Nhà Nước Tận Thu & Nhân Dân Tận Diệt

Nhà Nước Tận Thu & Nhân Dân Tận Diệt

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Tỉ lệ thuế và phí dân VN phải chịu đóng/GDP cao từ 1,5 đến 3 lần các nước trong khu vực là để nuôi tới 3 bộ máy chồng chéo chéo chức năng, nhiệm vụ với nhau: đảng cộng sản, chính phủ, các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội trong Mặt trận tổ quốc từ TW tới địa phương.

Võ Thị Hảo

Mai tôi ra đi chắc Cambodia mưa
Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội
Nhưng chậm thế nào cũng phải xa nhau ..

Tui cũng thơ thẩn vài câu cho ông Nguyên Sa vui lòng (nơi chín suối) chớ chuyến này “xa nhau”  luôn cũng được, cũng không có gì đáng tiếc. Sau hai mùa nắng (như đổ lửa) và hai mùa mưa (như thác đổ) tui đã ớn cái xứ Chùa Tháp này tới tận ngón chân út của mình rồi.

Từ phòng đợi của phi trường Pochentong, nhìn Nam Vang ảm đạm trong bầu trời xám xịt (nói thiệt) tôi cũng cảm thấy có hơi ái ngại nhưng tiếc thương hay vương vấn thì không. Nhất định là không.

  • Adieu Phnom Penh!

Tôi vừa thầm thì lời từ giã xong thì một cậu nhỏ bán báo (bất ngờ) xuất hiện, miệng mồm liếng thoắng:

  • The Cambodia Daily! The Cambodia Daily! The Cambodia Daily!

Còn báo chí mẹ rượt gì vào giây phút giã từ này nữa, cha nội?  Nói “vĩnh biệt” rồi là kể như hết chuyện. Từ nay, đường ai nấy đi; tiền ai nấy sài; hồn ai nấy giữ. Bận lòng chi nữa lúc chia phôi ?

Đã định lắc đầu nhưng cái tựa bản tin nơi trang nhất (“Hun Sen Announces Broad Cuts of Petty Taxes”) khiến tôi đổi ý:

“The country’s lower class will receive a series of tax breaks starting in 2016, Prime Minister Hun Sen announced Thursday, with tariffs on motorbikes, tuk-tuks and farm machinery to be waived, along with fees at stalls in state-owned markets. “From next year onward, the road tax for motorbikes, tuk-tuks and agricultural machinery such as tractors, tillers and boats will no longer be charged,” he said. “It will be cut off.”

“Từ năm tới, xe gắn máy, xe tuk-tuk, xe máy cầy, ghe thuyền sẽ không phải chịu thuế nữa,” ổng nói vậy đó. “Sẽ bỏ luôn.”

Trời, sao cái thằng cha Thủ Tướng Hunsen này bảnh dữ vậy cà? Tôi chưa bao giờ nghe ông Phạm Văn Đồng, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải “tuyên bố” một câu ngon lành (bằng một phần ngàn) cỡ đó. Và qua tới “trào” ông Nguyễn Tấn Dũng thì chuyện thuế phí khiến cho cả nước đều muốn “trào máu họng” luôn:

          – NLĐ: Phí chồng phí.

          – VOV: Ra ngõ gặp trạm thu phí.

          – MTG: Kỷ lục khó phá: Gần 10 cây số có 5 trạm thu phí.

          – VOVGT: Bức xúc thu phí, tài xế dàn xe chặn huyết mạch Tây Bắc.

          – TTO: Lệ phí đăng ký mới ôtô tại TP.HCM tăng lên 11 triệu đồng/xe, gấp 5,5 lần so với trước.

          – BVSC: Vận tải biển – Đang khó khăn lại còn tăng phí.

          – TTO: Hầm chưa xong đã thu phí: hàng triệu lượt xe khi đi qua đèo Cả phải chấp nhận đóng một khoản phí   đường bộ hết sức vô lý khi hầm đường bộ đèo Cả chưa đưa vào khai thác.

          – BAB: Tăng phí công chứng các loại hợp đồng.

          – ĐSPL: Hà Nội tăng phí trông giữ xe đạp, xe máy, ô tô bắt đầu từ tháng 9.

          – VOV: Tăng phí tham quan các di tích lịch sử cố đô Huế.

          – V.J.T : Phí tham quan Vịnh Hạ Long sắp tăng gấp đôi.

Riêng chuyện “tăng phí tham quan” khiến tôi nhớ đến sự phẫn nộ của dân bản địa, ở khu du lịch Đambri. Ông K’Vếu, một người K’Ho gần 70 tuổi, đến từ huyện Bảo Lâm trút bầu tâm sự:

Ngọn thác Đambri hùng vĩ này đã ngàn đời nay thuộc về tổ tiên chúng tôi, thuộc về cha ông chúng tôi, thuộc về chúng tôi. Vùng đất Đambri xinh đẹp này đã ngàn đời nay là của chung các tộc người K’Ho, Châu Mạ. Trước đây, chúng tôi tự do vào ra Đambri, tự do hẹn hò ở Đambri, tự do tổ chức các ngày lễ ở đây, tự do đốt lửa rồi nhảy múa ca hát và uống rượu cần ở đây….

Thật đau xót và cay đắng. Họ đột ngột xuất hiện, và xây dựng lên ở Đambri này một khu du lịch mà không hỏi chúng tôi lấy một tiếng, không xin phép tổ tiên chúng tôi, ông cha chúng tôi và dĩ nhiên là cả chúng tôi nữa. Giờ đây, chúng tôi chỉ là những vị khách xa lạ trên mảnh đất đã từng rất thân quen và gắn bó với chúng tôi. Và, buồn đau thay, chúng tôi phải mua vé để chiêm ngưỡng và tận hưởng những vẻ đẹp đã từng thuộc về chúng tôi. Chúng tôi mất và họ được. Mất mát của chúng tôi quá lớn... (“Nỗi Buồn Đambri” – Tâm Don).

Tác giả bài báo thượng dẫn cũng cho độc giả biết thêm đôi chút kinh nghiệm của ông, về chuyện thu phí, khi đi du lịch ở nước ngoài:

Quần thể di sản văn hóa của nhân loại Angkor ở tỉnh Seam Reap, Cambodia là một quần thể di tích có một không hai trên thế giới. Chính quyền vương quốc Cambodia đã giao quyền bảo quản và khai thác quần thể di sản này cho một công ty tư nhân có ông chủ là một người Cambodia gốc Việt.

Vé vào tham quan quần thể di sản này rất cao. Nhưng điều lạ lùng là, trước cổng mua vé luôn có tấm bảng có dòng chữ: MIỄN PHÍ CHO NGƯỜI CAMBODIA. Người hướng dẫn viên du lịch người Cambodia gốc Việt giải thích cho những du khách Việt Nam: Miễn phí vé cho người Cambodia là một điều hoàn toàn đúng, hoàn toàn hợp tình thấu lý. Quần thể di sản Angkor là di sản của đất nước Cambodia, là thành tựu chung của người Cambodia...

Những người dân Châu Mạ, K’Ho – hy vọng – sẽ bớt “buồn đau” phần nào nếu biết rằng chuyện “tận thu” không chỉ xẩy ra ở Đambri. Đây là chủ trương xuyên suốt của Nhà Nước từ tuốt miền ngược xuống đến miền xuôi, không sót một nơi nào.

Báo Người Lao Động, số ra ngày 11 tháng 8 năm 2015, kêu Trời: “Đừng ‘siết’ nữa, dân khổ lắm rồi! Dự thảo với hơn 1.000 loại phí và lệ phí về nông nghiệp vừa được trình lấy ý kiến của Quốc hội làm cho bất cứ ai cũng phải giật mình. Nếu cứ mạnh tay thu phí như thế này thì người dân sẽ kiệt quệ và chẳng mấy lúc chẳng còn gì để thu.”

Ảnh: Tuổi Trẻ

Theo nguyên văn lời của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan thì chế độ hiện hành đã chuyển hướng từ “tận thu” sang “tận diệt.” Cách nói của bà khiến tôi liên tưởng đến chhuyện bắt cá (bằng điện) rất phổ biến hiện nay của người dân Việt. Họ kích điện bằng tay trong những cánh đồng hoặc sông rạch nhỏ, hay bằng ghe có hai gọng lưới  trên những dòng sông lớn.

Ghe dùng xung điện để bắt cá trên sông Sài Gòn. Ảnh & chú thích: Tuổi Trẻ

Dù giữa Biển Hồ hay trong những sông rạch lớn/nhỏ đan xen khắp xứ, tôi không hề thấy kiểu bắt cá “tân kỳ” như thế ở đất Chùa Tháp. Người Khmer không kiếm sống bằng cách tận diệt nguồn cá, và hủy hoại môi sinh. Chính phủ ở đất nước này cũng biết khoan sức dân nên không chủ trương tận thu thuế má.

Ngày 23 tháng 10 vừa qua, Hunsen đã tuyên bố cắt những khoản thuế lặt vặt đánh vào xe gắn máy, xe tuk-tuk, xe máy cầy, ghe thuyền…

Ở Cambodia, ít nhiều, dân chúng (cũng như những kẻ đang nắm quyền) vẫn còn đặt niềm tin vào tương lai của chế độ và đất nước. Niềm tin này, rõ ràng, không có ở  Việt Nam.

Cách đây chưa lâu, tôi nghe nhà báo Huy Đức bầy tỏ nỗi băn khoăn: “Bao giờ bằng được Campuchia?” Câu hỏi của ông e sẽ không có lời giải đáp vì dân Việt không chung hướng đi với toàn thể nhân loại.

Việt Nam hiện có khuynh hướng bước lùi. Giới lãnh đạo đang hối hả vơ vét hay ra sức tận thu, và dân chúng thì cố sức tận diệt (bất chấp sự hủy hoại môi sinh) để đáp ứng nhu cầu bức thíết cho cuộc sống hàng ngày.

Tình trạng đất nước, tuy thế, vẫn chưa lấy gì đáng lo cho lắm – theo ý kiến của TS Vũ Minh Khương:

“Khó khăn trong quyết định của mỗi người chúng ta hôm nay không phải là làm cách gì để đất nước tiến lên mà là làm gì để chúng ta không lùi tiếp nữa, bởi đường lùi của chúng ta còn rộng rãi thênh thang lắm.”

“Ông cha chúng ta để lại cho chúng ta đất đai ở vị thế đẹp và nhiều tài nguyên quý giá. Thế giới lại thương cảm chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Thế hệ chúng ta chỉ cần cho nhượng thuê đất trong các dự án đầu tư dễ dãi, bán tài nguyên, và vay nợ quốc tế cũng đủ sống xênh xang được 20-30 năm nữa. Ta nhượng đất của ông cha làm sân golf và dân ta sẽ không thể đói nhờ nghề nhặt bóng và đánh giày…”

Tôi thực sự tán thưởng sự lạc quan của T/S Vũ Minh Khương, dù tự thâm tâm vẫn lo ngại rằng người Việt khó mà “sống xênh xang được được 20-30 năm nữa” – nếu vẫn tiếp tục phải chịu đựng cảnh một cổ ba tròng, và tình trạng tận thu cũng như tận diệt không chấm dứt nay mai.

Chuyện cục gạch của ‘Bác Hồ’

Chuyện cục gạch của ‘Bác Hồ’
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Liên tưởng là nhân sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ tới sự việc, hiện tượng khác có liên quan, có khi tương đồng nhưng có khi tương phản. Mấy hôm nay trời California trở lạnh, tôi nghĩ đến những ngày tuyết giá ở miền Đông, nơi mà tôi đã sống một thời gian mấy năm, nhưng đồng thời tôi cũng nghĩ đến một cái gì nóng và ấm. Thì ra tôi đang nhớ đến chuyện cục gạch của “Bác Hồ” mà tôi đã được nghe qua ở đâu đó.

Chuyện cục gạch này không phải là huyền thoại, nó cũng không là chuyện tiểu thuyết hư cấu, mà chính là chuyện thật của đời “Bác,” do chính “Bác” kể, và chính “Bác” viết thành sách, thì đương nhiên phải là chuyện thật. Tên cuốn sách là: “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch,” và tác giả là Trần Dân Tiên, không sai vào đâu, đó chính là “Bác.” Khổ nỗi, không ai nói cho bọn trẻ dưới chế độ XHCN biết Trần Dân Tiên “chính mi,” Hồ Chí Minh.

