Mỹ vinh danh 2 nữ tù nhân lương tâm Việt Nam

Mỹ vinh danh 2 nữ tù nhân lương tâm Việt Nam

Nhà hoạt động Tạ Phong Tần là một trong hai nữ tù nhân lương tâm được Bộ Ngoại giao Mỹ vinh danh.

Nhà hoạt động Tạ Phong Tần là một trong hai nữ tù nhân lương tâm được Bộ Ngoại giao Mỹ vinh danh.

Trà Mi-VOA

04.09.2015

Hai nữ tù nhân lương tâm đang bị Việt Nam cầm tù được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh trong chiến dịch kêu gọi phóng thích 20 phụ nữ trên thế giới can đảm dấn thân vì nhân quyền.

Hai nhà hoạt động Tạ Phong Tần và Bùi Thị Minh Hằng có tên trong chiến dịch được phát động suốt tháng này. Qua đó, từ nay đến trước Hội nghị Bắc Kinh +20 ở New York vào hôm 27/9, mỗi ngày Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ lần lượt vinh danh từng người trong danh sách để đánh đi một thông điệp tới các chính phủ độc tài rằng nếu muốn tăng cường sức mạnh cho phụ nữ như những gì đã cam kết với quốc tế, hãy thôi giam cầm những phụ nữ đi đầu cho nhân quyền.

Trong lời tuyên bố phát động chiến dịch, Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc, Samantha Power, nhấn mạnh:

“Mỗi ngày từ nay đến trước hội nghị Bắc Kinh +20, chúng tôi sẽ chia sẻ câu chuyện về từng người trong số 20 phụ nữ này với chi tiết đầy đủ. Chúng tôi sẽ nêu rõ tên tuổi, lai lịch, lý do họ bị bắt giam một cách bất công, cùng tên các chính phủ đã tước bỏ tự do của họ, các chính phủ cử đại biểu tới dự hội nghị Bắc Kinh +20 ở New York”.

Bà Tạ Phong Tần là người số 12 và bà Bùi Thị Minh Hằng số 19 trong danh sách bao gồm 20 nhà hoạt động nữ nổi bật của nhiều nước từ châu Á tới châu Phi.

Riêng tại Châu Á, ngoài Việt Nam, những nước có các nhà hoạt động nữ được vinh danh đến từ Miến Điện, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.

“ Mỗi ngày từ nay đến trước hội nghị Bắc Kinh +20, chúng tôi sẽ chia sẻ câu chuyện về từng người trong số 20 phụ nữ này với chi tiết đầy đủ. Chúng tôi sẽ nêu rõ tên tuổi, lai lịch, lý do họ bị bắt giam một cách bất công, cùng tên các chính phủ đã tước bỏ tự do của họ, các chính phủ cử đại biểu tới dự hội nghị Bắc Kinh +20 ở New York.

Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc Samantha Power.”

Nhà hoạt động Phong Tần, nguyên là một nữ công an, bị tuyên án 10 năm tù vào năm 2012 về tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’. Bà là một trong những sáng lập viên của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do vào năm 2007 cổ súy cho quyền tự do bày tỏ quan điểm. Bà được biết đến qua trang blog Công lý Sự thật, với các bài viết phơi bày bất công xã hội, phản ánh vi phạm nhân quyền và vấn đề chủ quyền dân tộc trước họa xâm lăng của Trung Quốc.

Bà Bùi Thị Minh Hằng là nhà hoạt động được nhiều người biết đến từ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa – Trường Sa. Kể từ đó, bà trở thành mục tiêu thường xuyên bị hành hung, bắt bớ và giam cầm. Năm 2014, bà bị Tòa án Nhân dân Đồng Tháp kết án 3 năm tù với cáo buộc ‘gây rối trật tự công cộng’ sau loạt các hoạt động của bà cổ súy cho tự do tôn giáo và nhân quyền trong nước.

Cô Quỳnh Anh, con gái bà Hằng, chia sẻ cảm nghĩ khi nghe tin mẹ mình được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh:

“Bọn em cảm thấy rất lớn lao, rất vinh dự khi mẹ em là một trong hai nữ tù nhân lương tâm được nhắc tới. Đối với gia đình em, như thế là đủ. Nhưng đối với đất nước Việt Nam, em nghĩ điều này còn cần nhiều hơn nữa vì hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều tù nhân lương tâm. Không chỉ mẹ em và cô Tạ Phong Tần là nữ tù nhân lương tâm, còn rất nhiều người nữa cũng cần được nhắc đến”.

Cô Tạ Minh Tú, em gái nhà hoạt động Tạ Phong Tần, cho biết tình trạng của bà Tần hiện nay:

“Hiện giờ chị Tần bị nhốt chung phòng với 2 tù nhân hình sự. Trong phòng rất kín, không có chỗ thông gió nên chị không ngủ được, cũng không được ra ngoài. Một tuần được mở cửa phòng ra 1 lần để ra trước sân thôi chứ không được ra ngoài lao động”.

Cả hai nhà hoạt động Phong Tần và Minh Hằng từng tuyệt thực nhiều lần trong trại giam để phản đối các điều kiện đối xử khắc nghiệt và ngược đãi.

Con gái bà Minh Hằng chia sẻ thêm về những khó khăn này:

“Đối với tù nhân lương tâm, rất khó khăn, nói chung khó khăn trong tất cả mọi điều. Tù nhân thường, người nhà họ có thể dùng tiền hay các mối quan hệ để lo lót để có thể có được những điều tốt nhất cho người thân của họ trong tù. Còn những tù nhân lương tâm, hoàn toàn không thể làm những điều đó. Họ khắt khe và tìm mọi cách o ép vì luật nằm trong tay họ. Có những điều luật rất mập mờ. Ví dụ về quy chế thăm nuôi, luật quy định được thăm gặp ‘đến 1 giờ’, có nghĩa là cũng có thể là 5, 10 phút hay 1 tiếng cũng là ‘đến một giờ’. Như gia đình em, thường chừng 15 – 20 phút là họ bắt em phải đi ra”.

“ Với tư cách con của một tù nhân lương tâm, em hy vọng duy nhất một điều là Việt Nam không còn tù nhân lương tâm nữa. Tù nhân lương tâm là những người xứng đáng được ghi nhớ, được biết ơn. Họ là những người đi đầu khởi xướng đòi tự do dân chủ cho đất nước.

Cô Quỳnh Anh – con gái bà Minh Hằng.”

Khi được hỏi nguyện vọng của gia đình hiện nay, cô Quỳnh Anh cho biết:

“Với tư cách con của một tù nhân lương tâm, em hy vọng duy nhất một điều là Việt Nam không còn tù nhân lương tâm nữa. Tù nhân lương tâm là những người xứng đáng được ghi nhớ, được biết ơn. Họ là những người đi đầu khởi xướng đòi tự do dân chủ cho đất nước”.

Thân nhân của nhà hoạt động Tạ Phong Tần cho rằng kêu gọi ngoại giao không thôi chưa đủ, cần các áp lực mạnh mẽ hơn để buộc Việt Nam phải thực hiện cam kết về quyền con người.

Cô Tạ Minh Tú:

“Nguyện vọng của gia đình là chị Tần được ra ngoài để trị bệnh vì hiện giờ chị ấy bị 4 thứ bệnh. Bộ Ngoại giao Mỹ kêu gọi tự do cho chị, nhà cầm quyền Việt Nam có nghe hay không thì không biết được. Còn phía Hoa Kỳ cần kêu gọi và xử trí thế nào vì Việt Nam đã ký với Liên Hiệp Quốc về Công ước nhân quyền, Hoa Kỳ phải có áp lực buộc họ phải thi hành”.

Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc Samantha Power cho biết vinh danh 20 nữ tù nhân này là một thông điệp mà Hoa Kỳ muốn gửi tới bản thân các nhà hoạt động và gia đình của họ rằng thế giới không quên những đóng góp hy sinh của họ thăng tiến cho quyền con người và rằng Mỹ sẽ tiếp tục áp lực các chính phủ phải phóng thích họ vô điều kiện.

Hà Nội phủ nhận có tù nhân lương tâm và gọi đó là những người phạm pháp bị xử lý theo pháp luật Việt Nam, khơi dậy những lời kêu gọi yêu cầu Việt Nam cải thiện luật nội địa phù hợp với các chuẩn mực nhân quyền căn bản chung của quốc tế.

Hà Văn Thịnh – Khi dối lừa là… sự thật!

Hà Văn Thịnh – Khi dối lừa là… sự thật!

Dân Luận

Hà Văn Thịnh

3-9-2015

Đọc những bản tin về Lễ diễu binh nhân Kỷ niệm 70 năm ngày Quốc khánh (tôi không xem TV), không thể tin ở mắt mình: Một sĩ quan Quân y, đeo quân hàm trung tá (trên ve áo), sinh năm 1993(!), ngực gắn đầy huân, huy chương các loại? Cái tức chỉ mới ở cấp độ… vừa vừa. Thế nhưng, đọc tiếp, thấy ông Trung tướng Võ Văn Tuấn, Phó Tổng tham mưu trưởng, trả lời báo chí rằng, tuy là thiếu úy, nhưng theo quy điịnh, phải đeo hàm trung tá cho… thống nhất (Motthegioi.vn; 09:55, 3.9.2015) thì sự uất nghẹn lên đến tận cùng! Thì ra, để đảm bảo tính THỐNG NHẤT, DUY NHẤT, người ta có thể đạp đổ mọi giá trị?

Chưa bàn đến chuyện cộng đồng mạng đang xôn xao: Thiếu úy Quân y Phạm Trúc Sơn Quỳnh là… sinh viên trường Đại học Thương mại (vì chưa kiểm chứng được); chỉ xin luận về cái việc giả dối luôn được coi là sự thật, nó nguy hại và mang tính “truyền thống” khủng khiếp đến mức nào.

Thứ nhất, xin hỏi ông trung tướng rằng, từ cổ chí kim, ở bất kỳ quốc gia nào (không kể mấy nước XHCN), có chuyện quân hàm, huy chương, được đeo một cách tùy tiện để diễu qua diễu lại trước mắt hàng triệu con người như thế hay không? Ở đây, công khai trước mắt toàn dân tộc mà lại ủ mầm dối trá thì người dân biết tin vào ai? Không lẽ, dối trá, tùy tiện lại trở thành quy định của ta? Làm sao để có quân lệnh như sơn, làm sao việc tôi hay ai đó đeo quân hàm thì bị bắt ngay lập tức mà trong diễu binh lại coi là bình thường?

Những tấm huy chương đó do một cô gái trẻ đeo, chẳng lẽ cũng lại là quy định? Nếu đúng thế thì đó là sự sỉ nhục đối với những người vào sinh ra tử để có được chúng? Xét về tuổi, sinh năm 1993, đeo được quân hàm thì chỉ có thể tốt nghiệp trung cấp y-dược; tức là… y tá hay hộ lý, dược tá vì, chưa thể tốt nghiệp đại học y – dược 6-7 năm. Sự kệch cỡm và trơ tráo là không thể chối cãi. Có lẽ, đây là cách tốt nhất để vả vào mặt hàng loạt sĩ quan cấp tá khác, có phải vậy không?

