Họ đang thực hiện một cuộc diệt chủng trên đất nước chúng ta!

 Họ đang thực hiện một cuộc diệt chủng trên đất nước chúng ta!

FB Đặng Xương Hùng

18-5-2016

Bài không tên số 10.

Cái gì phải đến nó sẽ đến. Cuộc khủng hoảng môi trường hiện nay ở Việt Nam là điều tất yếu, nó không nổ ra vào tháng 4/2016 thì ở một thời điểm nào đó nó vẫn sẽ xẩy ra. Ô nhiễm môi trường đang lan tràn rộng khắp trên toàn cõi Việt Nam, từ biển cả đến sông ngòi, từ đồng bằng ngập mặn đến đồi núi không còn rừng, từ thành phố đến nông thôn, thi nhau chặt cây, bê tông hóa gây nên bầu không khí đặc quoánh với thủy ngân và bụi bẩn, đấy là chưa kể đến nạn thức ăn nhiễm độc đe dọa đời sống hàng ngày của mỗi người dân. Khắp nơi đã bắt đầu nghe nhiều tiếng kêu ai oán. Mỗi người dân Việt Nam đều đã nhận thức được rằng không ai được miễn trừ trong tai họa chung này của đất nước.

Vậy câu hỏi đặt ra là ai đã gây ra và đâu là nguyên nhân gây nên tình trạng hiểm họa này cho dân tộc và đất nước Việt Nam?

Ở mỗi một sự vụ, ta có thể dễ tìm thấy một đối tượng là tác giả, thí dụ như trong vụ biển chết và cá chết tại Hà Tĩnh, chúng ta có thể luận nhà máy thép Formosa là tác giả của việc xả thải độc ra biển gây ra. Chính người phát ngôn của nhà máy đã công nhận đều đó : « Việt Nam muốn chọn cá hay chọn thép ?».

Nhưng, ở tất cả các sự vụ gây nên cuộc khủng hoảng toàn diện về môi trường hiện nay, ai cũng có thể nhận thấy rằng không ai khác đó là: sự tham lam, đầu óc tăm tối của giới lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam là nguyên nhân trực tiếp; âm mưu hòng tiêu diệt dân tộc Việt Nam của giới cầm quyền Bắc Kinh là nguyên nhân gián tiếp.

  1. Sau 71 năm lãnh đạo ở miền Bắc và 41 năm sau thống nhất, đảng cộng sản Việt Nam đã để lại cho thế hệ tương lai con cháu một gia tài « rất ngộ », như lời thơ của cô giáo Trần thị Lam. Rừng đã hết mà biển thì đang chết. Mỗi đứa trẻ sinh ra gánh nợ nần ông cha để lại. Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu.

Họ rất biết để tình trạng đất nước như hiện nay lỗi là do họ. Nhưng họ không hề muốn chia sẻ quyền lực, vì họ vẫn còn tham lam, mất hết tình thương đồng loại và nhất là họ còn bị tăm tối bởi những thứ chủ nghĩa không tưởng, ngoại lai.

Điều nguy hiểm họ là tập thể nên không ai chịu nhận trách nhiệm cá nhân. Không phải lỗi của tôi, đó là tâm lý chung của toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Nguy hiểm hơn nữa, để duy trì quyền lực họ đã biến người dân thành kẻ thù. Những cá nhân có đầu óc thay đổi đều bị trừng trị, những người dân đứng lên đều bị đàn áp không nương tay.

Bộ Chính trị và trung ương đảng cộng sản Việt Nam dường như là một tập thể tham lam và tăm tối. Ít ai tự vấn lương tâm để thoát khỏi sự tham lam tập thể. Ít ai tự vấn lương tâm để có thể đặt tình thương đồng bào lên trên hết. Tất nhiên, không phải tất cả họ đều tham lam và tăm tối. Thí dụ ông Nguyễn Phú Trọng, ta có thể thấy rõ ràng ông hơi bị tăm tối, nhưng ít thấy ông tham lam. Thí dụ Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh thì không thể coi là tăm tối, nhưng ông bị khóa bởi sự tham lam tập thể. Nhưng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thì quả thật ông là một người có đầy đủ sự tham lam, tăm tối và thủ đoạn.

Nếu các ông là người dân bình thường, sự chỉ trích nêu trên là xấu, nhưng các ông đang nắm vận mệnh của cả một đất nước, cả một dân tộc 90 triệu đồng bào, thì những chỉ trích như vậy thật là đích đáng.

Người phụ nữ trong cuộc biểu tình tại Hà nội ngày 8/5/2016, đã nói với đám công an, an ninh đang ngăn cản : « Các anh có biết không, họ (giới lãnh đạo) giầu vô biên luôn, họ cho con cái đi học ở Mỹ hết, chỉ còn lại các anh đi ngăn cản chúng tôi thôi, họ sẽ gọi chúng ta là đồ ngu ». Cảm ơn người phụ nữ này đã nói thay cho đông đảo người dân.

Tại sao họ giầu vô biên ? Sự yếu kém trong quản lý dẫn họ đến với những tham lam tột độ trong việc sử dụng quyền lực để giành về quyền lợi tối đa. Những dự án kếch xù bán rẻ đất nước, cho thuê Hà Tĩnh với giá rẻ mạt trong những 70 năm (một đời người). Bán rẻ lợi ích của đồng bào, chặt cây để xây đường tầu cho công ty Trung Quốc, xây tượng đài ngàn tỷ, trong khi đó bệnh viện hai ba bệnh nhân một giường nằm. Vân vân và vân vân.

Cô giáo Trần Thị Lam ý thức được rõ ràng nguyên nhân tại sao đất nước mình ngộ, nhưng với một trái tim nhân hậu, cô giáo chỉ dừng lại ở mức hỏi:

« Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu »

Nhưng cũng chẳng cần phải hỏi lên trời xanh, hãy hỏi thẳng người dân Việt Nam, họ đều có thể trả lời chắc nịch rằng: đảng cộng sản Việt Nam là nguyên nhân trực tiếp gây nên tình trạng đất nước như hiện nay.

  1. Đôi lúc ta tự nghĩ, có khi dân tộc mình còn đau khổ hơn dân tộc Khơ me. Pôn Pốt đã diệt chủng ba triệu đồng bào mình, nhưng dân tộc Khơ me chỉ đau một lần, chết một lần, trong một thời gian ngắn. Còn dường như dân tộc Việt Nam đang chết trước khi chết, chết dần dần, từ từ, dai dẳng và sẽ chết cho đến hết.

Nói như vậy để ta có sự so sánh dễ hiểu, chứ khó có người dân Việt Nam nào chấp nhận như vậy. Họ sẽ đứng lên nắm lấy vận mệnh của mình. Thật vậy, giờ đây mỗi người dân Việt Nam đã nhận ra được độ trầm trọng của sự kiện cá chết miền Trung. Cái chết đang đe dọa không chừa một ai. Mọi người đã lo ngại cho mình, cho gia đình mình. Cao hơn, có người đã lo ngại cho một sự diệt chủng, sự mất nước.

Hễ ai quan tâm đến vận mệnh đất nước đều không quên lời cảnh báo của ông cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch: « Thời kỳ Bắc thuộc mới đã bắt đầu ».

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của một cuộc đấu tranh lâu dài chống lại sự lệ thuộc của một nước nhỏ vào một nước lớn láng giềng. Cuốn lịch sử này từ ngàn xưa cho đến khi có đảng cộng sản Việt Nam là một lịch sử vinh quang, hào hùng. Tiếc thay, chủ nghĩa cộng sản đã thấm vào và sinh sôi tại Việt Nam, làm sói mòn tinh thần bất khuất của dân tộc.

Nguy cơ mất nước và diệt chủng dân tộc đang hiện hữu. Giới cầm quyền Bắc kinh chẳng khi nào từ bỏ dã tâm đồng hóa dân tộc Việt Nam. Đây là cơ hội thuận lợi nhất cho họ để thực hiện kế hoạch mà từ ngàn đời nay người Trung Quốc không thể thực hiện được.

Một cuộc chiến tranh không dùng súng đạn đang được nhà cầm quyền Trung Quốc thực hiện thắng lợi tại Việt Nam. Họ chỉ cần nắm phần chóp bu trong giới lãnh đạo Việt Nam, thì tất cả mọi thứ nằm trong sự khống chế và ý muốn của họ. Họ đang dùng người Việt Nam giết người Việt Nam, đang dùng đảng cộng sản Việt Nam để giết dân tộc Việt Nam.

Lời cảnh báo của ông Thạch đang trở nên dễ dàng nhận biết hơn bao giờ hết. Tiếc thay toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nam hoặc quá tham lam, quá tăm tối hoặc đang quá hèn hạ để giả vờ bỏ qua lời cảnh báo này.

Diệt chủng không phải là một sự kiện mà là một quá trình. Điều mà người Trung Quốc đang thực hiện tại Việt Nam, thông qua sự đồng lõa của giới lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam, dường như có thể coi là một cuộc diệt chủng.

Mầm mống âm mưu xâm chiếm và đồng hóa Việt Nam của giới lãnh đạo Bắc Kinh gặp được mảnh đất phì nhiêu là sự tham lam đến tối mắt, sự yếu kém đến hèn hạ của của giới lãnh đạo Việt Nam, để cuối cùng hậu quả thì toàn bộ nhân dân Việt Nam phải gánh chịu.

Ấy vậy nên, khi xảy ra sự kiện cá chết miền Trung 4/2016, mọi công dân Việt Nam cả ở trong lẫn ngoài nước đều uất ức. Họ căm thù giới lãnh đạo Trung Quốc trăm lần, thì oán hận các vị lãnh đạo Việt Nam ngàn lần. Không biết các vị lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đã nhận ra điều này chưa? Mong lắm các vị hãy quay về với nhân dân mình, dân tộc mình.

Đặng Xương Hùng
Genève, 18/5/2016

. VẬN HỘI NÀO CHO VIỆT NAM?

VẬN HỘI NÀO CHO VIỆT NAM?

Phạm Dzũng

28-5-2016

Thuyền hình cá sấu trên sân thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái). Ảnh: internet

I- Hiện tượng “Di dân và Đồng hóa” trong lịch sử hình thành một quốc gia

Nhìn tổng thể về lịch sử loài người kể từ khi còn là những bộ lạc, người ta ghi nhận sự hình thành, phát triển hoặc tiêu vong của các cộng đồng dân cư (sắc tộc, bộ lạc, xã hội thành thị…), của nhiều định chế chính trị và quyền lực quân sự, như là các quốc gia, các đế quốc, và ngay cả của nhiều nền văn minh. Tất cả những diễn trình lịch sử đó đều tuân theo quy luật biến dịch, mà trong đó có quy luật thiên nhiên khắc nghiệt: “Đấu tranh sinh tồn”, thể hiện qua hiện tượng di dân và đồng hóa (và bị đồng hóa). Hiện tượng này đã liên miên xảy ra từ hàng vạn năm trước tới nay và sẽ còn tiếp tục mãi mãi.

Vậy nếu áp dụng góc nhìn hiện tượng học “Lịch sử xã hội loài người là lịch sử di dân và đồng hóa”, thì có thể thấy rõ động lực và hệ quả của nhiều sự kiện và chu kỳ biến động lịch sử trên thế giới từ xưa đến nay. Cũng từ góc nhìn này, có thể tiên liệu được động thái của nước lớn đối với các nước lân bang nhỏ hơn, và nếu ứng dựng vào lịch sử xung đột Việt Hoa sẽ nhìn thấy được bản chất đảng cầm quyền Cộng Sản VN dựa vào lịch sử hình thành và điều kiện phát triển của nó, qua đó cũng sẽ đánh giá được các chính sách, chiến lược mà CSVN đã và đang thực hiện, cũng như tiên liệu được kế sách của nó khi đối phó với thời thế, cùng  những hệ lụy đối với sự tồn tại của đất nước VN và tương lai của dân tộc Việt.

Cần ghi nhận rằng theo nghĩa thông dụng, thì:

– “Quốc-Gia (hay Nước)” chỉ là một Định chế chính trị (political institution) của một vùng lãnh thổ có dân cư- Định chế thì có tính ngắn hạn và dễ thay đổi, td: Nước Chiêm Thành nay đã tiêu tan, Quốc-gia Việt Nam Cộng Hòa nay đã không còn nữa, Nước Mỹ (Hợp chủng Quốc Mỹ Châu) thì mới có mặt từ khoảng 500 năm nay.

– “Tổ Quốc” là một khái niệm tình cảm cộng đồng đối với khu vực địa lý mà một cộng đồng dân cư đã sinh sống qua nhiều thế hệ, thí dụ: người Việt ở Mỹ chỉ vài ba thế hệ nữa là đa số dù muốn hay không cũng sẽ không còn thiết tha đến đất nước Việt, mà sẽ chỉ còn biết Tổ Quốc mình, Đất nước mình là Mỹ Quốc.

– “Dân tộc” là một tập hợp sinh học thuần nhất của những cư dân sinh sống trong một vùng địa lý. Như vậy, “Dân tộc” là một thực thể, do đó tồn tại lâu dài hơn là những định chế và tình cảm cộng đồng, và là yếu tố căn bản cho Quốc Gia hoặc một cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, sự hình thành một Quốc Gia ổn định lâu dài là điều kiện cần để hình thành và phát triển nền văn hóa và văn minh của một dân tộc hoặc cộng đồng dân cư.

Về lãnh vực Chủng tộc học, luật thiên nhiên chung cuộc vẫn là cạnh tranh và sinh tồn. Chủng tộc nào hiếu chiến, thích mạo hiểm, sanh đẻ nhiều sẽ có khuynh hướng xâm lăng đất đai và có ưu thế về phát tán di thể (lai giống). Nhưng về mặt xã hội, cộng đồng dân cư nào đông hơn, có nền văn hóa cao hơn thì sẽ ưu thế về mặt ổn định và phát triển thế lực. Mông cổ, Mãn Thanh về quân sự mạnh hơn Hán nên đã xâm lăng Hán, nhưng rồi cũng bị Hán hóa vì dân số Hán đông hơn và văn hóa cao hơn, hơn nữa, còn tự nguyện hội nhập (đồng hóa), vì dân Mông, Mãn vẫn thán phục, ưa chuộng văn hóa Hán tộc. Tiến trình xâm lăng, di dân và đồng hóa với địa phương của dân du mục Bắc Á (Mông, Mãn…) đã xảy ra từ cả vạn năm nay, cho nên nếu xét về di thể (gene), thì nhiều dân tộc đã có lai di thể Mông Cổ: Hoa, Việt, Hàn, Thái, Nhật, Mexico và một số vùng bên Ấn, Hồi, Nga, Mỹ châu … v.v… Đó là kết quả của những đợt di dân hoặc xâm lược của các bộ lạc du mục hùng mạnh có nguồn gốc Mông Cổ (Mongoloid) từ Tây Bắc Á.

Xem ra, diễn trình di dân và lai giống đối với loài người là không thể đảo ngược. Tuy nhiên nếu quốc gia được hình thành dựa trên những định chế tổ chức xã hội hợp lý thì sẽ giúp cho những cộng đồng dân cư khác nhau hội nhập một cách bình đẳng, từ đó gia tăng phúc lợi xã hội và thế lực cho quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Thời Hoa Kỳ lập quốc, những di dân từ Âu Châu qua đã xóa sổ hàng triệu người bản xứ Mỹ Châu (vốn thuộc các chủng Mongoloid Á châu). Nhưng ngày nay, sự hình thành nước Mỹ hợp chủng với thể chế liên bang trên căn bản các định chế chính trị dân chủ  và tiến bộ (tôn trọng tư hữu và tự do cá nhân, cơ hội đồng đều, không kỳ thị, hội nhập tự nguyện và bình đẳng) đã được chứng minh là mô hình hợp lý, có hiệu quả, và do đó có sức hấp dẫn di dân và chất xám mạnh nhất, đã giúp nước Mỹ phát triển nhanh chóng và ổn định, khác hẳn sự hình thành lãnh thổ bằng xâm lược, diệt chủng, bóc lột và nô lệ hóa của các đế quốc bá quyền cổ điển (Du mục, Phong kiến, Thực dân, Phát xít và Cộng sản).

II- Cuộc đấu tranh sinh tồn của Việt tộc chống sự xâm lược của Hán tộc

A-Bắc xâm và Nam tiến

Lịch sử và khảo cổ học đã chứng minh nhiều dân tộc (sắc tộc, bộ lạc, quốc gia…) ở vùng Hoa Nam, lưu vực sông Dương Tử đã bị xâm lược và đồng hóa bởi những sắc dân Hoa Bắc. Những sắc tộc nào di dân được xuống Đông Nam Á thì tồn tại được đến ngày nay mà không (hoặc ít) bị đồng hóa, là nhờ địa thế hiểm trở, khí hậu nhiệt đới, và sức sống (dân khí) của dân tộc đó (*1).

Những luồng di dân kèm theo hội nhập hoặc đồng hóa về văn hóa và nhân chủng sẽ tạo thành những biến chuyển địa lý chính trị có ảnh hưởng lớn lao nhiều mặt cho khu vực hoặc cả thế giới trong hàng trăm năm sau. Ở vùng lục địa Trung Hoa, khuynh hướng bành trướng về phía nam là bắt buộc đối với người Tàu phương bắc vì phía bắc và phía tây chiếm 2/3 nội địa nước Tàu là sa mạc hoặc núi non hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, thiếu nước, không phát triển nông nghiệp, không thể sản xuất đủ lương thực để nuôi dân số càng ngày càng đông.

Người Việt cũng vậy, trước sức ép nam tiến của Hán tộc, sau nhiều đợt di cư, Việt tộc quần cư ở đồng bằng sông Hồng, sông Mã, tạm yên được với Bắc phương vài ngàn năm nhờ vào địa hình biên giới hiểm trở. Trong khoảng thời gian này người Việt cũng phải mở nước bằng cách nam tiến, thôn tính và đồng hóa Chiêm Thành, Chân Lạp (nửa nước Miên) (*2), chuẩn bị tây tiến và bắc tiến bằng con đường từ phía Đông Nam (nếu thôn tính xong Miên) để thôn tính Lào, xung đột với Thái, Miến…

Mộng gồm thâu Đông Dương (hoặc thành lập Liên bang Đông Dương) của người Việt vẫn được ôm ấp kể từ thời các vua chúa nhà Nguyễn, vì địa lý nước Việt rất bất lợi cho sự thống nhất và an ninh lãnh thổ cũng như sự phát triển kinh tế và văn hóa:

*Rặng Trường Sơn phía Tây làm cho miền Trung quá hẹp, lãnh thổ rất dễ bị đứt khúc ở khoảng vĩ tuyến 17-18 như lịch sử đã từng chứng minh.

*Sông Mê Kông, xuất phát từ Tây Tạng dài gần 5,000 Km mà chỉ có trên 200 Km chảy qua đồng bằng Nam bộ, tạo ra một áp lực về thủy lợi và sinh tồn cho vựa lúa miền Nam VN nếu bị tác động từ thượng nguồn (với hàng chục đập thủy điện như hiện nay).

Địa lý các nước Miên, Lào cũng bất lợi không kém, do không có hoặc thiếu đường ra biển, tạo nên thế bị phụ thuộc.

Chỉ đến khi nào hình thành được “Liên bang Đông Dương”, mở rộng địa lý đất đai và dân số, làm chủ được ½ dòng chảy của sông Mê Kông, khai thác được lợi thế bờ biển và cảng biển của VN, thì cả 3 nước Việt Miên Lào mới hy vọng phát triển thịnh vượng để tồn tại và chận đứng ý đồ xâm lược của Tàu.

H2Bản Đồ Việt Nam 1569 (Thời Trịnh- Nguyễn). Nguồn: internet

Về phương diện lịch sử, tình huống địa chánh trị này của Việt Nam và Đông Dương mới phát sinh từ khoảng thế kỷ 16-17, kể từ khi di dân Việt bắt đầu chiếm ngụ và khai phá miền đất sình lầy miền đông nam bộ vốn là phần bỏ hoang của nước Chân Lạp (Cao Miên). Đà thay đổi này bị ngừng lại khi đội quân viễn chinh của Thực dân Pháp thắng quân đội trang bị lạc hậu của triều đình nhà Nguyễn (thời vua Tự Đức).

So với bề dài lịch sử, nước Việt Nam có hình chữ S mới được khoảng 200 năm, thực ra là một đất nước rất mới, và còn đang trên đà phát triển ưu thế trong khu vực Nam Á. Khi Thực dân Pháp lập được ách đô hộ trên toàn cõi Việt Nam (Hòa ước Giáp Tuất 1874), thì lục tỉnh Nam kỳ mới được sát nhập vào VN khoảng 50 năm. Trước đó một chút, nếu VN canh tân kịp đồng thời với Nhật, thì nhiều phần chắc là cho tới ngày nay VN đã làm chủ Đông Dương, có thể kiểm soát được cả Thái Lan, Miến Điện, và trở thành  đối trọng với Tàu, và biết đâu sẽ có đủ thế lực để đòi lại đất cũ là Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam (Nước Nam Việt thời Triệu Đà), thực hiện được hoài bão của vua Quang Trung.

H3 Bản Đồ Việt Nam 1835 gồm đất Cao Miên cho tới Biển Hồ – Nam Vang đổi tên là Trấn Tây Thành, dưới quyền Trương Minh Giảng. Nguồn: internet

Vận hội lớn này đã lỡ rồi. Sau khi vua Tự Đức đầu hàng, 3 nước Việt Miên Lào trở thành Đông Dương thuộc Pháp. Cho đến sau thế chiến II, thì lại tách ra thành 3 nước riêng biệt như cũ. Từ nay, một Liên Bang Đông Dương tương lai muốn được ổn định và phát triển thì không còn có thể được hình thành theo kiểu bá quyền như trước, mà phải dựa trên sự đồng thuận của các dân tộc trong khu vực, và phải được tổ chức với những định chế dân chủ pháp trị (như Mỹ, Canada, Liên Âu…). Nếu chưa có được một Liên bang (hoặc Liên Hiệp) Đông Dương như vậy, thì địa lý chánh trị vùng Đông Nam Á vẫn chưa thể ổn định; những nước Đông Nam Á sẽ không thể yên ổn trước áp lực bành trướng của Tàu, và Việt Nam sẽ vẫn còn là nơi bị giằng xé nhiều nhất, sẽ tiếp tục phải gánh chịu những tổn thất bi thương nhất trong thế cờ nhằm thực hiện những sắp xếp chiến lược toàn cầu của những cường quốc. Phải chăng đó là cái giá phải trả cho sự tồn tại của Việt tộc và những dân tộc Đông Dương trước tham vọng bành trướng của Tàu?

Xuyên suốt lịch sử, người Tàu từ Hoa Nam di dân liên tục vào VN và các nước Đông Nam Á từ rất lâu, trước cả thời phong kiến bắc thuộc, hoặc do tha phương cầu thực, hoặc qua chiến tranh xâm lược hoặc là hệ lụy các biến động chính trị, td. Thiên Địa Hội phản Thanh phục Minh, Thế chiến II, nội chiến Mao- Tưởng (*3). Khi họ vào ít, và không kèm tổ chức bang hội thì họ bị Việt hóa, td: người Tiều (Triều Châu= Minh Hương) ở miền Trung, lục tỉnh miền Tây và Rạch Giá … nhưng nếu họ vào nhiều và tổ chức được bang hội, thì họ thành lập khu vực riêng có tiềm năng trở thành khu tự trị (td: Chợ Lớn), nếu họ tổ chức được chính quyền thì họ tách ra làm quốc gia riêng: Singapore, Đài Loan v.v.., không chịu tùng phục chánh quốc nữa, giống như thời xa xưa An Dương Vương Thục Phán xâm lăng đánh thắng Vua Hùng, và rồi Triệu Đà (207-137BC) sau khi thắng An Dương Vương vậy. (*4)

Khác với người Việt vốn nói cùng một thứ tiếng, gọi nhau là “Đồng bào”, gọi mảnh đất mình ở là “nước nhà”; những vùng khác nhau bên Tàu không nói cùng một thứ tiếng, cũng không phải là “Đồng bào”. Ở bên Tàu, do lịch sử chiến tranh thôn tính nhau liên miên, sự chia rẽ, kỳ thị giữa các địa phương nói tiếng khác nhau rất lớn (Tạng, Thổ, Triều Châu, Quảng Đông, Vân Nam, Hải Nam, Phước Kiến v.v…). Người Tàu do đó cũng không có quan niệm Tổ Quốc là “Nước Nhà” như người Việt. Trong quan niệm của văn hóa phong kiến du mục của Đại Hán, chữ “Quốc” chỉ vùng lãnh thổ và dân cư mà đấng con Trời (Thiên tử) cai trị, và là tài sản riêng của Thiên Tử, cho nên vùng đất ấy đã lần lượt được gọi là Tần quốc, Hán quốc, Ngụy quốc, Đường quốc, Nguyên, Minh, Thanh quốc…, cho tới ngày nay dân vùng biên giới Hoa-Việt vẫn nói “vua Đặng”, “vua Tập”…

Người Tàu cũng như người Việt, nặng đầu óc phong kiến, có mộng làm vua một cõi, đồng thời cũng có thói thần phục kẻ mạnh, là kẻ có tài gồm thâu thiên hạ. Thời xưa (trên 3000 năm trước) vốn không có nước Tàu.Vùng đất đai rộng lớn đó vốn là nơi sinh sống của rất nhiều sắc dân của hàng mấy chục nước lớn nhỏ, chưa kể những bộ lạc vùng rừng núi xa xôi (Man, Di, Nhung, Địch…). Họ luôn luôn đánh giết nhau để cướp bóc, thôn tính đất đai và bắt nô lệ (thời Xuân Thu, Chiến Quôc), chỉ sau thời Đông Chu, Tần Thủy Hoàng diệt xong 6 nước lớn cuối cùng, nước Tàu mới thống nhứt, và gọi là Trung Hoa. Nên biết dân nước Tần của Tần Thủy Hoàng từ thời Đông Chu trở về trước gọi là rợ Tây Nhung, vốn là một sắc dân ở tây bắc nước Tàu, là giống dân lai giữa Mông Cổ và Thổ Nhĩ Kỳ (Uighur: Thổ Phồn, Hồi Hột), tạo nên người Hoa Bắc, vốn du mục nên rất thiện chiến và hung bạo (*5).

