Việt Nam phản đối phúc trình tôn giáo của Hoa Kỳ

Việt Nam phản đối phúc trình tôn giáo của Hoa Kỳ

2017-08-16
 

Ngoại trưởng Rex Tillerson của Mỹ vào ngày 15 tháng 8 công bố phúc trình thường niên về tự do tôn giáo quốc tế năm 2016.

Ngoại trưởng Rex Tillerson của Mỹ vào ngày 15 tháng 8 công bố phúc trình thường niên về tự do tôn giáo quốc tế năm 2016.

 Courtesy STATE DEPARTMENT
 
 Việt Nam cho rằng Hoa Kỳ cần tôn trọng sự thật về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam sau khi ngoại trưởng Rex Tillerson của Mỹ vào ngày 15 tháng 8 công bố phúc trình thường niên về tự do tôn giáo quốc tế năm 2016, trong đó có phần về Việt Nam.

 

Thông tấn xã Việt Nam loan tin cho rằng bản phúc trình của Hoa Kỳ co ghi nhận một số tiến bộ của Việt Nam nhưng vẫn giữ những luận điểm bị cho là ‘cũ, lối mòn cùng những đánh giá không dựa trên thực tế.

Thuế tài sản sẽ được áp dụng tại Việt Nam?

Hòa Ái, phóng viên RFA
2017-08-15
 
 

Hà Nội đang tiến hành xây mới khoảng 1400 khu chung cư cũ được xây hồi thập niên 60-80 thế kỷ 20 . Ảnh chụp ngày 12/08/2016.

 

Hà Nội đang tiến hành xây mới khoảng 1400 khu chung cư cũ được xây hồi thập niên 60-80 thế kỷ 20 . Ảnh chụp ngày 12/08/2016.

 Photo: AFP
 
 Bộ Tài Chính vừa hoàn thiện báo cáo chuyên đề về chính sách thuế đối với bất động sản với sự khẳng định cần thiết nghiên cứu và xây dựng Luật thuế tài sản tại Việt Nam.

Luật thuế tài sản là cần thiết?

Theo Bộ Tài Chính thì Việt Nam cần có Luật thuế tài sản vì chính sách thuế liên quan đến tài sản hiện nay chưa đáp ứng được vai trò là một trong những nguồn thu ổn định cho ngân sách Nhà nước vì số tiền thu về từ thuế sử dụng đất chỉ chiếm khoảng 0, 03% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và khoảng 0,15% tổng thu ngân sách.

Bộ Bài Chính khẳng định Luật thuế tài sản không chỉ giúp tăng cho nguồn thu ngân sách Nhà nước mà còn góp phần bình ổn thị trường bất động sản, hạn chế đầu cơ và sử dụng bất động sản lãng phí.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng Dự thảo Luật thuế tài sản mà Bộ Tài Chính đưa ra cần được thông qua và thực hiện vì theo quan điểm cá nhân của bà là Việt Nam đã rất muộn màng trong việc đánh thuế ở lãnh vực này. Bà Phạm Chí Lan nói với RFA:

Thực ra vấn đề này cũng đã có nhiều ý kiến của các chuyên gia kinh tế từ cách đây mấy năm rồi, lúc thị trường bất động sản rộ lên và xu hướng đầu cơ bất động sản rất cao, nhất là bất động sản hoặc khả năng tham gia bất động sản rơi rất nhiều vào tay các nhóm lợi ích, thì cũng có đề xuất Việt Nam cần đánh thuế bất động sản. Thế nhưng suốt mấy năm vẫn không vận động nỗi để đưa ra được những ý tưởng về thuế đó
-TS. Phạm Chi Lan

“Tôi nghĩ bây giờ mới đưa ra luật thế về bất động sản như vậy là trễ đối với Việt Nam. Thực ra vấn đề này cũng đã có nhiều ý kiến của các chuyên gia kinh tế đề xuất từ cách đây mấy năm rồi, lúc thị trường bất động sản rộ lên và xu hướng đầu cơ bất động sản rất cao, nhất là bất động sản hoặc khả năng tham gia bất động sản rơi rất nhiều vào tay các nhóm lợi ích, thì cũng có đề xuất Việt Nam cần đánh thuế bất động sản. Thế nhưng suốt mấy năm vẫn không vận động nỗi để đưa ra được những ý tưởng về thuế đó.”

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhấn mạnh Luật thuế bất động sản sẽ có thể điều chỉnh lại giá cả của thị trường bất động sản được thực tế hơn trong bối cảnh đang tồn tại nhiều nơi thổi giá lên rất cao và tạo ra sự thừa ế trong bất động sản nên gây ra lãng phí rất lớn cho tài sản của xã hội, khi biết bao nhiêu ngôi nhà mọc lên mà không có người ở.

Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh (HoREA) vừa trình Thủ tướng Chính phủ đề xuất 3 xu hướng đánh thuế đầu cơ bất động sản; bao gồm đánh thuế tài sản đối với nhà-đất, đánh thuế đối với người có nhiều nhà và đất (từ tài sản thứ hai trở lên) và đánh thuế cao đối với các trường hợp chuyển nhượng nhà-đất ngay sau khi mua trong thời điểm xuất hiện nguy cơ thị trường bất động sản sốt bong bóng.

Đồng quan điểm trong việc đánh thuế bất động sản, Báo mạng Infonet.vn dẫn ý kiến của Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên-Môi Trường rằng việc đánh thuế như thế sẽ có khả năng chống đầu cơ tích trữ trong bất động sản và nguồn tiền đầu tư vào bất động sản sẽ được chuyển sang thành nguồn vốn trong lãnh vực sản xuất và sẽ tạo ra động lực phát triển cho quốc gia. Giáo sư Đặng Hùng Võ tin tưởng rằng việc đánh thuế bất động sản không chỉ giúp cho thị trường bất động sản phát triển bền vững hơn mà còn giúp đảm bảo an sinh xã hội trong điều kiện Nhà nước thực hiện tốt việc đánh thuế này.

Trong khi đó, Chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển, thuộc Bộ Kế Hoạch-Đầu Tư cho rằng việc đánh thuế bất động sản sẽ không có tác động ảnh hưởng lớn trong việc chuyển hướng đầu tư và nếu như không kiểm soát được đối với trường hợp đánh thuế ngôi nhà thứ hai trở lên thì cũng không có tác dụng.

20449011_768137533365229_3835490693881049865_o.jpg
Ảnh minh họa. Courtesy: Thinh Nguyen

Hiệu quả ra sao?

Vấn đề được giới chuyên gia nêu ra là Chính phủ cần làm gì để thiết kế và áp dụng được sắc thuế đối với bất động sản một cách hiệu quả?

Đài Á Châu Tự Do ghi nhận Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh (HoREA) lên tiếng rằng khi áp dụng sắc thuế này thì phải thận trọng và tính toán nhiều yếu tố, Chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ nhấn mạnh cần cân nhắc chứ không phải muốn đánh thuế bao nhiêu cũng được và Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho là việc thiết kế luật như thế nào thì rất cần hỏi ý kiến rộng rãi trong xã hội vì điều đó sẽ giúp cho nhà nước có được một sắc thuế hợp lý để đánh thuế đúng đối tượng và phù hợp đối với đông đảo người dân, mà người dân có quyền đã được Hiến pháp khẳng định về quyền nhà ở của người dân.

Ngân sách trung ương đang trong cơn ‘quẩn cực’, có thể năm nay vẫn bội chi tiếp tục từ 5, 5-6% GDP nhưng nguồn thu ngày càng giảm. Và nếu với tiến độ thu như thế này, từ đầu năm 2017 cho đến nay thì năm nay có thể hụt thu lên đến 11% so với dự toán đầu năm. Đây là con số rất cao. Do vậy, chính quyền đang tìm mọi cách để thu thuế của dân
-TS. Phạm Chí Dũng

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan còn cho rằng dù việc xây dựng Dự luật thuế tài sản rất công phu và phức tạp nhưng cần thiết phải tiến hành nhanh chóng. Tuy nhiên, theo nhận định của Giám đốc Jones Lang Lasalle Việt Nam, ông Stephen Wyatt thì ít nhất tới năm 2020, Việt Nam mới có thể áp dụng sắc thuế này do còn nhiều hạn chế về dữ liệu thống kê và thiếu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý.

Trả lời câu hỏi của RFA liên quan thắc mắc của rất nhiều người quan tâm đến thông tin về Luật thuế tài sản, Tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng đưa ra lập luận rằng Chính phủ sẽ sớm áp dụng vì mục đích cuối cùng là thu thuế để bù đắp ngân sách:

“Ngân sách trung ương đang trong cơn ‘quẩn cực’, có thể năm nay vẫn bội chi tiếp tục từ 5, 5-6% GDP nhưng nguồn thu ngày càng giảm. Và nếu với tiến độ thu như thế này, từ đầu năm 2017 cho đến nay thì năm nay có thể hụt thu lên đến 11% so với dự toán đầu năm. Đây là con số rất cao. Do vậy, chính quyền đang phải tìm mọi cách để thu thuế của dân, hay nói một cách nôm na là người dân nói ‘đè đầu dân để thu thuế’ hay thậm chí người dân còn nói là ‘chính quyền tìm cách móc túi của dân’.”

Đài Á Châu Tự Do tiếp xúc với số đông người dân ở trong nước và được cho biết họ lo lắng rằng không sớm thì muộn họ cũng phải đón nhận thêm một sắc luật thuế mới là Luật thuế tài sản và chúng tôi còn được biết thêm một số những người tương đối khá giả, mà sở hữu hơn một căn nhà, hiện nay đã vội vã tìm cách sang tên chủ sở hữu để phòng lách luật, không phải trả thuế vào khi Luật thuế tài sản ra đời.

Tòa trọng tài Quốc tế tại Paris, Pháp, sẽ khởi đầu phiên xử đặc biệt

From facebook: Trần Bang shared VOA Tiếng Việt‘s video.

Ngày 21 tháng Tám, 2017, Tòa trọng tài Quốc tế tại Paris, Pháp, sẽ khởi đầu phiên xử đặc biệt: Nguyên đơn là nhà đầu tư Hà Lan gốc Việt, doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình, kiện bị đơn là Nhà nước Việt Nam. Số tiền ông Bình đòi chính phủ Việt Nam bồi thường là “tối thiểu 1,25 tỷ đôla.”

VOA Việt Ngữ phỏng vấn những người trong cuộc, những người “biết chuyện,” những người trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vụ xử hoặc những hệ lụy của phiên xử, viết thành loạt bài đăng tải nhiều kỳ. Mời độc giả cùng theo dõi. Xem thêm: http://bit.ly/2hUUT6E

-1:56

208,793 Views

VOA Tiếng Việt

Ngày 21 tháng Tám, 2017, Tòa trọng tài Quốc tế tại Paris, Pháp, sẽ khởi đầu phiên xử đặc biệt: Nguyên đơn là nhà đầu tư Hà Lan gốc Việt, doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình, kiện bị đơn là Nhà nước Việt Nam. Số tiền ông Bình đòi chính phủ Việt Nam bồi thường là “tối thiểu 1,25 tỷ đôla.”

VOA Việt Ngữ phỏng vấn những người trong cuộc, những người “biết chuyện,” những người trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vụ xử hoặc những hệ lụy của phiên xử, viết thành loạt bài đăng tải nhiều kỳ. Mời độc giả cùng theo dõi: voatiengviet.com/trinhvinhbinh

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link vn510.com hoặc vn73.com để vượt tường lửa)

69,000 người Việt được đi xuất cảng lao động trong 7 tháng đầu năm 2017

 69,000 người Việt được đi xuất cảng lao động trong 7 tháng đầu năm 2017

69,000 người Việt được đi xuất cảng lao động trong 7 tháng đầu năm 2017
Ảnh: Lao Động Việt

Thông tin từ Cục quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao Động – Thương Binh Xã Hội CSVN cho thấy, trong bảy tháng đầu năm nay đã có khoảng 69,000 người Việt đi làm việc ở ngoại quốc, đạt mức 66% theo kế hoạch hàng năm.

Ba thị trường nhận lực lượng lao động lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng qua bao gồm Đài Loan, Trung Cộng nhận được gần 33,900 công nhân Việt Nam; Nhật Bản hơn 27,700; và Nam Hàn khoảng 3,200 người.

Bộ Lao Động, Thương Binh Và Xã Hội CSVN cho biết, trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều người Việt Nam được đưa vào các thị trường lao động quen thuộc hoặc mới, bao gồm Thái Lan, Úc, Đức và Nhật Bản.

Việt Nam có kế hoạch đưa 105,000 người đi làm việc ở ngoại quốc trong năm nay, giảm từ  con số 126,300 người vào năm ngoái.  Cũng theo tin từ Bộ Lao Động, Thương Binh Và Xã Hội đã có hơn 500,000 người Việt Nam đang làm việc ở ngoại quốc với tư cách là công nhân, mỗi năm chuyển về nhà 1,7-2 tỷ đô la Mỹ. Hầu hết trong số họ là những người làm việc chân tay, hoặc   chỉ được đào tạo ngắn hạn.

Việc hủy hoại môi trường biển do Formosa gây ra, cộng với việc nhiều công ty trong nước đóng cửa, phá sản, đã tạo ra một số lượng lớn người dân Việt thất nghiệp. Xuất cảng lao động đang trở thành một cửa cứu sinh cho nền kinh tế, xã hội  của Việt Nam hiện nay.

Phong Ly / SBTN

Việt Nam cần thay đổi gì?

From facebook:   Hoang Le Thanh‘s post.
 
Image may contain: 1 person, standing
Image may contain: 1 person, indoor
Hoang Le Thanh added 2 new photos 

 

Việt Nam cần thay đổi gì?

Trúc Giang (VNTB).

Thay một ông tổng bí thư? Thay một chủ tịch Nước, một chủ tịch Quốc hội hay một Thủ tướng?

Câu trả lời khá bất ngờ của ông Nguyễn Phú Hoà, phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương:

– “Thay đổi nền kinh tế giáo điều, bằng nền kinh tế thực sự là thị trường tự do, không định hướng nhiệm vụ chính trị”.

Ảnh 1: Ông Nguyễn Phú Hoà, phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương.

Ảnh 2: Hội trường “Diễn đàn xuất khẩu 2017”, do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC) phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ (FICCI) tổ chức vào chiều ngày 8/8/2017 tại khách sạn Rex, Sài Gòn.

