Câu chuyện hòa giải

Câu chuyện hòa giải

  Nguyễn Quang Dy

“Nhân lễ Giáng sinh 2015, xin kinh tặng các cựu chiến binh của cả hai phía đã thoát khỏi ngây thơ (innocence) và trưởng thành (mature) từ cuộc Chiến tranh Việt Nam, để trở thành các sứ giả của hòa bình và hòa giải” (Nguyễn Quang Dy)

 Đất nước đã thống nhất nhưng dân tộc vẫn chưa hòa giải. 40 năm sau, vết thương chiến tranh vẫn chưa lành, đất nước vẫn chia rẽ và tụt hậu (trước nguy cơ Bắc thuộc), và con người đối xử với nhau (và với thiên nhiên) ngày càng vô cảm và bạo lực. Muốn hòa giải, phải xóa bỏ cực đoan trong tư duy, từ bỏ hận thù trong lòng và bạo lực trong hành động, để đất nước độc lập, dân chủ và giàu mạnh, để người dân hạnh phúc và ấm no (như mong ước của cụ Hồ).

Hòa giải với Mỹ

20 năm sau chiến tranh, Việt Nam và Mỹ đã chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao (11/7/1995), tuy dư chấn chiến tranh vẫn chưa hết. Đến năm 2000 (thực sự là 2007) hai nước mới chính thức bình thường hóa quan hệ thương mại (PNTR). Thậm chí 40 năm sau, bóng ma chiến tranh vẫn còn ám ảnh cả hai phía, nhiều người vẫn còn là “tù binh của quá khứ”. Hòa giải khó hơn và lâu hơn bình thường hóa. Nó là một quá trình đau khổ.

Kỷ niệm 20 năm bình thường hóa, nhiều người quên rằng năm 1978, Việt nNm đã bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa với Mỹ (chỉ trong gang tấc) nên đã dẫn đến bi kịch “Chiến tranh Đông dương lần thứ ba” với “brother enemy” (Trung Quốc) và “đồng minh” (Khmer Đỏ) được Mỹ, Phương Tây và ASEAN ngầm ủng hộ. Chậm hòa giải và bình thường hóa với Mỹ đã dẫn đến bi kịch chiến tranh một lần nữa, “vắt kiệt máu” một dân tộc vốn đã kiệt sức.

Còn bây giờ, Viêt Nam không còn lựa chọn, phải thỏa thuận tham gia TPP để cứu vãn nền kinh tế đang khủng hoảng và lệ thuộc quá sâu vào Trung Quốc, và để trở thành đối tác chiến lược của Mỹ nhằm cân bằng và đối trọng với Trung Quốc đang đe dọa chủ quyền. Nhưng bóng ma chiến tranh vẫn còn ám ảnh, làm nhiều người sợ “diễn biến hòa bình” như sợ một “con ngoáo ộp” đối với những người mắc chứng tâm thần phân liệt (“vừa đ…vừa run”). Trong tâm thức, họ vẫn sợ Mỹ lấy mất cái “bảo bối XHCN” đã bị mối xông mục ruỗng.

Người ta nói “Chiến tranh không chấm dứt khi ngừng tiếng súng” (diễn văn của đại sứ Pete Peterson, 2001). Chiến tranh chỉ thực sự chấm dứt khi hai bên hòa giải được với nhau. Nhưng hòa giải không chỉ diễn ra trên bàn đàm phán, giữa hai chính phủ, mà nó còn diễn ra trên chiến trường xưa, giữa những người cựu chiến binh đã từng bắn giết lẫn nhau, và trong lòng những người thân của họ, ở cả hai phía. Nó đòi hỏi vươt qua thù hận.

Chính những cựu chiến binh lại ít thù hận và dễ hòa giải. Nhà văn Wayne Karlin (ở Maryland) và đạo diến Trần Văn Thủy (ở Hà Nội) là một ví dụ. Wayne từng là xạ thủ súng máy trên trực thăng, săn lùng Việt Cộng tại chiến trường Quảng Nam. Thủy là lính quay phim Việt Cộng, từng chạy trốn trực thăng và thoát chết nhiều lần tại chiến trường đó. Lúc đó họ đã có thể giết nhau (như những người khác). Nhưng họ đã sống sót, và sau chiến tranh đã tình cờ gặp nhau và trở thành bạn thân. Họ đã viết truyện, làm phim về chiến tranh, nhưng để kêu gọi hòa bình và hòa giải. Tình bạn của họ là một câu chuyện hòa giải bằng xương bằng thịt.

John Kerry, John McCain, Pete Peterson, Bobby Muller (và nhiều người khác) cũng là những cựu chiến binh, đã từng bị thương, bị tù đày, bị mất đôi chân tại chiến trường Việt Nam. Họ có quyền thù hận phía bên kia, nhưng chính họ đã dẫn đầu quá trình hòa giải. Họ khác với Robert McNamara đã từng tham chiến trong văn phòng máy lạnh, nhưng phải 20 năm sau (1995) ông ấy mới đủ dũng cảm hòa giải với chính mình, để thừa nhận sai lầm.

Thomas Vallely (một cựu chiến binh ở Massachusetts), đã nói tại Đà Nẵng năm 1985 (trong phim tài liệu của Northern Lights), “Chính tại Việt Nam tôi đã hiểu ra rằng… chúng ta không nên đưa thanh niên vào chỗ chết, chỉ vì lòng tự hào của mấy lão già” (It is in Vietnam that I have learned … We should not be in the businees of sending young men to die for old men’s pride”. Nhưng người Mỹ vẫn không học được bài học đó. Họ tiếp tục đưa thanh niên Mỹ vào chỗ chết ở Iraq và Afghanistan và bị sa lầy taị đó (như trước đây tại Việt Nam). Họ đã không tiêu diệt được khủng bố mà còn làm cho ISIS mạnh lên, trở thành hiểm họa toàn cầu.

Hòa giải thực sự phải toàn diện, không chỉ bao gồm ngoại giao, thương mại, đầu tư, mà còn cả quân sự, chính trị, văn hóa, nghệ thuật, giáo dục… Sau 20 năm bình thường hóa, đã có 16.500 sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ (đông nhất trong số các nước Đông Nam Á). Dự án Đại học Fulbright (mà chương trình FETP là nòng cốt) cuối cùng đã được hai chính phủ chấp thuận, sau bao nhiêu năm không tiến triển được bước nào (có lẽ vì sợ “diễn biến hòa bình”). Cùng với thỏa thận TPP, Đại học Fulbright là một tin mừng. Hòa giải thực sự phải dựa trên hợp tác toàn diện, để xây dưng cả “sức mạnh mềm” lẫn “sức mạnh cứng”.

Hòa giải với Trung Quốc

 Sau một thập niên coi nhau như “kẻ thù nguy hiểm nhât” trong bi kịch “Chiến tranh Đông dương lần thứ ba” (1979-1990), Việt Nam đã bình thường hóa với Trung Quốc, với thỏa thuận Thành Đô (9/1990) đi vào lịch sử, mở ra “một thời kỳ bắc thuộc mới nguy hiểm” (theo cố ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch). Đó là quá trình bình thường hóa “không bình thường”, dựa trên tư duy cực đoan và ấu trĩ vì ý thức hệ (chứ không phải vì lợi ích quốc gia). Họ đã nhảy từ thái cực này sang thái cực khác, từ anh em khăng khít “như môi với răng” đã trở thành “kẻ thù nguy hiểm nhất”, rồi nay lại trở thành đồng minh chiến lược, “đồng chí bốn tốt” với “16 chữ vàng”.

Quá trình bình thường hóa đó dựa trên một tầm nhìn thiển cận đầy ngộ nhận, giữa lãnh đạo hai nước cộng sản, chứ đâu phải hòa giải giữa hai dân tộc láng giềng, sau một cuộc chiến đẫm máu. Còn nhớ năm 1978-1979, gần một triệu người Hoa đã từng sinh sống tại Việt Nam suốt mấy thế hệ bỗng nhiên trở thành “nạn kiều” trong một cuộc chiến tranh mà chính họ không hiểu, nhưng là nạn nhân vô tội, bị xua đuổi khỏi Việt Nam trong một chiến dịch “bài Hoa” tàn nhẫn. Tuy không thay đổi được quá khứ, nhưng phải hòa giải với nhau để bỏ qua hận thù, mới có thể bắc nhịp cầu mới cho một tương lai tử tế hơn. Bởi vì hận thù giữa hai dân tộc láng giềng là mồi ngon cho chủ nghĩa dân tộc cực đoan và bành trướng bá quyền.

Chỉ bình thường hóa chính thức giữa hai nhà nước (dựa trên ý thức hệ để duy trì chế độ), mà thiếu hòa giải thực sự giữa hai dân tộc (dựa trên hợp tác bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau) thì không thể bền vững. Bằng chứng là chỉ sau hai thập niên, quan hệ hai nước lại rạn nứt và khủng hoảng, trước nguy cơ xung đột mới tại Biển Đông và biên giới. Những mâu thuẫn tiềm ẩn bị che đậy mà không được hóa giải, sẽ lại bộc lộ, trở thành nguy hiểm hơn.

Nếu so sánh, người ta dễ thấy có sự bất cập giữa hai quá trình hòa giải với Mỹ và Trung Quốc. Trong khi đối với Mỹ, hòa giải giữa hai chính phủ chậm chạp và khó khăn như bị trầm cảm hay ma ám, thì đối với Trung Quốc, hòa giải giữa hai đảng lại hấp tấp và nông nổi như ngáo đá (uống phải “thuốc lắc”). Phải chăng là vì ý thức hệ? Trong khi đó người dân Việt Nam lại dễ hòa giải và hòa hợp với người Mỹ (tuy xa) hơn là với người Trung Quốc (tuy gần). Phải chăng là do sức mạnh mềm (như thể thao, âm nhạc, phim ảnh, giáo dục, và quyền con người) là những gia vị thiết yếu làm xúc tác cho quá trình hòa giải và hòa hợp giữa các dân tộc?

Trung Quốc có rất nhiều tiền và hàng hóa (là sức mạnh cứng), nhưng lại thiếu những thứ gia vị đó (là sức mạnh mềm) để hấp dẫn người dân (cả Việt Nam lẫn Trung Quốc). Tại sao nhiều người Việt Nam (và Trung Quốc) không muốn sống ở đất nước mình, mà cứ muốn di cư sang Mỹ và các nước phương Tây khác? Không phải chỉ có người dân, mà cả các quan chức trung thành với chế độ cũng đang làm như vậy (sau khi tranh thủ vơ vét làm giàu).

Có thể rút ra mấy nhận xét. Thứ nhất, một xã hội tuy giàu có về vật chất nhưng lại nghèo nàn và bất ổn về tinh thần không phải là một môi trường đáng sống. Thứ hai, không thể thực sự hòa giải với bên ngoài, nếu không thực sự hòa giải với bên trong. Thứ ba, xét cho cùng thì hòa giải với bên ngoài hay với bên trong đều dựa trên cùng một tiền đề là phải xóa bỏ hận thù và định kiến, cực đoan và bạo lực, tham lam và mù quáng (hay “tham, sân, si”).

Hòa giải dân tộc

 Trong khi Việt Nam đã chính thức bình thường hóa và hòa giải (được một phần) với Mỹ và Trung Quốc, thì đáng tiếc là hai cộng đồng người Việt (trong nước và ngoài nước) vẫn chưa hòa giải được với nhau. Thậm chí trong cùng một cộng đồng, các phe nhóm khác nhau vẫn chia rẽ chống đối nhau kịch liệt như kẻ thù. Phải chăng đó là bản chất cực đoan của người Việt (do cội nguồn lịch sử) không chấp nhận trung lập (hay Trung đạo).

HOA GIAI

Xét về bản chất thì những người cộng sản cực đoan và chống cộng cực đoan đều rất giống nhau, vì cùng mắc căn bệnh tâm thần phân liệt và hoang tưởng rất khó điều trị. Câu chuyện “Terror in Little Sài Gòn” là một ví dụ (về phía “bên kia”), đến bây giờ vẫn chưa hòa giải và hóa giải được. Câu chuyện “Chân dung quyền lực” là một ví dụ khác (về phía “bên này”), phản ánh tranh chấp quyền lực liên miên hầu như không có hồi kết. Có lẽ đó là sự khác biệt căn bản giữa người Việt Nam với người Miến Điện, khi cần phải hòa giải vì lơi ích dân tộc. Trong khi họ đặt lợi ích dân tộc lên trên, thì chúng ta đặt lợi ích dân tộc xuống dưới.

Trong khi bỏ qua những vấn đề lớn liên quan đến vận mệnh quốc gia, thì nhiều người vẫn cực đoan và cố chấp về những vấn đề cụ thể, không chịu nhân nhượng (như nguyên tắc cứng nhắc). Có lẽ sự nhầm lẫn giữa mục đích và phương tiện, giữa chiến lược và sách lược là một nguyên nhân, mà suy cho cùng đều do cái gốc cực đoan và cố chấp. Kinh tế thị trường “theo định hướng XHCN” thực chat chỉ là cái vỏ che đậy độc quyền và lợi ích nhóm.

Thật khó lý giải tại sao người Việt sẵn sàng “bỏ qua quá khứ” (dù nói miệng) để hòa giải với người Mỹ, nhưng giữa người Việt với nhau lại không thể bỏ qua quá khứ và hận thù. Đối với tội ác chiến tranh của TQ thì dễ dàng “quên” không nhắc tới (kể cả trong sách giáo khoa), nhưng lại nhớ dai nhấn mạnh tội ác chiến tranh của Mỹ trong phim ảnh và tại các bảo tàng chiến tranh. Và sau 40 năm, vẫn tiếp tục phân biệt đối xử với những người “lính ngụy”, kể cả khi họ đã chết (như đối với “nghĩa trang ngụy” tại Biên Hòa). Điều đó vừa không phù hợp với truyền thống dân tộc trong lịch sử (“lấy trí nhân để thay cường bạo”) vừa không đúng với tinh thần “hòa giải, hòa hợp dân tộc” (trong Hiệp định Paris, 1973).

