiện nay mọi người à!

Suy nghĩ nhân kỷ niệm 50 năm Chương Trình Phát Triển Quận 8 Sài gòn (1965 – 2015)

Suy nghĩ nhân kỷ niệm 50 năm Chương Trình Phát Triển Quận 8 Sài gòn (1965 – 2015)

Bài ghi ngắn của Đoàn Thanh Liêm

Mấy năm gần đây, tôi đã có dịp viết nhiều bài về các mặt sinh họat của chương trình phát triển cộng đồng này tại một quận ven đô Sài gòn hồi giữa thập niên 1960. Nay nhân kỷ niệm 50 năm ngày khởi sự Chương Trình Phát Triển Quận 8 vào trung tuần tháng Tám năm 1965, tôi xin ghi ra một số suy nghĩ đúc kết được gói ghém trong mấy mục ngắn gọn như sau đây:

1 – Vào năm 1965, quận 8 là một địa phương có nhiều khu nhà ổ chuột, có nơi nhà ở xen kẽ với những ngôi mộ vô thừa nhận. Dân Sài gòn thường biết đến các địa danh như Lò Heo, Trại Tế Bần, Sở Rác mà đều có chung một tên là Chánh Hưng. Vì tình hình mất an ninh ở nông thôn, nên bà con kéo về tá túc rất đông ở vùng ven biên đô thị tiếp giáp với các huyện Cần Đước, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An. Có thể nói quận 8 lúc đó là một khu vực kém phát triển nhất của thành phố Sài gòn (the most depressed area). Đó là lý do tại sao anh chị em chúng tôi đã quyết định đến nơi đây và khởi sự một chương trình cải tiến xã hội từ năm 1965.

Và qua năm 1966, thì chương trình lại nới rộng địa bàn họat động qua hai quận 6 và 7 lân cận – với tổng số dân trong 3 quận là khỏang 500,000 người.

2 – Tính chất căn bản của Chương trình này là sự hợp tác giữa chánh quyền nhà nước và giới thanh niên tự nguyện đến phục vụ bà con tại địa phương.  Hồi đó, lớp bạn trẻ chúng tôi đều ở vào lứa tuổi từ 20 tới 30 – có người còn là học sinh trung học, có người là sinh viên đại học và một số huynh trưởng đã tốt nghiệp đại học.

Thọat đầu, anh chị em đầu đàn họp lại chung với nhau để cùng sọan thảo ra được một bản Dự án lấy tên là “Chương Trình Phát Triển Quận 8 Sài gòn” (CTPT.Q8). Dự án này được đệ trình lên văn phòng cấp trên và được vị Thủ Tướng Chánh Phủ lúc đó là Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ chấp thuận và giao cho Bộ Thanh Niên và Tòa Đô Chánh Sài gòn là hai cơ quan đứng ra bảo trợ và giám sát mọi họat động của Chương Trình.

Nói theo ngôn ngữ ngày nay, thì đây là một dự án của Xã hội Dân sự mà được chánh quyền nhà nước chấp thuận và theo dõi yểm trợ.

3 – Sau gần 6 năm họat động, chương trình đã đạt được nhiều thành quả tốt đẹp về nhiều mặt qua hàng trăm những dự án công tác lớn, nhỏ nhằm cải thiện môi trường sống nơi các xóm hẻm tối tăm lầy lội, chỉnh trang tái thiết gia cư – đặc biệt sau vụ tấn công hồi Tết Mậu Thân 1968 – mở mang giáo dục phổ thông, tổ chức những lớp dậy nghề, chăm sóc y tế v.v…

Mấu chốt của sự thành công này là do nơi các anh chị em cán bộ tự nguyện của chương trình đã gây được sự tin tưởng tín nhiệm và phấn khởi của số đông quần chúng nhân dân tại địa phương – để họ cùng hăng say tham gia “kẻ góp của, người góp công” vào vô vàn vô số những dự án cụ thể và thiết thực nhằm xây dựng cuộc sống mới tiện nghi thỏai mái cho tập thể cộng đồng sở tại.

