Một số thủ đoạn gần đây của an ninh

Một số thủ đoạn gần đây của an ninh

Thanh Hieu Bui·20 Tháng 11 2015

Sau chuyến đi thăm Hoa Kỳ của Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam đã xích lại gần Hoa Kỳ hơn. Hiệp định TPP được ký kết, lệnh cấm vũ khí sát thương được dỡ bỏ, ngoài biển Đông hải quân Hoa Kỳ có những động thái bác bỏ quyền tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.

Không khó khăn gì để nhìn thấy Việt Nam thay đổi rất nhiều trong quan hệ đối ngoại từ sau chuyến đi Hoa Kỳ của ông TBT Nguyễn Phú Trọng. Tất nhiên để có những thay đổi này, phải có sự chuẩn bị từ trước rất lâu. Không phải để đến chuyến đi của ông Trọng nó mới diễn ra được. Có hàng vô số cuộc gặp gỡ, sắp đặt ngầm trước đó giữa CSVN với Hoa Kỳ. Chuyến đi của ông Trọng như là một bản ký kết chính thức để mọi việc đi vào khởi động.

Vì sao lại tổng thống Hoa Kỳ lại tiếp TBT của Đảng CSVN. Giá như ông Trọng là chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội hay thủ tướng thì chẳng có gì phải thắc mắc. Nhưng ở đây ông Trọng đến Hoa Kỳ trên tư cách là tổng bí thư đảng CSVN, đó mới là điều đáng bàn.

Sở dĩ Hoa Kỳ tiếp ông Trọng, là muốn đưa thông điệp Hoa Kỳ sẵn sàng làm bạn với ĐCSVN. Điều đó khiến cho hơn 3 triệu đảng viên Việt Nam cảm thấy yên tâm và mát mặt. Việc tiếp thế cũng có nghĩa Hoa Kỳ không dựng đảng phái nào để chống phá đảng CSVN, nếu như ĐCSVN và Hoa Kỳ qua hệ tốt đẹp như đang có.

ĐCSVN sợ nhất khi tham gia TPP và quan hệ sâu sắc với Hoa Kỳ sẽ phải chịu những đòi hỏi về quyền lợi lao động, quyền con người, cải cách pháp luật, tự do ngôn luận. Cải thiện việc đó sẽ tạo cho những lực lượng đối lập với CSVN có cơ hội phát triển mạnh hơn. Trước diễn biến của tình hình thực tế khi quan hệ với Hoa Kỳ và hội nhập thương mại TPP. Việt Nam đứng trước hai vấn đề cần đối phó để duy trì sự cai trị của mình.

Thứ nhất là được Hoa Kỳ chính thức công nhân là lực lượng lãnh đạo ở Việt Nam. Chính vì vậy việc Hoa Kỳ tiếp TBT ĐCVN Nguyễn Phú Trọng gần như là một lời hứa ngầm Hoa Kỳ đảm baỏ điều đó.

Vấn đề thứ hai là ĐCSVN phải xử lý các đảng phái, nhóm xã hội dân sự ở trong và ngoài nước thế nào để các đảng phái, nhóm xã hội dân sự này mất uy tín, tan rã và suy yếu. Cái khó để xử lý việc này là ĐCSVN phải hạn chế dùng đến những điều luật như 79, 88, 258 để áp dụnglàm suy yếu các đảng, nhóm khác. Đây là những điều luật vốn dĩ trước kia được ĐCSVN áp dụng thường xuyên để triệt hạ các đảng phái, nhóm xã hôi dâ sự mà họ coi là đối thủ của họ. Nhưng các điều luật này lại bị quốc tế , đặc biệt là Hoa Kỳ lên án gay gắt. Bởi vậy thế mạnh sở trường dùng các điều luật này để bắt người vô tội vạ như trước sẽ không còn hữu hiệu. Hiện nay mật độ bắt giữ những người khép vào các tội 79, 88, 258 của bộ luật hình sự Việt Nam đã giảm đi rất nhiều so với những năm trước.

Để xử lý các đảng phái, nhóm xã hôi dân sự mà không để lại dấu vết, bằng chứng cho quốc tế lên án. An ninh Việt Nam đã thay đổi phương cách tấn công các đảng phái, nhóm xã hội dân sự từ cách bắt bớ theo các điều trên thành những hành động bỉ ổi chẳng hạn như cho công an , an ninh đóng giả làm côn đồ, hoặc sử dụng côn đồ thật để tấn công vũ lực vào những người đấu tranh dân chủ, những nhà hoạt động nhân quyền, những người bất đồng chính kiến. Đây là lý do giải thích cho hiện tượng vì sao gần đây các trường hợp bắt bớ theo điều 79, 88. 258 ít đi so với các năm trước, nhưng hiện tượng côn đồ, an ninh giả dạng dân thường tấn công những nhà đấu tranh tăng đột biến với mật độ dày dặc. Sử dụng biện pháp tấn công vũ lực này, CSVN không để lại bằng chứng rằng họ đã làm, đã thế họ gọi đó là do các người dân thấy bức xúc nên đã tấn công những người đấu tranh kia, lý do bức xúc là những người dân cảm thấy những người đấu tranh là phá hoại an ninh xã hội, cuộc sống bình yên. Việc đổ vấy cho dân chúng sẽ làm cộng sản VN không phải đối mặt với những lời chỉ trích trên các bàn nghị sự quốc tế, vì việc trưng ra được bằng cớ an ninh Việt Nam tổ chức hay tham gia các vụ đánh người như vậy rất khó khăn. Mặt khác được nữa là CSVN càng có cớ giải trình rằng tình trạng người dân không đồng tình với đa đảng rất lớn, nếu để nới rộng các quyền về tự do dân chủ thì sẽ dẫn đến nhưng xung đột đẫm máu của các hệ ý thức trong người dân.

Việc dung túng và ngầm xúi dục bọn Dư Luận Viên, đoàn viên đóng mác người dân phẫn nộ đi tấn công, chửi bới người đấu tranh được diễn ra thường xuyên hơn. Mục đích nhằm để phụ hoạ lý do dân chúng Việt Nam sẽ xung đột nếu tăng tốc độ nới lỏng về tự do. Song song với những thủ đoạn khiêu khích , tấn công trên, thì CSVN áp dụng những điều luật hình sự chẳng hạn như tội gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, cố y gây thương tích, vu khống người thi hành công vụ để bổ trợ. Ví dụ trong khi dư luận viên đến khiêu khích những người đấu tranh, đẩy họ phải lời qua tiếng lại thì công an ngay lập tức sẽ mượn cớ gửi giấy triệu tập người đấu tranh đến cơ quan công an để xét hỏi về tội gây rối trật tự. Hoặc nếu người đấu tranh bị đánh đập mà có phản ứng chống đỡ sẽ quy kết tội cố ý gây thương tích, các bác sĩ theo lệnh công an sẽ giảm mức độ chấn thương của người đấu tranh dân chủ xuống và ngược lại thì tăng mức độ chấn thương của bọn khiêu khích, côn đồ , an ninh lên mức độ trầm trọng, nhằm đủ yếu tố quy kết bắt bỏ tù người đấu tranh. Ở các trường hợp này, nếu người đấu tranh phẫn uất chỉ rằng công an đứng sau bênh vực bọn côn đồ . Họ sẽ bị quy kết là vu khống cán bộ, người thi hành công vụ.

Sử dụng côn đồ, dư luận viên dưới chiêu bài là quần chúng nhân dân bức xúc, kết hợp với những điều luật không nằm trong chương an ninh quốc gia là những thủ đoạn của CSVN gần đây nhằm trấn áp những người đấu tranh mà quốc tế khó tìm bằng chứng để chỉ trích.

Song song với thủ đoạn trên, một thủ đoạn nữa tinh vi hơn là là lợi dụng sự mâu thuẫn, đố kỵ của các phe nhóm, đảng phái để khiến các đảng phái, phe nhóm tự đấu đá, triêt hạ lẫn nhau. Trong biện pháp này thì internet là công cụ hiệu quả để làm mặt trận cho các đảng phái, phe nhóm triệt hạ nhau. Một sự thật cần phải khẳng định là dù chưa có sự tác động của CSVN thì những đảng phái, phe nhóm vốn dĩ đã có mâu thuẫn. Đây là sự khách quan của xã hội dân sự, đa nguyên. Nhưng có sự can thiệp của CSVN vào thì yếu tố tiến bộ đó trở thành tiêu cực. Lợi dụng sự nhỏ nhen, đố kỵ, sự phân hoá, thù hằn để dùng cá nhân đánh tổ chức, dùng tổ chức nhỏ đánh tổ chức lớn, gây tan rã và chia rẽ phong trào đấu tranh dân chủ là một giáo trình được nghiên cứu khoa học của an ninh Việt Nam.

Trong tương lai gần vì những đòi hỏi khi hội nhập với quốc tế , CSVN phải để cho các nhóm xã hội dân sự, hội đoàn được hoạt động. Bên cạnh những thủ đoạn nêu trên để trấn áp các đảng phái, nhóm xã hội dân sự bất đồng với mình để các nhóm này suy yếu. Đảng CSVN còn phải thành lập những hội đoàn, nhóm do mình giật dây để hoạt động trá hình cho có vẻ dân chủ, phù hợp với yêu cầu của quốc tế. Những đảng phái, nhóm xã hội dân sự bất đồng với CSVN gặp nhiều khó khăn, họ vừa phải chống đỡ sự tấn công bằng côn đồ của an ninh Việt Nam, các điều luật hình sự như gây rối trật tự công cộng, vu khống cán bộ. Mặt khác họ phải đối diện với những tấn công từ ngay những tổ chức khác cũng như họ. Cuối cùng họ phải cạnh tranh trên thế yếu và đầy bất công với những tổ chức, nhóm do cộng sản Việt Nam lập ra đứng đằng sau giật dây.

Như vậy, tới đây xã hội Việt Nam sẽ có một phần của dân chủ. Nhưng đó là dân chủ bánh vẽ , trá hình, dân chủ trên khái niệm. Nếu tất cả mọi sự vẫn diễn ra đều đều trong những khuôn khổ mà an ninh CSVN đã tính trước và có cách đối phó được như trên. Phải trải qua thời gian dài đến cả thập kỷ nữa Việt Nam mới có hy vọng dân chủ, văn minh, tiến bộ thực sự.

Vụ bắt giữ trái pháp luật với luật sư Trần Vũ Hải, nhớ lại cuộc cách mạng Lybia.

Vụ bắt giữ trái pháp luật với luật sư Trần Vũ Hải, nhớ lại cuộc cách mạng Lybia.

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2015.

Ls Nguyễn Văn Đài

Tội ác, bất công, sách nhiễu trong các chế độ độc tài chỉ chấm dứt khi chế độ đó được thay đổi. Tức là nếu chúng ta không muốn cho tội ác và bất công tiếp tục xảy ra thì chúng ta phải đứng lên đấu tranh để thay đổi xã hội.

Nhân dịp vụ luật sư Trần Vũ Hải bị bắt giữ trái pháp luật, chúng ta cùng nhìn lại cuộc cách mạng của Nhân dân Lybia.

Cuộc cách mạng của người dân Libya vùng lên đòi lật đổ chế độ Kadhafi khởi phát từ vụ cảnh sát bắt giam Fathi Tirbil, một luật sư quả cảm luôn đứng về phía những người dân oan, đòi công lý và sự thật. Câu chuyện được đặc phái viên của báo Le Monde tại Libya kể lại:

Tất cả bắt đầu vào buổi chiều ngày 15 tháng 2 năm 2011, khi mà 23 nhân viên có vũ trang của lực lượng an ninh Libya ập đến nhà bắt vị luật sư Fathi Tirbil, 38 tuổi tại Benghazi. Trong vòng 18 tiếng đồng hồ sau đó, một số các đồng nghiệp và những nhà họat động nhân quyền biết tin đã kéo đến trụ sở cảnh sát, đòi phải giải thích về sự việc bắt giữ Fathi Tirbil.

