Chứng khoán Việt Nam tuột dốc chưa từng thấy vì TQ

Chứng khoán Việt Nam tuột dốc chưa từng thấy vì TQ

RFA

Thị trường chứng khoán thế giới sụt mạnh, cổ phiếu thị trường Thượng Hải tiếp tục xuống giá ở mức chưa từng thấy trong 8 năm qua, đồng dollars Mỹ xuống giá với đồng Euro và đồng yen Nhật, VN-Index cũng tụt điểm ở mức kỷ lục, là chuyện xảy ra trong ngày hôm nay, gây rúng động kinh tế toàn cầu, cho dù phần đông chuyên gia vẫn nói là chưa đến mức để gọi là khủng hoảng.

Những bản tin chúng tôi thu thập được đều nói tình trạng bất ổn xuất phát từ Trung Quốc, sau khi giới đầu tư lo âu về suy giảm kinh tế và không có dấu hiệu cho thấy thị trường sẽ ổn định.

Đặc biết điều này xảy ra chỉ 24 giờ đồng hồ sau khi Bắc kinh đưa ra biện pháp cho phép quỹ hưu bổng được phép đầu tư tới 30%, tức sử dụng nhiều tỷ nhân dân tệ để mua cổ phiếu ở thị trường nội địa.

Quyết định này đã không đem lại kết quả như trông chờ, và chuyên gia Takako Masai, trưởng ban nghiên cứu thị trường của ngân hàng Shinsei ở Tokyo cho rằng ông nhìn thấy những dấu hiệu chẳng khác gì bước đầu của cuộc khủng hoảng tài chánh Châu Á xảy ra hồi thập niên 1990.

Cho đến cuối ngày, vẫn có tin đồn nói rằng Trung Quốc sẽ giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng, tức cho phép ngân hàng đầu tư mạnh hơn vào thị trường nội địa. Không rõ đồn đoán này cho trở thành sự thật hay không, nhưng là một bằng chứng cho thấy mọi người đang trông chờ những biện pháp quyết liệt hơn mà Bắc Kinh phải đưa ra để bình ổn thị trường, không ảnh hưởng tới thị trường quốc tế.

Tại Việt Nam, giá chứng khoán tiếp tục giảm mạnh ở cả 2 sàn Hà Nội và Sài Gòn, có lúc Vn-Index rớt 32 điểm, là mức điểm tuột dốc chưa từng thấy trong 15 tháng qua.

Nói chuyện với Ban Việt Ngữ chúng tôi, một số người thường xuyên giao dịch chứng khoán ở Việt Nam nói rằng tình trạng này xảy ra vì một số lý do, như ảnh hưởng của thị trường chứng khoán toàn cầu, nhưng quan trọng nhất vẫn là tiền đồng của Việt Nam đang mất giá, đầu tư vào cổ phiếu không có lời, do đó mọi người nghĩ ngay đến chuyện phải bán tống bán tháo để thu vốn về hầu tránh thêm lỗ lã, và chờ đợi đến ngày thị trường ổn định trở lại.

ĐỐI CHIẾU TÊN ĐƯỜNG SÀI GÒN XƯA & NAY

ĐỐI CHIẾU TÊN ĐƯỜNG SÀI GÒN XƯA & NAY

Posted on 01.08.2011 by hongoccan2015

TÊN ĐƯỜNG PHỐ SAIGON XƯA & NAY

Để nhớ một thời…

đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

nước còn cau mặt với tang thương…

(Bà Huyện Thanh Quan)

Tên đường phố Sài Gòn : xưa (thời Pháp thuộc) và nay (trước năm 1975) theo Alphabet

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

(Thăng Long thành hoài cổ – Bà Huyện Thanh Quan)

Trong niềm nhớ thương khôn nguôi về quê nhà của một người Việt Nam ly hương còn nặng tình hoài cổ, tôi xin cố gom góp trí nhớ còn sót lại để ghi ra tên những đường phố Sài Gòn thời xưa cũng như các cơ quan chính quyền, cơ sở văn hóa giải trí đặc biệt trên đó, vì e rằng đến một lúc nào mọi thứ sẽ mai một đi thì đáng tiếc lắm.

Cho nên dù biết rằng viết về những địa hình địa vật của một thời xưa cách nay năm, sáu chục năm bằng vào trí nhớ kém cỏi của cái tuổi gần thất thập cổ lai hi là cả một khó khăn trùng điệp nhưng lòng hoài cổ trong con người tôi vẫn cố vượt mọi trở ngại nhất là với sự góp ý bổ túc đầy nhiệt tình của quý niên trưởng và các bạn nên công việc đã hoàn thành cho dù chưa được hoàn hảo. Chỉ mong ước nhỏ nhoi là qua tài liệu nầy, chúng ta tìm lại hình ảnh ngày xưa của chính chúng ta trên khắp nẻo đường của Sài Gòn đẹp lắm ! Sài Gòn ơi ! Sài Gòn ơi ! Và hơn nữa chúng ta có thể chỉ dẫn cho đàn con cháu nghe thấy về thủ đô Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, nơi mà cha mẹ, ông bà chúng đã từng một thời sinh sống và biết đâu chừng cũng là nơi đã từng gặp gỡ của ba má sắp nhỏ qua mối tình đầu.

Cũng xin chân thành cảm tạ sự đóng góp quý báu của nhiều anh chị nhất là chị Đỗ Thanh Vân (Đức Quốc), niên trưởng Trương Thới Lai (Canada), anh Cao Thiếu Lang (Canada), anh Nguyễn Đình Phúc (Canada), anh Bùi văn Tâm (Canada), anh Trần Kiêu Bạc (Mỹ), anh Trương Thúy Hậu (Mỹ)… Chính nhờ những sự bổ túc đó mà hành trình tìm về con đường của dư hương ngày cũ bớt nhiều thiếu sót. Và chúng tôi hy vọng vẫn còn tiếp tục nhận được những góp ý của quý bằng hữu bảng sưu tầm chúng ta thêm hoàn chỉnh hơn. Xin chân thành đa tạ.

Bây giờ mời các bạn cùng chúng tôi đi dạo một vòng quá khứ (back to the past) của một thời hoa mộng trên thủ đô yêu dấu từng đườc mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông.

Nguyên Trần

Tên thời Pháp thuộc – Tên thời Đệ II Cộng Hòa

Boulevard Bonard – Lê Lợi (Trụ sở Quốc Hội – Nhà Hát Lớn, bệnh viện Sài Gòn, nhà sách Khai Trí, nước mía bò bía Viễn Đông, rạp Vĩnh Lợi, quán cơm Thanh Bạch, quán giải khát Pôle Nord, Hà Nội ice cream, quán kem Mai Hương, Thư Viện Abraham Lincoln, Nhà hàng Kim Sơn, Bồng Lai)

Boulevard Chanson – Lê văn Duyệt Ngã Bảy trở xuống (Trụ sở Tổng Liên Đoàn Lao Công, Chợ Đủi, trụ sở Tòa Đại Sứ Miên, nơi hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu góc Phan Đình Phùng, rạp Nam Quang – ngã tư Trần Quý Cáp, rạp Kinh Đô sau là văn phòng Usaid, trường trung học tư thục Trường Sơn, Câu Lạc Bộ Kỵ Mã Sài Gòn) – CMT8

Boulevard Charner – Nguyễn Huệ (rạp Rex, rạp Eden, passage Eden, Thương xá Tax, bánh mì pâté Đô Chính, phòng trà Queen Bee, Tổng Nha Ngân Khố, Kỹ Thương Ngân Hàng, Hôtel Palace,Hãng Charner)

Boulevard Galliéni – Trần Hưng Đạo (Bộ Lao Động, Nha Cảnh Sát Đô Thành, Sở Cứu Hỏa Đô Thành, rạp Nguyễn văn Hảo, Hưng Đạo, rạp Đại Nam, vũ trường Tour d’Ivoire, Bộ Tổng Tư Lệnh quân lực Đại Hàn, Bộ Tổng Tham Mưu cũ, sân bóng rổ Tinh Võ, Khiêu vũ trường Vân Cảnh, Arc en Ciel, Đêm Màu Hồng, trường tiểu học Tôn Thọ Tường, Nhà thờ Tin Lành)

Boulevard Kitchener – Nguyễn Thái Học trường tiểu học Trương Minh Ký, trường tư thục Huỳnh Thúc Kháng, rạp Nam Tiến, rạp cải lương Thành Xương, Chợ Cầu Ông Lãnh)
– Boulevard Norodom – Thống Nhất (Toà Đại Sứ Mỹ, Phủ Thủ Tướng, Rạp Norodom-Thống Nhất – xổ số quốc gia giúp đồng bào ta mua lấy xe nhà giàu sang mấy hồi – Trần văn Trạch, hãng nhập cảng xe Peugeot Jean Compte, Bộ Tư Pháp, hãng xăng Shell, Esso) – Lê Duẩn

Boulevard Paul Bert – Trần Quang Khải (Đình Nam Chơn, rạp Văn Hoa)

Boulevard de la Somme – Hàm Nghi (Đài Pháp Á, Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín,BanqueFranco-Indochinoise, Tổng Nha Thuế Vụ, chợ Chó,chợ Chim,trung tâm Cờ Tướng, tiệm incils quân đội Phước Hùng)

Rue – 11e RIC (Régiment d’Infanrerie Colonniale)- Nguyễn Hoàng (bến xe lục tỉnh, cư xá hỏa xa)– Trần Phú

– Abattoir – Hưng Phú (Lò Heo Chánh Hưng)

– d’Adran – Võ Di Nguy Phú Nhuận (Chợ Phú Nhuận, rạp Văn Cầm, rạp Cẩm Vân, cư xá Phú Nhuận) – Phan Đình Phùng

– Albert 1er – Đinh Tiên Hoàng (Sân vận động Hào Thành – Hoa Lư – Citadelle, Tổng Nha Thanh Niên, Asam Đakao, mì Cây Nhãn, Chè Hiển Khánh)

– Alexandre de Rhodes – Lục Tỉnh (trung tâm quân báo Cây Mai, bò 7 món Ngân Đình), đường Alexandre de Rhodes tới thời Cộng Hòa thay thế đường Paracels trước dinh Độc Lập – Alexandre de Rhodes

– Alexandre Frostin – Bà Lê Chân (hông chợ Tân Định, rạp Moderne sau đổi là Kinh Thành)

– Alsace Loraine – Phó Đức Chính (biệt thự chú Hỏa – Hui Bon Hoa)

– Amiral Dupré – Thái LậpThành (Phú Nhuận)Phan Xích Long

– Amiral Roze – Trương Công Định (Chùa Chà, chạy xuyên qua vườn Tao Đàn – Vườn Pelouse) – Trương Định

– d’Arfeuille – Nguyễn Đình Chiểu

– Armand Rousseau – Hùng Vương (Trường Trung Học Chu văn An,cư xá sinh viên Sài Gòn)

– d’Arras – Cống Quỳnh (Bệnh viện Từ Dũ, rạp Khải Hoàn, trường trung học tư thục Hưng Đạo-Giáo Sư Nguyễn văn Phú)

– Arroyo de l’Avalanche – Rạch Thị Nghè

– Audouit – Cao Thắng (rạp Việt Long, rạp Đại Đồng Sài Gòn, Chùa Tam Tông Miếu, bánh mì pâté Phò Mã, tư gia nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Lâm Tuyền)

– d’Ayot – Nguyễn văn Sâm(rạp Kim Châu) – Nguyễn Thái Bình

– Ballande- Nguyễn Khắc Nhu

– Barbier – Lý Trần Quán (chả cá Thăng Long)

– Barbé – Lê Quý Đôn (Trung Học Lê Quý Đôn-Chasseloup Laubat) – Hồng Thập Tự Nguyễn Thị minh Khai

– Blan Subé – Duy Tân (Viện Đại Học Sài Gòn, Đại Học Luật Khoa, công trường Chiến Sĩ, Con Rùa, Vương Cung Thánh Đường) – Phạm Ngọc Thạch

– Bourdais – Calmette

– Catinat – Tự Do (Bộ Nội Vụ, bánh mì pâté Hương Lan, Nhà Hàng Caravelle, Nhà Hàng Continental Palace, La Pagode, Brodard, Vũ trường Maxim’s, Hotel Restaurant Majestic, rạp Majestic, Tiệm quý kim Đức Âm, nhà may Cát Phương, Adam,Tân Tân, Phòng Thông Tin cho các cuộc triễn lãm) – Đồng Khởi