Cái bất ngờ ở đây là ông Nguyễn Phú Hòa tuy được mời lên phát biểu với tư cách đại diện Cục Xuất nhập khẩu, nhưng đan xen trong phát biểu, có nhiều đoạn ông nói rõ rằng đây là quan điểm cá nhân.

Báo chí Nhà nước đã không đưa tin chi tiết về những ý kiến công khai và khá sốc của ông Nguyễn Phú Hòa tại “Diễn đàn xuất khẩu 2017”, do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM (ITPC) phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ (FICCI) tổ chức vào chiều ngày 8/8/2017 tại khách sạn Rex, Sài Gòn.

Tiếp tục niềm tin giáo điều là tiếp tục lao xuống vực thẳm

“Mọi chính sách, mọi bài phát biểu đều trở nên vô nghĩa nếu như không giúp ích cho doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa. Vì các doanh nghiệp không chỉ đang gánh vác trọng trách trả lương, nuôi sống hàng triệu gia đình người Việt Nam, mà quan trọng hơn, các anh các chị đang nuôi dưỡng ước mơ, khát vọng của dân tộc Việt Nam, ngẩng cao đầu, sánh vài cùng bè bạn năm châu thông qua các thương hiệu xuất khẩu”.

Ông Nguyễn Phú Hòa đã… đánh bài ngửa như vậy khi ông vừa bước lên bục phát biểu theo lời mời của ban tổ chức.

Cú vổ mặt tiếp theo là ông Nguyễn Phú Hòa nhấn mạnh ngay rằng quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Đức đang nổi lên một số bất đồng. Ông nói (trích băng ghi âm):

– “Kinh tế toàn cầu đã chứng kiến những diễn biến khó lường, khi thị trường Châu Âu với sự ra đi quyết liệt của nước Anh đã đặt ra nhiều cầu hỏi về sự điều chỉnh chiến lược của Liên minh Châu Âu, chưa kể hiện nay quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Đức đang nổi lên một số bất đồng”.

Ông Nguyễn Phú Hòa nói rằng Việt Nam cần nhìn thẳng vào thực tế nước Mỹ với tổng thống đắc cử Donald Trumph đã quay lưng với thương mại tự do, ông Trumph đã thẳng thừng bác bỏ TPP và nêu quan điểm rõ rệt về bảo hộ thị trường, sản xuất trong nước.

Phía Trung Quốc thì đang tái cơ cấu, tập trung vào thị trường nội địa, và có những chiến lược hết sức mạnh mẽ để cạnh tranh với Nhật, Hàn Quốc, và cả với Mỹ trong lĩnh vực chất lượng và năng suất. Không phải ngẫu nhiên mà người Trung Quốc ganh đua với Mỹ trong việc tạo ra siêu máy tính, hay trí thông minh nhân tạo.

Còn nước Nhật đang lặng lẽ trở thành quốc gia mà ở đó robot từng bước làm việc bên cạnh con người. Năng lực sản xuất của Nhật sắp tới sẽ gia tăng theo cấp số nhân!

Hàn Quốc đi vào năng lực thiết kế, sáng tạo, định ra xu hướng và tạo dựng thế lực dẫn đầu ở nhiều chuỗi sản xuất.

– “Còn Việt Nam thì vẫn mang tài nguyên ra để bán, và sẵn sàng bán bất kỳ thứ gì mà chúng ta có… Chỉ cần bước chân ra khỏi hội trường này, chúng ta sẽ chứng kiến thành phố không còn lối đi, hàng hoá tắt nghẽn trên đường ra cảng, người người xếp hàng để rồi trễ chuyến bay, cây xanh bị triệt hạ, biển đang dần ô nhiễm, con cái học thêm phờ phạc cả người, và hiếm có doanh nghiệp nào là không biết nghiệp vụ lót tay, … Và

” Tất yếu một bộ phận người dân Việt Nam đã bỏ ra 3 tỷ USD mua nhà xứ khác… mà thật ra là mua lại môi trường sống và cơ hội để con cái phát triển!

Nhìn sang Trung Quốc, giờ đây, dưới sự lãnh đạo của ông Tập Cận Bình đang chạy đua để thay đổi, họ đang thực hiện ước mơ về những thành phố sinh thái hoàn toàn, và làm trong sạch bộ máy theo cách của họ, từ đó nâng tầm thương hiệu Quốc gia và hàng hoá Trung Quốc. Còn chúng ta?”. Ông Nguyễn Phú Hòa dường như phát biểu trong tâm thế không tiết chế được cảm xúc.

*

Thể chế thay đổi và cần những con người thích hợp thể chế đó

Ông Nguyễn Phú Hòa cho rằng (trích băng):

– “Điều đáng quan ngại nhất, là cả xã hội Việt Nam đang sống trong sự hoài nghi cực độ, từ nguồn gốc hàng hoá, chất lượng sản phẩm cho đến lòng tin giảm sút vào thể chế. Nói không quá, Việt Nam đang trong hoàn cảnh: thập diện mai phục, đang thách thức ghê gớm sự phát triển của dân tộc, đất nước. Chúng ta có thể thuê chuyên gia, hoặc nhờ Tổ tư vấn kinh tế cho Thủ Tướng viết nên những kế sách thật trúng. Nhưng ai sẽ là người thực hiện kế sách đó? điều kiện để thực hiện? Một kế sách cần cả một xã hội để vận hành. Đây là câu chuyện thể chế và con người thực hiện thể chế!”.

Thể chế cần thay đổi ấy là gì, và những con người thích hợp cho thể chế cần kíp thay đổi ấy là ai?

Những vấn đề này ông Nguyễn Phú Hòa đã kịp tiết chế cảm xúc, và rất khéo ngay sau đó ông đề xuất – vẫn với tư cách cá nhân, rằng:

– “Để giữ chế độ, phát triển đất nước chọn cách tiếp tục trả lương thấp nhưng nuôi được nhiều biên chế. Đó là một bất cập. Vì chính một bộ phận không nhỏ trong số đó lại làm hại chế độ, mất lòng tin của dân vào chế độ, cản trở sự phát triển, vô hiệu hoá các chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Nên mạnh dạn, giảm sâu tổng biên chế các cơ quan, đoàn thể, các đơn vị bấu víu vào bầu sữa ngân sách, tăng lương lên gấp 3 lần, và đặt ra các chế độ đãi ngộ lớn sau khi về hưu, đặt ra trách nhiệm bị giám sát và năng lực hoàn thành trách nhiệm. Tập trung biên chế ở những nơi phục vụ trực tiếp nhân dân. Các đơn vị khác cần có cơ chế hoạt động như những đơn vị sự nghiệp, ít nhân sự, nguồn lực được khai thác từ ưu đãi bước đầu về đất đai, thực hiện xã hội hoá. Ví dụ: có thể được giao một số mặt bằng cho thuê, lấy tiền hoạt động, đồng thời phải xã hội hoá các hoạt động phục vụ xã hội thiết thực, từ đó có thu để phát triển.

Hoàn thiện, ủng hộ năng lực giám sát, phản biện chính sách của Mặt trận Tổ Quốc, và đặc biệt là các cơ quan báo chí, theo những nguyên tắc dựa trên bằng chứng và năng lực chứng minh, phản biện. Đề xuất cá nhân tôi, Mặt trận nên là cơ quan thống lĩnh báo chí. Các cơ quan khác của Chính phủ làm công tác giám sát hoạt động báo chí đúng pháp luật. Tất cả mục đích chỉ để tạo ra năng lực phản biện, giám sát khách quan giúp đất nước phát triển”.

Thẳng thắn phản biện, cần chấm dứt chụp mũ những tiếng nói phản biện bằng các điều luật hình sự, biết lắng nghe và thay đổi vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó là những điều mà nhiều người có mặt tại “Diễn đàn xuất khẩu 2017” cho rằng ông Nguyễn Phú Hòa đã rất khéo léo đặt ra, và ông rất khôn ngoan trước khi kết thúc phát biểu của mình bằng “ve vuốt” rất ư… tuyên giáo: “Kính thưa quý vị, để giúp doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng, và nền kinh tế Việt Nam nói chung, toàn thể doanh nghiệp, và nhân dân cần đồng lòng, thẳng thắn, phản biện và đoàn kết ủng hộ Đảng, Chính phủ để tạo ra xung lực vượt qua khó khăn và như thế may ra chúng ta theo kịp sự bứt phá nhanh chóng của thời đại. Toàn bộ bài phát biểu là quan điểm cá nhân tham gia thảo luận. Kính mong đoàn kết, và đồng lòng”.

Trúc Giang.

VNTB gửi BVN

Nguồn: http://www.boxitvn.net/bai/49927

NGUYỄN HỮU CẦU – NGƯỜI TÙ THẾ KỶ VÀ BẢN CÁO TRẠNG “HÙNG HẾT HỒN” NHẤT THẾ KỶ

From facebook:   Văn Lang‘s post.
 
Image may contain: one or more people, people sitting and outdoor
Văn Lang

 

NGUYỄN HỮU CẦU – NGƯỜI TÙ THẾ KỶ
VÀ BẢN CÁO TRẠNG “HÙNG HẾT HỒN” NHẤT THẾ KỶ

Đại uý Quân lực VNCH Nguyễn Hữu Cầu bị bắt vào tháng 4/’75 khi vùng I thất thủ. Xong khoá “học tập cải tạo” 5 năm, hắn về quê ở Rạch Giá.

Trong khí thế cách mạng còn đang hừng hực năm 1982, hắn dám cả gan đứng ra tố cáo cán bộ địa phương ta tham nhũng và hãm hiếp nữ thuyền nhân. Cuối cùng hắn đã bị công an ta bắt với cáo buộc tội “phởn động” bằng vật chứng là những bài thơ và ca khúc do hắn sáng tác.

Đây là lời buộc tội vô cùng đanh thép và hùng hết hồn trong bản cáo trạng 1982 của ta:

“Tên Nguyễn Hữu Cầu đã cấu kết với tên Anan và tên Ca Diếp. Mua dầu cho Anan và Ca Diếp để vượt biên. Hiện tại thì Anan đã vượt biên còn Ca Diếp thì đang trốn tại Khánh Hòa, khi nào bắt được sẽ xử lý sau”.

“Tên Nguyễn Hữu Cầu đã sáng tác ra bài ‘Giọt nước mắt Chúa’, với nội dung ca ngợi đế quốc Mỹ và còn mơ tưởng sự quay trở lại của đế quốc Mỹ, cầu ‘bơ thừa, sữa cặn’. 
Bài ‘Giọt nước mắt Chúa’ có nội dung như sau:

“Lạy Cha chúng con ở trên Trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng. 
Nước Cha trị đến. 
Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. 
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày 
và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. 
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ 
nhưng cứu chúng con ra khỏi sự dữ. 
Amen!”

Nguyễn Hữu Cầu đã coi đế quốc Mỹ như là Cha trên Trời”.

Với tội ác tày trời này, tên “phởn động” Nguyễn Hữu Cầu bị kết án tử hình ở phiên sơ thẩm, rồi giảm xuống chung thân ở phúc thẩm. 
Trước sức mạnh nghiêm minh, chính trực và công bằng của luật pháp ta, tên “phởn động” nguỵ quân Nguyễn Hữu Cầu đã phải ngoan ngoãn thọ án từ 1982.

Tháng 3 năn 2014 hắn được phóng thích nhờ được hưởng chính sách độ lượng, khoan hồng vô cùng nhân bản của đảng ta.

Tổng cộng hai lần, tên “phởn động” này phải trả giá bằng 37 năm tù.

Loại người đáng kinh tởm!

From facebook:   Phan Thị Hồng‘s post.
 
 
 
Image may contain: 1 person, eyeglasses
Image may contain: sky and outdoor
Phan Thị Hồng added 2 new photos — with Hoang Le Thanh.

 

Loại người đáng kinh tởm!

Loại người đáng kinh tởm nhất là: Đám trí thức, có học, thậm chí tự xưng là nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu, … Sống ở nước ngoài nhưng ra sức ca ngợi chế độ trong nước.

Nữ đạo diễn Song Chi
(Na Uy).

(Trích)

… Thực sự mà nói, tôi không thích nhưng tôi có thể hiểu được vì sao bọn công an, an ninh chìm nổi, dư luận viên, đám bồi bút văn nô cho tới quan chức trong nước ra sức bênh vực chế độ do đảng cộng sản lãnh đạo ở VN và chống lại tất cả những ai muốn thay đổi chế độ.

Bởi vì đó là cuộc sống, là quyền lợi của họ, chế độ này đã cho họ quá nhiều thứ, họ phải ca tụng, bảo vệ, chưa kể họ sống trong nước, bị tuyên truyền nhồi sọ bao nhiêu năm mà lại không có đủ ngoại ngữ, kiến thức để tìm hiểu sự thật.

Tôi khó chịu, có thể nói là khinh hơn nhiều những loại người sau:

1. Sống ở nước ngoài lâu năm nhưng không tiếp thu, ảnh hưởng được bất cứ cái gì hay ho, tiến bộ trong xã hội của người ta, vẫn giữ nguyên những quan điểm bảo thủ, “đỏ rực” còn hơn bọn dư luận viên trong nước, vẫn ra sức bênh vực chế độ cộng sản, chống lại mọi sự thay đổi.

2. Sống ở nước người ta, được nước sở tại cưu mang nhưng lại cộng tác, làm việc cho nhà nước VN, làm gián điệp, tay sai cho cộng sản, làm dư luận viên cao cấp viết những bài viết làm ra vẻ khách quan nhưng thực chất là khéo léo tuyên truyền, định hướng theo đường lối, quan điểm của nhà cầm quyền VN.

Bọn này nguy hiểm hơn bọn dư luận viên trong nước là vì có ngoại ngữ, am hiểu tình hình xã hội, luật pháp nước sở tại, lại có bằng cấp, có “mác” Việt kiều nên nhiều người tin, tưởng rằng họ khách quan, mà không biết rằng đa phần cũng là dân cộng sản hoặc có gia đình thân nhân là cộng sản. Như đồng chí T. ở Đức hay đồng chí Beo H. ở Mỹ. Điểm dễ nhận ra là tuy ra sức khen nước sở tại nhưng cực kỳ căm ghét chế độ VNCH và phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ cho VN. Đám này có khi chỉ là dư luận viên cao cấp, nhưng cũng có khi là gián điệp, nằm vùng, tai mắt của nhà cầm quyền VN gài vào cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

3. Những người từng sống ở miền Nam VN trước kia, nhưng lại thân Cộng, thuộc thành phần thứ ba, mà người miền Nam hay gọi là “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” hay “đâm sau lưng các chiến sĩ”, sau này sống ở nước ngoài nhưng đầu óc vẫn không thay đổi. Thật lạ lùng là hồi xưa thì có thể nói là họ không hiểu gì về cộng sản nên “mê” cộng sản, quay sang phá hoại chế độ VNCH từ trong lòng phá ra, nhưng bây giờ sau nhiều năm, chế độ do đảng cộng sản lãnh đạo đã bộc lộ hết tất cả sự tồi tệ, bản chất dối trá, buôn dân bán nước, hèn với giặc ác với dân, mà vẫn có những người thuộc thành phần này bênh vực.