Như vậy nước Tàu hình thành do chiến tranh xâm lược. Lịch sử hình thành nước Tàu là lịch sử xâm lăng và đồng hóa bằng bạo lực chiến tranh.

Xét theo cơ cấu địa lý kinh tế và dân số, nước Tàu có bản chất một liên bang, tuy nhiên lịch sử hình thành đế quốc đã tạo thành trong đầu bất cứ người Tàu nào một tâm lý thần phục kẻ mạnh, và một thứ luận lý về quyền lực phong kiến và bành trướng vô giới hạn. Khi Tàu mạnh cũng vậy, mà khi Tàu yếu, lại càng cần phải tìm thế chính thống hoặc đánh lạc hướng những bất mãn và khủng hoảng bằng cách kích thích óc dân tộc chủ nghĩa quá khích của người dân để gây chiến với lân bang, nhân đó có cớ thắt chặt kiểm soát nội bộ và cai trị dân. Tình trạng nhân mãn càng khiến cho Tàu buộc phải tiếp tục chọn con đường tồn tại bằng cách bành trướng với bất cứ giá nào, bất kể khủng hoảng nội bộ và nguy cơ đụng độ với lân bang hoặc các cường quốc khác, cho tới khi chế độ toàn trị sụp đổ và Đế quốc bể ra nhiều mảnh, hiện tượng này có tính chu kỳ (đã xảy ra nhiều lần) trong lịch sử 4000 năm của Tàu.

B-Bàn tay Đại Hán trong mọi biến động quân sự, chính trị tại Đông Dương.

Chỉ nhìn bản đồ địa lý cũng thấy được cái thế sinh tồn của Đế Quốc Tàu: Tàu nay chỉ còn duy nhất hướng Đông Nam để bành trướng và tiến ra biển. Nếu làm chủ được VN, Tàu sẽ kiểm soát được Đông Dương, kiểm soát được hải lộ chiến lược và kinh tế Thái bình Dương. Về mặt an ninh cho lục địa, Việt Nam như cái bao lơn trông ra biển, chính là cái cổng ra vào rất quan trọng. Nếu VN rơi vào quỹ đạo Mỹ như Nhật, Nam Hàn, Phi luật Tân, Úc … thì Tàu sẽ ở vào cái thế bị vây chặt tứ bề như con cá nằm trong rọ. Do đó trong điều kiện chưa đủ mạnh để thực hiện tham vọng làm bá chủ thế giới, bằng bất cứ giá nào Tàu cũng phải giữ miền Bắc VN làm lá chắn phía đông nam, giống như Bắc Hàn là lá chắn phía đông bắc. Tuy nhiên vì bài học lịch sử thất bại ngàn năm còn đó, Tàu phải tránh trực tiếp xâm lăng bằng quân sự, vì vậy “Tằm ăn dâu” (Cabbage strategy- Salami slicing) là con đường duy nhất để thôn tính Việt Nam. Kế sách đó được thực hiện rất sớm, bền bỉ và liên tục trên nhiều mặt:

1-Thâm nhập sâu vào guồng máy cầm quyền, can thiệp vào tổ chức nội bộ và nhân sự lãnh đạo nhằm tiêu diêt nhân tài, tiêu diệt những người có tinh thần dân tộc, tạo ra hoặc thúc đẩy chia rẽ, phân hóa, nội chiến.

2-Phá hủy truyền thống dân tộc và cơ cấu xã hội, bóp méo xuyên tạc lịch sử, xâm lăng văn hóa, truyền bá văn hóa bạo lực đấu tranh giai cấp CSCN.

3-Phá hoại tài nguyên và tiềm lực kinh tế sản xuất, sao cho Việt càng ngày càng suy sụp và lệ thuộc để tự động trở thành phiên thuộc.

4-Lấn đất, lấn biển dưới nhiều hình thức và khi thời cơ thích hợp.

Trên thế giới, sự kiện các nước tìm cách ảnh hưởng lẫn nhau là điều không thể không xảy ra. Sự kiện các nước lớn tìm cách khống chế các nước nhỏ để thôn tính đất đai, bóc lột tài nguyên và lao động, hoặc đặt căn cứ quân sự cũng không thể tránh được. Chỉ khi nào có được dân khí cường thịnh (lãnh đạo giỏi, tinh thần đoàn kết dân tộc cao), và nền kinh tế phát triển (như Nhật, Hàn) đồng thời có chánh sách ngoại giao và liên minh khôn khéo (như Thái Lan, Phi luật Tân…), thì mới tạo nên một thực lực làm cho nước ngoài phải kiêng nể, giữ được độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ. Tiếc thay những điều này đã và đang không thực hiện được ở Việt Nam.

Tài liệu lịch sử cho thấy ngay cả chiến tranh Giải thực trước 1954 cũng đã bị Tàu, kể từ thời Trung Hoa Dân Quốc của Tôn Văn, Tưởng Giới Thạch lợi dụng chiêu bài đồng minh, đồng chí, hữu nghị, cố vấn v.v… ngoài mặt là giúp đỡ, nhưng bề trong là để thực hiện cả một kế sách thâm sâu để thôn tính VN và Đông Dương như họ đã từng làm trong suốt chiều dài lịch sử (*6)

Vậy sẽ rất là thiếu sót cho cả 2 phe người Việt và các bình luận gia trong nước và quốc tế khi chỉ nhìn và đặt tên cho cuộc chiến ở Việt Nam và Đông Dương 1945-1975 là chiến tranh Đông Dương, chiến tranh Ý- thức- hệ (Tư bản/ Cộng sản, Quốc/ Cộng …), hoặc chiến tranh Giải phóng, hoặc Nội chiến.

Dường như mọi người đều không nhận thấy hoặc cố tình bỏ qua cái bóng ma của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán trong lịch sử giao dịch và xung đột Việt-Hoa và trong mọi cuộc chiến Đông Dương.

Tàu không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để thực hiện kế sách “Tằm ăn dâu”. Ngay cả trong những thời kỳ có vẻ thân thiện hữu nghị Tàu vẫn dùng mọi cách, hoặc trực tiếp qua áp lực kinh tế, chính trị, quân sự hoặc gián tiếp qua tình báo và phản tình báo để gây chia rẽ, lũng đoạn nội bộ để làm yếu thế lực Việt, băng hoại tinh thần dân tộc và văn hóa Việt, và cả cơ cấu tổ chức xã hội Việt.

Thí dụ: Cuộc Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ) 1953-1956 đẫm máu để thực hiện đấu tranh giai cấp cuồng tín, và ngay sau đó là vụ án Nhân Văn giai phẩm, rập khuôn theo chiến dịch Trăm Hoa đua nở cùa CS Tàu đã phải xảy ra, vì nó là sách lược quân sự căn bản (binh pháp Tôn Vũ: Tiên phát chế nhân= đánh phủ đầu) để khống chế toàn diện VN của Tàu, với sự phục tùng hoặc đồng lõa của các lãnh tụ tay sai Việt do CS Tàu đào tạo, nuôi dưỡng. Thực chất là chỉ mượn màu đấu tranh giai cấp nhằm che dấu dã tâm chính là:

1-Tiêu diệt nhân tài: tiêu diệt sớm (“giết tiềm lực”) những người có tinh thần dân tộc trong hàng ngũ Việt Minh và trong xã hội, họ là những tinh hoa của dân tộc Việt, họ đều có học, đều xuất thân từ những gia đình khá giả hoặc tương đối khá giả (do đó dễ bị quy kết vào giai cấp địa chủ bóc lột), họ đã hết lòng chiến đấu chống thực dân dưới lá cờ Việt Minh chỉ do lòng yêu nước, họ có uy tín trong dân rất cao sau nhiều chiến thắng quân sự. Nếu những người này không bị tàn sát, thanh trừng thì sau này họ chắc chắn sẽ là những nhà lãnh đạo chính trị quân sự có tài và có tinh thần dân tộc, sẵn sàng bảo vệ tổ quốc trước dã tâm xâm lược, lũng đoạn của ngoại bang.

2-Sàng lọc dân và thanh lọc nội bộ: dùng khủng bố nhà nước để răn đe những phần tử bất đồng chính kiến và dân chúng, khiến họ quá sợ hãi và chịu hoặc khuất phục tuyệt đối, hoặc phải trốn chạy (di cư, vượt biên). Chính sách khủng bố nhà nước này đã thành công, với hậu quả là làm kinh tế miền Bắc VN trì trệ, phải lệ thuộc toàn diện vào viện trợ của Nga, Tàu giống như Bắc Hàn:

Giai đoạn 1953 (Đợt 1): thực hiện khủng bố ở vài địa phương xa, chủ yếu là gây tiếng vang đe dọa để sàng lọc dân, đuổi những thành phần không kiểm soát được vào miền Nam, vừa nhằm cướp tài sản của người di cư, vừa tạo gánh nặng cho miền Nam (1954: do quá sợ sẽ bị Cộng Sản đấu tố, khủng bố nên hơn 1 triệu người phải di cư vào Nam).

Giai đoạn 1956-1959 (gồm 4 đợt): Nhằm thanh lọc đảng và kiểm soát xã hội: tiêu diệt, loại trừ những cá nhân không vững “lập trường giai cấp”, thiết lập độc tài toàn trị “chuyên chính vô sản”, kiểm soát toàn diện tư tưởng và đời sống mọi người, không chừa một ai, kể cả cán bộ, đảng viên cao cấp. Có lãnh tụ Đảng đã phải tuyên bố từ bỏ giai cấp bằng cách đấu tố chính cha mẹ mình.

CCRĐ bên Tàu là rập khuôn theo kiểu Nga, mục đích là để củng cố quyền lực Đảng và lãnh tụ họ Mao. Khi Nga (Stalin) buộc Hồ Chí Minh thi hành CCRĐ và đặt dưới quyền giám sát của CS Tàu, thì Tàu lồng thêm vào âm mưu phá hoại thâm độc của họ, vì trong kế sách “tằm ăn dâu” thì việc triệt bỏ sớm những lãnh tụ tương lai có tinh thần dân tộc trong hàng ngũ Việt Minh, và triệt tiêu mọi mầm mống chống đối trong dân chúng chính là một bước tiến công quyết định, vì có triệt bỏ được những lãnh tụ tương lai này và làm tê liệt tinh thần dân tộc của dân Việt, thì về lâu về dài Tàu mới nắm chắc được đảng cầm quyền CSVN tay sai để thực hiện những bước thôn tính kế tiếp. Do vậy, phải nhìn thấy cuộc CCRĐ tắm máu không phải là sự sai lầm của các lãnh tụ CSVN hoặc sự ngu muội của cấp thừa hành như bọn họ đã cố tuyên truyền lừa bịp, mà là sự cài đặt sắp xếp có bài bản và áp lực cực lớn của Tàu (Mao đưa cả 1 đoàn cố vấn Tầu do Kiều Hiểu Quang, phó bí thư tỉnh ủy Quảng Tây lãnh đạo bên cạnh Hồ Chí Minh, lập ra các đội CCRĐ ở từng địa phương, uy quyền đến nỗi ra lệnh đấu tố, giết cả cán bộ Đảng; không khí sợ hãi đến nay còn truyền tụng: “nhất đội, nhì giời”  (*7)-

Không nhìn thấy rằng dã tâm cực kỳ thâm độc này của Tàu nếu được thực hiện sẽ ảnh hưởng sâu xa lâu dài thế nào đối với vận mệnh mất còn của dân tộc, thì quả là các lãnh tụ CSVN quá ấu trĩ, không xứng đáng là lãnh tụ (*8), và phải chịu trách nhiệm với lịch sử, với nhân dân vì đã làm cho đất nước suy sụp, tạo cơ hội cho ngoại bang can thiệp và xâm lược. Nhưng nếu đã nhìn thấy dã tâm này của Tàu mà vẫn đang tâm nhắm mắt tàn sát đồng chí, đồng đội, đồng bào thì phải gọi là gì đây? Chính danh thì phải gọi đó là tay sai cho giặc, là phản quốc, là bán nước, là có nợ máu với nhân dân.

Chỉ cần nhìn lại lịch sử, đọc lại tài liệu của chính Đảng CSVN để suy nghĩ về cuộc CCRĐ tắm máu “trời long đất lở”, thanh trừng, đầy đọa và giết oan hơn nửa triệu người, gồm trong đó có đến 43% tổng số cán bộ đảng viên Việt Minh, bất kể cấp bậc và công trạng (*9) cũng đủ để thấy sự thật về bản chất tay sai của Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN ngay từ 1956.

Hậu quả của chiến dịch này là: cho tới mãi mãi, trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng CSVN, nhất là trong đám lãnh tụ miền Bắc, sẽ chỉ gồm toàn những người vừa “lú” vừa cuồng tín, sợ Tầu, phục Tàu; Không thể tìm được một ai còn tinh thần dân tộc hoặc có tư duy xứng đáng với một người lãnh đạo.

Vụ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam là một thất bại về mặt quân sự, nhưng thực chất là thanh trừng nội bộ để tranh dành quyền lực, vốn là bản chất của mọi chế độ độc tài toàn trị. Mục tiêu thực của chiến dịch đó không khác của chiến dịch CCRĐ năm 1956: cũng chính là “giết tiềm lực”, nhằm tiêu diệt những người chiến đấu chống chính quyền miền Nam vì lý tưởng dân tộc chủ nghĩa (Chống Mỹ xâm lăng như kiểu chống Tây thực dân- Chống cường hào ác bá… ), đồng thời tiêu diệt lực lượng chính trị và quân sự hậu thuẫn cho phe MTGP miền Nam vốn có tiềm năng chia phần hoặc chống đối lại quyền lực chính trị của Bắc Việt. CS Miền Bắc đã thành công trong mục tiêu đó, vì đã mượn tay lực lượng VNCH để làm triệt tiêu trên 70% lực lượng chiến đấu cũa MTGP Miền Nam (*10), nhờ đó sau 1975, miền Bắc có thể áp đặt quyền lực chính trị và mô hình kinh tế XHCN hoang tưởng trên toàn miền Nam mà không bị chống đối, cho dù mô hình kinh tế què quặt này đã làm cho miền Nam phá sản, sắp chết đói.

Cũng như vua quan cuối thời nhà Nguyễn với đầu óc phục Tàu đã làm cho Việt Nam mất cơ hội hiện đại hóa như nước Nhật cùng thời, đầu óc của nhóm lãnh tụ CSVN lại còn tệ hại hơn nhiều, không chỉ là phục, mà còn sợ và lệ thuộc Tàu đến mức độ không thấy được tai họa của Chủ Nghĩa CS đối với sự tồn vong của dân tộc và đất nước.

Sau năm 1975, Lê Duẩn tuy ra mặt chống Tàu (vì Tàu không muốn một VN thân Nga), nhưng do trình độ thấp kém, lại bị ngộ độc bởi nọc độc Chủ Nghĩa CS (*11), nên sau khi chiếm được miền Nam, đã thực hiện một loạt biện pháp ngạo mạn ngu xuẩn: áp dụng chính sách kỳ thị chánh trị quá khích và độc ác đối với người miền nam, với người Việt gốc Hoa, nhất là đối với những cựu quân nhân viên chức của phe thua trận, làm trầm trọng thêm sự chia rẽ dân tộc, chia rẽ Nam Bắc; Đồng thời vừa chiếm đóng Miên, vừa áp đặt kinh tế XHCN hoang tưởng vào miền Nam, làm cho nền kinh tế thị trường đang lên này bị bức tử, khiến cho kinh tế cả nước đột ngột sụp đổ, nghĩa là đã trúng kế của kẻ thù phương Bắc: Chia rẽ dân tộc, Phá hoại sinh lực kinh tế, Cô lập với cộng đồng thế giới… Mặt khác, chiến lược chống đối với Tàu mà chỉ dựa vào có một đồng minh duy nhất (Liên Xô) là một nước cờ tồi (nước xa không thể cứu lửa gần). Sự thất bại là hiển nhiên, nhất là sau khi Liên Xô sụp đổ, khiến cho sự tồn vong của VN rơi vào cái thế tuyệt vọng hơn, vừa mất thêm đất đai (sau cuộc chiến biên giới Việt-Hoa 1979 và 1983), vừa lệ thuộc Tàu nặng nề thêm về kinh tế, chính trị (*12).

C- Chủ Nghĩa Cộng Sản chỉ là cái mặt nạ của Chủ nghĩa Đế Quốc

Nga (Liên xô) vốn âm mưu dùng Chủ Nghĩa CS để thôn tính cả thế giới, luôn cả Tàu, dưới chiêu bài Thế Giới Đại Đồng, nhưng Tàu to quá, Nga nuốt không nổi, đồng thời, khác với Hồ Chí Minh và đảng CSVN, Mao Trạch Đông và đảng CS Tàu dù là phải chịu lép vế một thời, phục tùng Stalin để được huấn luyện và yểm trợ chống lại Quốc Dân đảng, đã không ngu dại để biến thành tay sai muôn đời cho Nga, làm tên lính xung kích cho CS Nga như Hồ Chí Minh và đảng CSVN, hậu quả là Tàu và Nga trở thành kẻ thù của nhau-

Sau này kinh tế XHCN thất bại, không chịu đựng nổi cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ nên Nga Xô Viết xụp đổ, không giữ được những nước nhỏ mới thôn tính được sau thế chiến II – Nhưng Tàu dùng CNCS làm bình phong thì dù thất bại về kinh tế, vẫn có thể thôn tính được các nước Đông Dương, vì kinh tế XHCN nếu làm cho Tàu yếu một, thì cũng làm cho các nước nhỏ bị yếu nhiều lần hơn, đảng cầm quyền do bị cô lập, sẽ phải càng phải lệ thuộc vào đảng đàn anh để có chỗ dựa chính trị, hầu giữ vững quyền lực và quyền lợi: “còn Đảng, còn mình”.

Rốt cuộc các diễn biến ở VN từ 1930 dường như đều thuận lợi cho sách lược Nam tiến ngàn năm không ngưng nghỉ của Tàu.

Nghĩ cho cùng, về thực chất sâu xa lịch sử xung đột Việt-Hoa, chỉ toàn là Tàu chủ động đánh Việt, toàn là Tàu giấu mặt trá hình, dùng mọi thủ đoạn thâm độc tìm cách làm cho Việt chia rẽ, đánh lẫn nhau mà suy yếu đi, dân mình Bắc Nam đều chỉ là nạn nhân, các lãnh tụ CSVN vì ngu muội và bị sai khiến, cũng chỉ là con cờ trong bàn tay phù thủy.

Chúng ta nay đã đều biết ai đứng đàng sau Mặt Trận Việt Minh (trước 1954) và MT Giải Phóng Miền Nam (trước 1975) để giựt giây? chính là đảng CSVN, con đẻ của Quốc Tế III (Nga Xô), tay sai của Mao Trạch Đông và đảng CS Trung Hoa. Ngay từ đầu, CS Tàu đã muốn dùng chủ nghĩa CS để thôn tính các nước Đông Dương, mở rộng biên cương xuống phía Nam, làm chủ biển Thái Bình và cả vùng Đông Á. Trong ý đồ đó, miếng xương khó nuốt nhất vẫn là một nước VN thống nhất và hùng mạnh. Từ 3,000 năm nay Tàu gặp khó khăn khi muốn xâm lăng và đồng hoá VN vì ý chí về đồng bào đồng chủng, và độc lập dân tộc của VN còn mạnh, nay Tàu vớ được Chủ Nghĩa Cộng Sản, dùng mục tiêu hoang tưởng là “Đấu tranh giai cấp để tiến đến Thế Giới Đại Đồng”, tạo ra một thứ ảo vọng “Thiên Đàng hạ giới”, lừa gạt những người kém tinh thần dân tộc, những người nhẹ dạ, cả tin, cuồng tín giáo điều hoặc thiếu học vấn, kém suy luận, để che đậy ý đồ xâm lược (của Tàu) và âm mưu bán nước (của thành phần tay sai, thân Tàu trong Đảng CSVN)-

Chiến tranh giải thực ở VN vốn không cần chịu mất mát và đổ máu nhiều đến thế, nhưng với âm mưu làm yếu Việt, Tàu đã xúi dục, cổ võ, yểm trợ cho chiến tranh và phân hóa. Nhìn bề ngoài, thì giống như người Việt chống Pháp, Việt Minh đánh Việt Gian … nhưng thực ra chính là Hán tộc (Tàu) đánh Việt tộc bằng cách dùng ngay người Việt (Việt Minh) đánh giết người Việt.

Lực lượng Việt tộc (chính quyền Quốc Gia, các đảng phái Quốc Gia, các tôn giáo…) biết rõ sự lệ thuộc của các lãnh tụ Việt Minh vào Cộng Sản Tàu, Nga, nhưng vì yếu thế, nên đành phải dựa vào Pháp để chống Cộng, mà do Pháp thua, phải ký HĐ Geneve, nên phải cùng chạy xuống miền Nam.

Sau đó Tàu lại tiếp tục xúi Việt đánh Việt bằng chủ nghĩa CS và yểm trợ ồ ạt về quân sự cho CS Bắc Việt và Mặt Trận GP Miền Nam, thậm chí còn đưa quân Tàu giả dạng vào miền Bắc (*13) để miền Bắc có thể xua toàn lực thanh niên xâm nhập miền Nam (sinh Bắc tử Nam), một công hai việc: vừa thúc đẩy mở rộng chiến tranh làm suy yếu dân Việt, vừa lan tràn ảnh hưởng xuống Đông Nam Á.

*Thời kỳ trước 1954, Tàu dùng tay sai Đệ tam Quốc Tế là Hồ Chí Minh dựng nên Đảng CSVN, núp dưới chiêu bài Mặt Trận Việt Minh, trợ giúp vũ khí nặng, nên Việt Minh thắng Pháp trận Điện Biên Phủ. Sau chiến thắng đó Việt Minh hoàn toàn có thế lực để thống nhất và kiểm soát cả nước, nhưng vì Tàu chưa củng cố xong nội bộ, lại lo ngại sẽ không kiểm soát được một VN thống nhất nên đã đã áp lực Việt Minh nhượng bộ phe Đồng Minh do Mỹ đứng đầu, chịu chia cắt VN. Mục tiêu của Tàu lúc đó là cần củng cố hậu phương, nên chỉ muốn biến Bắc VN thành thành lá chắn phía đông nam, giống như Bắc Hàn là lá chắn phía đông bắc.

*Thời kỳ sau 1954, Tàu yểm trợ cho CS Bắc Việt xâm lăng miền Nam chỉ là tranh dành ảnh hưởng với Nga ở Đông Dương, và muốn cho VN suy kiệt do nội chiến để không thể trở thành đối thủ đáng ngại cho mưu đồ bành trướng.

Như vậy, sau 1975, mặc dù bề ngoài thấy giống như là phe Xã Hội CN thắng phe Tư Bản, Bắc Việt thắng Nam Việt, hoặc là Giải Phóng Miền Nam thắng Mỹ… nhưng thực ra vẫn chỉ là Tàu thắng Việt, vì Tàu đã thành công trong âm mưu dùng người Việt đánh người Việt, khiến cho 2 miền đều kiệt quệ, chết người, hại của, gây nên hận thù chồng chất và chia rẽ dân tộc thêm sâu sắc.

Nhớ lại, sau khi dàn xếp thỏa hiệp được với Tàu để dồn nỗ lực làm suy yếu Nga, Mỹ bỏ rơi VNCH, làm ngơ cho Tàu chiếm đoạt Hoàng Sa, cắt hết quân viện làm cho miền Nam thất trận 1975 (*14 ). Ngay sau đó miền Bắc xé bỏ thỏa thuận trước đây với MTGPMN (miền Nam trung lập trong 2 năm rồi mới hiệp thương thống nhất), áp đặt ngay chính sách kỳ thị chính trị với miền nam, và nền kinh tế giáo điều XHCN trên cả nước bằng cách cào bằng lực lượng sản xuất miền nam với các chiến dịch đánh tư sản và đổi tiền (thực chất là cướp tài sản), cô lập hoặc xua đuổi những người có tinh thần dân tộc, kể cả các lãnh tụ của Mặt Trận GPMN. Một số lớn nhân lực (vài trăm ngàn thanh niên trẻ và chuyên gia các ngành nghề quân sự, dân sự, khoa học kỹ thuật) có tiềm năng chống Tàu hoặc xây dựng kinh tế rất lớn bị lừa vào các trại cải tạo, thực chất là các trại tù. Một số lớn dân chúng có tiềm năng xây dựng nền công nghiệp và kinh tế thị trường bị cưỡng bức đi khai khẩn vùng rừng núi hoang vu (gọi là vùng kinh tế mới).

Những nhân tài vật lực (lực lượng sản xuất tiên tiến) này miền Nam đã mất 20 năm mới vun trồng và tích lũy được, đã từng là vốn quý khiến cho kinh tế xã hội và đời sống miền Nam thời đó cao hơn cà Singapore, Thái, Nam Hàn, đã bị sự ngạo mạn u mê của các lãnh tụ “Bên thắng cuộc” làm tiêu tan hết chỉ trong vài năm.

