PHỎNG VẤN Đức Cha MICAE HOÀNG ĐỨC OANH

PHỎNG VẤN Đức Cha MICAE HOÀNG ĐỨC OANH

Ban mục vụ TTXH Kontum

11/28/2015

Ngày 27/11/2015 vừa qua, Ban Mục Vụ Truyền Thông Xã Hội Giáo phận Kontum có dịp gặp Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục Giáo Phận Kontum, đã được Đức Thánh Cha Phanxicô chập thuận đơn xin nghỉ hưu theo Giáo luật 104,1 từ ngày 07.10.2015.

Sau 12 năm coi sóc Giáo phận Kontum, Đức Cha đã chia sẻ những tâm tư, ước nguyện cũng như những trăn trở và thao thức của mình.

PV: Con xin kính chào Đức Cha! Lời đầu tiên con xin cảm ơn Đức Cha đã dành thời gian cho ban mục vụ truyền thông xã hội của Giáo phận để chia sẻ những tâm tư, tình cảm cũng như những trăn trở, thao thức của Đức Cha trong vai trò Giám mục Giáo phận trong thời gian qua.

PV: Trước hết, Đức Cha có thể chia sẻ cho chúng con những kỉ niệm sâu sắc nhất của Đức Cha trong thời gian làm Giám mục của mình?

Đức Cha: Xin chào cha và anh chị em.

Kỷ niệm thì nhiều. Với tôi, giờ phút này, tôi nhớ tới những người, những sự việc đã xảy ra ở nhiều nơi trong Giáo phận, nhất là ở những vùng sống “3 không” – không nơi thờ phượng, không linh mục, không sinh hoạt tôn giáo bình thường.

PV: Chúng con được biết, Đức Cha là một trong những người rất có hồn tông đồ, hay đúng hơn là lửa tông đồ, vậy trong những năm qua Đức Cha đã quan tâm, ưu tiên đến hoạt động Tông đồ trong Giáo phận như thế nào và điều gì làm cho Đức Cha thật sự hài lòng?

Đức Cha: Tôi đã chọn bậc thang giá trị đời mục vụ và truyền giáo theo thứ tự ưu tiên như sau :

1- Trước nhất là : Đào tạo nhân sự, đặc biệt giới trẻ, từ đó có ơn gọi linh mục tu sĩ thừa sai.

2- Thứ đến : góp phần nâng cao mực sống người dân.

3- Thứ ba là : Xây dựng cơ sở như nhà cửa, nơi thờ tự….

PV: Xin Đức Cha có thể chia sẻ một vài kinh nghiệm Tông đồ của mình cho chúng con.

Đức Cha: Nói về kinh nghiệm sống, tôi nghĩ tới 2 điều :

1- Nghĩ ngay tới Chúa Giêsu 3 Đ : Sinh ngoài đồng, sống ngoài đường, chết ngoài đồi! Tôi cố noi theo Ngài bằng cách đến thăm được càng nhiều anh chị em khắp mọi miền càng tốt! Với tôi : “Đường là nhà, xe là giường, máy bay là khách sạn”. Đến với dân để học làm người với dân : đó là khởi điểm của sứ vụ loan báo Tin Mừng.

2- “Chúa là chủ lích sử”. Ngay cả trên thập giá, Ngài cũng tha thứ và từ nấm mồ, Ngài đã phục sinh. “Chúa luôn viết chữ thẳng trên đường cong!”.

PV: Kết thúc thời gian coi sóc Giáo Phận Kontum trong vai trò Giám mục, bên cạnh những tâm tình về những điều Đức Cha vừa chia sẻ, vậy đâu là những trăn trở, thao thức của Đức Cha về công tác mục vụ của Giáo phận và cần phải quan tâm, ưu tiên hơn nữa?

Đức Cha: Điều tôi ưu tiên quan tâm hiện nay là : Làm sao đem Tin Mừng yêu thương và sự thật đến cho mọi người, cách riêng cho giới trẻ trong xã hội hôm nay? Cho tôi hỏi nhỏ : Anh chị em có thể ngồi viết lách hoặc dễ dàng đọc sách hay suy gẫm giữa nơi ồn áo náo nhiệt không? Tâm trạng tôi lúc này cũng thế!

Này nhé Đất Nước : Nhờ phương diện truyền thông hiện đại, nhiều sự kiện tiếp diễn làm cho những người thiết tha với đồng bào quê hương Việt Nam, KHÔNG THỂ vô cảm. Mật ước Thành Đô, với tôi, vẫn là một thắc mắc và một bận tâm : Nó có thật không? Nhà hữu trách tới nay không một ai lên tiếng? Những người bị ghép cho danh hiệu “phản quốc, bán nước”, không một ai cải chính!? Với những ai tha thiết tới tiền đồ Đất Nước không thể dửng dưng! Nếu đúng như mạng Internet nói, thì quả là khủng khiếp và nguy to! Nếu đúng thì thời điểm 2020 nó lù lù xấn tới nơi rồi! “Người phương bắc đang hiện diện như da beo” khắp nơi trên Đất Việt – từ hàng hoá cho chí con người – phải chăng là những dấu đáng nghi ngại?! Nghĩ đến đó làm sao an tâm chỉ lo cho việc đạo, việc riêng….!!! Mất Nước, mọi chuyện khác hoá ra “nhỏ”và rồi ở với ai, với kiếp nô lệ mới!? Mất nước là mất tất cả! Tôi có bi quan quá không?

Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ và tự hỏi : Lớp trẻ – tương lai của Giáo Hội và Xã Hội – đang được hấp thụ một nền giáo dục nào? Một nền giáo dục quá nặng tính vật chất, công khai chống Trời (Thiên Chúa) chống Đất (môi trường sinh thái), một nền giáo dục coi nhẹ lịch sử và nặng tính chính trị phe phái, báo trước một tương lai đen tối cho mọi người cũng như cho tiền đồ Đất Nước. Các anh chị có nghĩ vậy không?

PV: Chúng con ghi nhận tất cả những tâm tình và thao thức của Đức Cha cũng như bao tâm tư của những người mang trong mình ý thức hệ, đều quan tâm, trăn trở với các thế hệ trẻ. Thưa Đức Cha, trải qua một thời gian khá dài trong vai trò Giám mục chánh tòa Giáo Phận Kontum, chắc hẳn Đức Cha có nhiều kinh nghiệm trong việc coi sóc Giáo phận, vậy Đức Cha có muốn chia sẻ một vài điều đối với vị Tân Giám mục, người sẽ kế nhiệm Đức Cha trong thời gian tới?

Đức Cha: Chúa Thánh Thần sẽ nói với Ngài. Khẩu hiệu Giám Mục của Ngài “Caritas in Veritate : Lòng Mến Trong Sự Thật” đã nói quá rõ con đường phục vụ Ngài đã chọn. Chính khẩu hiệu giới thiệu Ngài sẽ là một người mục tử khôn ngoan và hiền lành như lòng Chúa mong muốn vậy! (x. Mt 11, 29)!

PV: Một lần nữa chúng con rất cảm ơn về những chia sẻ thân tình và cởi mở của Đức Cha vừa rồi. Cầu xin Thiên Chúa ban nhiều ơn lành trên Đức Cha. Xin Đức Cha tiếp tục cầu nguyện để Giáo phận chúng ta ngày càng đón nhận nhiều hồng ân Thiên Chúa và mỗi Kitô hữu luôn cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống của mình./.

BAN MỤC VỤ TTXH

Giáo Phận Kontum thực hiện

Vấn nạn công dân bị chết ở nơi tạm giam, tạm giữ

Vấn nạn công dân bị chết ở nơi tạm giam, tạm giữ

Cái chết oan khuất của ông Trịnh Xuân Tùng trong tình trạng lạm quyền, sử dụng bạo lực thô bạo phổ biến của công an Việt Nam khi làm nhiệm vụ đã làm dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ. Ảnh băng rôn của gia đình treo trước tòa.

Cái chết oan khuất của ông Trịnh Xuân Tùng trong tình trạng lạm quyền, sử dụng bạo lực thô bạo phổ biến của công an Việt Nam khi làm nhiệm vụ đã làm dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ. Ảnh băng rôn của gia đình treo trước tòa.

Danlambao
 

Vấn nạn công dân bị chết bất thường tại nơi tạm giam, tạm giữ vẫn diễn ra thường xuyên tại Việt Nam.Đâu là nguyên nhân của tình trạng này.

Theo thống kê của bộ công an, trong ba năm (từ 2011- 2014) có khoảng 226 người bị chết bất minh tại nơi bị tạm giam, tạm giữ. Lý do của những cái chết bất minh thường được ngành công an giải thích rằng, nạn nhân chết do tử tự, chết do tập thể dục quá sức… Nhưng những nguyên nhân này không thuyết phục được thân nhân của nạn nhân và dư luận.

Nguyên nhân

Luật sư Nguyễn Văn Đài – người từng là nạn nhân của việc dùng nhục hình, bức cung, mớm cung ở nơi giam, tạm giữ cho rằng, trước đây người dân Việt Nam thường rất sợ hãi khi bị cơ quan an ninh mời, triệu tập đến nơi tạm giam, tạm giữ để hỏi cung. Và khi bị cơ quan an ninh điều tra, thẩm vấn họ thường ngoan ngoãn nghe theo, thậm chí có người còn trả lời theo kiểu ‘mớm cung’ của điều tra viên.

Tuy nhiên khoảng 4 năm lại đây, dưới sự tác động của các trang truyền thông, mạng xã hội, nên trình độ dân trí được nâng cao hơn trước. Do đó, khi bị đưa đến nơi tạm giam, tạm giữ người dân không làm những gì mà các điều tra viên mong muốn. Bởi người dân biết rằng họ không có nghĩa vụ phải khai báo, và yêu cầu điều tra viên đưa ra bằng chứng để kết tội. Điều này làm cho điều tra viên rất tức giận, vì họ đã quen với phong cách làm việc của họ, khi họ thẩm vấn bất kỳ người nào thì người đó phải ngoan ngoan trả lời câu hỏi của họ.

Chính sự tức giận của các điều tra viên đã gây nên cái chết của những người bị tạm giữ, tạm giam, Luật sư Nguyễn Văn Đài nói thêm:

“Họ (các điều tra viên) có những hành động bạo lực để đánh những người bị tạm giam, tạm giữ. Không may trong số viên đó đã đánh vào chỗ hiểm dẫn đến những nạn nhân bị trọng thương và qua đời”.

Chị Trịnh Kim Tiến – con gái của một nạn nhân bị điều tra viên đánh chết trong đồn công an cho rằng, nguyên nhân của những cái chết oan uổng ở nơi tạm giam, tạm giữ là do những điều tra viên muốn giải quyết nhanh sự việc để thăng chức, thói quen suy đoán có tội, bệnh thành tích, và tâm lý khinh thường pháp luật.

Chị Trịnh Kim Tiến nói thêm về nguyên nhân:

Vụ chết người mới nhất trong lúc bị công an Việt Nam tạm giam đã gây ra phẫn uất trong dư luận mấy ngày qua.Nạn nhân Đỗ Đăng Dư (17 tuổi) qua đời với nhiều vết bầm tím trên cơ thể trong khi bị tạm giam ngày 10 tháng 10, 2015
Vụ chết người mới nhất trong lúc bị công an Việt Nam tạm giam đã gây ra phẫn uất trong dư luận mấy ngày qua.Nạn nhân Đỗ Đăng Dư (17 tuổi) qua đời với nhiều vết bầm tím trên cơ thể trong khi bị tạm giam ngày 10 tháng 10, 2015

“Chưa kể đến những sự việc mà họ (điều tra viên) liên quan, họ bị mua chuộc trong đó để gây ra những thương tích và tang thương cho nạn nhân. Và hiện tại công an nắm quá nhiều quyền lực, khi nắm nhiều quyền lực sẽ dẫn đến việc lạm dụng quyền lực”.

Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh – thuộc dòng Chúa Cứu Thế, một người hoạt động năng nổ trong việc bảo vệ ‘nhân quyền’ cho những công dân Việt Nam cho rằng, nguyên nhân đầu tiên là việc bắt giam người không đúng trình tự pháp luật của cơ quan an ninh điều tra. Vì cơ quan an ninh điều tra luôn tự ý bắt người trái pháp luật, trong khi dân chúng lại không biết pháp luật, nên cơ quan điều tra thỏa thích làm sai mà không sợ dân kiện tụng. Và khi bắt người rồi, cơ quan điều tra lại phải chứng minh rằng mình bắt đúng. Do đó họ sẽ ‘mớm cung’ rồi dùng nhục hình để ép cung nạn nhân.

Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh nói thêm:

“Nguyên nhân thứ hai là công an có quyền giữ người độc lập quá lâu, và không có cơ quan nào khác giám sát. Từ khi bắt, quyết định khởi tố vụ án cho đến được đưa ra tòa, chỉ có một mình công an vừa giám sát, vừa điều tra, vừa quản lý, và công an làm những gì đối với những người bị tạm giam thì hoàn toàn không ai biết họ có được an toàn hay không? Chính vì vậy, họ có thể dùng các biện pháp nhục hình tra tấn, để mong có được kết quả, thậm chí là kết quả có được từ việc ép cung sau khi sử dụng nhục hình ”.

Cũng theo Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh, ngoài hai nguyên nhân chính ở trên, việc hệ thống pháp luật Việt Nam (trước đây) chưa công nhận quyền ‘im lặng’ của công dân cũng làm cho tình trạng công dân bị chết ở nơi tạm giam, tạm giữ gia tăng. Và bởi vì Việt Nam vừa mới công nhận quyền ‘im lặng’ cách đây mấy ngày, cho nên vẫn chưa áp dụng được vào thực tế.

Giải pháp

Trước vấn nạn công dân bị chết bất minh ở nơi tạm giam, tạm giữ. Việc tìm giải pháp để hạn chế vấn nạn này đang được rất nhiều người quan tâm. Chị Trịnh Kim Tiến góp ý về việc điều tra với mong muốn không còn ai phải chịu đựng cảnh người thân bị chết bất minh trong đồn công an, chị nói:

Bố nạn nhân đau đớn trước cái chết của con trai, em Tu Ngọc Thạch, 14 tuổi, học sinh lớp 9 Trường trung học phổ thông Lương Thế Vinh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà, đã bị công an đánh chết
Bố nạn nhân đau đớn trước cái chết của con trai, em Tu Ngọc Thạch, 14 tuổi, học sinh lớp 9 Trường trung học phổ thông Lương Thế Vinh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà, đã bị công an đánh chết

“Điều tra là việc cần thời gian, không thể gấp gáp được, và việc điều tra cần tỉ mỉ, không phải anh cứ tra tấn cho người ta người ta và ép người ta nhận tội là có thể quy kết tội cho người ta được.”

Luật sư Nguyễn Văn Đài đề xuất những giải pháp để giảm tối thiểu vấn nạn công dân bị chết bất minh trong đồn công an, ông nói:

“Thứ nhất, khi một người khi bị tạm giữ, tạm giam thì người thi hành lệnh bắt phải nói rõ cho người bị bắt rằng, anh có quyền im lặng cho đến khi có luật sư. Phải nói rõ cho họ biết họ có quyền gì trước cơ quan điều tra.

Thứ hai, trong quá trình chờ đợi, điều tra viên không được phép tiến hành cuộc thẩm vấn nào cho đến khi có mặt luật sư của họ. Trong tất cả những cuộc hỏi cung, thẩm vấn đều phải có mặt của luật sư.

Thứ ba, trong quá trình thẩm phải được quay phim, thâu âm để đảm bảo tính khách quan.

Thứ tư, khi một người bị đưa đi thẩm vấn, phải đảm bảo có giấy cam kết ký về tình trạng sức khỏe trước khi bàn giao người cho điều tra viên. Và khi trở về thì phải có biên bản hay kiểm tra sức khỏe xem người đó có vấn đề gì hay không?”

Cũng theo Luật sư Nguyễn Văn Đài, đối với những trường hợp chưa nằm trong khung luật tạm giam, tạm giữ, khi nạn nhân ở đồn công an thì rất khó có cơ chế nào bảo vệ họ, bởi chỉ vài giờ làm việc với điều tra viên thì nạn nhân đã tử vong.

Trong những ngày qua, phía chính quyền Việt Nam đã thay đổi rất nhiều luật để hạn chế vấn nạn này như, công nhận quyền ‘im lặng’ của công dân, cho thâu hình và thâu âm khi thẩm vấn, hay việc tách nơi tạm giam, tạm giữ ra khỏi cơ quan điều tra nhưng vẫn thuộc sự quản lý của bộ công an.

Tuy nhiên, theo Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh, những động thái của chính quyền là chưa đủ, và không cải thiện được được tình trạng bi đát trong các trại tạm giam, tạm giữ. Đặc biệt trong những vụ án bị chính quyền gọi là ‘vi phạm an ninh quốc gia’, thì ngành công an làm việc theo chỉ đạo của đảng và chính phủ. Với những vụ án như vậy, công an có thể xóa sạch những bản thâu của camera, rồi dùng nhục hình để bức cung… để điều tra theo hướng có lợi cho họ, do bộ công an vẫn một mình quản lý tất cả, nên việc này là quá dễ dàng.

Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh nói tiếp:

“Giải pháp tốt khi tạm giam, tạm giữ là phải giao cho một bộ phận khác, hiện nay bộ phận tương đối có thể là bộ lao động thương binh xã hội, còn nếu không thì giao cho một tổ chức dân sự độc lập quản lý.”

Cuối cùng, Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh nhấn mạnh rằng, pháp luật phải vì con người, để bảo vệ con người… Tuy nhiên tại Việt Nam, hệ thống giám sát và điều hành pháp luật hiện nay đang có vấn đề. Điều này khiến cho nhiều người dân đang rất hoang mang và lo lắng mỗi khi bị cơ quan điều tra mời lên làm việc. Và điều này đã trực tiếp tạo nên tình trạng rất nguy hiểm cho công dân Việt Nam trên khắp cả nước.

“Đại bác” Tập Cận Bình và họng pháo chĩa vào tàu Việt Nam

“Đại bác” Tập Cận Bình và họng pháo chĩa vào tàu Việt Nam

TTT/ Soha News

Hải Võ

29-11-2015

H1

Hôm 13/11, tàu tiếp tế Hải Đăng 05 của Việt Nam đã bị tàu chiến số 995 của Trung Quốc vây ép và chĩa súng khi đi qua khu vực đá Xu Bi, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Trung Quốc bị cộng đồng quốc tế công kích chưa từng thấy

Thuyền trưởng tàu Hải Đăng 05 Trần Văn Nga cho biết, khoảng 9h30 sáng 13/11, khi tàu tiếp tế này đi ngang qua bãi đá Xu Bi (bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép-PV) khoảng 12 hải lý thì Trung Quốc điều một tàu nhỏ ra đuổi.

Đến khoảng 11h cùng ngày, hai tàu hải cảnh số hiệu 2305 và 35115 của Trung Quốc xuất hiện và tổ chức vây ép từ mũi và đuôi tàu Việt Nam.

Trao đổi với chúng tôi, chuyên gia Kiều Tỉnh – nguyên Trưởng phân xã TTXVN tại Bắc Kinh và Hồng Kông – chỉ ra, vụ việc diễn ra trong thời điểm chỉ 1 tuần sau chuyến thăm Việt Nam, Singapore của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (5-7/11) và trước thềm các hội nghị cấp cao ở Đông Nam Á từ 18/11.

Ông Kiều Tỉnh phân tích: “Vừa rời Việt Nam ngày 6/11 thì ngày 7/11 ông Tập Cận Bình tuyên bố ở Singapore rằng ‘các đảo ở Biển Đông là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời cổ đại, và chính phủ Trung Quốc phải nhận trách nhiệm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và các lợi ích hàng hải hợp pháp’.

Sau đó, từ 12 đến 14/11 thì Trung Quốc cho hàng trăm tàu cá ra vây 5 tàu cá Việt Nam, phá nát hơn 40 tấm lưới ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ. Vụ tàu Trung Quốc vây ép và chĩa súng vào tàu tiếp tế Việt Nam cũng xảy ra trong thời gian này.

Trung Quốc ngụy biện đây là vùng biển ‘mập mờ, không rõ’ nên khó tránh va chạm đáng tiếc. Nhưng thực tế, đây là hành động có ý đồ, có hệ thống và vẫn diễn ra thường xuyên, tuân theo chiến lược chung của Bắc Kinh tại biển Đông.”

Trước đó, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường – Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển Quan hệ Quốc tế (CSSD) – cho rằng tuyên bố trên của ông Tập “là luận điểm quan trọng nhất mà Trung Quốc sử dụng”.

Theo ông Trường, bối cảnh cộng đồng quốc tế chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trong khu vực đã khiến đích thân người đứng đầu nhà nước Trung Quốc phải nhiều lần nhắc lại luận điệu vô căn cứ này trong thời gian qua.

“Trung Quốc đã phải dùng đến ‘đại bác’ (Tập Cận Bình-PV) để củng cố những lập luận sai trái của mình trước đây,” Tiến sĩ Trường đánh giá về phát ngôn của ông Tập tại Singapore hôm 7/11.

Quan trọng hơn, chuyên gia Kiều Tỉnh nhận định trong bối cảnh quốc tế thời gian qua, nhất là trước Hội nghị thượng đỉnh APEC (18-19/11) tại Philippines, Bắc Kinh đã phải tìm cách thỏa thuận để vấn đề biển Đông không lên bàn nghị sự.

“Nước chủ nhà APEC Philippines thỏa thuận với Trung Quốc không nêu vấn đề biển Đông trong chương trình nghị sự, nhưng rất nhiều nước đều nêu vấn đề này. Điều này khiến ông Tập Cận Bình bị cô lập và khó chịu.

Ngoài ra, khi đoàn Việt Nam sang tham dự hội nghị APEC tại Manila, ta và Philippines đã ký văn kiện nâng tầm quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện.”

Ông nói thêm: “Còn hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) diễn ra sau đó tại Malaysia mà Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đi dự được truyền thông quốc tế bình luận là thắng lợi lớn của ASEAN.

Lý do bởi lần đầu tiên trong khuôn khổ hội nghị này, Trung Quốc đã bị tất cả các lãnh đạo châu Á-Thái Bình Dương công kích về vấn đề biển Đông.

Trong đó, Bắc Kinh bị chỉ trích về việc không tuân thủ luật pháp quốc tế, làm ảnh hưởng đến tự do hàng hải trên biển Đông.”

Tham gia các hội nghị cấp cao khu vực này, Mỹ và đồng minh thân cận đều tuyên bố “mạnh tay” hỗ trợ các nước Đông Nam Á.

Nhà Trắng cho biết Mỹ sẽ hỗ trợ 119 triệu USD để giúp ASEAN tăng cường an ninh trên biển trong năm tài chính 2015 và thêm 140 triệu USD trong 12 tháng tới. Mỹ cũng tái khởi động hoạt động tuần tra trên biển Đông.

H1

Bắc Kinh “ngôn hành bất nhất” chẳng có gì lạ

Trong bối cảnh Bắc Kinh bị cô lập bởi cộng đồng quốc tế châu Á-Thái Bình Dương về vấn đề biển Đông mà “đại bác” Tập Cận Bình đã phải “mở loa”, sự kết hợp của quân đội nước này bằng các “họng pháo thật” uy hiếp, đe dọa sai trái tàu thuyền láng giềng trên biển Đông không khó giải thích.

Ông Kiều Tỉnh đánh giá trong bối cảnh như vậy, có thể lý giải được động cơ hành động ngang ngược, phi pháp những ngày qua của Trung Quốc, bên cạnh ý đồ lớn của Bắc Kinh.

Ông cho biết: “Trước sự cô lập của cộng đồng quốc tế, tuyên bố mạnh miệng của Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân tại EAS bao biện cho các hành động trái phép trên biển Đông cũng chỉ để có lệ và ‘nhai lại’ luận điệu cũ.”

“Chính quyền Trung Quốc có quyền và khả năng giành lại những quần đảo, rạn san hô bị các nước láng giềng chiếm đóng trái phép. Nhưng chúng tôi không làm như vậy. Chúng tôi đã kiềm chế rất nhiều vì mục đích duy trì hòa bình và ổn định ở biển Đông,” Lưu Chấn Dân lớn tiếng tại EAS.

“Phản ứng này không có gì đặc biệt hay mới mẻ, chủ yếu nhằm phát đi thông điệp thách thức rằng ‘Trung Quốc làm gì thì vẫn sẽ tiếp tục làm’,” ông Kiều Tỉnh nhận xét.

Bên cạnh đó, theo chuyên gia Kiều Tỉnh, một vấn đề nữa cũng khiến Bắc Kinh bất mãn trong thời gian qua là việc đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đã bị “tụt hậu” trước Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường cũng cho rằng việc Trung Quốc hành động trái với những tuyên bố hữu hảo với Việt Nam như vụ chĩa súng vào tàu tiếp tế hôm 13/11 không còn là điều lạ lẫm.

Theo ông Trường: “Trước sau gì Trung Quốc cũng gây hấn và tìm cách chiếm những con đường biển giao thông, tiếp tế của ta. Điều này đã nằm trong ý đồ của Bắc Kinh và họ sẽ tiếp tục nếu không có sức ép từ cộng đồng quốc tế để ngăn chặn.”

Ông Kiều Tỉnh bổ sung: “Từ trước đến nay Trung Quốc vẫn hành động kiểu ‘ngôn hành bất nhất’ như vậy và chính truyền thông của họ cũng quan ngại về điều này.

Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, ngày 15/10/2011, hai bên đã thỏa thuận 6 điểm về Biển Đông thì tới tháng 6/2012, Trung Quốc đã bất chấp thỏa thuận, tiến hành thăm dò dầu khí trên thềm lục địa của Việt Nam.

Cũng như vậy, hai bên đã thỏa thuận 3 biện pháp tăng cường hợp tác trên biển khi ông Lý Khắc Cường thăm Việt Nam tháng 10/2013, nhưng chưa được bao lâu thì tháng 5/2014, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải dương 981 vào tác nghiệp trái phép ngay trong thềm lục địa của Việt Nam.”

Bầu cử ở Myanmar và những bài học cho Việt nam

Bầu cử ở Myanmar và những bài học cho Việt nam

Trước nhiều chỉ dấu cho thấy, chính quyền Hà nội đang có một số động thái sẽ nới rộng và đưa nền chính trị Việt nam xích gần lại các giá trị tiến bộ của thế giới hơn. Điều đó cho thấy, việc cải cách chính trị ở Myanmar, đưa đất nước này thoát ra khỏi chế độ độc tài quân sự để bước sang một nền chính trị đa nguyên, theo những tiêu chí của văn minh nhân loại là một bài học có giá trị rất lớn cho sự thay đổi tất yếu tại Việt nam trong thời gian tới.

Cụ thể, theo RFA cho biết, Luật sư Vũ Đức Khanh, hiện sống và làm việc ở Canada nói rằng ông nhận được điện thoại từ một lãnh đạo rất cao cấp của Đảng CSVN, đề nghị cho biết ý kiến về tiến trình dân chủ tại Miến Điện sau khi đảng đối lập thắng lớn. Không chỉ thế Luật sư Vũ Đức Khanh còn cho biết thêm là cuối buổi nói chuyện, vị lãnh đạo Việt Nam nói với ông rằng, ông hy vọng một ngày không xa luật sư Vũ Đức Khanh có thể ra tranh cử tại Việt Nam.

Ủy ban Bầu cử quốc gia của Myanmar đã chính thức công bố kết quả cuộc bầu cử mang tính lịch sử ngày 8/11/2015, đây là một cuộc bầu cử Quốc hội được đánh giá rằng tự do, dân chủ nhất trong lịch sử chính trị của Myanmar. Theo đó, đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi đã giành thắng lợi với 393 ghế trên tổng số 491 ghế, trong lúc đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết Phát triển (USDP) chỉ chiếm được 40 ghế. Theo dự kiến, việc chuyển giao quyền lực ở Myanmar sẽ hoàn tất vào tháng 4/2016, kể từ đó chính phủ mới của bà Aung San Suu Kyi sẽ chính thức nắm quyền lãnh đạo đất nước. Và người ta hy vọng lịch sử Myanmar sẽ bước sang một chương mới, kỷ nguyên của tự do, dan chủ và phát triển. Tuy nhiên trước mắt đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi còn những thách thức không nhỏ.

Sửa đổi Hiến pháp 2008 không dễ

Mục tiêu của NLD cũng như các đảng phái khác, cũng như của các nhóm sắc tộc tuyên bố trong thời gian vận động bầu cử là, họ sẽ tiến hành sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008, mà họ cho rằng chưa thực sự mang tính chất dân chủ. Như việc quy định để không cho phép bà Aung San Suu Kyi giữ chức vụ Tổng thống, hay quy định về quyền của các nhóm sắc tộc ở các vùng hiện đang thuộc quyền kiểm soát của họ v.v… là những nội dung cần được sửa đổi. Nếu căn cứ vào nội dung thỏa thuận ngưng bắn giữa chính quyền Myanmar và các các nhóm sắc tộc, có ghi rõ việc ngừng bắn dựa trên nền tảng một Hiến pháp Myanmar trong đó có các cam kết tôn trọng quyền tự trị (ban hành một số luật trong vùng của mình) ở một mức độ nhất định của các nhóm sắc tộc. Thì đây cũng là một lối thoát, có thể buộc phe quân đội ủng hộ cho việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008.

Theo các nhà phân tích chính trị Myanmar đều thấy rằng, việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008 là một việc hết sức khó khăn. Vì theo quy định, Hiến pháp Myanmar chỉ được sửa đổi khi có sự đồng thuận của trên 75% tổng số dân biểu, trong lúc theo quy định số ghế của quân đội trong cơ quan lập pháp đã là 25% . Trong lúc số ghế trong Quốc hội của đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi cũng chưa đạt đến mức 75%.

Do vậy, việc bà Aung San Suu Kyi sẽ nắm chức vụ Tổng thống Myanmar là một điều hầu như không thể và cũng hết sức khó khăn nếu như chính phủ mới không tiến hành được việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008. Tuy nhiên, việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008 còn là mong muốn của các nhóm sắc tộc ở Myanmar hiện nay, do đó nếu đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi biết liên kết với các nhóm sắc tộc và giành được sự đồng thuận của quân đội, thì việc này vẫn có thể xảy ra.

NLD phải làm gì để tồn tại?

Đến nay, việc xác định ai sẽ là Tổng thống mới của Myanmar vẫn chưa có câu trả lời. Chỉ biết rằng gần đây, bà Aung San Suu Kyi đã tuyên bố rõ ràng rằng, nếu Đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ giành thắng lợi và nắm quyền lãnh đạo nhà nước thì bà sẽ nắm vai trò người lãnh đạo tối cao, trên cả Tổng thống Myanmar. Nhiều nguồn tin cho rằng, bà Aung San Suu Kyi sẽ nắm giữ chức Chủ tịch Quốc hội Myanmar theo thỏa thuận với các lãnh đạo Hội đồng An ninh Quốc gia.

Việc sửa đổi Hiến pháp Myanmar năm 2008 chắc chắn phải nhận được sự đồng tình của phe quân đội thì mới có thể tiến hành được. Do vậy, một gánh nặng được đặt lên vai của bà Aung San Suu Kyi là phải xử sự thế nào để giành được sự đồng thuận từ phe quân đội.

Tuy nhiên, việc thành lập chính phủ của đảng NLD sẽ không dễ dàng và thuận buồm xuôi gió, khi mà phe quân đội Myanmar vẫn nắm vai trò chủ đạo theo quy định của Hiến pháp Myanmar năm 2008. Theo đó, số ghế của quân đội trong cơ quan lập pháp là 25% theo quy định; cũng như các vị trị Bộ trưởng các bộ quan trọng như Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ và Bộ An ninh Biên giới phải do các tướng lĩnh Quân đội nắm giữ; hay cơ quan tối cao là Hội đồng An ninh Quốc gia Myanmar sẽ có 11 thành viên, trong đó 6 nhân vật là tướng lĩnh quân đội được chỉ định và 5 vị trí còn là do dân cử. Điều đó cho thấy quân đội Myanmar vẫn giữ một vai trò quan trọng trong chính trường của Myanmar. Nghĩa là con tàu Myanmar do đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo là người cầm lái sẽ gặp không ít sóng gió từ phe quân đội, một khi chính sách của NLD tỏ ra trái ý và có nguy cơ mang lại những bất lợi cho họ. Kể cả đánh đắm “con thuyền” này.

Tiến trình dân chủ hóa ở Myanmar hiện nay khó có thể đảo ngược, vì kết quả bầu cử vừa qua ở Myanmar đã cho thấy đã số cử tri Myanmar đã nói không với sự nắm quyền của quân đội và họ đã dồn toàn bộ sự ủng hộ cho đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi. Tuy vậy, việc cử tri Myanmar dồn toàn bộ sự ủng hộ cho đảng NLD, hoàn toàn không phải vì tất cả đều ủng hộ đảng của bà Aung San Suu Kyi, mà vì họ đã chán ghét chính quyền độc tài quân nhân Myanmar đã cai trị trong hơn 50 năm qua ở đất nước này nhưng không còn lựa chọn nào tốt hơn.

Gác lại quá khứ, nhìn về tương lai là nhiệm vụ của đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi sau khi nhận chuyển giao quyền lực. Điều đó cho thấy, chính phủ mới của bà Aung San Suu Kyi sẽ không thể có các chính sách nhằm “trả thù” chính quyền quân sự về những việc làm trong quá khứ. Mà quan trọng nhất là đảng NLD phải khôn khéo, biết dựa vào ảnh hưởng của phe quân đội để tiến hành các cải cách và quan trọng nhất là phải kéo dài thời gian cầm quyền của mình.

