Giấc Mơ Dương Tường & Ác Mộng Bùi Ngọc Tấn

Giấc Mơ Dương Tường & Ác Mộng Bùi Ngọc Tấn

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Mặc dù nhiều khi mượn áo trí thức để làm dáng nhưng trong thực tế bản chất của lưu manh là thâm thù căm ghét trí thức chân chính. Và họ căm thù trí tuệ nói chung.

Vương Trí Nhàn

Thi sĩ Dương Tường vừa viết thư (“Gửi Bạn Ở Cõi-Bên-Kia”) nhân ngày giỗ đầu – ngày 18 tháng 12 năm 2015 – của nhà văn Bùi Ngọc Tấn:

“Mình đang đi trên một con phố mới, hình như ở Hải Phòng. Lạ hoắc song lại có nét gì quen quen mà không tài nào xác định nổi. Giống như khi ta cố nhớ ra một cái tên rất thân quen, chắc chắn nó ở quanh quanh đâu đây trong bộ nhớ, chỉ dấn chút xíu nữa là “bắt” được mà nó vẫn vuột mất để rồi đến một lúc thôi không  cố nhớ nữa thì nó lại bất ngờ hiện ra. À, đây rồi cái biển tên phố gắn trên một cột đèn. Mình tiến lại và đọc thấy: BÙI NGỌC TẤN…

Thế là mình thức giấc. Và ngồi viết thư cho Tấn đây…

Hà Nội đã có những đường phố mang tên Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng …, những điểm son của văn học Việt Nam. Thế còn bao giờ Nam Định có phố Trần Dần, Bắc Ninh có phố Hoàng Cầm, Thanh Hóa có phố Hữu Loan, Yên Bái có phố Lê Đạt, Thừa Thiên-Huế có phố Phùng Quán?  Và Hải Phòng có phố Bùi Ngọc Tấn? Một dự cảm tâm linh nói với mình: rồi những giá trị đích thực sẽ được trả về đúng vị trí. Con đường mình vừa dạo chơi trong mơ – đường Bùi Ngọc Tấn – rồi sẽ thực sư có trong thực tại. Và biết đâu đấy, mình lại có dịp thả bộ trên con đường ấy, như đã thả bộ trên đường Văn Cao dăm năm trước …”

Đại lộ Phạm Hùng. Ảnh: baomoi

Bức thư thượng dẫn làm tôi nhớ đến những mẩu đối thoại (tưởng tượng) khác, cũng của người ở cõi dương với bạn bè ở bên kia thế giới:

Tôi thỉnh thoảng dạo phố vẫn hay dừng lại nhìn lên một tên phố mà chuyện trò lặng lẽ với con người ngồi ở trên cái bảng sắt tây dó. Để nghe anh ta giãi bày. Và cũng để anh ta đừng tưởng bở.

Thí dụ Văn Cao, ngày hai lượt ra trung tâm thành phố và về Cầu Giấy, tôi từng có lần hỏi anh: Cậu khỏe không? Bây giờ ở trên cao này có thấy sao không?” Thì Văn Cao bảo tôi:“Tao làm nhạc, làm thơ, vẽ, ai hay nay làm diễn viên lên sân khấu đóng vai kịch ca ngợi đảng trọng hiền tài. Mày với tao sống trong cái chăn toàn rận này, mày lạ đ. gì nữa.

Hôm nọ thằng Dương Bích Liên nó lui lủi đi dưới kia, đầu chúi chúi, hai tay đút túi quần. Tự nhiên nó nhìn lên hỏi, mày lại cam ra làm bù nhìn bịp cho cái chính sách yêu vớt trí thức ư? Thế là tao rơi đánh xoáng một cái xuống. (Trần Đĩnh. Đèn Cù II, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Đại Lộ Mai Chí Thọ. Ảnh:  triviet24h

Tôi thì trộm nghĩ rằng những con phố mang tên Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu (e) chả phải là vở kịch “đảng trọng hiền tài” hay “chính sách yêu vớt trí thức” – như cách dụng ngữ của nhà văn Trần Đĩnh đâu. Những người cộng sản Việt Nam có đời nào mà tử tế dữ vậy. Họ cũng chưa bao giờ qúi trọng hay yêu thương gì giới trí thức cả, “giả trọng” hay “yêu vớt” cũng không luôn.

Nói gần nói xa, chả qua nói thiệt, và nói theo lối thường dân (Nam Bộ) thì đây chẳng qua chỉ là “chính sách ăn theo” hoặc “chiến thuật dựa hơi” của Đảng mà thôi.

Kiểu chơi láu cá chó này ai cũng biết, đâu có xa lạ và mới mẻ gì. Tạp chí Khởi Hành số  phát hành tháng 8 năm 99 – từ California – đã có bài viết (“Khi Chính Trị Chi Phối Văn Hoá”) của Thạc Sĩ Trần Anh Tuấn, về mấy cái mánh (lặt vặt) như thế tự lâu rồi.

Một phần của bài viết, Trần Anh Tuấn dùng để điểm cuốn Lịch Sử Và Văn Hoá Việt Nam, Những Gương Mặt Trí Thức, tập Một – do Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ân và Tạ Ngọc Liễn sưu tầm và biên tập – nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin Hà Nội xuất bản năm 1998. Nội dung cuốn sách được ghi nhận và phân tích như sau:

“Với hơn 700 trang, các tác giả đã chọn ra 71 nhân vật mà họ vinh danh là những trí thức Việt Nam tiêu biểu trải qua 770 năm lịch sử, với 9 thời đại và thời kỳ (Trần, Hồ, Lê, Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa V.N.)”.

“Nhưng nhìn vào danh sách là chúng ta thấy ngay sự ăn gian của những người làm sách: trong suốt 720 năm (1225 – 1945) họ chỉ chấm có 38 nhân vật tức 53%. Ðó là Trần Thái Tông, Lê Văn Hưu, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Chu Văn An, Tuệ Tĩnh, Hồ Nguyên Trừng, Nguyễn Trãi, Triệu Thái, Lê Thánh Tông, Lê Sĩ Liên, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Hữu Trác, Nguyễn Thiếp, Lê Qúi Ðôn, Lê Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Trần Văn Kỷ, Võ Trường Toản, Phan Huy Chú, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Ðình Chiểu, Phạm Thuật Duật, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Truờng Tộ, Nguyễn Quang Bích, Lương Văn Can, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn An Ninh, và Phạm Tuấn Tài.”

“Trong 50 năm sau cùng (1945 – 1995), họ đưa ra một số lượng khổng lồ là 33 nguời, tức 47%. Trong số 33 tên, chỉ trừ giáo sư Hoàng Xuân Hãn sống ở Pháp, còn lại 32 tên không ai khác hơn là những đảng viên cao cấp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam và những nguời phục vụ chế độ cộng sản. Ðó là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Khánh Toàn, Ðặng Thái Mai, Trần Huy Liệu, Phạm Huy Thông, Tôn Thất Tùng, Hồ Ðắc Di, Phạm Ngọc Thạch, Trần Ðại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Trần Văn Giáp, Tôn Quang Phiệt, Hải Triều, Ngụy Như Kon Tum, Dương Ðức Hiền, Ðặng Văn Ngữ, Hoài Thanh, Nam Trân, Nguyễn Khắc Viện, Lê Văn Thiêm, Từ Chi, Nguyễn Ðổng Chi, Cao Xuân Hy, Trần Ðức Thảo, Hoàng Thúc Trâm, Ðào Duy Anh, và Hoàng Xuân Hãn.”

Nhạc sĩ Tô Hải mô tả đây là “cái trò nhố nhăng định khoanh vùng lịch sử chỉ còn ở cái ‘thời rực rỡ nhất’ là do Đảng họ lãnh đạo thôi,” chứ CS chả có lòng “yêu vội” hay “yêu vớt” gì Trần Ðức Thảo,  Ðào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn… cả. Họ chỉ “dựa hơi” những nhân vật trí thức này để mở đường cho cái đám thất phu (cỡ như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Truờng Chinh …) được dịp “quá giang” hay “đi ké” vào lịch sử – như những gương mặt trí thức – Việt Nam.

Tương tự, những con đường mang tên Nguyễn Chí Thanh, Xuân Thủy, Phạm Văn Đồng, Mai Chí Thọ, Phạm Hùng, Trần Quốc Hoàn … sẽ bớt dơ dáng và dị hợm (phần nào) khi được đặt cùng với mấy tên phố tử tế và đàng đàng hoàng khác: Nguyễn Tuân, Văn Cao, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… Làm thế coi cho đỡ chướng, và ngó cũng dễ “nuốt” hơn. Trông cũng giống như mấy lát mì cõng cơm (ăn độn) vậy mà!

Tôi còn sợ rằng giấc mơ của Dương Tường (dám) lại là ác mộng của Bùi Ngọc Tấn nữa chớ. Thưở sinh thời, đã biết bao lần nhà văn của chúng ta từng phải sống qua những ngày tháng hốt hoảng và tuyệt vọng:

– “… bàng hoàng khi biết mình có ‘đuôi’….  Anh như ngửi thấy cái mùi của nhà tù. … Đó là đòn đánh ngang đầu. Là đất sụt nơi mình đứng. Là cuộc đời bỗng nhiên không còn là cuộc đời nữa… có cảm giác của một con thú bị nhốt trong chuồng lồng lộn nhưng không sao thoát được. Thì ra họ có toàn quyền làm những việc họ thích. Họ huy động cả guồng máy khổng lồ để hại mình.” (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

– “Tôi thấy rợn hết cả người khi nghĩ đã có mấy thế hệ theo dõi tôi, săn đuổi tôi, vu cáo tôi. Họ đã già đi. Ðã về nghỉ, hưu trí an nhàn. Nhiều người đã chết. Một thế hệ khác tiếp tục việc theo dõi. Rồi một thế hệ tiếp theo nữa. Ðời này sang đời khác.” (Bùi Ngọc Tấn. Hậu Chuyện Kể Năm 2000. Tiếng Quê Hương. Fallchurch, VA: 2014).

Cho mãi đến khi từ giã cõi đời, Bùi Ngọc Tấn mới hết bị “theo dõi” và mới hoàn toàn thoát khỏi “cái cảm giác như một con thú bị nhốt trong chuồng.” Thế mà cái “con thú” này bất ngờ lại được lên tên đường, và cận kề với toàn danh nhân (của ngành công an) những nhân vật “toàn quyền làm những việc họ thích” và có thể “huy động cả guồng máy khổng lồ để hại” người cỡ như Trần Quốc Hoàn, Mai Chí Thọ, Phạm Hùng … thì rõ ràng là một chuyện rất … hãi hùng – một cơn ác mộng – chớ còn gì nữa? Không khéo Bùi Ngọc Tấn lại “rơi đánh xoáng một cái” như không!

Tương tự, tôi e rằng Văn Cao cũng không cảm thấy vinh dự hay hạnh phúc gì cho lắm (sau một kiếp “sống trong một cái chăn toàn rận”) khi ông bị đặt nằm giữa những con phố đầy rẫy bất trắc và tệ đoan xã hội:

– “Quét Gái Mãi Dâm Trên Đường Nguyễn Chí Thanh” – báo An Ninh Thủ Đô

– “Đột Nhập Động Mãi Dâm Trên Đường Phạm Văn Đồng” – báo Người Đưa Tin

– “Bắt Kẻ Giao Hàng Trắng Dọc Đường Trường Chinh” – báo An Ninh Thủ Đô

– “Trộm Vàng Táo Tợn Trên Đường Xuân Thuỷ” – báo VietNamNet

–  “Phóng Viên Truy Đuổi Đối Tượng Trộm Cắp Trên Đường Phạm Hùng” –   báo An Ninh Thủ Đô

– “Dàn Cảnh Cướp Xe Trên Đường Hồ Chí Minh” – báo Dân Trí

-“Xe Buýt Lại Tông Người Trên Đường Lê Duẩn” – báo Người Lao Động

– “Xuất Hiện Hố Tử Thần Trên Đường Trần Quốc Hoàn” – báo Lao Động

-“Tảng Đá Chục Tấn Rơi Trên Đại Lộ Nguyễn Tất Thành” – Báo Mới

– “Ôtô Điên Trên Đường Tôn Đức Thắng” – Báo Mới

-“Đột Kích Hàng Loạt Tụ Điểm Mát Xa Kích Dục Trên Đường Nguyễn Duy Trinh” – Báo Vnexpress.

Tiểu lộ Nguyễn Thị Nhỏ. Ảnh: Dân Việt

Sau 83 năm đô hộ Việt Nam – ngoài những tội ác vô phương chối cãi – người Pháp cũng đã để lại cho xứ sở này những thành quả hiển nhiên, thuộc nền văn minh chung của toàn thể nhân loại: hệ thống cầu cống, giao thông, y tế, giáo dục, ngân hàng, bưu điện, bệnh viện, thư viện, kiến trúc… Nói theo bác Nguyễn Gia Kiểng là “Pháp đã còng tay Việt nam và dẫn vào thời đại mới.”

Sau đó, dân Việt bị còng tay (chặt hơn) bởi những người cộng sản rồi buộc phải… đi lùi! Đó là lý do tại sao trước khi được “vinh hạnh” mang tên “những vị anh hùng cách mạng,” phố phường Hà Nội (nói riêng) và của cả nước (nói chung) sạch sẽ và an lành hơn hiện cảnh rất nhiều.

Điều phiền phức và rắc rối hiện nay là dân Việt không còn chỗ để có thể lùi được nữa. Họ đã bị đẩy đến tận chân tường rồi. Bởi thế, những người cộng sản khó mà có thể tiếp tục giữ được quyền bính trong những ngày tháng tới.

Khác với chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa cộng sản khi sụp đổ không để lại nơi phần đất mà nó cai trị bất cứ một thứ thành quả nào – ngoài bạo lực, nghèo đói, dốt nát, dối trá, và vô số những con đường (cũng như những ngôi trường, những cơ quan, dinh thự …) buộc phải thay tên!

Đến lúc đó, có lẽ, vẫn chưa muộn để “Nam Định có phố Trần Dần, Bắc Ninh có phố Hoàng Cầm, Thanh Hóa có phố Hữu Loan, Yên Bái có phố Lê Đạt, Thừa Thiên-Huế có phố Phùng Quán …  Và Hải Phòng có phố Bùi Ngọc Tấn” – như giấc mơ của Dương Tường.

Xây biệt thự cho ‘thứ trưởng’ ở, rồi bỏ hoang

Xây biệt thự cho ‘thứ trưởng’ ở, rồi bỏ hoang
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – “Cả trăm biệt thự ở Xuân Phương (Nam Từ Liêm, Hà Nội) đã xây xong phần thô từ nhiều năm nay, nhưng chỉ chưa đầy chục hộ đến ở, còn lại để cỏ mọc đến ngang gối.”

Khu biệt thự dành cho giới tư bản đỏ và các quan chức cấp “thứ trưởng” bỏ hoang. (Hình: VNExpress)

Báo điện tử VNExpress mô tả như thế về hiện trạng của “khu nhà ở cao cấp” nằm tại ô TT9, TT10 khu đô thị mới Xuân Phương (Nam Từ Liêm, Hà Nội), cách khu liên hiệp thể thao Mỹ Đình khoảng 7 km.

Theo bài viết trên VNExpress, khu đô thị mới này đã được xây dựng từ năm 2011, “theo quy hoạch khu biệt thự gồm 227 căn với tổng mức đầu tư hơn 400 tỷ đồng. Trong đó trên một nửa số biệt thự và diện tích đất dành cho cán bộ cấp thứ trưởng và tương đương công tác trong các cơ quan của Quốc Hội, phần còn lại chủ đầu tư là công ty CP Đầu Tư Đô Thị và Khu Công Nghiệp Sông Đà 7 được kinh doanh. Dự án được triển khai theo hình thức góp vốn rồi bán cho cán bộ.”

