ĐỈNH CAO BẤT NHÂN

ĐỈNH CAO BẤT NHÂN

 Huỳnh Ngọc Chênh

Đến dự phiên toà xét xử Nguyễn Mai Trung Tuấn có thầy giáo chủ nhiệm năm lớp 9 là năm học cuối cùng của cuộc đời học sinh của em.

Thầy cho biết liên tục từ lớp 6 đến lớp 9 em là học sinh ngoan luôn luôn đạt hạnh kiểm tốt. Mẹ em, bị cáo của phiên toà trước, cũng xuất hiện trước toà cho biết em là đứa con ngoan hiền trong gia đình, tuy còn nhỏ nhưng đã biết giúp đỡ cha mẹ và lo lắng cho em.

Điều gì đã đẩy một cậu bé ngoan hiền như em vào con đường chống lại cả một hệ thống cơ quan quyền lực?

Phát biểu tại toà, ông Nguyễn Trung Cang, cha em đã nói nếu chính quyền địa phương vận dụng quyết định 3047 và 2282 (?) thay vì các quyết định 3629 và 2772 liên quan đến đền bù giải toả thì đã không đẩy gia đình ông vào bước đường cùng như hôm nay: mất đất, tan nhà, hai vợ chồng vào tù và đứa con 15 tuổi bé bỏng của ông cũng đối diện với phiên toà.

Miếng đất mà gia đình ông sinh sống trên đó từ bao đời, nhờ vào đó mà gia đình ông mới mở quán buôn bán làm ăn mang đến nguồn thu nhập để nuôi hai con ăn học. Cướp miếng đất đó đi không những là cướp đi chỗ ở duy nhất mà còn triệt tiêu phương tiện sinh sống từ bao lâu nay của gia đình ông.

Gia đình ông quyết liệt chống lại lệnh cưỡng chế vì sự vận dụng phi lý của chính quyền địa phương và vì không còn con đường sống.

Sáng ngày 14/4/2015 là ngày lực lượng cưỡng chế đến trấn áp gia đình bất hạnh đó, cậu bé Trung Tuấn quá thương cha mẹ không thể cắp sách đến trường được. Cậu quyết định ở lại nhà với… bom xăng và ná cao su để ngăn cản lực lượng cưỡng chế hùng hậu được vũ trang đến tận răng theo như tư duy trẻ con của cậu.

Cậu đã ném bom xăng xuống mặt đường trước cửa nhà với hy vọng ngăn cản không cho lực lượng hung dữ đó vào nhà bắt cả nhà cậu đi. Đám lửa nhỏ nhoi ấy cũng không ngăn cản được ai, cậu hoảng hốt dùng đến ná cao su bắn vào đoàn người cưỡng chế. Nhưng cậu cũng chẳng bắn trúng được ai.

Khi lực lượng cưỡng chế do trung tá công an dẫn đầu tràn vào thì ngôi nhà bùng lên bốc cháy. Hoảng loạn cũng bùng lên. Hoảng loạn đến mức viên trung tá chỉ huy cũng quay lưng bỏ chạy ra ngoài. Trong bối cảnh đó, lại vang lên các tiếng thét của lực lượng cưỡng chế: Bắt lấy nó, bắt lấy nó!

Cậu bé không còn biết suy nghĩ gì nữa, sẵn ca axit của ba cậu dùng để chế bình ăc quy xe (ba cậu làm nghề sửa xe) để gần đó, cậu đã chụp và tạt ra ngoài, ngẫu nhiên trúng vào lưng ông trung tá công an đang xoay lưng bỏ chạy vì hoảng loạn.

Nếu thương tật của ông trung tá ở mức 30% thì Tuấn đã vô tội. Nhưng luật sư Nguyễn Văn Miếng cho rằng có vấn đề trong chuyện giám định thương tật. Cơ quan giám định của địa phương chưa khách quan, thủ tục giám định có sai trái, bản kết quả giám định đưa ra toà là bản sao chứ không phải bản chính, hai giám định viên được luật sư yêu cầu ra làm chứng cũng không có mặt… Luât sư Miếng nghi ngờ mức thương tật 35% mà giám định đưa ra, cái mức vừa đủ khít để cò thể truy tố Tuấn về hành vi tấn công gây ra thương tích.

Trực tiếp nghe phiên toà (qua loa bắt ra ngoài) tôi thấy cả một hệ thống toà án đang truy bức cậu bé. Từ chủ toạ phiên toà, đến hai vị hội thẩm đến công tố viên đều đặt ra những câu hỏi áp chế, mớm cung để gài cậu bé từ hành vi không cố ý thành hành vi cố ý.

Luôn miệng những người này dùng từ “trừng trị”, “răn đe” khi xét hỏi cậu bé 15 tuổi.

Bản án đã tuyên y như mức mà công tố viên đã hăm hở đề nghị. Tất cả những bào chữa hợp lý của luật sư Miếng đều bị gạt bỏ.

Cả một hệ thống vào cuôc một cách thô thiển, thô bỉ và tàn bạo đến bất nhân để đẩy một gia đình dân lành vào bước đường cùng.

Phiên toà kết thúc, tôi đứng lên và bắt gặp ngay cô bé Nguyễn Mai Thảo Ly – em gái của Tuấn. Em cố gượng cười để tôi chụp ảnh, nhưng miệng em cứ méo dần đi. Mắt em buồn rười rượi. Em sẽ đi về đâu khi không còn nhà, không còn cha, không còn mẹ và không còn cả người anh trai thương yêu, sẵn sàng đi chăn vịt để kiếm tiền nuôi em đi học khi cha mẹ đã vào tù.

clip_image002

Em gái Thảo Ly của bị cáo 15 tuổi.

clip_image004

Đến dự phiên toà “công khai” bên ngoài hành lang là đông đảo dân oan từ khắp mọi miền.

clip_image006

Công an khắp mọi nơi bám theo người dân đến dự phiên toà.

H.N.C.

Nguồn: https://www.facebook.com/ho.lytien.1?pnref=story

ĐÃ 13 Lần DÂN VIỆT ĐẠI THẮNG GIẶC PHƯƠNG BẮC Xâm Lăng

ĐÃ 13 Lần DÂN VIỆT ĐẠI THẮNG GIẶC PHƯƠNG BẮC Xâm Lăng

A. Trong mấy ngàn năm qua, đặc biệt từ khi tộc Hoa du mục hiếu chiến thành hình ở phương Bắc, từ năm 1046 ttl, người Tộc Việt chuyên trồng lúa nước, hiếu hòa, ở phương Nam, luôn bị giặc Hoa cướp bóc, xâm lăng.

Không kể những cuộc xâm lấn nhỏ, đã có 13 lần phương Bắc xua đại quân xâm lấn phương Nam, đặc biệt Việt Nam. Nhưng trong tất cả 13 lần đó, Dân Việt đều đại thắng các đoàn quânPhương Bắc. Đã mười ba lần, Dân ta đại thắng !

Lần thứ 1 : Năm 1218 TTL, ĐẠI THẮNG Giặc ÂN, Đức PHÙ ĐỔNG

Theo sách vở Trung Hoa, năm 1218 ttl, Ân Cao Tôn đã đánh Quỷ Phương, vùng Đồng Đình. Ân Cao Tôn đóng quân tại đất Kinh, phía tả ngạn sông Dương Tử. Sau 3 năm, Ân Cao Tôn ‘không thắng’. [Nhà Ân còn được gọi là Nhà Hậu Thương].

Theo Truyền kỳ Phù Đổng của Việt Lạc, Ân Cao Tôn đã xâm lấn nước ta ba năm và đã bị đánh bại.

* Như thế, theo Truyền kỳ Phù Đổng, cách đây 3200 năm, dân Việt Lạc đã là một quốc gia vững mạnh. Nước nầy đã có tổ chức chặt chẽ, có vua quan, có làng xã, có cúng tế, có lúa gạo, có vải áo, có lũy tre… đã đúc được ngựa sắt, roi sắt, đã có tinh thần dân tộc cao độ… và, theo sách vở Trung Hoa, đã chiến thắng giặc Ân vào thời kỳ hùng mạnh nhất của chúng.

[Vào thời kỳ nầy, tộc Hoa chưa thành hình. Phải hơn 100 năm sau, bộ lạc Chu mới gom góp các bộ lạc du mục khác ở vùng Thiểm Tây, và thành lập Nhà Chu. Từ đó, tộc Hoa mới thành hình và phát triển].*1

*     *

Lần thứ 2 : Năm 214 TTL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA TẦN

Năm 214 ttl, Tần Thủy Hoàng, vị vua đầu tiên của Trung Hoa, sai tướng Đồ Thư kéo 50 vạn quân xâm lăng vùng đất Việt Lạc. Nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông. Đây là đoàn quân tinh nhuệ vừa giúp Tần Thủy Hoàng đánh chiếm sáu nước và thành lập nước Trung Hoa.

Nhưng mấy năm sau, Đồ Thư đã bị quân Việt đánh bại, quân giặc chết quá nửa, Đồ Thư bị giết.*2

* Theo cách hành quân của Trung Hoa, mỗi người lính đem theo một phu phục dịch. Số người vận chuyển lương thực cũng không được kể là lính. Vì vậy, số người Trung Hoa xâm nhập có thể nhiều gấp 3 lần con số quân lính được kể tới, dầu là con số trung thực.

*     *

Lần thứ 3 : Năm 181 TTL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA TÂY HÁN

Năm 181 ttl, triều Hán sai Long Lân hầu Chu Táo kéo quân sang xâm phạm Lĩnh Nam, đánh Nam Việt. Theo sách vở Trung Hoa, quân Hán không chịu được thủy thổ phương Nam, nhiều người phải bịnh tật, bởi vậy phải thua chạy về bắc. Sau đó, triều Hán xét việc Nam chinh không lợi, nên không đánh nữa (!).*3

*     *

Lần thứ 4 : Năm 40 DL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA ĐÔNG HÁN và TÁI CHIẾM TOÀN THỂ VÙNG ĐẤT VIỆT LẠC, Đức TRƯNG NỮ VƯƠNG – ĐẠI ĐẾ ĐỒNG ĐÌNH LĨNH NAM

Năm 30 dl, Hán Quang Vũ áp đặt chế độ trực trị trên vùng đất Việt Lạc. Do đó, toàn dân Việt vùng lên kháng chiến, và bầu Đức Trưng Trắc là Thủ Lãnh. Sau 10 năm, Dân ta đã đánh đuổi toàn bộ quân Tàu ra khỏi vùng đất Việt Lạc, chiếm lại 65 thành.

Thời gian qua, sách sử Trung Hoa đã giảm thiểu vùng đất và sức mạnh của dân Việt thời đó. Ngày nay, đã có đủ chứng cứ xác định vị trí, tình hình và vùng đất bao la của việc quân dân Việt đánh chiếm lại 65 thành, và đánh bại đại quân hùng hậu của hoàng đế Quang Vũ nhà Hán.

Thời đó, vùng đất Việt Lạc nay là Hồ Nam, Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam, và một phần Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây, Phúc Kiến của Trung Hoa, xuống tới Hải Vân… Và Hán Quang Vũ đã phải vận dụng toàn thể binh lực của ‘thiên triều’.

Đức Trưng Nữ Vương đáng được tôn hiệu ĐAI ĐẾ ĐỒNG ĐÌNH LĨNH NAM.*4

*     *

Lần thứ 5 : Năm 541 DL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA LƯƠNG, Đức NAM VIỆT ĐẾ

Năm 541 dl Đức Nam Việt Đế, húy là Lý Bôn,  đánh đuổi quân trú đóng Trung Hoa, giành độc lập. Năm 544 xưng là Nam Việt Đế, niên hiệu Thiên Đức, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Lập ra Nhà Tiền Lý.

Đây là lần đầu tiên sách sử Trung Hoa ghi lại quốc hiệu và niên hiệu của dân ta.

Nhà Tiền Lý kéo dài 61 năm, từ 541 tới 602 dl.*5 

*     *

Lần thứ 6 : Năm 938 DL, ĐẠI THẮNG Giặc HOA NAM HÁN, Đức NGÔ NAM ĐẾ

Từ năm 906 dl, Đức Khúc Thừa Dụ đã giành quyền tự trị khỏi tay người Trung Hoa. Truyền được 3 đời.

Năm 938, vua Trung Hoa Nam Hán sai thái tử là Hoằng Tháo kéo quân xâm lấn. Với trận cọc gỗ bọc sắt trên sông Bạch Đằng, Đức Ngô Nam Đế, huý là Ngô Quyền, đã đại thắng quân Hán, giết chết thái tử Hoằng Tháo. Hoàng đế Nam Hán là Lưu Cung cũng kéo quân tiếp ứng theo đường bộ. Nghe tin, ông khóc và rút về.*6

*     *

Lần thứ 7 : Năm 981, ĐẠI THẮNG Giặc HOA TỐNG Lần 1, Đức LÊ ĐẠI HÀNH

Năm 981 dl, vua Tống sai tướng Hầu nhân Bảo kéo quân xâm lấn, theo hai đường bộ và thủy. Vì vua nước ta là Đinh Tuệ mới 8 tuổi, nên quân sĩ tôn tướng Lê Hoàn lên ngôi, tức là Đức Lê Đại Hành. Với một trận Chi Lăng, quân ta phá tan đoàn quân Tàu, giết Hầu nhân Bảo. Đoàn quân giặc theo đường biển vội vàng rút lui.*7

*     *

Lần thứ 8 : Năm 1076, ĐẠI THẮNG Giặc HOA TỐNG Lần 2, Đức LÝ NHÂN TÔN, Danh Tướng LÝ THƯỜNG KIỆT

Năm 1072 dl, vua Lý nhân Tôn lên ngôi. Vì vua mới 7 tuổi, nên việc quân đều ở trong tay danh tướng Lý Thường Kiệt.

Năm 1075, Lý thường Kiệt và Tôn Đản kéo 10 vạn quân tái chiếm vùng châu Khâm, châu Liêm và châu Ung, [vốn thuộc vùng đất Việt Lạc], nay thuộc Quảng Đông, Quảng Tây.

Năm 1076, vua Tống sai Quách Quì và Triệu Tiết kéo hơn 30 vạn quân sang xâm lấn Nước ta. Nhưng chúng bị đánh tan ở sông Như Nguyệt. Giặc Tàu kéo tới hơn 30 vạn, chỉ còn 2 vạn 8 trở về !*8

*     *

Lần thứ 9 : Năm 1258, ĐẠI THẮNG Giặc MÔNG CỔ Lần 1, Đức TRẦN THÁI TÔN

Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý, ở vùng Vân Nam. Mông Cổ đương thời là đế quốc to lớn và hùng mạnh nhất thế giới, chìếm đóng từ Á sang Âu.

Năm 1257, từ Vân Nam, tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqatai) đem 3 vạn quân Mông Cổ và hơn 1 vạn quân Đại Lý tấn công Đại Việt, chiếm Thăng Long, đốt phá và giết mọi người trong thành. [Ngột Lương Hợp Thai là công thần thứ 3 của Nhà Nguyên, từng tham gia các trận đánh chiếm nước Kim, nước Đức, Ba Lan, Bagdad, và diệt nước Đại Lý].

Vua Trần thái Tôn lo sợ, hỏi ý kiến Trần Thủ Độ. Trần thủ Độ khẳng khái : “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin Bệ Hạ đừng lo !”.

Chỉ mấy ngày sau, vua Trần thái Tôn dẫn quân phản công, đánh thắng quân Mông Cổ trong trận Đông Bộ Đầu. Trên đường rút lui, quân Mông Cổ còn bị quân ta chận đánh tan tành ở vùng Qui Hóa.*9

*     *

Lần thứ 10 : Năm 1284, ĐẠI THẮNG Giặc HOA MÔNG NGUYÊN Lần 2, Đức TRẦN NHÂN TÔN, Danh Tướng HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

Năm 1271 Hốt Tất Liệt (Khubilai) trở thành Đại Hãn của đế quốc Mông Cổ, đổi quốc hiệu thành Nguyên. Năm 1279, quân Nguyên chiếm trọn đất Trung Hoa. Đế quốc Mông Cổ bao trùm 40 quốc gia từ Á sang Âu.

Năm 1284, Hốt Tất Liệt sai con là Thoát Hoan (Toghan), cùng với các danh tướng Toa Đô (Suodu), Ô Mã Nhi, kéo 50 vạn quân xâm lăng Đại Việt. Quân Nguyên còn có thủy binh từ Chiêm Thành đánh lên. Khi đó, toàn thể quân Đại Việt chỉ có 20 vạn.

Trước tình hình nguy biến, nhiều người muốn hàng hoặc tìm kế hoãn binh. Nhưng các tướng Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư cương quyết xin đem quân trấn giữ.

Vua Trần Nhân Tôn liền triệu tập các bô lão trong dân tại điện Diên Hồng để hỏi ý kiến. Toàn thể đồng thanh xin Đánh !

Trước thế giặc quá mạnh, quân ta phải rút về Vạn Kiếp. Ở phía Nam, quân Nguyên từ Chiêm Thành cũng đã chiếm Nghệ An.

