Khúc ruột ngoài da
Khúc ruột ngoài da
Tạp ghi Huy Phương
Theo định nghĩa chữ “kiều” là “ở nhờ, đi ở nhờ làng khác hay nước khác” nên những người này thường được gọi là kiều cư, kiều dân. Chế độ Cộng Sản ở trong nước dùng chữ Việt kiều hay kiều bào để chỉ chung những người Việt hiện đang sống ở hải ngoại. Đây không phải là kiểu dốt chữ nhưng họ có thâm ý “nhận vơ” cho rằng những người Việt này là công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đang sinh sống, làm ăn ở nước ngoài.

Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh ở Hà Nội, cơ quan phụ trách ra vào Việt Nam
của “Việt Kiều.” (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Do sự “nhận vơ” đó mà ông Trương Tấn Sang trong dịp được Tổng Thống Mỹ Barack Obama tiếp kiến ở Tòa Bạch Ốc hồi Tháng Bảy, 2013, đã cám ơn chính phủ Mỹ đã chăm lo cho các người Việt ở Hoa Kỳ. Đây là lời cám ơn vô duyên, khá trơ trẽn, có lẽ trong thâm tâm hay cố tình, ông Sang cho tất cả những người Việt ở Mỹ đều là con dân của chế độ Cộng Sản Việt Nam, trong khi thực chất Việt kiều của ông chỉ là những người Việt du học tạm thời, nhân viên ngoại giao, mang thông hành Việt Nam đang ở Mỹ.
Trong một bài viết về Học Viện Quân Sự West Point của Hoa Kỳ bằng tiếng Việt, một tác gỉa trong nước đã hạ bút rằng: “Sinh viên người Việt ở West Point khá đông, nhưng đều là Việt kiều…” thật tình tôi không hiểu hết ý của tác giả, và đây là một câu khá ngớ ngẩn.
Tại Trung Quốc, khái niệm “Hoa Kiều” mang tính cách đứng đắn hơn, vì “Hoa Kiều” chỉ để nói đến những người còn mang quốc tịch Trung Quốc đang “ở nhờ” bên ngoài đất nước của họ. Còn nếu như muốn nói đến tất cả mọi người gốc Hoa tại nước ngoài, không kể họ đang tạm trú hay là thường trú nhân, có quốc tịch hay không có quốc tịch, thì các cơ quan truyền thông nước này dùng danh từ “Hải Ngoại Hoa Nhân” (người Hoa ở hải ngoại). Chúng ta, nhất là những người trong nước, phải dùng danh từ “người Việt hải ngoại” để gọi những người Việt đang sinh sống ở nước ngoài mà không thể cá mè một lứa, hễ cứ người Việt ở ngoại quốc, ai cũng là… “Việt Kiều.”
Những ai đã sống dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa hẳn đã không quên “Hoa Kiều” tập trung ở Chợ Lớn, họ di cư sang Việt Nam từ mấy đời trước, làm ăn buôn bán, sinh con đẻ cái, nhưng không chịu vào quốc tịch Việt Nam. Chính phủ Ngô Đình Diệm, không những đã ra sắc luật cấm ngoại kiều, bất cứ Chà Và hay Tàu Chợ Lớn, đang sinh sống tại Việt Nam làm tám nghề chính liên quan đến huyết mạch kinh tế, mà còn bắt buộc những người cư trú lâu đời phải nhập tịch Việt Nam, từ đó, họ không còn là “ngoại kiều” nữa, mà trở thành “người Việt gốc Hoa” tồn tại cho đến ngày nay. Vậy thì ngày nay chúng ta nhận là “người Mỹ gốc Việt” hay “người Úc gốc Việt” là chính danh.
Vậy thì chính phủ Cộng Sản cũng đừng bao giờ nhận vơ những Dương Nguyệt Ánh, Lương Xuân Việt, Alan Phan là Việt Kiều. Có điều lạ là chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19 Tháng Năm của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam “về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới” có 2,199 chữ, nhưng không hề có một chữ “Việt kiều” nào. Tuy vậy trong Bách Khoa Toàn Thư tiếng Việt, người ta vẫn còn dùng chữ một cách lơ lửng: “Việt kiều hay người Việt hải ngoại…”
Nói chung toàn bộ người Việt hiện nay ở ngoại quốc, có khoảng 4 triệu người Việt sinh sống trên hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có gần 2 triệu người ở Mỹ là những người Việt ở hải ngoại, phần lớn là người tị nạn, không mang quốc tịch Việt Nam (khi ra đi đã bị “cắt” hộ khẩu) không thể gọi đây là Việt kiều!
Nếu nhắm vào các sinh hoạt của người Việt ở ngoại quốc, chúng ta sẽ khẳng định ai là Việt kiều, ai là không. Việt kiều là những người mang cờ đỏ sao vàng, thường tụ tập tại các sứ quán Việt Nam Cộng Sản trong các dịp lễ, Tết, sắp hàng đón tiếp các quan chức Cộng Sản sang thăm nước họ đang sinh sống hoặc “hồ hởi” về nước tham gia các buổi hội nghị hay đón tiếp để được mang thêm hai chữ “yêu nước!”
Nghĩa tốt xấu của mỗi Việt kiều tùy theo hoàn cảnh, được báo chí trong nước loan tin.
Nếu một Việt Kiều Mỹ hay Úc về nước lường gạt thì đó là một người Việt tha phương cầu thực đang sinh sống ở nước ngoài, nhưng nếu là một Việt kiều tiếng tăm, thành công vượt bực thì đó chính là một người gốc gác Việt Nam, khúc ruột ngàn dặm thương yêu trìu mến của chúng ta.
Cộng Sản là bậc thầy của chuyện đổi giọng và đổi trắng thay đen, cho nên Việt Kiều nguyên xưa kia, chỉ là “những kẻ chạy theo bơ thừa sữa cặn của Đế Quốc Mỹ” nay đã hóa thân thành “khúc ruột ngàn dặm, một thành phần không thể thiếu của tổ quốc.” Và chúng lên mặt kẻ cả dạy dỗ: “Ủng hộ và khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài tôn trọng pháp luật và hội nhập vào xã hội nước sở tại, nơi bà con sinh sống,” cũng như sẽ “phối hợp chặt chẽ với các nước có người Việt Nam sinh sống nhằm hỗ trợ bà con có địa vị pháp lý vững chắc, bảo đảm cuộc sống lâu dài ở nơi cư trú.”
Trước kia những nhà đại trí thức như Nguyễn Khắc Viện, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường cũng nghĩ lầm là Việt Cộng yêu nước mà trở về, mới sống trong tai ương, chết trong vùi dập. Ngày nay, bài học của những Việt Kiều cỡ lớn như Nguyễn Trung Trực (Úc), Trịnh Vĩnh Bình, (Hòa Lan), Nguyễn Gia Thiều (Pháp), Nguyễn An Trung (Nhật), Nguyễn Đình Hoan (Mỹ)… đến Việt kiều “tép” như Trần Trường đã cho chúng ta hiểu rõ hơn thế nào là Cộng Sản.
Gần đây việc một “Việt Kiều” tên Bùi Văn Tánh, nguyên dân Nha Trang, năm 1980 vượt biển đến Mỹ, định cư tại Mỹ đã 25 năm, trở về cố quốc bị công an bắt giữ về tội vượt biên trước đây. Tị nạn ở hải ngoại hiện nay có bao nhiêu người mang tội vượt biển, vượt biên trái phép, trốn trại, cướp tàu, trốn thuế, hối lộ chính quyền địa phương, mua bãi, “sở hữu hai bao cao su đã dùng rồi,” tội còn sờ sờ ra đó!
Chúng ta “được gọi” là “khúc ruột ngàn dặm” nhưng 40 năm qua chúng ta đã chịu bao cảnh “ruột héo, gan bầm,” đoạn trường (đứt ruột!) khi phải bỏ nước ra đi.
Tiền Baht và Tiền Bác
Tiền Baht và Tiền Bác
S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Lão bà nghỉ chợ bần thần
Đem tiền[Cụ Hồ] ra đếm mấy lần chửa xong
Xếp riêng rồi lại xếp chung
Miệng thời lẩm bẩm mà … (không rõ nhời) !
Tôi dừng chân ở Bangkok (lần đầu) vào một buổi chiều Hè, năm 1980. Đây cũng là thời điểm tôi mới làm quen với cuộc sống tha hương nên đã ghi lại vài chục câu thơ (hơi) ướt át:
Chiều về trên xứ lạ
Cười nụ cười Anglais
Buồn qua hơi thuốc Thái
Thèm một phin cà phê
Chiều về trên xứ lạ
Xe ngược xuôi trăm đường
Trăm ngàn khuôn
Chiều về trên xứ lạ
Excuses me
I’m sorry nói mãi
Thương một câu chửi thề
Chiều về trên xứ lạ
Thoáng thấy mình trong gương
Tôi nhìn tôi bối rối mặt lạ
Mong một người đồng hương
Sao trông mình thảm thương
Chiều về trên xứ lạ
Ngỡ ngàng Chinatown.
Ðây rượu nồng thịt béo
Mà bạn bè nơi nao
Dừng chân nơi quán lạ
Thèm cơm chiều hương quê
Mẹ cha ơi đừng đợi
Chiều nay con không về
(Chị ơi thôi đừng đợi
Chiều nay em chưa về)
…
Thì cũng nói cho nó bảnh, và nghe cho có vần điệu (chơi) vậy thôi chớ tiền đâu ra mà … “dừng chân nơi quán lạ” – hả Trời? Tui “chuồn” ra Bangkok, từ một trại tị nạn chuyển tiếp, và trong túi chỉ có vỏn vẹn mỗi một đồng đô.
Vào thời điểm này, một Mỹ Kim tương đương với 24 đồng tiền baht. Xe bus lượt đi lượt về đã mất hết 4 baht rồi, tô mì xe giá 5 baht, chai Coca Cola 3 baht nữa. Tiền còn lại chỉ đủ mua (lẻ) vài điếu thuốc lá Samit nữa thôi.
Không lẽ “dừng chân nơi quán lạ” uống (đại) dăm chai bia Singha rồi bỏ chạy sao? Mà chạy đi đâu giữa kinh đô Vọng Các xa hoa, và xa lạ này? Đ… mẹ, tui chỉ (thường) say thôi chớ có điên hồi nào đâu – mấy cha?

