NHÌN LẠI CUỘC ĐỜI ĐỐI VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN

NHÌN LẠI CUỘC ĐỜI ĐỐI VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN

Nguyễn Đình Cống

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tôi sinh năm 1937. Nhìn lại cuộc đời 80 năm qua có liên quan đến cộng sản (CS) tôi tạm chia thành 5 giai đoạn. 1- lúc còn nhỏ (trước 1945) thỉnh thoảng nghe nói về CS, được tiếp xúc với một số đảng viên bí mật đến vận động cha tôi làm cách mạng, tôi biết và có cảm tình với CS từ đó. 2- Từ 10 đến 30 tuổi, được nghe tuyên truyền, được học và hoàn toàn tin tưởng vào CS, vào Chủ ngĩa Mác Lênin (CNML). 3- Từ 30 đến 50 tuổi, khi đã thấy nhiều, biết nhiều, đặc biệt là qua chiêm nghiệm thực tế tôi có một số nghi ngờ về sự đúng đắn của CNML và CS. 4- Từ 50 đến 70 tuổi tôi thấy sợ vì nhiều người bị bắt bớ tù đày, bị thủ tiêu chỉ vì nói ra cái sai của CNML, hoặc bị Đảng CS nghi ngờ, vu oan giá họa. 5- Từ 70 tuổi trở đi, dần dần tôi vượt qua sự sợ hãi và dám công bố một số nhận thức, vạch ra cái sai lầm, độc hại của CNML. Tóm tắt 5 giai đoạn là : BIẾT, TIN, NGHI, SỢ, VƯỢT.

Sau khi tuyên bố ra Đảng (tháng 2-2016) tôi nhận được nhiều bình luận, có đồng tình, ủng hộ, có phê phán, thắc mắc, có cả chửi rủa, mạt sát. Tạm bỏ qua những lời đồng tình, ủng hộ với sự thông cảm chân thành, quên đi những lời chửi rủa, mạt sát mang đầy vu khống. Tôi chỉ xin đề cập đến những lời phê phán, những thắc mắc. Những điều này mới nghe qua thì thấy có lý, chứng tỏ người viết có suy nghĩ. Tuy vậy nó có thể đúng với người này, trong trường hợp này nhưng lại không đúng với người khác, trong ttường hợp khác mà chỉ khi suy nghĩ sâu sắc, khi có chiêm nghiệm rộng rãi mới nhận ra được. Xin tóm tắt thành các vấn đề sau:

1-Lúc trẻ đã mất công phấn đấu để xin vào Đảng, đến già tại sao lại dở chứng. Mà muốn ra thì lặng lẽ xin ra, việc gì phải công khai , phải chăng là muốn nổi tiếng.

2-Khi vào Đảng đã thề trung thành trọn đời đối với Đảng, với CNML, nay quay lại phê phán CNML và từ bỏ Đảng, như vậy là phản bội lời thề.

3-Nhờ có công ơn Đảng mới được đi học, được phong giáo sư tiến sĩ, về nghỉ có lương hưu, từ bỏ Đảng là việc làm của kẻ ngu dốt , vô ơn. Mục tiêu của Đảng là xây dựng đất nước hòa bình, tự do, dân chủ, hạnh phúc, văn minh. Ra Đảng phải chăng là chống lại mục tiêu cao đẹp đó. Biết bao nhiêu người theo Đảng, hy sinh xương máu để đem lại độc lập, thống nhất, việc từ bỏ Đảng là phản bội lại ông cha, là không thực hiện “uống nước nhớ nguồn”.

4- Chủ nghĩa không sai, Đảng không sai, xã hội có một số tệ nạn chỉ là do một số cán bộ thoái hóa biến chất, tại sao không dám trực diện đấu tranh với họ mà lại làm một việc dại dột là chống Đảng.

5- Tự cho là một trí thức chân chính sao không cống hiến hết mình mà lại từ bỏ Đảng.Việc ra Đảng chỉ làm mất uy tín, bị nhiều người phỉ nhổ. Có giỏi thì lập ra tổ chức để đấu tranh, vận động và dẫn đầu biểu tình chứ chỉ “ làm anh hùng bàn phím” thì là đồ mạt hạng.

6-Ông đã 80 tuổi, nên an hưởng tuổi già bên cháu chắt, vui với chim cá, cây cảnh, dây vào chính trị làm gì. Nếu không thích chế độ Xã hội chủ nghĩa do ĐCS lãnh đạo thì cuốn xéo ra nước ngoài mà ở.

Tôi sẽ lần lượt kiểm điểm từng vấn đề, xem rằng đó là việc tự nhìn lại cuộc đời đối với Đảng CSVN. Nghĩ rằng khá nhiều bạn cùng hoàn cảnh cũng có quan điểm tương tự nên xin dùng chủ ngữ “ chúng tôi” trong một số chỗ, để ngụ ý có một số người cùng nghĩ và làm như vậy chứ không phải chỉ một mình tôi.

VẤN ĐỀ 1. Phấn đấu vào Đảng và thông báo ra Đảng.

Ngược với nhiều đảng viên khác, chúng tôi vào Đảng không nhằm đạt được quyền lợi cá nhân nào đó và   không có việc phấn đấu để vào Đảng. Chúng tôi phấn đấu với mục tiêu trở thành người yêu nước chân chính, có trình độ cao về nhiều mặt, có đạo đức, có lý tưởng tốt đẹp. Mục tiêu đó cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn đảng viên. Khi tổ chức Đảng thấy cần kết nạp chúng tôi thì kết nạp mà không thì thôi. Chính vì lẽ đó mà nhiều trí thức thế hệ chúng tôi vào Đảng lúc đã là U50. Thời gian trước 1980 ( khoảng chừng) Đảng rất hạn chế kết nạp các trí thức trình độ cao, có dính dáng đến thánh phần thù địch giai cấp. Việc đó làm cho lực lượng Đảng ở các trường đại học không tương xứng với đội ngũ cán bộ khoa học và nhiệm vụ lãnh đạo công tác đào tạo. Từ 1980 về sau Đảng mới quan tâm hơn đến việc thu hút trí thức, mở rộng việc kết nạp những người xuất thân từ các thành phần bậc cao ( trong cải cách xã hội, ông bà, bố mẹ bị qui là địa chủ, phú nông, tư sản, quan lại ). Khi vào Đảng mọi người làm đơn xin, đối với chúng tôi đó chỉ là một thủ tục, chứ không phải là xin một quyền lợi, một vinh dự. Chúng tôi vào Đảng là để làm việc tốt hơn chứ không phải để có quyền lợi nhiều hơn, không nhằm đạt danh vọng hoặc vinh dự cao hơn. Đó là điều khác biệt với một số đông đảng viên khác. Điều này người ngoài ít khi nhận thấy. Những kẻ cơ hội xin vào Đảng để tìm quyền lợi hoặc danh vọng cũng như những người quen với suy nghĩ nông cạn không thể hiểu được điều đơn giản có thật vừa trình bày.

Vào Đảng để được làm việc tốt hơn, đến khi thấy vai trò đảng viên không còn tác dụng cho công việc, lại thấy quan điểm của Đảng và của cá nhân khác nhau ( kiên trì hay từ bỏ CNML) thì việc ra Đảng là chuyện bình thường, không vi phạm đạo đức, không phải là tội lỗi.

Đã có nhiều đảng viên khi nghỉ hưu đã lặng lẽ bỏ Đảng bằng nhiều cách. Đầu tiên tôi cũng định chọn cách lặng lẽ, nhưng thời gian vừa qua, khi tôi công bố một số bài phê phán CNML thì có nhiều bạn góp ý, cho rằng tôi chỉ là một thằng hèn khi một mặt phê phán CNML, mặt khác vẫn đeo bám Đảng, các bạn khuyên tôi nên từ bỏ càng sớm càng tốt. Trước đó chính tôi cũng tự thấy như vậy. Tôi công khai việc làm là có phần trả lời góp ý đó và tin là nhờ vậy mà các bài viết của tôi có tác dụng hơn. Tôi biết có nhiều đảng viên cũng đang phân vân giữa việc ở lại và ra vì chưa lường trước được hậu quả công việc. Tôi đã vượt qua sự đắn đo, sự sợ hãi, làm một phép thử để các bạn tham khảo. Tôi không làm đơn xin mà viết thông báo vì nghĩ rằng đơn xin là bị động, phải chờ đợi sự xét duyệt. Đã xin thì phải chịu sự lệ thuộc, có thể được cho hoặc không . Hơn nữa tôi không muốn làm mất thì giờ của một số cán bộ Đảng phải họp để thảo luận và xét. Thông báo chủ động hơn, tiết kiệm thời gian hơn, hiệu quả hơn. Còn muốn nổi tiếng ư ?. Không ! Tôi biết trước rằng khi công khai việc này sẽ nhận được không ít sự bất đồng, trách móc, phê phán, chửi rủa. Tôi phải chiến thắng sự sợ hãi và tâm lý an phận mới dám làm .

VẤN ĐỀ 2-Lời thề khi vào Đảng

Trong lễ kết nạp, đảng viên mới phải tuyên thệ. Lời thề thường gồm 4 nội dung : 1- Trung thành tuyệt đối với Đảng, với lý tưởng CS. 2- Học tập thấm nhuần, làm theo tư tưởng, đường lối của CNML, xem đó là kim chỉ nam. 3-Làm tốt mọi nhiệm vụ đảng viên. 4- Có liên hệ và công tác quần chúng tốt.

Đối với nhiều người khác thì lời thề ấy thường được soạn theo mẫu do Chi ủy hướng dẫn. Tôi biết trong nhiều trường hợp người ta đọc lời thề chỉ là làm cho đủ thủ tục hình thức , còn trong thâm tâm họ nghĩ khác. Khi vào Đảng tôi đã 48 tuổi và là phó giáo sư, tiến sĩ, trưởng bộ môn. Tôi không muốn làm kiểu sáo vẹt mà phải trung thực, vì vậy tôi tự soạn ra lời thề cũng gồm 4 nội dung, điều 3 và 4 gần gần như theo mẫu, còn điều 1 và 2 đã sửa theo cách khác. Xin chép lại : Điều 1- Xin thề tuyệt đối trung thành với lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc, đấu tranh cho đất nước hòa bình, độc lập thống nhất, xây dựng xã hội tự do dân chủ, công bằng, vì sự phát triển của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Điều 2- Xin thề không ngừng học tập để nâng cao trình độ mọi mặt, nghiên cứu sâu sắc CNML, Chủ nhĩa cộng sản và con đường xây dựng Chủ nghĩa Xã hội.

Bây giờ xem lại tôi thấy đã không vi phạm, không phản bội lời thề ở chỗ nào hết. Tôi thể tuyệt đối trung thành với lý tưởng và sự nghiệp tốt đẹp chứ không thề trung thành với Đảng, bây giờ tôi vẫn trung thành với lý tưởng và sự nghiệp đó. Tôi thề nghiên cứu sâu sắc CNML, CNCS, con đường CNXH chứ không thề trung thành với những điều ấy. Chính nhờ nghiên cứu sâu sắc mà tôi phát hiện ra những sai lầm, những độc hại trong đó, thấy rồi tôi tìm cách nói lại với mọi người. Những ai cho rằng tôi đã phản bội lời thề vì họ tưởng nhầm tôi cũng đã đọc lời thề theo kiểu sáo vẹt như nhiều người khác. Mà nếu có ai đó khi được kết nạp có thề trung thành với Đảng, với CNML, bây giờ họ thấy đã bị nhầm, họ ra Đảng thì đồng thời họ có quyền xóa bỏ lời thề đã đọc, việc đó không có gì sai trái.

VẤN ĐỀ 3- Mục tiêu của Đảng, công ơn Đảng, uống nước nhớ nguồn

Đảng tuyên truyền rằng “ Mục tiêu là xây dựng đất nước hòa bình, thống nhất, dân chủ, công bằng, giàu mạnh, văn minh”. Đối chiếu vào thực tế thì thấy đó là mong ước của nhiều đảng viên, cũng là một phần mục tiêu của Đảng khi mà quyền lợi của dân tộc và của Đảng là thống nhất. Mà oái oăm thay, quyền lợi của Đảng, đặc biệt là quyền lợi của các nhóm lợi ích bậc cao trong Đảng có nhiều khi mâu thuẩn với quyền lợi dân tộc. Mục tiêu cao hơn của Đảng, mục tiêu chủ yếu là bảo vệ Đảng bằng bất kỳ giá nào, là kiên trì CNML, là giữ vững nền độc tài toàn trị. Còn mục tiêu của nhiều cán bộ từ thấp đến cao là lo thu hồi vốn bỏ ra khi chạy chức chạy quyền và làm giàu cá nhân, là lo bảo vệ lợi ích nhóm. Như vậy mục tiêu xây dựng đất nước như trên chủ yếu là để tuyên truyền, lôi kéo nhân dân đi theo. Đảng cũng bắt buộc phải nêu khẩu hiệu “ Đặt quyền lợi dân tộc lên trên”, nhưng đó chỉ là thủ đoạn tuyên truyền. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng “VN là đất nước không chịu phát triển”, rằng để phát triển đất nước thì việc đầu tiên là phải cải cách thể chế chính trị. Như vậy, việc chúng tôi vạch ra những sai lầm của CNML, của thể chế và ra khỏi Đảng không phải nhằm chống lại mục tiêu tốt đẹp xây dựng đất nước mà là chống lại những cản trở để thực hiện mục tiêu đó, chống lại sự tuyên truyền ngụy biện, chống lại sự nô dịch về tư tưởng và thông tin.

Về công ơn Đảng. Một thực tế của lịch sử là ĐCS đã độc quyền lãnh đạo và quản lý đất nước trong thời gian qua, nhưng dân tộc được hay bị cái sự ấy thì xin tạm gác lại. Chỉ xin bàn đến vấn đề đối với từng cá nhân. Rõ ràng là có một số người nhờ có Đảng mà đã thoát cảnh lầm than, trở nên ông này bà nọ. Nhưng không phải toàn bộ dân VN đều như thế. Rõ ràng là Đảng đã lãnh đạo để có chiến thắng 30 tháng 4, nhưng nói về nó Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt có câu để đời: “ Triệu người vui và triệu người buồn”. Trong cải cách ruộng đất, nhiều bần cố nông vui mừng được chia quả thực, họ rất nhớ công ơn Đảng. Trong khi có hàng vạn phú nông, địa chủ, nhân sĩ trí thức, kể cả nhiều người có công với cách mạng và kháng chiến chống Pháp bị sát hại, bị “đạp đầu xuống bùn đen vạn kiếp”. Những nhà tư sản bị tịch thu tài sản, bị đuổi đến vùng kinh tế mới, những thuyền nhân mà không ít bỏ xác giữa biển , những người của Việt Nam cộng hòa bị bắt vào các trại cải tạo, những dân oan…. Những người vừa kể không bao giờ nhờ công ơn Đảng. Mà tất cả họ đều là người Việt.

Về các giáo sư tiến sĩ ( GSTS). Có rất nhiều người Việt trở thành GSTS, kể cả nhà khoa học lớn mà không nhờ gì đến công ơn ĐCSVN, thậm chí một số còn tích cực chống lại chủ thuyết CS, họ đang làm việc có hiệu quả khắp nơi trên thế giới. Một số trí thức lớn như Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên, Trần Hữu Tước, Tôn Thất Tùng, Lương Định Của v.v… đã phục vụ đắc lực cho ĐCS thì cũng không phải nhờ Đảng họ mới có tri thức và khả năng cần thiết.

Có khá nhiều GSTS được đào tạo từ dưới chính thể của ĐCSVN. Loại trừ một số GSTS dổm, chạy được học vị, học hàm nhờ vào mưu mô, thế lực hoặc tiền bạc thì cũng có một số trở thành GSTS thứ thiệt, có trình độ là nhờ công ơn Đảng. Số người này nếu không có Đảng nâng đỡ thì chưa chắc đã học xong phổ thông chứ nói gì đến GSTS. Nhưng một số khác thì không phải như vậy.

Đảng bắt đầu mở rộng đào tạo trí thức bậc cao vào khoảng từ 1960 trở đi bằng cách gửi người sang các nước XHCN. Bắt đầu chỉ chọn các đảng viên hoặc người xuất thân từ công nông, nhưng không đủ, bắt buộc phải mở rộng cho các thành phần khác. Khi cử người đi học thì mục tiêu của Đảng không phải là ban ơn cho một ai đó mà là đào tạo cán bộ để phục vụ Đảng.Trước khi ra nước ngoài chúng tôi được học chính trị, được chỉnh huấn, được cán bộ Đảng căn dặn rất kỹ càng là đi học cũng là một nhiệm vụ quan trọng do Đảng giao, phải học tốt để về phục vụ Đảng. Như vậy việc được đi học không phải là chịu sự ban ơn, đành rằng mỗi chúng tôi đều biết ơn trong việc cụ thể này. Việc được phong giáo sư cũng chủ yếu không phải là nhờ sự ban ơn của Đảng, mà chủ yếu là do sự nổ lực hoạt động khoa học của cá nhân, ai đã từng nhận danh hiệu này một cách chính đáng đều biết rõ như vậy.

Kể cả khi bạn thực sự nhờ công ơn Đảng mới có được học vị, học hàm xứng đáng thì đức tính trung thực và lòng tự trọng không cho phép bạn làm ngơ trước những sai lầm của CNML, không cho phép bạn tự biến mình thành kẻ chỉ biết phục tùng , cúi đầu phụ họa, chỉ biết ca ngợi một chiều để giữ được miếng cơm manh áo và sự yên ổn tạm thời cho bản thân và gia đình.