Bài học cho Việt nam

Kết quả bầu cử vừa qua ở Myanmar là kết quả mà phe quân sự không thể ngờ tới, vì trước ngày bầu cử họ vẫn công bố các kết quả điều tra xã hội học, mà theo đó cho thấy họ (đảng USDP) đã nhận được sự ủng hộ của dân chúng tới 60%, thậm chí có nơi là 80%. Lúc ấy, dư luận cho rằng vài tháng trước bầu cử đảng đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết Phát triển (USDP) đã lợi dụng danh nghĩa của chính quyền, để tiến hành các chính sách an sinh xã hội như: cho dân chúng vay một khoản tín dụng, thậm chi là chia tiền. Tuy vậy kết quả cuối cùng thì họ vẫn thất bại.

Kết quả này càng làm cho người ta hy vọng rằng, tiến trình dân chủ hóa ở Myanmar sẽ thu được những kết quả đáng khích lệ, tạo cơ sở cho sự chuyển mình của đất nước Myanmar sau hơn 50 năm được cai trị bởi tập đoàn quân sự. Dù rằng, sự so sánh giữa phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt nam với Myanmar còn quá khập khiễng, vì sự khác nhau cơ bản về đẳng cấp và bài bản. Trong bài viết này, xin sẽ bỏ qua việc phân tích các nhược điểm cũng như sự tồn tại của lực lượng đấu tranh cho dân chủ ở VN, để đưa ra 03 bài học sau:

1. Sự thay đổi nhận thức của lãnh đạo

Đây là vấn đề quan trọng và mang ý nghĩa quyết định nhất, nếu không có sự thay đổi về nhận thức của ban lãnh đạo đương quyền thì tiến trình dân chủ hóa sẽ khó có thể xảy ra vì nó sẽ gặp phải muôn vàn các trở ngại từ phía chính quyền. Tuy vậy, sự thay đổi nhận thức của lãnh đạo cũng phải xuất phát trên nền tảng đòi hỏi cải cách chính trị của người dân. Như lời của ông Thein Sein, Thủ tướng Manmar nói với báo giới rằng “Đơn giản là chúng tôi chỉ đáp ứng mong muốn cải cách của người dân. Do vậy tương lai của (đất nước) chúng tôi phụ thuộc vào người dân và nguyện ước của họ”

Bài học các cuộc biểu tình phản đối sự quản lý kinh tế yếu kém và sự áp bức chính trị xảy ra vào năm 1988, mà đỉnh cao là việc quân đội Myanmar đã nổ súng vào những người biểu tình ngày 8 tháng 8 năm 1988. Máu đã đổ và biết bao nhiêu người đã ngã xuống, song cuộc biểu tình năm 1988 đã đẩy đất nước Myanmar tới bờ vực của một cuộc cách mạng. Để đối phó, các tướng lĩnh Manmar đã tiến hành một cuộc đảo chính nhằm để xoa dịu dân chúng. Và sau đó Myanmar quay trở lại quốc hiệu Liên bang Myanmar –  Union of Myanmar. Tuy vậy, cuộc cách mạng 2008 cũng đã dọn đường cho cuộc bầu cử Quốc hội Nhân dân năm 1990 với kết quả Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ – NLD của bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo, thắng hơn 60% số phiếu và 80% ghế trong quốc hội trong cuộc bầu cử 1990. Đây là một cuộc bầu cử đầu tiên được tổ chức trong 30 năm dưới sự cầm quyền của chính phủ quân sự. Và tuy rằng kết quả của cuộc bẩu cử này sau đó đã bị chính quyền bác bỏ. Nhưng đã cho thấy rằng đòi hỏi cải cách chính trị của đông đảo người dân là yếu tố hết sức quan trọng. Điều này ở Việt nam mới ở mức nhen nhóm.

Như vây cho thấy, sự thay đổi nhận thức của lãnh đạo các chính quyền độc tài chỉ xuất hiện khi họ phải đối mặt với sức ép, cũng như sự thách thức của dư luận xã hội và sức ép của các tổ chức chính trị đối lập ở một mức độ cao, buộc họ phải chấp nhận sự thay đổi các chính sách về hệ thống chính trị. Đây là điều hiện còn thiếu ở Việt nam.

2. Chuyển đổi trong trật tự trên tinh thần xây dựng

Lịch sử chính trị thế giới trong những năm gần đây cho thấy, đa số các cuộc cách mạng nhằm chuyển đổi thể chế chính trị từ độc tài sang dân chủ luôn bị ảnh hưởng của bạo lực và xung đột vũ trang, không chỉ từ phía nhà cầm quyền mà còn xảy ra giữa các lực lượng làm cách mạng với nhau. Từ đó diễn ra tình trạng nội chiến và xung đột kéo dài không có hồi kết. Đây là nguy cơ trầm trọng và là sự thất bại, khi người ta đánh đổi sự độc tài bằng một cuộc nội chiến.

Ở Myanmar đã tiến hành chuyển đổi thành công trong trật tự và hòa bình, cho dù hiện nay ở Myanmar vẫn tồn tại tới 23 nhóm vũ trang của các sắc tộc ít người, đang hoạt động ở vùng rừng núi, cũng như việc Myanmar đã chịu sự nắm quyền của tập đoàn độc tài quân sự trong thời gian hơn 50 năm. Song các giá trị về dân chủ và khát vọng của người dân về một nền chính trị tiến bộ vẫn không hề bị dập tắt, bất chấp sự đàn áp không thương tiếc của nhà cầm quyền quân sự.

Bên cạnh cuộc đấu tranh vũ trang của các lực lượng phiến quân thì cuộc đấu tranh bất bạo động vẫn tồn tại, phát triển và giành được các kết quả ngoạn mục. Đó là cuộc đấu tranh không khoan nhượng, dựa trên nền tảng hòa hợp để xây dựng và phát triển của phong trào đấu tranh dân chủ ở Myanmar. Có những lúc một số đông sinh viên Myanmar, bị đàn áp đã không lựa chọn con đường định cư ở quốc gia thứ 3, mà họ lựa chọn tỵ nan tại Thái lan để tiếp tục tranh đấu với hy vọng cho sự chuyển biến chính trị cho Myanmar.

Đây có lẽ là điều khác hoàn toàn với phong trào tranh đấu cho dân chủ ở Việt nam, khi mà đến lúc này nhiều người chưa thấy ở họ một chủ trương cụ thể: đấu tranh để buộc nhà cầm quyền chuyển đổi hay đấu tranh để lật đổ chế độ hiện tại?

3. Hóa giải mối quan hệ với Trung quốc

Các nhà phân tích chính trị quốc tế đề có một nhận xét chung rằng, sự thay đổi chính trị ở Myanmar sẽ khó xảy ra, nếu ảnh hưởng và sự ủng hộ từ Trung Quốc vẫn tồn tại. Tuy vậy ban lãnh đạo của chính quyền quân sự Myanmar đã chuyển đổi chính sách đối ngoại, từ chính sách đóng cửa và dựa hẳn vào Trung quốc sang chính sách quan hệ hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới đặc biệt với các nước láng giềng, khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi. Đặc biệt là cở mở hơn với phương Tây, tuy nhiên mối quan hệ với Trung quốc vẫn được họ xử lý một cách khéo léo và hài hòa.

Chủ trương của chính quyền Hà nội đến nay đối với Trung quốc hiện nay cũng đã rõ ràng hơn, cho dù chỉ là ở mức khiêm tốn, song cũng cho thấy sự thao túng của Trung quốc vào nền chính trị Việt nam cũng chỉ ở mức độ, mà không có tình trạng làm mưa làm gió như trước đây. Đặc biệt là thái độ cứng rắn và cương quyết hơn của ông Nguyễn Tấn Dũng, người được đồn đoán rằng sẽ nắm chức vụ cao nhất của Đảng CSVN trong năm 2016. Đây cũng là một tiền đề cần thiết cho sự chuyển đổi chính trị ở Việt nam nếu có trong tương lai.

Kết

Hiện nay ở Việt nam cho dù chưa có một khảo sát xã hội học nào khẳng định tỷ lệ % người dân ủng hộ Đảng CSVN là bao nhiêu? Song có ý kiến  cho rằng sự ủng hộ đó ít nhất sẽ trên 50 %. Tuy vậy, sự chần chừ trong việc cải cách chính trị của ban lãnh đạo Việt nam cho thấy, nhận xét đó ít có khả năng thuyết phục. Vì nếu như sự ủng hộ của dân chúng cho Đrng CSVN ở mức như vậy thì lý do nào khiến họ không dám cải cách chính trị? Hay là họ biết rằng sự ủng hộ của dân chúng ở Việt nam cũng sẽ theo như kết quả bầu cử ở Myanmar vừa qua?

Dù sao đi chăng nữa, tiến trình dân chủ hóa ở Việt nam là con đường tất yếu và đúng đắn. Nhất là trong lúc nền kinh tế Việt nam đang chao đảo bởi nợ nần, do sự hoạt động kém hiệu quả của các doang nghiệp nhà nước và sự quản lý yếu kém. Trong lúc xã hội bát nháo, các quan chức nhà nước ngày một lộng hành trong việc bắt nạt dân, cũng do hậu quả của một hệ thống luật pháp không nghiêm minh, công lý không được tôn trọng thì việc cải cách chính trị để chuyển đổi từ nền chính trị độc tài một đảng sang đa nguyên dân chủ là việc làm hết sức cần thiết. Nó cũng là giải pháp nhằm tháo ngòi nổ cho quả “bom”, khi mà mọi áp lực xã hội và sự bất mãn của dân chúng ngày càng tăng cao.

Đổi mới thể chế chính trị, xóa bỏ độc tài chuyên chế theo mô hình nhà nước XHCN của chủ nghĩa Marx – Lenin để tiến tới một nền chính trị dân chủ, tự do như hầu hết các quốc gia trên thế giới đã theo đuổi và đạt được những thành tựu to lớn. Nền chính trị dân chủ thực chất là sự tôn trọng và coi quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân, và phải do nhân dân quyết định và lựa chọn. Trong nhiều chục năm trở lại đây, Đảng CSVN đã đưa đất nước đi từ hết sai lầm này đến sai lầm khác. Và đến nay Việt nam đã chính thức tụt hâu với thế giới và khu vực, kể cả Lào, Campuchia… cũng đã vượt chúng ta. Do vậy, Đảng CSVN không còn bất kể lý do gì để bám chặt vào quyền lực một cách độc tôn như hiện nay.

Ngày 28/11/2015

© Kami

Bảo vệ Quyền Trẻ em: kết án nặng hơn người lớn

Bảo vệ Quyền Trẻ em: kết án nặng hơn người lớn

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-11-27

Em Nguyễn Mai Trung Tuấn 15 tuổi bị một tòa án huyện ở Long An hôm 24/11/2015 kết án sơ thẩm 4 năm 6 tháng tù- Người tù dân oan trẻ tuổi nhất Việt Nam

Danlambao

Khác với sự thương cảm và phẫn nộ của mạng xã hội, báo chí thuộc hệ thống chính thức đưa tin khá đơn giản về vụ thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn 15 tuổi bị một tòa án huyện ở Long An hôm 24/11/2015 kết án sơ thẩm 4 năm 6 tháng tù vì tạt a xít chống cán bộ cưỡng chế đất. Bố mẹ em Tuấn dù cũng đang ngồi tù sẽ phải thay em bồi thường 42 triệu 600 ngàn đồng cho ông  Nguyễn Văn Thủy Trưởng công an xã bị phỏng.

Phán quyết quá nặng cho thiếu niên

Các báo Pháp Luật Thành phố Online, Người Lao Động Online khi đưa tin vụ xử án hiếm có này, đã bỏ qua các chi tiết quan trọng mà Luật sư Nguyễn Văn Miếng thuộc Đoàn Luật sư TP.HCM trình bày trước tòa để bảo vệ em Nguyễn Mai Trung Tuấn.

Nhận định về vấn đề thực thi công lý mà giới luật gia cho rằng rất thiếu sót trong vụ xử em Nguyễn Mai Trung Tuấn, LS Trần Thu Nam hiện sống và làm việc ở Hà Nội cho rằng, trẻ em vị thành niên mà đưa ra một án nặng như thế sẽ có nhiều tác động đến tâm lý của trẻ em, tác động đến dư luận xã hội, đề ra một vấn đề là tại sao một đứa trẻ như thế lại phải chịu một mức án rất là cao…nguyên nhân lý do làm sao mà một đứa trẻ thực hiện hành vi, có phạm tội hay không phạm tội thì phải chứng minh.

Tuy không trực tiếp tham gia hồ sơ vụ án của em Tuấn nhưng LS Trần Thu Nam qua trao đổi với  LS Nguyễn Văn Miếng người bào chữa cho em Tuấn, ghi nhận rằng trong quá trình bào chữa cho em Tuấn đã có nhiều vấn đề, như đề nghị triệu tập người giám định đến phiên tòa nhưng không được đáp ứng. cũng như một số thủ tục khác không được đầy đủ. Cho nên việc ra một phán quyết với một đưa trẻ như thế thì cần phải xem xét. LS Trần Thu Nam nhấn mạnh:

“ Việt Nam tham gia Công ước về quyền của trẻ em, thế thì việc bảo vệ ở đây đã được đặt ra hay chưa mà tại sao lại đưa ra một phán quyết nặng như vậy. Có nhất thiết phải phán quyết nặng đến thế không vì nó làm ảnh hưởng tới tương lai của đứa trẻ, ảnh hưởng tới tự do cũng như học tập

LS Trần Thu Nam”

“ Việt Nam tham gia Công ước về quyền của trẻ em, thế thì việc bảo vệ ở đây đã được đặt ra hay chưa mà tại sao lại đưa ra một phán quyết nặng như vậy. Có nhất thiết phải phán quyết nặng đến thế không vì nó làm ảnh hưởng tới tương lai của đứa trẻ, ảnh hưởng tới tự do cũng như học tập, tất cả những vấn đề đó chúng ta cần phải cân nhắc cho kỹ .”

Đây là lần đầu tiên một trẻ vị thành niên ở Việt Nam bị kết án nặng hơn cha mẹ mình 1 năm, khi gia đình này chống đối đoàn cưỡng chế đất bằng bom xăng và a xít vào ngày 14/4/2015. Bản án ngày 24/11 dành cho em Tuấn là án sơ thẩm khi em ra tòa một mình về tội cố ý gây thương tích. Ngày 25/11/2015 Tòa án Tỉnh Long An xử chung thẩm đã y án bà Mai Thị Kim Hương mẹ em Tuấn bị 3 năm 6 tháng tù và ông Nguyễn Trung Can bị 3 năm tù. Hai ông bà ở trong số 12 người đã bị bắt và ra tòa sơ thẩm ngày 15 và 16/9/2015 vừa qua. Lúc đầu em Nguyễn Mai Trung Tuấn được nhà ngoại bảo lãnh cho về nhà. Tuy vậy Tuấn sau này đã bị bắt ở Bình Thuận theo lệnh truy nã và ra tòa Thạnh Hóa Long An hôm 24/11/2015.

Đền bù đất đai theo kiểu ăn cướp

Câu chuyện của em Nguyễn Mai Trung Tuấn và 12 người khác trong vụ chống đối cưỡng chế đất xảy ra ngày 14/4/2015 ở Thị trấn Thạnh Hóa Long An là câu chuyện chung của hàng chục ngàn dân oan mất đất ở Việt Nam. TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập một tổ chức xã hội dân sự nằm ngoài sự kiểm soát của Chính phủ, nhận định:

Gia đình dân oan Mai Thị Kim Hương – Nguyễn Trung Can cùng hai con là Nguyễn Mai Trung Tuấn, Nguyễn Mai Thảo Vy bên căn lều tạm bợ

Gia đình dân oan Mai Thị Kim Hương – Nguyễn Trung Can cùng hai con là Nguyễn Mai Trung Tuấn, Nguyễn Mai Thảo Vy bên căn lều tạm bợ

“ Gốc của vấn đề nằm ở Hiến pháp, quyền sở hữu đất đai là thuộc toàn dân có nghĩa là thuộc nhà nước mà không có quyền sở hữu tư nhân về đất đai. Một khi thuộc về toàn dân thuộc về nhà nước cũng có nghĩa thuộc về những tập đoàn những nhóm lợi ích hiện nay. Những nhóm lợi ích kinh tế lại móc xích với nhóm lợi ích chính trị và hai bên cùng ra chính sách để đền bù với giá rẻ mạt và sau đó bán ra thị trường với giá cao ngất có thể lên tới hàng chục lần hàng trăm lần. Tình hình Việt Nam cũng như ở Trung Quốc là đền bù đất đai rẻ mạt và gần như là cướp đất không của người dân.”

Báo chí chính thức cho biết vụ chống cưỡng chế ở Thạnh Hóa Long An là chống lại dự án giải tỏa đất để làm đê bao chống lũ. Gia đình em Nguyễn Mai Trung Tuấn, từng giải thích là chống cưỡng chế vì tiền đền bù quá thấp chỉ 300.000 đồng/m2 trong khi chính quyền bán đất tái định cư ở khu vực liền kề với giá 25 triệu/m2. TS Phạm Chí Dũng nhận định về trường hợp này:

“ Theo tôi biết thì đối với bất kỳ loại đất nào và sử dụng cho mục đích gì thì nguyên tắc cũng phải là ngang giá thị trường khi đền bù. Chứ không thể lạm dụng lợi dụng chuyện các công trình công ích mà có thể đền bù thấp được. Cho nên việc này tôi cho là chính quyền địa phương ở Long An, cũng giống như chính quyền nhiều địa phương khác lợi dụng chính sách làm dự án công ích để đền bù với giá rất thấp. Nhưng mà cũng có rất nhiều trường hợp là những dự án công ích sau khi bị đền bù với giá thấp thì bị xẻ ra một phần làm công ích thôi. Có thể 60%-70% làm công ích trong khi đó sử dụng diện tích còn lại 30% tới 40% làm đất kinh doanh mà đất kinh doanh bán không hề rẻ một chút nào, có thể ngay ngày hôm sau người ta đến mua với giá cao hơn gấp 10 lần hoặc 20 lần như vậy. Thành thử ở đây là một sự lạm dụng và lợi dụng.”

“ Những nhóm lợi ích kinh tế lại móc xích với nhóm lợi ích chính trị và hai bên cùng ra chính sách để đền bù với giá rẻ mạt và sau đó bán ra thị trường với giá cao ngất có thể lên tới hàng chục lần hàng trăm lần. Tình hình Việt Nam cũng như ở Trung Quốc là đền bù đất đai rẻ mạt và gần như là cướp đất không của người dân

TS Phạm Chí Dũng”

Trở lại tình tiết vụ cưỡng chế ngày 14/4/2015, Pháp Luật Thành Phố Online dẫn hồ sơ cáo trạng mô tả là vào ngày 14/4/2015 khi đoàn cưỡng chế tiến vào khu vực ba gia đình bị cưỡng chế gồm các hộ Nguyễn Trung Can, Nguyễn Thị Nhanh và Nguyễn Trung Tài ở thị trấn Thạnh Hóa Long An thì bị các gia đình này phản kháng chống đối, hất a xít vào cán bộ. Các báo cũng nói tới việc ném bom xăng nhưng không có một chi tiết nào mô tả việc này. Em Nguyễn Mai Trung Tuấn bị cáo buộc đã hất ca a xít làm bị thương ông Nguyễn Văn Thủy trưởng công an xã, tỷ lệ thương tích giám định là 35%.

Ngay sau khi tòa án huyện Thạnh Hóa tỉnh Long An tuyên án sơ thẩm thiếu niên Nguyễn Mai Trung Tuấn 4 năm 6 tháng tù, em Nguyễn Mai Thảo Vy em gái của Tuấn đã phát biểu với Đài ACTD:

“ Cháu thấy bản án bất công đối với anh cháu, tại vì hành vi của anh cháu là hành vi bảo vệ gia đình, tự vệ. Khi cưỡng chế có hai chiếc xe tải chở từ 100 đến 200 cảnh sát cơ động đến ập vào nhà. Họ uy hiếp, đánh đập gia đình rất dã man. Anh Hai thấy họ bắt mẹ và đập đầu xuống đường nên anh Hai, với tư cách người con phải cứu mẹ. Hành động mà anh Hai tạt acid ông công an là để cứu mẹ thôi.”

Theo thông tin ghi nhận, nếu gia đình em Nguyễn Mai Trung Tuấn quyết định ủy nhiệm luật sư kháng cáo trong hạn định 15 ngày kể từ ngày 24/11/2015, thì có hy vọng những lập luận của luật sư bào chữa được tòa trên tức Tòa án Nhân dân Tỉnh Long An lưu ý. Trong trường hợp này em Tuấn là người chưa thành niên. Thông thường chỉ chịu một nửa án phạt người lớn.

Trên các mạng xã hội, giới luật gia cũng đề cập tới vấn đề, nếu tòa xác định hành vi hất ca a xít của em Tuấn là không cố ý thì em không chịu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra nếu tỷ lệ thương tích của Trưởng công an xã Nguyễn Văn Thủy được giám định là 30% thay vì 35% thì Tuấn cũng thoát tội. Trong phiên xử sơ thẩm ngày 24/11/2015, Tòa đã bác yêu cầu của LS Nguyễn Văn Miếng xin triệu tập hai nhân viên giám định pháp y liên quan tới bản giám định.

Nhóm lợi ích ở Việt Nam hiện nay

Nhóm lợi ích ở Việt Nam hiện nay

Viet-studies

Hạ Mai

Từ sau Đại hội XI (2011) của Đảng CSVN, thuật ngữ “lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” bắt đầu được sử dụng và cũng từ đó thuật ngữ này được sử dụng khá thường xuyên. Nếu như ở trên thế giới, đa phần “nhóm lợi ích” được hiểu theo cả hai nghĩa tích cực và tiêu cực, thì ở Việt Nam, đặc biệt là trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) Đảng CSVN “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, thuật ngữ này hầu như được nhận thức theo nghĩa tiêu cực. Dư luận xã hội chủ yếu tập trung vào các nhóm lợi ích hoạt động ngầm trong lĩnh vực kinh tế, cấu kết với những “nhân vật” có thẩm quyền ra quyết định hoặc có khả năng tác động đến chính sách vì lợi ích riêng, làm tổn hại đến lợi ích của các nhóm khác, lợi ích của số đông và đặc biệt là lợi ích quốc gia. TS. Lê Đăng Doanh đã nhận diện nhóm lợi ích hiện nay ở Việt Nam như sau:  “Lợi ích nhóm ở Việt Nam có đặc trưng là liên quan đến những người có chức, có quyền, nhất là quyền liên quan đến cán bộ, tài chính, ngân sách, đầu tư, đất đai, hầm mỏ, rừng, biển, v.v… Những người này có thể ở cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã phường hay ở cấp sở, phòng, thậm chí cá nhân thanh tra, cảnh sát hay ở doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn, dự án, v.v…”[1].

Như vậy, “lợi ích nhóm” tiêu cực hàm chỉ lợi ích cục bộ của những nhóm người xác định, xung đột, mâu thuẫn với lợi ích chung của nhân dân, của xã hội và thậm chí với quốc gia, dân tộc. Đó là thứ lợi ích chỉ phục vụ cho một nhóm người nhất định dựa vào quyền lực để tạo lập cơ chế, chính sách thuận lợi nhất nhằm mang lại lợi ích từ việc bòn rút, chia chác của công, tìm mọi cách để thâu tóm lợi ích, đặt lợi ích của nhóm mình lên trên lợi ích chung. Những nhóm lợi ích này bành trướng thế lực, thao túng và độc quyền trong một số lĩnh vực, đặc biệt là chính trị- kinh tế, thương mại hóa quyền lực chính trị. Lưu ý thêm rằng, ở Việt Nam, rất nhiều quan chức cao cấp trong các bộ ngành quản lý hiện nay đều có nguốn gốc từ lãnh đạo doanh nghiệp, từ lĩnh vực kinh tế – đây là cơ sở và điều kiện thuận lợi để các nhóm lợi ích – thân hữu trục lợi từ kết nối kinh tế với chính trị, kết nối kinh tế với hoạch định chính sách.

Cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới, lợi ích mà các nhóm lợi ích ở Việt Nam theo đuổi không chỉ là lợi ích vật chất mà bao hàm tất cả những lợi ích con người muốn có, như danh tiếng, quyền lực, điều kiện thuận lợi, sự thăng tiến, vị trí làm việc cho bản thân, gia đình, thân hữu… Các nhóm lợi ích tiêu cực ở Việt Nam thường nhân danh hoặc núp bóng những nghĩa cử cao đẹp, nhân danh lợi ích tập thể, thậm chí nhân danh lợi ích quốc gia để giành giật, chiếm đoạt mọi hình thức và loại hình lợi ích khác nhau.

Các nhóm lợi ích ở Việt Nam được hình thành một cách mạnh mẽ và chủ yếu trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng XHCN (hiện giờ gọi là kinh tế thị trường định hướng XHCN). Quá trình chuẩn bị các nhân tố kinh tế – kỹ thuật, quản lý xã hội và xây dựng những tiền đề mới về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường vĩ mô cho việc phát triển kinh tế hàng hoá – dịch vụ vận hành theo cơ chế thị trường đã tạo ra những cơ hội, những bước ngoặt phát triển quan trọng, nhưng đồng thời cũng bộc lộ những “lỗ hổng” trong cơ chế quản lý, trong hệ thống chính sách, pháp luật… Giai  đoạn chuyển đổi này diễn ra nhanh chóng và  đầy kịch tính (khủng hoảng, lạm phát, biến động giá cả – tiền tệ, đầu tư vào Việt Nam, đẩy mạnh xuất nhập khẩu…) trở thành mảnh đất mầu mỡ cho những nhóm lợi ích bất minh xuất hiện, tồn tại và củng cố vị trí của mình.

Cần nói thêm rằng, các nhóm trục lợi đầu tiên chủ yếu liên quan đến buôn bán qua con đường phi hạn ngạch, kinh tế ngầm hoặc núp bóng tín dụng, gây hậu quả lớn nhưng chưa trầm trọng. Khi Chính phủ Việt Nam đẩy mạnh các cải cách kinh tế nhằm nhanh chóng thúc đẩy hình thành và phát triển đồng bộ các nhân tố thị trường phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, các nhóm trục lợi gia tăng nhanh chóng. Việc đầu tư trong nước và nước ngoài, thị trường hàng hóa xuất nhập khẩu, thị trường lao động, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội ngày càng mở rộng quy mô và sự xuất hiện ngày một nhiều các vùng kinh tế trọng điểm (Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai – Bình Dương, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Vĩnh Phúc…), một mặt, tạo động lực phát triển vì lợi ích chung. Bên cạnh đó, trong điều kiện chức năng, cơ chế quản lý của nhà nước chưa theo kịp tiến trình vận động, Đổi mới cũng góp phần cho ra đời hàng loạt nhóm lợi ích thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương, nhiều cấp độ lợi dụng mọi cơ hội, mọi phương thức (hợp pháp, phi pháp, công khai, bí mật…) để trục lợi ở mọi quy mô và mọi lĩnh vực. Đặc biệt, các nhóm lợi ích trở nên hết sức nguy hiểm, hoạt động tinh vi, có tác động và gây hậu quả nghiêm trọng đến bình ổn xã hội, phát triển kinh tế, quản lý xã hội chính vào thời điểm tái cấu trúc, chuyển hướng nền kinh tế trong bóng tối nhá nhem của tha hóa quyền lực nhà nước. Các nhóm trục lợi bám sát những chuyển động có lợi và bất lợi trong quản lý kinh tế, trong quản lý nhà nước, nhanh chóng đưa ra các kịch bản liên kết thị trường, liên kết kinh tế với chính trị, thao túng chính trị và kinh tế để kiếm chác lợi ích ngày càng lớn, ngày càng ngang nhiên.

Theo nhận xét của TS. Lê Đăng Doanh, nhóm lợi ích ở Việt Nam hoạt động rất linh hoạt, theo từng vụ, việc, vây quanh một số cá nhân nhất định. Lợi dụng tính thiếu công khai, minh bạch, các nhóm lợi ích thường tiếp xúc theo “quan hệ” cá nhân, với chất kết dính là lợi ích tiền bạc. Lợi ích càng lớn thì nhóm lợi ích hoạt động càng mạnh; luật pháp càng lỏng lẻo hay quyền lực ít bị giám sát thì nhóm lợi  ích hoạt động càng trắng trợn, liều lĩnh. TS. Lê Đăng Doanh nhấn mạnh: “Nhóm lợi ích ở Việt Nam hoạt  động trong một không gian chủ yếu phi chính thức, bất hợp pháp, trong không ít trường hợp có quan hệ đến buôn lậu hay các hoạt động có tính chất phạm pháp ở mức độ khác nhau[2].

Những nhóm lợi ích này trục lợi với rất nhiều thủ đoạn tinh vi, biến hóa khôn lường. Điển hình là một số thủ đoạn thu lợi bất chính cơ bản nhất như sau: (1) Lợi  dụng và lạm dụng quyền lực (quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị); (2) Lợi dụng bất cập và yếu kém trong quản lý của Nhà nước; (3) Mua bán quan chức, chạy chức, chạy quyền, hối lộ, tha hóa cán bộ lãnh đạo; (4) Liên kết ngầm, hoạt động ngầm dưới vỏ bọc hợp pháp….Đâu đó, người ta đã bàn về sự xuất hiện của một tầng lớp “tư bản đỏ” và maphia chính trị với sự cấu kết chặt chẽ để thực hiện những phi vụ làm ăn lớn, rung động cả nền kinh tế. Trong một bài báo nhan đề “Vietnam’s New Money“, Bill Hayton đã chỉ ra sự liên minh lợi ích ở Việt Nam thông qua hình tượng “cuộc hôn nhân giữa chính quyền và lợi ích cá nhân”, khẳng định cuộc hôn nhân đó “đang làm méo mó nền kinh tế, khiến nền kinh tế ấy hương  tới việc phục vụ lợi ích của số ít hơn là đáp ứng nhu cầu của số đông”[3]. Theo Bill Hayton, chính liên minh lợi ích ấy đã khiến “các Tổng công ty Nhà nước lớn nhất thiết lập kênh hỗ trợ vốn để tài trợ cho các dự án vô trách nhiệm với logic kinh tế tối thiểu”[4] – đó hoàn toàn có thể là một hình thức câu kết giữa những cơ sở quốc doanh hùng mạnh với những cá nhân có quyền lực lớn thông qua con em, người thân của mình.

Các nhóm trục lợi ở Việt Nam có nguồn gốc khá đa dạng, tồn tại trong mọi lĩnh vực, song chủ yếu và nổi cộm nhất là những nhóm lợi ích gắn với thị trường, với lợi ích công, ra đời từ bất cập cơ chế, bất cập thể chế và tha hóa chính trị. Những công ty Nhà nước và công ty “sân sau” của các công ty Nhà nước hoặc cổ phần Nhà nước thường là “địa bàn” ảnh hưởng, hoạt động phổ biến của nhóm lợi ích “thân hữu”.

Những nhóm lợi ích “thân hữu” hoạt động trên các lĩnh vực sử dụng tài nguyên hoặc phân bố tài sản quốc gia. Một hệ thống pháp luật chưa đủ mạnh, vai trò độc quyền của Nhà nước, kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, sở hữu tập thể, tư duy nhiệm kỳ trong đầu tư công , trong quy hoạch, trong kế hoạch kinh tế – xã hội, cơ chế xin – cho… là mảnh đất màu mỡ cho sự hình thành và phát triển các nhóm “thân hữu”.

Nhóm lợi ích doanh nghiệp Nhà nước đang duy trì những đặc quyền và thu hút nhiều nguồn lực từ ngân sách Nhà nước. Đây cũng là nhóm đã lên tiếng mạnh mẽ nhất để giữ “vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước”. Nhóm lợi ích doanh nghiệp cũng chính là cơ sở kinh tế hỗ trợ cực kỳ đắc lực cho quyền lực chính trị thông qua những cá nhân cụ thể của bộ máy chính quyền, nhà nước. Không phải ngẫu nhiên mà khi sóng gió chính trường nổi lên, nhiều nhân vật trong bộ máy quyền lực có thể trụ vững, thậm chí “lật cánh” ngoạn mục vào “phút thứ 89”.

Việc cho thành lập hàng loạt tập đoàn kinh tế nhà nước lớn thuộc về những ngành then chốt và nắm giữ những nguồn lực chủ yếu của đất nước cho thấy vị trí vững vàng và “hợp pháp” của nhóm lợi ích này. Quả thật, năm 2014, Chính phủ tăng khoảng 170 ngàn tỷ (trong tình trạng bội chi ngân sách) cho đầu tư  và chắc chắn phần lớn tiền bạc sẽ được rót vào ngân quỹ các doanh nghiệp Nhà nước. Các vụ đại án tham nhũng đều có bóng dáng của quan chức cấp cao, các nhóm lợi ích đặc quyền, nhóm thân hữu. Tham nhũng tiền bạc, đất đai, tham nhũng quyền lực, chính sách là hiện tượng phổ biến, thường ngày. Những tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước làm ăn lỗ với những con số “khủng” là kết quả xâu xé của tham nhũng dưới hình thức nhóm lợi ích[5]. Làn sóng “tái cấu trúc” hệ thống Ngân hàng (Eximbank, Techcombank, Phương Nam, Bản Việt, Vietinbank, BIDV, Bắc Á…) hoặc để thôn tính, hoặc để trốn nợ xấu cũng được diễn ra  dưới “chiếc đũa thần” đầy quyền năng của các nhóm thân hữu. Tham nhũng – lợi ích nhóm góp phần đẩy Việt Nam trượt nhanh trên thang bậc xếp hạng tham nhũng: Năm 2013, theo chỉ số tham nhũng, Việt Nam xếp thứ 116/176 quốc gia được khảo sát; nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam hết sức bất ổn, chứa đựng nguy cơ rủi ro, suy thoái; tăng trưởng GDP giảm mạnh (năm 2007: 8,46%[6], năm 2011: 5,89%[7]; 2013: 5,4%[8]). Nợ công của Việt Nam đã ở mức trên 81,885 tỷ USD, bình quân nợ công theo đầu người là 905,18USD, chiếm 47,7% GDP, tăng 10,9% so với năm 2013 (tính đến ngày 13-6-2014)[9]. Việt Nam là một trong 20 nước có khả năng vỡ nợ lớn nhất trên thế giới[10], người dân Việt Nam có gánh nặng thuế và chi phí cao bậc nhất khu vực[11].

