Hạ giá hay xóa bỏ môn lịch sử?

Hạ giá hay xóa bỏ môn lịch sử?
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Ngày Chủ Nhật tuần rồi, 15 Tháng Mười Một, 2015, Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam tổ chức một cuộc hội thảo trong đó nhiều vị giáo sư báo động học sinh nay mai sẽ không còn được học môn lịch sử đầy đủ, theo dự thảo chương trình bậc Trung Học Phổ Thông, mà Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo có thể thi hành. Theo chương trình soạn thảo, từ năm 2018 các học sinh sẽ không được học riêng môn Lịch Sử, mà môn này sẽ được gộp chung vào thành một môn học mang tên là “Công dân với Tổ quốc;” trong đó có thêm hai môn khác là Giáo Dục Công Dân và An Ninh Quốc Phòng. Trước đó hai tuần, Bộ Giáo Dục đã họp các nhà giáo để giải thích việc cải cách này; nhưng giới sử học nghe không xuôi tai!

Các viên chức Bộ Giáo Dục đã giải thích và bênh vực chủ trương của họ, nhưng các nhà nghiên cứu lịch sử vẫn nghĩ khác. Sử gia Phan Huy Lê cho rằng dù Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo có giải thích thế nào thì chương trình mới này đã khai tử, đã xóa bỏ môn Lịch Sử trong thực tế. Giáo Sư Kiều Thế Hưng khẳng định: “…dù với bất cứ lý do nào thì việc coi nhẹ vai trò và vị trí, dẫn tới hậu quả thủ tiêu bộ môn Lịch Sử ở trường phổ thông.” Một cuộc thăm dò cho biết hơn 80% học sinh chống lại ý kiến bãi bỏ môn lịch sử như một môn học riêng.

Lời báo động của vị chủ tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam nói đến tương lai khi môn học lịch sử có thể bị xóa bỏ. Nhưng thật ra trước khi chính quyền Cộng Sản đưa ra chương trình cải tổ này thì môn học Lịch Sử đã bị họ bỏ rơi, bỏ rớt, bỏ xó từ lâu rồi! Một bằng cớ là hiểu biết của các em học sinh về lịch sử Việt Nam rất kém. Năm ngoái, cả nước đã bàn tán về tình trạng “dốt lịch sử” được biểu lộ trong một cuộc thi đố trên màn ảnh truyền hình trên đài VTV.

Chương trình tivi này phỏng vấn bảy em học sinh, đặt một câu hỏi về vua Quang Trung, tức Nguyễn Huệ, vị anh hùng áo vải đại thắng quân Thanh năm 1789. Trước mặt các khán giả tham dự để cổ võ, tất cả bảy em học sinh trên không em nào trả lời đúng và đầy đủ. Có em nói Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai bố con, có em đoán đó là hai anh em, nhưng sau đó em này còn muốn tỏ ra mình biết nhiều, nói thêm rằng, “Ông Quang Trung chính là ông Nguyễn Du.”

Chúng ta không nên căn cứ vào một chương trình giải trí trên tivi mà phán đoán trình độ hiểu biết về lịch sử của học sinh Việt Nam. Nhưng có thể đoán rằng những em được chọn đưa lên đài truyền hình dự thí chắc đã được coi là khá về môn này, ít nhất theo thẩm định của cha mẹ và thầy, cô giáo các em – trừ khi nhân viên đài truyền hình đã chọn các em dự thi theo tiêu chuẩn ai trả nhiều tiền nhất thì được… lên đài! Nếu phụ huynh và giáo sư nghĩ rằng các em này học giỏi môn sử nên đồng ý cho đi thi, mà trình độ các em dốt như vậy, thì chính những “người lớn” này cũng hoàn toàn không biết gì về lịch sử! Tức là có hai thế hệ dốt sử chứ không phải chỉ có một lớp trẻ! Thật đáng buồn!

Bây giờ, theo dự thảo chương trình tổng thể của Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo, môn Lịch Sử riêng biệt không còn tồn tại trong hệ thống các môn học bắt buộc nữa. Không biết trình độ hiểu biết về lịch sử của các thế hệ sau sẽ xuống đến mức nào?

Một lý do khiến trẻ em dốt lịch sử là từ lâu nay học sinh đã chán học môn sử. Một năm gần đây khi nghe tin kỳ thi sắp tới không phải thi môn lịch sử nữa cả đám học sinh đã reo hò sung sướng đem vứt các cuốn sách giáo khoa từ trên lầu xuống sân trường, náo động, vui tươi như một ngày hội. Theo Giáo Sư Phan Huy Lê, lý do khiến học sinh chán là vì “…chương trình và sách giáo khoa nặng kiến thức, dày đặc sự kiện, kiểu dạy một chiều thiếu sinh động lại còn đòi hỏi thuộc lòng thì… Chán học sử đang là điều tất yếu.”

Giáo Sư Phạm Phụ nói rõ hơn về “kiểu dạy một chiều” này, “Ðáng lý ra môn Sử là môn cực kỳ hấp dẫn đối với học sinh, thế nhưng tại sao không đến mức say mê môn Sử mà thậm chí lại còn chán ghét ? Là vì cách dạy của ta, chương trình của ta, sách giáo khoa và cách truyền thụ của thầy giáo làm cho nó khô cứng. Trong một thời gian dài môn Sử bị xơ cứng, chính trị hóa thế này thế khác thì đâm ra nhàm chán.”

Môn học bị chính trị hóa thành xơ cứng như thế nào? Vẫn theo Giáo Sư Phạm Phụ thì phần lịch sử sau 1945 chiếm tỷ lệ rất lớn “trong đó nhiều phần lồng vào sử của đảng Cộng Sản Việt Nam, học trò học mãi những thứ đó nó nhàm chán thôi chứ có gì đâu… môn Sử không trình bày bằng những sự kiện mang màu sắc khoa học mà như là cái môn nhằm mục đích tuyên truyền vậy thì người ta nghe mãi người ta chán thôi.” Khi biết như vậy, chúng ta hiểu rằng cảnh các học sinh đua nhau ném các cuốn sách giáo khoa lịch sử xuống sân thì chính là các em đang vứt bỏ các tài liệu tuyên truyền của đảng Cộng Sản!

Chỉ sử dụng môn Lịch Sử như một phương tiện tuyên truyền cho nên chế độ Cộng Sản đã coi nhẹ các cuộc chiến đấu của tổ tiên chúng ta chống những cuộc xâm lăng của đế quốc Hán tộc. Giáo Sư Phạm Phụ nhận xét: “Lịch sử một ngàn năm Bắc thuộc cũng có chứ không phải không nhưng tổng số rất ít.”

Giảm bớt không cho dạy phần lịch sử ngàn năm Bắc thuộc chính là một chủ trương của đảng Cộng Sản, từ năm 1950 cho tới bây giờ. Với đường lối ngoại giao coi Trung Cộng “vừa là đồng chí, vừa là anh em;” với sự có mặt của các “cố vấn Trung Quốc vĩ đại” kèm bên các chiến dịch cải cách xóa bỏ nền nếp xã hội Việt Nam cổ truyền, chế độ Cộng Sản Việt Nam tất nhiên phải tìm cách che lấp các tội ác bành trướng của các triều đại Hán, Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đối với nước ta.

Khi còn học bậc tiểu học và trung học, ở Hà Nội trước năm 1954 và tại Sài Gòn sau đó, bản thân tôi đã thấy môn học lịch sử đã đào luyện tấm lòng yêu nước; càng học càng say sưa về truyền thống bất khuất của dân tộc. Trước năm 1975, tôi làm nghề dạy học, tuy phụ trách môn Quốc Văn nhưng nhiều lần phải dạy môn lịch sử cho bậc trung học, khi nhà trường không đủ giáo sư chuyên về sử. Kinh nghiệm cho tôi thấy các học sinh rất thích những bài lịch sử về công cuộc chống xâm lăng phương Bắc. Có lúc dạy tới đoạn Lê Lợi kháng Minh, tôi khuyến khích các em học sinh đọc bài Bình Ngô Ðại Cáo, bản dịch của Bùi Kỷ in trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Rất nhiều em đã học thuộc lòng cả bài văn dài với rất nhiều chữ Hán mà không thấy chán. Sau đó 50, 60 năm, nhiều em gặp lại vẫn còn cảm ơn thầy giáo đã cho mình cơ hội thưởng thức một áng văn trác tuyệt, hào hùng đó. Trong hai ngàn năm qua, lòng yêu nước của người dân Việt Nam đã được đào luyện qua lịch sử kháng cự các cuộc xâm lăng từ phương Bắc. Bất cứ người Việt nào học lịch sử cũng trào lên một tấm lòng yêu nước khi biết đến những Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Phùng Hưng, cho tới Trần Bình Trọng, Quang Trung!

Cho nên, việc hạ thấp vai trò của môn học lịch sử trong cấp trung học phổ thông là một dụng ý chính trị của đảng Cộng Sản, theo Nghị Quyết 29 NQ/TW của Hội Nghị Trung Ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo. Bản dự thảo chương trình bậc Trung Học Phổ Thông của Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo ở Hà Nội được đưa ra trong lúc phong trào chống Trung Cộng xâm lược đang cuồn cuộn sôi lên trên cả nước Việt Nam. Hạ thấp giá trị của môn Lịch Sử là một cách khiến cho các thế hệ sau này không thấy cần học sử nữa. Không học lịch sử dân tộc thì cũng lòng yêu nước cũng mờ nhạt. Ðó là một chủ trương trong chính sách giáo dục của đảng Cộng Sản Việt Nam. Như Giáo Sư Văn Như Cương nêu ra, “Ví dụ trong sách giáo khoa lịch sử không nói đến Biển Ðông, không nói đến Gạc Ma, không nói đến Tàu không nói đến Hoàng Sa, Trường Sa của ta bị chiếm đóng thì cũng không tôn trọng lịch sử.”

Tất nhiên, sách giáo khoa môn Sử của Việt Cộng thì không thể nào nhắc đến các tội xâm lược của Trung Cộng. Bởi vì nếu không có Trung Cộng bao bọc thì Việt Cộng cũng không tồn tại từ năm 1950 đến giờ! Không những lờ đi không nhắc tới Hoàng Sa, Trường Sa, đảo Gạc Ma, Biển Ðông, mà Việt Cộng còn muốn tránh không nói đến cả Hà Hồi, Ngọc Hồi, Chi Lăng, Chương Dương, Hàm Tử nữa! Như Giáo Sư Hà Sĩ Phu đã từng nhận xét, Việt Cộng theo Trung Cộng đem ảo tưởng về chủ nghĩa Cộng Sản vào nước ta gây nên hậu quả là “Ảo tưởng Cộng Sản đã nhốt chung con sói và bày hươu vào chung một chuồng, cái chuồng sơn son rất đẹp có tên ‘đại gia đình Xã hội chủ nghĩa, bốn phương vô sản đều là anh em!’” Ông Hà Sĩ Phu cho biết thời Lê Khả Khiêu đang làm tổng bí thư, có đoàn đại biểu Trung Quốc sang thăm, trao đổi về những vấn đề lý luận, và “Phía Trung Quốc nói Việt Nam cần sửa lại lịch sử của mình!” Công cuộc “tẩy não” đã kéo dài qua mấy thế hệ, từ thời Hồ Chí Minh đến Lê Khả Khiêu. Cho nên hậu quả tất nhiên là học sinh bây giờ dốt sử, không biết Quang Trung cũng là Nguyễn Huệ!

Bàn về dự thảo chương trình mới của Bộ Giáo Dục, Giáo Sư Phan Huy Lê lo lắng: “Lớp trẻ lớn lên trở thành công dân mà chỉ biết lờ mờ, thậm chí là biết sai về lịch sử dân tộc, không biết cội nguồn tổ tiên,… thì làm sao có thể viết tiếp trang sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc?” Nhưng đảng Cộng Sản muốn bảo vệ tổ quốc hay chỉ lo bảo vệ chế độ để họ tiếp tục nắm quyền và tham nhũng?