Theo bài viết, hiện chỉ có “chưa đầy 10 hộ dân dọn đến sinh sống” trong đó có hai gia đình là “cán bộ” của Quốc Hội. Dự án chia làm 2 khu, “phía bên phải từ cổng vào là khối biệt thự dành cho cán bộ Quốc Hội cấp thứ trưởng hoặc tương đương, phía còn lại thuộc về chủ đầu tư.”

Từ 4 năm nay “cả hai khu rất vắng người sinh sống. Hệ thống đường sá, cây xanh thảm cỏ bên trong khuôn viên khu biệt thự được trồng và bố trí đầy đủ. Hai khu biệt thự đều có khuôn viên để trồng cỏ và cây hoa làm nơi vui chơi, giải trí và đi bộ.”

Tuy nhiên, hầu hết cả khu vực đều bỏ hoang cho mục nát dần, cỏ dại mọc trên các hoa thảm cỏ, một số người “tranh thủ” trồng rau. Một trong những lý do chính yếu khiến những người đã bỏ tiền ra mua các căn biệt thự hay chung cư liền kề này không chịu tới ở vì không có “hệ thống đấu nối cấp nước, thoát nước thải ra ngoài.”

“Một trong số những ngôi nhà khang trang nhất ở đây, nằm ở hai mặt tiền. Các biệt thự ở đây có diện tích từ 90-250m2, dao động từ 40 đến 50 triệu đồng/1m2. Trao đổi với VNExpress, một người môi giới bất động sản tại dự án này cho hay, tại đây có thời điểm đất sốt, giá mỗi mét vuông lên tới 70 triệu đồng,” VNExpress viết.

Phần đất trống trước một số căn hộ được tận dụng để làm nơi trồng các loại rau. (Hình: VNExpress)

Các tin tức hồi năm 2012 cho thấy, chỉ riêng tại 2 thành phố lớn nhất nước Hà Nội và Sài Gòn, khoảng 70,000 căn nhà hoặc đã hoàn tất, hoặc xây dở dang rồi bỏ cho cỏ dại mọc. Các nhà đầu tư địa ốc, trong đó không ít là những đại gia quốc doanh muốn ăn xổi, vay tiền ngân hàng xây ào ạt, rơi vào cái thế chết chùm.

Báo Lao Động ngày Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012 dẫn một bài tham luận về kinh tế Việt Nam năm 2012 của bộ phận nghiên cứu thuộc tổ chức đầu tư Dragon Capital nêu con số nhà “tồn kho” khổng lồ như vừa kể và nói các nhà đầu tư chôn trong đó từ 70,000 tỷ đồng (khoảng $3.5 tỷ USD) đến 140,000 tỷ đồng (khoảng $7 tỷ USD) nếu trị giá của mỗi căn nhà tối thiểu từ 1 tỷ đồng đến 2 tỷ đồng.

Tờ báo dẫn chi tiết của bản tham luận cho biết 69 đại gia đầu tư địa ốc (gồm nhiều đại gia quốc doanh của Bộ Xây Dựng CSVN) niêm yết trên sàn giao dịch, tính đến quý thứ tư của năm 2011, đã gánh số nợ khoảng 67,000 tỷ đồng (khoảng $3.35 tỷ USD) từ các ngân hàng thương mại và phải trả tiền lời mỗi năm 13,400 tỷ đồng (khoảng $670 triệu USD).

Riêng trong năm 2012, nợ đáo hạn phải trả lên đến 39,800 tỷ đồng hay khoảng $1.99 tỷ USD. Các công ty đầu tư xây cất không bán được nhà, không có tiền trả nợ, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam ôm một số nợ khó đòi khổng lồ, rất có thể mất luôn.

Tình trạng biệt thư, nhà liền kề, cướp đất của dân, xây dựng bừa bãi tưởng kiếm được núi của mấy năm trước, giờ vẫn còn là khúc xương vướng ngang cổ họng của chế độ Hà Nội và cũng không có ai chịu trách nhiệm. (TN)

Theo Phan Bội Châu: Chống tham nhũng – Chống áp bức

Theo Phan Bội Châu: Chống tham nhũng – Chống áp bức
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Trong bài trước, mục này đã đề nghị những đảng viên ký tên dưới bức thư gửi Bộ Chính Trị và toàn thể đảng Cộng Sản Việt Nam phải hành động, khi những lời họ yêu cầu đảng thay đổi không được đại hội đảng kỳ thứ 12 đáp ứng. Họ cần cộng tác với các nhà tranh đấu dân chủ ngoài đảng, cùng tạo ra một thực thể chính trị mới, có như vậy Việt Nam mới có thể bắt đầu tiến trình dân chủ hóa noi gương Myanmar. Thực thể chính trị mới không nhất thiết là một đảng, một tổ chức chặt chẽ, mà chỉ cần bùng lên như một phong trào tự động, tự phát, sẽ tác động trên tinh thần của tất cả đồng bào, nhất là giới thanh niên.

Người ta sẽ làm gì để gây thành một phong trào như vậy? Hãy hành động như Luật Sư Nguyễn Văn Ðài. Ông Nguyễn Văn Ðài vừa bị bắt giam và sẽ bị đưa ra tòa, chỉ vì ông đi từ nhà ở phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội vào tận xã Nam Lộc, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An, thuyết trình trước 70 người dân Việt Nam. Ông chỉ nói với đồng bào về các quyền căn bản của con người và của các công dân Việt Nam, căn cứ trên bản hiến pháp hiện đang thi hành. Cần hàng ngàn, hàng vạn người trong giới trí thức và thanh niên Việt Nam noi theo gương hành động của Nguyễn Văn Ðài. Ông chỉ làm một công việc mà Phan Bội Châu, trước đây hơn một thế kỷ, đã khuyên dân ta phải thực hiện.

Năm 1903, trong cuốn Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư (Lá thư mới viết bằng máu và nước mắt, từ quần đảo Lưu Cầu,) Phan Bội Châu nói tới ba nhu cầu thay đổi của nước ta: Học Thuật, Nhân Tài, và Dân Khí. Ðổi Học thuật, ngày nay chúng ta nói phải thay đổi tư tưởng, học hỏi khoa học kỹ thuật tiến bộ và nếp sống xã hội, chính trị tự do dân chủ mà nhân loại đã thực hiện trên khắp trái đất. Dưỡng Nhân Tài, bây giờ gọi là nhu cầu cải thiện giáo dục và đào tạo thanh niên. Phan Bội Châu viết: “Trong ba điều nói trên thì chấn dân khí là trước hết,” ưu tiên số một trong số ba việc cần làm. (Phan Bội Châu Toàn Tập, xuất bản năm 1990, cuốn 1, trang 145).

Nguyễn Văn Ðài đã làm cả ba công việc, theo đúng lời khuyên của Cụ Phan: Giúp đồng bào thay đổi, tập suy nghĩ theo tinh thần dân chủ, căn cứ vào hiến pháp; tập nói thẳng những điều mình thấy là đúng mà không sợ hãi trước cường quyền. Nếu tất cả quý vị đã ký tên trong bức thư gửi đảng Cộng Sản cũng làm được như vậy, họ cũng sẽ góp công vào việc chấn dân khí.

Nhưng muốn chấn dân khí, có thể làm những công việc cụ thể hơn. Cụ Phan đã nêu lên hai việc quan trọng nhất. Một: “Cốt yếu là phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Hai: “Phải bớt lệnh áp bức để cổ võ chí khí cương cường.”

“Tuyệt đường hối lộ,” và “Bớt lệnh áp bức.” Khi đọc hai mệnh đề đó, chắc nhiều vị độc giả không biết đó là những phương thuốc trị bệnh cho nước Việt Nam do Phan Bội Châu đề nghị từ thế kỷ trước.

Chống tham nhũng, chống áp bức là những việc tất cả mọi người Việt Nam đều có thể tham dự, kể cả các đảng viên cộng sản. Các đảng viên có lợi thế hơn người khác vì họ “nằm trong chăn” nên dễ biết những con rận đang chui rúc ở đâu. Các đảng viên cần cộng tác với các nhà tranh đấu ngoài đảng thì mới tác động được trên tất cả mọi người. Mười năm trước đây, cựu Ðại Tá Phạm Quế Dương và Giáo Sư Trần Khuê đã nộp đơn xin thành lập “Hội Nhân Dân Việt Nam ủng hộ đảng và nhà nước chống tham nhũng,” nhưng “vừa làm đơn gửi đi được mấy ngày đã ‘rách chuyện’ ngay lập tức…” như ông kể lại. Bởi vì muốn chống tham nhũng thì xã hội Việt Nam phải thay đổi, Phạm Quế Dương nói, “trước hết là phải đa nguyên, đa đảng, cái thứ hai là phải có tự do báo chí, cái thứ ba là phải có tự do bầu cử.”

Các đảng viên đã gửi bức thư cho Bộ Chính Trị cũng đề nghị thay đổi như vậy: “Ða nguyên, đa đảng, tự do báo chí, tự do bầu cử.” Các nhà tranh đấu cho dân chủ ở Việt Nam, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Ðài đang bị tù hay Linh Mục Phan Văn Lợi, Nguyễn Ðan Quế, còn được tự do, cũng theo đuổi các mục tiêu tương tự. Ðã tới lúc các đảng viên cộng sản tỉnh ngộ và các nhà tranh đấu dân chủ phải hành động đồng nhịp với nhau. Một bên là các đảng viên cộng sản gây phong trào chống tham nhũng. Bên kia là các nhà tranh đấu đẩy mạnh phong trào chống đàn áp. Cả hai sẽ góp công chấn hưng dân khí, theo lời khuyên của Phan Bội Châu.

Hai cụ Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đều coi việc chấn dân khí là quan trọng nhất trong công cuộc phục hồi phẩm giá và danh dự cho dân tộc Việt Nam. Một trăm năm sau, điều này vẫn đúng. Chấn Dân Khí là làm sao con người Việt Nam không hèn nhát, không ỷ lại, không ích kỷ, không sợ cường quyền.

Phan Bội Châu viết rõ ràng: “Con đường hối lộ chưa chặn hẳn thì dân khí không sao chấn được!” (Toàn Tập, cuốn 1, trang 146). Cụ Phan coi chống tham nhũng là một phương tiện để nâng cao khí tiết. Xây dựng đức liêm sỉ là cứu cánh. Phải chấm dứt nạn tham nhũng hối lộ, thì mới tập cho người dân Việt biết thế nào là liêm sỉ. Trong một xã hội mà giới trẻ lớn lên thấy muốn gì cũng phải đút lót; họ thấy nếu có tiền thì cái gì cũng mua được; trong một xã hội như vậy, thanh niên không thể nuôi dưỡng khái niệm về đức liêm sỉ.

Trong tiểu thuyết Lạc Ðường của nhà văn Ðào Hiếu, một nhân vật thú nhận: “Hồi trẻ tôi thường nghĩ: Làm người thì phải có lý tưởng, phải tin vào một cái gì đó và phải biết ước mơ … Hàng triệu thanh niên cũng nghĩ như tôi vậy. Nhưng thật tội nghiệp cho thế hệ thanh niên ngày nay… khi lịch sử đã chứng minh rằng lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách…” Hồi trẻ của Ðào Hiếu là thời ông lớn lên ở miền Nam, được giáo dục trong gia đình và các trường học của Việt Nam Cộng Hòa. Chính trong nếp sống xã hội và hệ thống học đường đó, ông được dạy dỗ phải sống theo một lý tưởng. Ông đã tin vào lý tưởng cộng sản, hoạt động nội thành, gia nhập đảng. Sau năm 1975 ông đã thất vọng, vì tính bộc trực, không chịu luồn cúi không được chế độ mới chấp nhận. Nhưng tại sao một người gần 70 tuổi lại tỏ ý chán chường đến nỗi phải kết luận: “lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách,” như Ðào Hiếu đã viết? Một nhân vật trong Lạc Ðường còn khuyên giới trẻ: “Ðừng tin ai, đừng trung thành với ai, đừng hy sinh vì cái gì cả… Cả lũ chúng ta đang bị lừa.” (Lạc Ðường, in 2008, trang 118).

Chúng ta biết nhà văn chỉ nói như vậy để các thanh niên đời nay tự nghĩ ra rằng muốn sống ra con người thì phải thay đổi. Phải dám tin tưởng. Phải trung thành với niềm tin của mình. Phải biết hy sinh cho một lý tưởng.

Hơn 100 năm trước, Phan Bội Châu nhận xét “Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ!” Và nêu ra các triệu chứng: Người dưới làm điều đê tiện mà không biết hổ, chịu sự ô nhục mà không biết thẹn; người trên lo trang sức cho đẹp mắt, giữ hủ lậu cho yên thân.”

Dù trong nước Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều người “đê tiện” và “ô nhục” nhưng khi nhìn nụ cười tươi của nhạc sĩ Việt Khang khi được tự do trở về nhà, chúng ta biết dân khí nước ta hiện nay đã tiến hơn thời 100 năm trước. Chàng thanh niên Nguyễn Việt Dũng dám nói và làm những việc biết trước sẽ đưa mình vào tù, nhưng vẫn cương quyết làm và nói những điều mình tin tưởng. Nguyễn Phương Uyên, Nguyễn Việt Dũng, Việt Khang, Nguyễn Văn Ðài và bao nhiêu nhà tranh đấu dân chủ khác đã “chấn dân khí” bằng hành động.

Hành động của họ gửi một thông điệp hùng hồn nhưng rất giản dị: Con người có thể sống với lý tưởng. Nhà văn Ðào Hiếu đã “cường điệu” khi mô tả một nhân vật bi quan về lý tưởng. Nhưng trong lịch sử nhân loại không thiếu gì những vụ lừa đảo, những vụ lừa đảo hàng loạt, lừa đảo cả một thế hệ, lừa đảo một nửa loài người vào bẫy. Như các người trí thức đảng viên cộng sản dám vạch ra: “Sự phát triển của đất nước bị kìm hãm chủ yếu là do Ðảng Cộng Sản Việt Nam từ nhiều năm nay dẫn dắt cả dân tộc đi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô-viết dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin.” Họ cho thấy chính họ đã bị lừa đảo.

Nhưng cuối cùng, suốt lịch sử, sẽ tới lúc loài người biết mình bị lừa. Khi tỉnh ngộ, người ta lại đứng dậy, tiếp tục giữ niềm tin vào những giá trị cao hơn cuộc sống cá nhân mình. Loài người vẫn nuôi nhiều giấc mộng lý tưởng. Lý tưởng có thật. Lý tưởng không phải là “những cái giẻ rách.” Nó giúp cho đôi mắt của Việt Khang lúc nào cũng sáng ngời. Lý tưởng biến Nguyễn Việt Dũng tự tin không khuất phục cường quyền. Họ là những bản tuyên ngôn “Chấn dân khí” gửi đến tuổi trẻ Việt Nam.

Phan Bội Châu mô tả tình trạng Dân Khí tồi tệ với những kẻ “Nghe một lời nói khác mình thì khiếp sợ như nghe sấm sét; thấy một người làm khác mình thì cho là quái lạ như Thục khuyển phệ Nhật, Việt khuyển phệ tuyết” (Chó nước Thục, ở phía Bắc khi thấy mặt trời thì lạ quá, bèn sủa, chó nước Việt ở miền Nam sủa nếu trông thấy tuyết).

Phản ứng của các lãnh tụ đảng Cộng Sản cũng sợ hãi khi thấy Nguyễn Văn Ðài dõng dạc đòi dân Việt Nam được quyền sống như những con người; đúng là “khiếp sợ như nghe sấm sét!” Ðám công an Cộng Sản thấy Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Việt Dũng dám nói chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa thì cũng kinh ngạc không khác gì những con chó ở nước Thục cất tiếng sủa khi trông thấy mặt trời, chó ở nước Việt thì sủa khi thấy tuyết. Khi hàng ngàn, hàng vạn người, kể cả các đảng viên cộng sản, cùng hành động như Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Văn Ðài thì họ sẽ tạo thành một “công luận vững như sắt đá, chính lý sáng từ cổ kim; búa rìu không uy hiếp nổi, uy quyền không đe dọa được.” (Phan Bội Châu, ibid, trang 147).

