Đúng là một xã hội vô pháp vô thiên.

From facebook: Thuc Tran shared Phương Quế‘s post.

XIN QÚY VỊ XEM HẾT VIDEO ĐỂ BIẾT BỌN VIỆT CỘNG DÙNG BỌN CÔN ĐỒ DƯỚI ĐÂY ĐÃ ĐEM LẠI MỘT KẾT QỦA Ê CHỀ NHỤC NHÃ TẠI NHÀ THỜ GIÁO XỨ THỌ HÒA VÌ CHÚNG BỊ GIÁO DÂN BẮT LẬP BIÊN BẢN CÓ SỰ CHỨNG KIẾN CỦA CÔN AN HUYÊN, CHÚNG ĐÃ QUI HÀNG NHẬN TỘI XIN THA VÀ HỨA KHÔNG GIÁM TÁI PHẠM NỮA. MỘT SỐ TRONG BỌN CHÚNG BỎ CHẠY TRỐN THÓAT .

Image may contain: 7 people, people smiling, text

Phương Quế added a photo and a video.

 Đúng là một xã hội vô pháp vô thiên.

Một chính phủ vô dụng, du côn.
Một chế độ mọi rợ.
Chỉ có csvn mới được xứng danh này.
( sự việc xảy ra lúc 10g ngày 04/09.2017)

BỐT BẨN THẤT THỦ – TƯỜNG TRÌNH TỪ HƯNG YÊN.

From facebook:  Hoa Kim Ngo shared Nguyễn Huy Cường‘s post.
 
 
Image may contain: sky, cloud and outdoor
Image may contain: 4 people, crowd, sky and outdoor
Image may contain: 2 people, people standing
Image may contain: 2 people, outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor
+4
Nguyễn Huy Cường added 8 new photos.Follow

 

BỐT BẨN THẤT THỦ – TƯỜNG TRÌNH TỪ HƯNG YÊN.
.
BOT Chợ Đường cái Cái Hưng Yên hôm nay tiếp sức cho Cai Lậy đấy!.
Hàng vài km xe cộ ùn ứ cho đến giờ này, 19h18 phút và khả năng đến đêm chưa thông đường.
.
Ngay bây giờ đã xả trạm.
BOT Chợ Đường Cái thất thủ!.
.
Nhân dân có vẻ vui mừng.
.
Anh em Cảnh sát cơ động, giao thông có vẻ ôn hòa, lịch sự và không can thiệp.
.
Nhân viên trạm vứt bỏ vẻ mặt khinh khi, lạnh như tiền như các BOT Đồng Nai., Phan Thiết mà bỏ cabin xuống tận cửa xe nhận tiền, tươi cười đếm!.
.
Trên trời, Fly cam bay vù vù theo dõi mọi hoạt động.( ảnh cuối)
.
Anh em tài xế cũng đói mệt nhưng có vẻ kiên tâm, quyết chiến.
Chúng tôi đang cập nhật. Các bạn đón coi nhé!.
.
Dòng xe tắc khoảng 10 km.
Lúc này, hoàng hôn BOT xem như đã cận kề.
Ký giả ăn cơm đã.
.
19h ngày 04/9/2017.
Huy Cường.
&&&&
Hà Thạch Hãn Hoàng Tám Bùi Mạc HồngMạc Hồng Kỳ Đăng BìnhHan Ni Dang ThiHoàng Đình Quang Phan Văn TúPhương HồNguyen Chi DungTrần Quốc HảiTran Nhat MinhQuoc Son Tran

Người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến châu Mỹ

Người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến châu Mỹ

Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm, người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ.

Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu.

Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.

Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hoà Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

Tuy không phải sứ giả, nhưng Lê Kim đến Hoa Kỳ trước Bùi Viện 20 năm
.
Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó, ông trở về thành phố Xanh–Phát–Lan–Xích–Cố (phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờDaily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.
Trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.

Thời đó, “Wild West” (miền Tây hoang dã) là từ ngữ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.

Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.

Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là “Oh! Suzannah” (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.

Ở Hoa Kỳ, Lê Kim vừa tìm vàng, vừa làm nhà báo và được một nhà văn viết trong cuốn “Đổ xô đi tìm vàng”.

Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.

Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.

Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.

Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.

Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ đối với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.

Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

Người Minh Hương cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương.

Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.

Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: “Gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về”, Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.

Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi Pháp xâm lược Việt Nam. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi.


Di tích làng Xuân Lũng – quê gốc Lê Kim. 
.
Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăng trối của ông: “Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần”. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:

“Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh
Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.

Ghi công ông, hiện ở phường Long Bình, quận 9, Sàigòn có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm nối phố Nguyễn Xiển với phố Mạc Hiển Tích.

Cuộc đời sinh động và bi hùng của Trần Trọng Khiêm được hai nhà văn hư cấu nghệ thuật trong hai cuốn tiểu thuyết có nhan đề: La rueé vers l’or(Đổ xô đi tìm vàng) của Rene Lefebre (Nhà Xuất bản Dumas, 1937) và Con đường thiên lý của Nguyễn Hiến Lê (năm 1972).

Anh chị Thụ Mai & gởi

Boléro – dấu hiệu suy tàn của chế độ CSVN

From facebook:  Honolulu Nguyen

Boléro – dấu hiệu suy tàn của chế độ CSVN

Phạm Tín An Ninh

Có lẽ chưa bao giờ, kể cả thời VNCH, nhạc Bolero thịnh hành và được người trong nước mê mẩn như bây giờ, đặc biệt ở miền Bắc, nơi mà trước 1975 Bolero được dán cho cái nhãn “nhạc vàng” và không còn đất sống, một số người thích hát loại nhạc này đã bị tù đày 10-15 năm, để phải chết hay khốn khổ cả một đời, trường hợp Phan Thắng Toán (tức Toán Xồm) và Nguyễn Văn Lộc (Lộc Vàng) ở Hà Nội là những điển hình.

Bây giờ Bolero như trận cuồng phong, phá tan mọi thành trì, chiếm ngự tất cả mọi nơi, từ thành phố đến nông thôn, từ các “tụ điểm”, sân khấu “hoành tráng”nhất, len lỏi đến tận các hang cùng ngõ hẻm, “vùng sâu vùng xa”, kể cả trong các đám ma, đam cưới; làm mê mẩn từ người già đến con trẻ, từ những ông quan lớn, đại gia đến dân dã, bần cùng. Ở đâu cũng nghe Bolero.

Người ta không còn đếm được các chương trình tìm giọng hát cho loại nhạc này: “Hát Cùng Bolero”, “Thần Tượng Boleo”, “Solo Cùng Bolero”, “Tình Bolero”, “Tình Bolero Hoan Ca”… Những cuộc thi hát nhạc Bolero thu hút hằng vài chục ngàn thí sinh, đủ mọi thành phần, cán bộ, sĩ quan, thầy cô giáo, các em bé 7, 8 tuổi, đến từ “mọi miền đất nước”.

Từ những danh ca, “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ sĩ nhân dân” đến anh bán kẹo kéo dạo đều đua nhau hát và kiếm tiền bằng Nhạc Bolero. Và không cần biết cho phép hay không, họ hát đủ mọi đề tài: miền Nam thanh bình, tình yêu, tình lính, đời lính (VNCH), kể cả những bản nhạc chiêu hồi, như “đêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”, “miền Nam có nắng thanh bình có đồng lúa đẹp có tình quê hương, anh ơi mau sớm lên đường, bình minh còn đợi ruộng nương còn chờ…”v.v…

Trong cái khát khao Bolero ấy, thực chất chính là nỗi khát khao khung trời, con người, nếp sống, tình cảm, tấm lòng đối với quê hương đất nước của quân dân miền Nam thuở trước, và đặc biệt là tính nhân bản đã hoàn toàn thiếu vắng tại miền Bắc trên bảy mươi năm và tại miền Nam hơn bốn mươi năm dưới chế độ Cộng Sản.