Tiền Baht. Ảnh: fotolibra.com
Ba mươi lăm năm sau, tôi trở lại chốn xưa (vào mùa Hè năm 2015) với cả … đống U.S.A dollar trong túi. Tiền đã nhiều mà một Mỹ Kim hôm nay còn đổi được tới 35 đồng baht lận. Tuy vậy, mãi lực của tiền Thái không còn được như xưa nữa.
Giá xe bus đã lên hơn gấp bốn, tới 9 baht. Và đó là loại xe không máy lạnh, dành cho người nghèo. Nghe nói nay có loại xe điện mới, rất tân kỳ (lạnh ngắt và sạch bóng) đi lại trong thành phố rất tiện nhưng tôi chưa có dịp thử nên không biết giá cả ra sao.
Tô mì hôm nay đã giá gấp 7 rồi, 35 baht. Chai Coca Cola cũng vậy, 10 baht chớ không còn 3 baht như hồi năm cũ nữa. Lương bổng, lợi tức của người dân Thái – tất nhiên – cũng tăng, và chắc là tăng kịp với đà lạm phát nên không nghe thiên hạ ca cẩm gì nhiều về nạn vật giá leo thang, như ở Việt Nam. Mọi người, xem ra, có vẻ hài lòng với cuộc sống tương đối an lành và phú túc mà họ đang được hưởng.
Khác với những quốc gia láng giềng, dường như, không có cái khoảng cách hay sự tương phản nào (rõ nét) giữa mức sống giữa nông thôn và thành thị ở Thái Lan. Những người chạy taxi, và ngay cả xe tuck tuck, hay xe ôm nữa – nơi xứ sở này – trông cũng tự tin và thoải mái hơn đồng nghiệp của họ ở Cambodia, hay Lào.
E là mình chủ quan nên tôi viết thư hỏi một anh bạn, người đã sống ở Thái Lan từ năm 1992, hiện là một trong những thông tín viên thường trực của RFA ở Bangkok. Qua ngày sau, tôi nhận được hồi âm:
Anh Tư mến,
Em đọc thư anh viết từ hôm qua, song bận quá giờ mới viết trả lời anh được.
Đợt vừa rồi tìm hiểu để viết về cuộc sống của những người Việt tỵ nạn ở Thái lan, đặc biệt là những người Thượng Tây nguyên thì vượt quá sức tưởng tượng của em.
Họ khổ quá, thương họ quá dù rằng mình cũng hiểu phần nào song không hình dung trên thực tế thì nó là như thế.
Chuyện lương của cháu K. 300$/tháng (9,000 baht) là mức lương tối thiểu của một lao động phổ thông người Thái theo quy định của nhà nước. Mức lương đó mà dành cho 03 người thì khá vất vả, vì riêng tiền thuê nhà ở Bangkok một phòng 12-14 m2 có nhà vệ sinh tồi nhất cũng phải mất 2-2,500 baht. Số tiền còn lại còn trăm thứ phải tiêu: diện, nước, internet và ăn uống tiêu dùng.
– Lương của một Hạ sỹ quan CS Thái lan khoảng 18,000 baht
– Lương của một Sỹ quan CS Thái lan mới ra trường khoảng 20,000 baht.
– Lương cho giáo viên thì rất cao, bằng khoảng 130% của lương viên chức khác.
– Lương của một viên chức trung bình khoảng 23,000 baht.
Nhìn chung lương viên chức ở Thái lan thì thấp, song họ có các chế độ đãi ngộ khác kèm theo khá tốt như các vấn để an sinh xã hội dành cho người nhà của viên chức như bố, mẹ, vợ con v.v…
Mặt khác ở Thái lan có chế độ giáo dục miễn phí 12 năm, chữa trị y tế hoàn toàn free 100%, có trợ cấp cho người già, người tàn tật. Vì vậy với mức lương trung bình 23,000 baht/tháng cũng đủ sống không phải kiếm thêm. Hầu như không thấy hiện tượng viên chức người Thái phải làm thêm. Hầu như đối tượng này có nhà riêng và xe hơi.
Những người có khả năng thì họ đi làm cho các công ty tư nhân, lương cao hơn khoảng 140% so với lương viên chức.
Vật giá ở Thái lan khá rẻ. Thức ăn bán sẵn cho 03 người một bữa có 03 món thịt, cá và canh khoảng 100 baht là tạm ổn, cơm thì nấu ở nhà.
Lái xe taxi cũng là một nghề tự do kiếm tiền khá, song nếu phải thuê xe thì một ngày cũng phải trả tiền thuê khoảng 7-800 baht/ngày nên cũng chẳng thừa được bao nhiêu. Còn lại khoảng 7-800 baht/ngày sau khi trừ tiền mua gaz.
Có xe riêng thì được nhiều. Chạy xe ôm là việc dễ làm, chỉ cần có moto và trả phí hàng ngày chừng 50-60 baht cho chủ bến (Cảnh sát) thì mỗi ngày chịu khó cũng kiến được khoảng 1,000 baht.
Lạm phát ở nước Thái thì ít so với VN, em ở bên này 23 năm thì thấy vật giá mới tăng khoảng 150%, thế cũng là phù hợp với tốc độ suy thoái kinh tế toàn cầu. Tất nhiên cũng phải kể đến nguyên nhân chính là việc nâng mức lương tối thiểu của lao động phổ thong từ 6,000 baht/ tháng lên 9,000 baht/tháng.
Em viết vội cho anh như vậy, có gì cần biết anh cứ bảo em nhé.
Chúc anh khỏe.
Ở VN thì đơn vị tiền tệ không phải là tiền baht mà là tiền Bác. Đồng tiền này được lưu hành trên toàn quốc từ ngày 23 tháng 9 năm 1975. Sự kiện này được báo Sài Gòn Giải Phóng (số ra ngày 27 tháng 9 cùng năm) ghi lại thế này đây:
“Nhiệm vụ của đồng bạc Sài Gòn (là) giữ vai trò trung gian cho Diệm xuất cảng sức lao động của đồng bào ta ở miền Nam cho Mỹ… Làm trung gian để tiêu thụ xương máu nhân dân miền Nam, làm trung gian để tiêu thụ thân xác của vô số thiếu nữ miền Nam, làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ miền Nam, làm lụn bại cả phẩm chất một số người lớn tuổi… Nó sống 30 năm dơ bẩn, tủi nhục như các tên chủ của nó, và nay nó đã chết cũng tủi nhục như thế. Đó là một lẽ tất nhiên, và đó là lịch sử… Cái chết của nó đem lại phấn khởi, hồ hởi cho nhân dân ta.”

Tiền Bác. Ảnh: facebook
Ba mươi tám năm sau, nhà báo Huy Đức mới có lời bàn thêm, và bàn ra, nghe như một tiếng thở dài: “Không biết ‘tủi nhục’ đã mất đi bao nhiêu … nhưng rất nhiều tiền bạc của người dân miền Nam đã trở thành giấy lộn.” (Bên Thắng Cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).
Thảo nào mà trong dân gian không thiếu những câu thơ (nghe) hơi thừa cay đắng:
Máu rợn mùi tanh, cuộc đổi đời
Ba lần cướp trắng lúc lên ngôi
Miền Nam “ruột thịt” âm thầm hiểu:
Cách mạng là đây: bọn giết người !
Mà đắng cay là phải vì hiện nay Việt Nam đã trở thành một trong mười quốc gia có đồng tiền trị giá thấp nhất thế giới, , theo như ghi nhận của dondwest.hubpages.com/hub/Worthless-Fiat-Currency:
1. Somalia
2. VIETNAM
3. São Tomé and Príncipe
4. Iran
5. Indonesia
6. Laos
7. Guinea
8. Zambia
9. Paraguay
10. Sierra Leone
Theo thời giá thì 100 baht, nếu tiện tặn, có thể đủ tiền chợ nguyên ngày cho một gia đình ba người. Còn 1.000 ngàn đồng tiền Bác thì ngay cả đến giới ăn xin cũng không muốn nhận – như tường thuật của nhà báo Bạch Nga, trên Vietnamnet:
“Trong khi ngồi đợi xe ở trạm trung chuyển xe bus Long Biên, tôi được dịp chứng kiến cảnh một bà lão ăn xin chê tiền của khách.
‘Cô tính thế nào chứ 2 nghìn bây giờ chả đủ mua mớ rau, lần sau đã mất công cho thì cho ‘tử tế’ nhá!’
Câu nói của bà lão ăn xin khiến nhiều người phải sốc…
Chị Hương (Cầu Giấy – Hà Nội) chia sẻ câu chuyện có thật mà như đùa: ‘Nói thật, có lần gặp hai chị em nhà này đi ăn xin, thương tâm quá tôi liền rút ví ra đưa cho chúng 3 nghìn lẻ. Ngay lập tức, nó gọi tôi lại, giơ tờ 5 nghìn đồng lên trước mặt tôi bảo: cho chị thêm 2 nghìn cho đủ mua mớ rau nhé.”

Ảnh: vtc
Lý do khiến đồng Bác bị nhân dân, cũng như nhân loại, rẻ rúng được nhà báo Nguyễn Vũ Bình lý giải như sau:
“Nhà nước VN, từ khi thành lập tới nay, đều giữ bí mật về lượng tiền in ra, phát hành. Ngoài mấy lần đổi tiền, làm người dân vô cùng điêu đứng, thì khi bước vào chuyển đổi cơ chế kinh tế, chuyển sang kinh tế thị trường cũng liên tục vi phạm nguyên lý về mối tương quan giữa lượng tiền phát hành và năng lực của sản xuất của nền kinh tế.
Việc in tiền không căn cứ và không có giới hạn khiến cho giá cả hàng hóa năm nào cũng tăng ít nhất từ 20-50%/năm (trong khi các nền kinh tế thị trường chỉ từ 5-7%). Đồng tiền mất giá đã bóp méo toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh cũng như giảm mức sống mà người dân đáng ra phải được hưởng…”
Những cái “người dân đáng ra phải được hưởng” – xem chừng – mỗi lúc một xa khỏi tầm tay, và càng ngày thì cuộc sống càng thêm “điêu đứng.” Đã đến lúc mà vấn đề được đặt ra theo một chiều hướng khác, thách thức thấy rõ:
“Liên tiếp trong một thời gian ngắn, xăng và điện tăng giá, một số thành phố sẽ thu phí đường bộ đối với xe máy từ ngày 1-7 tới… Tiền điện tăng 100%, giá xăng dầu được dự báo vẫn theo chiều hướng tăng vọt dù giá nhập giảm tới… 40%, nồi cơm của nhiều gia đình chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi thu nhập không tăng kịp theo tương xứng. Nhiều bà nội trợ chắc chắn sẽ chật vật vì phải cắt khoản chi tiêu này, giảm khoản kia để tổ ấm của mình tồn tại…

Ảnh: Pháp Luật
Trong cuộc sống sự nhẫn nại là một đức tính tốt nhưng vấn đề là nhẫn nại của chúng ta có giới hạn không?” (Benjamin Ngô. “Sự Nhẫn Nại Của Chúng Ta.” Báo Pháp Luật, số ra ngày 28 tháng 6 năm 2015).
Tôi may mắn không “phải” sống ở Việt Nam nên không dám lạm bàn chi về mức độ “giới hạn nhẫn nại” của đồng bào mình. Lêu bêu ở xứ người, đôi lúc, tôi chỉ trộm nghĩ rằng giá mà đừng có Bác (và mấy đồng bạc của Người) thì thiệt là đỡ khổ cho dân Việt biết chừng nào!
Muốn bắt ai thì bắt?
Muốn bắt ai thì bắt?
Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-09-23