Vua Nhân Tôn lại lo sợ, ‘muốn hàng để cứu muôn dân’. Nhưng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đáp : “Bệ Hạ nói câu ấy thật là lời nhân đức. Nhưng Quê hương Dân tộc thì sao ? Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin chém đầu tôi trước đã !”

Thoát Hoan dùng đại bác bắn phá, và vào được Thăng Long. Triều đình ta chạy về Thanh Hóa.

Khi đó tướng Trần Bình Trọng bị bắt. Thoát Hoan dụ hàng và hỏi : “Có muốn làm Vương không ?” Trần Bình Trọng quát to : “Ta thà làm quỷ Nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc !”

Tháng 5 năm 1285, tướng Trần Nhật Duật phá được quân Toa Đô ở cửa Hàm Tử.

Sau đó, tướng Trần Quang Khải đưa quân đi thuyền từ Thanh Hóa ra đánh tan quân Nguyên ở bến Chương Dương, rồi dùng phục binh chiếm lại Thăng Long.

Đức Hưng Đạo Vương thì đem quân đánh ở Tây Kết, và giết được Toa Đô. Quân ta bắt được 3 vạn quân Nguyên và vô số chiến thuyền, khí giới.

Hưng Đạo Vương lại sai phục kích chận mọi đường quân Nguyên có thể rút lui, và tự mình dẫn đại quân lên Bắc Giang đánh Thoát Hoan. Quân Nguyên thua chạy, tới bến Vạn Kiếp bị phục kích, chết quá nửa. Thoát Hoan trốn thoát về Tàu.

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, in năm 1697 dl, quân Nguyên kéo qua 50 vạn và sáu tháng sau, chỉ còn 5 vạn rút về.*10

*     *

Lần thứ 11 : Năm 1287, ĐẠI THẮNG Giặc HOA MÔNG NGUYÊN Lần 3, Đức TRẦN NHÂN TÔN, Danh Tướng HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG

Cuối tháng 12 năm 1287, Thoát Hoan lại theo hai đường thủy bộ, kéo thêm 50 vạn quân xâm lấn, với hơn 800 chiến thuyền, cùng với đoàn tàu 100 chiếc chở lương thực. [Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư]. Phía Đại Việt có khoảng từ 20 tới 30 vạn quân.

Quân Nguyên chiếm được Thăng Long, nhưng sợ bị cắt đường liên lạc, nên tập trung ở Vạn Kiếp.Bộ chỉ huy của Đại Việt rút về vùng Đồ Sơn, Hải Phòng.

Tướng Trần Khánh Dư đưa quân phục ở bến Vân Đồn và phá tan đoàn thuyền lương.

Tháng 3 năm 1288, cạn lương, Thoát Hoan sai Ô mã Nhi mở đường theo sông Bạch Đằng. Hưng Đạo Vương lại dùng kế đóng cọc bịt sắt xuống sông Bạch Đằng (như Đức Ngô Quyền năm 938 dl).

Với trận Bạch Đằng, quân ta tiêu diệt hoàn toàn thủy quân của giặc Nguyên. Nghe tin thủy quân tan vỡ, Thoát Hoan kéo chạy về qua vùng Bắc Giang và Lạng Sơn, và cũng bị quân Đại Việt chận đánh tan tành.*11

*     *

Lần thứ 12 : Năm 1428, ĐẠI THẮNG Giặc HOA MINH, Đức LÊ THÁI TỔ

Năm 1406, giặc Minh kéo quân xâm lấn nước ta. Nhà Hồ thua. Giặc Minh, với Trương Phụ, bắt đầu chính sách đồng hóa dân ta với dân Tàu…

Năm 1418, nông dân Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa, tự xưng là Bình Định Vương, gởi hịch kể tội giặc Minh và nêu rõ mục đích đánh đuổi quân giặc cướp nước.

Năm 1426, sau 8 năm gian khổ, với nhiều lần nguy cấp, Bình Định Vương thắng trận Tụy Động, và bao vây thành Đông Quan, Thăng Long.

Cuối năm 1427, giặc Minh lại đưa thêm 2 đạo quân sang đánh Đại Việt. Đạo quân do Liễu Thăng cầm đầu với hơn 10 vạn lính, 2 vạn ngựa. Đạo quân do Mộc Thạnh dẫn 5 vạn lính và 1 vạn ngựa. Nhưng tại Chi Lăng, quân ta giết Liễu Thăng, phá tan toàn bộ quân tiếp viện của giặc, bắt sống hơn 3 vạn quân Tàu. Mộc Thạnh nghe tin, bỏ chạy. Quân Nam theo đánh, giết hơn 1 vạn giặc Minh.

Nghe tin, Vương Thông đang chiếm đóng Đông Quan [Thăng Long], viết thư cầu hòa, và xin cho chúng rút quân về Tàu. Số tù binh, hàng binh và vợ con được thả về Tàu lên hơn 10 vạn người.*12

*     *

Lần thứ 13 : Năm 1789, ĐẠI THẮNG Giặc HOA MÃN THANH, Đức QUANG TRUNG

Năm 1788, Tôn Sĩ Nghị kéo 20 vạn quân Nhà Thanh, chia làm 3 đạo, tiến đánh Đại Việt, chiếm đóng Thăng Long.

Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đang ở Huế, được tin, tính chuyện tiến đánh. Quan quân xin Ngài lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung.

Đức Quang Trung kéo quân ra tới Nghệ An, nghỉ 10 ngày để mộ thêm lính. Tất cả được 10 vạn quân và 100 con voi.

Đức Quang Trung cho ăn Tết sớm, đêm 30 sẽ kéo quân đi, và hẹn ngày mùng 7 Tết sẽ ăn Tết lại tại Thăng Long.

Trận đánh thần tốc đã phá hết các đồn giặc, đến nỗi chúng không kịp báo tin cho nhau. Chỉ trong mấy ngày, quân ta đánh chiếm từ Giản Thuỷ, tới Phú Xuyên, Hà Hồi, Ngọc Hồi… Sáng mùng 5 Tết, quân ta vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị không kịp mặc giáp, lên ngựa tháo chạy. Giặc Tàu chạy theo, chết đuối chật sông Hồng. Các đạo quân giặc ở phía Bắc cũng tất tả rút chạy. Tất cả đều chỉ trong 5 ngày.*13

*     *     *     *

B1. TỔNG KẾT SƠ KHỞI

Như vậy, chỉ kể những lần Trung Hoa xua đại quân xâm lấn Nước Nam, dầu sách vở Trung Hoa đã giấu bớt quân số vì bị thất trận, tổng số các đoàn quân xâm lăng Trung Hoa đã có hơn 40 danh tướng, hằng ngàn đại tướng, và hơn 450 vạn quân sĩ. [Theo con số thông thường, tức là hơn 4.500.000 giặc]. Đang khi đó, kể cả dân số, tài nguyên, quân sĩ, phương tiện chiến đấu… dân ta không bao giờ tương xứng với quân Trung Hoa xâm lược. Nhưng bất cứ lần nào, Đại Việt cũng đại thắng !

*     *

B2. TRUNG HOA : TÊN KHỔNG LỒ CHIẾN BẠI

Điểm đáng chú ý là trong 900 năm vừa qua, trong khi Việt Nam đánh bại mọi cuộc xâm lăng của Trung Hoa, thì chính Trung Hoa lại bị Kim, Mông, Mãn,Âu, chiếm đóng và thống trị.

Đáng chú ý hơn nữa, tuy tình hình thay đổi tùy thời, nhưng trong tất cả những lần xâm chiếm Trung Hoa đó, từ Kim, đến Mông, Mãn… lần nào thực lực xâm lấn, kể cả dân số, lãnh thổ, sản lượng, kỹ thuật, chiến cụ, quân đội… cũng đều không bằng một phần mười của Trung Hoa đương thời. Nhưng Trung Hoa đã luôn là kẻ chiến bại.

Ngoài ra, những nhóm người man di và ít oi đó, lại thống trị Trung Hoa vĩ đại tổng cộng hơn 500 năm. Kim 108 năm (1126-1234 dl), Mông 134 năm (1234-1368 dl), Mãn 267 năm (1644-1911 dl), trong đó có 72 năm chung với Âu (1839-1911 dl). Đó là chưa kể từ năm 1949 dl tới nay, dưới gọng kềm chủ nghĩa Cộng sản của Âu.

Trong suốt hơn 5 thế kỷ đó, kể cả hiện nay, người dân Trung Hoa buông xuôi, khuất phục, còn giới nho sĩ Trung Hoa lại chỉ biết phủ phục tuân lịnh ‘vị Thiên tử’ ngoại xâm để thẳng tay hành hạ và đàn áp người dân.

* Thực vậy, Trung Hoa luôn là tên khổng lồ chiến bại. Nguyên nhân chính là ách thống trị của bọn ‘thiên tử, thiên triều’ tham tàn bạo ngược, đã biến người dân Trung Hoa thành những tên nô lệ đói ăn truyền kiếp.Trong suốt 3000 năm qua, hơn 99% người dân Trung Hoa chì là những tên nô lệ đói khát, tự ti, khiếp nhược, không lý tưởng, không nhân phẩm, chỉ biết tham lợi bất chấp thủ đoạn.

Khi mọi người dân chỉ là những tên nô lệ đói ăn truyền kiếp, khiếp nhược, không ý chí, không tinh thần dân tộc, không đoàn kết… thì sức mạnh trình diển của bọn quan quyền ‘thiên triều’ Trung Hoa cũng chỉ là cái vỏ mỏng manh che đậy sự rời rạc của hàng tỉ mảnh vụn vị kỷ, hèn nhát. Chiếc bong bóng căng cứng nầy sẽ sớm vỡ tan với chỉ một thoáng cọ xát.

Đây là thực tế lịch sử ngàn năm, và cũng là hiện tại.*14

*     *

B3. ƯU THẾ CỦA CHÚNG TA

Hơn nữa, trong tất cả mọi cuộc chiến chống Phương Bắc, Tổ Tiên chúng ta đã chỉ tự sức chiến đấu đơn độc một mình. Các Ngài đã không có bất cứ một yểm trợ nào do bất cứ từ đâu tới. Nhưng bất cứ lần nào, Việt Nam cũng đại thắng Trung Hoa ! Tất cả 13 lần, đều đại thắng.

Về phần chúng ta, hiện nay, chúng ta lại đang được yểm trợ từ khắp nơi. Trước hiểm họa Trung Hoa bành trướng, xâm lăng, trộm cướp, gian manh, phá hoại các nền kinh tế, lũng đoạn các thể chế… mọi người, mọi dân nước trên toàn thế giới, đều sẵn sàng tiếp tay chúng ta triệt hạ mối họa chung là Giặc Trung Hoa. Bạn hữu chúng ta lại nhiều ưu thế hơn Giặc Tàu.

Với bất cứ giá nào, ở bất cứ phương diện nào, các cường quốc hiện đại không thể nhường Trung Hoa cưỡng đoạt vị thế hùng mạnh nhất thế giới, nhất là khi toàn thể binh lực Trung Hoa cũng không bằng một phần nhỏ các hạm đội đối nghịch…

Hơn nữa, toàn thể dân Việt hiện nay, ở khắp làng xóm hang cùng ngõ hẻm, đều nôn nức vùng lên chiến đấu Đánh Giặc Tàu. Tinh thần dân tộc và đoàn kết chưa từng bộc lộ rõ ràng và mạnh mẽ như hiện nay. Mọi người đều sẵn sàng.

Cũng phải kể thêm mấy triệu người Việt trên thế giới cũng đang sẵn sàng đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực, và nhất là trí lực, chuyên môn, kiến thức, kỹ thuật, kinh nghiệm, và ảnh hưởng… ở mọi lãnh vực ngoại giao, chính trị, kinh tế, tài chính, quân sự, xã hội… Tất cả đều được huy động tối đa để Đánh Giặc Tàu !

Chúng ta có nhiều ưu thế hơn Tổ Tiên chúng ta gấp bội.

CHÚNG TA cũng sẽ ĐẠI THẮNG giặc TÀU, lần thứ 14.

*     *     *     *

GHI CHÚ

*1412. Ký số của Bài trong danhgiactau.com.

*1 – Đọc bài 1106. Tộc Việt Thời Hùng 3, đoạn 4.2; và bài 1107. Việt và Hoa Thời Hùng 4A, phần 1.

*2 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, do Trần Trọng Kim, nxb Trung Tâm Học Liệu, Sàigòn 1971, q1, tr 18. – Đọc bài 1108. Việt và Hoa Thời Hùng 4B-C, đoạn 3.3].

*3 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 30; Việt Sử Toàn Thư, do Phạm văn Sơn, nxb Thư Lâm, Sgn 1960, tr 89. – Về thủy thổ phương Nam, đọc bài 1110. Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam, đoạn 6.3.

*4 – Đọc bài 1110. Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam. – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 39-40.

*5 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 53-56.

*6 – Đọc thêm nt, q1, tr 66-68.

*7 – Đọc thêm nt, q1, tr 89-90.

*8 – Đọc thêm Vân Đài Loại Ngữ, do Lê Quý Đôn, (viết năm 1773 dl), nxb Tự Lực, Sgn 1974, tr 174-175, dẫn Nhị Trình Di Thư, do Trình Di, và Uyên Giám, do Hoàng đình Kiên.

*9 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 126-128.

*10 – Đọc thêm nt, q1, tr 137-150; Việt Sử Toàn Thư, tr 246-248.

*11 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, q1, tr 151-161.

*12 – Đọc thêm nt, q1, tr 217-234.

*13 – Đọc thêm nt, q2, tr 130-134.

*14 – Về chủ thuyết Thiên Tử Thế Thiên và hệ quả, đọc bài 1413. Nguy Cơ Đại Họa và Tử Huyệt của Trung Hoa.

_____________________

Nguyễn Thanh Đức 2013.

Chống lại công an cưỡng chế đất thiếu niên 15 tuổi bị 4 năm rưỡi tù

Chống lại công an cưỡng chế đất thiếu niên 15 tuổi bị 4 năm rưỡi tù

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok

RFA

Sáng nay, 24/11/2015 em Mai Trung Tuấn – 15 tuổi bị tòa tuyên án 4 năm 6 tháng tù giam. Ngoài ra còn bồi thường 42 triệu 600 ngàn đồng

Sáng nay, 24/11/2015 em Mai Trung Tuấn – 15 tuổi bị tòa tuyên án 4 năm 6 tháng tù giam. Ngoài ra còn bồi thường 42 triệu 600 ngàn đồng

Photo: RFA

Thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn, 15 tuổi, hôm nay 22/11 bị đưa ra tòa ở Thạnh Hóa, Long An xét xử về tội danh ‘cố ý gây thương tích’ theo khoản 3 điều 104 Bộ Luật Hình sự Việt Nam.

Kết thúc phiên xử vào đầu giờ chiều cùng ngày, tòa tuyên  Nguyễn Mai Trung Tuấn 4 năm 6 tháng tù giam. Ngoài ra còn bồi thường 42 triệu 600 ngàn đồng.

Ngay sau khi bản án được tuyên, Nguyễn Mai Thảo Vy, em gái của Nguyễn Mai Trung Tuấn có ý kiến về bản án:

“ Cháu thấy bản án bất công đối với anh cháu, tại vì hành vi của anh cháu là hành vi bảo vệ gia đình, tự vệ. Khi cưỡng chế có hai chiếc xe tải chở từ 100 đến 200 cảnh sát cơ động đến ập vào nhà. Họ uy hiếp, đánh đập gia đình rất dã man. Anh Hai thấy họ bắt mẹ và đập đầu xuống đường nên anh Hai, với tư cách người con phải cứu mẹ. Hành động mà anh Hai tạt acid ông công an là để cứu mẹ thôi.”

Cả cha mẹ của em Nguyễn Mai Trung Tuấn là hai ông bà Nguyễn Trung Can và Mai thị Kim Hương hiện đang phải thụ án tù. Họ bị buộc tội ‘chống người thi hành công vụ’ khi phản ứng lại đoàn cưỡng chế tấn công vào nhà của hai ông bả hồi ngày 14 tháng 4 năm nay.

Nguyễn Mai Trung Tuấn bị bắt ngày 6 tháng 8 theo lệnh truy nã của cơ quan chức năng khi đang chữa trị bệnh suy nhược thần kinh tại nhà một người quen ở Ninh Thuận.

Trong ngày xử thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn tại tòa án huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An, một số nhà hoạt động đến dự phiên xử. Họ không được vào bên trong phòng xử án và theo dõi qua loa phóng thanh.

Sau phiên xử, chị Nguyễn Hoàng Vi, một nhà hoạt động từ Sài Gòn đến Long An dự phiên xử cho biết một số diễn tiến ngoài phiên tòa và ý kiến về bản án đối với thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn như sau:

“ Nói chung mọi người tỏ thái độ không đồng ý với phiên tòa- một phiên tòa oan sai, bất công đối với một em bé 15 tuổi, có lúc mọi người viết giấy giơ biểu ngữ lên thì bị các anh công an và dân phòng nhào đến giật xé. Hành động giựt của họ như của cướp vậy; cứ thấy đưa giấy lên là chụp giựt.