Về “ uống nước nhớ nguồn” tôi đã viết và công bố bài “Những ai đã phản bội ông cha” chứng minh rằng chính một số ông cha chúng ta đã chọn sai con đường theo CNML, nay chúng ta phải sửa sai, và bọn người thực sự phản bội sự hy sinh xương máu của ông cha chính là những kẻ đang củng cố sự độc quyền toàn trị và bọn lợi ích nhóm đang cố duy trì chế độ lỗi thời để tham nhũng, để vinh thân phì gia. Về đóng góp xương máu thì gia đình tôi có 5 liệt sĩ là cha tôi và 4 người con cháu của ông. Gần đây tôi đã xây dựng được nhà thờ để thờ tự các liệt sĩ và tổ tiên. Nói rằng việc làm của chúng tôi là sự phản bội ông cha, không thực hiện việc uống nước nhớ nguồn là không đúng, là vu cáo.

VẤN ĐỀ 4- Đảng không sai, chỉ có cá nhân sai.

Một số ngườ i cho rằng CNML luôn đúng, Đảng không sai, chỉ có một số cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất làm sai. Thì đấy , ngay như chuyện tham nhũng hoặc mất dân chủ, Đảng luôn kêu gọi chống lại, thế mà nó vẫn phát triển, chỉ là do cán bộ không thực hiện mà thôi. Những người nghĩ và tin như vậy thực ra đã được nghe tuyên truyền chỉ từ một nguồn, đã bị nhồi sọ bởi những lập luận ngụy biện. Chúng tôi hồi trẻ vẫn tin như thế, nhưng rồi dần dần, được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin khác nhau và đặc biệt chiêm nghiệm từ cuộc sống thực tế, tự suy nghĩ sâu sắc một cách khoa học mới nhận ra không phải như vậy. Phần lớn những điều tốt đẹp mà Đảng nói tới chủ yếu chỉ là tuyên truyền ngụy biện, còn sự toàn trị của Đảng hàng ngày hàng giờ sinh ra và nuôi dưỡng các tệ nạn đủ thứ. Câu nói “Mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ cây đời mãi xanh tươi” hoặc “Chớ cả tin vào lời người ta nói, hãy xét xem việc họ làm” đã được lịch sử nhân loại kiểm nghiệm, đúng cho mọi lý thuyết, cho mọi người, mọi tổ chức, không riêng gì cho CS.

Về các bài viết và việc làm của tôi, một số người cho là tôi cố ý chống lại ai đó ( lãnh đạo chẳng hạn), chống Đảng , chống CNML. Tự trong thâm tâm tôi không muốn chống ai cả mà chủ yếu là muốn cung cấp thông tin nhằm thức tỉnh những ai muốn tìm hiểu các quan điểm khác nhau. Còn đối với những người chỉ biết tin theo một nguồn, chỉ cố giữ chặt một quan điểm thì làm sao lay chuyển họ được. Kể ra tìm cho kỹ thì cũng có lúc tôi chống đối nhưng không chống ai cả mà là chống lại những quan điểm, những việc làm mà tôi cho là sai quy luật, là có hại cho dân tộc và nhân loại.

VẤN ĐỀ 5-Bàn về cống hiến

Đối với mỗi người cống hiến quan trọng nhất là trong việc phát triển đất nước và nhân loại. Tùy hoàn cảnh, tùy thời gian mà việc cống hiến này sẽ là tốt hơn khi ta ở trong hoặc ngoài Đảng. Trước đây thấy rằng vào Đảng sẽ có khả năng công tác tốt hơn nên chúng tôi gia nhập khi Đảng yêu cầu. Bây giờ thấy sự ra khỏi Đảng sẽ có tác dụng tốt hơn cho sự phát triển nền dân chủ của đất nước nên chúng tôi ra. Như vậy việc ra Đảng đã không làm giảm mà về khía cạnh nào đó còn làm tăng sự cống hiến, tất nhiên đó là cống hiến cho dân tộc chứ không phải là cống hiến, là hy sinh để bảo vệ những sai lầm của Đảng.

Riêng bản thân tôi, tự kiểm điểm trong cả cuộc đời cho đến bây giờ tôi đã làm việc hết sức mình để đóng góp vào sự phát triển của đất nước và đạt nhiều thành tích đáng kể, bạn bè, học trò của tôi, lãnh đạo những đơn vị và địa phương quản lý tôi đều biết rõ, tôi xin không kể ra vì đây không phải là nơi báo cáo thành tích.

Trong việc đấu tranh cho nền dân chủ, mỗi người tùy hoàn cảnh mà chọn cho mình công việc thich hợp. Việc lập tổ chức này khác, việc dẫn đầu biểu tình hoặc đi vận động việc nọ việc kia đã có nhiều người thich hợp hơn. Tôi, một giáo sư 80 tuổi, tôi chọn công việc thích hợp và không kém phần quan trọng là viết bài để thức tỉnh những ai còn ngộ nhận, những ai muốn tìm hiểu sự thật. Để làm việc đó cần trí tuệ và lòng dũng cảm, công việc cũng khá khó khăn, và làm được sẽ có lợi cho phong trào. Nếu làm như vậy mà có bị ai đó chê bai, trách móc, coi thường thì tôi cũng chấp nhận mà không có gì phải tự ái, không việc gì phải xấu hổ.

VẤN ĐỀ 6- Tuổi già và sự an nhàn

Tuổi gìa muốn được an nhàn, đó là tâm lý chung cần được tôn trọng. Nhưng có một số người già vẫn còn sức lực và trí tuệ, đặc biệt là vẫn còn nhiệt tình hoạt động giúp ích cho đời . Trong hoạt động vì độc lập tự do của đất nước, vì dân chủ và hạnh phúc của nhân dân nhiều chiến sĩ cách mạng thề phấn đấu đến hơi thở cuối cùng, nguyện trọn đời phục vụ nhân dân. Những người già như vậy càng nên được tôn trọng hơn chứ không nên tìm cách dè bỉu hoặc ngăn cản. Hồ Chí Minh có một số câu thơ : Năm 1947 Người viết tặng 3 cụ ở Cao Bằng : Tuổi cao chí khí càng cao. Múa gươm giết giặc ào ào gió thu….Năm 1960 Người viết : Càng già càng dẻo lại càng dai. Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai…

Tôi xin cám ơn những lời khuyên nên giữ an nhàn, đừng dây vào chính trị. Trong những lời khuyên đó có những tấm lòng tốt, lo cho sức khỏe và sự an nguy của tôi. Nhưng tôi không theo được vì tôi chưa muốn, chưa thể dẹp bỏ nguồn trí tuệ tìm kiếm chân lý, chưa dập tắt được ngọn lửa nhiệt tình muốn cống hiến cho xã hội tốt đẹp hơn. Tôi cũng nhận thấy trong một số lời khuyên có ẩn nấp sự sợ hãi. Ngoài những thứ sợ thông thường của kiếp người như sợ chết, sợ ốm đau, bệnh tật, tai nạn, sợ đói khổ, chia ly v.v… thì Đảng CS đã tạo ra và duy trì được nhiều nỗi sợ nữa cho nhân dân, cho đảng viên, cho cả các cán bộ cao cấp. Người ta sợ bị sát hại, bị đàn áp, tù đầy, sợ bị mang tiến phản bội, phản động, mang tội chống Đảng, chống chế độ, sợ bị vi phạm kỷ luật và những điều cấm, sợ bị mọi người xa lánh, sợ bị mất miếng cơm manh áo, sợ bị ảnh hưởng đến lý lịch và đời sống của con cháu…Sợ quá làm cho người ta trở nên hèn kém, mang nặng tâm lý nô lệ. Sợ quá làm người ta trở thành kẻ dối trá. Tôi đã sợ hãi như thế trong hơn 20 năm, một thời gian quá dài, nay đã phần nào vượt qua được.

Một số bạn xui tôi ra nước ngoài mà ở. Sao lại xui dại nhau thế, hay đấy là lời thách thức, một ý muốn xua đuổi . Tôi biết nhiều ngoại ngữ, lại có nhiều con cháu đang định cư tại nước ngoài, việc ra đó để sống nốt quảng đời còn lại đối với tôi là không có gì khó nhưng tôi không muốn. Tôi muốn và cần ở lại trong nước vì nhiều lý do chứ không chỉ cầu mong sự an nhàn của tuổi già.

LỜI KẾT

Tôi viết là nhằm trao đổi với những người bạn có thiện chí, muốn thực tâm tìm hiểu sự việc chứ không phải để tranh luận với những người chỉ biết mạt sát, chửi rủa một cách vô căn cứ. Kể ra để giải đáp được rõ hơn một vài thắc mắc thì cần viết mỗi vấn đề thành một tiểu luận với chứng minh chặt chẽ và nhiều dẫn chứng sinh động, tôi cũng có thể làm việc đó, nhưng xét ra cũng đã có nhiều người làm. Bài đã quá dài, xin tạm dừng, mong được thông cảm.

Bao giờ người Việt biết thương nhau?

Bao giờ người Việt biết thương nhau?

Song Chi.

RFA

Mỗi năm ở VN trung bình có khoảng từ 8,700-11,500 người chết vì tai nạn giao thông, nằm trong số những quốc gia có tỷ lệ người chết vì tai nạn giao thông cao trên thế giới. (Theo “List of countries by traffic-related death rate” (Wikipedia), tỷ lệ trung bình là 17.4 trên 100,000 người thì tỷ lệ của VN là 24.5. Còn theo đánh giá của tổ chức World Health Ranking về “Road traffic accidents death rate by country”, tỷ lệ số người chết tính trên 100, 000 người của VN là 23.10, thuộc vào khu vực được tô màu xanh, là khá cao).
Nghĩa là trung bình mỗi ngày có khoảng trên dưới 30 người rời khỏi nhà và vĩnh viễn không trở về. Chưa kể hàng ngàn người khác bị thương từ nhẹ đến nặng hoặc vĩnh viễn tàn phế. Tai nạn giao thông đã trở thành một nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với người VN mỗi khi phải bước chân ra đường. Báo chí, dư luận đã gióng lên hồi chuông báo động từ nhiều năm qua, rất nhiều giải pháp kiềm chế đã được đề ra, nhưng tai nạn giao thông vẫn không hề giảm đi.
Có nhiều nguyên nhân như cơ sở hạ tầng, phương tiện giao thông không đảm bảo điều kiện an toàn, thời tiết xấu…, bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông còn rất kém.

Thử nhìn lại mấy vụ tai nạn giao thông kinh hoàng mà báo chí đưa tin trong những ngày gần đây: Vụ chiếc xe Camry tông chết 3 người tại quận Long Biên, Hà Nội ngày 29.2, theo báo chí, người lái xe đã phạm cùng lúc nhiều tình tiết gây ra tai nạn: uống rượu trước lúc lái xe, không có bằng lái, lái với tốc độ nhanh, vượt sai làn đường rồi tông thẳng vào 2 ông cháu đi xe máy và 1 phụ nữ đi bộ. Trong video clip ghi lại vụ tai nạn, có thể thấy bản thân 2 ông cháu nạn nhân cũng không đội mũ bảo hiểm, người phụ nữ thì đang đi bộ dưới lòng đường, đường xá thì hẹp lại có thêm một chiếc ô tô đậu làm choán mất một phần đường. (“Vụ xe Camry tông chết 3 người: Lái xe không bằng lái, có hơi men”, Dân Trí, “Vụ Camry gây tai nạn và chuyện người Việt ‘nhờn luật’, VietnamNet)

Tất cả những sự bất cẩn, vi phạm luật giao thông này đã dẫn đến vụ tai nạn thảm khốc trên.
Ngày 4.3 tại xã Phù Ủng, Ân Thi, một chiếc xe biển xanh lấn làn tông trực diện vào một người phụ nữ chạy xe gắn máy đang mang thai 8 tháng, khiến cả bà bầu và thai nhi sắp sinh cùng tử vong. (“Xe biển xanh lấn làn tông chết bà bầu 8 tháng”, Người Lao Động)
Ngày 6.3, tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, lại một người không có bằng lái, ngồi vào xe taxi của người khác, tông chết một người phụ nữ lớn tuổi và một cháu bé khi cả hai đang ở lề đường trước cửa một ngôi nhà (“Vụ taxi ‘điên’ đâm chết 2 bà cháu: Tài xế không có bằng lái”, Tiền Phong)

Ngày 6.3, tại Quảng Ngãi, một chiếc xe tải chạy rất nhanh, dù đèn đỏ nhưng vẫn ôm cua và tông thẳng từ phía sau một chiếc xe gắn máy chở ba khiến hai mẹ con chết tại chỗ, bé trai may mắn văng vào gầm xe taxi đang dừng chờ đèn đỏ nên thoát chết. Theo bài báo “Xe tải tông hai mẹ con chết thảm, bé trai văng gầm taxi thoát chết”, báo Tuổi Trẻ, “thời điểm xảy ra tai nạn tài xế Trần Quang Phu đã bị Công an huyện Ba Tơ tước giấy phép lái xe”.
Chỉ kể sơ qua vài vụ, đã chứng minh một trong những nguyên nhân chính gây tai nạn vừa nói ở trên: ý thức chấp hành luật giao thông rất kém của người dân. Nói thẳng ra là chúng ta coi thường luật, coi thường tính mạng người khác và cả của chính mình. Sâu xa bên trong là chúng ta không có đủ lòng nhân ái, chất nhân văn để biết nghĩ, biết quý trọng tính mạng của người như của mình.

Trong lĩnh vực chế biến, cung cấp thực phẩm cũng vậy.

Cũng như tai nạn giao thông, tình trạng thực phẩm bị nhiễm bẩn, nhiễm độc…ở VN là một nỗi ám ảnh lớn cho tất cả mọi người. Không ai phủ nhận ẩm thực VN thuộc vào hàng ngon trên thế giới, nhiều món ăn Việt được phổ biến và được yêu thích rộng rãi tại nhiều quốc gia như phở, chả giò, gỏi cuốn, bánh mì thịt, cơm tấm, bánh xèo…Nhưng về mặt vệ sinh, an toàn thì thật đáng ngại.

Không chỉ hàng hóa thực phẩm bị nhiễm độc từ Trung Quốc tuồn qua đường chính ngạch lẫn buôn lậu, chính người Việt cũng đang thản nhiên giết người Việt bởi lối làm ăn chỉ biết có lợi nhuận trước mắt, không nghĩ gì đến sức khỏe, sinh mạng người khác. Người ta sẵn sàng phun nhớt thải cho rau muống xanh, trộn chất tạo nạc là chất cấm sử dụng trong chăn nuôi cho lợn để tăng trọng nhanh, cho phẩm màu, chất bảo quản, chất tăng trưởng, chất tẩy trắng vào trong rau củ, thực phẩm, bánh mứt, sử dụng chất huỳnh quang, hàn the trong công nghệ chế biến bún, phở, thậm chí có một dạo dư luận kinh hoàng về việc phát hiện phoóc môn (Formaldehyde, dùng làm chất tẩy uế, bảo quản tử thi…) được sử dụng trong bánh phở…

Lâu lâu báo chí lại đưa tin, hình ảnh quy trình chế biến nước tương bẩn, làm chả cá, giò sống, lạp xưởng, chà bông, làm sương sâm, sương xáo siêu bẩn…khiến người xem rùng cả mình. Còn hàng rong ngoài đường cho tới hàng quán, tiệm ăn suốt từ Nam ra Bắc, cũng là khuất mắt mà ăn chứ không thể đảm bảo có vệ sinh, an toàn hay không.
Điều đáng nói là ngay chính nhiều người chế biến thực phẩm cũng biết là bẩn nên chỉ để bán cho người khác, còn nhà mình thì không dám ăn!

Trong phiên họp Quốc hội tháng 11.2015, trong phần đặt câu hỏi với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát về vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm, đại biểu Quốc hội Trần Ngọc Vinh đã phát biểu: “Có thể nói con đường từ dạ dày tới nghĩa địa của mỗi người chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thế”(“Con đường từ dạ dày tới nghĩa địa chưa bao giờ ngắn đến thế”, báo Giáo dục VN)

Có thể kể ra vô số những ví dụ về thái độ coi thường sinh mạng người khác nhan nhản trong nhiều khía cạnh của đời sống xã hội VN hiện tại. Từ việc thản nhiên xả rác và những chất bẩn xuống sông ngòi bất chấp việc ô nhiễm nguồn nước; thấy người bị nạn, nhất là tai nạn giao thông nhưng ngại giúp đỡ vì không muốn phiền hà (trong vụ xe Camry tông chết 3 người nói trên, báo chí đưa tin em bé 6 tuổi tim vẫn còn đập đã phải chờ rất lâu sau xe cứu thương mới đến, còn một số xe taxi được người dân vẫy gọi thì không dừng lại…), những bữa cơm giá rẻ nấu cho sinh viên, công nhân với những thực phẩm kém chất lượng thậm chí thiu thối…Cho tới công nghệ tái chế, tái sử dụng rác thải không bảo đảm vệ sinh, đáng sợ nhất là rác thải y tế độc hại đã từng bị báo chí vạch mặt (“Rác thải y tế độc hại lọt từ bệnh viện ra thị trường: Sự thật khủng khiếp bên trong bệnh viện”, Lao Động), tình trạng làm ăn gian dối, không bảo đảm an toàn trong xây cất, trong lao động gây tai nạn v.v…

Ngay cả một số ngành nghề lẽ ra phải được người dân tin tưởng, trông cậy, tìm đến khi có việc như cảnh sát thì ở VN, cảnh sát/ công an lại là những hung thần trong mắt người dân. Có biết bao nhiêu trường hợp người dân chỉ vi phạm những lỗi nhỏ về giao thông nhưng bị công an rượt đuổi, mất bình tĩnh tự gây ra tai nạn có khi tử vong, hoặc chỉ vì những nguyên nhân vặt vãnh, bị đưa về đồn, đang trong quá trình điều tra, tạm giam nhưng lại bị công an đánh đập, bạo hành đến chết.

Hoặc những môi trường phải là nơi an toàn như mẫu giáo, trường mầm non, trường học, bệnh viện…thì chúng ta cũng đọc/xem thấy bao nhiêu vụ cô bảo mẫu bạo hành trẻ, thầy cô xúc phạm học sinh với những lời lẽ rất phản giáo dục, một số trường hợp học sinh vì bị xúc phạm nặng nề mà uất ức dẫn đến làm điều dại dột như tự sát…
Câu hỏi vì sao người Việt chúng ta ác với nhau như vậy, vì sao người Việt chúng ta coi thường tính mạng của người khác như vậy?
Không có một dân tộc nào ác, xấu hơn dân tộc khác.