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng (ảnh minh hoạ) Vào ngày 14/9 ông phát biểu tại phiên thảo luận về Bộ luật hình sự (sửa đổi) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là: “không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung, muốn bắt ai thì bắt”.
AFP
Một số nhà hoạt động và cựu tù chính trị tại Việt Nam bị cơ quan an ninh và công an bắt giữ với cớ để điều tra.
Trường hợp của họ ra sao?
Trường hợp gần nhất và lâu nhất
Vụ việc bắt giữ gần nhất là đối với cựu tù nhân chính trị, cựu trung tá Trần Anh Kim, xảy ra vào sáng ngày 21 tháng 9 vừa qua. Bà Nguyễn Thị Thơm, vợ ông này cho biết cơ quan chức năng đến nơi làm việc rồi đưa bà ra trụ sở Công an Thành phố Thái Bình. Bà bị giữ tại đó từ khi bị đưa đi vào buổi sáng cho đến khoảng 4:30 chiều mới được đưa về nhà. Theo bà khi về đến nhà bà mới được giao lệnh nói chồng bà bị bắt đi vì trong máy tính của ông ta có ‘tuyên bố’ gì đó.
Sau hơn 24 tiếng đồng hồ, bà vợ cựu tù chính trị Trần Anh Kim, ra Sở Công an Thành phố Thái Bình để hỏi thăm về người chồng bị bắt đưa đi. Sau hơn 48 tiếng đồng hồ, bà này cho biết:
“ Chiều hôm qua lúc 4 giờ tôi ra Công an Thái Bình hỏi; đến chỗ cổng nói với người trực cho tôi gặp Phòng Điều tra An ninh. Họ bảo có chuyện gì, tôi nói hôm qua họ bắt ông Kim và nay giam ở đâu cho tôi biết để đi thăm nuôi. Chú trực cổng gọi lên phòng Điều tra An ninh và tôi được phó phòng trả lời đang giam ông Kim ở Trại Tạm giữ- Tạm giam ở Thái Bình. Đó là trại lần đầu ông Kim bị bắt cũng giam ở đó. Tôi đến Trại Tạm giam thì họ nói về đi, thứ năm đi tiếp tế. Có thông tin gì thì vài ba ngày nữa sẽ báo cho tôi. Tôi muốn gặp cán bộ để hỏi nhưng không có ai, còn nhân viên thì họ không dám trả lời. Còn từ hôm qua đến nay tôi chưa được họ báo gì về thông tin ông Kim cả.”
Một người bị bắt giam hơn một năm nay là ông Nguyễn Hữu Vinh, người chủ xướng trang blog Anh Ba Sàm. Ông này cùng người cộng sự Nguyễn thị Minh Thúy vào ngày 5 tháng 5 năm 2014.
Luật sư Hà Huy Sơn, người tham gia bào chữa trong vụ việc Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh vào sáng ngày 23 tháng 9 cho biết:
Tôi hiện là người bào chữa (ông Nguyễn Hữu Vinh bị bắt giam hơn một năm nay) nhưng chưa được thông báo vụ án đang do cơ quan nào giải quyết cả
Luật sư Hà Huy Sơn
“ Văn bản mới nhất mà tôi nhận được là ngày 17 tháng 8; đó là kết luận điều tra bổ sung. Và từ đó cho đến nay tôi chưa nhận được thông báo của cơ quan nào cả; nên hôm nay tôi đang làm văn bản yêu cầu các cơ quan trả lời.
Tôi hiện là người bào chữa nhưng chưa được thông báo vụ án đang do cơ quan nào giải quyết cả.”
Ngoài những trường hợp vừa nêu, trong tháng 9 này có hai người bị bắt đi đến nay vẫn chưa được thả và thông tin về họ cũng rất ít, chỉ được một số nhà hoạt động quan tâm đưa lên mạng. Đó là trường hợp của ông Lê Vũ Đài và Nguyễn Hữu An. Cả hai bị bắt từ ngày 2 tháng 9 vừa qua.
Mực sư Nguyễn Trung Tôn, người biết về ông Lê Vũ Đài cho biết một số thông tin về ông này như sau:
“ Anh Lê Vũ Đài là người Tiền Hải, Thái Bình, sinh năm 1989. Trước đây anh cùng bà con Tiền Hải, Thái Bình đi khiếu kiện nhiều nơi. Trong tay anh có một số bằng chứng về việc cán bộ tham nhũng rồi này kia… Trong một giai đoạn anh tham gia khiếu kiện đông người, nhưng sau này do áp lực nào đó anh đi vào Thanh Hóa theo một công ty giấy và làm kỹ thuật.”
Từ ‘gây rối trật tự’ đến ‘chính trị’
Một trường hợp khác bị bắt từ ngày 12 tháng 4 năm nay ở Hà Nội khi tham gia tuần hành kêu gọi bảo vệ cây xanh ở thủ đô; đó là anh Nguyễn Viết Dũng.
Gia đình anh này cho biết mãi 20 ngày sau khi bắt giam, cơ quan chức năng mới thông báo cho gia đình biết việc bắt giữ anh này để điều tra. Ông Nguyễn Viết Hùng, cha của anh Nguyễn Viết Dũng, vào trưa ngày 23 tháng 9, từ nhà riêng ở Xóm Trần Phú, xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, cho biết:
“ Gia hạn thêm 2 tháng điều tra vì theo thông tin thì họ không điều tra được gì nên tự gia hạn thêm 2 tháng. Gia đình cũng chỉ biết thế qua luật sư Trần Thu Nam chứ ngoài ra có được biết gì đâu.
Nói tóm lại từ khi bị bắt đến nay là hơn 5 tháng rồi. Khi được 3 tháng thì họ nói với bên luật sư gia hạn thêm hai tháng. Từ hôm đến giờ, tôi đi thăm cháu được 4 lần, nhưng chỉ gửi quà thôi chứ không được gặp mặt. Gửi quà qua quản giáo của công an quận.”
Luật sư Trần Thu Nam, người tham gia bào chữa cho anh Nguyễn Viết Dũng, cũng chia sẽ một số thông tin về anh này sau vài lần tiếp xúc với anh trong tù:
Tôi nói thật là ta phát biểu nhiều khi cũng vi phạm, bắt cũng được đấy. Nói như vậy để thấy là không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung như vậy, muốn bắt ai thì bắt, đâu có được.
chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng
“ Sức khỏe thì tốt thôi, không sao cả. Dũng mắt kém, bị cận mà ăn uống trong trại giam không như bên ngoài, nên sức khỏe không được tốt bằng ở ngoài. Thiếu chất nên mắt kém đi, tay chân không được linh hoạt nữa. Theo tin mới nhất từ luật sư Lê Văn Luân, cũng bào chữa trong vụ án này, mới trong buổi sáng ngày hôm nay thì có trao đổi sức khỏe của Dũng bình thường, có lên cân; nhưng do mất vệ sinh nên bị ghẻ ngoài da một chút, bệnh ngoài da.
Đó là về sức khỏe, còn về nội dung thì anh có khai tham gia đi dự buổi tuần hành cây xanh cùng các bạn trẻ khác, và anh có cầm những cái áo in hình logo của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ngày xưa. Đó là sự ngưỡng mộ của anh ta, và là ý kiến cá nhân.”
Bị kết án theo những điều luật mơ hồ
Ông Nguyễn Viết Hùng cho biết con ông khi bị bắt đang mặc áo quần theo quân phục trước đây của một binh chủng Việt Nam Cộng Hòa. Ông cho rằng việc làm đó không có gì sai trái vì đó là sở thích cá nhân. Cũng như trước đây con trai ông là Nguyễn Viết Dũng từng một lần treo cờ vàng ba sọc đỏ trên nhà. Lần đó cơ quan chức năng xã đã đến bắt gỡ cờ xuống và đưa anh Nguyễn Viết Dũng lên trụ sở. Tại đó Nguyễn Viết Dũng tranh luận với các bộ xã và họ phải để Dũng về.
Trường hợp của những người bị giam giữ lâu như blogger Anh Basam Nguyễn Hữu Vinh hay của những người mới bị bắt gần đây đều được nhiều người biết rõ việc làm của họ cho là không có gì vi phạm Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, cũng như một số người từng bị bắt trước đây thì cuối cùng cơ quan chức năng cũng qui họ vào những điều của Bộ luật Hình sự như điều 88- tuyên truyền chống nhà nước, hay 258- Lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm quyền và lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích của cá nhân, tập thể, hoặc nặng hơn là điều 79- âm mưu hay có hoạt động lật đổ chính quyền.
Những điều luật này lâu nay bị lên án là mơ hồ và được yêu cầu phải sửa đổi. Chính chủ tịch quốc hội Việt Nam, ông Nguyễn Sinh Hùng được truyền thông trong nước trích dẫn phát biểu tại phiên thảo luận về Bộ luật hình sự sửa đổi rằng ‘“Tôi nói thật là ta phát biểu nhiều khi cũng vi phạm, bắt cũng được đấy. Nói như vậy để thấy là không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung như vậy, muốn bắt ai thì bắt, đâu có được”.
Blogger Tạ Phong Tần: Tôi sẽ kiện Việt Nam ra tòa quốc tế
Blogger Tạ Phong Tần: Tôi sẽ kiện Việt Nam ra tòa quốc tế

Cộng đồng người Việt trong đó có blogger Điếu Cày ra đón blogger Tạ Phong Tần tại sân bay Los Angeles.
22.09.2015
Nhà bất đồng chính kiến mới được tự do cho biết rằng bà cùng blogger Điếu Cày sẽ đưa Việt Nam ra tòa quốc tế vì đã tống giam bà và ông Điếu Cày trái pháp luật.
Tuyên bố được đưa ra hôm 21/9, hai ngày sau khi bà Tần được Việt Nam phóng thích và lặng lẽ cho đi Mỹ. Nữ blogger này nói với VOA Việt Ngữ:
“Tôi làm còn hoành tráng hơn anh Điếu Cày ấy chứ vì anh Điếu Cày khi sang Mỹ là bị cướp hết các giấy tờ như bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án và các thứ khác. Anh Điếu Cày còn thiếu hồ sơ để khởi kiện nhưng mà tôi mang đi được đầy đủ hết. Vụ kiện của tôi còn hoành tráng hơn vì tất cả các bài viết của tôi đã đăng công khai với tên Tạ Phong Tần trên mạng Internet. Khi bọn họ đưa những thứ đó ra trước tòa để buộc tội tôi, nhưng họ không dám tranh luận với tôi là cụ thể tôi sai ở chỗ nào. Khi tôi yêu cầu được đối chất với các điều tra viên giám định tài liệu đó thì cũng không được đáp ứng. Đó là việc vi phạm luật pháp Việt Nam một cách hết sức trầm trọng, chưa nói tới việc vi phạm luật pháp quốc tế. Ngay cả căn cứ theo pháp luật Việt Nam hiện hành, tôi không phạm tội.”
“ Tôi bị bắt buộc phải ra đi. Một là tôi phải ngồi đủ 10 năm trong tù và 5 năm quản chế. Hai là tôi phải sang Mỹ. Trong những cái tệ thì chúng ta phải chọn cái nào đỡ tệ hơn chứ? Chúng tôi đi ra nước ngoài thì việc đấu tranh sẽ còn khó khăn hơn nhưng vẫn còn hơn là chúng tôi phải ngồi ở trong tù, không thể làm gì được…
Blogger Tạ Phong Tần nói.”
Bà Tần, chủ trang blog Công lý và Sự thật, bị bắt vào ngày 5/9/2011 và bị kết án tù 10 năm vào năm 2012 vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước theo điều 88 Bộ Luật Hình sự.
Bà cũng là một trong những thành viên sáng lập Câu lạc bộ Nhà báo tự do cùng với blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) năm 2007.
Những năm qua, nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế cũng như các nước phương Tây đã kêu gọi Hà Nội trả tự do cho blogger từng làm trong ngành công an của Việt Nam.
Bà Tần kể với VOA Việt Ngữ về quyết định đi Mỹ:
“Tôi bị bắt buộc phải ra đi. Một là tôi phải ngồi đủ 10 năm trong tù và 5 năm quản chế. Hai là tôi phải sang Mỹ. Trong những cái tệ thì chúng ta phải chọn cái nào đỡ tệ hơn chứ? Chúng tôi đi ra nước ngoài thì việc đấu tranh sẽ còn khó khăn hơn nhưng vẫn còn hơn là chúng tôi phải ngồi ở trong tù, không thể làm gì được. Tôi đã bỏ phí mất hơn 4 năm ngồi trong tù, và tôi cảm thấy thời gian rất là phí phạm. Khi tình hình xã hội Việt Nam có sự thay đổi, thì tôi cũng sẽ quay lại Việt Nam để giúp đỡ những người dân trong nước.”
“ Tôi làm còn hoành tráng hơn anh Điếu Cày ấy chứ vì anh Điếu Cày khi sang Mỹ là bị cướp hết các giấy tờ như bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án và các thứ khác. Anh Điếu Cày còn thiếu hồ sơ để khởi kiện nhưng mà tôi mang đi được đầy đủ hết. Vụ kiện của tôi còn hoành tráng hơn vì tất cả các bài viết của tôi đã đăng công khai với tên Tạ Phong Tần trên mạng Internet…
Blogger Tạ Phong Tần cho biết.”
Cuối năm ngoái, ít lâu sau khi đặt chân tới Mỹ, blogger Điếu Cày cũng tuyên bố sẽ kiện chính quyền Hà Nội ra tòa quốc tế vì đã tống giam trái phép các thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do, và bày tỏ tự tin rằng ông sẽ “thắng kiện”.
Nhà bất đồng chính kiến này từng nói:
“Họ không có đủ chứng cứ để buộc tội chúng tôi. Vụ án đã bị vỡ, bị sụp đổ rồi nhưng họ cố tình giam nhốt chúng tôi. Vì vậy mà chúng tôi phải đi ra ngoài này để bắt đầu vụ án đó từ một tòa án khác, tòa án của cộng đồng quốc tế. Chúng tôi từng bước một sẽ tiến hành việc đó. Tôi sẽ tìm kiếm các nguồn lực, các tổ chức quốc tế để giúp đỡ chúng tôi đưa vụ đó ra tòa quốc tế. Tôi tin rằng, về mặt pháp lý, chúng tôi sẽ thắng kiện.”
Việt Nam luôn bác bỏ các cáo buộc cho rằng Hà Nội bóp nghẹt tiếng nói của người dân cũng như bắt giữ những người bất đồng chính kiến.
Tuy nhiên, mới đây, hôm 14/9, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói rằng Việt Nam “không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung, muốn bắt ai thì bắt”.
Người đứng đầu cơ quan lập pháp của Việt Nam cũng đề nghị phải làm rõ tội danh chống phá nhà nước nhằm “đảm bảo công bằng, đảm bảo quyền con người và quyền của công dân”.
Bị công an ép nhận tội, dù không giết người
Bị công an ép nhận tội, dù không giết người
Nguoi-viet.com
SÓC TRĂNG (NV) – Ông Trần Hol, 29 tuổi và ông Thạch Sô Phách, 26 tuổi vừa giải thích tại sao họ thú nhận đã giết ông Lý Văn Dũng, 42 tuổi.