– Chaigneau – Tôn Thất Đạm (khu Chợ Cũ, rạp Nam Việt)

– Champagne – Yên Đổ (Cư xá Đắc Lộ, trường Anh Ngữ Khải Minh) – Lý Chính Thằng

Charles de Coppe – Hoàng Diệu (hiệu giày Gia, quán nhậuTư Sanh Khánh Hội – cari dê)

– Charles Thomson – Hồng Bàng (bệnh biện Hồng Bàng, đại học Nha Khoa) – Hùng Vương

– Chasseloup Laubat – Hồng Thập Tự (Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, Hội Hồng Thập Tự Việt Nam, Rạp Olympic, bàn ghế Phan văn Nhị, khu quán cháo vịt, Bộ Y Tế, Bộ Tài Chánh, Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện, Cơ quan Tiếp Vận Trung Ương, Hông vườn Tao Đàn – vườn Ông Thượng – vườn Bờ Rô-Pelouse, Hông Dinh Độc Lập, Hông Thảo Cầm Viên, trường trung học kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ) – Nguyễn Thị minh Khai

– Colonel Budonnet- Lê Lai (Rạp Aristo – nhà hàng Lê Lai – tiệm bánh trung thu Tân Tân, cơm chay Vạn Lộc)

– Colonel Grimaud – Phạm ngũ Lão (Chợ Thái Bình, tòa soạn nhật báo SàiGòn Mới – bà Bút Trà, rạp Thanh Bình, ga xe lửa, quày bán vé Hàng Không Việt Nam)

– Cornulier – Thi Sách (nhà in Ideo)

– Danel – Phạm Đình Hổ – Denis Frères – Ngô Đức Kế (Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam)

– Dixmude – Đề Thám

Docteur Angier – Nguyễn Bỉnh Khiêm (Thảo Cầm Viên, hồ tắm Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tổng Nha Trung Tiểu Học & Bình Dân GiáoDục, trường Trung Học Trưng Vương, Võ Trường Toản, Nha An Ninh Quân Đội)

– Docteur Yersin – Ký Con

– Đỗ Hữu Vị – Huỳnh Thúc Kháng (Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng, khu chợ Trời)

– Douaumont- Cô Giang (chợ, rạp hát Cầu Muối)

– Dumortier – Cô Bắc (hãng cao su Labbé)

– Duranton – Bùi thị Xuân (trường trung học Nguyễn Bá Tòng, trường Les Lauriers)

Eyriaud des Verges – Trương Minh Giảng (Chợ Trương Minh Giảng, rạp Văn Lang – Minh Châu -, cổng xe lửa số 6, Viện Đại học Vạn Hạnh) – Lê Văn Sĩ

– l’Église – Trần Bình Trọng( Hôtel Massage Hồng Tá)

– d’Espagne – Lê Thánh Tôn (Tòa Đô Chánh, Cửa Bắc Chợ Bến Thành, tiệm vàng Nguyễn Thế Tài -Thế Năng, tiệm incils quân đội An Thành, Rạp Lê Lợi, nhà may Văn Quân)

– Faucault – Trần Khắc Chân

– Frère Louis – Nguyễn Trãi từ Ngã Tư Cộng Hoà đổ vô Chợ Lớn (trung tâm đào tạo huấn luyện viên thanh niên thể thao, Nhà thờ Chợ quán)

– Frère Louis – Võ Tánh (Sài Gòn) từ Ngã Tư Cộng Hòa đổ xuống Ngã Sáu (cổng chính Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, rạp hát Quốc Thanh, phở 79, nhà mồ Á Thánh Matthew Gẫm, trường nữ trung học tư thục Đức Trí) – Nguyễn Trãi

Frère Guilleraut – Bùi Chu (Nhà thờ Huyện Sĩ) – Tôn Thất Tùng

Filippiny – Nguyễn Trung Trực (Nhà hàng Thanh Thế với tuyệt chiêu suôn, nhà hàng Quốc Tế, Bồng Lai, Kim Sơn, rạp Les Tropiques, Văn Khoa cũ, Pháp Đình Sài Gòn)

Fonck – Đoàn Nhữ Hài

– Gallimard – Nguyễn Huy Tự (Chợ Dakao, chùa Ngọc Hoàng)

Gaudot – Khổng Tử (Chợ Bình Tây)

Georges Guynomer – Võ Di Nguy Sài Gòn (Khu Chợ Cũ)

– Guillaume Martin – Đỗ Thành Nhân (Q4, cầu Calmette)

Hamelin – Hồ văn Ngà

Heurteaux – Nguyễn Trường Tộ

Hui Bon Hoa – Lý Thái Tổ (Phở Tàu Bay, quán Hạ Cờ Tây)

– Jaccaréo – Tản Đà (khu tiệm thuốc Bắc)

– Jauréguiberry – Hồ Xuân Hương (Bệnh viện da liễu – Bạc Hà)

Jean Eudel – Trình Minh Thế – Ng(thương cảng Sài Gòn, kho 5, kho 10) – Nguyễn Tất Thành

Lacaze – Nguyễn Tri Phương ( Mì vịt tiềm Lacaze, hủ tiếu Mỹ Tiên, hủ tiếu Cả Cần, bánh bao bà Năm Sa Đéc, quán sò huyết lề đường)

– Lacotte – Phạm Hồng Thái (toà soạn nhật báo Dân Ta – ông Nguyễn Vỹ)

– Lacaut – Trương Minh Ký (Lăng Cha Cả – Linh mục Bá Đa Lộc – Pigneau de Béhaines) – Hoàng Văn Thụ

– De Lagrandière – Gia Long (Dinh Gia Long, Bộ Quốc Phòng, Thư viện Quốc Gia, rạp Long Phụng – phim Ấn Độ, tiệm bánh Bảo Hiên Rồng Vàng, tiệm Đồ da Cự Phú, tiệm quần áo trẻ em Au Printemps, tòa soạn nhật báo Tiếng Chuông – ông Đinh văn Khai, nhật báo Việt Nam của ông Nguyễn Phan Long 1936, nhật báo Tiếng Dội, Tiếng Dội Miền Nam, Dân Quyền của ông Trần Tấn Quốc và nhiều nhật báo khác) – Lý Tự Trọng

– Larclause – Trần Cao Vân (bộ Thông Tin)

– Lefèbvre – Nguyễn công Trứ

– Legrand de la Liraye – Phan Thanh Giản (Bệnh viện Bình Dân, Chợ 20, Trường Nữ Trung Học Gia Long, bệnh viện St Paul, Trường tư thục Phan Sào Nam, Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi – Đất Hộ, cư xá Đô Thành, rạp Long Vân, bánh xèo Đinh Công Tráng) – Điện Biên Phủ

– Le Man – Cao Bá Nhạ

– Léon Combes – Sương Nguyệt Ánh (văn phòng bác sĩ quang tuyến Lý Hồng Chương, võ trường Hàn Bái Đường ở góc Sương Nguyệt Ánh – Lê văn Duyệt 1954)

– Lesèble – Lý văn Phức

– Loucien Lecouture – Lương Hữu Khánh (đường rầy xe lửa Mỹ Tho, miền Trung)

– Luro – Cường Để (thành Cộng Hòa, Trường Đại Học Y, Dược Khoa,Văn Khoa, Nông Lâm Súc) – Đinh Tiên Hoàng

– Mac Mahon – Công Lý (Dinh Độc Lập, Dinh Hoa Lan, Phủ Phó Tổng Thống, Chùa Vĩnh Nghiêm, trường tư thục Quốc Anh,Thương xá Crystal Palace – Tam Đa, rạp Hồng Bàng) – Nam kỳ Khởi Nghĩa

– Marchaise – Ký Con

– Maréchal Fox – Nguyễn văn Thoại ( trường đua ngựa Phú Thọ, bệnh viện Vì Dân) – Lý Thường Kiệt

– Maréchal Pétain – Thành Thái (trường trung học Bác Ái) – An Dương Vương

– de Marins – Đồng Khánh (tửu lầu Á Đông, Đồng Khánh, Bát Đạt, Arc En Ciel – Đại Thế Giới) – Trần Hưng Đạo B

– Martin des Pallières – Nguyễn văn Giai

Massiges – Mạc Đĩnh Chi (Hội Việt Mỹ, Ty Cảnh Quốc Gia Quận Nhứt, nhà hàng thịt rừng Trường Can, phở Cao Vân, trường trung học Les Lauriers, bộ Canh Nông)

Mayer – Hiền Vương (Nguyễn Chí Nhiều dược cuộc, trung tâm phở gà, giò chả Phú Hương, rạp Casino Đa Kao) – Võ Thị Sáu

– Miche Phùng – Phùng Khắc Khoan (tư dinh đại sứ Mỹ trước đó là tư dinh của tướng Năm Lửa Trần văn Soái)

Miss Cawell – Huyền Trân Công Chúa

– Nancy – Cộng Hoà (Trung Học Pétrus Ký, Đại Học Khoa Học, Đại Học Sư Phạm, cửa hôngTổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia) – Nguyễn Văn Cừ

Nguyễn tấn Nghiệm – Phát Diệm – Trần Đình Xu

Noel – Trương Hán Siêu

Ohier – Tôn Thất Thiệp (hủ tiếu Thanh Xuân, Tài Nam Restaurant với món đuôn chà là chiên bơ rất mắc, Chùa Chà Và)

d’Ormay – Nguyễn văn Thinh (tòa soạn nhật báo Thần Chung – ông Nguyễn Kỳ Nam, Restaurant Admiral) – Mạc Thị Bưởi

– Paracels – Alexandre de Rhodes (Học ViệnQuốc Gia Hành Chánh cũ, Bộ Ngoại Giao)

Paris – Phùng Hưng (chợ thịt quay vịt quay)

– Pavie- Trần Quốc Toản (Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Viện Hóa Đạo – Việt Nam QuốcTự, trường tư thục Hồng Lạc, cục Quân Cụ, chợ cá Trần Quốc Toản) – Đường 3 tháng 2

– Paul Blanchy – Hai Bà Trưng (Chợ Tân Định, Tổng Cuộc Điện Lực, BGI – Brasseries et Glacières de l’Indochine, Phở An Lợi, cà phê Quán Trúc, vũ trường Mỹ Phụng, công trường Mê Linh,nhà thờ Tân Định)

– Paulin Vial – Phan Liêm

Pellerin – Pasteur (Viện Pasteur, Khu Phở Gà, Phở Minh, Nhà sách Khai Trí, rạp Casino Sài Gòn sau đổi thành rạp Rạng Đông, nước mía bò bía Viễn Đông)

Pierre Flandin- Đoàn thị Điểm (hông trường Nữ Trung Học Gia Long, hông Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện)

– Laregnère – Bà Huyện Thanh Quan (Cư xá nữ sinh viên Thanh Quan, Chùa Xá Lợi)

– Renault – Hậu Giang

René Vigerie – Phan Kế Bính

– Résistance – Nguyễn Biểu (Cầu chữ Y)

Richaud – Phan Đình Phùng (Tổng Nha Kiến Thiết và Thiết Kế Đô Thị, Đài Phát Thanh Sài Gòn, Bảo sanh viện Hồng Đức, Kỳ Viên Tự, Trường Rạng Đông, chợ Vườn Chuối, Restaurant Sing Sing, nhà hàng La Cigale, sân vận động PĐP) – Nguyễn Đình Chiểu

– Roland Garros – Thủ Khoa Huân

– Sabourain – Tạ Thu Thâu (cửa Đông chợ SàiGòn, Nhà thuốc tây Nguyễn văn Cao, nhà sách & xuất bản Phạm văn Tươi)

– Sohier – Tự Đức

– Taberd – Nguyễn Du (Sở xuất nhập di trú, Nhà thương Đồn Đất- bệnh viện Grall, trung tâm văn hóa Pháp – Centre Cul turel Francais) – Lý Tự Trọng

– Testard – Trần Quý Cáp (Vũ trường AuBaccara, Đại Học Y khoa cũ, Trường Âu Lạc) – Võ Văn Tần

– Tong-Kéou – Thuận Kiều (bệnh viện Chợ Rẫy)

– Turc – Võ Tánh (Phú Nhuận)  (Văn Phòng Quận Tân Bình, Phở Quyền, Lăng Cha Cả, bệnh viện Cơ Đốc) – Hoàng Văn Thụ