Một mô hình thể chế chính trị độc tài, giành và giữ quyền lực bằng con đường bạo lực và dối trá, kìm hãm mọi tự do, dân chủ, chà đạp nhân quyền, bóp nghẹt nhân tính trong con người đồng thời cổ súy lối sống chạy theo vật chất danh lợi, bất chấp tất cả…là nguyên nhân. Một nền giáo dục ngu dân, không có triết lý, mục tiêu giáo dục đúng đắn và cao thượng, học để đi thi, học để có bằng cấp chứ không phải học để làm người, một nền giáo dục không dạy cho con người những điều nhỏ bé như biết sống tử tế, có trách nhiệm với mình và với xã hội, có lòng nhân ái, tình yêu thương đồng loại…là nguyên nhân. Khi niềm tin lẫn chỗ dựa từ pháp luật cho tới giáo dục, tôn giáo đều không còn, thì chẳng còn ranh giới gì khiến người ta do dự, sợ hãi trước khi làm điều xấu, điều ác cả.

Còn lại chỉ là mỗi người, mỗi gia đình phải tự giáo dục cho nhau và giáo dục chính mình để ngọn lửa nhân ái, sự tử tế bên trong mình, trong nhau không bị thui chột đi.
Bao giờ chúng ta biết nghĩ cho người khác, biết quý trọng sức khỏe, mạng sống của người khác như của chính mình? Biết quý trọng cái chung, môi trường sống chung? Nghĩ cho người khác, nghĩ vì cái chung cũng chính là nghĩ cho mình và cho con cháu mình trong một mái nhà chung nơi mà từng việc làm của mỗi người sẽ ảnh hưởng đến những người khác, không thể tránh được.

Hòn ngọc Viễn Đông ‘mất duyên’

Hòn ngọc Viễn Đông ‘mất duyên’

Sài Gòn từng được mệnh danh là ‘Hòn ngọc Viễn Đông'.

Sài Gòn từng được mệnh danh là ‘Hòn ngọc Viễn Đông’.

Trà Mi-VOA

06.03.2016

Sài Gòn, nơi từng được mệnh danh là ‘Hòn ngọc Viễn Đông’, đang ngày càng kém duyên và biến thành một đô thị xô bồ, ô nhiễm. Những ngợi khen về con người Sài Gòn chân tình, hào sảng đang dần mất dạng để nhường chỗ cho một xã hội bon chen, trộm cướp hoành hành.

Vì đâu nên nỗi? Làm cách nào lấy lại được những tiếng thơm đã mất và khôi phục lại vẻ đẹp vốn có của thành phố năng động này?

Đó là chủ đề của Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay, với 3 khách mời là những cư dân trẻ của Sài thành: Phạm Văn Lộc, Nguyễn Trần Hoàng, và Hoàng Kim Sơn. Mời các bạn cùng gặp gỡ.

Trà Mi: Các bạn thấy hình ảnh Sài Gòn ngày nay khác xưa thế nào?

Phạm Văn Lộc: Sài Gòn bây giờ đã thay đổi rất nhiều, một thành phố khói bụi ô nhiễm, và đã mất đi nét văn minh của Sài Gòn xưa từ cách ứng xử của từng người. Ra đường chỉ cần một va quẹt nhỏ là người ta ứng xử với nhau thiếu văn hóa.

Trà Mi: So sánh Sài Gòn xưa và nay, Lộc nghĩ ngay tới những hình ảnh chưa đẹp. Còn Sơn, cảm nhận của bạn về Sài Gòn thế nào?

Hoàng Kim Sơn: Xưa dưới thời Việt Nam Cộng hòa, Sài Gòn giữ được những nét cổ, đẹp theo văn hóa, quy hoạch của người Pháp. Nay, sau một thời quản lý của nhà nước này, có vẻ như hơi chệch choạt về quy hoạch đô thị cũng như về đạo đức con người. Dân ở đây giờ chủ yếu là dân nhập cư, chứ người gốc Sài Gòn rất ít. Do mặt bằng chung của xã hội và giáo dục đạo đức, không riêng ở Sài Gòn mà trên cả nước, đạo đức con người đã đi xuống, an sinh giáo dục cũng kém.  Nói chung do quản lý thôi.’

“ Sài Gòn bây giờ đã thay đổi rất nhiều, một thành phố khói bụi ô nhiễm, và đã mất đi nét văn minh của Sài Gòn xưa từ cách ứng xử của từng người. Ra đường chỉ cần một va quẹt nhỏ là người ta ứng xử với nhau thiếu văn hóa.

Phạm Văn Lộc, cư dân Sài Gòn, nói.”

Trà Mi: Nói tới Sài Gòn, người ta nghĩ ngay tới các tòa cao ốc, khu mua sắm, dinh thự nguy nga tráng lệ, hay những hàng quán sang trọng. Những hình ảnh đó không là niềm hãnh diện của Sài Gòn hay sao?

Hoàng Kim Sơn: Sài Gòn lâu nay vẫn là nơi giàu nhất Việt Nam mà.

Phạm Văn Lộc: Bây giờ rất xô bồ, không có nét gì để hãnh diện hết.

Trà Mi: Đất chật người đông, khó tránh được sự xô bồ hay ô nhiễm. Các bạn có thông cảm điều đó không?

Phạm Văn Lộc: Người lãnh đạo phải sáng suốt thì thành phố mới sạch, đẹp, văn minh. Đó chính là điều gây trăn trở. Sau năm 1975, nền giáo dục của mình xuống cấp. Những thế hệ sau bị nhồi sọ. Những sự dối trá từ miền Bắc đem vào. Tất cả ảnh hưởng đến thế hệ trẻ rất nhiều, chủ yếu từ nền giáo dục.

Hoàng Kim Sơn: Môi trường xã hội ảnh hưởng con người. Đạo đức con người là do môi trường xã hội. Khi cuộc sống quan trọng đồng tiền trên hết, người ta không còn quan tâm đến đạo đức và tự trọng nữa. Người ta làm mọi giá để kiếm được tiền dù làm chuyện xấu.

Trà Mi: Nếu cuộc do sống kim tiền khiến con người thay đổi thì xung quanh cũng có nhiều nơi phát triển hơn mình, họ chạy theo đồng tiền còn vội vã hơn nhưng vẫn giữ được nét văn minh-lịch sử, chẳng hạn như Thái Lan hay Singapore?

Hoàng Kim Sơn: Bần nông không được học lại lên làm cán bộ. Cho nên, chiếm vị trí trong xã hội không phải là người giỏi nhất mà là những kẻ giang hồ nhất. Họ làm điều xấu để họ vươn lên. Từ cái gốc đã xấu rồi thì cái ngọn đâu có đẹp nữa?

“ Môi trường xã hội ảnh hưởng con người. Đạo đức con người là do môi trường xã hội. Khi cuộc sống quan trọng đồng tiền trên hết, người ta không còn quan tâm đến đạo đức và tự trọng nữa. Người ta làm mọi giá để kiếm được tiền dù làm chuyện xấu.

Hoàng Kim Sơn”

Trà Mi: Có khách quan không khi đổ lỗi ở những người có vị trí, có trách nhiệm? Hay cũng có một phần nào đó do ý thức của từng cá nhân trong xã hội này?

Hoàng Kim Sơn: Đúng, mỗi người là một yếu tố trong xã hội. Bản thân mỗi người phải tự ‘vươn ra’, chứ cứ kiếm sống và an phận đến chết thì cuộc đời họ chỉ giống một con ốc trong một chuỗi ốc thôi, không được gì cả. Phải có ý chí ‘vươn ra ngoài’, vượt ra khỏi nhà tù nhỏ của cộng sản để đầu óc sáng sủa hơn, để biết cách sống và đóng góp cho xã hội, chứ không phải chỉ biết tích góp cho bản thân mà thôi.

Phạm Văn Lộc: Mình sống trong một xã hội không được tự do. Có rất nhiều nhân tài nhưng họ không được trọng dụng thì đất nước cũng khó phát triển. Sinh viên đại học bây giờ hai, ba bằng đại học vẫn không xin được việc làm vì không có thân thế. Con cháu của cán bộ thì được đưa vào. Nhân tài thì bị mai một. Đó là điều người trẻ trăn trở.

Trà Mi: Các bạn mong muốn những thay đổi như thế nào từ giới hữu trách?

Phạm Văn Lộc: Sống giữa chế độ độc đảng này, khó lắm, không thể nào nói được. Dân cất tiếng, họ vùi dập liền. Khi nào đất nước thật sự có tự do-dân chủ thì người trẻ mới phát huy được năng lực của mình.

Trà Mi: Ngoài những kỳ vọng ở giới hữu trách, trách nhiệm của người trẻ ra sao để thúc đẩy mọi việc khá hơn?

Nguyễn Trần Hoàng: Mỗi người trong xã hội đều phải có trách nhiệm. Từng người sống tốt thì xã hội tự nhiên sẽ tốt hơn. Đừng lường gạt, đừng hơn thua, đừng làm gì sai trái mà hãy sống một cách chân chính.

“ Ước muốn Sài Gòn ngày càng thay đổi tốt đẹp hơn phải từ con người thay đổi. Khi con người thay đổi, sống chân thật, tâm thiện, đối xử tốt với người khác thì xã hội mới đẹp hơn.

Nguyễn Trần Hoàng”

Phạm Văn Lộc: Mình mơ ước trước tiên thay đổi được nền giáo dục từ gốc thì mình mới tạo nên được những nét đẹp bên ngoài. Nếu vẫn theo nền giáo dục xã hội chủ nghĩa thì các thế hệ tiếp nối sẽ khó giữ được nét đẹp trong con người để từ đó có thể xây dựng được một thành phố tốt đẹp hơn. Ra nước ngoài thấy nhiều nơi họ treo bảng đề phòng người Việt trộm cắp, mình thấy xấu hổ cho một nền giáo dục dối trá.

Nguyễn Trần Hoàng: Ước muốn Sài Gòn ngày càng thay đổi tốt đẹp hơn phải từ con người thay đổi. Khi con người thay đổi, sống chân thật, tâm thiện, đối xử tốt với người khác thì xã hội mới đẹp hơn.

Hoàng Kim Sơn: Với Việt Nam, không đơn giản chỉ thay đổi giáo dục là được, mà phải thay đổi từ hệ thống nhà nước, từ luật lệ. Giống như Tổng thống Obama nói, muốn thấy sự thay đổi, bản thân mỗi người hãy tự thay đổi. Chỉ cần 30% dân Việt Nam thay đổi thì sẽ thấy được sự ‘cách mạng’ , không cần phải gì đâu.

Trà Mi: Cảm ơn các bạn rất nhiều đã đóng góp trong chương trình Tạp chí Thanh Niên VOA hôm nay.

Nhà báo Phạm Chí Dũng: “Tôi thách bất kỳ ai chứng minh chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã thúc đẩy dân chủ”

Nhà báo Phạm Chí Dũng: “Tôi thách bất kỳ ai chứng minh chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã thúc đẩy dân chủ”

Nhà báo Phạm Chí Dũng hội luận với nhà báo Trần Quang Thành

7-3-2016

Lời giới thiệu : Mặc dù cai quản đất nước bằng một chế độ độc tài toàn trị, nhưng suốt 70 năm qua các bản hiến pháp được nhà nước cộng sản Việt Nam đưa ra thực thi đều phải ghi nhận một số quyền của người dân như quyền biểu tình.

Để hội nhập quốc tế cũng như trước sức ép đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng cũng đã phải hứa sớm đưa ra Luật Biểu tình trong nhiệm kỳ cuối của mình. Nhưng lời hứa đó cũng như nhiều lời hứa khác của ông đã không thành sự thật. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại thất hứa. Luật Biểu tình đã không được thông qua trong kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa XIII sẽ diễn ra vào tháng 3 này. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã phải lên tiếng nhận xét, đây là một việc làm thiếu nghiêm túc của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.

Trong khi đó Hội Nhà báo độc lập Việt Nam, môt tổ chức xã hội dân sự đã sớm đươc ra dự Luật Biểu tình và lấy ý kiến rộng rãi trên mạng xã hội. Dự luật Biểu tình đó cũng đã được gửi đến các cơ quan có thầm quyền như Quốc hội, Chính phủ, đã lâu nhưng không một lời hồi âm.

Nhân sự kiện chính phủ Nguyễn Tấn Dũng không hoàn tất soạn thảo dự Luật Biểu tình trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, nhà báo Phạm Chí Dũng, Chủ tich Hội Nhà báo độc lập Việt Nam có cuộc hội luận với nhà báo Trần Quang Thành. Trong cuộc hội luận nhà báo Phạm Chí Dũng nói: Tôi thách bất kỳ ai chứng minh chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã thúc đẩy dân ch”

Nội dung cuộc hội luân như sau – Mời quí vị cùng nghe:

YouTube player

Trần Quang Thành : Xin chào nhà báo Phạm Chí Dũng.

Phạm Chí Dũng :  Vâng. Xin chào anh Trần Quang Thành và quí thính giả.

TQT Nhà báo Phạm Chí Dũng và Hội Nhà báo độc lập Việt Nam đã  từng soạn thảo Luật Biểu tình và đã từng công khai đưa lên lấy ý kiến dư luận. Ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã từng ủng hộ phải có Luật Biểu tình và ông là người hăng hái nhất lúc đầu. Nhưng hiện nay vào cuối nhiệm kỳ khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội không cho lùi thêm nữa thì chính ông Nguyễn Tấn Dũng lại là người nói chưa soạn thảo xong, chưa chuẩn bị xong nên ông dứt khoát không đưa trình Quốc hội trong kỳ họp cuối cùng của khóa XIII. Tại sao lại như vậy nhà báo Phạm Chí Dũng?

“Bài học xương tủy cho những người còn mơ màng về ông Nguyễn Tấn Dũng”

PCD: Tôi nghĩ có lẽ đây là một bài học đắt giá, một bài học xương tủy cho những người còn mơ màng về ông Nguyễn Tấn Dũng; cho một số trí thức ở trong nước và kể cả một số ít trí thức ở hải ngoại, những người còn mơ hồ ông Nguyễn Tấn Dũng là người ủng hộ dân chủ, là người “nắm chắc ngọn cờ dân chủ” như Thông điệp năm 2014 của ông đã nêu, và về việc ông là người “thoát Trung mạnh mẽ”.

Có một điều là chưa bao giờ ông Nguyễn Tấn Dũng thể hiện một cách triệt để và có hiệu quả đối với việc ủng hộ Luật Biểu tình, mặc dù tháng 11/2011 ông Nguyễn Tấn Dũng là người lãnh đạo cao cấp đầu tiên ra trước Quốc hội đề nghị cần có Luật Biểu tình. Chỉ có vài từ như vậy thôi mà báo chí ồn ào và lúc đó uy tín của ông Nguyễn Tấn Dũng tăng vọt. Lúc đó người ta hy vọng ông Nguyễn Tấn Dũng là  một người đổi mới (lúc đó chưa có cụm từ “cải cách thể chế” như hiện nay). Đơn thuần chỉ có từ “đổi mới”.

Từ sau năm 2011, năm nào ông Nguyễn Tấn Dũng cũng nhắc đến Luật Biểu tình, nhưng có một điều là ông ta đã không làm gì để thúc đẩy tiến trình soạn thảo Luật Biểu tình. Mặc dù năm 2011 Chính phủ đã chính thức giao cho Bộ Công an là cơ quan chủ trì soạn thảo Luật Biểu tình kết hợp với một số bộ, ngành khác như Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc… Nhưng suốt gần 5 năm qua, dự thảo Luật Biểu tình vẫn giậm chân tại chỗ và năm nào cũng bị trì hoãn. Riêng năm 2015 đã bị trì hoãn 2 lần vào tháng 3 và tháng 12 đều do tác nhân là Bộ Công an trì hoãn đưa ra nhiều lý do trì hoãn, trong đó  có lý do như là chưa thống nhất giữa các bộ, ngành hay là “còn phức tạp lắm”. Đến tháng 2/2016  xuất thêm một tác nhân nữa trì hoãn Luật Biểu tình đó là Bộ Tư pháp cũng với lý do là chưa có sự thống nhất giữa các bộ, các ngành.

Cũng lúc đó xuất hiện thêm một tác nhân nữa là Bộ Quốc phòng. Nếu không có sự tiết lộ của một cán bộ cấp cao của Quốc hội thì có lẽ người ta không bao giờ biết được Bộ Quốc phòng có một quan điểm trì hoãn Luật Biểu tình và do đó là phản ứng lại hoạt động biểu tình chống Trung Quốc.

Bộ Quốc phòng, trong văn bản trả lời Quốc hội đề nghị lùi Luật Biểu tình, đã trả lời rằng Luật Biểu tình là một khái niệm có liên quan đến đổi mới chính trị. Tôi để ý rất sâu đậm vào cụm từ đổi mới chính trị. Bởi vì từ trước đến giờ đổi mới chính trị vẫn được coi là một vấn đề rất nhạy cảm, bằng cách nào đó vẫn có thể bị suy diễn là đi chệch phương hướng chỉ đạo đường lối của Đảng và Nhà nước. Cho nên nói  “đổi mới chính trị” thì rất dễ bị quy chụp là người hữu khuynh, là người rất dễ có quan điểm gần gũi với các “thế lực thù địch”. Khi Bộ Quốc phòng đưa ra lý do đổi mới chính trị như vậy, đồng thời đưa ra  lý do chỉ có thể bảo đảm an ninh, quốc phòng sau đó mới có Luật Biểu tình, có nghĩa là Bộ Quốc phòng cố ý muốn trì hoãn Luật Biểu tình, trong đó có động thái biểu tình chống Trung Quốc của người dân Việt Nam.