Hành vi thao túng của các nhóm lợi ích đối với bất động sản, tài nguyên, ngân hàng, tài chính… – những lĩnh vực kinh tế trọng yếu, gây không ít khó khăn, cản trở cho sự tồn tại, phát triển lành mạnh của đất nước. Những năm gần đây (2006-2015), các chủ đầu tư là trụ cột của nền kinh tế như Tập đoàn Than – Khoáng sản, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Điện lực, Tổng công ty Thép, Tổng công ty Hóa chất[12]. để Trung Quốc trúng thầu tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… trong các dự án kinh tế Việt Nam trọng điểm, hoặc dự án thượng nguồn, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia và an ninh năng lượng không khỏi khiến dư luận quan ngại và đặt câu hỏi về những nhóm lợi ích quan chức cấp cao đứng sau.

Về thị trường, nhóm trục lợi có mặt ở mọi loại thị trường (thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường khoa học – công nghệ, thị trường hàng hóa – dịch vụ…), song hoạt động mạnh mẽ và gây ra những hậu quả lâu dài, khó khắc phục là những nhóm trục lợi gắn với thị trường bất động sản và tài chính- tiền tệ (hai thị trường quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường).

Quá trình đô thị hóa đã khiến đất đai có giá trị cực kỳ to lớn, đầu tư nhà đất trở thành hình thức kinh doanh kiếm lời nhanh nhất. Nắm bắt đặc điểm đó,  nhóm lợi ích bất động sản (gồm giới nhà giàu và nhiều quan chức tham nhũng) không bỏ qua cơ hội hốt bạc. Lập khu, cụm công nghiệp, cảng, sân bay là biện pháp, bước đi để các nhóm lợi ích bắt tay với giới quan chức ăn chênh lệch giá đất. Tình trạng này diễn ra khá thường xuyên, vì tuy có hiệu quả rất thấp về kinh tế – xã hội, nhưng do “muốn đạt chỉ tiêu tăng trưởng cao, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ để bằng và hơn các địa phương khác”[13] nên các tỉnh thành, địa phương đua nhau quy hoạch, xây dựng, đô thị hóa. Mỗi năm Việt Nam có gần 200.000 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, trong đó có nhiều phần trăm được các nhóm lợi ích “phù phép”dưới bóng “chuyển đổi mục đích sử dụng”, mua rẻ, bán đắt kiếm lời.

Với tính chất phi thị trường nhất, kém hiệu quả nhất, thị trường bất động sản đầy rẫy những bất cập, không đủ điều kiện để hoạt động bình thường như thị trường các nước khác bởi theo luật pháp, Nhà nước quản lý đất đai và quyền lực Nhà nước thường bị thâu tóm. Bài toán địa tô chênh lệch[14] là bài toán thường gặp nhất trong chuyển đổi mục đích sử dụng đất- nó cũng là ví dụ tập trung nhất cho việc các nhóm lợi ích đứng đằng sau các cấp hoạch định và thực hiện chính sách trong các dự án đất đai.

Giá trị to lớn của đất – “tấc đất tấc vàng” đã khiến chính những thửa đất “bờ xôi ruộng mật” bị “khai tử” bởi những nhóm lợi ích bất động sản. Dưới ô dù của quyền lực chính trị, nhóm lợi ích bất động sản đứng sau nhiều vụ thu hồi đất với danh sách tên đất, tên làng dài theo thời gian: Văn Giang, Dương Nội, Bắc Giang, Mễ Trì, Mỹ Đức, Bắc Sơn (Thạch Hà, Hà Tĩnh), Vũng Áng, Đắc Nông, Ninh Thuận… Quy hoạch Hà Nội mở rộng, nhập Hà Tây vào Hà Nội cũng là một cơ hội để nhóm lợi ích bất động sản trục lợi – thực tiễn diễn ra ở thị trường đất đai Hà Tây trước và sau khi sáp nhập đã minh chứng một cách thuyết phục cho nhận định đó. Mất đất, không có việc làm, người nông dân chỉ còn con đường hoặc làm thuê ngay trên mảnh đất của mình, hoặc tha phương. Những năm gần đây, mỗi năm có trên 3 vạn người lao động từ nông thôn đến ở Hà Nội, còn đến thành phố Hồ Chí Minh con số đó là trên 6 vạn. Tháng 8-2013, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam công bố con số di cư tự do từ nông thôn ra thành thị là vào khoảng 8 triệu người. Các thành phố lớn với các khu công nghiệp mọc lên nhanh chóng như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai…… trở thành thành nam châm, lực hút, thành “miền đất hứa” đẫm nước mắt của nhiều lao động nông dân nhập cư.

Trong lĩnh vực tín dụng – ngân hàng, hệ quả các hoạt động của nhóm trục lợi để lại là khá nghiêm trọng. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình đã thừa nhận: “Có những ngân hàng chỉ do một vài cổ đông hoặc một nhóm cổ đông chi phối, dư nợ ngân hàng lên tới 70 – 90% phục vụ cho nhóm cổ đông đó; điều lo ngại là các nhóm cổ đông này gây thất thoát vốn lớn; lợi ích nhóm thao túng ngân hàng và làm ảnh hưởng xấu đến cả hệ thống…”[15]. Các thương vụ thâu tóm ngân hàng Sacombank, Eximbank, Bảo Việt…đang làm một số “đại gia” nhẵn túi; đồng thời, làm căng hầu bao của những ông chủ mới đằng sau thấp thoáng bóng liên minh lợi ích mờ ám của giới mafia tài chính và những quan chức giấu mặt.

Trong quá trình phát triển và trục lợi, các nhóm trục lợi có sự liên kết khá bền chặt, có tính “tổ chức” tương đối cao, câu kết, lôi kéo, vận động, thậm chí là ép buộc cá nhân, tập thể, bành trướng thế lực, làm méo mó chính sách, làm suy yếu chính quyền, lũng đoạn nhiều lĩnh vực, có cả những lĩnh vực trọng yếu liên quan đến an ninh – quốc phòng, an ninh quốc gia.

Vốn ra đời, tồn tại và hoạt động trên nền tảng lợi ích, nhất là những lợi ích hết sức béo bở và đa dạng nên cùng với sự phát triển của các nhóm lợi ích tất yếu xuất hiện mâu thuẫn, xung đột lợi ích một bên là  giữa các nhóm lợi ích với nhau và một bên là giữa nhóm trục lợi với những nhóm bị xâm hại lợi ích (bị thiệt hại lợi ích). Trong các xung đột lợi ích, nhóm nào yếu thế hơn sẽ bị thiệt hại nhiều hơn và trong tổng thể, thiệt hại chung thuộc về toàn thể xã hội.

Nếu coi sự phát triển xã hội như là một tổng thể hữu cơ các quá trình vận động xã hội theo chiều thăng tiến, thì các nhóm lợi ích – trục lợi là một bộ phận tham gia vào đời sống xã hội và tác động trực tiếp đến quá trình vận động xã hội, kìm hãm xu hướng phát triển lành mạnh của nó trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế do thể chế lỏng lẻo, các chế định giám sát lạc hậu, thiếu tính minh bạch trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong những lĩnh vực trọng yếu. Trên nền tảng ấy, các nhóm lợi ích tiêu cực xuất hiện ngày càng nhiều với những sắc thái đa dạng (nhóm thân hữu, nhóm lợi ích cục bộ giữa quan chức với quan chức, quan chức với doanh nghiệp…) ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận hành bình thường của nền kinh tế, chính trị, xã hội và thậm chí cả văn hóa. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, có thể đang tồn tại một liên minh không chính thức giữa các nhóm lợi ích ở Việt Nam với các nhóm lợi ích ở nước ngoài. Khai thác bôxit ở Tây Nguyên, việc Trung Quốc trúng thầu tới 90% các công trình điện, khai khoáng, dầu khí, luyện kim, hóa chất… trong các dự án kinh tế trọng điểm, hay như Trung Quốc xuất lậu vào Việt Nam trên 5,2 tỷ USD hàng hóa qua biên giới và Việt Nam xuất lậu 5,3 tỷ USD sang Trung Quốc[16] … là những minh chứng điển hình. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, Việt Nam “đã trao quá nhiều công trình cho nhà thầu Trung Quốc theo hình thức EPC[17]”.  Con số này là 23/24 nhà máy xi măng; 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, giao thông, khai khoáng, cho thuê rừng và đất rừng ở vùng biên giới[18]. TS. Lê Đăng Doanh đã đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta giao quá nhiều dự án cho nhà thầu Trung Quốc như vậy. Có bao nhiêu lợi ích quốc gia, bao nhiêu lợi ích cho ai?” [19].

Nhìn chung, các nhóm trục lợi đều có khả năng cộng sinh và ký sinh rất cao, bám chặt vào kẽ hở chính sách, pháp luật, nắm bắt nhanh chóng những thời cơ và cơ hội thuận lợi, linh hoạt trong liên kết, chuyển hướng, trắng trợn trong tha hóa bộ máy công quyền…làm mọi việc trong khả năng, điều kiện có thể để tồn tại, phát triển và trục lợi. Lợi dụng những kẽ hở pháp lý trong quản lý đất đai, tiền tệ, sự thoái hóa, biến chất của tầng lớp có chức, có quyền, sự ấu trĩ và bảo thủ trong tư duy lãnh đạo, các nhóm trục lợi thao túng, mua bán chiếm đoạt đất đai, bất động sản, thao túng ngân hàng…, làm giàu bất chính và càng giàu bao nhiêu, các nhóm lợi ích lại có điều kiện, khả năng cũng như khao khát thao túng quyền lực chính trị, thao túng chính quyền. Đối với phát triển xã hội và quản trị xã hội, các nhóm trục lợi trở thành lực cản lớn trong quá trình thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây thiệt hại lớn đối với tài sản của nhà nước, xã hội, tập thể và công dân, xâm phạm quyền và lợi ích của công dân, tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức, đảo lộn những chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội, là nguy cơ trực tiếp đối với  sự lành mạnh của nền kinh tế, đe dọa lợi ích toàn dân, lợi ích quốc gia dân tộc. Hệ quả cuối cùng là ngày càng nhiều thêm các nhóm thiệt lợi, các nhóm thất thế, xã hội nghèo đi, bất công và bất bình  đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo, phân hóa giai tầng tăng lên không ngừng; trong lòng xã hội âm ỉ những mâu thuẫn gay gắt – một hiện tượng mà các nhà nghiên cứu quen gọi là “hiện tượng thùng thuốc súng”.

Điều nguy hiểm là ở chỗ, mờ mắt tham, nhằm thỏa mãn lòng tham vô đáy, các nhóm lợi ích này không thể liên kết lâu dài, giữa chúng luôn diễn ra âm thầm “những trận chiến sau bức màn nhung” để cuối cùng “xã hội sẽ biến đổi  theo những thắng thế của phe nhóm mạnh nhất”[20]. Nếu mục tiêu của “phe nhóm mạnh nhất” phù hợp với “sự đổi mới và tiến bộ của quốc gia, thì dân chúng vô cùng may mắn. Ngược lại, vấn nạn của xứ sở sẽ kéo dài, vì trên thực tế, đại đa số người dân không bao giờ đủ quyền lực và kiến thức để thay đổi một cơ chế, kể cả những nước dân chủ Tây Phương”[21].

Không còn nghi ngờ gì nữa, hoạt động của các nhóm lợi ích trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội thông qua việc cấu kết tinh vi giữa những chủ đầu tư với các quan chức trong bộ máy Đảng và Nhà nước là một trong những nguyên nhân cơ bản làm đất nước khánh kiệt, gia tăng khoảng cách giàu nghèo, tích tụ bất ổn xã hội, làm trầm trọng thêm các mâu thuẫn giữa các tầng/lớp trong xã hội. Hưởng lợi từ kết quả lao động không chính đáng, với quyền lực cực lớn có thể làm khuynh đảo hệ thống công quyền (quy hoạch đô thị, giao thông, các dự án xây dựng lớn), nhóm lợi ích – nhóm thân hữu trở thành nhân tố trực tiếp đẩy nhanh cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội[22] dẫn đến nguy cơ rạn vỡ xã hội. Nếu không có những thay đổi căn bản, thích hợp, sáng suốt, đột phá vì lợi ích chung của quốc gia, của nhân dân, của dân tộc, đất nước sẽ trở thành con tin của những nhóm lợi ích, xã hội đứng trên bờ vực thẳm của những đổ nát, xung đột. Đất nước đang thụt lùi tỷ lệ thuận với sự phát triển và lớn mạnh của những nhóm lợi ích bất chính.

Việt Nam hiện đang đứng trước những thách thức về đồng thuận xã hội khi các nhóm/tầng lớp trong xã hội đang có sự khác biệt lớn về vị trí xã hội, mức sống, nghề nghiệp, học vấn…  Lợi ích và cách thức chiếm đoạt lợi ích, bảo vệ lợi ích của nhóm đặc quyền, đặc lợi đẩy họ đứng đối lập với đa số tập hợp người khác trong xã hội.

Nhóm lợi ích có tính lịch sử phát triển và chỉ có thể phù hợp với xã hội nếu lợi ích của nó phù hợp đa phần trong tương quan với các nhóm lợi ích và cá nhân khác. Chính vì thế, vấn đề quan trọng nhất, song cũng khó khăn, phức tạp nhất của vận hành, quản trị xã hội là thực hiện phối, kết hợp lợi ích của các nhóm cụ thể với lợi ích của xã hội như một toàn thể. Kết quả của thao tác chính trị đó quy định sự ổn định xã hội, của toàn bộ hệ thống chính trị, tính hợp pháp, hiệu quả của chính phủ, sự năng động của phong trào xã hội và uy tín của Đảng cầm quyền. Xã hội tuy bị ràng buộc, chế định, chi phối bởi điều kiện kinh tế – văn hóa, chuẩn mực pháp luật và đạo đức, song yếu tố chi phối quyết định nhất, căn bản nhất, trực tiếp nhất là hệ thống chính trị; trong đó, vấn đề sâu xa, cội rễ nhất là vấn đề quyền lực chính trị/quyền lực nhà nước.

Quyền lực chính trị thiếu kiểm soát, hoặc kiểm soát không chặt chẽ là bà đỡ của những nhóm lợi ích bất minh – điều đó đang diễn ra trong thực tiễn xã hội Việt Nam. Có một hiện thực là ở Việt Nam hiện nay, cơ chế vận hành xã hội, hệ thống chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện, phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước còn nhiều hạn chế, thiếu hiệu quả là “cơ hội vàng” để các nhóm lợi ích hoạt động ngầm, thao túng, thâu tóm những lợi ích của sự phát triển, tạo sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội, làm tăng khoảng cách giàu nghèo, làm méo mó quan hệ xã hội, xói mòn lòng tin của nhân dân, gây bất ổn xã hội, thậm chí đẩy Nhà nước đứng đối lập với nhân dân.

Để đấu tranh với các nhóm lợi ích tiêu cực, thúc đẩy xã hội phát triển bền vững, vấn đề chất lượng thể chế chính trị thể hiện qua khả năng, mức độ kiểm soát quyền lực chính trị/quyền lực nhà nước và chống độc quyền quyền lực có ý nghĩa sống còn.

Nếu “thể chế chính trị là tổng hợp các phương pháp và cách thức thực hiện quyền lực nhà nước do tình hình chính trị trong nước chi phối”[23], thì “điểm cốt yếu nhất, quyết định nhất đến thể chế chính trị là bản chất, hình thức, tính chất của quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị”[24]; do đó, để “bản chất, hình thức, tính chất của quyền lực nhà nước” thực sự thuộc về số đông, đảm bảo lợi ích cho số đông, đảm bảo công bằng xã hội cho tất cả mọi người, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, chống tập trung quyền lực được đặt ra từ rất sớm và luôn luôn tồn tại một khi còn tồn tại nhà nước. Ở nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia có thể chế chính trị tương đối hoàn thiện, việc tiếp tục xây dựng, hiện đại hóa cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước – tạo lập một cơ chế có khả năng khuyến khích tối đa ảnh hưởng tích cực của nhóm lợi ích (phân bổ công bằng lợi ích nhóm), cũng như giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của nhóm lợi ích (giảm thiểu phân bổ lợi ích bất công giữa các nhóm, kìm chế tiềm năng, tước đoạt điều kiện phát triển) vẫn luôn được chú trọng. Bàn về vấn đề này, nhà xã hội học người Mỹ Frank Scarpatti nêu quan điểm: “Mục tiêu của công bằng xã hội chỉ có thể thực hiện thông qua một chính sách làm giảm sự tập trung quyền lực và những nguồn tài nguyên kinh tế trong tay một tầng lớp nhỏ đặc quyền của xã hội”[25].

Thật vậy, tập trung quyền lực vượt ngưỡng/vượt chỉ giới gắn liền với tha hóa tinh thần, đạo đức, bởi đã là con người thì khó tránh khỏi ít nhiều thiên kiến và vị kỷ. Một trong những yếu điểm của con người là bị chi phối, điều khiển bởi khát vọng quyền lực. Khi quyền lực tập trung ở những con người khát quyền lực trong môi trường thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực, hoặc cơ chế kiểm soát quyền lực yếu kém sẽ trở thành thứ “ma túy” mạnh đẩy con người vào ảo giác, ngộ nhận, đánh đồng lợi ích xã hội với lợi ích cá nhân vị kỷ, bước một bước đến độc tài quyền lực. Trong đại đa số trường hợp, tập trung quyền lực là cha đẻ của độc tài và gia đình trị. Philippines là một ví dụ điển hình: 178 gia tộc[26] kiểm soát 72 tỉnh (94%) của Philippines; trong số 178 gia tộc, 100 gia tộc là giới tinh hoa cũ (thuộc những tập đoàn chính trị hàng đầu của Philippines từ sau chiến tranh thế giới thứ hai), 78 gia tộc còn lại là giới tinh hoa mới (sau năm 1986)[27]. Cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Philippines Jose Almonte nhận xét: “Độc quyền quyền lực chính trị cản trở dân chủ hóa đời sống chính trị, sinh ra và nuôi dưỡng chế độ gia đình trị”[28].

Con ông cháu cha

Ở trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng, xây dựng pháp luật cùng với thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật là những hoạt động cơ bản, đặc biệt quan trọng, thể hiện khả năng nhận thức, khả năng mô hình hóa các quan hệ xã hội của cơ quan lập pháp, hình thành các qui phạm pháp luật để điều chỉnh xã hội, tạo ra khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm việc thực hiện lợi ích của giai tầng, các nhóm xã hội. Hệ thống pháp luật là “chân đế” của thể chế chính trị, đế có vững, thể chế mới bền; tuy nhiên, luật pháp và các quy định của bộ máy hành chính Việt Nam có bốn nhược điểm: (1) Hết sức cồng kềnh, rườm rà, đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn trong thực hiện[29]; (2) Tính minh xác, tính minh định, phạm vi điều chỉnh, tác động nhiều khi chưa thực rõ ràng[30]; (3) Thường xuyên thay đổi, tính ổn định không cao; (4) Xây dựng pháp luật chưa gắn với quản lý thi hành pháp luật. Theo điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, thực trạng kém chất lượng của hệ thống pháp luật hiện hành có thể gói gọn trong “chín không”: Không đầy đủ, không rõ ràng, không cụ thể, không tương thích, không minh bạch, không tiên liệu trước, không hợp lý, không hiệu quả và không hiệu lực. Như thế, tình trạng pháp quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) của hệ thống chính trị Việt Nam vẫn tồn tại không ít “kẽ hở”, “lỗ hổng”, chưa đóng vai trò thực sự điều chỉnh hành vi, nhận thức của xã hội, cá nhân và tổ chức, chưa làm tròn vai trò phản tỉnh đối với xã hội – đó là một chính phủ yếu kém! Về thứ hạng hiệu quả khuôn khổ luật Pháp, Việt Nam từ hạng 57 năm 2009 xuống 74 năm 2012; tính minh bạch của Chính phủ giảm từ hạng 58 năm 2007 xuống 91 năm 2012[31].

Một hệ thống pháp luật như vậy tạo điều kiện cho bộ máy quyền lực ngày càng phình to trên cả phương diện bộ máy hành chính lẫn công cụ bạo lực. Không hiếm gặp trường hợp “tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Quyền lực nhà nước là thống nhất”[32] bị bóp méo, bẻ cong, bị lợi dụng, dẫn đến dân chủ hình thức, tập trung quyền lực, độc quyền quyền lực, lũng đoạn chính sách, biến quyền lực được nhân dân và Nhà nước giao phó thành quyền lực cá nhân, trục lợi cho bản thân, cho nhóm lợi ích mà họ thuộc về. Một cách tổng quát, thể chế chính trị Việt Nam có hàng loạt khiếm khuyết: Tiếng nói của người dân chưa được chú ý lắng nghe; các cơ quan nhà nước được “ưu ái” về trách nhiệm giải trình; chất lượng chính sách và năng lực điều hành của cơ quan công quyền thấp, chậm được cải thiện; chống tham nhũng hầu như không có tiến bộ; tính công khai minh bạch thấp; hiệu quả của Chính phủ và chất lượng của các văn bản pháp quy thấp, chưa đáp ứng yêu cầu. Bộ máy công quyền ngày càng xa dân, quản lý đất nước kém hiệu quả, quyền lực bị thả lỏng không được giám sát, thiếu công khai, minh bạch. Một khi “chế độ tước đoạt lên nắm quyền, tức là quyền lực chính trị bị tập trung trong một nhóm nhỏ thì không có sự thịnh vượng hay quyền tư hữu nào có thể cứu đất nước đó khỏi kết cục suy tàn vì quyền sở hữu có thể bị thao túng”[33] – Việt Nam đang ở trong tình trạng này.

Một thể chế chính trị văn minh và tương đối hoàn bị khi có hệ thống pháp luật hoàn thiện, tạo thế đối trọng giữa các nhóm lợi ích; “chủ động phát triển cơ chế đề kháng thông qua các quá trình tự cải tổ, đổi mới liên tục, thường xuyên, lâu dài, không ngừng trệ”[34]; đồng thời, phân chia quyền lực cho các thành phần khác nhau của bộ máy công quyền – giám sát và cân bằng quyền lực. Thể chế chính trị được coi là minh bạch, tiến bộ khi có khả năng hóa giải xung đột nhóm lợi ích, đạt tới cách thức phân bổ lợi ích thỏa đáng, làm cho lợi ích phát huy giá trị động lực, kích thích tối đa khả năng đóng góp, hạn chế tối đa khả năng gây hại của các nhóm lợi ích cho xã hội. Trên nền tảng ấy, xây dựng cơ chế giám sát hữu hiệu trong bản thân bộ máy nhà nước là thao tác đầu tiên để kiểm soát quyền lực nhà nước. Những lập luận nêu trên cho phép kết luận: Ở Việt Nam hiện nay, để giảm thiểu và đi đến loại trừ tác động tiêu cực của các nhóm lợi ích đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, điều hòa phân tầng xã hội và phân hóa giàu nghèo theo chiều hướng tạo động lực, thể chế chính trị hiện hành phải được thay đổi căn bản hoặc thay thế với sự ra đời của một nhà nước lấy sự công bằng là một trong những mục tiêu, tôn chỉ tối cao trong tổ chức và hoạt động. Nhà nước ấy coi “sự phân quyền với nghĩa phân công chức năng và kiểm soát quyền lực trở thành phương thức tồn tại” [35], của chính mình.

Nhấn mạnh thêm rằng, nguyên tắc phân chia quyền lực, kiểm tra và giám sát, kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền đảm bảo ngăn chặn nguy cơ tập trung quyền lực nhà nước trong tay một cá nhân, cơ quan hay một lực lượng chính trị – xã hội nào đó như là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự lạm quyền, chuyên quyền, dẫn đến những lỗ hổng luật pháp. Bên cạnh đó, nguyên tắc phân quyền còn có khả năng bảo vệ nhân dân khỏi sự tùy tiện, độc đoán, mang tính quan liêu, phiền nhiễu của các cơ quan và công chức trong bộ máy nhà nước, đảm bảo các cơ quan và công chức này luôn luôn chỉ thực hiện tuân theo pháp luật. Một thể chế dân chủ có bộ máy nhà nước xây dựng trên nguyên tắc tam quyền phân lập một cách thực sự đi cùng với xã hội dân sự[36] là những gì người dân Việt Nam cần và mong đợi lúc này.

____

[1] TS. Lê Đăng Doanh: “Đổi mới tư duy và cải cách thể chế những yêu cầu từ thực tiễn”, Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu, Dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩ mô” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chủ trì với sự tài trợ của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNDP), tr.277-278.

[2] Như trên, Tlđd, tr.278.

[3] Bill Hayton: Vietnam’s New Money, Foreign Policy, 21-1-2010.

[4] Bill Hayton: Vietnam’s New Money, Ibid.

[5] Năm 2010, Vinashin  lỗ 4,5 tỉ USD, năm 2011, EVN lỗ  3.500 tỷ đồng, năm 2012, các tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước lỗ khoảng 2.253 tỷ đồng… Tính chung hai năm 2011- 2012, tổng số doanh nghiệp rời khỏi thị trường bằng 20 năm trước đó; trong số gần 500.000 doanh nghiệp đang hoạt động, tỷ lệ thua lỗ cũng rất cao (Nguồn: Chi phí vốn của doanh nghiệp Việt cao gấp 10 lần công ty đa quốc gia, Cafef.vn, 24-11-2012).

[6]Tổng cục Thống kê: Kinh tế – xã hội thời kỳ 2006-2010 qua số liệu một số chỉ tiêu thống kê chủ yếu, http://www.gso.gov.vn.

[7] Tăng trưởng GDP năm 2011 đạt 5,89%, VnEconomy, 29-12-2011.

[8] GDP năm 2013 tăng hơn 5,4%, VnExpress.net, 23-12-203.

[9] Nợ công ở ngưỡng nguy hiểm: Công bố các khoản nợ để xã hội giám sát, Nhanh.net.vn, 16-6-2014. Khối nợ xấu khổng lồ “có thể lên đến trên 500.000 tỷ đồng; nợ công quốc gia có thể lên đến 95-106% GDP – theo tiêu chuẩn Liên Hợp Quốc” (Nguồn: Phạm Chí Dũng: Liệu sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng chính trị ở Việt Nam? Tạp chí Thời đại mới, số 28/tháng 8-2013).

[10] Kinh tế Việt Nam, Wikipedia.

[11] Việt Nam nhiều dân nghèo gần nhất khu vực, BBC Vietnamese, 7-9-2012.

[12] Trung Quốc trúng thầu 90% công trình thượng nguồn của Việt Nam, Vieetnam Economic Forum, 32-7-2010.

[13] TS. Lê Đăng Doanh: “Đổi mới tư duy và cải cách thể chế những yêu cầu từ thực tiễn”, Tlđd, tr.270.

[14] Ví dụ như thu hồi đất đai của người dân đền bù cho họ 1 triệu đồng/m2, bán lại cho một người khác là 3 triệu đồng/m2, sau đó người này lại bán đi với giá 25 triệu đồng/m2. Đa phần 22 triệu đồng chênh lệch địa tô là rơi vào tay nhóm lợi ích.

[15] Thống đốc: “Có lợi ích nhóm trong ngân hàng”, Tin mới, 8-10-2012.

[16] Kỳ Duyên: Vận mệnh nước Việt và lợi ích nhóm, vietnamnet.vn, 12-7-2014.

[17] Loại hợp đồng nhà thầu thực hiện toàn bộ các công việc từ thiết kế kỹ thuật đến thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình và chạy thử bàn giao cho chủ đầu tư.

[18] Kỳ Duyên: Vận mệnh nước Việt và lợi ích nhóm, Tlđd.

[19] Kỳ Duyên: Vận mệnh nước Việt và lợi ích nhóm, Tlđd.

[20] TS. Alan Phan: Lợi ích từ… các nhóm lợi ích, Vietnam.net, 26-5-2011.

[21] Như trên, Tlđd.

[22] “Khủng hoảng tín nhiệm xã hội” có nghĩa là chính quyền không nhận được sự tín nhiệm của người dân, một bộ phận quần chúng nhân dân cho rằng chính quyền không thể hiện được ý chí của họ. Một cuộc khủng hoảng tín nhiệm xã hội sẽ gây ra sự nhiễu loạn về tư tưởng, gây mất niềm tin của dân chúng , có thể dẫn đến khủng hoảng chính trị.

[23] http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

[24] Như trên, Tlđd.

[25] Frank Scarpatti: Social Problems, Dreyden Press USA, 1977, p. 632.

[26] Một dòng họ/gia đình/gia tộc được liệt vào hệ thống gia đình trị (political family) khi có hai thành viên trở lên (tính đến huyết thống đời thứ ba) chiếm giữ vị trí trong quốc hội hoặc bộ máy chính quyền bang.

[27] Monopoly of political power,  GMA News, 6-11-2012.

[28] Ibid.

[29] Trong vòng 10 năm (1988-2008), chỉ tính riêng văn bản pháp luật do các cơ quan Trung ương ban hành, thì hệ thống pháp luật Việt Nam đã có tới 19.126 văn bản, trong đó có 208 luật, bộ luật, 192 pháp lệnh, 2.097 nghị định, 267 nghị quyết và 36 thông tư, 1.213 thông tư liên tịch. Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đã cần đến trên 40 văn bản pháp luật khác nhau để hướng dẫn thi hành. Luật Đất đai năm 2003 muốn được thực hiện phải dựa trên 126 văn bản. Trong lĩnh vực môi trường, có đến khoảng 300 văn bản pháp luật khác nhau đang còn hiệu lực. Trong khi đó, nếu kể cả các văn bản pháp luật do các cấp chính quyền địa phương ban hành, trung bình mỗi năm lại “mọc” thêm 4.000 văn bản quy phạm pháp luật mới (Nguồn, Cơ sở liệu pháp luật, http://www.vbqppl.moj.gov.vn; Hà Phong, Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chồng chéo: Khốn khổ với “9 không, Hà Nội mới Online, 31-3-2012).

[30] Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật cũng chưa cao, nhiều quy định pháp luật không rõ ràng, thiếu ổn định, gây khó khăn cho việc tiếp cận, nhận thức và thực hiện pháp luật. Do đó, trên thực tế, pháp luật nước ta xảy ra tình trạng luật ra đời phải chờ nghị định hướng dẫn và nghị định chờ thông tư mới thi hành được…Theo Báo cáo tổng kết của Cục kiểm tra văn bản, Bộ Tư­ pháp, năm 2004, các cơ quan chức năng đã thực hiện kiểm tra trên 21.000 văn bản quy phạm pháp luật từ cấp bộ trở xuống và đã phát hiện trên 3.000 văn bản trái với quy định của pháp luật.

[31] TS. Lê Đăng Doanh: “Đổi mới tư duy và cải cách thể chế những yêu cầu từ thực tiễn”, Tlđd, tr.280.

[32] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, tr. 52.

[33] D.Acemoglu và J.Robinson, Why Nations fail, The Origins of Power, Prosperity, and Poverty, Crown Publishers, New York, 2012.

[34]  Rawls, J. A: Theory of justice, N. Y, 1971, p. 60.

[35] Đào Trí Úc:  Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Sđd, tr.39.

[36] Nội dung căn bản của việc kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong là giải quyết mối quan hệ phân công, phân quyền giữa các cơ quan nắm giữ quyền lực nhà nước; trong đó, vấn đề phân định, kết hợp các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là nội dung cốt lõi. Quyền lập pháp là quyền đại diện cho nhân dân thể hiện ý chí chung của quốc gia. Những người được nhân dân trao quyền này là những người do phổ thông đầu phiếu bầu ra hợp thành cơ quan gọi là Quốc hội. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đại diện cho nhân dân, bảo đảm cho ý chí chung của nhân dân được thể hiện trong các đạo luật mà mình là cơ quan duy nhất được nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật là quyền lập pháp; đồng thời, là người thay mặt nhân dân giám sát tối cao mọi hoạt động của Nhà nước, nhất là hoạt động thực hiện quyền hành pháp. Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia do Chính phủ đảm trách. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là quản lý nhà nước (hay cai trị) mà thực chất là tổ chức thực hiện pháp luật để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển xã hội. Quyền tư pháp là quyền xét xử, được nhân dân giao cho Tòa án và các cơ quan tư pháp, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc xuyên suốt và cao nhất trong tổ chức thực hiện quyền này. Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức không được phép can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án. Đây thực chất là quyền bảo vệ ý chí chung của quốc gia bằng việc xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật từ phía công dân và cơ quan nhà nước. Xã hội dân sự cấu thành từ tổng thể của các tổ chức xã hội và dân sự tự nguyện mà các tổ chức này tạo nên cơ sở của một xã hội tự vận hành, khác với các cấu trúc quyền lực của một nhà nước (bất kể hệ thống chính trị của nhà nước này thuộc kiểu gì) và các thể chế thương mại của thị trường. Nhìn chung, đó là lãnh vực bên ngoài gia đình, nhà nước và thị trường, nơi người dân kết hợp hoạt động nhằm thăng tiến các lợi ích chung. Thành tố quan yếu nhất của xã hội dân sự, do đó, chính là mỗi công dân, ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với bản thân và xã hội, tự nguyện tham gia vào các sinh hoạt giúp cho xã hội tốt đẹp hơn.