Với phương thức hòa đồng vào trong môi trường quần chúng địa phương – qua lối sống “Tam Cùng” tức là Cùng Ăn, Cùng Ở, Cùng Làm với bà con tại chỗ – mà anh chị em cán bộ đã gây được mối thiện cảm của người dân – để rồi từ đó mà tiếp tục nhận lãnh thêm được những sáng kiến tích cực trong việc cải tiến dân sinh sao cho thật phù hợp với điều kiện đặc thù của từng địa phương xóm ngõ.

4 – Về mặt nhân sự tham gia chương trình, thì vì tính chất hòan tòan tự nguyện, nên các thành viên tham gia công tác tùy theo hòan cảnh thuận tiện cho cá nhân từng người một. Do đó, mà có người chỉ nhập cuộc với chương trình trong thời gian ngắn một vài tháng, có người thì tham gia lâu dài hơn và có người thì sinh họat bền bỉ với chương trình trong suốt 6 năm ròng rã. Đó là thành phần cán bộ tự nguyện cơ hữu của chương trình.

Còn thành phần các thân hữu do các đòan thể, tổ chức bạn gửi đến tham gia trong từng công tác ngắn hạn một vài ngày, thì rất đông đảo – có thể lên đến con số cả ngàn người trong 6 năm họat động của chương trình.

Nhưng thành phần chủ chốt vẫn là đại bộ phận đông đảo hàng ngàn, hàng vạn đồng bào địa phương – vì chính khối quần chúng này mới là chủ thể của mọi dự án công tác được gọi là “Phát Triển Cộng Đồng”. Đó là hàng nhiều trăm những dự án công tác mà do sáng kiến và nỗ lực của tòan thể dân chúng nơi cộng đồng sở tại góp phần vào việc cải thiện cuộc sống của mỗi thành viên trong chính cộng đồng đó vậy.

5 – Về mặt yểm trợ vật chất cũng như tinh thần, thì có thể liệt kê như sau:

A – Từ phía chánh quyền nhà nước.

Ngòai việc biệt phái một số nhỏ nhân viên công chức cho chương trình, thì chánh quyền còn cấp phát hai đợt ngân khỏan, tổng cộng là 30 triệu đồng. Cấp lãnh đạo là vị Bộ Trưởng Thanh Niên và nhất là vị Đô Trưởng Sài gòn đã luôn luôn khích lệ và yểm trợ tinh thần cho các anh chị em cán bộ tự nguyện chúng tôi.

B – Từ phía cơ quan Viện Trợ Mỹ USAID.

Qua sự giới thiệu của chánh quyền, cơ quan USAID đã cung cấp khá dồi dào cho chương trình phát triển chúng tôi các vật liệu xây dựng cơ bản như ciment, sắt và tôle. Nhờ vậy, mà chương trình mới có thể thực hiện được nhiều công trình xây dựng và tái thiết lên đến nhiều ngàn đơn vị gia cư, hai trường trung học và hàng trăm dự án chỉnh trang xóm ngõ v.v… trong cả ba quận 6,7 và 8 Sài gòn. Ngòai ra USAID còn trích ngân khỏan 10 triệu đồng vào giai đọan chót của chương trình trong các năm 1970 -71.

C – Từ phía các cơ quan từ thiện nhân đạo quốc tế.

Chương trình còn nhận được sự yểm trợ lin tinh về dụng cụ thiết bị đặc biệt cho các lớp dậy nghề như máy may, máy thêu đan, máy đánh chữ, dụng cụ sửa radio, TV v.v… từ nhiều cơ quan tư nhân quốc tế – điển hình như CARE, Catholic Relief Service, Vietnam Christian Service, Asian Christian Service, Adenauer Foundation, OXFAM, IVS v.v…

6 – Để tóm kết lại.