Tiếp sau đó hàng trăm người dân khác cũng đổ về trước nơi giam giữ biểu thị tình đoàn kết với vị luật sư vì dân của mình. Qua mạng Facebook, người dân đã kêu gọi tập hợp biểu tình toàn quốc. Chính quyền lo ngại và nghi ngờ anh là người xúi dục dân chúng, nên đã yêu cầu luật sư đứng ra kêu gọi dân chúng ngừng biểu tình. Đe dọa không thành và bị sức ép cuối cùng cảnh sát đành thả Fathi Tirbil vào ngày 16 tháng 2.

Ngày hôm sau đó phong trào bắt đầu lan rộng ra khắp cả nước Libya và kéo dài cho đến khi chế độ Kadhafi bị lật đổ. Tác giả bài báo kết luận, Fathi Tirbil là người đã mở ra con đường mà theo đó phẩm giá của con người được trỗi dậy mạnh mẽ hơn là nỗi sợ hãi.

Đặc phái viên của báo Le Monde cho biết thêm luật sư Fathi là một con người có lý tưởng, một người bình dị nuôi dưỡng bên trong một niềm khát khao vì công lý. Fathi Tirbil đã từng 5 lần bị cảnh sát Libya bắt và đánh đập. Anh suy nghĩ, cách duy nhất để đối mặt với chế độ độc tài này là bằng luật pháp.

Quay trở lại với vụ bắt giữ trái pháp luật đối với luật sư Trần Vũ Hải ngày 12 tháng 11.

Trong những năm qua, luật sư Trần Vũ Hải và một số luật sư khác như Trần Thu Nam và Hà Huy Sơn,…, đã tham gia bảo vệ cho những người hoạt động nhân quyền trong các vụ án chính trị, bảo vệ cho dân oan. Mặc dù tiếng nói của các luật sư chưa thay đổi được các bản án bỏ túi của  hội đồng xét xử, bởi chính hội đồng xét xử cũng không quyền thay đổi. Nhưng các nỗ lực, cố gắng của các luật sư đã được người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước, cộng đồng quốc tế ghi nhận. Luật sư Trần Vũ Hải và các đồng nghiệp của ông đã trở thành chỗ dựa pháp lý, tinh thần cho những người hoạt động nhân quyền và các tổ chức XHDS độc lập.

Luật sư Trần Vũ Hải đã nhận được sự yêu mến, ngưỡng mộ và ủng hộ rất lớn từ những người dân bị áp bức, bị bất công trong xã hội. Bởi vậy, khi sự việc bắt giữ trái pháp luật xảy ra với luật sư Trần Vũ Hải. Hàng chục đồng nghiệp của ông đã tới công an phường Xuân La để bày tỏ sự ủng hộ. Tiếp theo là hàng trăm dân oan từ các địa phương cùng với hàng chục nhà hoạt động nhân quyền, hoạt động môi trường và xã hội đã tới để phản đối công an bắt người trái pháp luật, và bảy tỏ sự ủng hộ với luật sư Trần Vũ Hải. Điều này đã khiến lực lượng công an lúng túng và phải trả tự do cho ông.

Những lời kêu gọi mọi người tới ủng hộ luật sư Trần Vũ Hải đã được đưa lên mạng xã hội Facebook. Nếu như Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, những người đang sử dụng Facebook cũng như các trang mạng xã hội khác ý thức được trách nhiệm của mình với sự thay đổi của đất nước. Khi họ thấy những lời kêu gọi trên Facebook, hàng ngàn người tới cùng tham dự với các luật sư, những người hoạt động nhân quyền và XHDS tại đồn công an Xuân La. Hoặc họ tập hợp để ủng hộ tại địa phương của họ. Tôi tin là đất nước Việt Nam sẽ thay đổi và chuyển mình sang dân chủ chỉ sau một đêm.

Vụ bắt giữ trái pháp luật đối với luật sư Trần Vũ Hải của an ninh Việt Nam giống như vụ bắt giữ trái pháp luật đối với luật sư Fathi Tirbil của an ninh Lybia. Nhưng sự khác nhau là giới luật sư của Lybia, những người hoạt động nhân quyền và Nhân dân Lybia đã tận dụng tốt cơ hội để tiến hành thành công cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài Kadhafi. Còn giới luật sư, những người hoạt động nhân quyền và Nhân dân Việt Nam chưa làm được điều đó.

Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn may mắn, nhưng may mắn sẽ không còn đến với họ quá nhiều lần nếu tội ác và bất công vẫn tiếp tục xảy ra trên đất nước vốn đã trải qua quá nhiều đau thương này.

Tất cả chúng ta, những người Việt Nam yêu tự do, dân chủ, hòa bình và công lý hãy chuẩn bị và sẵn sàng cho những sự kiện tới đây để có thể thay đổi đất nước của mình. Cần phải chấm dứt tội ác và bất công, độc tài trên đất nước Việt Nam yêu quí của chúng ta.

Dạy môn “Công dân và Tổ quốc”, nhưng Tổ quốc tên là gì?

Dạy môn “Công dân và Tổ quốc”, nhưng Tổ quốc tên là gì?

Hà Sỹ Phu

21-11-2015

Ảnh: Thí sinh thi Sử, một mình một hội đồng thi! Nguồn: internet

Ảnh: Thí sinh thi Sử, một mình một hội đồng thi! Nguồn: internet

Xuất thân là một thày giáo phổ thông, rồi giảng viên đại học, rồi viết về những vấn đề chính trị xã hội, tôi rất quan tâm đến cuộc tranh luận quyết liệt về xử lý môn học Lịch sử hiện nay.

Phía cơ quan chủ quản tức Bộ Giáo dục thì bảo vệ cho quan điểm cần “tích hợp” môn Lịch sử chung với 2 môn khác thành môn học “Công dân và Tổ quốc”, trong khi hầu hết các trí thức trong nước, ngoài bộ phận chủ quản nói trên, đều nói rằng làm như vậy thì “Thực chất là xoá bỏ môn Lịch sử trong nền giáo dục phổ thông” , đây “là một việc làm không đúng, cần phải kiên quyết loại bỏ. Phải nghiên cứu lại một cách nghiêm túc với sự tham gia trực tiếp của các nhà khoa học”, “chương trình này sẽ dẫn đến hệ lụy làm “teo” môn lịch sử trong trường phổ thông, lớp trẻ không còn biết sự hy sinh của các bậc tổ tiên để có đất nước như ngày hôm nay”…(1)
1/ Ý kiến đã nhiều nhưng nỗi lo chưa hết

Trên công luận thì ý kiến trái chiều với Bộ Giáo dục tỏ ra áp đảo, nhưng đừng vội mừng, kinh nghiệm cho biết trong cơ chế vận hành hiện nay những ý kiến “trái chiều” dù có tình có lý rõ ràng, dù có lợi cho dân cho nước cũng “không là cái đinh gì” khi “Trên” đã quyết định, khi đã là chủ trương lớn của ĐCSVN, (và người ta có lý do để nghi ngờ, nếu điều này có bàn tay của Trung quốc thì thật khó thoát ra như cái gông 16 chữ vàng rất êm ả mà tai quái). Vậy tuy đã có rất nhiều lời phân tích xác đáng song mối lo ngại bị “teo” dần môn Sử Việt vẫn không được phép nguôi ngoai, cho tới khi nào nguyện vọng chính đáng của nhân dân, mà đại diện là giới trí thức độc lập, được thành hiện thực.

2/ Ý nghĩa đặc biệt của môn Sử Việt và môn Sử Đảng:

Ý nghĩa chung thì đã rõ, mỗi dân tộc đều “lớn lên thành người” theo một quá trình riêng của dân tộc mình, quên cái quá khứ cụ thể ấy là lấy đi cái nền phát sinh sinh của con người, thì dân tộc ấy như người bị chặt cụt 2 chân, chỉ ngồi trên xe lăn để người ta đưa đẩy đi đâu cũng được. Không còn biết mình là ai thì mất hết sức mạnh tự thân.

Không ít người ngộ nhận, tưởng đang cùng thế giới chia sẻ những giá trị văn minh kỹ thuật hiện đại như nhau thì có nghĩa mọi dân tộc đã ngang hàng với nhau. Thực ra, cái tầm vóc NGƯỜI , đẳng cấp NGƯỜI tức cái hồn NGƯỜI bên trong vẫn có thể khác nhau nhiều lắm. Tầm vóc NGƯỜI là kết quả được tạo ra từ một quá trình lịch sử lâu dài và gắn chặt với một cộng đồng xác định gọi là Dân tộc.

Vậy trong trường hợp cộng đồng dân tộc Việt Nam, đặc điểm lịch sử quan trọng nhất là gì?

– Trong QUÁ KHỨ , VN là một dân tộc thuần hậu, đã còn nhiều lạc hậu lại phải sống cạnh một nước láng giềng khổng lồ đầy tham vọng và thâm hiểm. Nhưng dù có nền văn hóa rất gần nhau mà sau 1000 năm đô hộ, kẻ khổng lồ gian ác vẫn không đồng hóa được nước nhò này, giang sơn gấm vóc Việt Nam vẫn nguyên vẹn. Lịch sử Việt Nam ( gọi tắt là Sử Việt để phân biệt với môn Sử Đảng) chủ yếu là Lịch sử chống xâm lược Tàu, qua đó khẳng định một Dân tộc có sức sống và khả năng thích nghi mãnh liệt.

– Nhưng trong Lịch sử HIỆN TẠI tức mấy chục năm gần đây Việt Nam gặp một bước ngoặt bất ngờ. Kẻ thù cũ có dịp quay trở lại, nhờ tận dụng được một cơ hội mới quý như vàng, đó là Ảo tưởng Cộng sản đã nhốt chung con sói và bày hươu vào chung một chuồng, cái chuồng sơn son rất đẹp có tên “đại gia đình Xã hội chủ nghĩa, bốn phương Vô sản đều là anh em”.

Đã là XHCN thì mọi việc cứ do hai ĐCS ngồi với nhau quyết định, trong đó thế bất lợi luôn thuộc về cái ĐCS nhỏ và chịu ơn. Còn nhân dân bị trị thì bị nền CS toàn trị tước hết mọi vũ khí tinh thần và vật chất và khóa chặt, không còn điều kiện tối thiểu để tự đứng lên làm một sự nghiệp gì. Sự hỗ trợ quốc tế thì bị hạn chế tối đa bởi chủ trương chỉ đối thoại song phương, không chấp nhận nước thứ ba can dự và trì hoãn việc kiện ra Liên hiệp quốc. Nước nhỏ mà thực hiện ba điều ấy thì khác nào tạo “điều kiện cần và đủ để cho địch nhất định thắng-ta nhất định thua” như dọn cỗ cho kẻ xâm lược. Giai đoạn Lịch sử ngắn ngủi này là thời gian của Sử Đảng, tuy được viết rất hùng tráng song chính là giai đoạn làm cho Việt Nam chịu ơn Trung quốc, thất thế trước Bành trướng Đại Hán và rước họ trở lại.

Nay trước vận nước lâm nguy, đúng lúc phải tăng cường Sử Việt để sống lại tinh thần Thoát Trung, và sửa những sai lầm của giai đoạn Sử Đảng đã giúp Đại Hán cơ hội trở lại thì giới cầm quyền Việt Nam đã khéo léo làm toàn những điều ngược lại: lấy cớ “giảm tải cho học sinh” để giảm dần Sử Việt truyền thống, đồng thời tăng cường môn Sử Đảng bằng mọi phương tiện, thử hỏi như vậy thì có lợi cho giặc hay có lợi cho dân tộc ta? Nếu có một tên Thái thú Tàu thì nó cũng chỉ mong làm được như vậy.

Còn nhớ hồi ông Lê Khả Khiêu đang làm Tổng Bí thư, có đoàn đại biểu Trung quốc sang thăm, trao đổi về những vấn đề lý luận. Phía Việt Nam nói ĐCS Trung quốc đảm nhiệm phần lý luận, VN chỉ nhiều kinh nghiệm thực hành. Phía Trung quốc nói VN cần sửa lại Lịch sử của mình !

Theo ý Trung Quốc, Việt Nam chỉ là “đứa con hoang” cần trở về với mẹ thì những trang sử oanh liệt chống ngoại xâm của Lê Lợi, Hưng Đạo, Quang Trung…chẳng qua chỉ còn là những vụ phản loạn của địa phương, như bọn giặc có nổi lên chống lại chính quyền Trung ương chứ có gì khác?