Như vậy có thể nhìn ra một chuỗi mắt xích, dây rợ liên quan giữa các bộ ngành như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp kéo lên đến chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng để có quan điểm thống nhất chưa thể ban hành Luật Biểu tình. Hay  nói cách khác, như một số quan chức đã từng tuyên bố rằng  Luật Biểu tình ở Việt Nam chỉ có thể ban hành sau năm 2020 chứ không phải là hiện nay!

Như chúng ta đã biết, đây là một quyền dân đã bị kéo dài nhiều năm lắm rồi. Trong Hiến pháp năm 1946 đã nói về Luật Biểu tình. Trong suốt hơn 70 năm cầm quyền của đảng Cộng sản đã luôn luôn nói về Luật Biểu tình nhưng không bao giờ ban bố cái quyền dân cấp thiết đến như vậy. Nếu tính từ Hiến pháp năm 1992 trở lại đây, có thể nói Luật Biểu tình đã bị trễ hẹn đến 1/4 thế kỷ.

Trong khi đó biểu tình thể hiện yêu cầu chính đáng của người dân Việt Nam, một yêu cầu bức thiết của người dân Việt Nam bởi vì liên quan đến nhiều thành phần. Nếu như cách đây vài chục năm số thành phần đó còn ít, đến nay đã có đến hàng triệu dân oan, hàng trăm ngàn nạn nhân môi trường, và gần đây nhất chúng ta thấy tiểu thương như ở chợ Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội. Đó là những yêu cầu biểu hiện chính đáng của người dân. Dù chưa có Luật Biểu tình thì suốt từ năm 2005 đến nay, đã hơn 10 năm qua biểu tình và đình công của công nhân, của tiểu thương, của các nạn nhân môi trường, dân oan đất đai vẫn rầm rộ trên khắp  các miền đất nước Việt Nam. Chính điều đó làm cho nhà nước biết rằng rằng nhà nước phải giải quyết nhu cầu biểu tình. Vậy tại sao chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng lại không đáp ứng được điều đó?

Tôi cho rằng đây là một bước thụt lùi nghiêm trọng đối với dân chủ nói chung và thụt lùi nói riêng đối với ông Nguyễn Tấn Dũng đối với cái gọi là “uy tín cá nhân” của ông trong những ngày cuối cùng ông cầm quyền ở Việt Nam. Đáng lẽ ra một người như Nguyễn Tấn Dũng đã phát ra một thông điệp trong đó có cụm từ “nắm chắc ngọn cờ dân chủ”  (Thông điệp 2014) thì ông phải biết vận dụng điều đó, và nếu cho là mị dân đi nữa thì ông cũng phải làm ít điều gì đó dân chủ, cho dân chủ trong đó có Luật Biểu tình. Nhưng rất tiếc là ông đã không tận dụng hoặc không lợi dụng được điều đó. Đó là một trong những nguyên do làm cho ông thất bại và phải rời khỏi Bộ Chính trị  Đại hội XII của đảng cầm quyền tháng 1/2016. Cũng rất tiếc trong những ngày còn lại đó, có người nói thay vì ông Nguyễn Tấn Dũng để lại một chút gì dân chủ cho người dân thì ông lại đảo ngược xu thế đó. Và ông đã làm điều phi dân chủ. Như vậy ông đã không để lại được cái gì trong lòng dân chúng nếu không muốn nói là ngược lại.

“Khát nước giữa sa mạc”: Hãy nhìn vào việc làm của ông Nguyễn Tấn Dũng

TQT: Ông Nguyễn Tấn Dũng là người luôn nêu nhiều vấn đề mang lại sự quan tâm của rất nhiều người, trong dư luận cũng như trong người dân. Ông từng nêu lên phải kiện Trung Quốc; ông từng nêu lên phải cải cách thể chế ; ông từng nêu lên phải tự do internet, tự do thông tin cho dân; ông từng nêu lên vấn đề Luật Biểu tình. Nhưng tại sao những lời nói của ông lại không được thể hiện bằng hành động cụ thể, thưa nhà báo Phạm  Chí Dũng?

PCD: Chúng ta, người dân Việt Nam hãy nhìn vào hành động của ông Nguyễn Tấn Dũng chứ không chỉ nghe lời nói của ông Nguyễn Tấn Dũng. Nói một cách khác là hãy nhìn vào ông Nguyễn Tấn Dũng làm như thế nào, chứ không chỉ nghe ông Nguyễn Tấn Dũng nói ba hoa.

Khi ông Nguyễn Tấn Dũng nói về vấn đề dân chủ, khi nói về Luật Biểu tình, khi nói về cải cách thể chế, về tự do internet hay là “chúng ta không thể ngăn cấm facebook đâu, không thể ngăn cấm các mạng xã hội đâu các đồng chí ạ?!”, hãy nhìn vào bộ sậu của ông, các cơ quan của ông – họ đã làm cái gì để thúc đẩy những điều đó? Không, họ không làm gì cả. Tôi thách bất kỳ ai ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại có thể chứng minh được một hành động dù chỉ nhỏ nhoi của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã làm để thúc đẩy dân chủ, nhân quyền trong suốt những năm vừa qua.

TQT:  Thế tại sao có những người ca ngợi ông ấy là con người cải cách, con người  cấp tiến?

PCD: Có hai thành phần:

– Một thành phần là những dư luận truyền thông mà chúng tôi hiểu đó là những người ủng hộ của ông Nguyễn Tấn Dũng. Họ đã tập hợp lại thành một nhóm và nhóm này lại biết sử dụng truyền thông một cách triệt để và hiệu quả hơn hẳn nhóm của ông Nguyễn Phú Trọng và thậm chí hơn cả nhóm của ông Trương Tấn Sang.

– Thành phần thứ hai, tôi nghĩ ở Việt Nam luôn luôn có. Đó là những người nào đó, nói một cách mô phỏng là tâm lý “khát nước giữa sa mạc”. Họ đa số là những người lớn tuổi. Tôi đã gặp những người lớn tuổi đó và họ nói thành thật với tôi rằng họ già rồi, họ không còn bao nhiêu thời gian nữa và họ quá sốt ruột trước hiện tình quá ngổn ngang của đất nước. Họ chỉ mong có một bàn tay có bản lĩnh cầm trịch để có thể xoay chuyển được tình hình đất nước. Họ quá mong đợi vào một Gooc-ba-chốp, thậm chí quá mong đợi vào một Putin của Việt Nam. Vì thế họ quan niệm là trong những cái dở phải chọn cái nào ít dở hơn, và họ nghĩ là Nguyễn Tấn Dũng là người ít dở hơn. Họ nghĩ rằng Nguyễn Tấn Dũng là người tham nhũng nhưng ông ta vẫn là người có thể đổi mới, có thể giải tán được đảng Cộng sản. Họ nói thẳng với tôi rằng họ quá lớn tuổi, họ không còn bao nhiêu thời gian, thành thử họ buộc phải lựa chọn. Và từ thái độ buộc phải  lựa chọn ấy, nếu không là ủng hộ thì cũng là nghiêng về một ai đó trong Nguyễn Phú Trọng hoặc Nguyễn Tấn Dũng.

Có người nói với tôi đó là “tâm lý khát nước giữa sa mạc”. Họ như những người đi lang thang giữa sa mạc khô hạn, nóng gắt không có một giọt nước, để khi họ thấy một cái giếng thì họ rất mừng, mặc dù không biết ở dưới giếng đó có nước hay không. Tôi cho rằng có thể thông cảm được với tâm lý đó, nhưng chỉ thông cảm trong một chừng mực nào đó thôi. Vì nếu cảm thông hoàn toàn với tâm lý đó thì có khi lại dẫn tới một sự sai lầm. Đó không chỉ là một sự sai lầm theo nghĩa lựa chọn cá nhân mà nó là cả một sự sai lầm trong vấn đề lựa chọn một thể chế, và là sai lầm cho cả một thế hệ, có thể dẫn dân tộc Việt Nam đến một sai lầm khủng khiếp.

Lúc này, sau khi ông Nguyễn Tấn Dũng không còn là Ủy viên Bộ Chính trị và nhất là sau khi được biết ông là người chỉ đạo ngưng lùi Luật Biểu tình thì đã có một số người trước đây ủng hộ ông đã nhìn nhận ông khác và thậm chí khác hẳn. Họ không thấy Nguyễn Tấn Dũng như một cơ may cho dân chủ. Không còn rơi rớt một cơ may nào dân chủ nữa. Họ đang phản ứng với ông và thậm chí phản ứng rất mạnh mẽ.

Ông Nguyễn Sinh Hùng đang có một sự thay đổi thầm kín tự thân?

TQT : Luật Biểu tình là một yêu cầu chính đáng của người dân; biểu tình là một yêu cầu chính đáng của người dân. Trong suốt 70 năm qua hiến pháp nào của nhà nước cộng sản cũng nêu lên điều đó. Nhưng tại sao họ lại sợ Luật Biểu tình đến thế? Như ông Nguyễn Tấn Dũng một người được gọi là cấp tiến, là dân chủ cũng lùi lại yêu cầu chính đáng đó của người dân, thưa nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng?

PCD : Đó là tâm lý cai trị độc trị ở Việt Nam. Cai trị một cách độc đoán được gọi là độc trị hay toàn trị. Quản không được thì cấm. Quản không được thì rất sợ. Họ chỉ có thể áp đặt một cách thành công thì họ mới bớt sợ. Nhưng khi biểu tình của người dân đã dâng cao, đặc biệt dân oan đất đai, thì họ rất sợ. Họ sợ Luật Biểu tình vô hình trung sẽ hợp thức hóa làn sóng biểu tình của bà con dân oan đất đai. Cho nên họ cố kéo dài, cố gắng trì hoãn, thậm chí vùi dập Luật Biểu tình không cho ra.  Tôi cho đó cũng là một lý do hoàn toàn dễ hiểu: họ yếu nên họ mới sợ.

TQT : Có một điều rõ ràng mà người dân thấy và ai cũng thấy. Người ta nói là  có 3 cơ quan : Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp. Nhưng mà là một cơ quan lập pháp Quốc hội, đại biểu Quốc hội hình như chưa thảo ra một luật nào mà hoàn toàn ỷ lại vào chính phủ soạn thảo luật rồi lại hướng dẫn thi hành luật.  Tại sao lại có tình trạng như vậy thưa nhà báo Phạm Chí Dũng?

PCD : “Cương lĩnh Đảng quan trọng hơn Hiến pháp” – như ông Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo. Tình trạng từ trước đến nay gần như là đảng cầm tay chỉ việc Quốc hội. Quốc hội chỉ là một cơ quan bù nhìn mà thôi, mặc dù về bản chất Quốc hội là một cơ quan độc lập có quyền hạn giám sát, kể cả giám sát Đảng.

Tôi thấy có rất nhiều bằng chứng cho thấy Quốc hội đã không làm tròn trách nhiệm của mình. Có nhiều lý do, nhưng nguyên nhân sâu xa là Quốc hội chưa thể hiện nổi vai trò của một cơ quan độc lập. Cho nên thời gian sắp tới Quốc hội muốn tỏ ra vì dân hơn, gần dân hơn thì tất nhiên cơ quan này phải có những động thái thay đổi.

Có một điều tôi hơi ngạc nhiên là  ông Nguyễn Sinh Hùng, trong một phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tháng Hai vừa qua, lần đầu tiên ông đã lên tiếng chỉ trích thái độ thiếu nghiêm túc của chính phủ khi trì hoãn Luật Biểu tình. Trước đây chưa thấy biểu thị thái độ của ông Nguyễn Sinh Hùng nghiêm túc và gay gắt đến như thế. Tôi cho rằng cũng có tâm lý khi những người gần hết chức, hết quyền họ có thể nói ra thôi. Nhưng đó chỉ là một lý do.

Tôi cho rằng có một khả năng ông Nguyễn Sinh Hùng đã có một sự thay đổi tự thân – sự thay đổi rất thầm kín. Ông ta muốn để lại một dấu ấn nào đó về giai đoạn cuối đời làm việc của ông ta đối với người dân Việt Nam. Tất nhiên ông ta cũng muốn hậu sự của ông ta được mãn nguyện mà không bị bôi xấu. Thành thử là gần như ông Nguyễn Sinh Hùng đã có một sự thay đổi trong vòng một năm rưỡi vừa qua. Có thể nói, ông là một trong những quan chức cao cấp có những lời ăn tiếng nói tương đối mạnh mẽ nhất. Tôi cho đó dù sao cũng là một dấu hiệu thay đổi  có hướng tích cực, mặc dù động cơ của ông Nguyễn Sinh Hùng có thể chỉ là mị dân. Ở Việt Nam không có cái gì thay đổi nhanh chóng.

Còn ông Nguyễn Tấn Dũng, từ một con người được coi là dân chủ trong mắt một số người dân và trí thức, lại trở thành một người bảo thủ già cỗi, tôi cho đó là một sự bế tắc. Không chỉ bế tắc về chính trị, về dân chủ mà cả bế tắc về dân sinh và cuối cùng có lẽ là bế tắc toàn cục đối với ông Nguyễn Tấn Dũng.

Quốc hội phải chứng tỏ được rằng họ tự đi bằng đôi chân của mình

TQT : Trở lại Luật Biểu tình. Hội nhà báo độc lập Việt Nam nhẽ ra phải đưa ra khuyến nghị một cái luật về tự do báo chí hay là Luật Báo chí mới, nhưng đã tạm gác lại quyền lợi thiết thân nhất của tổ chức mình, của các nhà báo để làm một việc vì dân, vì nước – đó là đưa ra Luật Biểu tình.  Và Luật Biểu tình do Hội Nhà báo độc lập đưa ra đã được sự đồng tình và ủng hộ của dư luận xã hội nhất là dư luận trên các mạng xã hội. Ông đánh giá sao về Luật Biểu tình mà Hội Nhà báo độc lập đưa ra và hiện nay thái độ của cơ quan có thẩm quyền của nhà nước đối với luật này như thế nào?

PCD : Cuối năm 2014, sau 5 tháng thành lập Hội Nhà báo độc lập, chúng tôi có ngồi lại bàn với nhau. Một trong những cải cách thể chế ở Việt Nam là cải cách làm luật. Một trong những liên quan đến cải cách làm luật là xã hội dân sự, vấn đề nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam và Luật Biểu tình. Tất nhiên có thể bàn đến luật tương đối sát sườn, phù hợp với chuyên  môn của Hội nhà báo độc lập là Luật Tự do báo chí. Thế nhưng biểu tình là quyền gần gũi, sát sườn nhất ở Việt Nam, còn hơn cả Luật Lập hội nữa.. Có một số luật chúng tôi đã bàn: Thứ nhất Luật Biểu tình ; thứ hai Luật Lập hội ; thứ ba Luật Tự do báo chí ; thứ tư là Luật Tiếp cận thông tin ; thứ năm là Luật Xã hội dân sự. Cuối cùng chúng tôi chọn Luật Biểu tình là luật bức xúc nhất, sát sườn nhất  và có thể nói là nó tác động ngay đến đời sống của dân. Chúng tôi đã tiến hành soạn thảo dự thảo 4 lần Luật Biểu tình đưa lên mạng xã hội góp ý kiến và sau đó hoàn chỉnh Luật Biểu tình theo quan điểm của Hội Nhà báo độc lập Việt Nam và đã gửi cho một số cơ quan liên quan như Quốc hội, Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Tư pháp. Nhưng rất tiếc từ đầu năm 2015 đến nay không có bất kỳ sự hồi âm nào. Nhưng Hội Nhà báo độc lập Việt Nam không lấy đó làm ngạc nhiên vì đó là thói quen thường trực của các cơ quan nhà nước này.

Chúng tôi chỉ muốn nói là xã hội dân sự quan tâm đến vấn đề này. Chúng tôi muốn đóng góp như một ý kiến tham khảo khi Quốc hội soạn thảo Luật Biểu tình. Chúng tôi nhấn mạnh là Quốc hội soạn thảo Luật Biểu tình chứ không phải là Bộ Công an soạn thảo Luật Biểu tình thì có thể tham khảo ý kiến của Hội Nhà báo độc lập như là một tổ chức xã hội dân sự. Tất nhiên sự tham khảo ý kiến đó là với quan điểm của người dân chứ không phải là áp đặt người dân.

Chúng tôi hy vọng với xu thế không thể thoái thác trách nhiệm và xu thế của ngày càng dâng cao áp lực của đời sống, áp lực của nhân dân, có lẽ năm 2016 vào một thời điểm mà Quốc hội sẽ cần phải chứng tỏ được rằng họ tự đi bằng đôi chân của mình. Họ không phải là một mái đầu ngoan ngoãn nói gì nghe đó, nói gì làm đó và họ cũng phải đáp ứng được một số tối thiểu quyền dân. Đó là  luật để cho người dân biểu thị thái độ của mình trên đường phố. Lúc đó có thể bản văn dự thảo Luật Biểu tình của Hội Nhà báo độc lập sẽ được Quốc hội “để mắt” tới. Chúng tôi cho rằng đó là một điều đương nhiên. Đó là một việc Quốc hội phải lắng nghe.

TQT : Hy vọng mong muốn của Hội Nhà báo độc lập, của Chủ tịch Hội Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng sẽ trở thành hiện thực khi Quốc hội khóa XIV bước vào nhiệm kỳ của mình.

Mong Hội Nhà báo độc lập tiếp tục tiếng nói của mình góp phần cho Luật Biểu tình sớm ra đời, làm cơ sở cho mọi người thực thi quyền của mình như qui định trong Hiến pháp. Xin cảm ơn nhà báo Phạm Chí Dũng.

PCD : Tôi cũng mong như vậy. Xin cảm ơn anh Trần Quang Thành.

Hội nghị Biển Đông: ‘Cần nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc’

Hội nghị Biển Đông: ‘Cần nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc’
Nguoi-viet.com

Châu Văn Thi
(Gởi cho Người Việt từ Manila)

MANILA (NV) – “Tất cả hành động quân sự hóa của Trung Quốc trên Biển Đông trong thời gian vừa qua nhằm khẳng định chủ quyền của họ, tạo ra sự đã rồi, để mà họ tìm một thế thượng phong nếu như họ không còn đường thối lui mà bắt buộc phải ra tòa.” Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc bình luận về những hành động quân sự mới đây của Trung Quốc ở Biển Đông.