Không ít người trong số này là trí thức, có học, thậm chí tự xưng là nhà thơ nhà văn nhà nghiên cứu nọ kia, sống ở nước người hưởng không khí tự do, dân chủ, hưởng đủ mọi quyền lợi, nhưng vẫn đi về VN, và nếu được gặp gỡ, bắt tay quan này quan kia hay được nhà nước VN chiếu cố cho in một quyền sách, cho ngồi trong Hội Việt kiều yêu nước, hạ cố hỏi ý kiến nọ kia…thì lấy làm vinh dự, hãnh diện, càng ra sức ngợi khen chế độ.

Loại này theo thiển ý của tôi là đáng khinh nhất!

Ảnh 1: Nữ đạo diễn Song Chi, người Huế, sống tại Na Uy.

Ảnh 2: Bên ngoài khuôn viên Đại Sứ Quán Việt Nam tại Đức chụp hôm 2/8/2017. Ảnh : AFP

Nguồn: Nhân chuyện “đồng chí” T. và những “đồng chí” giống như vậy. Tác giả Song Chi.

http://www.rfa.org/…/story-about-some-vietnamese-abroad-081…

Các bộ trong nội các Việt Nam: Lãnh đạo nhiều hơn nhân viên

Các bộ trong nội các Việt Nam: Lãnh đạo nhiều hơn nhân viên

Một trong những vụ công chức đánh bạc. Số scandal liên quan đến công chức tăng dần theo nỗ lực cải cách bộ máy hành chính. (Hình: News Zing)

HÀ NỘI (NV) – Theo kết quả một cuộc khảo sát về việc thực hiện cải cách bộ máy hành chính do Quốc Hội Việt Nam thực hiện thì lãnh đạo trong các bộ thuộc nội các Việt Nam nhiều hơn nhân viên.

Chẳng hạn tỉ lệ công chức giữ các chức vụ từ phó phòng trở lên tính trên nhân viên ở Bộ Công Thương là 3/4 (75%), ở Văn phòng Chính phủ và các bộ: Nội Vụ, Tài Chính,… là 3/4 (60%).

Lược thuật về cuộc khảo sát vừa kể, VN Economy cho biết thêm rằng Quốc Hội Việt Nam nhận định, tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ trong nội các Việt Nam vẫn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian. Kiểu trong bộ có các tổng cục, cục, vụ, văn phòng, thanh tra rồi trong các tổng cục cũng có cục, vụ, văn phòng, trong cục, vụ, văn phòng có các chi cục, phòng, ban… tương đương vẫn rất phổ biến.

Mỗi vấn đề cần được xử lý thường qua bảy bước: Chuyên viên soạn thảo báo cáo, đề nghị. Phó phòng cho ý kiến. Trưởng phòng cho ý kiến. Vụ phó cho ý kiến. Vụ trưởng cho ý kiến. Thứ trưởng duyệt văn bản. Bộ trưởng ký. Nếu có tổng cục thì còn thêm hai bước, trình cả tổng cục phó lẫn tổng cục trưởng cho ý kiến trước khi trình thứ trưởng duyệt, bộ trưởng ký.

Cơ quan thực hiện cuộc khảo sát vừa kể không lập thống kê, so sánh xem tỉ lệ văn bản được duyệt không khả thi, phải thu hồi hoặc hủy bỏ là bao nhiêu. Trên thực tế, tình trạng này diễn ra thường xuyên.

Cần nhắc lại rằng, theo nhiều chuyên gia, một trong những lý do khiến nợ nần của Việt Nam tăng vọt, bội chi, kinh tế liên tục suy thoái là do chi phí nuôi hệ thống công quyền quá lớn.

Theo một thống kê được công bố hồi năm ngoái, tại Việt Nam số lượng người hưởng lương hoặc các khoản có tính chất như lương từ ngân sách là 11 triệu. Con số này bao gồm các công chức trong hệ thống quyền và những cá nhân đang làm việc cho các tổ chức chính trị (như: Ðảng CSVN, Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam), các đoàn thể. Trung bình, 40 người dân Việt Nam (bất kể tuổi tác, kể cả trẻ sơ sinh) phải nuôi một công chức/viên chức.

Hồi còn là phó thủ tướng, đề cập đến đội ngũ công chức, viên chức Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Phúc từng nhận định, chỉ có 30% đáp ứng được yêu cầu công việc. Bà Phạm Chi Lan, một chuyên gia kinh tế, cho rằng, 30% công chức chỉ “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về.” Khi còn làm bộ trưởng Thông Tin-Truyền Thông, ông Lê Doãn Hợp, bổ túc, 30% còn lại không chỉ không làm được việc mà còn nhũng nhiễu, đòi hối lộ.

Tuy là một vấn nạn thường trực và dù giới lãnh đạo Việt Nam nhiều lần thề “cải cách bộ máy, giảm lượng người hưởng lương từ ngân sách nhưng nhiều năm nay tổng chi thường xuyên của Việt Nam vẫn chiếm từ 68% đến 72% tổng ngân sách. Chi thường xuyên là cách gọi những khoản chi nhằm duy trì hoạt động của hệ thống công quyền. Hồi Tháng Năm vừa qua, ông Vương Ðình Huệ, một trong các phó thủ tướng Việt Nam, bảo rằng, năm nay, tổng chi thường xuyên có giảm, sẽ đạt tỉ lệ khoảng… 67% tổng chi ngân sách.

Khi tổng chi thường xuyên vẫn ở mức như vừa kể thì sẽ tiếp tục phải cắt giảm nhiều thứ, đặc biệt là phúc lợi xã hội, đầu tư để phát triển, bội chi tất nhiên là không thể tránh và tất nhiên là phải tăng vay mượn.

Những tuyên bố, cam kết mạnh mẽ nhằm cải cách bộ máy, giảm chi thường xuyên của giới lãnh đạo Việt Nam vừa được minh họa bằng các con số rất ấn tượng từ cuộc khảo sát về việc thực hiện cải cách bộ máy hành chính do Quốc Hội Việt Nam thực hiện: Số đơn vị hành chính thuộc bộ, cơ quan ngang bộ tăng thêm 28. Số đơn vị hành chính trực thuộc tổng cục tăng thêm 822. Chuyện nâng các vụ thành cục đang trở thành… xu thế mạnh mẽ, năm năm vừa qua hệ thống công quyền Việt Nam có thêm 29 cục và dẫn đầu xu thế này là các bộ thực thi pháp luật như công an, tư pháp! (G.Ð)

Cải tạo ngược

Cải tạo ngược

image
NGUYỄN HOÀNG ĐỨC: TÔI LÀ MỘT TRONG NHỮNG PHÉP LẠ VỀ ĐỨC TIN…
Tôi đã từng làm trong Phòng Tôn giáo của Bộ Công an. Trong Phòng ấy người ta có “đối sách” về Đức Cha mà sau này là Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Ông bị chuyển đổi từ miền Nam ra với cái tội rất to là vì ông là cháu của Ngô Đình Diệm và trở về Sài Gòn làm Phó Tổng Giám mục theo ý là lót ổ để lên Tổng Giám mục. Và ông cứ thế bị chuyển ra ngoài Bắc. Trong thời gian ông ấy bị cầm cố ở Hà Nội (có nghĩa là không ở tù) tức là được giữ trong mật viện. Có một đội trông ông ta nhưng tôi là một cán bộ cũng khá lâu năm, một sĩ qua khá lâu năm nên tôi đề nghị để tôi ra học tiếng Pháp với Cha, để luyện nói trên tinh thần là luyện tiếng Pháp chứ không phải để trông Cha. Cụ thể là như thế.
Mặc Lâm: Trong lúc tiếp xúc với Hồng Y, ông có cảm nhận ra sao về Ngài dưới cái nhìn của một sĩ quan công an và nhất là công an chống phản động như ông vừa cho biết ạ?

Sau khi học tiếng Pháp với Ngài thì tôi cảm nhiễm tinh thần của Đức Cha. Sau này thì tôi thôi việc, lý do là sau khi xảy ra sự kiện Thiên An Môn tôi không còn muốn làm công an nữa vì tôi làm ở Cục chống phản động nên biết dễ phải đi đàn áp và tôi đã xin chuyển ngành nhưng không được, tôi xin thôi việc cũng không cho. Tôi vẫn cứ bỏ việc.

Sau khi vào Sài Gòn tôi làm cho dầu khí Việt Nam. Tôi có đi một số các nhà thờ, nhà thờ trung tâm Đức Bà, nhà thờ Kỳ Đồng. Sau khi ra Hà Nội thì tôi được mặc khải trong một giấc mơ là tôi đi nhà thờ và tôi có rửa tội. Đúng đêm tôi rửa tội ở nhà thờ lớn thì Cha Ngân, bây giờ trở thành Giám mục, bảo với Cha Hùng, hiện nay đang học bên Ý hay bên Pháp gì đấy, mời tôi viết diễn giải một cái tin và tôi có viết bài “Con Đường Đức Tin Qua Cây Cầu Francisco Savie Nguyễn Văn Thuận” Bài này đã gởi qua Tòa Thánh và nằm trong hồ sơ và đã được Cha Sỹ đang ở Việt Nam xin đưa chữ ký vào những bản dịch khoảng 4,5 thứ tiếng. Tôi hiểu là việc phong Thánh cần phải có phép lạ. Phép lạ thứ nhất là Đức tin. Phép lạ thứ hai là chữa bệnh. Phép lạ thứ ba là mồ mả phát. Tôi là một trong những phép lạ về Đức tin.
Nhân chuyện nhà văn Nguyễn Hoàng Đức, đọc lại tác phẩm của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.
 
Nhà văn Nguyễn Hoàng Đức nguyên là công an, từng học tiếng Pháp với Đức cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận (tranh trên) – Anh đã viết một chuyên luận về: “Hành trình đức tin qua cây cầu F.X Nguyễn Văn Thuận” để mô tả lại quá trình biến đổi tình cảm, tâm lý và đến với Chúa của anh. Tài liệu đó hiện đang được Bộ Phong Thánh ở Roma lưu giữ xem như một phép lạ đức tin.
image
Nhà văn Nguyễn Hoàng Đức (áo tím) đồng hành tìm Chân lý với gia đình TS Cù Huy Hà Vũ
Được Hội đồng Công Lý và Hòa Bình Tòa thánh Vatican mời qua Rôma làm chứng về Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận nhân dịp lễ kết thúc điều tra phong Chân phúc cấp giáo phận. Ngày 2/7/2013 anh lên đường sang Rôma, nhưng đã bị công an ngăn chặn và thu hộ chiếu tại sân bay Nội Bài mà không có lý do rõ ràng. Sự việc này anh đã có bài tường thuật tại đây.
Đức cố Hồng Y sống 13 năm trong ngục tù cộng sản, một số sự việc trong đời sống tù đày đã được Ngài kể lại trong ‘Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá’, tác phẩm được dịch ra 8 thứ tiếng, để phục vụ các tham dự viên ‘Những Ngày Giới Trẻ’ tại Paris năm 1997. Mời bạn đọc xem lại vài trích đoạn sau:
image
Hình Đức Cha 1967
Có lúc Chúa dùng giáo dân để dạy tôi cầu nguyện.
Thời gian bị quản thúc ở Giang xá, có ông lão nhà quê, tên là ông quản Kính, từ giáo xứ Ðại Ơn lẻn vào thăm tôi. Tôi không bao giờ quên được lời ông khuyên tôi:
“Thưa cha, cha không hoạt động tông đồ được thì xin cha cầu nguyện cho Hội thánh; ở trong tù cha đọc một kinh hơn một nghìn kinh cha đọc lúc ở ngoài tự do!”

Ðức Mẹ còn sử dụng cả người cộng sản để nhắc tôi cầu nguyện.
Ông Hải đã từng ở tù, nằm cùng buồng với tôi để mật thám tôi, sau đã thành bạn của tôi. Trước ngày ông ta ra về, ông đã hứa với tôi:
Nhà tôi ở Long Hưng, chỉ cách La Vang 3 km, tôi sẽ đi La Vang cầu nguyện cho anh”.
Tôi tin lòng thành thật của anh bạn, nhưng tôi hoài nghi làm sao một người cộng sản mà đi cầu nguyện Ðức Mẹ cho tôi! Sáu năm sau, đang lúc tôi ở biệt giam, tôi đã được một bức thư của ông Hải, lạ lùng thật! Lạ hơn nữa là lời lẽ của ông như sau:

“Anh Thuận thân mến, tôi đã hứa với anh, tôi sẽ đi cầu nguyện Ðức Mẹ La Vang cho anh. Mỗi Chủ nhật, nếu trời không mưa, lúc nghe chuông La Vang, tôi lấy xe đạp vào trước đài Ðức Mẹ, vì chiến tranh bom đạn đã đánh sập nhà thờ rồi. Tôi cầu nguyện thế này: Thưa Ðức Mẹ, tôi không có đạo, tôi không thuộc kinh nào cả. Nhưng tôi đã hứa sẽ đi cầu nguyện Ðức Mẹ cho anh Thuận, nên tôi đến đây. Xin Ðức Mẹ biết anh Thuận cần gì thì cho anh ấy“.