Sự kỳ thị chính trị một cách quá khích và nền quản trị quá kém cỏi đã làm Kinh tế cả nước phá sản, tinh thần người dân bị suy sụp, bị đẩy đến chỗ cùng quẫn đến nỗi phải bỏ quê hương vượt biển ra nước ngoài cả triệu người, là một con số rất lớn chưa từng có trong trong lịch sử VN và thế giới- Cả triệu người, đại đa số là dân thường, kể cả dân miền Bắc phải liều lĩnh chạy ra biển khơi, bỏ nước mình để ra đi về nơi xứ lạ quê người, bất kể bão tố, cướp biển, hãm hiếp và chết chóc (khoảng 1/3 vùi thây trong biển cả). Điều đó nói lên được sự cùng quẫn thất vọng của người dân đối với nền cai trị ở VN. Thảm kịch này không khác gì một cuộc “tự diệt chủng” vốn là đặc trưng trong mọi chế độ Cộng sản, lại bồi thêm một lần mất máu (bleeding) rất lớn nữa cho sinh lực Việt tộc, cho lực lượng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (*15)

Tàu còn xúi dục, yểm trợ Kmer Đỏ tàn sát người Việt, đốt phá và tấn công biên giới tây nam để khích VN phải xua quân qua Kampuchia, tốn người, hại của, mất uy tín đối với quôc tế. Vậy mà Tàu lại viện lý do VN chiếm đóng Kampuchia để xua quân tấn công biên giới phía bắc, tàn sát hàng ngàn dân Việt. Rõ ràng là ném đá dấu tay rồi lại thừa cơ đối sách yếu kém của CSVN để gây chiến và cướp đất biên giới. Cũng phải ghi nhận rằng cuộc thảm sát của Kmer Đỏ làm chết gần 2 triệu người (21% dân số Miên) cũng là 1 cuộc “cải cách” còn triệt để và đẫm máu hơn là Cải Cách Ruộng Đất ở VN, vốn là đòn độc hiểm của Tàu, dùng người Miên giết người Miên để khống chế Miên về lâu về dài.

Thảm họa “tự diệt chủng” của dân Miên trực tiếp là qua bàn tay Kmer đỏ, nhưng chính CSVN đã đưa Kmer đỏ về Miên và giúp chúng lật đổ chế độ Lon Nol. Do vậy, đây cũng đồng thời là âm mưu của Đảng CSVN, dùng Kmer đỏ để diệt chủng, làm yếu dân Miên hầu thực hiện mộng Liên Bang Đông Dương.

D- Đệ Nhất Cộng Hòa, một thể chế không đúng thời vận.

Có một điều đáng tiếc, là ở miền Nam VN sau 1954, nếu ông Ngô Đình Diệm có lập trường đúng về ưu tiên cấp bách cho dân tộc lúc đó, là một mặt cần “chính danh” (legitimacy) để ổn định nhân tâm đối phó lại với thủ đoạn tuyên truyền của Việt Minh CS, một mặt cần một mô hình dân chủ pháp trị thích hợp nhất với thời thế, và quyết tâm xây dựng chế độ theo mô hình đó một cách dứt khoát, không nhượng bộ áp lực cá nhân thân tộc thì sẽ giữ được cái thế “chính danh, đại nghĩa”, tiếp tục huy động được sự ủng hộ sâu rộng của các đoàn thể quần chúng và đảng phái, tôn giáo, và đã có thể kéo dài chế độ thêm một thời gian đủ dài để xây dựng được nền móng chính trị dân chủ vững mạnh, củng cố và dựa vào sức mạnh đại đoàn kết dân tộc chống lại sự thao túng của ngoại bang, kể cả Mỹ và thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, phá hoại của CS.

Đối với các nước ở Đông Á vào Thế Kỷ 20, nhất là những nước phong kiến nông nghiệp vừa mới thoát khỏi chế độ nô lệ thuộc địa, dân trí còn thấp kém, nhất là ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân chưa có, xem ra mô hình chính trị dân chủ thích hợp nhất phải là Quân chủ lập hiến, vì những nước theo mô hình này vẫn ổn định cho tới gần đây (Thái, Miên, Nhật …) – Nhiều nước dân chủ Âu Mỹ tới nay cũng vẫn còn là Quân chủ lập hiến (Anh, Úc, Canada …)

Tại Việt Nam, bài học lịch sử cận đại còn đó: Trịnh Kiểm (1503–1570) có thế lực chính trị hơn vua Lê, nhưng lòng dân còn mến mộ công đức vua Lê Lợi đã cởi ách nô lệ cho dân, cho nên Trịnh Kiểm không dám cướp ngôi, họ nhà Trịnh đành phải “Giữ chùa, thờ Phật thì ăn oản” cho đến khi bị nhà Tây Sơn dẹp.

Vua Quang Trung (1753-1792) sau đó xưng Vương được chính danh, là vì vua Lê Chiêu Thống “cõng rắn cắn gà nhà” đưa quân Tàu vào. Nhà Tây Sơn sau khi vua Quang Trung mất đã chia rẽ, đánh lẫn nhau, và làm dân đói khổ, cho nên bị vua Gia Long diệt.

Nhà Nguyễn Gia Long (1802-1945) đã có công mở rộng đất nước gấp đôi, và cai trị trên 100 năm, được lòng dân mến mộ và tuân phục. Vị vua cuối cùng là Bảo Đại cũng hết lòng đấu tranh đòi Thực Dân Pháp trao trả độc lập. Dù thoái vị vì mắc mưu Việt Minh lợi dụng lòng yêu nước của mình, nhưng cũng chưa hề làm mất lòng dân. Trong khi đó, ông Ngô Đình Diệm chỉ là một đại quan của vua Bảo Đại; Gia tộc ông chưa có công trạng gì lớn với đất nước, uy tín với dân và sĩ phu cả nước cũng chưa có gì đáng kể, nếu ông sáng suốt hơn, thì thay vì lật đổ và bêu xấu vua Bảo Đại, ông nên bắt chước Trịnh Kiểm với vua Lê, như vậy sẽ có chính danh, chính nghĩa để huy động được sự tuân phục của giới sĩ phu và dân chúng, vô hiệu hóa được sự tuyên truyền của Việt Minh. Với chế độ Quân Chủ Lập Hiến, Việt Nam sẽ ổn định về chính trị, có uy tín trong khu vực (Đông Dương) và thế giới, do đó sẽ thắng Cộng Sản và trở thành cường quốc khu vực.

Vậy thất bại của ông Ngô Đình Diệm là do mâu thuẫn giữa một bên là hệ tư tưởng phong kiến nông nghiệp của đại đa số trí thức, nhân sĩ thời đó, thể hiện qua tác phong quan lại của ông và gia tộc, với một bên là tham vọng cá nhân và áp lực xây dựng chính quyền theo mô hình dân chủ pháp trị kiểu Mỹ (dân chủ cộng hòa), mô hình này quá mới lạ đối với những điều kiện văn hóa, tâm lý xã hội của một nước nhỏ Á châu, và cũng không thích hợp với tình hình nhân tâm ly tán ở một miền Nam VN đang tan tác hỗn loạn sau 1954.

Những điều kiện mâu thuẫn như vậy đã khiến cho cho một lãnh tụ có tinh thần dân tộc như ông Diệm, sau khi lên làm Tổng Thống, không những không phát triển được mối quan hệ hợp tác với các đảng phái Quốc Gia, với các tôn giáo và các lực lượng chống cộng khác (Cao Đài, Hòa Hảo…) là những lực lượng quần chúng rộng lớn và có tổ chức chặt chẽ vốn đã tự nguyện tập họp giúp ông ngay từ ban đầu, mà lại còn bị ảnh hưởng của gia tộc và bọn xu nịnh, đưa chế độ vào tình trạng tự cô lập và xa rời quần chúng, dần dần làm mất thế chính danh mỏng manh của mình, tạo điều kiện cho địch (kể cả Mỹ) khai thác các sơ hở, mâu thuẫn để tuyên truyền phá hoại. Hậu quả là đưa nền cộng hòa sanh non đến chỗ chết yểu, sụp đổ quá sớm, không đủ thời gian để tiếp tục thực hiện việc cấp thiết sinh tử là chấn hưng dân khí, xây dựng một hệ thống chính quyền và một thế hệ nhân tài về chính trị, quân sự hoàn toàn mới cho phe Quốc Gia (không còn tàn dư của thời Pháp thuộc qua sự lưu dụng những công chức và sĩ quan cao cấp được Pháp đào tạo).

Vậy là Việt tộc lại mất đi thêm một vận hội lớn hiếm có để phục hưng sức mạnh chống lại tham vọng xâm lược của Tàu.

III- Vận nước còn nổi trôi

A- Chiến lược thôn tính Việt Nam và Đông Dương của Tàu

Sau 80 năm thuộc Pháp, với chính sách bóc lột về kinh tế, kềm hãm sự mở mang dân trí, và chia để trị (Bắc, Trung, Nam kỳ với 3 chế độ cai trị khác nhau), Thực dân Pháp đã làm cho VN chia rẽ và kiệt quệ.

Đến khi Mao Trạch Đông nhờ viện trợ của CS Nga, đánh thắng Tưởng Giới Thạch, nắm được chính quyền, thì Mao khởi đầu chiến lược thôn tính Đông Dương. Nếu Tưởng thắng, thì cũng sẽ làm y như vậy- Tàu nào cũng giống nhau- Sẽ rất là lạ nếu thực tế lịch sử lại không xảy ra như vậy- Mộng Đại Hán nằm sẵn trong đầu bất cứ anh Tàu nào-

Theo đó, hiển nhiên là CS Tàu phải điều khiển cho được cuộc chiến Đông Dương. Có rất nhiều tài liệu lịch sử đã được phổ biến cho thấy chiến tranh ở VN kể từ Chiến dịch biên giới 1950, trận Điên Biên Phủ và Hiệp định Geneve 1954, các chính sách lớn của CSVN kể cả cuộc CCRĐ đẫm máu 1956, tất cả đều có bàn tay của Tàu xếp đặt và điều khiển để làm suy yếu VN.

Cùng một đối sách áp dụng với Triều Tiên, dù không muốn thấy một VN thống nhất, Tàu nhận thấy việc ra mặt yểm trợ Bắc Việt xâm chiếm miền Nam là cần thiết để ngăn chận Nga Xô bành trướng thế lực, và về lâu dài còn có lợi cho mưu toan khống chế Đông Á, phá thế bao vây chiến lược của cả Nga lẫn Mỹ, do đó từ 1960 Tàu tiếp tục viện trợ hào phóng cho Bắc Việt và MTGPMN.

Sau khi Nga Xô sụp đổ, mất chỗ dựa duy nhất, lại bị cấm vận vì chiếm đóng Kampuchia, nền kinh tế tan hoang và nhân tâm ly tán khiến đảng CSVN không còn đường nào khác, đành phải bám vào thứ chính nghĩa bịp bợm và hoang tưởng là “bảo vệ CNXH thế giới”, quay lại khuất phục Tàu, bí mật nhượng bộ Tàu mọi mặt kể cả bán nước để được tồn tại (Hội nghị Thành Đô 1990).

Đến đây thì thấy rõ nhà cầm quyền CSVN hiện nay đang lâm vào tình thế bắt buộc phải giao căn nhà VN cho Tàu. Mọi động thái hiện nay của CSVN chính là đang chuẩn bị giao Việt Nam cho Tàu. Kiểm điểm lại, kể từ khi khởi đầu can thiệp vào Đông Dương từ năm 1930 với tay sai là Hồ chí Minh và Đảng CSVN, đến nay Tàu đã chiếm được các cao điểm quân sự ở biên giới phía Bắc (Ải Nam Quan, Đồi Lão Sơn …), chiếm đóng Hoàng Sa Trường Sa để làm chủ vùng biển VN, ém quân trên Cao nguyên và bờ biển Trung phần VN, yết hầu chiến lược của toàn thể Đông Dương, lật đổ ảnh hưởng của VN tại Lào và Campuchia, tạo thế bao vây VN trên bộ và ngoài biển, gài người nắm các chức vụ then chốt trong Bộ Chính trị CSVN và guồng máy an ninh, quốc phòng VN, tiêu diệt các lực lượng dân tộc, triệt hạ ý chí dân tộc, đào sâu chia rẽ nam bắc, phá hoại kinh tế, xã hội và văn hóa và VN, thông qua nhà cầm quyền tay sai khiếp nhược “hèn với giặc, ác với dân”.

Một khi ý chí đấu tranh của người dân bị mất định hướng, bị đàn áp hung bạo đến tê liệt và suy kiệt, người dân sẽ chỉ còn biết an thân thủ phận lo sinh kế, lòng yêu nước và tinh thần đại đoàn kết dân tộc bị lụn bại thì đất nước sẽ rơi vào cái thế buộc phải lệ thuộc ngoại bang, đưa tới mất nước và bị đồng hoá, y như dân Chiêm Thành, Chân Lạp trước đây vậy.

H4Đảng Cộng sản VN đón Tập Cận Bình bằng cờ 6 sao. Nguồn: internet

Dân ta ở VN sẽ thành ra người Tàu gốc Việt, như là đã xảy ra ở Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông vậy. Sẽ lại có thể xảy ra một đợt di tản lớn, người Việt lại ào ạt chạy ra nước ngoài, vài ba thế hệ sau là thành con lai hết…. Rốt cuộc đó cũng là thể hiện quy luật vận động của lịch sử loài người: Di dân và Đồng hoá. Khí thế đấu tranh của dân tộc nếu không đủ mạnh để sớm lật đổ chế độ cai trị độc tài của Đảng CSVN, dành lại nền độc lập tự chủ thì khó có thể tránh được một cuộc chiến tự diệt chủng tàn khốc nữa có thể làm tan rã Việt Nam.

Cuộc cờ muôn thuở ở VN cho tới nay vẫn không thay đổi, sau mỗi cuộc cờ, giữa 2 phe người Việt, vẫn không có bên nào là “Bên Thắng Cuộc”, mà kẻ thắng chính là Tàu, còn kẻ thua cuộc vẫn là nhân dân Việt Nam, là Việt tộc, là các dân tộc Đông Dương.

B- Chiến lược can thiệp của Mỹ

Trong điều kiện chủ nghĩa bá quyền Đại Hán còn tồn tại, nếu VN bị Tàu thôn tính hoặc hoàn toàn kiểm soát, thì Đông Dương và Biển Đông sẽ thuộc về Tàu. Tình thế này đã được dự đoán từ sau Thế chiến II, và không thể được các cường quốc khác chấp nhận.

Còn đối với Mỹ thì sao? nếu VN mất vào tay Tàu thì Mỹ cũng đâu có thiệt gì? Đại chiến lược của Mỹ vẫn là giữ vững thế siêu cường số một- Mục tiêu cốt lõi của Mỹ vẫn là bảo vệ và phát triển lợi nhuận các đại công ty tài phiệt và công kỹ nghệ.

Đối với Mỹ, quyền lợi là trên hết, cho nên Mỹ vốn là cần Tàu hơn là cần VN. Đầu tư của tư bản Mỹ vào Tàu rất lớn, thông qua nhà cầm quyền độc tài đảng trị CS Tàu, Mỹ không cần xâm lăng đất đai của Tàu cũng vẫn bóc lột được 1 tỷ rưỡi người Tàu-

Trong Đại chiến lược nhằm đối đầu với những thế lực có tiềm năng tranh chấp vai trò số 1 của mình, bao giờ kẻ mạnh hơn cũng chủ động áp dụng chiến thuật Điểm và Diện, để địch thủ không đỡ nổi. Đối phó với Tàu, tranh chấp ưu thế quân sự trên biển Đông chỉ là “Diện”, còn “Điểm” chính là cái “tử huyêt” của tên khổng lồ một mắt Đại Hán mà Mỹ đang khai thác, đó là mâu thuẫn sinh tử giữa thể chế chính trị độc tài toàn trị và nền kinh tế thị trường đang toàn cầu hóa nhanh chóng dưới tác động thúc đẩy ngày càng mạnh của các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đó chính là cái mâu thuẫn “ai thắng ai” giữa “quan hệ sản xuất lỗi thời, phản động” và “lực lượng sản xuất tiên tiến”, nói theo thuật ngữ kinh tế học Mác Xít-

Cái mạnh căn bản của một đảng chính trị, một chế độ, một quốc gia, cho đến một đại cường vẫn là phải có cái thế “chính danh” trong triết học chính trị của mình. Mỹ và đồng minh có nền văn hóa và thể chế chính trị phù hợp với nhau và đi đúng xu thế thời đại, là nhân bản, dân chủ hóa và toàn cầu hóa, tức là có “chính danh”. Cái mạnh này của phe các nước dân chủ chính là cái yếu chí tử của các thể chế chính trị độc tài toàn trị, vốn chỉ có thể tạm thời tồn tại nhờ vào dối trá và đàn áp.

Do đó, dù Mỹ chẳng sợ gì Tàu, nhưng cũng không dại gì để gây chiến với Tàu, vì không có lợi- Mỹ đã thắng Nga và sắp xếp Nga vào quỹ đạo thế giới thế nào thì cũng sẽ tính là về lâu dài sẽ thắng Tàu và sắp xếp Tàu vào trật tự thế giới bằng cách tương tự. Mỹ đang một mặt sắp xếp cái bẫy chạy đua vũ trang, một mặt thúc đẩy Tàu đi cho hết chu kỳ bành trướng quyền lực của một thể chế độc tài toàn trị. Mỹ đang thổi cho Tàu phải phình to ra để sẽ tự nổ thành nhiều mảnh, y như Nga Xô Viết vậy, dù biết trước mà vẫn không tránh được…. Từ nay cho tới lúc đó, thì nếu Tàu mà ra mặt đụng độ với Mỹ, Mỹ chỉ cần xù nợ hoặc không mua hàng là Tàu sẽ gặp khó khăn rất lớn, có thể có nội loạn ngay nếu có thêm cả trăm triệu người thất nghiệp do cấm vận. “Cấm vận” là vũ khí độc quyền của Mỹ và đồng minh. Dĩ nhiên Mỹ cũng sẽ gặp khó khăn, vì đã có phần nào phụ thuộc vào hàng hóa rẻ tiền nhập từ Tàu. Tuy nhiên vì mục tiêu lâu dài và Đại chiến lược của mình, Mỹ cũng không thể để Tàu chiếm được VN hoàn toàn, vậy thì Mỹ và đồng minh sẽ phải tìm mọi cách để ngăn chặn tham vọng bành trướng của Tàu bằng cách yểm trợ cho phe chống đối ở VN trở nên đủ mạnh để tạo áp lực với Tàu, buộc Tàu phải dừng chân lại.

Chiến tranh giằng co ở Đông Dương do đó sẽ lại bùng nổ dưới hình thức chiến tranh ủy nhiệm. Tại sao phải là chiến tranh ủy nhiệm? vì chắc chắn Tàu và Mỹ, kể cả Nhật, Ấn, Úc sẽ không trực tiếp đánh giết nhau, nhưng sẽ dựa vào tình trạng mâu thuẫn, chia rẽ và suy sụp ở VN để tạo ra 2 phe, thí dụ: phe Bắc Việt (thân Tàu) và phe Mặt Trận Giải Phóng v.v… và viện trợ cho 2 phe đánh giết nhau. Cuộc chiến Long tranh Hổ đấu để tái sắp xếp bàn cờ và tranh dành quyền lực ở Thái Bình Dương này sẽ lại làm cho dân Việt xương tan máu đổ vài chục năm, rốt cuộc chỉ để Mỹ đạt được thỏa hiệp với Tàu, thể hiện bằng cách chia đôi VN như vào năm 1954.

Cái mà Mỹ muốn và phải được, là cầm chân được Tàu, duy trì hiện trạng cán cân lực lượng với ưu thế về Mỹ, chờ dịp để thực hiện “tái sắp xếp” Tàu vào quỹ đạo thế giới của mình, giống như đã từng làm với Nhật, Đức sau năm 1945 và với Liên Xô sau 1991. Cái mà Tàu được sẽ có ý nghĩa lớn đối với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, là làm chủ thực sự nửa nước VN, mở được cửa ngõ tiến ra biển Đông để trở thành cường quốc biển.

Ngoài lý do là thế xung đột không tránh được giữa đại cường cũ (Mỹ), và đại cường mới (Tàu) đang hình thành, còn một lý do nữa để cho thấy chiến tranh ủy nhiệm chu kỳ là khó tránh, là vì các đại cường luôn luôn cần thử nghiệm, sản xuất và dự trữ vũ khí mới, đồng thời kho vũ khí cũ trị giá hàng ngàn tỷ cần phải được tiêu thụ. Không phải Vũ khí là loại hàng hóa đem lại siêu lợi nhuận sao?

C-Cuộc chiến để tồn tại của VN

Về mặt địa chính trị, người ta thấy một tình huống có tính quy luật:

Một đất nước bị tụt hậu, suy sụp mọi mặt  và chia rẽ đến tận tập đoàn lãnh đạo, đồng thời lại ở vị trí địa lý bị giằng co giữa những thế lực đại cường, thì khó thoát được nạn bị chia cắt lãnh thổ hoặc tan rã.

*Tình huống này đã xảy ra ở Việt Nam và Hàn Quốc vào những năm 1950 với Hiệp định Bàn Môn Điếm chia đôi Hàn Quốc, và Hiệp Định Geneva chia đôi VN.

*Tình huống này cũng đang xảy ra hiện nay ở Việt Nam: tình trạng đất nước bị tụt hậu, suy sụp mọi mặt và chia rẽ Bắc Nam rất trầm trọng ngay cả trong hàng ngũ cao cấp nhất của Đảng CSVN sẽ mau chóng đẩy cả nước vào tình thế bị chia cắt lãnh thổ hoặc tan rã. Như vậy là bãi chiến trường được chọn đã sẵn sàng.

Thế cờ sắp tới là cả Mỹ và Tàu đều chuẩn bị thử sức nhau lâu dài ở biển Đông, ở miền Nam VN. Nếu không phục hưng lên kịp, VN sẽ lại là 1 quân cờ, là nơi tiêu thụ vũ khí tồn kho, nơi chiến trường trắc nghiệm kỹ thuật chiến tranh và vũ khí mới.

Điềm gì đây khi Mỹ đã bỏ cấm vận vũ khí sát thương cho VN (cuối tháng 5, 2016) mà không ràng buộc gì với nhân quyền? Nếu vũ khí Mỹ lại ào ạt đổ vào VN, thì có cách gì khác để Mỹ chống Tàu mà không dùng đến máu VN ?

Mặc dù lịch sử diễn biến, nhưng với một nền tuyên truyền dối trá và bưng bít sự thật, bị chi phối bởi Tàu và tay sai, thế hệ con em chúng ta đã và sẽ không học hỏi được kinh nghiệm gì của lịch sử, đại cuộc như vậy vẫn sẽ tiếp tục bị chi phối bởi thế lực ngoại bang, cho nên đại thể diễn biến lịch sử sắp tới sẽ vẫn là cảnh bổn cũ soạn lại. Những bàn tay lông lá cũ đã và đang chuẩn bị những lá bài mới cho giai đoạn mới.

Tình hình quốc nạn như nước sôi lửa bỏng, trong lúc giai cấp lãnh đạo càng ngày càng thối nát, hèn với giặc ác với dân, đồng thời chia rẽ và mâu thuẫn về quyền lực và quyền lợi giữa các nhóm lợi ích ngày càng gay gắt. Đảng CSVN và các lãnh tụ huyền thoại của họ ngày nay đã lộ hết bộ mặt thật tay sai phản dân bán nước, nên không còn chút uy tín gì với nhân dân trong nước và quốc tế. Một mặt do họ tự đánh mất qua sự dốt nát, tác phong côn đồ tồi tệ và sự độc ác phi nhân tính của họ đối với chính nhân dân của mình; mặt khác, từ sau 1975 tới nay, chính Tàu là kẻ đã tiết lộ mọi chuyện thâm cung bí sử trong bang giao Tàu-Việt, các văn bản thần phục, thỏa thuận giao chủ quyền biển đảo và biên giới VN của các lãnh tụ CSVN cho cả thế giới biết. Những tiết lộ này đã khiến cho chút chính nghĩa “giải phóng” còn lại cũa CSVN tay sai cũng trở thành khôi hài. Tàu ngày nay thấy không còn cần che dấu nữa, không cần bảo vệ chút uy tín nào của đàn em như trước đây nữa.

Thái độ ngược ngạo ở biển Đông, ở thượng nguồn sông Mê Kông cho thấy Tàu đang nhấn mạnh cho dân Việt và thế giới biết rằng: Tình trạng lệ thuộc của VN đã được xác định. Sự tồn tại của Đảng CSVN ngày nay hoàn toàn nằm trong bàn tay Tàu, buông ra thì còn thoi thóp, bóp lại là chết ngay.

Với tình trạng trần truồng và bất lực như vậy, ai còn tin được Đảng CSVN còn có khả năng và cơ hội để bảo vệ đất nước VN thì thật là hoang tưởng.

Không lạ gì khi thấy CSVN phải hèn với giặc, ác với dân. Ngay cả những cuộc biểu tình bất bạo động chống tập đoàn Formosa xả độc phá hoại tài nguyên và môi sinh biển Vũng Áng mà cũng bị đàn áp đổ máu, chứng tỏ chúng xem dân như bầy thú nuôi bị nhốt chờ làm thịt, do đó đàn áp là cách duy nhất để cai trị.

Điều đáng lo ngại là Phong trào đấu tranh và phản kháng trong nước đang đứng trước nguy cơ bị đàn áp khủng bố tệ hại nhất, vì bộ máy đàn áp đang được điều khiển bởi Tàu, qua những Robot mang nhãn hiệu VN nhưng được sản xuất bởi Tàu như: Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh, Trần Đại Quang  v.v… Do vậy Đảng cầm quyền tay sai nếu không đủ nhân lực và vũ khí phương tiện để đàn áp hiệu quả, thì sẽ nhận được ngay viện trợ dồi dào từ Tàu. Sẽ không lạ nếu qui mô đàn áp khủng bố có thể tàn bạo tới mức diệt chủng, vì đó là bản chất của mọi chế độ độc tài toàn trị (td: Thiên An Môn).