Sách lược diệt chủng dân tộc Việt Nam của Tàu

Sách lược diệt chủng dân tộc Việt Nam của Tàu

zznonnuoc7779

Sách lược diệt chủng dân tộc Việt Nam của Tập Cận Bình và bọn lãnh đạo Bắc Kinh còn ghê gớm, tàn độc hơn nhiều và sẽ gây hậu quả khủng khiếp cho nhiều thế hệ kế tiếp bằng cách DIỆT CHỦNG trước, ĐỒNG HÓA sau và bước cuối cùng là xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới. Đây là một cuộc xâm lăng thầm lặng, không khói súng, không cần dùng đến quân đội, xe tăng, đại pháo mà bằng cách đầu độc dân VN qua những hóa chất và thực phẩm độc hại.

Nay, dân Việt Nam chúng ta đang đứng trước một ĐẠI HỌA là hàng hóa do TC sản xuất chứa đầy chất độc hóa học tràn ngập thị trường VN, đang đe dọa hủy diệt sinh lực dân tộc ta, biến nước VN thành thị trường tiêu thụ hàng hóa phế thải do TC sản xuất bị thế giới tẩy chay.

ĐIỂM MẶT NHỮNG THỰC PHẨM CỰC ĐỘC ĐÃ PHÁT HIỆN ĐƯỢC:

– Qua kiểm định, cơ quan chức năng đã phát hiện 26 tấn khoai tây có nguồn gốc từ TC có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao gấp 16 lần cho phép. Trước đó, ngày 10/6/2013, lực lượng chức năng tỉnh Lâm Đồng đã kiểm tra và phát hiện tại cơ sở kinh doanh của bà Nguyễn thị Nguyệt (phường 12, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) có 52 tấn khoai tây khả nghi. Theo lời bà Nguyệt khai báo, số khoai tây được bà mua từ Công Ty Vân Linh (Lào Cai), có dư lượng hoạt chất Chlorpyrifos (thuốc bảo vệ thực vật).

– Thời gian gần đây, chính quyền địa phương đã phát hiện gạo, bún, bánh phở chứa chất cadmium vượt quá tiêu chuẩn ấn định. Số gạo, bún, bánh phở nầy do tỉnh Hồ Nam và 2 nhà máy tại Đông Quan, thành phố Châu Giang, tỉnh Quảng Đông sản xuất. Chất cadmium là một hóa chất độc hại có khả năng gây ung thư tuyến tiền liệt, gây ung thư phổi, gây ảnh hưởng nặng nề lên xương, hệ hô hấp, tăng nguy cơ gây dị dạng thai nhi.

– Vào tháng 5/2012, cơ quan chức năng phát hiện tai lợn giả, khô mực giả, bánh tráng giả bán trên thị trường. Vài khách hàng mua vài tai lợn, nhưng khi sử dụng thì phát hiện có mùi khó chịu. Qua sự kiểm tra của cơ quan chức năng, tai lợn có mùi lạ, được làm từ gelatin và natri oleate. Hóa chất oleate đã bị cấm sử dụng trong ngành thực phẩm.

– Gần đây, cũng phát hiện chất phụ gia “HƯƠNG LIỆU THỊT BÒ” có thể biến thịt heo thành thịt bò. Giá bán mỗi gói vào khoảng 130.000 đồng. Để tạo được thịt bò từ 1 kg thịt heo, sẽ cần đến 2,5g chất phụ gia nầy. Thịt heo tẩm ướp gia vị nầy trong 30 phút, thịt heo chuyển sang màu nâu sẫm. Hầm khoảng 1 tiếng sẽ được loại thịt bò, ăn cũng khó nhận ra. Ngoài chế biến thịt heo thành thịt bò, còn có công nghệ chế thịt lợn thành thịt cừu. Món thịt chuột sau khi trải qua các công đoạn chặt, tẩm ướp và chiên lên đã trở thành thịt chim bồ câu. – Một số thịt vịt giả thịt cừu bị nghi ngờ sử dụng một lượng hóa chất thuốc nhuộm và chất kết dính độc hại. Đồng thời, những đối tượng này còn dùng mỡ cừu nhập cảng từ New Zealand để chế tạo ra hương vị thịt cừu và cho hóa chất làm dai hơn, lâu nhừ hơn trong quá trình nấu lẩu. Thịt cừu giả có chứa một loại lớn kim loại và chất natri nitrat gây ung thư, vượt quá tiêu chuẩn thực phẩm đến 2.000 lần. – Ngày 23/8/2012, Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm (Bộ Y Tế) cảnh báo, hiện nay, tại Hokkaido (Nhật Bản) đang bùng phát vụ ngộ độc thực phẩm làm 6 phụ nữ bị chết, trong đó có 1 bé gái 4 tuổi do ăn bắp cải muối nhiễm vi khuẩn E. Coli. Trên thị trường Hà Nội và các tỉnh phía Bắc đang có bán rất nhiều các loại rau, củ quả của TC, ước lượng các mặt hàng nầy chiếm 60-70%.*

*- Ngày 15/8/2012, gần đây, một số người tiêu thụ tại VN mua phải loại “cánh gà giả” ở các chợ thực phẩm, mang về luộc mãi không chín, ninh cả tiếng không nhừ. Loại hàng giả nầy được tuồn vào thị trường VN theo con đường tiểu ngạch biên giới Việt-Trung.

– Các sản phẩm bao bì gồm “mì dưa bắp cải Tongyi”, “mì thịt bò đậu xanh” và “mì sườn heo Jin Mailang”, sau khi tiến hành xét nghiệm 84 mẫu thử nghiệm của 53 hãng thực phẩm. Kết quả cho thấy, lượng huỳnh quang của 36 vỏ bao bì sản phẩm vượt quá giới hạn cho phép, vì một số nhà sản xuất đã sử dụng những loại giấy không được phép dùng trong thực phẩm, thậm chí cả giấy bỏ đi để giảm chi phí.

– Ngày 24/07/2012, phát hiện trong sữa bò đóng hộp và đóng gói do hãng Hunan Ava Dairy sản xuất có chất gây ung thư aflatoxin. Chất aflatoxin là một chất độc, nếu hàm lượng cao sẽ trực tiếp gây ra ung thư gan. Tập đoàn sửa Yili Industrial Group dành cho trẻ sơ sinh còn có chứa thủy ngân.

– Một chủ sạp hàng chợ trái cây đầu mối tại thành phố Sài Gòn phát hiện những trái táo được bảo quản bằng sáp nến công nghiệp, có thể bảo quản đến 6 tháng mà trông vẫn còn tươi rất bắt mắt.

– Ngày 5/7/2012, phát hiện “BIA GIẢ” bằng cách thêm các chất hóa học là axit hydrochloric và formaldehyde vào 13 nhãn hiệu bia giả gồm có hiệu Tsingtao và đã có mặt tại khắp tỉnh, thành phố tại VN. Chất Formaldehyde được sử dụng trong việc khử trùng và ướp xác chết, có thể gây ung thư và quái thai.

– Một cơ sở chế biến thịt cừu trái phép vừa bị phát hiện ở TC. Công thức ướp vịt với phân bón và các chất phụ gia tạp nham thành sườn cừu New Zealand loại A, khiến dư luận phải “sởn tóc gáy”.

– Ngày 14/12/2011, Bộ Công An TC cho biết, trong 3 tháng qua, đã phá 128 vụ án liên quan đến scandal làm dầu ăn từ “NƯỚC CỐNG”. Đã có 700 người bị bắt và 60.000 tấn “DẦU NƯỚC CỐNG” bị thu hồi nhưng không tiêu hủy. Sau vụ lợn được bơm hóa chất để cho ra nhiều thịt nạc, dầu nước cống được cho là trọng án xếp hạng thứ hai. Nước thải từ cống rãnh được đun nóng để dầu nhẹ lẫn thức ăn thừa nổi lên, lọc ra chắt riêng bỏ lớp chất nhầy bẩn.. Cơ quan điều tra cho rằng cơ sở nầy đã tiêu thụ hơn 8.000 tấn dầu bẩn, phần lớn dầu bẩn nầy được tuồn qua biên giới, tiêu thụ tại thị trường Việt Nam.

– Bằng thủ đoạn hết sức tinh vi, một công ty chuyên sản xuất thực phẩm đã biến hàng tấn thịt heo thành khô bò bán ra thị trường. Không biết bao nhiêu người tiêu dùng đã bị lừa, ăn phải thịt heo hóa bò của công ty TNHH sản xuất thương mại thực phẩm Thanh Ly tại số 711 Lê Trọng Tấn (phường Bình Hòa) do bà Nguyễn thị Thanh Ly (SN 1975) quê Quảng Ngãi làm giám đốc.

NĂM LOẠI THỰC PHẨM HÀNG ĐẦU NHẬP CẢNG TỪ TQ KHÔNG NÊN DÙNG:

– CÁ RÔ PHI: Hiện nay, 80% nguồn cung cấp cá rô phi khoảng 173 ngàn tấn mỗi năm. Người nuôi cá ở Hoa Lục không cho con cái của họ ăn mà chỉ dùng để bán, vì họ sử dụng những loại hormone tăng trưởng và kháng sinh mạnh để cá có thể sống được trong môi trường “SIÊU BẨN”.

– CÁ TUYẾT: Khoảng 51% số lượng cá tuyết trong các chợ ở Mỹ có xuất xứ từ TQ, tương đương với khoảng 32 ngàn tấn mỗi năm. Những điều nói về cá rô phi tương tự đối với người nuôi cá tuyết.

– NƯỚC ÉP TÁO: Khoảng 50% số lượng nước ép táo được bán ở Mỹ có xuất xứ từ TC khoảng 367 triệu gallon, vì bã thuốc trừ sâu vẫn còn trong trái cây, rau và thực phẩm chế biến khi đưa đến nhà máy cung cấp thực phẩm đã từ lâu là một vấn nạn. TQ là nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu lớn nhất thế giới.

– NẤM CHẾ BIẾN SẴN: Nên tránh xa những loại nấm đóng hộp; 34% nấm chế biến sẵn là từ TQ, tức là 62.9 triệu pound (khoảng 28.5 ngàn tấn) mỗi năm.

– TỎI: Khoảng 31% số tỏi, tức 217.5 triệu pound (khoảng 98.6 ngàn tấn) có xuất xứ từ TQ. Bạn có thể thấy chúng được dán nhãn “sản phẩm hữu cơ”. Để kiếm lời, ai cũng có thể dán nhãn “hữu cơ”.

Những thông tin trên dựa vào dữ liệu năm 2011, được công bố ngày 08/5/2103 để làm chứng trước ỦY BAN SỰ VỤ QUỐC NGOẠI (House Committee on Foreign Affairs) về nguy cơ tiêu thụ sản phẩm không an toàn của TQ. Thực phẩm nhập cảng từ TQ tăng khoảng 7% mỗi năm.

TÌNH TRẠNG NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM NGHIÊM TRỌNG TẠI VIỆT NAM:
(Những trường hợp điển hình)

[1] GẦN 1.000 CÔNG NHÂN NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM: Trưa ngày 3/10 đến sáng 4/10/2013, đã có gần 1.000 công nhân công ty WONDO VINA trụ sở tại xã Long Bình Điền, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang ngộ độc thức ăn phải nhập viện. Bệnh viện Đa Khoa huyện Chợ Gạo, Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang và Bệnh viện Đa khoa TP Mỹ Tho đã không còn đủ giường cho bệnh nhân. Các công nhân cho biết, trưa ngày 3/10, công ty nầy cho khoảng 2.700 công nhân ăn cơm trưa với dưa cải, thịt heo luộc và canh cải. Sau đó, nhiều công nhân bị tiêu chảy, nôn ói, một số ngất xỉu.

[2] 45 NGƯỜI NGỘ ĐỘC DO ĂN BÁNH MÌ: Ngày 03/12/2012, Chi cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm phối hợp với Trung tâm Y Tế Dự Phòng đã tới địa điểm bán bánh mì của Công ty Đồng Tiến tại đường Phan Đăng Lưu, phường Hòa Cường, quận Hải Châu lấy mẫu patê, thịt nguội, xốt trứng gà, rau sống để xét nghiệm sau khi có 45 người ngộ độc do ăn bánh mì tại cơ sở nầy.

[3] TÂY NINH: Gần 30 công nhân Cty TNHH CAN SPORTS VN bị ngộ độc: Ngày 16/11/2012, lúc 17 giờ, khoa Cấp cứu Đa Khoa Tây Ninh đã tiếp nhận gần 30 công nhân thuộc Cty TNHH Can Sports VN, tọa lạc tại Truông Mít, huyện Dương Minh Châu bị ngộ độc thực phẩm, sau khi ăn trưa với tàu hũ dồn thịt, cá biển kho, nấm rơm xào khổ qua.

[4] BÀ RỊA-VŨNG TÀU: 62 công nhân Cty UY VIỆT bị ngộ độc thực phẩm: Lúc 17 giờ ngày 27/11/2012, đại đa số nữ công nhân của công ty THNN sản xuất giày Uy Việt, phường Rạch Dừa, TP. Vũng Tàu ngộ độc thực phẩm đã được các bác sỹ Bệnh viện Lê Lợi, TP. Vũng Tàu chữa trị. Bữa ăn trưa gồm đậu hũ và nấm.

[5] 200 CÔNG NHÂN NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM: Rạng sáng ngày 17/2/2013, Bệnh viện Quân Đoàn 4 tại thị xã Dĩ An, Bình Dương tiếp nhận 200 công nhân nhập viện trong tình trạng nôn ói, tiêu chảy, đau bụng. Theo bác sĩ, đây là những công nhân làm ca đêm, sau bữa ăn chiều tại bếp ăn tập thể của công ty thì có biểu hiện như trên. Bữa ăn gồm: trứng luộc, rau cải luộc, canh bí xanh, thịt gà kho.

[6] GẦN 400 NGƯỜI NGỘ ĐỘC DO ĂN BÁNH MÌ: Ngày 23/10/2013, Sở Y Tế tỉnh Quảng Trị cho biết đã xác định được nguyên nhân dẫn đến việc 382 người phải nhập viện cấp cứu do ngộ độc thực phẩm, vì ăn bánh mì tại tiệm bánh Quang Trung ở thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa. Các mẫu bánh mì và nhân thịt, chả… xét nghiệm có vi khuẩn thương hàn Samonella.

[7] GẦN 200 CÔNG NHÂN NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM: Ngày 18/10/2013, Khoa Cấp cứu Bệnh viện Q. Thủ Đức (TP. Sài Gòn) tiếp nhận 113 công nhân Cty sản xuất giày da Liên Phát tại phường An Bình, huyện Dĩ An, Bình Dương nhập viện, sau khi dùng cơm tại công ty với các món ăn: thịt bò xào dưa chuột, rau muống xào và canh rau dềnh thì có triệu chứng chóng mặt, đau bụng, đau đầu, nôn ói…

[8] GẦN 500 DU KHÁCH NGỘ ĐỘC THƯC PHẨM: Ngày 14/6/2011, Bác sỹ Đồng Sĩ Quang, Trưởng phòng Nghiệp vụ Y Tế – Sở Y Tế Lâm Đồng cho biết, nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm cho hàng trăm du khách khi đến Đà Lạt là do vi khuẩn Clotrisdium perfringens, sau khi ăn thực phẩm và nước uống từ nhà hàng Tâm Châu tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

[9] LÀO CAI: 145 NGƯỜI NGỘ ĐỘC VÌ ĂN CỖ CƯỚI: Ngày 18/11/2013, gia đình ông Giàng Sín ở thôn Sín Pao Chải, xã Thào Chư Phìn, huyện Si Ma Cai có tổ chức cưới cho con gái Út và khoảng 12 giờ sau khi ăn cỗ, có 145 người bị ngộ độc thực phẩm như đau bụng, buồn nôn… phải đưa vào bệnh viện đa khoa huyện Si Ma Cai cứu cấp.

[10] GẦN 200 CÔNG NHÂN THUỘC Cty TNHH KOTOP VINA NGỘ ĐỘC: Sau khi ăn tối tại công ty, gần 200 công nhân thuộc Cty Kotop Vina tại khu công nghiệp Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã phải nhập viện vì ngộ độc thực phẩm. Các công nhân được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Đa Khoa Long Thành chữa trị.

TỔNG KẾT SỐ LIỆU NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM TẠI VN:

– NĂM 2007: Số vụ: 247 / Tổng số người ăn: 56.757 / Số ngộ độc: 7329 / Chết 55.
– NĂM 2008: Số vụ: 205 / Tổng số người ăn: 41.843 / Số ngộ độc 7829 / Chết 62.
– NĂM 2009: Số vụ: 152 / Tổng số người ăn: 40.432 / Số ngộ độc: 5212 / Chết 35.

NĂM 2010: Số vụ: 175 / Tổng số người ăn: 24.072 / Số ngộ độc: 5664 / Chết 51.
– NĂM 2011: Số vụ: 148 / Tổng số người ăn: 38915 / Số ngộ độc: 4700 / Chết 27.
– NĂM 2012: Số vụ: 168 /Tổng số người ăn: 36.604 / Số ngộ độc: 5.541 / Chết 34.

THẾ GIỚI KÊU GỌI ĐẨY LÙI HÀNG TRUNG CỘNG:Vừa qua Liên Minh Châu Âu (EU) vừa tổ chức chiến dịch truyền thông lớn, khuyến cáo người dân không dùng đồ chơi trẻ em TC để tránh nguy hiểm cho sức khỏe. Các động thái tương tự cũng đang diễn ra tại Mỹ, Nhật, Philippines và cả tại Châu Phi. Tháng 7/ 2013, người dân Philippines sống tại Mỹ cũng kêu gọi chống hàng hóa TC. Người lãnh đạo phong trào nầy, bà Nicolas – Lewis nói rằng: “Tôi hy vọng chiến dịch tẩy chay hàng TC sẽ không chỉ giới hạn ở Philippines mà còn lan rộng trên cả thế giới.”

Theo tờ Philippines Daily Inquirer, trong cuộc biểu tình trước trụ sở ở LHQ tại New York, ông Eric Lachica, đại diện tổ chức người Mỹ gốc Philippines, nhận xét: “Nếu 01 triệu trong số 4 triệu người Philippines ở Mỹ không mua hàng TC một lần mỗi tháng, chúng ta sẽ gây thiệt hại tài chánh lên đến hàng tỉ USD mỗi năm cho TC,” ông lập luận rằng. “Nếu mỗi người trong số 200 triệu người Mỹ từ chối mua 20 USD hàng hóa TC, sự mất cân bằng cán cân thương mại của Mỹ và TC sẽ được xóa dần.” Một cuộc điều tra trên kênh truyền hình ABS-CBN tiết lộ có 84% lượng người được khảo sát ủng hộ việc những người Philippines tẩy chay hàng TC.

Trong khi cả thế giới đều lên tiếng phản đối hàng TC, thậm chí người dân TC còn tẩy chay hàng của nước họ thì việc người tiêu dùng Việt Nam tham gia nói “KHÔNG” với các sản phẩm có xuất xứ từ TC, sẽ góp phần đẩy lùi tình trạng hàng kém chất lượng tràn lan trên thị trường và giúp cho các nhà sản xuất quan tâm hơn đến vấn đề chất lượng sản phẩm để có hoạt động tiêu thụ tốt. Sau những phát hiện hàng độc TC kém chất lượng và có chứa chất gây ung thư, xu hướng tẩy chay hàng TC không chỉ riêng ở Mỹ mà người Châu Âu cũng không muốn mua hàng TC. Tuy nhiên, phong trào tẩy chay hàng hóa TC ở Mỹ có vẻ rầm rộ hơn, vì mức độ an toàn của các sản phẩm xuất xứ từ TC đang được báo động trên khắp nước Mỹ

NHỮNG TRÒ PHÙ PHÉP THỰC PHẨM BẨN TẠI TRUNG CỘNG:

[1] Tháng 5/2012, Tân Hoa Xã tiết lộ những người bán bắp cải đã tẩm formal để không bị hư hại khi vận chuyển bằng xe tải không có hệ thống lạnh trong mùa hè. Formal rẻ tiền, nhưng gây dị ứng và có nguy cơ gây ung thư rất cao. Năm 2010, nhiều người trồng rau đã nhúng nấm vào thuốc tẩy để có màu trắng đẹp mắt.

[2] Tháng 5/2013, CATQ phát hiện một mạn lưới buôn lậu thịt quy mô ở Thượng Hải và Giang Tô. Trên 900 người bị bắt giam vì bán thịt chuột cống và chồn làm thịt bò và cừu, thu lợi nhuận 1,6 triệu USD.

[3] Các nhà phù thủy Tàu đã chế ra những món ăn bị tiêm vào những sản phẩm độc hại, ngâm tẩm bằng những dung dịch đáng ngờ, đôi khi bằng nước tiểu súc vật. Thịt heo được tiêm borax, một chất được dùng làm thuốc trừ sâu hay bột giặt để giả làm thịt bò, 16pt;”>hay chích nước bẩn vào để làm tăng trọng lượng là những thủ thuật cổ điển.

[4] Nông dân cũng vận dụng nông hóa để có rau quả đẹp, to hơn. Khoảng 45 hecta dưa hấu đã bị nổ tung như những quả bóng vì hấp thụ quá nhiều chất Forchlofenuron để kích thích tăng trưởng.

[5] Một nhà phát minh ra loại “siêu lúa” có năng xuất tăng 20% báo động: Thuốc kích thích tăng trưởng tràn lan khắp nơi. Để nuôi lớn một con lợn thịt thông thường phải mất một năm, nhưng ở TQ thì chỉ cần 3 tháng! Gà thì nuôi 28 ngày thay vì 6 tháng. Còn rau quả cũng tương tự. Hậu quả là gây thảm họa cho sức khỏe. Vì vậy, một bé gái mới 3 tuổi đã thấy kinh nguyệt.

[6] Cuối tháng 12/2013, Trung Cộng tổng kết có 3.330.000 hecta đất nông nghiệp quá ô nhiễm, không thể trồng bất cứ thứ gì. Theo báo “Bưu Điện Hoa Nam”, ít nhất 70% sông hồ tại TQ bị công nghiệp làm ô nhiểm, chủ yếu là các nhà máy hóa chất và dệt nhuộm.

TQ TUỒN Ồ ẠT HÀNG BẨN, HÀNG ĐỘC SANG VIỆT NAM TIÊU THỤ:

Nhìn từ biên giới Việt – Trung, điểm tên một số cửa khẩu biên giới có: Cửa khẩu Lào Cai cho phép người dân đi qua cầu Hồ Kiều là sang tỉnh Vân Nam.

Cửa khẩu Móng Cái nằm cách Hà Nội 327 km.
Cửa khẩu Lạng Sơn cách Hà Nội 171 km.
Cửa khẩu Đồng Văn với hệ thống đường sắt từ Hà Nội lên Lạng Sơn.

[1] Với vị trí địa lý như vậy, việc ngăn chận hàng độc, hàng bẩn xuất xứ từ TQ tuồn vào Việt Nam không phải là chuyện dễ dàng. Trong thời gian gần đây, các cơ quan chức năng liên tục phát hiện, bắt giữ hàng chục vụ vận chuyển “thực phẩm bẩn” và thối trên địa bàn cả nước. Mới đây nhất là vụ bắt giữ hơn 23 tấn chân, đuôi bò thối không rõ nguồn gốc ở Hà Nội, rồi hàng loạt vụ tại TP. Sài Gòn. Nhiều người dân không khỏi rùng mình khi nghĩ, họ có thể là nạn nhân của không ít món thực phẩm bẩn và thối nầy.

[2] Gia cầm nhập lậu qua biên giới chính là “GÀ THẢI LOẠI” mà người Tàu không ăn. Trong khi người TQ nhập gà từ Việt Nam về ăn thì “gà thải loại” nhập lậu qua đừơng biên giới tràn ngập các chợ và các quán ăn của VN. Thường sau 40 tuần tuổi gà cho trứng ít lại, nếu thấy không còn lời nữa, gà sẽ được thanh lý. Đây chính là “gà thải loại”. Ăn gà loại nầy nguy hiểm đến sức khỏe càng cao, vì gà nuôi công nghiệp sẽ sử dụng thuốc kháng sinh để trị bệnh cho gà và cả thuốc kích thích tăng trưởng nhanh.

CHỢ TỬ THẦN “KIM BIÊN” NƠI TẬP TRUNG CÁC HÀNG ĐỘC, HÓA CHẤT GIẾT NGƯỜI XUẤT XỨ TỪ TRUNG CỘNG:

Tại chợ Kim Biên, tọa lạc tại phường 13, Quận 5 TP. Sài Gòn. Khu chợ có khoảng trên 40 địa điểm, sạp kinh doanh hóa chất bày bán công khai, ngang nhiên bán đầy đủ các loại hóa chất giết người mà không hề biết luật pháp nghiêm cấm như thế nào. Theo điều tra, trung bình mỗi điểm kinh doanh này buôn bán sỉ và lẻ trên dưới 50 mặt hàng các loại, bao gồm các loại hóa chất, thực phẩm, hương liệu các loại…đặc biệt có cả loại hóa chất công nghiệp, thực phẩm vô cùng nguy hiểm như acid chẳng hạn. Hằng ngày, người dân từ khắp mọi nơi tấp nập đổ về đây để mua bán các loại hóa chất được bày bán tràn lan. Đặc biệt là các loại ACID được người mua, dùng để thanh toán tình địch… [1] Hóa chất Ethephon hay còn gọi là “thúc chín tố” dùng để giữ thịt ôi được tươi. Thương lái tại một số tỉnh, thành phố sử dụng loại hóa chất nầy để bảo quản thịt gia súc, gia cầm sau khi mổ nhằm giữ độ tươi của thịt. Thuốc có bán giá lẽ từ 1.000 – 1.500 đồng/ ống. Khi dùng loại thuốc nầy, thịt vận chuyển từ Thanh Hóa ra Hà Nội vẫn giữ được màu thịt tươi.

[2] Ở một số cửa hàng ăn uống tại TP. Sài Gòn phát hiện phụ gia trôi nổi nhập từ TQ được sử dụng trong nồi lẩu ngon lành. Đầu bếp không cần ninh xương mà pha chế nước lẩu bằng cách cho gia vị lẩu hòa tan trong nước. Dùng cách nầy vừa nhanh chóng, vừa tiết kiệm được tiền mua xương heo, xương bò, bất chấp sự độc hại của hóa chất nầy. Nhìn bề ngoài, lọ gia vị nầy giống như lọ nước tương, trên nhãn hiệu có hàng chữ “Sa Cha Sauce”

[3] Hai loại hóa chất được sử dụng để làm chất nổ là Kali Clorat (KClO3) và phốt pho (P). Đây là các loại hóa chất nằm trong danh mục không được buôn bán tự do, người mua phải xuất trình được các giấy tờ liên quan đến mục đích sử dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, các loại hóa chất nầy có thể dễ dàng tìm kiếm. Tại cửa hàng Lan Giám, mỗi kg phốt pho được bán với giá 150.000 đồng/ kg. Còn tại cửa hàng Mai giá là 130.000 đồng/ kg.

[4] Ngoài các hương liệu để pha chế cà phê, chợ tử thần Kim Biên còn cả những hóa chất mang hương liệu thịt heo, thịt bò. Thậm chí thuốc nhuộm màu cho giấy cũng được tư vấn để khách mua về nhuộm cho thịt gà vịt. Khi được hỏi về chất tẩy rửa làm trắng củ quả thì được bà B. giới thiệu một loại bột trắng, nhìn giống như loại bột nước rửa chén, bảo đảm khi rửa vào thì rau, củ, quả sẽ trắng như mới gọt.

[5] Một sản phẩm nhuộm màu gia cầm gà, vịt cho vàng da, một gói màu công nghiệp có dạng viên nhỏ như đầu ngón tay, màu đỏ sậm, chỉ cần vài viên này pha với 10 lít nước là có thể nhuộm hàng trăm con gà vàng ươm.

[6] Một chủ cửa hàng nói về cách chế biến các loại cà phê, nước chanh, ca cao, nước trái cây. Anh thích mùi cà phê Moka thì mua hương cà phê Moka, thích mùi cà phê Pháp thì mua hương cà phê Pháp. Với 300.000 đồng/ kg đến 1 triệu đồng/ kg có thể pha chế hàng ngàn ly cà phê thơm ngon có vị giống như hương vị của các hãng cà phê danh tiếng trên thế giới.

[7] Hãi hùng là khi đọc tới hàng chữ trên can nhựa hóa chất là “hương thịt bò”, “hương thịt heo” thì bà chủ vô tư trả lời: “Đối với thịt heo, thịt bò bệnh hoặc chết phải ướp hóa chất NaHSO3 dù còn tươi hay đã có mùi hôi, tẩm thêm một ít chất nầy thì thịt vẫn có mùi thịt bò, thịt heo như mới. Các loại nầy giá khoảng 300.000 đồng/ kg. Ngoài ra, bà còn cho biết thêm, còn cả các mặt hàng như hương liệu tôm, cua để nấu bún riêu. Chỉ cần một muỗng nhỏ thôi, nồi lẩu 10 lít sẽ ngọt lịm, thêm mấy khúc xương, vài miếng thịt làm màu thì mùi lẩu ai ăn cũng khen ngon.

[8] Chợ Kim Biên còn còn có cả những hương liệu dùng để sản xuất xì dầu, nước mắm bằng nước lã. Người làm bún, muốn làm bún trắng thì dùng Acid Oxalic. Còn người muốn giữ hoa quả tươi lâu để di chuyển đường xa thì dùng Carbendazim.

[9] Tại bến Phú Định, P.16, Q.8 có nhiều cơ sở kinh doanh dừa tươi, dừa khô bán sỉ, bán lẻ. Cảnh hàng trăm trái dừa tươi vừa gọt vỏ màu nâu xám, nhưng chỉ sau vài phút ngâm trong thùng hóa chất pha sẵn đã trở nên trắng tinh. Chị Tiên, chủ vựa dừa cho biết, chỉ cần ra chợ Kim Biên, ghé vào bất cứ tiệm hóa chất nào hỏi mua chất tẩy trắng dừa cũng có, giá dao động từ khoảng 125.000/ kg. Mỗi thùng nước khoảng 20 lít pha với 6 muỗng bột rồi ngâm dừa vào, chờ thấm nước hết, thế là xong.”

[10] Đến sạp hóa chất T.H ở chợ Kim Biên hỏi mua loại bột chế biến mì Quảng sao cho dẻo, lưu trử lâu thì sẽ được giới thiệu một bịch bột có nhãn mác là sản phẩm thay thế hàn the, được sử dụng chế biến chả giò, bún, mì Quãng với giá 145.000 đồng/ bịch. Nếu muốn mua loại tốt thì lấy loại 10 kg, chia nhỏ mỗi bịch 1 kg, có thể dùng cho 100 kg gạo, bảo đảm cọng mì dai, để lâu bao nhiêu cũng được. [11] Một khách hàng tên Hiền, đến từ Quận Thủ Đức (TP. Sài Gòn), cho biết anh thường mua hóa chất về ủ trái cây còn xanh cho mau chín. Anh nói: “Hóa chất, phụ gia thực phẩm từ hương liệu, nước cốt cà phê, chất tạo bọt, tạo dẻo, tạo mùi…gì cũng có.

[12] Kiểm tra cụ thể 54 doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, có đến 31 đơn vị vi phạm. Trong đó, vi phạm phổ biến nhất về quy định “nhãn hàng hóa” ghi không đủ nội dung bắt buộc, hàng nhập khẩu không có nhãn phụ tiếng Việt với 13 đơn vị vi phạm. Ngoài ra, các vi phạm như không đủ điều kiện kinh doanh hàng lậu, không niêm yết giá…Kết quả kiểm tra hơn 41 tấn hàng và 14.423 đơn vị sản phẩm cho thấy, phần lớn hàng hóa đều có XUẤT XỨ TỪ TC. Quản lý thị trường cũng phát hiện 1,3 tấn hóa chất nhập lậu (lubsofter, sapamine, acid oxalic H2C204) xuất xứ từ TC tại một công ty ở Quận 5.