Tôi hết sức cảm động. Tôi đọc đi đọc lại rồi đặt thư xuống nhắm mắt lại: “Lạy Mẹ, Mẹ đã dùng anh cộng sản này để dạy con cầu nguyện; chắc Mẹ đã nhậm lời anh ấy, con mới còn sống đây!”.
image
Đức Hồng y Thuận và Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II
Ở trại giam Phú Khánh, một đêm tôi đau quá, thấy một người gác đi qua, tôi kêu: “Tôi đau quá, xin anh thương tình cho tôi thuốc!” Anh ta đáp: “Ở đây chẳng có thương yêu gì cả, chỉ có trách nhiệm“.
Ðó là bầu khí chúng tôi ở trong tù.
Lúc tôi bị biệt giam, trước tiên người ta trao cho năm người gác tôi: đêm ngày có hai anh trực. Cứ hai tuần đổi một tổ mới, để khỏi bị tôi làm nhiễm độc. Một thời gian sau không thay nữa, vì “cấp trên” nói: “Nếu cứ thay riết thì sở công an bị nhiễm độc hết!“
Thực thế, để tránh nhiễm độc, mấy anh không nói với tôi, họ chỉ trả lời “có” hoặc “không”. Họ tránh nói chuyện với tôi. Buồn quá! Tôi muốn lịch sự vui vẻ với họ, họ vẫn lạnh lùng. Phải chăng họ ghét “cái mác phản động” nơi tôi: Tất cả áo quần đều đóng dấu hai chữ lớn “cải tạo”, kể từ ngày bước chân vào trại Vĩnh Quang ở Bắc Việt.
Tôi phải làm thế nào?
Một đêm đông lạnh quá, không ngủ được, tôi nghe một tiếng nhắc nhủ tôi: “Tại sao con dại thế? Con còn giàu lắm: Con mang tình thương Chúa Giêsu trong tim con. Hãy yêu thương họ như Chúa Giêsu đã yêu con”.  Sáng hôm sau, tôi bắt đầu mến họ, yêu mến Chúa Giêsu trong họ, tươi cười với họ, trao đổi đôi ba câu nói… Tôi thuật lại những chuyến đi ra nước ngoài, cuộc sống, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tự do dân chủ ở Canada, Nhật Bản, Philippines, Singapore, Pháp, Ðức, Úc, Áo, v.v… 
Những câu chuyện đó kích thích tính tò mò của họ, giục họ đặt nhiều câu hỏi. Tôi luôn luôn trả lời… Dần dần chúng tôi trở thành bạn. Họ muốn học sinh ngữ Anh, Pháp… tôi giúp họ. Từ từ mấy chiến sĩ gác tôi trở thành học trò của tôi! Bầu khí nhà giam đổi nhiều, quan hệ giữa họ với tôi tốt đẹp hơn. Thậm chí cả những ông xếp công an, thấy tôi đối xử chân thành, không những họ xin tôi giúp các chiến sĩ học hành ngoại ngữ, nhưng họ còn gửi anh khác đến học.
Tôi sống theo lời Chúa Giêsu dạy: “Ðiều gì con làm cho một người bé mọn nhất trong anh em là làm cho chính mình Ta”.
Khi nào có hai hay ba người hợp nhau vì danh Thầy, thì có Thầy ở giữa họ”.

 

Một hôm một ông xếp hỏi tôi:
– Ông nghĩ thế nào về tờ tuần báo “Người Công giáo”?
– Nếu viết đúng cả nội dung cả hình thức thì có lợi; nếu ngược lại thì không thêm đoàn kết, lại còn thêm chia rẽ, bất lợi cho cả người Công giáo và cho cả nhà nước.
– Làm thế nào cải thiện tình trạng ấy?
– Những cán bộ phụ trách về tôn giáo phải hiểu đúng mỗi tôn giáo thì việc đối thoại, tiếp xúc các chức sắc mỗi tôn giáo cũng như các tín hữu mới có tính cách xây dựng, tích cực và tạo nên thông cảm giữa đôi bên.
– Ông có thể giúp được không?
– Nếu các vị muốn, tôi có thể viết một cuốn Lexicon (từ điển bỏ túi) gồm những danh từ thông dụng nhất trong tôn giáo, từ A đến Z, chừng nào các vị có giờ rảnh, tôi sẽ giải thích rõ ràng, khách quan. Hy vọng các vị có thể hiểu lịch sử, cơ cấu, sự phát triển và hoạt động của Giáo hội…
 
Họ đã trao giấy mực cho tôi, tôi đã viết cuốn “lexicon” đó, bằng tiếng Pháp, Anh, Ý, Latinh, Tây Ban Nha, và Trung Quốc với phần giải thích bằng Việt ngữ. Dần dà tôi có cơ hội giải thích hoặc giải đáp thắc mắc, tôi chấp nhận làm sáng tỏ những chỉ trích về Giáo hội. “Lexicon” ấy trở thành một cuốn giáo lý thực hành. Ai cũng muốn biết viện phụ là gì, thượng phụ là gì, Công giáo khác Anh giáo, Tin Lành, Chính Thống giáo chỗ nào? Tài chánh của Tòa thánh từ đâu mà có? Có bao nhiêu tu sĩ, giáo dân làm việc trong giáo triều, huấn luyện tu sĩ, giáo sĩ thế nào? Giáo hội phục vụ nhân loại thế nào? Tại sao Giáo hội gồm có nhiều dân tộc, sống qua nhiều thời đại cũng bị bắt bớ, tiêu diệt, cũng mang nhiều khuyết điểm mà vẫn tồn tại? Ngang đây là đến biên giới của siêu nhiên, của sự quan phòng của Thiên Chúa… Cuộc đối thoại từ A đến Z giúp xóa tan một số hiểu lầm, một số thành kiến, có những lúc trở nên thú vị và hấp dẫn. Tôi tin tưởng có nhiều người cởi mở, muốn tìm hiểu và với những biến chuyển trong thời đại ta, đã có những tầm nhìn mới mẻ và xây dựng.

 

Thời kỳ biệt giam ở Hà Nội, tôi được biết có 20 chiến sĩ nam nữ trẻ học tiếng Latinh với một cựu tu sĩ, để có thể đọc các tài liệu của Giáo hội. Trong số mấy anh gác tôi có hai anh trong nhóm học Latinh. Trông thấy bài vở, tôi nhận thấy họ học tốt. Một hôm, một trong hai anh ấy hỏi tôi:
– Ông có thể dạy tôi một bài hát tiếng Latinh không?
– Có nhiều bài hay tuyệt, nhưng biết anh thích bài nào?
– Ông hát cho tôi nghe, tôi sẽ chọn.
Tôi đã hát Salve Regina, Veni Creator, Ave Maris Stella… Các bạn biết anh ta chọn bài nào không? Anh ta chọn bài Veni Creator (Xin Chúa Ngôi Ba đoái thương viếng thăm…).
image
 
Tôi đã chép trọn cả bài cho anh ta và anh ta học thuộc lòng. Mỗi sáng quãng 7 giờ, tôi nghe anh ta chạy xuống thang gỗ, ra sân tập thể dục, rồi múc nước vừa tắm vừa hát: Veni Creator Spiritus… Tôi rất cảm động, làm sao mỗi sáng trong nhà tù cộng sản lại có một cán bộ hát kinh “Veni Creator” cho mình nghe!
image

https://www.youtube.com/watch? v=33XotuYs-io 

Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi mọi sự dữ. Amen.

Nhiều người nghèo miền Tây bị lừa ‘đi Mỹ lao động’

Nhiều người nghèo miền Tây bị lừa ‘đi Mỹ lao động’

Các nạn nhân trình bày vụ việc. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)

SÓC TRĂNG, Việt Nam (NV) – Hàng chục người dân nghèo ở Sóc Trăng, Bạc Liêu đã gửi đơn cầu cứu đến chính quyền địa phương vì bị lừa chiếm đoạt tiền đi “xuất khẩu lao động ở Mỹ.”

Theo báo Thanh Niên, qua xác minh của Sở Lao Động-Thương Binh-Xã Hội tỉnh Sóc Trăng cho thấy, nhóm lừa đảo nhắm đến người nghèo Khmer, không hiểu rõ các quy định của nhà nước rồi vẽ ra viễn cảnh “đi lao động ở Mỹ có thu nhập cao, thủ tục nhanh chóng, đi lại dễ dàng.”

 

Nói với báo Thanh Niên, ông Sơn Sô Đa (39 tuổi) và vợ là bà Triệu Thị Thông (38 tuổi, xã Đại Ân 2, huyện Trần Đề) cho biết gia đình chỉ có một công đất ruộng, cuộc sống khó khăn, hai con đang ăn học nên mong muốn có việc làm ổn định để trang trải cuộc sống.

Cuối năm 2016, một người tên Lâm Lên (33 tuổi, ở cùng xã) tìm đến nhà ông Đa, nói có quen với một người đang làm việc tại Mỹ. Người này muốn giúp người dân địa phương tìm việc làm ở Mỹ với thu nhập khoảng $1,000/tháng, được chủ bao ăn ở.

Vợ chồng ông Sơn Sô Đa và bà Triệu Thị Thông. (Hình: Báo Thanh Niên)

Tin lời, vợ chồng ông Đa cầm cố đất ruộng được một lượng vàng và vay thêm ngân hàng 5 triệu đồng, rồi đem mua được $3,000 đưa hết cho ông Lên để “lo giấy tờ” đi lao động  kiếm tiền trả nợ, nuôi con. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, ông Lên chiếm đoạt rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Lúc này, vợ chồng ông Đa mới biết mình bị lừa.

“Lúc đầu, Lên bảo vợ chồng tôi đưa $1,000 để lo thủ tục cho hai người, nửa tháng sau, Lên nói đưa thêm $2,000 để hoàn tất giấy tờ. Gia đình đi vay mượn tiền đưa cho Lên, nhưng đến khi hỏi thăm tình hình thì Lên đã trốn khỏi địa phương. Hiện gia đình phải ôm nợ ngân hàng, chỉ có một công đất đã đem cầm cố rồi, nay phải đi làm thuê kiếm sống qua ngày,” bà Thông nói.

Ông Thái Văn Bằng, trưởng công an xã Đại Ân 2, cho biết ngoài vợ chồng ông Đa, còn có 15  người khác ở địa phương đã gửi đơn đến công an xã tố cáo việc lừa đảo của ông Lên.

Ông Lên đã bỏ trốn khỏi địa phương. (Hình: Báo Thanh Niên)

Theo ông Bằng, qua xác minh cho thấy, cuối năm 2016, một số người gồm ông Sơn Minh Hòa, bà Trần Thị Ngọc, bà Triệu Vên (đều ở xã Đại Ân 2) hiện đang sống và làm việc ở Mỹ, đã vận động, lôi kéo người dân địa phương làm hồ sơ sang Mỹ lao động.

Nếu đồng ý xuất cảnh thì họ giới thiệu gặp ông Lên để người này hướng dẫn làm hồ sơ. Quá trình làm hồ sơ, ông Lên yêu cầu mỗi người phải nộp từ $1,500 đến $5,000 và hứa sẽ nhờ vợ chồng bà Trần Thị Ngọc bảo lãnh sang Mỹ lao động với mức lương cao.

Với thủ đoạn trên, từ Tháng Mười, 2016, đến nay, nhóm người trên “làm hồ sơ” cho 106 trường hợp ở các huyện Mỹ Tú, Long Phú, Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, và một số nơi ở tỉnh Bạc Liêu. Trong đó, có 30 trường hợp đã đưa tiền cho Lên tổng cộng $57,000. Tuy nhiên, đến nay không có người nào được xuất cảnh, còn ông Lên thì bỏ trốn biệt tăm.

Ngoài ra, qua xác minh ở một số địa phương ven biển của tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, tổng số người bị ông Lên lừa đảo lên đến hàng chục trường hợp.

Ngày 8 Tháng Tám, ông Nguyễn Minh Ngọc, phó giám đốc công an tỉnh Sóc Trăng, cho biết: “Qua xác minh ban đầu, công an xác định đối tượng chủ mưu, xúi giục, lừa đảo người dân đi lao động ở Mỹ hưởng lương cao là Trần Thị Ngọc, quê xã Đại Ân 2, huyện Trần Đề, hiện sống và làm việc tại Mỹ.” (Tr.N)

Cái chết trong tù CS của cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát

 

Bác Sĩ Phan Huy Quát sinh năm 1908 tại Nghệ Tĩnh, tham chính nhiều lần, từng làm Tổng Trưởng Giáo Dục, Tổng Trưởng Quốc Phòng, lần cuối cùng giữ chức vụ Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa, vào năm 1965.

Ông cũng là Chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng, phân bộ Việt Nam, và là chủ nhiệm tuần báo Diễn Ðàn, Sài gòn, 1972.

Ngày 16 Tháng Tám 1975 Bác Sĩ Quát bị Cộng Sản bắt do nội phản trên đường vượt biên; và chưa đầy bốn năm sau ông từ trần trong nhà tù Chí Hòa.

Bài dưới đây do ký giả kỳ cựu Nguyễn Tú, bạn ông, và cũng là bạn tù (người đã sống bên cạnh Bác Sĩ Quát trong những ngày tháng và giờ phút cuối cùng tại khám Chí Hòa), kể lại “như một nén hương chiêu niệm chung.”

Trong thời gian bị cầm tù, Bác Sĩ Quát bị bệnh gan rất nặng song Việt Cộng không cho chữa chạy, thuốc men do gia đình tiếp tế không được nhận. Người con trai út bị giam ở phòng bên, có thuốc cho bố, cũng không làm sao mang sang. Khi biết ông không thể nào qua khỏi, chúng mới đem ông lên bệnh xá. Ông chết ở đó vào ngày hôm sau, 27 Tháng Tư 1979.

Tang gia đã được phép để mang thi hài ra quàn tại chùa Xá Lợi và phát tang ở đấy vào ngày hôm sau, song phút chót, Hà Nội ra lệnh phải an táng ngay, vì ngày đó, 28 Tháng Tư 1979, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc tới Sài Gòn; Việt Cộng sợ dư luận quốc tế – nếu biết đến cái chết bị bỏ mặc của một cựu Thủ Tướng Miền Nam – có thể ngó tới tình trạng giam cầm của hàng trăm ngàn người khác. Cũng bởi thế, rất ít người nghe biết đến sự đày đọa tù nhân Phan Huy Quát cũng như cái chết trong tù của ông – bên cạnh các trường hợp tương tự của các trí thức văn nghệ sĩ khác – của nhà cầm quyền Hà Nội. Chí Hòa, Sài Gòn – Một ngày cuối Tháng Tư 1979


Gia đình Thủ Tướng Phan Huy Quát

Hôm nay đến lượt bốn phòng 5-6-7-8-, gác 1, khu ED được đi tắm, giặt. Mọi người đều rộn rạo, hối hả chuẩn bị, cười hô hố. Cứ ba ngày rưỡi mới được xối nước trên thân thể hôi hám, ngứa ngáy và vò vội quần áo đã tích trữ kha khá mồ hôi, đất ghét, thì trước cái hạnh phúc nhỏ nhoi chỉ được phép hưởng hai lần mỗi tuần, ai mà không “vui vẻ, hồ hởi, phấn khởi” dù, trên lý thuyết, thời gian tắm được quy định 30 phút cứ bị cán bộ ăn bớt, chỉ còn vỏn vẹn 15 phút.