Ông Trần Hol (trái) và ông Thạch Sô Phách (phải). (Hình: VietNamNet)
Hồi đầu tháng 7 năm 2013, ông Lý Văn Dũng, 42 tuổi, một người chạy xe ôm, ngụ tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng bị giết với 7 nhát dao. Chiếc xe, điện thoại di động và ví của nạn nhân vẫn còn tại hiện trường.
Đến trong tuần tháng 7 năm 2013, công an Sóc Trăng xác định vụ án mạng này là do hiềm khích cá nhân và bắt khẩn cấp ông Trần Hol vì ông Hol từng có xung đột với nạn nhân. Sau đó công an lần lượt bắt giữ thêm năm người khác là bạn bè của ông Hol gồm: Trần Cua, Trần Văn Đỡ, Thạch Sô Phách, Thạch Mươl, Khâu Sóc.
Tất cả thú nhận đã cùng nhau giết ông Dũng. Công an còn bắt thêm một phụ nữ tên là Nguyễn Thị Bé Diễm, tiếp viên của một quán nhậu tại thị trấn Lịch Hội Thượng, huyện Trần Đề, với lý do “không tố giác tội phạm.”
Theo kết luận điều tra của công an tỉnh Sóc Trăng và cáo trạng của Viện Kiểm Soát tỉnh Sóc Trăng thì Thạch Sô Phách thú nhận đã cùng các bạn của mình là: Hol, Đỡ, Cua, Sóc, Mươl đánh và đâm ông Dũng. Riêng cô Nguyễn Thị Bé Diễm thì “thừa nhận” có nghe và biết về “âm mưu” của nhóm thanh niên này.
Sau khi hoàn tất “kết luận điều tra,” các điều tra viên trong “Ban Chuyên Án” được thượng cấp khen thưởng. Họ đã nhận quyết định khen thưởng và chờ nhận hiện kim là tiền thưởng do “thành tích phá án nhanh.”
Đúng lúc đó thì có một cô gái tên là Lê Thị Mỹ Duyên, ngụ tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, đến công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Sài Gòn, đầu thú vì là đồng phạm trong vụ án giết ông Dũng. Cô Duyên cho biết, cô đã cùng cô Nguyễn Kim Xuyến, ngụ tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, giết ông Lý Văn Dũng để cướp tài sản nhưng vụ cướp bất thành. Sau đó cả hai rời Sóc Trăng lên Sài Gòn. Tại Sài Gòn, cô Xuyến có quan hệ tình cảm với người khác. Cô Duyên quyết định ra đầu thú để cả hai có thể ở bên nhau đến trọn đời trong… tù.
Công an Sài Gòn không phải là công an Sóc Trăng nên hệ thống tư pháp đã kiểm tra toàn bộ lời khai của cô Duyên và nhận thấy những lời khai này trùng khớp hoàn toàn với các tình tiết của vụ án. Cũng vì vậy, tháng 2 năm 2014, Viện Kiểm Soát tỉnh Sóc Trăng phải ký, công bố quyết định đình chỉ điều tra đối với 7 người mà chính họ phê chuẩn lệnh bắt.
Cáo trạng do cơ quan điều tra của Viện Kiểm Soát Tối cao lập và vừa công bố cho biết, sở dĩ bảy thanh niên không “giết người,” không “che giấu tội phạm” nhưng vẫn “nhận tội” vì đã bị tra tấn.
Ông Thạch Sô Phách giải thích lý do ông “thú nhận” đã cùng các bạn mình “giết người” là vì điều tra viên Triệu Tuấn Hưng treo lên cửa sổ bằng còng số 8, chỉ còn để các đầu ngón chân chạm đất, rồi dùng tay, đầu gối, đánh liên tục vào bụng. Triệu Tuấn Hưng còn dùng khăn lau bàn bọc nước đá buộc vào hạ bộ của ông Phách…
Ông Trần Hol cũng bị tra tấn như ông Phách nhưng ông Hol dứt khoát không chịu nhận tội theo ý các điều tra viên. Cuối cùng, ông Hol đầu hàng vì điều tra viên Nguyễn Hoàng Quân đánh vào cổ. Lối tra tấn này khiến nạn nhân kiệt sức vì không thể ăn, uống và không nhận tội thì sẽ chết do kiệt sức.
Theo dự kiến thì ngày 24 tháng này, tòa án tỉnh Sóc Trăng sẽ đưa hai điều tra viên: Nguyễn Hoàng Quân, Triệu Tuấn Hưng ra xử vì “dùng nhục hình” và kiểm soát viên Phạm Văn Núi ra xử vì “thiếu trách nhiệm.”
Tuy nhiên cả bảy thanh niên bị bắt oan, truy tố oan cùng khẳng định, ngoài Quân và Hưng còn hàng chục điều tra viên khác tham gia tra tấn, ép họ nhận tội. Tình trạng tương tự cũng đã xảy ra tại trại tạm giam của công an tỉnh Sóc Trăng.
Ông Hol cho biết, trước khi bị giải về công an tỉnh Sóc Trăng, ông đã bị hàng chục sĩ quan của công an huyện Trần Đề đánh đập trong phòng tạm giam.
Ông Trần Văn Đở – một trong bảy người từng phải “cúi đầu nhận tội” tố cáo, ông nhớ có một điều tra viên tên Huy của công an huyện Trần Đề tham gia tra tấn ông và tại trại tạm giam của công an tỉnh Sóc Trăng, có cả ông Nguyễn Hoàng Phú – phó phòng cảnh sát điều tra (PC 45) của công an tỉnh Sóc Trăng, tham gia tra tấn ông.
“Ban Chuyên án” được khen thưởng vì thành tích “phá án nhanh” trong vụ ông Lý Văn Dũng bị giết có ông ông Nguyễn Việt Thanh, trưởng phòng PC45 làm trưởng ban. Các ông Nguyễn Hoàng Phú, Phan Văn Lắm – cùng là phó phòng PC45 và ông Hồ Văn Nhiều – phó công an huyện Trần Đề làm phó ban. Chưa kể hàng chục điều tra viên khác là thành viên.
Chỉ có hai điều tra viên trong “Ban Chuyên Án” này bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Những thành viên khác trong “Ban Chuyên Án,” từ trưởng ban trở xuống chỉ phải kiểm điểm và bị cảnh cáo hay khiển trách.
Ông Hol – một trong bảy nạn nhân bảo với tờ VietNamNet rằng, “Ban Chuyên Án” đã làm gia đình ông tan nát, bạn bè không nhìn mặt nhau. Đó là một ác mộng và ông mong nó qua mau. (G.Đ)
Cô dâu 14 tuổi và hành trình bị bán sang Trung Quốc
Cô dâu 14 tuổi và hành trình bị bán sang Trung Quốc
VOA
Trà Mi
20-9-2015