Gần đây ông Phùng Quang Thanh tỏ ra hoảng hốt khi thấy nhiều người Việt Nam đang chống Trung Quốc! Dân Việt mà chống Trung Quốc thì ông Thanh rất lo lắng cho tiền đồ dân tộc! Chúng ta phải đặt câu hỏi: “Phùng Quang Thanh có được ai dạy lịch sử nước Việt Nam hay không?” Ông ta có biết Hai Bà Trưng là ai không? Hay ông ta được các cố vấn vĩ đại dạy bài học khác: “Ðồng chí Mã Viện qua Giao Chỉ tổ chức cải cách ruộng đất, vận động nhân dân đứng lên đấu tố bọn địa chủ ác ôn Thi Sách và chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị!”

ĐẤT SẠCH – ĐẤT YÊU THƯƠNG

ĐẤT SẠCH – ĐẤT YÊU THƯƠNG

Tri’ch EPHATA 668

Có một câu chuyện về việc xây Nhà Thờ, chuyện hấp dẫn bởi nó xảy ra ngay trên đất nước Việt Nam chúng ta. Sau năm 1975, quan niệm “đất là sở hữu của toàn dân” nên Nhà Nước quản lý đất rồi phân phối theo nhu cầu, vậy Nhà Thờ nào muốn xây dựng thì làm đơn, lên quy hoạch, nhà nước cứu xét cấp dất theo nhu cầu. Các tôn giáo không là những tổ chức pháp nhân nên không có quyền giao dịch mua bán. Từ quan niệm này dẫn đến nhiều tình trạng tréo ngoe, thí dụ: Nhà Thờ mua đất của dân chúng, lập kế hoạch xây dựng Nhà Thờ, rồi làm thủ tục hiến đất cho nhà nước, nhà nước xem xét rồi mới cấp đất trở lại cho Nhà Thờ thực hiện. Một quy trình vô lý và gian dối nhưng vẫn vận hành nhiều năm nay như thế ở Việt Nam.

DAT SACH DAT YEU THUONG

Một vấn đề khác. Một số các cơ sở tôn giáo ( Nhà Thờ hoặc Tu Viện ) sau năm 1975 bị nhà nước trưng dụng, có nơi là mượn, có nơi là chiếm không giấy tờ… Sau này có nhu cầu xin lại, không dễ gì có thể xin lại một cách thẳng thắn, thường sẽ phải vòng vo nhiều cách, nói theo kiểu một vị đại biểu Quốc Hội khóa 13 vừa qua là “Hoàng hôn nhiệm kỳ – chuyến tàu vét” ( đại biểu Lê Như Tiến ). Đó là cơ hội cho hai bên đều có lợi, bên Nhà Thờ có đất để xây dựng, bên “hoàng hôn nhiệm kỳ” có “chuyến tàu vét” khấm khá bảo đảm tương lai.

Tham những đã trở thành quốc nạn, xảy ra ở khắp nơi, ở mọi lãnh vực và mọi cấp độ, chẳng cần đợi đến chuyến tàu vét, ngày nào trong cuộc đời cũng đều là những ngày lái tàu vét vậy. Chuyện thường ngày, Công An giao thông thổi vào, chìa ra mấy tờ màu xanh thì đi ( video quay và phổ biến đầy trên mạng ), giấy phép xây dựng nhà, đố có ai xin được mà không phải mất tiền bôi trơn, thủ tục hoàn công nhà ( xây xong phải hoàn công mới có giấy sử dụng ) không ai mà tự nhiên có được nếu không chi tiền, trong quá trình xây, nay anh này vào thăm kiểm tra, mai anh kia vào thăm kiểm tra… Chủ nhà cứ vậy mà chi, khó làm dự toán chính xác lắm, cha ông ta đã có câu “làm ruộng thì ra làm nhà thì tốn” mà, nhưng ngày xưa tốn vì vụng tính, ngày nay tốn vì tác động bôi trơn !

Có một câu chuyện giữa hai vị đáng kính nói với nhau, một vị cứ chậm rãi mà liên tục thực hiện được việc có phép xây dựng chỗ này chỗ kia, một vị hay lên tiếng phản ứng, cơ sở không lấy lại được mà còn bị mang tiếng là quấy nhiễu, phá hoại tình đoàn kết. Vị thành công trong lãnh vực phép tắc khuyên bạn mình nên nhẹ nhàng, đôi bên đều có lợi, nhờ vậy mà ta mới có thể xây Nhà Thờ phục vụ Dân Chúa. Vị kia nghiêm khắc trả lời, đất mà lấy lại theo cách đó là đất… bẩn rồi, không xứng đáng để xây nơi thờ phượng Thiên Chúa, thà không có Nhà Thờ chứ dứt khoát không xây Nhà Thờ theo cái kiểu mờ ám ấy. Vị này được một số người kính nể, nhưng nhiều anh em khác lại bực bội lên án cụ là không khôn ngoan và cố chấp, lắm khi Giáo Dân biết chuyện cũng tham gia vào việc nói xấu cụ.

Vậy đất nào là đất “sạch”, xứng đáng để xây dựng nơi thờ phượng Thiên Chúa ? Có câu chuyện kể rằng:

Một nhà kia có hai anh em mồ côi cả cha lẫn mẹ, hai anh em thương nhau lắm, khi người anh lập gia đình ra ở riêng thì chú em ở một mình. Sau mùa gặt lúa, nằm đêm thao thức, người anh thương em mình cô đơn, không biết thu hoạch có đủ ăn không, nghĩ rồi anh ta lặng lẽ ra khỏi giường, vác bao lúa bên mình sang bỏ vào kho thóc nhà chú em. Chú em cũng nằm thao thức không ngủ, nghĩ anh mình có gia đình nên cần nhiều lúa hơn, mình độc thân ăn chẳng bao nhiêu, bèn nhổm dậy vác bao lúa bên mình sang quăng vào kho thóc nhà người anh. Một thời gian sau, hai anh em lấy làm lạ, sao kho lúa của mình không hề vơi đi.

Rồi một đêm, hai anh em đang vác lúa sang nhà nhau thì “đụng nhau” ở ngay hàng rào giữa hai nhà, họ chợt hiểu vì sao kho thóc của họ không hề vơi. Hai bao lúa trên hai hai anh em buông rơi xuống, họ ôm nhau khóc. Nơi hai bao lúa rơi xuống ấy chính là “đất sạch”, đất đã được tắm gội bằng tình thương, đất tràn ngập tình chia sẻ, và như thế, đất ấy xứng đáng là nơi dựng lên ngôi Từ Đường của dòng tộc hai anh em mà thờ phượng tạ ơn Trời Đất và ông bà tổ tiên của họ.

Chuyện đất đai quý đến mấy đi nữa cũng chỉ là chuyện thế gian, chẳng ai trong chúng ta mang được một tấc đất sang bên kia thế giới, nó quý đến đâu cũng không phải là lý do để chúng ta gây căng thẳng hận thù, càng không đến nỗi phải kéo nhau ra ngăn chặn bằng cách đọc kinh cầu nguyện tại hiện trường. Nhưng điều quan trọng là Sự Thật và lẽ Công Bằng, mà điều này thì chính Chúa Giêsu sẵn sàng sống chết để làm chứng, mảnh đất không là gì cả, nhưng mảnh đất là biểu tượng của Sự Thật và Công Bằng, đấy là sự suy xét lương tâm của mỗi người trước mặt Chúa. Không để sự thật và công bằng bị chà đạp.

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

20.11.2015

Việt Nam sẽ là Quốc gia tự trị hay là một tỉnh của Trung Quốc?

Việt Nam sẽ là Quốc gia tự trị hay là một tỉnh của Trung Quốc?

Đôi lời: Không rõ mức độ chính xác của thông tin trong bài này như thế nào. Nếu thông tin trong bài này đúng, có lẽ các blogger/ facebooker đóng tài khoản, đăng ký học tiếng Tàu ngay, kẻo muộn!

—-

Phạm Quế Dương

14-01-2015

Thiếu tướng Hà Thành Châu, Chính ủy Tổng cục công nghiệp Quốc phòng Việt Nam, tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ từ ngày 08-4-2013. Ở đây, ông đã nhờ một viên chức cao cấp Hoa Kỳ trao cho chủ bút Tạp chí Foreign Policy Magazine một tập tài liệu tối mật liên quan đến quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.

Tập tài liệu này xuất xứ từ anh vợ ông, là thiếu tướng chính ủy Tổng cục 2, thời trung tướng Nguyễn Chí Vịnh làm Tổng cục trưởng.

Tập tài liệu chép lại nguyên văn từ cuốn băng nhựa AKAI, mang bí số ML887 ghi âm những cuộc họp bí mật của các nhà lãnh đạo Việt Nam: Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh với các nhà lãnh đạo Trung Quốc: Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Lương Quang Liệt, Diệp Tiến Ninh, Dương Đắc Chí, Hứa Thế Hữu tại Thành Đô năm 1990.

Nội dung những cuộc họp bí mật ấy cho biết kế hoạch sáp nhập Việt Nam vào Trung Quốc dự kiến tổ chức qua ba giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: 15/7/2020         Quốc gia tự trị
  • Giai đoạn 2: 5/7/2040         Quốc gia thuộc trị
  • Giai đoạn 3:   5/7/2060         Tỉnh Âu Lạc

Tỉnh trưởng vẫn là người Việt ,đặt dưới quyền lãnh đạo của Tổng đốc Quảng Châu (Trung Quốc).

Sau khi sáp nhập ,tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ chính, tiếng Việt là ngôn ngữ phụ.

Trong hội đàm, với lời lẽ bề trên, lãnh đạo Trung Quốc, ban mật lệnh, giáo huấn, răn đe, dạy dỗ lãnh đạo Việt Nam phải làm những gì suốt 70 năm, từng bước một: “Âm thầm, lặng lẽ, từ từ như tầm ăn dâu, khéo như dệt lụa Hàng Châu;êm như thảm nhung Thẩm Quyến. Sử dụng thể thức “Diễn biến hòa bình”, làm cho người Việt Nam và dư luận quốc tế nhìn nhận rõ là Trung Quốc “không cướp nước Việt.” mà chính người Việt Nam tự mình “dâng nước” và tự ý đồng hóa vào dân tộc Trung Hoa.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thì khấu đầu trước Đặng Tiểu Bình “Nhờ Trung Quốc mà Đảng Cộng sản Việt Nam mới nắm được chính quyền, mới thắng được đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, diệt được bọn tư bản phản động. Công ơn Trung Quốc to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng. Do thế, nhà nước Việt Nam đề nghị Trung Quốc bỏ qua hiểu lầm, xóa bỏ các bất đồng đã qua. Phía Việt Nam sẽ làm hết sức mình để vun bồi tình hữu nghị lâu đời vốn sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chủ tịch dày công xây dựng trong quá khứ. Việt Nam sẽ tuân thủ đề nghị của Trung Quốc là cho Việt Nam được hưởng ‘Quy chế tự trị trực thuộc chính quyền trung ương Bắc Kinh’ như Trung Quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương, Quảng Tây”.

Tôi sửng sốt, trăn trở, không tin ở sự xác thực của sự kiện này. Những vị lãnh đạo nêu tên trên vốn là những người yêu nước trực tiếp tham gia góp phần chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chống Tàu giành độc lập tự do. Lịch sử cận hiện đại Việt Nam là nối tiếp lịch sử 4000 năm, từ đời Hùng Vương ,đã từng đánh bại các cuộc xâm lược của các triều đại lịch sử Trung Quốc:

Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Ngày nay không thể nào có những người lãnh đạo, vì bất cứ lý do gì cúi đầu xin được làm một khu tự trị của Trung Quốc, bởi vì như vậy là bán nước, phỉ báng ông cha, phản bội dân tộc.