Câu chuyện Trần Dân Tiên viết ở trang 36 về “cục gạch của Bác” như sau:

“Ông trọ ở một phòng nhỏ trong một khách sạn rất rẻ tiền ở xóm lao động. Phòng chỉ vừa kê một cái giường sắt chật, một cái bàn nhỏ và một cái ghế. Chỉ thế thôi, không có gì khác. Về mùa Đông lạnh, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, ông để một viên gạch vào lò bếp của khách sạn. Chiều đến ông lấy viên gạch ra, bọc nó vào trong những tờ báo cũ, để xuống nệm cho đỡ rét.”

Câu chuyện Trần Dân Tiên viết, có thể xem qua rồi bỏ, nhưng khổ thay các con cháu của “Bác” lại cứ nhặng xị lên, làm như thật, vì cái gì của “Bác” lại không thơm tho, vĩ đại. Không rõ câu chuyện thực hư thế nào, các văn công thi sĩ cứ vung bút ca tụng lên cho có lập trường cái đã, rồi mọi chuyện tính sau.

Chế Lan Viên, chuyên viên nịnh bợ, đã viết một câu thơ chẳng ra thơ:

“Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá!”

Tố Hữu không quên “nghề của chàng” nhưng câu cuối xuống “xề” quá vụng:

“Muôn nỗi đời như ảnh trắng đen
Bâng khuâng đêm lạnh, thức bên đèn
Một hòn gạch nóng nung tâm huyết
Mẩu bánh mì con nuôi chí bền.”

Sách “Bác” ghi rõ ràng là viên gạch, trước khi đi làm “Bác” bỏ vào lò bếp khách sạn, nhưng đời sau, sợ bếp khách sạn không đủ nóng, người ta lại nói “Bác” đem gửi cục gạch ở lò bánh mì. Con cháu đời sau, có người minh chứng rằng một “cục gạch hồng” không thể gói bằng tờ giấy báo đem lên lầu hai nơi “Bác” ở được, tờ báo sẽ cháy và “Bác” sẽ bị phỏng tay. Một cục gạch nếu được đốt nóng cũng không giữ nhiệt được quá một tiếng đồng hồ.

Bác ở nhà số 9 ngõ Compoint từ ngày 14 Tháng Bảy, 1921 đến 14 Tháng Ba, 1923, mãi đến 56 năm sau, hơn nửa thế kỷ, kể cũng lạ, là khi phái đoàn Cộng Sản Bắc Việt đến Paris, tìm đến thăm nơi “Bác” ở, mà tất cả hãy còn nguyên vẹn: “Một chiếc la-va-bô treo tường, có vòi nước chỉ để rửa mặt, ngay cạnh đó là một chiếc tủ quần áo làm bằng gỗ tạp. Sát tường bên trái là một chiếc giường sắt đơn vừa đủ một người nằm. Đầu giường có một chiếc tủ con để sách vở và vài đồ lặt vặt. Phía trên có một ngọn đèn nhỏ vừa đủ để thắp sáng gian buồng…”

Báo Giáo Dục và Đào Tạo còn phịa chuyện: “Ta còn phải học Bác ở tinh thần vượt gian khổ để học tập. Thời gian Bác sống ở Paris, rất cực khổ. Bác thuê phòng trọ nhỏ trong một khách sạn rẻ tiền, mỗi buổi mai nấu cơm trong một cái sanh nhỏ đặt trên ngọn đèn dầu. Cơm ăn với một con cá mắm hoặc một ít thịt, ăn một nửa còn một nửa dành đến chiều. Có khi một miếng bánh mì với một miếng phó-mát là đủ ăn cả ngày.”

Ở Paris vào năm 1921, chưa có dân Việt tị nạn Cộng Sản chạy sang đông như dân Little Saigon ngày nay, mà “Bác” đã kiếm ra cá mắm để xơi nửa con, và gạo Ông Địa để nấu cơm, mà nấu cơm trên một ngọn đèn dầu, lòng tôi không thấy chút nào khâm phục “Bác” mà khâm phục người viết báo thối tha nào đã bịa chuyện kinh hoàng đến mức này.

Ông Nguyễn Trường Phú, chuyên viên Bảo Tàng Hồ Chí Minh, còn bạo gan nói rằng “hiện vật viên gạch hồng” cùng với nhiều đồ vật khác mà người thanh niên Nguyễn Ái Quốc sử dụng khi ở ngôi nhà số 9, ngõ Công-poăng, quận 17, thành phố Pa-ri (Pháp) nằm trong bộ sưu tập quý của Bảo Tàng Hồ Chí Minh.” Nhưng sau đó, thấy chuyện vô lý, ông này đã nói lại là viên gạch trưng bày ở đó hiện nay là viên gạch được phục chế trên cơ sở viên gạch đồng thời, đồng loại do ông tổng lãnh sự Pháp tại Sài Gòn tặng viện bảo tàng!

“Năm 1974, chiếc tủ đựng quần áo, tủ con để đầu giường đã được đại sứ quán nước ta tại Pháp tổ chức lực lượng vận chuyển qua Béc-lin (Đức) bằng xe lửa, rồi gửi về nước!” Thật quá rắc rối!

Cũng không hiểu sao với chuyện nhà cửa đắt đỏ ở một thành phố lớn như Paris, mà bà chủ nhà Jammot lại để nguyên đồ đạc trong căn phòng của “anh Nguyễn” hơn nửa thế kỷ, để chờ phái đoàn Việt Cộng đi hội đàm ở Paris đến thăm và đòi mua lại. Hồ Chí Minh sinh năm 1890, hoạt động ở Paris đến năm 1921, tức là lúc ông đã 31 tuổi. Nếu bà cụ Jammot trẻ lắm thì phải trạc hay hơn tuổi “Bác,” như vậy năm 1974, bà đầm này cũng đã 84 tuổi, còn ở nguyên căn nhà ấy, còn minh mẫn để nhớ, kể chuyện vanh vách và dẫn lên tầng 2, nơi “anh Nguyễn” ở. Giá mà Bộ Chính Trị chở được bà này về Hà Nội trưng bày trong viện bảo tàng thì hay biết mấy!

“Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” “là cuốn sách kể lại những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ Tịch Hồ Chí Minh từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến những năm đầu trong cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược,” của chính một người viết để đánh bóng thân thế và sự nghiệp của chính mình. Chính “Bác” trong cuốn sách này đã tự tả vẻ “đẹp lão“của mình (vào năm 1946) “Tóc người đã hoa râm, trán rộng và cao, đôi mắt sáng ngời, mũi thẳng …”

Thế giới từng có chuyện suy tôn lãnh tụ, cũng có văn, thi sĩ đặt thêm bút hiệu để tự ca tụng mình, nhưng quả thật trên đời này, không ai vô liêm sỉ bằng “Bác!”

Trở lại huyền thoại “cục gạch hồng” của “Bác” người ta kể lại một câu chuyện “tếu” như sau:

“Một phái đoàn Hà Nội được thành lập, lên đường đi Paris, quyết tâm cao tìm cục gạch. Đến Pháp, họ tới ngõ làm bánh mì ngày xưa, thăm hỏi, lục lọi nhiều nơi, nhiều ngày, nhưng không ai nghe nói đến cục gạch của ‘Bác.’ Cuối cùng họ gặp một bà đầm đầu tóc bạc, móm mém ở một góc phố. Kiên nhẫn, nhân viên trong phái đoàn lập lại những câu hỏi về cục gạch.

-Các ông nói là các ông đi tìm cục gạch để sưởi ấm những đêm Đông tại nhà trọ, ngõ này của ông Nguyễn?

-Vâng ạ, chúng cháu đang tìm cục gạch đó ạ.

-Thế thì: Cục gạch, mà các ông đang đi tìm chính là… tôi đây!

Đừng tin những gì “Bác” nói và những chuyện chúng ca tụng về “Bác.”

Chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

Người Bắc gọi “bốc phét.”

Người Nam kêu “ba xạo!”

Những nỗi chia lìa

Những nỗi chia lìa
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Làm nghề truyền thông, thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được điện thư của những người không quen biết ở nhiều nơi. Ngoài những chuyện trao đổi ý kiến, khen ngợi hay chê trách, nhiều lúc tôi lâm vào tình trạng khó xử về những lá thư nhờ tôi một vài việc nhỏ, mà tôi không làm được hay chần chờ không biết giải quyết, trả lời ra sao?

(Hình minh họa: Phil Eggman/US Navy)

Những bức thư này mang những hoàn cảnh khá giống nhau: “Tìm cha.” Không phải như những đứa con lai Mỹ được chính phủ Hoa Kỳ mang về quê cha, nhưng không biết cha là ai, tác giả những bức thư mà tôi nhận được biết rất rõ về cha mình, qua lời kể của mẹ. Ngày chiến tranh chấm dứt, các em còn quá nhỏ, bây giờ 40 năm trôi qua, các em đã trưởng thành, có gia đình, nhưng có mẹ mà không có cha, các em có nhu cầu đi tìm lại người cha của mình với những lời gọi buồn thảm:

-“Cha ơi! Bây giờ cha ở đâu?”

– “Ba cháu tên là Nguyễn Văn Ba, cấp bậc trung úy thuộc Tiểu Khu Long An. Tháng Tư, 1975, trong cơn hỗn loạn, ba cháu xuống tàu đi Mỹ, từ ấy đến nay không có tin tức gì về với gia đình. Mẹ cháu đem con về nương náu bên ngoại, nhẫn nhục nuôi con, mong chờ tin cha, nhưng tin cha biền biệt. Nghe nói cha cháu hiện ở California, mong bác rộng lòng nhắn tin, tìm giúp ba cháu. Cháu và gia đình không quên ơn bác.” (Nguyễn Thị Hoài)*

– “Ngày 30 Tháng Tư, 1975, cháu đang còn ở trong bụng mẹ. Ba cháu là lính không quân, di tản trước khi Sài Gòn mất. Từ đó đến nay, mẹ cháu nói không có tin tức gì của ba cháu. Bà ẩn nhẫn sinh và nuôi con, lập gia đình với một người đàn ông khác và sinh ra những đứa con khác cha với cháu. Ông dượng sau này rất yêu thương cháu và rất thông cảm với hoàn cảnh của mẹ con cháu. Cháu lớn lên, hiện nay đã có gia đình và sinh hai con.

Cháu biết chuyện xưa qua lời kể của bà ngoại lúc cháu sắp đi lấy chồng. Mẹ cháu không bao giờ nhắc chuyện cũ, nhưng trong thâm tâm, cháu vẫn tha thiết muốn biết cha cháu là ai, không phải để nhờ cậy gì nhưng, ít ra cho lòng cháu khỏi ray rứt.” (Phan Thị Hoàng Oanh)*

Bức thư kèm theo chi tiết, tên tuổi, trú quán ngày trước của người đàn bà mang thai ở lại và tên của của người cha không bao giờ biết mặt của người con gái gửi thư.

Trong cơn hỗn loạn của Sài Gòn vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi nghe Cộng Quân sắp vào, phản ứng bình thường là ai cũng mong tìm đường ra đi lánh nạn, và không ai nghĩ đến ngày một, ngày hai mình sẽ trở về, không ai có thể hứa hẹn với những người thân yêu ngày tái ngộ là bao lâu. Họ để tất cả dĩ vãng lại sau lưng, tất bật làm lại cuộc đời trên quê hương mới, học hành hay làm lụng vất vả để sống còn. Ngày tháng trôi qua, những bản tin từ quê nhà mỗi ngày mỗi xấu đi, và nỗi sum họp hay trở về hầu như tan biến. Có những người chung thủy, sắt son nhưng cũng có những người yếu đuối, buông xuôi trong dòng đời xô đẩy, và thời gian không dừng lại để chờ đợi ai. Những người bạn của tôi đã có công ăn việc làm, lập gia đình mới, sinh con đẻ cháu, những đứa con ra đời nơi đây đã thành đạt, dưới một mái nhà hạnh phúc.