Thứ hai, báo chí cho biết có 70% trong đội ngũ nữ “quân y” đã có gia đình; vậy, căn cứ vào đâu để đề nghị cấp bằng khen cho một cô gái còn son trẻ? “Động tác” chuẩn, đẹp, tập luyện cả đêm ngày…; chỉ là sự tư biện trắng trợn. Bốn tháng trời tập có mỗi đi đều, vung tay cho đúng thỉ chỉ có ai đó thiểu năng mới không làm được. Còn tập đêm, tập ngày chỉ là do kém mà thôi. Tại sao không đặt ngược câu hỏi rằng 70% của 200 người , tức là trên dưới cả trăm phụ nữ có con mọn không cần tập như thế vẫn đi đúng, đẹp chẳng kém gì? Nói rằng cô thiếu úy – trung tá đẹp hơn về vòng 1 hay gương mặt thì còn khả dĩ, chứ cho rằng đẹp hơn trong một khối 200 người thì quả là sự phỉ báng tư duy: Đẹp hơn có nghĩa là khối đó có hàng trăm người không đẹp bằng – tức là đi đều sai, chào không đúng, cũng đồng nghĩa là khối nữ quân y diễu binh thất bại. Nếu quả là vậy thì “khối trưởng” có gì đáng tặng bằng khen? Một đất nước mà cái gì cũng GIẢ, từ cấp bậc đến huân chương, danh hiệu anh hùng, đẹp, chuẩn…, là phải hiểu sao đây?

Thứ ba, riêng chuyện bố của cô thiếu úy – bà trung tá, là sĩ quan (cao cấp – vì ít khả năng có chuyện con dám đeo quân hàm cao hơn bố, trong khi quy định, thượng tá là cán bộ cao cấp) ở Tổng cục Hậu cần, đủ để biết cái “thị trường” sao – vạch là hình như có vẻ đúng? Biết bao nhiêu phụ nữ (trong số 140 người) trong khối quân y vừa là con dân đen, vừa nuôi con nhỏ xứng đáng hơn mà không được khen? Thì ra, khen hay chê không phải do tài năng, phẩm hạnh mà có phải là CCCC hay không mà thôi. Phải chăng chính ông trung tướng đang ngầm khẳng định cho cái ‘chân lý’ không có ai chịu nổi là vì mục tiêu thống nhất, duy nhất, các vị muốn làm gì thì làm, diễn ra sao thì diễn?

Thứ tư: tôi được biết các tàu bệnh viện, xe cứu thương trên thế giới đều in dấu chữ thập đỏ trên nóc, 4 phía để đối phương không bắn nhầm (quy định quốc tế, xem ảnh chụp tàu bệnh viện Mỹ vừa đến Đà Nẵng). Thế, tại sao bác sĩ, y tá quân đội ta, cô nào cũng cầm AK (trừ chỉ huy là súng ngắn), mặt đằng đằng sát khí? Họ ra trận để cứu người hay bắn người? Nếu họ bắn rồi bị bắn chết thì lấy ai cứu thương binh; hoặc giả, để thương binh… chết luôn?

Trên đây là 3 câu hỏi xin ông trung tướng trả lời. Nếu tôi sai (cầu mong là thế – vì, tôi sai thì đất nước được nhờ), là do kiến thức hạn hẹp, không hiểu hết cái ý thâm, nghĩ ngắn rõ ràng như của các ông. Tuy nhiên, bài này rất tình cờ được viết trong ngày kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh từ giã cõi đời (suốt mấy chục năm trời, thế hệ chúng tôi thắp hương vào ngày… 3.9!), nên có liên tưởng về “truyền thống” dối trá đắng cay. Xin kể ông nghe.

Thuở đó, tôi cũng như nhiều học sinh lớp 7, lớp 8 khác, đã khóc Bác rất chân thành – khóc dàn dụa đến hết nước mắt theo đúng nghĩa đen của từ này. Sau đó, chúng tôi lùng, tìm để học thuộc nhiều bài thơ viết về nỗi đau “tả” cái đau đớn thật sự của hàng triệu con người. Tất nhiên, cũng có bài thơ không hay (thậm chí là phản động) như bài Bác ơi của Tố Hữu. Tố Hữu kể rằng ngày Bác mất, ổng đang bỏ đi chơi đâu đó: Chiều nay con chạy về thăm Bác. Rồi, ổng miêu tả ổng đang lần mò, rình rập nhà bác; không thèm thắp cho người chết một đốm nến tàn: Con lại lần theo lối sỏi quen… Phòng lạnh, rèm buông, tắt ánh đèn…

Tạm không bàn đến những câu thơ dở mà hãy nói đến những câu thơ hay, trong đó có những câu này (tôi quên tên tác giả, nhờ bạn đọc tìm dùm):

Hôm nay, tháng Chín, ngày ba
Bác mất
Từ đó
Những bình minh khổ đau
Những hoàng hôn nước mắt
Lên đường cùng chúng ta…

Lại xin không bàn về cái tài tiên tri của nhà thơ; quả là từ khi đó đến giờ, có không ít khổ đau và nước mắt đã “lên đường”; mà chỉ xin nhấn mạnh rằng, mấy chục năm sau, tôi nghe đính chính rằng thực ra Bác mất ngày 2.9 chứ không phải ngày 3. Thật là đau đớn cho ông nhà thơ nọ vì nếu là ngày 2 thì không thể vần với chữ ta ở câu sau. Thành thử đành phải vất vào sọt rác cái chữ “hay”.

Rồi, tôi còn được biết rằng, Bác viết trong Di chúc là cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa; nhưng Đảng ta đã quyết định xóa bỏ “20 năm”(!)

Tất cả đều nhằm mục đích… thống nhất?

Đến đây thì hẳn là ông trung tướng đã buộc phải đồng ý với tôi rằng, khi người ta có thể sửa cả di chúc, tức là, hoàn toàn có thể dối lừa mọi chuyện?

Bước khởi đầu của dối trá (tạm tính là khởi đầu) tai họa đó, cứ nghĩ là do… chiến tranh, không làm rối loạn lòng dân, nên nghe đôi khi, cũng xuôi xuôi. Bây giờ, tra trốc, mốc trọ rồi tôi lại còn nghe thêm lý ‘trấu’ là do thống nhất, từ ông, thì quả là hết thuốc chữa.

Các ông cứ nghĩ dối trá ‘cho vui’, dân ngu khu đen chẳng biết, chẳng dám nói gì thì quả đúng là khủng khiếp…

Viết bài này, mong các ông đọc và bớt dối trá đi cho người dân đỡ khổ, đỡ đau. Đừng đưa “quy định” ra để lấp liếm: Tôi từng biết có người cấp bậc đại úy làm trưởng phòng CSGT trong khi cấp trung tá là phó phòng (nghe đâu bây giờ sắp thay đổi).

Xin lưu ý các ông là lần diễu binh sau (kỷ niệm 80 năm, nếu có) đừng cho bất kỳ cô bé mặt búng ra sữa nào đeo lon trung tá, bởi như thế là làm tái phát vết thương chiến tranh của hàng triệu cựu chiến binh đang buộc phải lặng im dù bị sỉ vả đắng cay!…

Huế, 3.9.2015

Nhà báo mất chức ‘vì bài về 2/9’

Nhà báo mất chức ‘vì bài về 2/9’

  • BBC

Image copyright AFP

Một nhân vật cấp lãnh đạo tại một tờ báo lớn của Việt Nam đã bị cách chức và thu hồi thẻ nhà báo.

Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam ngày 4/9 loan báo thu hồi thẻ nhà báo của ông Đỗ Văn Hùng, thường được biết với tên Đỗ Hùng.

Hôm 3/9, báo Thanh Niên đã miễn nhiệm chức vụ Phó Tổng Thư ký tòa soạn Báo điện tử Thanh Niên với ông Hùng.

Quyết định của Bộ Thông tin và Truyền thông không nêu nguyên do, nhưng giới nhà báo trong nước tin rằng nó xuất phát từ một đoạn ngắn trên Facebook cá nhân.

Hôm 2/9, trong lúc Việt Nam đánh dấu 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh, ông Hùng đăng một đoạn trên Facebook nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Giọng văn hài hước của ông Hùng sau đó bị một số người trên mạng lên án là giễu cợt Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Quyết định nhanh chóng của báo Thanh Niên và của Bộ Thông tin và Truyền thông dường như cho thấy giới chức xem đây là vấn đề nghiêm trọng.

Loan báo của Bộ Thông tin và Truyền thông nói báo Thanh Niên phải thu hồi thẻ nhà báo của ông Hùng và nộp về Bộ trước ngày 18/9

2 tháng 9 – Hãy thôi kèn trống nhộn nhạo ăn mừng!

2 tháng 9 – Hãy thôi kèn trống nhộn nhạo ăn mừng!

Song Chi

RFA

000_Hkg10206358-622.jpg

Nhà cầm quyền VN tưng bừng kỷ niệm 70 năm VN tuyên bố độc lập.

AFP

Vào ngày 9.8.2015 vừa qua Singapore đã long trọng kỷ niệm 50 năm ngày độc lập của đảo quốc này. Thực sự, chính phủ và người dân Singapore hoàn toàn có thể tự hào, vui sướng vì những gì mà họ đã đạt được. Chỉ sau 50 năm đối với một quốc gia nhỏ bé, thuộc địa cũ của Anh quốc, nay Singapore đã phát triển nhanh chóng trở thành một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới, với những thành tựu nổi bật về kinh tế, giáo dục, y tế. Và mặc dù vẫn còn bị chỉ trích là một chính phủ độc tài, cũng như sự thiếu vắng về tự do ngôn luận và chính trị, nhưng ít nhất người dân Singapore đã và đang được sống trong một xã hội ấm no, thịnh vượng, thượng tôn pháp luật, chính phủ minh bạch. Đất nước này nhận được sự ngưỡng mộ của các nước, là một trong những biểu tượng hóa rồng nhanh chóng của khu vực và thế giới.

Sắp tới, có lẽ người Đức sẽ kỷ niệm 25 năm thống nhất đất nước (3.10.1990-3.10.2015) và họ cũng hoàn toàn có thể tự hào, hạnh phúc vì đã thống nhất không đổ máu, và vì Tây Đức không bị Đông Đức quyết tâm “giải phóng” bằng mọi giá nên khi cần thiết, người dân cả hai miền có cơ hội để so sánh và lựa chọn một thể chế tốt đẹp hơn. Sau 25 năm, người Đức đã nỗ lực rất nhiều để san bằng khoảng cách giữa hai miền Đông-Tây và nước Đức hiện nay là đầu tàu về kinh tế cũng như trong nhiều lĩnh vực khác ở châu Âu.

Đừng quên, Đức là nước đại bại trong chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Một quốc gia khác cũng bị đại bại và phải chịu sự chiếm đóng của nước ngoài là Nhật Bản, nhưng từ sau chiến tranh, Nhật tập trung phát triển kinh tế, và chỉ đến cuối thập niên 60 của thế kỷ XX Nhật Bản đã hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa, trở thành một nước tư bản phát triển. Nhắc đến Nhật là nhắc đến những thành tựu về kinh tế, đặc biệt về công nghiệp điện tử, kim khí, máy móc, xe hơi, hàng tiêu dùng… với những thương hiệu hàng đầu thế giới và đảm bảo uy tín về chất lượng; là nhắc đến những giá trị Nhật Bản không chỉ trong kinh tế mà cả về văn hóa, con người.

Kỷ niệm 70 năm chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, và sự thất bại của chủ nghĩa phát xít (9.1945-9.2015), vào thời điểm này, người Nhật có thể nhẹ nhàng, không mặc cảm khi nhìn lại quá khứ, không những thế, họ có quyền tự hào vì đã thay đổi hướng đi và đã từ đống tro tàn vươn mình đứng dậy.

Và còn nữa, những ví dụ khác của thế giới…

Chỉ mình đảng “tự sướng”?