Để hóa giải hố ngăn cách giữa cộng đồng người Việt trong nước và ngoài nước, không phải chỉ bằng điều chỉnh chủ trương đường lối (như “nghị quyết 36”) mà phải bằng hành động cụ thể có thiện chí thực sự. Tuy không thay đổi được quá khứ đau buồn (như trại cải tạo sau 1975), tuy không cần phải “đốt tráp” (đựng danh sách phản động) như vua Trần ngày xưa, nhưng cần phải hòa giải với những cựu chiến binh của “phía bên kia”, dù họ còn sống hay đã chết (tại Biên Hòa hay tại Hoàng Sa). Tại sao các cựu chiến binh Việt Nam và Mỹ có thể hòa giải được với nhau, mà các cựu chiến binh Việt nam của hai phía lại không làm được?

Nguyên nhân và lối thoát

 Muốn hòa giải dân tộc, trước hết phải hiểu tại sao quá trình này vẫn khó khăn và thất bại, mặc dù đã có “chủ trương” (bằng văn bản). Nếu coi chủ trương đó chỉ là sách lược để lừa nhau nhằm giành lợi thế trong trò chơi quyền lực, thì đã đến lúc cả hai phía phải thực sự thành tâm với nhau. Bởi vì, hòa giải dân tộc không phải là sách lược, mà là điều kiện sống còn để thay đổi vận mệnh quốc gia. Trên thế giới có quá nhiều bài học kinh nghiệm.

Đối với Việt Nam thì việc hòa giải lại càng khó, đòi hỏi một tầm nhìn xa hơn và dân trí cao hơn. Lịch sử Viêt Nam từ thời Hậu Lê trở đi (cho đến gần đây) có nhiều bước ngoặt bất hạnh, dẫn đến chia cắt đất nươc thành hai miền, chiến tranh và xung đột liên miên, vừa với kẻ thù bên ngoài (Trung Quốc) vừa với kẻ thù bên trong (nội chiến). Trong bối cảnh bất an đó, người Việt đã bị xô đẩy theo xu hướng ngày càng cực đoan và bạo lực, luôn nghi kỵ và hận thù, xa dần tư tưởng Trung đạo và nhân đạo mà đỉnh cao là triều đại Lý và Trần. Các triều đại sau này ngày càng suy thoái, không những do bài ngoại, mà còn do chấp nội, thành hủ nho.

Trong bối cảnh lịch sử đó, các cơ hội cải cách và chấn hưng đã bị thui chột và thất bại, nên Việt Nam mới dễ dàng trở thành thuộc địa của Pháp, khác với Nhật Bản đã cải cách thành công dưới thời Minh Trị, trở thành một cường quốc mới ở Đông Á. Xu hướng cách mạng ở Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng cách mạng cực đoan du nhập từ Pháp, Nga, và Trung Quốc, đặc biệt là thời Stalin và Mao Trạch Đông. Đối với trí thức và người giàu thì “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Đối với kẻ thù thì “thù muôn đời muôn kiếp không tan”. Những tư tưởng cực đoan đó như thuốc độc ngấm dần vào cơ thể và tâm thức người Việt.

Vì vậy, muốn thay đổi chỉ có cách phải giải độc, giải thoát khỏi tư tưởng cực đoan và cuồng tín, lòng hận thù và nghi kỵ, thói quen bạo lực và tham lam. Cực đoan và cuồng tín là biểu hiện của tầng văn hóa sơ khai và một não trạng bệnh hoạn, là mảnh đât tốt cho hận thù và bạo lực. Vì vậy, một quốc gia văn minh không thể gồm các cộng đồng thừa hận thù nhưng thiếu nhân ái và không tôn trọng nhân cách và nhân quyền. Chừng nào con người chưa bớt cố chấp, chưa thể sống tử tế và nhân ái với nhau thì chưa thể có hòa giải thực sự. Muốn hòa giải được với người khác, thì trước hết mỗi người phải tự hóa giải chính mình.

Sắp đến đạị hôi Đảng XII, vẫn còn nhiều người muốn đóng góp ý kiến. Dù sao, đó là một dấu hiệu đáng mừng, còn hơn là không có ai quan tâm vì người dân vô cảm quay lưng lại với thời cuộc. Vấn đề là có người nói, nhưng phải có người nghe, vì vô cảm không nghe còn nguy hiểm hơn là vô cảm không nói. Quá trình phản biện về chính trị cũng phản ánh thực trạng hòa giải của đất nước. Hy vọng Viêt Nam không thua quá xa Miến Điện.

Sắp đến ngày Thiên chúa Giáng sinh, và cũng sắp hết năm Ất Mùi đầy kịch tính, thời điểm giao mùa của “thay đổi khí hậu” đang trở thành mối lo toàn cầu. Hy vọng mỗi người bớt cực đoan một chút, bớt thù hận một chút, bớt tham lam một chút và bớt chấp đi môt chút, may ra đất nước này mới có thể hòa giải và thoát khỏi kiếp nạn (karma) Bắc thuộc.

NQD. 15/12/2015

Taac giả gửi cho viet-studies ngày 15-12-15

Bình Phước: Mê man bất tỉnh sau khi ‘gặp’ công an

Bình Phước: Mê man bất tỉnh sau khi ‘gặp’ công an
Nguoi-viet.com

PHƯỚC LONG (NV) “Bị công an mời về trụ sở lấy lời khai liên quan đến vụ mất điện thoại, từ một thanh niên khỏe mạnh, Linh mê man bất tỉnh, phải thở bằng máy,” theo báo Phụ Nữ hôm Thứ Tư, 16 tháng 12, 2015.

Tờ Phụ Nữ thuật lời đại diện bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước xác nhận, “Bệnh viện đã tiếp nhận bệnh nhân Ðỗ Hoài Linh (ngụ khu phố 6, phường Long Phước, thị xã Phước Long) trong tình trạng hôn mê sâu. Hiện tại bệnh nhân Ðỗ Hoài Linh đang được theo dõi cấp cứu điều trị tại Khoa Chăm Sóc Ðặc Biệt và Chống Ðộc của bệnh viện.”


Anh Ðỗ Hoài Linh đang được theo dõi điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước trong tình trạng mê man bất tỉnh. (Hình: báo Phụ Nữ)

Ông này có thể đã “chết lâm sàng” và chỉ được kéo dài sự sống thực vật nhờ “thở máy” sau khi bị công an CSVN tỉnh Bình Phước tra tấn ép cung.

Tờ Phụ Nữ dẫn thông tin từ anh Ðỗ Tấn Vũ, em trai bệnh nhân Ðỗ Hoài Linh, cho biết, anh Linh nhập viện sau khi bị công an phường Long Phước, thị xã Phước Long lấy lời khai liên quan đến một vụ mất điện thoại di động.

Nguồn tin thuật lời anh Ðỗ Tấn Vũ cho biết, “Khoảng 22 giờ ngày 1 tháng 12, anh Ðỗ Hoài Linh ngồi nhậu cùng nhóm với anh Thành, anh Minh và anh Tài tại quán cóc ở bãi giữ xe của trung tâm thương mại Phước Bình, thị xã Phước Long.”

“Tàn cuộc nhậu, anh Thành và anh Tài đứng dậy đi trả tiền nhậu, còn anh Linh và anh Minh ngồi tại bàn. Tuy nhiên, sau khi trả xong tiền, anh Tài quay trở lại bàn nhậu thì phát hiện chiếc điện thoại Iphone 5S của anh bỏ ở góc bàn bỗng dưng biến mất. Anh Tài hỏi chuyện, anh Linh nói thấy nó nằm góc bàn bên kia, sợ nước nên anh lấy để qua góc bàn bên này nhưng không hiểu sao giờ không thấy nữa. Bốn người nói chuyện qua lại, bực mình vì cùng nhậu với nhau bỗng dưng bị mất điện thoại, anh Tài lên công an phường trình báo sự việc.”

Nhận được tin báo, theo tờ Phụ Nữ tường thuật, “Công an phường Long Phước đến hiện trường xem xét, ghi nhận sự việc. Tại đây, công an không tìm thấy điện thoại trong người anh Linh, ông Minh cũng như Thành. Sau đó, công an phường Long Phước mời lần lượt Linh, ông Minh và Thành về làm việc. Khuya ngày 5 tháng 12, anh Vũ nhận được tin báo từ một cán bộ công an thị xã Phước Long, rằng anh Linh đang nằm ở bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước trong tình trạng nguy kịch. Vị cán bộ này báo để người nhà thu xếp công việc xuống chăm sóc anh Linh.”

Báo Phụ Nữ nói, “Khi anh Vũ đến bệnh viện thì thấy anh Linh nằm mê man bất tỉnh và phải thở bằng máy. Quan sát kỹ anh thấy toàn thân người anh trai mình có nhiều vết bầm tím, đầu gối có vết xước, đặc biệt đầu sưng to.”

Thấy sự việc bất thường, tờ Phụ Nữ kể tiếp rằng, “Anh Vũ thắc mắc với vị bác sĩ điều trị thì được trả lời thông tin ban đầu khiến anh Linh bị hôn mê sâu là do anh Linh bị men gan cao và suy thận cấp. Tuy nhiên, các bác sĩ tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước cho biết, nếu bệnh nhân bị bệnh suy thận cấp và men gan cao thì không biểu hiện ra ngoài da bằng những vết bầm tím hoặc sưng đầu một cách bất thường như trường hợp bệnh nhân Ðỗ Hoài Linh.”

Còn chiếc điện thoại Iphone 5S của anh Tài thì, “ngay sau khi anh Linh, anh Thành và anh Minh bị công an mời về trụ sở làm việc một lúc, bà Trương Thị Nha (khu phố 3, phường Phước Bình, chủ quán ăn-uống) đi dò tìm thì phát hiện điện thoại nằm ở bãi cỏ cách nơi bàn nhậu của anh Tài khoảng 10m. Tuy nhiên, chiếc điện thoại bị ngấm nước và đã tắt nguồn. Bà Nha đã lập tức trình báo sự việc cho anh Tài và công an phường Long Phước.”

Tra tấn ép cung nghi can vẫn rất phổ biến tại Việt Nam dù Bộ Công An từng ra chỉ thị cấm. Việt Nam cũng đã ký vào công ước quốc tế Chống Tra Tấn của LHQ hồi cuối năm 2013 nhưng không thấy có gì thay đổi từ đó đến nay. (TN)

‘Trận đánh’ nhà hàng Mỹ Cảnh

‘Trận đánh’ nhà hàng Mỹ Cảnh

Tạp ghi Huy Phương

(Để nhớ lại, nhân vụ khủng bố giết 129 người ở Paris)

Nguoi-viet.com

Ngày 14 Tháng Mười Một, sau vụ khủng bố ở Paris làm thiệt mạng 129 người, ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nhà nước CSVN, gửi điện chia buồn và thăm hỏi tới Tổng Thống Pháp Francois Hollande; Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng gửi điện chia buồn và thăm hỏi tới Thủ Tướng Pháp Manuel Valls. Cùng ngày, ông Phạm Bình Minh, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại Giao, cũng gửi điện chia buồn tới Ngoại Trưởng Pháp Laurent Fabius.

Nhà hàng Mỹ Cảnh trên sông Sài Gòn. (Hình minh họa: pronto.au104.org)

Trong khi đó, phát ngôn viên của chính phủ Việt Nam đã lớn tiếng: “Chúng tôi hết sức bàng hoàng và lên án mạnh mẽ các cuộc tấn công đẫm máu nhằm vào dân thường xảy ra vào ngày 13 Tháng Mười Một, 2015 tại Pháp khiến nhiều người bị thiệt mạng và bị thương. Việt Nam xin chia sẻ những đau thương, mất mát to lớn mà chính phủ, nhân dân Pháp cũng như gia đình những nạn nhân đang phải hứng chịu. Chúng tôi tin tưởng rằng với những nỗ lực mà chính phủ và nhân dân Pháp đang triển khai, những kẻ thủ ác phải bị trừng trị đích đáng!”

Đây là những giọt “nước mắt cá sấu” của tập đoàn CSVN, đồng minh anh em, dùng cùng sách lược với ISIS, nhỏ lệ thương xót Paris.

Chúng ta cũng đã biết bọn khủng bố tấn công vào Paris, ngoài các mục tiêu có đông người như nhà hát Bataclan, sân vận động Stade de France, bọn chúng còn dùng súng bắn xối xả vào các nhà hàng ăn, quán cà phê gồm Bar Le Carillon: một người chết, Le Petit Cambodge: 12 người chết, La Belle Equipe: 18 người chết, La Casa Nostra: năm người chết.

Bắn súng để giết người, thủ phạm có thể bị bắt, còn đặt mìn định hướng để giết người rồi chạy trốn, còn ghê tởm hơn ngàn lần.

“Chiến công” của ISIS đánh vào những mục tiêu phi quân sự ở Paris, có khác gì “chiến công” đánh vào nhà hàng Mỹ Cảnh trên bến Bạch Đằng, Sài Gòn, 50 năm về trước, đêm 25 Tháng Sáu, 1965 khi Việt Cộng đặt chất nổ để giết khách hàng ăn đang có mặt trên nhà hàng nổi, và giết luôn thường dân ngồi hóng mát hay đi dạo mát bên ngoài hoặc đang đứng chờ phà qua sông, tất cả là 42 người chết và khoảng 81 người bị thương.

Ngay sau đó đài phát thanh Hà Nội đã tuyên dương “thành tích vẻ vang của đội biệt động thành Sài Gòn” và cho rằng “…Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh tại bến Sài Gòn là một chỗ thu hút về đêm của những người Mỹ xâm lược… hàng trăm người Mỹ xâm lược và tay sai đã bị giết hoặc bị thương… Thêm nữa, nhiều xác chết của kẻ xâm lược vẫn còn bị đè dưới bàn ghế và mảnh vỡ của nhà hàng… Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh bị thiệt hại nặng. Một tầu chiến của Mỹ đậu bên cạnh cũng bị nổ tung…”

Năm tên đặc công khủng bố của Việt Cộng đều được tặng thưởng huân chương chiến công. Tên Huỳnh Phi Long (bí danh Huỳnh Anh Dũng) 45 năm sau mới được ra Hà Nội và người ta phải “thốt lên kinh ngạc và thán phục về tài mưu trí, dũng cảm đã thực hiện thắng lợi trận đánh vang dội nhà hàng Mỹ Cảnh Sài Gòn năm 1965.”