“Tuyệt đường hối lộ,” và “Bớt lệnh áp bức.”

Người Việt Nam phải bắt đầu thực hiện những lời khuyên cụ thể của Phan Bội Châu.

Đẩy gánh nợ công cho đời con cháu

Đẩy gánh nợ công cho đời con cháu

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-12-17

000_Hkg10169198-620

Thế hệ tương lai phải lo trả gánh nợ công

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

2015 được ghi nhận như năm của mối đe dọa nợ công và rất nhiều ưu tư của người dân Việt Nam. Nhà nước nhìn nhận đang cố gắng vay nợ mới để trả nợ cũ và hiển nhiên đẩy trách nhiệm trả nợ cho các thế hệ tương lai.

Nợ công và việc đẩy trách nhiệm trả nợ cho các thế hệ tương lai là mối ưu tư lớn nhất mà các cử tri Quận Nam Từ Liêm bày tỏ với tân Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung hôm 14/12/2015, khi ông lần đầu tiếp xúc với người dân trong cương vị mới.

Sự kiện vừa nêu làm dài thêm danh sách người dân các tỉnh thành cả nước, bày tỏ mối lo đời con cháu sẽ phải trả gánh nặng nợ công, do thế hệ cha ông để lại từ việc tiêu xài quá trớn. Bên cạnh nhu cầu phát triển đường xá, cầu cống lại cũng có không ít đại công trình hàng ngàn tỷ, để xây trụ sở nguy nga hoặc tượng đài hoành tráng. Ngoài ra ngân sách quốc gia còn phải đài thọ chi phí khổng lồ để vận hành hai bộ máy song hành là Đảng và Chính quyền.

Nhận định về sự kiện vừa nêu, chuyên gia kinh tế Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long hiện sống và làm việc ở Hà Nội phát biểu:

“ Tôi nghĩ rằng nợ công tăng nhanh chóng như thế nó báo hiệu một nguy cơ rất lớn. Vấn đề không phải là nó đạt ngưỡng 65% của GDP, trên đấy thì mất an toàn còn dưới đấy thì không mất an toàn.
– TS Nguyễn Quang A”

“Với một bộ máy cồng kềnh như của Việt Nam mà ngay đại biểu Quốc hội cũng nói là, rất nhiều tổ chức cùng song hành như tổ chức Đảng, tổ chức Chính quyền, tổ chức các đoàn thể và tất cả đều ăn lương nhà nước, trong khi đó năng suất lao động thì thấp, đây là sự nguy hiểm. Ở Quảng Ninh đã thí điểm nhất thể hóa giữa cơ quan Đảng với cơ quan Chính quyền. Người ta thấy vấn đề đó nhưng họ không triển khai, không thực hiện và với một bộ máy cồng kềnh lớn như hiện nay thì không có một nguồn ngân sách nào có thể kham nổi, đủ nuôi nổi bộ máy như vậy. Chắc chắn với việc đầu tư, trong khi ngân sách phải chi thường xuyên để nuôi bộ máy quá lớn như vậy thì tiền phát triển cho đầu tư, mà chính nguồn này mới là để trả nợ, không được coi trọng, không đúng thì mức nợ tăng cao và nguồn thu để trả mức nợ đó lại không có, hạn hẹp. Cuối cùng có dẫn tới vỡ nợ thì cũng là chuyện bình thường.”

Ngày 6/12/2015, ông Trương Tấn Sang Chủ tịch nước phát biểu với cử tri Quận 4 TP.HCM cho biết tốc độ tăng nợ công nhanh gấp 3 lần tốc độ phát triển Tổng sản phẩm nội địa GDP. Nhà nước đang phải vay tiền để trả nợ vì nhiều khoản đến hạn mà không có tiền để thanh toán. Những sự kiện này được báo chí Việt Nam tường thuật, theo đó ông Sang nói công khai là, trong tổng số 250.000 tỷ đồng tương đương hơn 11 tỷ USD tiền phải đi vay trong năm 2015, một phần để chi cho đầu tư và một phần để trả nợ đến hạn.

Trả lời phỏng vấn của RFA, TS Nguyễn Quang A nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ở Hà Nội đã tự giải thể, cho rằng tỷ lệ vay nợ trên GDP cao hay thấp không hẳn thể hiện vấn đề an toàn, nhưng khả năng trả nợ mới là vấn đề quan trọng nhất. Ông nói:

“Tôi nghĩ rằng nợ công tăng nhanh chóng như thế nó báo hiệu một nguy cơ rất lớn. Vấn đề không phải là nó đạt ngưỡng 65% của GDP, trên đấy thì mất an toàn còn dưới đấy thì không mất an toàn. Thực sự ở những nước mà nợ công của người ta lên đến trên 100% cúa GDP nhưng vẫn an toàn và có thể dưới mức 50% cũng không an toàn. Quan trọng là khả năng của nền kinh tế, khả năng thu của chính phủ có đủ bù chi hay không. Có thể trả nợ lãi và gốc đến hạn hay không. Nếu việc ấy mà không thực hiện được thì dẫu ngưỡng có bao nhiêu chăng nữa thì đất nước cũng lâm vào cảnh vỡ nợ cho nên tôi thấy chuyện nợ công tăng nhanh như thế thì rất đáng lo ngại.”

Cử tri Hà Nội, Saigon nhiều lần quan ngại vấn đề chi tiêu không kềm chế và vấn đề kiểm soát nợ công, khiến Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phải nhìn nhận là cả hệ thống chính quyền từ Trung ương tới địa phương đều có lỗi. Sau Hà Nội, TP.HCM, cử tri Đà Nẵng, thành phố lớn thứ ba của Việt Nam cũng lên tiếng về vấn đề này. Theo Đà Nẵng Online, Đoàn Đại biểu Quốc hội TP.Đà Nẵng gặp gỡ cử tri vào cuối tháng 11/2015 đã ghi nhận sự lo lắng cao độ về vấn đề nợ công. Cử tri Đà Nẵng nói rằng không thể yên tâm với tình hình nợ công và vay vốn viện trợ phát triển ODA như hiện nay. Cử tri bức xúc, không thể để nợ công kịch trần, rồi hậu quả là đời con, đời cháu phải oằn lưng trả nợ. Chính phủ từ Trung ương tới các địa phương phải trách nhiệm điều hành hiệu quả và quyết liệt.

Trong cuộc họp báo ngày 2/12/2015 ở Hà Nội, Ngân hàng Thế giới cảnh báo nợ công của Việt Nam đang tiến nhanh đến mức trần giới hạn 65% GDP và Việt Nam sẽ đối diện rủi ro nợ công khi phải sử dụng vốn vay ngắn hạn trong nước để chi tiêu, vì không còn nguồn vay ưu đãi từ nước ngoài.

“ Chính phủ phải huy động vốn trong xã hội bằng cách bán trái phiếu, lấy tiền bù phần thiếu hụt ngân sách chi cho đầu tư công, trong khi thu ngân sách bị ảnh hưởng nhiều do tình hình kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp.
– CG kinh tế Phạm Chi Lan “

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từ Hà Nội phân tích vấn đề này:

“Chính phủ phải huy động vốn trong xã hội bằng cách bán trái phiếu, lấy tiền bù phần thiếu hụt ngân sách chi cho đầu tư công, trong khi thu ngân sách bị ảnh hưởng nhiều do tình hình kinh tế và hoạt động của doanh nghiệp. Khi phát hành trái phiếu chính phủ như vậy sẽ có những rủi ro, ví dụ huy động ngắn hạn thì nhiều khi chưa kịp làm gì đã đến thời hạn phải trả nợ rồi, lãi suất vay bằng đồng VN cũng cao hơn vay ngoại tệ ở bên ngoài. Hơn nữa khi chính phủ đứng ra vay nhiều như vậy, thì số tiền vốn cho xã hội cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận được, sẽ lại càng khó khăn hơn.”

Việt Nam đang ngập trong nợ, nợ công  được chính phủ công bố đến tháng 12/2015 khoảng 60% GDP trong mức an toàn, nhưng đây là cách tính theo qui định, chỉ bao gồm nợ chính phủ, nợ do chính phủ bảo lãnh, nợ của chính quyền địa phương. Nếu theo thông lệ quốc tế bao gồm luôn nợ của doanh nghiệp nhà nước thì đã vượt trần, đó là chưa nói đến việc cần phải tính luôn nợ bảo hiểm an sinh xã hội như một thành phần nợ công. Bộ Kế hoạch Đầu tư từng công bố nợ công Việt Nam năm 2014 lên tới mức 66,4% với phương pháp tính toán đầy đủ.

Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long một chuyên gia ở Hà Nội từng phát biểu, nguy cơ về nợ công không phải trong tương lai mà đã hiện hữu trước mắt rồi. Không những trước mắt phải trả mà đời con, đời cháu phải trả, không sao khác được…

Nếu mô tả năm 2015 là năm âu lo nợ công của người dân Việt Nam thì quả là có thừa cơ sở.

Có ai khổ như tôi không?

Có ai khổ như tôi không?

(VienDongDaily.Com – 11/12/2015)

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Đó là tiếng kêu ai oán của ông Huỳnh Văn Nén, một công dân Việt Nam bị tù oan 17 năm 5 tháng 5 ngày. Vụ án này đang được dư luận tại VN đặc biệt chú ý, hầu hết các trang báo in, báo mạng đều nhất loạt lên tiếng về vụ án oan thuộc loại tồi tệ nhất thế kỷ này. Còn người dân lương thiện ba cọc ba đồng, trên không chằng dưới không rễ, nhất là ở những vùng quê xa xôi hẻo lánh, lo ngại cho thân phận mình trong cái thời buổi luật pháp bất minh, lòng tham không đáy, sự vô lương tâm của những nơi được gọi là cơ quan chức năng, cơ quan xử án và những anh điều tra viên dùng mọi loại nhục hình để bắt ép người dân lương thiện phải nhận tội, dù là những tôi rất nặng có thể dẫn tới tử hình. Vụ án có quá nhiều tình tiết nên tôi tóm tắt lại để bạn đọc tiện theo dõi.

Tại sao ông Huỳnh Văn Nén bị kết tội giết người

Ông Huỳnh Văn Nén đã phải khai nhận mình giết bà Lê Thị Bông vì bị điều tra viên mớm cung, nhục hình trong khi công an không tìm được chứng cứ nào khác cho thấy ông giết người.
Ông Phạm Thật – phó giám đốc cơ quan Cảnh Sát Điều Tra Công An tỉnh Bình Thuận khẳng định sau khi điều tra lại, công an đã kết luận không đủ cơ sở buộc tội ông Nén trong vụ án mạng này. Sáng 28/11 vừa qua, sau khi đọc quyết định đình chỉ điều tra ông Huỳnh Văn Nén, ông Phạm Thật cũng trao kết luận do chính ông ký ngày 27/11 về vụ án giết bà Lê Thị Bông mà ông Nén bị buộc tội giết người, cướp tài sản.

Nghi can Nguyễn Thọ vừa đầu thú hành vi giết bà Bông sau 17 năm lẩn trốn.

Nhận tội vì bị mớm cung, nhục hình

Trong kết luận này là trong thời gian điều tra lại, ông Nén khai bị điều tra viên Cao Văn Hùng mớm cung, dùng nhục hình nên mới khai nhận giết bà Bông, thực sự ông Nén không giết người phụ nữ và cũng không biết gì về vụ án mạng này.

Theo kết luận điều tra, giữa lời khai nhận tội của ông Nén và các tình tiết trong vụ án có nhiều mâu thuẫn. Vị trí giết bà Bông ông Nén khai không thống nhất, cách thức giết bà Bông có nhiều điểm mâu thuẫn. Cơ quan công an đã điều tra có tình tiết khác về lời khai của nhân chứng, việc tự khai thời gian của ông Nén trước, trong và sau khi giết bà Bông cũng có nhiều mâu thuẫn.

Khi điều tra lại, ông Nén khai bị mớm cung, bức cung nên không thể điều tra để làm rõ những mâu thuẫn trên.

Bị khởi tố từ tháng 5/1998 đến nay, ông Nén đã bị tạm giam hơn 17 năm. Ngày 23/10 ông được Viện KSND tỉnh Bình Thuận cho tại ngoại và đến ngày 28/11, ông chính thức nhận được quyết định đình chỉ điều tra.

Trước đó, ông Nguyễn Phúc Thành (người dân tại huyện Hàm Tân) đã có đơn tố cáo nhân vật Nguyễn Thọ (bạn của ông Thành) là thủ phạm giết bà Bông chứ không phải ông Huỳnh Văn Nén giết.

Vì sao anh Thành biết tên giết bà Bông chứ không phải ông Nén?

Một chi tiết khác khá thú vị là vì tình cờ nên anh Thành mới biết được sự thật, đó là do chính thủ phạm giết bà Bông nói chuyện với anh. Đêm 23/4/1998 bà Bông bị giết, thì sáng 24/4 Thọ và Việt ở nhà kế bên nói chuyện với anh Thành rằng họ đã giết bà Bông. Chẳng may vào năm 2000 anh Thành lại vướng vào tội “gây rối trật tự công cộng” bị 18 tháng tù ở trại giam Sông Cái. Trong khi ở tù anh đã làm đơn kể rõ vụ này nhưng bị anh cán bộ tên Cao Văn Hùng, đập bàn quát mắng không cho anh chuyển đơn. Nhưng anh vẫn gửi được lá đơn đó cho mẹ anh khi đến “thăm nuôi,” mang về cho gia đình ông Nén. Sau khi hết hạn tù, anh lại tiếp tục làm đơn kêu oan cho ông Nén. Như vậy là thủ phạm giết bà Bông chính là Thọ và đã ra thú tội nhờ anh Thành tố cáo.

Chính nhờ là đơn tố cáo này của ông Thành là nguyên nhân chính dẫn đến việc Viện Kiểm sát nhân dân (KSND) Tối cao kháng nghị hủy án để điều tra! Nếu không nhờ lá đơn đó chưa biết ông Nén sẽ còn nằm trong tù bao lâu nữa.

Bà Trần Thị Kim Hương, Phó Chánh Án TAND tỉnh Bình Thuận đọc lời xin lỗi gửi đến ông Nén và gia đình.

Năm 1998, ông Huỳnh Văn Nén bị bắt vì bị nghi giết bà Lê Thị Bông, con ông là anh Huỳnh Thành Phát mới 3 tuổi, con lớn thứ hai là Huỳnh Thành Lượng mới 7 tuổi, anh đầu Huỳnh Thành Công 9 tuổi.

Án oan chồng án oan

Khi đang bị bắt giữ, ông Nén khai ra vụ án giết bà Dương Thị Mỹ (kỳ án vườn điều) cùng với 9 người khác trong gia đình mình (xảy ra trước đó nhiều năm – ngày 18/3/1993 tại huyện Hàm Tân). Vợ ông Nén là bà Nguyễn Thị Cẩm cũng bị khởi tố với tội danh “giết người” trong vụ án vườn điều, không nuôi nổi ba đứa con trong khi bà ngoại và hầu hết cô, cậu, dì ruột của họ cũng bị bắt giam.
Ngày 31/8/2000, ông Huỳnh Văn Nén bị TAND tỉnh Bình Thuận xử phạt chung thân trong vụ án giết bà Lê Thị Bông; còn vụ giết hại bà Dương Thị Mỹ, ông Nén lãnh án 6 năm tù và 9 người thân khác cũng bị tù tội.

