Hiểm họa ở đồng bằng sông Cửu Long

Hiểm họa ở đồng bằng sông Cửu Long

Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Trong cuốn sách Cửu Long Cạn Dòng, Biển Ðông Dậy Sóng (nhà xuất bản Giấy Vụn, 2014), nhà nghiên cứu Ngô Thế Vinh đã báo động hai mối họa nước Việt Nam phải đối đầu. Chuyện Biển Ðông dậy sóng ai cũng biết nhờ tin tức thời sự mỗi ngày. Ít người Việt theo dõi mối họa thứ hai là “Cửu Long Cạn Dòng.”

Ký giả Navin Singh Khadka, chuyên trách các vấn đề môi trường sống của BBC mới viết một bài mới, báo động tình trạng đồng bằng sông Cửu Long nước ta đang gặp nạn; tai họa không những gây ra do các đập nước của Trung Quốc ở đầu nguồn sông Mekong mà còn vì hành động của chính người Việt Nam, trong lúc chính quyền hoặc làm ngơ không chú ý, hoặc bất lực không làm gì được.

Khi Cộng Sản Trung Quốc cho xây các đập thủy điện ngăn nước từ đầu nguồn sông Mekong, rồi các nước Lào, Thái Lan, Campuchia cũng đua theo, số lượng nước chảy xuống sông Cửu Long ở nước ta đã giảm bớt. Vì sức nước sông chảy yếu đi, nước biển đã dâng lên, tràn vào trong đất liền.

Hiện nay mỗi năm đồng bằng sông Cửu Long đã bị nước biển liếm mất 500 mẫu tây (năm cây số vuông). Theo Viện Khoa Học Thủy Lợi Miền Nam thì trong năm ngoái số ruộng lúa bị nước biển tràn và thấm vào còn rộng hơn nữa, mất 60 cây số vuông không thể trồng trọt. Theo các nghiên cứu khoa học của Ủy Ban Sông Cửu Long, một tổ chức của bốn nước Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia, với tốc độ nước biển xâm nhập hiện nay, tới cuối thế kỷ này vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ mất gần một nửa (40%) đất có thể trồng trọt, vì mực nước biển sẽ lên cao thêm cả thước.

Nhưng không cần phải đợi tới cuối thế kỷ đồng bào ta mới phải chịu tai họa. Ông Lê Anh Tuấn, thuộc Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu tại Ðại Học Cần Thơ, vì nước biển dâng lên, gần một nửa số dân sống trong vùng sông Cửu Long đang thiếu nước ngọt để sử dụng. Nước biển xâm lấn khiến những con đê ngăn nước mặn cũng hư không còn hiệu lực nữa. Tại vùng ven biển, nước mặn đã vào sâu thêm 60 cây số trong đất liền. Một số nhà vườn trồng xoài đã ngưng hoạt động, vì cây xoài chỉ sống được nếu nước mặn mỗi năm lên cao dưới 1.6 mili mét; mà hiện nay mức dâng cao đã gấp ba lần (5 mili mét). Nhiều nhà nông trồng lúa đã phải bỏ, quay sang nghề nuôi tôm. Theo nghiên cứu của Ủy Ban Sông Mekong, hiện nay số đất phù sa bồi đắp lên vùng châu thổ sông Mekong đã giảm bớt 85 triệu tấn so với năm 1992.

Ðầu mối tai họa này là chính sách khai thác điện lực và dẫn thủy nhập điền của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc. Sông Mekong, tại Trung Quốc mang tên là Lan Thương (Lancang, 澜沧) chảy qua Tây Tạng và các tỉnh Thanh Hải, Vân Nam, trước khi đổ xuống phía Nam. Theo tạp chí World Rivers Review của cơ quan Sông Quốc Tế (International Rivers, IR), thì vào năm 2014, Trung Cộng đã xây dựng bảy đập thủy điện lớn ở đầu nguồn sông Mekong thuộc nước Tàu, con sông phát nguyên từ Tây Tạng chảy xuống Biển Ðông nước ta. Họ sẽ xây thêm 21 đập ngăn nước lớn khác trong 10 năm tới. Các nước hạ nguồn cũng bắt chước xây các đập nước khác; với dự án xây 11 con đập nữa.

Việc xây đập ảnh hưởng trên đời sống của các dân tộc phía dưới nguồn sông. Vào mùa không mưa, dân chúng hai bên bờ sông ở Lào, Thái Lan, phải dùng nước sông để tưới ruộng vườn, nay số lượng nước bị giảm. Khí hậu hai bên bờ sông cũng thay đổi vì khối lượng nước trong con sông có tác dụng giúp nhiệt độ ôn hòa, ít lên xuống hơn. Vì nhiệt độ thay đổi, đời sống các giống cá trong lòng sông cũng bị ảnh hưởng. Nhưng tai họa lớn nhất là nước biển lấn dần vào đất liền thì chỉ dân Việt ở đồng bằng sông Cửu Long gánh chịu. Ðập Don Sahong đang xây ở Hạ Lào, nhằm cung cấp điện cho Lào và Thái Lan sẽ ảnh hưởng lớn trên đời sống dân Campuchia và miền Nam Việt Nam.

Trong cuốn sách biên khảo viết dưới hình thức vừa tiểu thuyết vừa ký sự, Cửu Long Cạn Dòng, Biển Ðông Dậy Sóng, Bác Sĩ Ngô Thế Vinh đã mô tả hành động của chính quyền Trung Quốc: “Vào Tháng Tư năm 2001, Trung Quốc đã ký một thỏa hiệp về thủy vận trên sông Cửu Long nhưng chỉ với 3 quốc gia Miến Ðiện, Thái và Lào với kế hoạch vét lòng sông, cả dùng cốt mìn chất nổ phá tung những khối đá trên các đoạn ghềnh thác, các đảo nhỏ trên sông để khai thông mở rộng đường sông cho tàu lớn trọng tải từ 500-700 tấn có thể di chuyển từ cảng Tư Mao xuống Chiang Khong Chiang Sean Bắc Thái xuống thẳng tới Vạn Tượng. Trong khi Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia cuối nguồn, trực tiếp chịu ảnh hưởng của kế hoạch ấy thì bị gạt ra ngoài.”

Sau các tai nạn do các đập nước gây ra, mối họa thứ hai là các công trường khai thác cát. Mỗi năm hàng triệu mét khối cát được đào đem đi trong vùng hạ nguyên sông Cửu Long; nhiều nhất là ở Campuchia và Việt Nam. Quỹ Thế Giới Bảo Vệ Thiên Nhiên (World Wide Fund for Nature, WWF) cho biết riêng tại đồng bằng sông Cửu Long nước ta có 150 công trường đào lấy cát, trải ra trong 13 tỉnh, tổng cộng rộng 80 cây số vuông. Các công trường cát này đã được nhà nước cấp giấy phép. Trong năm năm nữa, các công trình xây cất sẽ cần đến một tỷ mét khối cát; làm giảm bớt số ruộng đất trồng trọt.

Các tổ chức bảo vệ môi trường đã báo động và cảnh cáo chính quyền Việt Nam về tai hại của việc cho phép các công trường đào cát hoạt động mà không nghiên cứu các ảnh hưởng sâu xa. Chính quyền biết các mối tai hại đó những không làm gì cả. Khi được lệnh từ cấp trên, các địa phương từ chối thi hành vì lý do không thể bồi thường thiệt hại cho các công ty đã cấp giấy phép. Trong vấn đề này chưa có luật lệ nào bảo vệ môi trường sống của mấy chục triệu người dân. Mà khi luật lệ không đầy đủ, không rõ ràng thì người ta càng có thêm cơ hội tham nhũng!

Ngoài nạn lấy cát không có kế hoạch toàn bộ, chính quyền còn đang thực hiện những công trình “vét bùn” nới rộng lòng sông ở các khúc chi lưu nhỏ, thay đổi đời sống dân hai bên bờ. Nhiều con sông phụ sâu dưới 5 mét không cho phép các tàu thủy lớn qua lại. Việc vét bùn sẽ mở rộng đường giao thông nhưng không có kế hoạch củng cố bờ sông cho vững chắc hơn; một hậu quả là sóng lớn xô vào làm bờ sông bị lở và đất ruộng bị thu hẹp.

Hiểm họa của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long còn tiếp diễn, vì một mặt, chính quyền Việt Nam không dám phản đối Trung Cộng trong việc xây dựng các đập thủy điện bất chấp ảnh hưởng tới các nước phía dưới, mặt khác vì chính quyền tham lam ăn hối lộ không quan tâm nghiên cứu và kiểm soát việc khai thác cát trong vùng sông chảy qua.

Chỉ khi nào Việt Nam có một chính quyền không lệ thuộc Cộng Sản Trung Quốc, nước ta mới có tiếng nói mạnh mẽ để cùng các nước trong vùng sông Mekong ngăn chặn việc Trung Cộng xây đập nước mà không tham khảo ý kiến các nước lân cận.

Chỉ khi nào Việt Nam có một guồng máy nhà nước do người dân bỏ phiếu bầu, biết lo cho dân thay vì chỉ lo tranh giành chức vụ để mưu lợi cho bản thân và gia đình thì đồng bào sống trong vùng đồng bằng sông Cửu Long mới thoát khỏi mối hiểm họa đang đe dọa.

Đảng, Nhà Nước & Nhà Ngoại Cảm

Đảng, Nhà Nước & Nhà Ngoại Cảm

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Đất nước những năm thật buồn
Nửa đêm ngồi dậy hút thuốc vặt
Lần mò trên trang mạng tìm một tin lành
Như kẻ khát nước qua sa mạc

Nguyễn Khoa Điềm

Tuy không biết làm thơ nhưng tôi cũng có tật xấu (“Nửa đêm ngồi dậy hút thuốc vặt. Lần mò trên trang mạng tìm một tin lành”) y như cái ông thi sĩ vậy. Đất nước, chả may, lại chỉ toàn tin buồn và tin dữ. Tuổi Trẻ Online, số ra ngày 16 tháng 10 năm 2015, cho hay:

“TAND tỉnh Quảng Trị tiếp tục thẩm vấn các bị cáo trong đường dây lừa đảo tìm hài cốt liệt sĩ do Nguyễn Văn Thúy (tức ‘cậu Thủy’) cầm đầu.

Sau khi nghị án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã công bố … ‘cậu Thủy’ Nguyễn Văn Thúy phải chấp hành hình phạt chung là tù chung thân cho hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và xâm phạm mồ mả hài cốt.

Mẫn Thị Duyên (vợ Thúy) 25 năm tù, Mẫn Đức Phương (em vợ Thúy) 18 năm tù, Nguyễn Anh Chiều 5 năm tù, Nguyễn Trường Sơn 15 năm tù cùng về hai tội lừa đảo và xâm phạm mồ mả hài cốt. Nguyễn Văn Hoành 23 năm tù về 3 tội lừa đảo, xâm phạm mồ mả hài cốt và trộm cắp tài sản.”

Ở Việt Nam việc “xâm phạm mồ mả hài cốt” vẫn xẩy ra thường xuyên (ở khắp mọi nơi) nhưng chưa bao giờ bị coi là phạm pháp cả – theo như lời của một nhà văn:

“Sáng hôm ấy, con gái và con trai, cuốc và xẻng, thuổng và bàn vét, ngổn ngang ồ ạt xông ra đồng. Hai cánh đồng Ruộng Quan và Cồn Rộng nhiều mồ nhất, phải mở hai mũi quân mạnh nhất xung phong vào hai cứ điểm này.

Không biết từ bao giờ ông cha mình chọn nơi đây làm nghĩa địa cho người nghèo. Hầu hết những nhà giàu có, người ta táng vào thửa ruộng riêng, ngôi mộ to hơn và thế đất thịnh vượng hơn. Chỉ có nhà nghèo, hiếm ruộng hoặc không có ruộng, mới táng nhờ vào mảnh đất công này…

Vốn lúc đầu đám thanh niên cũng còn giữ được lễ nghĩa: mỗi bộ hài cốt để riêng một nơi. Nhưng mộ nhiều quá, nếu cứ cẩn thận như vậy, tiến trình chiến dịch sẽ kéo dài, họ xô bồ đào xới và xô bồ bốc tất cả hài cốt vào một tấm ni lông. Hàng chục cái sọ dừa, hàng chục cái xương tay xương chân, hàng chục bộ răng đổ ào vào một đống.

Mọi người thở dài, bó tay, đành chịu vậy. Thời buổi thế thì phải chịu thế, chứ biết làm sao.”  (Võ Văn Trực. Chuyện Làng Ngày Ấy. California: Tạp Chí Văn Học, 2006).

Đây không phải là “chuyện làng ngày ấy” của riêng địa phương nào mà là chính sách xuyên suốt, từ gần ¾ thế kỷ qua, của chính quyền cách mạng. Ông Nguyễn Văn Thúy và đồng sự (dám) là những người đầu tiên bị xử án tù, vì tội “xâm phạm hài cốt”, trong chế độ hiện hành.

Trước khi tiếp chuyện “đường dây lừa đảo tìm hài cốt liệt sĩ,” tưởng cũng nên nói qua – đôi điều – về cách lường gạt (hay cưỡng ép) khiến hàng triệu lương dân “phải” trở thành liệt sĩ, ở miền Bắc Việt Nam. Họ bị tuyên truyền, nhồi nhét về những kẻ thù “mang đầu ác thú,” và một “cuộc chiến tranh xâm lược” nên không ít người đã hăng hái lên đường tòng quân (giải phóng quê hương) rồi trở thành … liệt sĩ.  Phần còn lại thì không có cách lựa chọn nào khác – theo như lời của một nhân vật trong cuộc, nhà báo Bùi Tín:

“Tôi từng tham dự nhiều buổi tiễn đưa một số đơn vị vào Nam, khi qua binh trạm cuối ‘làng HO’ thuộc đất Vĩnh Linh là anh em vĩnh biệt miền Bắc trong cảnh tượng xé lòng mà vẫn phải làm ra vẻ bình thản. Ai nấy đều giống nhau, hiểu nhau, cùng nhau đóng kịch.