Khi một ca sĩ hát, họ thả hồn vào từng lời ca, cùng bâng khuâng với những hình ảnh, tình tự trong nhạc phẩm, họ có cảm giác đang được sống trong cùng không gian và thời gian mê đắm ấy. Người nghe thì hồn như bay bỗng đến chốn thiên thai nào đó, họ đắm chìm trong cảm xúc của một thời hạnh phúc, mà người miền Nam đã mất đi trong tiếc nuối, và người miền Bắc thì khát khao nhưng chưa bao giờ được sống. Và như thế, một thiên đường Miền Nam trước 1975 thực sự đã sống lại trong lòng mọi người, thiết tha và mãnh liệt.

Văn chương hay âm nhạc là những phạm trù phản ảnh trung thực nhất cho một xã hội. Bolero, một loại nhạc bình dân, dù được ai đó gán cho cái tên nhạc “sến”, đã làm đúng vai trò ấy, đã suốt một thời thăng hoa qua cuộc sống chan hòa yêu thương, nhân bản, và nhạc Bolero cũng chính là tiếng than ai oán, bi phẩn của người dân miền Nam thời ấy, khi mà cuộc chiến phi lý và bẩn thỉu nhất do bọn người CS rừng rú gây ra để phá hoại đất nước, giết chết bao thế hệ thanh niên của hai miền, và tạo cảnh huynh đệ tương tàn, làm hệ lụy lâu dài cho cả một dân tộc.

Những thế hệ ở Việt Nam bây giờ có cảm xúc như thế nào khi nghe những bài Tám Điệp Khúc, Đêm Nguyện Cầu, Kẻ Ở Miền Xa, Hai Chuyến Tàu Đêm, Đường Xưa Lối Cũ, Sương Trắng Miền Quê Ngoại, Những Đóm Mắt Hỏa Châu…? Và trong tất cả những bài ca về lính mà họ đang say mê hát, họ có tìm được câu nào hô hào “sinh Nam tử Bắc” hay “thề phanh thây uống máu quân thù” như trong chính bài quốc ca CS?

Nhạc Bolero đã đè bẹp tất cả các loại nhạc “đỏ”, nhạc ăn cắp, bắt chước, lai căng của nhiều nhạc sĩ trong nước, viết theo lệnh đảng hay làm dáng, đua đòi “vươn ra biển lớn!” Ca sĩ thì “thặng dư giá trị” đủ hạng đủ cỡ, mà nhạc sĩ thì hiếm hoi như lá cuối mùa thu và cũng chẳng sáng tác được bao nhiêu ca khúc ra hồn, ngoài một vài bài của các nhạc sĩ Thanh Tùng, Bắc Sơn, Phú Quang, Trần Tiến, Phan Đình Điểu… và bài Phượng Hồng phổ từ thơ Đỗ Trung Quân.

Những ca sĩ miền Nam chuyên hát nhạc “sến” đã hết thời ở hải ngoại cỡ Chế Linh, Giao Linh, Phương Dung, Thái Châu, Tuấn Vũ… về Việt Nam làm nhiều show đã cháy vé, được ca ngợi đón tiếp như những ông bà hoàng Bolero, mang về quê hương những làn gió mới! Nhiều người được trang trọng mời ngồi ghế “nóng” làm giám khảo cho các kỳ thi tuyển lựa ca sĩ Bolero!

Ngày 30.4.75, trên đường vào “tiếp thu” miền Nam, bà Dương Thu Hương ngồi khóc bên vệ đường khi nhìn thấy một miền Nam văn minh, hiền hòa, trù phú gấp vạn lần miền Bắc. Bà đã nhận ra cả một quá khứ bị lừa dối. Một số trí thức miền Nam, như chú cháu Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Hữu Ưng (ở cùng quê và học trung học cùng trường Võ Tánh-Nha Trang với người viết) khi bỏ miền Nam vô bưng, lòng nô nức đi làm “cách mạng”, nhưng đến khi được chuyển ra miền Bắc mới giật mình biết đã “lạc đường” nhưng quá muộn, đành phải “nín thở qua sông”.