Tuy nhiên đến năm 2005, vụ giết bà Dương Thị Mỹ đã được xác định oan sai và 9 người thân của ông Nén đã được nhà nước bồi thường. Riêng ông Nén vẫn phải tiếp tục kêu oan trong vụ án giết hại bà Lê Thị Bông.

Như thế là chỉ trong một thời gian ngắn người dân lương thiện như ông Nén đã bị tới hai vụ án oan. Thử hỏi người dân nào không khiếp sợ. Không biết trên thế giới này có mấy ai vô phúc bị bắt giam oan liên tiếp hai lần không và mỗi lần thời gian ngồi tù dài đằng đẵng hơn mười năm?! Cho nên gọi ông Nén là “người tù xuyên thế kỷ.”

Nỗi lòng người tù thế kỷ Huỳnh Văn Nén

Sau khi được thả, ông Huỳnh Văn Nén tâm sự với báo Tuổi Trẻ chiều 30-11:
“Cuộc đời của tôi bị chôn vùi vì lỗi của cơ quan tố tụng. Sau gần 20 năm trong tù, giờ được ra ngoài thấy cái gì cũng lạ, kể cả chiếc điện thoại di động,” và “Tôi luôn có niềm tin mình sẽ được minh oan.”
Ông kể về thời gian bị tù: “Trong thời gian điều tra, tôi bị công an đánh, ép ký vào ba, bốn văn bản trắng. Vì quá đau đớn, tôi buộc phải nhận tội chứ tôi không giết bà Bông, thậm chí sau khi xảy ra vụ án tôi còn giúp gia đình nạn nhân làm ma chay.”

Ông Nén cho biết, tại các phiên tòa xét xử, ông đều khai mình bị ép cung, nhục hình. Thậm chí, tại một số phiên tòa, để chứng minh cho lời nói của mình, ông còn cởi áo giữa chốn công đường để mọi người nhìn thấy các thương tích do bị điều tra viên đánh đập gây ra. Tuy nhiên, tòa án vẫn cho rằng ông có tội và kết án chung thân. Ông Nén vẫn cương quyết: “Nếu tôi gục ngã giữa đường thì phải chịu, nhưng ngày nào tôi còn sống, thì ngày đó tôi còn kêu oan.” Người mẹ mất tro
ng thời gian ông Nén ở tù. Vì lo cho ông nên gia đình giấu, mãi sau này người bị tù oan này mới biết.
Sau 17 năm chờ đợi, ngày 28/11 vừa qua, công an tỉnh Bình Thuận đã công bố quyết định đình chỉ điều tra bị can với ông Nén.

Vui mừng sau khi được trả tự do, ông Nén có những mong ước rất đời thường như sửa lại căn nhà dột nát; bù đắp lại cho vợ con những tháng này khổ cực vì ông bị tù oan. Từ khi được về nhà, hàng ngày ông Nén thức dậy từ 3 giờ sáng, phụ vợ đem đồ ăn ra chợ bán.

Ra khỏi trại giam, mắt ông chỉ còn thấy mờ mờ và được một bệnh viện ở TP Sài Gòn mổ miễn phí. Ông Nén cũng mong muốn những điều tra viên năm xưa gây ra oan sai sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật.
Ông nói, “Cuộc đời của một công dân đã bị chôn vùi trong tù tội vì lỗi của những cán bộ tố tụng. Sự việc đã trải qua nhiều năm rồi, nếu gặp lại những người đã ép cung năm xưa thì tôi vẫn bắt tay vì dù sao họ đã sai và tôi đã được minh oan.”

Ông Huỳnh Văn Nén vừa được tại ngoại trong vòng tay của người thân

Những ai nhúng tay vào vụ xử tùi oan ông Nén

Vậy ai đã trực tiếp và cả gián tiếp gây nên nỗi oan sai khủng khiếp cho công dân lương thiện Huỳnh Văn Nén.

Theo báo Tiền Phong, bài “Những ai tham gia điều tra, truy tố, xét xử ông Huỳnh Văn Nén?” Điều tra viên chính vụ án Huỳnh Văn Nén là nguyên đại úy Cao Văn Hùng (cũng là điều tra viên chính “vụ án vườn điều”), được khen thưởng do thành tích trong hai vụ án này.

Ngoài ra còn nhiều vị quan chức trong cơ quan cảnh sát, viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên, người ký cáo trạng, người giữ quyền công tố, người phúc cung, thẩm phán người chủ tọa phiên tòa.

Trong số họ có người đã từng được khen thưởng, có người chuyển ngành, có người nghỉ hưu và có người vẫn đang “yên vị” tại cơ quan tư pháp nhà nước.

Tóm lại cho đến thời điểm này, chưa ai… làm sao cả và chẳng biết rồi đây có ai “làm sao” không? Chỉ biết ông Nén đã chịu oan khuất gần hai thập niên sống trong tù đày, “bức cung tra tấn” như lời ông nói.

Xin lỗi công khai

Sáng 3/12, tại UBND thị trấn Tân Minh, huyện Hàm Tân (Bình Thuận), tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Bình Thuận tổ chức buổi xin lỗi công khai cho “người tù lịch sử” Huỳnh Văn Nén. Có mặt tại buổi xin lỗi còn có đại diện công an tỉnh Bình Thuận, Viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh, cùng các quan chức địa phương và đông đảo người dân.

Tại buổi lễ, bà Trần Thị Kim Hương – thẩm phán, đại diện cho TAND tỉnh Bình Thuận thừa nhận những sai lầm của cơ quan tố tụng dẫn đến oan sai cho ông Nén.

Bà nói, “Chúng tôi thừa nhận sai sót dẫn đến hậu quả nghiêm trọng này, thừa nhận khuyết điểm và xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo quy định pháp luật… Chúng tôi đã rút ra được bài học kinh nghiệm sâu sắc và hứa sẽ không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để trong thời gian tới không còn một người nào, một gia đình nào phải gánh chịu những mất mát, thiệt thòi do bị điều tra, truy tố và xét xử, kết án oan.”

Về vấn đề bồi thường, Tòa Án Nhân Dân tỉnh Bình Thuận sẽ tiếp tục thương lượng với ông Huỳnh Văn Nén cùng gia đình, đồng thời phối hợp với cơ quan chức năng giải quyết bồi thường cho ông Nén theo đúng quy định của pháp luật trong thời gian tới.

Dư luận đòi hỏi gì?

Để thạm thời kết luận cho vụ án đấy phức tạp này, mời bạn đọc xem một vài dư luận trong hàng ngàn ý kiến đồng tình của người dân.

– Bạn Quang Vinh viết: “Chỉ vì thói háo danh, bệnh thành tích mà đẩy một người vô tội vào cảnh tù đày, nên buộc những người làm sai bỏ tiền ra bồi thường cho ông Nén.

– Bạn Lò A Say viết: “Thế là từ một người vô can trở thành kẻ giết người hai lần và cả họ hàng cũng bị tội oan, vụ này thực tế còn kinh khủng hơn vụ ông Chấn cả số người bị oan, thời gian bị tù oan và có bằng chứng tố cáo kẻ giết người từ rất sớm nhưng cố tình bưng bít. Có phải do những kẻ gây oan sai kia đã leo cao!?”

– Minh Quân cán bộ gây ra oan sai giờ họ làm gì, chắc họ đã quyền cao vọng trọng rồi, sao không xét xử họ. Vụ án Nguyễn Thanh Chấn chưa thấy đưa tin chi tiết về những cán bộ liên quan đến oan sai xử lý như thế nào. Cũng phải đưa họ ra xét xử mới bảo đảm công bằng.”

Tóm lại người dân đòi hỏi những người gây ra án oan sai kia phải bồi thường cho nạn nhân không phải chỉ xin lỗi là xong và thật ra có đền bù bao nhiêu cũng không đủ cho nỗi đau tận cùng của cả gia đình ông Nén. Người dân đồng tình không thể lấy tiền của dân đền cho tội lỗi của những ông quan to áo dài.
Văn Quang

Nhìn xa hơn 2016: Có lẽ cơ hội tốt cuối cùng cho ĐCSVN để sửa lại cho đúng

Nhìn xa hơn 2016: Có lẽ cơ hội tốt cuối cùng cho ĐCSVN để sửa lại cho đúng

Đôi lời: Brooking là Viện Nghiên cứu chính sách lâu đời nhất ở Washington. Thành lập năm 1916, Brookings được nhiều người xem là một trong những think-tank có uy tín nhất ở Mỹ và là một trong các viện nghiên cứu ảnh hưởng nhất thế giới. Các bài viết về tình hình chính trị ở Việt Nam đăng trên Brookings, giúp người Mỹ có cái nhìn mới nhất về mối quan hệ giữa hai nước.

___

Brookings

Tác giả: David E. Brown

Dịch giả: Trần Văn Minh

14-12-2015

Đối với Hoa Kỳ, thời kỳ của một “Trung Quốc đang trỗi dậy” là một thách thức mới. Đối với Việt Nam, đó là sự lặp lại câu chuyện một ngàn năm [bị đe doạ]. Tham vọng thống trị trên toàn Biển Đông của chế độ Bắc Kinh đã bào mòn tính chính danh của chính quyền cộng sản Hà Nội. Thật trùng hợp, nhà cầm quyền ở Hà Nội đang có những cử động hướng về một thỏa thuận chiến lược với Washington.

Mối quan hệ Việt-Mỹ đang phát triển hiện nay có dáng vẻ một số phận địa chính trị muộn màng nhưng chắc chắn. Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi trong các bộ phận của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm toàn quyền, trong số những người ngoài đảng (96% trong số 93 triệu người Việt Nam), ý niệm liên kết mật thiết với Mỹ rất được hoan nghênh. Sự thịnh vượng hiện tại và tương lai của đất nước phụ thuộc rất nhiều vào việc tiếp cận đến thị trường Mỹ và các đồng minh, và đến công nghệ và vốn của họ. Tuy nhiên, tự bản thân Việt Nam phải có can đảm chính trị để cải cách những luật pháp quốc nội đang hạn chế khả năng để biến sự tiếp cận vào thị trường thành một nguồn phồn vinh.

Bốn mươi năm sau khi kết thúc, cuộc chiến với Mỹ không còn dấy lên những cảm xúc mạnh ở Việt Nam. Hầu như không có ngoại lệ, người Việt Nam nhấn mạnh rằng họ không mang thù hận, một khái niệm bắt đầu chính thức từ năm 1988 khi Hà Nội thực hiện chính sách đối ngoại “thêm bạn bớt thù”. Khi đó, chính quyền không có lựa chọn nào khác; các nỗ lực sau khi thống nhất đất nước để công hữu hóa nông nghiệp, xây dựng ngành công nghiệp nặng từ dưới lên và phân bổ hàng hóa theo một kế hoạch trung ương đã thất bại, như các cố vấn Liên Xô của Việt Nam đã dự đoán. Vào thời điểm đó, chính khối Xô Viết đang sụp đổ, và cũng đi theo là sự trợ giúp huynh đệ đã giữ cho nền kinh tế Việt Nam chỉ đủ sống còn trước lệnh cấm vận thương mại do Mỹ tổ chức.

Về nội bộ, Hà Nội chủ trường đổi mới, hay cải cách kinh tế. Đại hội Đảng đã mở đường cho Việt Nam đi vào ‘kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa,’ một cái gì đó có vẻ giống chủ nghĩa tư bản. Thật vậy, động lực tư bản đã nổi lên lấp đầy khoảng trống kinh tế mà các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) phục vụ yếu kém. Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp nhà nước không bị giải tán, cũng như – mặc dù nông nghiệp không còn bị công hữu hóa – không thực sự trả lại quyền sở hữu đất đai cho nông dân.

Quá trình chuyển đổi kinh tế-xã hội không hoàn chỉnh đó đã vận hành khá tốt trong hai thập niên. Năm này đến năm khác, kinh tế Việt Nam tăng khoảng 7% mỗi năm. Xuất khẩu gạo và cá, cà phê và hạt điều tăng vọt. Các nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan cung cấp kiến thức và vốn cho các ngành công nghiệp lắp ráp giày dép và hàng may mặc. Hầu như tất cả mọi người đã khá hơn. Mặc dù sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng rõ rệt, sự chênh lệch này cũng chủ yếu nhắc tới mong ước làm giàu.

Đến năm 2007, Việt Nam được thu nhận vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), và trở thành một trụ cột của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với thu nhập bình quân đầu người lên đến 1000 USD, 10 lần so với mức năm 1989. Chính quyền Hà Nội đã gầy dựng hàng chục mối quan hệ hợp tác với nước ngoài. Đặc biệt đáng kể là mở rộng và làm sâu sắc hơn mối quan hệ với Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Mặc dù mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và với Mỹ được đẩy đi bằng một tính thực dung, nhưng ý thức hệ đã đặt định những quan hệ đó.

Luôn luôn cận kề một cách khó chịu và đòi hỏi sự tôn trọng của một người em dành cho người anh cả, Trung Quốc là một vấn đề trọng tâm cho các triều đại của Việt Nam cả hơn một ngàn năm. Phần lớn thời gian đó, hai quốc gia cũng khá hòa thuận với nhau. Sự giao tiếp của giới ưu tú với Trung Quốc đã định hình văn hóa Việt Nam. Đoàn quân của Hồ Chí Minh không thể bào mòn quân đội Pháp và Mỹ mà không có sự trợ giúp huynh đệ từ Trung Quốc của Mao Trạch Đông. Sau này, khi Hà Nội chọn đi theo Bắc Kinh một cách muộn màng trên “con đường tư bản chủ nghĩa”, lãnh đạo Việt Nam dành ưu tiên cao cho các đối tác Trung Quốc đặt mối quan hệ với các cấp của Đảng và nhà nước.

Tuy nhiên, sự hợp tác với Bắc Kinh thường dễ bị đụng chạm. Chủ đề quen thuộc của lịch sử Việt Nam là sự chống cự thành công chống lại quân xâm lược. Như tất cả các học sinh Việt Nam đều biết, các đội quân xâm lược thường nhất là người Trung Hoa. Năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã bị thất bại khi ông ấy cố tình “dạy cho Việt Nam một bài học” sau việc phế truất chế độ Pol Pot ở Campuchia.

Sau khi quan hệ ngoại giao được khôi phục vào năm 1995, Hoa Kỳ trở thành một thị trường hấp dẫn cho hàng hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, ĐCSVN tiếp tục cảm nhận được một sự đe dọa. Mặc dù đảng cầm quyền đã từ bỏ hầu hết chủ nghĩa Mác, họ vẫn mang đậm nét Lê Nin trong quyết tâm nắm chặt đời sống chính trị của Việt Nam. Đối với các quan chức có trách nhiệm về an ninh nội địa tại Việt Nam, Mỹ vẫn chưa từ bỏ các ý định thù địch. Người Mỹ chỉ đơn giản trở nên tinh tế hơn, truyền thông của Đảng nói, tuyên truyền “khái niệm xã hội dân sự” và “âm mưu thúc đẩy thế lực diễn biến hòa bình.”

Chừng nào nền kinh tế của Việt Nam bùng phát và Trung Quốc thuyết phục được các nước láng giềng rằng tiến trình trỗi dậy thành cường quốc sẽ xảy ra trong hòa bình, thái độ nghiêng về phía Trung Quốc của chế độ Hà Nội và mong muốn của công chúng có mối quan hệ ấm áp hơn với Hoa Kỳ là một bất đồng có thể quản lý được.