Kể từ ngày khởi sự CTPT Q8 vào năm 1965 đến nay là năm 2015, thì đã có biết bao nhiêu anh chị em trong số hàng trăm thiện nguyện viên – cũng như biết bao nhiêu thân hào nhân sĩ, các vị tôn trưởng cùng rất đông đồng bào địa phương trong cả 3 quận 6,7 và 8 đã rũ áo ra đi về miền miên viễn. Số người quá vãng quá nhiều, tôi không thể nào liệt kê ra đây cho hết được.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm này (1965 – 2015), tôi xin ghi lời thương tiếc chân thành đến tất cả quý vị cùng quý anh chị. Và xin cầu chúc quý vị cùng anh chị luôn được thanh thản nơi cõi Vĩnh Hằng.

Và tôi cũng xin gửi lời tri ân nồng thắm đến tất cả các ân nhân và cơ quan nhân đạo đã tận tình hỗ trợ cho chương trình phát triển chúng tôi trong thời gian chiến tranh vẫn còn tàn phá khốc liệt vào những năm xa xưa đó.

Và cuối cùng, tôi cũng cầu mong cho thế hệ hậu duệ của quý vị tôn trưởng, thân hào nhân sĩ ở địa phương cũng như của các anh chị em thiện nguyện viên sẽ giữ mãi được cái ngọn lửa thiêng liêng của lòng nhân ái nơi cha bác của mình – để mà tiếp tục công cuộc phục vụ nhân quần xã hội trong hòan cảnh hiện tại trên quê hương đất nước thân yêu ngàn đời của mình vậy.

Westminster California, Ngày 15 Tháng 8 Năm 2015

Đoàn Thanh Liêm

 

“Cầu quan”, tượng đài và sự vô trách nhiệm”

“Cầu quan”, tượng đài và sự vô trách nhiệm”

Kim Dung

Từ câu chuyện “cầu quan” đến xây các tượng đài, tưởng là “vì dân” nhưng ở một góc độ khác, thực ra, là ự vô trách nhiệm với giang sơn, xã tắc, vào lúc vận mệnh quốc gia nhiều thách thức!

Cái cây cầu treo có tên Khe Tây, vừa được khánh thành, nằm ở xóm 06, xã Sơn Thọ, huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh) có lẽ bỗng ngơ ngác không hiểu sao mình trở thành nổi tiếng và “quý tộc” vậy? Bởi nhiều người dân ở vùng miền núi rừng heo hút này gọi đó là “cầu quan”

Từ cầu dân thành “cầu quan”

Gọi là “cầu quan” bởi khởi đầu, đó là “cầu dân”, nằm trong Đề án xây dựng 186 chiếc cầu treo dân sinh ở 28 tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên của Bộ Giao thông Vận tải.

Ý nghĩa nhân sinh nằm ngay trong cái tên gọi- cầu treo dân sinh. Vậy mà khi về với xã Sơn Thọ, nó biến thành “cầu quan”.

“Cầu quan” bởi lẽ ra phải phục vụ cho 42 hộ dân như trong đề án, thì thực chất khi khánh thành xong, cầu chỉ phục vụ mỗi… hai hộ dân. Gía trị đầu tư chiếc cầu treo này không nhỏ- khoảng 3,5 tỉ đồng, mà oái oăm, là theo nhận định của p/v (TPO, ngày 06/8) cầu treo dân sinh được xây dựng ngay gần chiếc cầu liên thôn kiên cố (có tên là cầu Gãy)- đi thẳng vào ngõ nhà ông Chủ tịch xã Sơn Thọ, huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh).

Khỏi phải nói cây cầu treo bỗng bị… treo lơ lửng trong sự quan sát, dòm ngó và bàn luận ồn ào của báo chí, các trang mạng XH ra sao. Bởi sự hiện diện của nó là sự lãng phí, bất công đã đành. Nó còn chứa đựng cả sự quan liêu, dối trá, vô trách nhiệm của những vị cán bộ… có trách nhiệm các cấp, xung quanh cây cầu này.

Ngay lập tức, hình thành nên hai bên cây cầu treo là sự đối đáp, phản biện lẫn nhau giữa “hai phe”. Một bên là Tổng cục Đường bộ VN, cơ quan chịu trách nhiệm về cây cầu, một bên là dư luận báo chí. Khẳng định và hoài nghi. Thanh minh và mổ xẻ. Tự khen và chê trách. Hệt “hát đối” quan họ Bắc Ninh. Vui phết!