Ảnh cưới của Lý Thị Minh lúc 14 tuổi, và ông Pay Long Phe, một thợ hồ Trung Quốc.
Ảnh cưới của Lý Thị Minh lúc 14 tuổi, và ông Pay Long Phe, một thợ hồ Trung Quốc.
Hôn nhân đổi chác giữa các cô gái Việt với đàn ông nước ngoài không phải là hiếm, nhưng câu chuyện gửi tới các bạn hôm nay sẽ phơi bày sự thật đau lòng về thảm trạng buôn người mà nạn nhân là các bé gái ở những vùng biên giới của Việt Nam đang hàng ngày bị bắt cóc bán cho những người đàn ông nông thôn ở Trung Quốc mua về làm vợ.
Đó là nghịch cảnh của 3 chị em Lý Thị Sua, Lý Thị Minh, và Lý Thị Sinh cùng bị bắt cóc và bị bán sang Trung Quốc vào năm 2011 lúc Sua mới lên 13, Minh tròn 14, và Sinh bước vào tuổi 20. Hai người em là Sua và Minh đã tìm cách thoát về Việt Nam, còn cô chị hiện chưa biết tung tích ở đâu, sống chết thế nào.
Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi với Minh, cô gái dân tộc Hmong không nói được tiếng Kinh, bị gián đoạn rất nhiều lần vì nỗi sợ hãi, lo lắng, và những chấn động tâm lý chưa nguôi ngoai sau khi cô vượt thoát người chồng Trung Quốc trở về Việt Nam với gia đình ở xóm Khuổi Vin, xã Lý Bôn, huyện Bảo Lâm (tỉnh Cao Bằng) hôm 22/7 vừa qua.
Minh vẫn còn nhớ như in cái ngày định mệnh đã rẽ ngoặc cuộc đời cô, thay đổi tương lai của cô bé tuổi cài trâm bị bán, bị ép làm vợ một người đàn ông quê mùa, ít học ở xứ lạ quê người. Không có ngày ấy thì giờ đây Minh lẽ ra đang là một thiếu nữ bước vào tuổi 18 đầy hoa mộng và hứa hẹn. Nhưng sau 4 năm bị bán sang Trung Quốc, Minh giờ đây là một bà mẹ trẻ đã bỏ lại đứa con thơ chưa dứt sữa để chạy trốn khỏi người chồng Trung Quốc.
Cô dâu 14 tuổi
Chuyện xảy ra ngày 28 tháng 4 năm 2011, khi chị em Minh được 3 thanh niên mới quen, trạc ngoài đôi mươi, người dân tộc Nùng, rủ đi lễ hội ở chợ Khâu Vai, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Trong số này có một người tên là Lò Văn Hiền, trú ở xã Đức Hạnh, cùng huyện Bảo Lâm với 3 nạn nhân. Sau khi mời các cô ăn uống dọc đường, thay vì đi Hà Giang như hứa hẹn, nhóm thanh niên đã chở thẳng 3 chị em qua Trung Quốc sang tay cho một đường dây buôn người chuyên săn tìm các cô gái Việt bán cho những người đàn ông Trung Quốc không đủ khả năng lấy vợ bản xứ.
Qua lời thông dịch của anh trai, cô Minh thuật lại:
“Sau khi Hiền cùng đồng bọn đưa 3 chị em chúng tôi tới đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc, họ cho chúng tôi xuống xe và tát chúng tôi mỗi người một cái. Lúc đó, chúng tôi mới tỉnh vì trước đó họ có cho chúng tôi uống nước và có thể có chứa chất gây kích thích tâm lý. Họ đòi điện thoại của chúng tôi. Hiền và đồng bọn đã đánh 3 chị em tôi, đưa dao kề cổ khống chế và dọa giết nếu chúng tôi bỏ chạy. Sau đó, họ đưa chúng tôi vào nhà một người Hmong ở Trung Quốc cách đường biên giới Việt Nam khoảng 7 giờ đồng hồ. Trong nhà này có một người đàn ông khoảng 45-50 tuổi chuyên mua bán phụ nữ từ Việt Nam sang Trung Quốc. Họ cho người canh gác 3 chị em tôi rất nghiêm ngặt. Sáng hôm sau, họ bán chị Sinh và Sua đi trước. Hiền và đồng bọn thì về Việt Nam. Khi tôi van xin được nhìn 2 chị em của tôi lần cuối thì ông chủ nhà đưa cho xem một khẩu súng ngắn và nói ‘Chúng tao sẽ dùng khẩu súng này đi đón 2 chị mày.’ Một ngày sau, có một cặp vợ chồng tới đón tôi chở thẳng tới tỉnh Sơn Tây của Trung Quốc. Vợ là người Hmong Việt Nam.”
Minh không rõ tên của người đàn ông Trung Quốc tới đón cô đi bán, nhưng người đàn bà Hmong Việt Nam đi cùng, theo cô được biết, tên là Thào Thị Tráng, một tay buôn người chuyên nghiệp thường xuyên cung cấp gái cho những người Trung Quốc muốn lấy vợ Việt Nam. Minh nói lúc đó cô đã nhìn thấy bà Tráng bán 3 cô gái Việt khác, trong đó có một người tên là Mị từ huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, Việt Nam.
Tới Sơn Tây, bà Tráng đưa hình 3 người đàn ông Trung Quốc cho Minh xem và bảo cô phải lấy một trong ba người này làm chồng, nếu không, sẽ bị mang đi bán xa hơn nữa. Không thể chống cự, cuối cùng Minh phải nhận lời làm vợ một người trong ảnh tên là Pay Long Phe, lớn hơn cô 20 tuổi.
Sau cuộc ngã giá, Minh bị bán cho ông Pay, một thợ hồ ngụ tại số 18 đường Bắc, thôn Hà Khẩu, xã Cao Hồng Khẩu, huyện Ngũ Đài. Đây là một vùng quê nghèo, hẻo lánh thuộc tỉnh Sơn Tây có đa phần dân cư là thành phần lao động chân tay, làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày.
Mẹ và em trai ông Pay, qua điện đàm với chúng tôi, dường như hơi bất thường, nói năng không được minh mẫn và mạch lạc. Sau rất nhiều cuộc gọi, khó khăn lắm chúng tôi mới gặp được ông Pay.
Người đàn ông này thừa nhận đã mua cô Minh với giá trên 60.000 nhân dân tệ, khoảng 130 triệu đồng Việt Nam, nhưng ông từ chối tiết lộ bất kỳ thông tin nào về kẻ môi giới. Ông nói ông không biết gì về người này và chưa từng gặp mặt trực tiếp. Ông Pay Long Phe kể:
“Một trong những bà con trong gia đình tôi giới thiệu tôi với người môi giới này vì anh ấy cũng lấy vợ Việt Nam thông qua đường môi giới này.”
Khi được hỏi cuộc mua bán diễn ra thế nào, ông Pay nói tới giờ hẹn, một người nào đó không phải là chủ môi giới đã thả cô Minh vào làng rồi gọi ông ra nhận. Chúng tôi thắc mắc vì sao ông không lấy vợ bản xứ mà đi mua vợ từ Việt Nam, người thợ hồ Trung Quốc không ngần ngại giải thích:
“Tôi nghe nói vợ Việt Nam rất dễ dạy, ngoan hiền, lại siêng năng làm lụng.”
Về số tiền khá lớn ông đã bỏ ra, ông Pay nói đó là giá trung bình phải chi để cưới vợ ở đây, nhưng cưới vợ Trung Quốc còn tốn hơn nhiều vì những đòi hỏi về tiền bạc, nhà cửa, và sính lễ vượt quá khả năng giới lao động như ông.
Kế hoạch vượt thoát
Minh cho biết sau khi bị ông Pay mua về, cô dâu bất đắc dĩ phải chung sống với gia đình chồng gồm 8 người. Hằng ngày cô phải đi làm mướn phụ tiền chi tiêu, nhưng bị gia đình chồng canh chừng rất nghiêm ngặt, tới điện thoại cô cũng không được dùng.
Ở tuổi 14, Minh đã phải chịu đựng biết bao tủi khổ trong cuộc hôn nhân cưỡng ép hơn 4 năm trời mà không một lần dám bỏ trốn vì cô được nghe kể có một trường hợp tương tự sau 2 lần vượt thoát bất thành bị bắt lại, bị đánh đập rất dã man. Minh chia sẻ:
“Mỗi lúc cãi nhau, ông chồng đều nhắc tới chuyện mua tôi và nói rằng nếu không nghe lời thì sẽ mang bán tôi đi một nơi thật xa nữa.”
Bản thân không rành ngôn ngữ bản địa, lại bị đưa đi quá xa, có tìm đường chạy về thì chắc gì đã thành công mà rủi bị bắt lại thì khó sống. Nghĩ vậy nên Minh đành khoanh tay chấp nhận số phận.
Mãi đến tháng 3 năm nay, lần đầu tiên Minh nhờ được một phụ nữ Hmong từ Hà Giang sang Sơn Tây làm vợ người Trung Quốc giúp thông tin với cha mẹ ruột ở Việt Nam. Từ ngày nối liên lạc được với gia đình, Minh nung nấu quyết tâm trở về.
Biết ý muốn của ông Pay bỏ tiền mua vợ chủ yếu kiếm một đứa con, Minh nghĩ chỉ có cách sinh con mới có thể được gia đình chồng tin yêu và có thể thuyết phục họ cho cô về Việt Nam thăm gia đình. Vì vậy, Minh đã cố gắng ‘ngoan ngoãn’ và sinh cho ông Pay một đứa con.
Kế hoạch của cô diễn ra suôn sẻ khi ông Pay cho phép cô lần đầu tiên sau hơn 4 năm ở với ông được về thăm cha mẹ hôm 22/7 vừa qua, lúc con của Minh vừa tròn 18 tháng. Ông đưa Minh tới cửa khẩu Săm Pun, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, và nhờ một phụ nữ buôn bán tại đây dắt qua biên giới, nơi cô đã điện thoại hẹn gia đình đến đón. Minh thuật lại:
“Lúc sắp về, gia đình chồng bàn bạc rất kỹ, nhưng tôi không biết họ nói với nhau cái gì. Lúc tới biên giới, ông chồng dặn về 3 ngày phải quay lại ngay vì đã có một đứa con rồi.”
Nhưng vừa bước chân qua biên giới Việt Nam, Minh đã quyết định không bao giờ trở lại Trung Quốc nữa. Ngay hôm sau, cô đã gọi điện báo cho ông Pay và lập tức thay đổi số điện thoại liên lạc.
Minh nói dứt áo ra đi khi con thơ hãy còn khát sữa là một quyết định hết sức đau lòng và đầy uẩn khúc, nhưng người mẹ trẻ cương quyết thà bỏ con chứ không thể trở lại kiếp sống ‘nô lệ mới’:
“Tôi có nhớ tới đứa con của tôi, nhưng nghĩ lại thấy họ mua bán tôi như một món đồ chơi và một thứ vật nuôi, tôi thấy rất buồn. Nỗi nhớ con tới đâu thì thời gian rồi sẽ quên đi, không đau bằng họ bán tôi như vật nuôi và đánh đập tôi lúc tôi bị họ bắt cóc. Nghĩ tới đó tôi thấy rất cay, rất buồn. Nỗi nhớ con rồi sẽ qua nhưng nỗi đau về thể xác và tinh thần lúc tôi hãy còn là một đứa trẻ con sẽ không qua được, nên tôi quyết định không về nữa.”
Quyết định của Minh khiến người chồng Trung Quốc hết sức bàng hoàng. Ông nói những cô gái được mua về làm vợ như Minh trong làng của ông, có người đã ở đây hơn chục năm nay mà không hề bỏ chạy. Ông Pay trần tình:
“Tôi chỉ muốn cô ấy quay về, đứa con tội nghiệp còn quá nhỏ, nhưng tôi không liên lạc được với cô ấy nữa. Nếu cô ấy quay lại, tôi sẽ cho cô ấy đi đi về về thăm gia đình.”
Tố cáo buôn người và hồi đáp của chính quyền
Vừa về được Việt Nam, Minh đã lập tức trình báo công an huyện Bảo Lâm và gửi đơn tố cáo lên công an tỉnh Cao Bằng về vụ bắt cóc phụ nữ-trẻ em bán sang Trung Quốc mà 3 chị em cô là những nạn nhân trực tiếp.
Người anh cả trong gia đình Minh, anh Lý Thành Lương, cho biết:
“Họ bảo ‘Về được thì tốt rồi,’ chỉ như vậy thôi. Lúc 3 chị em vừa mới mất tích, gia đình đi tìm khắp nơi và lên trình báo công an huyện Bảo Lâm nhiều lần và xin giấy thông hành qua Trung Quốc tìm kiếm, nhưng công an huyện nói không đủ thẩm quyền làm việc này và chỉ lên đồn biên phòng làm. Tới đồn biên phòng, họ bảo không phải thẩm quyền họ làm, mà của công an. Trở lại công an huyện, họ chỉ lên công an tỉnh Cao Bằng. Không có giấy phép đi, gia đình chúng tôi, tôi đây, trực tiếp liều mạng đi tìm ở khu vực giáp biên giới 1, 2 lần nhưng không thấy. Vì mình không có người thân, không biết liên lạc ở đâu nữa, cho nên bó tay. Chỉ biết nhờ vào công an thôi mà họ cũng không giúp được.”
Anh Lương kể hôm 5/4 sau khi nối được liên lạc với Minh, gia đình anh đã gặp trực tiếp ông Lý Hữu Cư , Đội trưởng Đội Phòng chống Tệ nạn Xã hội của Công an huyện Bảo Lâm, nhưng ông Cư nói công an không giúp được và bảo rằng “Biết được còn sống là mừng lắm rồi.”
Trong ba chị em bị bắt cóc bán sang Trung Quốc vào năm 2011, cô Lý Thị Sua là người đầu tiên may mắn chạy thoát về Việt Nam và đã nhiều lần làm đơn tố cáo gửi công an tỉnh, huyện xin can thiệp giải cứu hai chị em còn lại, nhưng cũng không được hồi đáp. Có lần cô nhận diện được kẻ bắt cóc và báo công an, nhưng Lô Văn Hiền bị câu lưu không lâu lại được thả. Phó trưởng công an huyện, ông Dương Minh Hải, nói với gia đình rằng xác minh Hiền không phạm tội nên phóng thích.
Chúng tôi rất nhiều lần liên lạc với công an huyện Bảo Lâm để ghi nhận ý kiến giới hữu trách, nhưng không lần nào được hồi đáp. Trong nhiều tuần lễ liên tiếp, chúng tôi gọi vào số di động của Phó trưởng công an Dương Minh Hải đều không được bắt máy.
Bộ Công an Việt Nam nói đã phối hợp với công an Trung Quốc tấn công tội phạm buôn người từ Việt Nam sang Trung Quốc, nhưng không cho biết đã giải cứu được bao nhiêu trường hợp.
Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, đồng sáng lập Liên minh Bài trừ Nô lệ mới ở Á Châu (CAMSA), tổ chức phi vụ lợi hỗ trợ các nạn nhân bị buôn người tại các vùng biên giới Việt Nam trong đó có trường hợp của cô Minh, cho biết CAMSA đã có phương án can thiệp:
“Chúng tôi đang chờ thêm một thời gian ngắn nữa để xem sự hồi đáp của chính quyền Việt Nam tới đâu, lúc đó chúng tôi sẽ khởi động một cuộc vận động chính phủ Hoa Kỳ can thiệp. Chúng tôi thật sự đã báo động Bộ Ngoại giao Mỹ rồi. Đến nay chúng tôi đã can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp cho 11.000 nạn nhân đã được giải cứu mà không hề có một trường hợp nào được chính quyền Việt Nam điều tra , chưa kể tới vấn đề trừng phạt. Nhưng dù sao chúng tôi cũng phải đi qua thủ tục báo động với chính quyền địa phương trước đã. Luật pháp Hoa Kỳ có điều khoản giải cứu cho nạn nhân và chính phủ Mỹ có cơ quan đánh giá từng quốc gia mỗi năm. Chính phủ nào không hợp tác phòng-chống buôn người thì có thể bị đưa vào cấp hạng 3, có thể bị chế tài. Chúng tôi tin rằng với sự can thiệp của Mỹ, chính phủ Việt Nam sẽ có động cơ để tích cực hơn trong vấn đề giải cứu nạn nhân và trừng trị thủ phạm buôn người.”
Báo chí nhà nước nói trong quý đầu năm nay có 70 vụ buôn người bị phát hiện trên cả nước, với 145 nạn nhân. Trong đó, cứ 10 vụ thì có 8 trường hợp bị bán sang Trung Quốc và các tỉnh trọng điểm bao gồm Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Nghệ An.
Theo thống kê của CAMSA, chỉ riêng trong xã Lý Bôn của chị em cô Minh hiện có trên dưới 20 phụ nữ bị mất tích. Thời gian gần đây cứ 1, 2 tháng lại xảy ra một trường hợp như thế.
Trong khi chưa có giải pháp chống buôn người hiệu quả, những kẻ buôn người chưa biết sẽ phải trả giá như thế nào, nhưng những trường hợp như cô Minh là một kinh nghiệm đau đớn cho các nạn nhân Việt Nam, một bài học cay đắng cho những người đàn ông Trung Quốc mua vợ, và là hồi chuông cảnh báo cho toàn xã hội.
Những đứa trẻ từ các cuộc hôn nhân kiểu ‘nô lệ mới’ như thế, số phận chúng rồi sẽ ra sao? Làm sao có thể chấm dứt những hậu quả đau lòng này? Thật đáng buồn, câu trả lời hãy còn bị bỏ ngõ.
Tiếng nói bên ngoài và cuộc đấu tranh bên trong
Tiếng nói bên ngoài và cuộc đấu tranh bên trong
Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-09-21
09212015-outside-world-s-response.mp3
![]()