Ngày 2.9 năm nay nhà cầm quyền VN cũng tưng bừng kỷ niệm 70 năm VN tuyên bố độc lập và được lãnh đạo bởi đảng cộng sản. Một chương trình kỷ niệm hoàng tráng và tốn kém đã được chuẩn bị tử trước đó mấy tháng. Tất nhiên, truyền thông nhà nước sẽ được chạy hết công suất để ca ngợi công ơn đảng và nhà nước, để nhắc đến những thành tựu của “thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử, thời đại Hồ Chí Mính” v.v và v.v…

000_Hkg10206480-400.jpg

Nhà cầm quyền VN tưng bừng kỷ niệm 70 năm VN tuyên bố độc lập. AFP PHOTO.

Thế nhưng có thật 90 triệu người dân cảm thấy tự hào, vui sướng hay chỉ mình đảng “tự sướng”?

Có gì đáng để vui mừng cho 70 năm của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN nếu nhìn sang những thành tựu của nhiều nước khác, với thời gian ngắn ngủi hơn?

VN hôm nay có thật là một quốc gia độc lập, tự do, hạnh phúc như câu nói luôn luôn xuất hiện trong mọi văn bản, giấy tờ của nhà nước?

Ngay từ đầu, đảng cộng sản đã chọn con đường giành độc lập bằng hình thức bạo lực cách mạng, sau này lại lựa chọn thống nhất đất nước bằng chiến tranh, giữ chính quyền bằng bạo lực và sự cai trị, bất chấp nhân tâm, sự lựa chọn đó đã dẫn đến quá nhiều đau thương, mất mát. Cuộc nội chiến 20 năm với hơn 3 triệu người đã ngã xuống, lẽ ra hoàn toàn có thể tránh được, tiếp đó lại chiến tranh biên giới với Trung Cộng, cuộc chiến với Campuchia…đã tàn phá đất nước, hủy hoại sinh lực của dân tộc VN. Bên cạnh đó là vô số những chính sách sai lầm về kinh tế, quản lý đất nước, sử dụng con người, đẩy đất nước thục lùi hàng chục, hàng trăm năm về nhiều mặt, hàng triệu người bỏ nước ra đi trong đó gần một nửa vĩnh viễn nằm lại dưới biển sâu, tạo nên một trong những cuộc di dân lớn nhất trong lịch sử VN và cả thế giới trong thế kỷ XX.

Cho đến tận hôm nay, VN vẫn bị kìm hãm không thể phát triển vì những cải cách nửa vời không triệt để, vì tầm nhìn hạn hẹp, vị kỷ, chỉ muốn bám chặt lấy quyền lực bằng mọi giá của đảng và nhà nước cộng sản.

Hậu quả VN ngày nay đứng ở đâu trên thế giới, đã đạt được những thành tựu gì, đóng góp được gì cho nhân loại, vị thế của VN và ngay cả của người Việt trong mắt bạn bè thế giới như thế nào… Đó là những câu hỏi không khó để trả lời.

Nhà nước cộng sản VN đã tự sướng, đã ngất ngây với những thành tích chiến thắng quá đủ và quá lâu rồi. Giờ là lúc hãy nhìn thẳng vào sự thật, để biết đau biết nhục vì sự thua kém về nhiều mặt của đất nước so với các nước khác, vì người dân mình đa số vẫn còn nghèo quá, khổ quá, vẫn còn phải chạy vạy kiếm ăn từng bữa và hàng triệu người khác đang tha hương tứ xứ đi làm thuê khắp thế giới trong lúc hàng chục, hàng trăm ngàn người khác nữa vẫn đang tiếp tục tìm mọi cách bỏ nước ra đi…

Dù ở thế kỷ XXI, những khái niệm về tự do, dân chủ, những quyền con người căn bản vẫn còn là xa xỉ với người Việt.

Cần sám hối thay vì dửng dưng trước thời cuộc

Chưa bao giờ nhà nước này biết sám hối, biết nói một câu hay có một hành động tỏ sự hối tiếc, ân hận cho những sai lầm, những tội ác mà họ đã gây ra cho đất nước này, dân tộc này.

Và không chỉ riêng đảng và nhà nước cộng sản VN phải sám hối.

Tất cả chúng ta, hơn 90 triệu người VN trong và ngoài nước cũng cần cảm thấy nhục, đau thay vì vui mừng, cần sám hối thay vì dửng dưng trước thời cuộc.

Tất cả những người dân miền Bắc thuộc thế hệ U90 cho tới U50 đã từng tin vào những lởi đảng cộng sản nói, đã từng góp phần vào xây dựng nên chế độ này, hãy sám hối, như những người đã nhận ra sự thật. Như tướng Trần Độ, nhà báo Bùi Tín, nhà văn Vũ Thư Hiên, nhà văn Dương Thu Hương, cựu lãnh sự VN tại Geneva Đặng Xương Hùng, nhà báo Lê Hiếu Đằng và nhiều, rất nhiều những người khác, như những lời tâm sự chân thành của hai anh em đảng viên đảng cộng sản Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn trong bài “Phỏng vấn Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn-Làm cách mạng không phải để dựng nên một nhà nước độc tài”, do tác giả Phạm Hồng Sơn thực hiện, đăng trên Talawas từ tháng 4.2012:

“…Phạm Hồng Sơn: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ĐCSVN?

Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ.

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi sẽ phải bình tĩnh hơn, tìm hiểu xem họ có ủng hộ và có tư tưởng dân chủ thực sự không, chứ không thể chỉ căn cứ vào lời nói và tuyên truyền của họ. Theo tôi, vấn đề dân chủ phải được đặt cao hơn vấn đề dân tộc vì chỉ có dân chủ mới giúp cho dân tộc được tự do đúng nghĩa và khi đó đất nước mới có nền độc lập bền vững.

….

Phạm Hồng Sơn: Nếu bây giờ vô tình hai ông gặp lại một người là cựu viên chức cũ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người đó chính là “kẻ thù” của ông trước 1975, điều trước tiên hai ông muốn nói là gì?

Huỳnh Nhật Tấn: Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay. Và nếu xét về những căn bản để bảo đảm tự do cho nhân dân và độc lập cho dân tộc thì tôi cũng đã vô tình góp công sức đưa những người mang danh là “cách mạng” nhưng thực chất là vì quyền lực tới phá bỏ một chế độ đã được xây dựng trên những căn bản về tự do, dân chủ và nhân bản tại miền Nam Việt Nam.

Huỳnh Nhật Hải: Bây giờ nhìn lại, con đường chúng tôi đã đi trước 1975 là một con đường sai lầm. Sự nhiệt huyết lúc đó của chúng tôi đã đem lại bất hạnh hơn là hạnh phúc cho dân tộc.”

Không chỉ những thế hệ trước, tất cả những ai còn đang hưởng lợi lộc từ chế độ này nên quyết tâm bảo vệ chế độ đến cùng bất chấp lợi ích của đất nước, nhân dân. Những ai đến giờ này vẫn lợi dụng những kẻ hở của chế độ để đục khoét, vơ vét tài sản của đất nước, tiền thuế của nhân dân, làm giàu từ tham nhũng, từ những cung cách làm ăn bất chính, bất chấp những hậu quả thiệt hại nặng nề mà họ gây ra. Những ai cho đến giờ này vẫn ra sức bảo vệ, bưng bô chế độ, tiếp tục nói dối để lừa mị nhân dân.

Từ những công an viên, cánh tay đắc lực bảo vệ đảng, dựa vào đảng, vào nhà cầm quyền để tác yêu tác quái, xách nhiễu, hành hạ dân chúng, thậm chí bạo hành dân đến chết trong trại tạm giam, những dư luận viên ngày đêm ném đá, bôi nhọ, vu khống những người dám nói lên sự thật cho tới những “bồi bút”, “văn nô” ngày đêm sơn phết, tụng ca chế độ bất chấp lương tâm và lòng xấu hổ, những trí thức mũ ni che tai, trùm chăn với thời cuộc, tự cho mình là khôn ngoan, hoặc còn đang mải mê kiếm thêm danh lợi…

Vả phía bên thua cuộc, không chỉ những người tham gia vào cuộc chiến hay lớn lên ở miền Nam trước 1975 cần sám hối vì đã không thể giữ được miền Nam, dù biết rằng do những điều kiện khách quan, do bàn cờ thế cuộc được sắp xếp giữa các nước lớn, nhưng giá như hồi đó người miền Nam tỉnh táo hơn, quyết liệt hơn, thậm chí thủ đoạn hơn, cộng sản có lẽ đã không thể thắng. Và những con người vì ngây thơ chính trị hay vì nhẹ dạ, từng “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, góp phần dẫn đến sư sụp đổ của VNCH…

Không chỉ họ, thế hệ hôm nay trong và ngoài nước, trong đó có tôi, có chúng ta, cần phải sám hối bởi vì dựng nên chế độ là trách nhiệm của các thế hệ trước, nhưng giúp cho chế độ tồn tại là trách nhiệm của thế hệ hôm nay. Chúng ta đã quá giỏi chịu đựng nên chế độ này mới tồn tại lâu đến thế.

Sám hối để quặn lòng đau cho đất nước, để xót thương cho dân mình, cũng là thương chính mình và con cháu mình.

VN còn là một “quốc gia khó phát triển, không chịu phát triển” cho đến bao giờ?

Song Chi

Do đâu tiền Đồng liên tục mất giá?

Do đâu tiền Đồng liên tục mất giá?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-09-01

09012015-y-vn-curren-to-be-devalua-forever.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Nhân viên ngân hàng chuẩn bị tiền cho khách hàng

Nhân viên ngân hàng chuẩn bị tiền cho khách hàng

AFP

Đồng tiền Việt Nam mất giá liên tục trong ba thập niên qua và chưa bao giờ lên giá trở lại so với đồng đô la, cũng như các ngoại tệ mạnh khác. Sự mất giá không ngừng này mang ý nghĩa gì và lý giải như thế nào.

Kinh tế chưa ổn định

Trong vòng 7 năm từ 2008 đến nay đồng tiền Việt Nam mất giá 30% so với đồng đô la Mỹ, đó là khoảng thời gian gần đây nhất. Xa hơn trong quá khứ, ngày 15/9/1985 một ngày sau khi Nhà nước thực hiện đổi tiền lần thứ 6, tỷ giá chính thức 1 USD đổi được 15 đồng Việt Nam. Nhưng tiền đồng rớt giá rất nhanh, chỉ một năm sau, năm 1986 tỷ giá tăng 10 lần lên 150 đồng/USD; năm 1987 là 550đ/USD; đến 1990 là 7.500đ/USD.  Nếu tính từ ngày 15/9/1985 đến ngày 31/8/2015 thì trong vòng 30 năm tiền đồng Việt Nam mất giá khủng khiếp, từ mức 15 đồng ăn 1 USD đã tăng lên 22.500 đồng/1 USD.

Thái Lan là nước láng giềng của Việt Nam cũng có đồng Baht có lúc bị mất giá, tuy vậy sau giai đoạn khủng hoảng đồng Baht lại có giá trở lại và ổn định. Thí dụ vào tháng 1/1998 khi cuộc khủng hoảng tài chính lên tới cao độ, 1 USD đổi được 55 baht, nhưng hiện nay đồng Baht Thái xê xích trong khoảng từ 32 tới 35 Baht đổi một USD.