Tôi nghĩ là họ không bao giờ quên chuyện cũ, nhưng đã không một lần nói ra thì không bao giờ có cơ hội nói lại. Nếu đây hẳn không là một điều tội lỗi thì họ cũng có những giấc ngủ không yên, một nỗi lo sợ ám ảnh trong suốt cuộc đời còn lại, một thứ hạnh phúc mong manh, không an toàn.

Ở trường hợp này, có thể nào tôi đi tìm họ, người sĩ quan hay người lính không quân đã bỏ lại những đứa con hay cái bào thai trong bụng người yêu, để nói với những người này những sự thật mà không bao giờ họ muốn nghe hay sợ hãi nếu phải nghe.

Tôi không sống qua những khoảnh khắc của đời họ, với những định mệnh bất ngờ và lo toan của riêng mỗi người. Tôi cũng không muốn đem lại một thảm họa cho những người bạn này, mà hạnh phúc họ đã vun xới trong vài chục năm qua, bỗng nhiên đổ vỡ.

Nếu bạn là họ, giờ đây bạn phải cư xử như thế nào.

Nếu bạn là người phụ trách phân xử trong hội đồng gia tộc, trong họ hàng hay đang là người phụ trách “Gỡ Rối Tơ Lòng,” “Giải Đáp Tâm Tình,” cho một đại nhật báo có uy tín nhất, hay bạn là bà Tùng Long ngày xưa, hay là quý bà Phillips của Dear Abby để cho tôi xin một lời khuyên, một lời khuyên tốt đẹp của đôi bề, không làm tổn thương hạnh phúc của một ai.

Tôi sẽ nói gì với những đứa con đi tìm cha đã viết thư cho tôi.

Cứ xem như cha cháu không còn nữa. Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, rất nhiều gia đình hy vọng hay tưởng chồng mình đã lên được một con tàu nào đó để ra đi và mỗi ngày họ hy vọng có một tin tức hay một lá thư trở về. Nhưng sự thật, trên con đường vượt thoát, trong bom đạn, họ đã nằm lại trên một mảnh đất quê hương hay một bờ biển nào đó. Đó là trường hợp một quân nhân của Sư Đoàn 1, gia đình tưởng đã lên một con tàu nào đó ở Thuận An để ra đi, nhưng cuối cùng, 30 năm sau, người ta tìm thấy xương cốt của ông trên bãi biển An Dương cùng với đồng đội của mình.

Hay là tôi sẽ nói sự thật, là cha cháu còn sống, nhưng ông đã có một mái ấm gia đình khác, giàu có, thành đạt nhưng có thể không hạnh phúc, nếu mỗi khi ông nghĩ đến mối tình xưa và giọt máu của mình không biết giờ này ra sao, sống chết, phiêu bạt nơi nào? Nếu nói đến một người đang ray rứt khổ đau, thì người đó chính là ông, người cha mà con đang tìm kiếm, chứ không phải đó là mẹ của con hay chính là con.

Rồi ra, khi lớn lên, va chạm với những nghịch cảnh của cuộc đời, thấu hiểu số mệnh, con sẽ hiểu.

Chúng ta lên án ai bây giờ? Một người đàn ông phụ bạc hay là một người đàn bà không có lòng rộng lượng.

Chúng ta lên án chiến tranh, có hàng triệu nạn nhân, trong đó có mẹ, có cha cháu, và hiện nay là cháu.

Ở những đất nước bình an trên thế giới, không bao giờ nghe tiếng đạn bom, ít xảy ra những cuộc đổ vỡ, chia lìa, chết chóc như quê hương của chúng ta. Mang số phận Việt Nam, ở đó, đã có bao nhiêu nấm mồ chôn vội, bao nhiêu vành khăn tang, bao nhiêu nạng chống, bao nhiêu đứa trẻ không cha, và những người quả phụ, mất chồng khi chưa qua tuổi đôi mươi.

Nếu đêm nay cháu không ngủ, thao thức nghĩ đến một người cha không bao giờ biết, không bao giờ gặp, thì người cha ấy chắc cũng không tròn giấc, có khi lòng như lửa đốt, trên chăn êm, nệm ấm mà nghĩ như trên gai nhọn hằng đêm.

Có thể câu chuyện mà cháu nhờ đến tôi, tôi không bao giờ giúp cháu được.

Dù xót xa, tôi nghĩ rồi ra cháu sẽ hiểu, sẽ tha thứ và sẽ quên.

(*) Tên, tuổi, thông tin của những người trong cuộc đã được thay đổi.

Việt Nam không thể khác với Miến Điện

Việt Nam không thể khác với Miến Điện

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

Bản đồ Miến Điện và Việt Nam (minh họa)

Bản đồ Miến Điện và Việt Nam (minh họa)

File photo

Miến Điện cuối cùng sau 53 năm đã giành được quyền phổ thông đầu phiếu để bước tới một nền dân chủ mà người dân của họ mơ ước. Còn Việt Nam, với chính phủ hiện tại và điều 4 hiến pháp khẳng định sự cai trị duy nhất của đảng có thể áp dụng bài học Miển Điện được không? Mặc Lâm phỏng vấn GS Tương Lai, nguyên Giám đốc Viện nghiên cứu Xã Hội Việt Nam để biết thêm ý kiến một đảng viên lão thành của Đảng cộng sản Việt Nam trước câu hỏi này. Trước tiên GS Tương Lai cho biết:

Giáo sư Tương Lai:Đây là một tin vui lớn vì Miến Điện rất gần gũi với Việt Nam và bối cảnh của Miến Điện trong thời gian trước đây cũng ở trong một thể chế độc tài, phản dân chủ, mà trong chừng mức nào đó, nó lại còn gay gắt hơn Việt Nam. Thế nhưng, khi mà ông Then Sein có một chuyển đổi khiến người ta dùng từ “một chuyển đổi vĩ đại”.

Vì đấu tranh cho tự do dân chủ đã khó, tự giác “cho không” quyền tự do dân chủ còn khó hơn. Sự thật, trong lịch sử nhân loại thì chưa có nhà độc tài nào “cho không” quyền tự do dân chủ, kể cả khi đã nằm yên trong nấm mồ. Lúc mà ông ta quyết định như vậy thì sức mạnh cũng vẫn còn nằm trong tay ông ấy chứ không phải ông ấy đã bị tước hết trước một cái áp lực nào ( mà đương nhiên là có rồi) nhưng thực ra nếu ông ta vẫn kiên trì chế độ toàn trị phản dân chủ, chế độ quân phiệt thì chắc cũng là khó khăn. Nếu tiến đến dân chủ, bà Aung Shan Suu Kyi cầm quyền được hay là đảng của bà lên được thì có khi máu sẽ chảy thành sông. Tuy vậy, ông Then Sein nhận thức được cái xu thế không thể nào thay đổi và ông ấy cũng nhận thức được áp lực từ phía nhân dân lên chính quyền của ông, lên thể chế phản dân chủ của ông cho nên ông đã có một quyết định mà tôi nghĩ là vĩ đại.

Ông Then Sein thoát ra khỏi vòng kim cô, ra khỏi áp lực của TQ, theo chỗ tôi biết thì đường biên giới của Miến Điện với TQ còn dài hơn gấp hai lần đường biên giới giữa Việt Nam và TQ

Giáo sư Tương Lai

Mặc Lâm: Như chúng ta đã biết, Miến Điện đã rất mạnh mẽ để chặt đứt mối quan hệ lệ thuộc đối với Trung Quốc cho nên ông Then Sein mới có thể giải quyết được những gì mà ông ấy và đồng minh của ông ấy muốn. Tuy nhiên, với Việt Nam thì vừa qua, vấn đề đón Tập Cận Bình đã cho thấy là lãnh đạo Việt Nam không muốn rời bỏ mối quan hệ với TQ. Như vậy thì làm cách nào ạo được biến chuyển trong khi TQ vẫn muốn Việt Nam trong tình trạng như vậy?

Giáo sư Tương Lai: Ông Then Sein thoát ra khỏi vòng kim cô, ra khỏi áp lực của TQ, theo chỗ tôi biết thì đường biên giới của Miến Điện với TQ còn dài hơn gấp hai lần đường biên giới giữa Việt Nam và TQ. Áp lực của TQ do lính đánh thuê TQ nhân danh đảng Cộng sản Miến Điện nằm áp sát vào biên giới đó và vẫn tiếp tục đe dọa bằng vũ lực liên miên trong hàng chục năm. Đến bây giờ, bối cảnh đã thay đổi và áp lực đó bị đẩy lùi.

Không đẩy lùi được cái này, không cắt đứt cái vòi bạch tuộc của TQ thì dù ông Then Sein có muốn cũng không làm được. Trong hàng ngũ lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, tôi biết rằng người ta cũng hiểu rất rõ trong cái tâm thế của người Việt thì theo Tàu là nhục nhã lắm, là tội đồ của lịch sử. Bây giờ ghét ai là cho là “thắng ấy thân Tàu”. Không phải là họ không điều đó đâu mặc dầu là họ bị lừa bịp bằng cái ý thức hệ XHCN; Vì vậy mới có Thành Đô nhục nhã và tai hại.

Cho đến hiện nay càng ngày càng thấy rõ rồi nhưng họ chưa đủ bản lĩnh vì họ còn sợ con “ngáo ộp” Tập Cận Bình, con “ngáo ộp” TQ cho nên không phải là chúng không lung lạc được một số người trong đội hình lãnh đạo Việt Nam đâu. Vì vậy, áp lực đó đang dồn vào trước cái thềm đại hội XII. Hiện nay, cho đến giờ phút này, người ta đang chờ đại hội trung ương XIII và không biết sau hội nghị XIII có còn hội nghị trung ương XIV không? Đại hội XII có họp được không là tùy thuộc vào bản lĩnh của những người lãnh đạo Việt Nam tách ra khỏi cái vòng kim cô, sức trói buộc của Tàu đến đâu.

Mặc Lâm: Thưa giáo sư, ai cũng thấy tập hợp giữa bà Aung Shan Suu Kyi và ông Then Sein đã làm nên lịch sứ cho Miến Điện. Tuy nhiên, muốn có một Then Sein ở Việt Nam mà không có Aung Shan Suu Kyi thì làm sao được, thưa ông?

Giáo sư Tương Lai: Mỗi một nước có một bước đi riêng của mình. Anh nhìn xem quá trình của sự sụp đổ của khối Xô Viết, mở đầu bằng Gobachov đến một anh say rượu là Yelsin, rồi đến anh độc tài Putin. Có ai ngờ được những bước đi như thế đâu. Không ai ngờ cả. Hồi ấy, cách đây đến 20 năm, trên một chuyến xe đi từ Phú Thọ về dừng lại trước cửa tòa báo Nhân Dân, lúc bấy giờ tôi còn nói với ông Đức Lượng là Phó Tổng biên tập và ông Đinh Thế Huynh là cán bộ đi theo ông Đức Lượng, tôi nói “báo Nhân Dân các ngài chửi ông Gorbachyov ít thôi. Rồi đây phải đúc tượng đồng, bia đá cho người ta đó”.

Đòi Việt Nam cũng có một Aung Shan Suu Kyi thì tôi thấy Aung Shan Suu Kyi đã nằm trong 90 triệu người Việt Nam đó! Nằm trong sự phẫn nộ của những người Việt Nam vì chế độ toàn trị này ở Việt Nam đã làm cho đất nước lụn bại, không đi lên được

Giáo sư Tương Lai

Các ông này trợn tròn mắt lên và nói “tại sao anh nói sai về nghị quyết Bộ chính trị?” Tôi nói là rồi đây sẽ được chứng minh, lịch sử sẽ trả lời cho các anh biết. Những cái chuyện mà các anh phân tích đó nó không đúng với xu thế chung đâu. Từ hồi ấy đến nay đã hơn 20 năm. Lịch sử nó đi chậm chạp đến như thế.