Trước khi vô bưng, Đỗ Hữu Ưng từng theo học Khóa 11 Đốc Sự tại Viện QGHC thời VNCH. Sau 75, về “tiếp thu miền Nam” giữ chức chủ tịch của một huyện nào đó ở Sài Gòn, đã tìm gặp lại những đồng môn cũ, khuyến khích mọi người nên sớm tìm đường vượt biển, nhưng chẳng mấy ai dám tin! Ông chú gốc giáo sư thì làm đến chức ủy viên tôn giáo của thành ủy, nhưng bất mãn nên cùng đám Nguyễn Hộ, Trần Văn Trà lập ra Câu lạc bộ Kháng Chiến Cũ. Để phản ứng cho sự ăn năn hối hận của mình, hai chú cháu đã bị lột hết các chức tước, riêng ông chú phải nhận những bản án tù và đã chết dưới tay người đồng chí CS!

Nhiều thanh niên miền Bắc, điển hình là Nguyễn Viết Dũng, đang là một sinh viên giỏi, từng đoạt giải “Đường Lên Đỉnh Olympia”, với một tương lai tươi sáng, nhưng đã dám công khai treo cao cờ vàng ba sọc đỏ trên nóc nhà, mặc quân phục và mang phù hiệu QLVNCH như là một hình thức tôn vinh, luyến tiếc một chính thể, một quân đội chính danh đã bị bức tử. Bị cầm tù ra, anh con khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Cộng” và rủ nhiều bạn bè tìm vào Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa thắp hương kính cẩn tưởng niệm những người lính miền Nam đã vị quốc vong thân. Những người mê hát, mê nghe nhạc Bolero, chắc hẳn ít nhiều đều mang trong lòng những hoài niệm, suy tư, cảm xúc như thế.

Những nhạc sĩ miền Nam, đang còn sống như Lam Phương, Lê Dinh, Song Ngọc… hay đã mất ở hải ngoại như Trần Thiện Thanh, Trịnh Hưng, Hoàng Thi Thơ, Duy Khánh, Nhật Ngân, Anh Bằng,… hoặc chết ở quê nhà trong nghèo nàn khốn khó như Trúc Phương, Thanh Sơn, Nguyễn Văn Tý… khi sáng tác những bản nhạc Bolero chắc họ không ngờ đã tạo thành những vũ khí vô hình nhưng ghê gớm, làm mê mẩn hàng mấy chục triệu người sống trong chế độ Cộng sản, có sức xoi mòn và làm sụp đổ chế độ tàn ác man rợ này.

Mặc dù bọn tà quyền vẫn đang sống thoi thóp, dựa vào bạo lực, và sự kết họp mong manh của đám đồng chí cùng băng đảng, để chia chác quyền lợi, tài sản cướp bóc của nhân dân và sẵn sàng “mỏi gối quì mòn sân Tàu phủ”, nhưng bên trong thực sự đã mục rữa, thối tha, chia bè kết nhóm để tranh giành, thanh toán lẫn nhau. Lòng dân sẽ thay đổi nhanh chóng khi Nhạc Bolero ngày càng xoáy sâu vào trí não và tâm hồn họ, cộng với một thực trạng xã hội rệu rã, xuống cấp ở tất cả mọi lãnh vực, tất yếu sẽ tạo thành một hệ quả khôn lường.

Cả một đất nước như đang bị ngón sóng thần Bolero tràn ngập, làm thay đổi não trạng và nỗi khao khát của con người, biết đâu sẽ dẫn đến việc sụp đổ cả thành trì của một chế độ từng lên án, tìm mọi cách để ngăn cấm, triệt tiêu nó. Thêm một chỉ dấu báo hiệu cho ngày tàn của CSVN.