Xin mở ở đây một dấu ngoặc: Cùng thời gian và điều kiện gần giống VN, Hàn Quốc đã bị chia đôi, vậy Bắc Hàn đang và sẽ tồn tại như thế nào?

Hàn Quốc là 1 bán đảo, giống như 1 cái giỏ. Dưới áp lực xâm lược của Tàu và Nhật, người dân Hàn không có nẻo thoát bằng nam tiến như dân Việt. Họ còn tồn tại là nhờ họ rất cứng cỏi, họ đã không hề bị đô hộ mấy ngàn năm như VN. Hiện nay, dù bị buộc phải lệ thuộc Tàu về kinh tế, và áp lực về chính trị, chế độ cai trị ở Bắc Hàn vẫn tỏ ra rất độc lập với Tàu về chủ quyền.

Chính sách chống Mỹ cực đoan có vẻ như điên cuồng đã giúp cho Bắc Hàn thực hiện chương trình vũ khí nguyên tử và phát triển hỏa tiễn tầm xa. Thái độ có vẻ hung hăng quá khích này của họ Kim trên thực tế không những không làm hại an ninh hoặc quyền lợi kinh tế của Nam Hàn, và thế lực quân sự của Mỹ, mà lại có vẻ có lợi, vì tạo điều kiện cho Nam Hàn gia tăng quốc phòng, và Mỹ có cớ triển khai tên lửa phòng thủ sát nách Tàu, giống như bên tung bên hứng; Trong khi đó Tàu vẫn bị buộc phải nuôi Bắc Hàn mà không can thiệp được vào chương trình nguyên tử của Bắc Hàn, cũng không thể cài người vào trong tập đoàn lãnh đạo dưới bàn tay chuyên chế sắt máu của gia tộc phong kiến quân phiệt họ Kim.

Gia tộc họ Kim đã giữ vững được chủ quyền, ổn định được đất nước và chế độ suốt 3 thế hệ, kể từ Kim Nhật Thành, thì phải là những người lãnh đạo có bản lãnh, không thể là khùng điên, hung đồ như người ta vẫn nhận xét- Với bom Nguyên tử, một ngày nào đó, nếu chế độ Bắc Hàn muốn thống nhất với miền Nam, chắc chắn Tàu cũng sẽ không làm gì được. Thiển nghĩ trong điều kiện bị áp lực kinh tế và cô lập chính trị của mình, Bắc Hàn mặc dù chưa thể đưa người dân thoát khỏi cuộc sống nghèo đói, không còn cách nào khác tốt hơn là xử dụng kế “Tôn Tẫn giả điên” như đã và đang làm để giữ được chủ quyền trước mối đe dọa xâm chiếm và đồng hóa của Tàu, thay vì tiếp tục chọn giải pháp tự diệt chủng, xua quân “giải phóng miền Nam” như các lãnh tụ CSVN đã làm.

Cần thêm là vào giữa năm 2015, không rõ thực sự vì áp lực từ đâu, VN đã phải giao cho Nga gần 30kg Plutonium tinh chế, là nguyên liệu làm bom nguyên tử (*16). Phải chăng Tàu sợ một họ Kim khác xuất hiện ở VN?

Đối với Việt Nam, tình trạng tụt hậu, suy sụp và lệ thuộc Tàu mọi mặt, lãnh đạo thì hèn kém và chia rẽ, dân khí lại bạc nhược đến nỗi thay vì kết hợp lại để chống lại giặc nội xâm, thì lại hầu như bất cứ ai có dịp là đều sẵn sàng bỏ nước ra đi, cho thấy nguy cơ tan rã hoặc bị chia cắt rất cận kề. Nếu không chấn hưng được dân khí, huy động được toàn lực nhân dân trong nước, cộng thêm yểm trợ của các nước lân bang, thì ít nhất sẽ mất miền Bắc. Một bộ phận dân Việt nếu tiếp tục chạy thoát được sang các nước khác thì sau vài thế hệ cũng bị lai giống hoặc đồng hóa.

Sự tồn tại của Việt tộc luôn luôn bị đe dọa bởi chủ nghĩa bá quyền Đại Hán, ngày nay lại còn bị đồng thời đầu độc bởi Chủ Nghĩa Cộng Sản. Sức sống của dân tộc đang bị mòn mỏi cùng cực- Nếu không lật đổ được Chế độ CS thối nát này và bọn tay sai thân Tầu, thì cơ may tồn tại của dất nước VN là rất ít.

Trừ phi Tàu, do bị Mỹ “triệt buộc”, phải phình to, và tự nổ sớm, thì đất nước ta và dân ta lại tồn tại và có thêm một vận hội mới nhờ vào thế mạnh của cuộc cách mạng dân chủ thế giới đợt thứ 3… Mong lắm thay !!!

Phạm Dzũng

GHI CHÚ

(*1) Dân khí, Nguyên khí dân tộc: Cách đây hơn năm thế kỷ, Thân Nhân Trung (Thân Trọng Đức 1418-1499 thời Vua Lê Thánh Tôn) đã viết: “…Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn…”

 Hoặc nói như cụ Phan Chu Trinh: “Chấn dân khí – Hưng dân trí – Hậu dân sinh…”

*Ý thức của thành lãnh đạo về sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân là đặc điểm của dân khí cường mãnh: Hội nghị Diên Hồng.

*Biểu hiện của dân khí là ở chỗ xuất hiện trong dân gian những lãnh tụ, những bậc hào kiệt có khả năng quy tụ quần chúng đông đảo đứng lên xây dựng đất nước, chống độc tài, chống bán nước, chống xâm lăng.

(*2) Chiếm Chiêm Thành: Khởi đầu với vua Lý Thánh Tông (1069), đến năm 1693 với chúa Nguyễn Phúc Chu, xóa sổ nước Chiêm Thành.

– Chiếm Miên (Chân lạp): Khởi đầu từ 1658, Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần chiếm Biên Hòa. Năm 1835 do Miên suy yếu, bị Xiêm (Thái) xâm lược, vua Minh Mạng giúp đánh đuổi quân Xiêm và chiếm đóng Miên, đặt Nam Vang là Trấn Tây Thành.

*Xem thêm: Cambodia, lá bài cũ và câu chuyện mới của người Trung Quốc

https://www.facebook.com/notes/lang-anh/cambodia-lá-bài-cũ-và-câu-chuyện-mới-của-người-trung-quốc/10203354821471319

(*3) Người Hoa ở VN: Lê Bắc-http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,45688 (cận đại).

– Vào năm 1679 và 1680, khi nhà Thanh bình định  tỉnh Quảng Đông thì một số quan, quân, dân nhà Minh đã chạy qua VN và đã góp công sức rất lớn trong việc mở mang bờ cõi phía Nam. Ngoài 2 đợt di dân quan trọng đó, suốt thế kỷ 19 có nhiều người Hoa, theo tình hình xã hội, đã di dân tới Việt Nam.

– Khi Pháp chiếm được 6 tỉnh Nam Kỳ, đất rộng người thưa, tư bản Pháp đã chiêu mộ và khuyến khích người Hoa từ Trung Quốc và Singapore sang kinh doanh, khai thác

– Chiến tranh Quốc Cộng ở Trung Hoa đã làm cho nướcTàu loạn lạc, nhiều nhóm người Hoa cũng đã chạy trốn Cộng Sản và di cư sang VN.

– Năm 1954, nhiều người Hoa ở Hà Nội, Hải Phòng đã di cư vào Nam.

– Năm 1975-1979, với biến động ở Campuchea, nhiều người Hoa cũng đã chạy tỵ nạn sang sinh sống ở Việt Nam.

(*4) An Dương Vương (Thục Phán), rồi đến Triệu Đà đều là người Hoa Nam.

Xem: Lê văn Siêu, Việt Nam Văn Minh sử Cương, NXB Thanh Niên 2004-trg 36: Sáu trong 12 sứ quân thời sau vua Ngô Quyền là thổ phỉ bên Tàu chạy qua.

 Xem: Phan Như Huyên,Việt Nam Nước tôi, Garden Grove, CA, USA, 2000)Triệu Đà (207-137BC) chiếm Âu Lạc của An Dương Vương Thục Phán, xưng vương, đặt tên nước là Nam.

(*5) Xem: Cát Kiếm Hùng, Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc Tập I ,trang 10-11, Người dịch : Phong Đảo, NXB Văn Hóa Thông Tin Hà Nội 2004.

(*6) Lý Đông A, Chu Tri Lục 3 Cương Lĩnh (1943). http://thangnghia.com/?p=43

http://www.danchimviet.info/archives/35479

(*7 ) Xem Đại Nghĩa: Hồ Chí Minh và Cải Cách Ruộng Đất.  Việt, gồm Âu Lạc, Quảng Đông, Quảng Tây, đặt kinh đô ở Phiên Ngung thuộc tỉnh Quảng Đông.

*Ông Hoàng Tùng, nguyên Tổng Biên tập báo Nhân Dân (1954-1982) kể lại trong chuyện “Bí mật HCM” cho chúng ta thấy được sự nô lệ của ông Hồ và đảng Lao Động Việt Nam (tiền thân của đảng CSVN) như thế nào: “Mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi bác sang, nhất định bắt phải thực hiện CCRĐ. Sau thấy không thể từ chối được nữa, bác mới quyết định phải thực hiện CCRĐ…. Mục đích của họ không phải là CCRĐ mà là đánh vào đảng ta ….

*Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, trả lời báo Quê Mẹ khi du lịch sang Pháp sau năm 1975: “Trong lịch sử Việt Nam từ hồi lập quốc đến nay chưa có một cuộc thanh trừng giết dân nào khủng khiếp tàn bạo như cuộc CCRĐ. Hầu như mọi cuộc đấu tố đều có sự nhúng tay của cố vấn Trung cộng. Điều đó cho thấy chính quyền HCM lệ thuộc ngoại bang như thế nào”. (Người Việt ngày 7-9-2004).

*Xem thêm: Huy Đức, Bên Thắng Cuộc, NXB OsinBook, California, USA 2012, trg 255 “…Cùng với cải cách ruộng đất, chiến dịch “Chỉnh đốn tổ chức Đảng và chính quyền” mà Hồ Chủ tịch ca ngợi trong báo cáo trước Hội Nghị Trung ương 5 cũng đã gây tổn thương nặng nề cho Đảng”.

*Xem thêm: Trần Gia Phụng, Huyền thoại Hồ Chí Minh (Đàn Chim Việt- 20/3/2013): “Việt Minh thủ tiêu hàng loạt các đảng viên Quốc Dân Đảng, các nhà trí thức khác, và hàng ngàn tín đồ đạo Cao Đài.(5) Việt Minh thủ tiêu tất cả những ai không theo chủ nghĩa CS và có thể tranh quyền với Việt Minh, từ trung ương, ở các thành phố lớn, đến những đơn vị nhỏ nhất ở các làng xã, dù họ là những người yêu nước hay là những nhân tài của đất nước. Việt Minh gọi hành động nầy là “giết tiềm lực”, tức giết những người có tiềm lực nguy hiểm cho CS về sau.”

*Xem thêm: Trần Ngươn Phiêu, Nhân chứng cuối cùng.

(*8) Xem: Tùng Phong (Ngô Đình Nhu) Chính Đề Việt Nam – Nhà xuất bản Hùng Vương, Los Angeles 2009: Bối cảnh của vấn đề. http://phamthientho.files.wordpress.com/2011/07/chc3adnh-c3b0e1bb81-vn-ngc3b4-c3b0c3acnh-nhu1.pdf.

(*9) Bùi Tín, Nhìn lại cuộc Cải cách ruộng đất: Những bài học còn nóng hổi-

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8440&rb=0401 (trích):“…Vậy là tính sơ sơ, số nạn nhân trực tiếp nói chung lên đến nửa triệu con người….. -Chưa hết, theo thống kê nội bộ, trong chỉnh đốn tổ chức được tiến hành ở 2.876 chi bộ ĐCS gồm có 15 vạn đảng viên, đã có đến 84.000 đảng viên bị xử trí (bị tù, tra tấn, xỉ vả, bị giết) chiếm 47%. Con số khủng khiếp này – nhiều hơn số địa chủ bị đấu tố – đã được giữ rất kín. Tôi có những bạn thân, đồng đội cấp trung đoàn (hồi ấy chưa có quân hàm) là trung đoàn trưởng, tỉnh đội trưởng… bị đánh rụng hết răng, mù mắt, gẫy chân; một số khi sửa sai thì đã bị lao phổi nặng do phải nằm đất ẩm, chỉ có manh chiếu rách. Số đảng viên bị tra tấn còn tàn khốc hơn dân thường vì bị coi là phần tử thù địch chui vào Đảng để phá từ bên trong. Hầu hết là đảng viên trí thức, có trình độ học vấn khá”.

(*10) Trận Tết Mậu Thân 1968

Xem:Wikipedia:http://vi.wikipedia.org/wiki/Sự_kiện_Tết_Mậu_Thân#cite_ref-24. “..  Sau tổng tiến công Mậu Thân, vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam bị thu hẹp. Quân Giải phóng bị đẩy ra xa và suy yếu trầm trọng: các đơn vị quân sự suy yếu, các lực lượng chính trị bị lộ và bị triệt phá gần hết, thương vong cao hơn hẳn các năm trước…”.

*Xem thêm: Trần Nguơn Phiêu, Gió mùa Đông Bắc (2008).- Nỗi lòng Huỳnh Tấn Phát.

(*11) Ngộ độc chủ nghĩa CS: *Xem: Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày (Hồi ký chính trị của một người không làm chính trị), Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 424, phần chú thích 1. “Lê Duẩn nói: “… ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc-

Nguyễn văn Linh đã từng nói (1986): “Tôi biết rằng dựa vào Trung Quốc là mất nước, nhưng thà vậy còn hơn mất Đảng.

Chủ Nghĩa CS phá hủy văn hóa truyền thống và ý thức dân tộc, phá hủy nền tảng tư duy về đạo đức cá nhân, cũng phá hủy luôn cấu trúc tự nhiên kinh tế và xã hội do áp dụng triết lý bạo lực về giai cấp đấu tranh, cộng với biện chứng hoang tưởng về xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội toàn thế giới (Thế giới Đại Đồng)- Biện chứng này tạo cho Đảng cầm quyền một thứ “Chính Nghiã” ảo, dựa vào đó để che dấu âm mưu thôn tính của nước lớn, và sự phục tùng lẫn âm mưu bán nước của tập đoàn cầm quyền nước mhỏ.

(*12) Xem: Nguyễn Gia Kiểng – Quan hệ Việt- Trung- Thực tế bẽ bàng hơn nhiều.

http://ethongluan.org/ 301

(*13) Trần Trung Đạo: Từ Buổi Chiều Trên Nghĩa Địa Hàng Dương,

http://www.trantrungdao.com/?p=290) Sự thật bị giấu kín (320 ngàn quân Trung Cộng từng tham gia chiến tranh Việt Nam

(*14) Daniel Ellsberg, Time Magazine US, Jun 28-1971: Pentagon Papers- The secret war.

 *Xem thêm: Trương như TảngHồi ký của một Việt Cộng.

(*15) Hồi ký Trần Quang Cơ, Chương 1- http://www.diendan.org/tai-lieu/ho-so/hoi-ky-tran-quang-co/hoiky-tqc-ch-1.

“Lý Quang Diệu đã nhận xét: “Năm 1975 thành phố Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Bangkok. Nhưng nay (năm 1992) nó tụt lại đằng sau tới hơn 20 năm”…

*Xem thêm: Robert F. Turner, Những sự thật về chiến tranh Việt Nam, Hậu quả của Hoa Kỳ sau khi bỏ rơi Đông Dương.

(*16) Xem: http://www.tin247.com/viet_nam_tra_nga_16_kg_uranium-1-22363256.html

Thêm 1 người Mỹ gốc Việt bị bắt giam tại Việt Nam

Thêm 1 người Mỹ gốc Việt bị bắt giam tại Việt Nam

RFA
ma-tieu-linh-622.jpg

Bà Khưu Hiền Duyên tại Việt Nam trước khi bị bắt.

Courtesy FB Mã Tiểu Linh

00:33/06:23

Một người Mỹ gốc Việt bị bắt giam tại Việt Nam trong chuyến thăm của Tổng thống Obama.

Nguồn tin của chúng tôi cho biết Bà Khưu Hiền Duyên, chủ trang Facebook Mã Tiểu Linh đã bị công an bắt giữ vào ngày hôm qua 5 tiếng đồng hồ trước khi Bà lên máy bay về lại Mỹ sau khi về Việt Nam được hai tuần lễ.

Bà Duyên bị bắt cùng với ba người bạn Facebook khác và cả bốn người bị tạm giữ tại công an phường 14 quận Tân Bình, sau đó Bà Duyên bị tách riêng và không có tin gì sau đó.

Gia đình Bà tại Virginia đã nhận được tin và liên lạc với Đại sứ Mỹ tại Hà Nội cũng như Lãnh sự quán tại Sài Gòn để nhờ can thiệp.

Trang Facebook Mã Tiểu Linh có hàng chục video clip do chính Bà Duyên tự quay kể về những bất công, đàn áp, tham nhũng và cơ hội của hệ thống chính trị Việt Nam. Những video này có số người theo dõi kỷ lục và lan rộng trong mạng xã hội đến hàng triệu lượt xem.

Bà Duyên là thành viên của tổ chức thiện nguyện Love Foundation, đã nhiều lần quyên góp cho nhiều nơi xa xôi tại Việt Nam xây dựng những căn nhà tình thương, cơ sở hạ tầng các trường tiểu học và nhất là những giếng nước sạch tại các khu vực khó khăn của Tây nguyên.

Công dân Hoa Kỳ Nancy Nguyễn trước đó cũng bị bắt giam 6 ngày vì tình nghi về Việt Nam tổ chức biểu tình và gây rối.

Được biết Bà Khưu Hiền Duyên về Việt Nam lần này đại diện cho Love Foundation giúp cho vài giáo xứ vùng sâu xây dựng cơ sở và giếng nước cho dân nghèo.

Lối dịch thuật lươn lẹo của báo “lề phải”

Lối dịch thuật lươn lẹo của báo “lề phải”

CS Hà nội rất sợ sự thật của những lời tuyên bố của TT Qbama, nhất là những chỗ liên quan tới nhân quyền nên trong bản dịch chúng cố hoặc tránh không dịch hay dịch sai lệch để giảm bớt sức mạnh của thông điệp của Ông Obama.

Dưới đây là  vài phân tích và bình luận của Y khoa BS  Lê Khánh Vân và nguyên văn bài dịch của Nha  khoa BS Nguyễn Thục Quyên

Ngày 24/5/2016 TT Obama đã phát biểu ở Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội trước 2000 người Việt. Bản tiếng Anh của diễn văn được công bố trên trang chính thức của TT Mỹ (https://www.whitehouse.gov/…/remarks-president-obama-addres…). Báo Lao Động đã công bố bản dịch mà họ gọi là “Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Obama trước 2000 người Việt Nam” (http://laodong.com.vn/…/toan-van-bai-phat-bieu-cua-tong-tho…). Tôi xin so sánh những chỗ sai sót đáng kể (bỏ qua những chỗ kém chính xác có thể vì người dịch yếu tiếng Anh). Để ý những lời ông Obama nói về nhân quyền, nhân phẩm, tự do học thuật, tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do ứng cử, tự do biểu tình, đã bị bỏ hoàn toàn. Nói về thầy Thích Nhất Hạnh bị cắt bỏ. “Human dignity” (phẩm giá con người) trở thành “sự ổn định”! Ngay cả những lời Obama trích dẫn từ Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh cũng bị lược bỏ, cắt xén khi đụng tới nhân quyền!

Obama: So I come here mindful of the past, mindful of our difficult history, but focused on the future — the prosperity, security and human dignity that we can advance together

Báo Lao Động: Khi đến đây tôi ý thức về quá khứ, ý thức về một lịch sử khó khăn, nhưng chúng ta hướng về tương lai, sự thịnh vượng, an ninh và SỰ ỔN ĐỊNH để chúng ta có thể thúc đẩy lẫn nhau.

Dịch đúng: Khi đến đây tôi ý thức về quá khứ, ý thức về một lịch sử khó khăn, nhưng hướng về tương lai – sự thịnh vượng, an ninh và PHẨM GIÁ CON NGƯỜI để chúng ta có thể cùng tiến.

Obama: Ho Chi Minh evoked the American Declaration of Independence. He said, “All people are created equal. The creator has endowed them with inviolable rights . Among these rights are the right to life, the right to liberty, and the right to the pursuit of happiness.”

LĐ: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích tuyên ngôn độc lập của Mỹ, rằng mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng và được hưởng các quyền khác nhau trong đó có quyền sống, quyền tự do, mưu cầu hạnh phúc.

Dịch đúng: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích tuyên ngôn độc lập của Mỹ, rằng Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. TẠO HÓA CHO HỌ NHỮNG QUYỀN KHÔNG AI CÓ THỂ XÂM PHẠM ĐƯỢC; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Obama: You’re also raising your voices for causes that you care about, like saving the old trees of Hanoi.

LĐ: [bỏ hẳn một đoạn dài trong đó có câu này].

Dịch đúng: Các bạn cũng đang nâng cao tiếng nói cho các vấn đề mà các bạn quan tâm, như cứu sống những cây cổ thụ của Hà Nội.

Obama: We learned a lesson taught by the venerable Thich Nhat Hanh, who said, “In true dialogue, both sides are willing to change.”

LĐ: [bỏ hẳn một đoạn dài trong đó có câu này].

Dịch đúng: [hai nước] chúng ta đã học được một bài học được giảng dạy bởi thiền sư Thích Nhất Hạnh, người đã nói, “Khi đối thoại thực sự, cả hai bên đều sẵn sàng thay đổi.”

Obama: Let’s also not forget that the reconciliation between our countries was led by our veterans who once faced each other in battle.

LĐ: Quá trình hòa giải của hai nước chúng ta không chỉ là liên quan đến các cựu chiến binh.

Dịch đúng: Đừng quên rằng sự hòa giải giữa hai nước chúng ta đã được dẫn đầu bởi các cựu chiến binh hai bên đã từng phải đối mặt với nhau trong trận chiến.

Obama: We’ve shown that progress and human dignity is best advanced by cooperation and not conflict.

: Với sự tiến bộ, những giá trị tốt đẹp của con người cần được thúc đẩy chứ không phải là chiến tranh hay xung đột

Dịch đúng: Chúng ta dã cho thấy rằng sự tiến bộ và PHẨM GIÁ CON NGƯỜI được thúc đẩy tốt nhất bằng sự hợp tác chứ không phải bằng xung đột.

Obama: . In our global economy, investment and trade flows to wherever there is rule of law, because no one wants to pay a bribe to start a business. Nobody wants to sell their goods or go to school if they don’t know how they’re going to be treated. In knowledge-based economies, jobs go to where people have the freedom to think for themselves and exchange ideas and to innovate.

LĐ: Nền kinh tế sẽ phát triển, đặc biệt ở các nước có pháp quyền và có hành lang pháp lý đúng đắn. Nền kinh tế tri thức sẽ đổ vào các quốc gia ưu tiên cho giáo dục

Dịch đúng: Trong nền kinh tế toàn cầu, đầu tư và thương mại chảy vào bất cứ nơi nào có chế độ pháp trị, vì KHÔNG AI MUỐN TRẢ TIỀN HỐI LỘ ĐỂ KHỞi LẬP MỘT DOANH NGHIỆP. Không ai muốn bán được hàng, đi học NẾU HỌ KHÔNG BIẾT HỌ SẼ ĐƯỢC ĐỐI XỬ RA SAO. Trong nền kinh tế dựa trên tri thức, công ăn việc làm sẽ đi đến những nơi mà NGƯỜI DÂN CÓ QUYỀN TỰ DO TỰ SUY NGHĨ VÀ TRAO ĐỔI Ý KIẾN VÀ ĐỔI MỚI.

Obama: This fall, the new Fulbright University Vietnam will open in Ho Chi Minh City — this nation’s first independent, non-profit university — where there will be full academic freedom and scholarships for those in need.

LĐ: mùa thu năm nay đại học Fullbright sẽ đi vào hoạt động tại TPHCM. Đại học này phi lợi nhuận, chất lượng cao sẽ cung cấp nhiều học bổng cho sinh viên Việt Nam và đóng góp cho hợp tác giáo dục giữa hai nước.

Dịch đúng: mùa thu năm nay Đại học Fulbright Việt Nam sẽ đi vào hoạt động tại TPHCM – ĐH ĐỘC LẬP, phi lợi nhuận đầu tiên của VN – NƠI SẼ CÓ TỰ DO HỌC THUẬT HOÀN TOÀN và học bổng cho những người cần.

Obama: [noi về TPP] For the first time here in Vietnam, the right to form independent labor unions and prohibitions against forced labor and child labor.

LĐ: Có thể người lao động tổ chức nghiệp đoàn, thúc đẩy bảo vệ môi trường.

Dịch đúng: [nói về TPP] Lần đầu tiên tại Việt Nam, QUYỀN THÀNH LẬP CÔNG ĐOÀN ĐỘC LẬP và cấm đối với lao động cưỡng bức và lao động trẻ em.

Obama: They’re written into the vietnamese constitution, which states that “citizens have the right to freedom of speech and freedom of the press, and have the right of access to information, the right to assembly, the right to association, and the right to demonstrate.” That’s in the Vietnamese Constitution. (Applause.) So really, this is an issue about all of us, each country, trying to consistently apply these principles, making sure that we — those of us in government — are being true to these ideals.