Lúc ấy không còn đường rút lui. Cứ như qua cầu bắc ngang sông là cầu bị cắt. Đã có một số anh em mất tinh thần, liều mạng, muốn quay lui, vào tù cũng được, nhưng không sao lọt.

Vì trách nhiệm của các chính ủy đoàn, các chính trị viên, của các chi bộ là ngăn chặn hiện tượng ‘B tụt’, ‘B tạt’, ‘B quay’, nghĩa là tìm cách lẩn vào rừng, tụt lại sau, tạt ra các bản người dân tộc, rồi tìm cách quay về nhà. Rất ít ai thoát được.”

Ông Nguyễn Văn Thúy và những người đồng vụ sẽ không có cơ hội lường gạt bất cứ ai, nếu nhà nước V.N có quan tâm đôi chút đến những người đã bỏ mạng (nhưng không tìm được xác) trong cuộc chiến vừa qua. Tuy không phải là nhà ngoại cảm nhưng nhạc sĩ  Trịnh Công Sơn đã tiên cảm (gần đúng) về sự vô tâm này: “Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, mẹ già lên núi tìm xuơng con mình…’’

Sở dĩ nói là “gần đúng” thôi vì cuộc chiến kéo dài quá lâu nên đến khi tàn thì cũng không còn được bao nhiêu bà mẹ (sống sót) để “lên núi tìm xuơng con mình’’ nữa. Việc đào bới hài cốt (tuy thế) vẫn được tiếp tục bởi anh chị em, hay bạn đồng đội của những người đã khuất –  như tuờng thuật của nhà báo Rajiv Chandrasekaran trên The Washington Post: “Vietnamese Families Seek Their MIAs; Few Resources Available In Search for Thousands.”

Bài báo mở đầu bằng một câu chuyện thương tâm. Ông Nguyễn Dinh Duy tử trận ngày 29 tháng 3 năm 1975. Suốt mấy muơi năm qua, chị của ông ta (bà Thắm) vẫn không ngừng đi tìm kiếm xác em trong… vô vọng. Ông Duy chỉ là một trong 300.000 lính Bắc Việt chết trận mất xác – và kể như là mất luôn (Duy is one of about 300,000 North Vietnamese soldiers killed in the war whose remains have not been located – and likely never will be).

Tiếp theo là một câu chuyện cảm động về tình đồng đội: “Mỗi tuần một lần, ông Ban thức dậy lúc 5 giờ sáng, leo lên chiếc xe gắn máy màu xanh lá cây đã cũ, đi đến những nơi mà ông còn nhớ khi còn là một y tá trong quân đội. Trí nhớ của ông quả tốt; mười năm qua, ông tuyên bố, đã đào được 2.000 xác chết và đã nhận diện được một nửa trong số này…’’ Vẫn theo lời ông Ban: “Là kẻ sống sót, tôi tự thấy mình phải có bổn phận với những nguời đã chết (Being still alive, I feel responsible for the dead people).

Quan niệm tử tế của ông Ban, tiếc thay, không được chia sẻ bởi những người hiện đang nắm quyền bính ở Việt Nam – dù họ đều là những kẻ sống sót, và được hưởng mọi thứ quyền lợi, sau cuộc chiến. Khi bị chất vấn về thái độ vô trách nhiệm này, một giới chức có thẩm quyền của Hà Nội, ông tướng Dang (nào đó) đã giải thích như sau: “…tìm kiếm những binh sĩ quá tốn kém mà tiền thì phải dùng vào việc chăm lo cho cho những kẻ còn sống sót.’’ (Dang said the cost of searching for missing soldiers must be weighed against the need to care for the survivors of the war).

Thực sự thì những kẻ sống sót chả được “chăm lo” gì ráo. Có chăng thì cũng chỉ là những loạt pháo hoa hào phóng (“rực sáng bầu trời”) vào những dịp kỷ niệm chiến thắng mà thôi.

Sự vô tâm (hay vô ơn) của Nhà Nước VN đã tạo điều kiện để phát sinh ra … những nhà ngoại cảm, và thái độ “đồng cảm” của mọi giới quan chức của đất nước – cùng những cơ quan truyền thông – đã biến xứ sở này trở thành một nơi lý tưởng để …lên đồng:

  • Ngày 7 tháng 11 năm 2011, bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Bộ Trưởng Bộ Thương Binh & Xã Hội, đã ký quyết định tặng bằng khen cho 38 nhà ngoại cảm “có nhiều đóng góp trong công tác tìm kiếm qui tập hài cốt liệt sỹ.”
  • Ngày 30 tháng 9 năm 2013, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết Định (1237) phê duyệt “Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo…”
  • Ngày 4 tháng 11 năm 2013, tại Trụ sở Bộ Quốc phòng đã diễn ra Hội nghị Ban Chỉ đạo Quốc gia về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Tới dự và chỉ đạo Hội nghị có đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng ban Chỉ đạo Quốc gia tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.
  • Ảnh:btv
  • Ngày 6 tháng 11 năm 2013, Liên Hội Các Hội Khoa Học & Kỹ Thuật Việt Nam đã tổ chức Hội Thảo Khoa Học Việc Tìm Kiếm Hài Cốt Liệt Sỹ Bằng Khả Năng Đặc Biệt …
  • Sách vở liên quan đến những  “phương cách tìm mộ liệt sĩ bằng khả năng đặc biệt” của các nhà ngoại cảm được Viện Khoa Học Hình Sự – Bộ Công An, Liên Hiệp Khoa Học Công Nghệ UIA – VUSTA, Trung Tâm Bảo Trợ Văn Hoá Kỹ Thuật Truyền Thống liên kết bảo trợ và xuất bản…
  • Cả nước đều “nhập đồng” hết ráo nhưng đến khi “đồng off” thì chỉ còn trơ trọi vài mạng bị kết án tù thôi. Ông Nguyễn Văn Thúy (và những bạn đồng sự) bị kết án quá nặng chỉ vì họ là nạn nhân của một thời đại nhiễu nhương nên phải gánh tội thay cho mọi người, kể luôn cái ông Thủ Tướng.

Không có cái gì người ta không ăn cắp!

Không có cái gì người ta không ăn cắp!

Song Chi.

VOA

Lâu nay các nhà báo, nhà văn, nhà giáo, nhà xã hội học và cả chính người dân đã lên tiếng cảnh báo khá nhiều về “căn bệnh” vô cảm trong xã hội VN và những hệ quả của nó. Nhưng có những “căn bệnh” trầm kha khác nữa mà sau mấy chục năm sống trong một thể chế chính trị độc tài, lạc hậu và một nền văn hóa, giáo dục ngu dân, chỉ biết chạy theo thành tích như ở VN đã tạo nên; ví dụ như “bệnh” coi trọng hình thức, coi trọng những giá trị ảo, sự độc ác, không tử tế ngày càng lấn lướt, lan tràn trong lúc tính thiện, sự tử tế ngày cảng hiếm hoi…Và nhất là sự thiếu vắng lòng trung thực, thiếu vắng lòng tự trọng.
Nếu như “căn bệnh” vô cảm đã trở nên quá đỗi bình thường, phổ biến trong xã hội từ quan chức, chính khách cho tới người dân thường thì sự sự thiếu vắng lòng trung thực, lòng tự trọng cũng không khá gì hơn.
Một trong những biểu hiện của “căn bệnh” này là thói ăn cắp. Thói quen ăn cắp diễn ra hầu như ở khắp mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực, mọi tầng lớp trong xã hội.
Ăn cắp nhiều có thể lên tới hàng trăm ngàn, hàng triệu USD như các quan to quan nhỏ, mỗi khi đặt bút ký tên dưới một dự án, một hợp đồng nào đó là kê khống, nâng giá thành các hạng mục lên, làm ảo thuật các con số để ăn bớt, “rút ruột” dự án. Gần như đã thành lệ ở VN, không có công trình, dự án, hợp đồng nào mà lại không có phần trăm “hoa hồng”, “lại quả” cho những nhân vật mà nếu không có chữ ký hay ý kiến của họ thì công trình, dự án, hợp đồng đó không thể thông qua được. Trong ngành xây dựng, khai thác, trong mọi cuộc đấu thầu, mua bán, ký kết xuất nhập khẩu, thành lập, khai trương một công ty, cửa hàng, cấp giấy phép ra đời một tòa soạn, một ấn phẩm, một đài truyền hình hay một chương trình phát sóng…Gọi đó là tham nhũng hay ăn cắp cũng không khác gì nhau.
Ăn cắp nhỏ như trộm cướp, trộm cắp vặt…trong xã hội mà cứ mở tờ báo ra, mở TV lên hoặc bước chân ra đường là lại có thể đọc, xem, chứng kiến tận mắt…Nhưng sự đời chua chát là nhiều khi người cùng đinh đi trộm vài con gà con vịt có thể bị kết án như vụ “Lâm Đồng: Vì hai con vịt, ba nông dân bị 13 năm tù!” năm 2008 (báo Pháp luật TP.HCM), có những trường hợp kẻ đi trộm chó bị dân làng phát hiện đánh chết, hay chỉ ăn cắp chưa tới 2.000.000 VNĐ tức chưa tới 100 USD có thể phải bỏ mạng trong đồn công an như cậu bé 17 tuổi Đỗ Đăng Dư ở huyện Chương Mỹ, Hà Nội, ngày 10.10 khiến dư luận bức xúc, phẫn nộ…
Trong khi đó có những kẻ ăn cắp hàng triệu USD thì vẫn nhởn nhơ!
Sự thiếu vắng lòng trung thực, thiếu vắng lòng tự trọng ấy, như đã nói, dường như chẳng còn bất cứ ngoại lệ nào. Ngay những người làm những công việc mà tiền lương không thấp, và có thể làm ảnh hưởng đến hình ảnh VN với bên ngoài như phi công,tiếp viên hàng không trên những chuyến bay quốc tế. Ví dụ như vụ 5 phi công, nữ tiếp viên Vietnam Airlines mang hàng xách tay có nguồn gốc trộm cắp bị cảnh sát Nhật bắt tháng 3.2014, tháng 7.2015 một phi công Việt của hãng hàng không VNA lại bị cảnh sát Nhật bắt vì tội mua đồ trong cửa hàng rồi quên trả tiền (tức là ăn cắp)…; chưa kể những vụ buôn lậu, vận chuyển hàng hóa, tiền, vàng, đồ công nghệ… trái phép, thậm chí có liên quan đến đường dây rửa tiền và ma túy lớn của các phi công, tiếp viên VNA bị bắt giữ tại các nước như Nhật, Hàn, Úc…từ năm 2008 đến nay. Còn ngay tại sân bay là nơi đầu tiên du khách nước ngoài đặt chân đến VN, người ta cũng không sợ khách sẽ có ấn tượng xấu về đất nước này, dân tộc này, thậm chí ngán ngẩm và không muốn du lịch đến VN nữa khi mà hiện tượng khách hàng bị mất cắp hành lý tại sân bay lớn nhất là Nội Bài và vài sân bay khác trong thời gian qua không còn là chuyện lẻ tẻ nữa. Bài báo “Bộ trưởng Thăng: Mất cắp hành lý ở sân bay là có tổ chức!” (Người Lao Động) viết:
“Trước thực trạng từ năm 2013 đến nay có gần 700 vụ mất cắp hành lý chính thức bị hành khách khiếu nại và ngày càng có xu hướng tăng trong khi không có một camera nào ghi nhận được, chưa một vụ việc nào được đưa ra khởi tố, Bộ trưởng Thăng cho rằng việc mất cắp hàng hóa ở sân bay là có tổ chức, có nghiên cứu, tính toán chứ không phải tình cờ.”
Còn trong lĩnh vực sản phẩm trí tuệ, tinh thần, càng xấu hổ hơn khi hiện tượng ăn cắp cũng đầy dẫy. Trong ngành giáo dục, cứ lâu lâu chúng ta lại nghe thấy một vụ tố “đạo” văn, khi thì “đạo” một bài báo, một bài tiểu luận nghiên cứu, bài luận văn tốt nghiệp Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ, lúc thì “đạo” một đoạn, một phần…trong một cuốn sách nào đó, có khi trò “copy” của thầy, thầy “copy” của trò, đồng nghiệp “đạo” của nhau…Đến mức nhà văn, facebooker Nguyễn Đình Bổn phải viết trong một status:
“Nếu chúng ta đồng thanh lên tiếng!
Vụ “đạo thơ” khi rất nhiều facebooker và sau đó là báo chí cùng lên tiếng, nó có kết quả ngay lập tức.
Nhưng nói thật, thơ đúng là “chuyện nhỏ” trong xã hội VN hiện nay. Ví dụ như VN có trên 24.000 tiến sĩ, nhưng họ đã làm được gì?
Họ có đạo luận văn không? Chắc chắc có!
Vậy tại sao chúng ta không đòi hỏi sự minh bạch ở đây? Ví dụ như tất cả các luận văn của các thạc sĩ, tiến sĩ phải được Bộ giáo dục công bố công khai trên mạng và nếu cần phải so sánh!
Chỉ có công khai thì mới bớt nạn giả mạo!
Đề nghị các ông bà đương chức làm gương, ông bà nào càng nắm chức to thì công bố ngay đi!
Còn nếu đã có công bố bắt buộc thì facebooker nào rảnh lôi ra săm soi cho vui.”…