Dã tâm gian ác của giặc Bành trướng Đại Hán đã nằm trong gien của họ, đấy là việc của họ. Nhưng những người cùng được mang dòng máu Việt của những anh hùng cứu quốc trong Sử Việt mà nay bị cái “đại cục Ý thức hệ đầy lợi quyền lừa đảo” cuốn đi, cúi mặt làm tay sai, làm nhục tổ tiên thì sao mà tha cho được? Họ chỉ lo cho Đại Hán khi thấy tâm lý người Việt ghét xâm lược Tàu, họ hứa với Tàu sẽ đàn áp những cuộc biểu tình yêu nước, họ hứa sẽ sửa những trang lịch sử oanh liệt chống giặc Tàu…Chương trình “tích hợp” môn lịch sử kiểu này khác nào tiếp tục triển khai mật ước phục vụ ý đồ của giặc xâm lăng? Liệu có oan không, khi nhớ rằng ông Bộ trưởng bảo vệ cái đề án xóa nhòa môn Sử Việt này cũng chính là người mấy năm trước đã ra lệnh cấm học sinh sinh viên tham gia biểu tình yêu nước đấy! Chẳng có gì là ngẫu nhiên cả.

3/ Tích hợp thành môn “Công dân và Tổ quốc” gây hiệu quả tốt hay xấu?

Tích hợp kiểu này, môn Sử Việt sẽ bị phá nát

Có sự tích hợp là tốt, có sự tích hợp là xấu, tùy theo tính chất và tương tác của các môn hợp phần. TS Vũ Thị Phương Anh cho biết khi giảng về chủ đề “người dân tộc thiểu số ở VN“, trong đó tích hợp luôn cả lịch sử, cả địa lý, và cả văn hóa vào nữa. Đó là ví dụ về sự tích hợp tốt làm tăng hiệu quả. Sự tích hợp có nhiều mức độ, có khi chỉ cần bổ sung hay minh họa bằng những bài đọc thêm kẻm theo bài chính.

Nhưng sự tích hợp môn Sử Việt với hai môn Giáo dục công dân và An ninh quốc phòng cho ta ví dụ ngược lại, nó sẽ “phá nát” môn Sử Việt (như lời GS Đỗ Thanh Bình – nguyên Chủ nhiệm khoa Lịch sử, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội). Bản thân môn Lịch sử (Sử Việt) với tư cách là một khoa học và ổn định, nhưng hiện nay đã bị nhiễm “tính Đảng”, bị chính trị hóa khá nhiều rồi (và đó là một nguyên nhân khiến môn Lịch sử bị áp đặt và khô khan), đã thế bây giờ lại ghép vào hai môn Giáo dục công dân và An ninh quốc phòng là hai môn gắn chặt với thể chế chính trị trước mắt, chứa đầy “đảng tính” là yếu tố chính trị nhất thời, thì Lịch sử sẽ bị băm nát và biến tính ra sao, thiết nghĩ có thể biết trước.

Nếu chỉ vì tâm lý học sinh chán môn Sử mà phải tinh giảm thì còn đâu là chuẩn mực sư phạm? Lỗi không ở học sinh, không ở bản thân môn học, mà ở nội dung áp đặt chủ quan vô lý và người truyền đạt vô hồn.

Vướng ngay từ cái tên môn học

Việc “tích hợp” môn Sử Việt này vào một môn chung bị vướng ngay từ cái tên của môn chung đó: Công dân và Tổ quốc! Tổ quốc tên là gì vậy? Người dân Việt nào cũng hiểu đây là Tổ quốc Việt Nam, thế thôi. Nhưng xin thưa không phải thế, ĐCSVN đã đổi tên chính thức cho Tổ quốc là Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, nhiều khi chỉ gọi tắt là Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa. Tổ quốc có kèm một tính ngữ để định hướng, để đừng lầm với cái Tổ quốc cổ truyền. Tổ quốc cũng phải mang “tính Đảng”, phải chính trị hóa.

Trong bài ”Đôi điều suy nghĩ của một công dân” (1993) tôi đã viết như sau:

“Vượt lên trên mọi sự tranh giành giai cấp, vượt qua mọi thể chế, Tổ quốc chúng ta bao giờ cũng là Tỏ quốc Việt Nam thôi! Ta gọi những đồng bào ta ở nước ngoài muốn đem sức người sức của về xây dựng đất nước là ‘Việt kiều yêu nước’ nhưng họ có yêu Chủ nghĩa Xã hội đâu? Nếu ta chuyển cả Tổ quốc thành ‘Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa’ thì những đồng bào yêu nước ấy còn đâu nước để mà yêu? Tôi tin rằng sẽ có ngày chúng ta làm lễ trả lại ‘tên khai sinh’ cho Tổ quốc là Tổ quốc Việt Nam, thì sức mạnh của Người sễ tăng lên gấp bội, những con dân nước Việt sẽ rưng rưng nước mắt, nắm chặt lấy tay nhau mà reo hò.”

Phẩm chất người thày quyết định hiệu quả môn học

Tổng số tiết dạy tất nhiên là một yếu tố quan trọng nhưng nội dung giảng dạy và phẩm chất người thày quan trọng hơn nhiều. Nội dung môn học thì đã như trên phân tích. Phẩm chất người thày thì sao? Bên cạnh phương pháp, kỹ năng truyền đạt thì quan điểm, tư tưởng, nhiệt tâm và nhân cách của người thày là yếu tố quyết định. Người thày hiện nay ra sao, họ phải là những “cán bộ giáo dục của Đảng”, phẩm chất đầu tiên là không được có ý kiến khác với Đảng, nếu có sẽ bị loại trừ ngay. Nhà trường là nơi bị quản lý chính trị rất chặt, trong những trí thức có tư tưởng dân chủ tiến bộ, dám lên tiếng phản biện lâu nay hỏi có được mấy người là các nhà giáo? Các nhà giáo bị nhiễm độc CS (một cách tự nguyện hay bắt buộc) lại đứng trên bục, giảng cái gọi là môn Lịch sữ đã “tích hợp” bị nhiễm độc nặng nề thì nạn nhân là những người bị nuốt những thức ăn tinh thần độc hại đó là những con em chúng ta, những chủ nhân tương lai của đất nước sẽ bị nhiễm độc hàng loạt, sẽ chết từ từ cả về trí tuệ và tâm hồn, đến lượt họ lại thành những người thày đi gieo chất độc thì xã hội chỉ còn là con thuyền lạc bến, buông trôi theo mật ước Thành Đô.

                                                                  ***

Để dứt lời, xin các thày giáo cô giáo, những đồng nghiệp của tôi miễn thứ cho tôi nếu có những lời làm quá đau lòng đồng nghiệp trước cái “đại cục” nhức nhối cho tương lai của giống nòi mình. Nhưng cũng thật mừng trong cuộc tranh luận về môn Sử Việt này, nhiều thày giáo cô giáo đã không thể im lặng, đã lên tiếng phản biện quyết liệt. Thương trò, thương mình và thương Dân tộc. Xin trích lời của Phó Gíáo Sư Vũ Quang Hiển (Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) làm một ví dụ:

Cắt ghép và xuyên tạc lịch sử vốn là cách làm của những người muốn bôi nhọ lịch sử dân tộc và nhân loại. Ngày càng có nhiều công bố trên phương tiện thông tin đại chúng làm lung lạc tinh thần thế hệ trẻ Việt Nam bằng cách lắp ghép và xuyên tạc lịch sử theo một logic chủ quan đã định trước, nhưng lại núp bóng “cách nhìn mới” về lịch sử. Vì vậy, việc giáo dục lịch sử thiếu tính hệ thống và toàn diện sẽ đặt thế hệ trẻ Việt Nam đứng trước hiểm họa thấy rõ.”

                                                                                      H.S.P.

20 – 11 – 2015

(1) Tham khảo

http://nld.com.vn/giao-duc-khoa-hoc/bo-mon-lich-su-se-gay-hoa-kho-luong-20151106211528458.htm

http://m.vietnamnet.vn/vn/giao-duc/273281/cuoc-hoi-thao-chua-tung-co-ve-mon-lich-su.html

https://www.danluan.org/tin-tuc/20151117/tranh-cai-ve-viec-bo-mon-lich-su-trong-truong-hoc#sthash.BodkZwBa.dpuf

Hạ giá hay xóa bỏ môn lịch sử?

Hạ giá hay xóa bỏ môn lịch sử?
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Ngày Chủ Nhật tuần rồi, 15 Tháng Mười Một, 2015, Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam tổ chức một cuộc hội thảo trong đó nhiều vị giáo sư báo động học sinh nay mai sẽ không còn được học môn lịch sử đầy đủ, theo dự thảo chương trình bậc Trung Học Phổ Thông, mà Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo có thể thi hành. Theo chương trình soạn thảo, từ năm 2018 các học sinh sẽ không được học riêng môn Lịch Sử, mà môn này sẽ được gộp chung vào thành một môn học mang tên là “Công dân với Tổ quốc;” trong đó có thêm hai môn khác là Giáo Dục Công Dân và An Ninh Quốc Phòng. Trước đó hai tuần, Bộ Giáo Dục đã họp các nhà giáo để giải thích việc cải cách này; nhưng giới sử học nghe không xuôi tai!

Các viên chức Bộ Giáo Dục đã giải thích và bênh vực chủ trương của họ, nhưng các nhà nghiên cứu lịch sử vẫn nghĩ khác. Sử gia Phan Huy Lê cho rằng dù Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo có giải thích thế nào thì chương trình mới này đã khai tử, đã xóa bỏ môn Lịch Sử trong thực tế. Giáo Sư Kiều Thế Hưng khẳng định: “…dù với bất cứ lý do nào thì việc coi nhẹ vai trò và vị trí, dẫn tới hậu quả thủ tiêu bộ môn Lịch Sử ở trường phổ thông.” Một cuộc thăm dò cho biết hơn 80% học sinh chống lại ý kiến bãi bỏ môn lịch sử như một môn học riêng.

Lời báo động của vị chủ tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam nói đến tương lai khi môn học lịch sử có thể bị xóa bỏ. Nhưng thật ra trước khi chính quyền Cộng Sản đưa ra chương trình cải tổ này thì môn học Lịch Sử đã bị họ bỏ rơi, bỏ rớt, bỏ xó từ lâu rồi! Một bằng cớ là hiểu biết của các em học sinh về lịch sử Việt Nam rất kém. Năm ngoái, cả nước đã bàn tán về tình trạng “dốt lịch sử” được biểu lộ trong một cuộc thi đố trên màn ảnh truyền hình trên đài VTV.

Chương trình tivi này phỏng vấn bảy em học sinh, đặt một câu hỏi về vua Quang Trung, tức Nguyễn Huệ, vị anh hùng áo vải đại thắng quân Thanh năm 1789. Trước mặt các khán giả tham dự để cổ võ, tất cả bảy em học sinh trên không em nào trả lời đúng và đầy đủ. Có em nói Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai bố con, có em đoán đó là hai anh em, nhưng sau đó em này còn muốn tỏ ra mình biết nhiều, nói thêm rằng, “Ông Quang Trung chính là ông Nguyễn Du.”

Chúng ta không nên căn cứ vào một chương trình giải trí trên tivi mà phán đoán trình độ hiểu biết về lịch sử của học sinh Việt Nam. Nhưng có thể đoán rằng những em được chọn đưa lên đài truyền hình dự thí chắc đã được coi là khá về môn này, ít nhất theo thẩm định của cha mẹ và thầy, cô giáo các em – trừ khi nhân viên đài truyền hình đã chọn các em dự thi theo tiêu chuẩn ai trả nhiều tiền nhất thì được… lên đài! Nếu phụ huynh và giáo sư nghĩ rằng các em này học giỏi môn sử nên đồng ý cho đi thi, mà trình độ các em dốt như vậy, thì chính những “người lớn” này cũng hoàn toàn không biết gì về lịch sử! Tức là có hai thế hệ dốt sử chứ không phải chỉ có một lớp trẻ! Thật đáng buồn!

Bây giờ, theo dự thảo chương trình tổng thể của Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo, môn Lịch Sử riêng biệt không còn tồn tại trong hệ thống các môn học bắt buộc nữa. Không biết trình độ hiểu biết về lịch sử của các thế hệ sau sẽ xuống đến mức nào?