LĐ: [bỏ hẳn đoạn này]

Dịch đúng: NHỮNG [QUYỀN] NÀY ĐÃ GHI VÀO HIẾN PHÁP VIỆT NAM, TRONG ĐÓ NÓI RẰNG “CÔNG DÂN CÓ QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ TỰ DO BÁO CHÍ, VÀ CÓ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN, QUYỀN HỘI HỌP, QUYỀN LẬP HỘI VÀ QUYỀN BIỂU TÌNH.” HIẾN PHÁP VIỆT NAM NÓI VẬY ĐÓ. (vỗ tay.) Vì vậy, thực sự, đây là một vấn đề về tất cả chúng ta, mỗi nước, cố gắng để luôn luôn áp dụng những nguyên tắc này, ĐẢM BẢO RẰNG CHÚNG TA – NHỮNG NGƯỜI CHÍNH PHỦ – THỰC TÂM VỚI NHỮNG LÝ TƯỞNG ẤY.

Obama: In recent years, Vietnam has made some progress. Vietnam has committed to bringing its laws in line with its new constitution and with international norms. Under recently passed laws, the government will disclose more of its budget and the public will have the right to access more information. And, as I said, Vietnam has committed to economic and labor reforms under the TPP. So these are all positive steps.

LĐ: [bỏ hẳn đoạn này]

Dịch đúng: Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ. việt nam đã cam kết sửa đổi luật pháp của mình cho phù hợp với hiến pháp mới của mình và với tiêu chuẩn quốc tế. theo luật vừa được thông qua, chính phủ sẽ tiết lộ nhiều hơn về ngân sách và công chúng sẽ có quyền truy cập thêm thông tin. Và, như tôi đã nói, Việt Nam đã cam kết cải cách kinh tế và lao động theo TPP. Đây là những bước tích cực.

Obama: When there is freedom of expression and freedom of speech, and when people can share ideas and access the Internet and social media without restriction, that fuels the innovation economies need to thrive. That’s where new ideas happen. That’s how a Facebook starts. That’s how some of our greatest companies began — because somebody had a new idea. It was different. And they were able to share it. When there’s freedom of the press — when journalists and bloggers are able to shine a light on injustice or abuse — that holds officials accountable and builds public confidence that the system works. When candidates can run for office and campaign freely, and voters can choose their own leaders in free and fair elections, it makes the countries more stable, because citizens know that their voices count and that peaceful change is possible. And it brings new people into the system.

When there is freedom of religion, it not only allows people to fully express the love and compassion that are at the heart of all great religions, but it allows faith groups to serve their communities through schools and hospitals, and care for the poor and the vulnerable. And when there is freedom of assembly — when citizens are free to organize in civil society — then countries can better address challenges that government sometimes cannot solve by itself. So it is my view that upholding these rights is not a threat to stability, but actually reinforces stability and is the foundation of progress.

LĐ: [bỏ hẳn đoạn này]

Dịch đúng: KHI CÓ TỰ DO PHÁT BIỂU VÀ TỰ DO NGÔN LUẬN, VÀ KHI MỌI NGƯỜI CÓ THỂ CHIA SẺ Ý TƯỞNG VÀ TRUY CẬP INTERNET VÀ CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI KHÔNG BỊ HẠN CHẾ, những cái đó sẽ là nhiên liệu mà nền kinh tế sáng tạo cần để phát triển. Đó là nơi những ý tưởng mới xảy ra. Đó là cách Facebook bắt đầu. Đó là cách mà một số công ty lớn nhất của chúng tôi đã bắt đầu – vì ai đó đã có một ý tưởng mới. Nó khác biệt. Và họ có thể chia sẻ nó. Khi có tự do báo chí – khi các nhà báo và blogger có thể chiếu sáng những bất công và lạm dụng quyền lực – cái đó sẽ bắt các quan chức phải chịu trách nhiệm và xây dựng lòng tin của công chúng rằng guồng máy chạy tốt. Khi các ứng cử viên có thể ứng cử và tranh cử tự do, và cử tri có thể lựa chọn các nhà lãnh đạo của mình trong các cuộc bầu cử tự do và công bằng, thì sẽ làm cho nước ổn định hơn, bởi vì người dân biết rằng tiếng nói của họ được tôn trọng và sự thay đổi hòa bình là có thể. Và nó đem những người mới vào guồng máy [chính quyền].

Khi có tự do tôn giáo, không chỉ cho phép mọi người thể hiện đầy đủ tình yêu thương và lòng từ bi cốt yếu của tất cả các tôn giáo lớn, nhưng còn là CHO PHÉP CÁC NHÓM TÔN GIÁO PHỤC VỤ CỘNG ĐỒNG CỦA MÌNH QUA CÁC TRƯỜNG HỌC VÀ BỆNH VIỆN, VÀ CHĂM SÓC CHO NGƯỜI NGHÈO VÀ NGƯỜI YẾU THẾ. VÀ KHI CÓ TỰ DO HỘI HỌP – KHI NGƯỜI DÂN ĐƯỢC TỰ DO TỔ CHỨC TRONG XÃ HỘI DÂN SỰ – THÌ QUỐC GIA SẼ CÓ THỂ ĐỐI PHÓ TỐT HƠN NHỮNG THÁCH THỨC MÀ ĐÔI KHI CHÍNH QUYỀN KHÔNG THỂ TỰ MÌNH GIẢI QUYẾT. Vì vậy, quan điểm của tôi là bảo vệ, khuyến khích các quyền này không đe dọa sự ổn định, mà lại thực sự củng cố sự ổn định và là nền tảng của sự tiến bộ.

TRUNG CỘNG & THẢM HỌA DIỆT CHỦNG

TRUNG CỘNG & THẢM HỌA DIỆT CHỦNG

Phạm Hồng Thúy–

Từ lâu, Trung Quốc đã thực hiện cuôc diệt chủng đối với các dân tộc nhỏ để giành đất cho người Hán. Từ tháng 04.1975 tới cuối năm 1978, 3,5 triệu người Campuchia đã bị hành quyết bằng cách đập vỡ sọ thông qua bàn tay Khơ me đỏ. Từ đấy loài người đã biết đến chính sách diệt chủng của Trung Quốc ở Campuchia, nhưng ít người biết rằng Trung Quốc đã thực hiên chính sách này đối với tất cả các dân tộc không phải người Hán. Ở Việt Nam cuộc diệt chủng đang bước vào giai đoạn khốc liệt.

Lá cờ Trung Quốc có 5 ngôi sao, ngôi lớn nhất thuộc về người Hán, 4 ngôi sao nhỏ giành cho các dân tộc Mãn, Hồi, Mông, Tạng, là 4 sắc tộc lớn nhất trong số hơn 100 sắc tộc không phải người Hán sống ở Trung Quốc. Chúng ta cùng nhau điểm lại, sau 67 năm dưới chế độ cộng sản, trong tổng số 1400 triệu người ở Trung Quốc còn lại bao nhiêu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng?

  1. Người Mãn đã từng lập ra triều Mãn Thanh, cai trị nước Trung Hoa gần 3 thế kỷ (từ 1644 – 1912). Theo công bố của nhà nước Trung Quốc hiện nay còn 10,68 triệu người Mãn, nhưng thực tế con số thấp hơn nhiều, hầu như không còn ai nói tiếng Mãn hay có biểu hiện gì của sắc tộc này nữa.
  2. Chữ „Hồi“ dành cho 18 dân tộc ở Tân Cương, khu tự trị lớn nhất của Trung Quốc với diện tích 1,6 triệu km², dân số 21,8 triệu người, trong đó một nửa là người Hán. Duy Ngô Nhĩ là sắc dân chính tại đây chỉ còn lại 8,3 triệu người. (xem Tân Cương – Wikipedia)
  3. Nội Mông là khu tự trị dành cho người gốc Mông cổ, tùng lập ra triều đại Nguyên Mông cai trị nước Trung hoa hai thế kỷ 13 và 14, có diện tích 1,183 triệu km² và dân số 24,7 triệu người. Tuy nhiên người gốc Mông Cổ chỉ còn lại 3,6 triệu, chiếm 14,7% dân số toàn Khu tự trị (xem Nội Mông – Wikipedia).
  4. Người Tạng với nền văn hóa đồ sộ sống ở Khu tự trị Tây Tạng có diện tích 1,25 triệu km², nhưng dân số chỉ còn 3,18 triệu người, trong đó một phần đáng kể đã là người Hán (xem Tây Tạng – Wikipedia).

Tại các khu tự trị, thành phần dân tộc chính lại là người Hán, hàng trăm triệu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng đã bị hủy diệt bằng mọi cách!

Ở Việt Nam, thảm họa mất nước đã đến, thảm họa diệt chủng đang đến nhưng nhiều người chưa nhận ra.

Các thủ đoạn hủy diêt đã và đang diễn ra ở Việt Nam:

  1. Hủy diệt châu thổ sông Cửu Long, nguồn lương thực và thực phẩm chính của cả nước. Việc này chúng thực hiên bằng cách xây nhiều đập thủy điện ngăn sông Mê Kông gây hạn hán và ngập mặn trầm trọng, đất nhiều nơi đã bị lún sâu, đồng thời dùng rất nhiều thủ đoạn thâm độc như thả hóa chất độc, ốc bươu vàng, … nhằm phá hoại lúa, hoa màu và thủy sản trên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.
  1. Đổ chất độc dọc bờ Biển Đông để hủy diệt các hải sản ở biển và các vùng nuôi hải sản ven biển, đầu độc toàn bộ nguồn muối ăn của người Việt, ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt xa bờ!
  1. Hủy diệt các sông trên toàn bộ miền Trung thông qua hàng trăm đập thủy điện, khai thác bâu xit, thương lái Trung Quốc bày trò mua chanh leo giá cao để dân phá cà phê, hồ tiêu; mua vét rong biển để triệt hạ vùng sinh thái của cá… sau đó không mua nữa vì đã phá xong.
  2. Xây nhiều đập phía thượng nguồn sông Hông và sông Đà, làm suy kiệt sông Hồng từ nhiều năm. Chuẩn bị đại dự án sông Hồng với 6 đập thủy điện mới, hủy diệt hoàn toàn hệ sinh thái châu thổ sông Hồng.
  3.  Xây dưng rất nhiều nhà máy nhiệt điên, xi măng, sắt thép và hóa chất… để đầu đôc khí quyển và các nguồn nước. Trong khí thải các nhà máy ở Việt Nam dùng thiết bị Trung Quốc, hàm lượng các khí thải độc hại như CO, SO2, H2S, Hg … đều cao hơn từ 19 lần tới 125 lần hàm lượng cho phép. Chất thải đổ xuống nước đã làm chết rất nhiều sông ngòi như Thị Nại, La Ngà, Bưởi… và hàng ngàn km bờ biển.
  4. Tung thực phẩm và thuốc men độc hại cúng các hóa chất chế biến thực phẩm độc hại tràn ngập thị trường Việt Nam, đồng thời thương lái Trung Quốc mua vét các loại thực phẩm sạch để người Việt chỉ còn có thể tiêu thụ thực phẩm độc hại, chết dần vì bệnh tật. Hiện nay số người mắc bệnh ung thư, teo não, đột quỵ và nhiều bệnh hiểm nghèo khác đã tới mức cao nhất thế giới.

Tất cả mới chỉ trong giai đoạn đầu. Sau khi sát nhập vào Trung Quốc năm 2020 ???, dân tộc Việt Nam như cá nằm trên thớt, cuộc diệt chủng sẽ thảm khốc hơn nhiều. Những gì sẽ xẩy ra sau 4 năm tới đây? Sau 20 năm nữa con số 90 triệu người Việt liệu có còn tới 10 triệu như người Mãn hay tới 3 triệu như người Tạng không?

Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, ngoài 90 triệu người Việt. Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình, hãy chuyển tải thông tin này tới tất cả mọi người, tới mọi tờ báo, mọi phương tiện thông tin để mọi người cùng biết, cùng nhau đứng lên chống thảm họa diệt chủng đã đến trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng bảo vệ chúng ta.

Phạm Hồng Thúy

CÚI MẶT

Lê Văn Khôi's photo.

Lê Văn Khôi

CÚI MẶT

Tờ New York Times cho biết khoảng hơn 2000 đảng viên cao cấp ăn mặc sang trọng, ngồi ghế nhưng đỏ đã cổ vũ ầm ĩ, nồng nhiệt khi Obama bước vào hội trường. Thế nhưng họ tất cả đã cúi mặt im thin thít khi Obama dõng dạc tuyên bố về nhân quyền . Nhiều bình luận viên nước ngoài đã xem bài diễn văn của Obama như một bài diễn văn về nhân quyền.

Tôi cho rằng ông Obama đã quá thành công khi biến chuyến đi này thành cuộc biểu dương với toàn thể nhân dân và chính quyền Việt Nam về sự khác biệt giữa một nhà nước dân chủ và một nhà nước độc tài.

Người dân VN đã thực hiện cuộc tổng trưng cầu dân ý tuyệt vời khi tất cả ôm quàng lấy ông Obama và bỏ Trần Đại Quang một mình trong quên lãng.

Hôm nay TT Mỹ bước vào Hà Nội hàng trăm nghìn người dân hoan hỉ đón chào. Ngày mai nếu đoàn quân Hoa Kỳ tiến vào Hà Nội chắc phải có đến hàng chục triệu người chen nhau đi đón. Khi đó có thể người ta sẽ cổi áo của mình ra lót đường cho lính Mỹ bước đi. Điều này không nói lên lòng vọng ngoại hay cuồng mộ cá nhân nhưng âm thầm thể hiện khát vọng Tự Do & Dân Chủ đã dâng cao chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam.

Hôm nay Ba Đình ngồi run lẫy bẫy xem lại những hình ảnh này. Họ hiểu điều gì chờ họ vào ngày mai. Phải, sẽ không có xe tăng Mỹ tông vào Ba Đình như VC từng tông vào Sài Gòn. Nhưng cái thế dân đó, cái khát vọng tự do đó sẽ đến lúc nào đó cuốn họ đi như một chiếc lá rơi vào trong thác lũ.

Người & Đất Sài Gòn

Người & Đất Sài Gòn

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến –

RFA

tuongnangtien's picture

tuongnangtien

Tôi sinh ra ở Sài Gòn, nơi vẫn được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Chỉ tiếc có điều là ngay tại chỗ tôi mở mắt chào đời (Xóm Chiếu, Khánh Hội) thì lại không được danh giá hay ngọc ngà gì cho lắm. Đây thường là nơi ngụ cư của những tay anh chị, những cô gái ăn sương, những đứa trẻ bụi đời, những phu phen bốc vác ở kho Năm, hay đám “đào kép cải lương say tứ chiếng” – theo như lời của nhà thơ Cao Đông Khánh:

sàigòn, chợ lớn như mưa chớp

nát cả trùng dương một khắc thôi

chim én bay ngang về xóm chiếu 

nước ròng ngọt át giọng hàng rong

hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược

trái cây quốc cấm giấu trong lòng

hỏi thăm cho biết đường ra biển

nước lớn khi nào tới cửa sông 

sàigòn khánh hội gió trai lơ

khi ấy còn tơ gái núi về

đào kép cải lương say tứ chiếng

ngã tư quốc tế đứng xàng xê 

Dù “xàng xê” và “cải lương” tới bến nhưng khi “cách mạng về” là dân Khánh Hội đều “hết say tứ chiến” cấp kỳ. Tui, tất nhiên, cũng tỉnh táo liền. Tỉnh rồi mới bắt đầu hớt hải “hỏi thăm cho biết đường ra biển,” và cuống quýt đâm xầm vào giữa đại dương, bỏ lại S.G – như cắn răng cắt bỏ một phần thân thể của chính mình.

Tuy thoát thân nhưng không ít đêm, những đêm khó ngủ, tôi vẫn lò dò trở về chốn cũ. Có khi, tôi đứng ngẩn ngơ nhìn chiếc bong bóng vừa mua đã (lỡ) tuột khỏi tay – lơ lửng bay giữa những hàng cây, vào một buổi chiều Sài Gòn vừa tắt nắng – mà muốn ứa nước mắt vì tiếc và buồn.

Cũng có khi tôi ngồi trước một xe bán bò viên, chăm chăm nhìn thùng nước lèo vừa mở nắp, và tưởng chừng như không gian (của cả Sài Gòn hoa lệ) bỗng ngạt ngào hương vị. Chút nước thánh này – sau khi đã nhai thiệt chậm miếng thịt pha gân vừa ròn, vừa ngậy –  hoà nhẹ với chút xíu tương đỏ, tương đen, cùng ớt xa tế ngọt ngọt cay cay làm cho thằng bé xuýt xoa … cho đến lúc cuối đời.

Nhiều khi, tôi ngồi chò hỏ trước cửa nhà (mặt buồn thiu) vì không được bố mẹ nhẹ nhàng đặt vào tay năm cắc hay tờ giấy bạc một đồng – như thường lệ. Chỉ cần năm cắc thôi là đủ khiến chú Chệt vội vã ngừng xe, mở ngay nắp bình móp, lấy miếng kem đầy đặn – xắn một phần vuông vắn, cắm phập vào que tre – trịnh trọng trao hàng với nụ cười hiền lành và tươi tắn. Cắn một miếng ngập răng, đậu xanh ngọt bùi, thấm lạnh dần qua miệng lưỡi, rồi tan từ từ… suốt cả thời thơ ấu.

Năm cắc là giá của nửa ổ bánh mì tai heo, nửa má xoài tượng, một xâu tầm ruột ướp nước đường, một cuốn bò bía, một trái bắp vườn, một ly đậu xanh đậu đỏ bánh lọt, một dĩa gỏi đu đủ bò khô, một khúc mía hấp, năm cái bánh bò nước dừa xanh đỏ, hay mười viên cái bi ròn ròn cái bi ngon ngon nho nhỏ…

Một một đồng thì (ôi thôi) là cả bầu một trời, và một thời, hạnh phúc! Một đồng mới mua được quả bóng bay. Chiều Sài Gòn mà không có bong bóng (cầm tay) để tung tăng e sẽ là một buổi chiều… tẻ nhạt. Những chùm bóng đủ mầu sẽ rực rỡ hơn khi phố đã lên đèn, và sẽ rực rỡ mãi trong trong ký ức của một kẻ tha hương – cho mãi đến khi tóc đã điểm sương.

Dù một trời, và một thời, hạnh phúc xa xưa đã vuột khỏi tay – như quả bóng bay, không may, chiều nào, vào thưở ấu thời – tôi vẫn “sẵn sàng” nổi nóng nếu ai vô ý đặt chân đến cái phần thiên đường đã mất của mình.

Lê Diễn Đức (giữa). Ảnh: Nguyễn Công Bằng

Có bữa, bên bàn nhậu, Lê Diễn Đức bỗng nói khơi khơi:

  • Tôi là dân Sài Gòn mà.

Tôi trợn trừng mắt:

  • Đừng có nói giỡn cha!
  • Thiệt mà, tôi sống ở Sài Gòn gần hai chục năm chớ đâu phải ít.

Tới lúc đó tôi mới chợt nhớ ra là mình đã bỏ đi từ quá lâu rồi, còn tư cách gì để mà giữ S.G (mãi mãi) nữa nên đành xuôi xị:

  • Bộ lâu dữ vậy sao?

Sau Lê Diễn Đức, tôi còn biết thêm nhiều nhân vật khác, cũng đã chọn S.G làm quê hương chỉ vì nó quá … dễ thương – theo mắt nhìn của họ:

–  Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh: “Một đêm, chạy xe máy về nhà (ông cậu), tới ngã tư đèn đỏ, ngó hai bên đường vắng hoe, hắn rồ ga tính vọt thẳng. Bất ngờ nghe bên tai tiếng thắng xe cái rẹc, liếc qua thấy ông lão với chiếc xích lô trống không.

Quê quá, phải dừng theo! Nhiều năm sau, ở Hà Nội, những ngã tư đông đúc như Tràng Tiền-Hàng Bài, ngoài một chú cảnh sát đứng bục, thường phải thêm có 4 chú cầm gậy chặn bốn phía, lùa, đuổi mà cũng không xuể.

Lên xe bus, xe đò trong Nam luôn cho hắn những cảm giác thích thú để quan sát. Đủ các hạng người, mà sao không chen lấn, cãi vã. Khách nhường ghế cho nhau, thăm hỏi, chỉ đường tận tình (những thứ mà cho đến hôm nay, trên xe bus Hà Nội, người ta phải ghi lên tấm biển to đùng, thành “Nội quy”). Lơ xe lăng xăng xách, buộc chằng đồ cẩn thận cho khách, nhảy lên mui, đeo bên thành xe la nhắc người dưới đường cẩn thận.”

Nguyễn Hữu Vinh. Ảnh: ma-tu-an.blogspot

Nguyễn Quang Lập: “Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn…Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời.

Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí…

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính.

Nguyễn Quang Lập. Biếm hoạ: Babui

Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.”

Tôi cũng “sửng sốt” không kém khi nhìn thấy bức hình của một người S.G  (nữa) giữa phố Nguyễn Huệ – vào chiều chủ nhật, 15 tháng 5 năm 2016 vừa qua – trên trang RFA:

Bức ảnh người đàn ông toạ kháng một mình trên phố đi bộ Nguyễn Huệ chiều 15 tháng 5 được chụp bởi một người chơi ảnh tên Bùi Dzũ nhanh chóng được lan truyền rộng rãi trên các trang mạng xã hội. Không lâu sau đó, cư dân mạng biết tìm ra đó chính là nhà báo/blogger Huỳnh Ngọc Chênh, người đã phát động phong trào toạ kháng để đòi sự minh bạch về thảm hoạ môi trường. Tấm ảnh được chính người chụp gọi tên là “Người đàn ông cô đơn”.

Ảnh: Bùi Dzũ

Tôi không biết rõ Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Quang Lập, Huỳnh Ngọc Chênh … nguyên quán nơi đâu nhưng biết chắc là họ đã sống hết lòng (qua từng hơi thở, từng dòng chữ, từng bước chân) để cố giữ lại được cho S.G – phần nào – nhân phẩm và đạo lý.

Bao giờ mà ở những góc đường vẫn có những bình trà đá, những thùng bánh mì, những quán cơm, những nơi vá xe (miễn phí) và bao giờ mà vẫn còn những vị thức giả sẵn sàng đối diện với cường quyền thì S.G vẫn chưa thể mất. Tôi không mất S.G đâu nhưng thành phố này đã mất tôi, và mất tự lâu rồi. Cái thứ đồ bỏ chạy (mất dép) trong cơn quốc biến, và cúi mặt đi luôn như tôi thì dù có mất luôn (phỏng) có gì đáng để bận tâm.

Nancy Nguyễn trả lời RFA về việc bị an ninh VN bắt giữ 6 ngày

Nancy Nguyễn trả lời RFA về việc bị an ninh VN bắt giữ 6 ngày

Gia Minh, PGĐ Ban Việt Ngữ RFA
2016-05-27

nancy-630.jpg

Nancy Nguyễn kể lại thời gian bị giam giữ và thẩm vấn bởi an ninh Việt Nam với phóng viên Gia Minh Đài Á Châu Tự Do.

RFA PHOTO

00:00/00:00

Your browser does not support the audio element.

Cô Nancy Nguyễn, một người trẻ lên tiếng cho dân chủ- nhân quyền trong nước, vừa qua về Việt Nam bị an ninh bắt đi mất tích 6 ngày.

Khi ra khỏi Việt Nam, cô dành cho Gia Minh của Đài Á Châu Tự Do cuộc nói chuyện kể lại thời gian bị giam giữ và thẩm vấn bởi an ninh Việt Nam. Trước hết cô cho biết:

Nancy Nguyễn: Sự việc cũng chóng vánh lắm. Tôi nghĩ những người về Việt Nam và những người đứng ra kêu gọi biểu tình không bao giờ nghĩ mình có thể thoát khỏi sự truy lùng của an ninh Việt Nam đâu. Cho nên ai nghĩ mình không bị bắt, mình có thể trốn thì tôi nghĩ đó sẽ là chuyện sẽ không xảy ra.

Tuy nhiên thời điểm tôi về có chút nhạy cảm vì chỉ ngày hôm trước, hôm sau thì đến ngày bầu cử, và tổng thống Mỹ đến thăm.

Vắn tắt sự việc thì ngày 19 tôi còn ở trong khách sạn; họ lên đập cửa phòng và kiểm tra hành chính. Lúc đó khoảng 11 giờ khuya. Khi kiểm tra hành chính thì họ câu lưu luôn, theo lời của họ là ‘câu lưu  kiểm tra hành chính’ để làm rõ vấn đề ‘sử dụng giấy tờ giả’ mặc dù tất nhiên chuyện đó không có. Chứ nếu dùng giấy tờ giả thì tôi không được ngồi nói chuyện ở đây đâu, vẫn còn bị giữ trong đó.

Tất nhiên họ không có bằng chứng hay cơ sở nào để giữ người hết nên họ phải thả.

Gia Minh: Đó là cái cớ để giữ người nhưng khi làm việc họ có làm việc gì về vấn đề giấy tờ giả hay không, và cô Nancy phản bác về cáo buộc đó thế nào?

“ Trong khoảng hai ngày đầu khi bị câu lưu thì tôi không trả lời bất cứ câu hỏi nào. Tôi cự tuyệt trả lời.
– Nancy Nguyễn”

Nancy Nguyễn: Khi họ đưa tôi về đồn gọi là câu lưu hành chính thì họ câu lưu từ 11 giờ khuya và họ thẩm vấn mãi cho đến 5 giờ chiều ngày hôm sau. Trong thời gian thẩm vấn như vậy phần lớn họ chỉ xoay quanh hoạt động của mình mà họ cho là chống đối chính quyền. Còn vấn đề sử dụng giấy tờ giả thì hầu như họ không nhắc tới.