Mọi người rất bất mãn với kết quả phiên tòa hôm nay. Hoàn toàn tất cả những điều mà em Tuấn và luật sư đưa ra mà có lợi đều bị thẩm phán tòa bỏ qua, gạt ngang hết. Ví dụ như khi luật sư trích dẫn công ước quốc tế thì thẩm phán nói công ước đó không phù hợp luật pháp Việt Nam. Còn những lời kể của em Tuấn về sự việc, khi em kể đúng sự thật thì họ lái qua những câu hỏi ‘gài’ để có thể ghép em vào tội.”

Xin được nhắc lại Nguyễn Mai Trung Tuấn sinh ngày 31/3/2000.  Khi gia đình bị cưỡng chế em đang học lớp 9; sau khi cha mẹ bị bắt em phải nghỉ học.

Gia đình Nguyễn Mai Trung Tuấn phản đối việc cưỡng chế đất vì việc bồi thường quá bất công. Theo đó thì đất bị thu hồi chỉ được bồi thường 300 ngàn đồng một mét vuông, trong khi đất tại khu liền kề được bán với giá 25 triệu đồng một mét vuông.

Phiên sơ thẩm diễn ra trong hai ngày 15 và 16 tháng 9 vừa qua đưa 12 người thuộc hai hộ dân chống đoàn cưỡng chế ra xét xử. Tất cả bị tuyên tổng cộng 27 năm tù giam, và 6 năm, 6 tháng tù treo. Bà Mai thị Kim Hương, mẹ của Nguyễn Mai Trung Tuấn, bị tuyên 3 năm 6 tháng tù giam, và người cha Nguyễn Trung Can là 3 năm tù giam.

Tin cho biết vào ngày mai 25 tháng 11 sẽ diễn ra phiên phúc thẩm đối với hai vợ chồng Mai thị Kim Hương- Nguyễn Trung Can

Môn học lịch sử trong giáo dục đang khủng hoảng

Môn học lịch sử trong giáo dục đang khủng hoảng

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2015-11-23

Thí sinh duy nhất thi Môn Sử tại điểm thi Trường THPT Yên Thành 2. Sáng 4/7/2015 vẫn có 66 cán bộ nhân viên phục vụ duy nhất 1 thí sinh, gồm 48 cán bộ coi thi, 12 nhân viên bảo vệ và 6 cán bộ phục vụ thi.

Photo: TT đăng trên doisongphapluat.com

Dự tính của Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam sẽ bỏ môn học lịch sử và thay thế bằng môn “công dân và tổ quốc” đã gặp rất nhiều phản biện từ giới nghiên cứu lịch sử nói riêng và trí thức nói chung. Trong cách nhìn nhận của những người quan tâm về vận mệnh đất nước cũng như quan tâm về khoa học lịch sử, hành vi gở bỏ môn học lịch sử để thay thế bằng một môn học khác có tính tuyên truyền bằng cách mượn một số thông số của lịch sử là một sự thất bại, cho dù đứng trên góc độ nào. Nhưng nhìn chung, có hai vấn đề thất bại nổi trội và căn bản nhất, đó là triệt tiêu lòng yêu nước và xóa mờ mọi ký ức dân tộc.

Bỏ môn lịch sử đồng nghĩa với Trung Quốc hóa người Việt

Một người tên Trình, là giáo viên dạy sử lâu năm ở một trường phổ thông trung học, hiện đang sống tại quận 1, Sài Gòn, chia sẻ: “Mấy anh dạy lịch sử của một phe chiến thắng thôi chứ không dạy lịch sử một cách khoa học. Bản thân bộ môn lịch sử xã hội chủ nghĩa thì dạy hay không dạy gì nó đã chết rồi. Bản thân nó đã chết từ lâu rồi. Suốt ngày anh cứ dạy cầm súng tiến lên, ngày này thắng trận này, ngày kia thắng trận kia, đế quốc Mỹ rồi Ngụy quân Ngụy quyền gì đó thì học sinh nó ngán ngẩm, nó hết muốn học. Lịch sử là phải đa chiều và sinh động. Đằng này ngay cả vấn đề  có tính địa chính trị nhưTrường Sa và Hoàng Sa, mấy anh chưa bao giờ đưa vào giáo khoa lịch sử và mấy anh biến sự kiện đó thành cái xác không hồn. Như vậy, bây giờ dù có dạy hay không dạy môn lịch sử thì chính bộ môn lịch sử như một cái xác không hồn của mấy anh cũng phải chết thôi!”.

Theo ông Trình, hiện tại, nếu bỏ môn học lịch sử để dạy một môn học khác không đặt nặng về khoa học lịch sử cũng đồng nghĩa với tự Hán hóa dân tộc Việt Nam. Bởi chưa bao giờ mà quốc gia, dân tộc lại lâm nguy như hiện tại. Khoa học lịch sử đích thực sẽ là mấu chốt, xương sống để giữ lại tinh thần dân tộc và khí phách Việt tộc.

Giải thích vấn đề vừa nói, ông Trình nói rằng suốt từ những năm 1945 cho đến hiện tại, chưa bao giờ nhà nước Cộng sản có một giáo trình sử học nghiêm túc và đầy đủ. Chính sách kiểm duyệt từ trong trứng nước của đảng Cộng sản đã giết mọi bài học lịch sử nghiêm túc ngay từ khi nhà viết sử cầm bút để ghi chép.

Bằng chứng của vấn đề này chính là mọi giáo trình lịch sử của ngành giáo dục thời Cộng sản xã hội chủ nghĩa đều có chung khuynh hướng là ca ngợi công lao của đảng Cộng sản, những mốc sự kiện liên quan đến cái gọi là vinh quang của đảng Cộng sản xuất hiện dày đặc trong bài học lịch sử. Và các sự kiện, những bài học lịch sử các đời vua dựng nước, chống giặc Tàu để giữ nước rất mờ nhạt trong giáo trình lịch sử của chế độ Cộng sản.

Theo ông Trình, mối nguy hại của việc dạy sử mà đảng Cộng sản đã thực hiện trong nhiều năm nay là không thể kể xiết. Điều này vừa làm cho bài học lịch sử trở nên khô khan bởi giọng điệu tuyên truyền và thiếu tính khoa học trầm trọng. Đặc biệt, bộ môn lịch sử mà thiếu tính khoa học, bị lai căn và lang chạ với tính tuyên truyền thì sẽ đánh mất toàn bộ tính sinh động của nó, dẫn đến sự nhàm chán và vô nghĩa.

Ông Trình cho rằng sở dĩ môn lịch sử Việt Nam lại quá coi trọng vấn đề tuyên truyền nhưng lại giảm thiểu, thậm chí xóa mất những bài học lịch sử đánh Tàu giữ nước của ông cha, tổ tiên là vì chế độ cầm quyền hiện tại quá phụ thuộc vào nhà nước Cộng sản Trung Quốc. Dấu hiệu của sự phụ thuộc này là trước đây, những bài học lịch sử về chống Tàu vẫn có trong giáo khoa Cộng sản Việt Nam. Nhưng từ năm 1990, cụ thể là từ sau hội nghị Thành Đô trở đi, những bài học chống Tàu giữ nước tự bốc hơi, không cánh mà bay khỏi giáo trình lịch sử.

Và với những gì đang xảy ra ở hiện tại, khi mà Việt Nam phải phụ thuộc, thậm chí lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc từ kinh tế, chính trị cho đến an ninh quốc gia, chủ quyền quốc gia…. Nếu như tuổi trẻ Việt Nam, những thế hệ mai sau không học được những bài học về một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, về những gương sáng hy sinh vì sự nghiệp độc lập của quốc gia, dân tộc thì e rằng chẳng bao lâu nữa, Việt Nam sẽ thành một tỉnh lẻ của Trung Quốc. Bởi mọi thứ từ văn hóa đến giáo dục, chính trị, xã hội đều đầy rẫy màu sắc Trung Quốc.

Phòng thi chỉ có 2 thí sinh thi môn sử tại HĐT trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai chiều 2-6-2014. Ảnh - Như Hùng/songmoi.vn

Phòng thi chỉ có 2 thí sinh thi môn sử tại HĐT trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai chiều 2-6-2014. Ảnh – Như Hùng/songmoi.vn

Mất môn sử học là mất nước

Một vị là giáo viên dạy sử những năm trước 1975, không muốn nêu tên, chia sẻ: “Cái gốc của vấn đề là nó không thực sự có môn sử mà nó bị chính trị hóa đi.”.

Theo vị này, hiện tại, nếu đánh tráo môn học lịch sử bằng bất cứ môn học nào khác nhằm nâng cao tính tuyên truyền của đảng Cộng sản đều dẫn đến hậu quả là dân tộc Việt Nam bị Hán hóa trong tương lai và dân tộc Việt Nam bị xóa nhòa, thay vào đó là đêm trường nô lệ và phụ thuộc vào Trung Hoa.

Vị này giải thích rằng sở dĩ ông phải nhấn mạnh đến vấn đề mất nước là vì mọi tương tác xã hội hiện tại đều có bóng dáng Trung Quốc trong đó. Từ gói mì ăn liền cho đến ly trà sữa trân châu hay chiếc xe máy, cái máy cắt cỏ, chiếc điện thoại di động, bộ áo quần, thực phẩm hằng ngày… Mọi thứ đều có bóng dáng Trung Quốc.

Nói sâu xa hơn, những sản phẩm tinh thần như phim ảnh, tạp chí, nghệ danh đều mang hơi hướm và bóng dáng Trung Quốc. Đây là nguồn tác động hằng ngày vào tâm thức nhiều thế hệ. Bây giờ, nếu không kịp chấn chỉnh, không kịp đánh thức dân tộc bằng những bài học lịch sử được trích từ xương máu và lòng hy sinh để chống giặc Tàu xâm lăng của cha ông. Điều này sẽ đưa tuổi trẻ đến chỗ lầm đường lạc lối.

Và khi tuổi trẻ không còn phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù, tiếp tục bị huyễn hoặc bởi một loại siêu nhân Đại Hán thông qua chính sách ban giao của nhà cầm quyền cũng như mọi động thái lấn lướt, bề trên của Trung Quốc. Đến một lúc nào đó, tuổi trẻ sẽ nghĩ và tin rằng họ cũng là một phần tử của nước Trung Quốc rộng lớn. Và tính nhược tiểu của nhà cầm quyền trước ngoại bang Trung Quốc sẽ là nguồn tác động lớn nhất đến tuổi trẻ, đẩy thế hệ trẻ đến chỗ hèn nhát, nhược tiểu và không có bản sắc dân tộc. Đây là điều khó tránh khỏi.

Vị này đặt ra một câu hỏi rằng ông lấy làm lạ một điều là tại sao trong lúc Trung Quốc đang chiếm Trường Sa, Hoàng Sa, đang xâm lấn lãnh hải, xâm lấn lãnh thổ trên biên giới và có những phát biểu đầy giọng điệu bành trướng về phương Nam mà nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam lại đánh tráo môn lịch sử bằng môn học “công dân và tổ quốc”?

Bởi ngay cái tên môn học không cũng đã nói lên tính chất tuyên truyền và nhồi sọ thế hệ trẻ yêu đảng, yêu bác Hồ. Bởi lâu nay, đảng Cộng sản luôn đồng nhất dân tộc với đảng và xem Hồ Chí Minh là cha già của dân tộc.

Ông nghi vấn rằng phải chăng đánh tráo môn học lịch sử sang môn học “công dân và tổ quốc” là cách chạy trốn trách nhiệm dạy lịch sử, đốt sách sử và dần đẩy khoa học lịch sử và chỗ bế tắc bởi tính hữu dụng cũng như tính giáo dục của nó dần bị xói mòn, phôi phai?!

Như để đưa ra kết luận cuối cùng, vị này lắc đầu chua chát nói rằng một đất nước mà môn lịch sử bị đánh tráo thì nó chỉ dự cảm cho một tương lai duy nhất, đó là tương lai vong nô!

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Cô Minh Hạnh và ông Trương Minh Đức đã được trả tự do sau khi bị đánh dã man

Cô Minh Hạnh và ông Trương Minh Đức đã được trả tự do sau khi bị đánh dã man

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-11-23

Công an đã đánh cô Minh Hạnh và anh Minh Đức dã man, cô Hạnh bị tổn thương vùng đầu và khắp người đến mức không đi nổi, anh em phải dìu ra xe

Ảnh: Huỳnh Ngọc Chênh

Hai nhà hoạt động vì quyền lợi công nhân Việt Nam- cô Đỗ thị Minh Hạnh và ông Trương Minh Đức, hôm qua 22 tháng 11 bị công an bắt, hành hung và đưa về giam giữ tại đồn Công an phường Long Bình, Đồng Nai.

Sau khi ra khỏi đồn công an và qua một đêm tại Bệnh viện Hoàn Mỹ ở Sài Gòn, ông Trương Minh Đức cho Gia Minh của Đài Á Châu Tự Do biết một số thông tin liên quan việc hai người đến Đồng Nai giúp cho công nhân rồi bị công an truy bắt.

Trước hết là việc ông bị áp giải về công an phường Long Bình

Ông Trương Minh Đức: Họa áp giải tôi bằng cách dùng bạo lực xô đẩy, không cho tôi lấy những vật dụng cá nhân, cả xe Honda của tôi cũng phải để ở đó. Họ đưa tôi đi người không. Đến chiều tối họ mới đưa giỏ đồ của tôi và của cô Đỗ Thị Minh Hạnh ra. Họ yêu cầu tôi ký vào để niêm phong, lập biên bản và trong vài ngày tới họ sẽ khai thác máy tính. Tôi không đồng ý và nói rằng làm như thế là sai qui trình của luật pháp. Nếu muốn niên phong và khai thác tài sản cá nhân thì trước hết tôi phải là một nghi can; chứ không thể khai thác thông tin trong máy cá nhân của tôi. Nếu chúng tôi phạm pháp cũng phải có qui trình. Việc áp giải người và đồ phải đi chung nhau và người ta phải thấy đồ của mình. Trong khi đó tôi bị đưa đi một nơi, đồ đi một ngả cách mười mấy tiếng đồng hồ- từ 12 giờ trưa đến 24 giờ tối mới bắt tôi ký để niêm phong. Không biết trong khoảng thời gian mười mấy tiếng đồng hồ đó, các anh đã làm gì trong máy của tôi. Các anh có thể cài đặt những nội dung bất lợi cho tôi trong máy, nên tôi không đồng ý.

Khoảng hơn 8 giờ có một số anh em thuộc các tổ chức xã hội dân sự, cũng như thuộc Hội Anh em Dân chủ, và những anh em bên truyền thông có đến khoảng mười mấy người vào đồn để hỏi người. Lúc đầu họ trả lời một cách lúng túng; sau đó họ dùng một lực lượng côn đồ rất lớn giăng hàng ngang cản những anh em này, đẩy lui ra cổng. Họ cũng có thái độ muốn giật điện thoại của những người đi đón chúng tôi về.

Đến 1 giờ 45 phút họ mới thả tôi và Đỗ thị Minh Hạnh ra khỏi đồn.

Gia Minh: Tiếp theo cả hai được đưa đi đến đâu?

Ông Trương Minh Đức: Sau đó tất cả chúng tôi đi bằng 2 xe taxi và một số Honda về Sài Gòn. Trên đường về thì sức khỏe của Đỗ thị Minh Hạnh rất yếu và đã được đưa cấp cứu ngay tại Bệnh viện Hoàn Mỹ trên đường Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh. Tôi cũng bị cao huyết áp và nằm tại bệnh viện một đêm. Sáng nay tôi trở về nhà để lo một số công việc cần thiết.

Gia Minh: Tất cả những tài liệu bị tịch thu là tài liệu gì và mức độ quan trọng ra sao?

Ông Trương Minh Đức: Họ tịch thu máy móc của chúng tôi kèm theo những tờ rơi của Lao Động Việt quảng bá về TPP, về quyền lợi của người công nhân. Chúng tôi cũng có một lá thư gửi cho 4 khách hàng của Yupoong yêu cầu xem xét lại việc sa thải công nhân một cách trái pháp luật Việt Nam; mong những khách hàng này có khuyến cáo đối với Yupoong.

Họ cho rằng những tài liệu đó là tài liệu không có thực. Tôi nói những tài liệu đó được chúng tôi in ra. Chúng tôi đã hỏi khách hành của Yupoong. Chứng cứ do công nhân cung cấp. Sự việc mà chúng tôi điều tra là công ty Yupoong không thu hẹp sản xuất như Luật Lao động qui định để công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng. Trái lại công ty Yupoong còn mở rộng sản xuất lớn hơn nhiều lần. Như vậy công ty Yupoong đơn phương chấm dứt hợp đồng là vi phạm luật pháp Việt Nam và gây thiệt hại cho công nhân.

Gia Minh: Qua làm việc với công nhân công ty Yupoong trong thời gian qua, ông nhận thấy tâm tư tình cảm của họ ra sao và đến nay sự hiểu biết về quyền lợi sau khi có tuyên bố của Việt Nam về công đoàn độc lập theo TPP ra sao?