Các nhà đấu tranh Blogger Điếu Cầy, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và Blogger Tạ Phong Tần
RFA
<
Thêm một tù nhân chính trị tại Việt Nam, cô Tạ Phong Tần, đến Hoa Kỳ do áp lực của chính quyền Mỹ cũng như sự lên tiếng lâu nay về tình hình nhân quyền- dân chủ tại Việt Nam.
Thực tế tiếng nói từ bên ngoài giúp cho phong trào đấu tranh cho quyền con người trong nước đến đâu và vai trò của người dân trong nước thế nào?
Lên tiếng từ bên ngoài
Nhiều người thừa nhận nếu không có sự can thiệp từ phía chính phủ Hoa Kỳ, thì những cựu tù nhân chính trị tại Việt Nam như tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải hay blogger Sự Thật & Công Lý Tạ Phong Tần sẽ không được viên chức ngoại giao của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội cùng đi theo trên chuyến bay từ Việt Nam sang đến Xứ Cờ Hoa.
Ông Trần Văn Huỳnh, cha của tù nhân chính trị Trần Huỳnh Duy Thức, hiện đang thụ án 16 năm tù tại trại giam ở Xuyên Mộc, Bà Rịa- Vũng Tàu cho biết về sự lên tiếng từ bên ngoài và con ông nằm trong danh sách của những tù nhân chính trị tại Việt Nam được nêu ra:
“ Khi Thức tròn 6 năm ở trong tù, danh sách của Thức được chính thức 36 tổ chức xã hội dân sự, trong đó 20 tổ chức ở nước ngoài và 16 tổ chức trong nước, yêu cầu trả tự do cho Thức.
Thứ hai, trong lần 3 nhà báo thế giới được ông Obama tiếp kiến có Nguyễn Văn Hải- Điếu Cày, danh sách đưa ra có Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, rồi một số người nữa.
Và trong những đối thoại nhân quyền của giới chức Mỹ sang Việt Nam ( cách đây chừng vài tháng- tôi không nhớ rõ), ông Tom Malinowski- trợ lý của ngoại trưởng Kerry, cũng đề nghị đến trường hợp của các tù nhân lương tâm được khuyến nghị trả tự do, trong đó có Thức.”
Vào ngày 21 tháng 9, tham tán Terry White, đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội được hãng thông tấn AP trích dẫn phát biểu rằng phía Hoa Kỳ hoan nghênh quyết định của cơ quan chức năng Việt Nam trả tự do cho cô Tạ Phong Tần người quyết định đi Mỹ sau khi ra khỏi tù; tuy nhiên phía Hoa Kỳ vẫn rất quan ngại về trường hợp của những người bị bỏ tù chỉ vì thực thi nhân quyền và các quyền căn bản của họ. Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do vô điều kiện cho tất cả những tù nhân này và cho phép tất cả những người Việt Nam được quyền bày tỏ chính kiến của họ mà không sợ bị trừng phạt.
Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch qua phát biểu của ông Phil Robertson, phó giám đốc khu vực Châu Á, cũng lên tiếng kêu gọi chính quyền Hà Nội trả tự do ngay cho những nhà hoạt động khác và nếu họ muốn ở lại trong nước thì phải đáp ứng nguyện vọng của họ; đồng thời ngưng can thiệp vào các hoạt động chính trị và ngưng vi quyền của những người đó. Danh sách những tù nhân chính trị mà Human Rights Watch nêu lên với yêu cầu trả tự do ngay cho họ gồm Trần Huỳnh Duy Thức, Hồ thị Bích Khương, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Trần Vũ Anh Bình, Võ Minh Trí tức nhạc sĩ Việt Khang, Đặng Xuân Diệu, Hồ Đức Hòa, Ngô Hào và nhiều tù nhân chính trị khác nữa.
Ủy ban Bảo Vệ Ký giả từ New York vào ngày 20 tháng 9 cũng ra thông cáo báo chí hoan nghênh việc trả tự do cho blogger Tạ Phong Tần, đồng thời kêu gọi chính quyền Hà Nội trả tự do cho những nhà báo và bloggers khác đang bị cầm tù.

Phiên tòa sơ thẩm xét xử 3 bị cáo phạm tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (gồm bị cáo Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải) Ngày 24 tháng 9 năm 2012
Tác động
Nhà hoạt động Trần thị Nga, từ Hà Nam cho biết tác động của sự lên tiếng của người Việt ở nước ngoài, các nước khác và các tổ chức quốc tế đối với phong trào đấu tranh cho quyền con người và dân chủ tại Việt Nam:
“Góp sức của người Việt hải ngoại đối với công cuộc đấu tranh cho dân chủ- nhân quyền tại Việt Nam từ vấn đề truyền thông cho đến liên lạc với quốc tế để đưa ra sự thật tình trạng vi phạm nhân quyền do chính phủ Việt Nam đối với người dân Việt Nam… Đây là công sức của người Việt hải ngoại mà tôi hết sức trân quí. Đó là động lực để cho những người trong nước đấu tranh như tôi có niềm tin mình không đấu tranh đơn độc vì mình còn có đồng bào quốc tế, các tổ chức quốc tế nữa.
Thông qua những lần trao đổi với đại sứ quán của các nước, tôi thấy họ cũng rất quan tâm, cũng hổ trợ chúng tôi. Trong ngoại giao với chính quyền Việt Nam họ cũng nêu lên những vi phạm nhân quyền; trong khi Việt Nam là một thành viên của tổ chức nhân quyền thế giới mà vi phạm, chà đạp lên những điều đã ký. Đó là một điều mà chúng tôi thấy rất tốt.”
Thiết yếu của đấu tranh từ trong nước
Theo chị Trần Thị Nga thì dù có những tác động tích cực từ bên ngoài như thế nhưng người dân trong nước phải vượt qua sợ hãi, ý thức được quyền của bản thân để cùng tham gia đòi hỏi:
“Còn công cuộc chính để có hiệu quả, để người dân Việt Nam thực sự được hưởng quyền con người của mình trước hết phụ thuộc vào người dân trong nước dám đứng lên, dám đấu tranh đòi những quyền của mình.
Sự nổ lực giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, cũng như của đồng bào người Việt hải ngoại có tác dụng thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam, còn nếu người trong nước mà thờ ơ về việc quyền căn bản của mình bị chính quyền chà đạp thì những sự hổ trợ từ bên ngoài sẽ không có tác dụng mạnh mẽ được.”
Một cựu tù nhân chính trị khác và cũng là một nhà hoạt động tích cực hiện nay, luật sư Nguyễn Văn Đài, cũng có ý kiến về việc tự thân nổ lực trong công cuộc đấu tranh để thay đổi hiện trạng Việt Nam hiện nay:
“ Bất kỳ cuộc đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở quốc gia nào cũng vậy thôi, khi mình ở thế yếu luôn phải nhờ đến cộng đồng quốc tế. Trong khi đó chính phủ Hoa Kỳ là chính phủ quan tâm nhất đến tình trạng nhân quyền ở các nơi trên thế giới, chúng ta vẫn phải nhờ họ, vận động, kêu gọi họ ủng hộ cho chúng ta; nhưng chúng ta không đặt tất cả niềm tin hay hy vọng ở họ. Chúng ta muốn thay đổi triệt để đất nước của mình phải là chính nổ lực của mỗi người dân, của mỗi nhà hoạt động nhân quyền, mỗi nhà hoạt động xã hội dân sự tại Việt Nam. Chúng ta phải cố gắng giành quyền của mình, cũng như chúng ta xây dựng các tồ chức xã hội dân sự. Điều đó mới thay đổi được đất nước của mình.”
Tình trạng sách nhiễu, hành hung, bắt bớ và bỏ tù những người công khai lên tiếng đấu tranh cho các quyền căn bản của người dân tại Việt Nam cũng như công cuộc dân chủ hóa đất nước được những người trong cuộc cho biết vẫn diễn ra. Bản thân họ sẵn sàng chấp nhận hy sinh, mất mát; tuy nhiên họ luôn kêu gọi sự hỗ trợ thông qua việc lên tiếng từ các quốc gia, các tổ chức quốc tế yêu cầu chính quyền Hà Nội thực thi những điều đã ký kết với thế giới. Ngoài ra những người công khai đấu tranh cũng mong mỏi ngày càng nhiều dân chúng trong nước ý thức được quyền căn bản của con người và cùng lên tiếng đòi hỏi.
‘Diễu binh,’ chuyện như ‘diễu!’
‘Diễu binh,’ chuyện như ‘diễu!’
Nguoi-viet.com
Tạp ghi Huy Phương
Trước kia ở miền Nam, chúng ta chỉ nghe nói duyệt binh, diễn binh mà không nghe nói đến tiếng “diễu binh,” “diễu hành.”
Trong thời đại này, chúng ta phải hiểu “diễu binh” như thế nào? Mới đây nhân cuộc diễu binh ngày 2 Tháng Chín tại Hà Nội, có ký giả cắc cớ hỏi Trung Tướng Võ Văn Tuấn, phó tổng tham mưu trưởng quân đội, cũng là tổng chỉ huy cuộc diễu binh này, vì sao chúng ta “diễu binh” mà không diễn binh. Sau đây là câu trả lời:
“Duyệt binh là có vũ khí trang bị đi theo, như tên lửa, máy bay, xe tăng, đạn pháo… còn diễu binh chỉ có người diễu hành. Tạm thời, nhà nước đang sử dụng ‘diễu binh’ – tức là chỉ có con người mà không có vũ khí tham gia. Có nhiều nguyên nhân chúng ta tổ chức diễu binh chứ không phải duyệt binh, trong đó có việc tiết kiệm.”
Về mặt mày, thì ông Tuấn này “sáng sủa” hơn cả ông Lê Đức Anh và ông Phùng Quang Thanh nhiều, nhưng lối giải thích của ông này lại quá “tối tăm.”