Cả bốn phòng đã lần lượt ra hành lang ngồi xổm sắp hàng đợi cán bộ gác đến điểm số. Lần đó, viện cớ bị cảm, tôi xin phép ở lại trong buồng. Tôi có mục đích riêng.

Kiểm tra xong số người ở lại mỗi buồng, cán bộ ra hiệu cho mọi người đứng dậy, tiến về phía cầu thang. Tiếng guốc, tiếng dép khua trên cầu thang, tiếng nói lao xao của đoàn người xa dần rồi lắng hẳn. Từ dưới sân đã bắt đầu vọng lên tiếng xối nước ào ào, tiếng nói oang oang, tiếng cười khanh khách thỉnh thoảng xen tiếng chửi thề thân mật, tiếng sặc nước, tiếng rú khoái trá của các bạn tù được làn nước mát như nước lũ chẩy dồn dập trên da. Hạnh phúc thật!

Buồng 5 chúng tôi ở đầu dãy, sát với đầu cầu thang, nơi đây đặt một cái bàn và một cái ghế cho cán bộ gác. Chỗ tôi nằm sát hàng song sắt. Tôi đứng dậy, nhìn về phía đầu cầu thang chỉ cách chừng ba thước rồi quay người, đảo mắt suốt dọc hành lang. Không có bóng cán bộ. Căn phòng vơi đi 58 người như rộng ra. Hơi nồng của 60 mạng tù tích tụ từ suốt ngày và đêm trước tự giải phóng dần dần đem lại một cảm giác thoáng khí hơn.

Căn phòng chỉ còn lại hai người không đi tắm là tôi và một người nữa đang nằm ở hàng giữa, sát tường, trên diện tích vỏn vẹn có 60 phân tức 2/3 của một chiếc chiếu hẹp. Ðó là khoảng không gian đã được chia rất đều cho 60 tù nhân mà Việt Cộng đã cải cho cái danh từ mỹ miều là “trại viên” Người đồng phòng này nằm, hai chân duỗi thẳng, hai cánh tay gập lại trên bụng, hai bàn chân chắp vào nhau, mắt nhắm, vẻ mặt bình thản. Ông bị bệnh đã hơn một tuần, không thuốc men. Nước da mặt đã chuyển sang màu tai tái càng nổi bật với màu trắng của chòm râu và mái tóc. Bệnh nhân nằm im, không cựa quậy, thân hình như đã quen đóng khung trong không gian 60 phân của chiếc chiếu. Ông là Bác Sĩ Phan Huy Quát đã từng là Tổng trưởng nhiều lần, chức vụ cuối cùng và cao nhất trong hoạt động chính quyền của ông là chức Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa vào Mùa Xuân 1965. Năm 1979 ông đã trên 70 tuổi.

Tôi đảo mắt một lần nữa suốt dọc hành lang, dõng tai nghe ngóng. Vẫn không một bóng người, không một tiếng động khả nghi nào trên tầng gác vắng lặng. Tôi bước vội tới chiếu của Bác Sĩ Quát rồi ngồi sát bên. Bệnh nhân vẫn nằm im, mắt nhắm, không một phản ứng nào chứng tỏ ông cảm giác thấy có người bên cạnh. Hơi thở yếu. Bộ đồ ngủ của ông bận có cũ nhiều nhưng không bị xô lệch. Ðôi ống quần được kéo thẳng tới cổ chân. Ðôi tà áo được khép gọn, ôm kín thân trên. Cánh tay áo trùm tới tận cổ tay. Chẳng phải vì cuộc sống tạm bợ trong tù rất nhiều hạn chế khắc nghiệt cộng thêm lâm bệnh nặng đã hơn một tuần – một trường hợp bất cứ ai cũng có thể buông thả, mặc cho thân phận nổi trôi và có thể kém đi nhiều, ít cảnh giác về cách phục sức và tư thế – mà Bác Sĩ Quát thiếu chững chạc. Và từ cái chững chạc này như toát lên một cái gì có vẻ nghịch lý đến độ vừa đau đớn vừa dũng mãnh giữa thân phận con người và hoàn cảnh.

Tôi khẽ lên tiếng: “Anh Quát! Anh Quát!”

Không một phản ứng của bệnh nhân. Tôi lắc nhẹ cánh tay bệnh nhân, hơi cao giọng: “Anh Quát! Anh Quát!” Vẫn không một phản ứng, tôi đưa ngón tay trỏ qua mũi bệnh nhân. Hơi thở quá yếu. Dưới sân, tiếng xối nước bắt đầu thưa dần. Thời gian tắm giặt sắp hết. Tôi không muốn mục đích khai bệnh giả của tôi bị lộ là cố ý ở lại buồng để đích thân nói ít điều cho là cần thiết với Bác Sĩ Quát và cả với tôi nữa.

Buồng 5 chúng tôi vẫn được Việt Cộng coi là một buồng “phản động” nhất trong số bốn buồng của lầu 1, khu ED vì chứa một cựu Thủ tướng, 3 cựu Tổng trưởng, nhiều sĩ quan cấp tá, một số ít dân sự “đầu chai đá, khó cải tạo, phần tử rất xấu, mất dậy.” Một buồng “ngụy nặng” nên được Việt Cộng tận tình “chiếu cố” trong sinh hoạt hàng ngày. Ngoài ra, còn phải kể tới một vài tên “ăng ten” tức chỉ điểm được cài trong buồng. Tóm lại, chúng tôi đều bị theo dõi rất sát, rất chặt. Tôi phải làm gấp. Tôi lắc mạnh hơn cánh tay bệnh nhân, cao giọng thêm: “Anh Quát! Anh Quát!”

Bệnh nhân vẫn lặng im. Phải làm thật gấp. Tôi xoay nghiêng mình, tỳ tay xuống chiếu, ghé miệng sát tai Bác Sĩ Quát, cố nói thật rành rẽ: “Anh Quát! Anh Quát! Nhận ra tôi không?” Lần này đôi mi bệnh nhân hơi động đậy rồi dướng lên, hé mở. Tôi thoáng thấy lòng trắng mắt vàng khè. Chẳng cần phải học ngành y mới biết bệnh gan của Bác Sĩ Quát coi mới nặng. Bệnh nhân vắn tắt thều thào: “Anh Tú!” Tôi hơi yên tâm. Miệng lại sát tai Bác Sĩ Quát, tôi nói: “Anh mệt lắm phải không?” Ðầu bệnh nhân hơi gật gật. Không hiểu lúc đó linh cảm nào xui khiến, tôi cố rót vào tai Bác Sĩ Quát, giọng hơi nghẹn: “Anh có nhắn gì về gia đình không?” Bệnh nhân cố gắng lắc đầu, mắt vẫn nhắm. Dưới sân không còn tiếng xối nước nữa. Có tiếng các buồng trưởng dục anh em tập hợp để điểm số lại trước khi lên buồng. Chỉ còn độ hơn một phút. May lắm thì hai phút. Tôi dồn dập bên tai Bác Sĩ Quát: “Ai đặt bày, lừa bắt anh? Ai phản anh? Thằng Liên phải không? Nói đi! Nói đi!” Ðôi môi bệnh nhân như mấp máy.

Tôi vội nhổm lên, ghé sát tai tôi vào miệng bệnh nhân. Một hơi thở khò khè, theo sau là vài tiếng khô khốc, nặng nhọc như cố trút ra từ một chiếc bong bóng đã dẹp hơi đến chín phần mười: “Thôi! Anh Tú ạ.” Tiếng guốc, dép, tiếng cười, nói ồn ào đã bắt đầu từ chân cầu thang. Tôi chưa chịu buông: “Nói đi! Anh Quát! Nói đi!” Một hơi thở một chút gấp hơn, như làn hơi hắt vội ra lần chót! “Thôi! Thôi! Bỏ đi!” Tiếng guốc, dép, tiếng cười, nói ồn ào đã tới quá nửa cầu thang. Tôi vội nhổm dậy, bước nhanh về chiếu mình, nằm thẳng cẳng, vắt tay lên trán.

Ngoài hành lang, các bạn tù hối hả, xôn xao phơi quần áo mới giặt. Vài tiếng kỳ kèo nhau về chỗ dây phơi. Rồi như một đội quân đã chọc được phòng tuyến địch, họ ùa vào phòng, đứng lố nhố nghẹt lối đi quá nhỏ giữa ba hàng chiếu. Căn phòng như bị co hẹp lại. Tiếng cười đùa thưa dần khi tất cả đã về được chiếu mình. Khói thuốc lá bắt đầu tỏa. Ðây đó tiếng rít của vài bình thuốc lào nổi lên sòng sọc. Bây giờ thì mọi người, sau trận tắm thỏa thuê, đã ngả lưng trên chiếu. Cả phòng lặng tiếng.

Tôi ngồi dậy, hỏi vọng qua hàng chiếu giữa, phía sát tường: “Anh Châm! Anh coi lại xem anh Quát bệnh tình hôm nay ra sao?”

Bác Sĩ Hồ Văn Châm, cựu Tổng trưởng Thông tin, Chiêu hồi và Cựu chiến sĩ, có phần chiếu liền bên Bác Sĩ Quát. Ông Châm quay về phía Bác Sĩ Quát, tư thế nằm vẫn y như trước. Cảnh lộn xộn, ồn ào, ầm ĩ vừa qua của căn phòng không làm Bác Sĩ Quát động đậy chút nào. Cái gì đã như làm tê liệt bộ phận giây thần kinh điều khiển nguồn năng ý chí con người đến nỗi Bác Sĩ Quát không phản ứng gì, hay không còn muốn phản ứng gì dù chỉ là một phác họa – trước cảnh huống bên ngoài? Một hình ảnh buồn thảm lóe lên trong tưởng tượng; nếu không phải là mùa oi bức thì một tấm nền mỏng đắp lên người dong dỏng và gầy guộc của Bác Sĩ Quát thừa đủ để đóng vai trò một tấm khăn liệm.

Bác Sĩ Châm hướng về phía tôi, lắc đầu. Tôi lên tiếng với buồng trưởng: “Anh Phương! Báo cáo cán bộ xin đưa Bác Sĩ Quát đi bệnh xá chứ!” Phương là hạ sĩ quan binh chủng nhẩy dù, tuổi khoảng 30. Tuy còn trẻ, tóc Phương đã trắng xóa, có lẽ vì “xấu máu.” Anh em bèn dán cho cái nhãn hiệu “Phương đầu bạc.” Phương lặng thinh, coi bộ ngần ngại. Nói cho ngay suốt hơn một tuần lễ Bác Sĩ Quát lâm bệnh Phương đã mấy lần báo cáo xin đưa Bác Sĩ Quát đi bệnh xá, nhưng đều bị từ chối. Tôi quay về phía Bác Sĩ Châm: “Anh Châm! Nói cho Phương biết bệnh trạng của Bác Sĩ Quát đi!” Ông Châm bèn bảo: “Anh Phương! Báo cáo cán bộ ngay đi!” Phương không đáp, lộ rõ vẻ ngần ngại. Trong phòng bỗng nhao nhao nhiều giọng thúc giục, gay gắt: “Báo cáo đi! Chờ gì nữa? Bệnh như vậy mà không đi báo cáo, còn chờ gì nữa? Chờ người ta chết à?” Căn phòng đang im ắng, sống động hẳn lên.

Nhiều bạn đang nằm, nhóm người nhìn về phía Phương. Ðang cởi trần, Phương uể oải đứng dậy, bận áo, ra khỏi phòng, đi về phía đầu cầu thang. Một lát khá lâu, cán bộ gác tới, có Phương theo sau. Anh chàng cán bộ, mặt hơi khinh khỉnh, từ bên ngoài song sắt cộc lốc hỏi vọng: “Ðâu?” Bác Sĩ Châm nhích người qua một bên, chỉ vào Bác Sĩ Quát: “Ðây, cán bộ!” Nhìn một lát, cán bộ quay lưng, Phương lẳng lặng về chiếu mình. Những anh em khác lại đặt mình nằm. Căn phòng chìm trong im lặng hoàn toàn như thể hồi hộp chờ đợi một phán quyết sinh tử của trại.

Chừng 20 hay 30 phút sau, có tiếng lao xao ở đầu cầu thang. Hai bạn tù được làm ở bệnh xá, đem một băng ca tới cùng với cán bộ gác và một cán bộ khác, chắc là ở bệnh xá. Căn phòng lại náo động. Mọi người đều ngồi dậy hoặc đứng lên phần chiếu của mình.

Phương “đầu bạc” dẫn hai anh mang băng ca đến chỗ Bác Sĩ Quát. Bệnh nhân như mê man, tự mình không ngồi dậy được. Bốn anh em khỏe mạnh trong phòng xúm nhau nâng bệnh nhân đặt trên băng ca. Trong lúc đó Bác Sĩ Châm vội nhét vào một túi nhỏ vài đồ cần thiết cho Bác Sĩ Quát: Kem và bàn chải đánh răng, vài đồ lót, thêm một bộ đồ ngủ, đũa, muỗng, chén… Băng ca được khiêng đi. Bệnh nhân vẫn nằm, mắt nhắm, không một phản ứng. Dưới sân, một tiếng kêu lớn! “Lấy cơm!” Căn phòng trở lại cuộc sống đơn điệu hàng ngày của một trại tù. Lúc đó khoảng 10 giờ rưỡi.

Trưa hôm sau, khi lấy cơm trở về, anh em thì thầm rỉ tai nhau: “Bác Sĩ Quát chết rồi!” Cả phòng nhao nhao: “Hồi nào? Hồi nào? Chết mau quá vậy?” Một anh đáp: “Nghe nói, hồi trưa hôm qua thì phải.”

Chỉ một lát cáo phó miệng của các bạn tù đi lấy cơm đã lan truyền khắp khu ED. Bữa cơm trưa hôm đó ít ồn ào hơn thường lệ. Có ai trong phòng thốt một câu: “Bệnh như vậy, suốt hơn một tuần xin đi bệnh xá, không cho. Ðợi gần chết mới cho thì còn gì!” Một điếu văn ngắn, gọn, hàm xúc cho một bạn tù đã nằm xuống. Một lời ngắn, gọn, hàm xúc lên án chế độ bất nhân, ác nghiệt của Cộng Sản. Căn phòng gần như lặng đi.