Đùng một cái, với sự kiện như Miến Điện thì tôi cho là lịch sử sẽ như bước nhảy thúc đẩy. Vậy thì đòi Việt Nam cũng có một Aung Shan Suu Kyi thì tôi thấy Aung Shan Suu Kyi đã nằm trong 90 triệu người Việt Nam đó! Nằm trong sự phẫn nộ của những người Việt Nam vì chế độ toàn trị này ở Việt Nam đã làm cho đất nước lụn bại, không đi lên được. Đã làm cho đất nước này trở thành một trong những đất nước lạc hậu nhất trong khu vực. Khi đã có một ngòi nổ ở Miến Điện như thế, có một tấm gương của tổng thống Then Sein, có một tấm gương của Aung Shan Suu Kyi thì ở Việt Nam sẽ tạo ra các nhân tố mới. Tất cả những cái đó đều nằm trong nội dung của lòng phẫn nộ và trong qui luật phát triển của lịch sử. Không có gì thay đổi được đâu.

Mặc Lâm: Vâng, một lần nữa xin cảm ơn giáo sư Tương Lai đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn ngày hôm nay.

Chủ tịch Trung Quốc sẽ được tiếp đón bằng nhiều cuộc biểu tình ở VN?

Chủ tịch Trung Quốc sẽ được tiếp đón bằng nhiều cuộc biểu tình ở VN?

15h00 hôm nay, Thứ Tư (4.11.2015), trước ngày ông Tập Cận Bình chủ tịch nhà nước Trung Quốc đến Việt Nam , dân Sài Gòn đã biểu tình phản đối tại trung tâm thành phố.

15h00 hôm nay, Thứ Tư (4.11.2015), trước ngày ông Tập Cận Bình chủ tịch nhà nước Trung Quốc đến Việt Nam , dân Sài Gòn đã biểu tình phản đối tại trung tâm thành phố.

Blog ptlambao
 Ngay trước chuyến công du Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tại Hà Nội và Sài Gòn diễn ra một số hoạt động với nội dung phản đối người đứng đầu đảng và chính phủ Trung Quốc sang thăm Việt Nam khi mà Bắc Kinh có những hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh hải của Việt Nam.

Mít tinh- hội thảo tại Hà Nội

Ba đơn vị gồm Chương trình Minh Triết Làm chủ Biển Đông, Viện Nghiên Cứu Văn Hóa Biển, Viện Nghiên cứu Lý Luận và Phát Triển đồng tiến hành buổi mítting- hội thảo vể ‘Lịch sử Chủ quyền Biển đảo Việt Nam’ vào sáng ngày 4 tháng 11 tại Hà Nội.

Theo kế hoạch sinh hoạt diễn ra từ 8 giờ 30 sáng thế nhưng trước đó nơi tổ chức sự kiện bị mất điện một cách bất thường. Ngoài ra bên ngoài khu vực còn có xe của cảnh sát, xe buýt chuẩn bị bắt người…

Tuy vậy buổi mít tinh- hội thảo cuối cùng cũng được tiến hành. Giám đốc Chương trình Minh triết Làm chủ Biển Đông, ông Nguyễn Khắc Mai, cho biết lại:

“ Có khoảng ngót 100 người dự gồm nhiều nhà trí thức, có cả những quan chức ví dụ như giáo sư Đặng Hữu- nguyên ủy viên trung ương trưởng Ban Khoa giáo, tiến sĩ Thanh Giang, tiến sĩ Nguyễn Quang A, giáo sư Trần Ngọc Vương, phó giáo sư Trần thị Đoan Thanh, có rất nhiều nhà khoa học về các lĩnh vực, có nhiều cựu quan chức kể cả thành viên trong Ban tư vấn chính phủ cũng tham dự. Đặc biệt có những thành viên No-U, dân oan, những anh chị ở ngoại thành, cả dư luận viên, sinh viên, đoàn viên thanh niên cộng sản mặc áo xanh, đeo huy hiệu …

Như thế là cuộc họp mà chúng tôi gọi là một ‘tiểu Diên Hồng’ để bàn vấn đề chủ quyền biển đảo.

Chúng tôi cũng nói rằng ngày mai ông Tập Cận Bình đến Hà Nội, hôm nay anh tập hợp đây đã truyền một tinh thần mạnh tại khu vực Ba Đình để thấy thái độ của nhân dân Hà Nội không đồng tình và phản đối chính sách bá quyền, đại Hán, đế quốc chủ nghĩa theo kiểu Trung Hoa, thao màu sắc Trung Hoa hiện nay chứ không chỉ có vấn đề Biển Đông. Mà còn nhiều vấn đề trong các mối quan hệ với các dân tộc trên thế giới này ở Châu Á, Châu Phi… đặc biệt với Việt Nam.”

Một người tham dự và cũng là diễn giả tại buổi mít tinh- hội thảo, nhà nghiên cứu Biển Đông Đinh Kim Phúc từ Sài Gòn, có đánh giá về buổi mít tinh- hội thảo tại Hà Nội mà ông tham dự trong ngày 4 tháng 11  như sau:

” Chúng tôi cũng nói rằng ngày mai ông Tập Cận Bình đến Hà Nội, hôm nay anh tập hợp đây đã truyền một tinh thần mạnh tại khu vực Ba Đình để thấy thái độ của nhân dân Hà Nội không đồng tình và phản đối chính sách bá quyền, đại Hán, đế quốc chủ nghĩa theo kiểu Trung Hoa, thao màu sắc Trung Hoa hiện nay chứ không chỉ có vấn đề Biển Đông

ông Nguyễn Khắc Mai”

“ Mở đầu cuộc hội thảo, giáo sư Trần Ngọc Vương của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội có bài tổng kết rất hay chỉ ra lịch sử của Trung Quốc là lịch sử của một nhà nước nội địa, nhà nước thảo nguyên không hề có văn hóa biển. Đó là điểm rất hay để phán bác lại lời nhận vu vơ chủ quyền Hoàng Sa- Trường Sa  của Việt Nam là của Trung Quốc từ rất lâu đời. Và giáo sư Trần Ngọc Vương cũng chỉ ra bản chất của nhà nước Trung Quốc là một đối kháng giữa Nho giáo và pháp gia từ trước đến giờ mà gây ra nhiễu loạn trên thế giới dẫn đến chủ nghĩa bành trướng bá quyền, sô vanh đại Hán.

Phát biểu của giáo sư Nguyễn Đăng Hưng trên tinh thần của một nhà khoa học chỉ ra những sai lầm trong chính sách đối ngoại của nhà nước Trung Quốc hiện nay với chính sách bá quyền của họ. Giáo sư Hưng đặc biệt nhất mạnh Philippines là một nước nhỏ nhưng nhân dân, trí thức Philippines đã ngẩng đầu trước toàn thế giới. Mặc dầu phiên xử kiện của Tòa Trọng tài ở La Haye chưa tiến hành, nhưng Philippines ngẩng đầu vì đã đối đầu với một siêu cường như Trung Quốc.

Tôi thấy rằng hội thảo ngày hôm nay có một tiếng nói rất thống nhất yêu cầu lãnh đạo nhà nước Việt Nam khi tiếp Tập Cận Bình phải đặt vấn đề làm sáng tỏ chủ quyền Hoàng Sa- Trường Sa là của Việt Nam. Còn nếu Trung Quốc không chấp nhận phải đưa ra Tòa án Công lý quốc tế.”

Thanh niên Từ Anh Tú tham gia mít tinh- hội thảo bày tỏ cảm tưởng và ý kiến sau buổi mít tinh- hội thảo:

“ Nói chung buổi hôm nay rất tuyệt vời vì được thêm những thông tin quí về chủ quyền biển đảo của mình tại Hoàng Sa, Trường Sa; những đòi hỏi rất phi lý của Trung Quốc về hai quần đảo này.

Cần phải làm nhiều việc: trước hết phải tuyên truyền ra cho người dân biết về thông tin này, thứ hai về phía chính phủ cần phải có những động thái mạnh mẽ hơn chẳng hạn kiện Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế. Tức là cần phải làm gì đó hơn là cứ im lặng, chính phủ không lên tiếng thì dần dần mặc nhiên Trung Quốc sẽ chiếm hai quần đảo này.”

” Trong những ngày qua trên mạng cũng xuất hiện lời kêu gọi của hơn 20 tổ chức xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam về việc đón Tập Cận Bình tại VN. Theo đó vào ngày 5/11 mọi người tập trung biểu tình để đưa ra thông điệp yêu cầu TQ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông; chấm dứt hành động bắn giết ngư dân VN”

Biểu tình- kiến nghị tại Sài Gòn

Cũng trong ngày 4 tháng 11, vào lúc 2 giờ chiều tại chân Tượng đài Trần Hưng Đạo ở Bến Bạch Đằng, thành phố Sài Gòn, Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng tiến hành cuộc biểu tình theo như kế hoạch thông báo trước đó.

Ông Đinh Quang Tuyến, một nhà hoạt động tham gia cuộc biểu tình ở Sài Gòn vào chiều 4 tháng 11 cho biết lại hoạt động đó:

“ Được khoảng 100 người, hôm nay tinh thần rất mạnh mẽ. Tổ chức rất bài bản mà công an không quấy phá và cho đến lúc này anh em đang đi taxi về vẫn không có quấy phá. Người quan trọng nhất là giáo sư Tương Lai và tất cả những vị bô lão của CLB Lê Hiếu Đằng làm nòng cốt. Còn lại có nhiều bạn trẻ Thanh niên Dân chủ, Con Đường Việt Nam…

Tôi cầm cái dù vàng ( viết chữ) ‘Tôi yêu Việt Nam, tôi yêu Hoàng Sa, tôi yêu Trường Sa’. Còn của những người khác mỗi người một kiểu viết tiếng Hoa, tiếng Việt, tiếng Anh. Anh em viết sao cho công chúng nhận ra được thôi. Vô số biểu ngữ với nội dung ‘Đả đảo Tập Cận Bình’, ‘Không tiếp Tập Cận Bình ở Việt Nam’…

Hôm nay người dân được thỏa mãn khi được xem một cuộc biểu tình chống Trung Quốc diễn ra hoàn hảo. Tổng thời gian chừng 1 tiếng 10 phút: ở Tượng đài nửa tiếng và ở khu phố đi bộ nửa tiếng. Đại khái thế.”

Kêu gọi biểu tình

Trong những ngày qua trên mạng cũng xuất hiện lời kêu gọi của hơn 20 tổ chức xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam về việc đón Tập Cận Bình tại Việt Nam. Theo đó vào ngày 5 tháng 11 mọi người tập trung biểu tình để đưa ra thông điệp yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông; chấm dứt hành động bắn giết ngư dân Việt Nam; nhà cầm quyền Trung Quốc phải tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế.

Biểu tình sẽ diễn ra từ 9 giờ sáng trước Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội và trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn.

Vào ngày 3 tháng 11 tại Hà Nội, một số nhà hoạt động cũng xuống đường mang theo biểu ngữ phản đối chuyến thăm Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình theo thông báo diễn ra trong hai ngày 5 và 6 tháng 11 này.

Mất đảng có mất nước?

Mất đảng có mất nước?

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

H1Theo báo chí trong nước, chiều ngày 22 tháng 10 vừa qua, trong một phiên họp tại Quốc hội, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, có bài nói chuyện về tình hình quốc phòng và an ninh của đất nước, trong đó, ông liệt kê những thắng lợi của Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như biện hộ cho vai trò lãnh đạo của đảng trong sự nghiệp giữ nước. Ông nhấn mạnh: “Nếu mà mất Đảng, mất chế độ thì biển đảo cũng mất”.

Để khẳng định như vậy, ông Phùng Quang Thanh đưa ra hai lập luận chính:

Thứ nhất, sự lãnh đạo độc tôn của đảng sẽ mang lại ổn định trong xã hội và sự độc lập của đất nước. Ông lập luận: “Nếu mà trong nội bộ đất nước để xảy ra bạo loạn, biểu tình, ly khai, xảy ra tổ chức đối lập, để xảy ra lực lượng vũ trang đối lập (như một số nước đã có), mà lại phải dùng lực lượng chức năng trấn áp, để xảy ra thương vong, đổ máu thì bên ngoài sẽ lấy cớ vi phạm dân chủ, nhân quyền, dùng biện pháp này, biện pháp khác để bao vây, cấm vận, cô lập chính trị, chia rẽ nội bộ, thừa cơ đó lật đổ chế độ.”