– Verdun – Lê văn Duyệt Ngã Bảy trở lên (Ngã Ba Chợ Ông Tạ, rạp Thanh Vân) – CMT8

Vassoigne – Trần văn Thạch

– Yunnam – Vạn Tượng (Q5) bên cầu Ba-Lê Cao

– Quai de Belgique – Bến Chương Dương (Thượng Nghị Viện- Hội Trường Diên Hồng,Tổng Nha Kế Hoạch) – Võ Văn Kiệt

– Quai Le Marne – Bến Hàm Tử – Võ Văn Kiệt

– Quai Le Myre de Vilers – Bến Bạch Đằng (Hotel Restaurant Majestic, Phủ Đặc Ủy Trung ƯơngTình Báo, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, bến đò Thủ Thiêm, Cột Cờ Thủ Ngữ – Point des BlagueurS, tư dinh Thủ Tướng, Sở Ba Son – Arsénal – Hải Quân Công Xưởng)

– Quai de Fou-Kien – Bến Trang Tử

Tài liệu tham khảo : – Đặc Trưng Net – Đa Kao trong tâm tưởng

MÀU NẮNG SÀI GÒN

(Cảm đề khi sưu tầm bảng đối chiếu tên đường Sài Gòn)

Tôi nhớ Sài Gòn nắng chói chang

Những hàng cây ngả bóng bên đàng

Ngựa xe xuôi ngược về muôn nẻo

Tà áo thướt tha đưới gió ngàn

Cờ kéo (1) taxi bung rãi rác

Chuông reo (2) xe điện nhịp rình rang

Bồn Binh thổ mộ qua xe kéo

Hợp tấu rộn ràng vui ánh quang

Nguyên Trần (Toronto)

(1) Cờ kéo : khi lên taxi (hầu hết là chiếc Renault 4 có hai màu : xanh nửa phần dưới và vàng nhạt nửa phần trên), tài xế bẻ cờ đồng hồ tính tiền.

(2) Chuông reo : xe điện (tramway-street car) Sài Gòn reo chuông khi dừng lại ở các trạm. Nếu tôi nhớ không lầm thì thời bấy giờ có hai lộ trình chính :

– Thứ nhất là lộ trình Galliéni (Trần Hưng Đạo) chạy suốt con đuờng Trần Hưng Đạo từ Chợ Lớn vô Sài Gòn mà hai trạm chính là ga Nancy và ga Arras

– Thứ hai lộ trình Boulevard de la Somme (Hàm Nghi) chạy trên đường Hàm Nghi ngừng ga Chợ Cũ rồi quẹo xuống bến Bạch Đằng rẽ vô Hai Bà Trưng chạy tới chợ Tân Định.

Hai bên thành xe điện có nhiều mẫu quảng cáo khác nhau nhưng nổi bật nhất là 4 hiệu : – Một viên Cửu Long Hoàn bằng 10 thang thuốc bổ của nhà thuốc Võ văn Vân của ông bầu bóng tròn Võ văn Ứng – Thuốc dưỡng thai Nhành Mai – Dầu khuynh diệp bác sĩ Bùi Kiến Tín – Kem Hynos anh Bảy Chà.

Lúc đó tôi rất thích nhìn cần câu điện trên nóc xe chạm vào hệ thống dây điện xẹt lửa màu xanh xanh tím tím rất lạ và đẹp mắt. Bây giờ ở Toronto xe điện cũng chạy đầy đường và cũng xẹt lửa sáng ngời nhưng tôi thấy nó vô vị làm sao, có lẽ tâm lý là cái gì đã mất đi, đã vào kỷ niệm thì đều quý cả.

SÀI GÒN CỦA TA ƠI !

Chiều nay ngồi ngắm mưa bay

Chạnh lòng tôi nhớ đến Sàigòn xưa

Niềm đau nói mấy cho vừa

Mưa giăng giăng lối lưa thưa giọt buồn

Đâu còn những buổi hoàng hôn

Cà phê tình tự góc Pôle Nord sầu

Tự Do rực rỡ muôn màu

Maxim dìu bước em vào thiên thai

Duy Tân bóng mát trải dài

Queen Bee vang tiếng hát ai dặt dìu

Đường Trần quốc Toản thân yêu

Trường Hành Chánh trong nắng chiều nghiêng nghiêng

Bạch Đằng xóa nỗi ưu phiền

Chợ hoa Nguyễn Huệ ghe thuyền Chương Dương

Đường về Gia Định muôn phương

Dừng chân Phú Nhuận nghe thương nhớ nhiều

Đa Kao xe cộ dập dìu

Phố khuya Tân Định hắt hiu dáng gầy

Lăng Ông Bà Chiểu giờ đây

Còn đâu hương khói những ngày đầu Xuân

Từ Cây Thị đã bao lần

Loanh quanh đưa lối mãi gần Cây Mai

Qua Cầu Khánh Hội chia hai

Lối đi Thương Cảng dấu hài còn in

Quán ăn Chợ Lớn linh đình

Phú Lâm ngả rẽ tâm tình từ lâu

Nguyên Trần (Toronto một ngày nhớ về Sài Gòn)

Bài “Tên đường phố Sài Gòn xưa và nay” của Nguyên Trần là một công trình nghiên cứu công phu và rất  thú vị. Bài đã được bổ sung nhiều lần cho thật hoàn chỉnh. Nhóm chủ trương xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc version mới nhất của anh. Kính.

Yên Huỳnh post

Giải cứu binh nhì Ryan

Giải cứu binh nhì Ryan

ĐÀO HIẾU

01

Bà Lê Thị Nghê, hiện còn sống

Tất nhiên tôi không có ý định kể lại câu chuyện trong phim Giải Cứu Binh Nhì Ryan của đạo diễn Steven Spielberg, do diễn viên Tom Hanks thủ vai chính.

Và tôi cũng không muốn làm công việc của một người phê bình điện ảnh để phân tích xem phim hay, dở thế nào.

Nhưng từ lâu tôi vẫn ôm ấp ý định viết về bộ phim nổi tiếng này, bởi vì ở Việt Nam, thời chiến tranh chống Mỹ cũng từng có một câu chuyện mang một thứ triết lý nhân bản kiểu như vậy nhưng lại là một thứ nhân bản lộn đầu. Nó bị đẻ ngược, với hai chân ra trước. Nó là một thứ nhân bản màu máu, mang diện mạo của “chiến tranh nhân dân” trong khi thứ nhân bản trong phim Giải Cứu binh Nhì Ryan có màu xanh của biển cả và bầu trời.

Chuyện giải cứu binh nhì Ryan xảy ra vào giữa năm 1944 trong Thế chiến thứ 2 khi quân Mỹ đổ bộ lên vùng Normandy nước Pháp. Một biệt đội gồm 8 người do đại uý Miller chỉ huy được thành lập chỉ để đi giải cứu một anh binh nhì tên là Ryan theo lệnh của Tổng tham mưu trưởng quân đội Hoa kỳ, tướng Marshall.

Ryan là đứa con cuối cùng còn sống sót của một bà mẹ đã có ba đứa con trai chết trận. Vì thế bằng mọi giá phải đem Ryan trở về với người mẹ đau khổ ấy.

Trong cuộc giải thoát này, sáu người trong số tám người của biệt đội do đại uý Miller chỉ huy đã chết, trong đó có Miller. Biệt đội chỉ còn lại 2 người nhưng họ đã đem được người chiến sĩ dũng cảm: binh nhì Ryan về với mẹ.

Câu chuyện ở Việt Nam thì ngược lại. Nó xảy ra trong một hang đá ở xã Quế Tân thuộc tỉnh Quang Nam mùa đông năm 1969.

Trong cái hang đá kinh hoàng ấy cũng có một người mẹ tên Lê Thị Nghê 32 tuổi và một đứa con trai tên Lê Tân, 3 tháng tuổi.

Lính Mỹ càn quét qua làng Quế Tân. Thông thường thì trong những trường hợp như thế người dân thường bồng bế nhau chạy về thành phố lánh nạn. Nhưng hôm đó những người du kích Việt cộng đã buộc dân cùng họ chạy trốn vào hang Hòn Kẽm ẩn núp. Bé Lê Tân (con của bà Lê Thị Nghê) đói sữa khóc liên tục không cách gì dỗ cho nín.

Sợ bị lộ, những người du kích đã gây áp lực để bà Nghê giết chết con mình.

Nếu những người lính Mỹ trong biệt đội của đại uý Miller đã hy sinh để bảo vệ đứa con trai của một bà mẹ đau khổ, thì ở cái hang Hòn Kẽm này, những người du kích đã buộc người mẹ phải giết con mình để cho họ được sống.

Đó là thứ đạo lý gì vậy? Sao nó lại từng được ca ngợi như một “huyền thoại mẹ”, được “cải biên” thành một sự hy sinh thần thánh của người mẹ Việt Nam anh hùng “vì đại nghĩa mà giết chết con mình”?

Báo Tuổi Trẻ Online số ra ngày 09/6/2008 đã viết lại vụ này ở góc độ là: Chính dân làng trốn trong hang đã khuyên bà Nghê hy sinh đứa con để cứu mọi người.

Nhưng đoạn văn sau đây đã để lộ sơ hở:

“Súng vẫn nổ, mọi người ngồi trong hang cứ nghĩ lính biệt kích Mỹ đang đến gần hang rồi. Lúc này mọi người ngậm ngùi đành nghe theo mấy anh du kích, lại động viên cô Năm: “Thôi cô hi sinh đứa con đi…!”.

Bà Năm hôn núm ruột đang khóc: “Mẹ không bao giờ bỏ con, nhưng vì để cứu dân làng, con phải ra đi…”. Sau khi cháu tắt thở, bà cởi chiếc áo trong người đùm con lại. Bà bế thi thể của con, bò lên khỏi miệng hang về hướng tây 100m, mặc cho mưa rơi, mặc cho đạn pháo bắn rền vang, bà dùng hai tay móc đất ướt lạnh để an táng con mình.”

Sơ hở thứ nhất:

-Rõ ràng là bà Nghê không tự nguyện giết con mà là dân làng “đành nghe theo các anh du kích” làm áp lực buộc bà Nghê giết con.

Sơ hở thứ hai: ác

000-mat dat

Bà Nghê hoàn toàn có thể “ra khỏi hang 100 mét để dùng tay móc đất đào huyệt chôn con” điều đó chứng tỏ bà không sợ lính Mỹ giết (vì họ giết bà để làm gì?).

Từ khi bà Nghê bồng xác con ra khỏi hang, đi 100 mét, cho đến khi đào xong một cái huyệt bằng tay không xong, cũng mất ít nhất một tiếng đồng hồ. Điều đó chứng tỏ lính Mỹ còn ở xa. Và rõ ràng rằng lúc ấy, thay vì giết con, bà hoàn toàn có thể bế con đi ẩn náu một chỗ khác để tiếng khóc của cháu bé khỏi gây nguy hiểm cho mấy anh du kích. Hơn nữa, với đứa bé 3 tháng tuổi trên tay, bà hoàn toàn có thể đi về làng, chẳng những không bị ai giết mà có khi mẹ con bà còn được giúp đỡ.

Vậy thì tại sao bà phải giết con?

Đó chỉ có thể là do một quyết định man rợ.

Đó là một quyết định hèn nhát và phi nhân tính.

Và sự kiện ấy đã nói lên một chi tiết rất cay đắng, đó là: những người du kích không dám cho dân làng bỏ đi vì họ cần một đám đông quần chúng để trà trộn vào.

Người mẹ “huyền thoại” ấy đến nay vẫn còn sống: quắt queo, tàn héo và đói rách. Không một ai đoái hoài, không một chút tiền trợ cấp, không một lời xin lỗi.

Bài báo nêu trên cũng đã viết về gia đình người mẹ ấy hiện nay như sau:

“Bây giờ con trai của bà Năm đã ra đi gần 40 năm và 33 năm đất nước thanh bình. Gần 200 người dân thôn Trà Linh ngày ấy bây giờ nhân lên gấp ba, đời sống tuy nghèo nhưng vẫn còn may mắn hơn bà Năm. Con gái còn lại – chị Lê Thị Liên – có chồng, có một con trai, bây giờ cũng nghèo lắm. Hiện nay vợ chồng chị lên tận Nông trường Phước Đức, huyện Phước Sơn (Quảng Nam) nhận chăm sóc khoán 4ha cao su. Vì xa quá anh chị cũng ít khi về thăm mẹ.