Giải thích về tình trạng đồng tiền Việt Nam cứ liên tục mất giá chứ chưa bao giờ tăng giá trở lại, TS Lê Xuân Nghĩa nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia từ Hà Nội phát biểu:

“Thật ra nếu Việt Nam cũng làm như Thái Lan nghĩa là thả nổi đồng tiền thì chắc là có lúc lên có lúc xuống. Nhưng chúng ta chưa thả nổi tiền tệ và có khuynh hướng là đồng tiền cứ mất giá dần. Thứ hai nữa lạm phát của Thái Lan thấp hơn Việt Nam rất nhiều. Việt Nam thỉnh thoảng lại gặp một cú sốc lạm phát rất là lớn, cuối cùng đồng tiền Việt Nam mất giá rất là xa so với những đồng tiền mạnh khác. Cái này nó phải có một thời kỳ ổn định kinh tế vĩ mô tương đối dài hạn thì mới tránh được chuyện đồng tiền của mình lúc nào cũng giảm giá so với các đồng tiền lớn.”

“ Nguyên nhân xuất phát của nó là tình trạng kinh tế, là vì kinh tế VN chưa ổn định, các nhu cầu đầu tư là rất lớn cho nên thu nhập quốc dân không nhiều. Sau đó là tình hình vay nợ rất cao. Nợ công rất là lớn mà trong tình trạng thu không đủ chi…

Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa”

Trả lời chúng tôi vào tối 31/8/2015, Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa phó Hiệu trưởng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trình bày cách nhìn của ông đối với việc đồng tiền Việt Nam cứ liên tục đi xuống mãi.

“ Nguyên nhân xuất phát của nó là tình trạng kinh tế, là vì kinh tế Việt Nam chưa ổn định, các nhu cầu đầu tư là rất lớn cho nên thu nhập quốc dân không nhiều. Sau đó là tình hình vay nợ rất cao. Nợ công rất là lớn mà trong tình trạng thu không đủ chi, tình hình Việt Nam trong thời gian vừa qua bấp bênh như vậy cho nên nó thể hiện ra bên ngoài bằng cái giá cả tiền tệ. Về thực chất thì vẫn là thu chi tài chính thôi.”

Ảnh chụp vào ngày 27 Tháng 6 năm 2015 một người nông dân ở một cánh đồng lúa ở Hội An, Quảng Nam một tỉnh miền trung của Việt Nam.

Ảnh chụp vào ngày 27 Tháng 6 năm 2015 một người nông dân ở một cánh đồng lúa ở Hội An, Quảng Nam một tỉnh miền trung của Việt Nam.

Đồng tiền Việt Nam được định giá dựa trên cơ sở nào khi mà thực lực nền kinh tế rất yếu, dự trữ ngoại tệ không bao nhiêu. Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa tiếp lời:

“ Bất cứ một nước nào thì đồng tiền đều phải được định giá bằng cơ sở kinh tế của nước đó, thu nhập quốc dân của nó là bao nhiêu và cân đối với số lượng tiền phát hành. Thế thì thu nhập quốc dân của Việt Nam trên dưới 100 tỷ đô một năm, rất là thấp trong khi lượng tiền phát hành ra ngày một gia tăng. Cái đó là định giá căn bản về kinh tế, định giá của nó là cơ sở thấp mà khối lượng tiền tệ cao thì giá trị tiền tệ phải giảm. Đó là nguyên lý thông thường…”

Đáp câu hỏi, phải chăng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mang hàm ý không có nền kinh tế thị trường thực chất, chính là một rào cản phát triển đối với Việt Nam mà đồng tiền mất giá liên tục là hệ quả. Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa nhận định:

“Mặc dù 70% dân số sống trong khu vực nông thôn, nhưng nền nông nghiệp lạc hậu không thể cạnh tranh với các nước như Thái Lan chẳng hạn. Phải có một cuộc cải cách với cái đích, nông nghiệp phát bền vững với năng suất cao và có những sản phẩm độc đáo ở trên thị trường”

“Bây giờ cứ nói định hướng xã hội chủ nghĩa chứ thực ra nó không có cái định hướng nào cả, nó là câu nói cửa miệng quen rồi. Định hướng xã hội chủ nghĩa thì nó phải có cái đích của nó chứ, định hướng như thế nào. Tất cả những vấn đề đó tôi cho rằng cần phải xem xét, cần phải sửa đổi lại.”

Nông nghiệp lạc hậu

Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa đề cập tới nhu cầu cải cách rất lớn ở Việt Nam, theo lời ông mặc dù 70% dân số sống trong khu vực nông thôn, nhưng nền nông nghiệp lạc hậu không thể cạnh tranh với các nước như Thái Lan chẳng hạn. Phải có một cuộc cải cách với cái đích, nông nghiệp phát bền vững với năng suất cao và có những sản phẩm độc đáo ở trên thị trường.

Đối với ngành công nghiệp dệt may, da giày là những ngành xuất khẩu quan trọng, theo GSTS Vũ Văn Hóa hiện nay đứng trên tổng gía trị hàng hóa xuất khẩu thì là lớn, nhưng tiền lãi trong đó thì không cao và đây là thực tế đáng buồn của Việt Nam. Bởi vì công nghiệp phụ trợ chưa có gì, xuất khẩu rất nhiều nhưng chỉ gia công là chính, từ cây kim sợi chỉ cũng phải nhập của nước ngoài.

Khi nêu ra những nhược điểm của nền kinh tế Việt Nam, GSTS Vũ Văn Hóa đã dẫn chứng tình trạng thực lực nền kinh tế yếu kém, là nguyên nhân chính của việc đồng tiền Việt Nam mất giá từ năm này qua năm khác.

Vũng Lầy Giáo Dục

Vũng Lầy Giáo Dục

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Với một nền giáo dục quá thừa phong bì nhưng lại thiếu phong cách, quá thừa nhà quản lý, nhà tiến sĩ nhưng lại thiếu một nhà liêm sỉ. Điều đó quả thực đáng lo ngại đối với bậc làm cha làm mẹ luôn đau đáu về tương lai của con mình.

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam

Lá vẫn còn xanh. Hè vẫn còn nấn ná. Trời vẫn chưa muốn vào thu mà (không dưng) sáng nay California chợt thoáng chút âm u, và lấm tấm vài hạt mưa nho nhỏ. Mưa chưa ướt đất nhưng cũng đủ làm cho tôi hơi thấy ngại ngần khi nghĩ đến chuyện phải ra khỏi nhà chỉ vì một ly cà phê nóng.

Thôi thì bắt chước cổ nhân thắp vài cây nến nhỏ, châm một bình trà, rồi ngồi nhẩn nha đọc lại vài bức thư xưa. Lá thư cũ nhất mà tôi còn giữ được, đề ngày 3 tháng 9 năm 1945, là “Thư Gửi Các Cháu Học Sinh” của Chủ Tịch Hồ Chí Minh:

Ngày hôm nay là ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bác đã tưởng tượng thấy trước mắt cái cảnh nhộn nhịp tưng bừng của ngày tựu trường ở khắp các nơi. Các cháu hết thảy đều vui vẻ vì sau mấy tháng trời nghỉ học, sau bao nhiêu cuộc chuyển biến khác thường, các cháu lại được gặp thầy gặp bạn. Nhưng sung sướng hơn nữa, từ giờ phút này trở đi các cháu bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.

Viễn ảnh về một ngày tựu trường “nhộn nhịp tưng bừng … ở khắp các nơi” và một “nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” dễ khiến cho nhiều người phấn trấn:

“Chúng tôi thường tự hào đây là một nền giáo dục riêng của người Việt, một nền giáo dục không có dây dưa gì nhiều với nền giáo dục mà thế kỷ trước, người Pháp đã mang lại.” (Vương Trí Nhàn. “Mấy Cảm Nhận Về Sự Khác Biệt Giữa Giáo Dục Miền Nam Và Giáo Dục Miền Bắc”).

Niềm tự hào này, tiếc thay, không kéo dài lâu. Khi có cơ hội so chiếu, tác giả bài viết thượng dẫn đã nhìn ra ngay sự bất toàn:

“Cái mà ta gọi là giáo dục miền Bắc chỉ là sự kéo dài của lối phát triển giáo dục trong chiến tranh… Giáo dục chiến tranh, do dó, luôn luôn là một nền giáo dục dở dang chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao của một nền giáo dục mới mẻ, cách mạng…

Nói quá lên thì có thể bảo, như một cơ thể, GDMB thuộc loại tiên thiên bất túc, tức sinh ra đã không đủ các bộ phận cần thiết, sinh ra đã bất thành nhân dạng. Phương châm ở đây là làm lấy được, tức là chưa đủ điều kiện, nhưng thấy cần, vẫn cứ làm —  rồi để yên lòng nhau, sẽ viện ra đủ lý lẽ để chống chế, để lấp liếm và xa hơn nữa, sẵn sàng tự ca tụng…”

Hệ quả, tất nhiên, là thảm hoạ – vẫn theo như nhận định của  Vương Trí Nhàn:

“Mươi năm gần đây, tình hình có chút đổi khác, nhưng là chỉ đổi khác trên bề mặt. Cựa quậy mấy thì nền giáo dục này cũng không khác được so với chính mình. Nó đã cạn kiệt năng lực tự cải hóa. Ngay cả những người trong bộ máy quyền lực cũng đều tính chuyện cho con em mình qua nhiểu nước phương Tây, nhất là sang Mỹ để học.

Nhưng họ chỉ lo được cho gia đình riêng của họ thôi. Ở trong nước, những bài bản của miền Bắc cũ được tân trang lại chút ít vẫn ngự trị trong toàn bộ nền giáo dục, và trong thâm tâm, nhiều người đã bắt đầu nghĩ rằng hình như có một bãi lầy đã được tạo ra và chúng ta không bao giờ ra thoát.”

Cậu bé Vũ Thạch Tường Minh – 14 tuổi, học sinh trường Hà Nội –

Amsterdam phát biểu tại buổi ra mắt sách của nhóm Cánh Buồm.

Ảnh và chú thích: RFA

Đối với những thế hệ đến sau (những kẻ sinh trưởng ngay giữa “bãi lầy”) thì vấn đề không còn gì để mà bàn cãi nữa. Vũ Thạch Tường Minh, một học sinh lớp 8, đã khẳng định như vậy:

“Bây giờ giáo dục Việt Nam con thấy là, con không có tính từ nào khác nên con phải dùng tính từ này, là giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá ‘thối nát’ rồi. Mà suốt bao năm qua các vị cải đi, cải lại, cải tiến, cải lùi mà nó vẫn không thay đổi được kết quả gì cả.”

Khoảng cách giữa nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn và cháu Vũ Thạch Tường Minh là ba thế hệ người. Tuy vậy, cả hai đều “nhất trí” là nền giáo dục hiện nay của nước CHXHCNVN (đã) hết thuốc chữa rồi!

Để minh chứng, xin xem qua một “trường hợp thú vị” – ở một vùng quê, thuộc tỉnh Rạch Giá – theo như nguyên văn lời của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“Một em gốc Khmer học giỏi, thi đậu vào 3 trường đại học (2 đại học ở Sài Gòn và 1 ở ĐH Cần Thơ), nhưng cuối cùng thì giấc mơ đại học cũng đành phải bỏ. Ba má em ấy lí giải rằng: học để làm gì, nhìn quanh số sinh viên tốt nghiệp đại học thất nghiệp tùm lum cả, mà ngay cả xin được việc thì cũng cần đến 500 triệu đồng đút lót thì làm sao nhà có khả năng lo nổi. Tôi kinh ngạc về con số 500 triệu đồng (tức là 25000 đôla), nên phải hỏi lại cho chắc ăn, thì bà con đều khẳng định đó là con số tiêu biểu, có trường hợp thấp hơn nhưng cũng có trường hợp cao hơn. Tình trạng mua chức đâu phải chỉ ở ngoài Bắc, mà đang lan về nông thôn miền Tây rồi đấy.”