Một lý do khiến trẻ em dốt lịch sử là từ lâu nay học sinh đã chán học môn sử. Một năm gần đây khi nghe tin kỳ thi sắp tới không phải thi môn lịch sử nữa cả đám học sinh đã reo hò sung sướng đem vứt các cuốn sách giáo khoa từ trên lầu xuống sân trường, náo động, vui tươi như một ngày hội. Theo Giáo Sư Phan Huy Lê, lý do khiến học sinh chán là vì “…chương trình và sách giáo khoa nặng kiến thức, dày đặc sự kiện, kiểu dạy một chiều thiếu sinh động lại còn đòi hỏi thuộc lòng thì… Chán học sử đang là điều tất yếu.”

Giáo Sư Phạm Phụ nói rõ hơn về “kiểu dạy một chiều” này, “Ðáng lý ra môn Sử là môn cực kỳ hấp dẫn đối với học sinh, thế nhưng tại sao không đến mức say mê môn Sử mà thậm chí lại còn chán ghét ? Là vì cách dạy của ta, chương trình của ta, sách giáo khoa và cách truyền thụ của thầy giáo làm cho nó khô cứng. Trong một thời gian dài môn Sử bị xơ cứng, chính trị hóa thế này thế khác thì đâm ra nhàm chán.”

Môn học bị chính trị hóa thành xơ cứng như thế nào? Vẫn theo Giáo Sư Phạm Phụ thì phần lịch sử sau 1945 chiếm tỷ lệ rất lớn “trong đó nhiều phần lồng vào sử của đảng Cộng Sản Việt Nam, học trò học mãi những thứ đó nó nhàm chán thôi chứ có gì đâu… môn Sử không trình bày bằng những sự kiện mang màu sắc khoa học mà như là cái môn nhằm mục đích tuyên truyền vậy thì người ta nghe mãi người ta chán thôi.” Khi biết như vậy, chúng ta hiểu rằng cảnh các học sinh đua nhau ném các cuốn sách giáo khoa lịch sử xuống sân thì chính là các em đang vứt bỏ các tài liệu tuyên truyền của đảng Cộng Sản!

Chỉ sử dụng môn Lịch Sử như một phương tiện tuyên truyền cho nên chế độ Cộng Sản đã coi nhẹ các cuộc chiến đấu của tổ tiên chúng ta chống những cuộc xâm lăng của đế quốc Hán tộc. Giáo Sư Phạm Phụ nhận xét: “Lịch sử một ngàn năm Bắc thuộc cũng có chứ không phải không nhưng tổng số rất ít.”

Giảm bớt không cho dạy phần lịch sử ngàn năm Bắc thuộc chính là một chủ trương của đảng Cộng Sản, từ năm 1950 cho tới bây giờ. Với đường lối ngoại giao coi Trung Cộng “vừa là đồng chí, vừa là anh em;” với sự có mặt của các “cố vấn Trung Quốc vĩ đại” kèm bên các chiến dịch cải cách xóa bỏ nền nếp xã hội Việt Nam cổ truyền, chế độ Cộng Sản Việt Nam tất nhiên phải tìm cách che lấp các tội ác bành trướng của các triều đại Hán, Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đối với nước ta.

Khi còn học bậc tiểu học và trung học, ở Hà Nội trước năm 1954 và tại Sài Gòn sau đó, bản thân tôi đã thấy môn học lịch sử đã đào luyện tấm lòng yêu nước; càng học càng say sưa về truyền thống bất khuất của dân tộc. Trước năm 1975, tôi làm nghề dạy học, tuy phụ trách môn Quốc Văn nhưng nhiều lần phải dạy môn lịch sử cho bậc trung học, khi nhà trường không đủ giáo sư chuyên về sử. Kinh nghiệm cho tôi thấy các học sinh rất thích những bài lịch sử về công cuộc chống xâm lăng phương Bắc. Có lúc dạy tới đoạn Lê Lợi kháng Minh, tôi khuyến khích các em học sinh đọc bài Bình Ngô Ðại Cáo, bản dịch của Bùi Kỷ in trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Rất nhiều em đã học thuộc lòng cả bài văn dài với rất nhiều chữ Hán mà không thấy chán. Sau đó 50, 60 năm, nhiều em gặp lại vẫn còn cảm ơn thầy giáo đã cho mình cơ hội thưởng thức một áng văn trác tuyệt, hào hùng đó. Trong hai ngàn năm qua, lòng yêu nước của người dân Việt Nam đã được đào luyện qua lịch sử kháng cự các cuộc xâm lăng từ phương Bắc. Bất cứ người Việt nào học lịch sử cũng trào lên một tấm lòng yêu nước khi biết đến những Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Phùng Hưng, cho tới Trần Bình Trọng, Quang Trung!

Cho nên, việc hạ thấp vai trò của môn học lịch sử trong cấp trung học phổ thông là một dụng ý chính trị của đảng Cộng Sản, theo Nghị Quyết 29 NQ/TW của Hội Nghị Trung Ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo. Bản dự thảo chương trình bậc Trung Học Phổ Thông của Bộ Giáo Dục và Ðào Tạo ở Hà Nội được đưa ra trong lúc phong trào chống Trung Cộng xâm lược đang cuồn cuộn sôi lên trên cả nước Việt Nam. Hạ thấp giá trị của môn Lịch Sử là một cách khiến cho các thế hệ sau này không thấy cần học sử nữa. Không học lịch sử dân tộc thì cũng lòng yêu nước cũng mờ nhạt. Ðó là một chủ trương trong chính sách giáo dục của đảng Cộng Sản Việt Nam. Như Giáo Sư Văn Như Cương nêu ra, “Ví dụ trong sách giáo khoa lịch sử không nói đến Biển Ðông, không nói đến Gạc Ma, không nói đến Tàu không nói đến Hoàng Sa, Trường Sa của ta bị chiếm đóng thì cũng không tôn trọng lịch sử.”

Tất nhiên, sách giáo khoa môn Sử của Việt Cộng thì không thể nào nhắc đến các tội xâm lược của Trung Cộng. Bởi vì nếu không có Trung Cộng bao bọc thì Việt Cộng cũng không tồn tại từ năm 1950 đến giờ! Không những lờ đi không nhắc tới Hoàng Sa, Trường Sa, đảo Gạc Ma, Biển Ðông, mà Việt Cộng còn muốn tránh không nói đến cả Hà Hồi, Ngọc Hồi, Chi Lăng, Chương Dương, Hàm Tử nữa! Như Giáo Sư Hà Sĩ Phu đã từng nhận xét, Việt Cộng theo Trung Cộng đem ảo tưởng về chủ nghĩa Cộng Sản vào nước ta gây nên hậu quả là “Ảo tưởng Cộng Sản đã nhốt chung con sói và bày hươu vào chung một chuồng, cái chuồng sơn son rất đẹp có tên ‘đại gia đình Xã hội chủ nghĩa, bốn phương vô sản đều là anh em!’” Ông Hà Sĩ Phu cho biết thời Lê Khả Khiêu đang làm tổng bí thư, có đoàn đại biểu Trung Quốc sang thăm, trao đổi về những vấn đề lý luận, và “Phía Trung Quốc nói Việt Nam cần sửa lại lịch sử của mình!” Công cuộc “tẩy não” đã kéo dài qua mấy thế hệ, từ thời Hồ Chí Minh đến Lê Khả Khiêu. Cho nên hậu quả tất nhiên là học sinh bây giờ dốt sử, không biết Quang Trung cũng là Nguyễn Huệ!

Bàn về dự thảo chương trình mới của Bộ Giáo Dục, Giáo Sư Phan Huy Lê lo lắng: “Lớp trẻ lớn lên trở thành công dân mà chỉ biết lờ mờ, thậm chí là biết sai về lịch sử dân tộc, không biết cội nguồn tổ tiên,… thì làm sao có thể viết tiếp trang sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc?” Nhưng đảng Cộng Sản muốn bảo vệ tổ quốc hay chỉ lo bảo vệ chế độ để họ tiếp tục nắm quyền và tham nhũng?

Gần đây ông Phùng Quang Thanh tỏ ra hoảng hốt khi thấy nhiều người Việt Nam đang chống Trung Quốc! Dân Việt mà chống Trung Quốc thì ông Thanh rất lo lắng cho tiền đồ dân tộc! Chúng ta phải đặt câu hỏi: “Phùng Quang Thanh có được ai dạy lịch sử nước Việt Nam hay không?” Ông ta có biết Hai Bà Trưng là ai không? Hay ông ta được các cố vấn vĩ đại dạy bài học khác: “Ðồng chí Mã Viện qua Giao Chỉ tổ chức cải cách ruộng đất, vận động nhân dân đứng lên đấu tố bọn địa chủ ác ôn Thi Sách và chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị!”

ĐẤT SẠCH – ĐẤT YÊU THƯƠNG

ĐẤT SẠCH – ĐẤT YÊU THƯƠNG

Tri’ch EPHATA 668

Có một câu chuyện về việc xây Nhà Thờ, chuyện hấp dẫn bởi nó xảy ra ngay trên đất nước Việt Nam chúng ta. Sau năm 1975, quan niệm “đất là sở hữu của toàn dân” nên Nhà Nước quản lý đất rồi phân phối theo nhu cầu, vậy Nhà Thờ nào muốn xây dựng thì làm đơn, lên quy hoạch, nhà nước cứu xét cấp dất theo nhu cầu. Các tôn giáo không là những tổ chức pháp nhân nên không có quyền giao dịch mua bán. Từ quan niệm này dẫn đến nhiều tình trạng tréo ngoe, thí dụ: Nhà Thờ mua đất của dân chúng, lập kế hoạch xây dựng Nhà Thờ, rồi làm thủ tục hiến đất cho nhà nước, nhà nước xem xét rồi mới cấp đất trở lại cho Nhà Thờ thực hiện. Một quy trình vô lý và gian dối nhưng vẫn vận hành nhiều năm nay như thế ở Việt Nam.

DAT SACH DAT YEU THUONG

Một vấn đề khác. Một số các cơ sở tôn giáo ( Nhà Thờ hoặc Tu Viện ) sau năm 1975 bị nhà nước trưng dụng, có nơi là mượn, có nơi là chiếm không giấy tờ… Sau này có nhu cầu xin lại, không dễ gì có thể xin lại một cách thẳng thắn, thường sẽ phải vòng vo nhiều cách, nói theo kiểu một vị đại biểu Quốc Hội khóa 13 vừa qua là “Hoàng hôn nhiệm kỳ – chuyến tàu vét” ( đại biểu Lê Như Tiến ). Đó là cơ hội cho hai bên đều có lợi, bên Nhà Thờ có đất để xây dựng, bên “hoàng hôn nhiệm kỳ” có “chuyến tàu vét” khấm khá bảo đảm tương lai.

Tham những đã trở thành quốc nạn, xảy ra ở khắp nơi, ở mọi lãnh vực và mọi cấp độ, chẳng cần đợi đến chuyến tàu vét, ngày nào trong cuộc đời cũng đều là những ngày lái tàu vét vậy. Chuyện thường ngày, Công An giao thông thổi vào, chìa ra mấy tờ màu xanh thì đi ( video quay và phổ biến đầy trên mạng ), giấy phép xây dựng nhà, đố có ai xin được mà không phải mất tiền bôi trơn, thủ tục hoàn công nhà ( xây xong phải hoàn công mới có giấy sử dụng ) không ai mà tự nhiên có được nếu không chi tiền, trong quá trình xây, nay anh này vào thăm kiểm tra, mai anh kia vào thăm kiểm tra… Chủ nhà cứ vậy mà chi, khó làm dự toán chính xác lắm, cha ông ta đã có câu “làm ruộng thì ra làm nhà thì tốn” mà, nhưng ngày xưa tốn vì vụng tính, ngày nay tốn vì tác động bôi trơn !