4/9/2017

 V Phung Phung :  Bài viết rất chính xác. Hồi còn bị giam giữ ngoài Bắc, khoảng năm 1978-1979 ; ai hát nhạc vàng thì cấm ,có thể bị giam sà lim, tù trong nhà tù, nhưng khi tôi đi làm tạp dịch ở khu nhà cán bộ, tôi nghe nhiều bài hát nhạc vàng, nhạc bolero trong máy hát, băng dĩa…
Trong đầu tôi đã nghĩ ngay nhạc miền Nam đã ảnh hưởng ra miền Bắc. Không còn nghe ai hát nhạc cách mạng nữa như bản Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây. Nền văn minh miền Nam, âm nhạc đi vào lòng người của miền Nam đã ảnh hưởng, xâm nhập vào miền Bắc cộng sản. Cán bộ cộng sản lúc bấy giờ đã mê Nhạc vàng, nhạc Bolero miền Nam rồi.

Sự kiện chấn động sáng nay tại Giáo xứ Thọ Hòa, Gp Xuân Lộc

Ngày sắp tàn của độc tài toàn trị  chăng???
From facebook: Kim Loan Nguyen shared Thoai Huu Dinh‘s post.
Please share …
 
 

 
Thoai Huu Dinh added 2 new videos.Follow

 

Sự kiện chấn động sáng nay tại Giáo xứ Thọ Hòa, Gp Xuân Lộc (Xuân Thọ, Xuân Lộc, Đồng Nai): hãy xem lại clip đầu tiên do nhóm DLV mạo danh người Công giáo cầm đầu là Nguyễn Trọng Nghĩa và khoảng 20 người với băng rôn, loa, cờ đỏ sao vàng, vũ khí (súng ngắn, dùi cui điện, lựu đạn) có ít nhất một người phụ nữ tên Hạnh hung hăng, tùy tiện xâm phạm khuôn viên Giáo xứ và clip cuối cùng để thấy sự tương phản của sự kiện. Nghĩa và đồng bọn ban đầu tỏ ra côn đồ, bất chấp pháp luật, nói những lời lẽ thách thức,… nhưng với sự phản ứng thông minh, cương quyết, mạnh mẽ của giáo dân Gxu cuối cùng Nghĩa đã cúi đầu xin lỗi. Công an huyện Xuân Lộc và xã Xuân Thọ cũng có mặt chứng kiến…

Rất khâm phục anh chị em giáo dân Giáo xứ Thọ Hòa, một vùng quê nhưng rất hiểu biết pháp luật và lý lẽ cũng như cha Xứ đã không rơi vào bẫy kích động bạo loạn do nhóm DLV bày ra. Ngược lại đã cho họ thất bại ngay chính trong bẫy của họ.

Chưa từng thấy những kẻ nào ngu ngốc như nhóm DLV của “Nguyễn Trọng Nghĩa và các đồng chí” hôm nay, dám đem 20 người đến chọi với hàng ngàn giáo dân….chưa kể giáo dân các giáo xứ lân cận.

Hành vi của Nghĩa và các đồng chí hôm nay đã đủ yếu tố cấu thành tội gây rối trật tự công cộng có tổ chức và sở hữu trái phép vũ khí quân dụng. Đề nghị công an huyện Xuân Lộc, Đồng Nai khởi tố và bắt tạm giam ngay nhóm người này để xét xử đúng pháp luật.