Bà Năm giờ ở một mình trong căn nhà tạm của con gái. Hiện nay bà đang bị nhiều bệnh và sống dưới mức nghèo khổ. Ngoài sự giúp đỡ của bà con lối xóm cùng chạy trú trong hang thời đó thì bà không được Nhà nước trợ cấp một chút gì. Có mấy lần chị Liên làm đơn xin trợ cấp cho mẹ, nhưng ngành Lao động – Thương binh và Xã hội các cấp đều trả lời “không biết xếp mẹ con bà vào diện chính sách gì”.

Vì ám ảnh triền miên, nhiều năm qua tâm trí bà tỉnh điên lẫn lộn. Chiếc khăn của đứa con ngày xưa, đến nay bà vẫn còn giữ và coi đó là “báu vật” bất ly thân. Đêm cũng như ngày, khi không tỉnh bà bế chiếc khăn đó hát ru. Rồi có những khi bà đốt nhang, một mình vào rừng, miệng nói lẩm bẩm đi tìm mộ con. Nhưng mộ con của bà đã mất dấu tích sau khi an táng do mưa quá lớn.”

*

Câu chuyện “Giải cứu binh nhì Ryan” và câu chuyện “Đêm kinh hoàng ở Hòn Kẽm” là hai bi kịch chiến tranh rất thảm thương và khốc liệt. Nhưng triết lý nhân bản trong hai câu chuyện đã khác nhau như ánh sáng và bóng tối.

Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trên mặt đất này, trách nhiệm của người lính là bảo vệ dân chứ không phải là buộc dân giết con để bảo vệ mình.

Và tự cổ chí kim, người lớn luôn đùm bọc, bảo vệ trẻ em chứ không phải trẻ em phải chết để bảo vệ người lớn.

Những người “giải phóng” Việt Nam đã không hề thấy xấu hổ về câu chuyện ở Hòn Kẽm mà còn ca ngợi nó như một thứ “lương tâm của thời đại”.

Đó là thứ lương tâm của loài sinh vật nào vậy?

ĐÀO HIẾU

(Trích trong tập tiểu luận “MẶT ĐẤT VẪN RUNG CHUYỂN”)

6 tháng có 1,515 du khách Việt bị Singapore từ chối nhập cảnh

6 tháng có 1,515 du khách Việt bị Singapore từ chối nhập cảnh

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN 21-8 (NV) .- Một hãng máy bay ở Việt Nam kêu rằng chỉ trong 6 tháng đầu năm nay, có 1,515 hành khách của họ đã bị Singapore từ chối cho nhập cảnh, gây phiền phức và tốn kém.

Nhiều cô gái Việt Nam sang Singapore để bán dâm ‘chui’ là nguyên nhân khiến hải quan Singapore làm khó dễ phụ nữ Việt khi nhập cảnh nước này. (Hình: Thanh Niên)

Theo báo Giao Thông của Bộ Giao Thông Vận Tải CSVN hôm Thứ Sáu 21/8/2015 cho hay Hãng hàng không Vietjet vừa có ‘văn bản khẩn’ gửi khắp nơi, gồm cả Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ GTVT, Cục Hàng không VN, Đại sứ quan VN tại Singapore “đề nghị hỗ trợ đối với hành khách quốc tịch Việt Nam bị từ chối nhập cảnh Singapore”.

Văn bản của hãng VietJet kêu rằng từ khi họ bắt đầu mở đường bay tới Singapore từ Tháng 5/2014 đến nay, hãng này đã “gặp phải khó khăn khách quan, nằm ngoài khả năng thu xếp và giải quyết của một hãng hàng không”.

Họ kể rằng chỉ từ trong vòng 6 tháng đầu năm 2015, đã có đến 1,515 hành khách người Việt Nam của Vietjet từ Việt Nam sang Singapore “bị từ chối nhập cảnh mà không được giải thích rõ ràng dù xuất trình được hộ chiếu và giấy tờ tùy thân hợp lệ do các cơ quan có thẩm quyền cấp.”

Hãng máy bay vừa kể kêu rằng “Thực tế này đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh của Việt Nam, của Hãng hàng không Vietjet cũng như gây thiệt hại lớn cho hãng, khi phải chi trả các khoản chi phí phát sinh gồm chi phí phòng tạm giữ chờ xuất cảnh (17 SGD/giờ và chi phí cho nhân viên giám sát 32 SGD/giờ)”.

Vietjet cho hay đã phải chi trả hơn 1 triệu SGD cho các chi phí này kể từ khi chính thức khai thác đường bay Sài Gòn – Singapore. Riêng 6 tháng đầu năm, con số này là 450 nghìn SGD. Ngoài ra, Vietjet cũng phải chịu toàn bộ chi phí vé máy bay trở về Việt Nam cho những hành khách kể trên.

gái đang đưa tay che mặt là người mai mối cho nhiều cô gái trẻ Việt Nam sang Singapore tìm chồng. Họ đang ngồi chờ vài cô gái khác còn đang bị nhân viên ICA thẩm vấn bên trong. (Hình: Thanh Niên)

Việt Nam và Singapore đã thỏa thuận hai bên miễn chiếu khán nhập cảnh cho công dân hai nước từ lâu nên việc công dân Việt Nam bị Singapore cấm nhập cảnh những tháng gấn đây, phần lớn là phụ nữ, dấy lên những dấu hỏi.

Khi bị giữ ở cơ quan di trú, bị thẩm vấn và buộc quay trở lại Việt Nam, những du khách này còn bị bắt đóng tiền từ tạm giữ “lưu kho” đến tiền công cho nhân viên canh giữ. Phần lớn hành khách không chịu trả nên nhà cầm quyền Singapore ép hãng máy bay phải gánh chi phí phát sinh đó.

Hồi tháng trước, các hãng hàng không của Việt Nam kêu cứu với nhà cầm quyền Hà Nội về những rắc rối và thiệt hại vì số lượng hành khách đi từ Việt Nam tới Singapore bị từ chối nhập cảnh rất lớn. Họ đề nghị can thiệp với Singapore giải thích lý do và giải quyết.

Trước phản ứng của phía Việt Nam, Cục Quản Lý Cửa Khẩu và Nhập Cư Singapore (ICA) giải thích rằng “Nhiều công dân nữ Việt Nam sử dụng các hộ chiếu khác nhau, cá biệt có trường hợp dùng đến 3 hộ chiếu với nhân thân khác nhau để nhập cảnh Singapore làm chuyện bất hợp pháp” (tức làm gái mại dâm).

Giải thích thêm về những trường hợp bị từ chối nhập cảnh khác, cơ quan vừa kể nói những người đó không giải thích được lý do đến Singapore, chẳng hạn phụ nữ đi một mình, hoặc đến Singapore tìm việc làm chui.

Trong một bài viết trên tờ Thanh Niên ngày 26/7/2015, tác giả Lê Tư viết rằng “Hiện nay, số lượng các cô gái Việt Nam sang bán dâm tại quốc đảo này rất lớn. Tất cả họ đều đi theo diện du lịch và hoạt động một cách chui lủi. Theo luật pháp Singapore, hành vi tổ chức mua bán dâm “chui” là phạm pháp. Để ngăn chặn việc này, các nhà chức trách Singapore đã dựng lên hàng rào kỹ thuật nhằm giảm thiểu những người vi phạm pháp luật tiềm năng. Trong đó, cấm nhập cảnh là một biện pháp hợp lý.”(TN)

Tại sao chúng ta nghèo?

Tại sao chúng ta nghèo?

Nguyễn Hưng Quốc

Trong cuộc gặp gỡ với 40 doanh nhân trẻ vào chiều 12 tháng 8 vừa qua, sau khi nghe những lời than thở về những bất cập trong các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tại Việt Nam của họ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta tốt mà vẫn cứ nghèo?” Rồi ông nhấn mạnh: “Nhất định phải đổi mới mạnh mẽ hơn.”

Trong câu hỏi của Vũ Đức Đam có một nhận định chính xác: Việt Nam nghèo. Chúng ta không những nghèo hơn các nước phát triển trên thế giới mà còn nghèo hơn hầu hết các quốc gia trong khu vực. Trong khu vực, chỉ giới hạn trong khối ASEAN, chúng ta nghèo hơn Singapore, Brunei, Malaysia, Indonesia, Philippines, Miến Điện và Thái Lan, đã đành. Chúng ta còn có nguy cơ bị hai nước láng giềng vốn thường bị xem là nghèo hơn và yếu hơn, Campuchia và Lào, qua mặt.

Nhưng toàn bộ câu hỏi của Vũ Đức Đam, “Tại sao chúng ta tốt mà vẫn cứ nghèo?” lại sai.

Sai ở nhiều điểm.

Thứ nhất, cách đặt vấn đề sai. Chuyện tốt hay xấu không có quan hệ gì đến chuyện giàu nghèo. Để giàu, người ta cần óc sáng kiến, năng lực lao động, sự cần cù cùng với một số điều kiện thuận lợi và may mắn nữa chứ không dính líu gì đến tính cách hay đạo đức. Trên thế giới, không ai đặt vấn đề như vậy với các tỉ phú hay với các cường quốc kinh tế.

Thứ hai, sai ở mệnh đề “chúng ta tốt”. Cái gọi “chúng ta” ở đây là ai? Là những người tham dự cuộc hội thảo ư? Căn cứ vào đâu để khẳng định họ tốt? Rộng hơn, “chúng ta” đây là người Việt Nam nói chung chăng? Lại càng mơ hồ. Không có dân tộc nào là tốt cũng như không có dân tộc nào là xấu. Dân tộc nào cũng bao gồm những người tốt và những kẻ xấu. Một sự khái quát hoá, cho dân tộc này tốt hơn những dân tộc kia không những sai lầm về logic và thực tế mà còn dễ có nguy cơ dẫn đến những thái độ kỳ thị chủng tộc, điều mà giới học thuật Tây phương cho là cấm kỵ.

“Chúng ta” ở đây là đảng Cộng sản hiện đang cầm quyền chăng? Khẳng định như thế không những sai mà còn là sai lầm một cách lố bịch. Từ sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu, khi những sự tàn ác của các đảng Cộng sản ở những nơi ấy bị vạch trần, người ta thấy rõ là không có chế độ cộng sản nào là tốt cả. Tất cả đều giả dối, độc tài và tàn bạo. Số nạn nhân bị giết chết hoặc đoạ đày cho đến chết dưới tay của Stalin và Mao Trạch Đông còn nhiều hơn tổng số người bị giết chết dưới tay phát xít Đức trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Riêng ở Việt Nam, chế độ cộng sản cũng đã gây ra biết bao nhiêu tang thương, từ các chiến dịch cải cách ruộng đất ở miền Bắc đến các phong trào đánh tư sản mại bản và xua người dân đi kinh tế mới ở miền Nam, từ các vụ thảm sát ở Huế trong Tết Mậu thân đến các trại cải tạo sau năm 1975. Đó là chưa kể đến cuộc chiến tranh kéo dài cả hai mươi năm mà họ gây ra đã khiến cho ít nhất ba triệu người bị mất mạng ở cả hai miền. Như vậy là tốt ư?

Nếu cái nghèo của Việt Nam hiện nay không xuất phát từ chuyện tốt hay xấu, nó xuất phát từ đâu? Câu trả lời, thật ra, với đa số người dân Việt Nam, khá hiển nhiên: do chế độ Cộng sản. Điều này đúng không những chỉ ở Việt Nam mà còn ở phạm vi toàn thế giới: Có quốc gia cộng sản nào thực sự giàu có? Rõ nhất là ở những quốc gia bị chia đôi: Đông Đức nghèo hơn hẳn Tây Đức; Bắc Hàn thua xa Nam Hàn. Riêng tại Việt Nam, trước năm 1975, điều kiện sinh sống ở miền Nam cũng bỏ xa miền Bắc.

Nhưng điều gì khiến chế độ Cộng sản làm kiềm hãm sự phát triển đất nước? Có ba lý do chính: các chính sách sai lầm, tham nhũng và độc tài.