Cựu Nghị Sĩ Roilo Golez trình bày bản tham luận về những sự mở mang, cải tạo đảo của các quốc gia ở Biển Đông, đặc biệt là Trung Quốc. (Hình: Châu Văn Thi/Người Việt)

Sáng 4 Tháng Ba 2016, các tổ chức Xã Hội Dân Sự (XHDS) Việt Nam và Philippines tổ chức hội nghị Biển Đông lần thứ 2 tại Manila, Philippines.

Đến tham dự có tổ chức VOICE, nhóm họp mặt dân chủ của Việt Nam cùng với 2 liên minh MARCHA, USPGG của Philippines.

Đặc biệt có sự tham dự của ông Đinh Kim Phúc, nhà nghiên cứu độc lập về Biển Đông đến từ Việt Nam. Ông Phúc cho rằng tổ chức ASEAN hiện giờ là một tổ chức yếu, các thiết chế còn lỏng lẻo và nếu không giải quyết những bất đồng nội bộ liên quan đến quần đảo Hoàng Sa thì khó mà chống Trung Quốc được.

Ông cũng đề nghị, “Về mặt chiến lược quân sự thì nên chăng giữa Việt Nam và Philippines đàm phán vấn đề 2 đảo Song Tử Đông và Song Tử Tây, biến nó thành hòn đảo nhân tạo và một căn cứ quân sự nhằm phá vỡ được trận địa trên 7 đảo nhân tạo của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.”

“Có một số người nói rằng, việc mà Trung Quốc triển khai radar, tên lửa là để cô lập và đối đầu với Mỹ, tôi thì không nghĩ như vậy!”

Nhà nghiên cứu bình luận: “Tất cả hành động quân sự hóa của Trung Quốc trên Biển Đông trong thời gian vừa qua nhằm khẳng định chủ quyền của họ, tạo ra sự đã rồi, để mà họ tìm một thế thượng phong nếu như họ không còn đường thối lui mà bắt buộc phải ra tòa.”

Hội nghị có trên 20 người tham dự, đến từ 4 tổ chức XHDS Việt-Phi. (Hình: Châu Văn Thi/Người Việt)

Tại hội thảo, ông Roilo Golez, cựu Thượng Nghị Sĩ Philippines trình bày bài phân tích về sự mở mang mới nhất của Trung Quốc ở vùng biển South China Sea (Philippines gọi là Tây Philippines, Việt Nam gọi là Biển Đông).

Ông Roilo Golez cho rằng cần có thêm nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc và nhiều những cuộc hội thảo như thế này nhằm giáo dục người dân về mối nguy cơ của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tuyên bố chung Việt-Phi

Kết thúc hội nghị, 4 nhóm Xã Hội Dân Sự của Việt Nam và Philippines cùng đồng ý ký tên vào tuyên bố chung Việt-Phi trong đó nêu rõ: “Các tổ chức Xã Hội Dân Sự cần phải có một tiếng nói độc lập.

“Chúng ta không muốn nói những gì chính quyền nói, chúng ta sẽ có tiếng nói riêng của mình.

“VOICE đồng ý để tiếp tục tổ chức những hội nghị như thế này.

“Các tổ chức Xã Hội Dân Sự như USPGG và MARCHA có thể tổ chức các cuộc biểu tình chống Trung Quốc,” tuyên bố chung ký bởi 4 tổ chức cho biết những việc cần làm.

Nhà nghiên cứu Biển Đông Đinh Kim Phúc đề nghị Việt-Phi hợp tác quân sự hóa 2 đảo Song Tử Đông, Song Tử Tây để đối chọi với Trung Quốc. (Hình: Châu Văn Thi/Người Việt)

Luật Sư Trịnh Hội, giám đốc điều hành của tổ chức VOICE cho biết hội nghị đã đồng ý 2 điều chính đó là: “Những người tham gia đồng ý sẽ tiếp tục vận động những tổ chức XHDS ở Philippines và Việt Nam cùng hợp tác để tiếp tục ủng hộ Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Cùng đồng ý sẽ phải thúc đẩy chính phủ Việt Nam thực hiện điều tương tự là kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.”


Tưởng nhớ Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, một diễn giả của hội nghị Biển Đông lần 2 mất vào ngày 3 Tháng Ba khi đang trên máy bay từ Mỹ đến Philippines.

Hội nghị Biển Đông lần 2 dành 1 ghế trống để tưởng nhớ Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, diễn giả của hội nghị qua đời khi trên đường đến tham dự. (Hình: Châu Văn Thi/Người Việt)

Trước khi bắt đầu hội nghị, mọi người cùng dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ về ông, đồng thời hội nghị để trống 1 ghế đề tên ông như có sự hiện diện của ông trong cuộc hội thảo lần này.

Theo dự định, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích sẽ có bài tham luận bàn về quan hệ Việt-Trung và ông cho rằng mối quan hệ 2 nước đang ở “một khúc quanh phức tạp.”

Thi hài của Giáo Sư Bích sẽ được đưa về Hoa Kỳ vào tối 6 Tháng Ba, 2016.

Lương và cuộc sống của công nhân

Lương và cuộc sống của công nhân

Hoàng Dung, thông tín viên RFA
2016-03-06

Các công nhân nữ trong một xưởng may.

AFP PHOTO

Your browser does not support the audio element.

Việt Nam được coi là một nước đang phát triển, với một lực lượng lao động trẻ, dồi dào và có nhiều tiềm năng, tuy nhiên lương của công nhân Việt Nam đang ở mức thấp và cuộc sống của công nhân gặp nhiều khó khăn.

Thu nhập của công nhân

Theo nghị định 122/2015/NĐ-CP ban hành ngày 14 tháng 11 năm 2015 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2016 quy định mức lương tính theo vùng, với mức lương tối thiểu, cụ thể: Đối với vùng 1 mức lương là 3.500.000đ/tháng, vùng 2 mức lương 3.100.000đ/tháng, vùng 3 – 2.700.000đ/tháng, vùng 4 – 2.400.000đ/tháng. Đây là mức lương tối thiểu mà khi doanh nghiệp phải thỏa thuận để trả cho các công nhân không bao gồm các khoản trợ cấp cũng như phụ cấp thêm hay là thời gian làm thêm giờ của công nhân.

So với các nước cùng khu vực thì mức lương tối thiểu của công nhân Việt Nam là thấp nhất.

Đó là quy định của chính phủ với mức lương tối thiểu cho công nhân, tuy nhiên thực tế thì không như vậy, có nhiều doanh nghiệp không trả lương cho công nhân theo quy định đó, có công ty lại bớt chỗ này để bù vào chỗ kia.

Một ngày em có thể làm được 15, 16 tiếng, có khi em làm thêm, phụ thêm để đủ ăn mà thôi.
– anh Trần Văn Điển

Anh Trần Văn Điển một công nhân làm ở công ty sản xuất giấy An Hòa, tỉnh Tuyên Quang cho biết, lương cơ bản của anh là 2.500.000đ/tháng, cộng tất cả các khoản trợ cấp và phụ cấp thì anh được 3.700.00đ/tháng, ngoài ra anh không được hỗ trợ nào thêm, dù làm việc trong môi trường rất ô nhiễm về chất hóa học.

Nhưng theo nghị định của chính phủ về việc tính lương theo vùng thì 1 tháng anh phải được 3.100.000đ/tháng không bao gồm các khoản phụ cấp và trợ cấp.

Anh Điển tiếp lời:

Lương làm của em là 2.500.000 ngàn đồng, cộng thêm các vào là 3.700.000, không có hỗ trợ gì nữa, tiền lương 3.700.000 là quá ít so với mặt bằng chung ở các tỉnh thành.

Chị Nguyễn Thị Yến, một công nhân quê ở Nghệ An làm tại khu công nghiệp Nam Cấm ở Nghệ An cũng cho biết.

“Lương cơ bản của em là 2.850.000, nếu tăng ca đều đều 1 tháng 48h thì 1 tháng được khoảng 4.500.000.”

Trong khi những tỉnh thành khác thì lương cơ bản khá thấp thì các khu công nghiệp trên địa bàn Tp Sài Gòn, Bình Dương, Đồng Nai… cao hơn nhiều.

Chị Huệ làm trong công ty Sprinta ở Bình Dương cho biết:

“Lương cơ bản được 4.100.000, kể cả làm thêm giờ 1 tháng em được 6.000.000.”

Làm thêm giờ

Làm việc trong công ty sản xuất giấy An Hòa, anh Điển cho biết đây là công ty sản xuất theo dây chuyền nên không có tăng ca, thêm giờ, nên 1 tháng tất cả các công nhân chỉ nhận được 3.700.000đ, nhưng theo anh với mức tiền này công nhân họ chỉ đủ sống qua ngày, nhất là đối với những người không phải dân bản xứ phải đến thuê ở trọ, chứ chưa tính đến việc ốm đau hay là trợ giúp thêm cho gia đình. Còn anh Điển là dân bản xứ mọi sinh hoạt cùng với gia đình, ngoài ra mỗi khi làm ở công ty về anh còn kiếm việc để làm thêm nên thu nhập có khả hơn.

000_Hkg4153197.jpg

Một lao động Việt Nam của nhà máy phát điện tuabin đứng kế các thành phần tuabin gió bên trong một dây chuyền lắp ráp tại thành phố ven biển phía Bắc của Hải Phòng.

Anh Điển tiếp lời:

“Một ngày em có thể làm được 15, 16 tiếng, có khi em làm thêm, phụ thêm để đủ ăn mà thôi. Chứ còn như những người nào mà đến đây ở trọ mà để làm ăn thì với mức lương 3.700.000 thì chỉ gọi là ăn cho qua ngày thôi vì nó quá thấp. Còn chưa nói đến chuyện ốm đau hay là bệnh tật, hay là gia đình còn có ai ốm đau nữa thì chắc là không đủ sinh sống.”

Trong khi anh Điển ngoài thời gian làm việc ở công ty thì anh phải tìm thêm cho mình một công việc khác để tăng thu nhập cho cho mình thì phần lớn các công nhân làm việc trong các khu công nghiệp thì họ phải làm tăng ca để có thêm thu nhập cho cuộc sống, vì theo nhiều công nhân cho biết, lương cơ bản của họ thì chỉ để giúp họ chi trả cho cuộc sống trong tháng đó, nếu tháng đó không có ốm đau, không có đám cưới… thì như thể họ mới đủ. Còn tiền làm tăng ca thì đó mới là tiền để họ trợ giúp cho gia đình, vì khi ra đi làm thì gánh nặng gia đình, nuôi các em ăn học… đè nặng trên vai họ.

Theo quy định của công ty thì lương cơ bản của công nhân là một ngày làm việc 8 tiếng, nhưng vì gánh nặng gia đình nên nhiều công nhân làm việc mỗi ngày 10 tiếng, 12 tiếng, có những công nhân thậm chí làm đến 14 tiếng, 16 tiếng 1 ngày.

Chị Huệ làm công nhân ở công ty Sprinta (Bình Dương) cho biết, mỗi ngày chị phải làm tăng ca đến 14 tiếng, như vậy mỗi tháng chị mới đủ dư 2.000.000 để phụ giúp cho gia đình, đó là đối với những người tiết kiệm.

“Trước thì có 9 – 10 tiếng, nhưng giờ chỉ có 8 tiếng thôi, tùy theo từng người, nhưng mỗi tháng em có dư 2.000.000.”

Có nhiều công ty ngoài các khoản trợ cấp và phụ cấp, họ còn hỗ trợ cho các công nhân thêm nhiều khoản khác nữa như hỗ trợ thêm tiền xăng xe cho các công nhân người địa phương mà không thể ở trọ, hỗ trợ tiền sinh đẻ cho các công nhân nữ…

Chị Yến ở Nghệ An chia sẻ:

“Xăng xe khu vực là 400.000, tăng ca 1 tiếng được 15.000, phụ nữ sinh vẫn có bảo hiểm, nhưng khi sinh sau đi làm 6 tháng họ mới nhận được bảo hiểm.”

Thông tin từ Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) cho biết, trong 2 tháng đầu năm 2016, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 15.605 lao động, chưa kể đến số lao động đi làm ở các nước mà không qua dịch vụ.

Việt Nam được là một nước có nguồn lao động trẻ, theo một báo cáo mỗi năm có khoảng 1,1 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động, tuy nhiên vì ở trong nước không tìm được việc làm cũng như tiền lương ít ỏi nên nhiều công nhân Việt Nam phải tìm cách đi xuất khẩu lao động. Trong thời gian gần đây thị trường mà nhiều lao động Việt Nam tìm tới là Lào, Camphuchia và đặc biệt là Thái Lan.

“Thủ tục hành chính của mình cay độc lắm, độc ác lắm”

(VienDongDaily.Com – 04/03/2016)

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

 Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng nói trước QH, “Thủ tục hành chính của mình cay độc lắm, độc ác lắm!”


Doanh nghiệp Việt đang phải vật lộn để tồn tại (ảnh minh họa).
 
  
Thưa bạn đọc, trên đây không phải là câu nói của tôi, câu nói này của vị Chủ tịch Quốc Hội VN mà báo chí VN gọi là phát ngôn “rất ấn tượng.” Tất cả báo chí VN “lề trong” hay “lề ngoài” đều loan tin này với những lời bình luận khá gay gắt đối với thủ tục hành chính ở VN. Tôi dẫn chứng nguồn gốc tin tức đó:

Sáng 23 tháng 2-2016 vừa qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) cho ý kiến vào dự án Luật dược (sửa đổi). Đặt vấn đề quy định cấp chứng chỉ hành nghề dược, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng nói trước các Đại biểu Quốc Hội VN: “Tại sao lại không cấp 1 lần mà 5 năm lại cấp lại? Thủ tục hành chính của mình cay độc lắm, độc ác lắm, quá nhiều thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân.”

Tiếp theo, ông Chủ tịch đặt vấn đề: “Tại sao phải đặt nhiều thủ tục để làm gì? Để có tiền thì mới xong chứ sao nữa. Tự do kinh doanh mà sao nghề chữa bệnh cứu người lại gây cản trở? Chỉ cấp một lần thôi, về sau kiểm tra thấy đủ điều kiện thì hoạt động tiếp, còn không đủ thì thôi chứ sao lại một vài năm lại cấp lại.”

Câu nói trúng tim đen của người dân. Ông Chủ tịch Quốc Hội (CTQH) nói trúng phóc. Đó là sự thành thật hay khôn ngoan? Nhưng dù thế nào thì biểu hiện của sự hiểu được lòng dân cũng làm mấy anh dân đen như tôi khoái tỉ.
             

     Năm 2015, số doanh nghiệp chấm dứt hoạt động trong năm là 9,467 doanh nghiệp.

Thế nhưng hiểu được lòng dân rồi tiếp theo thì sao? Giải quyết cái vấn nạn to tướng hàng ngày treo lơ lửng trên đầu người dân thế nào, biện pháp ra sao, có làm được không lại là vấn đề khác. Cũng như bao nhiêu chuyện quan trọng khác, đưa ra rồi lại đưa vô (có nghĩa hổng làm được), nói hết năm này sang năm khác rồi nó vẫn cứ thế, năm sau, năm sau lại nói nữa, nói dài, nói dai, nói hoài không hết. Thanh kiếm “độc ác” vẫn cứ treo toòng teng đó, dân vẫn run. Lần này là lần chót chưa? Nếu được thế thì may quá.

Có tiền thì mới xong

Câu hỏi của ông CTQH: “Tại sao phải đặt nhiều thủ tục để làm gì?” Và ông tự trả lời: “Để có tiền thì mới xong chứ sao nữa.”

Ô hô, ai tai! Không một người dân VN nào không biết chuyện này. Cái sự cay độc nằm ở đó. Vác thân đến bất kỳ cơ quan nào người dân cũng phải chuẩn bị sẵn tư tưởng mang theo cái phong bì, phong bì dầy hay mỏng, tùy theo chuyện lớn chuyện nhỏ, tùy theo gặp quan nào mặt sắt đen sì quắc mắt đòi hỏi hay mềm mỏng mà “bề ngoài thơn thớt nói cười, bề trong nham hiểm giết người không dao.”

Chồng nói phải 5 triệu, vợ xót xa bớt lại 3 triệu thôi. Chồng lắc đầu: “Thằng này ăn bạo lắm, ba triệu nó chửi cho, bắt làm đơn lại còn mất thì giờ hơn, có khi lại phải tốn thêm cho thằng khác.” Thế là “ngã giá” giữa hai vợ chồng lấy mức “bình quân” là 4 triệu nhét kỹ vào phong bì không thiếu một đồng, thiếu là chết đấy.

Ngay cả đến bệnh viện công hay tư cũng thế, bệnh viện tư thì đỡ hơn chút xíu, chứ đến bệnh viện công thì mấy người nhà bệnh nhân cũng phải chuẩn bị sẵn phong bì. Lại cũng tùy theo ca bệnh nặng hay nhẹ. Bệnh xoàng xoàng cũng phải nhét vào túi bác sĩ vài trăm ngàn, 500 là tối thiểu. Còn ca mổ nặng thì vài ba triệu lót tay ông bà BS chịu trách nhiệm mổ là chuyện đương nhiên, chưa kể còn cô y tá chích cho bệnh nhân, có tí lót tay thì chích nhẹ nhàng, không tiền chích cho đau phát khóc. Thường là các vị BS lương y như từ mẫu không đòi hỏi đâu, cứ ô-tô- ma- tích nhét vào túi áo BS thôi, BS cũng ô- tô- ma- tích lặng lẽ cứu người, coi như không có chuyện gì xảy ra. Tôi chứng minh một trong những sự thật gần gũi nhất:

 

Dù đã có nhiều thành tích trong công tác xóa đói giảm nghèo nhưng Quảng Nam đã tăng từ 78 xã lên 104 xã nghèo.