Mọi tệ trạng vừa nêu đang được Đảng và Nhà Nước “đối phó” hay “giải quyết” bằng … chỉ thị! Báo Nhân Dân loan tin: Ngày 24-3-2015, Ban Bí Thư T.Ư Ðảng ra Chỉ thị số 42-CT/TW (Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Ðảng Đối Với Công Tác Giáo Dục Lý Tưởng Cách Mạng, Đạo Đức, Lối Sống Văn Hóa Cho Thế Hệ Trẻ Giai Đoạn 2015 – 2030) với những nhận định và “đề xuất rất cụ thể” như:

“Vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong chăm lo, giáo dục thế hệ trẻ chưa được như mong muốn, chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Một bộ phận giới trẻ giảm sút niềm tin, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, thiếu lý tưởng, xa rời truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Một số ít thanh niên bị các thế lực thù địch lôi kéo, kích động chống sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta. Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong giới trẻ diễn biến phức tạp.

Chỉ thị của Ban Bí thư đưa ra 5 nhiệm vụ và giải pháp, trong đó xác định việc giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức và lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài và cần đầu tư thích đáng. Đảng  kêu gọi việc thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống trong một bộ phận đảng viên để làm gương cho giới trẻ…”

Sự thực thì thiên hạ không còn ai kỳ vọng hoặc quan tâm gì ráo vào bất cứ lời “kêu gọi” (hay “chỉ thị ”) nào của Đảng tự lâu rồi. Người dân tìm cách tự cứu qua nhiều nỗ lực rất đáng trân trọng, dù gặp không ít khó khăn, ngăn trở và sách nhiễu.

Từ Bangkok, biên tập viên Gia Minh có bài tường thuật (“Nhóm Cánh Buồm Ra Mắt Sách Giáo Khoa Mới”) khá bất ngờ và thú vị. Xin trích dẫn một vài đoạn ngắn:

Nhóm soạn sách giáo khoa Cánh Buồm do nhà giáo Phạm Toàn chủ xướng vào ngày 12 tháng 8 vừa qua giới thiệu bộ sách Văn và Tiếng Việt lớp sáu tại Trung tâm Văn Hóa Pháp ở Hà Nội.

Việc ra mắt sách mới của Nhóm Cánh Buồm không thuộc Bộ Giáo Dục như thế được cho là một dấu chỉ tích cực trong tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay….

Một buổi tọa đàm về sách giáo khoa tại Trung tâm Văn hoá Pháp (Hà Nội). Từ trái sang: nhà giáo Phạm Toàn, Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Hải, nhà giáo Vũ Thế Khôi, điều khiển phần thảo luận và TS Chu Hảo, GĐ NXB Tri thức, nơi xuất bản SGK Cánh Buồm. Ảnh var chú thích: RFA

Một nhà giáo công khai đấu tranh chống những tiêu cực trong ngành giáo dục Việt Nam lâu nay, thầy Đỗ Việt Khoa cũng tỏ rõ sự ủng hộ đối với sách giáo khoa do Nhóm Cánh Buồn soạn thảo:

“Đây là nhóm khá tâm huyết đang soạn bộ sách giáo khoa cho liên cấp từ tiểu học trở lên. Theo quan điểm của tôi làm được một bộ sách giáo khoa như vậy là công sức cực kỳ lớn, rất tốt. Sẽ có những chỗ chưa được, có người sẽ đánh giá khiếm khuyết… nhưng sửa dần không sao cả…”

Ngoài việc biên soạn bộ sách giáo khoa mới để giảng dạy, Nhóm Cánh Buồm còn có chủ trương về một hình thái nhà trường mới như trình bày của nhà giáo Phạm Toàn:

“Tôi muốn sau này mình sẽ phục vụ cho một hệ thống trường của trẻ em Việt Nam mà chúng tôi gọi là ‘trường ba không’: không hộ khẩu- muốn học đâu thì học; không học phí- tức không phải nộp một xu nào ( không như các trường tư phải nộp nhiều tiền lắm, mình phải chịu); thứ ba là không ‘bắt nạt’- tức không thi cử, không kiểm tra, không đánh số, làm các thứ bắt chẹt các em, bởi vì hệ thống của chúng tôi là tìm ra cơ chế tự học cho các em, mà đã là tự học thì tự đánh giá thì suốt tiểu học là tự học và tự đánh giá, lên đến lớp 6 chúng tôi đề xuất hoàn toàn tự học.

Cùng vào thời điểm này, một công dân Việt Nam khác (ông Hoàng Thành , 25 tuổi) đã đến trước cổng trụ sở Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, cầm ảnh của chính mình – với poster in hình con chuột bạch đang bị tiêm thuốc – cùng dòng chữ: “Học sinh, sinh viên không phải là CHUỘT BẠCH.”

Khi được hỏi về “ý nghĩa” của việc làm này, ông cho biết như sau:.

“Bức ảnh của tôi đơn thuần là một hình thức thực hiện quyền biểu đạt ý kiến của mình. Tôi chỉ muốn nhắn tới các bậc cha mẹ và các em học sinh … rằng: Hãy thể hiện quan điểm của mình trước các vấn đề xã hội, thay vì chỉ biết kêu than, vì đó không những là quyền của chúng ta, mà còn là cách chúng ta giúp chính quyền hiểu được nhu cầu của dân chúng và hoàn thiện chính sách sao cho hợp lý nhất…”

Ảnh: Dân Luận

Ở bình diện cá nhân, cũng như tập thể – rõ ràng – đang có những nỗ lực đáng kể của rất nhiều người để vượt ra khỏi cái “vũng lầy giáo dục” hiện nay. Với ý thức và quyết tâm, chắc chắn, chúng ta sẽ “thoát” bất chấp sự ngăn trở (cùng sức ì) của chế độ hiện hành – một chế độ mà mọi người đều biết là sinh mệnh của nó đang được đo đếm từng ngày.

Công an Hà Nội thả TS Nguyễn Quang A

Công an Hà Nội thả TS Nguyễn Quang A

2015-09-01

NguyenQuangA-620.jpg

TS Nguyễn Quang A được gia đình và bạn bè chào đón sau hơn nửa ngày bị công an sân bay Nội Bài cầm giữ và xét hỏi.

Courtesy of NguyenLanThang’s Facebook

Theo tin mới nhất Đài Á Châu Tự Do nhận được từ Hà Nội, công an đã thả Tiến sĩ Nguyễn Quang A sau hơn 12 tiếng đồng hồ tạm giữ và xét hỏi.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một nhà hoạt động dân sự tại Hà nội bị công an giữ lại làm việc với cơ quan công an trong sân bay Nội Bài từ 9h30 sáng hôm nay, khi ông xuống phi trường Nội Bài.

Nhắc lại, Tiến sĩ Nguyễn Quang A từ Hà Nội sang châu Âu tham dự Hội thảo hè do các trí thức Việt Nam trong và ngoài nước tổ chức tại Berlin trong hai ngày 24 và 25 tháng bảy. Sau đó ông sang Hoa Kỳ và có những buổi nói chuyện về sự phát triển của xã hội dân sự trên con đường dân chủ hóa tại Việt Nam.

Tháng Tám 1945, Cách mạng hay Cách … Cái mạng?

Tháng Tám 1945, Cách mạng hay Cách … Cái mạng?

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-08-31

08312015-august-1945-revolut-or-devolution.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Ô. Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập trên Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945

Ô. Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập trên Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945

File photo

Cách mạng

Theo lịch sử chính thống của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam hiện nay, cách đây 70 năm, vào ngày 19/8, tại Hà Nội Mặt trận Việt minh do đảng cộng sản lãnh đạo giành lấy chính quyền từ tay thực dân Pháp và phát xít Nhật. Ngày 25/8 một biến cố tương tự xảy ra ở Sài gòn. Và cuối cùng là ngày 2/9/1945, ông Hồ Chí Minh, người đứng đầu đảng cộng sản và Mặt trận Việt minh tuyên bố một nước Việt nam độc lập.

Tất cả những sự kiện đó được gọi là cuộc cách mạng tháng Tám, thời điểm khởi đầu cho sự cầm quyền độc tôn của đảng cộng sản trên từng phần và cuối cùng là toàn bộ nước Việt nam ngày nay. Những tuần lễ tháng tám hàng năm đều được nhà nước do đảng cộng sản lãnh đạo cho tổ chức lễ hội rất trọng thể.

Nhà báo, blogger Lê Diễn Đức điểm lại tất cả những sự kiện lịch sử trong thời gian đó cách đây 70 năm, và ông nêu lý do vì sao Mặt trận Việt minh đã chiến thắng trong thời điểm đó:

Mục đích của Việt Minh trong sáng, rõ ràng đã đánh đúng vào lòng yêu nước, tinh thần chống Pháp, Nhật, nên tập hợp được lực lượng quần chúng đông đảo. Khi Pháp trở lại Đông Dương, Việt Minh tiếp tục cuộc vận động, lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến 9 năm và làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Cũng có những nhà phân tích lịch sử cho rằng sự kiến tháng tám năm 1945 không hẳn là một cuộc cách mạng, mà nó chỉ là một chính biến. Chính biến ấy thành công do lợi dụng được khoảng trống quyền lực giữa quyền lực của thực dân Pháp và quân chiếm đóng Nhật bản trong giai đoạn tranh tối tranh sáng cuối cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Trang Bauxite VN bình luận:

Cách mạng đã 70 năm tuổi nhưng không có bất kỳ một công dân Việt Nam nào biết có một hình ảnh nào khác về cách mạng ngoài hình ảnh mà bộ máy tuyên truyền dàn dựng lên. Chắc chắn rất nhiều người ngạc nhiên và không tin khi học giả nước ngoài viết rằng Cách mạng tháng Tám thực chất chỉ là một cuộc chính biến, một cuộc khởi nghĩa, ngay cả các nước láng giềng Việt Nam cũng đã có nước làm cách mạng “na ná”Việt Nam. Tóm lại cái gọi là”cuộc cách mạng long trời lở đất” thực ra cũng chỉ là chuyện thường ngày ở huyện thôi.

Hơn nữa có người còn nói rằng trong cuộc cách mạng này, những người cộng sản đã cướp thành quả của những tổ chức cách mạng khác.

Ông Nguyễn Gia Kiểng, người thành lập tổ chức Tập hợp dân chủ đa nguyên đấu tranh cho dân chủ tại Việt nam không đồng ý với những nhận định này. Ông nói rằng những người cộng sản cho rằng cuộc cách mạng của họ là quan trọng, là long trời lở đất cũng không quá đáng, vì cuộc cách mạng ấy thay hình đổi dạng nước Việt nam cho đến ngày nay.

Ông Nguyễn Gia Kiểng cũng nói rằng những người cộng sản không cướp thành quả của ai cả, mà họ có được những thành quả ấy sau bao nhiêu hy sinh. Ông Kiểng so sánh đảng cộng sản với các tổ chức khác như Quốc Dân Đảng hay Đại Việt, những tổ chức yếu ớt và không đủ lực lượng để tạo nên một biến chuyển gì vào thời điểm quan trọng đó.

Cuộc cách mạng đem lại những gì sau 70 năm?