Họ nói tôi làm những việc mà có cáo buộc liên quan đến hoạt động dân sự, về dân chủ.

Gia Minh: Khi họ cáo buộc như vậy thì cô có phản bác những điều đó ra sao?

Nancy Nguyễn: Trong khoảng hai ngày đầu khi bị câu lưu thì tôi không trả lời bất cứ câu hỏi nào. Tôi cự tuyệt trả lời. Họ hỏi tên, ở đâu, làm gì thì tôi nói cần gặp luật sư của mình chứ tôi không có nhu cầu trả lời những câu hỏi này.

Khi họ thấy không thể nào sử dụng biện pháp dân sự để yêu cầu mình khai được thì họ nhốt tôi vào trong một phòng khách sạn, có an ninh ngày đêm canh thẳng trong phòng. Rồi qua một đêm đến chiều hôm sau nữa họ kéo tôi trở lại về đồn và đọc lệnh bắt khẩn cấp luôn. Từ khách sạn họ đưa về đồn công an phường 10, quận 5.

Sau khi họ bắt khẩn cấp, lúc đó mình đã là bị can rồi nên họ đưa lên xe chuyên dụng chở về Trại tạm giam B34.

Gia Minh: Và trong trại tạm giam thì họ làm việc thế nào, giam ra làm sao?

Nancy Nguyễn: Khi bắt về Trại tạm giam cũng làm những thủ tục nhập trại như lăn tay, làm căn cước, lấy lời khai… Ở trong đó với tư cách là bị can rồi thành ra… Cũng tức cười lắm khi nhập trại họ nói với tư cách người bị tạm giữ, cô có những quyền như thế này: tự biện hộ, nhờ người biện hộ hoặc có luật sư. Nhưng tôi yêu cầu cần có người biện hộ thì họ nói không có. Ở Trại tạm giam họ giữ tôi từ 6 giờ chiều cho tới khuya và nhập vào ‘jail’ tức nơi ‘tạm giữ’.

Tất cả những câu hỏi liên tục của họ cho đến lúc đó thì tôi nói theo như những điều mà các anh vừa mới nói với tôi thì tôi có quyền có luật sư và người biện hộ nên tôi yêu cầu có luật sư và người biện hộ. Họ nói nếu như vậy thì làm đơn, và tôi cũng làm đơn nhưng họ cũng coi như tờ giấy lộn thôi.

Gia Minh: Khi ra khỏi Việt Nam họ có nói gì để có chuyện đó?

Nancy Nguyễn: An ninh họ làm công việc của họ và họ có một gửi gắm là nếu thấy không bị đánh đập, không bị nhục hình, không làm gì tôi thì cũng nên lên tiếng để ‘giải oan’ cho người ta vì tại sao vẫn có dư luận về đánh đập.

Tôi không biết lý do họ không đánh tôi vì tôi là người nước ngoài hay họ không có đánh đập. Họ có hỏi bởi vì cô là người nước ngoài nên chúng tôi không đánh hay là ai tôi cũng không đánh; tại sao cô không hỏi? Tôi nghĩ nếu có hỏi đi chăng nữa thì câu trả lời cũng quá rõ ràng rồi. Trước đó mình đã có nhiều bằng chứng rồi.

nancy-400.jpg

Cô Nancy Nguyễn, một người trẻ lên tiếng cho dân chủ- nhân quyền trong nước, vừa bị an ninh Việt Nam bắt mất tích 6 ngày. RFA PHOTO

Những người làm việc trực tiếp với tôi họ không xâm phạm về mặt thể chất; nhưng tôi nghĩ có những đe dọa về tinh thần. Chẳng hạn như khi tôi nhất quyết không chịu hợp tác, họ không nói sẽ đánh nhưng họ nói bây giờ còn ngồi ở đó vì hành chính chứ mai mốt đưa vào ‘trong kia’ rồi thì nói thật không chịu nổi ba ngày đâu. Họ không đánh mình nhưng nói ‘cứng cỡ nào’ cũng không chịu nổi ba ngày.

Rồi khi đưa vào trại tạm giam thì họ nói cô đừng bao giờ nghĩ có sự can thiệp từ bên ngoài. Tôi biết mình là người nước ngoài và không có làm gì phạm pháp thì không có căn cứ, không có cơ sở để giữ tôi. Họ nói đừng có hy vọng có sự can thiệp nào từ lãnh sự hay bất cứ đâu; chuyện đó không bao giờ xảy ra. Một khi đã vào đây rồi thì chúng tôi có trách nhiệm điều tra cho đến khi nào thấy cần. Cô có thể ở đây 3 ngày, 3 tháng, 3 năm hoặc 30 năm tùy vào thái độ của cô chứ không có bên ngoài nào có thể giúp được hết. Đó là những điều mà tôi nghĩ là một trong những đe dọa về tinh thần.

Họ không xâm phạm thể chất, không đánh đập, không đe dọa nhưng đối với một số người khi bị bắt cóc, mất tích và giam giữ như vậy và trong một thời gian dài (từ ngày 19 đến 25 tháng 5) đó không được quyền gặp gỡ bất cứ ai. Đối với một vài tiêu chuẩn thì đó cũng coi là tra tấn.

Gia Minh: Số người làm việc trong thời gian đó thế nào?

Nancy Nguyễn: Họ thay nhau khoảng chừng 30-40 người canh; nhưng trực tiếp thẩm vấn khoảng chừng 10 người, trong đó có 4 người chính chịu trách nhiệm hồ sơ của tôi. Tất cả đều là nam.

Gia Minh: Lúc này nếu dùng một vài tính từ để nói lại thời gian đó, thì cô dùng những từ nào?

Nancy Nguyễn: Nếu tôi không phải là người nước ngoài thì tôi không thể biết ở trong đó cảm thấy đến mức như thế nào; vì mình biết trước họ không thể có khả năng giữ mình. Những việc mình làm dù không hề có hành vi phạm pháp; nhưng mà theo họ không cần làm gì để lật đổ chính quyền mà chỉ có dấu hiệu có sự phản kháng là phạm pháp rồi theo qui định của pháp luật. Tức là không cần cấu thành hành vi, chỉ cần cấu thành hình thức. Xét về mặt pháp luật Việt Nam, họ có quyền khởi tố tôi rồi. Nếu tôi không phải là người nước ngoài thì với thái độ không hợp tác tôi sẽ phải bị truy tố.

Ở trong đó tôi nghĩ, mình là một người nước ngoài, hiểu chuyện đó thành ra phần nào yên tâm. Khi mà mình một phần nào có thể yên tâm mà họ còn có thể đe dọa đến mức như vậy thì thử hỏi những người trong nước họ lấy gì để bám víu vào, lấy gì để nuôi hy vọng!

Cảm giác của tôi không nghĩ nhiều về bản thân mình vì không có vấn đề gì; nhưng tôi nghĩ nhiều đến những anh chị em đã bị bắt trước và những anh chị em có thể sẽ bị bắt sau tôi. Cảm giác của họ như thế nào khi mà họ không có một ‘cái phao’, không có cơ quan nào đứng ra bảo vệ họ một cách hữu hiệu trước pháp luật!

Gia Minh: Được biết trước đây cô cũng từng đến những nơi như Hong Kong lúc tuổi trẻ, sinh viên đấu tranh và trước ngày 19 bị bắt cô cũng có gặp một số nhà hoạt động tại Việt Nam; như cô vừa chia sẻ bản thân có cái thế mà họ không thể làm quá mức, đồng thời rất ‘chia sẻ’ với những người dám công khai đấu tranh ở trong nước, cô có nhận định gì?

“ Họ nói đừng có hy vọng có sự can thiệp nào từ lãnh sự hay bất cứ đâu; chuyện đó không bao giờ xảy ra. Một khi đã vào đây rồi thì chúng tôi có trách nhiệm điều tra cho đến khi nào thấy cần.
– Nancy Nguyễn”

Nancy Nguyễn: Ở Hong Kong ít nhất họ có luật biểu tình, đó là hợp pháp và họ được pháp luật bảo vệ. Nếu chính phủ Hong Kong có những đàn áp, bắt bớ họ thì chính phủ sai, chứ còn người Hong Kong không sai.

Còn những bạn trẻ ở Việt Nam mà hoạt động không nhất thiết phải biểu tình, không nhất thiết phải xuống đường mà mới chỉ thể hiện ý chí phản kháng thôi thì đã là phạm pháp rồi như tôi vừa nói vấn đề ‘cấu thành hình thức’ chứ không phải ‘cấu thành hành vi’.

Tôi thấy giữa những bạn trẻ Hong Kong và những bạn trẻ Việt Nam thì những bạn trẻ Việt Nam ở vào tư thế rất nguy hiểm. Tôi rất phục tinh thần của họ.

Gia Minh: Dù vẫn còn quá sớm và còn những ‘ấn tượng’ khi ở Việt Nam, nhưng qua trải nghiệm vừa rồi có xuất phát những ý tưởng gì cho thời gian tới?

Nancy Nguyễn: Đó cũng là một phần lý do mà tôi muốn thử, gặp gỡ với các anh em an ninh. Ở Việt Nam để xác minh lại một số nghi vấn trước đây của tôi và hy vọng sẽ có được những cái nhìn thống nhất hơn trong tương lai. Hy vọng trong tương lai những gì tôi đã trải qua và các anh chị đã trải qua thì có thể đúc kết lại thành một kinh nghiệm nào đó cho những người đi sau.

Gia Minh: Cô Nancy còn có những chia sẻ gì nữa không?

Nancy Nguyễn: B34, Trại tạm giam và cũng có thể bị khởi tố- tôi là người nước ngoài nên không bị tra tấn, bị nhục hình; không biết các bạn có bị hay không, tôi không biết; nhưng đó là nơi mà tôi không muốn bất cứ ai tới trừ phi các bạn có nhu cầu đến đó tìm hiểu một vấn đề gì đó. Vì B34, Trại tạm giam là những nơi mà mình có thể có được rất nhiều thông tin mà mình làm sáng tỏ được nếu như mình hiểu mình đi đâu, mình làm gì. Tuy nhiên nếu như các bạn không có chủ đích đến đó để tìm hiểu một vấn đề nào đó thì tốt nhất là nên tránh. Vì đó là những nơi mà tôi không muốn bất cứ ai trong chúng ta bị đem tới.

Gia Minh: Thay mặt quí thính giả của Đài Á Châu Tự do cám ơn cô Nancy và chúc cô đạt được những điều mong muốn đạt đến.

Có nhiều dấu hiệu phi tang vụ cá voi chết trên biển Diễn Châu, Nghệ An

Có nhiều dấu hiệu phi tang vụ cá voi chết trên biển Diễn Châu, Nghệ An

GNsP (27.05.2016) – Vụ việc con cá voi trên chục tấn dạt vào bãi biển xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An vào sáng ngày 25/05/2016, đã được hàng ngàn người dân khắp nơi tới xem nhưng “cuộc giải cứu cá voi khổng lồ “ này đã đem lại một cái kết thiếu minh bạch là cá đã được đưa ra biển còn thực tế, hiện con Cá này sống chết như thế nào vẫn đang là một dấu hỏi lớn trên công luận.

Có mặt tại hiện trường lúc 8h 00 sáng 25/05/2016. CTV GNsP ại Vinh , đã tận mắt chứng kiến hàng ngàn người tới xem và gần 100 người dân vây quanh nhằm cứu con cá voi đen khổng lồ có chiều dài hơn 15m, ước tính nặng trên 10 tấn. Cá nằm bất động trong vũng nước đen ngòm, hôi hám.

Lúc đó có 3 chiếc máy múc hoạt động cách ì ạch nhằm mở đường để đưa cá ra biển nhưng hầu như vô vọng vì giải pháp quá thô sơ, cách làm việc không khoa học trong khi đó Thủy triều lên quá chậm.

Vào lúc 9 giờ 30 sáng, cá voi vẫn nằm bất động trong vũng nước đen ngòm ấy. Phần đầu của con cá đã chìm hẳn trong vũng nước đục ngầu, chỉ có phần đuôi và phần lưng nổi lên vì nước cạn.

Cận cảnh lúc ấy có hàng ngàn người vây xem và gần 100 người dân của các xóm 9a, xóm 9b xã Diễn Thịnh là những người từ sáng tới trưa luôn vây quanh “cá ông”. Và bằng những giải pháp thô sơ nhất là múc nước dội lên lưng cá, họ cố gắng để giải cứu “cá ông” nhưng vô vọng vì cá đã chết.

Vào lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày, mọi giải pháp mong cứu sống cá voi đã bất lực, chỉ biết chờ Thủy triều dâng lên.

Hơn 13 giờ cùng ngày, khi thủy triều dâng lên, thuyền của Bộ đội biên phòng cùng thuyền Ngư dân đã kéo xác cá ra biển trước sự chứng kiến và hoài nghi của hàng ngàn người dân.

Báo Tuổi Trẻ Online đưa tin: “Sau hơn 7 giờ mắc cạn vào bờ biển Diễn Châu, tỉnh Nghệ An do thủy triều xuống, con cá voi dài 15m đã được đẩy ra vùng nước sâu hơn nhưng sức khỏe rất yếu…”

Báo 24h.com.vn đưa tin và kết luận nửa vời rằng : “Đến hơn 12 giờ cùng ngày con cá được lực lượng chức năng và người dân địa phương đưa ra biển thành công. Tuy nhiên, hiện chưa rõ con cá voi có đủ sức bơi ra biển hay không” ?

Vấn đề được đặt ra ở đây là: Cách xử lý thiếu minh bạch trong vụ việc này.

13267849_1571853943107828_1924671627713173734_n2404b85f-ec4b-45b7-b87a-3212ad189a75d0528791-8cb4-4e33-8fe6-a17c4583dc1f

Tại sao Cá đã chết lại đưa ra biển ?

Nếu Phía nhà cầm quyền khẳng định: “Cá đang còn sống”, tại sao không công bố những bằng chứng “Cá sống” trước và sau khi đã được đưa ra biển?

Sau khi đưa Cá ra biển thì thả cá ở độ sâu bao nhiêu và thuộc vùng biển nào? Hiện trạng “con cá sống” ấy đang trôi dạt ở đâu?

Trong khi đó hàng ngàn người đã được chứng kiến sự việc và hơn 100 Ngư dân thuộc xóm 9 A, xóm 9 B xã Diễn Thịnh, Diễn Châu là những người luôn túc trực bên “cá ông” từ lúc 7 giờ tới 12 giờ ngày 25/05/2016, và họ khẳng định “cá ông” đã chết trước khi đưa ra biển.

Biết rằng trong thời điểm này việc một con cá voi trên chục tấn chết trên biển Nghệ An là việc “khó đỡ” của nhà cầm quyền nhưng nếu tình trạng này liên tiếp diễn ra và cách xử lý cứ tiếp tục lấp liếm như vậy thì hậu quả tiếp theo sẽ là gì?

Nam Việt, GNsP

Thêm một cá voi nặng khoảng 10 tấn chết trôi dạt vào bờ biển Diễn Thịnh

Thêm một cá voi nặng khoảng 10 tấn chết trôi dạt vào bờ biển Diễn Thịnh

GNsP (27.05.2016) – Một con cá voi nặng khoảng 10 tấn chết sình trôi dạt vào bờ biển Diễn Thịnh, Diễn Châu, tỉnh Nghệ An vào sáng nay, ngày 27.05.2016.

Theo anh Văn Dung, CTV GNsP cho biết: “Người dân đang kéo con cá voi này vào bờ. Hiện nay, có rất đông công an để giữ trật tự khi người dân ồ ạt đổ ra xem.”

Một bạn trẻ tên là Hoàng Giang nói với CTV GNsP rằng: “Cá voi trông rất lớn, chết nổi lềnh bềnh và bị phèo bong bóng trông rất kỳ. Có vẻ cá sắp bị nổ tung do chướng khí, xung quanh bốc mùi tanh hôi nồng nặc, ai cũng cảm thấy rất khó thở. Điều này chứng tỏ đã chết khá lâu.”

Anh Hoàng Giang cũng cho biết thêm: “Theo kinh nghiệm của ngư dân với hiện tượng này thì có lẽ cá chết cũng đã được cả tuần rồi. Người dân đang chờ thủy triều lên để đưa cá voi vào bờ chôn cất.

Cá voi chết sình, nổi lềnh bềnh, bị phèo bong bóng, bốc mùi hôi thối nồng nặc trôi dạt vào bờ biển Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An vào sáng ngày 27.05.2016.

Cá voi chết sình, nổi lềnh bềnh, bị phèo bong bóng, bốc mùi hôi thối nồng nặc trôi dạt vào bờ biển Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An vào sáng ngày 27.05.2016.

Vào trưa ngày 27.05.2016, ngư dân và người dân dựng lều, bạt tại bờ biển Diễn Thịnh để đợi thủy triều lên và vớt xác cá voi về chôn cất.

Vào trưa ngày 27.05.2016, ngư dân và người dân dựng lều, bạt tại bờ biển Diễn Thịnh để đợi thủy triều lên và vớt xác cá voi về chôn cất.

Những ngư dân và người dân xung quanh nơi đây có phản ứng dè dặt khi được hỏi nguyên do tại sao cá chết, mặc dù họ rất lo lắng vì môi trường biển đang bị ô nhiễm nặng khi chỉ chưa đầy 3 ngày đã có hai con cá voi chết trôi dạt vào bờ.

Ông Cao Hiếu – chủ tịch UBND xã Diễn Thịnh, huyện Diễn Châu, Nghệ An cũng đã phải xác nhận với báo chí rằng có hiện tượng cá voi chết cách bờ biển khoảng 1km. Tuy nhiên khi bị chất vấn liệu cá chết có phải là do ô nhiễm môi trường thì ông bảo chờ các cơ quan chức năng kiểm định mới có thể nói.

CTV GNsP đang có mặt tại hiện trường cho hay, vào lúc 11 giờ cùng ngày, người dân hiếu kỳ đổ về bãi biển Diễn Thịnh lên đến hàng ngàn người. Một số người đã dựng bạt, lều che nắng, che mưa để túc trực theo dõi diễn biến sự việc.

Cũng tại bờ biển này, cách đây chưa đầy hai ngày (25.05.2016), một con cá voi nặng khoảng 8 tấn, dài 8m trôi dạt và mắc cạn tại bờ biển Diễn Thịnh trong tình trạng yếu sức. Tuy nhiên, nhà chức trách đã quyết định dùng mọi phương tiện để đưa con cá voi này ra biển khơi trong cùng ngày mặc cho con cá voi đó có dấu hiệu nằm “bất động”. Và, hiện nay, nhà chức trách cũng chưa cho biết, hiện con cá voi này sống chết thế nào sau khi được đưa ra biển khơi.

Theo một ngư dân cho biết thì con cá đó cũng đã chết “lần trước khi bị dạt vào bờ thì sức khỏe của cá đã yếu lắm rồi, khi được kéo đi ra thì nó dường như không cử động và nhử thể đã chết.”

Ông Cao Hiếu cho rằng địa phương đã làm hết sức có thể, còn chuyện cá voi đưa có bị chết hay không thì ông không chắc. Ông cũng nói rằng sẽ báo cho tỉnh chờ phương án giải quyết.

Với ngư dân thì cá voi là một linh vật và việc cá chết bất thường như vậy là một điểm gở. Người dân đang yêu cầu nhà cầm quyền thẩm định để biết kết quả xử lý để an tâm làm ăn.

Sự lập lờ và né tránh và thiếu minh bạch của các cơ quan chức năng đang làm cho người dân bất an và khiến thảm họa môi trường ngày càng trầm trọng.

Pv.GNsP

Lời phát biểu của Tổng Thống Obama với nhân dân Việt Nam

Lời phát biểu của Tổng Thống Obama với nhân dân Việt Nam

(Tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, ngày 24-5-2016, lúc 12 giờ 11 phút ICT, giờ Việt Nam)

Bản dịch trọn vẹn của Thục Quyên

BVN: Trong ba ngày lưu lại ở Việt Nam, từ 23 đến 25-5-2016, Tổng thống Obama đã thể hiện mình là một con người cao thượng, chân thành và rất mực nhân ái. Một nhân vật siêu đẳng không dễ ở đâu và bao giờ ta cũng may mắn được tiếp xúc, được nghìn ngắm ở một cự ly gần. Lời phát biểu của ông tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình sáng ngày 24-5-2016 là một diễn ngôn có tầm thời đại làm cả thế giới phải lắng nghe, nhưng cũng là một lời nhắn nhủ chân tình rút ra từ trái tim đôn hậu. Rất tiếc, một số báo chí quốc doanh sau đó đã dịch không đầy đủ nhưng lại lập lờ không ghi rõ là trích dịch, nên bị dư luận rộng rãi lên tiếng phản đối, coi là “lươn lẹo”.

Chúng tôi đã đọc lại diễn từ của vị Tổng thống nước Mỹ và tìm được một cách phán xét thể tình hơn. Bài diễn văn cho thấy ông Obama biết rõ mọi chuyện bê bối mà đất nước chúng ta đang oằn lưng gánh trên vai, biết rõ mọi ý nghĩ, hành vi của người đối thoại với mình như đi guốc trong ruột họ, nhưng ông đã sẵn sàng bỏ qua, và vẫn kiên nhẫn đợi chờ – cách khu xử của ông trong hội ngộ với Việt Nam lần này rõ ràng là “đi nhẹ nói khẽ”.

Chắc chắn nhà cầm quyền đã phải đọc ông rất kỹ, đọc ông để học ông mà thay đổi dần thói tệ của mình. Nhưng thay đổi ngay thì đâu đã kịp. Cho nên, một ức đoán không xa sự thật cho lắm là đã có lệnh truyền cho báo chí phải lược bỏ những chỗ mà người trên “nhá” không nổi, lại sợ bàn dân truyền nhau như nuốt vào bụng rồi bỗng… nhìn thấu tỏ chân dung mình thì chí nguy. Đó là lý do khiến ta không nên nặng lời với báo chí. Cách tốt nhất là ta cố gắng công bố những bản dịch trung thực và trọn vẹn, để người dân tự mình tìm đọc, tự mình chiêm nghiệm.

Trên tinh thần ấy, dù đã đăng một bản dịch trong ngày hôm qua, Bauxite Việt Nam vẫn trân trọng gửi đến bạn đọc bản dịch mới của dịch giả Thục Quyên, một bản dịch bám sát từng câu chữ của bản gốc do Nhà Trắng công bố gần đây.

Bauxite Việt Nam

Xin chào. Xin chào Việt Nam! Thank you. Thank you so much.

Xin cám ơn Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã dành cho tôi sự chào đón nồng ấm và cho tôi hưởng lòng hiếu khách của người Việt trong chuyến thăm này. Và cũng xin cảm ơn các bạn Việt Nam có mặt ở đây ngày hôm nay, những người đến từ khắp nơi trên đất nước tuyệt vời này, trong đó có rất nhiều người trẻ đại diện cho sự năng động, tài năng và niềm hy vọng của Việt Nam.

Trong chuyến thăm này, bản tính thân thiện đặc trưng của người Việt đã rung động trái tim tôi. Tôi cảm nhận được tình bạn giữa hai dân tộc chúng ta trong đám đông những người đứng dọc hai bên đường vẫy tay chào kèm với nụ cười. Đêm hôm qua, tôi đến thăm phố cổ Hà Nội và được thưởng thức vài món ăn Việt Nam đặc sắc. Tôi có nếm bún chả và uống bia Hà Nội. Tuy nhiên tôi phải nhận xét một điều về những con đường nhộn nhịp của thành phố này: chưa bao giờ trong đời tôi, tôi lại thấy nhiều xe máy như vậy. Tôi chưa thử đi sang đường, nhưng có lẽ sau này khi tôi trở lại thăm Việt Nam, các bạn sẽ chỉ cho tôi cách qua đường như thế nào.

Tính trong những năm gần đây thì tôi không phải là Tổng thống Mỹ đầu tiên đến Việt Nam, nhưng tôi là Tổng thống đầu tiên vừa đến tuổi trưởng thành sau cuộc chiến giữa hai quốc gia chúng ta, như số đông các bạn. Khi lực lượng quân sự Mỹ cuối cùng rời Việt Nam tôi mới 13 tuổi. Lần đầu tiên tôi tiếp xúc với thực thể Việt Nam cũng như với người Việt Nam là ở Hawaii, nơi tôi lớn lên, nơi có một cộng đồng đầy tự tin của người Mỹ gốc Việt.

Đồng thời hiện nay tại Việt Nam cũng có nhiều người còn trẻ tuổi hơn tôi.

Cũng như hai con gái tôi, số lớn các bạn từ  khi sinh ra chỉ biết đến một điều duy nhất: đó là nền hòa bình và quan hệ đã bình thường hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Do đó, tuy rất ý thức về quá khứ, ý thức về những khó khăn trong lịch sử chung, nhưng tôi đến đây với chủ đích hướng về tương lai, với thịnh vượng, an ninh và  nhân phẩm, là những gì chúng ta có thể cùng góp sức đẩy mạnh.

Tôi cũng đến đây với lòng kính trọng di sản cổ xưa của Việt Nam.

Từ hàng thiên niên kỷ, các nông dân đã trồng cấy trên những mảnh đất này, mà vết tích còn để lại trên trống đồng Đông Sơn. Hà Nội đã đứng vững hơn nghìn năm trong vòng ôm của dòng sông [Hồng]. Thế giới đã biết quý trọng lụa và những bức họa của Việt Nam, và Văn Miếu minh chứng cho sự trau dồi kiến thức không ngừng của dân tộc Việt. Vậy mà trải qua nhiều thế kỷ, rất nhiều khi vận mệnh của Việt Nam từng bị người khác định đoạt. Mảnh đất yêu quý của các bạn không phải lúc nào cũng thuộc về các bạn. Nhưng như cây tre, tinh thần quật cường của dân tộc Việt đã được tinh kết trong câu thơ của Lý Thường Kiệt:

Sông núi nước Nam vua Nam ở,

             Rành rành đã định tại sách trời.