Không bao lâu sau bữa cơm, cán bộ gác tới, bảo buồng trưởng thu dọn đồ của Bác Sĩ Quát. Trước khi quay lưng, hắn còn nói với: “Nhớ làm bản kê khai, nghe không!” Ðối với tù nhân, đó là lời công nhận chính thức cái chết của bất cứ “trại viên” nào. Lần này, là cái chết của một vị cựu thủ tướng.

Manh chiếu của Bác Sĩ Quát đã được gỡ đi theo giỏ đồ còn lại của ông xuống văn phòng khu. Chỗ nằm cũ của ông trơ ra phần sân xi măng đã xỉn đen thời gian, mồ hôi, đau khổ và uất ức dồn nén của hàng hàng lớp lớp thế hệ tù chính trị mà ông đã là một trong biết bao người kế tiếp bất tận. Trí tưởng tượng của ta có mặc sức tung hoành sáng tác biết bao nhiêu chuyện về trại tù và thân phận tù nhân dưới chế độ Cộng Sản, thì mảnh không gian xi măng đen kia thầm lặng mà hùng hồn nói lên còn hơn thế nữa. Những ngày kế tiếp, cái chết tức tưởi mang nhiều vẻ không rõ ràng của Bác Sĩ Quát còn là đề tài bàn tán của nhiều người trong phòng được tóm gọn trong hai chữ “nghi vấn.” Nhiều người cho rằng nếu được đi bệnh viện sớm hơn, hoặc nếu không, mà được phép biên thư về nhà để thân nhân kịp thời gửi thuốc thì có thể Bác Sĩ Quát đâu ra đến nông nỗi đó.

Năm 1979 vẫn còn nằm trong thời kỳ mà Việt Cộng gọi là “rất căng.” Cuộc cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, nếu xuôi xẻ về mặt quân sự, thì về mặt dân tình và chính trị lại chẳng xuôi xẻ chút nào. Nhiều nơi đã nổi lên những phong trào chống đối vũ trang làm cho Việt Cộng vô cùng lo lắng trong việc ước lượng tầm cỡ của mỗi phong trào để liệu cơ đối phó. Ngay tại Sài gòn, năm 1976, vụ Vinh Sơn xẩy ra chưa đầy một năm sau “đại thắng Mùa Xuân” của Việt Cộng đã làm chúng thất điên bát đảo và mặc dù những người chủ trương và lãnh đạo vụ Vinh Sơn cùng với một số chiến hữu đã bị Việt Cộng thẳng tay đàn áp và thanh toán, dư âm và ảnh hưởng của vụ ấy vẫn còn kéo dài mãi tới 1979 và sau nữa. Lại thêm cuộc chiến với Trung Cộng Mùa Xuân 1979 ở miền Bắc và cuộc chiến với Căm Bốt ở miền Nam khởi sự từ 1978. Do đó Việt Cộng càng siết chặt kỷ luật đối với tù chính trị. Tuy không có bằng chứng rõ ràng, nhiều người trong phòng có cảm giác “ăng ten,” tức chỉ điểm viên, đã được tăng cường.

Cuộc sống tiếp tục trong bầu không khí càng ngày càng ngột ngạt. Việt Cộng “dư” lý lẽ để đối xử với tù nhân tàn nhẫn hơn, bất nhân hơn. Bác Sĩ Quát đã lâm bệnh trong hoàn cảnh khắc nghiệt đó. Con trai út của ông là Phan Huy Anh bị bắt cùng với ông ngày 16 Tháng Tám 1975 không được ở chung cùng buồng, mà bị giam ở buồng 6 sát bên. Hai cha con chỉ trông thấy nhau những lần đi tắm, tức hai lần một tuần. Khi tắm cũng không được liên hệ với nhau. Huy Anh dù có muốn giúp bố giặt quần áo hay một vài việc vặt vãnh cũng không bao giờ được phép. Còn nói chuyện với nhau thì tuyệt đối cấm. Nếu bị bắt quả tang hay có người tố cáo, hai cha con sẽ bị cúp viết thư về nhà với hậu quả kèm theo là bị cúp thăm nuôi. Ấy là chưa kể có thể bị kỷ luật đưa đi biệt giam. Việc thăm nuôi của gia đình cũng tách rời, riêng biệt: không bao giờ hai cha con được thăm nuôi, gặp gỡ thân nhân cùng một lúc, cùng một ngày. Hai cha con sống sát buồng nhau mà còn hơn hai kẻ lạ. Hai kẻ lạ còn có thể xin phép trao đổi với nhau chút quà, nói với nhau dăm ba câu. Bác Sĩ Quát và Huy Anh luôn luôn bị từ chối và bị theo dõi kỹ. Khi được tin bố lâm bệnh, Huy Anh nhiều lần xin phép qua thăm và đem thuốc cũng không được. Chỉ tới phiên đi lãnh cơm, Huy Anh mới được bước ra khỏi buồng. Những lúc đó tôi thoáng bắt gặp ánh mắt buồn bã của Huy Anh kín đáo nhìn qua song sắt tới chỗ bố đang nằm lịm. Tôi còn nhớ hai ngày trước khi Bác Sĩ Quát được đưa đi bệnh xá, cán bộ gác mới cho phép Huy Anh đem thuốc cho bố, sau không biết bao nhiêu lần năn nỉ. Huy Anh chỉ được phép đứng ngoài cửa nhìn vọng vào. Thuốc thì do buồng trưởng nhận đưa cho Bác Sĩ Quát. Thuốc đến quá muộn, dù chỉ là thứ thuốc thông thường trị bệnh gan. Lần “nhìn thăm” thầm lặng được phép công khai đó dài không quá hai phút. Và đó cũng là lần chót Huy Anh được chính thức nhìn bố qua chiều dài gần 8 thước của căn buồng dưới đôi mắt cú vọ của cán bộ gác ngồi phía đầu cầu thang giám sát.

Hôm Bác Sĩ Quát được khênh đi bệnh xá, Huy Anh cũng không được phép ra khỏi buồng dù chỉ để nói ít câu thăm hỏi và nhìn bố nằm thoi thóp trên chiếc băng ca. Một ngày sau khi Bác Sĩ Quát chết, Huy Anh được trại cho phép về thọ tang bố. Nhiều người trong chúng tôi hi vọng sẽ có tin thêm về tang lễ và nhất là về cái chết quá đột ngột của Bác Sĩ Quát khi Huy Anh trở lại trại. Thói quen giấu diếm, bưng bít đã trở thành một thứ siêu vi trùng trong máu của Việt Cộng, thế nên khi Huy Anh trở về, chúng tôi chẳng biết tin gì thêm ngoài việc tang lễ đã xong xuôi. Sau này có tin là Huy Anh sẽ được thả nếu “thật tâm cải tạo tốt.” Có nghĩa là không được tiết lộ bất cứ điều gì liên quan đến cái chết, đến tang lễ của bố, đến bất cứ những gì Huy Anh đã nhìn được, nghe được ở xã hội Sài Gòn bên ngoài trong thời gian được về nhà.

Phải thừa nhận Việt Cộng rất “siêu” về thủ đoạn dọa nạt, nhất là đối với những ai đang bị gọng kìm của chúng siết chặt. Dù Bác Sĩ Quát đã chết, không còn là một mối lo chính trị đối với Việt Cộng, do vậy không còn cần thiết giữ Huy Anh làm con tin để đe dọa, đầy đọa tinh thần ông bố nữa, cũng phải đợi đến cuối năm 1979, Huy Anh mới được thả.

Trong thập niên 1940, Bác Sĩ Phan Huy Quát đã được nhiều người ở Hà Nội biết tiếng là một lương y. Bệnh nhân của ông, cả Việt lẫn Pháp, rất tín nhiệm ông vì tư cách đứng đắn và lương tâm nghề nghiệp rất cao của ông. Ngay cả một số người Pháp đã chọn ông làm bác sĩ gia đình của họ, một trường hợp rất hiếm trong y giới người Việt thời ấy. Một đề tài nghiên cứu y học của ông có liên quan đến bệnh đau mắt của Hoàng Ðế Bảo Ðại thời đó đã được tặng giải thưởng đặc biệt của Hoàng Ðế. Cuộc đời chính trị của ông chỉ thực sự bắt đầu sau khi cựu Hoàng Bảo Ðại đã ký hiệp ước Vịnh Hạ Long với Cao ủy Bollaert của Pháp ngày 8 Tháng Ba 1949. Trong chính phủ đầu tiên của quốc gia Việt Nam do cựu Hoàng Bảo Ðại lãnh đạo, Bác Sĩ Quát tham chính với tư cách Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Sau đó ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng. Từ giữa năm 1953 trở đi, tình hình cuộc chiến với Việt Minh ở miền Bắc Việt Nam ngày càng tồi tệ. Thất trận của Pháp ngày 07 Tháng Năm 1954 ở Ðiện Biên Phủ mở màn cho Hội Nghị Genève về Ðông Dương với hậu quả là Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17 do Hiệp Ðịnh Genève được ký kết giữa Pháp và Việt Minh ngày 20 Tháng Bảy 1954.

Ở Pháp, Quốc Trưởng Bảo Ðại phong ông Ngô Ðình Diệm làm thủ tướng. Ngày 7 Tháng Bảy 54, ông Diệm về nước. Ðược ủy toàn quyền lãnh đạo Việt Nam, ông Diệm thành lập nội các mới và kiêm nhiệm luôn Bộ Quốc Phòng.

Bác Sĩ Quát trở lại nghề cũ, mở một phòng mạch ở Dakao gần đầu cầu Phan Thanh Giản. Suốt chín năm ông Diệm cầm quyền, Bác Sĩ Quát không tham chính: ông khó có thể thuận với Tổng Thống Diệm về lề lối làm việc quá quan liêu, hống hách và độc đoán của gia đình họ Ngô. Thêm nữa ông là một thành viên trong nhóm Caravelle đã công khai đưa ra bản tuyên bố chỉ trích chế độ và đòi chính quyền Diệm thực hiện tự do, dân chủ. Cuộc đảo chính ngày 01 Tháng Mười Một 1963 do một số tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa lãnh đạo chấm dứt chế độ Ngô Ðình Diệm theo liền cái chết bi thảm của vị tổng thống và hai em ông là Ngô Ðình Nhu và Ngô Ðình Cẩn. Ðại Tướng Dương Văn Minh và Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ cầm quyền mới được ba tháng thì bị Tướng Nguyễn Khánh, tư lệnh vùng II chiến thuật, chỉnh lý ngày 30 Tháng Giêng 64. Bác Sĩ Quát được mời làm Tổng Trưởng Ngoại Giao. Ông ở chức vụ này tới khoảng Tháng Chín, 1964 rồi lại trở về phòng mạch.

Cuộc đời chính trị của ông đạt tuyệt đỉnh danh vọng khi, vào giữa Tháng Hai năm 1965, ông được Tướng Nguyễn Khánh triệu mời thành lập nội các mới. Giữ chức thủ tướng được khoảng ba tháng thì ông trao quyền lại cho Hội Ðồng Quân Lực vì những mâu thuẫn khó bề giải quyết giữa ông và Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu. Ông lui về, trực tiếp điều khiển phòng thí nghiệm y khoa của ông ở đường Hai Bà Trưng. Hoạt động chính trị của ông thu hẹp lại trong khuôn khổ của Liên Minh Á Châu Chống Cộng mà ông là chủ tịch phân hội Việt Nam cho tới ngày Sài Gòn thất thủ 30 Tháng Tư 1975.

Nhưng ngày kết liễu nền Ðệ Nhị Cộng Hòa chưa phải là ngày chấm dứt hoạt động của Bác Sĩ Phan Huy Quát. Nó đưa hoạt động ấy sang một hướng khác, hoàn toàn xa lạ với con người vốn dĩ trong bao năm đã quen và chỉ quen hoạt động chính trị theo lối “chính quy,” trong “đường lối chính quy.” Và con người thận trọng trong ông đã lao vào một trận địa mà trước kia ông chưa từng một lần lưu tâm và nghiên cứu địa hình phức tạp, hết sức bất thường do vậy cũng hết sức bất ngờ: địa hình của trận địa hoạt động bí mật, mà vì tính chất của riêng nó, đòi hỏi một cách suy nghĩ khác, một thứ thông minh khác, một loại bén nhạy khác, thậm chí đến cái can đảm trong hoạt động bí mật cũng phải là cái can đảm khác. Vị cựu thủ tướng, tự thân, chưa được chuẩn bị kỹ càng cho hình thái hoạt động bí mật nó có những điều luật, những nguyên tắc đặc thù của riêng nó. Ðiều này cũng dễ hiểu: ông chưa từng thấy có nhu cầu đó. Hoạt động chính trị của ông từ trước không cần đòi hỏi ông có những nhu cầu đó. Vậy mà trước hoàn cảnh đất nước rối bời đang diễn tiến trước mắt, ông đã chọn dấn thân vào con đường mới mẻ này. Một quyết định dũng cảm của một con người ngày ấy đã gần 70 tuổi, và chắc chắn không phải là một quyết định dễ dàng.

Sau ngày Sai gon thất thủ 30 Tháng Tư 1975, Bác Sĩ Phan Huy Quát không đáp “lời mời” ra trình diện của Việt Cộng được phổ biến trên đài phát thanh, truyền hình và báo chí của chúng cho tất cả “ngụy quân, ngụy quyền”. Liền sau khi cộng quân ào ạt tuôn vào Saigon từ hai hướng Bắc và Nam ngày 30 Tháng Tư 1975, Bác Sĩ Quát đã dời tư thất ở đường Hiền Vương và bắt đầu cuộc đời “du mục” trong Saigon, quyết không để cho Việt Cộng bắt. Cứ đôi ba ngày các con ông thay phiên nhau dẫn ông đi thay đổi chỗ trú ngụ. Sau gần ba tháng trốn tránh như thế, ông có dấu hiệu mệt mỏi. Các con ông khuyên ông trốn “trụ” hẳn một nơi. Ông nhượng bộ, về nhà trưởng nữ trong một hẻm khuất ở quận Phú Nhuận.