Tại Việt Nam hiện nay, người dân nhìn bất cứ nơi nào, thức ăn, thức uống toàn là hàng độc. Từ mớ rau, con cá, con cua đồng cho đến miếng thịt heo, thịt bò…có thể đã được con buôn tẩm chất độc hóa học để bảo quản. Mới đây, thêm các loại trái cây như táo, nho, lê, gừng, khoai tây… vịt, gà thải loại, thịt heo, bò thối, dầu tái chế từ cống rãnh, men rượu độc, tới cá tầm nhập lậu từ Trung Cộng. Nhưng, có 3 loại chất hóa học khủng khiếp và tàn độc nhất gây kinh hoàng cho dân Việt Nam có xuất xứ từ Trung Cộng và ảnh hưởng rất tai hại của thuốc lá:

[1] GẠO NGÂM HÓA CHẤT: Chỉ cần ngâm 15-20kg chung với 1 muỗng canh nhỏ loại bột này, rồi đem hấp khoảng 1 tiếng, gạo sẽ nở bung ra cho lượng cơm nhiều gấp đôi so với cách nấu bình thường. Hơn nữa, loại bột nầy còn có tác dụng làm cơm chín rất nhanh. Chị T. (35 tuổi) thâm niên bán cơm dĩa hè trên 5 năm cho người lao động nghèo như phu khuân vác, xích lô, bán vé số dạo hoặc các công tư chức loại cơm hàng cháo chợ. Chị ta thản nhiên nói: “Dân trong nghề bán cơm vỉa hè gọi bột nầy là “BỘT NỞ”, hạt gạo ngâm với hóa chất nầy, rồi đem hấp giúp gạo chín mau, nở nhanh to ra gấp 2,3 lần mà chẳng cần công sức gì cả. Vì vậy, một ngày ước tính bán 40 kg gạo, nhưng kỳ thực chỉ bỏ tiền mua 15-20 kg gạo thôi bởi gạo ngâm với “bột nở” rồi đem hấp lên cho ra cơm nở gấp 2, 3 lần, nhưng không vì thế cơm ăn không dẻo, bị sống sượng…” Đây quả là cơn ác mộng đối với dân lao động nghèo sống ở TP Sài Gòn.

[2] MA TÚY NHÂN TẠO: Loại ma túy nầy vượt xa cả cocaine, ecstasy, dân chơi nghiện ngập gọi là Ice hoặc Crystal, nhưng giá rất mềm, đó là loại ma túy nhân tạo do TC chế tạo, đã được bày bán công khai tại Hà Nội và Sài Gòn làm cho thanh thiếu niên điên loạn, ngây ngất mà nó còn tác dụng kích thích tình dục. Viện Project 2049 Institude của Mỹ đã phát hành một bản phúc trình 48 trang có liên quan tới “VŨ KHÍ HÓA HỌC” (Biological Warfare) là ma túy nhân tạo do TC sản xuất nhằm làm tê liệt ý chí đấu tranh của các dân tộc chống đối “CHỦ NGHĨA ĐẠI HÁN” trong đó có Việt Nam và Philippines…

[3] MEN RƯỢU ĐỘC: Trước đây, gạo hoặc nếp được nấu thành cơm đem trộn men vào rồi đem ủ. Phải mất 8 kg gạo nấu thành cơm rồi đem ủ men và phải chờ mất 5 – 7 ngày mới lấy được gần 8 lít đế, tốn rất nhiều công sức mà lời lãi chẳng được bao nhiêu. Bây giờ thì khác, nấu bằng men độc TC, chiết xuất trực tiếp từ gạo, không cần trải qua giai đoạn nấu thành cơm, tiết kiệm được tiền mua than củi đốt. Chỉ cần đổ nước vào gạo cho ướt đều rồi trộn men vào. Ủ xong đậy lại để đó 3 ngày sau, gạo nở ra thành một khối cơm tha hồ mà nở. Sau đó, bỏ gạo vào nồi, quậy nước vào, rồi chưng cất sẽ có được lượng rượu (độc) nhiều vô kể. Vốn 1, lời gấp 9,10 lần so với trước đây, thấy mà ham! Tính đi, 1 lạng men chưa tới giá 10.000 đồng, đem bỏ mối cho các quán nhậu 15.000 đồng/ lít. Muốn cho rượu trong vắt, bằng cách cho thuốc rầy Mytox vào.

Cô giáo Lợi (giáo viên nghỉ hưu), hiện đang sống ở Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tâm sự: “Tôi vẫn biết là nấu rượu bằng men TC rất nguy hại vì nó mất vệ sinh vì giá rất rẻ, dễ nấu, nhưng cũng rất là độc. Gần đây, người ta ngộ độc rất nhiều, chắc chắn là do loại rượu nầy, rồi thêm “rượu đứng” là dân nghiện rượu nặng, chừng 2 tiếng là lên cơn nghiện một lần, phải tạt vào quán cốc bên đường, bỏ ra 2.000 đồng mua một ly, nốc cạn rồi đi tiếp. Nếu không có rượu thì mắt mờ, phều nước bọt, tay chân run rẩy như người bị động kinh, còn chuyện đánh nhau chết người do rượu cũng không kể xiết…”

Một bác sĩ tại bệnh viện Vĩnh Đức, Điện Bàn ở Quảng Nam, cho biết: “Phần lớn những năm gần đây, các bệnh nhân về “GAN” như xơ gan, ung thư gan đều ở độ tuổi trung niên đều là đàn ông. Từ 10 năm trở lại đây, bệnh nầy xuất hiện rất cao,” ông nói tiếp. “Không có gì nguy hại bằng rượu cất bằng men TQ, cái chết của loại rượu độc nầy là cái CHẾT CHẬM MÀ CHẮC, nó không chết liền như những thứ bệnh khác, nó từ từ biến cơ thể người nghiện rượu nầy thành một ổ bệnh, vô phương cứu chữa.”

Một người tên Huỳnh, chuyên buôn men rượu từ Hoa Lục về VN, cho biết: “Mỗi tháng, tôi bỏ mối chừng “10 TẤN” men các loại, từ men rượu nếp đến men rượu gạo cho 2 tỉnh Quảng Bình & Quảng Trị, trong đó men rượu gạo chiếm 85%,” Huỳnh nói. “Cứ một tấn men sản xuất chừng 100 tấn hèm và 30 tấn rượu. Như vậy, riêng khu vực miền Trung từ Quảng Bình vào Quảng Ngải có 300 tấn rượu. Hiện có 9 người hành nghề như tôi. Ước tính có khoảng 2.700.000 lít rượu độc tiêu thụ tại miền Trung mỗi tháng, hơn cả số lượng bia.” Huỳnh còn cho biết thêm: “Tỉ lệ men rượu TC tuồn vào trong miền Nam, cụ thể là TP. Sài Gòn, số lượng men của họ tiêu thụ, ước tính gấp 3 lần miền Trung. Sài Gòn bây giờ là một cái quán nhậu vĩ đại của Việt Nam…”

[4] THUỐC LÁ: Theo thống kê của PTT Nguyễn Thiện Nhân đưa ra ngày 24/5/2012 tại Hà Nội: Dân VN có 40.000 người chết vì thuốc lá mỗi năm. Không còn chiến tranh mà hàng năm chúng ta mất hơn 4 SƯ ĐOÀN…theo lời của PGS-TS Lương Ngọc Khuê, nói: “VN nằm trong nhóm các nước hút thuốc lá nhiều nhất thế giới. Việc bán thuốc lá diễn ra khắp nơi, nguyên nhân vì dân mình quá nghèo, nên dân chúng bán thuốc lá lẻ tràn lan khắp nước, nhức nhối là hiện tượng TRẺ EM HÚT THUỐC LÁ.

Kết quả cuộc điều nghiên công bố trên tạp san của “Hiệp hội Y sĩ Hoa Kỳ” thì 73% tổng số đàn ông VN đều nghiện thuốc lá, là quốc gia có tỷ số cao nhất thế giới. Mỗi người đốt trung bình khoảng 150 bao thuốc lá, cả nước tiêu thụ khoảng 3 tỷ bao thuốc lá trong một năm.

Theo BS Nguyễn Thượng Trí trong thời gian làm công tác thiện nguyện, nói: “Ai cũng biết rằng hút thuốc lá có hại cho sức khỏe và có thể bị ung thư phổi và bệnh tim mạch là nguyên nhân đưa đến chết yểu,” ông kết luận. “Các chứng bệnh do việc hút thuốc lá gây ra cũng sẽ dẫn đến hậu quả tai hại là sức khỏe của lực lượng nhân công lao động sẽ bị hao mòn. Và trong khi các gia đình còn đang phải cố gắng kiếm tiền để sống thì việc bỏ tiền ra mua thuốc lá là điều không thể chấp nhận được…”

KẾT LUẬN:

Xin đồng bào trong và ngoài nước đừng quên rằng, đây là thủ đoạn tàn độc và bẩn thỉu của bọn Rợ Đại Hán cùng với sự đồng lõa của bọn Thái Thú Tham Ô tiếp tay, thực hiện âm mưu làm LIỆT KHÁNG TINH THẦN ĐẤU TRANH CỦA DÂN TỘC, đặc biệt nhắm vào tuổi trẻ yêu nước. Hãy đề cao cảnh giác trước chiến lược xâm lược tinh vi của bọn Rợ Đại Hán, làm cạn kiệt sinh lực của dân tộc ta trước, diệt chủng là bước tiếp theo và bước cuối cùng là XÓA TÊN NƯỚC VIỆT NAM TRÊN BẢN ĐỒ THẾ GIỚI giống như dân tộc Tây Tạng và Tân Cương.

Cuộc chiến tranh VN kéo dài trên 30 năm, đã hy sinh cả thế hệ thanh thiếu niên VN trên 4.000.000 người để phục vụ quyền lợi của Đệ Tam CSQT Nga – Tàu. Ngày nay, tiếp tục vì quyền lợi của bọn Bắc Kinh bằng cách mở cửa biên giới Việt – Trung để hàng độc của Hoa Lục ồ ạt tuồn vào đất nước Việt Nam từ thành thị tới nông thôn, luồn lách khắp các hang cùng ngõ hẻm để đầu độc nhân dân. Đây là cuộc xâm lược thầm lặng không khói thuốc súng, chỉ có khói thuốc lá và mùi hèm rượu độc tràn lan khắp nước. Số nạn nhân bị đầu độc lên đến con số khủng khiếp:

[1] 8.000.000 người Việt Nam bị viêm gan B, C và ung thư gan, đang thu ngắn khoảng cách từ giường bệnh ra nghĩa địa.
[2] 40.000 người chết vì thuốc lá mỗi năm.
[3] Số người ngộ độc thực phẩm không hề giảm hàng năm.

Âm mưu bẩn thỉu của bọn lãnh đạo Bắc Kinh muốn xóa sổ nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, chắc chắn ngày đó sẽ không còn xa…

 Nguyễn Vĩnh Long Hồ

Đại nạn Trung Hoa thời cổ sử (bài 1)

 Đại nạn Trung Hoa thời cổ sử (bài 1)

Trần Gia Phụng

HINH CO SU

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lược đồ Âu Lạc thế kỷ I-III (Nhà Hán chia Âu Lạc thành ba quận là Giao Chỉ,Cửu Chân và Nhật Nam )

Việt Nam nằm về phía nam Trung Hoa, một nước lớn so với Việt Nam. Vị trí địa lý nầy là một đại nạn thường trực cho Việt Nam, vì các nhà lãnh đạo Trung Hoa qua mọi thời đại, luôn luôn ỷ thế nước lớn, kiếm cách xâm lăng các nước nhỏ láng giềng, trong đó có Việt Nam. Bài nầy trình bày đại nạn Trung Hoa thời cổ sử.

  1. Trung Hoa xâm chiếm cổ Việt

Ở phương bắc, lúc mới lập quốc, người Trung Hoa quần tụ sinh sống chung quanh lưu vực Hoàng Hà (Huang He), phía bắc Dương Tử Giang (Yang Zi Jiang), khá xa cổ Việt. Các triều đại Trung Hoa đầu tiên theo chế độ phong kiến, tức phong hầu (phong chức) và kiến địa (cắt đất) để cai trị. Hoàng đế Trung Hoa nắm giữ chính quyền trung ương. Các vương hầu đứng đầu các tiểu quốc chung quanh gọi là chư hầu. Vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên (TCN), nhà Châu (Chou) suy yếu. Trong các chư hầu, lúc đó nước Tần mạnh nhất.

Năm 221 trước TCN, vua nước Tần là Tần Chính tiêu diệt các chư hầu, thống nhất Trung Hoa, lên ngôi hoàng đế tức Tần Thủy Hoàng (Ch’in Shih Huang, trị vì 221-210 TCN), lập ra nhà Tần (Ch’in). Tần Thủy Hoàng bỏ chế độ phong kiến, xóa các nước nhỏ, chia Trung Hoa thành 36 quận, đặt quan cai trị, thuộc quyền hoàng đế.

Ổn định xong trung nguyên Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư (Tu Shu) và Sử Lộc (Shi Lu) cầm quân vượt qua sông Dương Tử năm 214 TCN (đinh hợi), mở mang bờ cõi xuống phương nam, chiếm vùng đất mà người Trung Hoa gọi là vùng Bách Việt, lập thành ba quận là Quế Lâm (Kueilin), Nam Hải (Nanhai), và Tượng Quận (Hsiang).

Quế Lâm nay là vùng bắc và đông Quảng Tây. Nam Hải là vùng Quảng Đông. Tượng Quận là đất cổ Việt, tức vùng Bắc Việt ngày nay. Trong ba quận nầy, Tượng Quận ở xa xôi nhất đối với Trung Hoa. Phía bắc Tượng Quận, núi non hiểm trở bao bọc, ngăn cách với Nam Hải, Quế Lâm, và trung nguyên Trung Hoa.

Đồ Thư bị người địa phương kháng cự và giết chết. Nhà Tần cử Nhâm Ngao (hay Nhâm Hiêu) làm hiệu uý quận Nam Hải và Triệu Đà (Chao T’o) làm huyện lệnh Long Xuyên (Lung-Chuan), thủ phủ của quận Nam Hải.

Năm 210 TCN (tân mão), Triệu Đà đem quân sang đánh Tượng Quận hay cổ Việt. Theo truyền thuyết, vua cổ Việt là An Dương Vương, nhờ có nỏ thần nên đã đẩy lui quân Triệu Đà. Triệu Đà liền giảng hòa và cho con trai là Trọng Thủy sang kết hôn với con gái của An Dương Vương là Mỵ Châu. Trọng Thủy lén bẻ gãy nỏ thần, thay bằng một nỏ giả, rồi về nước. Năm 208 TCN (quý tỵ), Triệu Đà tấn công An Dương Vương lần nữa, và chiếm được khu vực cổ Việt.(1)

Lúc đó, Nhâm Ngao bị bệnh qua đời. Trước khi từ trần, Nhâm Ngao khuyên Triệu Đà nên dựa vào địa thế xa xôi hiểm trở của quận Nam Hải, thành lập một nước độc lập. Năm 207 TCN (giáp ngọ), Triệu Đà chiếm Nam Hải và tự xưng vương, tức Triệu Võ Vương, đặt quốc hiệu là Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (có tài liệu gọi là Phan Ngu hay Phan Ngung). Năm 198 TCN (quý mão), Triệu Võ Vương cử người sang cai trị cổ Việt.(Cương mục, bd. tập 1, sđd. tr. 89.)

Bên Trung Hoa, sau khi nhà Tần bị lật đổ, Hạng Võ (Xiang Yu) cùng Lưu Bang (Liu Bang) tranh hùng. Lưu Bang thành công, lên ngôi hoàng đế, tức Hán Cao Tổ (Han Kao Tsu, trị vì 202-195 TCN), lập ra nhà Hán (202 TCN – 220). Lúc đầu, Hán Cao Tổ vẫn để họ Triệu làm vương đất Nam Việt. Gần 100 năm sau, Hán Võ Đế (Han Wu Ti, trị vì 141-87 TCN) sai Lộ Bác Đức (Lu Bo De) đem quân đánh nhà Triệu năm canh ngọ (111 TCN), giết vua Triệu Dương Vương và thái phó Lữ Gia, chiếm nước Nam Việt.

Cần chú ý là Triệu Đà vốn là tướng của nhà Tần, vâng lệnh nhà Tần làm huyện lệnh Long Xuyên, thủ phủ của quận Nam Hải, nhân cơ hội xáo trộn ở Trung Hoa, đứng lên chiếm quận Nam Hải, lập ra nước Nam Việt. Triệu Đà không phải là người địa phương Bách Việt. Triệu Đà xâm lăng cổ Việt và sáp nhập cổ Việt vào nước mới của ông là Nam Việt.

Theo sử gia Ngô Thời Sỹ (thế kỷ 18), tác giả bộ Việt sử tiêu án, vì Triệu Đà sáp nhập cổ Việt vào nước Nam Việt, nên khi Nam Việt bị Lộ Bác Đức sáp nhập vào nước Trung Hoa năm 111 TCN, vùng cổ Việt cũng bị sáp nhập luôn vào Trung Hoa, chứ trước kia quân đội của triều đình Trung Hoa không xuống tận miền biên viễn xa xôi nầy. Do đó, theo Ngô Thời Sỹ, Triệu Đà chẳng những không có công gì với cổ Việt mà là người đem họa lại cho cổ Việt nữa.(2) Từ đó, cổ Việt bị Trung Hoa đô hộ cho đến năm 938, khi Ngô Quyền chiến thắng trận Bạch Đằng Giang, đánh đuổi quân Nam Hán ra khỏi nước.

2.- Chủ trương thuộc địa thựa dân

Khi gởi quân vượt sông Dương Tử, đánh chiếm Bách Việt, triều đình Trung Hoa thực hiện ngay chính sách thuộc địa thực dân (thực = trồng, tức trồng người). Triều đình Trung Hoa gởi người Trung Hoa, thuộc chủng Mongoloiid (Mông-cổ) đến các vùng đất mới chiếm càng ngày càng đông. Những đợt di dân đầu tiên có thể gồm hai hạng người: thứ nhất là những binh sĩ đi chiếm đất và thứ hai là những người có trọng tội, bị lưu đày đến miền biên viễn. Khi làm lệnh Long Xuyên, Triệu Đà gởi sứ về triều đình nhà Tần, xin triều đình gởi ba vạn con gái hoặc đàn bà góa sang để làm vợ binh sĩ.(3) Như thế, chứng tỏ số người gốc Hoa được gởi đến vùng Nam Hải lên khá đông.

Từ khi Triệu Võ Vương (Triệu Đà) cử người sang cai trị cổ Việt (198 TCN), người Trung Hoa thuộc chủng Mongoloiid di cư đến tận cổ Việt càng ngày càng đông, đến nỗi có sử thuyết cho rằng những người Hoa di cư nầy chính là tổ tiên người Việt. Trong thực tế những di chỉ khảo cổ cho thấy những người đầu tiên sống trên đất cổ Việt nói chung thuộc chủng người được sắp vào nhóm Indonesian hay Mã Lai Đa Đảo (Malayo-Polynesian). Những người Hoa di cư từ thời Triệu Đà đến Cổ Việt sinh sống, đã hợp chủng với người bản địa cổ Việt để trở thành tổ tiên người Việt ngày nay.

Theo sách The Living Races of Men (New York, 1966), các tiến sĩ Carleton S. Coon và Edward E. Hunt Jr. dựa trên những khảo cứu về huyết học, đã sắp người Đông Nam Á, trong đó có người Việt Nam, và người Indonesian nằm chung trong một hệ thống huyết tộc với nhau.(4) Bên cạnh đó, trong những nghiên cứu về nguồn gốc người Việt Nam, bộ bách khoa Encyclopedia Britannica (1999) đã kết luận “… rằng giữa người Việt với người Thái và các tộc hệ Indonesian có liên hệ mạnh mẽ [chặt chẽ] về xã hội và văn hóa.”(5) Các kết quả nầy cho thấy trong cuộc hợp chủng Việt Hoa thời cổ Việt, yếu tố bản địa có tính cách chủ yếu quan trọng cả về chủng tộc, lẫn văn hóa và xã hội.

Yếu tố bản địa còn thấy rõ trong hai sự kiện: 1) Thứ nhất, dầu bị đô hộ hơn một ngàn năm trong thời cổ sử, người Việt vẫn duy trì tiếng Việt, vẫn nói tiếng Việt cho đến ngày nay, trong khi chữ viết có thể thay đổi. 2) Thứ hai, đế quốc Trung Hoa xâm chiếm miền Nam sông Dương Tử, một vùng đất rộng mệnh mông với nhiều sắc dân khác nhau, duy nhất chỉ có người cổ Việt nổi lên giành độc lập, trong khi các sắc dân khác đành chịu sự đô hộ của Trung Hoa. Điều nầy cho thấy sắc dân bản địa là một thành tố quan trọng trong sự sống còn của người Việt.

Điều đặc biệt là những người Mongoloiid di cư đến sinh sống trên đất cổ Việt, từ đời nầy qua đời khác, đã gắn liền với những quyền lợi chính trị, kinh tế người bản địa cổ Việt. Từ đó những người Mongoloiid di cư đến cổ Việt được Việt hóa dần dần, và trở thành một bộ phận của dân Việt, trái ngược với chủ trương đồng hóa người Việt của triều đình Trung Hoa. (Thay vì đồng hóa người Việt theo Trung Hoa, thì người Trung Hoa di cư lại biến thành người Việt.) Có khi chính những người gốc Hoa di cư cũng nổi lên chống lại chế độ đô hộ Trung Hoa.

Tượng trưng cho khuynh hướng nầy là cuộc nổi dậy của Lương Long năm 178 (mậu ngọ), rồi của các binh sĩ triều đình Trung Hoa tại Giao Chỉ năm 184 (giáp tý), và nổi bật hơn cả là Lý Bôn năm 541 (tân dậu). Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết về Lý Bôn như sau: “Tổ tiên là người Bắc [Trung Quốc], cuối thời Tây Hán [202 TCN-25 SCN] khổ về việc đánh dẹp, mới tránh sang ở đất phương Nam, được 7 đời thì thành người Nam…”(6) Câu nầy không khẳng định là được bảy đời mới trở thành người Nam, nhưng ý cho thấy sống lâu năm và nhiều đời ở cổ Việt “thì thành người Nam”.

Như thế, từ thời Tần Thủy Hoàng, Trung Hoa bắt đầu xâm chiếm miền nam sông Dương Tử, tiến xuống cổ Việt. Nhà cầm quyền Trung Hoa di dân để đồng hóa vùng Bách Việt, nhưng khi đến Tượng Quận, tức cổ Việt, mưu đồ nầy bất thành, vì gặp sự chống đối mạnh mẽ của người cổ Việt, trong đó có cả những di dân từ phương bắc đến. Ngưòi cổ Việt luôn luôn kiếm cách nổi dậy chống lại nhà cầm quyền thực dân Trung Hoa, để giành lấy chủ quyền và nền độc lập của mình.

3.- Huyền thoại khai hóa

Đất cổ Việt bị Trung Hoa đô hộ từ năm 208 TCN đến năm 938, là năm Ngô Quyền đánh đưổi quân Nam Hán ra khỏi bờ cõi cổ Việt.(7) Nhà cầm quyền Trung Hoa đưa người sang cổ Việt, vừa để biến cổ Việt thành một thuộc địa thực dân của Trung Hoa, làm phiên thuộc nhằm bảo đảm an ninh phía nam của Trung Hoa, vừa để tổ chức khai thác và bóc lột thuộc địa.

Công cuộc khai thác của những nhà đô hộ Trung Hoa chỉ nhằm phục vụ quyền lợi Trung Hoa, nhưng lại luôn luôn tự đề cao là họ đã khai hóa dân Việt mà họ cho là “Nam man”.(8) Theo sách Hậu Hán thư (Hou Han shu, sách về đời Hậu Hán, viết vào thế kỷ thứ 5): “Tục Cửu Chân làm nghề săn bắn chứ không biết dùng bò để cày. Dân thường phải mua lúa Giao Chỉ mỗi lần bị thiếu thốn. [Nhâm] Diên bèn truyền đúc các thứ điền khí dạy cho họ khẩn ruộng, ruộng đất trù mật, mỗi năm một rộng thêm; trăm họ được đầy đủ. Dân Lạc Việt lại không có phép cưới hỏi, mọi người ưa dâm dật, không quen thói sống chung với nhau, nên không biết tình cha con, không biết đạo vợ chồng. Vì vậy Diên gởi thư đi các huyện thuộc quyền ông, truyền cho mọi người đàn ông từ 20 đến 50 tuổi, đàn bà từ 15 đến 40 tuổi, tất cả tùy theo tuổi tác mà cưới hỏi nhau… Trước kia trong thời Bình Đế có Tích Quang, người Hán Trung làm thái thú Giao Chỉ, lấy lễ nghĩa dạy cho dân Man di ăn ở, tiếng giáo hóa cũng lừng lẫy như ông Diên…Đất Lĩnh Nam giữ phong tục Trung Hoa bắt đầu từ hai vị thái thú đó…”(9)

Đoạn văn nầy kể công hai nhân vật tiêu biểu cho các thái thú Trung Hoa, là Tích Quan (Xi Guang/ Hsi Kuang) và Nhâm Diên (Ren Yan / Jen Yen). Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ (châu thổ sông Hồng), đời vua Hán Bình Đế (1-5 SCN). Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân (châu thổ sông Mã) từ năm 25 đến năm 29 (SCN) thì được gọi về Trung Hoa.

Hai nhân vật nầy, theo Hậu Hán thư, đã có công:. 1) Truyền dạy việc dùng điền khí để cày ruộng. 2) Giáo hóa dân bản địa. Hai “sự nghiệp” nầy được các bộ sử Trung Hoa ca tụng và được một số bộ sử Việt Nam chép theo. Đây là hai vấn đề tiêu biểu cần được xem xét lại:

  1. a) Thứ nhất, “Diên bèn truyền đúc các thứ điền khí dạy cho họ khẩn ruộng”. Dựa vào câu nầy, các sách xưa cho rằng chính Nhâm Diên đã dạy cho dân Việt biết cách dùng lưỡi cày bằng kim khí (điền khí) để cày ruộng. Cần chú ý là người Trung Hoa xưa ở vùng Hoàng Hà, trồng lúa mì và lúa mạch trên ruộng khô, không biết lúa gạo (lúa nước), thì làm sao giỏi kỹ thuật trồng lúa gạo ở ruộng nước mà dạy người Việt?

Trong khi đó, một tài liệu cổ của Trung Hoa xác định rõ ràng lúa trồng tại cổ Việt là loại lúa nước, theo thủy triều lên xuống mà cày cấy. Sách Giao Châu ngoại vực ký [viết khoảng giữa đời Tấn (265-420) Trung Hoa] viết: “…Hồi xưa, chưa có quận huyện, thì Lạc điền tùy theo thủy triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy gọi là Lạc dân, người cai quản dân gọi là Lạc vương, người phó là Lạc tướng, đều có ấn bằng đồng và dải sắc xanh làm huy hiệu…”(10) “Theo thủy triều lên xuống mà cày cấy” chính là lúa trồng trong ruộng nước, hay lúa gạo.

Càng ngày càng có nhiều khảo cứu của các học giả Hoa Kỳ, Nga, Trung Hoa và cả Việt Nam, cho thấy rằng Đông Nam Á là trung tâm đầu tiên trên thế giới của nền văn minh lúa nước, rồi từ đó lan truyền đi khắp nơi trên thế giới. Cũng theo các tác giả trên, tâm điểm của trung tâm văn minh lúa nước ở Đông nam Á chính là khu vực Hòa Bình ở Bắc Việt.(11) Hòa Bình nằm trong khu vực uốn khúc của sông Đà để đổ lên sông Hồng, gần huyện Mê Linh (tức Phú Thọ, Vĩnh Phúc), quận Giao Chỉ thời cổ Việt, nơi phát tích của Hai Bà Trưng.

Tiến sĩ Wilhelm G. Solheim II, giáo sư nhân chủng học thuộc Đại học Hawaii, chuyên viên về tiền sử Đông Nam Á, cho biết những di chỉ ông tìm kiếm được năm 1963 mách bảo rằng sắc dân Lạc Việt ở Đông Nam Á đã biết trồng lúa và biết cách đúc đồng sớm hơn các miền Cận đông, Ấn Độ và Trung Hoa. (National Geographic, Vol. 139, No. 3, March 1971.)

Theo một tài liệu khác, tại Mê Linh (Vĩnh Phúc, Phú Thọ ngày nay) quận Giao Chỉ (châu thổ Hồng Hà), người ta tìm thấy những bộ xương trâu đã có mặt tại đây khoảng 2,000 năm trước Công nguyên, và hai lưỡi cày bằng đồng theo mô thức Đông Sơn (thế kỷ thứ 5 TCN đến thế kỷ 1 SCN) dùng cho trâu cày.(12)

Như thế, rõ ràng Nhâm Diên không phải là người khai tâm dân Việt dùng điền khí để cày cấy như Hậu Hán thư đã viết và các bộ sử khác chép theo. Dân Lạc Việt đã biết làm ruộng, trồng lúa nước (lúa gạo) và đã biết sử dụng điền khí trước khi người Trung Hoa đến xâm lăng, chứ không phải người Trung Hoa dạy dân Lạc Việt dùng điền khí để cày cấy. Lúc đó, dân Lạc Việt dùng lưỡi cày bằng đồng vì đồ đồng là nghề luyện kim chính của dân Lạc Việt (vốn nổi tiếng về trống đồng), và nhất là đồ sắt bị hạn chế, do việc bà Lữ hậu nhà Hán đã ra lệnh cấm xuất cảng sắt xuống phía nam Trung Hoa từ năm 183 TCN.(Cương mục, tr. 92.)

Vậy phải chăng Nhâm Diên, thái thú Cửu Chân (vùng châu thổ sông Mã), nơi có trung tâm trống đồng Đông Sơn (Thanh Hóa), chứng kiến cảnh dân chúng địa phương đã cày cấy bằng lưỡi cày bằng đồng theo mô thức Đông Sơn, rồi báo cáo như trên để lập công với triều đình Trung Hoa?

  1. b) Điều thứ hai, Hậu Hán thư còn cho rằng người Việt “không có phép cưới hỏi… không quen thói sống chung với nhau nên không biết tình cha con, không biết đạo vợ chồng”, nên Nhâm Diên dạy dân Việt cưới hỏi theo lễ giáo. Tập tục cưới hỏi, cũng như các lễ nghi, tập quán trong đời sống mỗi sắc dân mỗi khác. Người cổ Việt có phong tục của người cổ Việt. Dân Trung Hoa có tập quán của dân Trung Hoa. Dưới thời Mã Viện cai trị cổ Việt, Hậu Hán thư (quyển 54) chép rằng: “Luật dân Việt và luật nhà Hán khác nhau đến hơn mười điều.”(13)

Những tập tục cưới hỏi của các bộ tộc miền núi ở Việt Nam ngày nay, có thể xem là vết tích tập tục của người cổ Việt còn được lưu truyền. Dầu theo mẫu hệ, những tập tục cưới hỏi nầy khác với tập tục của những người ở miền đồng bằng (người Kinh), nhưng không có gì là đồi phong bại tục, đáng để lên án hay đáng để thay thế. Vì vậy, khi đô hộ cổ Việt, các nhà cai trị Trung Hoa bắt người cổ Việt bỏ những tập tục cưới hỏi của người cổ Việt, và theo những tập tục cưới hỏi Trung Quốc, là một sự áp đặt văn hóa thô bạo, chứ không phải là giáo hóa cho người cổ Việt.

Duy có một điều chắc chắn là cưới hỏi theo lễ giáo Trung Hoa, tức cưới hỏi theo phụ hệ, để “biết tình cha con, đạo vợ chồng”, nghĩa là lập thành từng hộ gia đình nhỏ. Điều nầy đối với những nhà đô hộ Trung Hoa có hai điều lợi cho công việc cai trị. Thứ nhất, qua các hộ gia đình, nhà cầm quyền đô hộ nắm vững tình hình dân số, tình hình an ninh địa phương. Thứ hai, nhà cầm quyền đô hộ sẽ dựa vào số hộ dân để thu thuế theo cách mà Vệ Ưởng (Wei Yang) hay Thương Ưởng (Shang Yang, 390-338 TCN), đã thiết lập tại Trung Hoa từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên.(14) An ninh và thu thuế là hai mục đích hàng đầu của chế độ đô hộ bóc lột.

Ngoài Nhâm Diên, thái thú Tích Quang “lấy lễ nghĩa dạy cho dân Man di ăn ở, tiếng giáo hóa cũng lừng lẫy…”. Lễ nghĩa mà Tích Quang phổ biến cho dân chúng cổ Việt chắc chắn không ngoài lễ nghĩa Nho giáo, với ba giềng mối chính là tam cương (vua tôi, chồng vợ, cha con) và năm đạo chính là ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Ai cũng biết Nho giáo là một triết thuyết chính trị hậu thuẫn cho chế độ quân chủ, trong đó đứng đầu là đạo “trung quân”. Trung quân có nghĩa là trung thành với vua. Lúc đó cổ Việt không có vua; chỉ có vua Trung Hoa. Trung thành với vua Trung Hoa là mặc nhiên chấp nhận nền đô hộ của Trung Hoa. Như thế, lễ giáo của Tích Quang cũng chỉ để ổn định xã hội và phục vụ cho công cuộc thống trị của thực dân Trung Hoa.

Công việc “giáo hóa” của hai thái thú Tích Quang và Nhâm Diên, nhất là việc áp dụng tục lệ cưới hỏi theo lễ nghi Trung Hoa, bị người Việt chống đối. Một tờ trình của Tiết Tống (Hsueh Tsung) vào năm 231, 5 năm sau khi Sĩ Nhiếp chết, gởi cho triều đình Đông Ngô thời Tam quốc (213 – 280), cho rằng cho đến khi Tiết Tống đến Giao Chỉ dưới thời Sĩ Nhiếp (Shi She) làm thái thú (từ 187 đến 226), tức là sau mấy trăm năm đô hộ, ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa không đúng theo như các báo cáo trước đó; người Giao Chỉ và Cửu Chân vẫn còn giữ tục lệ gia đình của họ.(15)

Điều nầy không lạ, vì đến thế kỷ 15, Quốc triều hình luật thời nhà Hậu Lê đã thừa nhận trong điều 40 rằng: “Người “man liêu” là người sắc tộc thiểu số và tuy có văn hóa khác với dân Việt, vẫn thuộc thành phần quốc dân Đại Việt…”(16) Hơn nữa, cho đến ngày nay, tức 20 thế kỷ sau, vùng rừng núi Việt Nam vẫn còn một số bộ tộc theo mẫu hệ, tập quán riêng của họ.