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, chính quyền Hà Nội đã thất bại trong việc ứng phó với sự suy thoái toàn cầu nghiêm trọng. Khi thị trường xuất khẩu của đất nước giảm mạnh trong năm 2008, lãnh đạo Việt Nam giải quyết bằng cách thúc đẩy nhu cầu trong nước cho đến khi khách hàng nước ngoài quay trở lại. Họ làm việc này chủ yếu bằng cách điều hướng tín dụng tới khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Điều ngạc nhiên là rất ít nỗ lực được bỏ ra để giám sát cách các DNNN nầy dùng sự hào phóng của Ngân hàng Nhà nước. Phần lớn tín dụng đi vào các đề án phát triển bất động sản không liên quan đến ngành kinh doanh thông thường của các DNNN. Cũng có một phần khá nhiều đi vào việc mua lại hoặc tạo ra các ngân hàng mới rồi sau đó tạo ra thêm tín dụng và cho các cổ đông của họ vay lại.

Trong năm 2010, bong bóng bất động sản bị vỡ. Người vay lũ lượt bị vỡ nợ, các ngân hàng nhà nước bị mắc kẹt với một tỷ lệ khổng lồ các món nợ xấu. Các kiểm tra viên cho rằng khoản nợ này hiện nay tổng cộng ít hơn 4% tài sản của hệ thống ngân hàng; các cơ quan xếp hạng tín dụng ngoại quốc nhất định rằng con số thực tế là gần 15%.

Thêm nữa, tập đoàn đóng tàu Vinashin mà Hà Nội đã bơm vào 4 tỷ USD, cần phải được giải cứu. Kẻ kế tiếp rơi vào phá sản là công ty vận chuyển đường biển và điều hành cảng biển, Vinalines. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng khen tặng cả hai công ty như là một mô hình mới cho các doanh nghiệp nhà nước.

Trong khi đó vào năm 2009, Bắc Kinh lại khơi lên tuyên bố quyền bá chủ của Trung Quốc “từ thời cổ đại” trên toàn vùng Biển Đông. Ngoài khơi bờ biển dài của Việt Nam, tàu Trung Quốc gia tăng sách nhiễu ngư dân Việt Nam và can thiệp vào cách hoạt động thăm dò dầu và khí đốt.

Kết nối với mạng, dân chúng lên tiếng

Những sự kiện này trùng hợp với một cuộc cách mạng thông tin. Mặc dù từ lâu đã có một thành phần nhỏ bất đồng chính kiến với nhà nước CHXHCNVN, họ không có phương tiện để đến với số lượng lớn khán giả cho đến khi có sự bùng nổ của Internet. [1] Từ 200.000 người dùng vào năm 2000, số người tham gia mạng điện toán tại Việt Nam đã tăng lên đến 40 triệu người, khoảng 55% người Việt trên 14 tuổi.

Khi ngày càng nhiều người dân tham gia vào mạng, họ tìm thấy một môi trường đầy dẫy ý kiến khác biệt về các chủ đề mà phương tiện truyền thông hợp pháp của Việt Nam bị cấm không được loan tải. Hiện nay, ngoài tầm với sự kiểm duyệt của chế độ, các trang blog loan tải những vấn đề công cộng quan trọng nhận được hàng triệu lượt truy cập mỗi ngày. Tài khoản Facebook, trong đó hơn 30 triệu người Việt truy cập thường xuyên, đầy dẫy đàm thoại về chính trị.

Ví dụ, người lướt mạng trong năm 2008 đã biết được rằng chính phủ đã cấp giấy phép cho Công ty Nhôm Trung Quốc khai thác mỏ bauxite ở vùng cao nguyên. Cuộc thảo luận hồi đầu nhấn mạnh đến những tác động xã hội và môi trường của dự án, nhưng ngay sau đó biến thành cuộc tranh luận công khai chưa từng có về sự nhượng bộ của đảng và nhà nước trước Trung Quốc, gây thiệt hại cho an ninh quốc gia.

Trong khi đó, cuộc khủng hoảng kinh tế của Việt Nam trở nên trầm trọng hơn. Năm 2011 chính quyền bị buộc phải thắt chặt tín dụng. Một số lớn nhà kinh tế kết luận rằng, động lực do chính sách đổi mới giải tỏa đã bốc hơi. Tâm trạng quần chúng thì cáu kỉnh. Người ngoài đảng thì được công khai trút sự bất mãn lên nhau. Có lẽ công an đang lắng nghe, nhưng những nhà bất đồng chính kiến cảm nhận sự an toàn trong số lượng, và có nhiều chuyện để than phiền: sự phá sản của hàng trăm ngàn doanh nghiệp và các nhà đầu tư nhỏ, tham nhũng vặt, sự tàn bạo của cảnh sát, việc đi đến chăm sóc sức khỏe và giáo dục không công bằng, điện bị cắt liên tục và thái độ hòa giải của chính quyền đối với các hành động khiêu khích của Trung Quốc ở ngoài biển.

Bế tắc

ĐCSVN rõ ràng cũng đang gặp khó khăn. Rất ít trong số những người sáng lạn và giỏi nhất chọn nghề theo Đảng. Những người chọn lĩnh vực công chức thường ít quan tâm đến hệ tư tưởng; mục tiêu chính của họ là danh lợi. Theo nhà phân tích Alexander Vuving, nhiều cán bộ cao cấp của Đảng không phải bảo thủ và cũng không cấp tiến, nhưng chỉ đơn giản là những kẻ cơ hội đã tìm được một trạng thái yên ổn. [2] Vuving giải thích như sau: Chủ nghĩa tư bản cho nhiều cơ hội để kiếm lợi nhuận, trong khi chủ nghĩa cộng sản cung cấp độc quyền quyền lực. Sự hỗn hợp của hai yếu tố tạo điều kiện cho việc dùng tiền để mua quyền lực và sử dụng quyền lực để kiếm tiền.

Có lẽ vì quá nhiều các lãnh đạo của họ đã đầu tư vào vị thế hiện tại, ĐCSVN từ lâu đã không thể giải quyết một số vấn đề. Như đã được thấy, một trong những vấn đề đó là lập trường của Việt Nam, một mặt, đối với Trung Quốc, và mặt kia với các nước phương Tây. Một vấn đề khác là vai trò của nhà nước trong kinh tế; nhà nước có nên tham gia vào kinh tế, thông qua việc kiểm soát nhiều doanh nghiệp lớn, hay cần tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước và tập trung vào việc tạo điều kiện cho phép các doanh nghiệp tư nhân phát triển? Ngoài ra, đã có cuộc tranh luận liên hồi trong nội bộ đảng về quản lý thông tin (trong khi thập niên qua, khả năng kiểm soát phương tiện thông tin của nhà nước đang vuột đi) và về việc liệu các hoạt động của đảng nên bị ràng buộc bởi pháp luật và chịu sự khảo sát của quan tòa độc lập.

Tại Đại hội Đảng vào năm 2001, 2006 và 2011, mặc dù đã có nhiều cuộc tranh cãi về nạn tham nhũng lan rộng, quản lý yếu kém và tính chính danh của Đảng đang suy thoái, sự đồng thuận về cải cách đích thực đã vượt quá tầm tay. Mỗi lần đại hội, các chức vụ được phân phối chủ yếu với quan điểm để nhằm duy trì sự cân bằng giữa các phe phái và khu vực. Cán bộ lớn tuổi về hưu và cán bộ trẻ được thăng chức, nhưng bế tắc chính sách vẫn còn đó.

Người của thời khắc?

Với một cách lắt léo – cụ thể là, thông qua một bước đi táo bạo để khai trừ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – ĐCSVN tìm cách giải quyết những vấn đề này. Dũng đã gây lo sợ cho các đồng chí trong Bộ Chính trị khi ông ấy một cách rõ ràng và năng động xây dựng một mạng lưới chính trị của những người ủng hộ. Đầu tiên là một phó thủ tướng và sau đó là người đứng đầu chính phủ, ông Dũng có khá nhiều sự bảo trợ để phân phát. Ông cố gắng tạo nên hình ảnh một người khôn khéo về các vấn đề thế giới và có khuynh hướng cải cách. Trong một nhóm cầm quyền coi trọng trách nhiệm tập thể, tham vọng của thủ tướng nổi bật lên.

Tới giữa năm 2012, đa số áp đảo trong Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên đã bỏ phiếu loại bỏ ông Dũng. Trong tình hình như vậy, phản ứng thông thường là ra đi một cách lặng lẽ. Ông Dũng từ chối. Ông thu về các món nợ chính trị và chiến thắng với sự đảo ngược bất ngờ quyết định của Bộ Chính trị tại một cuộc họp Ủy ban Trung ương Đảng hai tháng sau đó. Được biết, cuộc đấu tranh không gay go. Kể từ đó, Dũng đã điều hành nhà nước Việt Nam hầu như sự hợp tác của các đồng nghiệp ở Bộ Chính trị không còn cần thiết.

Được nghe, thủ tướng là một kẻ cơ hội khôn lanh, đã đáp lại sự nóng lòng của quần chúng về sự thay đổi. Trong một bài phát biểu đầu năm được hoan nghênh rộng rãi hai năm trước, ông Dũng đã thông qua một ý tưởng cấp tiến rằng: công việc của nhà nước là tạo điều kiện thuận lợi cho người dân bình thường phát huy tiềm năng sáng tạo của họ. Ông đã phân bổ nội các của ông với những nhà quản lý tài năng và hiện nay, các nguồn tin cho biết, ông chăm chú lắng nghe ý kiến của một thế hệ kinh tế gia thông minh được du học cao ở phương Tây.

Những nhà kinh tế đó cho rằng trừ khi cải cách cơ cấu để mang trở lại tốc độ tăng trưởng lên 7% hoặc 8% hàng năm và năng suất lao động gia tăng, Việt Nam sẽ không đạt tới hạng bậc của các nền kinh tế tiên tiến. Đó là do tỷ lệ sinh sản giảm mạnh; lực lượng lao động trẻ, có khả năng, và mức lương tương đối thấp của đất nước – “cơ cấu dân số vàng” – sẽ bắt đầu co lại vào năm 2025. Chính phủ dường như đã lắng nghe lời khuyên. Văn phòng chính phủ đã điều chỉnh các quy định để tạo điều kiện cho đầu tư nước ngoài. Cả vốn và công nghệ đang tràn vào Việt Nam. Việt Nam là một thành viên sáng lập của Hiệp định Thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương, được ký tắt vào đầu tháng 11. Tuy nhiên, điều vẫn đang được mong chờ là hành động kiên quyết để thu nhỏ khu vực kinh tế Nhà nước và hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân nội địa.

Trục xoay của Việt Nam

Chính sách đối ngoại, ông Dũng nói, là hoàn toàn về “xây dựng lòng tin chiến lược.” Trong cuộc theo đuổi bá quyền ở Biển Đông, Trung Quốc đã đánh mất lòng tin của Việt Nam; Mỹ đang trên đường đạt tới – và đó là một sự thay đổi mang tính thời đại, củng cố thêm vị thế của các nhà cải cách Việt Nam.

Khi Bắc Kinh gửi giàn khoan dầu HD-981 vào khu vực có tiềm năng dầu khí thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hồi tháng 6 năm 2014 (*), họ có lẽ mong đợi chỉ có sự van xin không hiệu quả từ phía Hà Nội. Thật vậy, hầu hết các ủy viên Bộ Chính trị đã đáp ứng đúng như thế. Tuy nhiên, ông Dũng phản ứng bằng cách ra lệnh cho các tàu tuần duyên và tàu đánh cá Việt Nam quấy rối đội tàu của Trung Quốc. Sự phản kháng gan dạ của họ đã khuấy lên sự lên án Trung Quốc ở nước ngoài và khuấy động niềm tự hào ở quốc nội.

Sau khi Bắc Kinh rút giàn khoan dầu về, giới bảo thủ trong Đảng thừa nhận rằng một tư thế hạ mình về phía Bắc Kinh không còn ngăn ngừa được sự xâm lược. Vì thế, Việt Nam khởi sự tái cân lại quan hệ với hai cường quốc. Trong những tháng sau đó, ủy viên cao cấp của cái gọi là phe thân Trung Quốc của Đảng đã đến từng người một thăm Washington. Cuộc thăm viếng đã được các nhà ngoại giao Mỹ và Việt Nam sắp xếp rất kỹ lưỡng, và các tín hiệu đều tốt. Một năm sau cuộc đối đầu với Trung Quốc, lãnh đạo đảng hàng đầu của Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đã gặp Tổng thống Obama tại phòng Bầu Dục.

“Đó thực sự là một cuộc họp lịch sử. Tòa Bạch ốc thừa nhận cơ cấu chính trị của Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng”, ông Trọng đánh giá sau đó.

Một nhà cải cách khác thường và một chương trình cải cách

Tại Đại hội Đảng lần thứ 12 vào đầu năm tới, ĐCSVN sẽ quyết định ai lãnh đạo Đảng cho đến năm 2020. Cưỡi sóng bởi một chuỗi những thành công chính trị, ông Nguyễn Tấn Dũng là người được nhiều hy vọng không chỉ để nắm lấy vị trí lãnh đạo Đảng, mà còn có thể để cài đặt thân tín vào chức Thủ tướng và các vị trí quan trọng khác. Ông Dũng có vẻ như sẵn sàng xuất hiện từ Đại hội với quyền kiểm soát Đảng và nhà nước nhiều hơn bất cứ ai kể từ Tổng Bí thư Lê Duẩn, nửa thế kỷ trước.

Tuy nhiên, triển vọng về một Đảng trưởng quá cam kết đầy những cải cách có thể kích hoạt một phản ứng “chọn bất cứ ai ngoài Dũng”. Nhà quan sát Việt Nam kỳ cựu, Carl Thayer, phân tích rằng đó là lý do tại sao các cuộc họp Ban chấp hành Trung ương để chuẩn bị cho Đại hội 12 dường như có rất ít tiến bộ. Đối với nhiều người trong Đảng, đặc biệt là trong các tổ chức cấp tỉnh, thành phố và trong từng doanh nghiệp nhà nước, hiện trạng đang rất thoải mái. Với một số ít Đảng viên, ý thức hệ vẫn còn quan trọng; họ xem lời hứa của ông Dũng về sự cởi mở hơn trong chính phủ như là một mật hiệu về các thực nghiệm nguy hiểm với đa nguyên. Nhưng, đối với đa số, mối quan hệ ràng buộc họ với Đảng là lợi ích riêng tư.

Ngoài Đảng, trừ một tập hợp bất đồng chính kiến vẫn tương đối nhỏ, người Việt Nam hiện nay không ở trong tâm trạng cách mạng. Xuất khẩu đang bùng nổ. Thu nhập bình quân hàng năm đã nhích lên đến hơn 2000 USD, gấp đôi so với mức năm 2007. Thông thường, người Việt ngoài đảng chỉ hy vọng rằng Đảng sẽ tự sửa chữa lỗi lầm và cung cấp cho Việt Nam lớp lãnh đạo cương quyết, đứng đắn và công bằng. Họ sợ sự hỗn loạn có thể sẽ đến với nỗ lực để tháo dỡ sự cai trị độc đảng. Càng mạnh mẽ theo đuổi chương trình cải cách, ông Dũng càng được giới bên ngoài đảng yêu thích, đặc biệt là với tầng lớp kinh doanh và chuyên gia của đất nước.

Tuy nhiên, để thành công trong vai trò nhà cải cách, ông Dũng phải thuyết phục thành phần đảng viên của ông vứt bỏ “xã hội chủ nghĩa thị trường” (có nghĩa là, sự tham gia trực tiếp vào nền kinh tế) và tập trung vào quản lý kinh tế tiên tiến. Chính sách nên nhằm mục đích tạo điều kiện cho các nhà sản xuất Việt Nam có được tín dụng và công nghệ cần thiết để gia nhập chuỗi giá trị xuất khẩu. Nông dân nên được quyền sở hữu trên mảnh đất họ cày. Doanh nghiệp nhà nước vừa bị thua lỗ lẫn kém sức cạnh tranh phải được giải tán. Phe giáo điều sẽ chống lại, nhưng ý nghĩa kinh tế này thật thuyết phục. Ý nghĩa chính trị cũng vậy: hành động cải cách có tính quyết định sẽ bảo đảm vị thế lãnh đạo của Đảng trong nhiều năm tới.