Thứ hai, ông cho chính nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của đảng Cộng sản nên cho đến nay, Việt Nam mới vừa giữ được chủ quyền trên Biển Đông vừa duy trì được hoà bình cho đất nước. Ông cho biết trong mấy chục ngày Trung Quốc mang giàn khoan HD-981 đến thềm lục địa Việt Nam, Bộ Chính trị đã có 12 phiên họp để bàn về kế sách đối phó. Kết quả là, sau đó, Trung Quốc cho kéo giàn khoan về nước và Biển Đông đã lặng sóng. Ông cũng nói thêm là các hòn đảo ở Trường Sa do bộ đội Việt Nam trấn giữ vẫn thuộc Việt Nam; các giếng khoan dầu ngoài khơi vẫn tiếp tục hoạt động và ngư dân vẫn tiếp tục đánh cá an toàn.

Những lập luận ấy, thật ra, hoàn toàn nguỵ biện.

Thứ nhất, liệu dân chủ hoá có dẫn đến hỗn loạn, từ đó, sự can thiệp của nước ngoài hay không? Câu trả lời rất rõ: Không. Cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, tất cả các chế độ cộng sản tại Nga và Đông Âu sụp đổ, không có nước nào lâm vào cảnh bạo loạn cả. Trừ Nga, tất cả các nước khác đều ngày một trở thành dân chủ hơn, và cùng với dân chủ, thịnh vượng hơn. Trong hai năm 2011 và 2012, các chế độ độc tài ở một số quốc gia Trung Đông và Bắc Phi lần lượt sụp đổ và dù gặp rất nhiều gập ghềnh và khúc khuỷu, con đường dân chủ hoá cũng càng lúc càng mạnh mẽ. Sự hỗn loạn chỉ có ở Syria và Libya nhưng ở cả hai nước này, sự hỗn loạn đến từ những nguyên nhân khác: sự phân hoá về chủng tộc và, đặc biệt, tôn giáo với sự tham gia của các lực lượng Hồi giáo cực đoan. Ngay ở Á châu, từ mấy năm nay, Miến Điện cũng dần dần dân chủ hoá nhưng không gây nên bất cứ sự bất ổn nào. Bởi vậy, không có lý do gì để sợ khi chế độ Cộng sản sụp đổ, Việt Nam sẽ lâm vào khủng hoảng. Hơn nữa, khi sự thay đổi ấy xuất phát từ chính đảng Cộng sản với một lộ trình dân chủ hoá mạnh mẽ và rõ ràng, nguy cơ khủng hoảng càng giảm thiểu.

Thứ hai, liệu không còn đảng Cộng sản, biển đảo Việt Nam có bị mất? Câu trả lời cũng không.

Có hai lý do chính.

Một là, sự thật lịch sử trong mấy chục năm vừa qua chứng minh một điều ngược lại: chính chế độ cộng sản tại Việt Nam mới làm cho Việt Nam mất biển đảo vào tay Trung Quốc. Ai cũng biết công hàm Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958, trong đó, thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa). Ai cũng biết năm 1974, khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, chính những người lính Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam đã liều mình để bảo vệ đảo trong khi đó, ở miền Bắc, chính quyền do đảng Cộng sản lãnh đạo thì hoàn toàn im lặng. Ai cũng biết năm 1988, khi Trung Quốc đánh chiếm mấy bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa, chính quyền Việt Nam chỉ phản ứng lấy lệ và cuối cùng, các bãi đá ấy đều lọt vào tay Trung Quốc. Ai cũng biết từ mấy năm nay, trước các hành động lấn chiếm ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông, kể cả việc bắt bớ, thậm chí giết hại ngư dân Việt Nam trên Biển Đông, Việt Nam cũng chỉ phản ứng một cách rất “ngoại giao”. Phản ứng cho có để dân chúng khỏi lên án, vậy thôi. Nói chung, trước dã tâm xâm lấn biển đảo của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam chưa hề chứng tỏ có một chiến lược đối phó nào cho thật rõ ràng trừ sự nhường nhịn. Hơn nữa, với những khẩu hiệu “4 tốt” và “16 chữ vàng”, dường như họ cũng không thấy hết nguy cơ đến từ Trung Quốc.

Hai là, tuyệt đối không có bằng chứng nào cho thấy một chế độ dân chủ sẽ trở thành yếu ớt hơn trong việc bảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nước. Nếu không muốn nói, ngược lại. Chế độ dân chủ có hai mặt mạnh mà một chế độ độc tài không có: Thứ nhất là dễ có liên minh rộng rãi và vững chắc với các nước khác trên thế giới; và thứ hai là dễ nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của dân chúng.

Nói tóm lại, lập luận “mất đảng, mất chế độ thì mất biển đảo” chỉ là một sự nguỵ biện. Nó không đúng. Nó chỉ biện hộ cho việc duy trì chế độ độc tài tại Việt Nam mà thôi.

No U No XI

No U No XI
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Cuộc biểu tình chống Trung Cộng tại Hà Nội sáng ngày 3 tháng 11 năm 2015 diễn ra được là điều thật bất ngờ. Vì lực lượng an ninh Cộng Sản đã có kế hoạch đàn áp từ nhiều ngày trước, khi 21 tổ chức cùng ký tên kêu gọi đồng bào tập họp phản đối chuyến đi của Tập Cận Bình. Ngoài những biểu ngữ quen thuộc như: Ðả đảo Trung Quốc xâm lược, hoặc Hoàng Sa-Việt Nam, Trường Sa-Việt Nam, bà con còn trương lên một khẩu hiệu mới: “Phản đối lệ thuộc Trung Cộng.” Bốn chữ “Lệ thuộc Trung Cộng” có thể coi như một danh từ, gọi đích danh thủ phạm, tên của một đảng và một chính quyền!

Những người dự cuộc biểu tình đều mang nét mặt đăm chiêu cương nghị chứ không tươi cười như mọi lần trước, bởi vì họ biết công an đang chụp hình, sẽ theo dõi, và sẽ bắt bớ, giam cầm, hành hạ. Nhưng họ vẫn bất chấp mọi thử thách, hiên ngang tiến bước, vì quyết tâm bảo vệ tổ quốc. Nhiều người, nam, nữ, người lớn tuổi và thanh thiếu niên, mặc áo thung chữ T với khẩu hiệu NO U và NO XI!

Hai chữ NO XI, viết tiếng Anh cho cả thế giới hiểu, nghĩa là không đồng ý đón tiếp Tập Cận Bình (tên là Xi Jin Ping, phiên âm lối Bắc Kinh). NO U nghĩa là không chấp nhận vùng biển hình chữ U của Cộng Sản Trung Quốc bao gồm tất cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa coi là lãnh hải Trung Hoa, người Việt còn gọi là “đường lưỡi bò,” Trung Cộng gọi là “Cửu Ðoạn Tuyến.” Ngực áo NO U có vẽ bản đồ biển Ðông Nam Á, tô đậm vùng chữ U này với hai nét gạch chéo xóa bỏ.

Phong trào NO U mới tổ chức cuộc họp mặt kỷ niệm bốn năm kể từ ngày phát động phong trào. Từ mấy tuần qua trên Facebook khắp thế giới cũng được coi hình ảnh bốn người Việt yêu nước đeo tấm bảng NO XI trên ngực, đứng giữa đường với những khuôn mặt tự tin rạng rỡ. Họ đã biểu tình trên mạng trước khi thực hiện trên đường phố Hà Nội.

Những người dự cuộc biểu tình ngày hôm qua biết chắc sẽ bị đàn áp, vì trong tuần trước cuộc họp mặt kỷ niệm bốn năm hoạt động của anh chị em NO U đã bị công an trấn áp từ trước khi bắt đầu. Khi các thành viên NO U mới tề tựu, đã có mấy người vào trong quán, chiếc xe của họ bị chụp hình cho thấy cái mũ sĩ quan công an. Anh chị em NO U đang họp mặt thì đèn trong quán tắt ngúm, trong cả khu vực chỉ có một nhà hàng này bị cúp điện. Sau đó, một nhóm côn đồ chạy vào quán phá phách, đánh đập nhiều người rồi biến đi rất nhanh. Trong lúc điện tắt, mấy tay công an ngồi nhậu từ trước cũng biến luôn, cũng không trả tiền thức ăn và tiền rượu! Công an Cộng Sản không bỏ được thói ăn quỵt trong lúc làm nhiệm vụ trấn áp người Việt yêu nước!

Trước khi Hà Nội trải thảm đó đón rước Tập Cận Bình, báo chí quốc tế đã nghe nhiều người Việt lên tiếng và đăng lại. Ông Lã Việt Dũng nói với đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA rằng khi nào Trung Quốc vẫn còn tiếp tục chính sách bành trướng ở Biển Ðông thì dân Việt không muốn tiếp ông Tập Cận Bình. Blogger Lê Anh Hùng nhận xét rằng nhân dân Việt Nam lo cho chủ quyền đất nước hơn là giới lãnh đạo chính quyền. Ông yêu cầu họ phải lắng nghe tiếng nói của người dân.

Chính quyền Cộng Sản không nghe mà còn đàn áp không cho dân Việt được phát biểu ý kiến. Họ cấm các báo, các đài không được cho những người dân khác nghe những ý kiến chống Trung Cộng. Chắc phải rất hài lòng về hiệu quả đàn áp dân của đám đàn em, cho nên trước khi Tập Cận Bình qua nước ta tờ Hoàn Cầu Thời báo ở Bắc Kinh đã khen ngợi, viết rằng: “…vấn đề Biển Ðông trong năm nay có xu hướng hạ nhiệt rõ rệt trong dư luận Việt Nam!”

Tại sao họ có thể nói phong trào phản kháng của dân Việt “hạ nhiệt rõ rệt?” Ký giả tờ Hoàn Cầu Thời Báo, một cơ quan chính thức của Cộng Sản Trung Quốc, viết rằng: “Mở một trang báo Việt Nam bằng tiếng Anh hôm 29 tháng 10, chỉ thấy tin tức về các vấn đề kinh tế, dân sinh (mà không thấy tin dân chúng biểu tình chống Trung Cộng). Nhưng ngay người dân Trung Hoa cũng hiểu lý do: Cộng Sản Trung Quốc vẫn kiểm soát tất cả các cơ quan truyền thông. Ðám tay sai của chúng ở Việt Nam không bao giờ dám loan tin dân phản đối Trung Cộng!

Cũng vì bộ máy tuyên truyền ở nước ta phải làm tay sai cho cả Cộng Sản Trung Quốc, cho nên không một báo, một đài nào loan tin về bản tuyên bố của các nhà trí thức Việt Nam, trong và ngoài nước, phản đối cuộc công du sang Hà Nội của Tập Cận Bình. Nhưng bản tuyên bố này, được đưa lên mạng lấy chữ ký, đã trình bày những ý kiến thâm sâu, tha thiết của tất cả mọi người Việt, trước cảnh đất nước bị ngoại bang xâm lấn và đè nén.

Bản tuyên bố mở đầu với những lời khẳng định dân Việt Nam không thù nghịch mà biết xem trọng mối quan hệ hữu nghị láng giềng giữa nhân dân hai nước. Nhưng những người ký tên phải nêu lên những yêu cầu đối với giới lãnh đạo đảng Cộng Sản và nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Những lời yêu cầu tóm tắt như sau:

Thứ nhất, Cộng Sản Trung Quốc chấm dứt ngay những hành động đe dọa tính mạng, tài sản và quyền tự do đánh bắt hải sản của ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của dân Việt, cụ thể là ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ nhì, bản tuyên bố “khẳng định Hoàng Sa là lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam mà nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã dùng vũ lực cưỡng chiếm năm 1974.” Vì vậy, cũng cảnh cáo: “Quyết tâm và nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam chúng tôi trong lịch sử ngàn năm chống xâm lược” là “không bao giờ quên mục tiêu giành lại từng tấc đất của tổ quốc!”