Phía bảo vệ vị trí cây cầu, ở đây là ông Phạm Quang Vinh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ VN khẳng định, không có chuyện xây cầu treo cho hai hộ dân, báo chí phản ánh chưa đúng thực tế. Theo ông này, vị trí xây dựng cầu treo Khe Tây là để phục vụ việc đi lại, sản xuất của cụm dân cư sinh sống nằm bên sườn núi Khe Tây thuộc thôn 06 của xã Sơn Thọ. Đặc biệt, lưu lượng người qua lại khoảng 500 lượt/ngày đêm, theo biên bản làm việc ngày 1/11/2014 giữa đơn vị Tư vấn thiết kế với đại diện chính quyền địa phương (báo Giao thông, ngày 08/8).

Cũng ngay lập tức nhiều tờ báo như Tiền Phong, VietNamNet, Bảo vệ Pháp luật có phóng viên về tận nơi chiếc cầu là nơi hò hẹn của … đôi bên để tận mắt nhìn, tận tai nghe. Và những nhìn nhận của báo chí lại khác hẳn.

H1

Cán bộ địa chính xã Sơn Thọ dùng dao phát rừng để tìm người dân…qua cầu treo Khe Tây (Nguồn: VNN)

Báo VietNamNet, ngày 12/8 đã đăng khá nhiều bức ảnh và thông tin để khẳng định, muốn đi qua cầu treo dân sinh Khe Tây, người dân phải đi đường rừng hơn 01km, vượt qua 02 cái khe. Trong khi, chỉ cần đi theo con đường bê tông rộng rãi chừng 500m là đến cầu Gãy (cách cầu treo chừng 200m). Vì thế, dù đã đưa vào sử dụng 02 tháng nay nhưng chẳng mấy ai qua cầu. Đường dẫn tới cầu treo chỉ hợp cho những ai muốn có sở thích “trèo đèo lội suối” (?). Đặc biệt nhất, trong số hơn 20 hộ dân mang tiếng được “hưởng lợi” từ việc xây dựng cầu treo, nhiều người bất ngờ và không biết chuyện xây cầu để phục vụ họ!

Hãy nghe những người dân thuộc diện “qua cầu” nói những lời không thể gió bay. Ông Nguyễn Văn Hoàn: Lâu nay gia đình tôi đi qua cầu Gãy. Việc xây cầu treo, chúng tôi không biết“- ông khẳng định trước mặt lãnh đạo Sở GTVT, Ban QLDA, UBND xã và các phóng viên. Rồi, không nhẽ 19 hộ dân ở đây vượt 02 cái khe, leo lên rừng để ra cầu treo của ông Chủ tịch chọn điểm xây dựng?

Chả lẽ cây cầu treo và ông Chủ tịch xã khôn lỏi cũng vẫn thích đánh đố “tinh thần vượt khó” của người dân nghèo khổ?

Bà vợ ông Nguyễn Hữu Hòa, cũng thuộc đối tượng “qua cầu”: Khi xây cầu xong mới biết cầu làm vào nhà lãnh đạo xã, người dân không hề được cán bộ giới thiệu hoặc ký tá gì liên quan đến cái cầu treo này.

Còn báo Tiền Phong, ngày 11/8 gọi thẳng tên vụ việc là “sự gian dối trắng trợn”, khi cho biết, con đường đất được đào men theo núi hơn 200m từ nhà ông Chủ tịch xã Sơn Thọ đi vào núi là để “che mắt” các đoàn kiểm tra.

Đựơc biết mới đây, Phó TT Hoàng Trung Hải yêu cầu Bộ GTVT khẩn trương kiểm tra, rà soát lại dự án, báo cáo TTCP trước ngày 20/8 tới.

Chưa biết việc điều tra kết luận của ngành chủ quản sẽ ra sao. Cho dù là biện hộ, cây cầu bắc cho tương lai, cho mô hình nông thôn mới của 42 hộ dân sẽ sinh nở nay mai (dự kiến), nhưng những thông tin chưa đầy đủ trên báo chí đã phác thảo sự quan liêu, nói dối và cả vô trách nhiệm của cán bộ các cấp từ Tổng cục Đường bộ VN, đến Ban QLDA xung quanh một cây cầu treo vô tội. Liệu ở đây giữa ông Chủ tịch xã và Ban QLDA cây cầu có sự “thống nhất” nào không?