Xin dẫn chứng một vài dòng “sử” khủng bố của Việt Cộng để các bạn đọc xa gần, nhất là những người lớn tuổi ở Sài Gòn có thể nhận ra sự láo khoét, trơ tráo của những cái loa tuyên truyền bịp bợm của Cộng Sản:

– “Chủ nhà hàng là một người tên Phú Lâm, một tay sai đắc lực của tình báo CIA.”

– “Cấp trên nhận định phá hủy được nhà hàng này coi như ta đã triệt được một cái vòi của Mỹ-Ngụy và sẽ khoét sâu được mâu thuẫn giữa Mỹ và Ngụy.”

– “Địch lại thường xuyên bố trí hai cảnh sát mang súng tiểu liên canh gác bên cầu thang.”

– “Trên bờ sông bốn tên cảnh sát đứng dàn hàng ngang súng tiểu liên cầm tay, hai tên công an chìm đi lại ngay bãi trống đối diện nhà hàng.”

– “Dưới sông, an ninh hải quân của địch tuần tra liên tục.”

– “Tại các ngã tư địch tăng cường xe bọc thép và bọn lính dã chiến hình thành thế bảo vệ quanh mục tiêu.”

– “Một tầu chiến của Mỹ đậu bên cạnh nhà hàng Mỹ Cảnh cũng bị nổ tung!”

– “Vài phút sau, đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng có mặt và chứng kiến cảnh tan nát này đã lắc đầu thất vọng và ủ rũ cúi đầu!”

Một cái nhà hàng ăn tầm thường trong trăm nghìn nhà hàng ở Sài Gòn vào năm 1965, mà được bố trí cẩn mật như thế sao?

Đánh mìn vào một nhà hàng ăn để giết người không khó. Để phịa ra chiến công, truyền thông Việt Cộng đã tô vẽ cho nhà hàng này thành một chiến lũy hay một pháo đài bằng thép. Sử Cộng Sản mô tả Mỹ Cảnh có cảnh sát chìm nổi, có xe thiết giáp và binh sĩ dã chiến bảo vệ, có an ninh hải quân tuần tra liên tục và một tàu chiến của Mỹ đậu bên cạnh!

Xin thưa với bạn đọc, cũng như những người Sài Gòn có sự hiểu biết và có đôi mắt quan sát, ngay cả Phủ Tổng Thống VNCH hay Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn cũng không thể nào được bảo vệ cẩn mật như nhà hàng Mỹ Cảnh được Việt Cộng mô tả trong sử sách như thế! Điều này, khốn nạn thay, có thể lừa được người dân sống trong vùng “giải phóng” bên kia sông Bến Hải và lũ trẻ con mang “khăn quàng thắp đỏ bình minh” (lời nhạc TCS) mà thôi.

Tôi chỉ nêu ra một trong trăm nghìn chiến công của “cách mạng.” Đặt mìn xe đò, tàu lửa, nửa đêm vào nhà cắt cổ người hoặc thả trôi sông, pháo kích vào trường tiểu học, ám sát các viên chức miền Nam Việt Nam như Giáo Sư Nguyễn Văn Bông và Luật Sư Trần Văn Văn, đập đầu chôn sống dân Huế tay không trong Tết Mậu Thân, cho pháo binh bắn vào đoàn thường dân di tản như “đại lộ kinh hoàng” hay tỉnh lộ 7B, không phải là những cuộc ra quân đối đầu quân sự, mà chính là những sự giết chóc khủng bố.

Hy vọng là chính phủ Việt Nam không treo cờ rũ hay gửi điện văn, hoa, nến để chia buồn và tưởng niệm những nạn nhân của các vụ khủng bố ở Paris, ở Ankara, ở Kuwait… Tôi chỉ yêu cầu một điều, xin các “đồng chí” chịu khó cúi xuống nhìn lại hai bàn tay của mình.

Trung Quốc muốn biến Việt Nam thành ‘chư hầu kiểu mới’

Trung Quốc muốn biến Việt Nam thành ‘chư hầu kiểu mới’

Giới chức Việt Nam chuẩn bị quốc kỳ Trung Quốc và Việt Nam trước lễ đón tiếp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Hà Nội, ngày 6/11/2015.

Giới chức Việt Nam chuẩn bị quốc kỳ Trung Quốc và Việt Nam trước lễ đón tiếp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Hà Nội, ngày 6/11/2015.

VOA Tiếng Việt

15.12.2015

Nhiều nhân sỹ, trí thức có tiếng mới đây đã nhận định như vậy, và cho rằng Trung Quốc đang dùng “những lời hoa mỹ về hòa bình, và hữu nghị” để bành trướng biển Đông.

Trong bức thư ngỏ gửi cho Bộ Chính trị cũng như toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hơn 100 người kêu gọi giới lãnh đạo trong nước phải có “đối sách đúng đắn bảo vệ độc lập, chủ quyền chống mưu đồ và hành vi bành trướng của Trung Quốc”.

Bức thư có đoạn: “Thời gian gần đây, trong khi vẫn dùng những lời hoa mỹ về hòa bình, hữu nghị, nhà cầm quyền Trung Quốc đã có những bước leo thang thực hiện mưu đồ bành trướng trên Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế, không chỉ trắng trợn xâm phạm chủ quyền của Việt Nam mà còn gây bất ổn cho hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới”.

Ông Trần Bang, cựu chiến binh cuộc chiến biên giới Việt – Trung, cho VOA Việt Ngữ biết lý do ông ký vào bức thư ngỏ:

“Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lùi, lùi liên tục. Để mà giữ được quyền lãnh đạo thì họ cứ chấp nhận lùi từng bước, lùi từng bước. Họ cứ nói là giữ nguyên hiện trạng, và sử dụng chiêu bài ‘4 tốt, 16 chữ vàng’ mà Trung Quốc mớm cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Đấy là âm mưu rất là thâm độc, biến Việt Nam trở thành lệ thuộc. Sự lệ thuộc này không những chỉ là lệ thuộc về tư tưởng mà còn về cả kinh tế và rất nhiều thứ nữa. Trung Quốc nó cứ lấn dần. Họ vẫn cứ dùng chiêu bài cộng sản, hai đảng anh em, hai nước anh em để mà xâm lăng. Họ tôn tạo các đảo, xây hải đăng, xây thành phố trên các hòn đảo mà họ chiếm của Việt Nam thì rõ ràng họ đang xâm lược Việt Nam. Phải khẳng định họ là kẻ thù, chứ không thể là bạn được”.

Bức thư ngỏ được công bố vào lúc Việt Nam đang chuẩn bị cho Đại hội đảng lần thứ 12, và theo dự kiến, cuộc họp quan trọng này sẽ chọn ra các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam.

Tuy nhiên, theo nội dung bức thư ngỏ, các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương chuẩn bị trình Đại hội lần thứ 12 “mặc dù viết rất dài nhưng nặng về nhận định và chủ trương sáo mòn, chưa nhìn đúng sự thật, chưa nêu rõ thực trạng hiểm nguy mà đất nước và nhân dân ta đang đối mặt, đặc biệt là chưa phân tích thẳng thắn nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó”.

“ Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lùi, lùi liên tục…Trung Quốc nó cứ lấn dần. Họ [Bắc Kinh] vẫn cứ dùng chiêu bài cộng sản, hai đảng anh em, hai nước anh em để mà xâm lăng. Họ tôn tạo các đảo, xây hải đăng, xây thành phố trên các hòn đảo mà họ chiếm của Việt Nam thì rõ ràng họ đang xâm lược Việt Nam. Phải khẳng định họ là kẻ thù, chứ không thể là bạn được”.

Ông Trần Bang, cựu chiến binh cuộc chiến biên giới Việt-Trung, nói.”

Ngoài ra, thư ngỏ cũng cho rằng sự phát triển của đất nước “bị kìm hãm chủ yếu là do Đảng Cộng sản Việt Nam từ nhiều năm nay dẫn dắt cả dân tộc đi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô-viết dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin”.

Bức thư có đoạn viết: “Đường lối sai lầm theo ý thức hệ cùng với bộ máy cầm quyền nhiều khuyết tật cũng không dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc để có đối sách đúng đắn bảo vệ độc lập, chủ quyền chống mưu đồ và hành vi bành trướng của Trung Quốc”.

Về khả năng hồi đáp của chính quyền đối với thư ngỏ, cựu chiến binh Trần Bang nói:

“Tôi cho rằng họ cũng có tham khảo một chút nào đó. Tuy nhiên là họ vẫn cứ theo lý thuyết cộng sản của họ là dùng sức mạnh. Họ còn nắm được chính quyền, họ còn nắm được quân đội, công an, còn nắm được bạo lực thì chính quyền của họ sẽ theo con đường học thuyết Mác – Lê nin, tức là con đường giành chính quyền bằng bạo lực, và giữ chính quyền bằng bạo lực. Hiện nay họ đang ở thế mạnh so với những người như chúng tôi, những người chỉ có tri thức trong đầu, không có sức mạnh cơ bắp, sức mạnh quân sự. Tôi cho rằng họ chưa chắc đã nghe theo thư ngỏ này, nhưng mà chúng tôi vẫn coi họ là người Việt Nam nên chúng tôi hành xử theo hướng là đấu tranh hòa bình”.

Năm ngoái, khi quan hệ Việt Nam – Trung Quốc rơi xuống mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ vì giàn khoan dầu gây tranh cãi của Bắc Kinh, hàng chục đảng viên lão thành và các nhân sỹ, trí thức có tiếng ở trong nước viết một bức thư ngỏ gửi Ban chấp hành trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó kêu gọi “nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa” của Việt Nam.

Giáo sư Tương Lai, khi ấy, nói với VOA Việt Ngữ rằng đã đến lúc “thức tỉnh” các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam “còn mơ hồ về cái gọi là ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, về những 4 tốt, về những 16 chữ vàng” trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ngoài việc đưa Trung Quốc ra tòa, các đảng viên lão thành còn gợi ý rằng Việt Nam cần chủ động liên kết với các nước khác.

Hàng chục hộ dân lâm cảnh màn trời chiếu đất

Hàng chục hộ dân lâm cảnh màn trời chiếu đất

Hòa Ái, phóng viên RFA
2015-12-15

12380733_440947832765478_1513067742_o-620

Cảnh cưỡng chế khu chung cư ở Quận Bình Thạnh, TP. HCM hôm 15/12

Ảnh do cư dân cung cấp

Your browser does not support the audio element.

Hôm 15/12, những hộ gia đình đầu tiên trong số 50 hộ dân ở khu chung cư Quận Bình Thạnh, TP. HCM lâm cảnh màn trời chiếu đất do bị cưỡng chế mà không nhận được tiền bồi thường để tái định cư.

Ông Trương Văn Chẳng, 61 tuổi, cư dân ở khu chung cư Phường 22, Quận Bình Thạnh, TP. HCM cho biết:

“Hôm nay họ kéo lực lượng gần 400 người xuống cưỡng chế, đuổi ra khỏi nhà khoảng 7 hộ. Không có đồng bạc. Không có nơi tái định cư. Họ đem lực lượng vô, phá cửa xông vào, đuổi người nhà ra ngoài, đồ đạc bị chở đi mất hết. Bây giờ chỉ còn có bộ đồ dính trên người. Thiệt đau xót quá!”

Đó là lời kêu than vừa rồi là của gia đình ông Chẳng cùng 6 hộ gia đình lân cận bị cưỡng chế nhà từ sáng sớm hôm thứ Ba, ngày 15 tháng 12.

Ông Nguyễn Văn Ân, một chủ hộ cũng là nạn nhân trong vụ cưỡng chế, kể lại những gì xảy ra với Đài ACTD:

“ Họ đem lực lượng vô, phá cửa xông vào, đuổi người nhà ra ngoài, đồ đạc bị chở đi mất hết. Bây giờ chỉ còn có bộ đồ dính trên người. Thiệt đau xót quá!
– Ông Trương Văn Chẳng”

“Đọc lệnh xong rồi thì chúng tôi xin chưa tới ngày 15/1 nên yêu cầu ngưng cưỡng chế rồi sau này bàn thảo tiếp khi gặp chủ đầu tư. Họ nhất quyết làm, mang vòi cứu hỏa tới chuẩn bị xịt. Lấy kềm cộng lực cắt, đập cửa. Họ đem cơ động tới khiêng đồ ra, lấy đồng hồ nước, cắt dây điện, lấy đồng hồ điện rồi đập hết. Vừa xong thì lấy sắt có khe, lấy hàn điện hàn ngang rồi lấy hàng rào B40 bọc kín không cho vô nhà. Bà con quay phim bị lấy, đập máy, không cho ghi hình ảnh gì hết”.

Cuộc sống yên ổn của người dân khu chung cư Quận Bình Thạnh bắt đầu bị xáo trộn khi họ nhận được thông báo phải di dời theo “giai đoạn 2” của dự án có tên “13-14” hồi năm 2003 với thông tin sẽ được nhận tiền bồi thường để hỗ trợ tái định cư. Ông Nguyễn Văn Ân nhắc lại nội dung ghi rõ trong tờ thông báo bản sao mà cư dân nhận được từ Thành Ủy:

“Bản photo của UBND TP. HCM có ghi rõ rằng dự án này từ Thanh niên Xung phong bàn giao qua cho Công ty Nông sản Vinh Phát. Vinh Phát có trách nhiệm bồi thường và có trách nhiệm hỗ trợ tái định cư cho người dân. Nếu có sự khiếu kiện thì Công ty Vinh Phát hoàn toàn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”.

Các hộ cư dân đến gặp cơ quan chức năng địa phương và được thông báo giá bồi thường theo khung giá năm 2003 khỏang 15 triệu đồng/m2. Những người nhận tiền phải mua lại căn hộ ở khu chung cư Mỹ An, thuộc Quận Thủ Đức với giá gấp đôi. Một số hộ dân đồng ý nhận tiền bồi thường và bù thêm tiền để chuyển đến ở chung cư được chỉ định. Tuy nhiên, các căn hộ ở đó không đảm bảo chất lượng và họ đang trong quá trình tranh tụng.