Trước hiện tượng Trung Quốc cho xuất bản hai cuốn sách của Hồ Tuấn Hùng và Huỳnh Tâm đưa nhiều dẫn chứng rạch ròi để khẳng định Chủ Tịch Hồ Chí Minh là người Đài Loan (Trung Quốc) đã lũng đọan tinh thần nhân dân ta, gây nên những nghi vấn rất tai hại, vậy mà hệ thống tuyên huấn- thông tin của ta vẫn coi như không có trách nhiệm gì!

Không thể im lặng một cách rất tội lỗi như vậy được nữa, tôi đề nghị các cơ quan thông tấn ,báo chí của Đảng ta, nhất là báo Nhân Dân – cơ quan trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam ,tiếng nói của Đảng,Nhà nước và Nhân dân Việt Nam – hãy làm sáng tỏ vụ việc này và công khai cho nhân dân ta biết.

01/1/2015

Phạm Quế Dương

Khu tập thể 37 Lý Nam Đế – Hà Nội

ĐT: 62700002

Xây tượng anh hùng Trung Quốc… “trấn thủ” biển phía Nam?

Xây tượng anh hùng Trung Quốc… “trấn thủ” biển phía Nam?

Một Thế Giới

Phong Vũ

20-11-2015

Vĩnh Châu, nơi được đề nghị xây tượng anh hùng Trung Quốc

Vĩnh Châu, nơi được đề nghị xây tượng anh hùng Trung Quốc

Một doanh nghiệp đang đề nghị UBND tỉnh Sóc Trăng cho xây tượng vị anh hùng của Trung Quốc cao đến 36m, “trấn thủ” vùng biển phía Nam của Việt Nam.

Ông Nguyễn Trung Hiếu, Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng, cho biết: Lãnh đạo tỉnh đã có cuộc họp với đại diện Công ty CP Thương mại sản xuất bao bì Thành Lợi (có trụ sở tại TP.HCM) để bàn về Dự án xây dựng Khu Du lịch tâm linh – biển Vĩnh Châu.

Dự án có quy mô dự kiến gần 18ha tọa lạc tại đường Đê, phường 1, thị xã Vĩnh Châu, với tổng mức đầu tư 30 tỉ đồng, trong đó vốn của chủ đầu tư khoảng 6 tỉ đồng, còn lại là vốn góp từ các thành viên công ty, vốn đối ứng của đối tác.

Có nhiều hạng mục công trình quy mô để phục vụ khai thác kinh doanh như ăn uống, du lịch sinh thái dã ngoại, dịch vụ giải trí, chăm sóc sắc đẹp, thể dục thể thao… Đặc biệt là có khu riêng phục vụ nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của du khách. Thời gian xây dựng dự kiến từ 2-3 năm. Trong đó, công trình quan trọng nhất để tạo điểm nhấn, thu hút của khu du lịch là tượng Quan Thánh Đế Quân (Quan Công) với chiều cao dự kiến là 36m bằng vật liệu bê tông cốt thép.

Đại diện Sở Xây dựng giải trình khu đất quy hoạch không thuộc đất rừng phòng hộ mà chỉ nằm trong định hướng quy hoạch trồng rừng phòng hộ của UBND tỉnh (vào năm 2009). Do đó, UBND tỉnh có thẩm quyền điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới. Đại diện Sở VH-TT&DL đánh giá đây là hướng đi đúng đắn, tuy nhiên, công tác quản lý phải chặt chẽ, làm rõ sự khác biệt giữa “tính thiêng” và mê tín dị đoan trong du lịch tâm linh. Còn Sở KHĐT cho rằng dự án không vi phạm các quy định pháp luật hiện hành và thuộc thẩm quyền UBND tỉnh nên đề nghị xem xét cho phép đầu tư.

Tại cuộc họp, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Trung Hiếu kết luận: “Vĩnh Châu là thị xã biển, do đó phải tạo điều kiện để địa phương “hướng ra biển”. Tỉnh rất cần các dự án như vậy để phát triển về du lịch. Vị trí xin phép đầu tư khá “tế nhị”, nên các sở, ban ngành hữu quan vẫn khách quan hỗ trợ doanh nghiệp theo chuyên môn, thẩm quyền của mình. Đề nghị doanh nghiệp xin phép đầu tư cần thuyết trình, báo cáo cụ thể về dự án với UBND tỉnh và các sở, ban, ngành hữu quan”.

Theo ông Hiếu, nếu khu du lịch hoàn thành sẽ trở thành điểm nhấn trong hệ thống các khu du lịch tâm linh liên tỉnh khác, đồng thời tạo được việc làm cho người dân và khai thác các tiềm năng sẵn có của địa phương. Tuy nhiên, với đề xuất của đơn vị đầu tư là xây tượng Quan Công trong khu du lịch này thì Chủ tịch Hiếu không đồng ý mà gợi ý chủ đầu tư thay thế bằng các tượng khác phù hợp, có thể là tượng Phật Quan Âm.

Trước đó, Ban Tôn giáo tỉnh Sóc Trăng cũng đã có ý kiến về công trình trên, cho rằng nên xây dựng thờ Quốc tổ như Lạc Long Quân, Âu Cơ, vua Hùng hay những vị anh hùng của dân tộc, phù hợp với giá trị lịch sử, văn hóa đạo đức xã hội Việt Nam.

Theo dư luận nhân dân địa phương, đây là dự án không lớn nhưng xây dựng tượng có quy mô hoành tráng mà lại là tượng Quan Công, 1 nhân vật anh hùng thời Tam Quốc của Trung Quốc thì không phù hợp. Việc thờ cúng Quan Công là việc bình thường, nhưng xây dựng tượng Quan Công trấn thủ ở biển Vĩnh Châu, nhìn ra biển Đông trong thời điểm này là quá nhạy cảm.

Một cán bộ về hưu ở Vĩnh Châu giải bày: “Trong điều kiện chính trị xã hội và tranh chấp biển Đông đang có chiều hướng gia tăng thì việc 1 công ty xin cho xây tượng Quan Công quy mô hoành tráng tại vùng biển phía Nam tổ quốc ta lại nhìn ra biển Đông liệu có quá nhạy cảm không? Theo tôi đây là vấn đề rất tế nhị, không muốn nói là quá nhạy cảm.

Quan Công là nhân vật tâm linh, một anh hùng theo quan niệm của người Trung Quốc. Tượng Quan Công đứng trấn thủ nhìn ra biển Đông là một việc càng không nên có. Về kinh tế, dự án này chưa thể nói là sẽ mang về lợi ích khổng lồ bởi du lịch ở Sóc Trăng vẫn chưa tương xứng, chưa thể thu hút khách du lịch nhiều bằng các địa phương khác. Nếu doanh nghiệp xây dựng khu du lịch tâm linh mà họ đề nghị xây dựng tượng Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Âm hay tượng các vị Anh hùng dân tộc như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trung Trực,… thì có lẽ ai cũng ủng hộ.

 

Bãi bỏ môn lịch sử trong chương trình phổ thông trung tiểu học – bước đầu chuẩn bị cho âm mưu Hán hóa

Bãi bỏ môn lịch sử trong chương trình phổ thông trung tiểu học – bước đầu chuẩn bị cho âm mưu Hán hóa

Lê Dủ Chân (Danlambao) – Kính thưa đồng bào Việt Nam đang sống trong nước và ngoài nước.

Chúng ta, con cháu chúng ta, các thế hệ tương lai của Việt Nam sẽ căn cứ vào đâu để nói rằng “TÔI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM” nếu lịch sử của dân tộc Việt Nam bị xóa bỏ? Tinh thần yêu nước, yêu dân tộc của người Việt Nam hôm nay và mai sau có còn không nếu cội nguồn tổ tiên, công lao, xương máu của ông cha đổ ra trong quá trình dựng nước và giữ nước bị lãng quên?

Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam còn không nếu trong tương lai người Việt Nam không còn biết đến ải Nam Quan, mũi Cà Mau, Hoàng Sa, Trường Sa, sông Hát, sông Bạch Đằng, ải Chi Lăng, gò Đống Đa, Ngọc Hồi, Hà Hồi… mà chỉ biết Tây Sa, Nam Sa, “bên ni biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương”…?

Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam còn không nếu trong tương lai người Việt Nam không còn biết đến các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn… mà chỉ biết đến đảng cộng sản Tàu, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, đảng cộng sản Việt Nam, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam?

Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam còn không nếu trong tương lai người Việt Nam không còn biết đến Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Ngụy Văn Thà… mà chỉ biết Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Tập Cận Bình, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Phú Trọng…?

Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam còn không nếu trong tương lai người Việt Nam không còn biết đến bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta vào đời nhà Lý (*), Hội Nghị Diên Hồng, Hịch Tướng Sĩ vào đời nhà Trần, Bình Ngô Đại Cáo vào đời nhà Hậu Lê… mà chỉ biết tư tưởng Marx – Lê – Mao, “bác Hồ ta đó chính là bác Mao”, “Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan”, “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”…?

Kính thưa đồng bào,

Nếu nói rằng công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là công hàm bán nước, 2 câu thơ của Tố Hữu “Bên ni biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương” là tư tưởng tiền đề cho âm mưu sáp nhập nước Viêt Nam vào nước Tàu thì cáí gọi là “Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” của Bộ GD&ĐT/CSVN (bộ Giáo Dục Và Đào Tạo/đảng cộng sản Việt Nam) mà mục đích chính của nó là xóa bỏ lịch sử 4000 năm của dân tộc là bước đầu của đảng cọng sản/VN cố tình thực hiện để chuẩn bị cho chủ trương Hán hóa vĩnh viễn dân tộc Việt Nam trong tương lai.

Kính thưa đồn bào,

Lịch sử Việt Nam còn nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam còn.

Lịch sử Việt Nam mất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam mất.

Chúng ta không thể để đảng cộng sản Việt Nam cấu kết với đảng cộng sản Tàu từng bước xóa đi nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam trên bản đồ thế giới để vĩnh viễn trở thành một quận huyện của nước Tàu.

20/11/2015

Lê Dủ Chân

danlambaovn.blogspot.com

__________________________________

Chú thích:

(*) Nam Quốc Sơn Hà

Nam quốc sơn hà nam đế cư 

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? 

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Vụ án Ba Sàm: Xử hay thả?

Vụ án Ba Sàm: Xử hay thả?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-11-19

Untitled-1-620.jpg

Blogger “Anh Ba Sàm” Nguyễn Hữu Vinh

File photo

Your browser does not support the audio element.

Blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy bị bắt ở Hà Nội đã hơn 18 tháng qua, tội danh cáo buộc là lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Vụ án này được giới luật gia mô tả là vi phạm nghiêm trọng tố tụng hình sự. Những khả năng nào sẽ xảy đến cho Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự của ông.

Sắp hết thời hạn điều tra

Cho tới ngày 18/11/2015 chưa có thông tin khi nào tòa án sẽ xét xử vụ Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự, mặc dù đã hết ba lần gia hạn điều tra mỗi lần 4 tháng. Như vậy Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể đã áp dụng lần gia hạn điều tra cuối cùng thêm 4 tháng nữa với lý do đây là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp này thì ngày 5/1/2016 sẽ là thời điểm hết hạn điều tra.