Như thế, chuyện Nhâm Diên dạy cho dân Việt dùng điền khí để cày cấy, hay chuyện Nhâm Diên và Tích Quang giáo hóa dân Việt, đều chỉ là những huyền thoại làm đẹp cho chế độ đô hộ. Trong khi đó người Trung Hoa học cách cày cấy lúa nước của người Việt và du nhập lúa nước vào Trung Quốc, làm phong phú sinh hoạt kinh tế Trung Hoa.

Trong sách Ancient China (1967), tác giả Edward H. Schafer viết rằng: “Thuật trồng lúa gạo và thuần hóa gia súc chắc chắn [Trung Hoa] đã tiếp thu từ các sắc dân tầm thường ở miền nam xa xôi hẻo lánh [nam Man].” (Nguyên văn: “The art of cultivating rice and domesticating cattle were doubtless adopted from the despised races of the remote south.”)(17a)

Cũng nhà nghiên cứu nầy cho rằng Đức Khổng Tử (551-478 TCN), người tỉnh Sơn Đông (Shandong) vùng hạ lưu Hoàng Hà và ở phía bắc sông Dương Tử, “sống chủ yếu bằng loại bánh làm bằng kê”. (nguyên văn: “…Confucius have subsisted chiefly on millet cakes…”), và “Khổng Tử chưa bao giờ thưởng thức trà, và chắc chắn rằng Vương Xung, sáu thế kỷ sau, cũng thế.” (nguyên văn: “…Confucius never tasted tea, and it is doubtful that Wang Ch’ung, six centuries later, did either….”(17b) Trà là loại giải khát cũng phát xuất từ miền nam.

Chủ trương bóc lột của triều đình Trung Hoa khi nặng khi nhẹ, tùy hoàn cảnh và tùy tư cách của các thái thú Trung Hoa, có người tốt kẻ xấu, nhưng thực chất trước sau cũng đều chỉ nhắm mục đích vơ vét cho Trung Hoa. Chính sách bóc lột nầy lên cao điểm khi vua Hán Quang Võ (Han Guang Wu) cử Tô Định (Su Ding) sang làm thái thú Giao Chỉ năm 34 (giáp ngọ). Tô Định rất tham tàn và hà khắc, áp dụng chủ trương khai thác và bóc lột một cách triệt để, đã đưa đến cuộc khởi nghĩa giành độc lập đầu tiên năm 40 (canh tý) của dân cổ Việt do Hai Bà Trưng lãnh đạo.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bị thất bại năm 43 (quý mão). Sau đó, trong suốt mười thế kỷ, người Việt nhiều lần nổi lên chống quân xâm lược Trung Hoa: Triệu Thị Trinh (248), Lý Nam Đế (541), Lý Phật Tử (603), Lý Tự Tiên (602), Mai Thúc Loan (727), Phùng Hưng (767), Dương Thanh (819), Vương Thắng Triều (828), Khúc Thừa Dụ (905) Dương Diên Nghệ (931). Cuối cùng, Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán năm 938 (mậu tuất), thực hiện được giấc mộng độc lập của dân tộc Việt.

Kết luận

Tóm lại, đối với người Việt, đại nạn Trung Hoa bắt đầu từ thời cổ sử. Ngay khi mới thống nhất Trung Hoa, triều đình nhà Tần đã chủ trương bành trướng và đưa quân vượt sông Dương Tử, chiếm Bách Việt, tiến xuống xâm lăng cổ Việt. Trong suốt hơn 1,000 năm đô hộ cổ Việt, từ năm 208 trước Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên, các thái thú Trung Hoa không ngừng vơ vét tài nguyên cổ Việt để cung ứng cho triều đình Trung Hoa.

Tuy người Việt đã đánh đuổi được quân Trung Hoa ra khỏi nước để giành lấy độc lập tự chủ, nhưng sau hơn một ngàn năm đô hộ nước Việt, người Trung Hoa vẫn mang một số định kiến lạ lùng đối với người Việt.

Thứ nhất, cho đến thế kỷ 20, mà một nhà cách mạng dân chủ như bác sĩ Tôn Văn (1866-1925), đã nói với Khuyển Dưỡng Nghị (chính khách Nhật Bản): “Người Việt Nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa họ bị chúng tôi đô hộ, ngày nay họ bị Pháp đô hộ. Dân tộc ấy không có tương lai.”(18) Thật là một câu nói ngạo mạn!

Thứ hai, các nhà cầm quyền Trung Hoa tự cho rằng nước Việt là một phiên thuộc của Trung Hoa, một phần đất của Trung Hoa. Khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ Việt Nam, buộc triều đình nhà Nguyễn ký hòa ước năm 1874, Pháp báo hòa ước nầy cho triều đình nhà Thanh ngày 24-5-1875. Triều đình nhà Thanh trả lời rằng: “Chí Giao Chỉ tức Việt Nam bổn hệ Trung Hoa thuộc quốc.” (tạm dịch nghĩa: “Từ Giao Chỉ đến Việt Nam vốn là thuộc quốc của Trung Hoa.”)(19) Vì vậy nhà Thanh đòi hỏi Pháp phải thương thuyết với Trung Hoa về vấn đề Việt Nam.

Năm 1939, trong một tài liệu của đảng Cộng Sản Trung Hoa, tựa đề là “Cách mạng Trung Quốc và đảng Cộng Sản Trung Quốc”, lãnh tụ đảng CSTH là Mao Trạch Đông đã xác quyết: “Các nước đế quốc, sau khi đánh bại Trung Quốc, đã chiếm các nước phụ thuộc của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ, và Lữ Thuận, Anh chiếm Miến Điện, Bu-tan, Hương Cảng, Pháp chiếm An-Nam.”(20)

Do những định kiến ưu quyền trịch thượng đối với Việt Nam, các nhà cầm quyền Trung Hoa luôn luôn có dã tâm xâm lăng Việt Nam, mà không để cho người Việt yên sống hòa bình.

Chú thích:

  1. 1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, (viết tắt: Cương mục), (Chữ Nho), Hà Nội: bản dịch của Nxb. Giáo Dục, 1998, tập 1, tt. 80-89.
    2. Ngô Thời Sỹ, Việt sử tiêu án, bản dịch của Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu, Sài Gòn, San Jose: Văn Sử tái bản, 1991, tr. 34.
    3. Nguyễn Phương, Việt Nam thời khai sinh, Huế: Phòng Nghiên cứu Sử, Viện Đại Học, 1965, tr. 235.
    4. Carleton S. Coon & Edward E. Hunt J., The Living Races of Man, New York: Nxb. Alfred A. Knopf, 1966, đồ bản 12, tr. 286.
    5. Encyclopedia Britannica, 1999, (CD), “Vietnam History…”
    6. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: bản dịch Nxb. Khoa học Xã hội, 1998, tr. 178. Nếu trung bình một đời (một thế hệ) là 23 đến 25 năm, thì 7 đời là từ 161 đến 175 năm. Nhà Hán (Han, 202 TCN – 220) ở Trung Hoa được chia thành 2 giai đoạn: Tiền Hán hay Tây Hán (Former Han, 202 TCN – 25) và Hậu Hán hay Đông Hán (Later Han, 25-220). Giữa Tiền Hán và Hậu Hán, từ năm 9 đến năm 23 là thời gian do Vương Mãng (Wang Mang) đảo chánh và cầm quyền.
    7. Bên Trung Hoa, nhà Đường (Tang) chấm dứt năm 907 khi Chu Toàn Trung (Chu Ch’uan-chung) đảo chánh, lật đổ Đường Ai Đế (trị vì 904-907), tự mình lên làm vua, tức Lương Thái Tổ (trị vì 907-914), lập ra nhà Hậu Lương (907-923). Từ đó Trung Hoa rơi vào tình trạng hết sức xáo trộn gọi là đời Ngũ đại Thập quốc. Ở miền bắc Trung Hoa có năm triều đại kế tiếp nhau trong thời gian ngắn là Hậu Lương (907- 923), Hậu Đường (923-935), Hậu Tấn (936-947), Hậu Hán (948-950), Hậu Châu (951-959). Ở miền nam Trung Hoa, trước sau mười nước được thành lập, nên gọi là Thập quốc: so với ngày nay nước Ngô ở An Huy, Tiền Thục ở Tứ Xuyên, Ngô Việt ở Chiết Giang, Sở ở Hồ Nam, Mân Việt ở Phúc Kiến, Nam Hán ở Quảng Đông, Nam Bình ở Hồ Bắc, Hậu Thục ở Tứ Xuyên, Nam Đường ở Giang Tô và Bắc Hán ở Sơn Tây. Nước Nam Hán do Lưu Cung thành lập năm 917 ở Quảng Đông, là nước chiếm đóng Giao Châu. Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán năm 938, giành độc lập vĩnh viễn.
    8. Người Trung Hoa luôn luôn tự hào và gọi các sắc dân chung quanh là đông Di, tây Địch, bắc Nhung, nam Man.
    9. Nguyễn Phương trích dịch, sđd. tt. 186-187.
    10. Lê Tắc, An Nam chí lược [chữ Nho],Huế: Uỷ ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam,Viện Đại học Huế, phiên âm và dịch nghĩa, 1961, tr. 39.
    11. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TpHCM, 1997, tt. 75-86.
    12. Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam [Việt Nam khai sinh], University of California Press, 1983, tr. 35.
    13. Nguyễn Phương, sđd. trích dịch, tr. 137.
    14. Bên Trung Hoa, thời Chiến quốc (479-221 TCN), tại nước Tần, dưới đời Tần Hiếu Công (cầm quyền 361-338 TCN), tể tướng Thương Ưởng (390-338 TCN), bày ra cách tổ chức hộ khẩu để thu thuế. Đến đời Đường, từ thế kỷ thứ 7 mới bỏ thuế theo sổ hộ khẩu, đặt ra thuế “dung” đánh vào từng cá nhân (tức thuế đinh).
    15. Keith Weller Taylor, sđd. tr. 75. Về việc nầy, tác giả Taylor căn cứ trên sách Tam quốc chí của Trần Thọ. (Sách nầy khác với Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung là một bộ tiểu thuyết.)
    16. Nguyễn Ngọc Huy, Quốc triều hình luật, phiên âm, dịch nghĩa và chú thích, Viet Publisher Thư Quán, Hoa Kỳ, tr. 188.
    17. Edward H. Schafer, Ancient China, New York: Time-Life Books, 1967, tr. 16 (17a), tt. 37, 38 (17b). Wang Ch’ung tức Vương Xung (27-97), triết gia thời Đông Hán (25-220) là tác giả nhiều sách lý luận về triết học, trong đó quan trọng nhất là bộ Luận hoành (Lun Heng, 30 quyển). Hoành là cái cân, nghĩa rộng là cân nhắc, so sánh.
    18. Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, [nguyên bản bằng Anh văn], bản dịch của Mạc Định, Paris: 1962, tr. 22.
    19. Yoshiharu Tsuboii, Nước Đại Nam đối diện với Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, TpHCM: Ban Khoa Học Xã Hội, 1990, tr. 142.
    20. Nxb. Sự Thật, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua [tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam, không đề tên tác giả], Hà Nội: 1979, tr. 16.                                       Trần Gia Phụng

Đại nạn Trung Hoa thời trung sử (bài 2)

Đại nạn Trung Hoa thời trung sử (bài 2)

Trần Gia Phụng

Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán (Trung Hoa) tại Bạch Đằng Giang năm 938 (mậu tuất) và xưng vương năm 939 (kỷ hợi), đóng đô ở Cổ Loa (thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay). Từ đây, nước Việt vĩnh viễn thoát ra khỏi cảnh đô hộ của Trung Hoa, nhưng các triều đình Trung Hoa vẫn tiếp tục nhiều lần đem quân sang xâm lấn nước Việt.

Lần thứ nhất (981)

Sau cuộc đảo chánh không đổ máu lật đổ nhà Đinh (968-980), Lê Hoàn lên làm vua năm 980 (canh thìn), tiếp tục đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay). Về sau, ông thường được sử sách gọi là Lê Đại Hành.

Biết tình hình Đại Cồ Việt (quốc hiệu từ thời vua Đinh Tiên Hoàng) đang xáo trộn vì chuyện đổi ngôi, vua Trung Hoa là Tống Thái Tông (trị vì 976-997) sai sứ đem thư qua khuyến dụ và đe dọa. Lê Hoàn (trị vì 980-1005) lấy danh nghĩa con của vua Đinh Tiên Hoàng là Vệ Vương Đinh Toàn, xin nhà Tống (Sung, 960-1279) cho nối ngôi vua cha. Tuy nhiên triều đình nhà Tống nắm rõ tình thế nước Nam, biết Lê Hoàn đã giành ngôi của Đinh Toàn, con của Đinh Tiên Hoàng, nên sai người đem một thư khác qua nói rằng “…Họ Đinh truyền nối được ba đời [ý chỉ Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn, Đinh Toàn], trẫm muốn cho Đinh Toàn làm thống súy, khanh [chỉ Lê Hoàn] thì làm phó. Nếu Đinh Toàn không đáng tướng tài, hãy còn tính khí trẻ con thì nên cho ngay mẹ con và thân thuộc y sang đây…”

Lê Hoàn biết không thể tiếp tục thương lượng, nên chỉ còn con đường duy nhất là chuẩn bị lực lượng để kháng Tống. Trong khi đó, quân Tống chia làm hai đường thủy bộ tiến vào nước ta năm 981 (tân tỵ). Đường bộ do Hầu Nhân Bảo cùng Tôn Toàn Hưng tiến theo ngả Lạng Sơn, còn đường thủy do Trần Khâm Tộ và Lưu Trừng từ mặt biển tiến vào bằng đường sông Bạch Đằng.

Trên đường bộ, Hầu Nhân Bảo tiến đến Chi Lăng (Lạng Sơn), trúng phải kế trá hàng, lọt vào vùng phục kích của quân Việt, và bị bắt giết. Quân Việt phản công mạnh mẽ, quân Tống thiệt hại nặng, hai bộ tướng của Hầu Nhân Bảo là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt. Sau trận Chi Lăng, các lực lượng thủy bộ của nhà Tống đều rút lui.

Tuy chiến thắng, Lê Hoàn vẫn phải sai sứ, dưới danh nghĩa của vua Đinh Toàn, sang nhà Tống năm 982 (nhâm ngọ) xin trả lại hai tướng đã bắt được, và xin triều cống. Nhà Tống chỉ phong cho Lê Hoàn làm tiết độ sứ. Mãi đấn hơn 10 năm sau vào năm 993 (quý tỵ), Lê Hoàn mới sai sứ giả trình bày với vua Tống rằng Đinh Toàn quyết định nhường ngôi cho mình. Tống Thái Tông (trị vì 976-997) biết việc Lê Hoàn nắm quyền đã lâu, nhưng không có cách gì khác hơn, nên sai sứ sang phong Lê Hoàn làm Tĩnh Hải Quân tiết độ sứ Giao Chỉ Quận Vương.

Lần thứ hai (1076-1077)

Trong thời gian nầy nhà Tống tiếp tục cai trị Trung Hoa. Vua Tống Thần Công (trị vì 1068-1085) phong cho Vương An Thạch (Wang An Shi) làm tể tướng năm 1069. Vương An Thạch (1021-1086) muốn mưu tìm một chiến công ở ngoài biên cương để hỗ trợ chính sách cải cách ở trong nước của ông ta, chuẩn bị tấn công Đại Việt.

Tại Đại Việt, nhà Lý (1010-1225) đã khá vững vàng. Triều đình vua Lý Nhân Tông (trị vì 1072-1127) biết được tin nầy, liền quyết định ra tay trước. Tháng 11 năm ất mão (1075), triều đình cử Lý Thường Kiệt đánh Khâm Châu và Liêm Châu (thuộc Quảng Đông ngày nay); và cử Tôn Đản đánh Ung Châu (tức Nam Ninh thuộc Quảng Tây ngày nay) tháng giêng năm bính thìn (1076). Sau khi hạ thành, cả hai ông cho bắt người, lấy của rồi rút lui về Đại Việt.

Tháng chạp năm bính thìn (đầu năm 1077), Tống Thần Tông sai Quách Quỳ làm Chiêu thảo sứ và Triệu Tiết làm Phó chiêu thảo sứ, đem quân sang trả thù. Lý Thường Kiệt chận quân Tống ở sông Như Nguyệt (sông Cầu chảy qua xã Như Nguyệt, Bắc Ninh).

Quách Quỳ chuyển quân đến sông Phú Lương (khúc sông Hồng ở Thăng Long). Lý Thường Kiệt tiếp đánh, nhưng thế giặc rất mạnh. Máy bắn đá của địch phá chiến thuyền Việt, và làm cho nhiều binh sĩ nước ta tử trận. Sợ binh sĩ nãn lòng, Lý Thường Kiệt phao tin có thần nhân báo mộng và cho bốn câu thơ (bằng chữ Nho):

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư ”
Có người dịch là:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Quân lính nghe được những câu thơ nầy, đều hăng hái đánh giặc. Lực lượng nhà Tống bị chận đứng. Hai bên cầm cự với nhau bất phân thắng bại. Triều đình nhà Lý đề nghị bãi binh. Nhà Tống thấy khó thắng, đồng thời binh sĩ ở lại lâu, không hạp thủy thổ, đành chấp thuận. Như thế, cuộc xâm lăng của nhà Tống đầu năm 1077 bắt nguồn từ việc Lý Thường Kiệt cầm quân gây hấn nhà Tống một năm trước đó.

Lần thứ ba (1258)

Phía tây bắc Trung Hoa, tại Mông Cổ, đại hãn Mông Kha (Mangu, trị vì 1251-1259) cử em là Hốt Tất Liệt (Qubilai) cầm quân tấn công Trung Hoa năm 1251. Hốt Tất Liệt sai đại tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqadai), cầm một cánh quân đánh chiếm nước Đại Lý ở Vân Nam năm 1257. Ngột Lương Hợp Thai sai sứ sang yêu cầu Đại Việt thần phục Mông Cổ, nhưng vua Đại Việt lúc đó là Trần Thái Tông (trị vì 1226-1258) không chịu.

Ngột Lương Hợp Thai liền theo đường sông Thao, tiến quân đánh nước Việt tháng 12 năm đinh tỵ (qua năm 1258). [Sông Thao là tên gọi đoạn sông Hồng từ biên giới Hoa Việt đến ngã ba sông Hồng và sông Đà.] Không chịu nổi sức tấn công vũ bão của quân Mông Cổ, Trần Thái Tông bỏ kinh đô Thăng Long rút về Hưng Yên, cách Thăng Long khoảng 60 km về phía nam. Quân Mông Cổ chiếm Thăng Long, cướp phá giết hại người Việt không kể già trẻ lớn nhỏ.

Trước thế nguy, Trần Thái Tông hỏi ý kiến của Trần Thủ Độ nên hòa hay chiến. Ông cương quyết trả lời: “Đầu thần chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo.” Chẳng bao lâu, quân Mông Cổ không quen thời tiết nước ta, bị bệnh tật mỏi mệt. Trần Thái Tông ra lệnh phản công, đánh đuổi quân Mông Cổ về lại Trung Hoa.

Lần thứ tư (1285)

Năm 1259, Mông Kha từ trần. Hốt Tất Liệt được hội đồng quý tộc Mông Cổ bầu lên làm đại hãn năm 1260. Hốt Tất Liệt tức Nguyên Thế Tổ (trị vì 1260-1294), đổi quốc hiệu là Nguyên (Yuan), đem quân xâm chiếm hoàn toàn nước Trung Hoa vào năm 1279.(1)

Trong khi đó, tại nước ta, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Trần Hoảng, lên làm thái thượng hoàng năm 1258 (mậu ngọ). Trần Hoảng lên ngôi tức Trần Thánh Tông (trị vì 1258-1278). Thượng hoàng Thái Tông từ trần năm 1277 (đinh sửu). Thánh Tông lên làm thái thượng hoàng, và nhường ngôi cho thái tử Trần Khâm năm 1278 (mậu dần) tức Trần Nhân Tông (trị vì 1278-1293).

Nguyên Thế Tổ sai sứ là Sài Thung (Chai Chong) sang Đại Việt cuối năm 1278, hỏi vua Trần Nhân Tông tại sao không xin phép nhà Nguyên mà tự tiện lên ngôi? Sài Thung còn buộc nhà vua phải sang chầu hoàng đế nhà Nguyên mới được yên việc. Trần Nhân Tông tiếp sứ tử tế, nhưng cương quyết không chịu sang chầu nhà Nguyên.

Năm 1282 (nhâm ngọ), nhà Nguyên cử sứ sang nói rằng nếu vua nhà Trần không sang Trung Hoa, thì cho người đại diện sang chầu. Trần Nhân Tông cử chú họ là Trần Di Ái cầm đầu phái đoàn sang triều đình nhà Nguyên. Nguyên Thế Tổ lập tòa tuyên phủ ty, đặt quan để sang giám trị các châu huyện nước ta. Nhân Tông không nhận, trả họ về Trung Hoa. Nguyên Thế Tổ liền phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, và sai Sài Thung đem 1,000 quân, hộ tống Trần Di Ái về nước. Sài Thung đi vào bằng đường Lạng Sơn. Quân nhà Trần chận đánh; Sài Thung bị bắn mù một mắt, phải quay về nước, còn Trần Di Ái bị bắt.

Lúc đó, Nguyên Thế Tổ muốn bành trướng xuống Đông Nam Á, nhân cơ hội nầy, phong cho con là Thoát Hoan (Toyan) làm Trấn Nam Vương, lấy cớ mượn đường xuống Chiêm Thành, đem quân tấn công nước Việt tháng 12 năm giáp thân (qua năm 1285). Lần nầy quân Nguyên tấn công bằng hai đường: Thoát Hoan từ phía bắc đánh xuống, Toa Đô (Sogatu) đã qua đánh Chiêm Thành bằng đường biển từ năm 1282, nay quay ngược trở lên đánh Đại Việt.

Thoát Hoan dẫn quân qua ải Chi Lăng (Lạng Sơn), nhắm Thăng Long trực chỉ. Tướng Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Vương) lui về Vạn Kiếp (Hải Dương, nơi sông Lục Nam và sông Thương gặp nhau). Trần Nhân Tông cho người mời Trần Quốc Tuấn đến bảo: “Thế giặc mạnh như vậy, ta hãy chịu hàng để cứu muôn dân.” Trần Quốc Tuấn trả lời: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước hãy hàng.”

Quân Mông Cổ đánh hạ Vạn Kiếp, tiến chiếm Thăng Long. Trần Quốc Tuấn rước vua về phía nam, xuống Thanh Hoa (sau nầy là Thanh Hóa). Toa Đô từ Chiêm Thành đem quân tiến lên, bị Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (em vua Thánh Tông) chận đánh ở cửa Hàm Tử (Đông An, Hưng Yên). Trần Quốc Tuấn liền đề nghị nhân đà thắng lợi nầy, tung quân khôi phục kinh thành. Trần Nhân Tông sai thượng tướng Trần Quang Khải (em vua Thánh Tông, anh của Nhật Duật) cùng với Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, đem quân từ Thanh Hoa đi vòng theo đường biển, ngược sông Hồng tiến đánh quân Mông Cổ tại bến Chương Dương (khu vực Thăng Long), rồi lên bộ bao vây thành Thăng Long. Thoát Hoan thua chạy lên Kinh Bắc. Trong khi đó, Trần Quốc Tuấn đánh Toa Đô tại Tây Kết (vùng Hưng Yên ngày nay). Toa Đô bị giết, Ô Mã Nhi (Omar) bỏ trốn. Trần Quốc Tuấn tiếp tục phản công, sai hai tướng Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lão phục binh đánh tan quân Thoát Hoan ở Vạn Kiếp, trước khi Thoát Hoan trốn về nước.

Lần thứ năm (1288)

Tức giận về sự thất bại vừa qua, Nguyên Thế Tổ cử Thoát Hoan một lần nữa cầm quân qua đánh phục thù vào tháng 11 năm đinh hợi (1287). Quân nhà Nguyên tiến vào nước ta bằng ba hướng: ở giữa, Thoát Hoan tiến xuống Lạng Sơn; phía tây, một cánh quân từ Vân Nam theo đường sông Hồng tràn vào, do Ái Lỗ (Aruc) chỉ huy; và phía đông do Ô Mã Nhi đi trước, vượt biển Đông tiến vào sông Bạch Đằng. Theo sau có Trương Văn Hổ tải 17 vạn thạch lương cung cấp cho quân sĩ.

Lực lượng nhà Trần vẫn do Trần Quốc Tuấn tổng chỉ huy. Thoát Hoan chiếm Vạn Kiếp, sai Ô Mã Nhi theo sông Lục Đầu đánh xuống Thăng Long. Thượng hoàng cùng vua Trần Nhân Tông phải vào Thanh Hoa lánh nạn. Quân Mông Cổ đốt phá Thăng Long rồi rút lui về Vạn Kiếp.

Ô Mã Nhi đem chiến thuyền trở ra biển đón thuyền lương của Trương Văn Hổ. Ngang qua Vân Đồn (Quảng Yên, nay là Vân Hải, Quảng Ninh), Trần Khánh Dư chận đánh, nhưng quân Việt bị thua. Gặp được thuyền lương, Ô Mã Nhi cùng Trương Văn Hổ quay trở vào đất liền. Rút kinh nghiệm vừa qua, Trần Khánh Dư để cho Ô Mã Nhi mở đường đi trước, đợi đến khi Trương Văn Hổ tải lương theo sau, Trần Khánh Dư mới đổ phục binh, cướp hết lương thực và khí giới. Trương Văn Hổ bỏ trốn về Trung Hoa.

Quân Nguyên càng ngày càng cạn lương thực. Thoát Hoan kiếm cách cầu viện triều đình nhà Nguyên, nhưng Trần Quốc Tuấn đã cho chận các đường giao thông ở Lạng Sơn. Thoát Hoan liền quyết định rút quân. Tháng 3 năm mậu tý (1288) Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi xuôi sông Bạch Đằng, ra biển về trước. Trần Quốc Tuấn theo kế Ngô Quyền trước kia, sai Nguyễn Khoái dùng cọc gỗ đẽo nhọn rồi bịt sắt và cắm giữa dòng sông. Nguyễn Khoái lừa Ô Mã Nhi đến chỗ phục binh có đóng cọc, đổ quân tấn công khi thủy triều xuống. Trần Quốc Tuấn lại tăng viện, đánh tan chiến thuyền Mông Cổ, và bắt sống Ô Mã Nhi.

Được tin nầy, Thoát Hoan liền theo đường bộ rút quân về Trung Hoa. Dọc đường quân Mông Cổ bị chận đánh một vài nơi, nhưng cuối cùng Thoát Hoan cũng thoát được. Trần Quốc Tuấn hội các tướng, dẫn quân rước vua Trần Nhân Tông và thượng hoàng Thánh Tông trở về Thăng Long.

Lần thứ sáu (1407)

Năm 1400 (canh thìn), đại thần Lê Quý Ly tức Hồ Quý Ly lật đổ vua Trần Thiếu Đế (trị vì 1398-1400), chấm dứt nhà Trần. Nhà Trần bắt đầu từ vua Thái Tông (trị vì 1225-1258) đến vua Thiếu Đế, truyền được mười hai đời, trong 175 năm.

Lê Quý Ly lên làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu từ Đại Việt thành Đại Ngu, lấy lại họ Hồ là họ của tổ tiên ông, tức Hồ Quý Ly. Làm vua được một năm, Hồ Quý Ly lên làm thái thượng hoàng, nhường ngôi lại cho con là Hồ Hán Thương (trị vì 1401-1407).

Trong khi đó, bên Trung Hoa, Minh Thái Tổ (trị vì 1368-1398) qua đời năm 1398, cháu nội lên kế vị là Minh Huệ Đế (trị vì 1399-1403). Huệ Đế làm vua chẳng được bao lâu thì bị người chú, con của Minh Thái Tổ, lật đổ và thay thế, tức Minh Thành Tổ (trị vì 1403-1424). Minh Thành Tổ là một người đầy tham vọng, còn tham vọng hơn cả Minh Thái Tổ.

Bang giao Việt Hoa càng ngày càng căng thẳng vì nhà Minh đòi hỏi nhiều điều quá đáng. Năm 1404 (giáp thân), một hoàng thân nhà Trần là Trần Khang, dùng đường bộ trốn sang kinh đô Trung Hoa, đổi tên là Trần Thiêm Bình, tự xưng là con của Trần Nghệ Tông, tố cáo Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần và tố cáo những lời trần tình của Hồ Hán Thương là dối trá.

Minh Thành Tổ sai Lý Kỳ sang nước Việt thăm dò. Lý Kỳ sang nắm tình hình, rồi về nước phúc trình cuộc đảo chánh của nhà Hồ. Hồ Hán Thương gởi biểu qua nhà Minh tạ tội, và xin đón Thiêm Bình về làm vua. Năm 1406 (bính tuất) Minh Thành Tổ sai tướng Hàn Quan, đem năm ngàn quân hộ tống Trần Thiêm Bình về nước. Trần Thiêm Bình vừa về đến biên giới, liền bị Hồ Hán Thương ra lệnh bắt giết. Hồ Hán Thương cử Trần Cung Túc cầm đầu phái bộ sang Trung Hoa biện bạch về sự giả trá của Trần Thiêm Bình. Phái bộ bị nhà Minh giữ lại không cho về.

Tháng 9 năm đó (bính tuất), Minh Thành Tổ cử Chu Năng làm đại tướng, cùng hai phó tướng là Trương Phụ và Mộc Thạnh đem quân sang xâm lăng nước ta. Trước khi qua biên giới, Chu Năng bị bệnh từ trần, Trương Phụ được cử lên thay. Quân Minh tiến xuống thành Đa Bang (Sơn Tây), một đồn lũy được Hồ Hán Thương cho xây năm 1405 (ất dậu), làm tiền đồn bảo vệ Thăng Long. Trương Phụ và Mộc Thạnh chia nhau hai mặt tấn công Đa Bang. Khi quân Việt dùng voi phản công, quân Minh dùng hỏa pháo bắn lại. Voi sợ lửa bỏ chạy. Thành Đa Bang thất thủ, đưa đến việc thất thủ Thăng Long.

Hồ Nguyên Trừng, con trai đầu của Hồ Quý Ly, anh của Hồ Hán Thương, đem quân chận người Minh ở sông Mộc Phàm (Mộc Hoàn, Hà Nam ngày nay), nhưng bị thua phải lui về cửa biển Muộn Hải, Nam Định. Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương cùng các quan bỏ chạy vào Thanh Hóa. Quân Minh đuổi theo. Hai bên gặp nhau ở Lỗi Giang, một phân lưu của sông Mã (Thanh Hóa). Quân nhà Hồ thua nữa. Hồ Quý Ly cùng hai con chạy vào Nghệ An. Tháng 5 năm đinh hợi (1407), quân Minh bắt được Hồ Quý Ly ở cửa biển Kỳ La (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh), và bắt Hồ Hán Thương ở núi Cao Vọng (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh), cùng toàn bộ gia đình họ Hồ. Quân Minh không giết cha con Hồ Quý Ly mà chỉ giải về Trung Hoa.

Cần chú ý là khi xâm lăng nước Việt lần nầy, Minh Thành Tổ đã đưa ra cho các tướng viễn chinh ba chỉ dụ đề ngày 21-8-1406, 16-6-1407 và 24-6-1407 căn dặn và nhắc nhở các tướng Minh thi hành chính sách đồng hóa của nhà Minh và tiêu diệt toàn bộ văn hóa nước Việt. Chẳng những quân Minh vơ vét của cải, vàng ngọc, mà còn tịch thu gần như toàn bộ sách vở văn chương, học thuật, tư tưởng và cả giới trí thức cũng như nghệ nhân người Việt đem về Trung Hoa. Đây là chính sách đồng hóa của nhà Minh trên toàn cõi đế quốc của họ.(Sẽ viết trong bài tiếp.)

Lần thứ bẩy (1788)

Nguyên vào năm 1786 (bính ngọ), Nguyễn Huệ dẫn quân Tây Sơn ra bắc lần thứ nhất, đánh tan quân Trịnh, tỏ ý phù Lê. Trong khi quân Tây Sơn còn ở Bắc hà, vua Lê Hiển Tông (trị vì 1740-1786) từ trần, cháu đích tôn lên thay là Lê Chiêu Thống (trị vì 1787-1788). Khi quân Tây Sơn rút về, họ Trịnh nổi lên trở lại. Lê Chiêu Thống viết thư nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh, một cựu tướng nhà Lê, nay đã đầu quân theo Tây Sơn, đang đóng ở Nghệ An, ra Thăng Long, giúp diệt trừ họ Trịnh.

Chụp lấy thời cơ, Nguyễn Hữu Chỉnh đánh đuổi nhanh chóng quân chúa Trịnh, và trở nên chuyên quyền không khác gì họ Trịnh. Được tin nầy, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ sai tướng Võ Văn Nhậm cùng với Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân ra đánh Nguyễn Hữu Chỉnh vào cuối năm 1787 (đinh mùi). Hữu Chỉnh bị bắt giết, vua Lê Chiêu Thống bỏ trốn. Võ Văn Nhậm đặt Sùng Nhượng Công Lê Duy Cận, chú của Chiêu Thống và là anh của bà Ngọc Hân (vợ Nguyễn Huệ), lên làm giám quốc, đứng đầu triều đình nhà Lê.