Biên bản lập thừa nhận có 14 DLV nhưng chỉ có mặt 13, số còn lại bỏ trốn cùng với vũ khí bị giáo dân phát hiện…

1. Nguyễn Trọng Nghĩa (1983)
2. Trần Hiếu Nghĩa (1976) 
3. Trần Quốc Hùng (1967): người này khả nghi là an ninh chìm
4. Lê Thị Mỹ Hạnh (1987)
5. Phạm Thị Hiên (1985)
6. Trần Minh Phúc (2002)
7. Nguyễn Minh Triết (1982)
8. Nguyễn Văn Dũng (1988)
9. Nguyễn Phúc Phương (1984)
10. Trần Văn Phước (1968)
11. Phạm Minh Quân (1970)
12. Nguyễn Thị Thanh Bình (1968)
13. Phạm Minh Tuấn (1982)

P/s: – Trần Quốc Hùng (1967) mặc áo trắng bỏ ngoài quần đeo kính râm nhiều khả năng là công an chìm bảo kê cho nhóm của Nghĩa…
– nhóm DLV đã kịp tẩu tán chiếc xe ô tô chở họ đến.
– Nhiều giáo dân các Giáo xứ lân cận đã đến hỗ trợ.
– dù có vài DLV không trung thực và thái độ chưa nhận ra sai trái trong bản tường trình, nhưng hầu hết đều xin lỗi bà con giáo dân Gx Thọ Hòa. Đó chính là nhờ sự nhân ái của giáo dân chứ nếu không thì họ khó lòng ra được khỏi đó.

Nguồn video: Fbs Nguyễn Trọng Nghĩa và Duy Tan Nguyen

Giáo sư luật Harvard: ‘Chưa thể nói Trịnh Vĩnh Bình thắng kiện’

Giáo sư luật Harvard: ‘Chưa thể nói Trịnh Vĩnh Bình thắng kiện’

RFA
2017-09-01
 
Doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình đòi chính phủ Việt Nam bồi thường 1,25 tỷ USD.

Doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình đòi chính phủ Việt Nam bồi thường 1,25 tỷ USD.

RFA
 

Truyền thông mạng những ngày qua hồ hởi nhận định ông Trịnh Vĩnh Bình thắng trong vụ kiện đòi chính quyền Việt Nam bồi thường khoản tiền lên đến 1.25 tỷ USD.

Vụ kiện được cho là “thế kỷ” này có thật sự kết thúc chưa? Chính phủ Việt Nam cần phải làm gì hoặc rút ra bài học gì?

Thủ tục của vụ kiện đúng luật

Trước khi phiên toà diễn ra, khi còn được tiếp xúc với truyền thông một cách đúng luật, ông Trịnh Vĩnh Bình từng bày tỏ với RFA rằng ông tự tin sẽ thắng kiện trong vụ tái khởi kiện lần thứ hai này vì ông đã thực hiện đúng Hiệp thương giữa Hà Lan và Việt Nam. Ông cho biết là một doanh nhân sống và làm việc lâu năm ở Hà Lan, ông rất tôn trọng và giữ đúng những vấn đề liên quan đến luật lệ, khai thuế…

RFA đặt vấn đề về niềm tin thắng kiện của doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình với Giáo sư Tạ Văn Tài, nguyên giảng viên luật trường Đại học Harvard, ông cho biết chính khi vụ kiện diễn ra, ông cũng cho rằng “khả năng thắng kiện là có.”

“Đúng thế. Cái thế mạnh về thủ tục của ông Trịnh Vĩnh Bình là ổng đã đầu tư dựa vào Hiệp định Thương mại đầu tư giữa Việt Nam và Hà Lan. Hiệp định này chắc chắn đã qui định rằng nếu có tranh chấp thì đưa ra Toà Trọng tài Quốc tế. Ông ấy đi theo đúng hiệp định  đó mà làm vụ kiện nên có những đường đi chắc chắn về thủ tục”.

Vào đầu những năm 1990, ông Trịnh Vĩnh Bình từ Hà Lan về Việt Nam đầu tư vào một số dự án ở Sài Gòn và một số tỉnh phía Nam.