Quan liêu, bởi trong báo cáo tổng cục này chỉ “dựa theo” biên bản làm việc của đại diện chính quyền địa phương, mà khẳng định lưu lượng tới 500 lượt người/ ngày đêm. Chính quyền địa phương ở đây, cuối cùng, lại vẫn là ông Chủ tịch xã, hộ gia đình được thụ hưởng cây cầu Khe Tây. Từ sự quan liêu đến dối trá hóa ra chỉ mỏng manh như một tờ giấy làm…. biên bản.

Nhưng sự quan liêu khi phải cọ sát với thực tiễn mới làm tóe loe những điều hài hước. Theo VietNamNet, ngày 13/8, bản thân ông Phạm Quang Vinh, Phó TCT Tổng cục Đường bộ, thừa nhận với báo chí, dù trực tiếp vào khảo sát hiện trường hai lần nhưng ‘chỉ thẩm định vị trí đặt mố cầu; không tham gia thẩm định về mặt kinh tế – xã hội’.

Còn ông Bùi Đức Đại, Phó GĐ sở GTVT Hà Tĩnh khi dẫn đầu một đoàn kiểm tra, đã không thể đi hết con đường mà theo giới thiệu của ông Nguyễn Đình Dũng, Phó CT xã Sơn Thọ là ‘người dân thường xuyên đi để ra cầu treo”. Bởi, nếu đi con đường ấy, phải vượt qua nhiều đồi núi và 02 khe suối.

Dối trá, bởi ông Giám đốc Ban QLDA 3 (Tổng cục Đường bộ VN) còn phản pháo báo chí một cách không biết ngượng khi khẳng định bằng một thông tin nhào nặn, rằng “tất cả đều có giấy tờ và chứng nhận của từng hộ dân”. Cũng theo VietNamNet ngày 13/8 mới đây, trong bản danh sách có 42 hộ dân được hưởng lợi từ cầu treo dân sinh Khe Tây được UBND xã Sơn Thọ gửi cho Tổng cục Đường bộ VN lại được lập vào ngày… 31/7/2015. Tức là sau khi chiếc cầu đã xong (tháng 6/2015), báo chí đã đưa tin, phản ánh. Và 42 chữ ký này nét bút rất giống nhau (?)

Vô trách nhiệm, bởi theo sự thú nhận của ông Phó CT UBND huyện Vũ Quang, nếu nói tính cấp bách thì chỗ này phải thừa nhận là chưa. Tiền đề xuất, nếu huyện đầu tư, câu chuyện hoàn toàn khác. Họ giúp thì mình nhận.

Hóa ra, chỉ vì là tiền “chùa” nên có quyền… nói dối và lãng phí?

Cầu treo Khe Tây chỉ là một trong số hàng trăm cây cầu dân sinh đã và sẽ được xây dựng. Với kiểu làm việc quan liêu, dối trá và vô trách nhiệm này, nay mai, sẽ còn bao nhiều cây “cầu quan” ra đời?

Làm suy yếu vận mệnh quốc gia?

Trước đó, có một tỉnh miền núi cao đặc biệt khó khăn cũng đã trở nên nổi tiếng trong cả nước, vì độ “chơi sang”, gây ra luồng dư chấn XH rộng lớn, nhiều phê phán hơn ủng hộ, nhiều hoài nghi hơn chia sẻ, kéo dài đến tận giờ. Đó là tỉnh miền núi cao Sơn La.

Không gọi là “chơi sang” sao được khi tỉnh này tung ra chủ trương xây cái gọi là cụm công trình quảng trường- tượng đài với một con số khủng– 1400 tỷ đồng.