50 hộ cư dân còn lại ở khu chung cư Bình Thạnh những năm qua đã nhiều lần yêu cầu cơ qua chức năng cho gặp gỡ với chủ đầu tư dự án là Công ty Nông sản Vinh Phát để thương thuyết về giá cả bồi thường thỏa đáng nhưng nguyện vọng của họ chưa bao giờ được đáp ứng cho đến ngày tiến hành cưỡng chế vào hôm 15 tháng 12 năm 2015.

Người dân lo lắng

12369539_440947819432146_255200309_o-400

Một gia đình ngồi trước căn hộ bị lưới B40 ngăn trong đêm 15 tháng 12. Ảnh do cư dân cung cấp

Cuộc sống bấp bênh không được phép sửa chửa hay kinh doanh, buôn bán vì dự án treo “13-14” này của 50 hộ dân ở khu chung cư Quận Bình Thạnh được mô tả “sống trong tâm trạng bị khủng bố tinh thần” kéo dài từ năm 2003 cho đến nay. Hồi cuối tháng 11, các hộ gia đình nhận được thông báo của Phường 22 rằng sẽ tiến hành cưỡng chế. Các hộ dân đã chạy vạy đến UBND TP. HCM để kêu cứu nhưng họ được yêu cầu trở về Phường 22, Quận Bình Thạnh. Buổi gặp gỡ giữa các hộ dân với Phó Chủ tịch Phường là ông Hồ Phương kết thúc bằng câu nói “Chúng tôi sẽ thực hiện lệnh cưỡng chế như đã thông báo”.

Một bản thông báo cưỡng chế đối với 50 hộ dân từ ngày 12/12/15 cho đến ngày 15/1/16 được dán trên vách tường ngay đầu khu phố. Hàng trăm cư dân sống trong cảnh lo lắng, tuyệt vọng đến khốn cùng. Một bức ảnh Hòa Ái có được cho thấy các cư dân ngồi vật vựa trước hành lang căn hộ của mình đã bị lưới B40 vây kín trong đêm 15 tháng 12. Ông Trương Văn Chẳng than thở với Đài RFA:

“Họ cứ hành xử theo quyền lực của mình gây đau khổ cho người dân. Tôi không hiểu Quận Bình Thạnh và Phường 22, họ coi con người còn thua cọng rác nữa. Xin lỗi người ở tù, đêm người ta còn chổ nằm đàng hoàng mà tại sao gia đình tôi 16, 17 người bị như vầy, chỉ có bộ đồ đi ra khỏi nhà thôi?”

Câu hỏi đặt ra các hộ dân sẽ làm gì trong cảnh màn trời chiếu đất? Cư dân của 7 hộ gia đình bị cưỡng chế đầu tiên trả lời câu hỏi của Hòa Ái rằng họ không không biết làm gì vì không còn niềm tin cũng như không biết bấu víu vào đâu khi trên người chỉ vỏn vẹn 1 bồ độ dính thân. Họ cho biết trước đó đã từng đến Thành Ủy nhờ xem xét nhưng không được giải quyết mà còn bị áp tải lên xe. Ông Nguyễn Văn Khá nhớ lại:

“Hôm lên Ủy ban bị bắt đẩy lên xe. Mấy bà già về bệnh luôn. Còn mấy người trẻ cũng sợ”.

Nỗi sợ hãi không chỉ thế mà sự hoảng sợ sẽ mãi ám ảnh những đứa trẻ thơ lẫn cả những người già gần đất xa trời tại khu chung cư Bình Thạnh khi hàng trăm công an xuất hiện sáng ngày 15 tháng 12 làm thay đổi cuộc đời họ thành những kẻ vô gia cư.

Lời chia sẻ cuối cùng của những cư dân nơi đây mà Hòa Ái ghi nhận được là họ không biết có nên viết đơn gửi Chính phủ xin được cho vào tù vì ít ra họ còn được có chốn ăn ngủ và có nơi che mưa nắng qua ngày.

Về hay ở?

Về hay ở?

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-12-14

000_Hkg10120669

Một buổi lễ tốt nghiệp đại học được tổ chức tại Văn Miếu, Hà Nội vào ngày 18 tháng 11 năm 2014.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Du học là một ước mơ lớn của tất cả những học sinh Việt Nam từ xưa đến nay. Có rất nhiều người đã đỗ đạt thành danh và quay trở về. Nhưng hình như, thời gian đã chứng minh đó là những người của “muôn năm cũ’. Còn những học sinh thời nay, khi có cơ hội nhận được nền nền giáo dục nước ngoài, thì đa số họ chọn con đường ở lại. Điều này gần đây trở thành một vấn đề được đưa ra tranh luận rất nhiều, và có nhiều phản ứng khác nhau về việc “về hay ở”.

Tư duy quản lý cũ kỹ

Trong tuần vừa qua, dư luận trong nước và cả cộng đồng mạng có rất nhiều tranh luận liên quan đến việc Tiến sĩ Doãn Minh Đăng, giảng viên trường ĐH Kỹ thuật-Công nghệ Cần Thơ, người mà truyền thông trong nước cho là đang bị gây khó dễ do nói xấu nhà trường trên facebook cá nhân.

Vấn đề đáng chú ý đó là Doãn Minh Đăng cũng chính là cựu thí sinh của cuộc thi nổi tiếng Đường lên đỉnh Olympia, tốt nghiệp một trường đại học danh giá ở Hà Lan bằng ngân sách của thành phố. Sau đó anh đồng ý về VN công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy.

Sau khi sự việc của Doãn Minh Đăng được nói đến trên truyền thông, rất nhiều những người từng là thủ quân, á quân của Đường lên đỉnh Olympia, lên tiếng về sự lựa chọn ở lại quốc gia mà họ đã tiếp nhận nền giáo dục. Quan điểm của họ nhận được nhiều sự ủng hộ của cộng đồng Việt Nam. Ví dụ như Nguyễn Thành Vinh, á quân của mùa Olympia đầu tiên, sang Úc du học sau khi giành được học bổng của chính phủ Úc. Hiện nay, Nguyễn Thành Vinh đang có cuộc sống và công việc ổn định ở thành phố Perth, miền Tây nước Úc. Trong cuộc trả lời phỏng vấn truyền thông trong nước về sự việc của Tiến sĩ Doãn Minh Đăng, anh nói rằng: “Câu chuyện của Doãn Minh Đăng là một trong những lý do để một số du học sinh như chúng tôi cảm thấy mình cần có những lựa chọn khác mà không nhất thiết phải về nước làm việc.”

Trong rất nhiều những lý do Nguyễn Thành Vinh cho là không nên quay về sau khi học xong, thì câu nhận định “về nước là lãng phí cho cả hai bên’ của cựu thí sinh này gây chú ý nhiều nhất cho dư luận.

Một người nữa, đó là Đỗ Thị Hồng Nhung, á quân mùa thứ hai của Đường lên đỉnh Olympia, hiện tại đang hoàn tất khoá học thạc sĩ ở Phần Lan, việc trở về nước cũng đang được cô suy tính.

Rất nhiều lý do được chính người trong cuộc và dư luận đưa ra. Trong đó, lý do lớn nhất mà theo cuộc khảo sát của viện John Von Newmann thuộc trường Đại học quốc gia VN đưa ra đó là môi trường làm việc ở VN không thích hợp cho việc nghiên cứu và làm việc của họ.

Câu chuyện của Doãn Minh Đăng nói riêng và những du học sinh khác nói riêng, được giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, người từng là một trong ba sinh viên xuất sắc của Việt Nam nhận học bổng du học tại vương quốc Bỉ, và sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy ở châu Âu, ông quay về nước và làm cố vấn cho trường Đại học Việt Đức, cho biết nhận định của ông.

“Ở Việt Nam hiện nay, tuy có một số trường tương đối là có một chút tiến bộ. Nhưng đại bộ phận các trường Việt Nam thì tư duy quản lý của họ cũng rất là cũ kỹ, và họ vẫn chưa tôn trọng cái tự do học thuật, tự do chọn lựa của nhà khoa học đã thành danh, tiến sĩ của các nước tiên tiến về nước làm việc. Do đó có những mâu thuẫn xảy ra. Các nhà khoa học trẻ khi làm việc thì gặp rất nhiều những khó khăn, đừng nói là những khó khăn về tài chánh, ngay cả môi trường làm việc cũng gặp những khó khăn rất nan giải.”

“Rừng nào cũng như rừng Amazon thì đâu cần người trồng cây nữa”

Bên cạnh những người ủng hộ quan điểm của người ở lại, như Nguyễn Thành Vinh, thì cũng có những người nhìn sự việc về hay ở bằng một cái nhìn khác. anh Nguyễn Quang Thạch, người đã bỏ ra gần 20 năm để xây dựng chương trình Sách hoá nông thôn nhìn sự đóng góp của từng cá nhân ở một góc độ khác. Anh cho biết:

“Theo tôi thì để xã hội Việt Nam để tốt đẹp như những quốc gia mà các bạn đang sống ấy, thì tôi nghĩ hiện tình xã hội Việt Nam là một mảnh đất màu mỡ cho mọi người cống hiến và sáng tạo. tôi nghĩ rằng đang còn sa mạc thì cần người trồng cây, còn rừng nào cũng như rừng Amazon thì đâu cần người trồng cây nữa. Nghĩa là mỗi cá thể hãy đối diện với mình thật rõ ràng để xem mình có năng lực gì để cống hiến cho xã hội cho đất nước, đừng sợ rằng mình không được sử dụng, không được xã hội thừa nhận. Cứ hãy có sản phẩm đi đã. Chừng nào sản phẩm của ông ở mức nào thì xã hội thừa nhận mức đó.

Tôi vẫn luôn luôn cổ vũ cho việc các bạn trẻ Việt Nam khi học đã thành tài, đỗ đạt, qua thời gian tập sự thì tôi luôn cỗ vũ là quay về Việt Nam để giúp cho việc phát triển nền đại học của Việt Nam.
– Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng

Chẳng hạn như khi tôi mới đặt mục tiêu vận động cấp trường làm tủ sách phụ huynh thì cấp trường thừa nhận và áp dụng. Đến khi tốt rồi thì phòng giáo dục áp dụng và thừa nhận. Đến khi cấp sở áp dụng và có văn bản nhân rộng ra khắp tỉnh. Cái nỗ lực của tôi và người khác đã được thừa nhận và áp dụng. Bây giờ cấp Bộ đã mời chúng tôi, đối thoại với chúng tôi để tạo ra những chiến lược chủ trương hoá bằng văn bản.”

Có lẽ dư luận có sự quan tâm đến câu chuyện của Doãn Minh Đăng nhiều hơn vì cũng mới vào đầu tháng 11 vừa qua, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Hoà, TP Hồ Chí Minh đã đưa ra câu hỏi về việc vì sao đa số sinh viên VN đi du học và chọn con đường ở lại. Ông dẫn chứng chính trường hợp của 13 học sinh nhận học bổng sang Úc du học của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” và 12 người trong số họ không quay về nước sau khi kết thúc chương trình học.

Như đã trình bày ở trên, tuy rằng Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng có đưa ra những nhận định của ông về thực trạng của môi trường giáo dục và điều kiện phát triển chuyên môn ở Việt Nam, nhưng ông vẫn có những thông cảm cho quyết định của người không quay về.

“Tôi vẫn luôn luôn cổ vũ cho việc các bạn trẻ Việt Nam khi học đã thành tài, đỗ đạt, qua thời gian tập sự thì tôi luôn cỗ vũ là quay về Việt Nam để giúp cho việc phát triển nền đại học của Việt Nam. Tôi là người luôn cổ vũ cho việc này. Tuy là tôi thông cảm cho những sự lựa chọn khác. Tôi nghĩ là có nhiều người có những chân đứng, có vị trí mà nó phù hợp để họ phát triển, cống hiến cái tài của họ mà họ ở lại. Và cũng có thể vì những lý do gia đình. Thú thật là tôi cũng thông cảm. Tôi thông cảm vì cái điều kiện ở Việt Nam có nhiều vấn đề đặt ra cho những người giáo viên trẻ này không có cái dũng khí, kiên nhẫn để mà thắng được những thách thức thì sẽ có rất nhiều khó khăn.”

Qua nhiều nhận định khác nhau của nhiều người thì có lẽ câu hỏi của ông đại biểu quốc hội Nguyễn Ngọc Hoà vẫn còn là một câu hỏi lớn chưa có lời đáp.

 

TPP: Tin mừng cho lao động Việt?

TPP: Tin mừng cho lao động Việt?

Công nhân làm việc tại một nhà máy sản xuất chăn mền, gối và đệm ở ngoại ô Hà Nội, ngày 27 tháng 1, 2015.

Công nhân làm việc tại một nhà máy sản xuất chăn mền, gối và đệm ở ngoại ô Hà Nội, ngày 27 tháng 1, 2015.

Trà Mi-VOA

13.12.2015

Để được vào Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP do Mỹ dẫn đầu, Việt Nam đồng ý một số nhượng bộ bao gồm sửa đổi hoặc ra luật mới chấp nhận cho công nhân lập công đoàn độc lập và đình công.

Việt Nam cũng sẽ cho các công đoàn được phép tìm kiếm sự hỗ trợ từ các công đoàn quốc tế như Liên đoàn lao động và Hiệp hội của các tổ chức công nghiệp Hoa Kỳ.

Theo thỏa thuận, 5 năm sau khi TPP có hiệu lực, nếu Hà Nội không tuân thủ các yêu cầu đã cam kết, Mỹ có thể ngưng các lợi ích giao thương với Việt Nam.

Mỹ cho rằng đây là cơ hội tốt nhất từ nhiều năm nay để khuyến khích cải tổ thể chế ở Việt Nam, thúc đẩy nhân quyền bị nhiều tai tiếng của Hà Nội.