Hôm nay chúng ta cũng nên nhớ lại bề dày lịch sử giữa người Việt và người Mỹ mà chúng ta thường lãng quên. Hơn 200 năm trước, vị tổ lập quốc của chúng tôi, Thomas Jefferson, khi tìm kiếm gạo giống cho trang trại của mình, đã chọn gạo Việt Nam mà ông mô tả là “nổi tiếng vừa trắng, vừa ngon, mà năng suất lại cao nhất”. Không lâu sau đó, những thuyền buôn của Mỹ đã cập cảng Việt Nam, tìm cơ hội giao thương.

Trong Thế chiến II, người Mỹ đã tới hỗ trợ cuộc kháng chiến của dân tộc Việt chống lại ách đô hộ. Khi máy bay Mỹ bị bắn rơi, người dân Việt Nam đã cứu giúp những viên phi công gặp nạn.

Và ngày tuyên bố độc lập của Việt Nam, khi người dân đổ ra khắp đường phố Hà Nội, ông Hồ Chí Minh đã trích Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền bất khả xâm phạm, trong đó có Quyền Sống, Quyền Tự Do, và Quyền Mưu Cầu Hạnh Phúc”.

Vào một thời điểm khác, việc chia sẻ với nhau những giá trị nói trên và liên kết đánh đuổi thực dân có thể đã đưa chúng ta xích lại gần nhau sớm hơn. Tuy nhiên những kình địch trong Chiến tranh lạnh và nỗi lo sợ Chủ nghĩa Cộng sản đã dẫn chúng ta đến đối diện với một cuộc chiến. Và giống như tất cả mọi cuộc giao tranh trong lịch sử nhân loại, kết quả chúng ta chỉ học được một sự thật chua chát: chiến tranh dù nhắm mục đích nào cũng chỉ mang lại khổ đau và thảm họa.

Không xa nơi đây là Đài Tưởng niệm Liệt sĩ, cũng như các bàn thờ tại những gia đình Việt Nam khắp nơi trong nước, vẫn đang tưởng niệm khoảng 3 triệu người, là thường dân và quân sĩ của cả hai bên đã thiệt mạng. Tại Bức tường Tưởng niệm Chiến tranh ở Washington, chúng tôi có thể chạm vào tên của 58.315 người Mỹ đã bỏ mình trong cuộc chiến. Trong cả hai quốc gia của chúng ta, những cựu chiến binh và gia đình những người đã nằm xuống vẫn còn quay quắt nhớ đến nhiều bè bạn và người thương đã mất.

Người Mỹ chúng tôi đã học bài học, dù khác quan điểm nhau trong cách nhìn cuộc chiến, chúng ta vẫn luôn phải vinh danh những binh sĩ tham chiến và phải chào đón họ trở về với sự tôn kính mà họ xứng đáng được hưởng. Trong tinh thần đó, người Việt và người Mỹ chúng ta hôm nay có thể cùng nhau nhìn nhận nỗi đau và sự hy sinh cả hai bên đã phải gánh chịu.

Gần đây hơn, trong hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc, và ngày nay, thế giới có thể nhìn rõ những thành tựu ngoạn mục của các bạn. Với những đổi mới kinh tế và hiệp định thương mại tự do, kể cả với Mỹ, các bạn đã gia nhập kinh tế toàn cầu, bán hàng ra khắp thế giới. Đầu tư nước ngoài đang vào Việt Nam. Và với một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á, Việt Nam đã vươn lên  thành một quốc gia thu nhập trung bình.

Chúng tôi có thể nhìn thấy sự phát triển của Việt Nam qua những tòa nhà chọc trời ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, những trung tâm thương mại và khu đô thị mới. Chúng tôi cũng thấy điều ấy qua những vệ tinh Việt Nam phóng vào không gian, và qua cả một thế hệ đang nối mạng internet để khởi nghiệp và thử hướng đi mới. Chúng tôi còn thấy nó thể hiện với hàng chục triệu người Việt Nam sử dụng Facebook và Instagram, không chỉ để đăng ảnh selfies [tự chụp], dù tôi có được nghe là các bạn hay chụp ảnh selfies lắm và cho tới giờ tôi phải nói là vô khối người đã đề nghị chụp ảnh selfies với tôi. Không chỉ thế, các bạn cũng lên tiếng vì những điều mình quan tâm, như việc cứu những hàng cây cổ thụ ở Hà Nội.

Tất cả những sự năng động đó đã đem lại tiến bộ thật sự trong cuộc sống của người dân. Việt Nam đã giảm nghèo một cách đáng kể, tăng thu nhập gia đình và nâng hàng triệu người nhanh chóng lên tầng lớp trung lưu. Đói nghèo, bệnh tật, tỷ lệ tử vong đối với bà mẹ và trẻ sơ sinh đều đã giảm. Số người được tiếp cận điện nước, số trẻ em trai và gái được đi học, tỉ lệ biết chữ, đều tăng lên. Đó là một tiến bộ phi thường mà các bạn đã làm được trong một thời gian rất ngắn.

Đi cùng với sự thay đổi của Việt Nam cũng là sự thay đổi trong quan hệ giữa hai quốc gia của chúng ta. Chúng ta đã nhận được bài học từ Hòa thượng Thích Nhất Hạnh khi ông dạy: “Đối thoại thực sự là khi cả hai bên đều sẵn sàng thay đổi”. Khi đó, chính cuộc chiến từng chia rẽ chúng ta lại trở thành nguồn cho vết thương liền lại.

Nó cho phép chúng ta tìm và đưa những người mất tích trở về nhà, giúp gỡ bỏ những bom mìn chưa nổ vì không thể để bất cứ đứa trẻ nào phải mất chân khi đang chơi đùa bên ngoài. Chúng tôi cũng vừa tiếp tục giúp đỡ người khuyết tật, kể cả trẻ em, vừa giúp khắc phục hậu quả của chất độc da cam – dioxin – để Việt Nam có thể tái sử dụng thêm nhiều đất. Chúng ta tự hào về công việc chung ở Đà Nẵng, và chúng tôi sẽ tiếp tục giúp đỡ các bạn tại Biên Hòa.

  Cũng đừng quên quá trình hòa giải giữa hai nước đã được bắt đầu bởi những cựu chiến binh, những người đã từng đối mặt trong cuộc chiến. Như Thượng nghị sĩ John McCain, từng là tù nhân chiến tranh nhiều năm, khi gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: hai nước chúng ta không nên là kẻ thù mà nên là bạn. Hãy nghĩ tới biết bao cựu chiến binh Việt và Mỹ khác đã chung tay giúp chúng ta hàn gắn và xây dựng những quan hệ mới. Về mặt này trong những năm qua, ít ai có thể làm hơn cựu Trung úy hải quân nay là Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, cũng đang có mặt nơi đây. Thay mặt tất cả, cám ơn John vì những nỗ lực phi thường của ông.

Vì những cựu chiến binh của chúng ta đã chỉ đường, vì những người từng tham chiến đã can đảm đi tìm hòa bình, nhân dân hai nước đã đến gần nhau hơn bao giờ hết. Giao thương đã tăng. Sinh viên, học giả hai nước cùng nhau học tập. Chúng tôi đón nhận sinh viên Việt Nam đến Mỹ học nhiều nhất trong các nước Đông Nam Á. Và mỗi năm du khách Mỹ đến Việt Nam càng nhiều hơn, kể cả những người “khách ba lô” Mỹ trẻ, thăm Hà Nội 36 phố phường và những cửa hàng ở Phố cổ Hội An, thăm Kinh đô Huế.

Chúng ta, Việt và Mỹ, đều có thể đồng cảm với những lời của nhạc sĩ Văn Cao: “Từ đây người biết quê người. Từ đây người biết thương người”.

Trên cương vị Tổng thống, tôi đã bắt mình nhìn vào những tiến triển đó. Với mối quan hệ đối tác toàn diện mới, Chính phủ  hai nước đang hợp tác chặt chẽ hơn bao giờ hết. Và với chuyến thăm này, chúng ta đã đặt mối quan hệ Việt-Mỹ lên một nền tảng vững chắc hơn cho nhiều thập kỷ tới. Dường như gắn bó lịch sử giữa hai quốc gia, bắt đầu từ Tổng thống Thomas Jefferson 200 năm trước, đến nay đã trọn một vòng. Chúng ta đã mất nhiều tháng năm và nỗ lực, nhưng giờ đây chúng ta có thể nói điều mà trước đây là không tưởng:  Việt Nam và Mỹ hôm nay là đối tác của nhau

Kinh nghiệm của chúng ta cũng là bài học cho cả thế giới. Ở một thời điểm mà biết bao xung đột có vẻ không thể giải quyết và dường như không bao giờ chấm dứt, chúng ta đã chứng minh là trái tim có thể đem tới thay đổi,và tương lai sẽ khác đi  nếu ta không chấp nhận làm tù nhân cho quá khứ. Chúng ta đã cho thấy rằng hòa bình tốt đẹp hơn chiến tranh, rằng tiến bộ và phẩm giá con người được phát huy tốt nhất qua hợp tác chứ không qua xung đột. Đó là những điều Việt Nam và Mỹ có thể chỉ rõ cho thế giới.

Sự hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam dựa trên những chân lý cơ bản.

Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, không nước nào có thể áp đặt ý muốn hoặc quyết định vận mệnh thay cho các bạn. Điều này là một mối quan tâm của Mỹ. Chúng tôi quan tâm đến sự thành công của Việt Nam. Nhưng quan hệ đối tác toàn diện của chúng ta còn ở những giai đoạn đầu. Và trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ, tôi muốn chia sẻ với các bạn tầm nhìn mà tôi tin là sẽ dẫn lối cho chúng ta trong nhiều thập kỷ tới.

Trước hết, chúng ta hãy cộng tác để đem lại những cơ hội thực thụ và sự thịnh vượng cho nhân dân hai nước. Chúng ta biết những chất liệu tạo nên thành công về kinh tế trong thế kỷ 21: Trong nền kinh tế toàn cầu, đầu tư và thương mại sẽ chuyển đến nơi nào có pháp quyền, vì không ai muốn phải hối lộ để được kinh doanh. Không ai muốn bán hàng hay đi học mà không biết mình sẽ được đối xử như thế nào.

Trong nền kinh tế dựa trên tri thức, việc làm chỉ nảy sinh nơi con người được tư duy độc lập, được trao đổi ý tưởng và sáng tạo. Đối tác kinh tế thực thụ không chỉ là nước này đến khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước kia, mà là đầu tư vào nguồn tài nguyên lớn nhất của chúng ta, đó là con người với những kỹ năng và tài năng của họ, dù sống ở thành thị hay làng quê.

Đó chính là hình thức đối tác Hoa Kỳ đề nghị.

Như tôi đã công bố hôm qua, lần đầu tiên Đoàn Hoà Bình (Peace Corps) sẽ đến Việt Nam, tập trung vào công tác giảng dạy tiếng Anh. Sau thế hệ thanh niên Mỹ đến đây tham chiến, sẽ có một thế hệ mới đến để dạy học, xây dựng và thắt chặt mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước. Một số công ty công nghệ và học viện hàng đầu của Mỹ đang hợp tác với các trường đại học Việt Nam để tăng cường đào tạo khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học và y tế. Vì dù vẫn tiếp tục mở rộng cửa đón sinh viên Việt Nam đến Mỹ học, chúng tôi tin rằng những người  trẻ xứng đáng có cơ hội được đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế ngay tại đây, tại Việt Nam.

Và đó là một trong những lý do tại sao chúng tôi rất hứng thú khi mùa thu này Đại học Fulbright sẽ khai trương ở thành phố Hồ Chí Minh. Đây là trường đại học độc lập phi lợi nhuận đầu tiên tại Việt Nam, với nền học thuật hoàn toàn tự do, và có học bổng cho những sinh viên trong hoàn cảnh khó khăn. Sinh viên, học giả, và các nhà nghiên cứu sẽ tập trung vào chính sách cộng đồng, quản trị, kinh doanh, vào kỹ thuật, tin học, vào các ngành học khai phóng – văn học nghệ thuật… Tất cả, từ thơ Nguyễn Du, đến triết lý Phan Châu Trinh đến toán học Ngô Bảo Châu.

Chúng tôi cũng sẽ duy trì hợp tác với lớp người trẻ và doanh nhân, vì chúng tôi tin rằng khi có thể tiếp cận công nghệ, kỹ năng và nguồn vốn cần thiết thì không còn gì ngăn trở được các bạn, cả các bạn gái, những phụ nữ tài giỏi của Việt Nam. Chúng tôi nghĩ bình đẳng giới là một nguyên tắc quan trọng. Từ thời Hai Bà Trưng tới nay, những người phụ nữ mạnh mẽ và tự tin đã vẫn góp phần đưa Việt Nam đi tới. Đây là một điều hiển nhiên, khắp thế giới đi đâu tôi cũng nói điều này, rằng gia đình, cộng đồng và đất nước sẽ thịnh vượng hơn nếu phụ nữ và các em gái có cơ hội bình đẳng để thành công trong trường học, sở làm và trong cơ quan chính quyền. Đúng ở mọi nơi, và cũng đúng ở Việt Nam.

Chúng tôi cũng sẽ nỗ lực phát huy tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam qua Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). TPP sẽ giúp Việt Nam bán ra thế giới nhiều sản phẩm hơn, đồng thời thu hút những nguồn đầu tư mới. Nhưng TPP sẽ đòi hỏi cải cách để bảo vệ người lao động, pháp quyền và sở hữu trí tuệ. Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam thực hiện hiệu quả những cam kết.

Tôi muốn các bạn biết rằng, là Tổng thống Mỹ, tôi ủng hộ mạnh mẽ TPP cũng vì các bạn có thể  sẽ mua thêm nhiều hàng hóa  “Made in America” của chúng tôi.

Hơn nữa tôi ủng hộ TPP vì những lợi ích chiến lược quan trọng. Việt Nam sẽ bớt phải phụ thuộc một đối tác kinh tế duy nhất, có thể mở rộng quan hệ với nhiều đối tác, trong đó có Mỹ. TPP sẽ tăng cường hợp tác khu vực, giúp đối phó với sự bất bình đẳng về kinh tế, và thúc đẩy nhân quyền bằng những cải thiện lương bổng cũng như điều kiện làm việc an toàn hơn. Lần đầu tiên tại Việt Nam, có quyền thành lập công đoàn độc lập, có các quy định cấm lao động cưỡng bức và lao động trẻ em. Cũng có những phương thức bảo vệ môi trường và những tiêu chuẩn phòng chống tham nhũng cao hơn bất cứ hiệp định thương mại nào trong lịch sử. Đó là tương lai mà TPP đem lại cho tất cả chúng ta, vì tất cả chúng ta – Hoa Kỳ, Việt Nam và các đối tác khác – sẽ bị ràng buộc bởi những nguyên tắc mà chính chúng ta đã cùng tạo dựng. Tương lai đang chờ đợi chúng ta. Chúng ta cần hoàn thành nó để bảo đảm thịnh vượng kinh tế và an ninh quốc gia.

Điều này đưa đến lĩnh vực thứ hai mà chúng ta có để hợp tác, đó là bảo đảm an ninh cho đôi bên. Trong chuyến thăm này, chúng ta đồng ý đẩy mạnh thêm hợp tác an ninh và củng cố lòng tin giữa hai quân đội. Chúng tôi sẽ tiếp tục huấn luyện và cung cấp thiết bị cho lực lượng tuần duyên  để giúp nâng cao năng lực hàng hải Việt Nam. Chúng ta sẽ hợp tác cứu trợ nhân đạo khi có thiên tai. Với công bố tôi đưa ra hôm qua về việc dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí, Việt Nam có cơ hội tiếp cận những thiết bị quân sự cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia. Và nước Mỹ đang thể hiện cam kết bình thường hóa hoàn toàn quan hệ với Việt Nam.

Trong phạm vi rộng hơn, thế kỷ 20 đã dạy cho tất cả các quốc gia, trong đó có Mỹ và Việt Nam, rằng trật tự thế giới mà nền an ninh hỗ tương của chúng ta phụ thuộc, có nền tảng ở một số chuẩn mực và quy tắc nhất định. Mọi quốc gia đều có chủ quyền, dù nhỏ hay lớn, chủ quyền của một quốc gia phải được tôn trọng, và lãnh thổ không thể bị xâm phạm. Nước lớn không được bắt nạt nước nhỏ, tranh chấp phải được giải quyết trong hòa bình.

Các cơ chế khu vực như ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (East Asian Summit) cần tiếp tục tăng cường. Đó là điều mà tôi tin tưởng. Mà nước Mỹ tin tưởng. Đó là quan hệ đối tác Mỹ đem lại cho khu vực này. Với lòng mong muốn phát huy tinh thần tôn trọng và hòa giải, tôi sẽ là Tổng thống Mỹ đầu tiên đến thăm Lào vào cuối năm nay.

Tại Biển Đông, Mỹ không can dự vào những tranh chấp, nhưng chúng tôi sát cánh với các đối tác giữ vững những nguyên tắc cốt lõi như tự do hàng hải, tự do hàng không, giao thương hợp pháp không thể bị ngăn cản, giải quyết tranh chấp phải bằng biện pháp hòa bình và theo luật pháp quốc tế. Xúc tiến thêm mối quan hệ đối tác, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục vận hành máy bay, tàu thủy đến hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, và ủng hộ quyền của tất cả các nước được làm như vậy.

Ngay cả khi chúng ta hợp tác chặt chẽ hơn trong những lĩnh vực tôi vừa miêu tả, quan hệ đối tác của chúng ta còn có thành tố thứ ba – liên quan tới những bất đồng còn tồn tại giữa hai Chính phủ, trong đó có vấn đề nhân quyền.

Tôi không ám chỉ riêng Việt Nam. Không quốc gia nào hoàn hảo cả. Qua hai thế kỷ, nước Mỹ cũng vẫn phải nỗ lực hầu mong đạt được những lý tưởng chính chúng tôi đã đề ra khi lập quốc. Chúng tôi vẫn đang đối phó với những hạn chế của mình như, tiền bạc chi phối chính trị, gia tăng bất bình đẳng kinh tế, phân biệt chủng tộc trong hệ thống tư pháp, phụ nữ vẫn chưa được hưởng mức lương cao như nam giới.

Chúng tôi vẫn còn nhiều vấn đề, và tôi cam đoan, chúng tôi không miễn nhiễm với chỉ trích. Tôi vẫn nghe chỉ trích mỗi ngày. Nhưng sự giám sát đó, tranh luận cởi mở, đối mặt với khiếm khuyết của mình, cho người dân có tiếng nói, giúp chúng tôi vững mạnh hơn, thịnh vượng hơn, và công bằng hơn.

Như tôi đã nói, Mỹ sẽ không tìm cách áp đặt mô hình Chính phủ của mình lên Việt Nam. Những quyền mà tôi nhắc tới [tôi tin rằng] không chỉ của Mỹ, mà là những giá trị phổ quát, được nêu trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền. Những giá trị này cũng được viết trong Hiến pháp của nước  Việt Nam: Người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền hội họp, quyền lập hội, và quyền biểu tình. Tất cả những điều này đều nằm trong Hiến pháp của Việt Nam.

Thật vậy, đây là vấn đề liên quan đến tất cả chúng ta, mỗi quốc gia, phải luôn cố gắng áp dụng những nguyên tắc đó, đảm bảo rằng chúng ta, những người giữ chức vụ trong chính quyền, đang trung thành với những lý tưởng đó.

Trong những năm gần đây, Việt nam đã đạt được một số tiến bộ. Việt Nam đã cam kết sửa đổi luật pháp cho phù hợp với Hiến pháp mới của mình và với các tiêu chuẩn quốc tế. Theo những luật mới ban hành, Chính phủ sẽ công khai hóa ngân sách nhiều hơn và người dân có quyền tiếp cận thông tin nhiều hơn. Như tôi cũng đã nhắc tới, Việt Nam đã cam kết cải cách kinh tế và lao động theo TPP. Như vậy, tất cả đều là những bước tiến tích cực.

Cuối cùng thì tương lai của Việt Nam sẽ được quyết định bởi người Việt Nam. Mỗi quốc gia sẽ vạch ra đường đi của riêng mình, vì hai quốc gia chúng ta có những truyền thống khác biệt, hệ thống chính trị cũng như văn hóa khác biệt.  Nhưng là một người bạn của Việt Nam, xin cho phép tôi chia sẻ quan điểm của mình:  tại sao tôi tin rằng các quốc gia sẽ thành công hơn khi những giá trị phổ quát được duy trì.

Khi có tự do biểu đạt và tự do ngôn luận, và khi người dân có thể chia sẻ ý tưởng cũng như tiếp cận Internet và mạng xã hội mà không bị ngăn cấm, điều đó sẽ thúc đẩy đổi mới, nhiên liệu cần thiết để nền kinh tế phát triển mạnh. Đó là môi trường đưa tới sáng tạo. Facebook đã hình thành như vậy. Một số các công ty lớn của chúng tôi đã bắt đầu như vậy – Vì một người nào đó có một sáng kiến mới, khác lạ. Và người đó được quyền chia sẻ nó.

Khi có tự do báo chí, khi các nhà báo và blogger có thể rọi sáng những bất công, lạm dụng, thì quan chức sẽ phải chịu trách nhiệm và xã hội sẽ thêm niềm tin vào hệ thống chính trị đang vận hành tốt.

Khi ứng cử viên được tự do tranh cử và vận động, cử tri được chọn lãnh đạo qua bầu cử tự do và bình đẳng, quốc gia sẽ ổn định hơn khi người dân biết tiếng nói của mình có tác dụng, và một sự thay đổi ôn hòa là có thể.  Như thế, sẽ có thêm người gia nhập vào hệ thống.

Khi có tự do tôn giáo, không những con người có dịp hoàn toàn biểu lộ tình thương và lòng từ bi là cốt lõi của mọi tôn giáo lớn, mà những cộng đồng tôn giáo còn có thể cống hiến nhiều hơn cho xã hội qua những hoạt động giáo dục và y tế, chăm lo những người nghèo và những người bị thua thiệt trong xã hội.

Khi có tự do lập hội, khi người dân được tự do thành lập các tổ chức xã hội dân sự, thì quốc gia có thể đối đầu với nhiều vấn đề mà đôi khi Chính phủ không thể giải quyết một mình.

Do đó theo quan điểm của tôi, thượng tôn các quyền này không đe dọa mà thật ra củng cố sự ổn định, làm nền tảng cho tiến bộ.

Cuối cùng, chẳng phải các dân tộc, trong đó có Việt Nam, khi đánh đổ chủ nghĩa thực dân, đều là để đòi các quyền đó sao? Tôi tin rằng nâng cao các quyền đó chính là thể hiện hoàn hảo nhất sự độc lập mà biết bao người trân trọng, kể cả ở đây, một đất nước với tuyên ngôn là “của dân, do dân, vì dân”.

Việt Nam sẽ làm khác Mỹ. Và mỗi chúng ta sẽ làm khác các quốc gia trên thế giới. Nhưng đây là  những nguyên tắc cơ bản mà tôi nghĩ chúng ta nên cố gắng áp dụng và cải thiện.

Vì sắp kết thúc nhiệm kỳ, tôi có lợi thế đã từng suy nghiệm suốt 8 năm về cách hệ thống của chúng tôi đã vận hành và tương tác với các quốc gia trên thế giới ra sao, những quốc gia cũng đang không ngừng cố gắng cải thiện hệ thống của họ.

Sau hết, tôi nghĩ quan hệ đối tác sẽ giúp chúng ta đối phó với những thách thức toàn cầu mà không nước nào có thể giải quyết một mình. Nếu chúng ta muốn bảo đảm sức khỏe của người dân và vẻ đẹp của hành tinh này, thì tăng trưởng phải mang sắc thái ổn định và bền vững. Những kỳ quan thiên nhiên như vịnh Hạ Long và hang Sơn Đoòng phải được bảo tồn cho các thế hệ con cháu chúng ta.

Mực nước biển dâng cao đang đe dọa những bờ biển, thủy lộ, nguồn sống của biết bao người dân Việt. Vì vậy, là đối tác trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, chúng ta cần phải tuân thủ những cam kết vừa ký ở Paris. Chúng ta phải giúp đỡ nông dân, ngư dân và những làng mạc sống dựa vào nghề chài lưới để họ có thể thích ứng với tình hình, và phải mang thêm năng lượng sạch đến những nơi như đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa của thế giới mà chúng ta cần để nuôi sống những thế hệ tương lai.

Thật là một điều đáng chú ý là hai quốc gia chúng ta đã từng đối địch với nhau, nay lại sát cánh bên nhau giúp các quốc gia khác tiến đến hoà bình. Như vậy quan hệ đối tác của chúng ta không những song phương mà còn cho phép chúng ta định hình môi trường quốc tế theo những cách tích cực.

Để tầm nhìn như tôi đã trình bày hôm nay hoàn toàn trở thành hiện thực, mọi chuyện sẽ không xảy ra trong một sớm một chiều, và cũng không phải chuyện nào cũng là tất yếu. Có thể có những vấp váp, thụt lùi trên các chặng đường. Sẽ có những lúc hiểu lầm nhau. Cần phải không ngừng cố gắng và đối thoại thực sự mà cả hai bên đều chấp nhận sẵn sàng thay đổi. Nhưng nhìn lại lịch sử và tất cả những rào cản mà chúng ta đã vượt qua, tôi đứng đây trước các bạn ngày hôm nay, với một sự lạc quan rất lớn về tương lai chung của chúng ta.