Bản tuyên bố nhấn mạnh thêm: “Chúng tôi cực lực phản đối việc nhà nước và đảng Cộng Sản Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp một số đảo và bãi đá thuộc chủ quyền Việt Nam trong quần đảo Trường Sa và đang bồi đắp thành những cứ điểm quân sự ngăn chặn tự do hàng hải trên Biển Ðông.” Sau đó còn khẳng định: “Mọi âm mưu kìm hãm sự phát triển của đất nước chúng tôi để buộc đất nước này mãi mãi ở thế chư hầu là bất xứng với trí tuệ loài người, sẽ bị lịch sử nguyền rủa, và chắc chắn sẽ thảm bại!”

Sau những ý kiến nhắn cho ông Tập Cận Bình và Cộng Sản Trung Quốc, hai điểm còn lại của bản tuyên bố vạch rõ, dù không gọi đích danh, thái độ nhu nhược, hèn yếu của chính quyền Việt Nam hiện tại đóng vai trò tay sai nước ngoài.

Trước hết, bản tuyên bố minh định rằng “tình hữu nghị với bất cứ quốc gia nào” chỉ bền vững nếu hai bên tôn trọng lẫn nhau, khi một nước “luôn ở thế yếu hèn, không xứng tầm với đối tác” thì không thể nào kéo dài được.

Tiếp theo, những nhà soạn thảo bản tuyên bố nhắc đến giai đoạn “nước Trung Hoa bị đế quốc Nhật đô hộ từ năm 1937 đến năm 1945” để nhớ lại rằng “đã có một chính phủ tay sai Nhật được thành lập năm 1940 tại Nam Kinh” trong thời gian bốn năm (mà người Trung Hoa vẫn gọi là bọn Hán gian). Dùng thí dụ đó bản tuyên bố nói thẳng rằng hiện nay “chúng tôi chắc chắn rằng một số người Việt Nam cam tâm làm tay sai cho bọn bành trướng bá quyền, mà trong lịch sử chúng tôi đã có những Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc,…” Những người đó “sớm muộn sẽ bị nhân dân Việt Nam chúng tôi vạch mặt.”

Cuối cùng, bản tuyên bố xác nhận, “Tình hữu nghị thật sự giữa nhân dân Trung Hoa và Việt Nam không thể dựa trên những phần tử phản bội dân tộc” và khẳng định rằng “nhân dân và đất nước chúng tôi chắc chắn sẽ loại bỏ trong tương lai” bọn phản bội này.

Từ khi phong trào phản kháng Trung Cộng cướp chiếm Hoàng Sa, Trường Sa và bắn giết ngư dân Việt Nam, những người Việt viết kiến nghị hoặc đi biểu tình chưa hề công khai lên án những người Việt có trách nhiệm làm cho dân Việt thành nạn nhân của kế hoạch bành trướng của Cộng Sản Trung Quốc. Ngay trong các lễ tưởng niệm và các cuộc biểu tình nhân ngày giỗ các tử sĩ khi Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 và đảo Gạc Ma năm 1988, ban tổ chức cũng tránh không nói thẳng đến thái độ nhu nhược của đảng Cộng Sản Việt Nam về những biến cố này.

Cho nên bản tuyên bố phản đối chuyến công du của Tập Cận Bình, và cuộc biểu tình nêu đích danh bọn người “lệ thuộc Trung Cộng” cho thấy phong trào chống bành trướng đang thay đổi. Lịch sử sẽ ghi nhận biến chuyển này: Lần đầu tiên người dân đã công khai lên án “những người Việt Nam cam tâm làm tay sai cho bọn bành trướng bá quyền” và gọi đích danh đó là “những phần tử phản bội dân tộc,” là bọn “lệ thuộc Trung Cộng”

Chính “những phần tử lệ thuộc và phản bội” này đã âm mưu phá đám cuộc họp mặt của nhóm phát động phong trào NO U trong tuần trước. Ðó là một âm mưu được bí mật hoạch định và dàn dựng từ lâu, vì chúng đã ngăn cản cả những người biết rằng sẽ tham dự buổi họp này. Trong buổi chiều ngày 30 tháng 10, cô Ðoan Trang đã bị bắt vào công an phường Cát Linh trên đường đi tham gia kỷ niệm sinh nhật NO U. Nhà báo Gió Lang Thang (Nguyễn Anh Tuấn) bị 10 tên cảnh sát, an ninh và côn đồ canh giữ trước nhà. Khi Tuấn vẫn quyết tâm ra khỏi nhà thì bị chúng tấn công, phải quay vào.

Nhóm NO U nhận định: “Những kẻ tấn công NO U phải có lòng căm ghét chủ quyền của Việt Nam lắm, phải căm thù những người chống Trung Cộng lắm.” Và họ đặt câu hỏi: “Những kẻ này là ai? Ít nhất, chúng đã một lần lộ mặt khi phá đám lễ tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh ở Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm nay mà báo chí trong nước cũng loan tin. Tiến Sĩ Nguyễn Quang lên án: “Những kẻ nào phá NO U là chống lại tổ quốc, chống lại nhân dân Việt Nam!”

Nhưng chúng ta có thể tin tưởng rằng trong một tương lai không xa, “nhân dân và đất nước chúng tôi chắc chắn sẽ loại bỏ” những kẻ phản bội này. Bản tuyên bố gửi cho Tập Cận Bình cũng như cuộc biểu tình ngày hôm qua phát xuất từ Hà Nội, đánh dấu một chuyển hướng. Người Việt Nam đã nhận thức rõ ràng là muốn thoát khỏi âm mưu bành trướng của Trung Cộng thì Việt Nam phải thay đổi những người lãnh đạo đất nước. Không thể nào “Thoát Trung” nếu chưa “Thoát Cộng!” Không U, Không XI cũng có nghĩa là Không Cộng Sản!

Họ đã sai lầm khi tấn công bạo lực và cướp tài sản của hai vị luật sư.

Họ đã sai lầm khi tấn công bạo lực và cướp tài sản của hai vị luật sư.

Hà Nội, ngày 3 tháng 11 năm 2015.

Luật sư Nguyễn Văn Đài

(Luật Lê Luân và Trần Thu Nam sau khi bị đánh và bị cướp)

Luật sư Trần Thu Nam và luật sư Lê Luân là hai trong số 5 luật sư nhận bào chữa miễn phí cho gia đình em Đỗ Đăng Dư.

Trong nhiều năm qua, luật sư Trần Thu Nam là một trong rất ít các luật sư của Việt Nam nhận bào chữa trong các vụ án của những người hoạt động nhân quyền và dân chủ.

Những nỗ lực của luật sư Nam trong những năm qua đã được đền đáp khi gần đây đã có thêm rất nhiều luật sư bắt đầu hợp tác với nhau để bảo vệ cho các nạn nhân bị vi phạm nhân quyền. Trong số đó, luật sư Lê Luân đã tham gia rất tích cực.

Có lẽ điều này đã làm cho những yêu độc tài tức giận và dẫn đến vụ tấn công bạo lực ngày hôm nay.

Phần thứ hai, có thể là lúc này mọi sự chú ý trên cộng đồng mạng đều tập chung vào chuyến thăm VN của Tập Cận Bình. Những kẻ thân TQ muốn chia sẻ bớt sự chú ý của cộng đồng mạng.

Do vậy, một vụ tấn công nhằm nhiều mục đích: thỏa mãn sự bức xúc của những kẻ yêu độc tài; dằn mặt những luật sư mới tham gia bảo vệ công lý; kéo bớt sự chú ý của cộng mạng ra khỏi chuyến thăm của Tập Cận Bình.

Họ có thể thỏa mãn.

Nhưng họ đã nhầm!

Nhưng tôi tin là cả hai luật sư bị đánh, bị cướp sẽ không bỏ cuộc. Các luật sư khác cũng sẽ không bỏ cuộc. Đồng thời còn thu hút sự quan tâm ủng hộ lớn lao hơn của cả giới luật sư và dư luận. Chắc chắn Đoàn luật sư Hà Nội và Liên đoàn Luật sư Việt Nam sẽ không bỏ qua vụ này. Những kẻ tấn công bạo lực và cướp tài sản sẽ phải bị điều tra và đưa ra xét xử.

Cho dù có thêm những chuyện gì xảy ra thêm nữa thì Nhân dân Việt nam vẫn sẽ tiếp tục phản đối mạnh mẽ chuyến thăm của Tập Cận Bình.

Dư luận quốc tế và cộng đồng mạng sẽ lên án mạnh mẽ vụ tấn công bạo lực và cướp tài sản nhằm vào các luật sư.

Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế, Liên hiệp quốc chắc chắn không bỏ qua vụ này.

Rất rõ ràng, họ đã sai lầm khi tổ chức tấn công bạo lực và cướp tài sản nhằm vào các luật sư.

Tại sao giới luật sư bị tấn công?

Tại sao giới luật sư bị tấn công?

Luật sư Trần Thu Nam (phải) và luật sư Luân Lê bị hành hung khi rời khỏi nhà cháu Đỗ Đăng Dư

Luật sư Trần Thu Nam (phải) và luật sư Luân Lê bị hành hung khi rời khỏi nhà cháu Đỗ Đăng Dư

Ảnh Facebook
 Ngày 3/11 Luật sư Trần Thu Nam của đoàn luật sư Hà nội đã bị tấn công gây thương tích, khi đến gia đình Đỗ Đăng Dư, một thiếu niên bị đánh chết trong trại tạm giam của công an. Luật sư Nam là người đại diện cho gia đình Đỗ Đăng Dư trong vụ án này. Sau đây là ghi nhận của Kính Hòa ý kiến của một số luật sư, trí thức Việt nam về chuyện luật sư Việt nam liên tục bị hành hung trong nhiều năm nay.

Đài Á châu tự do liên lạc được với Luật sư Trần Thu Nam vào buổi chiều ngày 3 tháng 11 khi ông đang chuẩn bị vào bệnh viện để chữa trị vết thương. Ông nêu lên giả thuyết của ông về nguyên nhân tại sao ông bị đánh:

Tôi đang khiếu nại công an Hà nội là không cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi người bị hại cho tôi. Tôi đang khiếu nại họ lên Viện kiểm sát và Liên đoàn luật sư, và Liên đoàn luật sư đã lên tiếng. Tôi không biết chắc chắn là tại sao họ lại đánh tôi vì tôi không có thù oán với ai cả. Nhưng trong quá trình bảo vệ vụ Đỗ Đăng Dư, tôi có khiếu nại công an thành phố Hà nội về việc gây khó khăn cho luật sư, và tôi đang làm một báo cáo gửi lên Ủy ban nhân quyền Liên hiệp quốc.”

Quyền lực của bộ máy công an

Trong nhiều năm qua, những luật sư đứng ra đại diện cho các tù nhân chính trị thường hay bị tấn công gây thương tích, thậm chí bị tù đày như các luật sư Lê Công Định, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài,… Nhưng vụ án Đỗ Đăng Dư hoàn toàn không mang tính chính trị, vì nạn nhân phạm tội trộm cắp và bị đánh chết trong tù. Luật sư Võ An Đôn ở Tuy Hòa, người đưa tin rất sớm về vụ hành hung luật sư Nam nói với chúng tôi rằng:

Nguyên nhân theo tôi nghĩ là có thể người ta trả thù cái việc mà luật sư Trần Thu Nam bảo vệ cho gia đình bị hại (Đỗ Đăng Dư). Những vụ án không liên quan đến chính trị nhưng lại liên quan đến ngành công an, công an thì liên quan đến chính quyền, người ta cầm bộ máy hành pháp, lực lượng rất là đông, và người ta trả thù.”

Luật sư Đôn cũng từng bị các viên chức cao cấp ở tỉnh Tuy Hòa đe dọa xóa tên ông ra khỏi luật sư đoàn của tỉnh. Các vụ án mà luật sư Đôn tranh biện ở tòa cho đến nay cũng không dính dáng đến chính trị.

Một luật sư từng bị tù vì có liên quan đến các vụ án chính trị là Luật sư Nguyễn Văn Đài ở Hà nội còn nêu một lý do khác đằng sau vụ hành hung luật sư Nam là ý muốn đánh lạc hướng của nhà cầm quyền. Ông cũng nói là hiện nay có nhiều luật sư đứng ra nhận lãnh những vụ án liên quan đến sự lạm dụng quyền lực của cơ quan công quyền.