Xây tượng đài là việc của nhiều quốc gia vẫn thường làm. Để tôn vinh công lao dựng nước, giữ nước của những con người vĩ đại. Với những quốc gia văn minh, phát triển, tượng đài lãnh tụ được tạc tài hoa như những công trình nghệ thuật, lấp lánh tính thẩm mỹ, mỹ thuật, trở thành những địa danh văn hóa, thực sự thu hút khách du lịch năm châu bốn biển, thành niềm kiêu hãnh của quốc gia đó. Các tượng đài trở thành vĩnh cửu với thời gian, góp vào nền tảng văn hóa xứ sở, thành niềm tự hào của nghệ thuật điêu khắc, phản chiếu tư duy và tầng nền văn hóa quốc gia.

H1

Bốn vị Tổng thống Hoa Kỳ được tạc tượng trên núi Rushmore, từ trái qua: George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt, Abraham Lincoln (Trong Khu tưởng niệm Quốc gia). Nguồn: Kênh 14.vn

Vấn đề là trình độ điêu khắc, kiến trúc, cách làm và hoàn cảnh XH phát triển ra sao, có tương đồng hay không, có vì dân hay không?

Nếu so với những tiêu chí đó thì Sơn La là một tỉnh miền núi cao khó khăn vào loại nhất nhì khu vực Tây bắc. Theo Tuần Việt Nam, ngày 07/8, toàn tỉnh có 11 huyện và 01 thành phố thì có tới 05/62 huyện nghèo nhất nước. Tính đến hết năm 2013, còn gần 69.000 hộ nghèo, chiếm 27% tổng số hộ; hơn 30.000 hộ cận nghèo, chiếm gần 12% tổng số hộ. Năm 2014 có hơn 31.000 hộ với hơn 141.000 nhân khẩu thiếu đói. Nếu đối chiếu con số tiền tỷ sẽ được đầu tư để xây quảng trường tượng đài với con số dân thiếu đói, thì sự “chơi sang” có gì đó không phải đạo.

Người viết bài này từng lên công tác Sơn La, điều tra về GD vùng Tây bắc, nên quá hiểu cái nghèo, cái cực của trẻ em, người dân miền núi cao này ra sao. Thật có lý khi ông Tráng A Pao- nguyên CT Hội đồng Dân tộc Quốc hội khi trả lời báo Dân trí, ngày 05/8 cho rằng, nếu làm tượng đài to quá sẽ lãng phí và không hợp với lòng Bác vì đồng bào dân tộc còn rất nghèo khổ. Không phải cứ xây tượng đài thật lớn là thể hiện lòng tôn kính. Vì nhiều nơi, nhiều vùng Bác Hồ chưa đặt chân đến, nhưng tại sao nhân dân, đồng bào vẫn luôn nghĩ, nhớ về Bác?

Nói cho cùng, tượng đài được tạc vào tâm thức của người dân mới là vĩnh cửu, cho dù mọi biến thiên của trời đất, mọi ấm lạnh, nắng mưa lịch sử.

Sự ồn ào của XH không chỉ vì Sơn La còn quá nghèo, tiêu tiền lại vung tay quá trán, mà còn ở chỗ này, dư luận XH hoài nghi về tính thẩm mỹ của những tượng đài xây nhan nhản ở các địa phương từ trước đến nay.

Với một nền kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc, tạc tượng thực chất còn quá mỏng, nghèo nàn, ít bản sắc dân tộc, các tượng đài ở nước Việt từ xưa đến nay mang nặng tính chất tượng đài cổ động, cho mục đích chính trị, tuyên truyền vận động, nên rất ít tính nghệ thuật, thẩm mỹ. Do nghèo nàn về sức tưởng tượng, cảm hứng sáng tạo trong nghệ thuật điêu khắc, hầu hết các tượng đài như cùng đúc… một lò, rập khuôn cứng nhắc, khiến người xem chẳng mấy xúc động, thấm thía về vẻ đẹp cùng linh hồn tượng đài.

H1

Tượng đài cụ Hồ ở Cần Thơ. Nguồn tiin.vn

Chưa nói đến sự vô lương tâm của những kẻ rút ruột, ăn cắp khiến tượng đài lớn và được mong đợi như tượng đài Điện Biên Phủ, trở nên “đau nhức” trong con mắt người xem. Chính vì thế cái giá hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng thực chất sẽ còn “đắt” hơn nữa, nếu so với chất lượng công trình, điêu khắc, chất lượng nghệ thuật.