Có một câu chuyện giữa hai vị đáng kính nói với nhau, một vị cứ chậm rãi mà liên tục thực hiện được việc có phép xây dựng chỗ này chỗ kia, một vị hay lên tiếng phản ứng, cơ sở không lấy lại được mà còn bị mang tiếng là quấy nhiễu, phá hoại tình đoàn kết. Vị thành công trong lãnh vực phép tắc khuyên bạn mình nên nhẹ nhàng, đôi bên đều có lợi, nhờ vậy mà ta mới có thể xây Nhà Thờ phục vụ Dân Chúa. Vị kia nghiêm khắc trả lời, đất mà lấy lại theo cách đó là đất… bẩn rồi, không xứng đáng để xây nơi thờ phượng Thiên Chúa, thà không có Nhà Thờ chứ dứt khoát không xây Nhà Thờ theo cái kiểu mờ ám ấy. Vị này được một số người kính nể, nhưng nhiều anh em khác lại bực bội lên án cụ là không khôn ngoan và cố chấp, lắm khi Giáo Dân biết chuyện cũng tham gia vào việc nói xấu cụ.

Vậy đất nào là đất “sạch”, xứng đáng để xây dựng nơi thờ phượng Thiên Chúa ? Có câu chuyện kể rằng:

Một nhà kia có hai anh em mồ côi cả cha lẫn mẹ, hai anh em thương nhau lắm, khi người anh lập gia đình ra ở riêng thì chú em ở một mình. Sau mùa gặt lúa, nằm đêm thao thức, người anh thương em mình cô đơn, không biết thu hoạch có đủ ăn không, nghĩ rồi anh ta lặng lẽ ra khỏi giường, vác bao lúa bên mình sang bỏ vào kho thóc nhà chú em. Chú em cũng nằm thao thức không ngủ, nghĩ anh mình có gia đình nên cần nhiều lúa hơn, mình độc thân ăn chẳng bao nhiêu, bèn nhổm dậy vác bao lúa bên mình sang quăng vào kho thóc nhà người anh. Một thời gian sau, hai anh em lấy làm lạ, sao kho lúa của mình không hề vơi đi.

Rồi một đêm, hai anh em đang vác lúa sang nhà nhau thì “đụng nhau” ở ngay hàng rào giữa hai nhà, họ chợt hiểu vì sao kho thóc của họ không hề vơi. Hai bao lúa trên hai hai anh em buông rơi xuống, họ ôm nhau khóc. Nơi hai bao lúa rơi xuống ấy chính là “đất sạch”, đất đã được tắm gội bằng tình thương, đất tràn ngập tình chia sẻ, và như thế, đất ấy xứng đáng là nơi dựng lên ngôi Từ Đường của dòng tộc hai anh em mà thờ phượng tạ ơn Trời Đất và ông bà tổ tiên của họ.

Chuyện đất đai quý đến mấy đi nữa cũng chỉ là chuyện thế gian, chẳng ai trong chúng ta mang được một tấc đất sang bên kia thế giới, nó quý đến đâu cũng không phải là lý do để chúng ta gây căng thẳng hận thù, càng không đến nỗi phải kéo nhau ra ngăn chặn bằng cách đọc kinh cầu nguyện tại hiện trường. Nhưng điều quan trọng là Sự Thật và lẽ Công Bằng, mà điều này thì chính Chúa Giêsu sẵn sàng sống chết để làm chứng, mảnh đất không là gì cả, nhưng mảnh đất là biểu tượng của Sự Thật và Công Bằng, đấy là sự suy xét lương tâm của mỗi người trước mặt Chúa. Không để sự thật và công bằng bị chà đạp.

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

20.11.2015

Việt Nam sẽ là Quốc gia tự trị hay là một tỉnh của Trung Quốc?

Việt Nam sẽ là Quốc gia tự trị hay là một tỉnh của Trung Quốc?

Đôi lời: Không rõ mức độ chính xác của thông tin trong bài này như thế nào. Nếu thông tin trong bài này đúng, có lẽ các blogger/ facebooker đóng tài khoản, đăng ký học tiếng Tàu ngay, kẻo muộn!

—-

Phạm Quế Dương

14-01-2015

Thiếu tướng Hà Thành Châu, Chính ủy Tổng cục công nghiệp Quốc phòng Việt Nam, tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ từ ngày 08-4-2013. Ở đây, ông đã nhờ một viên chức cao cấp Hoa Kỳ trao cho chủ bút Tạp chí Foreign Policy Magazine một tập tài liệu tối mật liên quan đến quan hệ Việt Nam – Trung Quốc.

Tập tài liệu này xuất xứ từ anh vợ ông, là thiếu tướng chính ủy Tổng cục 2, thời trung tướng Nguyễn Chí Vịnh làm Tổng cục trưởng.

Tập tài liệu chép lại nguyên văn từ cuốn băng nhựa AKAI, mang bí số ML887 ghi âm những cuộc họp bí mật của các nhà lãnh đạo Việt Nam: Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh với các nhà lãnh đạo Trung Quốc: Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Lương Quang Liệt, Diệp Tiến Ninh, Dương Đắc Chí, Hứa Thế Hữu tại Thành Đô năm 1990.

Nội dung những cuộc họp bí mật ấy cho biết kế hoạch sáp nhập Việt Nam vào Trung Quốc dự kiến tổ chức qua ba giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: 15/7/2020         Quốc gia tự trị
  • Giai đoạn 2: 5/7/2040         Quốc gia thuộc trị
  • Giai đoạn 3:   5/7/2060         Tỉnh Âu Lạc

Tỉnh trưởng vẫn là người Việt ,đặt dưới quyền lãnh đạo của Tổng đốc Quảng Châu (Trung Quốc).

Sau khi sáp nhập ,tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ chính, tiếng Việt là ngôn ngữ phụ.

Trong hội đàm, với lời lẽ bề trên, lãnh đạo Trung Quốc, ban mật lệnh, giáo huấn, răn đe, dạy dỗ lãnh đạo Việt Nam phải làm những gì suốt 70 năm, từng bước một: “Âm thầm, lặng lẽ, từ từ như tầm ăn dâu, khéo như dệt lụa Hàng Châu;êm như thảm nhung Thẩm Quyến. Sử dụng thể thức “Diễn biến hòa bình”, làm cho người Việt Nam và dư luận quốc tế nhìn nhận rõ là Trung Quốc “không cướp nước Việt.” mà chính người Việt Nam tự mình “dâng nước” và tự ý đồng hóa vào dân tộc Trung Hoa.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thì khấu đầu trước Đặng Tiểu Bình “Nhờ Trung Quốc mà Đảng Cộng sản Việt Nam mới nắm được chính quyền, mới thắng được đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, diệt được bọn tư bản phản động. Công ơn Trung Quốc to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng. Do thế, nhà nước Việt Nam đề nghị Trung Quốc bỏ qua hiểu lầm, xóa bỏ các bất đồng đã qua. Phía Việt Nam sẽ làm hết sức mình để vun bồi tình hữu nghị lâu đời vốn sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chủ tịch dày công xây dựng trong quá khứ. Việt Nam sẽ tuân thủ đề nghị của Trung Quốc là cho Việt Nam được hưởng ‘Quy chế tự trị trực thuộc chính quyền trung ương Bắc Kinh’ như Trung Quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương, Quảng Tây”.

Tôi sửng sốt, trăn trở, không tin ở sự xác thực của sự kiện này. Những vị lãnh đạo nêu tên trên vốn là những người yêu nước trực tiếp tham gia góp phần chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chống Tàu giành độc lập tự do. Lịch sử cận hiện đại Việt Nam là nối tiếp lịch sử 4000 năm, từ đời Hùng Vương ,đã từng đánh bại các cuộc xâm lược của các triều đại lịch sử Trung Quốc:

Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Ngày nay không thể nào có những người lãnh đạo, vì bất cứ lý do gì cúi đầu xin được làm một khu tự trị của Trung Quốc, bởi vì như vậy là bán nước, phỉ báng ông cha, phản bội dân tộc.

Trước hiện tượng Trung Quốc cho xuất bản hai cuốn sách của Hồ Tuấn Hùng và Huỳnh Tâm đưa nhiều dẫn chứng rạch ròi để khẳng định Chủ Tịch Hồ Chí Minh là người Đài Loan (Trung Quốc) đã lũng đọan tinh thần nhân dân ta, gây nên những nghi vấn rất tai hại, vậy mà hệ thống tuyên huấn- thông tin của ta vẫn coi như không có trách nhiệm gì!

Không thể im lặng một cách rất tội lỗi như vậy được nữa, tôi đề nghị các cơ quan thông tấn ,báo chí của Đảng ta, nhất là báo Nhân Dân – cơ quan trung ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam ,tiếng nói của Đảng,Nhà nước và Nhân dân Việt Nam – hãy làm sáng tỏ vụ việc này và công khai cho nhân dân ta biết.

01/1/2015

Phạm Quế Dương

Khu tập thể 37 Lý Nam Đế – Hà Nội

ĐT: 62700002

Xây tượng anh hùng Trung Quốc… “trấn thủ” biển phía Nam?

Xây tượng anh hùng Trung Quốc… “trấn thủ” biển phía Nam?

Một Thế Giới

Phong Vũ

20-11-2015

Vĩnh Châu, nơi được đề nghị xây tượng anh hùng Trung Quốc

Vĩnh Châu, nơi được đề nghị xây tượng anh hùng Trung Quốc

Một doanh nghiệp đang đề nghị UBND tỉnh Sóc Trăng cho xây tượng vị anh hùng của Trung Quốc cao đến 36m, “trấn thủ” vùng biển phía Nam của Việt Nam.

Ông Nguyễn Trung Hiếu, Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng, cho biết: Lãnh đạo tỉnh đã có cuộc họp với đại diện Công ty CP Thương mại sản xuất bao bì Thành Lợi (có trụ sở tại TP.HCM) để bàn về Dự án xây dựng Khu Du lịch tâm linh – biển Vĩnh Châu.

Dự án có quy mô dự kiến gần 18ha tọa lạc tại đường Đê, phường 1, thị xã Vĩnh Châu, với tổng mức đầu tư 30 tỉ đồng, trong đó vốn của chủ đầu tư khoảng 6 tỉ đồng, còn lại là vốn góp từ các thành viên công ty, vốn đối ứng của đối tác.

Có nhiều hạng mục công trình quy mô để phục vụ khai thác kinh doanh như ăn uống, du lịch sinh thái dã ngoại, dịch vụ giải trí, chăm sóc sắc đẹp, thể dục thể thao… Đặc biệt là có khu riêng phục vụ nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của du khách. Thời gian xây dựng dự kiến từ 2-3 năm. Trong đó, công trình quan trọng nhất để tạo điểm nhấn, thu hút của khu du lịch là tượng Quan Thánh Đế Quân (Quan Công) với chiều cao dự kiến là 36m bằng vật liệu bê tông cốt thép.

Đại diện Sở Xây dựng giải trình khu đất quy hoạch không thuộc đất rừng phòng hộ mà chỉ nằm trong định hướng quy hoạch trồng rừng phòng hộ của UBND tỉnh (vào năm 2009). Do đó, UBND tỉnh có thẩm quyền điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới. Đại diện Sở VH-TT&DL đánh giá đây là hướng đi đúng đắn, tuy nhiên, công tác quản lý phải chặt chẽ, làm rõ sự khác biệt giữa “tính thiêng” và mê tín dị đoan trong du lịch tâm linh. Còn Sở KHĐT cho rằng dự án không vi phạm các quy định pháp luật hiện hành và thuộc thẩm quyền UBND tỉnh nên đề nghị xem xét cho phép đầu tư.

Tại cuộc họp, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Trung Hiếu kết luận: “Vĩnh Châu là thị xã biển, do đó phải tạo điều kiện để địa phương “hướng ra biển”. Tỉnh rất cần các dự án như vậy để phát triển về du lịch. Vị trí xin phép đầu tư khá “tế nhị”, nên các sở, ban ngành hữu quan vẫn khách quan hỗ trợ doanh nghiệp theo chuyên môn, thẩm quyền của mình. Đề nghị doanh nghiệp xin phép đầu tư cần thuyết trình, báo cáo cụ thể về dự án với UBND tỉnh và các sở, ban, ngành hữu quan”.