David Brown, nhà ngoại giao Mỹ về hưu, từng làm việc tại Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn từ 1965-1969.

Việt Nam hiện đại hóa quân đội để đối phó với Trung Quốc

Việt Nam hiện đại hóa quân đội để đối phó với Trung Quốc

RFA
2015-12-18

000_Hkg9785735-622.jpg

Binh lính Việt Nam diễu hành trong lễ kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ tổ chức hôm 05/7/2014 tại Hà Nội.

AFP PHOTO

Your browser does not support the audio element.

Việt Nam tăng cường vũ trang hiện đaị hóa quân đội chuẩn bị sẵn sàng  nếu xảy ra xung đột với Trung Quốc. Hãng tin Reuters hôm nay có bài phân tích chi tiết từ Việt Nam.

Theo đó, Mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam là ngăn chặn láng giềng khổng lồ phương Bắc, giữa khi căng thẳng leo thang vì tranh chấp ở Biển Đông. Reuters trích các nguồn tin cao cấp nói rằng, nếu mục tiêu vừa nêu không đạt được, thì Việt Nam vẫn có thể tự vệ trên các mặt trận khác.

Được biết Việt Nam đã hiện đại hóa không quân và hải quân mua sắm nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại như máy bay chiến đấu phản lực, tàu khu trục, tàu ngầm và hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển.

Reuters mô tả chiến lược của Việt Nam đã vượt xa hơn kế hoạch phòng ngự, các đơn vị chủ chốt đã đã được đặt vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu mức độ cao, một hình thức báo động phải sẵn sàng với việc bị tấn công bất ngờ. Reuters đưa thí dụ về sự chuẩn bị sẵn sàng của Sư đoàn 308, vốn được cho là lực lượng tinh nhuệ phụ trách vùng núi miền Bắc.

Reuters trích lời chuyên gia Carl Thayer, theo đó các chiến lược gia Việt Nam cho biết, nếu xung đột xảy ra, Việt Nam có thể nhắm vào các tàu thương mại chở container và tàu dầu mang cờ Trung Quốc. Mục tiêu không phải để đánh thắng lực lượng hùng mạnh của Trung Quốc mà gây ra những tổn thất và sự bất an tinh thần ảnh hưởng giá bảo hiểm cũng như tâm lý hoảng loạn của giới đầu tư.

Các nhà lập pháp Mỹ yêu cầu VN trả tự do cho luật sư Nguyễn Văn Đài

Các nhà lập pháp Mỹ yêu cầu VN trả tự do cho luật sư Nguyễn Văn Đài

Luật sư Nguyễn Văn Đài. Ảnh: Facebook Nguyễn Văn Đài.

Luật sư Nguyễn Văn Đài. Ảnh: Facebook Nguyễn Văn Đài.

19.12.2015

Các nhà lập pháp Mỹ lên tiếng yêu cầu Việt Nam trả tự do cho luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài.

Trong thông cáo đề ngày 18 tháng 12, các Dân biểu Chris Smith, Zoe Lofgren và Loretta Sanchez, đồng sáng lập viên Khối Việt Nam tại Hạ viện Mỹ, yêu cầu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả tự do ngay tức khắc và vô điều kiện cho luật sư Nguyễn Văn Đài, là người bị bắt mới đây về tội gọi là “tuyên truyền chống nhà nước.”

Thông cáo nói “vụ bắt giữ này là vụ việc mới nhất của một loạt những hành động hung bạo do chính quyền bảo trợ nhắm vào luật sư Đài, trong đó có vụ hành hung dữ dội của nhân viên an ninh thường phục trước đây trong tháng này và án tù 4 năm được tuyên không lâu sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới với sự ủng hộ của Hoa Kỳ.”

Dân biểu Smith là người bảo trợ Luật Nhân quyền Việt Nam năm 2015, trong đó có qui định là chính phủ Mỹ không được gia tăng các ngân khoản để xúc tiến thương mại và một số chương trình quốc phòng ở Việt Nam cho tới khi nào Tổng thống xác nhận là chính phủ Việt Nam có được tiến bộ đáng kể trong lãnh vực bảo vệ nhân quyền.

Yêu cầu của các nhà lập pháp Mỹ được loan báo trong cùng ngày Bộ Ngoại giao Mỹ bày tỏ quan tâm về vụ bắt giữ và khởi tố luật sư Đài.

Vatican: Mẹ Teresa sắp được phong thánh

Vatican: Mẹ Teresa sắp được phong thánh
Nguoi-viet.com

VATICAN CITY, Vatican (NV)Mẹ Teresa, khôi nguyên giải Nobel Hòa Bình, người dâng hiến trọn cuộc đời để giúp đỡ người nghèo khó, sẽ được Vatican phong thánh, Reuters trích nguồn tin của Vatican.

 
Mẹ Teresa. (Hình: Getty Images/Franco Origlia)

Đức Giáo Hoàng Francis khai thông tiến trình phong thánh qua việc chấp thuận một sứ điệp, công nhận một phép lạ thứ hai, cần thiết cho tiến trình.

Mẹ Teresa, người qua đời vào năm 1997 ở tuổi 87, trở thành một biểu tượng quốc tế về từ thiện của thế kỷ 20, nhưng đồng thời cũng bị chỉ trích tìm cách cải đạo người khác sang Công Giáo.

Vào năm 2003, Mẹ được Đức Giáo Hoàng John Paul II phong chân phước, vốn đòi hỏi có một phép lạ.

Giáo hội tin rằng thánh là bất kỳ người nam hay nữ nào sống đời đạo hạnh phi thường và được cho đã thăng thiên lên thiên đàng với Thượng Đế.

Theo AFP, Đức Giáo Hoàng Francis dự tính phong thánh Mẹ Teresa vào ngày 4 Tháng Chín của Năm Thánh Lòng Thương Xót, kéo dài từ ngày 8 Tháng Mười Hai, 2015, đến ngày 20 Tháng Mười Một, 2016. Trong năm này, tín hữu được kêu gọi hãy tập trung vào lòng thương xót và cảm thông với thế gian.

Phép lạ thứ hai của Mẹ Teresa liên quan đến sự chữa lành không thể giải thích được một người đàn ông Brazil, bị nhiễm trùng não bộ đưa đến bệnh tràn dịch não.

Thân nhân người đàn ông nhờ cầu nguyện Mẹ Teresa mà ông được khỏi hẳn, đến nỗi các bác sĩ cũng không thể giải thích.

Tổng Giám Mục Thomas D’Souza của Calcutta, Ấn Độ, nói tin này là một “món quà Giáng Sinh tốt đẹp nhất.”

Vị tổng giám mục nói thêm: “Suốt đời Mẹ làm việc cho người nghèo khó. Nay, đây là cách mà Mẹ được chính thức công nhận. Chúng ta được ơn ân sủng của Thượng Đế.” (TP)

Bộ GDVN muốn giải tán Bộ môn Lịch sử, đâu là nguyên nhân?

Bộ GDVN muốn giải tán Bộ môn Lịch sử, đâu là nguyên nhân?

Nguyễn Tiến Dân

18-12-2015

1-Lịch sử, là một bộ môn khoa học. Nó nghiên cứu, về quá khứ. Đặc biệt, là những sự kiện, liên quan đến con người. Thời gian, là 1 dòng chảy kéo dài và, bất tận. Lịch sử, cũng vậy. Nó phản ánh, sự thực khách quan. Nó không phụ thuộc, vào ý chí của 1 người, hay của 1 nhóm người nào đó. Và, chưa bao giờ, người ta viết Lịch sử, theo kiểu cóc nhảy. Đó, là sự khác nhau cơ bản, giữa Lịch sử và Truyền thuyết.

2-Chuyện xưa, kể rằng:

Tề Trang công, là kẻ hôn Quân – vô Đạo. Cung tần – mĩ nữ, ông ta thiếu gì. Nhưng, hễ nhìn thấy gái đẹp, là ông mờ mắt. Ông gác sang một bên, cái danh giá của mình, để cắm đầu vào. Ông tư thông, với cả nàng Đường Khương, vợ tướng quốc Thôi Trữ, thuộc hạ thân tín nhất của mình. Can ngăn mãi, không được. Thôi Trữ, bèn lập mưu, để giết đi.

Từ xưa đến nay: Khi cành bị sâu, người ta chặt cành, để cứu gốc – Khi gốc bị sâu, người ta nhổ cây, để cứu vườn – Khi cả vườn bị sâu, người ta hủy vườn, để cứu mùa màng.

Nguyên thủ của Quốc gia, dâm loạn và hủ bại, nhất thiết phải bị phế trừ. Để, giữ thể diện, cho Quốc gia và giữ kỉ cương, cho bá tánh. Có thể phế trừ, bằng thanh gươm – Có thể phế trừ, bằng lá phiếu của cử tri.

Ở vào thời của mình, Thôi Trữ, không thể lựa chọn, theo cách thứ 2. Còn, nếu sống ở thế kỉ thứ  21, Thôi Trữ, sẽ trở thành Anh hùng. Ngặt nỗi, trong chế độ Phong kiến, “thần giết Vua”, là chuyện tày Trời. Vì thế, Thôi Trữ, vẫn có ý thẹn. Ông sai thái sử Bá, ghi vào sách Sử rằng: “Tề Trang công, chết vì bệnh sốt rét”.  Thái sử Bá, không nghe. Ông, chép vào thẻ rằng: 夏五月乙亥,崔杼弑其君光. Hạ ngũ nguyệt Ất hợi, Thôi Trữ thí kì Quân Quang. (Mùa Hạ, tháng 5, ngày Ất hợi, Thôi Trữ giết Vua Quang của mình). Thôi Trữ, nổi giận lôi đình. Ông giết ngay, thái sử Bá.

Bá có 3 người em: Trọng , Thúc , Quí. Tất thảy, đều làm nghề chép Sử. Khi được gọi vào cung, Trọng chép vào sách, chẳng khác anh mình. Thôi Trữ, giết Trọng. Gọi đến Thúc, ông cũng không chịu, bẻ cong ngòi bút của mình. Thúc, cũng phải ra đi. Đến lượt Quí, ông vẫn viết như vậy. Trữ dụ rằng: “Ba anh của ngươi, vì khác ý ta, đều đã chết. Ngươi, há chẳng tiếc tính mạng sao? Sao bằng, hãy viết khác đi, để được ta tha chết”. Quí khẳng khái: “Đặt sự thực, vào trong sách Sử. Đó, là chức phận của người chép Sử. Đánh mất chức phận của mình, thà chết đi còn hơn”. Thôi Trữ thở dài: “Ta chỉ sợ, Xã tắc nghiêng đổ. Bất đắc dĩ, mới phải làm việc này. Dẫu anh em nhà ngươi, có viết thẳng như thế, người trong Thiên hạ, chắc cũng lượng thứ cho ta”. Nói đoạn, trả lại thẻ sách cho Quí. Và, không giết ông nữa.

Tích xưa, là thế. Chuyện nay, hay hơn nhiều.

Một quan chép Sử của CS, là ông Trần Huy Liệu. Chẳng biết, ông đã đưa được bao nhiêu sự thực, vào Sử xanh. Chỉ biết, ông đã trắng trợn, bịa đặt ra, người anh hùng Lê Văn Tám. Và, ghi nó vào sách Sử của Cộng sản. Sách ấy, đã được đem dạy, cho bọn trẻ con của nước Việt. Tác hại của cái việc: “xúi trẻ con ăn cứt gà”, có lẽ, khỏi phải bàn. May mà, Lương tâm của ông, chưa đến nỗi, bị chó tha – gà mổ. Bởi vậy, đến cuối đời, ông ân hận và dặn đồ đệ: Tìm lúc thích hợp, cải chính dùm ông. Ông ơi,hãy ăn cho no – hãy nằm cho yên. Đồ đệ của ông, đã công khai việc đó rồi. Nhưng, sửa nó, đâu phải công việc của một sớm – một chiều. Hết thế kỉ này, nào chắc đã xong.

Một sử gia Cộng sản khác, là ông Dương Trung Quốc. Ông này, lại ước ao, giữ được cái đầu của mình thật lâu. Để, chép Sử đảng, cho Trung – cho Thực.

Phan Huy Lê, cũng là một Giáo sư sử học, lẫy lừng. Ông giỏi đến mức, chẳng biết viết, ngay cả cái tên của ông cố nội nhà mình. Đợi đến khi, ngài Ban Ki-moon chỉ cho, rồi mới hay.

Những cây đa – cây đề, trong làng Sử Cộng sản, còn như thế. Loại tép riu, chuyên ăn theo – nói leo, kể làm chi, cho thêm sầu – thêm tủi.

3-Ôn cố – tri tân. Soi mình vào Lịch sử, Thánh nhân, có thể học được ở đó, những bài học hay. Họ, dựng công – lập nghiệp – lưu danh thơm muôn thuở, mà chẳng tốn mấy công sức. Lũ tiểu nhân đắc chí, thường không biết Trời – Đất là gì. Học – Hành, không đến nơi, đến chốn. Nhưng, lại luôn ảo tưởng, mình là “đỉnh cao trí tuệ”  của Nhân loại. Chúng quay lưng, với Lịch sử. Chúng đóng cửa, dạy nhau những thứ đê tiện – ngu dốt – giáo điều và dối trá. Kết cục, chúng phải trả giá đắt, cho những sai lầm, mà các thế hệ đi trước, đã mắc phải.

Saddam Hussein, Gaddafi và lãnh đạo của các nước CS Đông Âu, là những ví dụ. Họ, cùng có 1 đặc điểm giống nhau: Độc tài và Tàn bạo. Họ, cùng có 1 kết cục giống nhau: Đều bị quần chúng, lật đổ. Saddam Hussein, bị treo cổ. Gaddafi, bị đánh hội đồng, cho đến chết. Các nhà lãnh đạo CS ở Nga xô và các nước CS Đông Âu, may mắn hơn nhiều. Ở đó, công cuộc “đấu tranh giai cấp”, không quyết liệt và tàn bạo, như ở Việt nam. Đồng thời, dân trí ở đấy, cũng không đến nỗi thấp, như ở Việt nam. Kết quả, khi chế độ độc tài CS bị sụp đổ, người ta thấy: Trừ vợ chồng Ceauşescu, còn các nhà lãnh đạo CS khác, vẫn được sống lành lặn. Chẳng có ai, bị treo lủng lẳng, trên các cây cột điện, ở ven đường.

Tổng thống Thein Sein của Myanma, thông minh hơn nhiều. Ông biết, cái kết cục của những chế độ độc tài. Ông biết, cái giá  phải trả, cho việc đàn áp tàn bạo dân lành. Do đó, ông không làm như các vị kia. Ông và Đảng Đoàn kết Phát triển Liên bang, đã dũng cảm, đặt quyền lợi của Tổ quốc – đặt quyền lợi của Nhân dân, lên trên hết. Các ông, đã cùng Nhân dân Myanma, làm 1 cuộc Diễn biến Hòa bình, vô cùng ngoạn mục: Chuyển từ chế độ độc tài, sang chế độ Dân chủ, một cách êm thấm. Chính quyền, không bị xáo trộn, một cách đột ngột – Đất nước, không bị chìm đắm, trong hận thù – Máu của Nhân dân, không phải, thêm 1 lần nữa, đổ ra vô ích. Nhân dân Myanma, yêu mến và kính trọng ông. Quốc tế, ngưỡng mộ ông. Ông là tấm gương sáng, cho các chế độ độc tài.