Cô Phạm Trúc Sơn Quỳnh. (Hình: Facebook Phạm Trúc Sơn Quỳnh)
Như vậy, theo ông này “diễu binh” là chỉ có người, không có vũ khí kèm theo như xe tăng, đại pháo, hỏa tiễn! Nhưng trong lúc đó, báo chí, truyền hình Việt Nam đều loan tin hai cuộc “diễu binh” lớn của Nga ngày 5 Tháng Chín tại Moscow và của Trung Cộng ngày 3 Tháng Chín ở Bắc Kinh. Trong hai cuộc diễu binh này Nga va Trung Cộng đều phô trương các vũ khí hiện đại như phi cơ, hỏa tiễn tối tân nhất do chính các nước này sản xuất. Như vậy nói vì tiết kiệm mà Việt Nam chỉ có “diễu binh” mà không diễn binh là coi thường người đặt câu hỏi và khinh thường sự hiểu biết của quần chúng.
Trong tình thế này chính phủ CSVN không diễn binh mà chỉ “diễu binh” (không có vũ khí như lời ông Võ Văn Tuấn) chẳng qua là vì, không lẽ trong khi Tàu và Nga đang diễu võ dương oai, biểu dương vũ khí hiện đại do họ sản xuất, thì “bộ đội cụ Hồ” không lẽ đem AK47, B40, B41, pháo 130 ly, hỏa tiễn Sam, Stinger, giàn hỏa tiễn Kachiusa, Mig 15, xe tăng T54 thời “ta đánh là đánh (thuê) cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” ra để hù thiên hạ!
Ông Võ Văn Tuấn cũng chưa phân biệt được “duyệt binh” và diễn hay “diễu binh.”
Sau nghi lễ khai mạc, trước khi cuộc diễn binh hay “diễu binh” bắt đầu, vị nguyên thủ quốc gia lên xe mui trần cùng với chỉ huy của lễ diễn binh, đi “duyệt” hàng quân trong tư thế nghiêm và bắt súng chào. Sau khi vị nguyên thủ quốc gia trở về khán đài, cuộc diễn binh (hay diễu binh) mới bắt đầu và lần lượt các đơn vị tiến qua khán đài, được quan khách trên khán dài danh dự và dân chúng hai bên đường vỗ tay hoan hô.
Điều này chúng ta đã thấy qua các hình ảnh “duyệt binh” của VNCH với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, và tại Bắc Kinh Tháng Năm, 2012 với Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào.
Khi ký giả hỏi về việc tại sao lại bắn 21 phát đại bác trong ngày Quốc Khánh mùng 2 Tháng Chín mà không phải con số khác, ông Võ Văn Tuấn cho rằng, “Đến bây giờ chưa có ở đâu lý giải được vì sao lại bắn 21 loạt đại bác nhưng có thể liên quan đến ý nghĩa một tuần nhân với 3. Giống như tượng Oscar khi người ta làm ra thì tình cờ giống ông chú tên Oscar của những người làm (!)”
Thật là khó hiểu khi ông tướng này so sánh “khập khễnh” 21 phát đại bác với với chuyện tượng Oscar. Nếu ông chịu khó vào Wikipedia mà tìm thì đâu đến nỗi!
Về chuyện cô gái xinh đẹp dẫn đầu cho khối Quân Y là Phạm Trúc Sơn Quỳnh, “nữ sĩ quan xinh đẹp khối trưởng khối diễu binh quân y, làm sốt cộng đồng mạng bởi khuôn mặt xinh xắn, tác phong mạnh mẽ, dứt khoát, các động tác điều lệnh chuẩn mực,” thì dư luận cho rằng được mượn từ bên Đại Học Thương Mại, và được mang cấp bậc trung tá (hai vạch, hai sao). Bộ Quốc Phòng khẳng định cô là quân nhân chuyên nghiệp mang cấp bậc thiếu úy, chứ không phải đi mượn về. Về cấp bậc trung tá đeo mang trên ngực cô, theo Trung Tướng Tuấn, cô là người đi đầu khối nên phải mang cấp bậc theo quy định thống nhất về cấp chỉ huy khi “diễu binh.”
Vào YouTube xem “diễu binh,” chúng ta thấy thêm một điều nữa là tất cả lính tráng trong hàng quân đều mang một loại huy chương và số lượng huy chương giống nhau, mỗi người ba cái. Quân đội thì có người già, người trẻ, có người có chiến công, nhưng cũng có người vô tích sự, vì sao phải dối trá đồng loạt như vậy, ông Tuấn có cho đây là “nguyên tắc diễu binh” không? Bốn mươi năm ngồi không, mà bây giờ có anh lính mặt non choẹt mang cấp tá và huy chương đầy ngực.
Theo kiểu nói bình dân Nam Bộ ngày trước, đây là “lon Lèo!” và “huy chương Lèo!” hay là đồ hàng mã, giả dối, lừa người!

Cùng mang huy chương giống nhau. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)
Như vậy, cô Sơn Quỳnh được dẫn đầu khối quân y, mang cấp bậc trung tá chỉ vì cô trẻ, đẹp, và có lẽ sĩ quan cấp bậc lớn nhất trong khối này già và xấu, quá gầy hay quá mập nên đã bị “cách ly” không cho tham dự “diễu binh” như bọn cai tù vẫn thường giấu những anh tù “cải tạo” ốm đói bệnh tật mỗi khi có phái đoàn cấp trên hay báo chí đến thăm viếng trại tù. Theo tôi, Sơn Quỳnh có khuôn mặt khá bụ bẫm, nhưng nhan sắc cũng thuộc loại tầm tầm, nếu vị chỉ huy lễ “diễu binh” cần đến những cô trẻ, đẹp để dẫn đầu khối cho đẹp mặt chính phủ và đảng, tôi xin giới thiệu với ông, ngay đất Hà Nội, thiếu gì diễn viên, người mẫu, sinh viên chân dài, hiện nay đang làm nghề nằm, nên dựng mấy cô dậy mà cho đi “diễu hành” là đẹp nhất!
Câu chuyện dối trá này làm chúng ta liên tưởng đến câu chuyện của Thế Vận Hội Olympic Bắc Kinh năm 2008. Trung Cộng đưa một cô bé xinh đẹp tên là Lâm Diệu Khả, 9 tuổi, trình diễn ca khúc “Ngợi ca tổ quốc” tại lễ khai mạc, thực ra chỉ hát nhép môi và diễn thay cho giọng của ca sĩ thực là Dương Bái Nghi, 7 tuổi. Ca sĩ trẻ tuổi này không được xuất hiện vì nhan sắc và dáng dấp không bằng Lâm Diệu Khả.
Sự dối trá “vĩ đại” này được Trung Cộng ngụy biện rằng họ quyết định dùng em Lâm vì ”chúng ta phải đặt lợi ích của đất nước lên trước!”
Màn trình diễn pháo bông tại đêm khai mạc cũng là giả tạo, vì được ghép nối thêm trước khi chiếu trên TV cho cả thế giới xem. Ban tổ chức cũng giải thích “làm điều đó để tạo thuận lợi và ấn tượng ngoạn mục cho các đài truyền hình!”
Vậy thì sự thật và sự lương thiện không hề được “cha con nhà nó” tôn trọng.
Việt Nam khoe, một nhà báo Úc đã viết: “Gộp hết tất cả lễ hội lớn của Úc, các cuộc diễu hành, từ lễ hội Mardi Gras ở đường Oxford cho tới lễ hội Moomba ở Melbourne, cộng lại tất cả những đám đông đã đến dự Thế Vận Hội Sydney, hay những trận đấu bóng đá, cũng không bằng sự kiện 2 Tháng Chín ở Việt Nam.”
Úc thua Việt Nam là phải, nên chi dân Việt giờ này mà còn đóng tàu vượt biển sang Úc. Có gì đâu mà hãnh diện! Kiểu nhà nghèo, con nợ thiên hạ mà đòi chơi bảnh!
Mới đây, World Bank công bố Việt Nam nợ nần lên đến $110 tỷ và chỉ riêng khoản chi trả tiền lời đã lên đến 7.2% tổng chi ngân sách nhà nước.
Blogger Tạ Phong Tần được trả tự do và trên đường tới Mỹ
Blogger Tạ Phong Tần được trả tự do và trên đường tới Mỹ
Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-09-19
Blogger Tạ Phong Tần được trả tự do và trên đường tới Mỹ

Blogger Tạ Phong Tần tại phiên sơ thẩm sáng 24/9/2012 tại Tòa án Nhân dân TPHCM
Photo by Nguyễn Lân Thắng
Your browser does not support the audio element.
Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần được thả trước thời hạn và trên đường tới Mỹ.
Theo nguồn tin đã được kiểm chứng mà chúng tôi có được cho biết bà Tạ Phong Tần đã rời nhà tù và lên phi cơ trên đường đến Hoa Kỳ. Sau khi ghé Taipei tối nay vào lúc 11 giờ 30 bà Tần sẽ tiếp tục bay đến phi trường Los Angeles bằng chuyến bay China Air 8 và sẽ đáp xuống phi trường LAX vào lúc 8 giờ 35 tối giờ California.
Đi cùng với bà Tạ Phong Tần là tham tán chính trị của Hoa Kỳ ông David Muehlke.
Bà Tạ Phong Tần là người thứ ba được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ can thiệp và trả tự do ngay tại nơi giam giữ. Người đầu tiên là TS Luật Cù Huy Hà Vũ được thả vào ngày 7 tháng 4 năm 2014. Ba tháng sau người thứ hai là blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải được thả và tới Mỹ vào ngày 21 tháng 10 năm 2014.
Bà Tạ Phong Tần từng là một sĩ quan công an. Bà bị bắt về tội tuyên truyền chống nhà nước với bản án 10 năm tù giam. Bà là thành viên sáng lập Câu Lạc Bộ Nhà báo tự do cùng với blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải.
Sáng ngày 30 tháng Bảy năm 2012, bà Đặng Thị Kim Liêng, mẹ của Tạ Phong Tân, đã tự thiêu bên ngoài Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu để phản đối việc bắt giữ con gái bà. Bà Liêng chết vì các vết bỏng quá nặng trên đường đến bệnh viện.
Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và loan tin ngay sau khi bà đặt chân tới Mỹ.
Luật Báo chí sửa đổi chưa công nhận báo chí tư nhân
Luật Báo chí sửa đổi chưa công nhận báo chí tư nhân