Mặt khác, nếu nói xuất phát từ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân thì xét cho công bằng, từ trước đến nay chưa có địa phương nào, kể cả Sơn La, đưa ra được kết quả điều tra mang tính XH học về nguyện vọng, nhân dân cần có tượng đài- một tiêu chí tối thiểu, thể hiện mục đích “vì dân”. Không thể chỉ dựa vào câu nói chung chung của một vài vị quan chức đại diện là… xong om!

Nói điều này, bởi ở các quốc gia văn minh có nền quản trị công khai minh bạch, thì việc “vì dân” nó rất cụ thể, sinh động, và rạch ròi.
Bởi họ rất ý thức không có nhân dân lấy đâu ra dân tộc? Lấy đâu ra những sự hy sinh vô hạn gìn giữ chủ quyền quốc gia và xây dựng đất nước?

Tỷ như ở Thụy Sĩ, Hội đồng t/p Bern đã phải làm một cuộc trưng cầu dân ý xem dân có đồng tình xây dựng quảng trưởng t/p không? Chỉ khi 62% dân t/p OK, chính quyền mới xắn tay vào cuộc (Tuần Việt Nam, ngày 07/8)

Tỷ như ở nước Mỹ, từ tượng đài George Washington, vị tổng thống đầu tiên, cho đến nhà tưởng niệm Abraham Lincoln và Thomas Jefferson, một tổng thống nổi danh trong nội chiến, một tổng thống viết Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, cho đến tượng đài Martin Luther King, người hoạt động nhân quyền, cho đến khu tưởng niệm vị tổng thống ngồi xe lăn Franklin Delano Roosevelt… tất cả đều do tiền của tư nhân, của người dân tự nguyện đóng góp. Nhà nước chỉ cấp cho đất và giấy phép xây dựng, mà không hề dùng tới ngân sách, vì đó là tiền thuế của người dân Mỹ (Tuần Việt Nam, ngày 11/8)

Nhưng ngay cả khi các tiêu chí về điêu khắc, nghệ thuật kiến trúc đáp ứng yêu cầu, thì một điều kiện cốt yếu nhất là tượng đài đó có tương đồng với hoàn cảnh kinh tế XH không? Và có tạo nên sức mạnh hay góp phần làm suy yếu nội lực quốc gia? Câu chuyện của nước Nhật Bản vào thế kỷ xa xưa (15-17) với những tham vọng xây dựng tượng đài, chùa chiền lộng lẫy, nguy nga, đã làm cạn kiệt nguồn lực đáng lẽ phải dành cho củng cố lực lượng phòng vệ, khoan thư sức dân và đầu tư cho nguồn nhân lực, liệu có là bài học đáng “giật mình”.

Và nếu đặt chủ trương quảng trường- tượng đài khủng của Sơn La hàng nghìn tỷ đồng, tiếp theo đó, là 58 địa phương cũng đang rậm rịch theo con đường mòn ấy của Sơn La, trong lúc nợ công tính theo đầu người, tỷ lệ bội chi đều cao hơn cùng thời điểm năm trước. Trong lúc ngân khố quốc gia khó khăn, Bộ Tài chính vừa đề xuất vay Ngân hàng Nhà nước 30000 tỷ đồng để bù đắp cho việc bội chi ngân sách. Trong lúc Biển Đông, biên giới luôn đứng trước những thách thức về chủ quyền đất nước…, thì việc tốn hàng trăm, nghìn tỷ đồng xây đủ kiểu tượng đài “cổ động” liệu có làm cho các quan chức các địa phương “động lòng” điều gì không?

Từ câu chuyện “cầu quan” đến xây các tượng đài, tưởng là “vì dân” nhưng ở một góc độ khác, thực ra, là sự vô trách nhiệm với giang sơn, xã tắc, vào lúc vận mệnh quốc gia nhiều thách thức!