4-Suy cho cùng, Diễn biến Hòa bình, đâu phải là, 1 cái gì đó, rất xa lạ với chúng ta. Ngược lại, chúng ta có thể tự hào, mà nói rằng: Việt nam, là một trong những nơi khởi nguồn của Diễn biến Hòa bình. Không những thế, lần diễn biến nào, cũng hết sức Nhân văn. Không có tiếng gươm khua – ngựa hí. Thay vào đó, rộn rã tiếng cười và ròn vang pháo nổ. Tất cả, các cuộc Cách mạng nhung mới đây, đều không đủ tầm, để có thể, so sánh được.

Năm 980, Đinh Toàn lên ngôi Vua. Khi ấy, ông vừa tròn … 6 tuổi. Triều chính, hủ bại. Ở ngoài bờ cõi, giặc Tống đang tập trung quân, để xâm lược nước ta. Trước tình cảnh nước sôi – lửa bỏng ấy, Thái hậu Dương Vân Nga, đã đặt quyền lợi của Nhân dân – quyền lợi của Đất nước, lên trên Quyền – Lợi của dòng tộc. Bà tự tay, trao ngôi báu của con trai mình, cho Lê Hoàn. Nhà Đinh ốm yếu, đã chuyển giao Chính quyền, cho nhà tiền Lê cường tráng, một cách vô cùng êm thấm. Trong cái chuyện này, không hẳn, Dương Vân Nga đã vô tư. Bà, trở thành Hoàng hậu của Lê Hoàn. Nhưng, chỉ riêng chuyện: Tránh được cảnh “nồi da – xáo thịt”, đã khiến cho, lực lượng của chúng ta, đươc bảo toàn. Nhờ đó, Quân dân Đại Việt, đã chiến thắng vẻ vang giặc Tống.

Bài học ở đây là: Khi Triều chính, rơi vào tay trẻ con. Hoặc, rơi vào tay lũ người lớn, nhưng tầm suy nghĩ, chỉ như bọn nhi đồng: Tệ hại, chẳng kém gì nhau. Vua, mải ăn – mải chơi. Quan, không lo việc Dân – việc Nước. Họ kết băng đảng, đấu đá nhau quyết liệt. Để, tranh giành Quyền và Lợi. Nhân tâm, ly tán – Đất nước, tiêu điều. Đó là cơ hội tốt, cho lũ giặc ngoại xâm.

Muốn bảo vệ Đất nước: Trước tiên, phải hạ bệ cho bằng được, những loại Vua trẻ con này.

Kế tiếp, phải kể đến, Huệ Tông của nhà Lý. Ông lên ngôi, vào lúc, nhà Lý đã suy tàn. Uy quyền của triều đình, không còn. Địa phương nào, cũng tự gây dựng thế lực, để cát cứ. Vua, chẳng quyết đoán. Cuối đời, Huệ Tông nhường ngôi cho con gái. Đã thế, người con ấy, chỉ mới vừa… 8 tuổi.  Loạn lạc, triền miên – Nhân dân, thống khổ. Tình trạng ấy, phải nhanh chóng chấm dứt. Và 1 cuộc Diễn biến Hòa bình nữa, lại được tiến hành, thông qua Hỷ sự. Lần này, là đám cưới của vợ – chồng Vua Lý Chiêu Hoàng. Chẳng bao lâu, Lý Chiêu Hoàng, “nhường ngôi” cho Trần Cảnh – chồng của mình. Chính quyền, được chuyển giao vào tay những thế lực ưu tú. Đất nước, khởi sắc. Đại Việt, tích lũy được đầy đủ, cả về Thế và Lực. Ba lần, quân Nguyên Mông xâm lược nước ta – Cả ba lần, chúng đều chuốc lấy đại bại.

Giành được Chính quyền, từ tay nhà Lý, thông qua Hỷ sự. Cho nên, Trần Thủ Độ, rất sợ mất Chính quyền, bởi cách này. Ông đặt ra, những qui định hết sức khắt khe về hôn sự: Chỉ được kết hôn, trong dòng họ. “Hôn nhân cận huyết”, cộng với việc, chỉ trao quyền bính, cho những người trong họ: Giúp cho nhà Trần, trước mắt duy trì được Chính quyền. Nhưng, nó cũng dẫn đến, sự suy thoái nhanh chóng của các thế hệ tiếp theo. Triều chính nhà Trần, ngày càng dặt dẹo. Cho đến khi, Trần Nghệ Tông trọng dụng Hồ Quý Ly. Lập tức, nhà Trần gặp “họa ngoại thích” và để mất Chính quyền.

5-Bốn mươi năm đã trôi qua, kể từ khi Thống nhất Đất nước. Chừng ấy năm, đảng CS, độc chiếm quyền hành. Họ từng bước, dẫm vào đúng vết xe đổ của nhà Trần. Họ, công khai và trơ trẽn ngụy biện: Chỉ có “Con lãnh đạo, lại làm lãnh đạo” (phiên bản mới, của hôn nhân cận huyết), mới cỏ thể, “đem lại Hạnh phúc cho Dân tộc”. Đồng thời, nó đảm bảo cho Việt nam, đạt được những thành tích, trên cả mức tuyệt vời. Việt nam, bước vào thời kì, mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, xưng xưng tự đánh giá là: “rực rỡ nhất trong Lịch sử của Dân tộc” (Nguyễn Phú Trọng, chẳng hổ danh, là kẻ có trình độ cao nhất, trong các đời Tổng Bí thư của Việt nam).

Rực rỡ đến mức, chính ông Trương Tấn Sang, phải thốt lên: “Xấu hổ lắm, vì tệ nạn tham nhũng chỉ đứng vào hàng thứ… trên 100”. Kinh tế Việt nam, rực rỡ đến mức: Đã tiêu đến, những đồng tiền cuối cùng. Ngân khốđã cạn kiệt.

Trước cái sự thực ấy, Nhân dân Việt nam, đã biết đến tận chân tơ – kẽ tóc, cái gọi là “Tài và Đức” của những người CS. Còn đảng CS thừa biết, Nhân dân Việt nam, tin tưởng mình đến đâu. Cho nên, họ không chấp nhận, “phổ thông đầu phiếu – bầu và ứng cử tự do”, trong sự giám sát của Quốc tế và, không chấp nhận “bãi bỏ Điều 4 của Hiến Pháp”. Đối với loại tài hèn – trí cùn: Làm như thế, Nhân dân sẽ tống cổ hết, cả lò – cả ổ nhà chúng, về vườn. Ngang bằng với việc, tự đút đầu vào thòng lọng, để tự sát.

Mất đi sự tín nhiệm của Nhân dân, nhưng đảng CS, vẫn chưa bị sụp đổ. Bởi, họ còn có 3 trụ cột: Quân đội – Công an và Tàu cộng. Trong 3 trụ cột ấy, chỉ có mỗi một thế lực, luôn ủng hộ toàn diện và tuyệt đối cho đảng CS Việt nam: Đó, là Tàu cộng. “Ăn cây nào – rào cây ấy”. Do đó, họ phải hết lòng bảo vệ, cho cái thằng bảo trợ mình.

Xưa, chính những người CS, ấn súng vào tay thanh niên Việt nam. Bắt họ, phải đi đánh nhau với Trung cộng. Nay, bia Chiến thắng, trong cái cuộc chiến ấy, lại bị chính những người CS, đục bỏ đi. Người dân, tưởng niệm cuộc chiến ấy, họ thẳng tay đàn áp. Bằng cách đó, họ hy vọng: Nhân dân, sẽ lãng quên, cuộc chiến này. Nhưng, Lịch sử, đã ghi lại rành rành. Đâu dễ gì, che giấu được.

Trăm năm, bia đá thì mòn.

Nghìn năm, bia miệng vẫn còn trơ trơ.

6-Khi cái chiêu “dùng thúng – úp voi” ấy, tỏ ra không hiệu quả. Những người CS, táo tợn, dùng cách cuối cùng: Giết voi. Nghĩa là, loại bỏ môn Lịch sử, ra khỏi hệ thống Giáo dục phổ thông. Bắn ra mũi tên: “Tích hợpLịch sử, vào các bộ môn khác”, đảng CS hy vọng: Sẽ thu được, nhiều con chim.

Tích hợp” Lịch sử, chỉ có mỗi một cách hiểu: Cắt vụn Lịch sử ra. Sau đó, những kẻ chuyên làm điêu – nói thiếu, sẽ lăn xả vào và ra tay nhào trộn. Công thức: 3 phần thực, trộn với 7 phần hư, cộng thêm chút dấm ớt. Đem ngoáy đều nó lên, sẽ thành ra, những  mẩu chuyện Lịch sử. Rồi, ấn nó vào các bộ môn khác. Những mẩu chuyện nào thích, họ đưa vào – Những mẩu chuyện nào, có thể động chạm đến họ, lập tức bị loại ra (Việc không thể xảy ra, nếu nghiên cứu Lịch sử, theo trình tự Thời gian).

Lịch sử, sẽ trở thành truyền thuyết. Còn con em của chúng ta, sẽ dần trở thành, lũ mất gốc.

Theo đó, những sự kiện trọng đại, trong Lịch sử nước nhà: Cuộc kháng chiến, chống quân Trung quốc xâm lược, ở Biên giới phía Bắc, năm 1979. Cuộc chiến oai hùng của Quân lực Việt nam Cộng hòa, tại Hoàng sa năm 1974. Trung quốc, xúi giục – tổ chức và tài trợ cho chế độ Khơ me đỏ. Để chúng, gây ra những tội ác, Trời không dung – Đất không tha, đối với Nhân dân Campuchia. Cũng như, đối với Nhân dân Việt nam… Sẽ dần phải bị lu mờ, trong tâm trí của bọn trẻ con nước Việt.

Ngoài cách, “tích hợp” môn Lịch sử, còn có cách nào, tốt hơn?

Trước kia, họ tố cáo: “Triều đình nhà Nguyễn ươn hèn”. Bởi nhà Nguyễn, đã từng, lần lượt cắt đất của lục tỉnh Nam kì, dâng cho Pháp. Để mong, đổi lấy cái thứ Hòa bình viển vông. Để mong, người Pháp thương hại và để nguyên cho họ cai trị, trên phần đất còn lại của Việt nam. Nhượng bộ, đến mức đó. Nhưng, con hổ đói Phú lãng sa, đâu có chịu nằm yên. Chung cuộc, nó vẫn nuốt trọn Việt nam.

Nay, nếu vẫn giữ nguyên, lời tố cáo đó. Họ sẽ giải thích ra sao, về ải Nam quan – về thác Bản giốc – về bãi Tục lâm – về những hòn đảo của Tổ quốc, đã bị Trung cộng cưỡng bức, trên Biển đông? Vì ươn hèn hay vì, đem những thứ đó, để đổi lấy cái thứ, mà họ gọi là: “môi trường hòa bình và ổn định”. Cho cái đảng CS, mặc dù đang bị rệu rã, vẫn được ung dung, mà ngồi bàn chuyện, “tổ chức Đại hội đảng lần thứ 12”? Và, sau khi, có được những thứ ấy: Con quái vật Tàu cộng, liệu có dừng dã tâm của nó, ở mức đó hay không?

Hãy “lẩn như trạch”, ra khỏi đề tài này. Muốn vậy: Hãy “tích hợp” môn Lịch sử

Trước kia, họ dạy “Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc” của cụ Đồ Chiểu, cho bọn trẻ con nước Việt. Thông qua đó, họ chê bai quan quân nhà Nguyễn: Được trang bị tốt – Được nuôi dưỡng, theo nhu cầu – Được luyện tập đầy đủ và tinh thông. Nhưng, khi giặc đến: Tất cả lũ hèn nhát ấy, không đứa nào, dám ra chống cự. Nhân dân, chỉ vì nghĩa khí, đứng lên chống giặc. Không khuyến khích người ta, đã đành. Đằng này, còn bắt tội người ta. Giam cầm, cả đến lòng yêu nước.

Nay, nếu vẫn dạy bài Văn tế đó. Họ sẽ giải thích ra sao, về việc: Quân đội và Công an, được trang bị đầy đủ và tốt như thế. Nhưng, khi giặc đến: Tất cả, đều nín khe – Tất cả, đều kiên trì bám bờ. Họ nhẫn tâm, đẩy ngư dân, ra biển. Để, làm những “cột mốc chủ quyền” ở trên đó. Họ hứa, còn chắc hơn cả đinh đóng cột rằng: Bà con, hãy yên tâm mà làm ăn. Đã có Quân đội và Cảnh sát biển, luôn đứng đằng sau, để hỗ trợ. Nhưng sự thực, lại quá phũ phàng. Khi ngư dân ra biển và, bị lũ giặc sát hại: Không có 1 phương tiện nào – Không có 1 thằng nào – Không có 1 con nào ra ứng cứu.

Trương Văn Bảy, bị giết trên biển. Tàu cá QNg 95861 TS, đơn côi và ì ạch chở anh về bờ. Chứng kiến cảnh đó, bao nhiêu người, đã khóc, vì tủi nhục. Trừ, những người CS. Trái tim của họ, đã hóa thành gỗ – thành đá, từ lâu rồi.

Nếu, còn có lòng tự trọng và còn biết xấu hổ, liệu Tư Sang, có dám mở mồm, lặp lại những câu sáo rỗng tương tự, trước Nhân dân Việt nam? Đồng thời, những người CS, sẽ giải thích ra sao, về viêc: Bắt bớ và đánh đập vô tội vạ, con dân Đất Việt. Khi, họ biểu thị quyết tâm, sẵn sàng hy sinh, để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Đất nước Việt nam?

Muốn “né hạ”, tốt nhất, hãy tránh chuyện đó. Biện pháp đơn giản nhất: “tích hợp” môn Lịch sử

Những người CS, liệu có dám, dạy cho học sinh, những tấm gương hy sinh lẫm liệt của Hoàng Diệu – của Nguyễn Tri Phương. Khi giặc đến, các Cụ chỉ huy quân đội, đánh đến cùng. Mặc dù, thế và lực rất chênh lệch. Không giữ được Thành – không bảo vệ được Dân, các Cụ, đều tuẫn tiết. Để tỏ rõ, lòng Trung với Dân – với Nước. Dạy như thế, họ sẽ giải thích ra sao, về viêc: Biển đảo của Tổ quốc, bị giặc chiếm đoạt – Ngư dân, không được bảo vệ. Nhưng, chẳng ai thấy, bất cứ một viên tướng nào của CS, dẫn quân ra chống cự. Và, chẳng có ai, trong số đó, tự tử. Vì, không hoàn thành nhiệm vụ của mình, trước Dân – trước Nước. Không những thế, họ còn công khai thú nhận, cái năng lực hết sức tồi của mình, trước bàn dân Thiên hạ. Tuy vậy, vẫn nhất định, không chịu từ chức. Để người khác, lên làm thay. Họ, ngồi ỳ thì lỳ ra đó. Chỉ nhằm, đối phó với Nhân dân và chờ… lĩnh sổ hưu. Thượng tướng Huỳnh Ngọc Sơn, là 1 tấm gương, tiêu biểu.

Muốn tránh chuyện bị chất vấn, hãy “tích hợp” môn Lịch sử. Để, khỏi phải nói, về sự kiện đó.

7-Nhiều người cho rằng: Phạm Vũ Luận, là tác giả của cái đề xuất: “bức tử” bộ môn Lịch sử. Họ, chửi ông, không tiếc lời. Họ, thật không công bằng.