Trong trường hợp không điều tra được không kết luận được, các cơ quan điều tra không chứng minh được thì về nguyên tắc đúng ra họ phải đưa điều tra bổ sung, nhưng bây giờ thời hạn điều tra bổ sung theo luật đã hết thì họ sẽ phải đình chỉ vụ án rồi trả tự do.
-LS Trần Quốc Thuận

Trả lời Nam Nguyên, Luật sư Trần Quốc Thuận thuộc nhóm các luật sư biện hộ cho blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đề cập tới những khả năng có thể xảy đến với vụ án này:

“Nếu đưa ra xét xử mà có chứng cứ, các cơ quan điều tra chứng minh được là có tội. Nếu những chứng cứ đó hợp pháp va tranh tụng rõ ràng thì họ có quyền kết án và tuyên án. Trong trường hợp không điều tra được không kết luận được, các cơ quan điều tra không chứng minh được thì về nguyên tắc đúng ra họ phải đưa điều tra bổ sung, nhưng bây giờ thời hạn điều tra bổ sung theo luật đã hết thì họ sẽ phải đình chỉ vụ án rồi trả tự do. Còn một phương án nữa là họ tuyên bố không phạm tội, có thể có ba khả năng đó.”

Trò chuyện với chúng tôi, Đại tá Nguyễn Đăng Quang cán bộ công an hiện nghỉ hưu ở Hà Nội, cũng là một nhà hoạt động có nhiều kiến nghị cải cách, cho rằng chưa có vụ án nào kéo dài như vụ này mà chưa đưa ra xét xử được. Theo lời Đại tá Quang, cơ quan điều tra chưa chứng minh được nghi phạm Nguyễn Hữu Vinh đã vi phạm luật pháp như thế nào, chưa chứng minh được những tội đã vi phạm, cho nên nó đã ảnh hưởng tới thời hạn đưa ra xét xử trước tòa. Bản kết thúc điều tra cũng như cáo trạng không có sức thuyết phục và chưa chứng minh được tội phạm mà nghi can Nguyễn Hữu Vinh đã phạm phải.

vo-ba-sam-622.jpg

Nghị sĩ Sabine Bätzing-Lichtenthäler thuộc Ủy ban Nhân quyền Quốc hội Đức gặp gỡ Bà Lê Thị Minh Hà, vợ blogger Anh Ba Sàm (giữa), hôm 31/10/2014 tại Berlin, Đức Quốc trong lúc Bà Hà đi vận động cho chồng.

Đáp câu hỏi là hiện nay Việt Nam đang nỗ lực cải cách pháp luật cho phù hợp với yêu cầu hội nhập, liệu có khả năng Blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự được trả tự do, phát xuất từ việc không đủ chứng cớ cũng như vấn đề vi phạm thủ tục tố tụng hình sự. Đại tá công an Nguyễn Đăng Quang, nhận định:

“Điều này nằm ngoài hiểu biết cũng như tưởng tượng của tôi. Trực tiếp cách đây khoảng một tuần, chính bản thân tôi đã gặp cơ quan an ninh, tôi có đề nghị rằng nếu không chứng minh được tội phạm thì tốt nhất là đình chỉ điều tra và trả tự do cho anh Nguyễn Hữu Vinh. Đấy là điều tốt nhất và các bên đều thắng. Nhưng tôi nghĩ rằng các cơ quan chức năng hiện nay không bao giờ có thể dám làm những điều đó, bởi vì quyền lực trong tay có lẽ người ta không chịu thua… rồi thì người ta sẽ đưa ra một cái cớ khác để kéo dài thời gian tạm giam tạm giữ.”

Không thể buộc tội?

Sự kiện Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự bị bắt giữ khẩn cấp ngày 5/5/2014 và truy tố như một vụ án chính trị được dư luận trong ngoài nước đặc biệt chú ý. Ông Nguyễn Hữu Vinh, 59 tuổi có bút danh Ba Sàm, ông là đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Nguyễn Hữu Vinh từng là sĩ quan công an và có gốc gác lớn, thân phụ là ông Nguyễn Hữu Khiếu từng giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, Bộ trưởng Bộ Lao động, Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô.

Theo cáo trạng được Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao gởi Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội ngày 5/11/2015, thì sau 4 lần điều tra bổ sung, Viện này vẫn giữ nguyên cáo trạng, truy tố ông Nguyễn Hữu Vinh và đồng phạm về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.”

Trực tiếp cách đây khoảng một tuần, chính bản thân tôi đã gặp cơ quan an ninh, tôi có đề nghị rằng nếu không chứng minh được tội phạm thì tốt nhất là đình chỉ điều tra và trả tự do cho anh Nguyễn Hữu Vinh.
-Đại tá Nguyễn Đăng Quang

Theo kết luận điều tra của Cơ quan An ninh Điều tra, ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy bị bắt vì đã đăng tổng cộng 24 bài viết trên hai trang mạng Dân Quyền và Chép Sử Việt, được cho là thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Vinh. Những bài viết này Công an cho là có nội dung xấu, thông tin sai lệch làm giảm uy tín, làm mất lòng trong nhân dân về cơ quan Nhà nước cũng như tổ chức xã hội và công dân vi phạm qui định tại Điều 258 Bộ Luật Hình sự. Khung hình phạt của tội danh này là từ 2 năm tới 7 năm tù.

Theo giới luật gia quan tâm tới vụ án, công an đã không thể chứng minh ông Nguyễn Hữu Vinh là người quản lý hai trang mạng Dân Quyền và Chép Sử Việt, dù đã phải mời chuyên gia nhà mạng FPT giúp điều tra chuyên môn. Nếu như ông Nguyễn Hữu Vinh chỉ là người vào xem những bài vở trên hai trang mạng đó, thì không thể buộc tội ông.

Việt Nam là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016, tất nhiên Hà Nội thừa nhận pháp luật nhân quyền cơ bản, không thể kết tội một người nếu không chứng minh được người đó có tội. Giới chuyên môn đưa ra một thí dụ nổi bật về vấn đề vi phạm tố tụng hình sự trong vụ án Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh. Đó là trong số 24 bài trên trang Dân Quyền và Chép Sử Việt, có bài liên quan tới Trung tướng Huỳnh Kông Tư, giới chức cao cấp của Bộ Công an và chính ông Huỳnh Kông Tư lại đứng ra điều tra vụ án có bài viết liên quan. Đây là vấn đề rất đơn giản gọi là xung đột lợi ích, người có liên quan đến một vụ án không thể tham gia tố tụng.

Hiện nay có 6 luật sư tham gia biện hộ cho anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy, gồm luật sư Trần Văn Tạo nguyên Phó Giám đốc Công an TP.HCM, luật sư Trần Quốc Thuận nguyên Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội và các luật sư Trịnh Minh Tân, Hà Huy Sơn, Nguyễn Hà Luân, Nguyễn Tiến Dũng.

Tất cả các vị luật sư đã sẵn sàng vào cuộc trong một vụ án điển hình liên quan tới quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận và tự do có chính kiến của người Việt Nam.

Chút nghĩa thầy cô

Chút nghĩa thầy cô

RFA

Đầu tuần này, lớp học tình thương của một nhóm thiện nguyện tại quận 3, Sài Gòn, bắt đầu ngày học của mình bằng giờ tập vẽ, làm thiệp chúc mừng ngày thầy cô giáo 20-11.

Lớp học loi nhoi tiếng hỏi han cách thức, đòi thêm giấy, viết màu của nhau. Khó khăn lớn nhất của những đứa trẻ đó là viết được lời chúc đàng hoàng để tặng cho người dạy mình. Một đứa khều khều, hỏi nhỏ “con chúc cô giáo ăn nhiều có kỳ không?”.

Hầu hết những đứa nhỏ học lớp vẽ đó đến từ những gia đình rất nghèo. Còn lại thì là những những đứa không biết một mái nhà là gì, từ lúc ra đời đến giờ. Cô giáo Sa, một trong những thiện nguyên giáo dục đường phố nói rằng nhiều đứa trẻ như vậy đã thân thuộc với vỉa hè, gầm cầu… vì khi ra đời cho đến khi lớn lên, bầu trời là mái nhà. “Nhà” đôi khi rất khủng khiếp, vì đó là những nơi chúng bị bắt về, bị buộc đóng các loại tiền gì gì đó theo chính sách… sau những đợt thu gom của chính quyền để làm “sạch đường phố”.

Nhưng với thầy cô là một chuyện rất khác. Những gương mặt đầy giận dữ, tinh ranh… ngày thường trên vỉa hè của chúng tức thì dịu lại, khi thấy thấp thoáng bóng dáng thầy hay cô xuất hiện. Có cái gì đó rất kỳ diệu trong nghĩa thầy trò vừa mong manh, vừa vĩ đại này. Những đứa trẻ Việt Nam dù ở hoàn cảnh nào, vẫn thầm lặng mang trong lòng mình một không gian kính ngưỡng dành cho người dạy dỗ mình, thậm chí còn đậm sâu hơn nhiều đứa trẻ đeo khăn quàng và được giáo dục trong mái trường xã hội chủ nghĩa.

Rất nhiều người đau đớn nói rằng thế hệ trẻ hôm nay đã hỏng tất cả, khi mỗi ngày nhìn thấy chuyện trò đánh thầy, trò vây đánh trò… mỗi lúc càng ghê sợ. Nhưng phải đi và đến những điểm tận cùng của cuộc sống, nhìn thấy của những đứa trẻ chơ vơ ấy, chứng kiến chúng khao khát được gọi tiếng “thầy-cô”, khao khát được nhìn nhận như một học trò, có thể mới hiểu rằng mọi vấn nạn đều sinh ra từ nhà trường, từ chính sách, từ xã hội… Chúng chỉ là những nạn nhân. Những nạn nhân mỏng manh của người lớn.

Một thằng bé không chịu nói tên, chăm chút vẽ ngôi trường của nó và tô toàn bộ là một màu đen. Mấy đứa bạn cười ngặt nghẽo, nói nhìn là biết ngay là trường bị cúp điện. Đứa khác nói vì hết màu nên nó tô đại màu đen. Nhưng có thể tác giả của cái thiệp thì biết rõ hơn ai hết, trường của nó chỉ là tưởng tượng, đêm đến, hết làm việc thì nó được học ở ngoài trời, khi các thầy cô thiện nguyện đến.

Những năm cuối thập niên 70, cái đói hoành hành toàn miền Nam. Nơi nơi người ta phải nấu hạt bo bo dành cho ngựa và bò, được viện trợ từ Liên Xô, để ăn ngày hai bữa. Cô giáo tiểu học của tôi, lúc đó đi dạy luôn mang theo chuối nấu và bánh kẹo để bán chịu cho học trò, nhằm có thêm chút tiền sinh sống. Cuối năm, tặng quà tết cho cô, mẹ tôi cứ đắn đo giữa việc tặng quà hay đưa tiền mặt. Cuối cùng nắm chặt bì thư nhét vào tay cô giáo kèm một lời xin lỗi, mẹ tôi về kể lại với ánh mắt buồn buồn rằng cô giáo đã ôm mẹ tôi, nói rằng cô cám ơn vì mẹ tôi đã rất thực tế giữa buổi khốn khó đó. Hôm nay thì chuyện nhét ít tiền vào túi thầy cô đã không còn lạ, rất thông tục – thậm chí không có là không xong. Nhưng tôi thì nhớ mãi phút giây mẹ tôi cứ đau đáu vì sợ làm tổn thương người dạy học, thành phần được vô cùng kính trọng trong nền văn hoá giáo dục của miền Nam cũ.

Trong tập truyện kể Những tâm hồn cao thượng (Les Grands Coeurs) của Edmond De Amicis mà mẹ tôi tặng cho tôi khi vào lớp 3, như một cẩm nang sống, câu chuyện vị tướng quân quay lại ngôi trường cũ, cúi đầu trước người thầy già luôn làm tôi cảm động rơi nước mắt. Tình người và nghĩa thầy trò mới cao đẹp làm sao.