Trong lĩnh vực sáng tác, không biết bao nhiêu lần chúng ta nghe vụ một nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, tác giả kịch bản, đạo diễn sân khấu, điện ảnh, truyền hình “tố” bị người khác ăn cắp ý tưởng, hoặc “xào nấu”, thêm thắt, sửa chữa, biến cái của mình thành cái của họ. Còn đối với những người viết kịch bản thì cái chuyện đem đề cương kịch bản, kể cả kịch bản đã hoàn tất đi “chào hàng” một sân khấu, hãng phim, đài truyền hình nào đó, bị họ từ chối không mua nhưng sau đó một thời gian lại thấy một vở kịch, bộ phim nào đó có ý tưởng, cốt truyện na ná giống mình là chuyện không phải ít, thường thì khó mà đòi được cộng bằng lắm, nhất là nếu người đó chưa có tên tuổi.
Có những trường hợp rõ ràng là hai tác phẩm giống nhau như chị em sinh đôi nhưng kẻ cắp vẫn thoát được, hoặc do chức vụ, tên tuổi, quan hệ rộng rãi trong ngành khiến những người khác cũng ngại không muốn đẩy đến cùng, hoặc do phía bên kia không đủ chứng cứ, hoặc nếu lấy của một tác giả nước ngoài thì dễ thoát hơn.
Ngay cả ông Chủ tịch Hội nhà văn Hữu Thỉnh cũng đôi lần dính nghi án “đạo” thơ, bài thơ “Hỏi” của ông Hữu Thỉnh được cho là giống như phỏng dịch bài “Thượng đế đã làm ra mặt trời” (Gott schuf die sonne) của nữ thi sĩ Đức Christa Reinig được công bố năm 1964, nhưng cuối cùng ông Hữu Thỉnh vẫn thoát được.
Mới đây nhất là hai vụ lùm xùm về “đạo” thơ, vụ tranh chấp còn chưa ngã ngũ quanh bài thơ “Tổ Quốc gọi tên mình” giữa nhà thơ nữ Nguyễn Phan Quế Mai và một cựu quân nhân tên Ngô Xuân Phúc, và vụ tập thơ “Sẹo độc lập” của nhà thơ nữ Phan Huyền Thư vửa đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội 2015 đã bị dư luận tố “đạo” ý một câu thơ của Du Tử Lê và “đạo” trắng trợn bài thơ của nhà thơ nữ Phan Ngọc Thường Đoan, cuối cùng Ban chấp hành Hội Nhà văn Hà Nội đã quyết định thu hồi giải thưởng của Phan Huyền Thư.
Có hai câu hỏi được đặt ra là tại sao hiện tượng ăn cắp hay “đạo” văn, “đạo” thơ, nhạc… bây giờ lại nhiều thế, và một số những người đó, họ rõ ràng có tên tuổi, chức vụ, thậm chí cũng có tài năng, tại sao họ phải làm như vậy, mà đôi khi lại rất lộ liễu nữa, họ không sợ mất mặt, mất uy tín hay sao.
Rõ ràng trong những xã hội dân chủ phát triển, luật pháp chặt chẽ nghiêm minh, hiện tượng ăn cắp trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề không phải không có nhưng ít hơn rất nhiều, trước hết vì người ta biết sợ luật pháp, sợ cái giá phải trả, sự mất mát về tên tuổi, uy tín…Con người lại được giáo dục đàng hoàng, nhìn chung quanh cũng không thấy mấy ai làm như vậy nên không dám liều. Ngay miền Nam trước 1975 dưới chế độ VNCH, hình như chả thấy có vụ “đạo” văn, “đạo” thơ nào.
Còn trong xã hội như xã hội VN bây giờ, chuyện ăn cắp xảy ra ở khắp mọi nơi, mọi tầng lớp, nhà dột từ nóc, thấy người khác địa vị to hơn mình còn ăn cắp kiểu này kiểu khác, rồi được tiền được danh lợi từ đó, đâm ra cũng làm theo với ý nghĩ “Ai cũng vậy riêng gì mình”. Với những sản phâm trí tuệ, tinh thần, thì thường là hậu quả của sự háo danh, ví dụ không có tài nhưng muốn nổi tiếng nên xảo nấu, ăn cắp ý thơ, văn, nhạc của người khác làm của mình; hoặc đã có tiếng, cũng có tài nhưng vẫn ăn cắp vì thói kiêu hãnh, ngạo mạn, coi thường thiên hạ, nghĩ không ai phát hiện ra…Có muôn vàn lý do, nhưng tựu trung vẫn lả hệ quả của một môi trường xã hội mà cái xấu, sự không tử tế quá phổ biến đến đâm nhờn, hệ quả của một nền giáo dục không dạy học sinh làm người nhưng lại dạy cho con người ta quen với sự giả dối từ bé.
Khi mà ngay chính vị lãnh tụ cao nhất của đảng cộng sản vốn được tuyên truyền như thánh còn dính nghi án ăn cắp tập thơ “Nhật ký trong tù” thì còn có cái gì thiêng liêng nữa? Và khi toàn bộ lịch sử đất nước này từ khi có đảng là một lịch sử dối trá và hiện tại đảng, nhà nước vẫn tiếp tục dối trá đủ mọi chuyện thì đỏi hỏi người dân phải trung thực thế nào được?
Mai này đất nước thay đổi, để dạy lại cho con người biết tự trọng, biết trung thực từ đầu có lẽ sẽ phải mất rất nhiều năm, so với vực dậy một nền kinh tế hay xây dựng lại hạ tầng cơ sở xã hội.

Sài Gòn: ‘Ðinh tặc’ lộng hành như chốn rừng xanh

Sài Gòn: ‘Ðinh tặc’ lộng hành như chốn rừng xanh

Nguoi-viet.com

Văn Lang/Người Việt

SÀI GÒN (NV)Ðô thị lớn nhất của Việt Nam đang có ba vấn nạn lớn ai cũng thấy, mà nhiều năm qua vẫn chưa có phương cách hữu hiệu để thay đổi đó là kẹt xe, ngập đường và nạn đinh tặc. Trong 3 vấn nạn này thì nạn rải đinh, gài bẫy người đi đường để kiếm ăn của những tên gian tặc luôn ám ảnh mọi người khi lái xe ra đường.


Một điểm bơm, vá xe ven đường ở Sài Gòn. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Còn nhớ, gần 30 năm trước, báo chí ở Sài Gòn từng rộ lên vụ, một đôi thanh niên nam nữ bị hại vì đinh tặc, trên xa lộ Hà Nội, xưa là xa lộ Biên Hòa.

Buổi chiều muộn, trên xa lộ, xe Honda Dream của đôi trai gái cán phải đinh của bọn đinh tặc rải trên đường. Lúc đó, xa lộ còn vắng vẻ chưa đông như bây giờ. Và xe Honda Dream lúc đó là một loại xe thời thượng nhất, là cả một gia tài, là cả một… giấc mơ, với những em gái ham “xế nổ.”

Khi đôi trai gái tìm được một tiệm sửa xe trên đường để vá, chưa kịp nổ máy chạy thì một toán cướp có súng ập tới. Vì tiếc của, chàng trai chống cự, bị bắn chết tại chỗ. Cô gái bị thương nặng, toán cướp lấy xe tẩu thoát.

Báo chí nhân vụ giết người này đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tệ nạn đinh tặc đang hoành hành trên các cung đường cửa ngõ vô Sài Gòn.Thậm chí cả trong nội đô Sài Gòn chúng cũng không từ…

30 năm sau, câu chuyện đinh tặc có lẽ đã trở nên khủng khiếp hơn. Lần này trên xa lộ, bọn chúng ngang nhiên rải những loại đinh tự chế hình chữ V, chữ S cỡ lớn. Với mục tiêu nhắm tới không chỉ là xe Honda hai bánh, mà là xe hơi, xe tải lẫn xe container.

Thử tưởng tượng, những chiếc xe tải, xe container chở nặng, chạy nhanh cán phải “bẫy đinh” cỡ bự của bọn đinh tặc, bể bánh, lạc tay lái giữa dòng xe cộ đông đúc trên xa lộ. Hậu quả sẽ như thế nào?

Ngang nhiên lộng hành

Hơn 30 năm dân kêu, báo chí kêu, nhưng tệ nạn đinh tặc lộng hành chỉ có tăng mà không có giảm.

Báo chí từng nêu câu hỏi: “Nếu đinh tặc là những kẻ rải truyền đơn chống chế độ. Thì bao nhiêu năm qua, chính quyền có im lặng, có bất lực như vậy không?”

Ðến nước đó, thì chính chính quyền cũng lên tiếng… kêu.

Theo lời của một trưởng công an phường, thuộc quận 12, kể với báo chí, do người dân thường xuyên khiếu kiện, vì đoạn đường quốc lộ 1A, từ chân cầu vượt ngã tư Ga, qua Thủ Ðức đinh tặc lộng hành. Cá biệt, có người dân kể khổ, một tháng đi trên đường thì hết 15 lần phải thay ruột xe vì cán đinh, 6 lần phải thay cả vỏ lẫn ruột…

Nóng ruột, quận chỉ thị cho công an phường, bằng mọi giá phải bắt cho được bọn đinh tặc đem về “quy án.”

Hơn một năm trời, cả ngày lẫn đêm phường tung lực lượng tuần tra, hóa trang-mật phục, tất cả những ngón đòn nghiệp vụ của công an được tung ra. Cuối cùng cũng chả bắt được con ma đinh tặc nào.

Lại theo lời kể của một toán công an viên thuộc quận 9. Vì khó lòng bắt được đinh tặc, nên phường thường xuyên cho công an đi kiểm tra những điểm sửa xe trên đường. Nếu là dân địa phương thì bắt làm cam kết không rải đinh hại người. Nếu là dân ở nơi khác tới, không rõ lai lịch thì dẹp luôn.

Vì các tiệm vá xe ven đường sống nhờ sự bắt chẹt khách bị cán đinh với giá cắt cổ. Khả năng người hành nghề vá xe và đinh tặc là một, lên tới 99%, nhưng không bắt được quả tang thì không làm gì được họ…

Khi toán công an viên kể trên, đi kiểm tra các điểm vá xe. Họ bị một toán người lạ mặt, hung dữ ở đâu ập tới ngăn cản quyết liệt, không cho kiểm tra…Toán công an viên phải rút về phường.


Nhiều người dân Sài Gòn sợ sửa xe ở ngoài đường bị “chặt,” “chém,” chôm phụ tùng nên đem xe tới đại lý ủy quyền của hãng Honda sửa cho chắc ăn. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Nghe báo chí tường thuật, dân chúng cho rằng đinh tặc đâu phải là thứ “vô ảnh,vô hình” mà đến nỗi không bắt được.

Ngang với ‘khủng bố’

Ngày nay, phương tiện đi lại của người dân Sài Gòn chủ yếu là xe gắn máy 2 bánh. Dù là đi làm ăn hay du hí đây đó, đổi gió vào những ngày cuối tuần, nhưng nói tới đinh tặc thì ai cũng ngao ngán, cực chẳng đã chẳng muốn đi đâu. Vì những ai ở Sài Gòn, ít ra cũng một đôi lần nếm mùi đinh tặc.

Trên những con đường nắng chói chang, xe cộ đông đúc đầy khói bụi. Người bị cán đinh hì hục đẩy xe, ướt đẫm mồ hôi, dáo dác tìm điểm vá xe. Rồi những hôm trời mưa tầm tã, lại những đêm khuya, trời vắng. Ðàn ông còn sợ, huống hồ thân gái dặm trường… Rồi những đường xa mịt mù, lúc phải đi đêm về hôm. Lòng người lúc nào cũng nơm nớp chuyện cán đinh. Có thể nói đinh tặc là một nỗi ám ảnh thường trực với người dân.

Bọn đinh tặc chỉ việc ngồi rung đùi tại những tiệm vá xe trên đường, chờ những con mồi tới nạp mạng. Xe nào đã cán đinh thì đừng mong được vá, lúc mở ruột xe, chỉ một động tác nhà nghề, ruột nào cũng tét, đành phải thay. Nhẹ thì thay ruột đểu, xài vài ngày đã banh, nhưng với giá cắt cổ từ 80 ngàn, tới 90 ngàn đồng. Nặng thì phải thay cả vỏ, với giá từ trên 300 ngàn tới 400 ngàn đồng. Biết là bị làm tiền, nhưng khổ chủ chỉ còn biết ấm ức mở hầu bao, nếu không muốn đẩy bộ xe… mút mùa lệ thủy. Chưa kể tệ nạn trộm, cướp, thậm chí nạn “cướp tình” với những cô gái một thân, đường vắng…

Có những nhóm thanh niên lập ra đội vá xe giúp người bị hại. Hay hơn, họ chế tạo ra xe hút đinh, chạy rà trên đường mỗi ngày. Mất chỗ làm ăn, bọn đinh tặc ngang nhiên chặn đường hoặc gọi điện thoại hăm dọa sẽ “xử đẹp” nếu không dừng việc làm “đổ bể” nồi cơm của bọn chúng.

Kỳ lạ, giữa một thành phố đông người, mà bọn đinh tặc lộng hành chẳng khác nào những toán thổ phỉ trong chốn rừng xanh. Chỉ thương cho những cái chết tức tưởi trên đường.