Kỳ vọng này có cơ sở hay không qua đánh giá và trải nghiệm thực tế của giới hoạt động trong nước tranh đấu vì quyền lợi của công nhân? Viễn ảnh và triển vọng của công đoàn độc lập tại Việt Nam hậu TPP thế nào? Tạp chí Thanh Niên hôm nay ghi nhận qua cuộc trao đổi với Đỗ Thị Minh Hạnh và Trương Minh Đức, hai nhà hoạt động bênh vực quyền lợi công nhân vừa bị hành hung và bắt giữ cuối tháng rồi tại Đồng Nai khi đang tư vấn miễn phí cho công nhân công ty Yupoong Vietnam về các quyền lao động và thành lập công đoàn độc lập. Minh Hạnh và Minh Đức thuộc tổ chức Lao Động Việt ngoài nhà nước không được công nhận, chuyên bảo vệ quyền lợi công nhân.

Minh Hạnh: Khi TPP được đưa ra có điều khoản dành cho người lao động thì quả là đã mở ra một thế giới mới cho người lao động Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải đơn giản có thể thực hiện được những điều khoản TPP tại Việt Nam.

“ Công nhân bị chi phối bởi giới chủ và chính quyền. Họ luôn gây khó khăn cho công nhân. Khi công nhân hợp tác với nhau đấu tranh đòi quyền lợi thì luôn bị áp lực từ chính quyền địa phương, bị công an cho là tụ tập gây rối, kích động. Khi công nhân có bức xúc với giới chủ, nhiều khi bị chủ thuê côn đồ đe dọa. Đó là thực tế mà công nhân Việt Nam đang đối mặt.

Nhà hoạt động cho quyền lợi công nhân Trương Minh Đức nói.”

Trà Mi: Là nhà hoạt động công đoàn, Hạnh thấy thực tế của người công nhân Việt Nam hiện nay thế nào?

Minh Hạnh: Công nhân hiện nay thường bị chấm dứt hợp đồng từ phía công ty. Nhiều công ty còn hạ nhục, xúc phạm nhân phẩm công nhân. Đồng lương thấp, người công nhân không đủ khả năng nuôi gia đình. Con của họ nhiều trường hợp không được đến trường. Có những trường hợp hai vợ chồng lên thành thị làm công nhân mà không đủ gửi tiền về quê nuôi con.

Minh Đức: Công nhân bị chi phối bởi giới chủ và chính quyền. Họ luôn gây khó khăn cho công nhân. Khi công nhân hợp tác với nhau đấu tranh đòi quyền lợi thì luôn bị áp lực từ chính quyền địa phương, bị công an cho là tụ tập gây rối, kích động. Khi công nhân có bức xúc với giới chủ, nhiều khi bị chủ thuê côn đồ đe dọa. Đó là thực tế mà công nhân Việt Nam đang đối mặt.

Trà Mi: Tổng Liên đoàn lao động, Liên đoàn lao động, và các tổ chức lao động cơ sở giúp ích như thế nào?

Minh Hạnh: Một công đoàn của một công ty, một là do chính công ty lập ra rồi trả lương, hai là công ty cử người ra để công nhân bầu. Do vậy, công nhân có bầu ai thì cũng nằm trong danh sách chịu sự chi phối của công ty. Công đoàn phí công nhân vẫn phải đóng hằng tháng. Đến cuối năm, công đoàn trích tiền đó ra mua vài ký đường hay vài lít dầu ăn cho công nhân, bảo là công đoàn lo cho công nhân. Thực tế không phải vậy, đó giống như là một sự ‘bỏ ống heo’ của công nhân để mua những thứ đó. Nhưng thật ra công nhân không cần những điều đó, họ cần bảo vệ quyền và lợi ích thực sự của họ. Quyền và lợi ích của công đoàn gắn liền với giới chủ và bị chi phối bởi nhà nước. Công đoàn lệ thuộc vào giới chủ, cho nên, khi xảy ra  tranh chấp công đoàn không đủ khả năng để bảo vệ công nhân.

Trà Mi: Công đoàn độc lập tại Việt Nam cho tới thời điểm này đã sẵn sàng ra đời hay chưa?

Minh Hạnh: Chưa. Họ sẵn sàng ra tay trù dập, đánh đập, sử dụng côn đồ để trấn áp. Như vụ Minh Hạnh và anh Đức bị đánh vừa qua, họ còn trắng trợn hơn khi cho công an bắt Hạnh về đồn đánh đập như vậy. Công nhân Việt Nam chưa biết những quyền lợi của họ trong TPP. Họ phải công khai hóa các điều khoản của TPP cho công nhân hiểu rõ hơn về quyền thành lập công đoàn độc lập. Công nhân khát khao có được một nghiệp đoàn như vậy, nhưng còn nhiều khó khăn. Họ chưa biết phải làm thế nào khi vẫn còn nỗi lo sợ vì sự đàn áp, bắt bớ. Cho nên, lý thuyết là một chuyện, nhưng thực tế không phải đơn giản làm được.

Trà Mi: Vậy nên làm thế nào để Việt Nam có công đoàn độc lập thực chất? Điều kiện tiên quyết hiện nay các bạn nhìn thấy là gì?

Minh Đức: Thứ nhất, nhà nước phải công bố minh bạch về quyền lợi của công nhân khi lập công đoàn độc lập. Thứ hai, công nhân phải mạnh dạn kết nối lại với nhau. Việt Nam nếu có thiện chí như cam kết trong TPP, nên sớm luật hóa việc thành lập công đoàn độc lập và thay đổi những luật lệ về công đoàn.

Minh Hạnh: Trước mắt phải có sự quan tâm của nhiều người. Chẳng hạn như các nước tham gia TPP cần có tiếng nói và hành động cụ thể để công nhân Việt Nam tin tưởng vào đó mà thành lập nghiệp đoàn của riêng mình. Nếu Việt Nam vi phạm quyền của công nhân thì phải có tiếng nói bảo vệ cho công nhân. Hơn nữa, công nhân cần hiểu biết luật pháp, kiến thức về nghiệp đoàn. Chúng ta thấy hiện nay tiếng nói của công nhân Việt Nam chưa ra được bên ngoài. Những sự chèn ép, bóc lột công nhân cần phải được phơi bày ra thế giới bên ngoài để nhận được sự hỗ trợ để tạo niềm tin và hy vọng cho công nhân.

“ Họ sẵn sàng ra tay trù dập, đánh đập, sử dụng côn đồ để trấn áp. Như vụ Minh Hạnh và anh Đức bị đánh vừa qua, họ còn trắng trợn hơn khi cho công an bắt Hạnh về đồn đánh đập như vậy. Công nhân Việt Nam chưa biết những quyền lợi của họ trong TPP. Họ phải công khai hóa các điều khoản của TPP cho công nhân hiểu rõ hơn về quyền thành lập công đoàn độc lập…

Nhà hoạt động Đỗ Thị Minh Hạnh nói.”

Trà Mi: Ngoài sự quan tâm, hỗ trợ từ bên ngoài đối với người lao động Việt Nam. Còn ngay trong xã hội Việt Nam thì sao?

Minh Hạnh: Những người đấu tranh cho nhân quyền và các tổ chức xã hội dân sự đã bắt đầu quan tâm tới công nhân, nhưng chỉ quan tâm giống như một hiện tượng mới do TPP mang lại, chứ chưa thật sự sâu sắc lắm.

Trà Mi: Có cách nào nâng cao ý thức, sự quan tâm của xã hội Việt Nam đối với quyền của người lao động?

Minh Đức: Muốn làm những việc này, nhà nước Việt Nam cần xem các tổ chức xã hội dân sự là các tổ chức giúp đỡ người dân, trong đó có tổ chức Lao động Việt. Nhà nước cần cởi mở hơn, cần coi lại lời nói và hành động của họ.

Minh Hạnh: Nói cam kết thì Việt Nam đã cam kết nhiều rồi chứ không phải tới TPP mới có. Quan trọng là sự trừng phạt thế nào nếu vi phạm. Mới đây thôi, ngay sau khi vừa ký kết TPP, họ đã đánh đập các nhà hoạt động công đoàn như vậy, thử hỏi sắp tới các công đoàn độc lập sẽ được  hình thành thế nào, sẽ phải trải qua những khó khăn gì?

Minh Đức: Tôi mong sự giám sát, chế tài phải được thực hiện rất cụ thể thì mới mong đem lại thành quả tốt.

Minh Hạnh: Các tòa án thường nghiêng về giới chủ nhiều hơn vì họ chịu sự chi phối, ảnh hưởng của đảng và nhà nước. Cần có những cụ thể hóa trong vấn đề kiện tụng tranh chấp công đoàn. Công đoàn độc lập, nếu được thành lập, phải có quyền hạn tương đương với công đoàn nhà nước, được tham gia vào quá trình đề xuất và thay đổi luật lao động.

Trà Mi: Vậy công đoàn độc lập tại Việt Nam còn đề ra vấn đề tòa án độc lập?

Minh Đức: Đúng vậy. Nói về tòa án độc lập tại Việt Nam thì quả là một vấn đề nan giải. Muốn có tòa án độc lập tại Việt Nam đòi hỏi cơ chế của Việt Nam phải thay đổi nhiều hơn nữa. Công đoàn độc lập khi xảy ra tranh tụng mà xét xử không độc lập thì tôi e rằng chưa đi tới cái lợi cho người công nhân theo đúng nghĩa của nó. Việc ‘độc lập’ trong các lĩnh vực là điều rất mâu thuẫn và khó khăn cho xã hội Việt Nam hiện nay.

Trà Mi: Các bạn nhìn thấy viễn ảnh và triển vọng của công đoàn độc lập tại Việt Nam hậu TPP thế nào?

Minh Hạnh: Tuy khó khăn nhưng vẫn có kỳ vọng. Những cái trong TPP đã mở ra một thế giới mới. Dù khó khăn thế nào, chúng ta sẽ vẫn tiếp tục khơi dậy trong lòng những người công nhân ý thức và kiến thức để họ hiểu biết rõ ràng về công đoàn độc lập.

Minh Đức: Tôi mong các tổ chức lao động trên thế giới quan tâm hơn nữa tình hình lao động tại Việt Nam sau khi Việt Nam vào TPP, tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội dân sự trong nước giúp đỡ công nhân, hướng dẫn công nhân thành lập công đoàn độc lập. Dù khó khăn nhưng chúng tôi có nhiều phương cách để bảo vệ và hướng dẫn công nhân trong xu hướng sắp tới với xu hướng truyền thông và phong trào phát triển internet mạnh mẽ hiện nay. Mong các cơ quan truyền thông cũng quan tâm và giúp đỡ chúng tôi hơn nữa. Một khi các nước đã ký kết TPP với Việt Nam có những chế tài, tôi hy vọng rằng người công nhân Việt Nam có thể thay đổi được cuộc sống.

Trà Mi: Dù viễn ảnh công đoàn độc lập tại Việt Nam khó khăn, nhưng không phải vô vọng vì ngoài những áp lực từ quốc tế còn có những tiếng nói can đảm đã đổi bằng máu và sự tự do của riêng mình để bênh vực cho người lao động trong nước như các bạn đây. Mong nguyện vọng của các bạn sớm trở thành hiện thực với sự gia tăng nỗ lực và hợp đoàn với nhau trong những ngày hậu TPP. Xin chân thành cảm ơn các bạn đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này.

‘Ðả đảo công an – Ðả đảo đảng cộng sản’

‘Ðả đảo công an – Ðả đảo đảng cộng sản’
Nguoi-viet.com


Ngô Nhân Dụng

Nhà báo Trần Quang Thành mới đưa lên mạng Danlambao những hình ảnh người Việt Nam kỷ niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền, ở Canada, ở Ðức. Nhưng đặc biệt nhất là quang cảnh những cuộc biểu tình tuần hành tại Hà Nội trong ba ngày, ngày 3, 4 và 10 tháng 12 năm 2015.

Cuộc biểu tình đầu tiên diễn ra tại công viên dựng tượng đài Lý Thái Tổ nằm bên bờ hồ Hoàn Kiếm đã bị công an đàn áp. Sáng hôm sau ngày 4 tháng 12, đồng bào quay trở lại tụ tập trước cửa “trụ sở tiếp dân” của đảng Cộng Sản ở ngôi nhà số 1 phố Ngô Thì Nhậm, quận Hà Ðông, Hà Nội. Tới ngày 10 tháng 12, đúng Ngày Quốc Tế Nhân Quyền, hàng trăm đồng bào lại mở một cuộc biểu tình bắt đầu từ trụ sở trên để biến thành một cuộc tuần hành qua các đường phố Quang Trung, Nguyễn Trãi dài hàng cây số.

Nhà báo tự do tị nạn Cộng Sản Trần Quang Thành đang sống tại nước Slovakia đã khéo trình bày các bức hình do chính các người đi biểu tình chụp cho thấy cả rừng biểu ngữ chen lẫn với những khuôn mặt các cụ già với cả các thiếu niên, phần lớn là các ông bà lớp tuổi trung niên.

Trong những đoàn hàng trăm người biểu tình, hầu như ai cũng cầm biểu ngữ, hoặc mỗi người một biểu ngữ nhỏ hoặc hai ba người mang một biểu ngữ lớn. Các biểu ngữ nhỏ dùng giấy bìa màu trắng chữ đỏ, biểu ngữ lớn dùng vải màu vàng chữ đỏ hoặc ngược lại vải đỏ chữ vàng, nét chữ viết rõ ràng có thể đọc được trong các bức hình, cho thấy các cuộc biểu tình này đã được chuẩn bị trước “rất kỹ.” Không những thế, mặc dù công an đã cướp mất nhiều biểu ngữ trong ngày 3 tháng 12 tại Bờ Hồ nhưng ngay hôm sau một số biểu ngữ cũ vẫn xuất hiện trở lại trên phố Ngô Thì Nhiệm. Ðiều này chứng tỏ những người tổ chức các cuộc biểu dương này phải được một phe cánh trong đảng cộng sản ngầm hỗ trợ. Nhưng không phải vì thế mà các cuộc tập họp quần chúng này không diễn tả đúng ý chí của người dân Việt Nam hiện nay.

Cả ba cuộc biểu tình được giới thiệu là quy tụ “Dân Oan Ba Miền” đấu tranh đòi nhà cầm quyền Cộng Sản phải trả lại quyền tư hữu đất đai tài sản của người dân. Nhưng đọc trên những biểu ngữ người ta thấy mục tiêu tranh đấu rộng hơn nhiều.