Theo ông Hiếu, nếu khu du lịch hoàn thành sẽ trở thành điểm nhấn trong hệ thống các khu du lịch tâm linh liên tỉnh khác, đồng thời tạo được việc làm cho người dân và khai thác các tiềm năng sẵn có của địa phương. Tuy nhiên, với đề xuất của đơn vị đầu tư là xây tượng Quan Công trong khu du lịch này thì Chủ tịch Hiếu không đồng ý mà gợi ý chủ đầu tư thay thế bằng các tượng khác phù hợp, có thể là tượng Phật Quan Âm.

Trước đó, Ban Tôn giáo tỉnh Sóc Trăng cũng đã có ý kiến về công trình trên, cho rằng nên xây dựng thờ Quốc tổ như Lạc Long Quân, Âu Cơ, vua Hùng hay những vị anh hùng của dân tộc, phù hợp với giá trị lịch sử, văn hóa đạo đức xã hội Việt Nam.

Theo dư luận nhân dân địa phương, đây là dự án không lớn nhưng xây dựng tượng có quy mô hoành tráng mà lại là tượng Quan Công, 1 nhân vật anh hùng thời Tam Quốc của Trung Quốc thì không phù hợp. Việc thờ cúng Quan Công là việc bình thường, nhưng xây dựng tượng Quan Công trấn thủ ở biển Vĩnh Châu, nhìn ra biển Đông trong thời điểm này là quá nhạy cảm.

Một cán bộ về hưu ở Vĩnh Châu giải bày: “Trong điều kiện chính trị xã hội và tranh chấp biển Đông đang có chiều hướng gia tăng thì việc 1 công ty xin cho xây tượng Quan Công quy mô hoành tráng tại vùng biển phía Nam tổ quốc ta lại nhìn ra biển Đông liệu có quá nhạy cảm không? Theo tôi đây là vấn đề rất tế nhị, không muốn nói là quá nhạy cảm.

Quan Công là nhân vật tâm linh, một anh hùng theo quan niệm của người Trung Quốc. Tượng Quan Công đứng trấn thủ nhìn ra biển Đông là một việc càng không nên có. Về kinh tế, dự án này chưa thể nói là sẽ mang về lợi ích khổng lồ bởi du lịch ở Sóc Trăng vẫn chưa tương xứng, chưa thể thu hút khách du lịch nhiều bằng các địa phương khác. Nếu doanh nghiệp xây dựng khu du lịch tâm linh mà họ đề nghị xây dựng tượng Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Âm hay tượng các vị Anh hùng dân tộc như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trung Trực,… thì có lẽ ai cũng ủng hộ.

 

Bãi bỏ môn lịch sử trong chương trình phổ thông trung tiểu học – bước đầu chuẩn bị cho âm mưu Hán hóa

Bãi bỏ môn lịch sử trong chương trình phổ thông trung tiểu học – bước đầu chuẩn bị cho âm mưu Hán hóa

Lê Dủ Chân (Danlambao) – Kính thưa đồng bào Việt Nam đang sống trong nước và ngoài nước.

Chúng ta, con cháu chúng ta, các thế hệ tương lai của Việt Nam sẽ căn cứ vào đâu để nói rằng “TÔI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM” nếu lịch sử của dân tộc Việt Nam bị xóa bỏ? Tinh thần yêu nước, yêu dân tộc của người Việt Nam hôm nay và mai sau có còn không nếu cội nguồn tổ tiên, công lao, xương máu của ông cha đổ ra trong quá trình dựng nước và giữ nước bị lãng quên?

Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam còn không nếu trong tương lai người Việt Nam không còn biết đến ải Nam Quan, mũi Cà Mau, Hoàng Sa, Trường Sa, sông Hát, sông Bạch Đằng, ải Chi Lăng, gò Đống Đa, Ngọc Hồi, Hà Hồi… mà chỉ biết Tây Sa, Nam Sa, “bên ni biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương”…?

Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam còn không nếu trong tương lai người Việt Nam không còn biết đến các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn… mà chỉ biết đến đảng cộng sản Tàu, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, đảng cộng sản Việt Nam, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam?

Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam còn không nếu trong tương lai người Việt Nam không còn biết đến Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Ngụy Văn Thà… mà chỉ biết Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Tập Cận Bình, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Phú Trọng…?

Nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam còn không nếu trong tương lai người Việt Nam không còn biết đến bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta vào đời nhà Lý (*), Hội Nghị Diên Hồng, Hịch Tướng Sĩ vào đời nhà Trần, Bình Ngô Đại Cáo vào đời nhà Hậu Lê… mà chỉ biết tư tưởng Marx – Lê – Mao, “bác Hồ ta đó chính là bác Mao”, “Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan”, “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”…?

Kính thưa đồng bào,

Nếu nói rằng công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là công hàm bán nước, 2 câu thơ của Tố Hữu “Bên ni biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là quê hương” là tư tưởng tiền đề cho âm mưu sáp nhập nước Viêt Nam vào nước Tàu thì cáí gọi là “Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” của Bộ GD&ĐT/CSVN (bộ Giáo Dục Và Đào Tạo/đảng cộng sản Việt Nam) mà mục đích chính của nó là xóa bỏ lịch sử 4000 năm của dân tộc là bước đầu của đảng cọng sản/VN cố tình thực hiện để chuẩn bị cho chủ trương Hán hóa vĩnh viễn dân tộc Việt Nam trong tương lai.

Kính thưa đồn bào,

Lịch sử Việt Nam còn nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam còn.

Lịch sử Việt Nam mất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam mất.

Chúng ta không thể để đảng cộng sản Việt Nam cấu kết với đảng cộng sản Tàu từng bước xóa đi nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam trên bản đồ thế giới để vĩnh viễn trở thành một quận huyện của nước Tàu.

20/11/2015

Lê Dủ Chân

danlambaovn.blogspot.com

__________________________________

Chú thích:

(*) Nam Quốc Sơn Hà

Nam quốc sơn hà nam đế cư 

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? 

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Vụ án Ba Sàm: Xử hay thả?

Vụ án Ba Sàm: Xử hay thả?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-11-19

Untitled-1-620.jpg

Blogger “Anh Ba Sàm” Nguyễn Hữu Vinh

File photo

Your browser does not support the audio element.

Blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy bị bắt ở Hà Nội đã hơn 18 tháng qua, tội danh cáo buộc là lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Vụ án này được giới luật gia mô tả là vi phạm nghiêm trọng tố tụng hình sự. Những khả năng nào sẽ xảy đến cho Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự của ông.

Sắp hết thời hạn điều tra

Cho tới ngày 18/11/2015 chưa có thông tin khi nào tòa án sẽ xét xử vụ Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự, mặc dù đã hết ba lần gia hạn điều tra mỗi lần 4 tháng. Như vậy Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể đã áp dụng lần gia hạn điều tra cuối cùng thêm 4 tháng nữa với lý do đây là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp này thì ngày 5/1/2016 sẽ là thời điểm hết hạn điều tra.

Trong trường hợp không điều tra được không kết luận được, các cơ quan điều tra không chứng minh được thì về nguyên tắc đúng ra họ phải đưa điều tra bổ sung, nhưng bây giờ thời hạn điều tra bổ sung theo luật đã hết thì họ sẽ phải đình chỉ vụ án rồi trả tự do.
-LS Trần Quốc Thuận

Trả lời Nam Nguyên, Luật sư Trần Quốc Thuận thuộc nhóm các luật sư biện hộ cho blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đề cập tới những khả năng có thể xảy đến với vụ án này:

“Nếu đưa ra xét xử mà có chứng cứ, các cơ quan điều tra chứng minh được là có tội. Nếu những chứng cứ đó hợp pháp va tranh tụng rõ ràng thì họ có quyền kết án và tuyên án. Trong trường hợp không điều tra được không kết luận được, các cơ quan điều tra không chứng minh được thì về nguyên tắc đúng ra họ phải đưa điều tra bổ sung, nhưng bây giờ thời hạn điều tra bổ sung theo luật đã hết thì họ sẽ phải đình chỉ vụ án rồi trả tự do. Còn một phương án nữa là họ tuyên bố không phạm tội, có thể có ba khả năng đó.”

Trò chuyện với chúng tôi, Đại tá Nguyễn Đăng Quang cán bộ công an hiện nghỉ hưu ở Hà Nội, cũng là một nhà hoạt động có nhiều kiến nghị cải cách, cho rằng chưa có vụ án nào kéo dài như vụ này mà chưa đưa ra xét xử được. Theo lời Đại tá Quang, cơ quan điều tra chưa chứng minh được nghi phạm Nguyễn Hữu Vinh đã vi phạm luật pháp như thế nào, chưa chứng minh được những tội đã vi phạm, cho nên nó đã ảnh hưởng tới thời hạn đưa ra xét xử trước tòa. Bản kết thúc điều tra cũng như cáo trạng không có sức thuyết phục và chưa chứng minh được tội phạm mà nghi can Nguyễn Hữu Vinh đã phạm phải.

vo-ba-sam-622.jpg

Nghị sĩ Sabine Bätzing-Lichtenthäler thuộc Ủy ban Nhân quyền Quốc hội Đức gặp gỡ Bà Lê Thị Minh Hà, vợ blogger Anh Ba Sàm (giữa), hôm 31/10/2014 tại Berlin, Đức Quốc trong lúc Bà Hà đi vận động cho chồng.

Đáp câu hỏi là hiện nay Việt Nam đang nỗ lực cải cách pháp luật cho phù hợp với yêu cầu hội nhập, liệu có khả năng Blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự được trả tự do, phát xuất từ việc không đủ chứng cớ cũng như vấn đề vi phạm thủ tục tố tụng hình sự. Đại tá công an Nguyễn Đăng Quang, nhận định:

“Điều này nằm ngoài hiểu biết cũng như tưởng tượng của tôi. Trực tiếp cách đây khoảng một tuần, chính bản thân tôi đã gặp cơ quan an ninh, tôi có đề nghị rằng nếu không chứng minh được tội phạm thì tốt nhất là đình chỉ điều tra và trả tự do cho anh Nguyễn Hữu Vinh. Đấy là điều tốt nhất và các bên đều thắng. Nhưng tôi nghĩ rằng các cơ quan chức năng hiện nay không bao giờ có thể dám làm những điều đó, bởi vì quyền lực trong tay có lẽ người ta không chịu thua… rồi thì người ta sẽ đưa ra một cái cớ khác để kéo dài thời gian tạm giam tạm giữ.”

Không thể buộc tội?

Sự kiện Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự bị bắt giữ khẩn cấp ngày 5/5/2014 và truy tố như một vụ án chính trị được dư luận trong ngoài nước đặc biệt chú ý. Ông Nguyễn Hữu Vinh, 59 tuổi có bút danh Ba Sàm, ông là đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Nguyễn Hữu Vinh từng là sĩ quan công an và có gốc gác lớn, thân phụ là ông Nguyễn Hữu Khiếu từng giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, Bộ trưởng Bộ Lao động, Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô.

Theo cáo trạng được Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao gởi Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội ngày 5/11/2015, thì sau 4 lần điều tra bổ sung, Viện này vẫn giữ nguyên cáo trạng, truy tố ông Nguyễn Hữu Vinh và đồng phạm về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.”

Trực tiếp cách đây khoảng một tuần, chính bản thân tôi đã gặp cơ quan an ninh, tôi có đề nghị rằng nếu không chứng minh được tội phạm thì tốt nhất là đình chỉ điều tra và trả tự do cho anh Nguyễn Hữu Vinh.
-Đại tá Nguyễn Đăng Quang

Theo kết luận điều tra của Cơ quan An ninh Điều tra, ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy bị bắt vì đã đăng tổng cộng 24 bài viết trên hai trang mạng Dân Quyền và Chép Sử Việt, được cho là thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Vinh. Những bài viết này Công an cho là có nội dung xấu, thông tin sai lệch làm giảm uy tín, làm mất lòng trong nhân dân về cơ quan Nhà nước cũng như tổ chức xã hội và công dân vi phạm qui định tại Điều 258 Bộ Luật Hình sự. Khung hình phạt của tội danh này là từ 2 năm tới 7 năm tù.

Theo giới luật gia quan tâm tới vụ án, công an đã không thể chứng minh ông Nguyễn Hữu Vinh là người quản lý hai trang mạng Dân Quyền và Chép Sử Việt, dù đã phải mời chuyên gia nhà mạng FPT giúp điều tra chuyên môn. Nếu như ông Nguyễn Hữu Vinh chỉ là người vào xem những bài vở trên hai trang mạng đó, thì không thể buộc tội ông.