Vua Chiêu Thống trốn lẩn quẩn ở vùng Lạng Giang. Mẹ của vua Chiêu Thống (hoàng thái hậu) bồng con của nhà vua chạy sang Long Châu (Trung Hoa) cầu cứu nhà Thanh (1644-1911). Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị trình lên vua Thanh Cao Tông tức Càn Long (Ch’ien-lung / Qianlong, trị vì 1736-1795) rằng đây là cơ hội thuận tiện, mượn cớ giúp Lê Chiêu Thống để xâm chiếm “An Nam”. Vua Càn Long, liền ra lệnh cho Sĩ Nghị động binh bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam tiến đánh Đại Việt tháng 10 năm mậu thân (1788). Tôn Sĩ Nghị chia quân làm ba đạo, vào nước ta bằng các đường Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn.

Trước sức tiến quân ồ ạt của Tôn Sĩ Nghị, Ngô Văn Sở theo kế hoạch của Ngô Thời Nhậm, một mặt cho người đưa thư đến Tôn Sĩ Nghị xin hoãn binh, vừa để kéo dài thời gian, vừa để nhử địch, một mặt khác bỏ ngỏ Thăng Long, rút quân về Tam Điệp ở Ninh Bình, bảo toàn lực lượng, chờ viện binh của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.

Tôn Sĩ Nghị tiến quân đến Kinh Bắc (Bắc Ninh). Vua Chiêu Thống ra đón tiếp và cùng Tôn Sĩ Nghị vào Thăng Long ngày 20-11-mậu thân (17-12-1788). Hai ngày sau, 22-11 (19-12), Tôn Sĩ Nghị làm lễ tấn phong cho Lê Chiêu Thống làm An Nam quốc vương.

Được tin nầy, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế tại Phú Xuân ngày 25-11-mậu thân (22-12-1788), lấy hiệu là Quang Trung (trị vì 1788-1792), rồi tự mình đem quân tiến ra Bắc, nhanh chóng đánh đuổi tan tác quân viễn chinh nhà Thanh, tạo nên chiến thắng Đống Đa lịch sử (mồng 5 tháng giêng năm kỷ dậu, 1789), giải phóng Thăng Long và giữ vững bờ cõi nước ta.

Kết luận

Như thế, từ năm 939 (Ngô Quyền xưng vương) cho đến năm 1788 (Quang Trung xưng vương), trong vòng 850 năm, các triều đình Trung Hoa đã gởi quân xâm lăng nước Việt chúng ta tất cả bảy lần. Chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:

1) Khi nào nước Việt có sự thay đổi triều đại, hay tranh chấp quyền lực nội bộ, hay nước Việt suy yếu, các vua Trung Hoa liền lợi dụng thời cơ để xâm lăng, nhất là khi con cháu của các triều đại bị truất phế chạy qua Trung Hoa cầu cứu.

2) Dù lúc tấn công nước Việt, lực lượng Trung Hoa rất mạnh, như dưới thời nhà Nguyên (Mông Cổ), nhà Minh, hay nhà Thanh, dù người Việt lúc đầu thất bại và phải rút lui, nhưng tổ tiên chúng ta luôn luôn cương quyết đánh đuổi xâm lăng Trung Hoa, dù phải kháng chiến gian khổ để bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc.

3) Trong sáu lần Trung Hoa tấn công nước ta, lần đầu tiên do triều đình Trung Hoa muốn trả đũa việc Lý Thường Kiệt đem quân tấn công Trung Hoa trước. Từ kinh nghiệm nầy, sau đời nhà Lý, các triều đại từ nhà Trần trở đi, tuy cương quyết duy trì chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc, nhưng không khiêu khích, để tránh bị bắc phương trả đũa. Chỉ khi nào bắc phương xâm lăng, thì Đại Việt chống trả. Đặc biệt là sau khi đánh đuổi quân Trung Hoa về nước, Đại Việt vẫn gởi sứ thần sang Trung Hoa ngoại giao, mà ngày xưa gọi là triều cống, để tránh tái diễn chiến tranh.

4) Những kinh nghiệm chống quân xâm lược Trung Quốc đã được Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, trước khi từ trần năm 1300, tóm lược với vua Trần Anh Tông: “Đại khái quân giặc cậy vào trường trận, quân ta cậy vào đoản binh, đem đoản binh đánh lại trường trận, là việc thường trong binh pháp. Nhưng cần phải xét: nếu thấy quân giặc tràn sang như gió, như lửa, thì thế giặc có thể dễ chống cự được; nếu giặc dùng cách chiếm cứ dần, như tằm ăn dâu, không vơ vét của dân, không mong đánh được ngay, thì mình phải dùng tướng giỏi, phải xem xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà chế biến cho đúng, làm thế nào thu hút được binh lính như cha với con một nhà, mới có thể dùng để chiến thắng được. Vả lại bớt dùng sức dân để làm cái kế thâm căn cố đế, đó là thượng sách giữ nước không còn gì hơn.” (2)

Theo Trần Hưng Đạo, Trung Hoa xâm lăng nước ta bằng hai cách: Thứ nhất, quân Trung Hoa “tràn sang như gió, như lửa”. Thứ hai, quân Trung Hoa “chiếm cứ dần, như tằm ăn dâu, không vơ vét của dân, không mong đánh được ngay”.

Trong hai cách nầy, cũng theo Trần Hưng Đạo, cách thứ nhất, tức quân Trung Hoa sang đánh nước ta như vũ bão, thì “có thể dễ chống cự được”. Ngược lại, nếu Trung Hoa tiến quân từ từ vào nước ta, theo kiểu tằm ăn dâu, chúng ta sẽ khó chống đỡ hơn. Trong trường hợp đó, theo Trần Hưng Đạo, muốn chiến thắng địch thủ thì chúng ta phải tạo nội lực quốc gia bằng cách xây dựng tình đoàn kết dân tộc (như cha với con một nhà), và nuôi dưỡng sức dân (bớt dùng sức dân) để làm kế lâu dài mà giữ nước. Tuy nhiên, muốn tạo sự đoàn kết toàn dân và muốn nuôi dưỡng sức dân, thì người dân phải được hưởng tự do, được công bình trước pháp luật, mới cảm thấy có trách nhiệm bảo vệ đất nước, hăng hái bảo vệ độc lập dân tộc.

Tập đoàn lãnh đạo cộng sản Trung Hoa (CSTH) chủ trương bành trướng, còn hơn cả các triều đình quân chủ Trung Hoa ngày xưa: thôn tính Tây Tạng, xâm lăng Tân Cương, đánh chiếm hải đảo… Năm 1979, CSTH mở cuộc tấn công đại quy mô, dạy cho CSVN một bài học, nhưng gặp phản ứng không thuận lợi. Rút kinh nghiệm từ đó, hiện nay CSTH quay qua thực hiện kế hoạch “tằm ăn dâu”. Dần dần CSTH chiếm đất phía bắc Việt Nam (ải Nam Quan), chiếm biển phía đông Việt Nam (Vịnh Bắc Việt), lấn núi phía tây Việt Nam (Trường Sơn), nghĩa là bao vây Việt Nam ba mặt bắc và đông, tây.

Tình trạng nầy thật nguy hiểm cho tương lai Việt Nam. Hy vọng những kinh nghiệm lịch sử của người xưa, nhất là những lời Đức Trần Hưng Đạo đã dặn dò vua Trần Anh Tông năm 1300, có thể còn hữu ích cho người Việt, nhằm tìm cách phòng bị và chống lại mối đe dọa thường trực từ Bắc phương.

Chú thích

  1. 1. Khi Hốt Tất Liệt xâm lăng Trung Hoa, đặt Trung Hoa dưới ách thống trị của Mông Cổ năm 1279 nghĩa là mặc nhiên sáp nhập Mông Cổ vào Trung Hoa. Năm 1368, Chu Nguyên Chương lật đổ nhà Nguyên (Mông Cổ), lên làm vua, tức Minh Thái Tổ (trị vì 1368-1398), lập ra nhà Minh. Nhà Minh cai trị luôn Mông Cổ. Trường hợp nầy cũng xảy ra với nhà Thanh ở Mãn Châu. Cuối đời Minh, Lý Tự Thành nổi lên ở Thiểm Tây, tự xưng vương năm 1643. Năm sau (1644), Lý Tự Thành kéo quân chiếm Bắc Kinh, vua Minh Hoài Tông (trị vì 1628-1644) tự tử. Tướng nhà Minh là Ngô Tam Quế thông đồng với người Mãn Thanh (nhà Thanh) ở phía bắc, để dẹp Lý Tự Thành. Lý Tự Thành thua chạy, vua Thanh vào Bắc Kinh làm lễ đăng quang tức Thanh Thế Tổ, niên hiệu Thuận Trị (trị vì 1644-1661). Từ đó, nhà Thanh làm chủ Trung Hoa, Mãn Châu tự động sáp nhập vào Trung Hoa. Khi nhà Thanh sụp đổ sau cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, đất Mãn Châu cũng bị xem là thuộc Trung Hoa.
  2. 2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, (Chữ Nho), Hà Nội: bản dịch của Nxb. Giáo Dục, 1998, tập 1, tt. 558-559.
  3. 3. Nxb. Sự Thật, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua [tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam, không đề tên tác giả], Hà Nội: 1979, tr. 16.
    Trần Gia Phụng

Đại nạn Trung Hoa thời cận đại ( bài 3)

Đại nạn Trung Hoa thời cận đại ( bài 3)

Trần Gia Phụng

1.- TRUNG HOA GẶP ĐẠI NẠN

Vào thế kỷ 19, trong nền giao thương giữa Trung Hoa và các nước Âu Châu, một cuộc tranh chấp gay gắt đã đưa đến việc người Âu Châu xâu xé Trung Hoa. Nguyên trong những sản phẩm người Anh đem đến Trung Hoa, có một món hàng vừa dễ chuyên chở, lại bán được nhiều và được giá cao, đó là thuốc phiện (nha phiến).

Thuốc phiện mà người Trung Hoa gọi là cù túc, đã được người Ả Rập nhập vào Trung Hoa từ thế kỷ thứ 8, nhưng chỉ được sử dụng trong y học. Đến thế kỷ 16, những nhà giàu có Trung Hoa bắt đầu dùng ống dọc tẩu để hút. Công ty Đông Ấn Anh Quốc (The English East India Company) nhập cảng ồ ạt thuộc phiện vào Trung Hoa để kiếm lợi, làm tăng nhanh giới nghiện thuốc phiện tại nước nầy. Con số người nghiện lên đến khoảng mười triệu người vào năm 1830. Năm 1838, Anh nhập vào Trung Hoa 40,000 thùng thuốc phiện; một thùng khoảng 70 ký-lô, giá có khi lên đến hai ngàn tiền vàng Mễ Tây Cơ. Việc nầy gây ra hai thiệt hại quan trọng cho Trung Hoa: Thứ nhất người nghiện càng ngày càng đông, bệnh tật, đói nghèo và trở nên vô dụng. Thứ hai, người Hoa tốn rất nhiều tiền nhập thuốc phiện qua tay thương giới Anh.

Vua Đạo Quang (Tao-kuang / Dao Guang), tức Thanh Tuyên Tông (Qing Xuan Zong, trị vì 1821-1850), quyết định bài trừ và cấm nhập cảng thuốc phiện năm 1838. Việc nầy đưa đến chiến tranh giữa Anh Quốc và Trung Hoa năm 1840, thường được gọi là “Nha phiến chiến tranh”.

Trung Hoa thất bại, phải ký hiệp ước Nam Kinh (Nanking) năm 1842, gồm 12 khoản, theo đó các khoản quan trọng là: Trung Hoa phải nhượng Hồng Kông (Hương Cảng) cho Anh; mở năm hải cảng Quảng Châu (Kwangchow), Hạ Môn (Xiamen hay Hsiamen), Phúc Châu (Fuzhou hay Fuchow), Ninh Ba (Ningpo hay Ningbo), Thượng Hải (Shanghai) cho người Anh buôn bán và gia đình cư trú, có lãnh sự trông coi việc buôn bán; bồi thường cho Anh 21,000,000 tiền vàng Mễ; hàng hóa Anh nhập cảng chịu thuế một lần, và thương nhân Trung Hoa không đóng thêm thuế khi chuyển hàng tiếp vào nội địa; công văn trao đổi hai bên có tính cách bình đẳng. Vì việc mở năm hải cảng nên hiệp ước nầy được các sách Trung Hoa gọi là Ngũ khẩu thông thương điều ước.

Cả hai bên Anh Quốc và Trung Hoa đều vi phạm hiệp ước Nam Kinh. Cuộc xung đột lớn xảy ra vào năm 1856. Quân Anh tấn công Quảng Châu rồi rút lui. Người Hoa tức giận đốt hết các thương quán, dinh thự của Anh, Pháp, Hoa Kỳ. Cuối năm 1857, liên quân Anh Pháp đánh chiếm Quảng Châu, rồi tiến lên đánh Thiên Tân (Tianjin hay Tientsin), đe dọa Bắc Kinh.

Nhà Thanh vội vã ký hai hiệp ước Thiên Tân riêng lẽ, một với Anh và một với Pháp năm 1858. Hai hiệp ước nầy có những điểm chung sau đây: 1) Đại diện Anh, Pháp tự do cư trú ở Bắc Kinh. 2) Giáo sĩ Anh, Pháp tự do truyền đạo ở nội địa Trung Hoa, công dân Anh, Pháp có hộ chiếu được tự do du lịch Trung Hoa. 3) Mở thêm nhiều thương cảng. 4) Công dân Anh, Pháp được quyền lãnh sự tài phán, nghĩa là nếu họ phạm tội trên đất Trung Hoa, thì sẽ do lãnh sự của họ xử; nếu họ có tranh tụng với người Hoa thì sẽ do quan lại Trung Hoa cùng lãnh sự xử. 5) Giá biểu quan thuế mới sẽ có sự bàn bạc với đại diện Anh, Pháp.

Năm 1859, khi quân Anh, Pháp đến Bắc Kinh để trao đổi hiệp ước đã được phê chuẩn, quân Thanh bất ngờ tấn công. Liên quân Anh Pháp liền trả đũa, bắn phá dữ dội. Vua Hàm Phong (Xian Feng) tức Thanh Văn Tông (Qing Wen Zong, trị vì 1851-1861) bỏ chạy, giao trách nhiệm cho hoàng thân Cung Thân Vương. Ông nầy thương thuyết và ký hiệp ước Bắc Kinh năm 1860, lập lại những điều trong hiệp ước Thiên Tân, cộng thêm ba điều quan trọng là mở cửa Thiên Tân, bồi thường cho Anh và Pháp mỗi nước 8 triệu lạng bạc (trong khi theo hiệp ước Thiên Tân, Trung Hoa chỉ trả cho Anh 4 triệu và cho Pháp 2 triệu mà thôi), và cắt đất gần Hồng Kông là Cửu Long (Kowloon) và các đảo phụ cận là Stonecutters Inlands cho Anh.

Chẳng những phải bồi thường cho Anh và Pháp, Trung Hoa còn phải đền công cho Nga, là nước đã làm trung gian giúp đưa đến hiệp ước Bắc Kinh năm 1860. Nga được hưởng lợi nhiều hơn cả Anh và Pháp, vì được Trung Hoa nhượng nhiều đất ở phía tây bắc Trung Hoa. Từ đó, các cường quốc Âu Mỹ cùng nhau xâu xé Trung Hoa. Năm 1895, Trung Hoa lại thua Nhật, phải nhượng bộ trong hòa ước Shimonoseki (Hạ Quan) ngày 17-4-1895.

Vào gần cuối thế kỷ 19, bị các nước Tây phương đe dọa, Trung Hoa khốn đốn không kém Việt Nam ở phương nam, nhưng triều đình nhà Thanh vẫn cứ tự nhận Trung Hoa là thượng quốc, có ưu quyền ở Việt Nam.

2.- TRUNG HOA TỰ NHẬN ƯU QUYỀN THƯỢNG QUỐC

Trên đường tìm kiếm thuộc địa sau cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Âu Châu, Pháp viện dẫn lý do triều Nguyễn đàn áp Ky-Tô giáo, Pháp đem quân tấn công Đà Nẵng ngày 1-9-1858, mở đầu cuộc xâm lăng Việt Nam. Pháp chiếm các tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long, buộc triều đình Huế phải ký hòa ước Nhâm Tuất ngày 5-6-1862, nhượng ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường (ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ) cho Pháp.

Không dừng lại ở đó, Pháp tiếp tục chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Gia, Hà Tiên năm 1867, và tiến quân ra đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1873, chiếm Hà Nội, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định. Pháp ép triều đình Huế ký hòa ước ngày Giáp Tuất 15-3-1874, nhường đứt luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cho Pháp, để Pháp trả lại các tỉnh Bắc Kỳ. Hòa ước Giáp Tuất ngày 15-3-1874 gồm 22 điều khoản, trong đó điều khoản số 2 nói rằng “Tổng thống Pháp nhận Đại Nam là một quốc gia độc lập, không phải thần phục nước nào, hứa giúp Hoàng đế Đại Nam nếu cần, bảo vệ an ninh trong và ngoài nước…”, và điều khoản số 3 tiếp theo “Để đáp lại sự bảo hộ ấy, Hoàng đế Đại Nam từ nay chịu theo chính sách ngoại giao hiện thời của nước Pháp…” Nói cách khác, từ nay Việt Nam phải theo chính sách ngoại giao của Pháp, và không được thần phục hay giao thiệp với nước khác mà không có sự đồng ý của Pháp.

Khi hòa ước năm 1874 đã được hai bên Việt Pháp phê chuẩn và trao đổi, đại diện Pháp tại Bắc Kinh là De Rochehouart chuyển bản hòa ước nầy cho chính phủ Trung Hoa ngày 24-5-1875. Triều đình nhà Thanh trả lời rằng: “Chí Giao Chỉ tức Việt Nam bổn hệ Trung Hoa thuộc quốc.” (nghĩa là: “Từ Giao Chỉ đến Việt Nam vốn là thuộc quốc của Trung Hoa.”). Câu nầy được tòa lãnh sự Pháp dịch qua Pháp văn theo nghĩa là: “An Nam cũng là xứ được gọi là Việt nam. Xứ nầy từng là nước thần phục Trung Hoa.”(1) Do cách hành văn khác nhau, Trung Hoa nghĩ rằng họ đã phản đối Pháp, nhưng Pháp lại cho rằng Trung Hoa chẳng phản đối gì.

Trong cuộc tiếp xúc với thủ tướng Pháp là Charles de Freycinet ngày 25-1-1880, đại sứ Trung Hoa tại Pháp là Tăng Kỷ Trạch (Zeng Ji Ze) khẳng định với Pháp rằng Việt Nam là chư hầu của Trung Hoa.(1) Vua Trung Hoa lúc nầy là Quang Tự (Kuang-hsu) hay Thanh Đức Tông (Qing Te-tsung, trị 1875-1908) mới 10 tuổi và bà thái hậu Từ Hy (Tzu-Hsi / Ci Xi, 1835-1908) giữ quyền nhiếp chính.

Tăng Kỷ Trạch còn viết thư ngày 10-11-1880 khi ông đến St Pétersbourg (Nga), yêu cầu ngoại trưởng Pháp cho Trung Hoa biết lập trường của Paris về những biến chuyển ở Bắc Kỳ. Trong thư trả lời ngày 27-12-1880, ngoại trưởng Barthélemy St. Hilaire đáp lại rằng theo điều 2 hòa ước năm 1874, Pháp có bổn phận và trách nhiệm với Việt Nam. Thư nầy được gởi đến cho Tăng Kỷ Trạch và chính phủ Trung Hoa. Tăng Kỷ Trạch cho đại diện Pháp ở St. Pétersbourg biết rằng Pháp có thể chiếm Trung Kỳ, nhưng nếu chiếm Bắc Kỳ thì sẽ gây quan ngại cho Trung Hoa, vì vùng nầy tiếp giáp với biên giới Trung Hoa. Ngoại trưởng Pháp liền ra lệnh cho viên đại diện Pháp báo cho Tăng Kỷ Trạch biết rằng từ năm 1874, ngoài nước Pháp Việt Nam đã hoàn toàn cắt đứt liên hệ với các nước khác.(2)

Về phía Việt Nam, dầu đã ký Hòa ước Giáp Tuất (15-3-1874), chịu nhận nền ngoại giao Pháp, vua Tự Đức vẫn gởi phái bộ ngoại giao sang Trung Hoa năm 1876, để chúc mừng vua Thanh Đức Tông lên thay vua Thanh Mục Tông (Mu-tsung) (trị vì 1862-1874), tức vua Đồng Trị (T’ung-chih) từ trần năm 1874. Tháng 7-1880, vua Tự Đức còn cử sứ thần sang Trung Hoa thêm lần nữa. Chuyến đi nầy, chẳng những có tính cách ngoại giao thông lệ bốn năm một lần cống sứ, mà còn để nhờ Trung Hoa giúp đỡ.

Năm sau (1881), Trung Hoa gởi Đường Đình Canh sang kinh đô Huế bàn chuyện buôn bán, lập chiêu thương cuộc. Những sự kiện nầy không thể qua mặt người Pháp. Khâm sứ Pháp tại Huế là Rheinart đã báo cáo đầy đủ các chuyến đi sứ của Việt Nam sang Trung Hoa cho thượng cấp ngày 2-8-1882.(Yoshiharu Tsuboii, sđd. tt. 298-299.)

Về phía nhà Thanh, tại Bắc Kinh, đại diện Trung Hoa phản đối với đại sứ Pháp, cho rằng Việt Nam là thuộc quốc của Trung Hoa và yêu cầu Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ để duy trì tình hữu nghị Hoa Pháp. Tại Paris, ngày 6-5-1882, đại sứ Tăng Kỷ Trạch cũng lên tiếng phản đối Pháp và yêu cầu Pháp rút quân.

Thủ tướng Freycinet (Pháp) cho rằng lời lẽ của họ Tăng bất nhã, nên yêu cầu đại sứ Pháp tại Bắc Kinh cho chính phủ Trung Hoa biết rằng sẽ không nói chuyện với Trung Hoa và yêu cầu Trung Hoa đừng xen vào chính sách Pháp ở Bắc Kỳ.(3)

Về quân sự, ngày 30-6-1882, tổng đốc Vân Nam (Trung Hoa) loan báo rằng quân đội Trung Hoa sẽ tiến vào lãnh thổ Bắc Kỳ để truy đuổi các thổ phỉ Cờ đen. Trong tháng sau, tướng Tạ Kính Bưu đem ba doanh quân Vân Nam đến đóng tại Quản Ty (Hưng Hóa). [Một doanh khoảng 1,000 quân.] Vào tháng 9, nhà Thanh cử tướng Hoàng Quế Lan đem mười hai doanh quân đóng ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Ninh, và tướng Triệu Ốc đem năm doanh quân đóng ở Tuyên Quang. Tài liệu Pháp cho rằng số quân Trung Hoa tại Bắc Kỳ lúc đó lên đến 20,000 người. Dầu vậy, lực lượng Trung Hoa dần dần bị Pháp đẩy lui.

Trong thực tế, Trung Hoa điều quân qua Việt Nam nhắm mưu lợi, chứ chẳng phải thực tâm giúp đỡ Việt Nam chống Pháp, nên khi thấy không thể chiến thắng được Pháp, Trung Hoa quay qua thương thuyết với Pháp để chia phần ở Việt Nam.

3.- TRUNG HOA ÂM MƯU CHIA HAI BẮC KỲ

Ngày 27-10-1882, Paris thông báo cho đại sứ Pháp ở Trung Hoa là Bourée biết, trong phiên họp ngày 21-10, chính phủ Pháp quyết định bảo hộ Việt Nam, để Bourée nói chuyện với Bắc Kinh. Trước sự cương quyết của Pháp, vào đầu tháng 11-1882, Lý Hồng Chương (Li Hongzhang hay Li-Hung-Tchang), một viên chức cao cấp trong Tổng lý nha môn, cơ quan phụ trách ngoại giao của triều đình Trung Hoa, đề nghị với Bourée rằng Trung Hoa và Pháp chia nhau bảo hộ Bắc Kỳ. Bourée báo cáo sáng kiến của Lý Hồng Chương về Pháp.

Lúc đó, các chính phủ Paris kế tiếp nhau, đều muốn chiếm Bắc Kỳ, nhưng vừa ngại tốn kém vì Quốc hội Pháp không chuẩn chi, vừa ngại đụng chạm với Trung Hoa, nên đường lối của chính phủ Pháp không rõ ràng và hay thay đổi. Ngày 5-12-1882, Bourée cho Paris biết là Bắc Kinh đã ra lệnh quân Thanh rút khỏi Bắc Kỳ về Vân Nam và Quảng Tây. Cũng trong ngày nầy, bộ Hải quân và Thuộc địa ra Pháp lệnh cho soái phủ Sài Gòn tránh đụng chạm với quân Trung Hoa. (Vũ Ngự Chiêu, sđd. tr. 291)

Ngày 20-12-1882, tại Thiên Tân (Tianjin hay Tientsin), Bourée và Lý Hồng Chương ký tạm ước Thiên Tân về Bắc Kỳ, theo đó Trung Hoa chiếm phía bắc sông Hồng (vùng núi non và hầm mỏ), và Pháp chiếm phía nam sông Hồng (vùng châu thổ, sản xuất nông phẩm). Lào Cai được xem là một thương cảng Trung Hoa, nhưng người Pháp được quyền tự do buôn bán với Vân Nam.(4) tạm ước Thiên Tân thật ra rất mơ hồ, chỉ lấy sông Hồng chia hai địa phận, nhưng chưa vạch ra cụ thể ranh giới giữa hai bên Pháp và Trung Hoa ở Bắc Kỳ.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu, Tạm ước Thiên Tân bị Pháp bãi bỏ. Nguyên tại Paris, chính phủ Charles Duclerc sụp đổ ngày 22-1-1883. Armand Fallières tạm thay một thời gian, thì Jules Ferry trở lại làm thủ tướng lần thứ hai ngày 21-2-1883. Lúc đó, Pháp dứt khoát về vấn đề Ai Cập (Egypt) vì nước nầy đã do nước Anh đô hộ từ 1882. Jules Ferry dồn nỗ lực về phía Việt Nam.

Việc làm đầu tiên về Việt Nam của chính phủ Jules Ferry là bãi bỏ tạm ước Thiên Tân mà Bourée đã ký với Lý Hồng Chương, vì theo chính phủ nầy, tạm ước đã giành cho Trung Hoa quá nhiều quyền lợi ở Bắc Kỳ. Quyết định bãi bỏ được Pháp báo cho Trung Hoa biết ngày 5-3-1883. Hai tháng sau, đại sứ Bourée bị triệu hồi. Chính phủ Pháp đưa Tricou, nguyên đại sứ Pháp tại Nhật, sang Bắc Kinh làm đại sứ từ ngày 1-6-1883.

Ngày 18-8-1883, đại sứ Trung Hoa là Tăng Kỷ Trạch giao cho chính phủ Pháp lập trường sáu điểm của Trung Hoa về Bắc Kỳ, theo đó: (1) Ngoại trừ Nam Kỳ, Pháp không được chiếm bất cứ phần lãnh thổ nào của An Nam; (2) An Nam là chư hầu của Trung Hoa; (3) Pháp phải triệt binh khỏi những nơi đã chiếm của An Nam, mở một số hải cảng để giao thương, và các cường quốc có quyền đặt tòa lãnh sự tại các cảng nầy; (4) Sông Hồng phải được mở rộng để giao thương; (5) Trung Hoa sẽ bảo đảm việc tự do giao thương trên sông Hồng; (6) Những hòa ước giữa Pháp và Việt Nam phải được Trung Hoa chấp thuận.(Vũ Ngự Chiêu, sđd.tt. 328-329.)

Trong khi đó, Pháp đưa quân từ Bắc Kỳ, tiến đánh cửa Thuận An (Huế) ngày 20-8-1883. Thất bại, triều đình Huế đành xin điều đình và ký hòa ước Quý Mùi ngày 25-8-1883, gồm 27 điều khoản, trong đó điều 1 viết rằng “Nước Nam nhận và chịu sự bảo hộ của nước Pháp với những hậu quả của mối tương giao nầy theo luật pháp ngoại giao Âu Châu, nghĩa là nước Pháp chủ trương mọi sự giao thiệp của nước Nam với các nước ngoài, kể cả nước Tàu, và nước Nam có giao thiệp ngoại giao với nước nào thì chỉ do một mình nước Pháp môi giới mà thôi.”

Bảo hộ xong Việt Nam, hai ngày sau, ngoại trưởng Pháp từ chối yêu cầu sáu điểm của Trung Hoa trong thư trả lời ngày 27-8, và cho Trung Hoa biết rằng Pháp sẵn sàng giải quyết vấn đề an ninh biên giới và quyền lợi người Hoa buôn bán trên sông Hồng.

Ngoại trưởng Pháp còn gởi công văn ngày 15-9-1883 cho chính phủ Trung Hoa, một lần nữa xác nhận rằng Pháp không chấp nhận tạm ước Thiên Tân ngày 20-12-1882, giữa đại sứ Bourée và Lý Hồng Chương về Bắc Kỳ. Công văn ngày 15-9 còn đưa ra đề nghị mới của Pháp gồm hai điểm: (1) Lập một khu phi quân sự giữa hai vĩ tuyến 21 và 22, nếu một bên muốn động binh để đánh dẹp thổ phỉ thì phải có sự đồng ý của bên kia. (2) Thị trấn Man Hao trên sông Hồng trong lãnh thổ Trung Hoa sẽ được mở ra cho việc giao thương. Chính sách của chính phủ Jules Ferry được Quốc hội Pháp hậu thuẫn mạnh mẽ trong cuộc đầu phiếu tại Quốc hội ngày 31-10-1883. (Vũ Ngự Chiêu, sđd. tt. 330-332.)

Hai chính phủ Pháp Hoa tranh cãi không dứt về vấn đề Bắc Kỳ. Pháp muốn độc quyền tại miền Bắc Việt Nam, trong khiTrung Hoa muốn chia một phần Bắc Kỳ cho Trung Hoa, và bảo đảm an toàn biên giới Việt Hoa. Trung Hoa tin tưởng rằng Pháp khó có thể chiến thắng lực lượng Trung Hoa ở Bắc Kỳ. Ngoài ra, Trung Hoa còn hy vọng hai nước Anh và Đức sẽ can thiệp, nhưng lúc đó, Anh đang bận rộn ở Ai Cập và Đức muốn Pháp bành trướng ở Bắc Kỳ hơn là tập trung lực lượng để chống Đức ở biên giới giữa hai bên.

Cuối cùng, tại Bắc Kỳ, Pháp đã đánh đuổi quân Trung Hoa và quân Cờ đen chạy lên miền biên giới, làm chủ tình hình Bắc Kỳ. Lúc đó, Trung Hoa thấy không thể kiếm lợi được ở Việt Nam mà còn lo ngại Pháp sẽ tiến chiếm Đài Loan hay Hải Nam để đòi chiến phí, nên Trung Hoa bắt đầu thay đổi chính sách.

4.- HIỆP ƯỚC THIÊN TÂN LẦN THỨ NHẤT (11-5-1884)

Đầu tiên, Lý Hồng Chương, nhờ một thân hữu tên là Gustav Detring, người Đức, công chức cao cấp trong ngành thương chánh Trung Hoa và đã phục vụ 20 năm ở Quảng Châu, vận động với chính phủ Pháp. Vào tháng 4-1884, Gustav Detring đem việc nầy thảo luận với một người bạn là trung tá Ernest François Fournier, hạm trưởng tuần dương hạmVolta, đang đóng ở Quảng Đông. Fournier trình bày lại ý định của Lý Hồng Chương với cấp chỉ huy là phó đô đốc Sébastien Lespès, tư lệnh hạm đội Pháp tại Trung Hoa và Nhật Bản. Một mặt, Lespès thuận cho Fournier nói chuyện với Lý Hồng Chương, một mặt Lespès trình về Paris.

Ernest Fournier nhờ Gustav Detring chuyển cho Lý Hồng Chương một văn thư cho biết các điều kiện về phía Pháp để đi đến một cuộc dàn xếp với Trung Hoa: giải nhiệm đại sứ Tăng Kỷ Trạch, từ bỏ ưu quyền đối với Việt Nam, rút lui quân đội Trung Hoa khỏi Bắc Kỳ, và bồi hoàn chiến phí.(5)

Để tỏ thiện chí, triều đình Trung Hoa quyết định chấm dứt nhiệm vụ đại sứ ở Pháp của Tăng Kỷ Trạch, mà vẫn giữ ông ta làm đại sứ ở Anh; và Trung Hoa cử Hứa Cảnh Trừng làm đại sứ tại Pháp, Đức, Ý, Hòa Lan và Áo.

Cuộc nói chuyện tiếp tục, Fournier đến Thiên Tân, gặp Lý Hồng Chương và nhanh chóng ký hiệp ước ngày 11-5-1884, gồm năm khoản, thường được gọi là hiệp ước Fournier hay hiệp ước Thiên Tân, đại để như sau: 1) Pháp hứa tôn trọng biên giới Việt Hoa. 2) Trung Hoa cam kết rút quân khỏi Bắc Kỳ và tôn trọng những hòa ước ký kết giữa Pháp và Việt Nam. 3) Pháp không đòi bồi thường chiến phí. 4) Hủy bỏ những hiệp ước trước đây giữa Trung Hoa và Việt Nam, và nuớc Pháp cam kết không làm tổn hại thể diện Trung Hoa. 5) Hai bên thỏa thuận sẽ gặp nhau lại trong vòng 90 ngày để ký kết hiệp ước chính thức.

Ernest Fournier tiếp tục thương lượng với Lý Hồng Chương về thời biểu Trung Hoa rút quân. Ngày 17-5, Fournier trao cho Lý Hồng Chương một giác thư (mémorandum) theo đó Pháp sẽ tiếp thu Lạng Sơn, Cao Bằng ngày 5-6-1884, và Lào Cai ngày 1-7-1884.(Alfred Schreiner, sđd. tr. 362.)