Việt Nam nói cần sửa đổi Luật báo chí hiện hành sau 16 năm áp dụng, nhưng vẫn không cho phép có báo chí tư nhân.
18.09.2015
Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam nhất trí với hầu hết nội dung của Luật Báo chí sửa đổi vừa được Bộ Thông tin Truyền thông trình lên ngày 17/9, theo thông tấn xã Bernama dẫn nguồn từ truyền thông trong nước.
Luật sửa đổi bao gồm 6 chương, 60 điều khoản. Trong số này có 31 điều mới và 29 điều sửa đổi – bổ sung nhằm phù hợp với thực tiễn mới, thi hành Hiến pháp năm 2013, bản hiến pháp mà Việt Nam nói là nêu bật cam kết của nhà nước trong việc bảo vệ quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do thông tin của người dân.
Báo Thể thao Văn hóa dẫn lời Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son phát biểu tại cuộc họp hôm thứ Năm rằng: “Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người, được thể hiện trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị của Liên Hiệp Quốc. Quyền tự do báo chí được hiểu là việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của con người thông qua báo chí. Báo chí có vai trò là phương tiện để mọi công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình”.
Giới chức Việt Nam cho hay trong số các chủ điểm mới của Dự thảo luật so với Luật hiện hành có việc bổ sung thêm 1 chương quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí theo tinh thần Hiến pháp 2013.
Báo chí của chúng ta là phương tiện thông tin, công cụ truyền thông, vũ khí tư tưởng quan trọng đặc biệt. Đảng và Nhà nước phải nắm chắc công cụ này.
Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son.
Một cựu đảng viên từng công tác trong Ban an ninh Nội chính thành ủy, chuyên nghiên cứu an ninh trong đó có vấn đề an ninh tư tưởng – văn hóa nay là một nhà báo tự do được nhiều người biết đến, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, nhận xét về nét mới của luật sửa đổi:
“Chỉ có 2 nét . Có bổ sung 1 chương mới hoàn toàn liên quan đến quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trong báo chí. Một quan chức trong Ủy ban Thường vụ Quốc hội có ý kiến là cần phải ghép thêm cả quyền tự do ngôn luận vào Luật báo chí vì không thể tách rời tự do ngôn luận của nhà báo với công dân vì nhà báo cũng là công dân. Có vẻ như việc này nằm trong lộ trình cải cách khung luật pháp do Mỹ và một số Tây phương yêu cầu, và là một đề xuất của các quốc gia trong chương trình Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát UPR tại Thụy Sĩ vào tháng 2/2014 trong đó có gần 20 ý kiến của các quốc gia đề nghị Việt Nam phải cải cách luật báo chí theo hướng tự do, cởi mở. Đó là nét mới của Dự luật báo chí, nhưng có điều là vẫn không có một từ ‘tư nhân’ nào trong Dự luật báo chí này, nghĩa là Việt Nam vẫn chưa chấp nhận cho tư nhân được phép ra báo chí”.
Việt Nam trong nhiều năm nay liên tiếp bị cộng đồng quốc tế và các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới liệt kê vào danh sách các nước vi phạm tự do ngôn luận, không có tự do báo chí, với nền báo chí hoàn toàn đặt dưới sự kiểm soát của nhà nước.
Việt Nam nói Luật báo chí hiện hành sau 16 năm áp dụng cần sửa đổi vì những thay đổi thực tiễn của truyền thông mới và các hoạt động báo chí ngày nay.
Tuy nhiên, theo luật sửa đổi, báo chí vẫn chịu sự quản lý chặt chẽ của đảng Cộng sản cầm quyền, không có báo chí tư nhân.
Truyền thông nhà nước dẫn lời Bộ trưởng Thông tin Truyền thông khẳng định ‘Báo chí của chúng ta là phương tiện thông tin, công cụ truyền thông, vũ khí tư tưởng quan trọng đặc biệt. Đảng và Nhà nước phải nắm chắc công cụ này’.
Ông Son nói thêm rằng ‘Phải quán triệt báo chí của chúng ta là báo chí cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng, quản lý của nhà nước’.
Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, một trong những tổ chức xã hội dân sự mới thành lập cổ súy cho quyền tự do báo chí trong nước, cho rằng dù chưa công nhận báo chí tư nhân, nhưng luật báo chí sửa đổi phần nào cũng mang lại tia hy vọng về một bước chuyển đổi tích cực hơn cho nền tự do báo chí tại Việt Nam.
Bây giờ có thể bắt đầu cải cách sửa khung luật về tự do báo chí, đôi nét mở cửa một chút cho tự do báo chí nhà nước nhưng chưa đề cập tới báo chí tư nhân, càng chưa đề cập đến mạng xã hội vốn bị coi là nhạy cảm, nguy hiểm chính trị. Nhưng có thể sau đại hội 12, với tỷ lệ những gương mặt ‘kỹ trị’, có thể cởi mở hơn một chút về mặt chính trị trong Bộ Chính trị, thì xã hội có thể hy vọng những gương mặt đó có thể chấp nhận nhiều hơn nữa dân chủ hóa, nhiều hơn nữa tính tự do trong báo chí.
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng.
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng dự đoán:
“Có một chút hy vọng cho tự do dân chủ tại Việt Nam, đặc biệt là tự do ngôn luận trong báo chí. Trước 2011 ở Miến Điện không thể nói tới báo chí tư nhân, nhưng tới 2013 không thể tưởng tượng là Tổng thống Then Sein đã cho ra luật tự do báo chí và cho phép báo chí tư nhân hoạt động. Ở Việt Nam, tôi cho là cũng đang diễn tiến theo một lộ trình chậm. Bây giờ có thể bắt đầu cải cách sửa khung luật về tự do báo chí, đôi nét mở cửa một chút cho tự do báo chí nhà nước nhưng chưa đề cập tới báo chí tư nhân, càng chưa đề cập đến mạng xã hội vốn bị coi là nhạy cảm, nguy hiểm chính trị. Nhưng có thể sau đại hội 12, với tỷ lệ những gương mặt ‘kỹ trị’, có thể cởi mở hơn một chút về mặt chính trị trong Bộ Chính trị, thì xã hội có thể hy vọng những gương mặt đó có thể chấp nhận nhiều hơn nữa dân chủ hóa, nhiều hơn nữa tính tự do trong báo chí. Biết đâu theo lộ trình, cùng với đà nhà nước cần chấp nhận mô hình công đoàn độc lập, có thể cuối năm 2016 vừa triển khai từng bước cho công đoàn được độc lập tại Việt Nam và đồng thời cũng có thể bắt đầu chấp nhận từng phần tư nhân hóa báo chí ở Việt Nam”.
Cựu cán bộ của Ban an ninh Nội chính thành ủy nói báo chí tư nhân đã xuất hiện tại Việt Nam từ cuối những năm 90 tới nay vẫn chưa được nhà nước công nhận, nhưng ông tin rằng không bao lâu nữa loại hình này sẽ được ‘chính thức’:
Nhà báo Phạm Chí Dũng:
“Báo chí tư nhân tại Việt Nam là một quy luật, không thể chống lại được. Tôi tin rằng chưa tới 3, 4 năm nữa báo chí tư nhân sẽ xuất hiện một cách chính thức ở Việt Nam”.
Việt Nam hiện đứng thứ 175/180 quốc gia trong bảng xếp hạng về tự do báo chí do tổ chức Phóng viên Không biên giới RSF thực hiện, sụt một hạng so với bảng đánh giá năm ngoái. Các lãnh đạo hàng đầu Việt Nam cũng có tên trong danh sách của RSF về ‘Kẻ thù của Internet’ và ‘Đe dọa ký giả’.
Lời ru mộ gió

Trong những câu chuyện về biển, mộ gió là một trong những điều khi nói đến, bất kỳ ai cũng cảm nhận được sự bi ai của kiếp người. Mộ gió là nơi gọi hồn trở về đại dương mênh mông sau khi người đi biển đã đặt cược đời mình với biển cả.
Từ đời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1563 -1635 ), cùng với lời khuyên của học giả Đào Duy Từ (1572-1634), biển được lưu tâm là nơi đánh dấu bờ cõi Việt Nam, nhưng cũng là nơi mà những người lính – ngư dân đầu tiên đi mà không hẹn ngày về. Mộ gió có từ đó. Những ngày Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa cũng là những ngày mà người ta vẽ lại hình người bằng đất sét, thương nhớ thịt xương đã nằm sâu dưới đáy biển hay trong bụng cá. Lúc đó, kẻ thù của ngư dân chỉ là bọn cướp vặt hoặc là thời tiết chứ chưa đầy hiểm nguy như hôm nay, bởi những chiếc tàu Trung Quốc dữ tợn vượt hơn tất cả.
Mộ gió hôm nay, lại nhiều hơn bao giờ hết. Nhìn những nắm đất xếp cạnh nhau trãi dài trên bờ cát mới thấy thiên nhiên không thể khốc liệt bằng con người. Con người không có bão táp không tay như sẳn sàng nhấn chìm đồng loại của mình, sẳn sàng tàn phá mọi thứ không phải vì quá nghèo khó, không phải vì thù hận, mà chỉ điên cuồng vì thách thức và cưỡng đoạt. Những ngôi mộ gió giờ không còn lính, chỉ những người đàn ông hiền lành đi biển, mong kiếm thêm bữa cơm cho gia đình mình. Những ngôi mộ gió đó uất nghẹn và bàng hoàng không hiểu vì sao mình lại ở đây.
“Giờ thì ít ai dám đi biển xa. Cách bờ biển mình chừng 12 hải lý tàu cá Trung Quốc nó đậu dày đặc. Mà không biết nó có phải là tàu cá chi không vì cần thì tụi nó rút súng bắn đùng đùng như cơm bữa”, một người dân miền Trung kể với chúng tôi, những người ở thành phố vẫn ăn cá mà thật là thờ ơ, ít khi nào hình dung sự sống và cái chết chung quanh thuyền cá Việt hôm nay ra sao.
Trên bãi biển mà chúng tôi thấy, những chiếc tàu đánh cá vội vã trở về lúc bình minh ở bãi. Họ đi và canh cánh nỗi sợ hãi ngay trên mép biển của mình, sẳn sàng quay đầu chạy khi xa xa có bóng cờ của Trung Quốc láng giềng. Giờ thì lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc ban hành, ngư dân Việt Nam cũng thì thầm nhắc nhau vì không khéo, đó là những chuyến đi đầy mạo phạm không có ngày về. Tổ quốc trong lời thì thầm. Tổ quốc mộ gió.
Chuyện mộ gió hôm nay với ngư dân không chỉ là sự thương tiếc cho người ở lại biển, mà còn là sự cảnh báo: Biển không còn bình yên bởi con người và trò chơi chính trị. Biển bị bao vây trong những cái bắt tay và nụ cười hữu nghị cộng sản, trao về mộ gió.
Tôi gọi điện thoại cho một ngư dân ở Quảng Ngãi, khi nghe tin Việt Nam có nghị định mới (71/2015 ) về chuyện tàu hải quân Việt Nam được phép dùng vũ khí để truy đuổi những tàu nước ngoài xâm phạm lãnh hải. Người đi biển này im lặng một hồi rồi nói “liệu mọi thứ rồi sẽ tốt hơn không?”. Chuyến đi dọc miền Trung mới đây, tôi chợt nhận ra rằng người miền Trung trực tính, hay nói và dễ gần… như đã thay đổi. Họ hay nói lãng sang chuyện khác và né tránh về những câu chuyện biển mà họ đang sống chết với nó. Ở trên biển, họ lo sợ tàu Trung Quốc, nhưng ở trên bờ, họ ngại ngùng điều gì đó thật khó hiểu. Thậm chí, có người lỡ bộc bạch, đã canh cánh gọi vào 2, 3 lần chỉ để dặn rằng thôi đừng nhắc gì về những điều ông đã nói. Ngay cả trong đời sống, nỗi niềm của những ngư dân Việt cũng đã chôn vào mộ gió sao?
Thật võ đoán, nếu liên hệ chuyện tàu hải quân Việt Nam được dùng vũ khí với chuyện có đến 4 tàu cá của ngư dân Việt bất ngờ bị “tàu lạ” liên tục tấn công ở vùng biển Kiên Giang, kề với người bạn láng giềng tính tình khó đoán Campuchia. Nhưng chắc chắn phải có điều gì đó khiến các vụ tấn công dã man này hoàn toàn khác, so với những vụ cướp và tấn công vặt trước khi Việt Nam có tuyên bố mạnh hơn trên biển. Các “tàu lạ” này xông thẳng và nhắm bắn trực diện vào ngư dân. Anh Ngô Văn Sinh, 38 tuổi, người cha của một gia đình, người đứng lái tàu, đã bị những “kẻ lạ” biết nói tiếng Việt bắn thẳng vào mặt và chết ngay trên buồng lái. Kể từ khi Campuchia có vẻ gần hơn với Trung Quốc, biển Việt Nam ở phương nào cũng đầy nguy nan.
Mọi thứ dường như hiện rõ hơn, chứ không khó khăn để phỏng đoán. Cách thức của “kẻ lạ” tấn công ngư dân Việt chẳng khác gì tàu cá Trung Quốc áp sát bờ biển miền Trung. Ông Lê Thế Hưng, đại tá Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng nói rằng từ đầu năm đến nay, lượng tàu Trung Quốc tiến vào biển Việt Nam ngày càng có thái độ nguy hiểm. Ngoài chuyện đánh bắt, tàu Trung Quốc còn đưa máy móc vào thăm dò biển Việt Nam, uy hiếp, cướp tài sản của tàu cá Việt… Thậm chí tàu đánh bắt gần bờ hướng Hoàng Sa cũng bị tàu Trung Quốc rượt đuổi và cướp.
Kiên Giang không có mộ gió, vì lâu nay, nơi này chỉ là vùng làm ăn thanh bình của cực Nam nước Việt. Nhưng có lẽ đến lúc người dân đi biển ở đây nghĩ về mộ gió, thứ mà biển đã muốn giữ lại con người hiền lành chăm chỉ, chỉ trả lại gió – như cái kết buồn của những số phận vô danh và luôn yêu đất nước này.
Một người quen từng kể về câu chuyện bà mẹ hóa điên khi đứa con trai út đi biển, và không trở về. Bà hay ngồi trên mộ gió của con mình và hát như một bài hát ru vào vô tận. Giọng hát miền Trung à ơi mà tôi đã được nghe khi đi qua vùng đất này – liệu có đổi giọng thành những giọng hát miền Nam hay miền Bắc vào những ngày sắp tới? Những tiếng hát Việt Nam đau thắt trong vòng vây của tình hữu nghị.
Để ghi lại những gì mình thấy, tôi hỏi ông chủ nhà trọ rằng nơi đây có internet không. Ông ngớ người ra giây lát rồi nói “Dạ chụ, nơi đây không cọ internet, chỉ có wifi thôi”. Thật buồn cười và dễ thương. Người miền Trung vậy đó, hiền lành và chất phác với đời sống. Con cá không có tổ quốc, nhưng người đi biển biết mình thuộc về nơi nào. Họ không quá dũng cảm để chọn hy sinh nhưng ra khơi là bổn phận sinh tồn mà họ không thể làm khác.
Vì vậy, dù bên tai có văng vẳng tiếng hát ru Việt Nam của bà mẹ hoá điên trên mộ gió, ngư dân Việt lại vẫn im lặng giong buồm ra biển – như một cách để tự nhận thấy mình thật cô đơn, ngay trên chính tổ quốc của mình.