Bơi lặn trong cuộc đời, nhìn thấy những điều quặn lòng trong đời Việt, tôi luôn nhớ câu chuyện nhỏ đó như để ủi an cho mình. Tôi đọc những câu chuyện có thật về trò giết thầy rồi nhơn nhơn tự đắc như chuyện của Vũ Quang Hùng, chuyện hiệu trưởng dụ dỗ học trò vào đường cùng như Sầm Đức Xương… cho đến nhan nhản những chuyện trò nghèo không có kịp tiền đóng học phí, bị thầy cho bêu tên làm nhục dưới cột cờ, cô giáo thẳng tay đuổi học trò vì bị mẹ phê bình… Tôi hiểu cuộc sống hôm nay không đẹp như ngày xưa nữa, nghĩa thầy trò cũng phai nhạt theo thời gian. Tôi luôn nhớ câu chuyện của Edmond De Amicis mà dặn lòng, rồi sẽ có một ngày, người Việt sẽ dựng xây lại đất nước này với những điều tốt đẹp nhất – như thế hệ tôi từng biết.

Trong học vấn kém cõi của mình, tôi chỉ có hai người thầy hiếm hoi, bao dung nổi tính cách ngang ngược của mình. Một là người thầy trong Nhạc Viện, và người thầy môn Anh Văn. Thầy dạy Anh Văn là một người uyên bác lạ kỳ, ông biết năm thứ tiếng và đặc biệt là tiếng Latin, nên thường được chính quyền cậy nhờ làm việc mỗi khi đối thoại, thư từ với Vatican trong thời cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Người thầy dạy nhạc với hơn 30 năm tuổi đảng thì dặn tôi phải lớn khôn và đừng bao giờ trở thành người cộng sản. Người thầy dạy chữ thì khó tính và lặng lẽ, nhưng lại dạy cho tôi hiểu biết rất nhiều về thế giới không cộng sản.

Tôi nhớ hoài một cánh tay của ông bị liệt, nên khi dạy luôn phải dùng tay này đỡ tay kia. Sức khoẻ ông yếu nên mỗi ngày cần phải uống một viên multivitamin. Nhưng loại thuốc đó thì rất khó tìm trong thời tôi đi học. Nhiều năm sau khi ra đời, chuyến đầu tiên ra nước ngoài, tôi đã chạy tìm mua mấy hộp multivitamin để mang về cho thầy. Nhưng về, thì thầy đã mất. Sức ông yếu, lại trãi qua nhiều năm trong trại tù – gọi là trại học tập cải tạo nên đột quỵ, gượng phục hồi sau khi bị liệt nửa người, nhưng rồi suy nhược dần.

Ngày 20/11 luôn nhắc tôi nhiều điều. Dịp đến thăm lớp học tình thương của những đứa trẻ nghèo lại càng gợi lên trong tôi nhiều kỷ niệm. Tôi không đo được nghĩa thầy cô trong lòng những đứa trẻ được giáo dục trong mái trường xã hội chủ nghĩa hôm nay như thế nào, nhưng với thế hệ tôi, đó là điều thiêng liêng khôn tả, nó giống như sự kính trọng và thương mến thầy cô mà tôi nhìn thấy ở những lớp học tình thương đó.

Nhìn tấm thiệp tô mái trường đen ngòm của đứa trẻ, tôi chợt nhận ra rằng đời khốn khó không bao giờ có thể giết chết được nghĩa thầy cô. Mà chỉ khi nghĩa thầy cô cao cả ấy bị bóp chết trong một xã hội nhiễu nhương, trong một chính quyền với nền giáo dục nhiễu nhương, ấy mới chính là lúc tất cả chúng ta và mai sau đang có một cuộc sống rất đỗi đen ngòm.

———————-
tranh minh họa: họa sỉ Lê Thiết Cương

Bỏ môn học Lịch sử, một âm mưu “đốt gia phả” của dân tộc?

Bỏ môn học Lịch sử, một âm mưu “đốt gia phả” của dân tộc?

RFA

Trước thông tin Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD&ĐT dự kiến sẽ tích hợp môn Lịch sử với môn giáo dục công dân và an ninh quốc phòng thành môn mới là công dân với Tổ quốc. Điều này đã gây ra những phản ứng gay gắt của dư luận xã hội, đặc biệt là giới trí thức. Vì hầu hết mọi người đều cho rằng, Lịch sử là môn học rất quan trọng và cần phải được dành vị trí xứng đáng trong chương trình giáo dục hiện nay.

Tuy vậy, giải thích với báo chí ông Nguyễn Vinh Hiển, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cho rằng, thông tin nêu trên chưa đầy đủ và chưa phản ánh đúng bản chất việc đổi mới giáo dục lịch sử trong chương trình phổ thông. Vì theo ông Nguyễn Vinh Hiển thì, ở bậc tiểu học môn Lịch sử vẫn học giống như hiện nay, nhưng kiến thức lịch sử sẽ nằm trong một số môn học khác trong môn Tìm hiểu xã hội. Còn bậc trung học cơ sở, thì môn Lịch sử được tích hợp với Địa lý thành môn Khoa học xã hội và ở bậc trung học phổ thông, môn Lịch sử tiếp tục tích hợp với Địa lý thành môn Khoa học xã hội. Không chỉ thế, môn Lịch sử sẽ được tích hợp trong hai môn học bắt buộc, đó là môn Giáo dục công dân & Giáo dục quốc phòng và môn Công dân với Tổ quốc. Với mục đích để giáo dục học sinh về truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nghệ thuật quân sự của cha ông.

Phản ứng của dư luận

Nhà sử học Dương Trung Quốc cũng vô cùng ngạc nhiên khi Bộ GD-ĐT không hề tham khảo ý kiến của Hội khoa học Lịch sử Việt Nam khi xây dựng đề án này. Theo ông Dương Trung Quốc trong bối cảnh tình hình đất nước, láng giềng, khu vực và quốc tế diễn biến phức tạp như hiện nay cho thấy vấn đề chủ quyền, hội nhập là rất hệ trọng. Vì thế, hơn bao giờ hết, chúng ta không thể lãng quên lịch sử, đánh mất mình. Do vậy, nếu muốn thay đổi thì cần làm hết sức cẩn trọng, không thể làm đơn giản như cách đặt vấn đề của Bộ GD&ĐT vừa qua.

Theo VTC News cho biết, tại Hội thảo khoa học “Môn Lịch sử trong giáo dục phổ thông” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức ngày 15/11, nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng môn Lịch sử được tích hợp trong môn Khoa học xã hội và Công dân với Tổ quốc ở cấp trung học phổ thông (THPT) là không thỏa đáng và thiếu cơ sở khoa học và sẽ khiến học sinh càng quay lưng với môn Lịch sử.

Được biết trong cuộc hội thảo này, khi nói về tầm quan trọng của bộ môn Lịch sử GS. Phan Huy Lê thấy rằng lịch sử là cội nguồn sức sống của dân tộc Việt Nam và nếu không có sự kế thừa những truyền thống của dân tộc thì làm sao những thế hệ hiện tại có thể viết tiếp những trang sử, xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay và mai sau. Theo ông, cách làm của Bộ GD&ĐTsẽ “khai tử” môn Lịch sử trên thực tế.

Không chỉ thế, Thượng tướng, PGS, TS Võ Tiến Trung, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng khẳng định không thể đưa môn Lịch sử tích hợp với môn Giáo dục Quốc phòng. Vì theo ông Trung tích hợp môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh với các môn học khác trong cấp THPT là trái với quy định pháp luật của nước ta. Đồng thời, Giáo dục Quốc phòng – An ninh là môn học đặc thù cả về nội dung, phương pháp và hình thức, hơn 80% bài giảng mang tính trang bị kiến thức, kỹ năng thiết yếu để bảo vệ Tổ quốc, do vậy không thể tích hợp với môn học khác.

Ngày 16/11/2015, tại phiên chất vấn Chính phủ tại Quốc hội Đại biểu Lê Văn Lai (tỉnh Quảng Nam) cho rằng sai lầm về phương pháp sẽ dẫn tới sai lầm về kiến thức, nhất là kiến thức lịch sử trong thế hệ trẻ và sẽ không có chỗ cho sự khắc phục hoặc thiếu kinh nghiệm. Theo ông Lai thì cho rằng những vấn đề tưởng như nhỏ, nhưng thực chất lại không nhỏ, đã làm ảnh hưởng rất lớn đến các chủ thể liên quan. Đại biểu Lê Văn Lai khẳng định: “Theo tôi, bất cứ sự phá vỡ lớn nào cũng có nguyên nhân từ sự phá vỡ hệ thống. Chứng minh cho nhận định này là vấn đề tôi vừa chất vấn thầy Bộ trưởng về cách dạy môn Lịch sử. Vì đơn giản hóa vấn đề, chỉ chú trọng tới giấc mơ tích hợp mà quên mất hệ lụy khác”.

Chủ quyền HS-TS không được đưa vào giáo khoa Lịch sử

Theo báo Người Đô thị, tại Hội thảo môn sử trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức ngày 15.11 tại Hà Nội, GS-TS Nguyễn Quang Ngọc, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, cho biết cách đây hơn chục năm, khi được tham gia viết sách giáo khoa, ông đã tha thiết đề nghị phải đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào sách giáo khoa lịch sử phổ thông nhưng không được chấp nhận. Theo GS Ngọc, chỉ duy nhất trong sách giáo khoa lịch sử 10 (nâng cao) có một câu: “Kỹ thuật vẽ bản đồ cũng đạt được những thành tựu mới, trong đó đặc biệt là “Đại Nam nhất thống toàn đồ” được vẽ vào cuối thời Minh Mạng đã thể hiện tương đối chính xác hình ảnh nước Đại Nam thống nhất, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài Biển Đông”. Mà theo ông, đấy dường như cũng là câu duy nhất nói đến chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa trong toàn bộ bộ sách giáo khoa lịch sử phổ thông (cả chương trình chung và chương trình nâng cao) tính cho đến thời điểm này.

Cũng theo GS-TS Nguyễn Quang Ngọc cho biết, Hội Khoa học lịch sử đã nhiều lần đề nghị phải đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào trong chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông nhưng từ năm 2012 cho đến nay sách giáo khoa lịch sử phổ thông vẫn giữ nguyên như cũ, chưa có thêm một dòng một chữ nào về lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa và nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo trong sách giáo khoa lịch sử phổ thông cho đến thời điểm hiện tại vẫn đang còn là con số không tròn trĩnh.

Theo GS Ngọc, trong SGK lịch sử có bảy bản lược đồ nói về lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng cả bảy bản lược đồ này đều được hoàn thành từ lần xuất bản đầu tiên, không phải là bổ sung mới và không có bất cứ một lược đồ nào trực tiếp trình bày chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông hay các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Điều đáng nói là, vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng sa (đã bị Trung quốc cưỡng chiếm toàn bộ) và Trường sa thuộc chủ quyền của Việt nam đã bị chính phía Hà nội làm ngơ, việc không đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào trong chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông là bằng chứng cho thấy điều đó. Đây là hành động gián tiếp không thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, điều đó cho thấy chính quyền hiện nay đã “vô tình” tiếp tay cho giặc.

Cũng cần phải nhắc lại, vừa qua theo báo cáo của Ban Dân nguyện của Quốc hội thì cử tri của 28 tỉnh, thành phố đã kiến nghị và yêu cầu nhà nước tiến hành khởi kiện Trung quốc về chủ quyền của Việt nam đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa.

Có hay không một âm mưu “đốt gia phả” của Dân tộc?