Phạm Vũ Luận, chẳng tài giỏi gì. Đó, là sự thật. Dưới sự lèo lái của ông, con thuyền Giáo dục Việt nam: hết lao vào thác ghềnh, rồi lại đâm đầu vào đá tảng. Ông, thuộc tuýp người: Chuột không hay – Hay ỉa bếp. Nói về Giáo dục: ông ấp úng, cứ như đang ngậm hột thị. Nhưng, hãy thử hỏi ông, về những thứ Trời ơi – Đất hỡi. Ông sẽ khua môi – múa mép, như 1 nhà hùng biện thứ thiệt. Ông coi Giáo dục, là thứ giáo, để đâm – là thứgiáo, để chém. Bởi vậy, ông coi nó, là 1 trận đánh lớn. Ông, là Tư lệnh – Giáo viên, là chiến sĩ – Sách vở, là vũ khí – Phụ huynh và học sinh, nếu không phải là địch, thì cũng chẳng phải, thuộc quân mình. Và, khuyên quân ta, phải sẵn sàng trả giá – phải sẵn sàng hy sinh (!) Quan trọng nhất, phải che giấu khuyết điểm, như mèo dấu cứt. Nếu không, quân ta sẽ tự đánh… quân mình. Chính vì, có năng lực tồi, cho nên, đã có lần, ông hân hạnh, được đội sổ về mức độ “tín nhiệm”.

Tuy vậy, xuất thân từ 1 giáo viên, ông không thể ngu đến mức: Đề xuất, viêc bức tử môn Lịch sử. Chắc chắn, có 1 thằng đồng đội nào đó, đang “nằm trong đống rơm”, đã chỉ đạo ông làm. “Thằng ăn ốc – Đứa đi đổ vỏ”. Bị chửi nhiều quá, ông ấm ức – ông hóa khùng. Ra trước Tòa, à quên, ra trước Quốc hội, ông đã gián tiếp, khai tuột ra nó. Ông giả nai, mà nói rằng: “sẽ có báo cáo làm việc với Ban Tuyên giáo TƯ, Hội đồng lý luận TƯ…”. Trên cơ sở ấy, “mới có kết luận cuối cùng”.

Không chịu, làm Lê Lai, để cứu Chúa. Sự nghiệp của ông, được coi như, chấm dứt từ đây.

Còn các vị đại biểu Quốc hội. Xin các vị, chớ vội lạc quan tếu. Cái Nghị quyết “không bức tử môn Lịch sử của quí vị, đã là cái đinh gỉ gì: Nó chưa được, những cơ quan khét tiếng kia, thông qua.

Cứ ngồi đấy, mà chờ. Hồi sau, sẽ rõ.

Nguyễn Tiến Dân

Tạm trú tại: 544 đường Láng – quận Đống đa – Hà nội.

Điện thoại:  0168-50-56-430

Khởi tố LS Nguyễn Văn Đài: Thách thức gây sốc

Khởi tố LS Nguyễn Văn Đài: Thách thức gây sốc

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-12-18

000_Hkg834327-622.jpg

Ảnh chụp qua màn hình TV phiên xử Luật sư Nguyễn Văn Đài và Luật sư Lê Thị Công Nhân tại Tòa án Nhân dân Hà Nội hôm 27/11/2007.

AFP

Your browser does not support the audio element.

Thất vọng từ nhiều phía

Vụ bắt giữ khởi tố luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài diễn ra trong thời điểm Đối thoại Nhân quyền Việt Nam – EU vòng thứ năm tổ chức ngày 15/12/2015 tại Hà Nội. Báo chí Việt Nam nhanh chóng đưa tin vụ bắt giữ khởi tố, nhưng bỏ qua các phản ứng được mô tả là đầy thất vọng từ nhiều phía.

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, người được Tổ chức Nhà báo không biên giới vinh danh Công dân mạng Netizen 2013, từ Việt Nam phát biểu:

“Vụ bắt LS Nguyễn Văn Đài là một bất ngờ lớn đối với tôi cũng như nhiều người, vì tình hình Việt Nam từ khi có Hiệp định TPP thì có vẻ như là đang cởi mở hơn và có những bước tiến triển tương đối thuận lợi cho việc phát triển dân chủ và nhân quyền. Nhưng việc bắt LS Nguyễn Văn Đài làm cho mọi người thất vọng…Ngoài ra có dư luận cho rằng vì thời gian trước khi diễn ra Đại hội Đảng thì cũng có những răn đe từ phía nhà cầm quyền. Qua đó thấy rằng nhà cầm quyền không có những tiến triển tốt đẹp trong chuyện cởi mở với người dân.”

” Vụ bắt LS Nguyễn Văn Đài là một bất ngờ lớn đối với tôi cũng như nhiều người, vì tình hình Việt Nam từ khi có Hiệp định TPP thì có vẻ như là đang cởi mở hơn và có những bước tiến triển tương đối thuận lợi cho việc phát triển dân chủ và nhân quyền. Nhưng việc bắt LS Nguyễn Văn Đài làm cho mọi người thất vọng…
-Blogger Huỳnh Ngọc Chênh”

Qua sự kiện LS nhân quyền Nguyễn Văn Đài vừa bị bắt giữ và khởi tố, TS Hà Sĩ Phu, một nhân vật bất đồng chính kiến thuộc nhóm thân hữu Đà Lạt, bày tỏ sự không tin tưởng đối với vấn đề cải cách chính trị ở Việt Nam. Ông nói :

“Nói chung toàn cái Đảng này chưa có ý định dân chủ hóa, chưa có ý đồ tốt một tí gì, cho nên bên cạnh việc mở toang thì sẽ có việc họ thắt lại. Tình hình dân chủ càng ngày càng xấu đi chứ chưa có biểu hiện gì tốt lên. Nhưng tôi thấy hiện nay rất nhiều người đang lạc quan lắm, cả hải ngoại lẫn trong nước nhiều người bắt đầu có cái nhìn lạc quan. Phần tôi chẳng lạc quan gì cả… Cộng sản họ đầy mưu mô. Tóm lại trước Đại hội Đảng đáng lẽ phải tạo ra không khí hồ hởi, nó là cái ‘hội’ thế nhưng họ vẫn bắt bớ đàn áp. Họ cũng đồn rằng, những động tác đó có thể là phe nọ đánh, phá phe kia. Thí dụ không muốn cho quan hệ với Mỹ, không muốn cho TPP được tiến hành. Bởi thế họ làm những động tác phản dân chủ, phản tiến bộ để phá nhau.”

Phổ biến trên trang mạng chính thức của EU ngày 17/12/2015, Thông điệp của Đại sứ Bruno Angelet, Trưởng phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam và các Đại sứ các quốc gia thành viên EU tại Việt Nam nhấn mạnh: “Quyết định bắt giữ và khởi tố ông Nguyễn Văn Đài đặc biệt gây thất vọng bởi vì nó diễn ra đúng ngày Đối thoại Nhân quyền EU – Việt Nam thường niên được tổ chức tại Hà Nội và ngay sau chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Bruxelles và tại đây Việt Nam và EU đã chính thức công bố kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do song phương…”

000_Hkg834336-400.jpg

Ảnh chụp qua màn hình TV phiên xử Luật sư Nguyễn Văn Đài tại Tòa án Nhân dân Hà Nội hôm 27/11/2007. AFP PHOTO.

Bản thông điệp cũng lưu ý phía Việt Nam, quyền cơ bản của tất cả mọi người là được quyền có ý kiến và bày tỏ ý kiến một cách hòa bình theo Tuyên bố Toàn cầu về Nhân quyền và Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt nam là một thành viên. Các Đại sứ nhắc lại những lời kêu gọi trước đây đối với Việt Nam trong việc trả tự do cho những người ủng hộ nhân quyền một cách hòa bình tại Việt Nam.

Nhận định về sự kiện liên quan, Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, người được vinh danh Công dân mạng Netizen 2013 từ Việt Nam phát biểu:

“Đây là một hành động coi thường đối với những cam kết của Việt Nam đối với quốc tế. Việt Nam đã có những cam kết quốc tế về vấn đề nhân quyền, nhưng rồi vẫn tiếp tục bắt người nhất là qua điều 88 là tuyên truyền chống lại Nhà nước, điều này rất là phi lý. Cho nên đã dấy lên dư luận trong người dân phản đối mãnh liệt về chuyện bắt Luật sư Đài và các tổ chức quốc tế cũng lên tiếng phản ứng vấn đề này.”

Bắt bớ tùy tiện

Được biết Việt Nam biểu lộ quyết tâm hội nhập nhanh và sâu với thế giới, trong số 12 Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia, 2 Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP và Hiệp định Thương mại Tự do EU – Việt Nam EVFTA có những điều kiện liên quan tới pháp luật bình đẳng và minh bạch. Việt Nam cũng cam kết cải tổ hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh của mình. Sự kiện Hà Nội bắt giữ và truy tố Luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài được được ông Andrus Ansip, Phó Chủ tịch Ủy ban Châu Âu nêu ra tại phiên họp toàn thể của Nghị viện Châu Âu hôm 16/12/2015.

Nhận xét về thực tế pháp luật ở Việt Nam và những vụ bắt bớ người bất đồng chính kiến một cách tùy tiện, TS Hà Sĩ Phu nêu ý kiến:

” Bản thân anh làm luật chẳng chân chính gì cả. Làm luật dưới sự chỉ đạo của đảng cộng sản nó chừa ra những chỗ để người ta nói thế nào, xử thế nào cũng được. Bản thân người thi hành thì chân lý tối cao của họ là bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.
-TS Hà Sĩ Phu”

“Tôi còn nhớ trước đây Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao cụ Phạm Văn Bạch có lần nói rằng, luật pháp nước ta xử thế nào cũng được. Bản thân anh làm luật chẳng chân chính gì cả. Làm luật dưới sự chỉ đạo của đảng cộng sản nó chừa ra những chỗ để người ta nói thế nào, xử thế nào cũng được. Bản thân người thi hành thì chân lý tối cao của họ là bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, trong khi đó luật pháp là để bảo vệ quyền của người dân. Về cơ bản chủ nghĩa cộng sản mâu thuẫn với luật pháp, luật tức là vô luật. Người ta phân biệt hai thứ rule of law và rule by law…. luật này của một phiá chứ không phải luật của nhân dân, họ nghĩ ra luật để khống chế quyền của dân thôi. Chừng nào chưa phá vỡ được sự độc quyền cộng sản thì luật pháp cũng chẳng có gì đáng tin cậy cả.”

Theo tin các báo điện tử Tuổi Trẻ, Người lao Động, VietnamNet, VnExpress, đây là lần thứ nhì cựu Luật sư Nguyễn Văn Đài bị bắt giam khởi tố về tội ‘Tuyên truyền chống Nhà nước,’ qui định tại Điều 88 Bộ Luật hình sự. Được biết LS Nguyễn Văn Đài đã từng nhận án 4 năm tù giam cùng một tội danh như lần này. Các báo nhắc lại trong các phiên xử năm 2007, Tòa án đã làm rõ là hai cựu Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã tang trữ các tài liệu có nội dung xuyên tạc lịch sử dân tộc, bôi nhọ nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa…

Báo chí trong nước khi đưa tin về vụ bắt giữ khởi tố Luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài đều có chung cách nêu tên trỏng, không thích hợp văn hóa Việt Nam. Trong làng báo, hiếm thấy như VnExpress gọi là cựu Luật sư Nguyễn Văn Đài hoặc ông Nguyễn Văn Đài. Điểm đáng chú ý không ngờ, ích lợi của Internet đã thể hiện khi độc giả của Tuổi Trẻ Online có những bình luận sâu sắc một cách đầy hàm ý.

Trong bài liên quan đến vụ bắt giam khởi tố LS Nguyễn Văn Đài, độc giả Trần Ngọc Khánh có bình luận được nhiều người tán thưởng. xin trích nguyên văn: “ Đề nghị nhà nước công khai nội dung xuyên tạc lịch sử dân tộc của Nguyễn Văn Đài. Xem thử như thế nào để nhân dân biết mà né tránh. Bán nước cầu vinh là tội không thể tha, còn tội bóp méo lịch sử, thay trắng đổi đen thì xử phạt gấp mười lần tội trên mới được. Vì nó ảnh hưởng hàng trăm thế hệ con cháu sau này.”

Comment của Trần Ngọc Khánh được rất nhiều người thích, nhiều chia sẻ tiếp theo của độc giả Tuổi Trẻ Online tạo ra một một tác dụng ngược chiều quan điểm của Tuyên giáo Đảng. Thí dụ bạn đọc Bùi Văn Thuận hồi đáp, đúng rồi tội bán nước vinh thân, rước giặc vào nhà, tươi cười hảo hữu với giặc nên xử thật nặng để răn đe con cháu sau này. Nhiều bình luận cũng đề nghị Nhà nước mở phiên tòa công khai cho người dân vào xem.

Ngôn ngữ Việt thật sâu sắc, ai đọc những comments chia sẻ của bạn đọc Tuổi Trẻ Online đều ngay lập tức hiểu những bình luận đó muốn nói gì và nói tới ai.

Chiến dịch đòi trả tự do cho LS Nguyễn Văn Ðài

Chiến dịch đòi trả tự do cho LS Nguyễn Văn Ðài
Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) Rất nhiều bằng hữu, cư dân mạng hợp tác với Hội Anh Em Dân Chủ và Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm, phát động chiến dịch đòi trả tự do cho Luật Sư Nguyễn Văn Ðài vừa bị nhà cầm quyền Việt Nam khởi tố.


Tấm bích chương vận động trả tự do cho Luật Sư Nguyễn Văn Ðài. (Hình: HAEDC)

Dự trù, chiến dịch sẽ kéo dài một tuần lễ gồm viết thư qua trang Facebook của các tòa đại sứ ngoại quốc tại Việt Nam, các tổ chức quốc tế và các chính phủ quan tâm đến tình trạng nhân quyền tồi tệ tại Việt Nam.

Liên nhóm vận động chiến dịch cũng mở một hộp thư điện tử làm nơi giao tiếp liên lạc có tên là “freenguyenvandai2015@gmail.com

Những ai tham gia vận động đòi trả tự do cho Luật Sư Ðài có thể vào địa chỉ này để ký tên. Nội dung chữ ký gồm: 1. Tên (hội, nhóm, tổ chức hay cá nhân). 2. Tỉnh/thành phố, quốc gia.

Dưới đây là các trang facebook của một số đại sứ quán:

https://www.facebook.com/usambassador.vietnam/
https://www.facebook.com/AmbassadeFranceVietnam/
https://www.facebook.com/germanyandvietnam/
https://www.facebook.com/norwayinvietnam/
https://www.facebook.com/dkvietnam
https://www.facebook.com/EmbassyOfSwedenInHanoi/
https://www.facebook.com/italyandvietnam/
https://www.facebook.com/CanadaVietnam/

Mọi người có thể viết bằng Anh ngữ một lời yên cầu ngắn, thí dụ như ý kiến của một số facebooker: “LS Nguyễn Văn Ðài vừa bị công an Việt Nam bắt sáng ngày 16 tháng 12 tại Hà Nội. Rất mong ngài đại sứ quan tâm và can thiệp để nhà cầm quyền Việt Nam phải trả tự do cho Luật Sư Ðài. Cám ơn ngài.”

Trong lời kêu gọi các cá nhân và tổ chức tham gia chiến dịch, nhóm phổ biến lời kêu gọi viết rằng “Tất cả mọi hoạt động của LS Nguyễn Văn Ðài đều nằm trong phạm vi các quyền cơ bản của con người, bao gồm quyền tự do lập hội, quyền tự do ngôn luận và quyền tự do đi lại. Trong các quyền cơ bản đó, các nhà hoạt động có quyền sử dụng các nguồn lực, từ cá nhân hay từ nhiều người khác, để cổ xúy và bảo vệ nhân quyền tại VN.”

“Chính quyền Việt Nam phải tôn trọng các cam kết quốc tế về thực thi các tiêu chuẩn nhân quyền, trong đó là cam kết tạo không gian cho truyền thông phi nhà nước, không gian cho XHDS và hoạt động của người bảo vệ nhân quyền. Việc bắt LS Nguyễn Văn Ðài sáng ngày 16 tháng 12, 2015 là một hành động hoàn toàn bất chính và bất xứng trong tư cách chính quyền VN đang là thành viên của Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ.” (TN)