Như một vụ kia, người chồng dùng xe Honda chở cô vợ trẻ đi sanh. Trên đường đi xe cán phải đinh của bọn đinh tặc, hai vợ chồng té văng xuống đường. Người chồng bị gãy chân, người vợ bị băng huyết, được đưa vô bệnh viện cấp cứu thì thai nhi đã chết…

Luật pháp bó tay

Cuối cùng, sau bao nhiêu ấm ức dồn nén, người dân đi đường trên quốc lộ 1A cũng phát hiện ra một tên đinh tặc với thủ đoạn rất tinh vi. Tên này chở vợ, chạy tà tà trên đường đông, nhưng dấu đinh tự chế dưới dép, lâu lâu lại nhẹ nhàng gạt đinh xuống mặt đường… Người dân lập tức tri hô và cùng nhau đuổi bắt gã đinh tặc giao cho công an.

Bên công an cho báo chí biết,hiện không biết xử tên đinh tặc bị dân bắt quả tang theo điều luật nào. Chỉ có thể quy hắn vào tội “hủy hoại tài sản” của người khác. Nhưng phải chứng minh được tài sản bị hủy hoại giá trị lên tới trên 2 triệu đồng thì mới có thể truy tố, nếu không thì chỉ phạt hành chánh rồi cho về. Dân chúng nghe tin mà cứ tức anh ách.

Gần đây, nhà cầm quyền Sài Gòn có trình lên Quốc Hội một dự luật về đinh tặc. Theo đó, nếu phạm tội lần đầu, tối đa bị phạt 30 triệu đồng và 3 năm tù. Nếu tái phạm (lần 2), thì bị phạt từ 100 triệu tới 500 triệu đồng và 12 năm tù.

Qua câu chuyện chống đinh tặc cho thấy luật Việt Nam vừa thiếu,vừa hở (dĩ nhiên trừ chuyện chống dân chủ). Hơn 30 năm chống đinh tặc lộng hành hại dân mà chỉ ra được có mỗi cái… dự luật.

Tệ hơn nữa, đạo đức suy đồi cùng cực, có những kẻ ác nhơn thất đức tới nỗi coi tính mạng đồng bào như là miếng mồi ngon. Ðể ngang nhiên đặt bẫy trên đường đông người qua kẻ lại, chứ chẳng thèm phải đi vào nơi rừng sâu núi thẳm.

Phim tài liệu Vietnamerica trong mắt khán giả trẻ

Phim tài liệu Vietnamerica trong mắt khán giả trẻ

Vietnamerica là bộ phim tư liệu 90 phút không chỉ dành riêng cho cộng đồng người Việt tị nạn, mà cho tất cả những ai yêu chuộng và khát khao tự do.

Vietnamerica là bộ phim tư liệu 90 phút không chỉ dành riêng cho cộng đồng người Việt tị nạn, mà cho tất cả những ai yêu chuộng và khát khao tự do.

Một bộ phim tài liệu nói về những thuyền nhân Việt Nam vực dậy sau đau thương từ những chuyến vượt biển tìm tự do đầy nghiệt ngã tới những thành tựu rực rỡ đóng góp cho quê hương thứ hai sau 4 thập niên tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ được ra mắt ở thủ đô Washington DC ngày 17/10/15 đánh dấu 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.

Vietnamerica là bộ phim tư liệu 90 phút không chỉ dành riêng cho cộng đồng người Việt tị nạn, mà cho tất cả những ai yêu chuộng và khát khao tự do.

Một phân đoạn trong phim dài 18 phút được trích ra dự thi các liên hoan phim quốc tế đã dành được một số giải thưởng và được chọn trình chiếu tại 15 buổi liên hoan phim trên thế giới.

Đạo diễn Scott Edwards (phải) và Nhà sản xuất Nancy Bùi tức Triều Giang (phía sau bên phải).
Đạo diễn Scott Edwards (phải) và Nhà sản xuất Nancy Bùi tức Triều Giang (phía sau bên phải).

Bộ phim gợi nhớ biến cố 30/4/75 khiến hơn 2 triệu dân Việt bỏ nước ra đi, tạo nên một trong những làn sóng thuyền nhân lớn nhất và đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại với hàng trăm ngàn người đã bỏ mình trên biển vì bão, vì đói, hay vì hải tặc.

Trong chương trình Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay, 3 khán giả trẻ trong cộng đồng tị nạn chính trị lớn nhất tại Mỹ đã xem qua Vietnamerica khi phim được ra mắt tại thành phố họ sinh sống sẽ chia sẻ với chúng ta những ấn tượng về bộ phim và ý nghĩa của nó đối với lịch sử thuyền nhân Việt Nam cũng như đối với các thế hệ người Việt tị nạn. Trà Mi xin giới thiệu khách mời của chương trình: Thị trưởng Tạ Đức Trí của thành phố Westminister bang California, nơi có đông người Việt sinh sống nhất nhì nước Mỹ; anh John Hùng Vũ hoạt động trong ngành bảo hiểm tại Denver bang Colorado; và chị Christine Quỳnh Nguyễn kinh doanh địa ốc ở Houston bang Texas.

 Chrisine Quỳnh: Ba của Christine là đại úy an ninh quân đội. Khi mất nước, ba bị ở tù 11 năm. Tuổi thơ của Christine không hy vọng, không tương lai. Christine trải qua thời niên thiếu rất khổ cực. Vì thế, khi xem phim Vietnamerica, Christine rất xúc động khi thấy nhiều người phải trải qua giữa cái sống và cái chết vì hai chữ tự do. Cuốn phim này khích lệ tinh thần chúng ta khi nhìn lại tại sao chúng ta có mặt ở đây, chúng ta phải cố gắng thế nào để không hổ thẹn với những người đã đi trước.

Trà Mi: Anh Hùng là một thuyền nhân, anh có nhìn thấy chính mình và người thân của mình qua những phút phim tài liệu này không?

Hùng Vũ: Xem cuốn phim gợi lại quá khứ mình đã đi qua, không biết làm sao diễn tả được vì nó làm sống lại những phút giây đối đầu với tử thần khi mình trên con thuyền nhỏ rời Việt Nam đi tìm tự do.

Trà Mi: So với các phim tài liệu khác về lịch sử cuộc chiến Việt Nam, Vietnamerica có điểm nào đặc biệt nổi bật?

Tạ Đức Trí: Bộ phim này đã lột tả hết tất cả sự hy sinh và cái giá mà các thuyền nhân Việt Nam đã trải qua trên hành trình tìm tự do. Ưu điểm của bộ phim là các nhân vật trong phim không cần phải đóng. Họ đều là những chứng nhân minh chứng cho những kinh nghiệm kinh hoàng. Đây là một bộ phim có thể đánh động được lương tâm của thế giới.

Ông Trần Tú Thanh, một nhân vật trong phim Vietnamerica nói: "Chúng tôi đã mất tất cả. Chúng tôi đã mất nước. Mất tài sản. Mất các thành viên trong gia đình. Và tuổi trẻ của tôi. Tất cả tuổi trẻ của tôi sau 15 năm tù cộng sản."
Ông Trần Tú Thanh, một nhân vật trong phim Vietnamerica nói: “Chúng tôi đã mất tất cả. Chúng tôi đã mất nước. Mất tài sản. Mất các thành viên trong gia đình. Và tuổi trẻ của tôi. Tất cả tuổi trẻ của tôi sau 15 năm tù cộng sản.”

Trà Mi: Người Việt đã trải qua quá nhiều thương đau và nước mắt và một số phụ huynh lưỡng lự không muốn cho thế hệ trẻ thấy những điều tàn khốc ấy qua các bộ phim tài liệu. Là thế hệ trẻ, các anh chị chia sẻ thế nào về điều này?

Tạ Đức Trí: Tôi cũng hiểu suy nghĩ của các phụ huynh. Tuy nhiên, theo thiển ý của tôi, các em nên xem những bộ phim về chính nguồn gốc của mình để hiểu lý do cộng đồng người Việt có mặt và phát triển tại Mỹ cũng như hiểu giá trị của sự tự do mà thế hệ đi trước đã phải trải qua.

Trà Mi: Có ý kiến cho rằng chiến tranh đã chấm dứt 4 thập niên, Việt-Mỹ cũng bình thường hóa quan hệ 20 năm nay thì nhắc nhớ những nỗi đau đó để hận thù dai dẳng có ích lợi gì đâu, hãy để thế hệ trẻ hướng tới chân trời sáng lạng phía trước. Với quan điểm đó, các anh chị có suy nghĩ thế nào?

Tạ Đức Trí: Tuy nhiên, Việt Nam sau 40 năm vẫn chưa có nhân quyền-tự do, các nhà tranh đấu dân chủ trong nước vẫn đang bị đàn áp, bắt bớ. Với chính sách độc tài của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, tập thể người Việt tị nạn tại hải ngoại không thể nào làm ngơ, không quan tâm. Vì vậy, sự ra đời của bộ phim càng làm cho chúng ta quan tâm nhiều hơn về thực trạng tại Việt Nam, cố gắng nhiều hơn nữa để tranh đấu với hy vọng Việt Nam sẽ sớm có tự do-dân chủ trong tương lai.

Trà Mi: Khát vọng nào cũng có cái giá của nó, khát vọng tự do cũng vậy, vì sao phải nêu bật cái giá của tự do. Nếu có một người trẻ nêu câu hỏi này, chị Christine sẽ trả lời thế nào?

Christine Quỳnh: Chúng ta phải đề cao tinh thần bất khuất của người Việt để cho thế hệ mai sau hiểu nguồn gốc sự có mặt của chúng ta ở đây và những giá trị chúng ta có được hôm nay không phải tự nhiên mà có. Chúng ta phải nên trân quý.

Trà Mi: 90 phút phim dĩ nhiên không thể khắc họa lại tất cả những nghiệt ngã, những mất mát đau thương để đánh đổi lấy tự do. Qua lăng kính Vietnamerica, các anh chị thấy những khía cạnh nào đã được soi rọi đầy đủ và những khía cạnh nào cần lột tả thêm để thế hệ sau được nhìn rõ một bức tranh toàn cảnh, trực diện về lịch sử thuyền nhân tị nạn Việt Nam?

Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh chia sẻ câu chuyện trong phim VietnAmerica.
Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh chia sẻ câu chuyện trong phim VietnAmerica.

Hùng Vũ: Bộ phim đã nói lên được khát vọng của con người cần được tự do. Là một thuyền nhân, mình nghĩ nếu cuốn phim có thể nói thêm về hành trình tìm tự do gian khổ, khó khăn như thế nào thì sẽ xác thực hơn ý nghĩa của việc đi tìm tự do.

Trà Mi: Bộ phim ra mắt giữa bối cảnh các mốc kỷ niệm lịch sử và giữa cuộc khủng hoảng người tị nạn trên thế giới. Là một người tị nạn Việt Nam, từ bộ phim này, các anh chị muốn chia sẻ thông điệp gì tới những người tị nạn trên thế giới”?

Tạ Đức Trí: Tất cả người tị nạn đều có khát vọng tìm tự do, mưu cầu hạnh phúc tương lai. Với khát vọng đó, chúng tôi rất hy vọng rằng các quốc gia sẽ chào đón, giúp đỡ người tị nạn. Hai chữ tự do sau thế kỷ 21 này vẫn là một thứ trân quý nhất cho nhân loại. Cũng vì hai chữ tự do mà cộng đồng người Việt tại hải ngoại đã vươn lên hình thành và phát triển.

Trà Mi: Khát vọng tự do cho bản thân và gia đình giờ đã đạt thành, với những người còn đang hướng tới nó, các anh chị có thể làm gì để có thể truyền tiếp khát vọng của họ?

Christine Quỳnh: Ước mong rằng khi thành công ở Mỹ, chúng ta nên truyền bá lại cho con cháu mình có được tinh thần giống thế hệ của chúng ta, lúc nào cũng phấn đấu.

Nhà văn Dương Thu Hương kể lại cuộc sống dưới chế độ cộng sản trong VietnAmerica.
Nhà văn Dương Thu Hương kể lại cuộc sống dưới chế độ cộng sản trong VietnAmerica.

Tạ Đức Trí: Tập thể người Việt hải ngoại chúng ta luôn sẵn sàng hỗ trợ các nhà đấu tranh dân chủ trong nước. Chúng ta hãy tiếp tục chia sẻ những thông tin cần thiết về một chính thể tự do thật sự. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, chúng ta có thể chia sẻ cho đồng bào trong nước về một bộ máy chính trị tự do, dân chủ bầu cử để người dân trong nước hiểu được thế nào là tự do-dân chủ thật sự, giá trị của một nền chính trị dân chủ quan trọng như thế nào để giúp cho quốc gia đó phát triển một cách toàn diện.  Chúng ta thấy nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sau 40 năm vẫn áp dụng chính sách độc tài , đàn áp tôn giáo, bắt bớ trí thức trẻ. Người trí thức trong nước chưa thể nói lên sự quan tâm của mình về hiện trạng đất nước thì thử hỏi làm sao Việt Nam có thể phát triển một cách toàn diện? Cho nên, chúng tôi rất hy vọng các bạn trẻ trong cộng đồng tại hải ngoại hãy quan  tâm nhiều hơn nữa về tình hình Việt Nam. Sự dấn thân của các bạn là một động lực hỗ trợ thêm cho giới trẻ trong nước. Chúng tôi biết nhiều bạn trẻ trong nước hiện nay cũng rất quan tâm về sự tự do-dân chủ trong nước chưa có và các bạn cũng có khát vọng để thay đổi. Chúng tôi xin đồng hành với các bạn trẻ tại Việt Nam để tranh đấu cho hai chữ tự do.