Ông Nguyễn Gia Kiểng nói tiếp về cuộc cách mạng của những người cộng sản:

Lỗi lớn nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam là đã kéo đất nước Việt Nam vào ngõ cụt, vào thảm kịch, chứ không phải là vì họ tranh giành ngày 19/8. Họ có thể xứng đáng nắm chính quyền vào ngày 19/8. Lẽ ra sau ngày 19/8 Việt Nam phải đi theo một hướng khác, nhưng nó đã bị lôi kéo vào quĩ đạo cộng sản. Kết quả là 30 năm chiến tranh, 6 triệu người chết, bao nhiêu gia đình ly tán, con người hận thù lẫn nhau đến tận ngày hôm nay.

Lỗi lớn nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam là đã kéo đất nước VN vào ngõ cụt, vào thảm kịch, chứ không phải là vì họ tranh giành ngày 19/8. Họ có thể xứng đáng nắm chính quyền vào ngày 19/8. Lẽ ra sau ngày 19/8 Việt Nam phải đi theo một hướng khác, nhưng nó đã bị lôi kéo vào quĩ đạo cộng sản

Ông Nguyễn Gia Kiểng

Theo ông Kiểng, một trong những gia tài mà người cộng sản để lại sau 70 năm cầm quyền là sự thờ ơ của người dân Việt nam, đặc biệt là giới trẻ. Ở trong nước thì thanh niên quan tâm đến những ngày kỷ niệm tháng tám như một cơ hội để vui chơi, mà thanh niên Việt ở nước ngoài thì bị mất gốc rất sớm, Việt nam đối với họ chỉ còn là một kỷ niệm.

Giải thích điều đáng buồn đó ông Kiểng nói:

Sau ngày 19/8 Hồ Chí Minh đã đưa Việt Nam vào quỹ đạo cộng sản

Sau ngày 19/8 Hồ Chí Minh đã đưa Việt Nam vào quỹ đạo cộng sản

Tại sao có sự lãnh đạm đối với đất nước như vậy? Bởi vì chế độ cộng sản không chỉ đã làm cho người ta phẫn nộ, mà còn làm người ta chán nản đối với đất nước. Phải nói là thảm kịch Việt Nam đã rất lớn. Thành tích của Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất kinh khủng. Cách Mạng Tháng Tám đáng lẽ ra phải là một cơ hội vinh quang của Việt Nam nhưng đã trở thành một thảm kịch lớn.

Blogger Nguyễn Vũ Bình, người từng làm việc cho cơ quan lý luận của đảng cộng sản mô tả hình ảnh của chế độ mà những người cộng sản thành lập và duy trì cho đến nay trong bài viết mang tên Phác họa chân dung một chế độ. Trong bài này ông Bình cho rằng việc cầm quyền của đảng cộng sản được dựa trên ba nền tảng:

1/Sự gieo rắc sợ hãi trong dân chúng đối với bộ máy của đảng,

2/ Thiết lập sự lệ thuộc của dân chúng vào đảng,

3/ Kiểm soát tư tưởng của dân chúng bằng cách chia rẽ họ và đốc thúc họ tố cáo, kiểm soát lẫn nhau.

Nguyễn Vũ Bình viết tiếp:

Đi sâu vào phân tích cách thức guồng máy chuyên chính vô sản hoạt động nghiền nát tất cả sự phản kháng của người dân mới thấy được nghệ thuật cai trị của cộng sản. Đó cũng chính là nghệ thuật tiêu diệt và đày đọa con người.

Làm cách mạng để xây dựng lên chế độ độc đảng toàn trị, không có tự do, dân chủ và nhân quyền. Đó là một cuộc cách mạng vô nghĩa và thất bại. Bởi chúng ta đã thay thế sự cai trị văn minh của giặc ngoại xâm bằng sự cai trị độc ác, tàn bạo, tham lam của giặc nội xâm

Nhà báo Lê Diễn Đức

Trong một lần trao đổi gần đây với đài Á châu tự do, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, một cựu tù chính trị cũng có nhấn mạnh đến kinh nghiệm cai trị của đảng cộng sản trong mấy mươi năm qua, và điều đó chính là một trở ngại cho con đường dân chủ hóa Việt nam.

Nhà báo Lê Diễn Đức thì trích lời nhà bất đồng chính kiến Luật sư Nguyễn Văn Đài về bản chất của cuộc cách mạng, hay chính biến tháng 8/1945

Làm cách mạng để xây dựng lên chế độ độc đảng toàn trị, không có tự do, dân chủ và nhân quyền. Đó là một cuộc cách mạng vô nghĩa và thất bại. Bởi chúng ta đã thay thế sự cai trị văn minh của giặc ngoại xâm bằng sự cai trị độc ác, tàn bạo, tham lam của giặc nội xâm

Kết quả của cuộc cách mạng ấy, theo blogger Lê Vũ Bình, sẽ dẫn tới một tương lai không hề sáng sủa, giống như sự sụp đổ của hàng loạt nhà nước cộng sản khác trong thế kỷ 20.

Những nhà nước cộng sản đã không thể xây dựng được một nền kinh tế theo đúng nghĩa tạo ra của cải vật chất. Trong khi, để duy trì một hệ thống khổng lồ bảo đảm sự vận hành và thống trị, nó lại cần một nguồn lực vô tận, điều không bao giờ có được. Chính vì vậy, các chế độ cộng sản, sau khi đã tạo ra được lâu đài thống trị uy nghi, cuối cùng đều tự sụp đổ vì sức nặng của chính nó. Và Việt nam chắc chắn cũng không phải là ngoại lệ.

Một điều cũng đáng ghi nhận trong thời điểm 70 năm sau cách mạng tháng tám 1945, ông Vũ Minh Giang, người được coi là nhà lý luận hàng đầu của những người cộng sản hiện nay nói với báo chí Việt nam điều mà ông nhận ra về sự cần thiết hay không của các cuộc cách mạng:

Tôi từng tham dự một hội nghị quốc tế nhân kỷ niệm 200 năm cách mạng tư sản Pháp. Tại đây giới sử học đưa ra một luận điểm mới và lạ. Họ đánh giá cao những cuộc cải cách trong lịch sử, trong đó cải cách Meiji được phân tích rất nhiều. Thậm chí họ còn cho rằng con đường cải cách là cách đi thông minh và cần tới tầm nhìn của giới lãnh đạo, biết mình lạc hậu để cải đổi. Cách mạng bùng nổ ra khi chính quyền cản trở sự phát triển, không chịu đổi thay nên bị lật đổ.

Điều ông Giang phát hiện ra ở thế kỷ 21 cũng là điều mà nhà văn Lỗ Tấn bên Trung quốc gửi gấm qua lời nói ngô nghê của nhân vật AQ của ông cách đây gần 100 năm Cách mạng là… Cách cái mạng!

Làm gì?

Nhà văn Võ Thị Hảo cho rằng cuộc cách mạng tháng tám 1945 là một cái bẫy đã đưa cả dân tộc Việt nam vào một đại bi kịch ngày nay. Bà kêu gọi hãy chôn cái bẫy đó xuống, điều đó không phải chỉ tốt cho người dân mà còn cho cả những người đang cầm quyền nữa:

Và không chỉ dân đâu, chính những người có quyền lực đang hành ác hiện nay cũng cần thoát khỏi chiếc bẫy đó, vì chẳng quyền lực, địa vị, tiền bạc nào tồn tại được mãi mãi. Họ và con cháu họ cũng cần được trở lại làm người, sống trong tự trọng và bình an.

Chúng ta không nên quy kết buộc tội lẫn nhau. Chúng ta nói lên những trách nhiệm nhưng phải nói Cách Mạng Tháng 8 đã như thế không phải là do trách nhiệm riêng của Đảng Cộng Sản mà là trách nhiệm của cả một thế hệ trí thức VN. Lớp trí thức đó đã bất lực để cho một đảng, có lẽ vì cuồng tín và thiển cận, kéo đất nươc vào thảm kịch

Ông Nguyễn Gia Kiểng

Blogger Song Chi thì đặt câu hỏi Một chế độ tồi tệ đến thế chúng ta vẫn chịu được. Thì là lỗi của chúng ta hay lỗi của nhà cầm quyền?

Và bà nhận định tiếp dường như sự phản kháng của người dân Việt nam cho đến nay chỉ mang ý nghĩa tiêu cực:

Có vẻ như lâu nay lối thoát duy nhất của chúng ta là… chửi. Chúng ta chửi chế độ, chửi bọn quan tham, bọn bán nước, bọn bất tài… Chưa bao giờ trước đây người dân VN từ ông tài xế taxi, bà bán bún ngoài chợ cho tới dân trí thức, các blogger, nhà báo tự do…có thể thoải mái chửi chế độ, chửi nhà cầm quyền đến thế. Nhà cầm quyền có biết không? Thừa biết. Nhưng tại sao họ vẫn để lơ? Thứ nhất là vì người ta chửi nhiều quá, nếu bất cứ ai chửi chế độ cũng bắt bớ, giam cầm thì có mà bắt mà giam hàng chục triệu người. Thứ hai, bởi vì chửi không làm cho chế độ này sụp được, thậm chí chửi nhiều khi còn là một cách xả xú páp, chẳng thà để dân chửi cho hả rồi dân lại lùi lũi lo kiếm ăn còn hơn dân ôm lấy nổi căm giận trong lòng và một ngày xuống đường, đấu tranh lật đổ chế độ.
Chúng ta chửi không làm cho chế độ này sụp đổ được

Cùng tìm câu trả lời là phải làm gì trước hiện trạng hôm nay, Ông Nguyễn Gia Kiểng nhấn mạnh rằng trách nhiệm trước bi kịch của dân tộc ngày nay là không chỉ của riêng những người cộng sản:

Đến giờ phút này chúng ta không nên quy kết buộc tội lẫn nhau. Chúng ta nói lên những trách nhiệm nhưng phải nói Cách Mạng Tháng 8 đã như thế không phải là do trách nhiệm riêng của Đảng Cộng Sản mà là trách nhiệm của cả một thế hệ trí thức Việt Nam. Lớp trí thức đó đã bất lực để cho một đảng, có lẽ vì cuồng tín và thiển cận, kéo đất nươc vào thảm kịch.

70 năm sau, một tia hy vọng được nhóm lên khi một lớp trí thức trẻ, dù còn ít đã dấn thân trên con đường dân chủ hóa Việt nam, không câu nệ quá khứ, mà đòi hỏi nhà cầm quyền hãy làm những gì mà mình đã đặt ra.

Trong bài Giải pháp tránh sự sụp đổ sau 70 năm, người cựu tù chính trị Nguyễn Tiến Trung viết:

Việc vi phạm hiến pháp, pháp luật phải chấm dứt ngay. Đó cũng nhằm tránh sự sụp đổ. Đó cũng chính là giải pháp cho Việt Nam, toàn dân, kể cả các đảng viên cộng sản yêu nước, bắt tay nhau hiện thực hóa “nhân dân làm chủ, pháp luật chuẩn mực”, bắt đầu từ bản hiến pháp của toàn dân.

Tránh sự sụp đổ phải chăng cũng chính là ý tưởng cho một cuộc dân chủ hóa mà Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói với chúng tôi rằng ít tốn kém cho dân tộc nhất. Và cũng có thể tránh cái mà nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng các cuộc cách mạng thường hay ăn thịt những đứa con của mình, tránh cái mà AQ của Lỗ Tấn nói Cách mạng là… Cách cái mạng!