Trước phong trào đổi mới, các chính sách sai lầm về kinh tế và xã hội, đặc biệt cái gọi là chính sách giá – lương – tiền, đã biến Việt Nam thành một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Lạm phát tăng cao. Dân chúng bị ngập chìm trong đói khổ, không có đủ cơm ăn; trong nhiều năm liền, phải ăn bột mì và bo bo do Nga viện trợ. Sau thời đổi mới, được ít nhiều cởi trói, kinh tế phát triển khá nhanh, nhưng không nhanh đủ để giúp Việt Nam tiến bộ so với các quốc gia láng giềng. Các đại công ty hay tập đoàn kinh tế quốc doanh liên tục thua lỗ, có khi bị phá sản, để lại những gánh nợ nặng nề kéo dài tận đến các thế hệ mai sau. Ngay trong cuộc gặp gỡ với các doanh nhân trẻ ngày 12 tháng 8 vừa qua, trước mặt Vũ Đức Đam, nhiều người cũng lên tiếng phê phán các chính sách sai lầm của chính phủ khiến công việc làm ăn của họ gặp rất nhiều khó khăn. Những sự sai lầm trong chính sách này khiến các nỗ lực gọi là đổi mới tại Việt Nam chỉ là những sự vá víu, lẩn quẩn, từ cái sai này đến cái sai khác theo kiểu tổng kết của dân gian: “Sửa sai rồi lại sửa sai / Sửa thì cứ sửa, sai thì cứ sai.”

Nguyên nhân thứ hai làm kiềm hãm sự phát triển kinh tế tại Việt Nam là tham nhũng. Tham nhũng thể hiện ở hai khía cạnh: Một là, mọi quyết định về kinh tế đều không xuất phát từ lợi ích chung mà chỉ tập trung vào quyền lợi của một số cá nhân. Phong trào xây tượng đài hoặc các công trình kiến trúc ào ạt ở Việt Nam là một ví dụ: Người ta xây dựng như vậy không phải vì công việc ấy thực sự cần thiết mà chỉ vì, với những công trình xây dựng ấy, người ta có thể kiếm chác để bỏ tiền vào túi mình. Lớn hơn, chính sách đề cao vai trò của các công ty quốc doanh mặc dù hiệu quả kinh tế của chúng rất kém cũng xuất phát từ cùng một lý do: để dễ chia chác quyền lợi. Hai là, với tệ nạn tham nhũng, người ta khai khống và rút ruột các công trình xây dựng để cuối cùng, tất cả các công trình xây dựng đều có kết quả cực kém: Nhiều con đường mới xây xong đã lún; nhiều công trình mới dựng xong đã bị đổ, v.v… Hậu quả của nạn tham nhũng tràn lan này là cán bộ càng lúc càng giàu trong khi đất nước thì càng lúc càng nghèo nàn và kiệt quệ.

Nguyên nhân thứ ba và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất là độc tài. Giành độc quyền lãnh đạo, chế độ Cộng sản loại trừ hai yếu tố quan trọng nhất cho sự phát triển. Một là, loại trừ những trí tuệ và tài năng không nằm trong hệ thống đảng trị. Hai là, nó cũng loại trừ sự minh bạch và cùng với nó, sự phản biện của các trí thức độc lập. Hậu quả của cả hai sự loại trừ này là, một, chính quyền chỉ quy tụ được những kẻ bất tài, hoặc phần lớn là những kẻ bất tài; và hai là, nó mất khả năng tự điều chỉnh và đổi mới thực sự.

Nói một cách tóm tắt, để trả lời cho câu hỏi của ông Vũ Đức Đam, “tại sao chúng ta nghèo?”, chúng ta có thể khẳng định dứt khoát: Chúng ta nghèo, cứ nghèo mãi là vì sự thống trị độc tài và độc đoán của đảng Cộng sản. Biện pháp khắc phục, do đó, không phải là “đổi mới” mà là dân chủ hoá.

Một bài học hiển nhiên trên thế giới: Không có quốc gia dân chủ thực sự nào mà nghèo cả.

Thăm nhà Nguyễn Viết Dũng, người treo cờ VNCH ở Nghệ An

Thăm nhà Nguyễn Viết Dũng, người treo cờ VNCH ở Nghệ An

Nguoi-viet.com

Minh Văn/Người Việt

NGHỆ AN (NV) – Cánh cổng khép hờ hững, khu vườn đang tu sửa với những đất đai lổn nhổn, ngay cả ngôi nhà cũng còn sơn dở, mọi thứ dường như bê trễ, dở dang. Thấy có người đi vào trong sân, đàn chó xộc ra sủa nháo nhác.

Chúng tôi đến thăm nhà Nguyễn Viết Dũng sau hơn ba tháng anh bị bắt tại Hà Nội, với tội danh “gây rối trật tự công cộng.”


Một bức họa vẽ hình Nguyễn Viết Dũng được lan truyền trên Internet.

Thời gian không ngừng trôi, căn nhà của anh ở xã Hậu Thành, huyện Yên Thành vẫn yên bình và rợp bóng cây, nhưng tin tức về người anh hùng của chúng ta thì bặt vô âm tín. Vậy là cha mẹ xa con, anh em ly biệt trong nổi mong chờ mà chưa có lời giải đáp.

May quá, mẹ Dũng có ở nhà. Nhận ra khách quen, chị ra đón và mời chúng tôi vào chơi.

Rót mấy cốc nước chè xanh mời khách xong, mẹ Dũng ngồi xuống ghế trong tâm trạng lo lắng, đôi mắt quầng thâm bởi nhiều đêm mất ngủ vì thương nhớ con. Chị biết chúng tôi đến chơi là để hỏi thăm tin tức về Dũng và động viên gia đình như mọi lần.

Với một giọng buồn rầu, chị kể:

– Anh nhà (bố của Dũng) đã ba lần ra Hà Nội để thăm con nhưng vẫn không được gặp, cho nên không biết sự thể ra sao cả. Cảm thấy bất lực, anh tìm thuê luật sư nhưng khó khăn vất vả lắm, người ta đòi nhiều tiền, vả lại còn sợ vì không muốn tham gia vào những vụ án “nhạy cảm”…

Tôi cảm thông với chị:

– Thời buổi này, những người luật sư có tâm và vì công lý hiếm lắm, ngoài ra họ còn sợ bị chính quyền đàn áp nữa.

Rồi tôi kể tên những luật sư vì bào chữa cho các nhà đấu tranh dân chủ mà bị sách nhiễu và tước thẻ hành nghề.

Chị mỉm cười chua chát, tiếp lời:

– Nghe nói có Luật Sư Võ An Ðôn là người dám xả thân đấu tranh cho công lý, hôm nọ anh nhà đã lặn lội vào tận Phú Yên để tìm. Cũng may là gặp được ông tại nhà riêng. Luật sư có tác phong giản dị và nhiệt huyết lắm, ông hứa là sẽ ra Hà Nội để bào chữa miễn phí cho vụ án của Dũng…

Chị ngừng một lúc, vẻ mặt xúc động, rồi chắp tay như thể cầu nguyện:

– Ơn Trời! Vậy là cũng gặp được những người có tâm cứu giúp. Coi như số Dũng vẫn còn may mắn!…

Rồi chị nhìn ra ngoài sân, như mong ngóng một điều gì đó xa xăm. Dạo này sắp vào Thu, thời tiết xứ Nghệ đã trở nên mát mẻ, mây kéo về xám xịt bầu trời, những hạt mưa đang lắc rắc rơi trên vườn cây trước nhà. Người bạn gái đi cùng tôi, sau khi lắng nghe câu chuyện của chị, cũng tỏ ra cảm thông cho hoàn cảnh lắm, khuôn mặt cô luôn lộ vẻ xúc động.

Chân dung Nguyễn Viết Dũng

Còn nhớ năm ngoái – đúng ngày 30 tháng 4, 2014 – Nguyễn Viết Dũng là người đầu tiên ở Nghệ An treo cờ vàng ba sọc đỏ ngay trước nhà mình.


Bà Hồng, mẹ Nguyễn Viết Dũng. (Hình: Minh Văn)

Hành động đó nhắc nhở cho người dân không được quên lá cờ di sản của dân tộc, đồng thời phản đối cái gọi là ngày “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” mà nhà cầm quyền vẫn hằng tuyên truyền bấy lâu nay.

Sau đó thì công an huyện đã phối hợp với địa phương đến nhà còng tay Dũng rồi giải ra ủy ban xã. Dũng và cô em gái của mình đã đấu tranh gay gắt, trước lý lẽ xác đáng của hai anh em, họ buộc phải thả Dũng về nhà sau đó.

Chị Hồng – mẹ Nguyễn Viết Dũng – cho biết, cả nhà lo lắng mong chờ tin tức từng ngày. Anh chị chỉ có mỗi Dũng là người con trai duy nhất, lại là anh cả trong gia đình. Dưới Dũng còn ba em gái nữa, cô thứ hai lấy chồng và đi dạy trong huyện. Hai con gái út thì một cô đang đi làm tận Thái Nguyên, một cô đang đi học ở Vinh (thành phố Vinh-Nghệ An).

Trong lúc trò chuyện, chị cố tươi cười để chúng tôi yên lòng, nhưng tôi hiểu đằng sau đó là nỗi buồn vô hạn của một người mẹ vô cớ bị người ta bắt đi đứa con trai yêu quý của mình.

Không giấu được nỗi bức xúc trong lòng, chị xua tay:

– Nói thật là gia đình chị không còn ai tin tưởng vào cái gọi là “tự do,” “dân chủ” ở cái đất nước này nữa cô chú ạ!

Nỗi lòng của một người mẹ, tôi hiểu lắm chứ, ai cũng thương, cũng yêu những đứa con mà mình rứt ruột đẻ ra và nâng niu chăm sóc tháng ngày.

Rồi trong nỗi nhớ con, chị kể cho chúng tôi những kỷ niệm về Dũng khi còn đi học phổ thông.

“Dũng là một đứa ngoan và sáng dạ, nó sống tình cảm lắm. Còn nhớ hồi lớp 6 lớp 7 gì đó, có hôm đi học về, nó chào tôi rồi lại đạp xe vòng trở ra, lại đi vào và chào lần nữa, cứ như thế cho đến khi tôi phải phát cười lên mới thôi. Nó muốn trêu cho tôi cười, để động viên mẹ.

Cả nhà ai cũng hy vọng vào khả năng học tập của Dũng, mong sẽ có nhiều thành tựu, vì nó học rất giỏi. Cái lần nó bị trường Bách Khoa đuổi học (năm 2006) vì có tham gia các phong trào chính trị gì đó, anh và chị lo lắng lắm. Chị hỏi Dũng có muốn thi và học vào một trường nào khác không, nó suy nghĩ rất lung rồi nói rằng, tương lai của con sẽ do con quyết định. Từ đó nó lựa chọn con đường đấu tranh dân chủ cho đến nay. Gia đình thì cho rằng những việc Dũng làm là đúng, và cũng ủng hộ để nó vượt qua, dẫu biết rằng khó khăn nguy hiểm. Cũng phải có những người đấu tranh như vậy, nếu không thì đất nước này sẽ đi đến đâu, không lẽ lại phải chịu đựng bất công như vậy mãi hay sao?…”

Chị còn muốn kể nhiều nữa, vì những dòng hoài niệm về đứa con yêu của mình thì có bao giờ dứt. Tôi thực sự cảm thông cho tình cảm một người mẹ, và càng cảm phục hơn cái ý chí bảo vệ lẽ phải của chị.

Ngoài trời mưa vẫn rơi, ánh mắt chị lại hướng về chốn xa xăm, có lẽ là nơi mà đứa con trai yêu quý của mình đang bị người ta bắt giam một cách bất công vô cớ. Quả thực không một ai có thể hiểu Dũng bị bắt vì lý do gì, và tại sao người ta lại có thể bỏ tù một người vô tội mà không có bằng chứng nào cả?

Trong niềm thương nhớ con, chị Hồng nói như người mộng du:

– Dũng muốn có sách ngoại ngữ và những sách nó yêu thích để đọc trong tù, nhưng bên an ninh người ta chỉ cho đọc báo công an và báo đảng mà thôi. Gia đình đang nhờ bạn bè tìm giúp sách cho Dũng, không biết công an họ có cho gửi vào không nữa?…

Chuồng chim Bồ Câu trước nhà lúc này rộn lên những tiếng cúc cu gọi bạn. Người ta vẫn nói rằng, Bồ Câu là giống chim biểu tượng cho đoàn tự do và đoàn tụ. Ngay cả loài chim cũng được như vậy, nhưng cả hai thứ đó đều thiếu đối với những con người trong ngôi nhà mà chúng tôi đang ngồi đây.