EC5D031A-2A06-4C29-9444-D63C1953F488_w900
Bộ sưu tập xe của ông Trịnh Vĩnh Bình RFA

“Ông ấy đi theo đúng hiệp định  đó mà làm vụ kiện nên có những đường đi chắc chắn về thủ tục” – GS Tạ Văn Tài

Cho đến năm 1998, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu bắt ông Trịnh Vĩnh Bình với cáo buộc đưa hối lộ và vi phạm các qui định về quản lý- bảo vệ đất đai. Ông bị tuyên án 11 năm tù sau đó và tòa buộc ông Trịnh Vĩnh Bình phải đóng tiền phạt và tịch thu toàn bộ tài sản của ông ở Việt Nam.

Vào năm 2000, ông vượt thoát khỏi Việt Nam trở về lại Hà Lan.

Năm 2003, ông Trịnh Vĩnh Bình khởi kiện nhà nước Việt Nam tại Trung Tâm Trọng Tài Thương Mại ở Stockholm, Thụy Điển, đòi bồi thường trên 150 triệu đô la.

Tuy nhiên vào năm 2006, tại Singapore Việt Nam thương lượng với ông này ngưng vụ kiện và cam kết trả lại tài sản cũng như tạo điều kiện để ông Trịnh Vĩnh Bình trở lại đầu tư ở Việt Nam…

Thời điểm này, theo lời của Giáo sư Tạ Văn Tài, phía chính phủ Việt Nam, mà điển hình là một vài lãnh đạo cao cấp lúc đó cũng đã công nhận rằng cần phải trả lại số tài sản của doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình.

“Tức là ổng có một phần cái chính nghĩa mà chính Việt Nam hồi đó công nhận do lời khuyến cáo của các Thủ tướng Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Thị Bình chống lại các cường hào ác bá địa phương. Nhưng sau 7 năm không thấy thực hiện cái thoả ước ký tại Singapore nên ổng mới kiện lại.”

Trong một lần trả lời RFA những vấn đề liên quan đến vụ kiện, Giáo sư Nguyễn Vi Khải – thành viên Ban nghiên cứu, cố vấn Thủ tướng Phan Văn Khải khi đó, hiện là Viện phó Viện Nghiên cứu các vấn đề phát triển (VIDS) cho biết.

“Thủ tướng có văn bản gửi xuống cho các ngành an ninh, Bộ trưởng công an lúc đó là ông Lê Minh Hương, để xem xét sự việc và tìm nguyên nhân giải quyết theo luật pháp. Khoảng hai lần Thủ tướng yêu cầu Bộ Công An giải trình.”

Tuy nhiên những cam kết không được phía Việt Nam thực hiện nên đến năm 2014, ông Trịnh Vĩnh Bình quyết định kiện Việt Nam lại lần nữa. Và lần này ông thuê Hãng luật Hoa Kỳ King & Spalding LLP cãi cho ông.

“Có đại diện ngoại giao Việt Nam nói chuyện với tôi. Tôi nói rằng muốn giữ thanh danh của chính phủ để quyến rũ tiếp tục giới đầu tư, thì nên giải quyết vụ Trịnh Vĩnh Bình một cách thoả đáng, nhất là theo thoả hiệp đã ký ở Singapore. Chính tôi đã nói với họ như vậy.” – GS Tạ Văn Tài

‘Chưa thể nói là thắng kiện’

Hôm 27 tháng 8, mạng xã hội tràn ngập hình ảnh và video của ông Trịnh Vĩnh Bình bước ra khỏi trụ sở Tòa Trọng Tài Quốc Tế, tại 112, đường Kleber, Quận XVI, Paris với gương mặt rạng rỡ và hai tay đưa cao dấu hiệu chiến thắng. “Vụ án thế kỷ” được nhiều người nhận định phần thắng nghiêng về phía doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình.

Tuy nhiên, Giáo sư luật Tạ Văn Tài không nghĩ như thế. Ông có cách phân tích dựa theo cơ sở luật pháp của Toà Trọng tài Quốc tế.

“Đồng bào ở hải ngoại suy đoán mà thôi rằng chiến thắng rồi thì tôi nghĩ là hơi vội vàng, vì có thể ông ấy đang hào hứng giơ tay thôi. Mà theo thủ tục trọng tài thì hai bên không được nói gì để còn đi đến thoả hiệp.