Chỉ mong thoát được cái cổng bệnh viện

– Chị Hiền ở Nghệ An chia sẻ, cả đời người chị chỉ ước mong cho chị và gia đình thoát được cổng Bệnh Viện, vì chị cho rằng chưa nói đến viện phí tăng là một chuyện, nhưng tiền đút lót cho các y, bác sỹ thì lại nhiều gấp mấy lần, chị cũng cho biết 1 năm trước chị có con nhỏ 2 tuổi bị bệnh phải đi bệnh viện, trước khi tiêm cho con mà chị đút tiền cho y tá thì y tá sẽ tiêm nhẹ hơn, còn bữa nào mà không có tiền thì y tá lại tiêm cho con chị đau làm cháu phải khóc thét lên. Có nhiều trường hợp bị tai nạn phải đi cấp cứu mà không có tiền đút trước thì nhiều y bác sỹ cũng bỏ mặc hay làm việc chậm trễ mà không ra sức cứu giúp, cấp cứu cho bệnh nhân trước.”

Đến chuyện tăng tiền ở các bệnh viện

Bộ Y Tế VN vừa cho biết, từ ngày 1tháng 3, 2016 này khi đi khám chữa bệnh sẽ tính thêm chi phí phẫu thuật, thủ thuật, giá viện phí sẽ tăng bình quân khoảng 30% so với hiện nay, từ ngày 1 tháng 7, 2016, khi tính thêm tiền lương, giá sẽ tăng khoảng 50% so với hiện nay.
Công nhân Nguyễn Thị Mai làm việc trong công ty Kỹ Thuật Thành Nghĩa ở Bình Dương bày tỏ: Bộ Y Tế tăng tiền viện phí đó là một tin cực sốc đối với các công nhân, chúng tôi đấu tranh mãi nay nhà nước mới tăng được lương cho công nhân thêm 400,000/tháng. Chị than thở: “Lương thì tăng nhỏ giọt mà mọi thứ sinh hoạt đều tăng, nay Bộ Y Tế lại tăng viện phí, không biết có gì tăng nữa không biết, như thế thì công nhân chúng tôi sống sao được.”
Cái sự “có tiền thì mới xong” tuy cùng một kịch bản nhưng có trăm ngàn vẻ, linh động, tế nhị, trắng trợn, hạch sách hay cười xã giao cũng đi tới một kết luận y chang, nay ở VN đã trở thành “tiền lệ,” nói rõ là cái luật bất thành văn. Nó khốn nạn, cay độc ở đó. Đừng đổ cho “dân trí thấp.” Anh có học cao, hiểu biết rộng tới đâu mà khi cần cũng phải thi hành cái luật bất thành văn đó. Nếu không thì đừng bao giờ anh hy vọng xây được cái nhà, đừng mong người thân của anh được chữa chạy đàng hoàng.

                   

 

Phác thảo dự án tháp truyền hình cao 636 m, cao nhất thế giới của VTV, cao hơn cả Nhật Bản.

Một lá thư từ Virginia

Viết đến đây tôi nhận được cái e mail của ông Hoàng Hải Thủy, vài tuần gần đây ông phải đưa bà Alice (phu nhân của ông) bị té khá nặng đến bệnh viện ở Virginia (Mỹ). Tôi hỏi thăm, ông “meo” trả lời và kể chuyện về vụ khám chữa bệnh ở đó. Tôi ghi lại để bạn đọc so sánh, có lẽ chẳng cần bình luận dài dòng.
Trích thư ông Hoàng Hải Thủy gửi ngày 01-3-2016:

“HO sang Mỹ được hưởng nhiều ưu đãi: Được cấp Medicaid, Medicare, đau bệnh chữa không phải chi một đô. Bệnh Viện chữa tối đa, bao nhiêu tiền Nhà Nước trả, không phải hỏi có chi cho dịch vụ này không như trường hơp những người có Insurarnce – Bảo Hiểm -. Uyên Thao, Huy Sơn giải phẫu mấy lần, tiền bệnh phí cả mấy trăm ngàn đô, Nhà Nước trả hết.
Nhưng, tao nghe nói, tiêu chuẩn ưu đãi HO ở Mỹ không bằng ở Úc và Canada. Ở Úc sĩ quan VN được coi như sĩ quan Úc, bệnh điều trị ở Quân Y Viện. Tiêu chuẩn y tế cho người nghèo, người già ở Canada – tao nghe nói – cũng cao hơn ở Mỹ. Alice đau, gọi 911, một xe Ambulance, có xe Cứu Hỏa đi kèm, đến ngay trong 5 phút. Ba, bốn nurse – y tá, nam nữ – đến tận giường người bệnh, đưa lên cái giường có bánh xe, đẩy vào Ambulane. Vào khu gọi AISiYou – ICU Intense Care Unit: Khu Cấp Cứu Tối Đa – tìm bệnh, rồi lên phòng riêng nằm, nước biển dzô ngày đêm, bác sĩ đến thăm sáng tối, cần gì – tiểu, đại – nhấn chuông là có nurse vào phòng. Bệnh nhân vào, chữa trước đã, không cần biết bệnh phí trả làm sao. Hết bệnh, bác sĩ vào phòng gặp, nói về bệnh của mình. Lao công không nhận tiền tip. Những đêm tao thao thức bên giường Alice trong bệnh viện, tao mới thấy tính cách cao đẹp, hy sinh, thương người của những cô nurse – nữ y tá Mỹ. 90/100 nữ y tá Mỹ luôn tươi cười với người bệnh.Tao tin những người này sẽ được hưởng ân phúc.

Virginia có Fairfax Hospital lớn nhất, có đủ các khoa. Virginia Hospital Center nhỏ hơn, gần nhà tao chỉ chữa bệnh, không có chuyên khoa Mắt, Tim, Phổi. Virginia Hospital cao 8 tầng. Lần vào Viện mới đây, Alice nằm phòng 816, tầng 8. Trong phòng để sẵn tờ Menu. Sáng nhà bếp phone hỏi ” Muốn ăn sáng món gì?” Trưa, tối lại hỏi ăn gì, chọn trong menu, order họ làm, lao công bưng khay thức ăn vào phòng. Alice ăn chút chút. Tao ăn những món này. Alice nằm thiêm thiếp, tao ra đứng cửa phòng, nhìn vẩn vơ ra hành lang. Nurse, lao công đi ngang, thường ghé hỏi “Do you need anything?” Alice muốn đi tiểu, đi tiêu, nhấn nút chuông – nút bấm chuông để trong giường, ít nhất có hai nurse vào ngay lo cho. Tầng 8 có 20 phòng, hành lang có 10 ô để 10 computer. Người đến nuôi người thân bị bệnh chẳng ai dùng những computer này. Khi người bệnh ra về, bác sĩ vào dặn dò về nhà phải làm sao, đưa một hồ sơ ghi rõ bệnh của người bệnh, các thứ thuốc phải uống ở nhà. Có xe Ambulance đưa về nhà, nurse đưa người bệnh vào tận giường. Như Alice đi không được, có chuyên viên đến nhà một tuần hai lần, luyện cho đi. Việc người đau vào nước biển ở nhà là không được, phải đến phòng mạch bác sĩ của mình.
Sáng nay thứ Hai, Alice vui, dễ chịu, ăn được, tao mới có tinh thần để viết những chuyện này. HHT”

 

Những người lao động vô diện. Trong hình chụp ngày 2 tháng Ba, 2016 tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, các      nông dân đang bỏ thóc vào bao để bán. Tại Việt Nam, giới lao động hầu như không có bảo hiểm sức khỏe theo       đúng nghĩa, và nếu bị bệnh, họ mong không cần phải vào bệnh viện vì sẽ không chịu nỗi các chi phí y tế mà                ngay cả giới nhà giàu cũng phải hối lộ để được chăm sóc khá hơn. (Hình: Stringer/ Getty Images)

Cảm ơn ông bạn thân của tôi đã cho biết những tin tức này, xin ơn trên ban phước lành cho bà Alice sớm bình phục. Đến đây trở lại chuyện ở VN trong tuần này dư luận cũng đang xôn xao gay gắt.

Xây tháp truyền hình cao nhất thế giới để làm cỗ cho thiên hạ xơi

Theo công văn do Phó tổng giám đốc Đài Truyền Hình Việt Nam (VTV) Nguyễn Thành Lương trình Thủ tướng Chính phủ, hiện VTV cùng hai đối tác là Tổng công ty Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và Tập đoàn BRG đã thành lập Công ty CP Tháp truyền hình Việt Nam để xây dựng tòa tháp 636 m – cao nhất thế giới – tại khu đô thị Tây Hồ Tây (Hà Nội).

VTV dẫn lời phát biểu của Tổng giám đốc Trần Bình Minh cho hay độ cao của tháp sẽ là 636 m, hơn tháp cao nhất châu Á hiện nay là Sky Tree ở Tokyo – Nhật Bản (634 m) và tháp truyền hình Quảng Châu – Trung Quốc (600 m).

Hầu hết các nhà phê bình cho rằng kinh phí đầu tư của dự án rất khổng lồ, từ $1.3 đến $1.5 tỷ USD nhưng không mang lại kết quả thực tế nào, trái lại còn đi ngược xu hướng thế giới. Tôi chỉ nêu hai ý kiến của các nhà trí thức VN:

– GS-TS Phạm Ngọc Đăng đánh giá: “Hiện nay cũng không có nước nào mặn mòi với tháp truyền hình cao nữa. Nhật Bản xây tháp truyền hình để phục vụ truyền hình chứ không có mục đích kinh doanh dịch vụ hay kinh doanh bất động sản như VTV. Nhất là từ khi công nghệ truyền hình chuyển sang số hóa thì tháp truyền hình cao nghễu nghện đã lùi vào dĩ vãng. Việc xây tháp còn đi ngược lại với xu thế của thế giới vì hiện nay các nước đều chuyển sang làm truyền hình cáp, tín hiệu vệ tinh.”

– TS Phạm Sỹ Liêm – Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng cho rằng đó chì là cách “Bày cỗ ra ăn.” Ông nói thẳng: “Đầu tư thì phải có lợi nhưng cái lợi cần được xem xét, tính toán dựa trên mối quan hệ tổng thể. “Đầu tư nhưng tiền chỉ chui vào túi nhà đầu tư mà không có tác động lan tỏa tới kinh tế – xã hội thì mục đích đầu tư thật sự là gì? Khi xin chủ trương thì hay ho, tốt đẹp, nhìn vào dự án tưởng như cả cộng đồng, cả xã hội sẽ có lợi nhưng cuối cùng người đắc lợi chỉ là giới đầu tư, kinh doanh bất động sản. Nghĩa là chúng ta bày cỗ cho thiên hạ hưởng, nhà nước và người dân không được gì.”

Còn nhớ Giáo sư Ngô Bảo Châu, một nhà khoa học của Việt Nam sau khi UBND thành phố Sơn La dự tính kinh phí 1,400 tỷ để xây dựng tượng đài trong thành phố. GS Ngô Bảo Châu viết trên Facebook của ông: “Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1,400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh.”

Vậy xin mạn phép hỏi giáo sư Ngô Bảo Châu, ngài có lập lại câu phê bình này không?

Văn Quang

(4 tháng 3, 2016)

Người dân Sầm Sơn Thanh Hóa tiếp tục biểu tình

Người dân Sầm Sơn Thanh Hóa tiếp tục biểu tình

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2016-03-05

Người dân tụ tập trước cổng UBND tỉnh Thanh Hóa đòi hỏi chính quyền địa phương dành lại cho dân 500 m mặt biển để tiếp tục nghề chài lưới.

Photo courtesy of tuoitre.vn

Your browser does not support the audio element.

Sáng hôm nay người dân xã Quảng Cư, phường Trung Sơn, phường Trường Sơn và phường Bắc Sơn thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tiếp tục tập trung trước UBND tỉnh để đòi hỏi chính quyền thực hiện quyền lợi chính đáng của họ, đó là chừa lại một khoảng trống trên bãi biển Sầm Sơn từ 6 tới 7 trăm mét để ngư dân xã Quảng Cư có thể làm ăn sinh sống sau khi chính quyền cho phép tập đoàn FLC trưng thu đất dọc bãi biền để lập khu vui chơi du lịch cao cấp.

Người dân bức xúc

Một người dân cho chúng tôi biết sự việc đang diễn ra sáng hôm nay:

“Nhân dân bây giờ tập trung ngày nào cũng lên tỉnh để đòi quyền lợi. 100% các hộ ở đây đều lên trên tỉnh đòi mặt bể lại cho dân, khi nào đòi được mới thôi chứ không bỏ. Nhân dân quyết tâm đi đòi hết ngày này tới ngày khác, đòi kỳ được thì thôi. Khi nào nhà nước trả bãi bể cho bà con nhân dân đi làm thì mới thôi.

Người dân Quảng Cư từ bao đời nay sống bằng nghề đánh bắt cá nhỏ lẻ ngoài khơi, riêng con cái gia đình ngư dân cào ngao, sò trên bãi biển. Nếu chính quyền cho phép giải phóng mặt bằng thì nơi neo đậu tàu thuyền của họ sẽ bị bị thu hồi giao cho Tập đoàn FLC.
-Một người dân

Người dân Quảng Cư từ bao đời nay sống bằng nghề đánh bắt cá nhỏ lẻ ngoài khơi, riêng con cái gia đình ngư dân cào ngao, sò trên bãi biển. Nếu chính quyền cho phép giải phóng mặt bằng thì nơi neo đậu tàu thuyền của họ sẽ bị bị thu hồi giao cho Tập đoàn FLC.”

Kể từ ngày 29 tháng 2 hàng trăm người đã tập trung tại trụ sở Ủy ban Nhân dân tỉnh và ở khu vực xung quanh với số lượng có ngày lên tới vài trăm. Vào ngày 2 tháng 3 vừa qua UBND tỉnh có cuộc họp khẩn cấp nhưng vấn đề chừa lại 1.000 mét hay tối thiểu 700 mét cho người dân chưa đạt được thỏa thuận với FLC nên người dân tiếp tục tập trung trước UBND tỉnh vào sáng hôm nay.

Một người dân bức xúc cho biết:

“Từ hàng nghìn năm nay ông bà ông vãi đã giữ gìn biển mà giờ UBND tỉnh Thanh Hóa không cho dân đánh bắt cá ngoài biển nữa thì dân nó bức xúc không đi làm ăn gì hết. Dân yêu cầu để lại cho người ta một cây số hay 700 mét cũng được mà UB Tỉnh không giải quyết, người dân họ bức xúc, con cái học hành không có tiền đóng, nghề nghiệp đất cát ruộng rẫy lại không có, tái định cư cũng không còn chút biển người ta kiếm 50-100 về mua gạo ăn, bây giờ cắt biển luôn thì chết dở.”

“Gây rối trật tự công cộng”

Trong khi đó công an tỉnh Thanh Hóa cho báo chí biết là cơ quan điều tra đã vào cuộc khởi tố vụ án hình sự “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điều 245 bộ luật Hình sự để điều tra.

Người dân phản ứng lại khi nghe tin này và cho biết họ là nạn nhân trực tiếp nên tự bảo vệ quyền lợi của mình mà không có bất cứ ai đứng sau lưng xúi giục hay sách động:

“Đây là toàn thể nhân dân đồng tình đi chứ không ai cầm đầu và cũng không ai tổ chức gì hết. Toàn thể nhân dân dẫn nhau đi đòi công lý cho nhân dân chứ không ai cầm đầu cả.”

Công an rải khắp mọi nơi để theo dõi nhân dân tuyên truyền như thế nào nhưng tất cả nhân dân đều đồng tình đi làm cho dân chứ không có ai đầu sỏ hết. Chúng tôi đi đến đâu thì bị chặn đến đấy. Xe buýt thì không còn chuyến từ Sầm Sơn lên thành phố nữa, taxi đi thì cũng bị ách lại, các ngõ đường đều bị công an bao vây kiểm tra giấy tờ. Bây giờ chỗ nào cũng có công an cả.

Và cho tới trưa hôm nay theo xác định của người dân Sầm Sơn thì chưa có ai bị bắt:

“Chưa, chưa bắt ai hết ạ. Đó là thông tin ảo chưa bắt ai hết, cả bốn phường này chưa ai bị bắt hết.”

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi những diễn biến mới nhất để tường trình cùng với quý vị.

Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam lần nữa

Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam lần nữa

Giáo Già (Danlambao) – Ngay sau khi hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, Cộng Sản Bắc Việt đã cho toàn bộ người Miền Bắc vào Nam cai trị vùng đất bị chúng cho là “phồn vinh giả tạo”, từ viên chức ở cấp cao nhứt trong Ban Quân Quản ở các thành phố cho đến viên chức cấp thấp nhứt ở khóm phường, ấp xã…; nhưng sự “phồn vinh” đó đã khiến toàn bộ cán bộ Miền Bắc, từ cấp lãnh đạo hàng đầu ở Bắc Bộ Phủ cho đến từng tên lính từ núi rừng về thành say mê cướp bóc khiến toàn Miền Nam bị tan nát trên khắp mọi lãnh vực, từ kinh tế đến xã hội, văn hóa, giáo dục…, qua từng chiến dịch:

– Đổi tiền, $500 đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa lấy $1 đồng tiền Việt Cộng, mỗi gia đình chỉ được “sở hữu” tối đa $200 đồng; rồi sau đó tiến hành đổi tiền thêm mấy lần nữa; để cướp sạch sự trù phú của người dân Miền Nam, để mọi người Miền Nam đều “nghèo như nhau”…, “nghèo” đến độ mỗi gia đình dễ dàng sở hữu trong tay bạc triệu tiền “Hồ”, do việc trao đổi mua bán được tính theo đơn vị bằng số “ngàn đồng”, khiến họ trở thành những người “nghèo” nhưng là những “triệu phú đỏ”…

– Cướp bóc “sạch sành sanh” tài sản của người dân Miền Nam dưới đủ mọi hình thức, từ xin xỏ cho đến lường gạt, giành giựt… từ nhà cửa cho đến ruộng vườn, từ 16 tấn vàng trong ngân hàng quốc gia cho đến chiếc đồng hồ đeo tay, chiếc radio, xe đạp…

– Bắt các viên chức chánh quyền, quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tập trung trong các trại tù cải tạo, giam nhốt dài ngày, hành hạ dưới đủ mọi hình thức, từ đói khát cho đến bịnh tật không thuốc men chữa trị, tàn sát không nương tay… để vừa trả thù vừa ngăn ngừa mọi hình thức nổi loạn có thể xảy ra…

– Xua đuổi từng đoàn dân Miền Nam đi các vùng “kinh tế mới” hoang dã, như một thứ “tù khổ sai” không bản án… để vừa cướp của người bị gán cho tội “dân ngụy”vừa trừng phạt người có của…

– Vét sạch tài sản của dân mà chúng chưa vét hết, nên tiếp tục vét tiếp, qua hình thức cho người còn có của có tiền “vượt biển bán chánh thức”, bằng cách hiến nhà đất, nộp vàng “đổi chỗ vượt biển” trên đủ loại tàu, thuyền… trong đó có những chiếc thuyền nhỏ đi sông chưa từng ra biển…, khiến nhiều nạn nhơn chết thảm, chết chìm…

Người Miền Nam bị vùi dập vào mộ huyệt của tử thần nhưng họ không bao giờ chết, cho dầu có bị lừa mị nhốt giam vào nhà tù vĩ đại, là nơi họ đang sinh sống, bằng đủ mọi thủ đoạn gian manh khủng khiếp. Họ vẫn tồn tại cho dầu có bị đói nghèo thê thảm, bị trầm luân trong khổ đau cùng cực…; bị đẩy khỏi cuộc sống êm đềm hạnh phúc, phồn vinh, trù phú; khiến có người bị tù giam không có ngày về, người không bị tù thì phải lao động khổ sai, ai ai đêm đêm đều sợ từng tiếng chó sủa bâng quơ, sợ từng tên công an, từ công an khu vực, đến công an bảo vệ chánh trị thành phố…; khiến có người đã mỉa mai, xót xa định nghĩa “hạnh phúc là thấy xe công an đậu trước nhà, nhưng tên công an xuống xe lại đi vào nhà hàng xóm…”

Khi xâm chiếm được Miền Nam, Cộng Sản Bắc Việt hối hả cào bằng sự phồn vinh trù phú của Miền Nam, sao cho Miền Nam nghèo ngang với Miền Bắc, lấy tài sản của Miền Nam chở ra Bắc, mong cho Miền Bắc được giàu lên. Chúng đã lưu manh đến độ dồn tiền viện trợ của quốc tế cho Miền Bắc, nuôi dân nghèo Miền Bắc, phát triển Miền Bắc; ngay cả tiền “vay” của ngoại quốc cũng lươn lẹo dành ưu tiên cho Miền Bắc “rút ruột”, làm thành đủ loại “quý tộc đỏ”, “đại gia đỏ”, “dân oan đỏ“, “lưu manh đỏ”… mà “nợ” thì “chia đều” cho người Miền Nam cùng trả…

Nhưng, sau 40 năm không “cào bằng” được Miền Nam, mà Miền Nam đã và đang từng lúc phục hồi… Cán bộ Miền Bắc vào Nam chẳng những không “giải phóng” được người Miền Nam; mà trái lại chúng rất “sung sướng” được người Miền Nam “giải phóng”, từ miếng ăn cho đến cách sống, say mê phong cách “thanh lịch” của người Miền Nam mà trước đó chúng cho là “đồi trụy”; hãnh diện thưởng thức văn nghệ “cao sang” từng bị chúng cho là “đồi trụy”, từ cuốn sách triết cho đến cuốn tiểu thuyết lãng mạn… say mê thưởng thức những bản nhạc “mùi”, nhạc “sến”… từng bị chúng lên án là “đồi trụy”.

Bây giờ, để ngăn Miền Nam “nổi dậy”, có cơ nguy làm sụp đổ “thiên đường xã hội chủ nghĩa”, ngay sau đại hội đảng lần thứ XII, chúng hấp tấp cho tiến hành lần nữa cuộc “xâm lăng miền Nam”, do Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng phát động, thể hiện qua câu nói tại một cuộc họp bàn nhân sự, trước khi khai diễn đại hội, rằng:Tổng bí thư phải là người có lý luận và phải là Người Miền Bắc”.

Từ đó, tên đầu đảng Nguyễn Phú Trọng này đã vận dụng mọi thủ đoạn để được tái cử thêm lần nữa chức Tổng Bí Thư, để chức vụ này đừng lọt vào tay một người Miền Nam là Nguyễn Tấn Dũng; để người Miền Nam tiếp tục bị cai trị bởi người Miền Bắc…

Xin xem lại bảng liệt kê các Tổng Bí Thư Cộng Sản Việt Nam từ năm 1956 cho đến nay, 2016:

Tên  – Nơi sinh – Nhiệm kỳ

  1. Hồ Chí Minh – Nghệ An (miền Trung) – 10/1956 – 09/1960
  1. Lê Duẩn – Quảng Trị (miền Trung) – 09/1960 – 07/1986
  1. Trường Chinh – Nam Định (miền Bắc) – 07/1986 – 12/1986
  1. Nguyễn Văn Linh – Hưng Yên (miền Bắc) – 12/1986 – 06/1991
  1. Đỗ Mười – Hà Nội (miền Bắc) – 06/1991 – 12/1997
  1. Lê Khả Phiêu – Thanh Hóa (miền Trung) – 12/1997 – 04/2001
  1. Nông Đức Mạnh – Bắc Kạn (miền Bắc) – 04/2001 – 01/2011
  1. Nguyễn Phú Trọng – Hà Nội (miền Bắc) – 01/2011 – hiện nay

Ngoài ra, việc phân bố 19 tân ủy viên Bộ Chính trị coi như được bầu tại Đại hội XII cũng cho thấy rõ:

– 13 người miền bắc;

– 2 người miền trung;

– 4 người miền nam.

Đến khi Quốc Hội chưa bầu, đảng cũng đã chọn xong 3 viên chức hàng đầu điều khiển việc nước là:

– Chủ tịch Quốc Hội là Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, người Miền Nam;

– Chủ tịch Nhà Nước là Đại tướng Công an Trần Đại Quang, người Miền Bắc;

– Thủ tướng Chánh phủ là Ông Nguyễn Xuân Phúc, người Miền Trung.

Điều trớ truê là theo Hiến Pháp, Bà Ngân phải ghi danh ứng cử làm Đại biểu Quốc Hội; nếu Bà đắc cử, sau ngày Chủ nhật 22/5/2016, Quốc hội khóa 14 mới họp bàn; chừng đó nếu Bà được đa số đại biểu chọn Bà mới đủ tư cách làm Chủ tịch Quốc Hội.

Cũng theo HIến Pháp, điều 87 quy định: “Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội.” Do vậy Đại tướng Công an Trần Đại Quang phải ứng cử vào Quốc Hội, nếu Quang đắc cử, sau đó, phải được Quốc Hội bầu chọn, Quang mới đủ tư cách làm Chủ tịch Nhà Nước.

Cũng theo Hiến Pháp, điều 98 quy định: “Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội.” Do vậy Nguyễn Xuân Phúc phải ứng cử vào Quốc Hội, nếu Phúc đắc cử, sau đó, phải được Quốc Hội bầu chọn, Phúc mới đủ tư cách làm Thủ tướng.

Như vậy 3 chức danh hàng đầu điều khiển guồng máy cai trị đất nước được đảng tự chọn rồi ngang nhiên công bố đã vi phạm Hiến Pháp, nên vị thế của 3 viên chức được chỉ định này giá trị.

Mặt khác, cứ coi như sự áp đặt của đảng thành tựu, thì sự áp đặt đó đã thể hiện sự cứng rắn của đảng dành ưu thế cho cuộc xâm lăng Miền Nam lần nữa của Cộng sản Bắc Việt. Ngoài ra, Bà Ngân, người Miền Nam, trong tư cách Chủ tịch Quốc hội, chẳng có quyền hành gì. Bà được đặt ngồi đó để trang hoàng Quốc Hội, cho nó có vẻ đẹp của một phụ nữ chịu chưng diện, thường xuất hiện với chiếc áo dài hợp thời trang, như một “người mẫu” [xem hình], dể thu hút tầm nhìn của người ngoài; để người ngoài, nhứt là quốc tế, vốn kính trọng phụ nữ sẽ “nhẹ tay” khi có điều “công kích” những oan sai đo đảng và nhà nước gây hại người dân, những lúc vi phạm nhân quyền, tướt đoạt mọi tự do căn bản của người dân, được quy định trong Hiến pháp như tự do ngôn luận, tự do tôn giáo…

Hơn nữa, theo Nguyễn Văn Tuấn, trong bài viết được đưa lên các diễn đàn, ngày 9-2-2016, thì, xin trích nguyên văn:

“Thật ra, không chỉ trong chính trị, mà trong khoa học và giáo dục cũng xảy ra tình trạng mất cân bằng nghiêm trọng giữa ba miền. Tôi thử đếm con số giáo sư được phong năm 2014 và 2015 thì thấy đa số ứng viên được phong là người từ miền Bắc. Chẳng hạn như năm 2015, có 52 người được phong hàm giáo sư; trong số này, 41 (hay 79%) là người từ các trường viện miền Bắc. Năm 2014, con số này là 73%. Phân bố cụ thể số giáo sư được phong như sau:

Năm 2015:

– Bắc: 41 người

– Trung: 3

– Nam: 8

Năm 2014:

– Bắc: 43 người

– Trung: 6

– Nam: 10

Trong khoa học cũng vậy. Tôi đếm thử số đề tài được Quĩ Nafosted tài trợ trong năm 2009 thì thấy trong số 321 đề tài được phê chuẩn, các trung tâm phía Bắc chiếm 285 đề tài (89%), còn các trường viện từ phía Nam chỉ có 21 đề tài (6%), và miền Trung còn thấp hơn nữa 15 đề tài”…

Trở lại chuyện 3 viên chức hàng đầu cai trị đất nước bất hợp Hiến đó, người có quyền hành cao hơn hết là Chủ tịch Nước Đại tá Công an Trần Đại Quang. Ông này sẽ không “bù nhìn” như 2 Chủ tịch tiền nhiệm là Trương Tấn Sang và Nguyễn Minh Triết, vì ông từng là kẻ chỉ huy hàng đầu Bộ Công an, một Bộ trưởng Công an độc ác, tàn bạo, từng khét tiếng trong việc gian xảo đàn áp các dân tộc vùng Cao nguyên Trung phần, trấn áp dân oan, đàn áp tín đồ các tôn giáo, cũng như đồng bào yêu nước biểu tình chống Trung Cộng xâm lược. Đồng thời chỉ định một phó thủ tướng kiêm phó trưởng ban phòng chống tham nhũng làm Thủ tướng lại là tên trùm tham nhũng khét tiếng Nguyễn Xuân Phúc.

Còn nhớ, ngay sau khi Đại hội XII kết thúc một ngày, Tập Cận Bình đã cử ngay Đặc phái viên Tống Đào, Trưởng ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, để ông này có mặt ở Hà Nội ngày 29/1/2016. Dịp này, Tống Đào đã chuyển bức điện của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình, chúc mừng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được tái cử. Tống Đào [xem hình] cũng nói “Trung Quốc coi trọng cao độ quan hệ hữu nghị truyền thống và quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc”.

Sau lời cảm ơn, Nguyễn Phú Trọng lên tiếng nói “Việt Nam luôn coi trọng việc duy trì quan hệ láng giềng hữu nghị và đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc”.

Cùng ngày, Tống Đào cũng đã gặp Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, để nghe Huệ nói: “Hai nước cần “thúc đẩy tăng trưởng thương mại bền vững, lành mạnh, từng bước cân bằng cán cân thương mại”; nhưng thực tế không có cân bằng, vì “Tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Trung Quốc đạt gần 20 tỷ USD; còn trị giá hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 45 tỷ USD”. Ông Huệ cũng nói thêm Việt Nam hoan nghênh các nhà đầu tư có thực lực của Trung Quốc đầu tư vào các lĩnh vực mà Việt Nam đang ưu tiên.

Mặc dầu đạp qua Hiến Pháp để cử Nguyễn Xuân Phúc làm Thủ tướng, nhưng nhiệm kỳ Thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng chưa kết thúc, nên trước con mắt quốc tế, đặc biệt là Tổng thống Mỹ Obama, Nguyễn Phú Trọng không hành xử được quyền Tổng Bí thư để ngăn không cho Dũng đi dự Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN ở California ngày 15/2. Trọng đã lúng túng để Dũng lên đường gặp Tổng thống Mỹ Obama [xem hình Tổng thống Obama đón Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN ở California ngày 15/2 (Ảnh: AP)].

Nhưng, để trấn an Tập Cận Bình, sau khi Dũng gặp Tổng thống Obama xong, Nguyễn Phú Trọng hối hả cho đặc phái viên Hoàng Bình Quân đi Bắc Kinh, ngày 1/3/2016, báo cáo nội vụ cho Tập Cận Bình rõ “thế kẹt” của thái thú; với danh nghĩa “Chuyển một thông điệp từ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Chủ tịch Tập Cận Bình”.

Tin từ VOA nói rằng: “Trong thông điệp, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết, hai nước là láng giềng gần gũi chia sẻ hệ thống chính trị giống nhau và có nhiều lợi ích chung”. Dịp này Tập Cận Bình “Kêu gọi xử lý đúng đắn sự khác biệt giữa các đối tác hợp tác chiến lược toàn diện để phát triển một cách bền vững, lành mạnh và ổn định”. Phần mình, Ông Hoàng Bình Quân không quên “Giới thiệu với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình về kết quả tốt đẹp của Đại hội 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh…”

Như vậy, sự thần phục của Nguyễn Phú Trọng với Tập Cận Bình đã rõ. Vấn đề tiếp theo sau Đại hội XII là phải làm ngay những gì cho “thỏa hiệp Thành Đô” được tiến hành “như ý”. Để việc Hán hóa Việt Nam được mau lẹ, Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chánh trị CSVN cho tiến hành ngay 2 việc quan trọng, đó là:

– Bổ nhiệm một thành viên gốc Hoa làm Bí thư Thành ủy Hà Nội là Hoàng Trung Hải, để dễ dàng Hán hóa người dân thủ đô, làm gương Hán hóa toàn cõi Việt Nam;

– Đồng thời cử ngay một người Miền Bắc là Đinh La Thăng vào làm Bí thư Thành ủy thành Hồ, để vừa thực hiện lần nữa cuộc xâm lăng Miền Nam, vừa đồng nhịp Hán hóa toàn dân Việt cả nước.

Khi có dịp Giáo Già sẽ nhận diện Hoàng Trung Hải trong một Thư Cho Con khác. Phần Đinh La Thăng, trong lúc chờ xem hắn ra tay “xâm lược” Miền Nam bằng chuyện cài đặt toàn người Miền Bắc trên các chỗ ngồi “béo bở”, trong các nghiệp vụ “ăn ngon”, như đợt xâm lăng lần trước, ngay sau ngày Quốc Hận 30/4/1975; Giáo Già xin được điểm mặt kẻ nổi tiếng “nổ” ở Miền Bắc, đi đâu cũng mang theo một “thùng đạn”, vung tay “trảm kẻ dưới tay” và “tự sướng” [xin lỗi phải dùng chữ của VC mới đúng “tầm” của Thăng] cho báo chí ca tụng.

Xin kể ra đây một số thành tích nổi bật của Đinh La Thăng:

– Ở Sông Đà Thăng quậy cho thất thoát 10 ngàn tỷ;

– Về PetroVietnam Thăng làm mất 18 ngàn tỷ. Chưa kể việc Thăng dẫn tập đoàn này đầu tư khai thác dầu ở Venezuela làm lỗ thêm một mớ nữa;

– Làm mất hơn 28 ngàn tỷ của dân xong Thăng được lên chức bộ trưởng;

– Qua Bộ Giao Thông Vận Tải, Thăng đứng ra giải trình nhận trách nhiệm thay cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vụ bổ nhiệm Dương Chí Dũng ở Vinalines, giúp Nguyễn Tấn Dũng thoát vụ kỷ luật của Trung Ương Đảng [Xem hình Thăng đứng giữa bên cạnh Dương Chí Dũng bên trái Thăng].

Đinh La Thăng có được danh vọng tột đỉnh tất nhiên phải có kẻ chống lưng, trong khi sai phạm của Thăng nhiều đếm không hết; vì việc giải tỏa xảy ra ở khắp nơi, việc gì Thăng cũng dám làm, mồ mả người chết Thăng cũng thẳng tay, mạng lưới giao thông cầu đường chưa xài đã hỏng, lập một rừng trạm thu phí moi tiền dân không nương tay, cho Trung quốc trúng thầu hơn 90%, tính luôn cơ giới phế thải, hể kéo qua được bên này biên giới là tính tiền như xe mới…, chỉ cần cho đám bồi bút tung hô là Thăng đã “tự sướng” rồi.

Đến khi thấy đa số nhóm “lợi ích” kéo nhau bỏ Dũng theo Trung quốc, thì Thăng cũng “quay mặt” với đàn anh, ôm thùng đạn theo Trọng, liền được bố trí cho vào Bộ Chính trị và sau đó được cho làm “vua thành Hồ”, cầm quân Nam tiến.

Chưa biết cho đến nay Thăng nổ đã dàn quân tới đâu rồi, bao nhiêu cán bộ “ưu tú” đã có chỗ ngồi yên ổn chưa, có kế hoạch từng bước xâm lăng thành phố và toàn Miền Nam như thời quân quản chuyển sang “hành chánh đỏ” chưa, nhưng món quà ra mắt Thăng tặng người dân Sài Gòn quá đặc biệt; với từng đoàn công an, côn đồ thẳng tay phá phách, đàn áp khoảng 50 người thường dân cùng những cựu đảng viên cán bộ nhà nước thuộc Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, tập hợp tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc chiến biên giới năm 1979, chống quân xâm lược Tàu cộng, để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, sáng ngày 17/2/2016, tại tượng đài Trần Hưng Đạo, Sài Gòn.