Một cuộc cách mạng vô nghĩa

Một cuộc cách mạng vô nghĩa

Blog RFA

Lê Diễn Đức

19-08-2015

H1

Vào ngày 17 tháng 8 năm 1945, công chức Hà Nội được lệnh của Khâm Sai Phan Kế Toại tổ chức một cuộc mít tinh ở trước Nhà Hát Lớn Hà Nội.

Hàng ngàn người với lá cờ vàng ba sọc đỏ (có sọc giữa dứt quãng, cờ Quẻ Ly) xuống đường mừng ngày độc lập, sau khi Đế quốc Nhật Bản tuyên bố “trao trả độc lập cho Việt Nam”.

Hoàng đế Bảo Đại trong ngày 11 ttháng 3 năm 1945 đã tuyên bố độc lập và thành lập chính quyền mới, với chính thể quân chủ lập hiến do Trần Trọng Kim làm Thủ tướng. Tên nước được gọi là Đế quốc Việt Nam.

Bỗng nhiên một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn được thả từ ban công của nhà hát xuống, một người leo lên khán đài cướp micro để hô khẩu hiệu ủng hộ Việt Minh và hát bài Tiến Quân Ca. Cuộc biểu tình của công chức biến thành cuộc biểu tình của Mặt Trận Việt Minh.

Nhạc sĩ Tô Hải, một người còn sống ở Sài Gòn, nhân chứng sống cho sự kiện ấy, mô tả lại, như thế.

Hai ngày sau, tức là 19 tháng 8, Việt Minh đứng ra tổ chức một cuộc mít-tinh lớn, cũng ở trước nhà hát Lớn Hà Nội. Sau đó, đoàn người đến chiếm phủ Khâm sai đại thần. Khâm Sai Phan Kế Toại đầu hàng, cờ quẻ Ly bị hạ xuống, cờ đỏ sao vàng được kéo lên.

Sau khi Việt Minh cướp được chính quyền tại Hà Nội và nhiều nơi khác, Thủ tướng Đế quốc Việt Nam Trần Trọng Kim ở Huế nộp đơn xin từ chức.

Ngày 22 tháng 8, Việt Minh gửi công điện yêu cầu Bảo Đại thoái vị. Bảo Đại chấp nhận và tuyên bố “Đáp ứng lời kêu gọi của Ủy ban cách mạng, tôi sẵn sàng thoái vị. Trước giờ quyết định này của lịch sử quốc gia, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi, để cho sự đoàn kết được thành tựu, và yêu cầu đại diện của Ủy ban (Việt Minh) sớm tới Huế, để nhận bàn giao”.

Hoàng đế Bảo Đại lúc bấy giờ đã nói một câu nổi tiếng: “Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị”.

Thế là cách mạng tháng 8 thành công! Một cuộc cách mạng không có xung đột vũ trang, chẳng có tên thực dân Pháp hay phát xít Nhật nào trên đường phố Hà Nội, không một người chết. Việt Minh đã cướp chính quyền dễ như trở bàn tay, bằng lợi dụng được tình thế giao thời hỗn loạn của lịch sử khi phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh vô điều kiện và đang lúng túng chờ quân đồng minh tới giải giáp.

Và chỉ sau khi Hoàng đế Bảo Đại thoái vị, Hồ Chí Minh cùng với các nhà lãnh đạo khác của Đảng Cộng Sản Việt Nam mới từ Tân Trào trở về Hà Nội và ngày 2 tháng 9 độc tuyên ngôn độc lập. Nhà nuớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời.

Mặc dù tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, mang tiếng là Chính phủ thân Nhật, bù nhìn, nội các của Thủ tướng Trần Trọng Kim đã làm được những quan trọng như :

– Thả hàng ngàn tù chính trị bị Pháp giam giữ trước đó bao gồm đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và các đảng phái quốc gia, đồng thời cho phép các tổ chức, hội đoàn chính trị được hoạt động công khai.

– Tuyên bố nước Việt Nam đôc lập, và hủy bỏ Hiệp ước Bảo hộ 1884 (Hòa ước Patenôtre).

–  Thống nhất về mặt danh nghĩa, đưa đất Nam Kỳ trở lại với nguồn cội Việt Nam.

– Thay chương trình học bằng tiếng Pháp chuyển sang học bằng tiếng Việt. Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ…

Việt Minh là tên gọi tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh, liên minh chính trị do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941 với mục đích “Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”.

Ngày 11 tháng 11 năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán để đối phó với chủ trương tiêu diệt đảng của Pháp, Trung Hoa Dân Quốc và các đồng minh của họ, nhưng thực chất vẫn nắm vai trò lãnh đạo. Đến tháng 3 năm 1951 khi Việt Minh bị giải tán và Đảng Cộng Sản trở lại đúng với vị trí của họ.

Mục đích của Việt Minh trong sáng, rõ ràng đã đánh đúng vào lòng yêu nước, tinh thần chống Pháp, Nhật, nên tập hợp được lực lượng quần chúng đông đảo. Khi Pháp trở lại Đông Dương, Việt Minh tiếp tục cuộc vận động, lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến 9 năm và làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Theo Hiệp định Geneva 1954, Việt Nam bị chia thành hai phần, từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc miền Bắc Cộng Sản, từ vĩ tuyến 17 trở vào thuộc Việt Nam Cộng Hoà.

Đảng Cộng Sản Việt Nam giành độc quyền cai quản trên toàn miền Bắc, thực hiện Cải cách Ruộng đất vô nhân đạo làm chết oan hàng trăm ngàn người, bắt nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp, thực thi chính sách kiểm duyệt, quản lý hộ khẩu, phân phối lương thực, chất đốt, cải tạo công thương, v.v… Một nhà nước không được dân bầu ra thông qua bầu cử tự do như Cương lĩnh của Việt Minh đã xác định.

Một chế độ bạo lực và khủng bố ngự trị trên toàn miền Bắc. Tất cả những tiếng nói bất đồng chính kiến hay phản kháng chế độ đều bị vùi dập và đàn áp dã man. Một bộ máy tuyên truyền, giáo dục khổng lồ của chế độ sử dụng hết công suất nhồi sọ con người ngay từ khi còn bé.

Giờ đây người ta mới hiểu ra rằng, tại sao ngay từ cuộc cách mạng tháng Tám, Việt Minh đã lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ. Rõ ràng đây một cuộc khởi nghĩa cướp đoạt quyền lực và tiếm quyền có ý thức nhằm áp đặt hệ thống chinh trị cộng sản chuyên quyền.

Cũng với chế độ này, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Đảng Cộng Sản Việt Nam nhuộm đỏ toàn quốc. Với chiêu bài đánh đuổi ngoại xâm, họ đã đưa dân tộc vào một cuộc chiến đẫm máu và dai dẳng và cưỡng chiếm miền Nam.

Cụ Lê Hiền Ðức, một người đi theo cách mạng từ lúc còn nhỏ, một công dân chống tham nhũng nổi tiếng, đã viết bài “Phản cách mạng đã rõ ràng” sau khi chứng kiến vụ cưỡng chế đất đai của nông dân Văn Giang, Hưng Yên:

“Cuộc cách mạng mà lớp người chúng tôi đã tham gia 60-70 năm trước nay đã bị phản bội một cách trắng trợn, triệt để. Công hữu, sở hữu toàn dân chỉ là chiêu bài để tư hữu hoá, tư nhân hoá, biến của chung thành của riêng”.

“Ðảng Cộng Sản và Nhà nước CHXHCN Việt Nam thừa nhận ở Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đất đai rất tròng tréo, rắc rối, có nhiều thiếu sót và mâu thuẫn nhau. Nhưng ai là tác giả của chúng? Chính là họ. Ai được hưởng lợi từ chúng? Cũng chính là họ”.

Ông Huỳnh Nhật Tấn, cựu Phó giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng, đã phải cay đắng nói: “Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay“.

Công nhân, giai cấp mà ĐCSVN gọi là đội quân tiên phong, trở thành lực lượng bần cùng của xã hội, bị các ông chủ tư bản bóc lột nặng nề, đồng lương không đủ sống, điều kiện làm việc khắc khổ.

Cuộc cách mạng tháng Tám trở nên vô nghĩa và mục đich của nó bị đảo ngược. Những kẻ cầm quyền mặc sức tham nhũng, ăn chặn. Bằng đồng tiền ăn cắp và ăn cướp, họ sống xa hoa trên sự nghèo đói của người lao động. Bất công, bất bình đẳng và suy thoái đạo đức xã hội nghiêm trọng, tệ hại còn hơn chế độ thực dân cũ.

Giống như đất nước Ba Lan sau Chiến tranh Thế giới II, thoát hiểm hoạ phát xít Đức thì bị hoạ cộng sản chụp xuống. Chế độ cộng sản dối trá, tàn nhẫn, tước đoạt quyền tự do của con người đến mức sau khi lật đổ nó vào năm 1989, Hiến pháp dân chủ cấm mọi hình thức tuyên truyền và hoạt động của chủ nghĩa Cộng sản.

Tất cả những điều tôi phân tích trên đây tương tự như nhận định của luật sư Nguyễn Văn Đài (trên trang Facebook), một nhà hoạt động dân chủ, đang sống ở Hà Nội:

“Làm cách mạng để xây dựng lên chế độ độc đảng toàn trị, không có tự do, dân chủ và nhân quyền. Đó là một cuộc cách mạng vô nghĩa và thất bại. Bởi chúng ta đã thay thế sự cai trị văn minh của giặc ngoại xâm bằng sự cai trị độc ác, tàn bạo, tham lam của giặc nội xâm”.

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu
(Chỉnh đọc theo bản Nôm và Quốc ngữ xưa của Nguyễn Văn Sâm 2013)
.
Hỡi ơi!

Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ.
Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn, tên nổi như phao;
Một trận nghĩa đánh Tây, tuy rằng mất, tiếng vang như mõ.
.
Nhớ linh xưa:
Cui cút làm ăn; riêng lo nghèo khó.
Chẳng quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;
Chĩn biết ruộng trâu, ở trong làng hộ.

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.
Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;
Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói Mọi như nhà nông ghét cỏ.
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;
Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.

Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen nầy xin ra sức đoạn kình;
Chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến nầy nguyện ra uy bộ hổ.
.
Khá thương thay:
Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;
Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.
Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thơ, đâu chờ bày bố.
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;
Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.
Hỏa hổ đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém đặng thằng quan hai nọ.
Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống thúc, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho Ma-tà Ma-ní hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng pháo nổ.
Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;
Đâu biết xác phàm vội bỏ.
Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.
Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ.
Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà làm binh đánh giặc cũng cam tâm;
Vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.
.
Bỡi nghĩ rằng:
Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;
Bát cơm manh áo của đời, mắc mớ chi ông cha nó.
Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;
Vì ai xui đồn lũy tan tành, xiêu mưa ngã gió.
Sống làm chi theo quân t ả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính Ma tà, chia rượu chát, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;
Chẳng thà còn mà chịu chữ hàng Tây, ở với man di rất khổ.
.
Ôi thôi thôi!
Chùa Lão Ngộ năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;
Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.
Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong nhà;
Não nồng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.
.
Ôi!
Một trận khói tan;
Ngàn năm tiết rõ.
Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm cho bốn phía mây đen;
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.
Thác đặng trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;
Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng hay trải muôn đời ai cũng mến.
Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;
Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.
Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;
Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.
.
Hỡi ôi!Thương thay!
Ai ôi! Thảm thay!.

 

Sắp có trường đại học Harvard tại Việt Nam

Sắp có trường đại học Harvard tại Việt Nam

Khuôn viên của trường Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ

Khuôn viên của trường Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, Hoa Kỳ

20.08.2015

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vừa cấp 2,5 triệu đôla cho trường đại học danh tiếng Harvard để chuyển chương trình giảng dạy về chính sách công của trường này tại Việt Nam thành một trường đại học độc lập, phi lợi nhuận, chi nhánh của trường đại học tại Mỹ ở TP HCM.

Trường đại học mới, có tên Fulbright University Vietnam, được mở rộng ra từ chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright hiện tại, vốn là một chương trình thạc sĩ về chính sách công do trường đại học Harvard lập ra vào năm 1994 cùng với Trường đại học Kinh tế TP.HCM. Một phần kinh phí của chương trình học bổng Fulbright là do Phòng Giáo dục và Văn hóa của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ.