Lịch sử của dân tộc Việt nam với hơn 4.000 năm lịch sử luôn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước, đó là những trang sử hào hùng của dân tộc với các chiến công đánh bại các cuộc xâm lăng của các thế lực bành trướng Trung Hoa. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi toàn bộ nền kinh tế và kể cả chính trị của Việt nam đã và đang gắn chặt vào Trung quốc và họ bị thao túng. Không chỉ thế, Trung quốc ngày càng tỏ ra lấn lướt và áp đảo Việt nam trong vấn đề chủ quyền trên các hòn đảo hay bãi đá ngầm trên Biển Đông. Thậm chí họ không ngần ngại khi tuyên bố rằng toàn bộ chủ quyền hai Quần đảo Hoàng sa và Trường sa thuộc về Trung quốc từ thời cổ đại. Bên cạnh đó là các hành động cấm cản và đánh đập ngư dân Việt nam trong quá trình đánh bắt cá trên vùng biển truyền thống của mình. Vậy mà chính quyền Việt nam không dám ho he phản đối đích danh Trung quốc, chỉ dám gọi tên “tàu lạ” hay “nước lạ”, dù rằng đén nay có khá hơn đôi chút song vẫn không dám khởi kiện Trung quốc ra Tòa án Quốc tế như Philippine đã làm và thu được kết quả ban đầu.

Thông qua chủ trương tích hợp môn học Lịch sử đã cho thấy, đây là một chủ trương từ âm mưu của lãnh đạo cấp cao nhất của ban lãnh đạo Việt nam, núp dưới danh nghĩa Nghị quyết Số: 29-NQ/TW “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường”. Chứ cái đó có lẽ không phải là ý kiến đơn thuần của lãnh đạo Bộ GD&ĐT. Điều đó chứng tỏ ban lãnh đạo Việt nam đang bị một thế lực vô hình nào đấy ép buộc với mong muốn bức tử và thậm chí muốn xóa sổ lịch sử của dân tộc Việt nam ra khỏi chương trình giáo dục phổ thông hiện nay. Đồng nghĩa với việc họ muốn xóa bỏ truyền thống đánh giặc phương Bắc của ông cha ta trong quá khứ, điều được coi là mối nhục của thế lực bành trướng phương Bắc ngàn đời đã không xóa sạch được.

Điều này được chứng minh qua nhận định của GS.NGND Vũ Dương Ninh (ĐH Quốc gia Hà Nội), khi cho rằng: “Không phải đến thời điểm này mà một vài thập kỷ qua, môn Sử đã bị đối xử thiếu công bằng”. Mà theo GS. Ninh thì đây là những việc làm có tính toán kỹ càng và chủ đích. Theo đó, ban đầu vì lý do giảm tải, nên môn Lịch sử không còn được coi là môn thi chính thức trong chương trình thi tốt nghiệp phổ thông. Sau là tới, việc cho học sinh được phép lựa chọn thi ngoại ngữ hoặc môn Sử. Chưa hết, đến nay môn học Lịch sử lại được dạy tích hợp với các môn khác và kết quả cuối cùng thì môn Lịch sử đã dần biến mất khỏi chương trình giáo dục phổ thông. Dù rằng môn Lịch sử là một ngành khoa học có chức năng riêng biệt và vô cùng quan trọng. Theo ông, đây là điều hết sức đau xót.

Câu hỏi “Có hay không một âm mưu “đốt gia phả”?”, nghĩa là có hay không một âm mưu nhằm xóa bỏ lịch sử của dân tộc Việt nam? Đây là một câu hỏi hoàn toàn nghiêm túc, không mang tính chất cảm tính nhằm khiêu khích để kích động tinh thần chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Mà đây là điều có thật, đã và đang diễn ra một cách ráo riết hầu như để phục vụ cho một kế hoạch nào đó, sẽ diễn ra vào năm 2020 trong quan hệ Việt – Trung, mà lâu nay dư luận đang đồn thổi và nghi ngờ.

Bên lề hành lang Quốc hội, trả lời phỏng vấn báo chí nhà sử học Dương Trung Quốc đã góp ý rằng Bộ GD-ĐT cần hết sức thận trọng, nhưng theo ông dường như những người đưa ra ý tưởng và triển khai sự đổi mới này đang ấp ủ một âm mưu nào đó không rõ ràng. Vị Đại biểu Quốc hội này khẳng định: “Bộ GD-ĐT luôn lập luận không bỏ môn lịch sử nhưng theo tôi, đó chỉ là cách nói và đã khiến chúng tôi rất nghi ngờ”.

Cho dù, Đại biểu Quốc hội – nhà sử học Dương Trung Quốc không nói rõ ông nghi ngờ cái gì, vì ở thế của ông cũng không được phép nói ra một cách huỵch toẹt, nhưng ai cũng hiểu Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc muốn cảnh báo điều gì đối với dư luận xã hội?

Kết:

Nhiều người cho rằng, bỏ xem thường hoặc bỏ môn Lịch sử là tự chúng ta quay lưng với quá khứ, quay lưng với những kết quả mà cha ông ta đã dày công để xây dựng bờ cõi nước Việt Nam từ ngàn xưa đến hôm nay. Bạn nghĩ thế nào khi mà các chiến thắng lẫy lừng như Bạch Đằng giang, Chi lăng, Đồng đa… của cha ông chúng ta trước giặc bành trướng phương Bắc sẽ bị rơi vào quên lãng? Vậy mà có kẻ đang muốn tìm cách vứt bỏ những kỳ tích đó đi, họ muốn xóa bỏ quá khứ, thông qua việc xóa sổ môn học Lịch sử và coi vấn đề lịch sử của dân tộc Việt nam không có giá trị.

Trong một thời gian dài, nhà nước Việt nam luôn phát động và tổ chức các cuộc vận động họ tập theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, song có lẽ họ quên rằng ngay từ năm 1942, lúc cách mạng Việt nam còn trong trứng nước, khi nước nhà chưa được độc lập, cũng là khi ông Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông đang còn hoạt động trong bóng tối. Tuy vậy, vào lúc đó ông Hồ Chí Minh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Lịch sử và coi đó là trách nhiệm của mỗi người công dân nước Nam. Ông đã từng viết trên Báo Việt Nam độc lập số 117, ngày 1-2-1942 rằng “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn.” – (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia 2002).

Xin được trích lại, với hy vọng những người có trách nhiệm mở to mắt ra mà nhìn cái họa sắp đến của dân tộc Việt nam.

Ngày 18/11/2015

© Kami

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam công bố 3 người đoạt giải 2015

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam công bố 3 người đoạt giải 2015
Nguoi-viet.com

GARDEN GROVE, California (NV)Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam vừa công bố sẽ trao giải nhân quyền năm 2015 cho ba cá nhân đang sống và hoạt động trong nước, tại một cuộc họp báo ở Thư Viện Việt Nam, Garden Grove, hôm Thứ Bảy, 14 Tháng Mười Một.

Ba nhân vật được chọn trao giải năm nay là Hòa Thượng Thích Không Tánh, bà Hồ Thị Bích Khương, và bà Bùi Thị Minh Hằng.

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam công bố 3 người đoạt giải 2015

Ðại diện Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam tại cuộc họp báo, từ trái, ông Ðỗ Như Ðiện, ông Nguyễn Bá Tùng, ông Ðoàn Thanh Liêm, và ông Lê Minh Nguyên. (Hình: Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cung cấp)

Ban tổ chức cho biết, ba nhân vật này được Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam chọn từ một danh sách có 25 người được đề cử.

Theo Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, Hòa Thượng Thích Không Tánh, tục danh Phan Ngọc Ấn, trụ trì chùa Liên Trì, quận 2, Sài Gòn, hiện đảm nhiệm chức vụ phó viện trưởng Hội Ðồng Ðiều Hành Tăng Ðoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, kiêm tổng ủy viên Từ Thiện-Xã Hội. Hòa thượng cũng là một trong những thành viên sáng lập Hội Ðồng Liên Tôn Việt Nam.

Là một tu sĩ luôn quan tâm đấu tranh cho nhân quyền, và đặc biệt là quyền tự do tôn giáo, Hòa Thượng Thích Không Tánh đã bị chính quyền CSVN liên tục đàn áp và trả thù.

Năm 1976, hòa thượng bị bắt đi tù cải tạo 10 năm vì đã can đảm gửi thư đến thủ tướng chính quyền Cộng Sản phản đối việc hủy bỏ quyết định miễn nghĩa vụ quân sự cho các tăng sĩ, vốn đã có từ thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Tháng Mười, 1992, hòa thượng lại bị kết án 5 năm tù giam và 5 năm quản chế với cáo buộc “lưu hành nhiều tài liệu có nội dung chống lại nhà nước” sau khi công an lục soát phòng của hòa thượng trong chùa Liên Trì và tịch thu bản sao nhiều ghi chép của Hòa Thượng Thích Huyền Quang.

Ðược trả tự do trước thời hạn vào Tháng Mười, 1993, hòa thượng vẫn tiếp tục các hoạt động phục vụ nhân quyền và xã hội.

Tháng Mười Một, 1994, hòa thượng lại bị công an bắt giữ khi đang quyên góp và phân phát vật phẩm cứu trợ cho nạn nhân lũ lụt miền Tây.

Ðến Tháng Tám, 1995, Hòa Thượng Thích Không Tánh và Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ bị tòa án xử phạt mỗi người 5 năm tù với cáo buộc “phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước.”

Trong nhiều năm qua, hòa thượng vẫn tiếp tục tổ chức nhiều hoạt động từ thiện, như tặng quà cho thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, cho bệnh nhi ung thư, cứu trợ các gia đình thuyền nhân bị cưỡng bách hồi hương, v.v… cũng như giúp đỡ cho các tổ chức xã hội dân sự trong nước có nơi sinh hoạt, hội họp, để đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền.

Những nỗ lực nối kết liên tôn của hòa thượng đã tạo nên một nguồn sinh khí mới trong cuộc đấu tranh cho quyền tự do tôn giáo hiện nay. Vì những hoạt động này mà rất nhiều lần hòa thượng bị công an và chính quyền sách nhiễu, thậm chí hiện nay họ đang âm mưu cưỡng chế để thu hồi mảnh đất nơi ngôi chùa tọa lạc, nhưng hòa thượng vẫn kiên cường tranh đấu, không hề nao núng, hoặc chùn bước.

Bà Hồ Thị Bích Khương là một dân oan hai lần bị chính quyền địa phương cướp đất, phá nhà, và cơ sở làm ăn (năm 1989 và năm 1996), theo Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam.

Bà từng đi khiếu kiện một cách vô vọng nhiều năm. Do hoàn cảnh khó khăn, bà phải xin đi “xuất khẩu lao động” ở Nam Hàn. Tại đây, trước cảnh các bạn công nhân bị áp bức và bóc lột, bà đã vận động đồng nghiệp đứng lên đấu tranh với chủ và bị chủ thù ghét, đối xử tàn tệ. Bà khiếu nại với văn phòng đại diện Việt Nam tại đây, nhưng họ lại thông đồng với chủ và yêu cầu cảnh sát cưỡng bức bà về nước.

Về lại Việt Nam vào năm 1999, bà tích cực tham gia các cuộc biểu tình của dân oan từ các địa phương tập trung về Hà Nội để đòi lại đất, chống tham nhũng, và đòi chính quyền thực thi nhân quyền và dân quyền.

Ngày 11 Tháng Năm, 2005, bà bị công an bắt và giam tại Hỏa Lò và truy tố ra tòa. Tại phiên tòa, bà đã khẳng khái phản bác hội đồng xét xử.

Bà được trả tự do ngày 11 Tháng Mười Một, 2005, và đến năm sau bà lại tham gia Khối 8406.

Là một thành viên tích cực của khối, bà đã viết khoảng 30 bài có nội dung phản kháng chế độ độc tài toàn trị Cộng Sản. Bà còn in ấn nhiều tài liệu về dân chủ đem phân phát cho đồng bào nhằm nâng cao nhận thức và lôi cuốn họ vào phong trào đấu tranh. Ngoài ra, bà cũng đã giúp nhiều dân oan viết đơn khiếu nại gửi tới nhà cầm quyền hay đưa lên mạng.

Ngày 26 Tháng Năm, 2007, bà bị công an bắt tại thị trấn Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An. Trong thời gian bị giam, bà bị tra tấn rất tàn bạo, nhưng vẫn giữ vững khí tiết và tinh thần can trường hiếm thấy ở một người phụ nữ bình thường. Cuộc tranh đấu kiên cường trong lao tù đó đã được bà ghi lại trong tập hồi ký có tựa đề: “Bước đường đấu tranh cho công lý và dân chủ của tôi.”