Nhận được tin nầy, trung tướng Millot, tư lệnh lực lượng Pháp ở Bắc Kỳ nghĩ rằng Pháp có thể chiếm đóng vùng Lạng Sơn, Cao Bằng khoảng từ 15 đến 20-6, nên ông cử quân đi tiếp thu Lạng Sơn. Trên đường đi Lạng Sơn, ngang qua thị trấn Bắc Lệ ngày 22-6, đoàn quân Pháp bị quân Trung Hoa tấn công dữ dội và gây thiệt hại nặng nề.

Chính phủ Paris được tin Bắc Lệ, liền ra lệnh cho đại diện Pháp ở Bắc Kinh gởi cho triều đình Mãn Thanh một tối hậu thư ngày 12-7, yêu cầu Trung Hoa phải ra lệnh quân đội mình lập tức rời Bắc Kỳ, hạn chót là 31-7, và triều đình Trung Hoa phải bồi thường 250 triệu quan chiến phí, nếu không Pháp sẽ đánh Trung Hoa.

Phó đề đốc Prosper Courbet, đang chỉ huy hạm đội Pháp ở Bắc Kỳ, được cử kiêm luôn chỉ huy hạm đội Pháp ở Trung Hoa, đem quân đến cửa sông Mân ở Phúc Châu (Fou-Tchéou), thủ phủ tỉnh Phúc Kiến (Fukien) ngày 16-7, trong khi một hạm đội Pháp khác đến đảo Cơ Long (Kélung) ở eo biển Đài Loan. Ngày 5-8-1884, Pháp bắt đầu tấn công, gây thiệt hại nặng cho Trung Hoa.

Trên biển, hạm đội Pháp truy lùng và tấn công các tàu của Trung Hoa, phong tỏa cửa sông Dương Tử (Yang-tse), vùng Thượng Hải, và cho đến cuối tháng 3-1885, Pháp làm chủ hoàn toàn quần đảo Bành Hồ ở eo biển Đài Loan. (Quân sử III, Sài Gòn: 1971, tt. 227-228.)

  1. HIỆP ƯỚC THIÊN TÂN LẦN THỨ HAI (9-6-1885)

Trong khi Pháp khó thắng Trung Hoa, thì rõ ràng Trung Hoa thất thế cả ở Trung Hoa lẫn ở Bắc Kỳ. Cả hai bên Pháp Hoa đều muốn tìm kiếm một giải pháp hòa bình vì hoàn cảnh riêng của mỗi bên. Sau những cuộc thảo luận kéo dài, hai bên dự tính đi đến việc ký kết hòa ước vào cuối tháng 3-1885, thì chính phủ Jules Ferry sụp đổ. Chính phủ Brisson lên thay thế. Bộ trưởng ngoại giao vẫn là Charles Freycinet.

Cuộc đàm phán về một hòa ước mới bắt đầu tại thành phố Thiên Tân từ ngày 13-5-1885 giữa hai bên Pháp-Hoa; kết thúc bằng Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và thương mại ký ngày 9-6-1885 giữa Jules Patenôtre (đại diện Pháp) và Si Tchen, Lý Hồng Chương (Li Hongzhang / Li-Hung-Tchang) và Teng Tcheng Sieou (đại diện Trung Hoa).

Hòa ước Thiên Tân lần thứ hai nầy gồm 10 điều khoản, có thể được tóm lược như sau: Trung Hoa đồng ý rút quân về nước (điều 1). Trung Hoa nhìn nhận việc Pháp bảo hộ Việt Nam (điều 2). Hai bên sẽ tiếp tục hòa đàm về vấn đề biên giới Việt Hoa (điều 3). Hai bên sẽ thảo luận về một hiệp ước thương mại (điều 5, 6, 8). Pháp đồng ý rút quân khỏi Đài Loan và Bành Hồ (Pescadores) (điều 9).

Như thế là chiến tranh Pháp Hoa về vấn đề Bắc Kỳ kết thúc. Bắc Kinh gởi một phái đoàn đến Hà Nội để giúp chấm dứt tranh chấp Pháp Hoa, và đưa quân đội nhà Thanh trở về Trung Hoa.

KẾT LUẬN

Dầu Việt Nam, quốc hiệu của nước ta từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802, là một nước độc lập, Trung Hoa vẫn mặc nhiên tự xem Trung Hoa là thượng quốc và có ưu quyền đối với Việt Nam. Khi người Pháp xuất hiện, Trung Hoa tự xem có quyền thương lượng với Pháp về Việt Nam, muốn chia phần với Pháp và quyết định số phận Việt Nam. Cho đến khi bị Pháp đánh bại, Trung Hoa đành nhượng bộ, nhưng những nhà cầm quyền Trung Hoa không bao giờ từ bỏ mục tiêu truyền kiếp là đánh chiếm và đô hộ Việt Nam.

Chú thích:

  1. Yoshiharu Tsuboii, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, TpHCM: Ban Khoa học Xã hội, 1990, tr. 142.
    2. Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn 1883-1945, tập 1, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1999, tt. 273-274.
    3. Alfred Schreiner, Abrégé de l’histoire d’Annam, Sài Gòn: 1906, tr. 353.
    4. Khối Quân sử, Quân dân Việt Nam chống Tây xâm (1847-1945), Quân sử III, Sài Gòn: Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, 1971, tr. 164.
    5. Alfred Schreiner, sđd.. tt. 371-372.

TRẦN GIA PHỤNG

Môn sử ở trường phổ thông: đa dạng quan điểm và sự thật lịch sử

Môn sử ở trường phổ thông: đa dạng quan điểm và sự thật lịch sử

Blog RFA

Nguyễn Thị Từ Huy

Nhân cuộc thảo luận đang diễn ra gần như trên phạm vi toàn xã hội về vị trí thê thảm của môn lịch sử trong Dự thảo chương trình giáo dục tổng thể do Bộ Giáo dục ban hành trong khuôn khổ dự án cải cách giáo dục mà BGD đang thực hiện, tôi xin giới thiệu lại ở đây bài phỏng vấn một giáo viên Pháp dạy môn lịch sử ở cấp trung học cơ sở, từng công bố trên tạp chí Tia sáng. Tựa đề do tôi đặt lại.

Khi có thời gian tôi sẽ trở lại với dự thảo về cải cách chương trình môn sử, một cách cụ thể.

Tạm thời xin nêu ra đây mấy câu hỏi :

1/ Nếu coi việc rút bỏ thời lượng của môn sử và đem nó tích hợp với hai môn khác là một sự cải cách, thì cải cách này sẽ mang lại kết quả hay hậu quả nào ? Cải cách này liệu có góp phần giải quyết các vấn đề hiện tại mà môn lịch sử đang gặp phải hay không ? Những người thiết kế chương trình có hình dung tới kết quả hay hậu quả của các đề xuất do mình đưa ra ?

2/ Tên gọi của môn lịch sử, trên thực tế, không tồn tại trong Dự thảo, nó đã được thay thế bằng một tên mới « Công dân và Tổ quốc ». Tên gọi này cho thấy, môn lịch sử thậm chí không có được sự bình đẳng với hai môn mà nó tích hợp : giáo dục công dân và giáo dục quốc phòng. Điều này, cộng với sự giảm thiểu thời lượng đến mức thảm hại của môn sử, đã gây nên nỗi lo âu cho nhiều bộ phận xã hội trước nguy cơ về sự biến mất của môn lịch sử. Nguy cơ này có thật hay không ? Khi hình dung về nguy cơ này, nhiều người nghĩ đến ý kiến của Havel, nguyên tổng thống Tiệp Khắc, về việc trong chế độ toàn trị không có lịch sử, và đồng thời nghĩ đến việc lịch sử đã bị viết lại như thế nào và bị xuyên tạc một cách có hệ thống như thế nào trong các chế độ cộng sản.

3/ Nếu nguy cơ môn lịch sử biến mất là có thật, và nếu BGD và những người soạn dự thảo chương trình cương quyết không thay đổi quan điểm của mình, nếu việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về dự thảo chương trình giáo dục cũng có cùng bản chất với việc lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo hiến pháp sửa đổi vừa qua : dân đóng góp ý kiến thì cứ đóng góp, phần quyết định thuộc về những người nắm quyền lực, và khi quyết định người nắm quyền không thèm đếm xỉa đến ý kiến của dân, thì trong trường hợp này, xã hội cần phải làm gì để ký ức lịch sử của toàn dân tộc không bị xóa bỏ ?

4/ Những người bảo vệ xu hướng rút bỏ tối đa thời lượng môn sử và tích hợp để biến nó thành một bộ phận của môn « Công dân và Tổ quốc » cho rằng : « không nên quan niệm giáo dục lịch sử trong nhà trường là phải dạy các kiến thức của khoa học Lịch sử một cách hệ thống ».

Trong khi đó quan điểm của giáo viên sử ở Pháp (tôi trích nguyên văn từ bài phỏng vấn dưới đây) : « Các chương trình cũng phản ánh sự tiến triển của khoa học lịch sử. Cuối thời kỳ thống trị bởi cái gọi là Biên niên sử (Annales), từ những năm 1980, khoa học Lịch sử là nơi các thành tố chính trị và văn hóa được đánh giá trong tương quan với kinh tế và xã hội, và các chủ đề nghiên cứu cũng chia cắt với nhau thành những chủ đề nhỏ hơn. »

Vì sao có sự khác nhau trong quan niệm về môn sử ở trường phổ thông, khác nhau đến mức trái ngược như vậy ?

5/ Cuối cùng : trong nhìn nhận của nhiều người, việc « tích hợp » môn sử có lẽ cho thấy giáo dục Việt Nam bị chính trị hóa một cách sâu sắc như thế nào, và những người soạn chương trình bị chính trị chi phối một cách đau đớn đến như thế nào.

Tuy nhiên, nếu quả thật không phải như vậy, nếu quả thật những người thiết kế chương trình lần này có tự do đề xuất ý tưởng của mình và không bị cái vòng kim cô của Ban Tuyên giáo siết chặt, thì mong rằng chúng ta có thể chứng kiến việc những người soạn chương trình có tự do thay đổi ý tưởng, dựa trên việc phân tích thực tế xã hội chính trị của Việt Nam hiện thời, dựa trên việc tiếp thu lòng dân và nỗi niềm của tầng lớp trí thức.

Tự do thay đổi Dự thảo còn là biểu hiện của lương tâm và trách nhiệm của những người làm chương trình đối với thế hệ trẻ và đối với vận mệnh dân tộc.

Paris, 26/11/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

Môn sử ở trường phổ thông: đa dạng quan điểm và sự thật lịch sử

Nguyễn Thị Từ Huy (NTTH):

Trước hết, xin cám ơn ông đã cho tôi dự tiết ông dạy về chủ nghiã Quốc-Xã ở lớp 9.  Tôi theo dõi ông làm việc với một nửa lớp, gồm những học sinh chậm tiến. Nhưng tôi không cảm thấy là học trò của ông gặp khó khăn, vì ông đã thúc đẩy các em nói ra các ý kiến của mình, giúp các em hiểu bài, nắm được các khái niệm và những hiện tượng phức tạp khó nắm bắt, như hệ ý thức Quốc-Xã, như chủ nghĩa bài Do Thái, như khái niệm chuyên chế …  Tôi nhận thấy ông không nói nhiều, mà đặt nhiều câu hỏi. Khi học trò không trả lời được ngay, ông đưa ra các gợi ý hoặc ông nêu câu hổi theo cách khác. Tôi thấy ông tỏ ra rất kiên nhẫn để hướng các học trò tới các mục tiêu bài học phải đạt được. Tôi có thể hình dung thấy việc ông chuẩn bị bài giảng chẳng đơn giản chút nào, ông đã đưa ra bốn lược đồ và học sinh phải tự phân tích dưới sự hướng dẫn của ông. Xin ông làm ơn giải thích chi tiết hơn về phương pháp làm việc của ông cũng như về mục đích chính xác của bài dạy này?

Dominique Delmas:

Một trong những mục tiêu có tính thách thức trong chương trình Sử học lớp 9 trung học cơ sở là làm cho học sinh hiểu rõ hai nhà nước toàn trị thế kỷ thứ 20, là nhà nước Đức Quốc-Xã và nhà nước kiểu Stalin, làm sao chỉ ra cho các em thấy hai nhà nước đó có gì giống nhau và có gì khác nhau.

Tôi hoàn toàn tôn trọng phương pháp suy diễn, xuất phát từ các tư liệu lịch sử để đi tới phát hiện hệ ý thức, các mục tiêu và cách thức hoạt động trong thực tiễn của các chế độ toàn trị, nên tôi đã nghĩ đến việc sử dụng các hình ảnh thị phạm trong đó có cả lược đồ và biểu tượng, tôi làm như vậy vì 4 lý do chính sau đây:

–       Bằng cách thêm dần, trong quá trình thày trò cùng làm việc, từng yếu tố một vào lược đồ mang hình ảnh thị phạm, ta xây dựng được khái niệm trong tâm trí học sinh theo cung cách tiệm tiến.

–       Bằng cách diễn đạt thị phạm các khái niệm vừa tổng quát vừa trừu tượng đó, ta sẽ giúp học sinh tiếp nhận các khái niệm một cách dễ dàng thoải mái hơn.

–       Việc dùng các hình ảnh được xây dựng theo cùng một cung cách triển diễn và dùng cả các ký hiệu chung khiến cho việc so sánh hai hệ thống được dễ dàng hơn.

–       Ta có thể giúp học sinh làm việc bằng cách yêu cầu các em chuyển từ ngôn ngữ này [thị phạm – ND thêm] qua ngôn ngữ khác [nói và viết – ND thêm] bằng cách yêu cầu các em tái tạo lại các lược đồ dưới dạng văn bản viết.

Điểm cuối cùng vừa nói lắm khi cũng rắc rối. Có khi các em quên diễn đạt lại một số yếu tố trong lược đồ, khi thì các em không tìm được yếu tố ngôn ngữ cần cho cách biểu đạt khác, và cũng có khi các em không tái tạo lại lược đồ trước theo một lô gich chặt chẽ nhất quán (trật tự từ hệ ý thức sang các mục tiêu sang hành động thực tiễn và các dẫn chứng).

Trong ba hình thức văn bản viết cơ bản mà khoa Sử học yêu cầu: loại chuyện tự sự, bảng biểu diễn một tình huống, và việc mô tả có suy lý một hiện tượng lịch sử hoặc một khái niệm rút ra từ hiện tượng đó, thì dạng văn bản cuối cùng này hay gặp rắc rối hơn cả. Điều đó có nhiều lý do: việc tạo dựng [lại trong tâm lý học sinh – ND thêm] không tuân thủ một lô gích tuyến tính hoặc một lô gích theo chủ đề, nên người học cần làm chủ được những thuật ngữ phức tạp đồng thời cũng cần biết cách đi từ cái chung đến cái riêng, từ cái trừu tượng đến cái cụ thể, nghĩa là đi con đường quy nạp, ngược với con đường diễn dịch, (từ những tư liệu cụ thể đến tổng quát hóa) được ứng dụng khi học.

Về cách thức làm việc, chị đã hoàn toàn thấy rõ những gì tôi tìm cách thực hiện. Cách tôi sắp đặt các bảng nhằm tạo thuận lợi cho cả những trao đổi và việc lắng nghe lẫn nhau. Việc phát biểu ý kiến và việc đưa ra các giả thuyết đều được khuyến khích tối đa nhằm củng cố sự tự tin và độ tin cậy lẫn nhau giữa các học trò phần lớn đều thuộc diện gặp khó khăn[1]. Các buổi làm việc chung theo cách thức đối thoại đan xen nhau với các buổi khác để trẻ em được làm việc độc lập hoặc theo từng cặp đôi. Khi đó việc trao đổi với giáo viên mang tính cá thể hơn và thích hợp với từng học trò riêng rẽ. Cũng có cả hình thức hoạt động học khác là cách viết bài mà không ít học sinh cho đến lúc này vẫn gặp khá nhiều khó khăn.

NTTH

Giá mà được ông cho biết về sách giáo khoa Sử học trường phổ thông thì hay vô cùng. Ông là tác giả sách Sử học dùng trong trường này, ông có thể chia sẻ với chúng tôi những gì liên quan đến cấu tạo sách giáo khoa của ông, về nguyên tắc biên soạn, và cả về chương trình Sử học bậc trung học cơ sở của nước Pháp?

Dominique Delmas

Sách giáo khoa được biên soạn bởi những nhóm giáo viên thường là do tổ chức IPR thanh sát (IPR viết tắt của Inspecteurs Pédagogiques Régionnaux là Thanh tra Sư phạm Khu vực phụ trách đánh giá các giáo viên trung học). Tại từng trường, các giáo viên bỏ phiếu chọn một trong số những sách giáo khoa được in ở các nhà xuất bản khác nhau (có chừng tám nhà xuất bản như thế). Ở trường phổ thông cơ sở (collège), sách giáo khoa được phát không, nhưng trường trung học phổ thông (lycée) thì không như vậy.

Các tác giả sách giáo khoa biên soạn dựa trên những chương trình học chính thức quy định các nội dung hoặc các chủ đề, đôi khi các nhóm biên soạn có chọn lựa khác, nhưng đều phải có những thực hành đặc biệt thí dụ như huấn luyện cách học tự sự hoặc nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật như là chứng nhân của Lịch sử. Ở Pháp, do thực hiện chế độ giáo dục bắt buộc cho tới 16 tuổi, học sinh từ lớp 6 tới lớp 9 phải học cho xong những giai đoạn lớn của Lịch sử kể từ thời Cổ đại tới thế giới đương đại. Chương trình học tập trung vào Pháp và châu Âu. Các không gian lịch sử được mở rộng dần, từ vùng Địa Trung Hải tới Đại Tây Dương, rồi tuần tự tới các vùng khác trên thế giới. Cũng có vài chuyên đề riêng nhưng ngắn gọn học ở lớp 6 về triều đại Gupta của Ấn Độ và thời nhà Hán của Trung Hoa, ở lớp 5 có bài về các vương quốc và đế quốc Tây Phi châu thế kỷ thứ X và XV. Các chương trình cũng phản ánh sự tiến triển của khoa học lịch sử. Cuối thời kỳ thống trị bởi cái gọi là Biên niên sử (Annales), từ những năm 1980, khoa học Lịch sử là nơi các thành tố chính trị và văn hóa được đánh giá trong tương quan với kinh tế và xã hội, và các chủ đề nghiên cứu cũng chia cắt với nhau thành những chủ đề nhỏ hơn.

Như chị đã thấy, các chương sách đều có những trò chơi đan xen với các tư liệu khác nhau để các giáo viên lấy từ đó ra để tổ chức cho học sinh hoạt động học. Trong các trò chơi và tư liệu đó nhất thiết phải có một «bài học» dưới một hình thức trình bày sáng sủa và dễ hiểu, mà người học phải tìm ra được phần căn bản của chủ đề được đề cập tới. Sách giáo khoa cũng phải chịu những ràng buộc từ phía nhà xuất bản: maket và cách dàn trang đôi khi rất áp đặt rất hà khắc, yêu cầu về tính hấp đãn (để ve vãn người mua và người dùng …) đôi khi lại dẫn tới sự đơn giản hóa quá mức.

NTTH :

Ông dạy những nội dung nào về Lịch sử Pháp cho học sinh lớp 9? Liệu những sự kiện coi là nhạy cảm (như chiến tranh Algérie) có được đem dạy không?

Dominique Delmas :

Ở lớp 9, học trò học lịch sử Pháp thế kỷ XX.  Chương trình học ưu tiên cho ba thời điểm nổi trội: nước Pháp thời kỳ giữa hai cuộc Đại chiên thế giới, nước Pháp thời Đức Quốc-Xã chiếm đóng, phe Kháng chiến và phe Hợp tác với Đức, sau cùng là Đệ Ngũ Cộng hòa từ năm 1958 cho tới thời điểm hiện nay. Cuộc chiến Algérie được học trong chương về giải trừ chế độ thực dân. Dần dà, với vấn đề này và nhiều vấn đề khác nữa, như vấn đề về Thời bị Đức chiếm đóng, cùng với những thay đổi thế hệ và những tiến bộ trong nghiên cứu, thực tại được bóc trần ở mọi kích tấc, kể cả những thứ khó xử nhất hạng đốí với ký ức quốc gia dân tộc. Trong Thế chiến 2 chẳng hạn, đó là những vấn đề về vài trò của chính phủ Vichy và vai trò của một số người Pháp trong các vụ bắt bớ người Do Thái và đàn áp người kháng chiến, hoặc trong cuộc chiến tranh Algérie thì có những vấn đề về tội ác chiến tranh và tra tấn.

Liên quan đến Lịch sử nước Pháp đương đại được dạy ở bậc Trung học cơ sở, có bốn yếu tố chính yếu trong những năm 1970 đã giúp vào việc nghiên cứu những phương diện đối lập nhau trong những giai đoạn lịch sử nhất định: sự thay đổi các thế hệ, những công trình của các nhà nghiên cứu đôi khi là các nhà nghiên cứu người nước ngoài như nhà viết sử người Mỹ, Paxton, tác phẩm của ông về chính quyền Vichy đã gây sốc tại Pháp[2], sức mạnh phản kháng trước và sau Biến cố tháng Năm 1968, sau nữa là những đòi hỏi của các thế hệ con cháu muốn được nghe tiếng nói và ký ức của những người thiểu số (Người Pháp gốc Algérie vẫn gọi là Pieds-Noirs, người «lính địa phương»  Algérie  vẫn gọi là người Harkis, những chiến binh Mặt trận Giái phóng Dân tộc Algérie -FLN- trên đất Pháp).

Các sách giáo khoa được viết tự do về những tội ác gắn liền với chế độ thực dân hoặc vấn đề về những cuộc nổi loạn năm 1917 trong Thế chiến thứ nhất. Với những giai đoạn lịch sử xa hơn nữa, các quan điểm có khác nhau. Thế nên, ở lớp 8 Trung học cơ sở, triều đại của Louis XIV không chỉ được nghiên cứu dưới lăng kính hành động của nhà vua và giới tinh hoa mà cũng còn được xem xét theo các điều kiện của người dân thời đó. Về nước Pháp thế kỷ 20, có hai vấn đề gai góc nhất, như tôi đã nói, là giai đoạn Chiếm đóng và giai đoạn giải trừ chế độ thực dân, nhất là về cuộc chiến tranh Algérie. Về giai đoạn Chiếm đóng, những vấn đề liên quan đến chính sách Do Thái của chính quyền Vichy và sự tham gia vào chính sách này của người dân Pháp và một bộ phận chính quyền và tổ chức chính trị cũng được xem xét thẳng thắn hơn, đây là một dẫn chứng: trong sách giáo khoa có những tư liệu cho thấy một người Pháp mặc quân phục Đức trên vai có phù hiệu Pháp và cả những tư liệu khác cho thấy cảnh sát Pháp tham gia càn quét người Do Thái rồi chở họ đi trên những xe buýt tịch thu của lực lượng du kích kháng chiến RATP. Cũng có những tài liệu tương tự về thái độ và dư luận công chúng rất đa dạng, có vẻ như hồi ban đầu tỏ ra đi theo phe đa số của thống chế Pétain và cứ thay đổi tiến bộ dần trải qua thời kỳ kéo dài bốn năm chiếm đóng. Sau hết, chuyện chiến tranh Algérie, Sử học dạy ở nhà trường cố gắng cho thấy sự đa dạng trong quan điểm và cố không che dấu sự tàn bạo của các cuộc đụng độ: phe khủng bố và việc đàn áp phe khủng bố. Nhưng các cuộc tranh cãi vẫn còn nóng hổi, một khi vị trí quan trọng vẫn dành cho việc dạy Sử học trong nhà trường Pháp. Mới cách đây vài năm thôi đã có dự luật trình Quốc Hội cho phép nhà trường thừa nhận phương diện tích cực của chế độ thực dân.

                     Phạm Toàn dịch từ tiếng Pháp

1 Thiếu tự tin dường như là một đặc tính của học sinh Pháp. Khi tham dự các test quốc tế của tổ chức Hợp tác và Phát triển châu Âu OCDE, đa số học sinh Pháp chọn cách không-trả lời thay vì chọn cách có thể sai, các em học sinh Pháp chiếm số đông trong đám ngồi im thin thít hơn là rơi vào nguy cơ sai lầm.

2 Tác giả chứng minh rằng đường lối chính trị của chính quyền Vichy không chỉ là hệ quả của những áp lực và mệnh lệnh của quân chiếm đóng.

Bỏ môn lịch sử làm gì?

Bỏ môn lịch sử làm gì?

Người Buôn Gió

Bộ Giáo Dục Việt Nam đã đưa ra một dự kiến bỏ môn Lịch Sử trong giảng dạy, chuyển môn này vào phần Giáo Dục Công Dân. Một cuộc hội thảo chính thức đã diễn ra , theo như lời của sử gia Dương Trung Quốc thì hội thảo này chủ đề là.

“Tích hợp giáo dục lịch sử, giáo dục quốc phòng an ninh và giáo dục công dân hợp thành môn công dân với Tổ quốc trong chương trình giáo dục phổ thông mới” do Bộ GD-ĐT tổ chức ngày 3-11”.

Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã lên tiếng phản đối dữ dội trước dự thảo này của bộ giái dục Việt Nam. Từ giáo sư Phan Huy Lê, sử gia Dương Trung Quốc đến nhiều nhân sĩ, trí thức khác.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Cơ nguyên phó chủ nhiệm khoa lịch sử trường đại học sư phạm Hà Nội cho rằng việc làm này là có tội với tổ tiên, đất nước. Còn giáo sư Phan Huy Lê gọi đó là thủ tiêu môn lịch sử, ông sử gia Dương Trung Quốc bày tỏ nhẹ nhàng hơn rằng ông thất vọng việc bỏ môn lịch sử.

Thực tế cho thấy nhiều năm trở lại đây học sinh không thiết tha gì với môn lịch sử. Đỉnh điểm kỳ thi hồi tháng 7 năm 2015 mới đây tại một điểm thi chỉ có môn thí sinh thi môn lịch sử, và cần đến 66 người coi cuộc thi này.

Không ai học như vậy, bỏ cũng là đúng. Nhưng trước tiên phải đi ngược lại vấn đền là tại sao học sinh không muốn học. Nguyên nhân do đâu?

Nguyên nhân môn lịch sử VN không thu hút được học sinh, bởi nó được soạn  theo ý đồ chính trị của Đảng CSVN, của Ban tuyên giáo ĐCSVN…những nơi chỉ có lừa đối, tuyên truyền một chiều ngự trị, miễn sao là có lợi cho vai trò cầm quyền của Đảng. Ở môn học này những phần về lịch sử Việt Nam thời xưa được dạy sơ sài , chẳng hạn đến Hai Bà Trưng đánh giặc nào cũng không được nói rõ.

Như tấm bia lớn để  giữa nghĩa trang liệt sĩ hy sinh trong cuộc chống Trung Quốc xâm lược ở biên giới phía Bắc chỉ được ghi là hy sinh, hay những tâm bia tội ác chống quân Trung Quốc bị đục bỏ. Hai Bà Trưng cũng chỉ được ghi chung chung là đánh quân xâm lược. Ngược lại thì khắp nơi trên đất Việt Nam đầy rẫy tấm bia ghi tội ác đế quốc Mỹ, sách giáo khoa cũng chi tiết vậy. Lịch sử Việt Nam cả ngàn năm chống chọi trước âm mưu thôn tính của Trung Quốc. Bỏ môn lịch sử đi tức là xoá ký ức của dân tộc, làm lãng quên sự cảnh giác trước âm mưu xâm lược của Trung Quốc. Những cuộc kháng chiến chống phương Bắc đầy rẫy những hình ảnh oai hùng, có tác động khơi dậy tính dân tộc quật cường sẽ bị xoá bỏ.  Nếu nhìn thấy việc các đài truyền hình Việt Nam, các nhà xuất bản ở Việt Nam cho ra liên tiếp và trình chiếu những tác phẩm của Trung Quốc, chúng ta có thể thấy đây hẳn là một ý đồ có tính toàn diện thôn tính tư tưởng người Việt, tẩy não cả một dân tộc nhằm mục đích thay thế hình ảnh Trung Quốc đầy dã tâm bằng một Trung Quốc thân thiện với Việt Nam.

Từ thời Hai Bà Trưng đánh giặc nào không biết, đến chiến tranh biên giới chống quân Trung Quốc  hay sự kiện Hoàng Sa, Trường Sa bị Trung Quốc cướp không có trong sách giáo khoa. Thay thế vào đó là quan hệ Việt Trung mười sáu chữ vàng, hữu nghị mà Đảng nhồi vào sách giáo dục công dân.  Chắc hẳn thế hệ sau này sẽ chỉ biết đến một Trung Quốc tốt bụng và người anh em thân thiết với đảng cộng sản Việt Nam.

Cùng với bán tài nguyên, đất đai, biển đảo cho Trung Quốc. ĐCSVN đang rắp tâm bán nốt tư tưởng dân tộc cho Trung Quốc qua việc bỏ môn lịch sử bằng một thủ đoạn thâm hiểm là đầu tiên dạy sơ sài, dối trá cho học sinh chán. Tiếp theo vin vào lý do học sinh không muốn học để bỏ môn này, gom vào môn giáo dục công dân. Một cái tên nghe đã thấy nặng mùi tuyên truyền, nhồi nhét tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam. Học sinh  Việt Nam sẽ không được giáo dục theo truyền thống tổ tiên nữa mà giáo dục thành con người của CNXH, con người của Đảng, của Mác, Lê Ninh, Hồ Chí Minh.

Chính phủ Việt Nam nói rằng hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đời này không đòi được, thì để đời con cháu sau này đòi. Nhưng với sự giáo dục như thế này thì liệu rằng con cháu đời sau lấy tinh thần nào để làm động lực đòi lại hai quần đảo ấy? Cứ cái đà giáo dục, tuyên truyền đang diễn ra thì vài mươi năm nữa có khi thế hệ sau ở Việt Nam xin sát nhập vào Trung Quốc cũng chẳng có gì là ngạc nhiên. Bởi diễn biến tâm lý về mặt tư tưởng ấy đã được sắp thành lộ trình từ hàng chục năm trước giữa Cộng Sản Việt Nam và Cộng Sản Trung Quốc.

Bỏ môn lịch sử, mục đích duy nhất của chế độ CSVN ngày nay là nằm trong kế hoach thôn tính tư tưởng, nô lệ hoá dân tộc vào Trung Quốc sau này.

Đòi hỏi giữ nguyên môn lịch sử chưa đủ, cần phải đòi hỏi cải cách giáo trình môn học này, đưa những bài học chân thực và khách quan trong lịch sử vào giảng dạy. Nhà văn nổi tiếng Gamzatov nói rằng ” nêú anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, tương lai sẽ bắn vào anh bằng đạn đại bác ”. CSVN còn vượt quá hơn câu thành ngữ ấy, bằng cách xoá sổ quá khứ của dân tộc. Bằng một cuộc tẩy não mà chỉ có chế độ độc tài, phát xít hay dùng đến.

Hãy nghe lời tâm tình của Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Quốc Sử trả lời báo Một Thế Giới.

”Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống. Hầu hết những gì diễn ra hôm nay đều có nguồn cội, căn nguyên từ quá khứ, hay nói cách khác đó là sự tiếp nối của quá khứ. Bởi thế, muốn hiểu hiện tại, muốn hành xử cho đúng, không lệch lạc trong tương lai thì phải soi chiếu vào lịch sử.

Còn môn lịch sử, nó sẽ giúp chúng ta tìm hiểu quá khứ một cách có hệ thống. Tuy nhiên, có nhận thức đúng về quá khứ hay không còn phụ thuộc vào quan điểm và phương pháp nhận thức, quan điểm và phương pháp nghiên cứu lịch sử, dạy và học sử của mỗi người.

Đất nước, cộng đồng hay cá nhân nào cũng cần đến vai trò của lịch sử. Với dân tộc Việt Nam, việc tìm hiểu lịch sử còn quan trọng hơn nhiều, bởi lẽ đất nước ta luôn bị đe dọa, xâm lăng, ngay cả lúc này. Vì vậy, việc tìm hiểu, dạy và học lịch sử là một trong những vấn đề sống còn của mỗi người trong cộng đồng dân tộc. Hơn nữa, Việt Nam đang ở trong thời kỳ hội nhập, học sử là để hiểu mình, hiểu người, giúp chúng ta biết mình đang ở tầm vóc nào, hiểu rõ bạn bè và kẻ thù của mình, từ đó sẽ hội nhập tốt hơn.”

Ở cương vị người trong nước, có lẽ phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Quốc Sử chỉ khái quát chung được đến thế, vì ngại vạch rõ  mưu đồ của ĐCSVN. Nhưng dù chỉ khái quát thì cũng dễ thấy quan điểm khoa học đúng đắn của ông trình bày đại diện cho rất nhiều tâm tư của người dân Việt Nam.

CSVN đã bán hết phần xác thịt của đất nước như tài nguyên, chủ quyền cho Trung Quốc. Giờ đang đến lúc CSVN bán phần linh hồn dân tộc cho bọn quỷ dữ ngoại bang phương Bắc. Mọi người dân cần nhìn rõ thủ đoạn nham hiểm này để cất tiếng nói giữ gìn được sinh khí của dân tộc, hồn thiêng của sông núi. Không thể làm ngơ cho Cộng Sản, một thứ quái thai của loài người lộng hành, tác quái , bất chấp cả lương tri, đạo lý  mà tự tung, tự tác như vậy được.