Những ai đã sống ở Saigon sau ngày 30 Tháng Tư 1975 chắc khó quên cái không khí ồn ào, nhộn nhạo, hỗn tạp bao trùm khắp nơi, khắp chốn của cái thành phố hơn ba triệu người này hầu như ngày nào cũng hối hả tuôn ra đầy nghẹt đường phố. Vẻ mừng rỡ bề ngoài vì chiến tranh đã chấm dứt không che đậy nổi nhiều nỗi lo âu âm ỉ bên trong: Kẻ chiến thắng sẽ định đoạt số phận của Saigon như thế nào? Thái độ nào tốt nhất để đối phó với kẻ chiến thắng đang huênh hoang, ngạo mạn? Tùy hoàn cảnh và cương vị riêng của mỗi cá nhân, người thì chọn lối âm thần sống ẩn, người thì mặc, muốn ra sao thì ra, cứ sống “tự nhiên cái đã”. Nhưng đại đa số thì tính chuyện trốn khỏi Việt Nam bằng đường biển sau khi Mỹ đã vĩnh viễn phủi tay. Một số khác thì tính chuyện tiếp tục tranh đấu chống Cộng. Ðã manh nha những sự thăm dò, móc nối nhau, tìm ngõ ngách trong hai lãnh vực chính yếu: thứ nhất vượt biên, thứ nhì chống Cộng.

Hai lãnh vực này tưởng là hoàn toàn riêng biệt, trái lại, thường xoắn vào nhau khá chặt, bởi lẽ nhiều khi tìm đường vượt biển lại dẫn đến mối chống Cộng, tìm đường chống Cộng lại dẫn tới mối vượt biên. Bất cứ ai chọn dấn thân vào một trong hai lãnh vực này đều bị lôi cuốn vào cái vòng luẩn quẩn lưỡng nguyên bi hài kịch đó. Bác Sĩ Quát không ngờ sẽ rơi vào chính cảnh huống ấy. Trong thâm tâm, ông không muốn bỏ chạy: ông vốn nặng tình quê hương. Nhưng gia đình ông 14 người, mặc nhiên là một áp lực tinh thần, thầm lặng đấy, nhưng đáng kể, buộc ông không thể không nghĩ đến sự an toàn cho vợ, con, dâu, rể và các cháu nội ngoại, nghĩa là phải nghĩ đến chuyện vượt biên. Ngoài tình quê hương ông cũng nặng tình gia đình không kém.

Thực ra, khoảng một tuần trước ngày 30 Tháng Tư 1975 lịch sử, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã ra lệnh cho ông Ðại sứ của mình ở Saigon nhân danh chính phủ mời Bác Sĩ Quát qua Ðài Bắc trú ngụ nếu như phía Mỹ chưa lo liệu cho bác sĩ. Lúc đó Bác Sĩ Quát chưa quyết tâm ra đi nên chỉ cảm ơn và nói sẽ liên lạc sau. Về phía Mỹ, khi hay tin Bác Sĩ Quát còn ở Saigon, ngày 28 Tháng Tư 1975 đã liên lạc với ông, hứa đưa hai ông bà qua Mỹ. Bác Sĩ Quát trả lời không thể nhận sự giúp đỡ quý hóa ấy nếu tất cả gia đình ông gồm 14 người không được cùng đi. Phía Mỹ ngần ngại, nhưng rồi cũng thuận ý muốn của Bác Sĩ Quát và cho ông một điểm hẹn. Ðiểm hẹn này sau bị lộ. Thêm nữa ngày 29 Tháng Tư 1975, tình hình căng thẳng tột độ, chính phủ Dương Văn Minh ra tối hậu thư buộc Mỹ phải triệt thoái toàn bộ nhân viên D.A.O. tức bộ phận tùy viên Quốc Phòng của Mỹ trong thời hạn 24 tiếng đồng hồ. Liên lạc giữa phía Mỹ và Bác Sĩ Quát bị tắc nghẽn. Chuyến trực thăng cuối cùng chở người Việt tị nạn không có Bác Sĩ Quát và gia đình.

Như đã nói, ông nặng tình gia đình, không muốn gia đình bị khổ trong vòng kìm kẹp của Cộng Sản và muốn gia đình sống một nơi an toàn. Ðồng thời ông cũng không muốn làm “kẻ bỏ chạy” vì ông cũng rất nặng tình quê hương, đất nước. Ông muốn, nếu đi thì cả nhà cùng đi. Nếu ở lại thì cả nhà cùng ở lại. Nhưng sau hai lần lỡ dịp di tản gia đình, Bác Sĩ Quát ý thức rất rõ hai mối tình song hành kia, tình gia đình và tình quê hương, đất nước, khó mà dung được với nhau và chỉ có thể chọn một. Và ông đã chọn.

Ông bằng lòng cho con trai út Phan Huy Anh đi thăm dò đường lối. Do một người bạn của Huy Anh giới thiệu, Bác Sĩ Quát thuận gặp một người tên Nguyễn Ngọc Liên. Liên tự xưng là một thành viên quan trọng của một tổ chức chống Cộng nhận nhiệm vụ bắt liên lạc với Bác Sĩ Quát, mời ông gia nhập tổ chức và nơi tổ chức có thể giúp gia đình ông vượt biên. Bác Sĩ Quát đồng ý về đề nghị thứ hai của Liên. Còn về đề nghị gia nhập tổ chức, ông nói sẽ có quyết định sau khi gặp người đại diện có thẩm quyền của tổ chức. Ðôi bên đồng thuận. Gia đình Bác Sĩ Quát gồm bà Quát, các con, cháu hơn mười người được dẫn đi trước xuống Cần Thơ, ở lại đó hai ngày. Hôm sau lên xe đi tiếp, dọc đường bị chận lại, đưa về khám Cần Thơ. Cả nhà biết là đã bị mắc lừa. Một tuần sau bị giải về trại giam Chí Hòa, Saigon. Bà Quát, tuy tuổi đã cao và mắc bệnh đau tim, vẫn bị biệt giam, điều kiện sinh hoạt rất khắc nghiệt. Do con, cháu bà năn nỉ mãi, Việt Cộng cho phép một cháu ngoại gái của bà mới 12 tuổi qua ở biệt giam để chăm sóc bà. Ðược mấy tháng, vì tình trạng sức khỏe ngày càng xấu đi, bà Quát được đưa ra ở phòng tập thể với các con cháu. Ðược hơn một năm, có lẽ vì xét thấy gia đình bà Quát đại đa số là giới nữ và khai thác cũng không thêm được gì, Việt Cộng bèn thả hết. Riêng người con rể còn bị giữ lại, đưa đi trại cải tạo Hàm Tân, gần mười năm sau mới được thả.

Về phần Bác Sĩ Quát và con trai út của ông là Huy Anh thì được tên Liên đưa đi tạm trú tại một căn nhà kín đáo ở Chợ Lớn. Hai ngày sau, theo kế hoạch, tên Liên đưa Bác Sĩ Quát và Huy Anh ra khỏi Saigon. Khi xe ô-tô tới một điểm hẹn vắng vẻ thuộc tỉnh Biên Hòa thì đã có một xe ô-tô khác đậu bên đường, nắp ca pô mở sẵn theo mật hiệu đã quy định. Xe chở Bác Sĩ Quát và Huy Anh dừng lại. Một toán người đi tới, vây quanh xe, rút súng hăm dọa. Bác Sĩ Quát biết mình bị lừa. Ông và Huy Anh được giải về Bộ Tư lệnh Cảnh Sát, đường Võ Tánh, Saigon. Hôm đó là ngày 16 Tháng Tám 1975, khởi đầu cuộc thử thách chót trong đời vị cựu Thủ tướng. Một cuộc thử thách không giống bất cứ một thử thách nào ông đã đương đầu trước kia. Một cuộc thử thách mà chủ đích của Việt Cộng nhằm hạ nhục con người chỉ chấm dứt sau khi vị cựu Thủ tướng đã vận tất cả năng lượng vật chất và tinh thần ném hết vào cuộc đấu tranh cuối cùng của ông, lần này mới thực là mặt đối mặt với quân thù với không biết bao nhiêu căng thẳng, gay go về nhiều mặt. Cuộc đấu tranh riêng lẻ mà ông chưa từng có một ý niệm và không bao giờ ngờ có ngày phải tiến hành trong đơn độc, đã kết thúc vào trưa ngày 27 Tháng Tư 1979, đúng ba hôm trước ngày Kỷ niệm Saigon thất thủ.

Cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát đã vĩnh viễn nằm xuống sau ba năm, tám tháng đấu tranh không nhượng bộ trong gọng kìm Việt Cộng. Ngày 30 Tết, năm Mậu Ngọ (dương lịch: 1978)

Gần một tháng trước Tết Mậu Ngọ tôi bị chuyển về phòng 1, gác 1, khu BC. Ba phòng 2, 3, 4 bỏ trống. Chỉ riêng phòng 1 có “khách hàng”. Bác Sĩ Quát và tôi gặp lại nhau ở đó. Trong mấy ngày Tết, kỷ luật nới lỏng, mọi người được đi lại thăm bạn bè ở các phòng khác, gác khác trong cùng một khu. Bác Sĩ Quát và tôi không ra khỏi gác 1. Chúng tôi thường đi bộ dọc hành lang trống vắng vẻ, Bác Sĩ Quát bắt nhịp đi theo tiếng chống nạng của tôi lúc đó chân bị tê liệt. Mấy ngày Tết quả là một dịp hiếm có để có thể nói với nhau nhiều chuyện, khỏi sợ bị để ý hay soi mói quá đáng. “Ăng ten” cũng phải ăn Tết chứ! Bác Sĩ Quát đã tóm lược cho tôi nghe cuộc “phiêu lưu” của ông và gia đình. Tôi có hỏi ông về thời gian ông bị giữ tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát, đường Võ Tánh. Ông kể:

“Chúng bắt tôi viết bản tự khai tất cả những gì tôi làm khi tôi giữ chức Thủ tướng. Bản viết của tôi không dài quá một trang tôi viết vắn tắt là trong thời gian tôi ở cương vị Thủ tướng, tôi lãnh đạo việc nước, tôi chỉ đạo cuộc chiến chống Cộng. Tất cả mọi cấp, từ cấp thấp nhất, đến cao nhất gần gũi với Thủ tướng ở mọi ngành quân, dân, chính đều làm việc theo chỉ thị và mệnh lệnh của tôi. Một mình tôi trách nhiệm. Chúng không bằng lòng, bắt tôi viết lại. Tôi viết y như trước. Cù cưa như vậy đến hơn một tháng, gần hai tháng. Chúng bèn chuyển sang thẩm vấn. Hỏi câu nào tôi trả lới vắn tắt: Tôi trách nhiệm. Chúng đủ trò áp lực như anh biết đấy. Sau đó, để bớt căng thẳng, tôi nhận viết. Vả lại, thú thực lúc đó nhịp tim đập của tôi loạn xạ đã nhiều ngày, và tôi không có thuốc trợ tim. Tôi cảm thấy chóng mệt. Tôi cứ từ từ viết được hơn 70 trang, trong đó tôi nêu một số nhận định về thời cuộc, đưa ra một số đề nghị kiến thiết quốc gia. Trên trang nhất, tôi đề tên người nhận văn bản của tôi là Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Chúng bắt tôi xóa, chỉ được viết là bản tự khai. Tôi không chịu. Sau cùng chúng cũng nhận tập viết của tôi.”

Tôi hỏi Bác Sĩ Quát:

– Anh có tin là chúng chuyển tập viết của anh tới Nguyễn Hữu Thọ không?

– Tôi ngờ lắm. Ông đáp. Nhưng không sao. Tôi mượn cớ đề tên Nguyễn Hữu Thọ để ngầm bảo chúng rằng tôi không biết tới Hà Nội trong khi tất cả chúng ta đều rõ là Nguyễn Hữu Thọ và Mặt trận Giải phóng Miền Nam chỉ là công cụ của Hà Nội và Hà Nội thừa biết điều đó hơn ai hết.

Tôi bật cười, Bác Sĩ Quát cũng cười theo. Chúng tôi hiểu nhau. Trong buồng có một vài bạn tù đứng đắn, chúng tôi có thể nói chuyện thẳng thắn, cởi mở, không nghi ngại. Tôi nhớ một lần, vẫn trong dịp Tết Mậu Ngọ, chúng tôi năm người đứng nói chuyện gần ở một góc hành lang, câu chuyện loanh quanh thế nào mà dẫn đến việc một bạn tù hỏi Bác Sĩ Quát về một vài cộng sự viên thân cận nhất của ông mà ông thật tâm tác thành cho: “Có thật hay không, tiếng đồn có người đá ngầm anh khi có dấu hiệu anh trên đà xuống dốc?” Bác Sĩ Quát mỉm cười, trả lời, giọng bình thản: “Tôi đã có nhiều dịp gần cụ Trần Trọng Kim khi sinh thời cụ. Tôi nhớ mãi một lời cụ dậy: sống ở đời phải cho nó chững. Tôi thường kể lại cho các con, cháu trong nhà nghe lời của cụ Trần, kẻo uổng.” Câu nói của Bác Sĩ Quát không trả lời thẳng vào câu hỏi của anh bạn. Nhưng có vẻ như mấy bạn biết thưởng thức câu trả lời đó vì họ cười ha hả.

Sau Tết, chúng tôi bị chuyển sang phòng 5, gác 1, khu ED. Ðược vài hôm, phòng nhận thêm một tù nhân từ biệt giam qua. Người này, khi nhận thấy Bác Sĩ Quát thì tỏ vẻ lúng túng, ngượng ngập. Có chi lạ đâu? Hắn là Nguyễn Ngọc Liên, người mời chèo Bác Sĩ Quát vào khu để rồi rơi vào bẫy sập ở Biên Hòa. Trong phòng ngoài Bác Sĩ Quát và tôi, không một ai khác biết mối liên hệ giữa Bác Sĩ Quát và hắn. Bác Sĩ Quát cư xử rất tự nhiên, không tỏ vẻ gì khó chịu bực tức, nóng nẩy. Riêng tôi cũng không để lộ cho tên Liên rõ là tôi biết chuyện của hắn. Cuộc sống ở Chí Hòa đơn điệu, buồn tẻ, ngột ngạt.

Ngày này sang ngày khác, mọi người như chết đi trên 2/3 manh chiếu của mình. Không bao giờ tôi nghe thấy Bác Sĩ Quát thốt lên dù chỉ nửa lời than van về số phận của mình hay của gia đình về sự mất mát tài sản mà Việt Cộng đã tịch thu toàn bộ chỉ để lại cho ông hai bàn tay trắng. Ông sống lặng lẽ, trầm ngâm, kín đáo. Nhiều lần, cán bộ Việt cộng cố ý công khai làm nhục ông trước mặt mọi người. Ông giữ im lặng, cái im lặng kẻ cả. Không ai nhận thấy ở ông một vẻ gì kiêu kỳ, của một người đã từng giữ những chức vụ cao sang trong chính quyền cũ.