Sau khi ra tù lần thứ hai vào ngày 26 Tháng Tư, 2009, bà vẫn tiếp tục tranh đấu. Bà bị công an quận Phú Nhuận, Sài Gòn, bắt và đánh bị thương nặng ngày 15 Tháng Sáu, 2010 khi trên đường đến thăm các bạn đấu tranh ở Sài Gòn. Ðầu năm 2011, bà lại bị bắt cùng với Mục Sư Nguyễn Trung Tôn khi hai người sao chép và phổ biến cuốn phim “Ðại họa mất nước.” Bà bị xử 5 năm tù giam và 3 năm quản chế với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước.”

Hiện nay bà Hồ Thị Bích Khương còn đang ở trong tù và vẫn tiếp tục tranh đấu không ngừng để đòi quyền được đối xử tử tế cho mình cũng như cho bạn tù. Vì thế bà thường xuyên bị cai tù đánh đập và hành hạ.

Bà Hồ Thị Bích Khương là một chiến sĩ đấu tranh cho nhân quyền chịu đựng tới ba lần tù đày và nhiều lần bắt bớ, đánh đập hết sức tàn nhẫn. Tuy thế, bà vẫn luôn giữ ý chí bất khuất cho lý tưởng tự do, dân chủ và nhân quyền. Bà được tổ chức Human Rights Watch trao tặng Giải thưởng Hellman/Hammett năm 2011.

Theo Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, tuy xuất thân từ một gia đình có chức quyền trong guồng máy chính quyền Cộng Sản, bà Bùi Thị Minh Hằng đã sớm nhận chân được bộ mặt của chế độ khi khám phá ra rằng chính các quan chức địa phương đã phi pháp tiếp tay cho đảng viên cướp đoạt ngôi nhà của thân phụ để lại cho bà.

Từ năm 2011, bà đã hăng hái tham gia các cuộc biểu tình phản đối việc Trung Quốc xâm lấn lãnh hải Việt Nam và phong trào đòi dân chủ nhân quyền.

Ngày 27 Tháng Mười Một 2011, bà bị bắt tại Sài Gòn khi tham gia xuống đường yêu cầu Quốc Hội ra luật biểu tình. Bà bị đưa vào trại cưỡng bức lao động cải tạo trong hai năm tại Thanh Hà, tỉnh Vĩnh Phúc, mà chẳng qua thủ tục xét xử nào.

Do áp lực mạnh mẽ của dư luận, bà được trả tự do sau 5 tháng bị giam giữ. Tuy nhiên công an vẫn ngày đêm theo dõi, sách nhiễu, và trả thù bà một cách hèn hạ. Mặc dù vậy, bà vẫn kiên cường mạnh mẽ đấu tranh không lùi bước. Bà từ chối đóng tiền cho quỹ an ninh quốc phòng, làm đơn khởi kiện đích danh Chủ Tịch UBND Hà Nội Nguyễn Thế Thảo, viết thư cho ngoại trưởng Hoa Kỳ, viết thư cho Quốc Hội, tố cáo những hành động phi pháp đối với bà,…

Bà Bùi Thị Minh Hằng còn có sáng kiến mở “Quán Thông Tin” trước nhà để phổ biến những thư khiếu kiện, những thư ngỏ của bà gửi đến các cơ quan có thẩm quyền.

Nhận ra rằng bà là một cái gai nhức nhối cần phải nhổ, là một dân oan kiên cường đấu tranh cho công lý cần phải triệt hạ, nhà cầm quyền Cộng Sản đã dàn dựng một “vụ gây rối trật tự công cộng” để bắt giam bà và một số người khác tại tỉnh Ðồng Tháp, khi họ đến thăm một người đấu tranh cho nhân quyền bị bách hại.

Ngày 26 Tháng Tám, 2014, bất chấp sự phản đối của dư luận, chính quyền Cộng Sản vẫn kết án bà 3 năm tù giam. Trong tù bà vẫn không ngừng đấu tranh. Bà đã tuyệt thực hơn hai tháng (kể từ ngày 2 Tháng Tư, 2015), và thường xuyên trò chuyện với chị em nữ tù nhân để gây cho họ ý thức sâu sắc về quyền con người. Hiện nay bà vẫn đang chịu cảnh tù ngục.

Bà Bùi Thị Minh Hằng là một con người đấu tranh trên mọi mặt và có mặt khắp mọi nơi. Cần chống xâm lược, bảo vệ tổ quốc thì bà ở tuyến đầu, cả ở Sài Gòn lẫn Hà Nội. Cần chống cưỡng chế tước đoạt thì bà luôn đồng hành cùng với dân oan. Những người đấu tranh bị bắt vào đồn công an, bà liền có mặt đòi thả những người yêu nước. Bà Bùi Thị Minh Hằng là một chiến sĩ đấu tranh kiên cường và bất khuất cho nhân quyền.

Trở lại cuộc họp báo, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cho biết buổi trao giải năm nay sẽ được tổ chức tại Little Saigon, Nam California, vào ngày 11 Tháng Mười Hai, nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 67.

Giải Nhân Quyền Việt Nam do Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam thành lập vào năm 2002 và được tổ chức hàng năm nhằm tuyên dương thành tích tranh đấu bất bạo động của những người đã chấp nhận hy sinh, kể cả mạng sống của chính mình, cho lý tưởng nhân quyền và dân quyền của người dân Việt Nam. Ngoài ra, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam còn nhằm bày tỏ sự liên đới, hậu thuẫn và quyết tâm của người Việt khắp nơi trong nỗ lực đấu tranh giành lại quyền làm người cho mọi người dân Việt Nam.

Từ ngày thành lập đến nay, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đã tuyên dương và trao tặng Giải Nhân Quyền Việt Nam cho hàng chục nhà đấu tranh hàng đầu cho nhân quyền tại Việt Nam. (Ð.D.)

“Nhà nước đang nuôi báo cô nhiều công chức, viên chức”

“Nhà nước đang nuôi báo cô nhiều công chức, viên chức”

Ngọc Quang

(GDVN) – Ông Nguyễn Đình Quyền – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội nói thẳng như vậy khi trao đổi với báo chí về năng lực công chức, viên chức.

Theo kế hoạch dự kiến, Nhà nước sẽ tinh giản biên chế trên 296 nghìn cán bộ công chức, viên chức (tức là chiếm khoảng 10%) trong giai đoạn 2015 – 2021.

Tuy nhiên, vấn đề nhiều Đại biểu Quốc hội lo ngại hiện nay là liệu có chuyện “giảm chỗ nọ, phình chỗ kia” hay không? Thậm chí, đã có ý kiến chỉ ra rằng, số lượng cán bộ công chức, viên chức ăn lương nhà nước không những không giảm mà còn tăng lên thời gian qua, và các ngành đều có lý do chính đáng.

Theo ông Nguyễn Đình Quyền – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội nói thẳng rằng, không thể cào bằng như hiện nay mà phải tính lại cho đúng với năng lực thực tế của từng vị trí công việc. Nếu không làm được thì động lực phát triển trong bộ máy nhà nước bị triệt tiêu, đến một lúc nào đó người có năng lực sẽ chán và buông xuôi.

“Hiện nay, trong bộ máy nhà nước đang trả lương cho một bộ phận không làm gì, tức là nuôi báo cô. Nhưng đồng thời, chúng ta có tội với những người làm việc bằng 5 người khác đang làm”, ông Quyền nhấn mạnh.

Nguyen Dinh Quyen

Ông Nguyễn Đình Quyền – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội (Đại biểu Quốc hội đoàn Hà Nội) nói thẳng, Nhà nước đang nuôi báo cô rất nhiều công chức, viên chức. ảnh: Ngọc Quang.

Theo vị Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, muốn giảm biên chế hiệu quả phải đặt vấn đề trên tổng thể toàn hệ thống chính trị, chứ không chỉ ở bộ máy hành chính của nhà nước.

“Chúng ta đang cải cách bằng cách định biên, tức là làm rõ mỗi vị trí công tác thì công việc như thế nào? Trong một số ngành, tôi thấy đã định biên được, nhưng nhìn chung thì chưa định biên được nên dẫn đến giảm biên chế rất khó khăn.

Hơn thế nữa theo quy trình hiện nay, tinh giảm biên chế không dễ dàng một chút nào cả. Người ta vẫn làm việc, bây giờ, hiệu quả đánh giá năng suất lao động như thế nào, những tiêu chí, người có thẩm quyền, cách thức thực hiện ra sao, trình tự thủ tục vẫn rất mơ hồ”, ông Quyền nhận định.

Cũng theo ông Nguyễn Đình Quyền, việc phình biên chế trong cơ quan nhà nước trong nhiều trường hợp còn do ý chí chủ quan của người đứng đầu đơn vị.

Ông Quyền nêu thí dụ: “Tôi đã từng làm Vụ trưởng, lúc đó, tôi bảo chỉ cần 2 vụ phó thôi, nhưng thủ trưởng tôi bảo, không, anh phải cần 4 vụ phó.

Tôi chưa cần lấy thêm người thì ông thủ trưởng bảo cần lấy thêm người. Tức là người đứng đầu một đơn vị cũng không có thẩm quyền về biên chế, cán bộ.

Tính tự chủ đi đôi với tính tự chịu trách nhiệm, bởi vì người ta không tự chủ nên tính tự chịu trách nhiệm cũng yếu đi. Muốn tinh giản bộ máy Nhà nước hiện nay để lương cải thiện thì có quá nhiều việc phải làm và phải có bàn tay nào đó rất mạnh mẽ”.

Ông Nguyễn Đình Quyền cũng khẳng định, qua kinh nghiệm làm việc ở những cơ quan mà ông từng làm quản lý thì có thểm giảm được tới 40% cán bộ công chức, viên chức.

Ông Quyền dẫn chứng: “Có lần tôi đã từng nói, nếu tôi làm Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, tôi có thể thải được 40% cán bộ, công chức ra khỏi bộ máy. Nếu cho phép tôi toàn quyền.

Thực tế ở các vụ chuyên môn 1 người có thể làm việc bằng ít nhất 3 người, thậm chí có thể làm bằng 5 người. Một anh vụ phó dư sức làm việc của hai anh vụ phó và 3 anh chuyên viên cộng lại, nhưng không có cơ chế gì khuyến khích, thậm chí có khi làm càng nhiều lại càng phải va chạm. Đến lúc bỏ phiếu bình bầu thì có khi mất phiếu.

Do đó, quan trọng nhất hiện nay là phải tính được định biên, và đặc biệt phải giao quyền tự chủ cho người đứng đầu. Người ta đã ở trong bộ máy nhà nước lâu rồi, bây giờ nói sa thải rất khó. Cơ chế thải bằng cách nào là cả một vấn đề, chúng ta phải tính đến hậu quả pháp lý của vấn đề đó”.

Từ câu chuyện sử dụng cán bộ, ông Nguyễn Đình Quyền cũng chỉ ra sự bất cập trong cách tính lương của hệ thống cơ quan nhà nước.

“Thí dụ, tôi nói những doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế như dầu khí, điện lực, tại sao lương lại mấy chục triệu như vậy? Địa tô chênh lệch đó không phải do anh ta tạo nên mà do cán bộ nhà nước và do ngân sách nhà nước đầu tư cho anh tạo nên.

Ở các tập đoàn kinh tế, cán bộ công chức được nhà nước bỏ tiền ra đào tạo, ngân sách nhà nước bỏ tiền ra để làm các thủy điện, nhiệt điện hàng nghìn tỷ… Khi bắt đầu kinh doanh anh đã tạo ra địa tô chênh lệch 1, chênh lệch 2 thì ngành anh hưởng, cái đó là vô cùng bất hợp lý.