Ông Trương Minh Đức: Trong thời gian qua với sự bức xúc của 2000 công nhân công ty Yupoong, họ rất tin tưởng ở Lao Động Việt có thể lên tiếng cho những công nhân mất việc tại công ty.

Vì lẽ đó mà có thể công an Đồng Nai dùng bạo lực đàn áp để trấn áp tinh thần của công nhân. Theo tôi nghĩ đây là hành động không đúng.

Công nhân tiếp xúc được với Lao Động Việt thì họ mong mỏi Lao Động Việt giúp họ trong thời gia sắp tới cũng như việc thành lập công đoàn độc lập. Theo tôi nghĩ từ chỗ đó công an Đồng Nai sợ sệt vấn đề này.

Tôi thấy vụ cháy công ty Yupoong có những bất hợp lý mà các cơ quan chức năng cần phải xem xét lại về thời điểm cũng nhưng phát biểu của công nhân trong những video clip mà Lao Động Việt cung cấp trên truyền thôn.

Gia Minh: Qua sự việc hôm ngày chủ nhật 22 tháng 11, ông thấy sắp đến việc đi hỗ trợ cho công nhân hẳn nhiên có nhiều trở ngại, vậy cần có những gì để vượt qua trở ngại để giúp công nhân đạt được những điều theo TPP mà Việt Nam đã ký kết với 11 nước khác?

Ông Trương Minh Đức: Hành xử của công an Đồng Nai trong ngày 22 tháng 11 là hành động đối với những thành viên của Lao Động Việt đang giúp đỡ công nhân Việt Nam thành lập công đoàn độc lập. Tôi nghĩ trong tiến trình sắp tới chúng tôi còn gặp nhiều gian nan; mặc dù ông Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 18 tháng 11 vừa qua nói trước quốc hội rằng Việt Nam trong tiến trình hội nhập TPP phải có công đoàn độc lập ngoài công đoàn nhà nước để bảo vệ quyền lợi cho công nhân.

Công an Đồng Nai hành xử như vừa qua là đã phủ nhận lời nói của ông Nguyễn Tấn Dũng trước quốc hội. Lãnh đạo Đồng Nai nghĩ gì? Ông Nguyễn tấn Dũng nghĩ gì khi mà lãnh đạo Đồng Nai phản bác lại những gì mà ông Nguyễn Tấn Dũng mong muốn.

Tôi mong những tổ chức lao động trên toàn thế giới và trong 11 nước ký kết TPP với VN có những biện pháp chế tài đối với hoạt động đi ngược lại với TPP đã được ký kết.

Gia Minh: Cám ơn ông Trương Minh Đức.

TỔ QUỐC VÀ CHẾ ĐỘ

TỔ QUỐC VÀ CHẾ ĐỘ

Kim Ngọc Cương

Ai cũng hiểu Tổ Quốc và Chế độ là hai khái niệm khác nhau. Tổ Quốc là giang sơn đất liền, biển đảo, vùng trời cùng với toàn bộ người dân (gồm nhiều sắc tộc) đã, đang, sẽ làm ăn sinh sống trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời có chủ quyền của quốc gia. Còn Chế độ là thể chế chính trị trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia.

Tổ quốc Việt nam có Lịch sử dựng nước và giữ nước hơn 4000 năm. Trong hơn 4000 năm ấy đã trải qua nhiều Chế độ xã hội từ Chế độ bộ lạc, nông nô, rồi Chế độ phong kiến, đến Chế độ phong kiến thuộc địa (của Trung quốc, Pháp, Nhật), sau đó là Chế độ Cộng hòa Nghị viện (ở cả hai miền trong thời kỳ đất nươc chưa thống nhất) và 40 năm nay là Chế độ xã hội chủ nghĩa (mới là danh chưa thực, hiểu theo câu nói của ông Nguyễn Phú Trọng “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”).

Mỗi Chế độ đều có những quan hệ đối nội và đối ngoại khác nhau. Nhưng Dân tộc Việt Nam không bao giờ vì Chế độ mà để mất Tổ Quốc. Lịch sử 4000 năm của Dân tộc Việt Nam đã chứng minh điều đó bằng núi xương, sông máu của Dân tộc. Không một thế lực nào có thể xóa được Lịch sử đau thương mà kiêu hãnh của Dân tộc Việt Nam.

Yêu Tổ Quốc (yêu nước) không đồng nhất hoàn toàn với yêu Chế độ. Có người yêu nước nhưng không yêu Chế độ và ngược lại cũng có những kẻ yêu Chế độ nhưng không được coi là yêu nước.

Ví dụ điển hình cho trường hợp thứ nhất là Nguyễn Trãi. Cả cuộc đời Ông đi theo Lê Lợi, phò Lê Lợi để đánh đuổi giặc Minh. Sau khi Lê Lợi giành thắng lợi, Ông vẫn phụng sự Nhà Lê cho đến khi thấy Nhà Lê bắt đầu “thối nát” thì Ông đã lui về Côn Sơn ở ẩn. Rõ ràng, Nguyễn Trãi luôn là người yêu Tổ Quốc nhưng gần cuối đời, Ông là người “chán ghét” Chế độ.

Ví dụ điển hình cho trường hợp thứ hai là Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc và rất nhiều kẻ bám đít ngoại bang đi ngược lại quyền lợi của cả Dân tộc. Những kẻ này không ai coi là những người yêu nước vì họ chỉ lo cho quyền lợi của chính họ, gia đình họ cùng lũ quần thần bảo về họ (một đám ăn theo, hùa theo).

Một Chế độ được coi là ưu việt khi và chỉ khi: Chế độ đó phải bảo vệ được chủ quyền về lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời của quốc gia, bảo vệ và gìn giữ được độc lập dân tộc; Chế độ đó phải hòa hợp được dân tộc (người trong một nước phải thương nhau cùng) và luôn phải đặt quyền lợi Dân tộc lên trên mọi quyền lợi cá nhân, quyền lợi cục bộ (bộ phận).

Khi Chế độ làm được hai điều này thì sẽ (mới) đồng nhất được tình yêu Tổ quốc và tình yêu Chế độ trong đại đa số người Dân và trong từng người dân.

Nếu một Chế độ nào mà không làm được hai điều trên thì trong xã hội chắc chắn vẫn còn những người yêu nước nhưng không yêu Chế độ và sẽ còn những người phản ứng chống đối Chế độ, phản ứng chống lại những người cầm giữ Chế độ.

Tổ Quốc Việt Nam mãi mãi trường tồn và không chịu nô lệ ngoại bang; đồng thời người Dân Việt Nam cũng không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa “dân tộc hẹp hòi” cực đoan. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không thể nào thay đổi.

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Bản tuyên ngôn độc lập ngắn gọn, đầy đủ, dễ hiểu ấy đã khắc vào sông núi, bờ cõi, vùng trời, vùng biển Việt nam, vào tâm khảm của người Việt Nam từ bao đời nay không dễ gì xóa được. Đấy là TÌNH YÊU TỔ QUỐC đã khắc vào tim, óc người Việt Nam.

Về dạy và học cấp phổ thông ở Việt Nam:

Một số nước phát triển hiện nay có xu hướng ‘tích hợp” kiến thức của các môn học vào  “môn tổng quát”; đồng thời với việc thay đổi phương thức dạy và học.

Lý do mà họ phải làm như vậy là bởi tri thức của loài người đang tăng lên theo cấp lũy thừa nên không thể dạy và học theo phương cách truyền thống (dạy và học nhiều môn riêng rẽ, thầy chủ động giảng bài, trò thụ động nghe giảng). Cách dạy và học truyền thống không thể truyền tải hết kiến thức cần thiết nhất cho học sinh và là một chiều, áp đặt, không phát huy sáng tạo trong dạy và học, không lấy học sinh làm trung tâm. Mặt khác kiến thức của các môn học riêng lẻ có  những phần liên quan, “giao” nhau nên việc “tích hợp” các môn học liên quan nhau là cần thiết.

Vì vậy, trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam, việc “tích hợp” một số môn học thành “môn tổng quát” là một trong nhiều việc cần phải làm để phù hợp với xu thế chung của thời đại. Ví dụ, có thể tích hợp môn Toán tin với Lý, Hóa với Sinh, Thể dục với giáo dục quốc phòng và kỹ năng sống (thành môn giáo dục con người).

Riêng môn học Lịch sử thì không thể “tích hợp” với môn nào được bởi Lịch sử của Dân tộc là “Quốc phả” và Lịch sử thế giới là “Quốc tế phả”. Theo thiển ý cá nhân thì có thể xây dựng môn học mang tên “Việt Nam học”. Trong môn học này sẽ dạy về Lịch sử Việt Nam và con người Việt Nam. Trong môn “Việt Nam học” thì các vấn đề thuộc về LS phải khách quan, phi chính trị; còn các vấn đề về người Việt Nam thì phải đầy đủ các đặc trưng đúng là người VN (gồm cả tốt, xấu) và lấy dẫn chứng từ các nhân vật trong LS cũng như hiện tại, và mỗi vấn đề của bài giảng phải có sự đối thoại bình đẳng giữa thầy và trò, giữa trò với trò).

Ngoài ra, có thể có môn “Quốc tế học” được “tích hợp” tổng quan từ các vấn đề về Lịch sử thế giới, Văn hóa phương Tây và phương Đông và Ngoại ngữ.

Để chuẩn bị cho việc dạy và học các môn “tích hợp” thì phải đào tạo các thầy đủ năng lực dạy các môn “tích hợp” chứ không thể một môn “tích hợp” như môn “toán tích hợp với lý) lại do hai thầy (toán riêng, lý riêng) dạy; tương tự môn “Quốc tế học” cũng vậy.

K.N.C.

Việt Nam đổ nợ vì metro

Việt Nam đổ nợ vì metro
Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) – Cuối tuần trước, Ban Quản Lý Đường Sắt Đô Thị của thành phố Sài Gòn có công văn khẩn báo, chi phí xây dựng các tuyến metro 1, 2, 5 đã tăng thêm ba tỷ Mỹ kim!

Cảnh ghép dầm tại tuyến metro số 1. (Hình: Infonet)

Lý do chi phí xây dựng tăng vọt như vừa kể được xác định là vì: Thiếu kinh nghiệm nên việc lập dự toán không chính xác. Thực hiện chậm nên các dự án bị tác động bởi lạm phát. Đáng nói là cả ba tuyến metro vừa kể đều đã khởi công, không thể ngưng, còn nếu tiếp tục thực hiện thì chưa rõ sẽ tìm từ đâu ba tỷ Mỹ kim.

Chính phủ Việt Nam vừa xin Quốc Hội phát hành lượng trái phiếu trị giá ba tỷ Mỹ kim trên thị trường quốc tế để trả các khoản nợ đã đến hạn mà không có khả năng thanh toán!

Cần nhắc lại rằng, theo quy hoạch phát triển hệ thống giao thông vận tải, chính quyền Việt Nam có kế hoạch xây tới tám tuyến metro tại Sài Gòn (Tuyến số 1 dài 20 cây số, từ Bến Thành đến Suối Tiên. Tuyến số 2 dài khoảng 48 cây số từ Thủ Thiêm đến Củ Chi. Tuyến số 3a dài khoảng 20 cây số từ Bến Thành đến Bình Chánh. Tuyến số 3b dài khoảng 12 cây số từ ngã 6 Cộng Hòa đến ngã tư Bình Phước. Tuyến số 4 dài khoảng 36 cây số từ quận 12 đến quận 7. Tuyến số 4b dài khoảng 5 cây số từ Gò Vấp đến phi trường Tân Sơn Nhất. Tuyến số 5 dài khoảng 26 cây số từ Bình Chánh đến Bình Thạnh. Tuyến số 6 dài khoảng 6 cây số, từ Tân Bình đến quận 6). Thành ra chi phí tăng thêm có thể lên tới hàng chục tỷ Mỹ kim.

Năm 2007, chi phí thực hiện tuyến metro số 1 dự trù là 17,300 tỷ đồng. Đến năm 2011, chi phí thực hiện tuyến metro này được tính lại là khoảng 47,300 tỷ đổng. Tăng 30,000 tỷ đồng.

Tương tự, năm 2010, chi phí thực hiện giai đoạn 1 của tuyến metro số 2 dự trù là 26,100 tỷ đồng. Đến năm 2015, chi phí thực hiện tuyến metro này được tính lại là khoảng 40,000 tỷ đổng. Tăng thêm khoảng 14,000 tỷ đồng.

Giống hệt như vậy, năm 2011, chi phí thực hiện giai đoạn 1 của tuyến metro số 5 dự trù là 833 triệu Euro. Đến năm 2015, chi phí thực hiện tuyến metro này được tính lại là khoảng 1.5 tỷ Euro. Tăng thêm khoảng 700 triệu Euro.

Cũng tuần trước, báo chí Việt Nam loan báo, chi phí xây dựng tuyến metro số 2 tại Hà Nội đã được tính lại và tăng từ 19,555 tỷ đồng thành 51,700 tỷ đồng. Tương tự, chi phí xây dựng tuyến metro số 3 tại Hà Nội cũng đã tăng từ 783 triệu Euro thành 1,176 triệu Euro. Người ta tin rằng, dẫu mỗi cây số metro đã tăng thêm 3,000 tỷ đồng so với dự tính ban đầu nhưng mức tăng sẽ còn hơn thế nữa!

Các dự án metro ở cả Sài Gòn lẫn Hà Nội đều giống nhau ở chỗ: Chậm trễ, vốn đầu tư tăng thêm ở mức hàng tỷ Mỹ kim và khiến nợ nần của Việt Nam thêm nặng nề.

Hồi Tháng Mười năm ngoái, ông Đinh La Thăng, bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam từng thú nhận, sở dĩ có tình trạng vừa kể là vì Việt Nam chưa có kinh nghiệm thực hiện các dự án metro và chưa có nhân sự đủ kiến thức, đủ bản lĩnh để nghiên cứu thấu đáo.

Lúc đó, ông Trần Đức Toàn, vụ phó vụ kết cấu hạ tầng và Đô thị của Bộ Kế Hoạch-Đầu Tư Việt Nam, cũng bảo rằng, hiểu biết của Việt Nam về metro rất kém, việc lập các dự án, giám sát, thi công,… đều dựa vào quốc gia cho vay tiền thực hiện.

Tuy nhiên, các chuyên gia không tán thành những ý kiến đó. Ông Phan Văn Trường, một kỹ sư từng là phó chủ tịch Alsthom Transports của Pháp, cho biết, khi thực hiện các dự án metro, người ta có rất nhiều lý do để điều chỉnh tổng mức đầu tư và kéo dài thời gian thực hiện. Lý do khiến vốn đầu tư các dự án metro tăng vọt còn nằm ở chỗ thay đổi công nghệ. Nếu chủ đầu tư không “cứng” thì vốn đầu tư dễ tăng lên nhiều lần.

Cũng vì vậy, ông Trường khuyến cáo, Việt Nam không thể nhún nhường và để phụ thuộc hoàn toàn vào phía cho vay vốn thực hiện các dự án metro. Phía cho vay đã hưởng lợi qua việc doanh nghiệp của họ được ưu tiên thực hiện toàn bộ dự án. Thành ra, Việt Nam phải có sự ràng buộc chặt chẽ cả về chuyển giao công nghệ, lẫn giá cả.

Theo ông Trường, nếu chủ đầu tư có hiểu biết và có bản lĩnh thì tổng vốn đầu tư của một dự án metro không bao giờ tăng quá 10% một năm. Ông Trường nhấn mạnh, nếu dự án tăng quá 10% mỗi năm thì điều đó đồng nghĩa với việc “chủ đầu tư quá dễ dãi và chắc chắn có tham nhũng.”

Tổng vốn đầu tư của các dự án metro tại Việt Nam không chỉ tăng hơn 10% mà thường là tăng gấp đôi hoặc hơn gấp đôi nhưng cả chính quyền lẫn chủ đầu tư và nhà thầu đều xem đó là… tất nhiên. (G.Đ)

Lời giới thiệu cho tập ảnh“10 phát ngôn gây ấn tượng tại Quốc hội”

Lời giới thiệu cho tập ảnh“10 phát ngôn gây ấn tượng tại Quốc hội”

Hà Sĩ Phu

Xem “10 phát ngôn gây ấn tượng tại Quốc hội” dưới đây, chắc nhiều người có thái độ như tôi, lúc đầu xem lướt qua, khẽ nhếch mép cười rồi giở sang trang khác. Vì “biết rồi khổ lắm, nói mãi”, nước Việt mình bây giờ nó thế, Quốc hội này nó thế… có gì mà lạ?

Nhưng rồi một lúc khác, vô tình giở ra xem lại, tự nhiên thấy những tấm hình cười vui không mấy… mặn mà này lại như nói thầm vào tai mình nhiều điều, những điều miên man không dứt.