Những người biểu tình đã nhân danh các “Dân Oan” đòi nhà, ruộng, đất đai bị cướp là việc làm chính đáng để được mọi người hiểu và ủng hộ. Cho nên có những biểu ngữ nêu đích danh như “Tố cáo Lê Văn Nghĩa P chủ tịch Tiền Giang…” Một biểu ngữ khác viết “tố cáo chủ tịch Tây Ninh…” Trên nhiều biểu ngữ còn thấy nêu tên các tỉnh khác như trên một biểu ngữ là “Dân Oan Ðồng Nai,” hoặc Long An, Hải Dương, Thanh Hóa. Trên một bức hình thấy được một phần, có nêu tên “…Nguyễn Văn Ðẹn, Nguyễn Tấn Phước,… năm 2008… tỉnh Tiền Giang…”

Biểu ngữ đầy đủ nhất viết trên một tấm vải rộng: “Dân oan ba miền đấu tranh đòi nhà cầm quyền cộng sản phải trả lại quyền tư hữu đất đai tài sản của người dân.” Một tấm vải viết ngắn gọn hơn: “Trả quyền tư hữu đất đai cho dân!” Và một lời kêu cứu khác còn kêu gọi “Ðảng ơi! Cứu chúng tôi dân bị phá nhà cướp tài sản!” (Các dấu than do người tường thuật viết thêm). Với những lời lẽ đó chúng ta có thể nghĩ các người biểu tình vẫn không muốn đụng tới đảng Cộng Sản. Nhưng lại xuất hiện nhiều biểu ngữ khiến người ngoài thấy dân chúng đã dám tấn công thẳng vào đảng Cộng Sản!

Một tấm biểu ngữ viết: “Phản đối cộng sản cường quyền dùng bạo lực đàn áp khủng bố người dân.” Có người diễn tả một cách giản dị hơn: “Tôi không thích ÐCSVN!” Một tấm khác cho thấy đối với dân chúng chế độ Cộng Sản và chế độ công an là một, viết rõ ràng: “Còn đảng Cộng Sản, còn công an trị, dân ta còn mất quyền làm người.” Ðây là một trên các biểu ngữ trong các bức hình nhắc đến quyền làm người, khi các cuộc biểu tình nhằm đúng Ngày Quốc Tế Nhân Quyền. Tiếp theo là những khẩu hiệu đòi, “Trả lại quyền Tự do ngôn luận, Tự do báo chí, Tự do lập hội, Tự do tín ngưỡng cho người dân.”

Biểu ngữ viết “Còn đảng cộng sản, còn công an trị,…” là một câu trả lời cho khẩu hiệu của công an cộng sản viết rằng: “Ðảng còn thì mình còn!” Dân Việt Nam đã vạch rõ cái này còn và cái kia còn đều là tai họa cho người dân! Phần lớn các khẩu hiệu nêu ra đều nhắm thẳng vào chế độ đàn áp, phi nhân của công an mà những người biểu tình chính là các nạn nhân. Nhiều người biểu tình mang biểu ngữ: “Ðả đảo công an tra tấn, đánh đập, bức cung người dân vô tội;” hay “Bắt người vô tội để cướp đất là một tội ác.” Ông Trần Văn Sang, từ xã Dương Nội đã bị công an đánh gẫy chân trong nhà tù, ông bị bắt sau khi biểu tình dân oan đòi đất. Lần này ông ngồi trên xe lăn, với chiếc nạng chống bên cạnh, tham gia đoàn tuần hành mang tấm biểu ngữ viết: “Ðả đảo công an đánh Trần Văn Sang tàn phế.” Trong ngày 10 tháng 12, có người còn hiên ngang hô to khẩu hiệu “Ðả đảo đảng cộng sản.”

Ngoài anh Trần Văn Sang, rất nhiều người đã tham dự biểu tình để lên tiếng về những tai họa cho chính họ và gia đình họ do chế độ Cộng Sản gây ra. Trong cuộc tuần hành hình ảnh một em bé gái nổi bật với tấm áo đỏ viết hàng chữ tự giới thiệu: “Cháu Ðoàn Trương Anh Thư” với câu “Tuổi thơ của con bị bọn tham nhũng cướp mất!” Ðông đảo và bền chí nhất chắc là gia đình bà người bị tuyên án tử hình sau những phiên tòa xử không đúng luật. Họ mang các biểu ngữ đòi “Trả tự do cho tử tù Nguyễn Văn Chưởng, Lê Văn Mạnh, Hồ Duy Hải.” Những vụ “án oan” này đã sôi nổi trong dư luận suốt nhiều năm nhưng chế độ tư pháp của đảng Cộng Sản vẫn chưa nhận tội! Các hình ảnh được đưa ra nhiều lần cho thấy những nét đăm chiêu nhưng cương quyết của gia đình các nạn nhân. Trước các khuôn mặt buồn rầu của những người mẹ già, những bà vợ và các đứa con là các tấm bảng viết “Trả tự do con tôi!” “Trả tự do bố tôi!” “Trả tự do em tôi! Vân vân.

Những hình ảnh cuộc biểu tình và diễn hành do các nhà nhiếp ảnh Trịnh Bá Phương, Nguyễn Huy Tuấn và cô Trương Thanh Quang ở Tiền Giang đưa lên mạng, được nhà báo Trần Quang Thành biên tập thành những bản tin, kèm theo điệu hát bài “Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi.”

Trong cùng thời gian qua, trên mạng còn xuất hiện một đoạn video cho thấy cuộc biểu tình của giới tiểu thương Huế ở chợ Ðầu Mối Bãi Dâu vào ngày 1 tháng 12 năm 2015. Ðó là ngày hết hạn ghi danh để đổi sang khu chợ mới nhưng hàng trăm tiểu thương vẫn phản đối quyết liệt và không chịu dời chợ cũ.

Truyền thông trên mạng là một phương tiện phổ biến nhanh chóng và đầy đủ, có thể khích động các cuộc tranh đấu đòi tự do dân chủ của người dân các nước bị độc tài đàn áp. Ba cuộc biểu tình nhắm những mục tiêu khác nhau diễn ra liên tiếp tại Hà Nội khiến người ta nghi ngờ đằng sau có những cuộc tranh chấp phe phái của giới cầm quyền Cộng Sản, trước khi họ họp đại hội đảng vào năm tới. Trong số các biểu ngữ có nhắc đến một tên tuổi duy nhất, trong lời kêu gọi gửi cho Nguyễn Tấn Dũng. Chúng ta cũng không thể biết Nguyễn Tấn Dũng chủ mưu gây ra những cuộc biểu tình này, hay những phe chống Nguyễn Tấn Dũng mới đứng đằng sau xúi giục để làm hại Dũng!

Dù ai đứng đằng sau thì khi được dịp đi biểu tình phản kháng chế độ Cộng Sản đàn áp cướp tài sản dân lành, đánh, giết người vô tội, là các đồng bào của chúng ta đều sẵn sàng tham gia! Cần phải khuyến khích nhiều cuộc biểu tình như vậy, ở khắp nơi, dù do bất cứ ai trong đảng Cộng Sản muốn dùng thủ đoạn đó trong cuộc tranh giành quyền lợi lẫn nhau!  Nếu các cán bộ cấp tỉnh, cấp huyện dám thi hành thủ đoạn này thì những người “dân oan” cũng sẵn sàng tham dự để dùng gậy ông đập lưng ông! Những biểu ngữ “Ðả đảo công an – Ðả đảo đảng cộng sản” càng được trưng lên ở nhiều nơi, càng nhiều lần, thì ngày dân ta được hưởng dân chủ tự do càng đến gần hơn!

Phỏng vấn Việt Khang ngay khi anh về tới nhà

Phỏng vấn Việt Khang ngay khi anh về tới nhà

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-12-14

Nhạc sĩ Việt Khang (giữa) ngày ra tù.

Courtesy of haedc.org

Your browser does not support the audio element.

Nhạc sĩ Việt Khang sau bốn năm thụ án với tội danh tuyên truyền chống phá nhà nước được trả tự do vào sáng ngày 14/12/2015.

Từ nhà riêng tại thành phố Mỹ Tho nhạc sĩ Việt khang dành cho đài Á châu tự do cuộc phỏng vấn sau đây, do Kính Hòa thực hiện.

Kính Hòa: Đầu tiên xin chúc mừng anh được trả tự do! Sức khỏe anh hiện thế nào ạ?

Nhạc sĩ Việt Khang: Tôi khỏe nhưng mới ra tù nên sức khỏe chưa ổn định.

Kính Hòa: Anh được trả tự do ngày hôm qua…

Nhạc sĩ Việt Khang: Tôi mới về đây thôi chứ không phải hôm qua, tôi đi xe từ trại giam về đến đây là 3, 4 giờ chiều.

Kính Hòa: Mấy giờ thì họ đưa anh ra cổng trại giam để người nhà đưa về?

Nhạc sĩ Việt Khang: Không, không có người nhà, mà người ta đưa tôi về. Tôi còn cái án quản chế hai hay ba năm gì đó. Người ta không cho người thân đón tôi, mà trong nhà trại có người đưa tôi về. Sáng đi từ trại là 7 giờ, rồi người ta còn ghé ăn uống nữa. Tôi thì ăn uống không được, lý do là tâm trạng biết ở nhà đang chờ, xe cộ lại chậm chạp.

Kính Hòa: Cảm tưởng của anh như thế nào khi được trả tự do mặc dù còn bị quản chế?

Nhạc sĩ Việt Khang: Tôi cảm thất rất hạnh phúc sau những gì xảy ra với tôi. Bốn năm tôi xa nhà, bốn năm đó đổi lại là rất nhiều người đã thuwong mến tôi, luôn muốn tôi có sức khỏe để vượt những khó khăn mà tôi bắt buộc phải trải qua. Tất cả những tấm lòng đó tôi không thể nói được bằng lời vì không thể tả nó bằng lời.

Tôi cảm thấy rất sung sướng và hạnh phúc, đồng bào đã yêu thuwong tôi, đồng bào cảm thông, luôn muốn rằng tôi khỏe mạnh để vượt qua  những khó khăn của cuộc sống của tôi cũng như của con đường tôi đi.

Nhân dịp này tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những sự quan tâm, động viên, những lời cầu nguyện cho tôi, tất cả những gì mà các ông bà cô bác, các anh chị, các bạn, các em đã dành cho tôi, và tôi ghi nhận cái điều đó. Trong cuộc đời của tôi tôi không thể tưởng tượng ra những gì mà đồng bào cũng như bà con đã thương mến tôi như vậy, tôi cảm ơn rất nhiều.

Kính Hòa: Bây giờ nhìn lại các nhạc phẩm anh sáng tác, mà vì những nhạc phẩm đó anh bị tù đày, anh có cảm thấy một sự hối tiếc hay không?

Nhạc sĩ Việt Khang: Chắc chắn là tôi không hối tiếc. Tất cả những gì tôi làm cũng góp một phần chứ không phải là vô nghĩa đối với tôi. Tôi góp một phần để nói lên tiếng nói của trái tim của người Việt nam.

Tôi là một người nghệ sĩ thì yêu nước theo cái cách của một nghệ sĩ, có gì đâu mà hối tiếc. Tôi được sự cảm thông của rất nhiều người, cảm thông cho nỗi niềm trong bài hát của tôi. Bao nhiêu đó thôi là tôi cũng cảm thấy hạnh phúc.

Kính Hòa: Dự định trước mắt và lâu dài của anh như thế nào? Anh có tiếp tục con đường nghệ thuật hay không?

Nhạc sĩ Việt Khang: Tôi phải sắp xếp lại chuyện gia đình, vì gia đình cũng có những chuyện lớn xảy ra với tôi, tôi phải có thời gian sắp xếp.

Còn công việc thì là kiếp tằm nhả tơ, ai trong giới nghệ sĩ như tôi cũng vậy thôi, khó mà bỏ nghề lắm. Ca hát, chơi nhạc, làm đệp cho đời, cái đó là tất nhiên.

Kính Hòa: Cảm ơn anh Việt Khang đã dành cho chúng tôi những giây phút quí báu khi anh vẫn còn mệt mỏi. Chúc anh có nhiều sức khỏe tiếp tục con đường nghệ thuật mà anh nói với chúng tôi.

Nhạc sĩ Việt Khang: Cám ơn anh và tất cả những người đã quan tâm đến tôi.

Trung Quốc: Ván bài lật ngửa

Trung Quốc: Ván bài lật ngửa

VOA

13.12.2015

Hình ảnh vệ tinh chụp hồi tháng Sáu cho thấy Trung Quốc gần hoàn tất đường băng dài 3.000 mét trên bãi đá Chữ Thập.

Hình ảnh vệ tinh chụp hồi tháng Sáu cho thấy Trung Quốc gần hoàn tất đường băng dài 3.000 mét trên bãi đá Chữ Thập.

Ở Việt Nam, nhiều người, trong đó có thể có cả một số người trong giới lãnh đạo, dường như còn mơ hồ trước các âm mưu của Trung Quốc trên Biển Đông. Thực tình, tôi hoàn toàn không hiểu về cái gọi là “mơ hồ” ấy. Bởi sự thực đã rõ rành rành: Trung Quốc không hề giấu giếm các âm mưu của họ. Có thể nói, họ đang chơi một ván bài lật ngửa.

Chính quyền Trung Quốc luôn luôn khẳng định một số “lợi ích cốt lõi” (core interests) mà họ cương quyết không nhân nhượng bất cứ ai hết: Đó là Tây Tạng, Đài Loan và Biển Đông đều thuộc về họ. Sự khẳng định chủ quyền đối với Tây Tạng và Đài Loan đã có từ lâu nên không làm ai ngạc nhiên. Sự khẳng định thứ ba, mới hơn, từ hơn một thập niên vừa qua, liên quan trực tiếp đến chủ quyền và quyền lợi của nhiều quốc gia, trong đó, có Việt Nam. Sự khẳng địnhg này bao gồm hai nội dung chính: Một, Trung Quốc cho tất cả những hòn đảo, rạn san hô và bãi đá thuộc Trường Sa mà Việt Nam và Philippines đang trấn giữ vốn thuộc về họ: Chúng bị Việt Nam và Philippines cưỡng đoạt một cách “phi pháp”. Hai, căn cứ trên quan niệm cho cả Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về họ, Trung Quốc đã vẽ nên tấm bản đồ chủ quyền gồm chín đoạn (còn được gọi là đường chữ U hoặc lưỡi bò) bao trùm lên phần lớn diện tích Biển Đông. Với hai nội dung này, Việt Nam có hai điều có thể mất: Một, 29 thực thể, từ đảo đến bãi đá và rạn san hô ở Trường Sa; và hai, toàn bộ vùng biển bao quanh Hoàng Sa và Trường Sa.