Họ chỉ đến đó để dâng hoa tưởng niệm; vậy mà bị đám công an và côn đồ của Thăng ồ ạt bao vây, đàn áp. Quang cảnh buổi tưởng niệm được nhiều người quay phim lại, với cảnh được mô tả là người đến tưởng niệm bị “giật phá vòng hoa” và nhiều ô dù xuất hiện để che lấp biểu ngữ [Xem ảnh của CTV Danlambao]. Nhiều người tham gia nhặt lại hoa bị giựt và hô các khẩu hiệu chống Trung Quốc.

Vài giờ trước khi buổi tưởng niệm diễn ra, lực lượng công an và côn đồ của Thăng tung quân đi bao vây canh gác nhà các thành viên CLB Lê Hiếu Đằng như chị Sương Quỳnh, các ông Huỳnh Kim Báu, Tô Lê Sơn, Kha Lương Ngãi,… Chính ông Huỳnh Ngọc Chênh từ Sài Gòn nói trên Facebook: “Các nhân viên an ninh quyết liệt ngăn cản không cho tôi ra khỏi nhà để đi dự lễ tưởng niệm các liệt sĩ.” Ông cho biết từ một ngày trước đã xuất hiện một số an ninh trước cổng nhà ông và họ đã cản chân không cho ông tới dự lễ sáng nay. Ông chia sẻ: “Hầu hết những người trong CLB Lê Hiếu Đằng, những người đứng ra kêu gọi tổ chức lễ tưởng niệm các liệt sĩ trong cuộc chiến biên giới, đều bị chặn hết, có tới vài chục người. Cũng có vài người đến được. Họ không cho những người hay tham gia các sự kiện này ra khỏi nhà. Một mặt, họ cho an ninh quậy phá chỗ làm lễ là Tượng Đài Trần Hưng Đạo. Như sáng nay, họ cho an ninh đi giật vòng hoa, lấy dù che hết những băng-rôn và vòng hoa lại để không chụp ảnh hay quay phim được.”

Từ đó, vấn đề là người dân Sài Gòn có đủ khôn để biết tương lai nằm ở đâu, nên nhiều người đã không ngần ngại nói: “Đã đến lúc chúng ta chứng tỏ chúng ta không vô cảm, không phải là những con cừu để đảng chăn dắt. Sau bốn mươi năm thì người miền Nam đã quá rõ về bản chất của giặc miền Bắc rồi. Hy vọng là người miền Nam sẽ khôn ngoan và không để cho giặc miền Bắc phá hại Sài Gòn một lần nữa. Hãy vùng lên trước khi tất cả đã là quá muộn”.

Thoát Trung: thử hóa giải lời nguyền địa lý

Thoát Trung: thử hóa giải lời nguyền địa lý

FB Trương Nhân Tuấn

Thế nào là “thoát Trung” ? Nếu là để thoát khỏi “ảnh hưởng” của Trung Quốc thì, theo tôi, không hẳn chỉ là các vấn đề thuộc về văn hóa, kinh tế hay “lời nguyền địa lý” như nhiều học giả VN đã và đang bàn luận.

Thử lấy thí dụ Nhật Bản, Đài Loan và Đại Hàn. Văn hóa (nếu không nói là văn minh) của ba nước này, trên nhiều mặt của xã hội hiện nay vẫn thể hiện sâu đậm màu sắc của văn hóa Khổng giáo. Về chữ viết đã đành. Thử xem một vài phim tình cảm xã hội của Đại Hàn, Đài Loan hay Nhật sản xuất. Ta thấy sao mà quen thuộc quá. Nếu bỏ qua những đường nét, khung cảnh hiện đại của những thành phố tiên tiến trong một quốc gia phát triển, thì ta tưởng đó là phim xã hội VN. Khung cảnh trong gia đình của một người Đài Loan, Đại Hàn, thậm chí Nhật, đều giống nhau, như Việt Nam (nhứt là VNCH trước kia). Đó là mô hình của một xã hội ảnh hưởng văn hóa Khổng Mạnh. Dĩ nhiên là văn hóa này đã giảm thiểu nồng độ cực đoan, đến từ việc du nhập văn hóa bao dung và tự do của Tây phương. Ta không còn thấy cảnh thân phận người phụ nữ bị bó rọ trong “tam tòng, tứ đức”, cũng không thấy người đàn ông với những tín điều cứng nhắc “tam cương, ngũ thường”…

Câu hỏi đặt ra, nếp sống gia đình ở Nhật, ở Đài Loan, ở Hàn quốc, có tốt hơn nếp sống gia đình ở VN hay TQ hiện nay, ảnh hưởng chủ thuyết duy vật của Mác Lê Nin hay không ?

Câu hỏi tiếp theo, là các nước Nhật, Hàn quốc, Đài Loan… về phương diện địa lý, cũng có “lời nguyền” về “địa chính trị” không khác lắm với Việt Nam. Vậy sao họ “cách biệt”, nếu không nói là “thoát và vượt Trung” hàng thế hệ về tiến bộ văn hóa, khoa học kỹ thuật ?

Còn về vấn đề kinh tế, liên thuộc kinh tế giữa Trung Quốc với các nước Nhật, Hàn, và Đài Loan hết sức là gắn bó keo son. TQ đã, đang và sẽ mãi là đối tác quan trọng hàng đầu của ba nước này. TQ nhờ tư bản và kỹ thuật các nước này đầu tư nên mà kế hoạch “hiện đại hóa” thành công. Các nước này nhờ TQ mà kinh tế tăng trưởng đều đặng. Vậy họ có cần “thoát” lẫn nhau không ?

Các nước trên, về phương diện chữ viết, cũng như VN trước thời Pháp thuộc, đến hôm nay cũng vẫn giữ nguyên tắc cơ bản chữ Hán. Nhưng VN, có lẽ vì muốn “khác người”, nhứt là phải khác (và vượt trội) VNCH, do đó có khuynh hướng xóa bỏ các từ Việt gốc Hán. Một số kinh nghiệm sau 1975 với các ngôn từ ngây ngô, như từ “xưởng đẻ” để thay thế cho “nhà hộ sinh”. Bệnh viện Từ Dũ ở Sài Gòn có lúc đổi tên là như vậy. Lại còn các từ như “máy bay lên thẳng”, “lính thủy đánh bộ”, “giặc lái”…

Việc sử dụng từ gốc Hán không có gì phải mặc cảm. Người Nhật, người Hàn… xem ra còn lệ thuộc vào chữ Hán còn hơn VN. Bên Châu Âu cũng vậy, chữ viết các xứ này đều bắt nguồn từ Latin, Grec… Những từ khoa học các nước Âu Mỹ hầu hết đều có gốc Latin hay Grec. Các nước này đâu thấy ai lên tiếng than phiền là lệ thuộc, tỏ ý muốn “thoát Trung” hay “thoát Grec (hay Latin)” đâu ?

Lệ thuộc hay không là do mình. Ta thấy một lượng lớn từ ngữ chuyên môn (học thuật hay khoa học) Hán Việt bắt nguồn từ Nhật, do các học giả Nhật phát minh ra. Chỉ số chất lượng về đời sống, về văn hóa, về kinh tế… trên mỗi con người của Nhật, Hàn, Đài Loan hơn xa Trung quốc. Trong khi thành quả các tiến bộ về văn hóa, khoa học, kỹ thuật… Trung Quốc cũng bị các nước Nhật, Hàn… đã bỏ xa hàng vài thập niên. Như thế, ta thấy việc ảnh hưởng văn hóa Hán (chữ viết) không hề ảnh hưởng lên việc phát triển quốc gia.

Về kinh tế cũng vậy, sự liên thuộc về kinh tế giữa hai nước Nhật, Hàn và Đài loan với Trung Quốc không chừng còn quan trọng hơn quan hệ giữa TQ với Hoa Kỳ và UE cộng lại. Trong các quan hệ này, ta dùng từ “liên thuộc” chứ không phải “lệ thuộc”. Nếu chỉ tính từ thập niên 80, TQ luôn nhập siêu từ Hàn quốc và Nhật. TQ cần các mặt hàng có tính khoa học kỹ thuật cao của hai nước này để phát triển đất nước. Trong khi Nhật và Đại Hàn cũng cần đến TQ để phát triển kinh tế. Cho dầu Nhật và TQ có những mâu thuẫn sâu sắc về chủ quyền quần đảo Senkaku (Điếu Ngư), nhưng TQ chưa hề dám đe dọa dùng vũ khí kinh tế đối với Nhật.

Như vậy, dựa trên hai yếu tố văn hóa và kinh tế để “thoát Trung”, (như các học giả VN đã và đang hô hào) rõ ràng Nhật và Đại Hàn đang có khuynh hướng ngược lại : “nhập Trung” thay vì “thoát Trung”.

Nhưng quan hệ kinh tế hai bên Việt-Trung, số kim ngạch trao đổi hai bên cán cân luôn thặng dư về phía TQ. Việc thâm thủng này ngày mỗi tăng. Điều quan trọng là quan hệ kinh tế giữa VN và TQ, trong chừng mực, là quan hệ “thực dân – thuộc địa về kinh tế”. Nếu đọc lại các bản tuyên bố chung của hai bên được công bố gần đây, ta thấy VN đã nhượng cho TQ quá nhiều đặc quyền, đến đỗi các việc này có thể đe dọa nền độc lập của quốc gia. Không nói quá, mọi huyết mạch của kinh tế VN hiện nay đều do TQ kiểm soát.

Điều này đến từ các quyết định chính trị chứ không phải là những lựa chọn bắt buộc. Tức là VN vẫn có thể thoát khỏi tình trạng lệ thuộc kinh tế nếu lãnh đạo có can đảm về chính trị.

Vì vậy, theo tôi, thoát Trung hay không là một vấn đề “chiến lược” chứ không hẵn là kinh tế hay văn hóa.

Một lý do thường thấy nhiều người VN nại ra, ngại khi quay lưng lại với Trung quốc, là vấn đề “địa chiến lược”, nước xa không cứu được lửa gần.

Ta thấy các nước như Nhật, Đại Hàn, Thái Lan, Phi… (nếu không nói Đài Loan) đều ở kế “vách” với TQ, nhưng họ đâu sợ TQ. Các nước này, phần lớn, là các nước dân chủ, thịnh vượng.

Để xóa bỏ nỗi ám ảnh (chính đáng) “nước xa không cứu được lửa gần” của một số người VN hiện nay, ta cần nhắc lại một số điều cơ bản của các lý thuyết về địa chiến lược (mà lãnh đạo TQ bị ảnh hưởng).

Theo tôi, lý thuyết “Địa Chiến lược – Không gian sinh tồn” của Friedrich Ratzel (xuất bản năm 1902) có ảnh hưởng sâu sắc lên các lớp lãnh đạo (then chốt) của TQ, làm thay đổi bộ mặt của nước này, đó là : Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình.

Bảy định luật của thuyết này là :

  1. Không gian (sinh tồn) của một dân tộc được mở rộng đồng thời với văn minh của dân tộc đó. Một dân tộc có nền văn minh tiến bộ sẽ đồng hóa các dân tộc kém văn minh hơn.
  2. Lãnh thổ quốc gia sẽ phát triển theo tỉ lệ thuận với sức mạnh kinh tế và đội ngũ thương buôn của quốc gia cũng như chủ thuyết phát triển quốc gia. Việc bành trướng vì thế chỉ tùy thuộc vào ý chí và phương tiện.
  3. Việc bành trướng của cường quốc được thực hiện qua phương cách “hấp thụ và tiêu hóa” các nước nhỏ.
  4. Đường biên giới quốc gia không xác định (biên giới linh động – frontière vivante). Biên giới xác định chỉ có giá trị tạm thời, chỉ để đánh dấu giữa hai giai đoạn bành trướng.
  5. Trong quá trình bành trướng, lãnh thổ (bây giờ là biển) là mục tiêu chiếm hữu.
  6. Các quốc gia yếu kém ở kế cận là mục tiêu bành trướng. Sự bành trướng của cường quốc không thể tiến triển nếu quốc gia lân bang cũng là cường quốc.
  7. Hiện tượng bành trướng có khuynh hướng lan rộng do việc tranh dành lãnh thổ của các quốc gia.

Bảy định luật của Ratzel đã hoàn toàn chứng nghiệm cho dân tộc Hán từ lập quốc đến ngày hôm nay.

Định luật 1 : Nền văn minh Hán Tộc đã đồng hóa tất cả các dân tộc khác, kể các các dân tộc dũng mãnh đã chiếm hữu và trị vì Trung Quốc. Lúc đầu lập quốc, dân tộc Hán chỉ có một vùng đất nhỏ, nhưng sau đó bành trướng ra, đồng hóa các dân tộc chung quanh. Văn hóa các dân tộc Mãn Châu, Mông Cổ, Liêu, Kim… đã không còn dấu vết ở Trung Quốc.

Định luật 2 : Hiện đang thích ứng cho tình trạng TQ hiện nay. Sự vượt trội về kinh tế, cho phép nước này hiện đại hóa quân đội. Những hành vi khẳng định chủ quyền của TQ ở biển Đông, hay lên tiếng tranh chấp với Nhật ở quần đảo Senkaku, cho thấy ý chí của nước này.

Định luật 3 : Định luật này cùng với định luật 1 đã được dân tộc Hán áp dụng từ thời mới lập quốc và còn đang tiếp tục cho đến hôm nay. Dân tộc Hán luôn bành trướng và tiêu diệt (hay Hán hóa) tất cả các dân tộc khác. Hiện nay việc đồng hóa đang được thực hiện ráo riết tại Tây Tạng.

Định luật 5 cho thấy vẫn chưa lỗi thời, TQ đặt ra mục tiêu chinh phục Biển Đông (Hoàng Sa và Trường Sa) đồng thời dành lại quần đảo Điếu Ngư (Senkaku). Nhưng định luật này cần cập nhật thêm, vì chủ đích của việc chinh phục là vùng biển, qua hai mặt: chiếm hữu và xây dựng các đảo nhỏ ở HS và TS thành một “bức trường thành” nhằm mục đích phòng vệ lục địa, sau đó là tài nguyên.

Định luật 6 phản ảnh rõ rệt thái độ bành trướng của Trung Quốc ngày hôm nay : VN và Phi, hai nước yếu, nằm trong tầm nhắm của TQ. Trung Quốc không bao giờ muốn thấy một Việt Nam giàu mạnh. Một nước Việt Nam giàu, mạnh sẽ ngăn cản sức bành trướng của Trung Quốc. TQ đã sử dụng nhuần nhuyễn “quyền lực mềm” để kiểm soát VN, qua các mặt: ý thức hệ chính trị, văn hóa và kinh tế. Ta thấy trên thực tế, đảng CSVN là một bộ phận của đảng CSTQ. Về văn hóa, phim ảnh, sách vở… của TQ thống lĩnh trên các chương trình truyền hình VN. Người VN thuộc sử TQ hơn cả người TQ. Còn về kinh tế, hàng hóa TQ tràn ngập thị trường. Hàng hóa TQ len lõi nhập lậu vào VN, khiến nền công kỹ nghệ tư nhân VN chết đứng. Ngoài ra, các công trình xây dựng ở VN hiện nay hầu hết đều do nhà thầu TQ phụ trách. Nhìn thành quả đường xe điện ở Hà Nội, với đường rầy uống lượn nhấp nhô như “rồng”, ta thấy ngay sự buông thả, vô trách nhiệm của lãnh đạo VN. Đó cũng là cách áp dụng uyển chuyển của lý thuyết “không gian sinh tồn”, biến VN thành một chư hầu kinh tế.

Từ định luật 6, ta thấy cuộc chiến giữa TQ và Nhật chắn chắn sẽ xảy ra. TQ không thể trở thành đại cường nếu có nước Nhật mạnh ở kế bên (và ngược lại).

Định luật 7 cho thấy có nhiều điều cần điều chỉnh lại. Đất đai không còn là mục tiêu tranh chấp mà là việc tranh dành vùng biển, tranh dành thị trường, vùng ảnh hưởng. Ngoài ra là những xung đột giữa các nền văn minh (Thiên chúa – Hồi giáo) như hiện nay (theo thuyết của Samuel P. Huntington).

Theo tôi, quan trọng nhất trong các định luật trên là định luật 6. “Thoát Trung” là thoát lệ thuộc chính trị, thoát u mê ý thức hệ, thoát mù quáng tình đồng chí anh em, thoát cám dỗ “4 tốt 16 chữ vàng”…

Thoát ra được hay không là do lãnh đạo VN có bản lĩnh chính trị, lòng yêu nước, tính can đảm và ý chí dám hy sinh (quyền lợi bản thân và đảng phái) hay không.

Ta thấy định luật 6 chứng nghiệm cho các nước Nam Mỹ. Do gần với nước Mỹ, vì lý do “sinh tồn” của nước Mỹ, các nước này phải là là những nước nghèo (hay chỉ mới phát triển). (Ngoại trừ Canada, vì có cùng văn hóa và lý tưởng với Mỹ).

Trong khi những nước Nhật, Đại Hàn, Đài loan… là những nước kế cận TQ, mà TQ là địch thủ tiềm tàng của Mỹ, do đó bằng mọi cách Mỹ phải giúp các nước này để họ luôn giàu và mạnh hơn TQ (để không ngả về TQ). Điều này cũng đúng cho các nước Tây Âu trong thời chiến tranh lạnh, để các nước này có khả năng chống lại Liên Xô.

Vì thế, ở kế cận TQ không hẳn là điều xấu. Cũng như ở kế cận nước Mỹ chưa chắc là điều tốt. Nếu Nhật, Đại Hàn, Đài Loan… do nhờ ở kế cận TQ mà được Mỹ giúp phát triển đất nước giàu có, hùng mạnh, thì VN cũng có thể trở nên giàu và mạnh như vậy.

Thoát Trung do đó là vấn đề thuộc phạm vi lựa chọn: lựa chọn đồng minh, lựa chọn “ý thức hệ chính trị”. Đó cũng là tầm nhìn “chiến lược” của lãnh đạo, chứ không phải là văn hóa hay kinh tế.