Việt Nam là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016, tất nhiên Hà Nội thừa nhận pháp luật nhân quyền cơ bản, không thể kết tội một người nếu không chứng minh được người đó có tội. Giới chuyên môn đưa ra một thí dụ nổi bật về vấn đề vi phạm tố tụng hình sự trong vụ án Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh. Đó là trong số 24 bài trên trang Dân Quyền và Chép Sử Việt, có bài liên quan tới Trung tướng Huỳnh Kông Tư, giới chức cao cấp của Bộ Công an và chính ông Huỳnh Kông Tư lại đứng ra điều tra vụ án có bài viết liên quan. Đây là vấn đề rất đơn giản gọi là xung đột lợi ích, người có liên quan đến một vụ án không thể tham gia tố tụng.

Hiện nay có 6 luật sư tham gia biện hộ cho anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy, gồm luật sư Trần Văn Tạo nguyên Phó Giám đốc Công an TP.HCM, luật sư Trần Quốc Thuận nguyên Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội và các luật sư Trịnh Minh Tân, Hà Huy Sơn, Nguyễn Hà Luân, Nguyễn Tiến Dũng.

Tất cả các vị luật sư đã sẵn sàng vào cuộc trong một vụ án điển hình liên quan tới quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận và tự do có chính kiến của người Việt Nam.

Chút nghĩa thầy cô

Chút nghĩa thầy cô

RFA

Đầu tuần này, lớp học tình thương của một nhóm thiện nguyện tại quận 3, Sài Gòn, bắt đầu ngày học của mình bằng giờ tập vẽ, làm thiệp chúc mừng ngày thầy cô giáo 20-11.

Lớp học loi nhoi tiếng hỏi han cách thức, đòi thêm giấy, viết màu của nhau. Khó khăn lớn nhất của những đứa trẻ đó là viết được lời chúc đàng hoàng để tặng cho người dạy mình. Một đứa khều khều, hỏi nhỏ “con chúc cô giáo ăn nhiều có kỳ không?”.

Hầu hết những đứa nhỏ học lớp vẽ đó đến từ những gia đình rất nghèo. Còn lại thì là những những đứa không biết một mái nhà là gì, từ lúc ra đời đến giờ. Cô giáo Sa, một trong những thiện nguyên giáo dục đường phố nói rằng nhiều đứa trẻ như vậy đã thân thuộc với vỉa hè, gầm cầu… vì khi ra đời cho đến khi lớn lên, bầu trời là mái nhà. “Nhà” đôi khi rất khủng khiếp, vì đó là những nơi chúng bị bắt về, bị buộc đóng các loại tiền gì gì đó theo chính sách… sau những đợt thu gom của chính quyền để làm “sạch đường phố”.

Nhưng với thầy cô là một chuyện rất khác. Những gương mặt đầy giận dữ, tinh ranh… ngày thường trên vỉa hè của chúng tức thì dịu lại, khi thấy thấp thoáng bóng dáng thầy hay cô xuất hiện. Có cái gì đó rất kỳ diệu trong nghĩa thầy trò vừa mong manh, vừa vĩ đại này. Những đứa trẻ Việt Nam dù ở hoàn cảnh nào, vẫn thầm lặng mang trong lòng mình một không gian kính ngưỡng dành cho người dạy dỗ mình, thậm chí còn đậm sâu hơn nhiều đứa trẻ đeo khăn quàng và được giáo dục trong mái trường xã hội chủ nghĩa.

Rất nhiều người đau đớn nói rằng thế hệ trẻ hôm nay đã hỏng tất cả, khi mỗi ngày nhìn thấy chuyện trò đánh thầy, trò vây đánh trò… mỗi lúc càng ghê sợ. Nhưng phải đi và đến những điểm tận cùng của cuộc sống, nhìn thấy của những đứa trẻ chơ vơ ấy, chứng kiến chúng khao khát được gọi tiếng “thầy-cô”, khao khát được nhìn nhận như một học trò, có thể mới hiểu rằng mọi vấn nạn đều sinh ra từ nhà trường, từ chính sách, từ xã hội… Chúng chỉ là những nạn nhân. Những nạn nhân mỏng manh của người lớn.

Một thằng bé không chịu nói tên, chăm chút vẽ ngôi trường của nó và tô toàn bộ là một màu đen. Mấy đứa bạn cười ngặt nghẽo, nói nhìn là biết ngay là trường bị cúp điện. Đứa khác nói vì hết màu nên nó tô đại màu đen. Nhưng có thể tác giả của cái thiệp thì biết rõ hơn ai hết, trường của nó chỉ là tưởng tượng, đêm đến, hết làm việc thì nó được học ở ngoài trời, khi các thầy cô thiện nguyện đến.

Những năm cuối thập niên 70, cái đói hoành hành toàn miền Nam. Nơi nơi người ta phải nấu hạt bo bo dành cho ngựa và bò, được viện trợ từ Liên Xô, để ăn ngày hai bữa. Cô giáo tiểu học của tôi, lúc đó đi dạy luôn mang theo chuối nấu và bánh kẹo để bán chịu cho học trò, nhằm có thêm chút tiền sinh sống. Cuối năm, tặng quà tết cho cô, mẹ tôi cứ đắn đo giữa việc tặng quà hay đưa tiền mặt. Cuối cùng nắm chặt bì thư nhét vào tay cô giáo kèm một lời xin lỗi, mẹ tôi về kể lại với ánh mắt buồn buồn rằng cô giáo đã ôm mẹ tôi, nói rằng cô cám ơn vì mẹ tôi đã rất thực tế giữa buổi khốn khó đó. Hôm nay thì chuyện nhét ít tiền vào túi thầy cô đã không còn lạ, rất thông tục – thậm chí không có là không xong. Nhưng tôi thì nhớ mãi phút giây mẹ tôi cứ đau đáu vì sợ làm tổn thương người dạy học, thành phần được vô cùng kính trọng trong nền văn hoá giáo dục của miền Nam cũ.

Trong tập truyện kể Những tâm hồn cao thượng (Les Grands Coeurs) của Edmond De Amicis mà mẹ tôi tặng cho tôi khi vào lớp 3, như một cẩm nang sống, câu chuyện vị tướng quân quay lại ngôi trường cũ, cúi đầu trước người thầy già luôn làm tôi cảm động rơi nước mắt. Tình người và nghĩa thầy trò mới cao đẹp làm sao.

Bơi lặn trong cuộc đời, nhìn thấy những điều quặn lòng trong đời Việt, tôi luôn nhớ câu chuyện nhỏ đó như để ủi an cho mình. Tôi đọc những câu chuyện có thật về trò giết thầy rồi nhơn nhơn tự đắc như chuyện của Vũ Quang Hùng, chuyện hiệu trưởng dụ dỗ học trò vào đường cùng như Sầm Đức Xương… cho đến nhan nhản những chuyện trò nghèo không có kịp tiền đóng học phí, bị thầy cho bêu tên làm nhục dưới cột cờ, cô giáo thẳng tay đuổi học trò vì bị mẹ phê bình… Tôi hiểu cuộc sống hôm nay không đẹp như ngày xưa nữa, nghĩa thầy trò cũng phai nhạt theo thời gian. Tôi luôn nhớ câu chuyện của Edmond De Amicis mà dặn lòng, rồi sẽ có một ngày, người Việt sẽ dựng xây lại đất nước này với những điều tốt đẹp nhất – như thế hệ tôi từng biết.

Trong học vấn kém cõi của mình, tôi chỉ có hai người thầy hiếm hoi, bao dung nổi tính cách ngang ngược của mình. Một là người thầy trong Nhạc Viện, và người thầy môn Anh Văn. Thầy dạy Anh Văn là một người uyên bác lạ kỳ, ông biết năm thứ tiếng và đặc biệt là tiếng Latin, nên thường được chính quyền cậy nhờ làm việc mỗi khi đối thoại, thư từ với Vatican trong thời cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Người thầy dạy nhạc với hơn 30 năm tuổi đảng thì dặn tôi phải lớn khôn và đừng bao giờ trở thành người cộng sản. Người thầy dạy chữ thì khó tính và lặng lẽ, nhưng lại dạy cho tôi hiểu biết rất nhiều về thế giới không cộng sản.

Tôi nhớ hoài một cánh tay của ông bị liệt, nên khi dạy luôn phải dùng tay này đỡ tay kia. Sức khoẻ ông yếu nên mỗi ngày cần phải uống một viên multivitamin. Nhưng loại thuốc đó thì rất khó tìm trong thời tôi đi học. Nhiều năm sau khi ra đời, chuyến đầu tiên ra nước ngoài, tôi đã chạy tìm mua mấy hộp multivitamin để mang về cho thầy. Nhưng về, thì thầy đã mất. Sức ông yếu, lại trãi qua nhiều năm trong trại tù – gọi là trại học tập cải tạo nên đột quỵ, gượng phục hồi sau khi bị liệt nửa người, nhưng rồi suy nhược dần.

Ngày 20/11 luôn nhắc tôi nhiều điều. Dịp đến thăm lớp học tình thương của những đứa trẻ nghèo lại càng gợi lên trong tôi nhiều kỷ niệm. Tôi không đo được nghĩa thầy cô trong lòng những đứa trẻ được giáo dục trong mái trường xã hội chủ nghĩa hôm nay như thế nào, nhưng với thế hệ tôi, đó là điều thiêng liêng khôn tả, nó giống như sự kính trọng và thương mến thầy cô mà tôi nhìn thấy ở những lớp học tình thương đó.

Nhìn tấm thiệp tô mái trường đen ngòm của đứa trẻ, tôi chợt nhận ra rằng đời khốn khó không bao giờ có thể giết chết được nghĩa thầy cô. Mà chỉ khi nghĩa thầy cô cao cả ấy bị bóp chết trong một xã hội nhiễu nhương, trong một chính quyền với nền giáo dục nhiễu nhương, ấy mới chính là lúc tất cả chúng ta và mai sau đang có một cuộc sống rất đỗi đen ngòm.

———————-
tranh minh họa: họa sỉ Lê Thiết Cương

Bỏ môn học Lịch sử, một âm mưu “đốt gia phả” của dân tộc?

Bỏ môn học Lịch sử, một âm mưu “đốt gia phả” của dân tộc?

RFA

Trước thông tin Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD&ĐT dự kiến sẽ tích hợp môn Lịch sử với môn giáo dục công dân và an ninh quốc phòng thành môn mới là công dân với Tổ quốc. Điều này đã gây ra những phản ứng gay gắt của dư luận xã hội, đặc biệt là giới trí thức. Vì hầu hết mọi người đều cho rằng, Lịch sử là môn học rất quan trọng và cần phải được dành vị trí xứng đáng trong chương trình giáo dục hiện nay.

Tuy vậy, giải thích với báo chí ông Nguyễn Vinh Hiển, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cho rằng, thông tin nêu trên chưa đầy đủ và chưa phản ánh đúng bản chất việc đổi mới giáo dục lịch sử trong chương trình phổ thông. Vì theo ông Nguyễn Vinh Hiển thì, ở bậc tiểu học môn Lịch sử vẫn học giống như hiện nay, nhưng kiến thức lịch sử sẽ nằm trong một số môn học khác trong môn Tìm hiểu xã hội. Còn bậc trung học cơ sở, thì môn Lịch sử được tích hợp với Địa lý thành môn Khoa học xã hội và ở bậc trung học phổ thông, môn Lịch sử tiếp tục tích hợp với Địa lý thành môn Khoa học xã hội. Không chỉ thế, môn Lịch sử sẽ được tích hợp trong hai môn học bắt buộc, đó là môn Giáo dục công dân & Giáo dục quốc phòng và môn Công dân với Tổ quốc. Với mục đích để giáo dục học sinh về truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nghệ thuật quân sự của cha ông.