– Ừ, cũng ngạc nhiên chứ. Nghị sĩ của mình xưa nay dân toàn bảo nhau là… “gật sĩ”, Quốc hội là… “có mâm có bát”, có góp ý thì toàn đi vào những dấu chấm dấu phẩy, những chuyện lặt vặt, chỉ là chỗ đóng dấu cho những quyết định của Đảng hay của Chính phủ để nó có cái nhãn hợp lệ trước khi ban hành. Nhưng lần này xem ra có khá hơn, một vài câu cũng hơi “phạm” một chút, thôi thì được thế cũng hơn trước rồi. Họ cũng bắt đầu phơi và tự phơi ra đấy. Chuyển biến gì chăng? Có lẽ?

– Nhưng xem kỹ những lời phát biểu cũng thấy buồn cười, vì thấy nó “ngồ ngộ”, có màu hài hước. Hoặc hài hước ở cái vô lý đến đắng chát của thực tiễn sau một năm thực thi chính sách, và từ đó mà nhìn lại cái phi lý của chính sách; hoặc hài hước do cách diễn đạt pha trò, có tý chua cay.

– Nhưng sau 1/10 giây mỉm cười thì buộc mình phải “truy cứu trách nhiệm”! Trước sự vô lý lồ lộ ra khắp nơi mọi chốn như kia – ngân sách cạn kiệt, kinh tế rối nát, môi trường tệ hại, văn hóa giáo dục thi nhau xuống dốc, trong khi biên chế phình to, hàm cấp chất đống, chức tước trong quân đội và công an tăng vô tội vạ, tham nhũng nhìn đâu cũng vẫn lúc nhúc, thói cửa quyền không giảm mà càng lộng hành – người phát ngôn phải có trách nhiệm ra sao, cấp trên của họ có trách nhiệm ra sao, chứ cười trừ ư? Điều rất quan trọng này thì các vị lại lảng tránh, hoặc nói cù nhầy, thế là mình thất vọng hoặc nổi khùng. Nụ cười của ta âu cũng là cười gượng! Chứ không à? Thản nhiên rũ áo, trút bê bối lại cho người tiếp sau một cách “khơ khớ”, “vô tư” – như ông Bộ trưởng Bộ Văn Thể Du – thì thử hỏi… cả người nói lẫn người nghe có biết dân nghĩ gì không mà còn cười và xuê xoa được?

– Cuối cùng thì cũng đành khẽ lắc đầu ngao ngán thôi. Theo lệ thường là buông trôi, thôi mặc sự đời. Chút dũng cảm phá lệ pha chút “anh Chí” như trên chỉ là không khí chợ chiều của “hoàng hôn nhiệm kỳ”, chứ chưa hé tia nắng sớm nào của bình minh thế sự.

Nhưng đêm nằm có lúc nghĩ lại: Thực tế ngao ngán thế cũng có phần tại mình. Ai cấm mình nói, mà có cấm thì cũng cứ nói xem nào. Đã đành mình cũng chỉ là hạt nước tan ngay trong gió, nhưng người xưa đã bảo “Trên đời không có gì yếu mềm bằng nước, thế mà quy tụ lại thì to lớn vô hạn, sâu xa vô cùng”!

Phân tích từng tấm ảnh sẽ là vô duyên, bởi các tấm ảnh tự nó đã nói, có điều là trong tập ảnh này, nếu có thêm 2 tấm hình sau đây thì độ hài hước của sự đời mới thật viên mãn:

clip_image002

Hình 1: Vui quá nhỉ, nhưng cứ vui mãi như thế thì… buồn cho đất nước lắm!

clip_image004Hình 2: Nếu được đặt tên cho tấm hình này, tôi xin xuýt xoa mà rằng “Đây rồi, đỉnh cao… hạng nhất của những đỉnh cao!” .

22-11-2015

H.S.P.

10 phát ngôn ấn tượng tại Quốc hội

Trong 2,5 ngày, 54 lượt đại biểu Quốc hội đã đặt gần 200 câu hỏi chất vấn Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng, các Bộ trưởng, trưởng ngành. Zing.vn ghi nhận những phát ngôn ấn tượng.

clip_image005

Chiều 17/11, phòng Diên Hồng rộn rã tiếng cười khi Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh bắt đầu phần trả lời chất vấn. Nhiều đại biểu không nhịn được cười mỗi khi “Tư lệnh ngành” nói về thành tựu của du lịch Việt Nam cũng như trách nhiệm cá nhân (Xem chi tiết).

clip_image006

Phần trả lời của Bộ trưởng Tuấn Anh vừa kết thúc, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã hóm hỉnh: “Bộ trưởng cho Quốc hội đi du lịch rất mệt”. Ở lần chất vấn vài năm trước, ông Hùng từng nhắc nhở Bộ trưởng Du lịch: “Bay ra bay vào nhiều quá” (Xem chi tiết).

clip_image007

Chất vấn Tổng thanh tra Chính phủ về tình trạng tham nhũng gia tăng vào thời điểm kết thúc nhiệm kỳ, đại biểu Lê Như Tiến đề nghị cần có giải pháp “chặn đứng quan chức chạy đua nước rút thực hiện những chuyến tàu vét cuối cùng” (Xem chi tiết).

clip_image008

Sau khi nói về các số liệu kinh tế do Chính phủ cung cấp “nhảy múa”, hàng giả, hàng kém chất lượng tràn lan, đại biểu Nguyễn Bá Thuyền đã gửi chất vấn tới Thủ tướng (Xem chi tiết).

clip_image009

Còn đại biểu Trần Ngọc Vinh chất vấn trách nhiệm của Bộ trưởng và ngành Nông nghiệp trước thực trạng rau quả có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá mức cho phép, mỗi khi hàng năm hàng nghìn cái chết được báo trước (Xem chi tiết).

clip_image010

Liên quan tới an toàn vệ sinh thực phẩm, Bộ trưởng Cao Đức Phát viện dẫn Bộ luật Hình sự để nói về tình trạng khó xử lý thức ăn bẩn, không đạt tiêu chuẩn.

clip_image011

Tranh luận với Chánh án TAND Tối cao về vụ bồi thường án oan sai lớn nhất Việt Nam, đại biểu Bùi Văn Xuyền cho rằng, người dân đã quá mệt mỏi, quá sức chịu đựng. Bồi thường bao nhiêu tính rõ, không thể giằng co mãi (Xem chi tiết).

clip_image012

Kinh doanh đa cấp biến tướng, ở mức rất nghiêm trọng, nhiều người tự tử, ly hôn, bỏ học vì dính vào đa cấp. Tuy nhiên, theo đại biểu Nguyễn Văn Hiến, Bộ Công thương phản ứng rất chậm chạp, vai trò quản lý, xử lý mờ nhạt.

clip_image013

Lo lắng trước tình hình Biển Đông, trong chất vấn gửi tới Thủ tướng, đại biểu Trương Trọng Nghĩa đề nghị không nhận viện trợ và vay tiền của Trung Quốc (Xem chi tiết).

clip_image014

Nói về kỷ cương của các địa phương, bộ, ngành, đại biểu Bùi Thị An cho rằng, đang có vấn đề rất nghiêm trọng trong việc thực thi phép nước khi Thủ tướng chỉ đạo một đằng, bộ, ngành, địa phương lại làm một nẻo.

Zing.vn

Ảnh: Quochoi.vn

Công thức giữ đảng

Công thức giữ đảng

Phạm Đình Trọng

  1. NIỀM TIN BẠO LỰC

Tiến sĩ chuyên ngành bảo vệ đảng Nguyễn Phú Trọng nhậm chức Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam ở thời điểm tròn 20 năm hệ thống cộng sản quốc tế sụp đổ, cũng là 20 năm sau cuộc cúi mặt, lén lút đi đêm của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đến Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Tàu Cộng.

Hệ thống cộng sản quốc tế một thời hùng mạnh, làm giông bão sấm sét dìm một phần hành tinh, một phần loài người vào biển máu, biển lửa cách mạng, dìm hơn tỉ người vào bóng đêm nô lệ cộng sản nay bỗng chốc chỉ trong khoảnh khắc sụp đổ tan tành là nỗi lo canh cánh của vị Tổng bí thư thừa giáo điều mà quá thiếu hụt thực tế cuộc sống của dân, của nước nên xơ cứng, vôi hóa động mạch cảm xúc!

Lo từ khi chưa chính thức ngồi vào ghế Tổng bí thư.

Ở các nước dân chủ đích thực là các nước tư bản phát triển, dù bầu cử trong đảng chính trị hay trong dân, chỉ đến khi việc kiểm phiếu minh bạch xong xuôi mới biết chủ của những chiếc ghế quyền lực. Nhưng ở các nước cộng sản, mỗi dịp đại hội đảng cộng sản là một dịp phân chia trong bóng tối những chiếc ghế quyền lực đảng và sự phân chia trong bóng tối đó phải ngã ngũ rồi mới diễn ra công khai đại hội đảng và đại hội đảng chỉ để làm thủ tục bỏ phiếu hợp thức hóa sự phân chia đã được định đoạt từ trong bóng tối trước đó. Cũng như cuộc bỏ phiếu ở Quốc hội sau đại hội đảng chỉ để làm thủ tục hợp thức hóa sự phân chia những chiếc ghế quyền lực nhà nước đã được định đoạt từ trước đại hội đảng. Vì thế, đại hội đảng diễn ra sau cuộc chia ghế trong bóng tối là đại hội của chiếc ghế quyền lực lớn nhất vừa được xác định trong bóng tối: Tổng bí thư của đại hội đó.

Đại hội 11 là đại hội của tiến sĩ bảo vệ đảng Nguyễn Phú Trọng. Với nỗi lo mất đảng, toan tính đầu tiên của đảng trưởng giáo điều xa dân là bạo lực hóa, công cụ hóa ban chấp hành trung ương đảng. Tin vào sức mạnh bạo lực như giáo sĩ tin vào kinh thánh, cánh cửa ban chấp hành trung ương được ông chủ nhà Đỏ Ba Đình khóa 11 mở rộng cho cánh tướng lĩnh quân đội và công an ùa vào. Trong 175 ủy viên chính thức ban chấp hành trung ương kì đại hội 11 có tới 20 tướng quân đội, 10 tướng công an, tổng cộng là 30 trên 175, gần 20 phần trăm ban chấp hành trung ương là người nắm công cụ bạo lực.

Suốt ba mươi năm chiến tranh thù trong giặc ngoài, số ủy viên trung ương đảng mặc áo công cụ, quân đội và công an, các khóa thời đó chỉ trên dưới mười người, chưa đến mười phần trăm. Thời yên hàn mà bạo lực hóa cơ quan quyền lực của đảng chính là niềm tin bạo lực của vị đảng trưởng có bằng tiến sĩ bảo vệ đảng.

Cùng với bạo lực hóa, công cụ hóa ban chấp hành trung ương, nhiều chính sách ưu đãi, vỗ về, nuông chiều bạo lực, dồn ngân sách nghèo của đất nước chăm bẵm, phát triển con người công cụ, con người bạo lực cũng được thực thi. Lạm phát tràn lan tướng công an, tướng quân đội. Thời chiến tranh, quân đội Nhân Dân Việt Nam với quân số trên triệu tay súng và phải mở các mặt trận trên khắp ba nước Đông Dương mà chỉ có trên dưới 50 tướng. Cuộc sống hòa bình, quân số giảm lớn, không gian thu hẹp, quân đội Việt Nam chỉ có mặt trên lãnh thổ Việt Nam mà quân đội có tới 489 tướng! Nhiều đặc quyền, đặc lợi được giành cho công an, quân đội, nhất là công an được chăm bẵm, ưu ái từ người lính công an đến gia đình, con cái họ. Những doanh nghiệp công an, quân đội trở thành những siêu thế lực trong đời sống kinh tế đất nước. Doanh nghiệp quân đội tự tiện cắt gần hai trăm ha đất sân bay Tân Sơn Nhất làm sân golf giữa thành phố, đẩy sân bay vào thế kẹt cứng không thể mở mang, hiện đại hóa, phải bật đi nơi khác!

Đảng chính trị, dù là đảng cầm quyền cũng chỉ là một tổ chức xã hội nhất thời và luôn biến động. Tổ chức đảng có lúc thịnh, lúc suy, lúc tồn tại, lúc tiêu vong. Đường lối, chính cương của đảng có lúc đúng, lúc sai. Với đảng cộng sản thì sai nhiều hơn đúng. Con người của đảng có lúc anh hùng xuất chúng, có lúc là tội đồ, phản bội như ủy viên Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam Hoàng Văn Hoan.

Chỉ có Tổ Quốc, Nhân Dân là vĩnh hằng, bất biến, là một giá trị vĩnh cửu, cao cả, thiêng liêng của một đất nước và của từng người dân. Nhưng những người cộng sản đã thần thánh hóa, tuyệt đối hóa đảng của họ, đưa đảng của họ, một tổ chức chính trị nhất thời, sai nhiều hơn đúng, tội nhiều hơn công lên trên những giá trị cao cả, thiêng liêng, bất biến là Tổ Quốc, là Nhân Dân. Họ đã biến quân đội, sức mạnh bảo vệ đất nước thành sức mạnh bảo vệ đảng, biến pháp luật và công an, công cụ bảo đảm sự lành mạnh của xã hội thành công cụ bảo vệ đảng.

  1. SÚNG QUÂN ĐỘI

Ông đảng trưởng đương nhiệm Nguyễn Phú Trọng và ông đảng trưởng tiền nhiệm Nông Đức Mạnh là hai ông đầu đảng đã rước Tàu Cộng vào nước ta ồ ạt nhất, sâu rộng nhất. Tàu Cộng làm chủ những dải rừng đầu nguồn chiến lược rộng lớn ở biên cương. Tàu Cộng rầm rập kéo đến mảnh đất bô xít Tây Nguyên. Tàu Cộng lặng lẽ nhưng cấp tập đổ bộ vào những vùng đất đắc địa về kinh tế, hiểm yếu về quân sự dọc bờ biển nước ta. Đất nhượng địa cho Tàu Cộng với thời gian dài trên nửa thế kỉ loang lổ như da báo, như mụn ghẻ trải rộng trên khắp bề mặt đất nước Việt Nam từ Móng Cái đến Hà Tiên. Hàng hóa độc hại của Tàu Cộng đổ vào nước ta như nước lũ, bóp nghẹt ngay tức thì nền kinh tế Việt Nam và âm thầm mang cái chết chậm đến cho giống nòi Việt Nam. Tàu chiến Tàu Cộng nghênh ngang trên biển Việt Nam, mặc sức bắn giết, cướp phá dân chài Việt Nam. Tàu Cộng làm chủ nhượng địa Vũng Áng, Hà Tĩnh, xây dựng cảng biển Vũng Áng thành một đầu cầu mà đầu cầu bên kia là quân cảng Du Lâm trên đảo Hải Nam, căn cứ hạm đội Nam Hải của Tàu Cộng được trang bị tàu ngầm hạt nhân. Vũng Áng đã Tàu hóa nối liền với quân cảng Du Lâm của Tàu Cộng thì cánh cửa thép vịnh Bắc Bộ bị đóng sập lại, Đất Việt Nam bị cắt đôi. Biển Việt Nam bị phong tỏa.

Đất nước Việt Nam bị đe dọa nguy khốn như vậy, mạng sống của người dân Việt Nam mong manh như vậy trước họa xâm lăng Tàu Cộng nhưng hai ông đầu đảng Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng lại chỉ chăm chăm lo chuyển nòng súng quân đội hướng vào người dân Việt Nam và hai ông đã thực hiện nhiều việc làm biến chất quân đội, tha hóa quân đội, làm phân tán, mờ nhạt chức năng bảo vệ Tổ Quốc của quân đội, đặt lên vai quân đội thêm chức năng nội trị nặng nề để cùng công an bảo vệ đảng.

Năm 2003, thời đảng trưởng Nông Đức Mạnh, theo chủ trương của đảng, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký Quyết định số 107/2003/QĐ-TTg về “Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới”. Từ đây, quân đội chính thức phải gánh thêm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trât tự xã hội cùng bộ máy công an khổng lồ.

Cũng dưới thời đảng trưởng Nông Đức Mạnh, tháng 10. 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại kí Nghị định 77, đưa quân đội tham gia sâu rộng, toàn diện vào việc bảo vệ trật tự xã hội từ cấp cao nhất đến cấp nhỏ nhất. Với Nghị định 77 quân đội đã có mặt cùng công an trong nhiều cuộc cưỡng chế đất đai mà thực chất là những cuộc ăn cướp mảnh đất người dân đang sinh sống hợp pháp của đám quan tham nhân danh chính quyền. Quân đội là lực lượng bạo lực quyết định trong việc dập tắt cuộc biến động đòi tự do dân chủ của người H’Mong ở Mường Nhé tỉnh Điện Biên tháng 5. 2011.

Người cầm quyền tỉnh táo đáng ra phải nhận ra ở tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn vang lên trong sương mù sớm mùa đông giáp tết năm 2012 lời cảnh báo nghiêm khắc về một qui luật tự nhiên và cũng là qui luật xã hội: “tức nước vỡ bờ”. Một chính quyền dù có sức mạnh bạo lực tàn bạo đến đâu nhưng đối kháng với Dân cũng không thể tồn tại. Nhưng với niềm tin đến mê muội vào bạo lực, coi bạo lực như bảo bối để tồn tại, sau tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn, đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng liền triệu tập hội nghị trung ương 8 để một lần nữa ra thêm một nghị quyết huy động sức mạnh bảo vệ Tổ Quốc của quân đội vào cái gọi là bảo vệ chế độ CNXH, bảo vệ an ninh trật tự xã hội. Nghị quyết chi li đến mức bất cứ điều gì ảnh hưởng đến sự tồn tại của đảng, của chế độ, quân đội đều được quyền hành động trấn áp.