Hai người, một người vào bộ máy nhà nước thì hưởng lương như lương thứ trưởng của tôi hiện nay là khoảng 14 triệu đồng, một người tài năng chưa chắc hơn ai vào tập đoàn đó thì được hưởng lương 50 – 70 triệu đồng. Như thế hoạch định lương kiểu gì? Thế mà nó vẫn diễn ra”.

Có một vấn đề rất thời sự đó các cơ sở giáo dục, y tế đã được nhà nước đầu tư rất lớn nhưng thực tế người dân vẫn phải trả phí rất cao. Câu chuyện xã hội hóa đã được nhiều Đại biểu Quốc hội đề cập là tại sao luôn nói “xã hội hóa” mà không phải “tư nhân hóa”? Nếu tư nhân làm tốt thì nhà nước cũng cần khuyến khích tạo điều kiện, nhưng cơ chế chính sách hoàn toàn khác với “xã hội hóa”.

Nói về vấn đề này, ông Nguyễn Đình Quyền cho rằng, trong dịch vụ lợi ích công của Việt Nam hiện giờ là thiếu minh bạch nhất, mà việc này sẽ tạo ra lợi ích nhóm.

“Sẽ có một nhóm hưởng lợi từ cái thiếu minh bạch đó. Cho nên, trong dịch vụ công đó phải tính đúng, tính đủ nhưng phải trên cơ sở tính minh bạch chứ không phải một nhóm người tạo ra định suất rồi áp vào người dân.

Ở đây, cơ quan có thẩm quyền phải phê duyệt cho từng định suất đó và phải tính trên mặt bằng trung bình của xã hội chấp nhận được.

Như vậy, nếu tính đúng, tính đủ, công khai minh bạch được thì đồng vốn của Nhà nước chi phí vào dịch vụ công đó sẽ minh bạch.

Thứ hai là công lao của đơn vị dịch vụ công đó và thứ ba là sự đóng góp của người dân. Ba thứ đó, mới tạo ra được dịch vụ công tránh được thất thoát, lợi ích nhóm”, ông Quyền phân tích.

N.Q.

Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Nha-nuoc-dang-nuoi-bao-co-nhieu-cong-chuc-vien-chuc-post163396.gd

Nỗi mặc cảm và bạo lực tràn lan

Nỗi mặc cảm và bạo lực tràn lan

RFA

VietTuSaiGon

Con người trở nên dữ tợn bởi con người đã quá sợ hãi. Con người trở nên bạo lực và man rợ bởi chưa bao giờ con người trở nên mặc cảm như hiện tại. Chính nỗi mặc cảm và sợ hãi đã làm cho con người không còn nghĩ được gì khác ngoài bạo lực.

Và đáng sợ nhất là chúng ta đang sống trong một đất nước mà nỗi mặc cảm và sự sợ hãi đã chi phối từng tế bào, chi phối từ người dân thấp cổ bé miệng cho đến hệ thống chóp bu chính trị. Và đằng sau sự mặc cảm, nỗi sợ hãi này sẽ là gì?

Để giải quyết câu hỏi trên, thiết nghĩ cũng nên đặt lại câu hỏi: Vì sao người Việt, nhất là giới trẻ trở nên dữ tợn? Vì sao người Việt sống mặc cảm nặng nề? Và vì sao nói rằng hệ thống công quyền Việt Nam là một hệ thống mặc cảm?

Trước tiên, phải nhìn thấy vấn đề tuổi trẻ Việt Nam trở nên dữ tợn là vấn đề có thật. Tuổi trẻ Việt Nam ở đây xin hiểu là đa phần, là xu hướng chung của giới trẻ chứ không phải là toàn bộ tuổi trẻ Việt Nam đều dữ tợn. Nhưng số đông với tính hiếu chiến, sẵn sàng xông vào đánh nhau vì một lý do thậm chí không phải là lý do đang là chuyện khá hot của tuổi trẻ bây giờ.

Và phải nói cho chính xác chuyện này nữa, phần đông, rất đông tuổi trẻ Việt Nam sợ công an. Sợ chứ không phải nể, bởi họ luôn biết rằng đụng phải công an thì nguy cơ chết chóc, nguy hiểm cho tính mạng là thấy trước mắt, chính vì vậy họ sợ phải đụng đến công an.

Và hầu như số đông tuổi trẻ không bao giờ quan tâm đến chính trị, thậm chí không quan  tâm cả nghệ thuật, văn chương. Vấn đề quan tâm lớn nhất của họ là làm sao để có tiền, dể mua chiếc điện thoại xịn, mua chiếc xe xịn, khá nữa thì mua miếng đất để dành. Chỉ có tuổi trẻ mới dám bất chấp luân lý, đạo đức để đứng ra cho vay nặng lãi, làm cò, bảo kê quán xá…

Điều này, dù muốn hay không muốn thì nó vẫn lột tả được cái xã hội mà những người trẻ đang sống. Một xã hội mang đậm bản chất mông muội, không có phương hướng bởi xã hội không tôn trọng pháp luật, không có pháp luật để tôn trọng, mạnh ai nấy lấn, mạnh ai nấy thắng, cá lớn nuốt cá bé.

Gần thì ông hàng xóm đông con uy hiếp bà hàng xóm góa bụa bằng cách này hay cách khác, lấn ông hàng xóm yếu thế hơn mình bằng kiểu này kiểu nọ. Xa hơn một chút thì chính cái kẻ mạnh trong xóm đó lại bị một kẻ khác mạnh hơn uy hiếp.

Những tay bảo kê, cho vay nặng lãi, sa tặc, lâm tặc và các loại tặc khác chỉ uy hiếp được những kẻ yếu để kiếm ăn, bù vào, bọn họ lại bị công an uy hiếp để kiếm ăn trên chính sự liều lĩnh của họ.

Trên một chút, các sếp công an lại uy hiếp đám lính lác, hằng năm cấp dưới phải chung chi, quà cáp cho cấp trên… Thế rồi cấp trên lại chunbg chi, quà cáp cho cấp trên nữa, cứ thế mà chung lên, chung mãi đến chóng mặt.

Bởi chung qui không có một điểm chung để nhìn, không có một hệ thống nguyên tắc chung để tuân thủ. Ví dụ như khi con người biết tôn trọng pháp luật bởi trên đất nước của họ có một hệ thống pháp luật chặt chẽ, có những qui chuẩn đạo đức đã được luật hóa và có những nguyên tắc hành xử  nhằm giữ những giá định đạo đức thông qua pháp luật…

Co` như vậy thì người ta sẽ không hành xử tùy tiện bởi người ta tin vào đạo đức, pháp luật và căn cứ trên đó để hành xử. Giả sử một người nào đó bị xâm hại bản thân, họ tin rằng pháp luật sẽ mang lại sự công bằng cho họ và họ nhờ đến tòa án, công an, chính quyền, bởi đây là những người mang lại sự công bằng và an ninh cho họ.

Nhưng, ở Việt Nam, nhờ đến chính quyền bất kì việc gì còn khổ hơn nhờ những kẻ ăn vạ. Chuyện bé xé cho to để vòi vĩnh. Chuyện cần gấp nhưng gọi điện thoại báo khẩn từ thứ bảy mà đến thứ hai mới thấy ló mặt đến để phán vài câu không đâu vào đâu. Riêng chủ nhật thì bọn họ đã tính toán để mà ăn phía nào cho dày, đè phía nào cho nặng.

Công an cũng vậy, đụng đến họ thì tốn tiền gấp bội so với thuê giang hồ đến giải quyết, giang hồ giải quyết vừa nhanh, vừa gọn mà lại không mè nheo lâu dài như công an. Ví dụ như có người bị kẻ khác uy hiếp, anh/chị ta chỉ cần nhờ một tay giang hồ đủ máu mặt đến để hoặc là cho kẻ ăn hiếp kia một bài học, hoặc là đe nạt kẻ cậy mạnh hiếp yếu. Gã giang hồ này làm rất nhanh gọn, nói rõ giá tiền trước khi làm hoặc trong trường hợp gấp quá thì gã làm trước tính tiền sau nhưng giá cũng không bao giờ bằng nửa giá phải chung chi cho công an. Đó là sự thật.

Với kiểu sống không có pháp luật, kẻ mạnh hiếp người yếu, quan chức hiếp dân đen đã tồn tại quá lâu trên đất nước này đã đẩy người dân đến chỗ sợ hãi tột cùng và mặc cảm tột cùng. Khi con người rơi vào trạng thái mặc cảm và sợ hãi tột cùng, phản ứng rất tự nhiên sẽ là tự phát huy bản năng cắn xé để tồn tại. Bất kì chuyện gì cũng đều được nói chuyện bằng bạo lực, bởi chỉ có bạo lực mạnh nhất mới tồn tại được trong xã hội đầy rẫy bạo lực.

Và hình ảnh những đứa trẻ bạo lực đường phố, học sinh bạo lực học đường, người lớn bạo lực với bất chấp chung quanh dòm ngó, công an bạo lực với người biểu tình… Mọi thứ đều có nguy cơ biến thành bạo lực và chết chóc… Điều này chỉ cho thấy rằng xã hội Việt Nam đã rơi vào trạng thái mặc cảm đến tận gốc rễ.

Kẻ mặc cảm nặng nề nhất trong xã hội này không phải là người dân thấp cổ bé miệng mà chính là hệ thống chóp bu quyền lực trung ương đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu nhìn bề ngoài họ sang trọng, hùng dũng bao nhiêu thì bên trong của họ lại chứa nỗi sợ hãi và mặc cảm từ nhiều phía. Họ thừa mặc cảm bởi tự thấy khả năng cũng như kiến thức của họ đã quá lạc hậu, không đuổi kịp thế giới tiến bộ, đặc biệt là không đuổi kịp tuổi trẻ.

Họ sợ hãi bởi vì xét về căn để, họ không có gì đủ mạnh để lãnh đạo đất nước ngoài sự cố chấp và khư khư những thứ lý thuyết mù mờ mà bản thân họ cũng không đủ tin cậy, khư khư ôm một cái xác chết để thần thánh hóa, để tự ma mị lẫn nhau mà cùng hưởng lộc, chia chác quyền lực. Nhưng họ cũng quá biết là họ không hề có quyền lực thực sự trong lòng nhân dân, quyền lực là do họ tự dựng lên và tự ép nhân dân vào chỗ phải nghe, phải tin, phải sùng bái họ.

Và trên hết là họ vẫn là những con người nhược tiểu so với đàn anh Cộng sản Trung Quốc, họ vừa phải trí trá với phương Tây để tồn tại, lại vừa phải khúm núm với đàn anh Trung Quốc để giữ độc tài, họ chưa bao giờ là một chủ thể độc lập. Chính vì không bao giờ có được độc lập nên họ chưa bao giờ đối xử một cách độc lập cũng như để cho ai đó có được độc lập. Đó là một thứ hiệu ứng dây chuyền trong tâm  lý mặc cảm. Càng mặc cảm, người ta càng đối xử lạnh nhạt, tệ hại và tàn nhẫn với nhau!

Với một đất nước luôn nặng tâm lý nhược tiểu và mặc cảm, từ hệ thống lãnh đạo trung ương xuống địa phương, từ quan chức cho đến thường dân, từ kẻ giang hồ cho đến trí thức đều mang nặng nỗi mặc cảm như vậy thì e rằng khó mà tiến bộ được. Nếu không muốn nói đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ tự hủy hoại lẫn nhau, kẻ ngoại xâm không cần tốn viên đạn nào vẫn có được một lãnh thổ trống trơn, lạnh lùng và chết chóc.

Đây là chuyện chắc chắn phải xảy ra nếu như chế độ Cộng sản độc tài tiếp tục tồn tại và con người tiếp tục quằn quại trong vũng lầy bạo lực, mặc cảm và nhược tiểu như đang thấy!