Phản ứng của dư luận

Nhà sử học Dương Trung Quốc cũng vô cùng ngạc nhiên khi Bộ GD-ĐT không hề tham khảo ý kiến của Hội khoa học Lịch sử Việt Nam khi xây dựng đề án này. Theo ông Dương Trung Quốc trong bối cảnh tình hình đất nước, láng giềng, khu vực và quốc tế diễn biến phức tạp như hiện nay cho thấy vấn đề chủ quyền, hội nhập là rất hệ trọng. Vì thế, hơn bao giờ hết, chúng ta không thể lãng quên lịch sử, đánh mất mình. Do vậy, nếu muốn thay đổi thì cần làm hết sức cẩn trọng, không thể làm đơn giản như cách đặt vấn đề của Bộ GD&ĐT vừa qua.

Theo VTC News cho biết, tại Hội thảo khoa học “Môn Lịch sử trong giáo dục phổ thông” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức ngày 15/11, nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng môn Lịch sử được tích hợp trong môn Khoa học xã hội và Công dân với Tổ quốc ở cấp trung học phổ thông (THPT) là không thỏa đáng và thiếu cơ sở khoa học và sẽ khiến học sinh càng quay lưng với môn Lịch sử.

Được biết trong cuộc hội thảo này, khi nói về tầm quan trọng của bộ môn Lịch sử GS. Phan Huy Lê thấy rằng lịch sử là cội nguồn sức sống của dân tộc Việt Nam và nếu không có sự kế thừa những truyền thống của dân tộc thì làm sao những thế hệ hiện tại có thể viết tiếp những trang sử, xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay và mai sau. Theo ông, cách làm của Bộ GD&ĐTsẽ “khai tử” môn Lịch sử trên thực tế.

Không chỉ thế, Thượng tướng, PGS, TS Võ Tiến Trung, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng khẳng định không thể đưa môn Lịch sử tích hợp với môn Giáo dục Quốc phòng. Vì theo ông Trung tích hợp môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh với các môn học khác trong cấp THPT là trái với quy định pháp luật của nước ta. Đồng thời, Giáo dục Quốc phòng – An ninh là môn học đặc thù cả về nội dung, phương pháp và hình thức, hơn 80% bài giảng mang tính trang bị kiến thức, kỹ năng thiết yếu để bảo vệ Tổ quốc, do vậy không thể tích hợp với môn học khác.

Ngày 16/11/2015, tại phiên chất vấn Chính phủ tại Quốc hội Đại biểu Lê Văn Lai (tỉnh Quảng Nam) cho rằng sai lầm về phương pháp sẽ dẫn tới sai lầm về kiến thức, nhất là kiến thức lịch sử trong thế hệ trẻ và sẽ không có chỗ cho sự khắc phục hoặc thiếu kinh nghiệm. Theo ông Lai thì cho rằng những vấn đề tưởng như nhỏ, nhưng thực chất lại không nhỏ, đã làm ảnh hưởng rất lớn đến các chủ thể liên quan. Đại biểu Lê Văn Lai khẳng định: “Theo tôi, bất cứ sự phá vỡ lớn nào cũng có nguyên nhân từ sự phá vỡ hệ thống. Chứng minh cho nhận định này là vấn đề tôi vừa chất vấn thầy Bộ trưởng về cách dạy môn Lịch sử. Vì đơn giản hóa vấn đề, chỉ chú trọng tới giấc mơ tích hợp mà quên mất hệ lụy khác”.

Chủ quyền HS-TS không được đưa vào giáo khoa Lịch sử

Theo báo Người Đô thị, tại Hội thảo môn sử trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức ngày 15.11 tại Hà Nội, GS-TS Nguyễn Quang Ngọc, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, cho biết cách đây hơn chục năm, khi được tham gia viết sách giáo khoa, ông đã tha thiết đề nghị phải đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào sách giáo khoa lịch sử phổ thông nhưng không được chấp nhận. Theo GS Ngọc, chỉ duy nhất trong sách giáo khoa lịch sử 10 (nâng cao) có một câu: “Kỹ thuật vẽ bản đồ cũng đạt được những thành tựu mới, trong đó đặc biệt là “Đại Nam nhất thống toàn đồ” được vẽ vào cuối thời Minh Mạng đã thể hiện tương đối chính xác hình ảnh nước Đại Nam thống nhất, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài Biển Đông”. Mà theo ông, đấy dường như cũng là câu duy nhất nói đến chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa trong toàn bộ bộ sách giáo khoa lịch sử phổ thông (cả chương trình chung và chương trình nâng cao) tính cho đến thời điểm này.

Cũng theo GS-TS Nguyễn Quang Ngọc cho biết, Hội Khoa học lịch sử đã nhiều lần đề nghị phải đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào trong chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông nhưng từ năm 2012 cho đến nay sách giáo khoa lịch sử phổ thông vẫn giữ nguyên như cũ, chưa có thêm một dòng một chữ nào về lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa và nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo trong sách giáo khoa lịch sử phổ thông cho đến thời điểm hiện tại vẫn đang còn là con số không tròn trĩnh.

Theo GS Ngọc, trong SGK lịch sử có bảy bản lược đồ nói về lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng cả bảy bản lược đồ này đều được hoàn thành từ lần xuất bản đầu tiên, không phải là bổ sung mới và không có bất cứ một lược đồ nào trực tiếp trình bày chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông hay các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Điều đáng nói là, vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng sa (đã bị Trung quốc cưỡng chiếm toàn bộ) và Trường sa thuộc chủ quyền của Việt nam đã bị chính phía Hà nội làm ngơ, việc không đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào trong chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ thông là bằng chứng cho thấy điều đó. Đây là hành động gián tiếp không thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, điều đó cho thấy chính quyền hiện nay đã “vô tình” tiếp tay cho giặc.

Cũng cần phải nhắc lại, vừa qua theo báo cáo của Ban Dân nguyện của Quốc hội thì cử tri của 28 tỉnh, thành phố đã kiến nghị và yêu cầu nhà nước tiến hành khởi kiện Trung quốc về chủ quyền của Việt nam đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa.

Có hay không một âm mưu “đốt gia phả” của Dân tộc?

Lịch sử của dân tộc Việt nam với hơn 4.000 năm lịch sử luôn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước, đó là những trang sử hào hùng của dân tộc với các chiến công đánh bại các cuộc xâm lăng của các thế lực bành trướng Trung Hoa. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi toàn bộ nền kinh tế và kể cả chính trị của Việt nam đã và đang gắn chặt vào Trung quốc và họ bị thao túng. Không chỉ thế, Trung quốc ngày càng tỏ ra lấn lướt và áp đảo Việt nam trong vấn đề chủ quyền trên các hòn đảo hay bãi đá ngầm trên Biển Đông. Thậm chí họ không ngần ngại khi tuyên bố rằng toàn bộ chủ quyền hai Quần đảo Hoàng sa và Trường sa thuộc về Trung quốc từ thời cổ đại. Bên cạnh đó là các hành động cấm cản và đánh đập ngư dân Việt nam trong quá trình đánh bắt cá trên vùng biển truyền thống của mình. Vậy mà chính quyền Việt nam không dám ho he phản đối đích danh Trung quốc, chỉ dám gọi tên “tàu lạ” hay “nước lạ”, dù rằng đén nay có khá hơn đôi chút song vẫn không dám khởi kiện Trung quốc ra Tòa án Quốc tế như Philippine đã làm và thu được kết quả ban đầu.

Thông qua chủ trương tích hợp môn học Lịch sử đã cho thấy, đây là một chủ trương từ âm mưu của lãnh đạo cấp cao nhất của ban lãnh đạo Việt nam, núp dưới danh nghĩa Nghị quyết Số: 29-NQ/TW “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường”. Chứ cái đó có lẽ không phải là ý kiến đơn thuần của lãnh đạo Bộ GD&ĐT. Điều đó chứng tỏ ban lãnh đạo Việt nam đang bị một thế lực vô hình nào đấy ép buộc với mong muốn bức tử và thậm chí muốn xóa sổ lịch sử của dân tộc Việt nam ra khỏi chương trình giáo dục phổ thông hiện nay. Đồng nghĩa với việc họ muốn xóa bỏ truyền thống đánh giặc phương Bắc của ông cha ta trong quá khứ, điều được coi là mối nhục của thế lực bành trướng phương Bắc ngàn đời đã không xóa sạch được.

Điều này được chứng minh qua nhận định của GS.NGND Vũ Dương Ninh (ĐH Quốc gia Hà Nội), khi cho rằng: “Không phải đến thời điểm này mà một vài thập kỷ qua, môn Sử đã bị đối xử thiếu công bằng”. Mà theo GS. Ninh thì đây là những việc làm có tính toán kỹ càng và chủ đích. Theo đó, ban đầu vì lý do giảm tải, nên môn Lịch sử không còn được coi là môn thi chính thức trong chương trình thi tốt nghiệp phổ thông. Sau là tới, việc cho học sinh được phép lựa chọn thi ngoại ngữ hoặc môn Sử. Chưa hết, đến nay môn học Lịch sử lại được dạy tích hợp với các môn khác và kết quả cuối cùng thì môn Lịch sử đã dần biến mất khỏi chương trình giáo dục phổ thông. Dù rằng môn Lịch sử là một ngành khoa học có chức năng riêng biệt và vô cùng quan trọng. Theo ông, đây là điều hết sức đau xót.

Câu hỏi “Có hay không một âm mưu “đốt gia phả”?”, nghĩa là có hay không một âm mưu nhằm xóa bỏ lịch sử của dân tộc Việt nam? Đây là một câu hỏi hoàn toàn nghiêm túc, không mang tính chất cảm tính nhằm khiêu khích để kích động tinh thần chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Mà đây là điều có thật, đã và đang diễn ra một cách ráo riết hầu như để phục vụ cho một kế hoạch nào đó, sẽ diễn ra vào năm 2020 trong quan hệ Việt – Trung, mà lâu nay dư luận đang đồn thổi và nghi ngờ.

Bên lề hành lang Quốc hội, trả lời phỏng vấn báo chí nhà sử học Dương Trung Quốc đã góp ý rằng Bộ GD-ĐT cần hết sức thận trọng, nhưng theo ông dường như những người đưa ra ý tưởng và triển khai sự đổi mới này đang ấp ủ một âm mưu nào đó không rõ ràng. Vị Đại biểu Quốc hội này khẳng định: “Bộ GD-ĐT luôn lập luận không bỏ môn lịch sử nhưng theo tôi, đó chỉ là cách nói và đã khiến chúng tôi rất nghi ngờ”.

Cho dù, Đại biểu Quốc hội – nhà sử học Dương Trung Quốc không nói rõ ông nghi ngờ cái gì, vì ở thế của ông cũng không được phép nói ra một cách huỵch toẹt, nhưng ai cũng hiểu Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc muốn cảnh báo điều gì đối với dư luận xã hội?

Kết:

Nhiều người cho rằng, bỏ xem thường hoặc bỏ môn Lịch sử là tự chúng ta quay lưng với quá khứ, quay lưng với những kết quả mà cha ông ta đã dày công để xây dựng bờ cõi nước Việt Nam từ ngàn xưa đến hôm nay. Bạn nghĩ thế nào khi mà các chiến thắng lẫy lừng như Bạch Đằng giang, Chi lăng, Đồng đa… của cha ông chúng ta trước giặc bành trướng phương Bắc sẽ bị rơi vào quên lãng? Vậy mà có kẻ đang muốn tìm cách vứt bỏ những kỳ tích đó đi, họ muốn xóa bỏ quá khứ, thông qua việc xóa sổ môn học Lịch sử và coi vấn đề lịch sử của dân tộc Việt nam không có giá trị.

Trong một thời gian dài, nhà nước Việt nam luôn phát động và tổ chức các cuộc vận động họ tập theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, song có lẽ họ quên rằng ngay từ năm 1942, lúc cách mạng Việt nam còn trong trứng nước, khi nước nhà chưa được độc lập, cũng là khi ông Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông đang còn hoạt động trong bóng tối. Tuy vậy, vào lúc đó ông Hồ Chí Minh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Lịch sử và coi đó là trách nhiệm của mỗi người công dân nước Nam. Ông đã từng viết trên Báo Việt Nam độc lập số 117, ngày 1-2-1942 rằng “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn.” – (Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia 2002).

Xin được trích lại, với hy vọng những người có trách nhiệm mở to mắt ra mà nhìn cái họa sắp đến của dân tộc Việt nam.

Ngày 18/11/2015

© Kami