Có thể nói việc Trung Quốc chiếm lĩnh toàn bộ Trường Sa và Biển Đông chỉ là vấn đề khi nào và bằng cách nào chứ không phải là chuyện có hay không. Trung Quốc đã khẳng định dứt khoát điều đó. Chả có gì để hoài nghi cả.

Để chiếm lĩnh Trường Sa và Biển Đông, Trung Quốc sử dụng ba sách lược chính.

Thứ nhất là sách lược tằm ăn dâu (salami slicing), tức chiếm từ từ, dần dần, mỗi lúc một ít. Trước, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa: Việt Nam không phản đối. Sau, Trung Quốc công bố con đường lưỡi bò vắt ngang qua vùng biển vốn thuộc về Việt Nam: Việt Nam không phản đối. Gần đây, Trung Quốc cho giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam để thăm dò dầu khí: Việt Nam chỉ phản đối lấy lệ. Rồi Trung Quốc cải tạo các bãi đá ở Trường Sa thành đảo nhân tạo: Việt Nam im lặng. Hầu như tất cả các nhà quan sát quốc tế đều tiên đoán, một lúc nào đó, Trung Quốc sẽ công bố vùng nhận dạng hàng không tương ứng với con đường lưỡi bò trên biển.

Xin lưu ý là để chống lại sách lược tằm ăn dâu này, Mỹ đã điều chiến hạm đến gần các hòn đảo mới cải tạo ở Trường Sa của Trung Quốc: Trung Quốc chỉ phản đối lấy lệ. Nhưng ở đây có hai vấn đề: Một, Mỹ không thể cứ đưa chiến hạm đến Trường Sa mãi được; hai là Việt Nam không mạnh và cũng không tự tin như Mỹ nên sẽ không dám đưa tàu thuyền đến gần các hòn đảo ấy. Cái “không dám” ấy sẽ được xem như một hành động mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Sau này, khi Trung Quốc tuyên bố vùng nhận dạng hàng không tương ứng với con đường lưỡi bò trên biển cũng vậy. Mỹ cũng sẽ bất chấp những lời tuyên bố ấy và họ sẽ cho máy bay lượn qua lượn lại trong vùng nhận dạng ấy để chứng tỏ là nó phi pháp và vô giá trị. Nhưng Việt Nam thì khác. Sợ, mỗi lần có tàu bè đi ngang qua Biển Đông hoặc có máy bay đi ngang qua vùng nhận dạng hàng không, Việt Nam sẽ xin phép Trung Quốc: Đến lúc ấy, Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành.

Sách lược thứ hai của Trung Quốc là ngăn chận mọi nỗ lực quốc tế hoá hoặc đa phương hoá các tranh chấp trên Biển Đông. Sách lược này bao gồm hai nội dung chính: Một là yêu cầu Mỹ không can thiệp vào các cuộc tranh chấp ấy; hai là phá vỡ tất cả các nỗ lực thống nhất quan điểm về Biển Đông của khối ASEAN. Trung Quốc chủ trương mọi tranh chấp cần được giải quyết song phương, giữa Trung Quốc và các nước liên hệ. Bằng cách này, Trung Quốc làm suy yếu mọi đối thủ. Bởi mọi quốc gia tranh chấp đều nhó, yếu và, với nhiều mức độ khác nhau, đều lệ thuộc vào Trung Quốc. Ở phương diện này, chúng ta thấy ngay là Việt Nam đã sập bẫy Trung Quốc khi chấp nhận biện pháp song phương trong các cuộc tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông với Trung Quốc.

Sách lược thứ ba của Trung Quốc là mua chuộc. Cho đến nay, Trung Quốc hoàn toàn thành công trong việc mua chuộc Thái Lan và, đặc biệt, Campuchia. Hầu hết các cuộc hội nghị của khối ASEAN những năm gần đây đều thất bại trong việc có một thông báo chung nhằm lên án âm mưu xâm chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Có năm thông báo chung không ra đời. Có năm thông báo chung chỉ nhắc đến tình hình phức tạp trên Biển Đông nhưng lại hoàn toàn không nhắc đến tên Trung Quốc. Nguyên nhân gây nên những thất bại ấy đều xuất phát từ một nước: Campuchia, quốc gia vốn được xem là thân cận nhất của Việt Nam.

Không loại trừ khả năng Trung Quốc cũng đã mua chuộc được khá nhiều người trong giới lãnh đạo Việt Nam. Lâu nay, nói đến giới lãnh đạo Việt Nam, hầu như ai cũng biết là họ chia thành hai phe: phe thân Trung Quốc và phe thân Tây phương. Chúng ta hoàn toàn không biết chính xác người nào thuộc phe nào. Tuy nhiên, quan sát các động thái của nhà cầm quyền Việt Nam đối với các vấn đề liên quan đến Biển Đông, chúng ta cũng có thể thấy phe thân Trung Quốc khá nhiều và khá mạnh. Chính cái phe ấy làm cho mọi nỗ lực thoát Trung đều yếu ớt và không có hiệu quả. Cũng chính cái phe ấy làm cho mọi con đường ngả sang Tây phương, chủ yếu là Mỹ, cứ quanh co, khúc khuỷu, không có một định hướng nào rõ ràng.

Quan sát các phản ứng của chính quyền Việt Nam đối với ba sách lược kể trên, tôi cho việc mất Trường Sa và Biển Đông vào tay Trung Quốc chỉ còn là vấn đề thời gian. Sớm hay muộn, vậy thôi.

Quốc tế nghi ngờ kế hoạch ngũ niên của Thủ tướng

Quốc tế nghi ngờ kế hoạch ngũ niên của Thủ tướng

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-12-11

vn-VDPF2015-2-622.jpg

Diễn đàn Đối tác Phát triển tổ chức ngày 5/12 ở Hà Nội.

Photo courtesy of World Bank

Your browser does not support the audio element.

Yêu cầu về Luật lập hội đứng đầu

Diễn đàn Đối tác Phát triển tổ chức ngày 5/12 ở Hà Nội để lại nhiều nghi vấn về kế hoạch 5 năm tới của Chinh phủ Việt Nam. Hình ảnh bà Victoria Kwa Kwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nổi bật trên các báo mạng, kèm theo những câu hỏi hóc búa dành cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Điều không ngờ là trong diễn từ bế mạc Diễn đàn Đối tác Phát triển Việt Nam của bà Victoria Kwa Kwa, đứng hàng đầu khuyến nghị 7 điểm lại là yêu cầu về Luật lập hội. Thời báo Kinh tế Việt Nam có thể là báo điện tử chính thức duy nhất đề cập tới sự kiện này. Tờ báo có bài ‘Luật về Hội sẽ thổi luồng sinh khí mới vào xã hội.’ Theo đó, khi điểm lại một số kiến nghị cụ thể trong phiên bế mạc Diễn đàn Đối tác Phát triển ngày 5/12/2015, nội dung đầu tiên mà Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, bà Victoria Kwa Kwa nhắc đến chính là Luật về Hội. Tờ báo đã trích nguyên văn nội dung thứ nhất trong kiến nghị 7 điểm mà bà Kwa Kwa đúc kết: “ Cần thiết phải soạn thảo và thực hiện một bộ luật có hiệu lực mạnh về hội và hiệp hội. Chính điều đó sẽ giúp thực hiện chương trình nghị sự của Chính phủ.”

Theo VnEconomy, trước đó trong phiên thảo luận các tổ chức phi chính phủ cho rằng, thể chế kinh tế thị trường hiện đại không thể vắng bóng vai trò quản lý vĩ mô của chính phủ, cũng như vai trò thúc đẩy của xã hội dân sự và tinh thần hiệp hội. Vẫn theo tờ báo, các tổ chức phi chính phủ đã kiến nghị cụ thể là Luật về Hội cần đảm bảo tính tự nguyện, tự chủ và tự do trong hoạt động, không bị can thiệp tùy tiện bởi các cơ quan Nhà nước vào điều lệ, lãnh đạo cũng như lĩnh vực hoạt động của hội. Các tổ chức phi chính phủ cũng dẫn Hiến pháp khi bảo vệ quan điểm theo đó, việc thành lập hội không cần xin phép theo thủ tục rườm rà, mà chỉ cần đăng ký với cơ quan Nhà nước. Đồng thời cơ quan Nhà nước cũng không có thẩm quyền phê duyệt điều lệ cũng như lãnh đạo của hội, không giới hạn số hội hoạt động trong cùng một lĩnh vực và hội hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính.

Dĩ nhiên một quốc hội trên 95% là đảng viên, thì chắc họ cũng không dễ gì thông qua một luật hội thông thoáng, để cho những người không phải là đảng viên tụ tập với nhau thành lập một hội có sức mạnh của nó. Đó cũng là quy luật tự nhiên thôi.
-LS Trần Quốc Thuận

Người đọc báo ghi nhận, những điểm vừa nêu trong kiến nghị có quan điểm hoàn toàn khác và đi ngược lại nhiều điều khoản căn bản trong Dự thảo Luật về Hội mà Quốc hội thảo luận góp ý, trong những ngày cuối cùng của kỳ họp thứ 10 hồi tháng 11.

Theo VnEconomy Việt Nam sẽ có một Luật về hội như thế nào, hiện vẫn là câu chuyện ở thì tương lai. Dự kiến tới kỳ họp thứ nhì khoảng tháng 10/2016, Dự án Luật về Hội mới được Quốc hội nhiệm kỳ tới thông qua.

Tương lai các tổ chức xã hội dân sự độc lập sẽ ra sao, nếu như Dự thảo Luật về Hội giữ nguyên những điều khoản trái khoáy, nhằm hạn chế quyền tự do lập hội. Theo TS Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập một tổ chức tự phát, thì nội dung không cho phép thành lập hội mới, trùng lắp về lĩnh vực hoạt động chính là là cản trở quyền tự do lập hội. Từ Saigon, TS Phạm Chí Dũng tiếp lời:

“Nó còn tùy thuộc vào tính cách xin – cho nặng nề như thế nào trong Luật về Hội. Nếu quá nặng nề về điều kiện xin cho, hay các điều kiện khác như đòi hỏi phải có trụ sở, phải đăng ký tên tuổi của tất cả các thành viên, thì không cách nào các tổ chức xã hội dân sự độc lập có thể đăng ký với Nhà nước. Tại vì một số tổ chức xã hội dân sự không thể bảo đảm về trụ sở, thứ hai đòi hỏi phải minh bạch với Nhà nước về tài chính. Chuyện này quá khó theo tôi biết, chắc chắn phía công an chỉ muốn nắm rõ nguồn gốc tài chính của các hội đoàn xã hội dân sự mà thôi. Cho nên việc đăng ký hay không thì còn tùy thuộc vào thái độ thành tâm tới đâu của Nhà nước thông qua Luật về Hội.”

Theo Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội hiện sống ở TP.HCM, Việt Nam có thể có những bước chuyển tiếp trong quá trình dân chủ hóa. Riêng Luật về Hội sẽ cởi mở tới đâu hoàn toàn là câu chuyện tương lai. LS Trần Quốc Thuận nhấn mạnh:

“Dĩ nhiên một quốc hội trên 95% là đảng viên, thì chắc họ cũng không dễ gì thông qua một luật hội thông thoáng, để cho những người không phải là đảng viên tụ tập với nhau thành lập một hội có sức mạnh của nó. Đó cũng là quy luật tự nhiên thôi.”

vn-VDPF2015-1-400.jpg

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (giữa) và Bà Victoria Kwa Kwa (phải) tại Diễn đàn Đối tác Phát triển tổ chức ngày 5/12 ở Hà Nội. Photo courtesy of World Bank.

Luật về Hội là nội dung thứ nhất trong kiến nghị 7 điểm mà bà Victoria Kwa Kwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đúc kết khi bế mạc Diễn đàn Đối tác Phát triển cuối ngày 5/12 ở Hà Nội. Theo trang mạng chính thức của Ngân hàng Thế giới thì nội dung thứ hai liên quan tới vấn đề mà người đọc báo hiểu là tư nhân hóa nền kinh tế. Xin trích nguyên văn : “Thoái vốn hoàn toàn khỏi nhiều doanh nghiệp hơn nữa. Chính phủ đã công bố con số là 10 doanh nghiệp. Nếu thực hiện thêm 10, thậm chí 20 doanh nghiệp nữa sẽ thể hiện mạnh mẽ hơn nữa quyết tâm cải cách của Chính phủ Việt Nam trong lĩnh vực này.”

Như thế các đối tác phát triển của Việt Nam mong muốn chính phủ Việt Nam đẩy mạnh tốc độ tư nhân hóa nền kinh tế, vì mặc dầu thực hiện cổ phần hóa nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ số lượng cổ phần chi phối, người Nhà nước nắm Hội đồng Quản trị cũng như điều hành doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Được biết gần đây Chính phủ chỉ đạo rút toàn bộ vốn Nhà nước tại 10 Công ty cổ phần, trong đó nổi bật là Vinamilk một đại gia ngành sữa thành công trong sản xuất kinh doanh. Ước tính chính phủ có thể thu về khoảng 4 tỷ USD theo thời giá tháng 11, khi bán hết tổng số cổ phần ở Vinamilk.