Người dân Việt Nam đã bị thể chế công an trị với đội quân công an dày đặc giám sát từng lời nói, từng bước đi, từng trang viết. Nay sự giám sát đó lại có thêm cả sức mạnh của nòng súng quân đội. Nghị quyết của hội nghị trung ương 8 thời đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng, hay có thể nói cụ thể, chính xác là chính đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng đã chỉnh nòng súng của quân đội hướng vào Nhân Dân, coi Nhân Dân, những người đóng thuế xây dựng quân đội, nuôi quân đội, trang bị súng lớn súng nhỏ cho quân đội là đối tượng tác chiến của quân đội. Điều này giải thích vì sao ban Chấp hành trung ương đảng, bộ tham mưu của đảng, đầu não của đảng, trí tuệ của đảng thời đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng lại có nhiều tướng võ biền đến thế.

Đương nhiên, sức mạnh bảo vệ Tổ Quốc của quân đội vừa bị hút vào hoạt động thị trường, trở thành siêu thế lực trong đời sống kinh tế đất nước, vừa được huy động ráo riết vào việc bảo vệ đảng thì nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc chỉ còn là thứ yếu.

  1. CÒNG CÔNG AN

Sức mạnh quân đội đã bị chuyển hướng từ bảo vệ đất nước sang bảo vệ đảng. Công an còn bị đảng hóa triệt để hơn, bị tha hóa, biến dạng lớn hơn. Tha hóa biến dạng từ tâm hồn, nhận thức. Con người công an bị nhào nặn để không còn con người nhân văn, chỉ còn con người công cụ. Công an được giáo dục để chỉ biết có đảng và chỉ thuộc lòng lí luận bạo lực đấu tranh giai cấp, bạo lực chuyên chính vô sản của đảng. Không biết đến Nhân Dân. Nhân Dân chỉ là nguồn lực vô tận để khai thác, sử dụng, chỉ là quần chúng phải giáo dục, phải chuyên chính. Tổ Quốc lớn lao thiêng liêng cũng là của đảng, cũng dưới giá trị tuyệt đối của đảng. Cái phông chữ ngạo nghễ phô trương đến kệch cỡm choán hết mặt trước cơ quan bộ Công an ngay giữa thủ đô ngàn năm văn hiến: “Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình” đã bộc lộ đầy đủ tâm hồn và nhận thức của những con người được Nhân Dân trao trách nhiệm bảo vệ luật pháp, bảo vệ cuộc sống bình yên của Dân đã bị đảng hóa chỉ còn là công cụ của đảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn hùng hồn là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đảng của Dân thì phải theo ý nguyện của Dân. Ý nguyện của Dân chính là ý nguyện của cuộc sống, của đất nước. Nhân Dân là Tổ Quốc, là thời đại. Đảng chính trị dù có tư tưởng tiên tiến đến đâu cũng phải học Dân, theo Dân. Không thể bắt Dân theo ý nguyện của đảng. Học thuyết Mác Lê nin và lí tưởng Xã hội chủ nghĩa là ý nguyện của đảng chứ không phải ý nguyện của Dân. Coi Dân chỉ là quần chúng, những người Cộng sản tự đặt mình cao hơn Dân, tự cho mình quyền giáo dục quần chúng, giáo dục Nhân Dân. Người Dân khảng khái bộc lộ ý nguyện của Dân, ý nguyện không chấp nhận học thuyết Mác Lê nin mất tính người, không chấp nhận Chủ nghĩa Xã hội đầy tội ác thì Dân liền bị đẩy sang “thế lực thù địch”. Còng sắt nhỏ liền bập vào tay người Dân khác biệt ý nguyện với đảng và cái còng khổng lồ tạo ra bởi những con người công cụ đã còng cả không gian sống của người Dân không có cùng ý nguyện với đảng.

Pháp luật Việt Nam những ngày này đang được thực thi bởi những con người công cụ không biết đến những giá trị nhân văn, không biết đến pháp luật. Những con người công cụ coi người Dân không có cùng ý nguyện với đảng cộng sản đều là thù địch, là tội phạm. Những phiên tòa xử theo những điều luật vi Hiến 79; 88; 258 liên tiếp mở ra trên khắp đất nước buộc tội, bỏ tù những người Dân Việt Nam trung thực, lương thiện không có cùng ý nguyện với đảng cộng sản. Những nhà tù với những cai ngục chỉ biết còn đảng còn mình đang giam cầm, hủy hoại những tâm hồn và khí phách Việt Nam không có cùng ý nguyện lầm lạc, tội lỗi của đảng cộng sản.

Lịch sử Việt Nam là lịch sử của lòng yêu nước thương nòi. Trước sức mạnh khổng lồ của Đại Hán xâm lược, dân tộc Việt Nam bé nhỏ tồn tại đến hôm nay nhờ yêu thương đùm bọc dân tộc. Còng công an không phải chỉ còng thân xác những người Dân Việt Nam không có cùng ý nguyện với đảng Cộng sản. Còng công an đã còng cả lòng yêu thương đùm bọc dân tộc, còng cả dân tộc Việt Nam giàu lòng yêu nước thương nòi không chấp nhận bạo lực đấu tranh giai cấp, bạo lực chuyên chính vô sản đã gây quá nhiều tội ác với dân tộc Việt Nam. Còng công an đã còng cả ánh sáng tự do dân chủ, dìm đất nước Việt Nam văn hiến trong bóng đêm nô lệ cộng sản.

  1. MẬT VỤ TÀU CỘNG

Không phải chỉ giữ đảng bằng súng quân đội, còng công an Việt Nam. Tiến trình đi tới của loài người không thể đảo ngược là loại bỏ học thuyết bạo lực Mác Lê nin vào sọt rác lịch sử, giải phóng con người khỏi bạo lực nô dịch cộng sản. Chống lại tiến trình đó để giữ đảng, giữ bạo lực cộng sản nô dịch chín mươi triệu người Dân Việt Nam, đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng đã rước cả công an, mật vụ Tàu Cộng về “để tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trong việc giữ gìn ổn định trong nước của mình”, thực chất là dùng sức mạnh bạo lực của nhà nước cảnh sát Tàu Cộng đàn áp người Dân Việt Nam không có cùng ý nguyện với đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngồi vào chiếc ghế quyền lực cao nhất của đảng Cộng sản Việt Nam, đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng liền sang kinh đô Đại Hán kí với người đứng đầu đảng Cộng sản Tàu Cộng Hồ Cẩm Đào bản Tuyên bố chung tám điểm ngày 15. 10. 2011, gồm những việc cụ thể đưa Việt Nam phụ thuộc sâu vào Tàu Cộng.

Điểm thứ tư của Tuyên bố chung có sáu việc thì việc thứ năm là: “Đi sâu hơn nữa hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực thi hành pháp luật và an ninh; . . . Tăng cường giao lưu và hợp tác giữa các cơ quan như tòa án, viện kiểm sát, công an, hành chính tư pháp; . . . tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau trong việc giữ gìn ổn định trong nước của mình”. Ngôn ngữ ngoại giao và công khai thì phải tỏ ra bình đẳng “phối hợp và ủng hộ lẫn nhau” nhưng thực tế trong quan hệ giữa Tàu Cộng với Việt Cộng, giữa nước lớn ban phát và nước nhỏ nhận ban phát thì “đi sâu hợp tác, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan công an, tòa án hai nước” chỉ là hợp thức hóa việc mở đường cho công an, tòa án Tàu Cộng nhảy vào các vụ việc nội trị của Việt Nam mà thôi.

Người Dân Việt Nam có tiếng nói khác biệt với đảng Cộng sản Việt Nam đã bị bộ máy công cụ nhà nước Việt Nam, công an, tòa án, nhà tù trừng trị thẳng tay. Nhưng tiếng nói khác biệt đó lại nhằm lên án Tàu Cộng cướp đất đai biển đảo Việt Nam, nô dịch người Dân Việt Nam thì sự trừng trị càng thảm khốc, man rợ.

Trừng trị tiếng nói đòi tự do dân chủ của Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, nhà nước cộng sản Việt Nam phải ngụy tạo cho người khai sinh ra câu lạc bộ Nhà báo Tự do tội trốn thuế vài trăm triệu đồng mà giáng mức án ba mươi tháng tù giam. Mãn hạn tù với nhà nước cộng sản Việt Nam, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vẫn không được trả tự do vì ông còn “tội” lớn hơn với nhà nước cộng sản đàn anh Tàu Cộng.

Đúng ngày Tàu Cộng đánh cướp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 34 năm trước, ngày 19. 1. 2008, đúng thời điểm Tàu Cộng đang rong ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh đi khắp thế giới và ngọn đuốc đó sắp qua Sài Gòn, Điếu Cày cùng những người bạn mặc đồ đen để tang Hoàng Sa, đứng cao trên thềm Nhà Hát Lớn Sài Gòn ngực áo mang biểu tượng những vòng tròn Olympic Pekin 2008 chỉ là hình những chiếc còng sắt, tay giương cao bảng chữ “Hoàng Sa, Trường Sa Của Việt Nam” bằng chữ Việt, chữ Anh, chữ Tàu. Ngày 29. 4. 2008, ngọn đuốc Olympic Bắc Kinh đến Sài Gòn, trước đó 9 ngày, ngày 20. 4. 2008, Điếu Cày bị bắt.

Sau phiên tòa về tội trốn thuế với bản án ba mươi tháng tù do nhà nước cộng sản Việt Nam, trừng trị tiếng nói đòi tự do dân chủ, ngày 24. 9. 2012, Điếu Cày lại phải đối mặt với phiên tòa thứ hai với bản án man rợ mười hai năm tù, năm năm quản chế sau tù. Phiên tòa do những quan tòa Việt Nam xử Điếu Cày tội tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam nhưng những người nhạy cảm chính trị đều hiểu rằng bản án man rợ mười hai năm tù giáng xuống người đàn ông sáu mươi tuổi Điếu Cày Nguyễn Văn Hải ngày 24. 9. 2012 mang dấu ấn đậm nét của Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011 và bản án có sẵn trong túi ông quan tòa người Việt Nam ngồi xử Điếu Cày đã được định đoạt từ ngoài biên giới phía Bắc.

Những ông quan tòa ngồi xử Điếu Cày không theo tinh thần nhân đạo của luật pháp Việt Nam mà theo tinh thần Bắc thuộc tàn ác của Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011. Lịch sử Việt Nam sẽ xóa án cho Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và tôn vinh ông. Lịch sử Việt Nam sẽ nghiêm khắc phán xét, tuyên án các ông quan tòa tạo ra bản án man rợ cho Điếu Cày tội phản dân tộc, sẽ sòng phẳng phán xét và tuyên án cả bản Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào tội dìm giống nòi Việt Nam vào vòng Bắc thuộc, tội đánh đổi sự tồn tại của dân tộc Việt Nam cho sự tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam.

Có Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011 rước công an Tàu Cộng vào Việt Nam dưới chiêu bài tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau giữa công an hai nước Tàu Cộng và Việt Cộng, dìm Việt Nam chìm sâu vào vòng Bắc thuộc, mới có sự việc ngày 14.3.2014 công an chìm, công an nổi chỉ huy phá buổi lễ người Dân thủ đô Hà Nội tưởng niệm những người lính Việt Nam bỏ mình trong cuộc chiến đấu chống Tàu Cộng đánh cướp bãi đá Garma trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988. Phá buổi lễ người Dân thủ đô dâng hương lên hương hồn liệt sĩ Trường Sa bằng khúc nhạc Tàu tấu lên phá tan không khí trang nghiêm thành kính, bằng những kẻ người Việt mang dòng máu họ Mao, họ Tập ôm nhau nhảy múa trong khúc nhạc Tàu chiếm không gian của người Dân dâng hương lên hương hồn liệt sĩ chống Tàu Cộng xâm lược.

Có Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011 mới có dòng máu đỏ chảy tràn trên mặt cựu chiến binh Trần Bang sau cú võ Tàu của những kẻ chống phá cuộc biểu tình của người Dân Sài Gòn phản đối tên trùm xâm lược Tập Cận Bình đến Việt Nam ngày 5.11.2015.

Kẻ tung cú võ Tàu đấm thẳng vào mặt người cựu chiến binh tuổi sáu mươi mặc áo NoU thét lên tiếng thét của những trái tim Việt Nam yêu nước “Đả đảo Tập Cận Bình”, kẻ đó hẳn thừa biết cựu chiến binh Trần Bang đã tham gia đánh Tàu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ở biên giới phía Bắc năm 1979, đã có mặt ở hàng đầu trong mọi cuộc biểu tình lên án Tàu Cộng cướp biển đảo Việt Nam những năm tháng này.

Cú võ Tàu đấm vào mặt cựu chiến binh Trần Bang cũng như lưỡi gươm Nguyên Mông chém rụng đầu Trần Bình Trọng khi Trần Bình Trọng khảng khái thét vào mặt giặc Nguyên Mông “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Kẻ tung cú võ Tàu đấm thẳng vào mặt cựu chiến binh Trần Bang không phải chỉ nhằm hạ gục một Trần Bang cụ thể mà nhằm hạ gục ý chí giữ nước chống Đại Hán xâm lược của người Dân Việt Nam yêu nước.

Kẻ tung cú võ Tàu đánh vào lòng yêu nước của người Dân Việt Nam đã được rước vào Việt Nam bởi Tuyên bố chung Nguyễn Phú Trọng – Hồ Cẩm Đào ngày 15.10.2011.

  1. DÒNG MÁU ĐẢNG CHA TRUYỀN CON NỐI

Khi dư luận xã hội ồn ào vụ việc con ông đảng trưởng một tỉnh nghèo miền Trung, cậu ấm ba mươi tuổi chỉ có thú ham chơi chim kiểng, không có đủ chuẩn mực của chiếc ghế quyền lực bỗng sỗ sàng nhảy tót lên ghế giám đốc một sở đầy thế lực; Khi ông Thứ trưởng bộ Nội vụ từ kinh kì tức tốc vào cuộc kiểm tra việc cậu ấm ham chơi nhảy lên ghế quyền lực rồi mau mắn tuyên bố ráo hoảnh rằng việc đề bạt cậu ấm là đúng qui trình thì người Dân đều phải sững sờ nhận ra rằng tàn tích cha truyền con nối của thời phong kiến hủ bại đã là chủ trương ngầm của nhà nước cộng sản Việt Nam thời đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng rồi!

Nhưng thời phong kiến, cha truyền con nối chỉ diễn ra ở ngôi vua. Còn chiếc ghế quyền lực từ trung ương đến địa phương đều phải qua học hành thi tuyển nghiêm túc, công khai, minh bạch ở tầm quốc gia. Thi cử nghiêm túc nên chủ khảo Cao Bá Quát mới bị tống ngục với thang tội danh phải tử hình khi ngầm nâng đỡ một sĩ tử giỏi, có bài thi xuất sắc nhưng do sơ suất có vài chữ phạm húy. Dù là quan lại địa phương cũng phải qua thi tuyển quốc gia rồi triều đình bổ nhiệm chứ địa phương không thể tự biên tự diễn được. Từ đó, hiền tài trong Dân được phát hiện qua thi tuyển minh bạch đàng hoàng và được phân bổ, sử dụng cho cả nước. Dù là quan lại địa phương cũng là bộ máy hành chính của đất nước, cũng phải là bộ mặt nhân văn của chính quyền, cũng phải là bộ mặt văn hóa của đất nước.

Với nhà nước cộng sản Việt Nam, đến những chiếc ghế quyền lực của đảng trung ương còn được định đoạt trong bóng tối rồi mới đưa ra đại hội đảng bỏ phiếu để hợp thức hóa, để đúng qui trình thì những trò bỏ phiếu tín nhiệm ở địa phương càng chỉ là thủ tục hành chính đơn giản cho có đủ hình thức, cho đúng qui trình mà thôi. Vì thế tất cả các cuộc bầu bán, các vụ việc đề bạt đều đúng qui trình! Con ông ủy viên Bộ Chính trị này làm bí thư tỉnh X đúng qui trình. Con ông ủy viên Bộ Chính trị kia là bí thư tỉnh Y đúng qui trình. Con ông Bí thư tỉnh làm chủ tịch quận đúng qui trình. Con ông ủy viên trung ương đảng làm phó giám đốc công an tỉnh đúng qui trình… Con cái của đảng ào ào ra nắm giữ những chiếc ghế quyền lực đều đúng qui trình cả. Chỉ có Dân có ý kiến nhận xét, phản bác, đòi hỏi này nọ là sai, là thế lực thù địch!