Gần đây có vụ án Đỗ Đăng Dư đã xuất hiện nhiều luật sư cảm mến tinh thần dấn thân của luật sư Nam mà tham gia cùng luật sư Nam trong các vụ án như vậy. Thì có thể đây là một điều làm cho chính quyền họ tức tối, và có thể dẫn đến vụ hành hung này. Lý do thứ hai mà tôi dự đoán là trên dư luận mạng người ta đang chú ý đến chuyến thăm của Tập Cận Bình vào ngày mùng năm mùng sáu tới đây. Thành ra vụ tấn công này là để làm giảm sự chú ý của mọi người trên cộng đồng mạng về Tập Cận Bình. Lý do thứ nhất thì có lý hơn nhưng tôi cũng nghĩ đến lý do thứ hai.

Chính trị hay không chính trị? Đảng trị hay pháp trị?

Một trí thức đối lập nổi tiếng của Việt nam là Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, hiện sống ở Đà Lạt, khi được hỏi tại sao vụ án mà luật sư Nam đang làm đại diện không có tính chính trị nhưng ông cũng bị quấy nhiễu, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu không đồng ý:

Chuyện đó cũng là chính trị đấy anh ạ, vì công an hiện nay lộng hành như là một đội kiêu binh của đảng. Cho nên chạm vào nó cũng là chính trị đấy. Nó giết người như không đấy, chửi nó thì cũng như là chửi đảng vậy, mặc dù nạn nhân (vụ án) không liên quan đến chính trị.”

Sau khi Việt nam quyết định cải cách kinh tế vào năm 1986, qui chế luật sư đoàn cũng được thành lập thay cho chế độ bồi thẩm đoàn nhân dân do nhà nước chỉ định trong các phiên xử án trước kia. Tiếng nói của các luật sư đã ít nhiều mang tính độc lập, các phiên tòa đã có sự tranh luận với sự hiện diện của các luật sư.

Đồng thời các luật sư lại thường hay bị bắt bỏ tù hay bị hành hung.

Ông Hà Sĩ Phu nhắc lại rằng trong nguyên tắc cầm quyền của các đảng cộng sản, thì lực lượng công an dùng để trấn áp là vô cùng quan trọng, hơn nữa các chế độ này lại không xem trọng luật pháp.

Anh có nhớ ngày xưa ông Phạm Văn Đồng có nói gì đấy không? Ông ấy nói rằng làm luật để nó trói tay mình à! Độc tài họ ghét luật lắm, vì luật là để bảo vệ dân quyền mà. Có hai giới mà họ ghét lắm, đó là giới luật sư và giới nhà báo.”

Tính đối kháng giữa đảng cầm quyền và giới luật sư thể hiện rõ nhất trong vụ luật sư Nguyễn Đăng Trừng bị khai trừ khỏi đảng cộng sản vào tháng chín năm 2014, với lý do được báo chí nhà nước Việt nam nêu rõ là cản trở sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Điều thú vị là luật sư Trừng cũng là một người tham gia đảng cộng sản và góp phần làm cho cuộc cách mạng cộng sản thành công ở Việt nam.

Xã hội dân sự và công lý

Theo dòng diễn biến chính trị xã hội gần đây, nhiều người hy vọng là một xã hội dân sự ở Việt nam sẽ được cho phép hình thành. Và trong xã hội dân sự đó vai trò của giới luật sư sẽ ngày càng quan trọng hơn.

Tuy nhiên Tiến sĩ Hà Sĩ Phu không chia sẻ cái nhìn này. Ông liên hệ vụ hành hung luật sư Nam và vụ quấy nhiễu, hành hùng blogger Nguyễn Lân Thắng trong thời gian gần đây.

Họ sẽ dùng cái xã hội dân sự láo của họ. Cái kiểu Trần Nhật Quang đấy. Kiểu dùng côn đồ không liên quan đến chính quyền. Đây là bọn côn đồ nhân danh quần chúng. Thế thì muốn cái đội ngũ đó công khai thì họ phải làm ra vẻ chấp nhận xã hội dân sự. Để cho xã hội dân sự láo của họ ra đời, chứ không phải xã hội dân sự thực sự tử tế và dân chủ! Cũng còn khó khăn lắm chứ không nên tưởng là họ cho ra là được đâu.

Ông Trần Nhật Quang là nhân vật đứng đầu nhóm người đến quấy nhiễu gia đình blogger Nguyễn Lân Thắng.

Luật sư Trần Thu Nam vốn được nhiều đồng nghiệp nhận xét là một người thận trọng. Trong một lần trao đổi với chúng tôi ông có nói rằng nghề luật sư của ông là một nghề nhiều rủi ro. Luật sư Võ An Đôn cũng chia sẻ lo ngại này của luật sư Nam, và ông cho rằng muốn chấm dứt tình trạng này thì không có cách gì khác là phải để cho nền tư pháp của quốc gia được độc lập.

Sau khi vụ hành hung luật sư Nam xảy ra, luật sư Lê Công Định, người từng bị ở tù vì bảo vệ các bị cáo trong những vụ án chính trị, viết trên trang FB của ông rằng công tố và luật sư là hai trụ cột của nền công lý, việc tấn công luật sư sẽ đánh đổ một trong hai trụ cột đó, khiến cho nền công lý bị què quặt. Cũng qua FB, ông trao đổi với chúng tôi rằng Liên đoàn Luật Sư Việt Nam phải phản ứng mạnh mẽ, không đơn thuần vì hai đồng nghiệp bị đánh, mà còn vì nền công lý của Việt Nam.

Hai luật sư bào chữa cho vụ anh Đỗ Đăng Dư bị đánh hội đồng

Hai luật sư bào chữa cho vụ anh Đỗ Đăng Dư bị đánh hội đồng

Từ trái qua phải: Ông Đỗ Đăng Kỷ (chú ruột Dư), LS Lê Văn Luân, LS Trần Thu Nam, LS Nguyễn Hà Luân, LS Ngô Ngọc Trai, bà Đỗ Thị Mai (mẹ Dư), hai pv.

Các luật sư đến thăm gia đình nạn nhân Đỗ Đăng Dư Từ trái qua phải: Ông Đỗ Đăng Kỷ (chú ruột Dư), LS Lê Văn Luân, LS Trần Thu Nam, LS Nguyễn Hà Luân, LS Ngô Ngọc Trai, bà Đỗ Thị Mai (mẹ Dư), hai pv.

Ảnh: Facebook Trần Thu Nam

Hai luật sư Trần Thu Nam và Lê Văn Luân chiều hôm nay đến gia đình của nạn nhân chết trong trại giam Đỗ Đăng Dư giúp về pháp lý bị một nhóm người hành hung.

Tin cho biết luật sư Trần Thu Nam bị đánh vào mặt đổ máu, còn luật sư Lê Văn Luân bị nhẹ hơn.

Sau khi bị hành hung chừng một tiếng và còn ngồi chờ cơ quan chức năng đến giải quyết vụ việc, vào lúc 3 giờ 45 phút chiều luật sư Lê Văn Luân cho biết lại sự vụ như sau:

“ Bây giờ hai người bị đánh chảy máu mà anh Trần Thu Nam bị rất nặng, chảy máu mũi, mắt, miệng. Đến gặp gỡ làm thủ tục luật sư thôi; nhưng xong rồi đi ra giữa đường thì có chừng 8 cậu thanh niên, bịt mặt mang khẩu trang đánh. Đánh xong họ lấy mất luôn cả điện thoại. Luật sư không có thù oán gì với ai ở đây. Mấy lần về làm việc em Dư này có người bị rồi.”

Bà Đỗ thị Mai, mẹ của nạn nhân 17 tuổi Đỗ Đăng Dư chết, cho biết:

“ Các bác đến giúp cho gia đình kêu oan về việc cháu bị chết ở trại giam. Lúc đầu có 2 người đứng ở cổng nhà tôi và khi các bác đi khỏi nhà chừng 100 mét thì bị chúng đánh luôn.”

Xin được nhắc lại vụ việc thanh niên 17 tuổi Đỗ Đăng Dư con bà Đỗ thị Mai được công an thông báo chết hôm ngày 10 tháng 10 vừa qua gây nghi ngờ trong công luận về cái chết của nạn nhân.

Luật sư Trần Thu Nam bào chữa cho vụ anh Đỗ Đăng Dư bị đánh hội đồng
Luật sư Trần Thu Nam bào chữa cho vụ anh Đỗ Đăng Dư bị đánh hội đồng (Ảnh facebook Trần Thu Nam)

Nạn nhân Đỗ Đăng Dư bị bắt hôm ngày 5 tháng 8 do ăn cắp một khoản tiền chưa đến hai triệu đồng của một người hàng xóm. Công an địa phương bắt nạn nhân và nói với gia đình đưa đi cải tạo nhưng giam giữ tại trại giam Xa La, Hà Đông.

Đến ngày 4 tháng 10 thì báo với gia đình đến bệnh viện và nạn nhân trong tình trạng hôn mê do phù não. Sang ngày 10 thì cơ quan chức năng báo gia đình là nạn nhân đã chết.

Gia đình yêu cầu giám định pháp y. Luật sư Trần Thu Nam chứng kiến nhưng ông không đồng ý ký biên bản vì ghi không chính xác.

Vụ việc một thanh niên 17 tuổi chết trong khi bị giam giữ được công luận trong và ngoài nước chú ý vì có nhiều điểm không đúng pháp luật Việt Nam.

Một số luật sư như luật sư Trần Thu Nam, Lê Văn Luân, Trần Vũ Hải, Nguyễn Hà Luân ở Hà Nội có thư gửi các cấp lãnh đạo cấp cao phải cho điều tra vụ việc một cách khách quan để bảo đảm công lý cho nạn nhân.

Trong khi đó cơ quan chức năng cho rằng nạn nhân chết vì bị một bạn tù đánh.

Thăm cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

Thăm cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

Nhóm phóng viên tường trình từ VN

RFA

000_ARP2823700

Ông Ngô Đình Nhu cùng phu nhân, bà Trần Lệ Xuân cùng các con.

AFP photo

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Tổng Thống nền Cộng Hòa đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm cùng với bào đệ là Cố Vấn Tổng Thống Ngô Đình Nhu bị giết tại Sài Gòn trong một cuộc đảo chính. Đây cũng là khoảnh khắc khép lại thời vàng son của dòng họ Ngô Đình. Và đây cũng là thời điểm mà cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm gặp nhiều nguy biến nhất. Có thể nói rằng số phận lênh đênh của dòng họ xuất chúng này vẫn chưa bao giờ ngừng.

Cố hương vời vợi…
Một người tên Hàm, sống ở Lệ Thủy, Quảng Bình, chia sẻ: “Ông đầu tiên học trường thuộc địa, gọi là trường Hậu Bổ, sau đó ra làm quan Tuần Vũ, cũng như tỉnh trưởng vậy đó. Sau đó nhờ tài năng ông được rút về trung ương, tức triều đình Huế. Sau đó đụng chạm với Phạm Quỳnh, đụng phải sự cố chấp, không chịu canh tân, ông từ quan. Sau đó nữa ông âm thầm hoạt động cách mạng độc lập, để có nền Việt nam Cộng Hòa sau này là nhờ ông biết hoạt động độc lập…”.

Theo cụ Hàm, quê gốc của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải ở làng Đại Phong, xã Phong Thủy, Lệ Thủy, mà là ở phủ Xuân Dục, Quảng Bình. Cụ Ngô Đình Dinh, ông nội của Tổng Thống Diệm là một con chiên mộ đạo. Do tránh nạn tiêu diệt Ki-Tô giáo của triều đình Huế, cụ đã trốn vào làng Đại Phong, Phong Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình để sống.

Ban đầu cụ làm nghề chèo đò, nấu nước trà cho làng mỗi khi có lễ lạc. Bởi quan niệm dân gốc và dân trú thời đó nên cụ gặp rất nhiều khó khăn, sống trong nghèo khổ, bần hàn. Cụ sinh được một người con là Ngô Đình Khả, chính là thân sinh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm sau này. Cụ Dinh mất sớm do bệnh tật, lúc đó, Ngô Đình Khả là đứa bé sáu tuổi. Một vị linh mục người Pháp mang Ngô Đình Khả về nuôi và cho học hành tử tế. Vốn có tư chất thông minh, Ngô Đình Khả nhanh chóng thăng tiến sau này nhờ vào học hành.