Trà Mi: Thông điệp về khát vọng tự do đó cũng chính là điểm nhấn của bộ phim tài liệu Vietnamerica mà 3 khán giả trẻ tham gia chương trình hôm nay đã cảm nghiệm và chia sẻ với thính giả đài VOA. Cảm ơn các anh chị rất nhiều.

Là người Việt Nam!

Là người Việt Nam!
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Cách đây khoảng 10 năm, sau một chuyến đi xa, trên đường trở lại California, vợ chồng chúng tôi và hai người bạn đang ngồi chờ đổi máy bay tại phi trường Atlanta, thì bất chợt một ông Việt Nam trung niên, áo vest, thắt cà vạt, tiến về phía ghế ngồi của chúng tôi. Một cách mừng rỡ và vội vã, không kể người trước mặt mình là đàn ông hay đàn bà, quen hay lạ, y thọc tay về phía chúng tôi: – “Các bác là người Việt Nam!” Không đợi câu trả lời, quơ được bàn tay của chúng tôi đưa ra một cách phản xạ, y lắc đấy lắc để.

Phải nói là chúng tôi phản ứng quá chậm hay gần như không có phản ứng gì.

Cho đến lúc người đàn ông lạ mặt này thấy không mấy phấn khởi với cuộc làm quen này, quay lưng đi, chúng tôi vẫn ngồi yên tại chỗ, lặng lẽ và ngao ngán không nói một câu gì. Phải, chúng tôi là người Việt Nam, nhưng cuộc gặp gỡ với một người Việt Nam kỳ này không đem lại điều gì hứng thú cho chúng tôi, qua ngôn ngữ và cách xử thế, chúng tôi thấy có một khoảng cách khá lớn, và cũng là người Việt Nam, nhưng tôi cảm thấy y không giống tôi, ngoài một thứ ngôn ngữ đã khá dị ứng, con người này như đến từ một xứ sở nào khác.

Như thế, ít ra tôi cũng đã hiểu vì sao một người Tàu ở Hồng Kông trước năm 1999 chỉ nhận họ là người Hồng Kông, hay sau 1949, những người Tàu ở Đài Loan, cho rằng mình là người Đài Loan (“Trung Hoa Dân Quốc” hay “Trung Hoa Đài Bắc”) để khỏi nhầm với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Hoa lục địa hay Cộng Sản Trung Hoa). Hẳn không một người Nam Hàn nào thích hiểu lầm họ là người Bắc Hàn (được Việt Nam gọi là Triều Tiên) và trước đây giữa người Đông và người Tây Đức mặc dầu nguồn gốc của họ là người Đức. Người ta không thể phủ nhận nguồn gốc của mình nhưng có thể phủ nhận chính thể đương thời và lựa chọn quốc tịch cho mình.

Chỉ có hai tiếng Bắc Kỳ thôi, và chỉ trong vòng 30 năm, người Việt Nam cũng đã chọn chỗ đứng rõ ràng khi phân biệt ai là Bắc Kỳ cũ, Bắc Kỳ mới, ai là Bắc Kỳ “chín nút” (54), ai là Bắc Kỳ 75! Nếu trong câu chuyện nói, còn có chút gì kỳ thị, thì chúng ta cũng không nên trách, đây không phải là chuyện đoàn kết dân tộc, mà là chuyện văn hóa và chính kiến, nó phát xuất từ những khổ đau và bất hạnh mà con người ta phải gánh chịu, qua những thăng trầm của lịch sử.

Tôi là người Việt Nam, và những ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường hãnh diện mình là người Việt Nam, với “bốn nghìn năm văn hiến,” “con Rồng cháu Tiên,” lớn lên trong thời loạn lạc, người chẳng ra người, ta lại được hãnh diện thêm vì quê hương mình “rừng vàng biển bạc,” thủ đô “là đỉnh cao trí tuệ của loài người,” “đánh thắng ba đế quốc sừng sỏ!” “mỗi buổi sáng thức dậy ước mơ mình trở thành một người Việt Nam,” “Việt Nam dân chủ gấp vạn lần các nước Tây phương,” “vị thế Việt Nam tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế!” thì không còn gì để có thể hãnh diện hơn được nữa!

Gom tất cả tinh hoa của người Việt trên thế giới để làm những tác phẩm vĩ đại để ca tụng con người Việt Nam là điều không khó, vì những khuôn mặt thành đạt vẻ vang này ở nước ngoài, sau ngày phải bỏ nước ra đi, chúng ta không chỉ có hàng chục nhân vật đủ làm một tác phẩm mà con số này có thể lên đến hàng trăm, hàng nghìn người. Nhưng nếu tập họp họ lại, xếp hàng ngay ngắn như trong một cuộc “diễu hành,” có một mỹ nhân mặc quốc phục dẫn đầu cầm một tấm bảng lớn mang dòng chữ “Tôi là người Việt Nam” thì điều này quả còn quá nhiều gượng ép.

Đồng ý nguồn gốc họ đều là những người Việt Nam, có người bỏ nước ra đi từ ngày chủ thuyết Cộng Sản đến Việt Nam, nhưng cũng có người sinh ra ở nước ngoài, mỗi người có một cuộc đời, hoàn cảnh, tình cảm và chính kiến khác nhau. Nếu có ai hỏi họ: – “Ông bà là người Việt Nam?” thì câu trả lời sẽ là: – “Phải, tôi là người Việt Nam! Nhưng đó là câu chuyện cách đây 40 năm. Đó là một câu chuyện dài!”

Trong chúng ta, ai cũng có một câu chuyện dài phải được kể lại, hay bây giờ mới được kể lại!

Những nhà tuyên truyền thường nhắc đến tình tự dân tộc, biểu tượng từ một tiếng đàn bầu, một tiếng hò trên sóng nước để gợi cho con người nhớ đến quê hương. Người ta lập lại mãi câu nói “quê hương chỉ một” hay anh em đi xa là “khúc ruột ngàn dặm” và không ngừng kêu gọi một sự trở về tha thiết, – “Nếu đi hết biển thì đến đâu hở mẹ!”- “Đi hết biển thì sẽ trở về làng cũ!” Vì sao con chim phải bay trở lại cái lồng đã giam hãm nó, có khi là cái thòng lọng hay cái cũi nhốt của một con vật. Đó là con người của tự do, có ý thức, không phải chiếc xe lửa chạy lui tới trên đường ray.

Có người đem chuyện người Việt lưu lạc của Kiến Bình Vương Lý Long Tường (1136-1175) là con thứ sáu của vua Lý Anh Tông, đã cùng họ hàng vượt biển Bắc vào đầu thế kỷ thứ 13 vì bị phe cánh Trần Thủ Độ hãm hại, sau đó trôi giạt đến Cao Ly, để nói chuyện người Việt trở về tìm lại nguồn cội. Xin quý vị yên tâm đi, không cần phải nói chuyện đạo lý, nhân nghĩa, Cộng Sản thôn tính miền Nam mới nửa thế kỷ, dòng dõi Lý Long Tường bỏ nguồn cội đã bảy tám thế kỷ này. Thời gian hãy còn quá sớm để cho những người Việt lưu lạc tha phương trở về.

Hình ảnh tìm về cội nguồn hẳn là đã được ca ngợi rất nhiều.

Truyền thống dân gian cho rằng loài cá hồi trở về đúng nơi chúng được sinh ra để đẻ trứng, nhưng cuộc nghiên cứu đã cho thấy hành động quay lại nơi ra đời này đã được thể hiện phụ thuộc vào ký ức khứu giác và thói quen, hẳn không hề có ý nghĩa về cội nguồn. Và trong một câu chuyện khác, hàng năm vào mùa Xuân, những đàn én từ phương Nam đã bay trở về nhà nguyện San Juan Capistrano (California) và về phía Nam Mỹ là để trốn mùa Đông giá rét. Đến mùa nắng ấm, chúng lại bỏ gác chuông nhà thờ để ra đi, không hề có có ý niệm trở về hay qui cố hương.

Nếu câu hỏi đặt cho một người và câu trả lời dành cho một người, nó mang một ý nghĩa khác, nhưng khi chúng ta tập trung họ lại, cố tình hướng dẫn họ thành một đám đông và mở đường, sắp xếp cho họ có chung một câu trả lời theo dụng ý của những nhà đạo diễn, tôi cho đây là điều thiếu đạo lý.

Vả lại, điều dễ thấy rõ, hàng chục người vừa tuyên bố mình là người Việt Nam ở đây đều nằm trong 3 triệu người, bỏ nước ra đi, bằng lý do này hay lý do khác; họ không có nổi một tờ giấy tùy thân hay một “sổ đăng ký hộ khẩu thường trú” của chế độ đương thời, vậy thì họ là ai, người Việt nhưng người Việt nào? Câu trả lời gần như được xếp chung một loại “thấy sang bắt quàng làm họ!” Quơ vào những cái quả thực không phải của mình. Mục đích của người làm phim đã quá rõ ràng. Chẳng qua là khán giả của loại chương trình này quá dễ dãi, họ dễ chấp nhận một cái vui nhỏ, một cái cười cợt dính ngoài môi, để quên đi những điều cốt lõi mà họ đang được mời tham dự, mà nội dung đã được tính toán, có dụng ý chính trị, của ông chủ chi tiền.

Phải chăng trong không khí rộn ràng của màu sắc, âm nhạc, da thịt, phấn son, ít ra trong một thời gian ngắn người ta quên được những khuôn mặt Việt Nam cần phải được cởi áo che tại Nhật, hàng nghìn khuôn mặt phụ nữ khổ đau xấu hổ không dám nhìn ai trên quê hương nhầy nhụa hôm nay.

Rõ ràng là chế độ tham lam, ham muốn chạy theo những thành công nhất thời của mỗi con người không phải trong xã hội của mình để áp đặt hai chữ Việt Nam, mà không chịu xây dựng được một con người tử tế ngay trong xã hội của mình.

Chúng ta hãy nghe phát biểu của ông Lê Kiên Thành, con trai ông Lê Duẫn, cố bí thư thứ nhất đảng CSVN, trên vietnam.net trong vài ngày gần đây: “…tôi cứ băn khoăn mãi. Hôm trước mở báo ra tôi cứ bị ám ảnh hình ảnh hai ông già đi ăn trộm gà bị bắt, bị đánh hộc máu mồm ra, rồi bắt ngậm con gà chết. Tôi cứ bàng hoàng, tự hỏi: ‘Chẳng lẽ đây là người Việt Nam chúng ta?’”

Vai trò phụ nữ Việt Nam trong tiến trình dân chủ hóa đất nước

Vai trò phụ nữ Việt Nam trong tiến trình dân chủ hóa đất nước

Luật Sư Đào Tăng Dực

RFA

timthumb1-305

Các vận động viên và thành viên của nhóm “Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam”.

Courtesy vnwhr.net
 

Sự hiện diện đông đảo các nữ anh hùng

Khi so sánh cùng giới đấu tranh Trung Quốc với những nhân vật đối kháng đại đa số thuộc nam giới, thì điểm nổi bật của phong trào tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền của dân tộc Việt Nam là sự hiện diện đông đảo của những anh thư hào kiệt như Phạm Thanh Nghiên, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Phương Uyên, Tạ Phong Tần, Đỗ Thị Minh Hạnh, cụ Bà Lê Hiền Đức…

Trong khi đó, từ thuở khai sinh nhân loại, người phụ nữ luôn lại là một giai cấp bị đối xử thiếu công bằng. Nếu chúng ta nhìn xuyên lịch sử từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á đến Phi Châu, người phụ nữ thông thường chỉ là công dân hạng nhì, trong xã hội do đàn ông ngự trị, thuộc xã hội truyền thống.

Theo quan điểm của cá nhân tôi, một chính quyền Việt Nam hậu cộng sản, sau khi đã xây dựng một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên cho đất nước, nếu không giải quyết được vấn nạn bạo hành trong gia đình (family and domestic violence), trong đó đa số các nạn nhân là phụ nữ, thì chính quyền đó vẫn chưa xứng đáng là một chính quyền của dân, do dân và vì dân (government of the people, by the people and for the people).

Nếu chúng ta phân tích thêm về nguyên nhân của bất công này, sẽ có hai nguyên nhân chính nổi bật xuyên suốt lịch sử: đó là chiến tranh và tôn giáo. Dĩ nhiên còn nhiều nguyên nhân khác không thể nói hết.

Chiến tranh, nhất là chiến tranh cổ điển, luôn luôn đem lợi thế về cho nam giới. Khi xã hội loài người còn đơn sơ chưa phát triển, chiến tranh căn cứ trên sức mạnh của bắp thịt. Chính vì thế giới nữ thường chịu lép vế, nương tựa vào sự bảo vệ của giới nam và chấp nhận những việc làm phụ thuộc tại hậu cần. Khi kỹ thuật chiến tranh tiến bộ hơn, với những phát triển khoa học về vũ khí có hỏa lực và tầm sát thương cao, vai trò của nam giới vẫn nổi bật, mặc dầu có sự tham gia nhiều hơn của các nữ quân nhân (Do thái là một ví dụ điển hình nhất cho vao trò của các nữ quân nhân). Tuy nhiên vẫn thua xa nam giới. Lý do là vì nhiều người tin rằng, trong DNA của nam giới, bản năng sát thương và sát địch mạnh hơn nữ giới. Chính vì thế, chúng ta có thể kết luận rằng, chiến tranh là một trong nhiều nguyên nhân củng cố cho vai trò vượt trội của nam giới, trong tương tranh quyền lực giữa hai phái tính.

Thuở xưa, phụ nữ thường trở thành những vật hy sinh, vật tế thần hoặc trở thành chiến lợi phẩm của kẻ chiến thắng.