Niềm tin của tôi, như thường lệ, có nguồn gốc từ tình bạn và khát vọng chung của hai dân tộc.

Tôi nghĩ tới những người Mỹ và Việt đã vượt trùng dương, có những người được đoàn tụ với gia đình lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, và họ đang dang tay, mở rộng trái tim và nhìn thấy cả nhân loại trong nhau, nối vòng tay lớn, như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài hát của mình.

Tôi nghĩ tới những người Mỹ gốc Việt đã thành công trong mọi lĩnh vực, những bác sĩ, nhà báo, thẩm phán, công chức … Một người trong số họ, sinh ra ở đây, đã viết cho tôi một lá thư nói rằng “nhờ ơn Chúa, tôi đã được sống giấc mơ Mỹ. Tôi rất tự hào là một người Mỹ nhưng tôi cũng rất tự hào là một người Việt Nam”. Hôm nay ông ta đang ở đây, trở lại mảnh đất nơi mình sinh ra, vì ông ta nói “khát vọng của tôi là nâng cao đời sống của từng người dân Việt”.

Tôi nghĩ tới một thế hệ người Việt mới – các bạn, những người trẻ đang ngồi đây – những người đang sẵn sàng để lại dấu ấn của mình trên thế giới. Và tôi muốn nói với tất cả những bạn trẻ đang lắng nghe: Với tài năng, trí thông minh, và những ước mơ của các bạn, Việt Nam đã có sẵn trong tay tất cả những gì cần thiết để phát triển và thịnh vượng.

Vận mệnh nằm trong tay các bạn. Đây là thời điểm của các bạn.

Và trong khi các bạn theo đuổi tương lai mà các bạn muốn, tôi muốn các bạn biết rằng nước Mỹ sẽ ở ngay bên cạnh các bạn, như một đối tác, và một người bạn.

Nhiều năm sau này, khi càng có nhiều người Việt và người Mỹ cùng nhau học tập, sáng tạo và kinh doanh chung, cùng nhau bảo vệ an ninh, phát huy quyền con người và chung sức bảo vệ hành tinh của chúng ta, tôi mong các bạn nhớ về khoảnh khắc này khi tôi chia sẻ tầm nhìn của tôi với các bạn.

Hay là nói một cách khác, với những câu Kiều  mà các bạn quá thân thuộc:

Rằng trăm năm cũng từ đây

                             Của tin gọi một chút này làm ghi.

Cam on cac ban.  Thank you very much.  Thank you, Vietnam.  Thank you.

T.Q. dịch

Nguyên văn:

Remarks by President Obama in Address to the People of Vietnam

National Convention Center
Hanoi, Vietnam

12:11 P.M. ICT

PRESIDENT OBAMA:  Xin chào!  (Applause.)  Xin chào Vietnam!  (Applause.)  Thank you.  Thank you so much.  To the government and the people of Vietnam, thank you for this very warm welcome and the hospitality that you have shown to me on this visit.  And thank all of you for being here today.  (Applause.)   We have Vietnamese from across this great country, including so many young people who represent the dynamism, and the talent and the hope of Vietnam.

On this visit, my heart has been touched by the kindness for which the Vietnamese people are known.  In the many people who have been lining the streets, smiling and waving, I feel the friendship between our peoples.  Last night, I visited the Old Quarter here in Hanoi and enjoyed some outstanding Vietnamese food.  I tried some Bún Chả.  (Applause.)  Drank some bia Ha Noi.  But I have to say, the busy streets of this city, I’ve never seen so many motorbikes in my life.  (Laughter.)  So I haven’t had to try to cross the street so far, but maybe when I come back and visit you can tell me how.

I am not the first American President to come to Vietnam in recent times.  But I am the first, like so many of you, who came of age after the war between our countries.  When the last U.S. forces left Vietnam, I was just 13 years old.  So my first exposure to Vietnam and the Vietnamese people came when I was growing up in Hawaii, with its proud Vietnamese American community there.

At the same time, many people in this country are much younger than me.  Like my two daughters, many of you have lived your whole lives knowing only one thing — and that is peace and normalized relations between Vietnam and the United States.  So I come here mindful of the past, mindful of our difficult history, but focused on the future — the prosperity, security and human dignity that we can advance together.

I also come here with a deep respect for Vietnam’s ancient heritage.  For millennia, farmers have tended these lands — a history revealed in the Dong Son drums.  At this bend in the river, Hanoi has endured for more than a thousand years.  The world came to treasure Vietnamese silks and paintings, and a great Temple of Literature stands as a testament to your pursuit of knowledge.  And yet, over the centuries, your fate was too often dictated by others.  Your beloved land was not always your own.  But like bamboo, the unbroken spirit of the Vietnamese people was captured by Ly Thuong Kiet — “the Southern emperor rules the Southern land.  Our destiny is writ in Heaven’s Book.”

Today, we also remember the longer history between Vietnamese and Americans that is too often overlooked.  More than 200 years ago, when our Founding Father, Thomas Jefferson, sought rice for his farm, he looked to the rice of Vietnam, which he said had “the reputation of being whitest to the eye, best flavored to the taste, and most productive.”  Soon after, American trade ships arrived in your ports seeking commerce.

During the Second World War, Americans came here to support your struggle against occupation.  When American pilots were shot down, the Vietnamese people helped rescue them.  And on the day that Vietnam declared its independence, crowds took to the streets of this city, and Ho Chi Minh evoked the American Declaration of Independence.  He said, “All people are created equal.  The Creator has endowed them with inviolable rights.  Among these rights are the right to life, the right to liberty, and the right to the pursuit of happiness.”

In another time, the profession of these shared ideals and our common story of throwing off colonialism might have brought us closer together sooner.  But instead, Cold War rivalries and fears of communism pulled us into conflict.  Like other conflicts throughout human history, we learned once more a bitter truth — that war, no matter what our intentions may be, brings suffering and tragedy.

At your war memorial not far from here, and with family altars across this country, you remember some 3 million Vietnamese, soldiers and civilians, on both sides, who lost their lives.  At our memorial wall in Washington, we can touch the names of 58,315 Americans who gave their lives in the conflict.  In both our countries, our veterans and families of the fallen still ache for the friends and loved ones that they lost.  Just as we learned in America that, even if we disagree about a war, we must always honor those who serve and welcome them home with the respect they deserve, we can join together today, Vietnamese and Americans, and acknowledge the pain and the sacrifices on both sides.

More recently, over the past two decades, Vietnam has achieved enormous progress, and today the world can see the strides that you have made.  With economic reforms and trade agreements, including with the United States, you have entered the global economy, selling your goods around the world.  More foreign investment is coming in.  And with one of the fastest-growing economies in Asia, Vietnam has moved up to become a middle-income nation.

We see Vietnam’s progress in the skyscrapers and high-rises of Hanoi and Ho Chi Minh City, and new shopping malls and urban centers.  We see it in the satellites Vietnam puts into space and a new generation that is online, launching startups and running new ventures.  We see it in the tens of millions of Vietnamese connected on Facebook and Instagram.  And you’re not just posting selfies — although I hear you do that a lot — (laughter) — and so far, there have been a number of people who have already asked me for selfies.  You’re also raising your voices for causes that you care about, like saving the old trees of Hanoi.

So all this dynamism has delivered real progress in people’s lives.  Here in Vietnam, you’ve dramatically reduced extreme poverty, you’ve boosted family incomes and lifted millions into a fast-growing middle class.  Hunger, disease, child and maternal mortality are all down.  The number of people with clean drinking water and electricity, the number of boys and girls in school, and your literacy rate — these are all up.  This is extraordinary progress.  This is what you have been able to achieve in a very short time.

And as Vietnam has transformed, so has the relationship between our two nations.  We learned a lesson taught by the venerable Thich Nhat Hanh, who said, “In true dialogue, both sides are willing to change.”  In this way, the very war that had divided us became a source for healing.  It allowed us to account for the missing and finally bring them home.  It allowed us to help remove landmines and unexploded bombs, because no child should ever lose a leg just playing outside.  Even as we continue to assist Vietnamese with disabilities, including children, we are also continuing to help remove Agent Orange — dioxin — so that Vietnam can reclaim more of your land.  We’re proud of our work together in Danang, and we look forward to supporting your efforts in Bien Hoa.

Let’s also not forget that the reconciliation between our countries was led by our veterans who once faced each other in battle.  Think of Senator John McCain, who was held for years here as a prisoner of war, meeting General Giap, who said our countries should not be enemies but friends.  Think of all the veterans, Vietnamese and American, who have helped us heal and build new ties.  Few have done more in this regard over the years than former Navy lieutenant, and now Secretary of State of the United States, John Kerry, who is here today.  And on behalf of all of us, John, we thank you for your extraordinary effort.  (Applause.)

Because our veterans showed us the way, because warriors had the courage to pursue peace, our peoples are now closer than ever before.  Our trade has surged.  Our students and scholars learn together.  We welcome more Vietnamese students to America than from any other country in Southeast Asia.  And every year, you welcome more and more American tourists, including young Americans with their backpacks, to Hanoi’s 36 Streets and the shops of Hoi An, and the imperial city of Hue.  As Vietnamese and Americans, we can all relate to those words written by Van Cao — “From now, we know each other’s homeland; from now, we learn to feel for each other.”

As President, I’ve built on this progress.  With our new Comprehensive Partnership, our governments are working more closely together than ever before.  And with this visit, we’ve put our relationship on a firmer footing for decades to come.  In a sense, the long story between our two nations that began with Thomas Jefferson more than two centuries ago has now come full circle.  It has taken many years and required great effort.  But now we can say something that was once unimaginable:  Today, Vietnam and the United States are partners.

And I believe our experience holds lessons for the world.  At a time when many conflicts seem intractable, seem as if they will never end, we have shown that hearts can change and that a different future is possible when we refuse to be prisoners of the past.  We’ve shown how peace can be better than war.  We’ve shown that progress and human dignity is best advanced by cooperation and not conflict.  That’s what Vietnam and America can show the world.

Now, America’s new partnership with Vietnam is rooted in some basic truths.  Vietnam is an independent, sovereign nation, and no other nation can impose its will on you or decide your destiny.  (Applause.)  Now, the United States has an interest here.  We have an interest in Vietnam’s success.  But our Comprehensive Partnership is still in its early stages.  And with the time I have left, I want to share with you the vision that I believe can guide us in the decades ahead.

First, let’s work together to create real opportunity and prosperity for all of our people.  We know the ingredients for economic success in the 21st century.  In our global economy, investment and trade flows to wherever there is rule of law, because no one wants to pay a bribe to start a business.  Nobody wants to sell their goods or go to school if they don’t know how they’re going to be treated.  In knowledge-based economies, jobs go to where people have the freedom to think for themselves and exchange ideas and to innovate.  And real economic partnerships are not just about one country extracting resources from another.  They’re about investing in our greatest resource, which is our people and their skills and their talents, whether you live in a big city or a rural village.  And that’s the kind of partnership that America offers.

As I announced yesterday, the Peace Corps will come to Vietnam for the first time, with a focus on teaching English.  A generation after young Americans came here to fight, a new generation of Americans are going to come here to teach and build and deepen the friendship between us.  (Applause.)  Some of America’s leading technology companies and academic institutions are joining Vietnamese universities to strengthen training in science, technology, engineering, mathematics, and medicine.  Because even as we keep welcoming more Vietnamese students to America, we also believe that young people deserve a world-class education right here in Vietnam.

It’s one of the reasons why we’re very excited that this fall, the new Fulbright University Vietnam will open in Ho Chi Minh City — this nation’s first independent, non-profit university — where there will be full academic freedom and scholarships for those in need.  (Applause.)  Students, scholars, researchers will focus on public policy and management and business; on engineering and computer science; and liberal arts — everything from the poetry of Nguyen Du, to the philosophy of Phan Chu Trinh, to the mathematics of Ngo Bao Chau.

And we’re going to keep partnering with young people and entrepreneurs, because we believe that if you can just access the skills and technology and capital you need, then nothing can stand in your way — and that includes, by the way, the talented women of Vietnam.  (Applause.)  We think gender equality is an important principle.  From the Trung Sisters to today, strong, confident women have always helped move Vietnam forward.  The evidence is clear — I say this wherever I go around the world — families, communities and countries are more prosperous when girls and women have an equal opportunity to succeed in school and at work and in government.  That’s true everywhere, and it’s true here in Vietnam.  (Applause.)

We’ll keep working to unleash the full potential of your economy with the Trans-Pacific Partnership.  Here in Vietnam, TPP will let you sell more of your products to the world and it will attract new investment.  TPP will require reforms to protect workers and rule of law and intellectual property.  And the United States is ready to assist Vietnam as it works to fully implement its commitments.  I want you to know that, as President of the United States, I strongly support TPP because you’ll also be able to buy more of our goods, “Made in America.”

Moreover, I support TPP because of its important strategic benefits.  Vietnam will be less dependent on any one trading partner and enjoy broader ties with more partners, including the United States.  (Applause.)  And TPP will reinforce regional cooperation.  It will help address economic inequality and will advance human rights, with higher wages and safer working conditions.  For the first time here in Vietnam, the right to form independent labor unions and prohibitions against forced labor and child labor.  And it has the strongest environmental protections and the strongest anti-corruption standards of any trade agreement in history.  That’s the future TPP offers for all of us, because all of us — the United States, Vietnam, and the other signatories — will have to abide by these rules that we have shaped together.  That’s the future that is available to all of us.  So we now have to get it done — for the sake of our economic prosperity and our national security.

This brings me to the second area where we can work together, and that is ensuring our mutual security.  With this visit, we have agreed to elevate our security cooperation and build more trust between our men and women in uniform.  We’ll continue to offer training and equipment to your Coast Guard to enhance Vietnam’s maritime capabilities.  We will partner to deliver humanitarian aid in times of disaster.  With the announcement I made yesterday to fully lift the ban on defense sales, Vietnam will have greater access to the military equipment you need to ensure your security.  And the United States is demonstrating our commitment to fully normalize our relationship with Vietnam.  (Applause.)

More broadly, the 20th century has taught all of us — including the United States and Vietnam — that the international order upon which our mutual security depends is rooted in certain rules and norms.  Nations are sovereign, and no matter how large or small a nation may be, its sovereignty should be respected, and it territory should not be violated.  Big nations should not bully smaller ones.  Disputes should be resolved peacefully.  (Applause.)  And regional institutions, like ASEAN and the East Asia Summit, should continue to be strengthened.  That’s what I believe.  That’s what the United States believes.  That’s the kind of partnership America offers this region.  I look forward to advancing this spirit of respect and reconciliation later this year when I become the first U.S. President to visit Laos.

In the South China Sea, the United States is not a claimant in current disputes.  But we will stand with partners in upholding core principles, like freedom of navigation and overflight, and lawful commerce that is not impeded, and the peaceful resolution of disputes, through legal means, in accordance with international law.  As we go forward, the United States will continue to fly, sail and operate wherever international law allows, and we will support the right of all countries to do the same.  (Applause.)

Even as we cooperate more closely in the areas I’ve described, our partnership includes a third element — addressing areas where our governments disagree, including on human rights.  I say this not to single out Vietnam.  No nation is perfect.  Two centuries on, the United States is still striving to live up to our founding ideals.  We still deal with our shortcomings — too much money in our politics, and rising economic inequality, racial bias in our criminal justice system, women still not being paid as much as men doing the same job.  We still have problems.  And we’re not immune from criticism, I promise you.  I hear it every day.  But that scrutiny, that open debate, confronting our imperfections, and allowing everybody to have their say has helped us grow stronger and more prosperous and more just.

I’ve said this before — the United States does not seek to impose our form of government on Vietnam.  The rights I speak of I believe are not American values; I think they’re universal values written into the Universal Declaration of Human Rights.  They’re written into the Vietnamese constitution, which states that “citizens have the right to freedom of speech and freedom of the press, and have the right of access to information, the right to assembly, the right to association, and the right to demonstrate.”  That’s in the Vietnamese constitution.  (Applause.)  So really, this is an issue about all of us, each country, trying to consistently apply these principles, making sure that we — those of us in government — are being true to these ideals.

In recent years, Vietnam has made some progress.  Vietnam has committed to bringing its laws in line with its new constitution and with international norms.  Under recently passed laws, the government will disclose more of its budget and the public will have the right to access more information.  And, as I said, Vietnam has committed to economic and labor reforms under the TPP.   So these are all positive steps.  And ultimately, the future of Vietnam will be decided by the people of Vietnam.  Every country will chart its own path, and our two nations have different traditions and different political systems and different cultures.  But as a friend of Vietnam, allow me to share my view — why I believe nations are more successful when universal rights are upheld.

When there is freedom of expression and freedom of speech, and when people can share ideas and access the Internet and social media without restriction, that fuels the innovation economies need to thrive.  That’s where new ideas happen.  That’s how a Facebook starts.  That’s how some of our greatest companies began — because somebody had a new idea.  It was different.  And they were able to share it.  When there’s freedom of the press — when journalists and bloggers are able to shine a light on injustice or abuse — that holds officials accountable and builds public confidence that the system works.  When candidates can run for office and campaign freely, and voters can choose their own leaders in free and fair elections, it makes the countries more stable, because citizens know that their voices count and that peaceful change is possible.  And it brings new people into the system.

When there is freedom of religion, it not only allows people to fully express the love and compassion that are at the heart of all great religions, but it allows faith groups to serve their communities through schools and hospitals, and care for the poor and the vulnerable.  And when there is freedom of assembly — when citizens are free to organize in civil society — then countries can better address challenges that government sometimes cannot solve by itself.  So it is my view that upholding these rights is not a threat to stability, but actually reinforces stability and is the foundation of progress.

After all, it was a yearning for these rights that inspired people around the world, including Vietnam, to throw off colonialism.  And I believe that upholding these rights is the fullest expression of the independence that so many cherish, including here, in a nation that proclaims itself to be “of the People, by the People and for the People.”

Vietnam will do it differently than the United States does.  And each of us will do it differently from many other countries around the world.  But there are these basic principles that I think we all have to try to work on and improve.  And I said this as somebody who’s about to leave office, so I have the benefit of almost eight years now of reflecting on how our system has worked and interacting with countries around the world who are constantly trying to improve their systems, as well.

Finally, our partnership I think can meet global challenges that no nation can solve by itself.  If we’re going to ensure the health of our people and the beauty of our planet, then development has to be sustainable.  Natural wonders like Ha Long Bay and Son Doong Cave have to be preserved for our children and our grandchildren.  Rising seas threaten the coasts and waterways on which so many Vietnamese depend.  And so as partners in the fight against climate change, we need to fulfill the commitments we made in Paris, we need to help farmers and villages and people who depend on fishing to adapt and to bring more clean energy to places like the Mekong Delta — a rice bowl of the world that we need to feed future generations.

And we can save lives beyond our borders.  By helping other countries strengthen, for example, their health systems, we can prevent outbreaks of disease from becoming epidemics that threaten all of us.  And as Vietnam deepens its commitment to U.N. peacekeeping, the United States is proud to help train your peacekeepers.  And what a truly remarkable thing that is — our two nations that once fought each other now standing together and helping others achieve peace, as well.  So in addition to our bilateral relationship, our partnership also allows us to help shape the international environment in ways that are positive.

Now, fully realizing the vision that I’ve described today is not going to happen overnight, and it is not inevitable.  There may be stumbles and setbacks along the way.  There are going to be times where there are misunderstandings.  It will take sustained effort and true dialogue where both sides continue to change.  But considering all the history and hurdles that we’ve already overcome, I stand before you today very optimistic about our future together.  (Applause.)  And my confidence is rooted, as always, in the friendship and shared aspirations of our peoples.

I think of all the Americans and Vietnamese who have crossed a wide ocean — some reuniting with families for the first time in decades — and who, like Trinh Cong Son said in his song, have joined hands, and opening their hearts and seeing our common humanity in each other.  (Applause.)

I think of all the Vietnamese Americans who have succeeded in every walk of life — doctors, journalists, judges, public servants.  One of them, who was born here, wrote me a letter and said, by “God’s grace, I have been able to live the American Dream…I’m very proud to be an American but also very proud to be Vietnamese.”  (Applause.)  And today he’s here, back in the country of his birth, because, he said, his “personal passion” is “improving the life of every Vietnamese person.”

I think of a new generation of Vietnamese — so many of you, so many of the young people who are here — who are ready to make your mark on the world.  And I want to say to all the young people listening:  Your talent, your drive, your dreams — in those things, Vietnam has everything it needs to thrive.  Your destiny is in your hands.  This is your moment.  And as you pursue the future that you want, I want you to know that the United States of America will be right there with you as your partner and as your friend.  (Applause.)

And many years from now, when even more Vietnamese and Americans are studying with each other; innovating and doing business with each other; standing up for our security, and promoting human rights and protecting our planet with each other — I hope you think back to this moment and draw hope from the vision that I’ve offered today.  Or, if I can say it another way — in words that you know well from the Tale of Kieu — “Please take from me this token of trust, so we can embark upon our 100-year journey together.”  (Applause.)

Cam on cac ban.  Thank you very much.  Thank you, Vietnam.  Thank you.  (Applause).

END
12:43 P.M. ICT

Nguồn bản gốc: https://www.whitehouse.gov/the-press-office/2016/05/24/remarks-president-obama-address-people-vietnam

Cán bộ bị ‘ném đá’ vì được cõng qua chỗ ngập

Cán bộ bị ‘ném đá’ vì được cõng qua chỗ ngập
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Từ chiều 25 Tháng Năm, trên các mạng xã hội lan truyền “chóng mặt” hình cán bộ vừa rời khỏi xe công vụ liền được một ông bảo vệ cõng đưa lên bậc tam cấp của hội trường, khiến dư luận “dậy sóng.”

 
Người dân tỏ ra phẫn nộ với hình ảnh này. (Hình: Tuổi Trẻ)

Tin Tuổi Trẻ cho biết, người được bảo vệ cõng trong hình là ông Nguyễn Ngọc Niên, tổng biên tập báo Nhà Báo và Công Luận của Hội Nhà Báo Việt Nam.

Tấm hình này được chụp trước bậc tam cấp của hội trường Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh vào sáng 25 Tháng Năm, nơi chuẩn bị tổ chức “hội nghị học tập, quán triệt nghị quyết đại hội lần thứ XII đảng,” dành cho trên 850 lãnh đạo các cơ quan báo chí, xuất bản của 25 tỉnh, thành phố phía Bắc.

Nói qua điện thoại với Tuổi Trẻ sau khi bức ảnh được phát tán trên mạng, ông Nguyễn Ngọc Niên cho biết không biết ai chụp và vì sao lại đưa bức ảnh này lên mạng.

Ông Nguyễn Ngọc Niên cho rằng, khi xe của ông lội nước tiến về trước bậc tam cấp thì ở đó đã có hai ông bảo vệ xắn quần đứng dưới nước, và một chiếc ghế gỗ chuẩn bị sẵn trông như là để hỗ trợ, giúp đỡ các đại biểu từ xe bước lên bậc thềm.

Ông Niên biện minh: “Xe của tôi gầm thấp không thể lại gần bậc thềm, phải đỗ cách xa bậc thềm khoảng 2 mét. Tôi mở cửa ra thì một anh bảo vệ đặt ghế vào gần cửa mời tôi bước lên. Khi tôi đứng trên ghế, chuẩn bị tìm cách nhảy thì anh bảo vệ thứ hai có thể thấy tôi tuổi đã cao gần 60 tuổi, tóc đã bạc nên anh ta chủ động bước lại, xoay lưng và mời tôi bám vào. Tôi bám vào và anh bảo vệ chỉ bước một, hai bước rồi xoay lưng đưa tôi xuống bậc thềm”.

Theo phóng viên Tuổi Trẻ có mặt tại đây mô tả, để vào hội trường nhiều người đã phải tháo giày, vớ nhờ các nhân viên quen đường chỉ cho đi đường vòng để vào hội trường.

Trong khi đó, nói với VietNamNet, ông Nguyễn Ngọc Niên khẳng định ông không phải là nhân vật trong ảnh. “Thực tế, ông Niên có dáng người cao, gầy và trẻ hơn người trong bức ảnh,” VietNamNet viết.

Tuy nhiên, đến tối cùng ngày, cả Tuổi Trẻ và VietNamNet đều gỡ bỏ tin này!

Sau khi tấm hình quan chức được cõng được tung lên mạng Facebook, chỉ trong vài giờ đã có đến hàng chục ngàn lượt like và bình luận với trạng thái phẫn nộ. “Nhìn kỹ tấm hình ông tổng biên tập tóc vẫn chưa bạc như ông nói và anh bảo vệ cõng ông chắc tuổi còn nhiều hơn ông. Đúng là phong cách làm quan,” nickname Trần Chánh Nghĩa nhận xét.

Còn nickname Bùi Anh Tấn mỉa mai: “Sau khi Tổng Thống Obama rời khỏi Việt Nam, lập tức có người ‘thế chân’ gây sốt trên mạng ngay. Đó là ông tổng biên tập tờ Nhà Báo và Công Luận. Đi họp, khi xe hơi dừng lại, vì sợ ướt giày nên ‘nhờ’ bảo vệ cõng đến chỗ khô, nhưng trả lời báo chí cho rằng vì mình ‘già’ nên nhờ vậy, trong khi cũng nhiều người khác đến, đều cởi giày, lội nước vào. Thế mà ông còn phàn nàn, không biết ai chụp đưa hình ông lên và có nhiều lời bình… ác ý? Tổng Thống Obama, tin buồn rằng ông đã bị ‘soán ngôi’ trên mạng rồi. Hề…” (Tr.N)