Với đời vợ cả, cụ Ngô Đình Khả sinh ra được hai người con trai là Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục. Sau khi vợ cả qua đời, cụ Khả tái hôn với bà Phạm Thị Thân, sinh ra sáu người con là Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Luyện, Ngô Đình Thị Giáo và Ngô Đình Thị Hiệp.

Với gia thế làm quan kể từ sau giai đoạn khó khăn của ông nội Ngô Đình Dinh, có thể nói rằng đến thời cụ Ngô Đình Diệm là thời phát tiết của tộc Ngô. Cụ nổi tiếng là người học giỏi, cụ được Pháp đưa sang mẫu quốc để du học nhưng cụ không chịu đi để giữ khí tiết chống thực dân đô hộ, cụ ra Hà Nội để học Hành chính quốc gia, còn gọi là trường Hậu Bổ. Năm 1921, cụ tốt nghiệp trường Hậu Bổ và về làm quan tại Huế. Thời kì làm quan của cụ là thời kì mà nhân dân địa phương được sống sung túc nhất dưới sự dẫn dắt của cụ.

Cụ tổ chức đào kênh, đắp đường lộ, làm nhiều việc có lợi cho dân. Sau nhiều biến thiên lịch sử, cụ phải trốn sang nhiều nơi, thậm chí nhiều nước. Và đến năm 1954, cụ làm Thủ tướng dưới quyền của Quốc trưởng Bảo Đại. Mười năm sau, năm 1955, nền Cộng Hòa đầu tiên của Việt Nam ra đời dưới sự dẫn dắt của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Cuối năm 1955, cụ Diệm làm Quốc Trưởng và sau này đổi thành danh xưng Tổng Thống cho đến tháng 11 năm 1963.

Ông Hàm cho rằng cái chết và sự lưu vong của gia đình họ Ngô là do một thủ đoạn tính toán về phong thủy. Bởi lúc đó, Quảng Bình nằm phía Bắc vĩ tuyến 17, thuộc lãnh địa của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nghiệt nỗi, mộ cụ nội của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vẫn nằm trên đất Đại Phong, Phong Thủy, Quảng Bình. Mà theo lời của một nhà chiêm tinh có uy tín lúc bấy giờ thì đất Lệ Thủy sinh ra bậc kỳ tài, ứng vào tộc Ngô và tộc Võ.

400
Sông Kiến Giang, đoạn ngang qua ngôi mộ cụ Dinh. RFA photo

Nếu giữ bậc hiền tài tộc Ngô thì khí vận của nhân tài tộc Võ không đủ để lay chuyển thời vận. Và người ta đã nhắm đến mộ của cụ Ngô Đình Dinh, ông nội cụ Ngô Đình Diệm để phá phách, trấn yểm. Việc trấn yểm, phá phách này kéo dài gần chục năm, cho đến khi ngôi mộ của cụ Dinh bị phá tan hoang cũng là lúc Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị ám sát.

Hiện tại, không còn dấu vết nào của dòng họ nhà Ngô Đình trên đất Đại Phong, Phong Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Mặc dù trong quá trình di cư, vẫn còn nhiều người họ hàng của tộc Ngô Đình sống lại làng Đại Phong nhưng đã đổi thành một họ khác như Trần, Lê. Sau biến cố ngày 1 tháng 11 năm 1963, những người họ hàng này lại một lần nữa rời bỏ quê hương, sống lưu vong.

Dấu xưa không còn và ngôi mộ thiên táng

Cụ Hải, sống ở Đại Phong, Lệ Thủy, Quảng Bình, chia sẻ: “Nhà ông Giáp và ông Diệm gần nhau. Rõ ràng ông Diệm phải giỏi ngang ngửa với ông Giáp mới đấu nổi với nhau chứ. Nhưng do người ta giết hại ông Diệm nên đành vậy thôi.”.

Theo cụ Hải, lúc cụ Ngô Đình Dinh, tức ông nội của Tổng thống Ngô đình Diệm qua đời, vì gia cảnh nghèo khó, vợ chết sớm, chỉ có một con trai nhỏ là Ngô Đình Khả mới sáu tuổi. Hai cha con sống lây lất qua ngày bằng việc chèo đó thuê ban ngày và ngủ nhờ đình làng ban đêm. Khi cụ Dinh mất, dân làng thương tình mua áo quan khâm liệm và chèo thuyền đưa thi hài ông dọc theo sông Kiến Giang, đến núi Bến Đẻ để an táng.

Nhưng đi nửa đường thì trời đổ mưa, nghe tiếng cọp gầm, dân làng sợ quá đào qua loa một huyệt bên đường lên núi để chôn tạm rồi sáng mai tiếp tục an táng. Đang đào thì cọp gầm gần quá, người dân hoảng hốt lấp vội đất và bỏ chạy. Sáng mai, bà con lại bơi ghe lên chỗ huyệt mộ để lấp đất cho tử tế. Nhưng khi đến nơi thì thấy một gò đất tròn, cao đã phủ trên ngôi mộ. Gò đất này do mối đụn lên mà tạo thành. Người làng kháo nhau ngôi mộ được thiên táng, tức trời chôn, đời sau sẽ phát tích. Và chuyện này đã thành sự thật.

Cùng lúc đó, bên khu nhà thờ làng tộc Võ, một cây dừa bị bão đánh đã lâu, từ thân khô của nó mọc ra hai nhánh và phát triển rất nhanh. Tin đồn về khí vận ở Lệ Thủy đang phát tiết lan rộng. Trong đó, ngôi mộ thiên táng của tộc Ngô được cho là tụ khí hơn khu nhà thờ làng có cây dừa mọc đôi của tộc Võ.

Đến những năm 1950, công cuộc đào phá long mạch mộ tộc Ngô bắt đầu nhưng không có tác dụng. Đến năm 1961, một đường hầm đào xuyên qua trước ngôi mộ, gọi là công sự để chế tạo vũ khí nhưng thực chất chưa bao giờ có vũ khí nào chế tạo ở đây.

Sau đó một thời gian, các đường công sự đào ngang đào dọc và ngôi mộ cũng tự dưng biến mất. Cuối cùng là cái chết thương tâm của gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm và cuộc đời tứ tán của dòng họ Ngô. Dấu vết xưa của dòng họ Ngô trên đất Lệ Thủy, Quảng Bình cũng không còn.

Theo như chia sẻ của cụ Hải thì khi mà khí vận của đất Lệ Thủy bị tuyệt, từ đó đến giờ, đời sống khó khăn, người đỗ đạt cao một cách nghiêm túc rất hiếm và niềm tự hào của người dân về gia tộc họ Ngô cũng bị triệt tiêu một cách đáng sợ. Nhưng cụ Hải cũng khẳng định rằng nếu chọn một điều gì đó để nói về quê hương mình, ông sẽ chọn gia tộc họ Ngô bởi đây là một gia tộc đi từ nghèo khổ đến đỗ đạt và cống hiến cho dân tộc này rất nhiều.

Nhân ngày mất của hai con người yêu nước (2/11/1963 – 2/11/2015)

Nhân ngày mất của hai con người yêu nước (2/11/1963 – 2/11/2015)

TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP CỦA HAI VỊ TIÊN SINH HỌ NGÔ

Ngày 2/11/1963, trước khi một người sĩ quan bị mua chuộc và hèn nhát ra tay hạ sát cả hai anh em mình, ông Ngô Đình Diệm đã đến nhà thờ Cha Tam, Quận 5 để cầu nguyện.

Ít ai biết được lúc đó ông Diệm và em mình, ông Ngô Đình Nhu, đã im lặng cầu nguyện điều gì.

Không lâu sau đó, hai anh em lãnh đạo nền Đệ nhất Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam bị hạ sát. Dân tộc Việt mất đi những nhà chính trị kiệt xuất mà có thể nhiều thế kỷ sau vẫn không thể có người sánh bằng.

Sự xuất sắc của anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được thấy, qua việc hai ông nhận ra rất sớm, âm mưu thôn tính Việt Nam của Bắc Kinh, thông qua ngõ Hà Nội. Các tài liệu nghiên cứu ghi lại từ 1952, cho thấy ông Ngô Đình Nhu đã lập nên một mạng lưới thu thập thông tin về việc can thiệp của Trung Cộng ở miền Bắc. Sự kiện cải cách ruộng đất đẫm máu mà ông Hồ Chí Minh thực hiện theo yêu cầu của cố vấn Trung Cộng vào năm 1953-1954 đã khiến cho hai vị lãnh đạo miền Nam càng quyết tâm hơn nữa trong việc ngăn không cho chủ nghĩa cộng sản tràn vào miền Nam.

Sau khi ông Ngô Đình Nhu mất, năm 1964, nhà xuất bản Đồng Nai, Saigon, cho ra mắt tập Chính đề Việt Nam của ông với bút danh Tùng Phong. Tất cả những gì viết trong đó, là máu và nước mắt, là tương lai đầy uẩn khúc của dân tộc Việt được dự đoán – xác đáng trong từng con chữ.

“Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nào họ vẫn tiếp tục thực hiện ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình của Nga Sô”. (trích)

Sự kiên quyết với tự do và độc lập, sự thành kính và quyết liệt với di sản của tổ tiên người Việt trao lại của hai ông vị lãnh đạo ấy, đã khiến cho hai ông vẫn được nhắc nhở, kính trọng sau khi qua đời. Đặc biệt, với những xung đột xã hội trước khi bị lật đổ – như với phía Phật Giáo – người Việt ngày càng nhận ra bên trong có sự dàn dựng và can thiệp từ phía Bắc.

Rất nhiều thông tin tuyên truyền cho rằng hai anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu là căn cơ Công giáo nên ghét bỏ Phật giáo. Nhưng cũng ít ai biết rằng năm 1959, khi ông Ngô Đình Diệm được giải thưởng Leadership Magsaysay (dành cho các nhà lãnh đạo xuất sắc) với ngân phiếu 15,000 USD, ông đã gởi sang cho ông Đỗ Vạn Lý, Tổng Lãnh Sự VN tại New Delhi, Ấn Độ, để biếu Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, lúc đó đang rất khó khăn vì bị Mao Trạch Đông cho quân đội truy đuổi. Chính Ngài Đạt Lai Lạt Ma đã xác nhận điều này trong một bài nói chuyện trước cộng đồng Việt Nam – Mỹ, tại California.

Ý nguyện về một Việt Nam độc lập của hai vị Ngô tiên sinh cũng rất rõ. Năm 1961, khi đi kinh lý tỉnh Kiến Tường. Phía đón tiếp chuẩn bị rất nhiều cờ hai màu vàng trắng của Vatican. Thấy thiếu cờ quốc gia, Ngô tổng thống đã gọi viên thiếu tá tỉnh trưởng đến để chất vấn ”Đây không phải là xứ Vatican, đây là xứ Việt Nam, vậy cờ Việt Nam đâu?”.

Thật khó mà biết được hai vị đã cầu nguyện điều gì với Đức Jesus trong những giây ngặt nghèo ấy của đời mình. Nhưng có thể không phải là sự sợ hãi cho bản thân, mà sự sợ hãi cho một nền độc lập, một nền tự do non trẻ của nhân dân Việt Nam sẽ mai một.

Sinh thời,  câu nói nổi tiếng của Ngô tổng thống vẫn hay được nhắc đến:

“Tôi tiến. Hãy tiến

Tôi lui. Hãy giết tôi

Tôi chết. Hãy nối chí tôi!”

Nhân ngày mất của hai con người yêu nước ấy. Xin được nhắc lại vài lời của họ với sự kính trọng. Người Việt đã từng có người dẫn đầu cho cuộc trường chinh vào tự do, thoát khỏi bóng ma xâm lược của Trung Cộng. Người Việt cũng đã có người chết, có người tù đày vì hào khí anh linh của giống nòi. Người Việt cũng đang kêu gọi, chờ đợi một thế hệ sẽ nối chí để đưa đất nước này ra khỏi gọng kìm phương Bắc.

Sĩ khí của hai con người yêu nước, đã nhắc chúng ta rất nhiều điều vào lúc này.