Mỗi mùa đại hội đảng là một lần người dân bị tước quyền công dân. Bỏ phiếu bầu người lãnh đạo đất nước là quyền công dân quan trọng nhất, tối cao nhất, là cách duy nhất người Dân sử dụng quyền lực của mình. Mỗi mùa đại hội đảng, những vị trí lãnh đạo đất nước từ trung ương đến địa phương lại được đảng mang ra chia chác trong nội của đảng. Người Dân mất quyền bầu chọn người thay mặt mình quản lí đất nước, điều hành xã hội.

Mùa đại hội đảng năm nay, người Dân lại được chứng kiến những người cộng sản đang hối hả học bài học giữ ngôi của các vương triều phong kiến. Cha truyền con nối của vương triều là để giữ ngôi vua. Cha truyền con nối chiếc ghế quyền lực của những người cộng sản hôm nay là để giữ đảng. Con thay cha giữ những chiếc ghế quyền lực đảng trao không phải chỉ để giữ lợi ích, bổng lộc do chiếc ghế mang lại cho bản thân, cho gia đình mà còn để quyết giữ đảng. Vì nhờ có đảng mà cha con, ông cháu nhà ta và các thế hệ chắt, chút, chít về sau mới có chiếc ghế cai trị Dân đầy quyền lực và dày bổng lộc đó. Vì thế cha truyền con nối để giữ đảng đến cùng.

Tóm lại, công thức giữ đảng của đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng là: Còng Công An + Súng Quân Đội + Mật vụ Tàu Cộng + Dòng Máu Đảng Cha Truyền Con Nối. Cả bốn thành tố này đều bất chính và vô cùng nguy hại cho Dân cho nước.

Một chính đảng phải nhờ những điều bất chính để tồn tại là đã tự đào thải, tự kết thúc sứ mạng lịch sử trong bi hài, tự kết thúc số phận trong tội lỗi với dân tộc, với lịch sử.

P.Đ.T

Một số thủ đoạn gần đây của an ninh

Một số thủ đoạn gần đây của an ninh

Thanh Hieu Bui·20 Tháng 11 2015

Sau chuyến đi thăm Hoa Kỳ của Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam đã xích lại gần Hoa Kỳ hơn. Hiệp định TPP được ký kết, lệnh cấm vũ khí sát thương được dỡ bỏ, ngoài biển Đông hải quân Hoa Kỳ có những động thái bác bỏ quyền tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.

Không khó khăn gì để nhìn thấy Việt Nam thay đổi rất nhiều trong quan hệ đối ngoại từ sau chuyến đi Hoa Kỳ của ông TBT Nguyễn Phú Trọng. Tất nhiên để có những thay đổi này, phải có sự chuẩn bị từ trước rất lâu. Không phải để đến chuyến đi của ông Trọng nó mới diễn ra được. Có hàng vô số cuộc gặp gỡ, sắp đặt ngầm trước đó giữa CSVN với Hoa Kỳ. Chuyến đi của ông Trọng như là một bản ký kết chính thức để mọi việc đi vào khởi động.

Vì sao lại tổng thống Hoa Kỳ lại tiếp TBT của Đảng CSVN. Giá như ông Trọng là chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội hay thủ tướng thì chẳng có gì phải thắc mắc. Nhưng ở đây ông Trọng đến Hoa Kỳ trên tư cách là tổng bí thư đảng CSVN, đó mới là điều đáng bàn.

Sở dĩ Hoa Kỳ tiếp ông Trọng, là muốn đưa thông điệp Hoa Kỳ sẵn sàng làm bạn với ĐCSVN. Điều đó khiến cho hơn 3 triệu đảng viên Việt Nam cảm thấy yên tâm và mát mặt. Việc tiếp thế cũng có nghĩa Hoa Kỳ không dựng đảng phái nào để chống phá đảng CSVN, nếu như ĐCSVN và Hoa Kỳ qua hệ tốt đẹp như đang có.

ĐCSVN sợ nhất khi tham gia TPP và quan hệ sâu sắc với Hoa Kỳ sẽ phải chịu những đòi hỏi về quyền lợi lao động, quyền con người, cải cách pháp luật, tự do ngôn luận. Cải thiện việc đó sẽ tạo cho những lực lượng đối lập với CSVN có cơ hội phát triển mạnh hơn. Trước diễn biến của tình hình thực tế khi quan hệ với Hoa Kỳ và hội nhập thương mại TPP. Việt Nam đứng trước hai vấn đề cần đối phó để duy trì sự cai trị của mình.

Thứ nhất là được Hoa Kỳ chính thức công nhân là lực lượng lãnh đạo ở Việt Nam. Chính vì vậy việc Hoa Kỳ tiếp TBT ĐCVN Nguyễn Phú Trọng gần như là một lời hứa ngầm Hoa Kỳ đảm baỏ điều đó.

Vấn đề thứ hai là ĐCSVN phải xử lý các đảng phái, nhóm xã hội dân sự ở trong và ngoài nước thế nào để các đảng phái, nhóm xã hội dân sự này mất uy tín, tan rã và suy yếu. Cái khó để xử lý việc này là ĐCSVN phải hạn chế dùng đến những điều luật như 79, 88, 258 để áp dụnglàm suy yếu các đảng, nhóm khác. Đây là những điều luật vốn dĩ trước kia được ĐCSVN áp dụng thường xuyên để triệt hạ các đảng phái, nhóm xã hôi dâ sự mà họ coi là đối thủ của họ. Nhưng các điều luật này lại bị quốc tế , đặc biệt là Hoa Kỳ lên án gay gắt. Bởi vậy thế mạnh sở trường dùng các điều luật này để bắt người vô tội vạ như trước sẽ không còn hữu hiệu. Hiện nay mật độ bắt giữ những người khép vào các tội 79, 88, 258 của bộ luật hình sự Việt Nam đã giảm đi rất nhiều so với những năm trước.

Để xử lý các đảng phái, nhóm xã hôi dân sự mà không để lại dấu vết, bằng chứng cho quốc tế lên án. An ninh Việt Nam đã thay đổi phương cách tấn công các đảng phái, nhóm xã hội dân sự từ cách bắt bớ theo các điều trên thành những hành động bỉ ổi chẳng hạn như cho công an , an ninh đóng giả làm côn đồ, hoặc sử dụng côn đồ thật để tấn công vũ lực vào những người đấu tranh dân chủ, những nhà hoạt động nhân quyền, những người bất đồng chính kiến. Đây là lý do giải thích cho hiện tượng vì sao gần đây các trường hợp bắt bớ theo điều 79, 88. 258 ít đi so với các năm trước, nhưng hiện tượng côn đồ, an ninh giả dạng dân thường tấn công những nhà đấu tranh tăng đột biến với mật độ dày dặc. Sử dụng biện pháp tấn công vũ lực này, CSVN không để lại bằng chứng rằng họ đã làm, đã thế họ gọi đó là do các người dân thấy bức xúc nên đã tấn công những người đấu tranh kia, lý do bức xúc là những người dân cảm thấy những người đấu tranh là phá hoại an ninh xã hội, cuộc sống bình yên. Việc đổ vấy cho dân chúng sẽ làm cộng sản VN không phải đối mặt với những lời chỉ trích trên các bàn nghị sự quốc tế, vì việc trưng ra được bằng cớ an ninh Việt Nam tổ chức hay tham gia các vụ đánh người như vậy rất khó khăn. Mặt khác được nữa là CSVN càng có cớ giải trình rằng tình trạng người dân không đồng tình với đa đảng rất lớn, nếu để nới rộng các quyền về tự do dân chủ thì sẽ dẫn đến nhưng xung đột đẫm máu của các hệ ý thức trong người dân.

Việc dung túng và ngầm xúi dục bọn Dư Luận Viên, đoàn viên đóng mác người dân phẫn nộ đi tấn công, chửi bới người đấu tranh được diễn ra thường xuyên hơn. Mục đích nhằm để phụ hoạ lý do dân chúng Việt Nam sẽ xung đột nếu tăng tốc độ nới lỏng về tự do. Song song với những thủ đoạn khiêu khích , tấn công trên, thì CSVN áp dụng những điều luật hình sự chẳng hạn như tội gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, cố y gây thương tích, vu khống người thi hành công vụ để bổ trợ. Ví dụ trong khi dư luận viên đến khiêu khích những người đấu tranh, đẩy họ phải lời qua tiếng lại thì công an ngay lập tức sẽ mượn cớ gửi giấy triệu tập người đấu tranh đến cơ quan công an để xét hỏi về tội gây rối trật tự. Hoặc nếu người đấu tranh bị đánh đập mà có phản ứng chống đỡ sẽ quy kết tội cố ý gây thương tích, các bác sĩ theo lệnh công an sẽ giảm mức độ chấn thương của người đấu tranh dân chủ xuống và ngược lại thì tăng mức độ chấn thương của bọn khiêu khích, côn đồ , an ninh lên mức độ trầm trọng, nhằm đủ yếu tố quy kết bắt bỏ tù người đấu tranh. Ở các trường hợp này, nếu người đấu tranh phẫn uất chỉ rằng công an đứng sau bênh vực bọn côn đồ . Họ sẽ bị quy kết là vu khống cán bộ, người thi hành công vụ.

Sử dụng côn đồ, dư luận viên dưới chiêu bài là quần chúng nhân dân bức xúc, kết hợp với những điều luật không nằm trong chương an ninh quốc gia là những thủ đoạn của CSVN gần đây nhằm trấn áp những người đấu tranh mà quốc tế khó tìm bằng chứng để chỉ trích.

Song song với thủ đoạn trên, một thủ đoạn nữa tinh vi hơn là là lợi dụng sự mâu thuẫn, đố kỵ của các phe nhóm, đảng phái để khiến các đảng phái, phe nhóm tự đấu đá, triêt hạ lẫn nhau. Trong biện pháp này thì internet là công cụ hiệu quả để làm mặt trận cho các đảng phái, phe nhóm triệt hạ nhau. Một sự thật cần phải khẳng định là dù chưa có sự tác động của CSVN thì những đảng phái, phe nhóm vốn dĩ đã có mâu thuẫn. Đây là sự khách quan của xã hội dân sự, đa nguyên. Nhưng có sự can thiệp của CSVN vào thì yếu tố tiến bộ đó trở thành tiêu cực. Lợi dụng sự nhỏ nhen, đố kỵ, sự phân hoá, thù hằn để dùng cá nhân đánh tổ chức, dùng tổ chức nhỏ đánh tổ chức lớn, gây tan rã và chia rẽ phong trào đấu tranh dân chủ là một giáo trình được nghiên cứu khoa học của an ninh Việt Nam.

Trong tương lai gần vì những đòi hỏi khi hội nhập với quốc tế , CSVN phải để cho các nhóm xã hội dân sự, hội đoàn được hoạt động. Bên cạnh những thủ đoạn nêu trên để trấn áp các đảng phái, nhóm xã hội dân sự bất đồng với mình để các nhóm này suy yếu. Đảng CSVN còn phải thành lập những hội đoàn, nhóm do mình giật dây để hoạt động trá hình cho có vẻ dân chủ, phù hợp với yêu cầu của quốc tế. Những đảng phái, nhóm xã hội dân sự bất đồng với CSVN gặp nhiều khó khăn, họ vừa phải chống đỡ sự tấn công bằng côn đồ của an ninh Việt Nam, các điều luật hình sự như gây rối trật tự công cộng, vu khống cán bộ. Mặt khác họ phải đối diện với những tấn công từ ngay những tổ chức khác cũng như họ. Cuối cùng họ phải cạnh tranh trên thế yếu và đầy bất công với những tổ chức, nhóm do cộng sản Việt Nam lập ra đứng đằng sau giật dây.

Như vậy, tới đây xã hội Việt Nam sẽ có một phần của dân chủ. Nhưng đó là dân chủ bánh vẽ , trá hình, dân chủ trên khái niệm. Nếu tất cả mọi sự vẫn diễn ra đều đều trong những khuôn khổ mà an ninh CSVN đã tính trước và có cách đối phó được như trên. Phải trải qua thời gian dài đến cả thập kỷ nữa Việt Nam mới có hy vọng dân chủ, văn minh, tiến bộ thực sự.

Vụ bắt giữ trái pháp luật với luật sư Trần Vũ Hải, nhớ lại cuộc cách mạng Lybia.

Vụ bắt giữ trái pháp luật với luật sư Trần Vũ Hải, nhớ lại cuộc cách mạng Lybia.

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2015.

Ls Nguyễn Văn Đài

Tội ác, bất công, sách nhiễu trong các chế độ độc tài chỉ chấm dứt khi chế độ đó được thay đổi. Tức là nếu chúng ta không muốn cho tội ác và bất công tiếp tục xảy ra thì chúng ta phải đứng lên đấu tranh để thay đổi xã hội.

Nhân dịp vụ luật sư Trần Vũ Hải bị bắt giữ trái pháp luật, chúng ta cùng nhìn lại cuộc cách mạng của Nhân dân Lybia.

Cuộc cách mạng của người dân Libya vùng lên đòi lật đổ chế độ Kadhafi khởi phát từ vụ cảnh sát bắt giam Fathi Tirbil, một luật sư quả cảm luôn đứng về phía những người dân oan, đòi công lý và sự thật. Câu chuyện được đặc phái viên của báo Le Monde tại Libya kể lại:

Tất cả bắt đầu vào buổi chiều ngày 15 tháng 2 năm 2011, khi mà 23 nhân viên có vũ trang của lực lượng an ninh Libya ập đến nhà bắt vị luật sư Fathi Tirbil, 38 tuổi tại Benghazi. Trong vòng 18 tiếng đồng hồ sau đó, một số các đồng nghiệp và những nhà họat động nhân quyền biết tin đã kéo đến trụ sở cảnh sát, đòi phải giải thích về sự việc bắt giữ Fathi Tirbil.

Tiếp sau đó hàng trăm người dân khác cũng đổ về trước nơi giam giữ biểu thị tình đoàn kết với vị luật sư vì dân của mình. Qua mạng Facebook, người dân đã kêu gọi tập hợp biểu tình toàn quốc. Chính quyền lo ngại và nghi ngờ anh là người xúi dục dân chúng, nên đã yêu cầu luật sư đứng ra kêu gọi dân chúng ngừng biểu tình. Đe dọa không thành và bị sức ép cuối cùng cảnh sát đành thả Fathi Tirbil vào ngày 16 tháng 2.

Ngày hôm sau đó phong trào bắt đầu lan rộng ra khắp cả nước Libya và kéo dài cho đến khi chế độ Kadhafi bị lật đổ. Tác giả bài báo kết luận, Fathi Tirbil là người đã mở ra con đường mà theo đó phẩm giá của con người được trỗi dậy mạnh mẽ hơn là nỗi sợ hãi.

Đặc phái viên của báo Le Monde cho biết thêm luật sư Fathi là một con người có lý tưởng, một người bình dị nuôi dưỡng bên trong một niềm khát khao vì công lý. Fathi Tirbil đã từng 5 lần bị cảnh sát Libya bắt và đánh đập. Anh suy nghĩ, cách duy nhất để đối mặt với chế độ độc tài này là bằng luật pháp.

Quay trở lại với vụ bắt giữ trái pháp luật đối với luật sư Trần Vũ Hải ngày 12 tháng 11.

Trong những năm qua, luật sư Trần Vũ Hải và một số luật sư khác như Trần Thu Nam và Hà Huy Sơn,…, đã tham gia bảo vệ cho những người hoạt động nhân quyền trong các vụ án chính trị, bảo vệ cho dân oan. Mặc dù tiếng nói của các luật sư chưa thay đổi được các bản án bỏ túi của  hội đồng xét xử, bởi chính hội đồng xét xử cũng không quyền thay đổi. Nhưng các nỗ lực, cố gắng của các luật sư đã được người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước, cộng đồng quốc tế ghi nhận. Luật sư Trần Vũ Hải và các đồng nghiệp của ông đã trở thành chỗ dựa pháp lý, tinh thần cho những người hoạt động nhân quyền và các tổ chức XHDS độc lập.

Luật sư Trần Vũ Hải đã nhận được sự yêu mến, ngưỡng mộ và ủng hộ rất lớn từ những người dân bị áp bức, bị bất công trong xã hội. Bởi vậy, khi sự việc bắt giữ trái pháp luật xảy ra với luật sư Trần Vũ Hải. Hàng chục đồng nghiệp của ông đã tới công an phường Xuân La để bày tỏ sự ủng hộ. Tiếp theo là hàng trăm dân oan từ các địa phương cùng với hàng chục nhà hoạt động nhân quyền, hoạt động môi trường và xã hội đã tới để phản đối công an bắt người trái pháp luật, và bảy tỏ sự ủng hộ với luật sư Trần Vũ Hải. Điều này đã khiến lực lượng công an lúng túng và phải trả tự do cho ông.

Những lời kêu gọi mọi người tới ủng hộ luật sư Trần Vũ Hải đã được đưa lên mạng xã hội Facebook. Nếu như Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, những người đang sử dụng Facebook cũng như các trang mạng xã hội khác ý thức được trách nhiệm của mình với sự thay đổi của đất nước. Khi họ thấy những lời kêu gọi trên Facebook, hàng ngàn người tới cùng tham dự với các luật sư, những người hoạt động nhân quyền và XHDS tại đồn công an Xuân La. Hoặc họ tập hợp để ủng hộ tại địa phương của họ. Tôi tin là đất nước Việt Nam sẽ thay đổi và chuyển mình sang dân chủ chỉ sau một đêm.