Trường đại học mới của Harvard, sẽ được xây dựng tại Khu Công nghệ cao TP HCM và dự kiến khai trương vào tháng 9/2016, bao gồm 3 trường là trường Quản lý và Chính sách công, trường Kỹ thuật và Khoa học Ứng dụng và trường Fulbright đào tạo các chương trình cử nhân khoa học xã hội và nhân văn.

Tờ The Crimson trích lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Elaine Clayton cho biết chương trình thạc sĩ về Quản lý và Chính sách công dự kiến sẽ bắt đầu cho sinh viên ghi danh vào học kỳ Mùa Thu năm 2016.

Trường đại học của Harvard đã được Việt Nam cấp phép vào năm ngoái nhưng các nhà quản lý vẫn đang tìm kiếm kinh phí cho dự án này. Mục tiêu gây quỹ là 100 triệu đô-la và sẽ tuyển sinh 2.000 sinh viên trong 5 năm đầu tiên. Tính cho đến lúc, đã có 40 triệu đô-la cam kết tài trợ cho trường.

Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ nói trường đại học mới của Harvard tại Việt Nam là một bước phát triển quan trọng trong mối quan hệ ngoại giao và hợp tác giáo dục giữa hai nước. Chương trình học bổng Fulbright được lập ra một năm trước khi Hoa Kỳ và Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ vào năm 1995.

Trong chuyến thăm Việt Nam hôm 6/8, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cũng nói việc có được trường đại học Fulbright Việt Nam là một điều phi thường và ông cam kết sẽ hỗ trợ hết lòng để biến điều này sớm thành hiện thực.

Theo The Crimson, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn.

Vụ cậu bé ‘muốn làm Bộ trưởng Giáo dục’ tiếp tục gây tranh cãi

Vụ cậu bé ‘muốn làm Bộ trưởng Giáo dục’ tiếp tục gây tranh cãi

VOA

Em Vũ Thạch Tường Minh phát biểu trong buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng Việt lớp 6 của nhóm Cánh Buồm tại Hà Nội hôm 12/8. (Ảnh chụp từ clip trên youTube).

Em Vũ Thạch Tường Minh phát biểu trong buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng Việt lớp 6 của nhóm Cánh Buồm tại Hà Nội hôm 12/8. (Ảnh chụp từ clip trên youTube).

Tuyên bố “giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá thối nát rồi” của một cậu bé học lớp Tám vẫn gây ra các phản ứng trái chiều trên mạng xã hội.

“Giáo dục Việt Nam không cần cải cách gì nữa, giáo dục Việt Nam cần được cách mạng. Đó mới là điều các vị trong Bộ Giáo dục nên làm. Còn nếu bây giờ các vị không làm thì đến khi nào con thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục con sẽ làm”, em Vũ Thạch Tường Minh, 14 tuổi, nói như vậy trong buổi hội thảo ra mắt sách Văn và Tiếng Việt lớp 6 của nhóm Cánh Buồm tại Hà Nội hôm 12/8.

Trong khi phe ủng hộ em Minh cho rằng em có suy nghĩ già dặn, nói hộ những trăn trở của nhiều người, thì phe bên kia lại cho rằng em “bị mớm lời” và “được tung hê quá mức”.

Về sự chú ý của dư luận mấy ngày qua, nhà giáo Phạm Toàn, người sáng lập nhóm gồm các nhà nghiên cứu với mong muốn cải tiến sách giáo khoa ở Việt Nam, nói với VOA tiếng Việt:

“Em ấy phát biểu một cách hồn nhiên, nhưng bây giờ có những người lại bảo là chúng tôi bố trí. Em bé ấy có nhận thức của nó rất tốt. Ai thông minh thì nhận ra mà ai hằn học thì nhìn thấy cái khác. Thế thôi. Ngay cả những người ác ý nói rằng chúng tôi bố trí thì họ cũng hết lý rồi. Thế còn em bé nó có một câu nói rất hay, tức là Bộ Giáo dục không cần dùng toàn bộ bộ sách này, nhưng mà nên dùng tinh thần ấy, cách làm ấy. Nhưng mà ai thông minh thì mới thấy được ý hay còn ai không thích những ý hay thì cũng đành thua thôi. Ý của nhóm Cánh buồm là không tham gia vào các cuộc thảo luận đấy. Chúng tôi quá thiếu thời giờ để làm nhiều việc.”

Ông Hoàng Anh Tú, một người làm báo ở Việt Nam, viết trên trang Facebook: “Khi cậu bé 14 tuổi nói rằng Giáo Dục Việt Nam thật là thối nát thì em đã thành một Lê Văn Tám về kể cả nghĩa đen lẫn nghĩa xám!

Nghĩa đen là em đã trở thành ngọn đuốc sống làm bùng lên cái ‘kho khốn khổ’ mang tên Giáo Dục Việt Nam!”

Nhà báo này nói tiếp: “Em khiến rất nhiều người lớn hả hê! Nhưng về nghĩa xám, em rất có thể trở thành một huyền thoại tự sướng, không có thật, như chính anh Lê Văn Tám khi mà truyền thông đang tung hô em!!!”

Trong khi đó, một bạn đọc tên Long của VOA Việt Ngữ viết: “Tôi rất mừng vì có một thế hệ trẻ đã nhận ra và bất mãn với nền giáo dục cộng sản. Hy vọng Việt Nam sẽ trở nên tốt đẹp hơn cho cả dân tộc và trong cái nhìn của bạn bè thế giới”.

Theo nhà giáo Phạm Toàn, các bình luận “chọc ngoáy” trên mạng quanh ý kiến của em Tường Minh thì số đông là của “dư luận viên”.

Về tin tức cho biết gia đình của cậu bé đã viết thư yêu cầu nhóm Cánh buồm bảo vệ con mình, ông Toàn nói thêm:

“Đầu óc nó như thế bây giờ ai tẩy đi được hộ? Nói chung gia đình và bọn tôi không sợ gì cả. Thằng bé này rất bình thường và rất bản lĩnh. Nó giỏi đấy. Chúng tôi nói đùa với nhau rằng bây giờ làm thế nào để tẩy cho cái não của nó đừng tiến bộ nữa. Chả việc gì phải bảo vệ nó cả. Ai làm gì nó? Tự nó tự vệ được ấy mà. Không sợ đâu.”

VOA Việt Ngữ đã liên lạc với một thành viên của gia đình em Minh để hỏi xem cuộc sống của em bị tác động ra sao sau khi đoạn ghi âm lời nói mạnh mẽ của em lan truyền trên mạng, nhưng thành viên này nói là “không muốn đào sâu” vụ việc.

Làm Báo, Làm Dáng & Làm Đĩ

Làm Báo, Làm Dáng & Làm Đĩ

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Không phải ngẫu nhiên mà lực lượng báo chí nước ta đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác. Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương những đóng góp to lớn của báo chí cả nước cũng như của Hội Nhà báo Việt Nam.

T.B.T Nguyễn Phú Trọng (09/08/2015)

Mấy tháng trước, có đận, báo chí trong nước đồng loạt và khẳng khái lên tiếng bênh vực một người dân ở Sài Gòn vì tấm biển quảng cáo quán ăn của ông ta bị nhân viên Phường I tịch thu mà “không hề có văn bản, không có ý kiến từ cơ quan chức năng có thẩm quyền.” Đầu tháng này, báo giới lại đồng tình lên tiếng chỉ trích việc “thi hành pháp luật cứng ngắc” của công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai (Hà Nội) khi họ tịch thu bình trà đá miễn phí dành cho người nghèo do người dân khu phố đặt dưới một gốc cây.”

Thành quả: cả tấm biển quảng cáo và thùng nước đều đã được trả lại cho khổ chủ. Không những thế, ông Nguyễn Quang Hiếu, Chủ Tịch UBND quận Hoàng Mai còn “đánh giá công an phường Thịnh Liệt thu thùng trà miễn phí của người dân là hơi thái quá, cần rút kinh nghiệm.”

Chưa hết, Luật sư Nguyễn Văn Hậu ( Phó Chủ Tịch Hội Luật Gia TPHCM) cũng cho rằng “hành động tịch thu bình trà đá miễn phí cho người nghèo là vô tâm và đụng chạm tới những giá trị nhân văn đang ngày càng ít trong xã hội, nên lập tức gặp phải phản ứng dữ dội.”

Ảnh: vnexpress

Những phản ứng “dữ dội” kể trên khiến tôi thốt nhớ đến một câu danh ngôn quen thuộc (“Tội lỗi lớn nhất của chúng ta là im lặng trước cái ác và cái xấu.”) và không nén được một tiếng thở dài. Báo giới ở Việt Nam – rõ ràng – chỉ ồn ào trước những cái xấu cùng cái ác nho nhỏ, ở phạm vi phường xã mà thôi. Còn những tội ác tầy trời khác thì họ nhất loạt … làm thinh!

Xin đơn cử vài thí dụ:

“Tối 10-9-1975, ‘tin chiến thắng’ liên tục được báo về ‘Đại bản doanh’ của Trung ương Cục đóng tại Dinh Độc Lập… Các đoàn đưa ra những con số chi tiết: hàng chục triệu tiền mặt, hàng chục ký vàng, cả ‘kho’ kim cương, hàng vạn mét vải và cả một cơ sở chăn nuôi gồm ‘7.000 con gà, thu hoạch 4.000 trứng mỗi ngày’ ở Thủ Đức…

Trong buổi giao ban của Thường vụ Trung ương Cục vào lúc 7 giờ tối ngày 10-9- 1975, tại Dinh Độc Lập, với sự có mặt của ông Phạm Hùng, bí thư Trung ương Cục, ông Nguyễn Văn Trân, ủy viên thường vụ, cùng các lãnh đạo Quân quản như Nguyễn Võ Danh, Phan Văn Đáng…, ông Mai Chí Thọ cho rằng các đoàn, các đội chỉ mới bắt được đối tượng, mới nắm được tài sản nổi chứ chưa lấy hết tài sản chìm.”

(Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Xin xem thêm vài con số nữa về tài sản (cả nổi lẫn chìm) của đám nạn nhân thuộc bên bại cuộc:

  • “Những gì mà Cách mạng lấy được của ‘nhà giàu’ trên toàn miền Nam được liệt kê: ‘Về tiền mặt ta thu được 918,4 triệu đồng tiền miền Nam; 134.578 Mỹ Kim [trong đó có 55.370 USD gửi ở ngân hàng]; 61.121 đồng tiền miền Bắc; 1.200 đồng phrăng (tiền Pháp)…; vàng: 7.691 lượng; hạt xoàn: 4.040 hột; kim cương: 40 hột; cẩm thạch: 97 hột; nữ trang: 167 thứ; đồng hồ các loại: 701 cái. Trong các kho tàng ta thu được: 60 nghìn tấn phân; 8.000 tấn hoá chất; 3 triệu mét vải; 229 tấn nhôm; 2.500 tấn sắt vụn; 1.295 cặp vỏ ruột xe; 27.460 bao xi măng; 644 ô tô; 2 cao ốc; 96.604 chai rượu; 13.500 ký trà; 1000 máy cole; 20 tấn bánh qui; 24 tấn bơ; 2.000 kiếng đeo mắt; 457 căn nhà phố; 4 trại gà khoảng 30.000 con và một trại gà giá 800 triệu; 4.150 con heo; 10 con bò, 1.475.000 USD thiết bị tiêu dùng; 19 công ty; 6 kho; 65 xí nghiệp sản xuất; 4 rạp hát; 1 đồn điền cà phê, nho, táo rộng 170 hecta ở Đà Lạt’ (Sđd, trang 80-81).
  • Tại Sài Gòn, 28.787 hộ tư sản bị cải tạo, phần lớn bị ‘đánh’ ngay trong bốn ngày đầu với 6.129 hộ ‘tư sản thương nghiệp’, 13.923 hộ ‘trung thương’. Những tháng sau đó có thêm 835 ‘con phe’, 3.300 ‘tiểu thương ba ngành hàng’, 4.600 ‘tiểu thương và trung thương chợ trời’ bị truy quét tiếp. Theo ông Huỳnh Bửu Sơn, người trông coi kho vàng của Ngân hàng, trong đợt đánh tư sản này, Cách mạng thu thêm khoảng hơn năm tấn vàng, chưa kể hạt xoàn và các loại đá quý. Có những gia đình tư sản giấu vàng không kỹ, lực lượng cải tạo tìm được, khui ra, vàng chất đầy trên chiếu.” (Sđd, trang 90).