70 năm sau Cách mạng tháng Tám

70 năm sau Cách mạng tháng Tám

Quân đội Nhân dân Việt Nam phất cờ chiến thắng trên nóc hầm chỉ huy của Pháp tại Điện Biên Phủ

Quân đội Nhân dân Việt Nam phất cờ chiến thắng trên nóc hầm chỉ huy của Pháp tại Điện Biên Phủ

Nguyễn Hưng Quốc

Đầu tháng 9 này, chắc chắn giới lãnh đạo và giới truyền thông Việt Nam sẽ làm ầm ĩ về những thành tựu họ đã đạt được trong suốt 70 năm kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhân dịp này, chúng ta cũng nên nhìn lại vấn đề công và tội của đảng Cộng sản đối với đất nước.

Công lớn nhất và đáng kể nhất của đảng Cộng sản là cuộc kháng chiến chống Pháp, kéo dài 9 năm, kết thúc với trận đánh oanh liệt tại Điện Biên Phủ vào năm 1954, chấm dứt ách đô hộ kéo dài gần một thế kỷ của thực dân Pháp. Dĩ nhiên, người ta có thể cho đó là thành tích của cả dân tộc chứ không hẳn của riêng đảng Cộng sản. Người ta cũng có thể phản biện lại: ngay trong điều gọi là công trạng này đã có mầm mống của tội ác qua việc đảng Cộng sản loại trừ những người yêu nước không phải cộng sản hoặc chống lại cộng sản. Tuy vậy, nhìn chung, chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản trong việc mang lại độc lập cho Việt Nam.

Điều đáng tiếc là công trạng vừa nêu cũng là công trạng duy nhất mà đảng Cộng sản đã mang lại cho đất nước. Kể từ trận Điện Biên Phủ trở đi, với tư cách đảng cầm quyền độc tôn ở miền Bắc, và sau đó, kể từ năm 1975, trong cả nước, đảng Cộng sản vấp phải hết sai lầm này đến sai lầm khác, sai lầm nào cũng đẫm máu, và vì tính chất đẫm máu ấy, sai lầm biến thành tội ác.

Trước hết, đảng Cộng sản hoàn toàn sai lầm trong việc gây ra cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm ở miền Nam. Đã đành mục tiêu khá chính đáng: thống nhất đất nước. Nhưng, như lịch sử gần đây chứng minh, để thống nhất đất nước, người ta không nhất thiết phải chọn biện pháp chiến tranh. Đông Đức và Tây Đức, sau mấy chục năm phân hoá, đã được thống nhất một cách hoà bình. Nam Hàn và Bắc Hàn không may mắn như vậy, cho đến nay, vẫn còn chia cắt, nhưng sự chia cắt ấy cũng không phải là một bất hạnh bởi vì ít nhất một nửa nước, Nam Hàn, cũng được sống một cách sung sướng và đầy tự hào với nền kinh tế phát triển vượt bực. Đảng Cộng sản Việt Nam, do thiếu kiên nhẫn và phần nào, cũng do hiếu chiến, đã chọn biện pháp bạo lực để thống nhất đất nước, dẫn đến hậu quả là một cuộc chiến tranh kéo dài với khoảng ba triệu người, ở cả hai miền, bị giết chết một cách thảm khốc và những chấn thương trong tâm lý, cho đến bây giờ, bốn mươi năm sau, vẫn còn khiến nhiều người nhức nhối.

Sau năm 1975, khi chiến tranh kết thúc, đảng Cộng sản lại vấp phải một sai lầm nghiêm trọng khác: Thay vì hoà hợp và hoà giải dân tộc, xoá bỏ hận thù, hàn gắn các vết thương do cuộc chiến tranh kéo dài mang lại để mọi người an tâm xây dựng lại đất nước, họ lại lập ra các trại cải tạo để giam nhốt và hành hạ những người thuộc phe thua cuộc, hơn nữa, còn có những chính sách kỳ thị nặng nề đối với dân chúng miền Nam, khiến cho đến nay, bốn mười năm sau, các vết thương chia rẽ vẫn còn sâu hoắm.

Có thể kể thêm vô số các sai lầm khác của đảng Cộng sản, trong đó, nổi bật nhất là các chính sách cải cách ruộng đất làm cả chục ngàn người bị chết, các chính sách chống xét lại đẩy hàng ngàn người vào cảnh tù đày, các chính sách đánh tư sản mại bản và ép dân đi kinh tế mới khiến hàng chục ngàn người lâm vào cảnh khốn cùng. Tuy nhiên, hai sai lầm và cũng là tội ác lớn nhất của đảng Cộng sản là: Một, làm nền kinh tế Việt Nam ngày càng kiệt quệ và hai, làm băng hoại nền văn hoá truyền thống của Việt Nam.

Trước hết, về kinh tế, hầu như ai cũng biết, vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, kinh tế Việt Nam, đặc biệt ở miền Nam, khá cao so với các quốc gia trong khu vực. Dạo ấy, Sài Gòn vẫn được xem là “hòn ngọc Viễn Đông”, niềm mơ ước của nhiều quốc gia khác. Vài năm sau 1975, khi chiến tranh kết thúc, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới. Hiện nay, tình trạng khá hơn một chút, nhưng Việt Nam vẫn chỉ thuộc quốc gia có thu nhập vào loại trung bình thấp.

Mới đây, trong cuộc hội thảo về kinh tế do Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam tổ chức vào ngày 28 tháng 8, các chuyên gia đều thừa nhận Việt Nam thua kém hẳn các quốc gia khác ở Châu Á. Với thu nhập bình quân trên đầu người khoảng 2000 Mỹ kim hiện nay, Việt Nam chỉ bằng Philippines năm 2010, Indonesia năm 2008, Thái Lan năm 1993, Malaysia năm 1988 và Hàn Quốc năm 1982. Nói cách khác, “GDP bình quân đầu người của Việt Nam đang thụt lùi so với Hàn Quốc khoảng 30-35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái Lan khoảng 20 năm, Indonesia và Philippines khoảng 5-7 năm.” Người ta cũng tiên đoán nếu mức phát triển kinh tế hiện nay không được cải thiện, khoảng cách nêu trên sẽ càng ngày càng lớn. Hơn nữa, Việt Nam còn có nguy cơ bị Campuchia và Lào qua mặt.

Chuyện kinh tế và phát triển rất dễ thấy, tuy nhiên, theo tôi, lầm lẫn – đúng hơn, tội ác – nghiêm trọng nhất của đảng Cộng sản là phá hoại văn hoá Việt Nam, một yếu tố trừu tượng và mơ hồ, khó nhận biết, nhưng có ảnh hưởng sâu sắc đến cách sống cũng như quan hệ giữa người với người. Các cuộc đấu tố trong cải cách ruộng đất vào giữa thập niên 1950 làm phá nát quan hệ hàng xóm vốn là một nét đẹp trong văn hoá truyền thống của dân tộc. Các cuộc phê bình và tự phê bình làm cho không ai còn tin ai được nữa. Các nỗ lực phá hoại sự hình thành của xã hội dân sự làm cho con người càng ngày càng trở thành vô cảm trước những nỗi đau khổ của người khác. Các hành động trấn áp những người yêu nước, đặc biệt trong các phong trào chống Trung Quốc, khiến mọi người đâm ra dửng dưng trước số phận của đất nước. Hậu quả của tất cả của những điều vừa kể là con người càng ngày càng trở nên ích kỷ, và hậu quả của sự ích kỷ này là con người càng ngày càng độc ác hơn. Không phải ngẫu nhiên mà các tội ác trong xã hội càng lúc càng trở thành phổ biến.

Những sự tụt hậu về kinh tế có thể được khắc phục nếu không phải trong vài năm thì cũng vài chục năm, nhưng những sự đổ vỡ trong văn hoá và đặc biệt trong đạo đức và quan hệ giữa người với người thì rất khó hàn gắn và để lại rất nhiều di hại, làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế cũng như tiến trình dân chủ hoá của đất nước. Hơn nữa, nó cũng ảnh hưởng cả đến những nỗ lực chống lại các âm mưu bành trướng của Trung Quốc. Đó mới chính là điều đáng lo sợ nhất.

Đài Loan: TQ sắp tuyên bố vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông

Đài Loan: TQ sắp tuyên bố vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông

Chiến đấu cơ SU-27 của Trung Quốc bay ngang khu vực Biển Đông.

Chiến đấu cơ SU-27 của Trung Quốc bay ngang khu vực Biển Đông.

Các công trình lấp biển xây đảo của Trung Quốc ở Biển Đông đã thay đổi hoàn toàn cấu trúc chiến lược trong khu vực, và theo hãng tin CNA của nhà nước Đài Loan hôm nay, giờ đây, Trung Quốc sẽ đẩy nhanh tiến trình quân sự hoá và sẽ tuyên bố một khu nhận dạng phòng không trong khu vực.

Trong một phúc trình nộp cho viện lập pháp về sức mạnh quân sự của Trung Quốc, Bộ Quốc phòng Đài Loan nói vào tháng 9/2013, Trung Quốc đã khởi sự đổ cát lên Đá Gạc Ma, một trong hơn 50 bãi cạn và đá ngầm trong Biển Đông. Trung Quốc sau đó tiến hành lấn biển xây đảo tại 6 bãi đá khác và đang xây một bến cảng, nhiều phi đạo và các cơ sở hạ tầng khác.

Phúc trình này nói rằng nay Trung Quốc đang đẩy nhanh tiến trình quân sự hoá các đảo mới để sử dụng như những tiền đồn trong Biển Đông.

Ngoài việc tuyên bố chủ quyền và khai thác tài nguyên thiên nhiên tại đây, Trung Quốc sẽ tuyên bố một khu nhận dạng phòng không trong khu vực.

Một bản tin của công ty truyền thông Fairfax Media của Úc hôm nay trích các nguồn tin quân sự cấp cao của Australia, nhận định rằng Trung Quốc đã thắng vòng đầu tiên trong cuộc tranh chấp để giành quyền kiểm soát Biển Đông khi hoàn tất việc xây dựng một quần đảo gồm các đảo mới do họ tạo ra.

Bản tin nói thêm rằng không có vật chướng ngại nào đáng kể thực sự cản trở Trung Quốc tiếp tục thắng vòng tranh chấp kế tiếp, trước sự do dự của chính phủ Mỹ và các đồng minh, trong đó có cả Australia, sẽ thực hiện những lời hứa đưa ra trước đó là sẽ thách thức những tuyên bố bất hợp pháp của Trung Quốc bằng các cuộc diễn tập để bảo vệ “quyền tự do hàng hải”.

Theo Fairfax Media, các nhà phân tích quân sự dự kiến là tới năm 2017, Trung Quốc sẽ trang bị các đảo tân tạo với những bến cảng, các căn cứ quân sự, pháo binh, đường băng và các hệ thống radar tầm xa. Những phương tiện này sẽ cho phép Trung Quốc phóng ra xa sức mạnh quân sự và phi quân sự tới những vùng biển xa xôi nhất, nơi có tranh chấp gay gắt nhất trong Biển Đông.

Những phương tiện đó cũng sẽ giúp Bắc Kinh cản trở các nước tuyên bố chủ quyền khác tại các vùng biển này, và gây gián đoạn các tuyến hàng hải hiện là nơi qua lại của 3/5 thương mại quốc tế.

Công ty Truyền thông Fairfax Media dẫn lời một nguồn tin chính thức nói rằng: “Trung Quốc đã thắng vòng đầu. Hiện rất khó có thể thấy được là họ sẽ bị cản lại, để không thắng vòng kế tiếp”.