Thời bình cũng bất công

Trong thời chiến, bất công cho nữ giới là như thế. Câu hỏi là, trong thời thái bình thịnh trị, thì nữ giới có được đối xử công bằng hơn hay không?

Theo tôi nghĩ câu trả lời không những là không, mà còn tệ hại hơn nữa.

Đáng ngạc nhiên hơn hết là lý do người nữ bị đối xử bất công nằm nơi các định chế tôn giáo. Nơi đây, tôi xin nhấn mạnh sự khác biệt giữa tôn giáo (religions) và các định chế tôn giáo (religious institutions).

timthumb-250
Các vận động viên và thành viên của nhóm “Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam”. Courtesy vnwhr.net

Tôn giáo là nội dung lời dạy của các đấng giáo chủ khai giáo như (theo thứ tự thời gian): Bà La Môn (Ấn Độ Giáo), Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Phật Giáo), Đức Lão Tử (Đạo Giáo), Đức Khổng Phu Tử (Nho Giáo), Đức Chúa Giê Su (Thiên Chúa Giáo), Đức Mahomet (Hồi Giáo), Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ (Phật Giáo Hòa Hảo) , Đức Ngô Văn Chiêu (Cao Đài Giáo) …thông thường là những lời dạy cao cả và công bằng.

Các định chế tôn giáo trái lại, là các cấu trúc quyền lực, do những người bình thường tạo ra hầu đoàn ngũ hóa và hệ thống hóa các tôn giáo. Các định chế này đôi khi có rất nhiều khuyết điểm. Tùy theo bản chất từng tôn giáo, và hoàn cảnh xã hội sở tại, các định chế tôn giáo có sức mạnh và ảnh hưởng khác nhau. Khi duyệt xét lịch sử, chúng ta nhận thấy các định chế tôn giáo sau đây nhiều quyền lực nhất: Giai Cấp Giáo Sỹ Bà La Môn, Tòa Thánh Công Giáo La Mã tại Âu Châu, Giáo hội Chính Thống Giáo tại Nga, Giai cấp Tống Nho tại Trung Hoa và các nước Đông Á, Giai cấp Giáo Sỹ Hồi Giáo tại Iran và một số quốc gia Hồi Giáo.

Một trong những bất công mà nữ giới phải chịu là: không những các vị giáo chủ đều là nam giới, mà quan trọng hơn hết là các định chế quyền lực, còn tồn tại lâu đời sau khi các giáo chủ đã ra đi, đều do nam giới thống lĩnh.

Hậu quả là các định chế ấy không những trực tiếp có những chính sách tôn giáo trói buộc người phụ nữ, mà còn ảnh hưởng đến xã hội dân sự và chính quyền. Hậu quả là toàn bộ các chính sách quốc gia và toàn bộ nền văn hóa của quốc gia sở tại, thiên vị cho nam giới.

Những câu châm ngôn sau đây của Nho Giáo, lưu truyền hàng ngàn năm trong nền văn hóa Đông Á, tiêu biểu cho sự bất công đó:

“Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.

Đại ý nói rằng, người phụ nữ trước khi lấy chồng thì phải nghe lời cha (không phải mẹ). Khi lấy chồng phải nghe lời chồng (không được cãi) và tệ hơn hết là khi chồng chết phải nghe lời con trai (không phải ngược lại hoặc nghe lời con gái).

Hoặc:

“Lấy chồng theo chồng; lấy gà theo gà, lấy chó theo chó”, không có quyền phê phán hành vi của chồng hoặc ly dị ly thân nếu người chồng không xứng đáng.

Tất cả những giáo điều trên, đều là những giáo điều có tính ý thức hệ, cùng một bản chất hạn hẹp và phi lý, như ý thức hệ giáo đều Mác-Lê mà CSVN đang tôn sùng.

Chính vì thế, giới nữ, vốn chịu nhiều bất công, có nhu cầu làm cách mạng cao hơn nam giới.

Khi nữ giới tham gia cuộc đấu tranh giải trừ cộng sản, vai trò của họ không dừng tại nơi đây. Vai trò của nữ giới không những là lật đổ bạo quyền, mà còn xây dựng một trật tự xã hội mới hoàn toàn khai phóng trên phương diện tư tưởng. Châm ngôn của những phụ nữ tranh đấu ngày hôm nay phải là câu tuyên ngôn bất hủ của tư tưởng gia người Pháp Raymond Aron:

“Ý thức hệ giáo điều cần phải triệt tiêu, hầu cho tư tưởng được tái sinh”

Thật vậy, ý thức hệ giáo điều Tống Nho đã tiêu diệt tư tưởng tự do của con người Đông Á, giam hãm sự sáng tạo (creativity) và nữ giới (womenfolk) trong sự cùm kẹp của giáo điều ngu muội, làm chậm bước tiến của nhiều dân tộc Đông Á, cho đến khi rơi vào vòng nô lệ và sự chinh phục của các đế quốc tây phương.

Chiều cao của một dân tộc lệ thuộc vào phẩm chất của những tư tưởng luân lưu trong nền văn hóa dân tộc đó. Một nền văn hóa lệ thuộc vào những ý thức hệ giáo điều kém cỏi như Tống Nho, và sau đó, lệ thuộc vào những ý thức hệ giáo điều càng kém cỏi hơn nữa như Mác-Lê, là một nền văn hóa với những tư tưởng tồi tệ nhất của nhân loại. Dân tộc Việt kém cỏi và chịu nhiều nỗi nhục nhằn ngày hôm nay, là vì Ý thức hệ giáo điều Mác- Lê đã thổi vào nền văn hóa chúng ta những tư tưởng thấp hèn nhất của nhân loại.

Trách nhiệm của người phụ nữ Việt Nam là đứng lên, đạp đổ bạo quyền CSVN. Và cùng một lược với tác động cách mạng này, dùng chút oai thừa, xóa tan những tàn tích của giáo điều Tống Nho oan khiên, đã giam hãm tâm thức và sự sáng tạo của nữ giới trong nhiều thế kỷ.

Ý thức được như thế, người phụ nữ Việt Nam mới nhận ra vị trí chiến lược của mình, trong tiến trình dân chủ hóa đất nước. Lý tưởng của người phụ nữ Việt Nam không những chỉ là xây dựng một chế độ chính trị dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên, mà phải đi xa hơn nữa, đó là gạn lọc những cặn bã của nền văn hóa truyền thống, khai sáng một kỷ nguyên văn hóa hoàn toàn khai phóng, phi ý thức hệ giáo điều trong đó, tư tưởng được tuyệt đối thăng hoa.

Cuộc cách mạng kỹ nghệ đã giúp người phụ nữ Tây Phương đạt nhiều thành quả trong công cuộc tranh đấu cho phụ nữ quyền. Tiến trình dân chủ hóa đất nước chắc chắn sẽ đưa đến một cuộc cách mạng kỹ nghệ, kinh tế và xã hội tại Việt Nam, hầu bắt kịp các quốc khác trong cộng đồng nhân loại.

Có nhiều dấu hiệu cho thấy, phụ nữ Việt Nam đã nhập cuộc đông đảo. Đỗ Thị Minh Hạnh, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Phương Uyên, Cụ Bà Lê Hiền Đức, Huỳnh Thục Vy, các chị em trong Hội Phụ Nữ Âu Cơ ..là những nữ lưu hào kiệt, đội trời đạp đất. Chắc chắn các chị đang và sẽ là những lãnh đạo xứng đáng, trong thời điểm lịch sử này của dân tộc và trong số họ sẽ có những lãnh đạo tương lai của một nước Việt Nam dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên hậu cộng sản.

Bài Nguyên thủy viết cho Đặc San Hội Phụ Nữ Âu Cơ.

Đảng có muốn nhìn vào Sự Thật?

Đảng có muốn nhìn vào Sự Thật?

clip_image001

Trần Phan

18-10-2015

Ngày 28/9/2015, báo Tuổi Trẻ online đăng bài “Cần người nói thật, dám nghĩ, dám làm” nói về quan điểm của ông Vũ Ngọc Hoàng về đề tài này qua trả lời các câu hỏi của báo Tuổi Trẻ, do Đà Trang và Võ Văn Thành thực hiện. Ông Vũ Ngọc Hoàng hiện là ủy viên Trung ương Đảng, phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo trung ương.

Bài này xin thảo luận cũng về đề tài nói trên, dựa trên phát biểu của ông Hoàng.

Phát biểu của ông Hoàng: “Đây không phải lần đầu tiên Đảng chủ trương phải nhìn thẳng vào sự thật”

Ý kiến tiếp theo của người viết: Tôi xin được hiểu “nhìn thẳng vào sự thật” nghĩa là tìm hiểu, tiếp cận Sự Thật, thảo luận Sự Thật một cách công khai, công bố Sự Thật một cách trung thực, minh bạch…

Nếu hiểu như thế thì dựa trên quan sát những gì đảng CSVN đã làm ngoài thực tế, dựa trên học hỏi những gì được ghi chép trong tài liệu, người viết chưa thấy “Đảng chủ trương nhìn thẳng vào Sự Thật”.

Thế nào là Sự Thật

Bài viết chỉ xin đề cập tới các Sự Thật trong xã hội con người. Sự Thật trong xã hội con người tồn tại cùng với sự hiện diện của con người, và trong sự đồng ý của đa số con người trong xã hội đó.

Thí dụ: Dân chúng tỉnh bang Quebec (Canada) không chấp nhận tách khỏi Canada. Đây là Sự Thật xã hội vì: a) nếu không có sự hiện diện của dân chúng Quebec thì không có sự kiện này, và b) đa số dân chúng tỉnh bang Quebec đồng ý với phát biểu trên (sự đồng ý của đa số dân chúng được chứng thực bởi kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý được đa số dân chúng tin là trung thực).

Làm sao để tìm hiểu Sự Thật

Một đặc tính của lòng lương thiện trung thực là sự thực tâm đi tìm Sự Thật. Trong một xã hội thiếu vắng lòng lương thiện trung thực đó, Sự Thật bị giấu giếm, bóp méo hay đảo lộn bởi các thế lực cầm quyền  muốn lừa dối dân chúng. Xã hội như vậy sẽ rối loạn rồi đổ vỡ. Luôn luôn trong lòng xã hội, quần chúng nhân dân, chứ không phải chính quyền, là lực lượng chính đòi hỏi quyền được đi tìm Sự Thật. Hơn thế, đó còn là nhân tố của Sự Thật, bởi vì, như trình bày bên trên, Sự Thật của xã hội là Sự Thật được chấp nhận, được đồng ý bởi số đông.

Người đi tìm Sự Thật không thể tiếp cận được nó nếu không có tinh thần tự do suy luận, không có bản lãnh vượt ra khỏi định kiến.

Do đó, người thực tâm đi tìm Sự Thật, thực tâm muốn nhìn thẳng vào Sự Thật, từ trong bản chất là người khát khao tự do và tin tưởng vào tự do nơi người khác. Từ trong bản chất, đó là người luôn muốn hợp tác với mọi người, muốn chia sẻ thông tin, tri thức với mọi người để cùng nhau bước lên những tầng nấc cao hơn của tri thức trên con đường tìm kiếm Sự Thật.

Nếu thực sự “Đảng chủ trương phải nhìn thẳng vào sự thật” thì các tính chất nói trên phải được Đảng CSVN biểu lộ rõ ràng cho dân chúng thấy.

Thái độ của Đảng CSVN đối với Sự Thật

1) Đảng luôn biểu hiện là người không có tự do. Sự thiếu tinh thần tự do của Đảng biểu hiện ở việc 70 năm trôi qua, bao biến cố lịch sử nối tiếp nhau mà Đảng không có gì đổi mới. Tôi muốn nói tới các đổi mới to lớn ở thượng tầng kiến trúc. Vẫn bám vào cương lĩnh Đảng từ thời Trần Phú. Vẫn là xây dựng chủ nghĩa xã hội dù Liên Xô và các nước Đông Âu đã vất bỏ chủ nghĩa đó 25 năm rồi. Vẫn tụng Mác-Lê, vẫn tôn thờ ông Hồ Chí Minh. Vẫn lặp đi lặp lại công ơn trời biển của Đảng, từ Cách mạng tháng Tám, tới hai cuộc chiến dài 30 năm. Vẫn tuyên truyền thành công của cuộc Cải cách ruộng đất trời long đất lở… Bao nhiêu Sự Thật được phơi bày, một cách khoa học, khách quan với đầy đủ chứng cứ, và được loan truyền trong dân chúng với tốc độ internet. Sự ngoảnh mặt của Đảng với Sự Thật và bám víu vào những luận điệu sai lầm cũ kĩ càng chứng tỏ mức độ mất tự do suy nghĩ và suy luận của Đảng là khủng khiếp dường nào!

2) Đảng không có tự do, và bởi vì Đảng nắm vũ khí trong tay, nên Đảng cũng tước đoạt tự do của dân chúng. Dân chúng dưới chính thể độc đảng toàn trị của Đảng CSVN không có một tí gì các quyền tự do căn bản. Các biểu hiện cho thấy Đảng thù ghét tự do nơi dân chúng. Đảng sợ hãi tự do nơi dân chúng.

Do đó, Đảng đã đóng sập mọi cánh cửa dẫn tới Sự Thật. Không tự do ngôn luận. Không báo chí tư nhân. Không hội đoàn độc lập. Người dân không có lối đi tìm Sự Thật.