Vụ bắt giữ trái pháp luật đối với luật sư Trần Vũ Hải của an ninh Việt Nam giống như vụ bắt giữ trái pháp luật đối với luật sư Fathi Tirbil của an ninh Lybia. Nhưng sự khác nhau là giới luật sư của Lybia, những người hoạt động nhân quyền và Nhân dân Lybia đã tận dụng tốt cơ hội để tiến hành thành công cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài Kadhafi. Còn giới luật sư, những người hoạt động nhân quyền và Nhân dân Việt Nam chưa làm được điều đó.

Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn may mắn, nhưng may mắn sẽ không còn đến với họ quá nhiều lần nếu tội ác và bất công vẫn tiếp tục xảy ra trên đất nước vốn đã trải qua quá nhiều đau thương này.

Tất cả chúng ta, những người Việt Nam yêu tự do, dân chủ, hòa bình và công lý hãy chuẩn bị và sẵn sàng cho những sự kiện tới đây để có thể thay đổi đất nước của mình. Cần phải chấm dứt tội ác và bất công, độc tài trên đất nước Việt Nam yêu quí của chúng ta.

Dạy môn “Công dân và Tổ quốc”, nhưng Tổ quốc tên là gì?

Dạy môn “Công dân và Tổ quốc”, nhưng Tổ quốc tên là gì?

Hà Sỹ Phu

21-11-2015

Ảnh: Thí sinh thi Sử, một mình một hội đồng thi! Nguồn: internet

Ảnh: Thí sinh thi Sử, một mình một hội đồng thi! Nguồn: internet

Xuất thân là một thày giáo phổ thông, rồi giảng viên đại học, rồi viết về những vấn đề chính trị xã hội, tôi rất quan tâm đến cuộc tranh luận quyết liệt về xử lý môn học Lịch sử hiện nay.

Phía cơ quan chủ quản tức Bộ Giáo dục thì bảo vệ cho quan điểm cần “tích hợp” môn Lịch sử chung với 2 môn khác thành môn học “Công dân và Tổ quốc”, trong khi hầu hết các trí thức trong nước, ngoài bộ phận chủ quản nói trên, đều nói rằng làm như vậy thì “Thực chất là xoá bỏ môn Lịch sử trong nền giáo dục phổ thông” , đây “là một việc làm không đúng, cần phải kiên quyết loại bỏ. Phải nghiên cứu lại một cách nghiêm túc với sự tham gia trực tiếp của các nhà khoa học”, “chương trình này sẽ dẫn đến hệ lụy làm “teo” môn lịch sử trong trường phổ thông, lớp trẻ không còn biết sự hy sinh của các bậc tổ tiên để có đất nước như ngày hôm nay”…(1)
1/ Ý kiến đã nhiều nhưng nỗi lo chưa hết

Trên công luận thì ý kiến trái chiều với Bộ Giáo dục tỏ ra áp đảo, nhưng đừng vội mừng, kinh nghiệm cho biết trong cơ chế vận hành hiện nay những ý kiến “trái chiều” dù có tình có lý rõ ràng, dù có lợi cho dân cho nước cũng “không là cái đinh gì” khi “Trên” đã quyết định, khi đã là chủ trương lớn của ĐCSVN, (và người ta có lý do để nghi ngờ, nếu điều này có bàn tay của Trung quốc thì thật khó thoát ra như cái gông 16 chữ vàng rất êm ả mà tai quái). Vậy tuy đã có rất nhiều lời phân tích xác đáng song mối lo ngại bị “teo” dần môn Sử Việt vẫn không được phép nguôi ngoai, cho tới khi nào nguyện vọng chính đáng của nhân dân, mà đại diện là giới trí thức độc lập, được thành hiện thực.

2/ Ý nghĩa đặc biệt của môn Sử Việt và môn Sử Đảng:

Ý nghĩa chung thì đã rõ, mỗi dân tộc đều “lớn lên thành người” theo một quá trình riêng của dân tộc mình, quên cái quá khứ cụ thể ấy là lấy đi cái nền phát sinh sinh của con người, thì dân tộc ấy như người bị chặt cụt 2 chân, chỉ ngồi trên xe lăn để người ta đưa đẩy đi đâu cũng được. Không còn biết mình là ai thì mất hết sức mạnh tự thân.

Không ít người ngộ nhận, tưởng đang cùng thế giới chia sẻ những giá trị văn minh kỹ thuật hiện đại như nhau thì có nghĩa mọi dân tộc đã ngang hàng với nhau. Thực ra, cái tầm vóc NGƯỜI , đẳng cấp NGƯỜI tức cái hồn NGƯỜI bên trong vẫn có thể khác nhau nhiều lắm. Tầm vóc NGƯỜI là kết quả được tạo ra từ một quá trình lịch sử lâu dài và gắn chặt với một cộng đồng xác định gọi là Dân tộc.

Vậy trong trường hợp cộng đồng dân tộc Việt Nam, đặc điểm lịch sử quan trọng nhất là gì?

– Trong QUÁ KHỨ , VN là một dân tộc thuần hậu, đã còn nhiều lạc hậu lại phải sống cạnh một nước láng giềng khổng lồ đầy tham vọng và thâm hiểm. Nhưng dù có nền văn hóa rất gần nhau mà sau 1000 năm đô hộ, kẻ khổng lồ gian ác vẫn không đồng hóa được nước nhò này, giang sơn gấm vóc Việt Nam vẫn nguyên vẹn. Lịch sử Việt Nam ( gọi tắt là Sử Việt để phân biệt với môn Sử Đảng) chủ yếu là Lịch sử chống xâm lược Tàu, qua đó khẳng định một Dân tộc có sức sống và khả năng thích nghi mãnh liệt.

– Nhưng trong Lịch sử HIỆN TẠI tức mấy chục năm gần đây Việt Nam gặp một bước ngoặt bất ngờ. Kẻ thù cũ có dịp quay trở lại, nhờ tận dụng được một cơ hội mới quý như vàng, đó là Ảo tưởng Cộng sản đã nhốt chung con sói và bày hươu vào chung một chuồng, cái chuồng sơn son rất đẹp có tên “đại gia đình Xã hội chủ nghĩa, bốn phương Vô sản đều là anh em”.

Đã là XHCN thì mọi việc cứ do hai ĐCS ngồi với nhau quyết định, trong đó thế bất lợi luôn thuộc về cái ĐCS nhỏ và chịu ơn. Còn nhân dân bị trị thì bị nền CS toàn trị tước hết mọi vũ khí tinh thần và vật chất và khóa chặt, không còn điều kiện tối thiểu để tự đứng lên làm một sự nghiệp gì. Sự hỗ trợ quốc tế thì bị hạn chế tối đa bởi chủ trương chỉ đối thoại song phương, không chấp nhận nước thứ ba can dự và trì hoãn việc kiện ra Liên hiệp quốc. Nước nhỏ mà thực hiện ba điều ấy thì khác nào tạo “điều kiện cần và đủ để cho địch nhất định thắng-ta nhất định thua” như dọn cỗ cho kẻ xâm lược. Giai đoạn Lịch sử ngắn ngủi này là thời gian của Sử Đảng, tuy được viết rất hùng tráng song chính là giai đoạn làm cho Việt Nam chịu ơn Trung quốc, thất thế trước Bành trướng Đại Hán và rước họ trở lại.

Nay trước vận nước lâm nguy, đúng lúc phải tăng cường Sử Việt để sống lại tinh thần Thoát Trung, và sửa những sai lầm của giai đoạn Sử Đảng đã giúp Đại Hán cơ hội trở lại thì giới cầm quyền Việt Nam đã khéo léo làm toàn những điều ngược lại: lấy cớ “giảm tải cho học sinh” để giảm dần Sử Việt truyền thống, đồng thời tăng cường môn Sử Đảng bằng mọi phương tiện, thử hỏi như vậy thì có lợi cho giặc hay có lợi cho dân tộc ta? Nếu có một tên Thái thú Tàu thì nó cũng chỉ mong làm được như vậy.

Còn nhớ hồi ông Lê Khả Khiêu đang làm Tổng Bí thư, có đoàn đại biểu Trung quốc sang thăm, trao đổi về những vấn đề lý luận. Phía Việt Nam nói ĐCS Trung quốc đảm nhiệm phần lý luận, VN chỉ nhiều kinh nghiệm thực hành. Phía Trung quốc nói VN cần sửa lại Lịch sử của mình !

Theo ý Trung Quốc, Việt Nam chỉ là “đứa con hoang” cần trở về với mẹ thì những trang sử oanh liệt chống ngoại xâm của Lê Lợi, Hưng Đạo, Quang Trung…chẳng qua chỉ còn là những vụ phản loạn của địa phương, như bọn giặc có nổi lên chống lại chính quyền Trung ương chứ có gì khác?

Dã tâm gian ác của giặc Bành trướng Đại Hán đã nằm trong gien của họ, đấy là việc của họ. Nhưng những người cùng được mang dòng máu Việt của những anh hùng cứu quốc trong Sử Việt mà nay bị cái “đại cục Ý thức hệ đầy lợi quyền lừa đảo” cuốn đi, cúi mặt làm tay sai, làm nhục tổ tiên thì sao mà tha cho được? Họ chỉ lo cho Đại Hán khi thấy tâm lý người Việt ghét xâm lược Tàu, họ hứa với Tàu sẽ đàn áp những cuộc biểu tình yêu nước, họ hứa sẽ sửa những trang lịch sử oanh liệt chống giặc Tàu…Chương trình “tích hợp” môn lịch sử kiểu này khác nào tiếp tục triển khai mật ước phục vụ ý đồ của giặc xâm lăng? Liệu có oan không, khi nhớ rằng ông Bộ trưởng bảo vệ cái đề án xóa nhòa môn Sử Việt này cũng chính là người mấy năm trước đã ra lệnh cấm học sinh sinh viên tham gia biểu tình yêu nước đấy! Chẳng có gì là ngẫu nhiên cả.

3/ Tích hợp thành môn “Công dân và Tổ quốc” gây hiệu quả tốt hay xấu?

Tích hợp kiểu này, môn Sử Việt sẽ bị phá nát

Có sự tích hợp là tốt, có sự tích hợp là xấu, tùy theo tính chất và tương tác của các môn hợp phần. TS Vũ Thị Phương Anh cho biết khi giảng về chủ đề “người dân tộc thiểu số ở VN“, trong đó tích hợp luôn cả lịch sử, cả địa lý, và cả văn hóa vào nữa. Đó là ví dụ về sự tích hợp tốt làm tăng hiệu quả. Sự tích hợp có nhiều mức độ, có khi chỉ cần bổ sung hay minh họa bằng những bài đọc thêm kẻm theo bài chính.

Nhưng sự tích hợp môn Sử Việt với hai môn Giáo dục công dân và An ninh quốc phòng cho ta ví dụ ngược lại, nó sẽ “phá nát” môn Sử Việt (như lời GS Đỗ Thanh Bình – nguyên Chủ nhiệm khoa Lịch sử, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội). Bản thân môn Lịch sử (Sử Việt) với tư cách là một khoa học và ổn định, nhưng hiện nay đã bị nhiễm “tính Đảng”, bị chính trị hóa khá nhiều rồi (và đó là một nguyên nhân khiến môn Lịch sử bị áp đặt và khô khan), đã thế bây giờ lại ghép vào hai môn Giáo dục công dân và An ninh quốc phòng là hai môn gắn chặt với thể chế chính trị trước mắt, chứa đầy “đảng tính” là yếu tố chính trị nhất thời, thì Lịch sử sẽ bị băm nát và biến tính ra sao, thiết nghĩ có thể biết trước.

Nếu chỉ vì tâm lý học sinh chán môn Sử mà phải tinh giảm thì còn đâu là chuẩn mực sư phạm? Lỗi không ở học sinh, không ở bản thân môn học, mà ở nội dung áp đặt chủ quan vô lý và người truyền đạt vô hồn.

Vướng ngay từ cái tên môn học

Việc “tích hợp” môn Sử Việt này vào một môn chung bị vướng ngay từ cái tên của môn chung đó: Công dân và Tổ quốc! Tổ quốc tên là gì vậy? Người dân Việt nào cũng hiểu đây là Tổ quốc Việt Nam, thế thôi. Nhưng xin thưa không phải thế, ĐCSVN đã đổi tên chính thức cho Tổ quốc là Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, nhiều khi chỉ gọi tắt là Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa. Tổ quốc có kèm một tính ngữ để định hướng, để đừng lầm với cái Tổ quốc cổ truyền. Tổ quốc cũng phải mang “tính Đảng”, phải chính trị hóa.

Trong bài ”Đôi điều suy nghĩ của một công dân” (1993) tôi đã viết như sau:

“Vượt lên trên mọi sự tranh giành giai cấp, vượt qua mọi thể chế, Tổ quốc chúng ta bao giờ cũng là Tỏ quốc Việt Nam thôi! Ta gọi những đồng bào ta ở nước ngoài muốn đem sức người sức của về xây dựng đất nước là ‘Việt kiều yêu nước’ nhưng họ có yêu Chủ nghĩa Xã hội đâu? Nếu ta chuyển cả Tổ quốc thành ‘Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa’ thì những đồng bào yêu nước ấy còn đâu nước để mà yêu? Tôi tin rằng sẽ có ngày chúng ta làm lễ trả lại ‘tên khai sinh’ cho Tổ quốc là Tổ quốc Việt Nam, thì sức mạnh của Người sễ tăng lên gấp bội, những con dân nước Việt sẽ rưng rưng nước mắt, nắm chặt lấy tay nhau mà reo hò.”

Phẩm chất người thày quyết định hiệu quả môn học

Tổng số tiết dạy tất nhiên là một yếu tố quan trọng nhưng nội dung giảng dạy và phẩm chất người thày quan trọng hơn nhiều. Nội dung môn học thì đã như trên phân tích. Phẩm chất người thày thì sao? Bên cạnh phương pháp, kỹ năng truyền đạt thì quan điểm, tư tưởng, nhiệt tâm và nhân cách của người thày là yếu tố quyết định. Người thày hiện nay ra sao, họ phải là những “cán bộ giáo dục của Đảng”, phẩm chất đầu tiên là không được có ý kiến khác với Đảng, nếu có sẽ bị loại trừ ngay. Nhà trường là nơi bị quản lý chính trị rất chặt, trong những trí thức có tư tưởng dân chủ tiến bộ, dám lên tiếng phản biện lâu nay hỏi có được mấy người là các nhà giáo? Các nhà giáo bị nhiễm độc CS (một cách tự nguyện hay bắt buộc) lại đứng trên bục, giảng cái gọi là môn Lịch sữ đã “tích hợp” bị nhiễm độc nặng nề thì nạn nhân là những người bị nuốt những thức ăn tinh thần độc hại đó là những con em chúng ta, những chủ nhân tương lai của đất nước sẽ bị nhiễm độc hàng loạt, sẽ chết từ từ cả về trí tuệ và tâm hồn, đến lượt họ lại thành những người thày đi gieo chất độc thì xã hội chỉ còn là con thuyền lạc bến, buông trôi theo mật ước Thành Đô.

                                                                  ***

Để dứt lời, xin các thày giáo cô giáo, những đồng nghiệp của tôi miễn thứ cho tôi nếu có những lời làm quá đau lòng đồng nghiệp trước cái “đại cục” nhức nhối cho tương lai của giống nòi mình. Nhưng cũng thật mừng trong cuộc tranh luận về môn Sử Việt này, nhiều thày giáo cô giáo đã không thể im lặng, đã lên tiếng phản biện quyết liệt. Thương trò, thương mình và thương Dân tộc. Xin trích lời của Phó Gíáo Sư Vũ Quang Hiển (Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) làm một ví dụ:

Cắt ghép và xuyên tạc lịch sử vốn là cách làm của những người muốn bôi nhọ lịch sử dân tộc và nhân loại. Ngày càng có nhiều công bố trên phương tiện thông tin đại chúng làm lung lạc tinh thần thế hệ trẻ Việt Nam bằng cách lắp ghép và xuyên tạc lịch sử theo một logic chủ quan đã định trước, nhưng lại núp bóng “cách nhìn mới” về lịch sử. Vì vậy, việc giáo dục lịch sử thiếu tính hệ thống và toàn diện sẽ đặt thế hệ trẻ Việt Nam đứng trước hiểm họa thấy rõ.”

                                                                                      H.S.P.

20 – 11 – 2015

(1) Tham khảo

http://nld.com.vn/giao-duc-khoa-hoc/bo-mon-lich-su-se-gay-hoa-kho-luong-20151106211528458.htm

http://m.vietnamnet.vn/vn/giao-duc/273281/cuoc-hoi-thao-chua-tung-co-ve-mon-lich-su.html

https://www.danluan.org/tin-tuc/20151117/tranh-cai-ve-viec-bo-mon-lich-su-trong-truong-hoc#sthash.BodkZwBa.dpuf