Ông biết hòa mình một cách đúng mức. Với anh em cùng cảnh ngộ và cái đúng mức không gượng ép ấy tự nhiên bảo vệ tư thế riêng của ông bằng một khoảng cách mà chẳng ai dám nghĩ muốn vượt qua. Ngay đối với tên Liên mà nhiều yếu tố trong vụ Biên Hòa đủ để được xứng đáng nhãn hiệu “tên phản bội, tên lừa bịp”, ông vẫn giữ được cách lịch sự bao dung buộc kẻ kia tự mình phải có thái độ ăn năn, kính cẩn đối với ông. Thế nên tôi rất hiểu tâm địa ông khi ông thều thào: “Thôi! Bỏ đi!” để trả lời câu hỏi dồn ông về tên Liên bên chiếu bệnh. Ông biết vì ông mà vợ, con, cháu ông đang dũng cảm chịu khổ, chịu nhục, chịu thiếu thốn ở khu phụ nữ. Ông biết một cháu nội gái của ông, con gái đầu lòng của Huy Anh, mới ba tháng đã “được” Việt cộng bỏ tù vì bố mẹ và đang thiếu sữa.

Ông biết chừng nào Việt Cộng chưa bẻ gãy được ý chí đối kháng thầm lặng của ông thì gia đình ông, đa số là phụ nữ và con nít vần là những con tin hữu hiệu trong tay Việt Cộng dùng làm lợi khí đe dọa, đầy đọa tinh thần ông, nghiền nát những gì là nhân tính trong ông, buộc ông phải thốt lên một lời quỵ lụy quy hàng, Nhưng ông đã đứng được đầu gió. Vì ông đã cứng.

Tôi thường nghĩ, trong suốt cuộc đời tham chính, thành tựu của Bác Sĩ Phan Huy Quát có ý nghĩa lớn lao nhất, có ích cho quốc dân nhất, do đó quan trọng vào bậc nhất vì trực tiếp liên quan sâu sắc nhất đến tiền đồ tổ quốc, là ông đã giành được chủ quyền cho ngành giáo dục Việt Nam, khi ông được Cựu Quốc Trưởng Bảo Ðại phong ông làm Tổng Trưởng Bộ Giáo Dục trong chính phủ đầu tiên của Quốc gia Việt Nam mới được Pháp thừa nhận nền độc lập. Do lòng trí kiên nhẫn, thái độ khéo léo, mềm dẻo nhưng không thiếu cương quyết trong thương thảo rất khó khăn, nhiều khi đến độ rất căng thẳng với phái đoàn Pháp mà một số thành viên lại là thầy học cũ của ông ở Ðại học Y khoa Hà Nội. Ông đã thuyết phục được phía Pháp trao trả Việt Nam trọn quyền của ngành giáo dục. Ông đã đặt nền móng vững chắc cho việc dùng Việt ngữ là ngôn ngữ chính trong mọi giáo trình, mở đầu kỷ nguyên cải cách giáo dục toàn diện từ tiểu học, qua trung học, lên tới đại học và trên đại học mang tính chất hoàn toàn quốc gia mà dấu ấn căn bản và nguyên tắc đó không một ai, sau ông, có thể thay đổi được. Pháp ngữ đã lui xuống thứ hạng như bất cứ sinh ngữ nào khác được giảng dậy trong mọi cấp học trình. Thành quả tranh đấu gay go trong thầm lặng nhưng thật rực rỡ của ông với Phái đoàn Pháp và công cuộc tiến hành cải cách giáo dục của ông đã được báo chí thời đó xưng tụng và mệnh danh một cách rất xứng đáng là “Kế hoạch giáo dục Phan Huy Quát.” Tên tuổi ông đã gắn liền với tương lai của biết bao thế hệ nam, nữ, thanh, thiếu niên trong lãnh vực giáo dục nó là chìa khóa của tiến bộ văn minh và phát triển văn hóa cho đất nước, cho dân tộc.

Thành công nào có thể đẹp hơn, lâu bền hơn thành công của ông trong sự nghiệp giáo dục đào tạo con người?

Một phòng lẻ loi dành cho lính gác ở ngoài vòng rào trại giam Chí Hòa đã được quét dọn khá tươm tất. Giữa phòng, một tấm ván gỗ khổ hẹp đặt trên đôi mẻ. Trên tấm ván một hình người nằm ngửa, chân duỗi thẳng, hằn rõ dưới tấm mền mỏng phủ kín từ đầu xuống chân.

Thi thể Bác Sĩ Phan Huy Quát, cựu Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa nằm đó, cô đơn, lạnh lẽo giữa một buổi trưa hè nắng gắt, oi nồng. Cùng với tấm ván và đôi mẻ, thi thể ông là tĩnh vật trang trí độc nhất của căn phòng lính gác quạnh hiu. Chung quanh không một bóng người. Cái tĩch mịch của căn phòng như muốn thét lên mà bị nghẹn.

Tang gia được chính quyền Việt Cộng hứa cho phép quàn thi hài Bác Sĩ Quát tại chùa Xá Lợi. Ðến phút chót Việt Cộng bội hứa như chúng vẫn có thói quen đó đã trở thành quán tính. Chúng buộc tang gia phải chôn cất ngay ngày hôm sau tức là ngày 28 Tháng Tư 1979. Tìm hiểu ra mới biết ngày 28 là ngày ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc tới Saigon: cho đem thi hài Bác Sĩ Quát về quàn tại Chùa Xá Lợi có thể gây ra nhiều phiền phức, rối ren không lường được. Quái thật! Một chế độ luôn luôn tự vỗ ngực lớn tiếng huênh hoang ta đây “Anh hùng nhất mực” và “ra ngõ là gặp anh hùng” lại sợ đủ thứ!

Sợ từ đứa bé sơ sinh sợ đi nên phải bắt nó vào tù với mẹ nó cho chắc!

Sợ từ cái xác chết sợ đi, nên bắt chôn ngay sợ xác chết “thần giao cách cảm” với Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc thì rầy rà to.

Ðám tang bị hối thúc rồi cũng chu toàn nhờ sự tận tình giúp đỡ của thân bằng, quyến thuộc. Sau tang lễ đơn sơ, còn sót lại là nghi vấn về cái chết của vị Cựu Thủ tướng. Hồ sơ bệnh lý do Việt cộng chính thức đưa ra là “nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não cùng viêm gan siêu vi trùng”.

Hồ sơ vẫn nguyên vẹn là một nghi vấn.

Nếu tôi biết hát, tôi sẽ cất giọng ca vừa đủ nghe tù khúc:

“Anh nằm đây,
Bạn bè anh cũng nằm đây…”
 

Gọi là một chút để ấm lòng người đã khuất.

Đức Cha Nguyễn Thái Hợp: “Công ty Formosa, một tổ chức ma mãnh”

Đức Cha Nguyễn Thái Hợp: “Công ty Formosa, một tổ chức ma mãnh”

Thanh Trúc

RFA


  Đức cha Phaolo Nguyễn Thái Hợp tại đại bản doanh của Formosa ở Đài Loan để bày tỏ thái độ thay mặt cho hơn 90 triệu dân Việt.

 Courtesy of Pham Quang Long FB

Hơn một năm sau khi thảm họa môi trường biển, do công ty gang thép Formosa gây ra tại 4 tỉnh bắc  miền Trung, cũng là địa phương có Giáo phân Vinh do Đức Giám Mục Phao Lô Nguyễn Thái Hợp phụ trách. Đại diên cho những giáo dân cũng là ngư dân bị tác động bởi thảm họa, Giám Mục Nguyễn Thái Hợp đã dẫn đầu phái đoàn đến tại Đài Loan nơi có trụ sở chính của công ty Formosa để đòi công lý cho người bị tác động.

Trở về từ Đài Loan, Đức Giám Mục đã dành cho Thanh Trúc cuộc nói chuyện về chuyến làm việc. Trước hết ông cho biết:

Đức GM Nguyễn Thái Hợp: Với tính cách là Ủy Ban Hỗ Trợ Các Nạn Nhân Của Thảm Họa Môi Trường Biển, nhóm chúng tôi có  ba bốn người, rồi cũng có một số trong nhóm hiện ở Đài Loan như Cha Hùng. Đặc biệt tại Đài Loan chúng tôi được gặp một số luật sư, giáo sư, những thành viên của xã hội dân sự cũng đang trong tiến trình khiếu kiện chống lại thảm họa môi trường mà công ty Formosa gây ra trên chính quê hương của mình trong những năm qua. Tôi  rất vui mừng về chuyến đi đó.

Tôi thấy hồ sơ đó mặc dù họ  làm rất kỹ, nhưng Formosa cũng là một tổ chức ma mãnh, không  phải vô lý mà một cơ quan của Đức đã tặng họ danh hiệu “Hành Tinh Đen”.
-Đức GM Nguyễn Thái Hợp

Tôi cũng được đi thăm một số làng, thấy những nơi đó coi như hoang tàn bỏ trống, có lúc làng này có lúc làng kia  trực tiếp hưởng khói  của công ty Formosa tùy theo chiều hướng gió. Đến đó mới thấy cái thảm trạng.

Có những người dân Đài Loan, có lẽ bị công ty Formosa tuyên truyền như thể là chính phủ Việt Nam ép buộc họ phải trả 500 triệu USD cho người dân ở Kỳ Anh, Vũng Áng. Họ biến họ thành một thứ nạn nhân thì chúng tôi cũng có giải thích là chính phủ Việt Nam đang bắt tay với Formosa để làm  giảm nhẹ thảm họa môi trường, hơn nữa rất nhiều lần đàn áp những người ủng hộ các nạn nhân của thảm họa môi trường.

Thanh Trúc: Thưa Đức Cha Nguyễn Thái Hợp, nhiều người dân ở các tỉnh miền Trung nói rằng họ chưa  nhận được tiền bồi thường. Lúc qua Đài Loan chắc Đức Cha cũng có nêu điều đó ?

Đức GM Nguyễn Thái Hợp: Nói đa số chưa nhận được đồng nào thì cũng không đúng, có nhiều nạn nhân đã nhận được rồi nhưng mà có những nạn nhân vẫn chưa nhận được, con số đó thì ít hơn con số đã nhận. Vấn đề đặt ra là Nhà Nước với công ty Formosa tiên thiên xác định được nhận đền bù là 4 tỉnh  Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, nhưng Nghệ An là tỉnh thiệt hại cũng nhiều mà lại không được vào danh sách. Thành thử ra ai đưa ra  danh sách đó, dựa trên cái gì, tại sao Nhà Nước với công ty Formosa lại có thể tiên thiên xác định số tiền đền bù là bao nhiêu, ai được đền bù. Vấn đề công bằng và công lý thì chúng tôi cũng đã đặt ra với chính quyền tỉnh Nghệ An. Rất may nhà cầm quyền Nghệ An đã công nhận chuyện còn nợ của dân nhưng mà chưa có tiền để đền bù.Vấn đề  là đòi hỏi Formosa cũng như nhà cầm quyền trả lại cho dân  số tiền dựa trên phân tích cụ thể số thiệt hại của dân.

Hơn nữa tiền đền bù đó trên nguyên tắc cho đến cuối 2016  thì từ đó đến đây, từ rày về saunhư thế nào là  vấn để đặt ra.

Thanh Trúc: Thưa khi Đức Cha trình bày những vấn đề này với những người Đức Cha gặp bên Đài Loan thì họ có đóng góp ý kiến gì không?

Đức GM Nguyễn Thái Hợp: Chúng tôi đã học được khá nhiều kinh nghiệm của tổ hợp luật sư bên đó, học được kinh nghiệm của các giáo sư, nhất là Đại Học Đài Loan họ đã bỏ ra hàng năm trời cùng với các sinh viên để nghiên cứu về nước biển, về khói, để đưa ra một hồ sơ mang tính khoa học.

Trong một xã hội mà quyền ngôn luận quyền con người chưa được công nhận thì vấn đề khiếu kiện một công ty được nhà nước bảo trợ là chuyện rất khó, chúng tôi đang ở trong hoàn cảnh rất là bất thuận lợi.
-Đức GM Nguyễn Thái Hợp

Tôi thấy hồ sơ đó mặc dù họ  làm rất kỹ, nhưng Formosa cũng là một tổ chức ma mãnh, không  phải vô lý mà một cơ quan của Đức đã tặng họ danh hiệu “Hành Tinh Đen”. Họ cũng mượn luật sư và những luật sư đó cũng dùng những mưu mẹo để đặt những câu hỏi, nêu nghi vấn về những bằng chứng mà các nhà khoa học Đài Loan đưa ra để tiếp tục tranh kiện. Nhìn vậy để thấy  rằng có nhiều cái chúng tôi không thể đi vào con đường khiếu kiện vì Nhà Nước ở Việt Nam không cho phép, không tạo điều  kiện để có những nghiên cứu khoa học chính thức. Ngay cả đến bây giờ Nhà Nước chỉ tuyên bố là nước sạch hay nước không sạch dựa trên lời nói, tuyên truyền, nhu cầu chính trị chứ không dựa trên một phân tích khoa học nào.

Trong một xã hội mà quyền ngôn luận quyền con người chưa được công nhận thì vấn đề khiếu kiện một công ty được nhà nước bảo trợ là chuyện rất khó, chúng tôi đang ở trong hoàn cảnh rất là bất thuận lợi.

Thanh Trúc: Thưa Đức Giám Mục, lên đường đi tìm công lý cho nạn nhân Formosa ở Việt Nam, lệnh của bề trên hay lý do nào thúc đẩy ông đứng ra gánh vác việc này?

Đức GM Nguyễn Thái Hợp: Không có lệnh nào cả, nhưng mà luôn luôn có tiếng gọi giáo huấn của  xã hội Công Giáo, nhất là của Đức Giáo Hoàng Phan Xi Cô. Ngài mời gọi chúng ta đồng hành với các nạn nhân, đồng hành với người nghèo.

Hơn nữa  thuộc thành phần lãnh đạo của Giáo phận Vinh thì chúng tôi không thể khoanh tay trước những thiệt thòi của người dân ở đấy. Chính vì vậy chúng tôi lên đường  nói lên tiếng nói, làm được cái gì. Hơn nữa  Formosa là một ty ma mãnh, nhiều tiền nhiều thế lực, vấn đề không  phải ta  thành công hay không mà từ đó ta thành nhân, ta nói lên tiếng nói của công lý, và ít ra các nạn nhân cũng thấy có người đang đứng về  phía họ, đang muốn làm cái gì cho họ.

Thanh Trúc: Xin cảm ơn Đức Cha Phao Lô Nguyễn Thái Hợp về bài  nói chuyện này.