3) Chưa thấy Đảng hợp tác với dân chúng tìm Sự Thật. Chỉ thấy Đảng “định hướng” thông tin cho dân. Những bức tượng Lê-nin bị giật đổ tại thủ đô một số nước Đông Âu không bao giờ xuất hiện trên báo chính thống của đảng. Các tin tức về những cuộc tàn sát khủng khiếp do Stalin hay Mao Trạch Đông gây ra, công hàm Phạm Văn Đồng công nhận Hoàng Sa -Trường Sa thuộc Trung Quốc, các thông tin về Đảng, về ông Hồ Chí Minh khác với tuyên truyền của Đảng đều bị giấu kín…

Các Sự Thật lịch sử bị giấu kín, các Sự Thật thời sự cũng bị giấu kín. Những tòa nhà quá hoành tráng của quan chức nhà nước chưa bao giờ xuất hiện trên báo chính thống. Chỉ có các trang mạng đăng lên, và những nhân vật bị nêu tên im lặng. Im lặng một cách thách thức! Thi thoảng có vài trang báo chính thống đăng tin: sự trấn áp đến liền. Khi báo Tuổi Trẻ đăng tin ông Hồ Chí Minh có người phụ nữ riêng, tổng biên tập Vũ Kim Hạnh mất chức. Khi các bài báo về vụ tham nhũng PMU xuất hiện, các nhà báo bị bỏ tù!  Khi báo Người Cao Tuổi đăng chứng cớ về sự tham nhũng của các quan thanh tra cao nhất nước, tổng biên tập Kim Quốc Hoa bị truy tố.

Có ai điều tra về việc ống nước Sông Đà? Về dự án đường sắt trên cao Hà Nội mà mức độ đội vốn lên hàng tỉ đô la? Về những con đường nghìn tỉ, giá thành cao gấp mấy lần so với Mỹ, mà vừa làm xong đã hư? Về trên 200 mạng người chết trong đồn công an? Về bauxite Tây nguyên? Về vụ án Đoàn Văn Vươn? Chỉ có chính quyền, làm sai rồi tự điều tra.

Những sự việc lớn hơn càng bị giấu kín hơn. Vụ công án xôn xao dư luận là Hội nghị Thành Đô bị bưng bít triệt để. Vài nhân chứng đề cập sự việc, báo nước ngoài tung tin, Đảng càng bưng bít. Dân chúng, trong khi cảm nhận sự việc là quá có hại cho quyền lợi tổ quốc, càng xôn xao phẫn hận trước trò bưng bít Sự Thật một cách công khai đó, và vẫn chưa tiếp cận được Sự Thật.

Do đó, đa số dân chúng Việt Nam bị mù, phải sờ soạng trong bóng đêm lần mò tìm chính sách ngoại giao dưới cây gậy thao túng chỉ đường của Đảng.

Kết Luận

Tôi hiểu không dễ để ông Vũ Ngọc Hoàng có những phát biểu khác hơn, rõ rệt hơn về Sự Thật. Cho nên tôi không có lời phê phán nào về ý đồ của ông, chỉ xin nói thẳng thắn rằng:

Trong khi ông Hoàng tuyên bố: “Đảng chủ trương nhìn thẳng vào Sự Thật” thì tôi có nhận định ngược lại 180 độ: “Đảng sợ Sự Thật, giấu giếm Sự Thật và cấm đoán dân chúng tìm Sự Thật”.

Thưa ông Hoàng, thời đất nước chia đôi, nếu Sự Thật về đời sống của dân chúng miền Nam tự do giàu mạnh, ấm no đến được với dân chúng miền Bắc, thì có cuộc nội chiến hủy diệt sinh lực đất nước 20 năm không?

Nếu Sự Thật về hậu quả của Cải cách ruộng đất miền Bắc và Cải tạo công thương nghiệp miền Bắc đến được với dân Việt, thì sau 1975, nước ta có các chiến dịch tiêu diệt lực lượng công thương giàu kinh nghiệm của miền Nam không? Nếu Sự Thật về đời sống và các biến chuyển chính trị thế giới đến được với dân Việt thì đất nước ta có sớm nghiêng về nếp sống tự do dân chủ hơn không? Có tránh được thảm họa thuyền nhân không? Tiềm năng dân tộc có sớm được khai phóng và GDP nước ta có thể cao gấp 3-4 lần hiện nay không? Ta có lệ thuộc Trung Cộng như bây giờ không?

Sự Thật quan trọng như vậy, cho nên nếu có thành tâm, xin ông Hoàng cùng với các đảng viên thực lòng muốn “Nhìn Thẳng Vào Sự Thật” hoạt động theo hướng này. Bên trong Đảng, các ông cùng phối hợp góp ý, đấu tranh với Đảng, vận động người cùng ý hướng. Bên ngoài Đảng, các ông phối hợp với các nhà báo tự do, lực lượng trí thức rộng rãi trong xã hội cùng nhau tìm, công bố và bảo vệ Sự Thật. Bảo vệ những con người hoạt động vì Sự Thật. Đấu tranh cho các quyền tự do ngôn luận, báo chí tư nhân, tự do lập hội…

Chỉ cần tiếp cận được Sự Thật, dựa trên Sự Thật, nhờ Sự Thật soi sáng, dân tộc Việt Nam sẽ phát triển mạnh và vươn cao.

T.P

Nguồn: http://www.voatiengviet.com/content/dang-co-muon-nhin-vao-su-that/3011953.html

Rộ nạn buôn người ở Việt Nam dưới nhiều hình thức

Rộ nạn buôn người ở Việt Nam dưới nhiều hình thức
Nguoi-viet.com
CẦN THƠ (NV) – Tình trạng buôn người ở Việt Nam đang diễn biến phức tạp, nhất là các tuyến biên giới với quy mô ngày càng lớn. Chỉ trong nửa năm 2015, công an đã phát hiện thêm 200 vụ, liên quan 310 người lừa bán 508 nạn nhân.

Một vụ xét xử sơ thẩm hai phụ nữ về tội buôn người ở Cần Thơ
vào Tháng Tám. (Hình: Thanh Niên)

Tờ Thanh Niên dẫn tin, ngày 17 Tháng Mười, tại hội nghị cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm mua bán người trên tuyến biên giới Việt Nam – Lào, và Việt Nam – Cambodia, do Bộ Công An tổ chức tại thành phố Cần Thơ, ông Hồ Sỹ Tiến, cục trưởng Cục Cảnh Sát Hình Sự, nhận định, tình hình sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng.

Theo phúc trình, các thủ đoạn buôn người cũng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, tính chất hoạt động phạm tội xuyên quốc gia và hình thành nhiều đường dây, gây cản trở cho công tác điều tra, khám phá và giải cứu nạn nhân.

Tại biên giới Việt Nam – Lào, nạn nhân chủ yếu tập trung từ các tỉnh miền Trung đã bị đưa sang Lào làm gái mại dâm hoặc lao động khổ sai trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ, các công trường và bị bóc lột sức lao động tại các khu khai thác khoáng sản.

Tin cho hay, bọn buôn người thường dụ dỗ, lừa gạt phụ nữ, trẻ em để đưa vào hoạt động trong các ổ mại dâm trá hình hay đưa đến các mỏ vàng, công trường xây dựng ở Lào để bóc lột sức lao động.

Ông Nguyễn Xuân Bắc, phó cục trưởng Cục Phòng Chống Tội Phạm Ma Túy, Bộ Tư Lệnh Biên Phòng, cũng cho biết, các dịch vụ giải trí như vũ trường, sòng bạc, massage phía Cambodia phát triển, kéo theo nhu cầu tuyển nhân viên nữ. Trong khi đó, một bộ phận phụ nữ ở các tỉnh miền Tây thiếu việc làm, trình độ thấp đã bị lừa gạt đưa sang Cambodia.

Chỉ trong năm 2014 và sáu tháng đầu năm 2015, các đơn vị chức năng đã phát hiện trên 1,000 phụ nữ, trẻ em đi khỏi nơi cư trú với lý do “đi làm ăn xa,” nhưng chủ yếu là qua Cambodia và Trung Quốc.

Cụ thể, năm 2014, Việt Nam có 469 vụ buôn người, liên quan 685 người và 1,031 nạn nhân. Khoảng trong nửa năm 2015, Việt Nam phát hiện thêm 200 vụ, liên quan 310 người đã lừa bán 508 nạn nhân.

Đáng lưu ý, theo ông Tiến, tình hình hoạt động tội phạm mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em, trong đó có cả trẻ sơ sinh, học sinh tại các tỉnh biên giới phía bắc cũng diễn ra phức tạp. Chỉ riêng ba tỉnh Lào Cai, Hà Giang, và Lai Châu, trong sáu tháng đầu năm 2015, có 20 vụ xảy ra.

“Đây là những nạn nhân tiềm tàng của hoạt động mua bán người. Do vậy, số vụ trên tuyến biên giới Việt Nam – Lào, Việt Nam – Cambodia trung bình hàng năm chiếm khoảng 6% trên tổng số vụ buôn người được phát hiện ở Việt Nam,” ông Bắc cho biết.

Theo đánh giá của Tổng Cục Cảnh Sát, thời gian qua, những nhóm buôn người luôn thay đổi phương thức, thủ đoạn để ép các nạn nhân hoạt động mại dâm, ép làm vợ bất hợp pháp; mua bán người thông qua môi giới hôn nhân bất hợp pháp, cho nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài, thông qua hình thức đưa người lao động ra nước ngoài, đi du lịch, tham quan, đẻ thuê, mua bán trẻ sơ sinh… Các đối tượng chủ yếu đưa nạn nhân ra nước ngoài bán (chiếm 90%, trong đó sang Trung Quốc chiếm 70% tổng số vụ). (Tr.N)

Báo chí quốc tế đưa tin vụ “Cậu Thủy” lừa đảo hài cốt của liệt sĩ

Báo chí quốc tế đưa tin vụ “Cậu Thủy” lừa đảo hài cốt của liệt sĩ

RFA
2015-10-17

000_APH2000042811263-305.jpg

Những hài cốt bộ đội bị chết từ năm 1967 và 1969 được phát hiện năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh.

AFP PHOTO
 
 Báo chí quốc tế đồng loạt đưa tin vụ Tòa án Việt Nam tuyên án chung thân cho Nguyễn Văn Thủy và 6 người khác với mức án nặng nề về tội lừa đảo hài cốt của liệt sĩ trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Các hãng tin AP, Reuters, AFP cũng như ABC, Washington Post đều có bài tường trình hay dẫn lại từ các nguồn tin của báo chí Việt Nam trong vụ án này.

Nguyễn Văn Thủy còn có biệt danh là “Cậu Thủy” tự xưng có thể tìm hài cốt thất lạc nhờ có khả năng ngoại cảm. Thủy cùng với đồng bọn tới các gia đình có con em là bộ đội mất tích trong chiến tranh ra giá từ 10 tới 15 triệu ứng trước và khi nào nhóm của Thủy tìm ra hài cốt sẽ đóng phần còn lại từ 100 triệu đồng trở lên.

Nhóm của Thủy trộm hài cốt của những liệt sĩ khác trong các nghĩa trang và đem về giao cho người bị lừa. Theo cáo trạng thì nhóm của Thủy đã lừa 70 gia đình với các hài cốt ăn trộm.

Vụ án được truyền thông quốc tế đưa tin không phải vì bản án nặng nề mà do tính lừa gạt tinh vi và qua mắt được dư luận cũng như chính quyền trong một thời gian rất dài.

Trước đây nhiều cán bộ đang tại chức cũng công khai đồng tình với những phong trào ngoại cảm và rất nhiều vụ lường gạt người dân đã xảy ra.

Báo chí Việt Nam cũng từng có thời gian chạy theo thị hiếu người dân thay vì phân tích sự việc theo hướng khoa học để ngăn cản các loại lừa đảo dưới dạng mê tín.

Được mùa con ông cháu cha

Được mùa con ông cháu cha

Nguyễn Thông

Ông Nguyễn Xuân Anh, tân Bí thư Thành ủy Đà Nẵng (Ảnh: Báo Tuổi Trẻ)
Ông Nguyễn Xuân Anh, tân Bí thư Thành ủy Đà Nẵng (Ảnh: Báo Tuổi Trẻ)

Những ngày qua, và nhất là hôm nay 16.10, khi Đại hội Đảng bộ một số tỉnh thành bế mạc và công bố Ban Chấp hành nhiệm kỳ mới, dư luận đặc biệt quan tâm đến những người trẻ tuổi được bầu vào những ghế “nóng”, nhất là Bí thư và Phó bí thư.

Có thể nói, nhân vật được sự chú ý nhất hôm nay là một người rất trẻ so với cương vị Bí thư Đảng bộ của một thành phố lớn hàng đầu cả nước, là ông Nguyễn Xuân Anh.

Theo báo điện tử Một Thế Giới, Đại hội Đảng bộ TP.Đà Nẵng ngày 16.10 đã bầu ông Nguyễn Xuân Anh, Phó bí thư thường trực Thành ủy Đà Nẵng giữ chức Bí thư, thay ông Trần Thọ. Báo cũng khẳng định rằng đến thời điểm này, có thể nói ông Nguyễn Xuân Anh là vị Bí thư Thành ủy trẻ nhất nước.

Ông Nguyễn Xuân Anh sinh năm 1976, trình độ tiến sĩ quản trị kinh doanh. Ông là con trai của nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Nguyễn Văn Chi. Ông Nguyễn Xuân Anh từng công tác tại báo Thanh Niên (hồi cùng chung cơ quan, tôi rất quý ông ấy và ông ấy cũng quý tôi bởi chung tính thẳng thắn), là Trưởng ban Quốc tế, sau đó chuyển về Đà Nẵng làm Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư TP.Đà Nẵng, Phó chủ tịch thường trực UBND quận Liên Chiểu, Phó bí thư rồi Bí thư Quận ủy Liên Chiểu. Ông được điều động giữ chức Phó chủ tịch UBND TP.Đà Nẵng trước khi làm Phó bí thư Thành ủy.