Theo các chuyên gia muốn đi theo thể chế kinh tế thị trường hiện đại thì Việt Nam phải tạo sân chơi bình đẳng đối với mọi thành phần doanh nghiệp. Cách thức Nhà nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa vận hành nền kinh tế khó có thể đáp ứng tiêu chuẩn công khai minh bạch, chấm dứt đặc quyền đặc lợi.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từ Hà Nội phát biểu:

“Cho đến nay Doanh nghiệp Nhà nước vẫn còn đang sử dụng khoảng 50% tổng nguồn vốn của đất nước, kể cả nguồn tín dụng cũng như vốn của khu vực công hay vốn ODA chẳng hạn, họ còn sử dụng một nguồn lực rất lớn và với cách làm ăn thua lỗ, nó có thể lỗ cho doanh nghiệp nhưng tiền có thể chảy về túi của một số ai đó có quyền lực. Rõ ràng những nhóm lợi ích này họ thích một cơ chế mù mờ như hiện nay hơn một cơ chế dứt khoát Doanh nghiệp Nhà nước phải đặt dưới sự giám sát của cả xã hội, phải chấp nhận những điều kiện như là TPP đang đưa ra đối với Doanh nghiệp Nhà nước.”

Việt Nam lấy đâu ra tiền để phát triển?

Những vấn đề lớn, mà Diễn đàn Đối tác Phát triển tổ chức ngày 5/12 ở Hà Nội đặt ra cho Chính phủ Việt Nam, cũng được truyền thông báo chí trong nước tường thuật dưới nhiều góc cạnh khác nhau.

Theo Tuổi Trẻ Online, tại Diễn đàn Đối tác Phát triển Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, Việt nam đặt mục tiêu 5 năm tới phát triển nhanh hơn, bền vững hơn. Ông Dũng nhấn mạnh 5 năm tới phải phát triển 6,5 – 7% bình quân mỗi năm.

Khi chính phủ huy động ở trong nước nhiều như vậy sẽ có những rủi ro, ví dụ huy động ngắn hạn thì nhiều khi chưa kịp làm gì đã đến thời hạn phải trả nợ rồi, lãi suất vay bằng đồng VN cũng cao hơn vay ngoại tệ ở bên ngoài.
-Bà Phạm Chi Lan

Báo Điện tử Một Thế Giới giật tít lớn, sắp tới Việt Nam lấy đâu ra tiền để phát triển, đây là câu hỏi thẳng thắn của bà Victoria Kwa Kwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam. Nguyên văn lời bà Kwa Kwa: “ Việt Nam sẽ lấy nguồn ở đâu để tài trợ cho chương trình phát triển đầy tham vọng trong 5 năm tới.”

Bà Victoria Kwa Kwa đưa ra một loạt thách thức đối với Việt Nam, như vốn ưu đãi thu hẹp dần, dựa vào nguồn thu trong nước là chính. Trong 5 năm qua tỷ lệ thu ngân sách Nhà nước trên GDP đã giảm dần từ 27% chỉ còn 21%. Ngoài ra năng suất lao động Việt Nam quá thấp không đảm bảo tăng trưởng nhanh và bền vững.

Hầu hết các báo điện tử chính thức, khi tường thuật về Diễn đàn Diễn đàn Đối tác Phát triển, đều có bài ghi nhận mối lo ngại sâu xa về nợ công của Việt Nam. Thời báo Kinh tế VnEconomy trích báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á, theo đó nợ công và những khoản do Nhà nước bảo lãnh đã tăng gần gấp đôi kể từ năm 2.000, hiện ở khoảng 60% GDP trong năm 2015. Tại các nền kinh tế thu nhập thấp thường có tỷ lệ nợ công giảm, nhưng nợ công tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong những năm qua.

Báo mạng Một Thế Giới trích nhận định của ông Jonathan Dunn, Đại diện thường trú Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, theo đó xuất khẩu dưới mong đợi, thâm hụt ngân sách cao và nợ công, nợ do Chính phủ bảo lãnh đang tăng lên.

Trước đó vào ngày 2/12 Ngân hàng Thế giới cảnh báo nợ công của Việt Nam đối diện rủi ro vì chính phủ chuyển sang vay nợ bằng phát hành trái phiếu ngắn hạn ở trong nước để bù đắp chi tiêu. Bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ nhận định:

“Khi chính phủ huy động ở trong nước nhiều như vậy sẽ có những rủi ro, ví dụ huy động ngắn hạn thì nhiều khi chưa kịp làm gì đã đến thời hạn phải trả nợ rồi, lãi suất vay bằng đồng VN cũng cao hơn vay ngoại tệ ở bên ngoài. Hơn nữa khi chính phủ đứng ra vay nhiều như vậy, thì số tiền vốn cho xã hội cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận được, sẽ lại càng khó khăn hơn.”

Qua Diễn đàn Đối tác Phát triển tổ chức ngày 5/12 ở Hà Nội, hầu hết các đối tác cũng như các định chế quốc tế đều chỉ ra những thách thức đầy lo ngại đối với kế hoạch ngũ niên 2016-2020 của Chính phủ Việt Nam. Tuy vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trực tiếp trấn an khi ông nói nguyên văn “xin nhấn mạnh, chúng tôi dứt khoát bảo đảm an toàn nợ công.” Người đứng đầu chính phủ Việt Nam cũng trình bày 5 giải pháp để tăng trưởng kinh tế cao và bền vững.

Thủ tướng cho biết sẽ đẩy mạnh kế hoạch tái cơ cấu trong các lĩnh vực đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước, thị trường tài chính tiền tệ, tái cơ cấu nông nghiệp. Người đọc báo ghi nhận những điều này không có gì mới, nó đã được bắt đầu từ 2012 và cho đến nay không đạt nhiều kế quả.

Bên cạnh những hứa hẹn về quốc kế dân sinh, một trong những điểm đáng chú ý mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cam kết là thực hiện đầy đủ hơn kinh tế thị trường, để vận hành đồng bộ hiệu quả các loại thị trường, trong đó có đất đai. Ngoài ra Thủ tướng cũng hứa hẹn hoàn thiện thể chế, hoàn thiện luật pháp và đặc biệt quan trọng là bảo đảm quyền dân chủ, tự do, quyền sở hữu của người dân theo Hiến pháp 2013.

Các chuyên gia nói rằng Việt Nam đã mất cơ hội cải cách dân chủ khi Hiến pháp 2013 sửa đổi vẫn qui định Khu vực kinh tế Nhà nước là Chủ đạo nền kinh tế, đất đai sở hữu toàn dân tức thuộc Nhà Nước. Nhưng dù sao theo Hiến pháp 2013, người dân sẽ có những quyền cơ bản thí dụ như lập hội, biểu tình, tiếp cận thông tin chẳng hạn và Nhà nước sẽ phải ban hành những Luật này.

Nguyễn Viết Dũng ra tòa: Thực chất không phải là “gây rối trật tự công cộng”

Nguyễn Viết Dũng ra tòa: Thực chất không phải là “gây rối trật tự công cộng”

RFA

NGUYỄN TƯỜNG THỤY

Chính trang phục của Nguyễn Viết Dũng đã đưa anh vào vòng lao lý

Ngày mai, 14/12/2015, tòa án quận Hoàn Kiếm đưa Nguyễn Viết Dũng ra xét xử tại 51, Lò Sũ, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, với tội danh “gây rối trật tự công cộng”.

Vụ án này được dư luận đặc biệt quan tâm. Hoàn cảnh bị bắt của Dũng so với tội danh hết sức vô lý: Nhóm 5 người của Dũng hòa vào buổi tuần hành trật tự phản đối chặt cây xanh của chính quyền Hà Nội ngày 12/4/2015. Nhóm này bị bắt khi buổi tuần hành đã kết thúc và mấy anh em đang uống nước tại một quán giải khát ở gần nhà thờ lớn. Điều đó cho thấy Dũng không hề bị bắt quả tang khi “gây rối trật tự công cộng” (nếu có). Điều kỳ lạ là, trong khoảng 150 người tuần hành hôm ấy, với hành vi như nhau, chỉ có nhóm của Dũng bị bắt và chỉ mình anh bị truy tố.

Kỳ lạ hơn, riêng từ năm 2011 đến nay, đã có khoảng hai chục cuộc biểu tình tại Hà Nội, tập trung chủ yếu ở khu vực Hồ Hoàn Kiếm. Trong đó, hơn một nửa số cuộc biểu tình không bị đàn áp, được cảnh sát giao thông dẹp đường, thậm chí các cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh như vụ Nguyễn Viết Dũng tham gia còn được báo chí của nhà nước đưa tin, biểu thị sự ủng hộ:

Đoàn người tuần hành giơ cao biểu ngữ phản đối việc chặt hạ cây xanh. (Báo Người lao động)

 

Nguyễn Viết Dũng cùng nhóm bạn đang tuần hành phản đối chặt cây xanh trong trật tự

Vậy thì tại sao, cùng hành vi biểu tình, tuần hành mà hàng ngàn người không bị truy tố về hành vi “gây rối trật tự công cộng” mà họ chỉ nhằm vào một Nguyễn Viết Dũng?

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàn Kiếm cho rằng Dũng đã lôi kéo người khác tham gia tuần hành, cuối cùng được 4 người. Vậy thì toàn bộ số người tuần hành hôm đó đông hơn vài chục lần nhóm 5 người của Dũng thì ai lôi kéo? Sao công an Hoàn Kiếm không quan tâm? Nếu kẻ nào đó quan tâm thì lại là đánh lén để dằn mặt như trường hợp đánh Trịnh Anh Tuấn (Gió lang thang) admin của nhóm Vì một Hà Nội xanh vào ngày 22/4/2015.

Lý do thực đem Nguyễn Viết Dũng ra tòa là đây: Theo bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra quận Hoàn Kiếm thì “Dũng đã mua 19 áo phông tự thiết kế và đặt in logo con đại bàng trên nền 3 sọc với khẩu hiệu ‘Tổ quốc – Danh dự – Trách nhiệm’ trên ngực áo bên trái” … “đã phát hiện bắt giữ và thu giữ 19 chiếc áo phông đen có logo của chế độ Sài Gòn; 01 dải ruy băng dài khoảng 1,5 m rộng 10 cm màu vàng có 3 sọc đỏ; …01 bộ quần áo rằn di”… “05 đối tượng mặc áp phông đen có hình logo trước ngực giống biểu tượng Quân lực Việt nam Cộng Hòa”. Sợ người ta không hiểu, cơ quan này còn cẩn thận giải thích “(chế độ Ngụy quyền sài Gòn cũ”), ”nhóm đối tượng mặc quần áo có biểu tượng quân lực Việt Nam Cộng Hòa chụp ảnh, tôn sùng chế độ Ngụy quyền Sài Gòn cũ tạo sự phản cảm…”

Bản kết luận điều tra của công an quận Hoàn Kiếm chỉ vỏn vẹn 3 trang rưỡi, nhưng phần nói về “tội trạng” của Nguyễn Việt Dũng chỉ có vậy. Còn lại toàn là chuyện không có liên quan gì như ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ xung quanh, gây ra sự bức xúc phản ứng của dân, của khách du lịch rồi Hội cựu chiến binh lên tiếng v.v… – những điều này chẳng qua là cơ quan điều tra tưởng tượng hoặc dàn dựng ra mà thôi. Công an quận Hoàn Kiếm cần hiểu, đưa ra những điều này chẳng để làm gì vì đó không phải là căn cứ pháp luật. Để đưa một người ra truy tố là phải căn cứ vào hành vi, cứ không phải là làm cho ai đó bức xúc.

Kết luận điều tra của Công an quận Hoàn Kiếm đay đi đay lại những cụm từ “chế độ Sài Gòn”, “chế độ Ngụy quyền Sài Gòn cũ” “logo của chế độ Sài Gòn” “biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa”. Qua đó đủ thấy, họ cho rằng, ai dính dáng đến Việt Nam Cộng Hòa là nguy hiểm lắm, mặc dù Nhà nước này đã bị cộng sản bức tử trên lãnh thổ Việt nam đã 40 năm nay. (tôi chỉ nói trên lãnh thổ Việt nam thôi). Chẳng lẽ, họ sợ Việt Nam Cộng Hòa tới mức như vậy sao? Vậy xin hỏi, trong lịch sử việt Nam, nhiều triều đại đã thuộc về quá khứ thì sao? Chúng tôi thường xuyên thắp hương trước tượng đài Lý Thái Tổ thì sao? Lá cờ vàng từ thời Hai Bà Trưng, cờ vàng “Phá cường địch báo Hoàng ân” của Trần Quốc Toản cho đến những lá cờ vàng trong suốt các triều đại phong kiến tới tận năm 1945 thì sao?

Nên nhớ, báo chí nhà nước kể cả trang điện tử của Chính phủ đã nhìn nhận Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa là một Nhà nước có chủ quyền, là một chủ thể trong quan hệ quốc tế.

Vụ án Nguyễn Viết Dũng có một nét giống như một số vụ án khác như vụ Bùi Thị Minh Hằng, vụ dân oan Vũ Thị Hải. Công an bắt nhiều người nhưng họ chỉ truy tố bỏ tù những người họ cho là cần truy tố mặc dù không hề có biên bản quả tang phạm pháp và hành vi của họ là như nhau, với “tội danh” thật (theo họ) lại không có trong Bộ luật hình sự nên phải đá sang một tội danh khác.

Những người quan tâm, theo dõi sát sao vụ án Nguyễn Viết Dũng đều hiểu, Dũng bị truy tố không phải vì tội danh “gây rối trật tự công cộng” mà lý do thực chất là mang biểu tượng của Việt nam Cộng Hòa. Nhưng nếu truy tố theo tội danh mà họ muốn thì lại không thể căn cứ vào Bộ luật hình sự. Bộ luật hình sự không hề có tội danh “sử dụng biểu tượng của Việt nam Cộng Hòa” cũng như không có tội “yêu (hay cảm tình với) Việt nam Cộng Hòa”. Và đặc biệt là nếu truy tố bừa đi như thế thì họ không chống chế được (dù là yếu ớt) đối với công luận quốc tế.

Vì vậy, chắc chắn Nguyễn Viết Dũng sẽ không bị truy tố nếu không sử dụng trang phục có biểu tượng Việt Nam Cộng Hòa. Dù có che đậy bằng cách truy tố Dũng dưới tội danh “gây rối trật tự công cộng” thì nhà cầm quyền Việt Nam không thể che giấu nổi công luận trong nước cũng như quốc tế.

Mọi sự kết án Nguyễn Viết Dũng vào ngày mai là không có cơ sở pháp luật. Yêu cầu các cơ quan tố tụng quận Hoàn Kiếm trả tự do ngay cho anh tại tòa.

13/12/2015

NTT