Những “chiến thắng” và “chiến lợi phẩm” tương tự cũng đã được ghi nhận, ngay sau khi… “Cách Mạng cướp được chính quyền,”  ở miền Bắc Việt Nam:

“Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các   nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước… Trong thời kỳ khôi phục kinh tế, 1955-1957, nền kinh tế miền Bắc phát triển ngoạn mục, chủ yếu nhờ vào lực lượng tư nhân: Công nghiệp tư bản tư doanh tăng 230%; cá thể, tiểu chủ, tăng 220,2%. Tư bản tư doanh và tiểu chủ, cá thể tạo ra một lượng sản phẩm chiếm 73,7% tổng giá trị công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở miền Bắc.

Nhưng ‘Công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư doanh’ bắt đầu ở miền Bắc vào tháng 9-1957 đã gần như triệt tiêu hoàn toàn kinh tế tư bản tư nhân, tiểu chủ và cá thể bằng cách tước đoạt dưới các hình thức ‘tập thể hoá’ hoặc buộc các nhà tư sản phải đưa cơ sở kinh doanh của họ cho Nhà nước với cái gọi là công tư hợp doanh.

Chỉ hai năm sau cải tạo công thương nghiệp tư doanh, ở miền Bắc, tài sản của các nhà tư sản teo dần trong khi lực lượng quốc doanh bắt đầu chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế. Văn kiện Đảng ghi ngắn gọn: ‘Đến cuối năm 1960, 100% hộ tư sản công nghiệp và 97,2% hộ tư sản thương nghiệp được cải tạo.’ Con số đó đủ để nói lên chính sách đối với tư nhân của chế độ miền Bắc.” (Sđd, tập II, trang 204 – 207).

Nói tóm lại là tài sản của người dân, ở cả hai miền Nam/Bắc, đều đã bị “tước đoạt” một cách trắng trợn trong suốt “tiến trình cách mạng” qua một loạt những trận “đánh” được mệnh danh là Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Cải Tạo Xã Hội Chủ Nghĩa, Tập Thể Hoá, Đổi Tiền …

Tuy “cách mạng” đã thành công nhưng cái “tiến trình” này chưa biết bao giờ mới chấm dứt. Đảng và Nhà Nước vẫn thản nhiên cướp đoạt, và vẫn tiếp tục khiến cho hàng trăm ngàn gia đình người dân phải lâm vào cảnh vong gia thất thổ với chủ trương “đất đai là sở hữu của toàn dân.”

VOA nghe được vào hôm 13 tháng 8 năm 2015 phát đi một bản tin (“Cô Bé 14 Tuổi Đi Tìm Công Lý Cho Ba Mẹ Và Anh Trai”) buồn bã:

Sự việc liên quan tới gia đình em Nguyễn Mai Thảo Vy (ngoài cùng bên trái) rộ lên hồi tháng Tư vừa qua trong vụ phản kháng cưỡng chế đất đai ở huyện Thạnh Hóa, Long An. Ảnh và chú thích: VOA

Một bé gái mất nhà, có cả cha mẹ và anh trai rơi vào vòng lao lý vì chống lại lực lượng thu hồi đất mà em cho là bất công, nói em chỉ mong trở lại cuộc sống bình thường và đang làm tất cả những gì có thể để gia đình được đoàn tụ.

Sự việc liên quan tới gia đình em Nguyễn Mai Thảo Vy rộ lên hồi tháng Tư vừa qua trong vụ phản kháng cưỡng chế đất đai ở huyện Thạnh Hóa, Long An.

Hơn một chục người bị bắt, trong đó có ba mẹ của em Vy, và 4 tháng sau, mới đây, ngày 6/8, anh trai của em là Nguyễn Mai Trung Tuấn, 15 tuổi, đã bị bắt theo “lệnh truy nã”.

Vy kể với VOA Việt Ngữ: “Con cảm thấy mình giống như là bước vào con đường cùng không có lối thoát. Con tưởng cuộc đời con chấm hết rồi. Không còn cha mẹ, không còn nhà cửa. Tinh thần của con rất là suy sụp.

Cháu Nguyễn Mai Trung Tuấn. Ảnh từ Dân Luận

Chính sách thu hồi đất đai hiện nay đã  đẩy bao nhiêu triệu người “vào con đường cùng không có lối thoát” như thế ? Tuy thế, báo giới ở đất nước này chỉ “phản ứng dữ dội” khi bất công xẩy ra ở cấp phường xã, và chỉ liên quan đến những tài sản nho nhỏ (như tấm biển quảng cáo, hay thùng nước đá) của người dân mà thôi.

Vậy mà cũng có Hội Nhà Báo Việt Nam, với cả chục lần Đại Hội. Đó là hội của những người làm dáng, chứ không phải là làm báo. Dù vậy, không ít qúi ông và bà phóng viên và ký giả của TTXVN vẫn chưa bao giờ dám làm dáng cả, họ chỉ chuyên làm đĩ (whorespondent) mà thôi.

Dân chủ hóa sẽ bớt đút lót tham nhũng

Dân chủ hóa sẽ bớt đút lót tham nhũng

Nam Nguyên, RFA
2015-08-18

Sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp thể hiện tình trạng nền kinh tế. Việt Nam được các chuyên gia cho rằng nếu bớt được tình trạng nhũng nhiễu thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng lên và nâng cao năng lực cạnh tranh cho họ.

Nhiêu khê sinh nhũng nhiễu

Có thể nói nạn hối lộ, đút lót là đầu cuối của thể chế, khi thể chế thiếu công khai minh bạch, thủ tục hành chính nhiêu khê thì đẻ ra các chi phí bôi trơn.

Các chuyên gia kinh tế nhiều lần nêu ra vấn đề, làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam khi mà kết quả điều tra cho thấy, để kiếm được 1 đồng lợi nhuận thì doanh nghiệp phải sử dụng 1 đồng đút lót bôi trơn. Điều này được TS Lê Đăng Doanh nêu ra trong Diễn đàn Kinh tế mùa Xuân 2015 tổ chức ở Vinh hồi tháng 4 vừa qua. Gần đây ngày 8/8/2015 tại cuộc hội thảo ở Đà Nẵng, chuyên gia Phạm Chi Lan cũng đã lập lại điều này.

“ Trước đây mức độ tham nhũng nhũng nhiễu được coi là thông thường là 30%.  Sau đó được nâng lên thậm chí có lúc tới 50%.
TS Phạm Chí Dũng, TP.HCM”

Trao đổi với chúng tôi, Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long từ Hà Nội nhận định:

“Một đồng lợi nhuận phải bỏ ra 1,02 đồng chi phí  bôi trơn. Tất cả những hệ lụy, những mặt trái, mặt tiêu cực này xã hội đều đã nhìn thấy và chính phủ cũng tỏ quyết tâm giải quyết vấn đề này. Nhưng thực tế giải quyết được đến đâu thì phải chờ xem, có biến lời nói thành hành động có kiên quyết hay không.”

Có vẻ như tình trạng kinh tế tụt hậu của Việt Nam so với các nước Đông Nam Á khác bắt nguồn từ nhiều vấn đề, như không thực sự có kinh tế thị trường, tài nguyên nguồn lực quốc gia được ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là chính đất đai. Tuy vậy các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp Việt Nam nói chung không phát triển lên được, do tình trạng tham nhũng hối lộ trầm kha và là bi kịch của đất nước.

TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội nhà báo độc lập một tổ chức tự phát không phụ thuộc chính quyền, nhận định:

“Trước đây tôi chỉ nghe mức độ tham nhũng nhũng nhiễu được coi là thông thường là 30%. Tỷ lệ này thường được áp dụng trong xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước và được coi là bình thường, có nghĩa là cứ 100 đồng thì phải cắt ra 30 đồng để coi là hoa hồng, lại quả, hối lộ cho một số quan chức. Sau đó tỷ lệ 30% đó được nâng lên thậm chí có lúc tới 50% và đáng chú ý là tỷ lệ này chừng mực nào đó lại được áp dụng vào trong lãnh vực tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA.”

Đút lót, hối lộ: Chuyện thường ngày ở huyện

Đút lót hối lộ trở thành một chuyện thường tình, không một doanh nghiệp nào ở Việt Nam lại không từng sử dụng phí bôi trơn. Đút lót từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn vì mọi thủ tục quá rườm rà và để công việc có thể chạy được doanh nghiệp phải chấp nhận đút lót.

Có những chuyện không thể nào hiểu nổi, một thí dụ nhỏ là một doanh nghiệp xuất khẩu muốn xuất khẩu 1 container hàng ra nước ngoài, chủ doanh nghiệp đã lên danh mục phí bôi trơn tới từng chi tiết.

Ngay cả đi thuê container để vô hàng cũng phải hối lộ cho nhân viên phụ trách ở cảng để không phải chờ đợi, được giao container tốt, rồi hải quan kiểm hóa, kết thúc hồ sơ thông quan… mỗi khâu đều có phí bôi trơn thì công việc mới chạy.

Tại Hội thảo Đà Nẵng ngày 8/8/2015, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan dẫn kết quả điều tra đáng tin cậy đã nói, ở Việt Nam trung bình cứ 1 đồng lợi nhuận thì doanh nghiệp phải mất 1,02 đồng bôi trơn. Giả dụ nếu bớt tham nhũng được 50% thì doanh nghiệp được tăng lợi nhuận 50%. Báo chí trích lời bà Phạm Chi Lan nói rằng, đó là lý do doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhỏ đi so với trước.

“ Bài toán này Việt Nam đang xử lý và đang giải quyết, nhưng xử lý đến đâu và giải quyết có hiệu quả hay không thì phụ thuộc vào sự quyết tâm, quyết liệt và sự nghiêm minh của pháp luật và của nhà cầm quyền.
TS Ngô Trí Long, Hà Nội”

Cần phải dân chủ hóa

Trả lời chúng tôi Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long nhận định, điểm chính là vấn đề cải cách đổi mới thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách bộ máy hành chính, cơ cấu đội ngũ cán bộ và những thủ tục hành chính. Hiện nay do thủ tục hành chính phức tạp gây ảnh hưởng môi trường đầu tư, vì vậy đã làm cho những chi phí bôi trơn hay, phí hay lệ phí tăng lên, những mặt đó là tiêu cực.

Trong hai năm 2014 và 2015, trọng tâm của chính phủ trong thời gian này là cải thiện môi trường đầu tư. Năm 2014 cố gắng bằng ASEAN-6 và 2015 cố gắng cải thiện môi trường đầu tư bằng ASEAN-4, tức nhóm 4 nước phát triển nhất của ASEAN. Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long nhấn mạnh:

“Chính phủ đưa ra những biện pháp hết sức cụ thể nhưng thực tế triển khai và kết quả thực hiện cũng chưa là bao, cần phải giải quyết sao cho có hiệu quả hơn. Hay nói cách khác là lời nói và hành động phải đi đôi với nhau và có sự kiểm soát, giám sát một cách chặt chẽ và phải có chế tài thực sự nghiêm minh xử lý những vấn đề còn nhũng nhiễu gây ra những chuyện không tốt đối với hoạt động của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đây là một trong những biện pháp rất tốt để giải quyết vấn đề vấn nạn tham nhũng hiện nay. Bài toán này Việt Nam đang xử lý và đang giải quyết, nhưng xử lý đến đâu và giải quyết có hiệu quả hay không thì phụ thuộc vào sự quyết tâm, quyết liệt và sự nghiêm minh của pháp luật và của nhà cầm quyền Việt Nam.”

Một chuyên gia Cơ quan phát triển quốc tế của Hoa Kỳ (USAID) ông  Olin McGill từng nhận định là thu nhập đầu người của Việt Nam đáng lẽ có thể tăng gấp 5 lần. Nhưng Việt Nam không đạt được điều này là vì điều hành không hiệu quả. Theo lời ông McGill, thủ tục xuất nhập khẩu ở Việt Nam không thông thoáng, với lượng thời gian kéo dài 21 ngày như hiện nay, ước tính Việt Nam đang thất thoát khoảng 15% tổng kim ngạch thương mại hằng năm.

Ví dụ nhỏ của ông McGill đủ làm mọi người giật mình. Nếu môi trường kinh doanh ở Việt Nam được cải thiện, thì tất nhiên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao. Môi trường kinh doanh tốt thường được thể hiện ở những nước có nền dân chủ pháp trị. Xem ra con đường cải tổ ở Việt Nam vẫn còn dài dằng dặc.