Hồi tháng 5, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đòi ngưng tất cả mọi hành động cải tạo đất, và đề ra kế hoạch cho máy bay quân sự và tàu bè đi ngang qua vùng biển tranh chấp trong phạm vi 12 hải lý cách các đảo nhân tạo. Những cam kết này đã được Bộ trưởng Quốc phòng Úc Kevin Andrews mạnh mẽ ủng hộ, nhưng theo Fairfax Media, các chuyến bay ấy, kể cả phi vụ của máy bay trinh sát, diễn ra bên ngoài phạm vi 12 hải lý cách các đảo nhân tạo.

Trong khi Hoa Kỳ và các đồng minh gặp khó khăn trong việc hành động để đi kèm với lời nói của mình, thì hàng đoàn tàu nạo vét của Trung Quốc hoàn tất công tác cải tạo đất, kể cả xây nền móng cho một phi đạo dài 3.000 mét trong khu vực trên bãi Đá Subi, có khả năng phục vụ các phi cơ lớn nhất của Không quân Trung Quốc.

Bản tin nói rằng các công trình cải tạo đất phần lớn đã hoàn tất đúng lúc trước khi Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sang thăm Washington trong 2 tuần nữa, trong khi các hình ảnh vệ tinh cho thấy là việc sử dụng các tàu nạo vét của Trung Quốc trong Biển Đông đã giảm khoảng 90% trong mấy tuần gần đây.

Một số chiến lược gia tin rằng Trung Quốc sẽ được rộng tay hành động cho tới ít nhất là năm 2017, là lúc Lào phải nhường chức Chủ tịch ASEAN lại cho một nước hội viên khác, và một chính phủ mới ở Hoa Kỳ đã lên cầm quyền.

Tuy nhiên một số giới chức Mỹ và Úc nói Trung Quốc chỉ thắng về mặt chiến thuật, nhưng sẽ thất bại về mặt chiến lược, trong bối cảnh các nước trên khắp khu vực sẽ có phản ứng bằng cách thắt chặt các quan hệ với nhau và với Hoa Kỳ.

Theo CNA, Sydney Morning Herald.

Những câu nói đáng nhớ của cố TBT Lê Duẩn

Những câu nói đáng nhớ của cố TBT Lê Duẩn

FB Lịch sử hiện đại: Chiến tranh và CM

Cố Tổng bí thư Lê Duẩn và những câu nói đáng nhớ:

“Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta”

“Thưa Bác, chúng ta muốn thắng Mỹ, có một điều rất quan trọng là chúng ta phải không được sợ Mỹ, nhưng cũng không được sợ Trung Quốc và không được sợ Liên Xô.”

Khi Trung Quốc đề nghị viện trợ 500 chiếc xe vào Trường Sơn với điều kiện kèm lái xe của họ, Lê Duẩn không đồng ý nhận bất cứ một chiếc xe nào vì tin rằng Trung Quốc lồng ghép vào đó những toan tính riêng của họ, ông nói: “Chừng nào tôi còn ngồi đây, thì tôi không cho một kẻ nào nghĩ trong đầu rằng có thể cướp được đất nước Việt Nam này”

“Chính trị là nghệ thuật về các khả năng”

Nhân dịp Tết 1976, Tổng bí thư Lê Duẩn tuyên bố: “Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một TV và một tủ lạnh”.
Khi Lê Duẩn yêu cầu thành ủy Hà Nội bán chịu bàn ghế, giường tủ cho công nhân viên, thanh toán bằng cách trừ lương hàng tháng nhưng không được thi hành, ông tức giận nói:“Tôi hỏi thì nói không có tiền. Kìa, không có thì in ra! In ra! Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát chứ ta, chuyên chính vô sản thì sao lại là lạm phát mà sợ?”

Năm 1976, khi về thăm quê ở làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, Quảng Trị, khi thấy người dân đang luộc khoai mì đón Tết ông nói: “Mồng 1 tết mà tôi đến thăm nhà nào cũng thấy luộc sắn. Bà con ta còn nghèo quá! Trong đời hoạt động cách mạng, tôi đã chịu nghèo khổ, nhưng bây giờ đất nước đã được thống nhất, phải lo làm sao để cho dân giàu lên. Phấn đấu để đồng bào ta, các ông bà già, trẻ con mỗi bữa có một quả trứng, một cốc sữa mà rất khó.”

Năm 1976, Phát biểu của Tổng bí thư Lê Duẩn tại Hội nghị Trung ương 25: “Chế độ ta là chế độ chuyên chính vô sản. Chuyên chính trước hết phải là đường lối của giai cấp vô sản. Cốt tủy của chuyên chính vô sản là ở đó chứ không phải là ở chỗ sử dụng bạo lực. Đường lối đó là sự kết hợp lý luận Mác – Lê Nin với thực tiễn cách mạng của nước mình. Đường lối đó là khoa học nhất, là đúng quy luật, là bắt buộc. Đường lối đó không hề nhân nhượng với ai, chia sẻ với ai và hợp tác với ai cả. Đó là chuyên chính. Đường lối đó là: nhất thiết phải xóa bỏ giai cấp bóc lột, xóa bỏ chế độ sản xuất cá thể, xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Nhất thiết phải làm thế, không cho phép ai đi ngược lại. Đó là chuyên chính. Đường lối đó nhất thiết phải là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Không ai được chống lại. Đó là chuyên chính. Đường lối đó là đường lối của giai cấp công nhân, không ai được chống lại. Ai chống lại những cái đó thì bị bắt. Đó là chuyên chính.”

Ngày 13 tháng 3 năm 1977, tại trường Nguyễn Ái Quốc, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: “Loài người cho đến nay đã có ba phát minh vĩ đại có ý nghĩa bước ngoặt của lịch sử. Thứ nhất là tìm ra lửa. Thứ hai là tìm ra cách sử dụng kim khí. Thứ ba là làm chủ tập thể.”

Ảnh: Tổng bí thư Lê Duẩn năm 1969. (Sovfoto/Getty Images).

Nhiều liệt sĩ Cộng Sản Việt Nam ‘hy sinh’ hai lần

Nhiều liệt sĩ Cộng Sản Việt Nam ‘hy sinh’ hai lần

Nguoi-viet.com

QUẢNG TRỊ (NV) – Một cựu sĩ quan công an đã sử dụng hài cốt của 70 liệt sĩ bị Cộng Sản Việt Nam bỏ quên, làm phương tiện để chiếm đoạt khoảng tám tỷ đồng.

“Cậu Thủy” (trái) tại hiện trường một vụ tìm hài cốt liệt sĩ ở Quảng Trị
hồi tháng 8 năm 2013. (Hình: Tuổi Trẻ)

Viện Kiểm Sát tỉnh Quảng Trị vừa truy tố: Nguyễn Văn Thúy, 56 tuổi, ngụ tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; Mẫn Thị Duyên, 53 tuổi, vợ ông Thúy; Nguyễn Văn Hoành, 46 tuổi, em ruột ông Thúy; Mẫn Đức Phương, 27 tuổi, em ruột bà Duyên; Nguyễn Trường Sơn, 28 tuổi và Nguyễn Anh Chiều, 32 tuổi, cùng là con rể ông Thúy. Vũ Đức Chung, 69 tuổi, quản trang Nghĩa trang liệt sĩ huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum – về các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản,” “xâm phạm mồ mả, hài cốt,” “trộm cắp tài sản.”

Năm 2008, ông Thúy, một cựu sĩ quan công an từng ở tù vì “lừa đảo chiếm đoạt tài sản,” tự nhận và được nhiều cá nhân và tổ chức, kể cả báo giới quảng bá là một “nhà ngoại cảm.” Danh hiệu “nhà ngoại cảm” xuất hiện tại Việt Nam vào khoảng đầu thập niên 2000, dùng để chỉ những người có khả năng liên lạc với người chết để hỏi han về chỗ họ bị vùi thây cho thân nhân tìm tới cải táng.

Sở dĩ các “nhà ngoại cảm” được nhiều giới tung hô, có “đất dụng võ” vì tại Việt Nam vẫn còn hàng trăm ngàn liệt sĩ từng “hy sinh” để Cộng Sản Việt Nam thống trị toàn cõi Việt Nam, bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam lãng quên. Thân nhân của họ thì không an lòng bởi không biết họ bị vùi lấp ở đâu.

Việt Nam có hàng chục “nhà ngoại cảm” nổi tiếng và ông Thúy là một trong số này. Từ khi trở thành “nhà ngoại cảm,” ông Thúy được gọi là “cậu Thủy.”

Sau một thời gian giúp nhiều gia đình tìm hài cốt liệt sĩ là thân nhân của họ, tháng 7 năm 2013, “cậu Thủy” chính thức được Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Việt Nam (hoạt động bằng vốn do ngân sách của nhà cầm quyền trung ương cung cấp) hỗ trợ để “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ” tại Quảng Trị, Đắk Lắk, Bình Phước, nhân dịp 65 năm “Ngày Thương Binh-Liệt Sĩ.”

“Cậu Thủy” đã tìm được 79 hài cốt liệt sĩ và được Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Việt Nam bồi dưỡng khoảng bảy tỷ đồng. Sau đó người ta mới phát giác, “cậu Thủy” không có khả năng liên lạc với người chết. Dựa trên thông tin về đơn vị, địa điểm thiệt mạng do thân nhân của liệt sĩ cung cấp, “cậu Thủy” cho người đem hài cốt mà “cậu Thủy” tích trữ đi chôn trước, rồi mới chỉ chỗ cho thiên hạ đi tìm, đào sau.

Để tăng độ tin cậy về hài cốt tìm được đúng là của liệt sĩ (có sự tương đồng về mức độ bị phân hủy theo thời gian), “cậu Thủy” cho người đến các nghĩa trang liệt sĩ ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên -Huế, Đắk Lắk… đào trộm. Đồng thời còn làm cũ, chôn kèm: dép râu, ba lô, võng… Đáng chú ý là vì nhu cầu tìm kiếm hài cốt của thân nhân liệt sĩ thì lớn, số lượng hài cốt liệt sĩ có thể đào trộm tại các nghĩa trang liệt sĩ lại có hạn nên “cậu Thủy” thường chia một bộ hài cốt thành… nhiều phần!

Theo cáo trạng, “cậu Thủy” tổ chức đào và lấy trộm khoảng 70 bộ hài cốt liệt sĩ nhưng đến khi bị bắt, “cậu Thủy” đã “tìm được” 105 liệt sĩ mất tích. Chưa kể, trong kho của “cậu Thủy” vẫn còn một số hài cốt nữa nhưng không thể xác định là bao nhiêu bộ!

Hàng trăm ngàn người đã chết khi giúp Cộng Sản Việt Nam “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.” Họ trở thành liệt sĩ và dù nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam “đời đời nhớ ơn” nhưng đến nay, cha mẹ, anh em, con cháu của họ vẫn không biết thi thể của họ bị vùi lấp ở đâu.

Thập niên 1980, 1990, nhà cầm quyền nhiều địa phương ở Việt Nam từng tổ chức một số đợt “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.” Có hàng chục scandal liên quan đến các vụ “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ” đó. Phổ biến nhất là lập khống số lượng hài cốt tìm được và xây mộ giả để lấy tiền. Có nơi như Đồng Nai, các “đồng chí, đồng đội” còn chẻ xương, cắt sọ hài cốt liệt sĩ để tăng số lượng hài cốt tìm được.

Đó cũng là lý do phong trào “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ” xẹp xuống, nhường chỗ cho phong trào “ngoại cảm.” Phong trào nào cũng có nhiều liệt sĩ Cộng Sản Việt Nam “hy sinh” không chỉ một lần. (G.Đ)