Cũng trong Đại hội Đảng bộ TP.Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020, một nhân vật trẻ khác được dư luận rất quan tâm là ông Nguyễn Bá Cảnh. Sinh năm 1983, ông Nguyễn Bá Cảnh, con trai của cố Bí thư Thành ủy Nguyễn Bá Thanh, đã được Đại hội bầu vào Ban chấp hành Đảng bộ TP.Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020.

Ông Nguyễn Bá Cảnh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Đà Nẵng

Ông Cảnh tốt nghiệp Đại học Kinh tế Đà Nẵng, du học ở Anh, lấy bằng thạc sĩ quản trị công. Trở về công tác tại Đà Nẵng, ông từng giữ chức vụ Phó bí thư thường trực Thành đoàn từ cuối năm 2011. Hiện ông làm Bí thư Thành đoàn Đà Nẵng.

Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước, những thông tin từ các Đại hội Đảng bộ tỉnh thành được người dân hết sức chú ý. Sự quan tâm ấy không phải chỉ bởi họ muốn biết ai sẽ là người đứng đầu bộ máy lãnh đạo ở địa phương mà còn tò mò muốn biết những con ông cháu cha nào sẽ nối gót cha anh mình. Chính vì vậy, khi Đại hội Đảng bộ tỉnh Hậu Giang công bố danh sách Ban Chấp hành mới, các cơ quan báo chí và nhân dân đã nhắc nhiều đến một nhân vật trẻ, ông Huỳnh Thanh Phong, Giám đốc Sở Công Thương Hậu Giang, đạt 226/320 phiếu, xếp thứ 49/52 ứng viên được bầu.

H1

Ông Huỳnh Thanh Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Hậu Giang

Ông Huỳnh Thanh Phong sinh ngày 23.12.1982, vào Đảng ngày 22.2.2012, cử nhân ngành tài chính, tín dụng. Trước khi làm Giám đốc Sở Công Thương, ông Phong từng giữ chức Trưởng phòng Tín dụng, Quỹ đầu tư và phát triển tỉnh Hậu Giang, được bầu làm Phó giám đốc quỹ này hồi tháng 5.2014.

Nhiều người còn biết ông là con trai ông Huỳnh Minh Chắc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy. Ông Chắc đã làm đơn xin thôi chức Bí thư, nghỉ trước tuổi hồi tháng 7 vừa rồi. Đến tháng 10, đơn của ông Chắc được Bộ Chính trị chấp thuận. Ông đã nhận quyết định thôi giữ chức Bí thư Tỉnh ủy nhưng hiện ông vẫn là Trưởng đoàn Đại biểu quốc hội tỉnh Hậu Giang.

Một nhân vật khác từng thu hút sự chú ý của dư luận là ông Nguyễn Minh Triết. Ông sinh năm 1990, là con trai út của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, từng tốt nghiệp thạc sĩ tại Anh quốc.

Cuối tháng 6.2014, khi mới 24 tuổi, đang giữ chức vụ Phó ban Thanh niên trường học Trung ương Đoàn, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ – phát triển sinh viên Việt Nam, ông Triết được Ban Bí thư Trung ương Đoàn cử về làm Phó bí thư Tỉnh đoàn Bình Định nhiệm kỳ 2013-2017 theo chương trình đưa cán bộ đi đào tạo thực tế tại cơ sở.

H1

Ông Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Bình Định, được coi là tỉnh ủy viên trẻ nhất nước khi mới 25 tuổi

Sau đó, ông Triết đảm nhiệm chức Bí thư Tỉnh đoàn Bình Định. Tháng 12.2014, ông Triết được Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ định tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định nhiệm kỳ 2010-2015.

Sáng 16.10, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định đã công bố danh sách 55 người trúng cử vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020, ông Triết đã trúng cử vào Ban Chấp hành mới. Theo báo Vietnamnet, ông Triết là người trẻ tuổi nhất trúng cử.

Ông Triết có anh trai là ông Nguyễn Thanh Nghị, 39 tuổi, tiến sĩ khoa học xây dựng, từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Xây dựng, hiện là Phó bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang. Ông Nghị vừa được bầu vào cương vị mới quan trọng hơn, là Bí thư Tỉnh ủy tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Kiên Giang trong phiên họp Ban Chấp hành tối 16.10. Như vậy hai anh em ông Nghị-ông Triết, tức hai con trai của thủ tướng kỳ này đều đắc cử.

Vài ngày trước đó, một trong những nhân vật tạo ra sự chú ý đặc biệt cho báo giới và dư luận là ông Lê Phước Hoài Bảo, 30 tuổi (sinh năm 1985), Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư Quảng Nam trúng vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Nam nhiệm kỳ 2015-2020. Ông Bảo là con trai của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Lê Phước Thanh. Ông Bảo tốt nghiệp Trường đại học Kinh tế Đà Nẵng, chuyên ngành Tài chính tín dụng. Từ tháng 8.2010 đến tháng 8.2012 ông Bảo được cử đi học thạc sĩ chuyên ngành Quản trị tài chính và chiến lược tại trường Claremont Graduate University, Mỹ. Ông từng giữ chức Trưởng phòng Xúc tiến đầu tư của Ban quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai, sau đó tháng 3.2014 được bầu làm Phó chủ tịch UBND huyện Thăng Bình.

H1

Ông Lê Phước Hoài Bảo (giữa), Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Quảng Nam

Hồi tháng 7, ông Lê Phước Thanh từng gây xôn xao dư luận khi làm đơn gửi Bộ Chính trị xin thôi chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam mặc dù chưa hết nhiệm kỳ, đề nghị cho nghỉ hưu sớm bởi lý do sức khỏe. Đến đầu tháng 9, Bộ Chính trị đã chuẩn y đơn của ông Thanh.

Tại TP.HCM, một đô thị đặc biệt sôi động, đứng hàng đầu cả nước về nhiều mặt, trong đó có cả việc mạnh dạn cất nhắc sử dụng những người trẻ, thì người trẻ luôn có chỗ đứng và cơ hội phát triển. Chắc không mấy ai quên, hồi tháng 8 vừa qua, Thành ủy TP.HCM đã điều động nhân sự về làm lãnh đạo một số quận huyện, trong số đó có nhân vật đặc biệt: ông Lê Trương Hải Hiếu.

H1

Ông Lê Trương Hải Hiếu, Chủ tịch UBND quận 12, TP.HCM

Nói đặc biệt là bởi ông Hiếu là con trai đương kim Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải. Nhưng đặc biệt hơn bởi ông mới 34 tuổi, từng giữ các chức vụ quan trọng: Bí thư Đảng ủy phường Bến Thành (phường trọng điểm của thành phố), Phó chủ tịch UBND quận 1 (quận trọng điểm), lần này thì được điều động giữ chức Phó bí thư Quận ủy, Chủ tịch UBND quận 12. Tại Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần thứ 10, nhiệm kỳ 2015-2020 đang diễn ra, dư luận nhận xét rằng ông Hiếu thuộc lớp cán bộ lãnh đạo trẻ mà thành phố đang đặt nhiều hy vọng. Tuy nhiên, lần này, có lẽ vì lý do tế nhị nên ông Hiếu không có tên trong Ban Chấp hành Đảng bộ cái thành phố mà chính cha ông đang làm Bí thư.

Các “thái tử đảng” (theo cách gọi của nhà báo Trương Duy Nhất) đã tạo nên hội chứng tuổi 30, đủ cả khen chê, lời ra tiếng vào. Tuy nhiên, chưa bao giờ người ta lại lẩm nhẩm câu “Con vua thì lại làm vua/Con sãi ở chùa lại quét lá đa” nhiều như lúc này.

Mỹ điều tàu áp sát đảo nhân tạo: Vai trò Việt Nam

Mỹ điều tàu áp sát đảo nhân tạo: Vai trò Việt Nam

Vũ Lan

Một thái độ chính trị nhập nhằng đến độ ngu xuẩn chưa từng thấy

Nếu ở trong một khung cảnh tự do như ở Mỹ, chắc chắn ông này sẽ bị công luận chỉ ngay vào mặt mà nói rằng: “Shut up! What the hell are you talking about?!” (Câm mồm lại! Ông đang nói cái gì mà ngu ngốc thế hả?!)

Thật đúng là “hết biết”!

Quân Tàu cướp nước đang “lộng giả thành chân”, biến đồ chơi thành đồ thật để áp đặt thô bạo quyền tự do hàng hải mà nạn nhân trực tiếp là tổ quốc Việt Nam mình. Nhưng bởi hèn nhát hay yếu thế sợ hãi không dám nói.

Nay có một tay hảo hớn phương xa, dám vung gươm phản kháng quân cường bạo Trung Hoa như Mỹ. Thế nhưng mình vẫn bị tâm lý sợ hãi và cầu an, vọt mồm bày tỏ thái độ nhập nhằng đến độ ngu xuẩn với lũ Tàu Ô cướp nước như thế. Bởi xuất phát từ ngu dốt, hèn nhát hay âm mưu bán nước đây?

Trần Kiêm Đoàn

(FB Trần Kiêm Đoàn)

Việt Nam không hoan nghênh bất cứ nước nào đi vào khu vực này nhằm mục đích làm phức tạp thêm tình hình tranh chấp tại Biển Đông.

Trước thông tin, cho rằng Mỹ sẽ điều tàu tuần tra vào khu vực giới hạn 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo Trung Quốc xây trái phép ở Biển Đông, trao đổi với báo Đất Việt ngày 13/10, ông Lê Việt Trường – Phó chủ nhiệm Ủy ban an ninh quốc phòng cho biết, theo quy định của Luật biển Việt Nam mọi hoạt động của tàu quân sự của nước ngoài trong lãnh hải của Việt Nam đều phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

clip_image001

Mỹ thông báo điều tàu tuần tra vào khu vực giới hạn 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo phi pháp của Trung Quốc

Luật Biển Việt Nam đã quy định rất cụ thể về chế độ pháp lý về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.

Theo đó, tàu thuyền, máy bay nước ngoài trước khi có hoạt động trong vùng biển của Việt Nam cần tìm hiểu kỹ để thực hiện đúng quy định của Công ước 1982 của LHQ về Luật biển và Luật biển CHXHCN Việt Nam.

Việt Nam đã tham gia Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 ngày 25/7/1994 và tôn trọng quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải theo đúng quy định của Công ước.

Luật Biển Việt Nam quy định, “việc đi qua không gây hại trong lãnh hải không được làm phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, trật tự an toàn trên biển”.

Theo đánh giá của ông Trường, ý đồ của Mỹ tuy chưa rõ ràng nhưng nhiều khả năng Mỹ muốn chứng tỏ tầm ảnh hưởng cũng như khả năng kiểm soát khu vực này. Đây cũng là tín hiệu mà Mỹ muốn nhắn gửi cho đồng minh ngoài NATO của Mỹ trong khu vực để củng cố lòng tin ở Mỹ. Thực chất, động thái này không nằm ngoài chiến lược xoay trục sang khu vực Châu Á Thái Bình Dương của Chính phủ Brack Obama.

Tuy nhiên, Phó chủ nhiệm Ủy ban ANQP khẳng định dù với tính toán, mục đích gì, Mỹ cũng cần phải góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định của khu vực, không làm phức tạp thêm tình hình.

“Việc Trung Quốc thực hiện các hoạt động tôn tạo, bối đắp các đảo, bãi đá ngầm, rạn san hô tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam) không được phép của Nhà nước Việt Nam là hành động phi lý và hoàn toàn không có giá trị, không thể hy vọng có được chế độ pháp lý theo Công ước của LHQ 1982 về luật biển, vì lịch sử của vấn đề là Trung Quốc đã thực hiện hành động chiếm đóng trái phép bằng vũ lực, hoàn toàn vi phạm luật pháp quốc tế.

Việt Nam mới là nước có quyền chủ quyền và quyền tài phán tại hai quần đảo này. Do đó, khi ra vào khu vực 12 hải lý ở các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, phía Mỹ phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam”, ông Trường nói.

Về phía Việt Nam, ông Trường khẳng định, Việt Nam luôn hoan nghênh tất cả các nước có sự quan tâm, chia sẻ, có tiếng nói và việc làm ủng hộ, góp phần việc bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực Biển Đông nhưng phải dựa trên nguyên tắc tuân thủ luật pháp quốc tế. Việt Nam không hoan nghênh bất cứ nước nào đi vào khu vực này nhằm mục đích làm căng thẳng thêm, phức tạp thêm tình hình tranh chấp tại Biển Đông.

Ông cũng cho biết, đây mới là tuyên bố đơn phương từ phía Mỹ, tới nay Chính phủ Việt Nam chưa nhận được bất cứ một thông báo nào của nước này về hành động đưa tàu áp sát các khu vực đảo nhân tạo nói trên.

Ngày 13/10, báo chí nước ngoài dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter khẳng định, quân đội Mỹ có quyền đi lại trên biển và bay qua không phận những khu vực mà luật pháp quốc tế cho phép, bao gồm cả Biển Đông.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tuyên bố ủng hộ giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình và phản đối các hành vi cưỡng chế, vi phạm các tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế, có thể làm gia tăng căng thẳng ở các vùng biển, bao gồm cả Biển Đông.

Theo Reuters, thông điệp ông Carter đưa ra là sự phủ nhận rõ ràng đối với các hoạt động xây đảo nhân tạo phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông.

V. L.

Nguồn: http://m.baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/my-dieu-tau-ap-sat-dao-nhan-tao-vai-tro-viet-nam-3289037/