Trọng tài nghĩa là họ đâu có xử án theo kiểu toà án, mà họ nghe 1 bên xong rồi họ nghe bên kia, nhiều khi là mỗi người 1 phòng, rồi họ tìm cách họ hoà giải.

Nếu không hoà giải được lúc ấy họ mới đưa ra một bản án trọng tài.

Thế thì tôi nghĩ rằng nó chưa xong đâu, vì theo nguồn tin tôi biết, các bên còn phải nộp hồ sơ thêm. Mà nộp hồ sơ thêm nghĩa là chưa có bản án.”

“Tôi nghĩ rằng nó chưa xong đâu, vì theo nguồn tin tôi biết, các bên còn phải nộp hồ sơ thêm. Mà nộp hồ sơ thêm nghĩa là chưa có bản án.” – GS Tạ Văn Tài

Về phía chính phủ Việt Nam, cho đến chiều ngày 30 tháng 8, tại buổi họp báo chính phủ thường niên, Việt Nam lần đầu tiên lên tiếng thừa nhận về vụ kiện.

Bộ Trưởng-Chủ Nhiệm Văn Phòng Chính Phủ, Phó Thủ tướng Mai Tiến Dũng, trả lời Báo Tuổi Trẻ trong nước rằng Việt Nam đang chờ phán quyết của Tòa Trọng Tài Quốc Tế ở Paris về vụ ông Trịnh Vĩnh Bình, một công dân Hà Lan gốc Việt, kiện chính phủ Hà Nội đòi bồi thường 1 tỷ 250 triệu đô la.

“Quan điểm của Chính phủ, Thủ tướng là tạo môi trường kinh doanh rất bình đẳng cho các doanh nghiệp nước ngoài vào trong nước. Hiện nay tòa án quốc tế đang xem xét, với việc tranh chấp, vi phạm điều luật. Như các báo đều biết, vì vấn đề bảo hộ đầu tư nên một địa phương, một cơ quan nào vi phạm hoặc không thực hiện đúng cam kết, không thực hiện đúng điều luật thì nhà đầu tư nước ngoài đều kiện Chính phủ. Vậy cho nên hiện nay vấn đề này tòa án đang xem xét, chúng ta phải đợi”.

Chính phủ Việt Nam phải làm gì?

Theo dõi trên mạng xã hội, chúng tôi nhận thấy trong vụ kiện thế kỷ này, vấn đề được nhiều người tranh luận nhất là chính phủ Việt Nam nên làm gì ngay lúc này để hình ảnh và uy tín về môi trường đầu tư của Việt Nam với thế giới sẽ không bị ảnh hưởng?

Giáo sư Tạ Văn Tài nói rằng chính một vị đại diện ngoại giao Việt Nam cũng đặt vấn đề này với ông và hỏi về phương cách giải quyết tốt nhất lúc này. Thuật lại câu trả lời của mình, ông cho biết.

“Có đại diện ngoại giao Việt Nam nói chuyện với tôi. Tôi nói rằng muốn giữ thanh danh của chính phủ để quyến rũ tiếp tục giới đầu tư, thì nên giải quyết vụ Trịnh Vĩnh Bình một cách thoả đáng, nhất là theo thoả hiệp đã ký ở Singapore. Chính tôi đã nói với họ như vậy.”

Rất nhiều phản ứng trong dư luận cho rằng Việt Nam đã và sẽ chịu một dư âm rất xấu đối với thương trường quốc tế. Một số khác đặt câu hỏi rằng liệu với Hội nghị thượng đỉnh các nền kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương APEC 2017 sắp diễn ra cuối năm nay, Việt Nam sẽ hội nhập kinh tế toàn cầu và nhận sự ủng hộ của cộng đồng thương mại quốc tế như thế nào?

TỘT CÙNG TỘI ÁC

From facebook:Loc Ngo shared Luân Lê‘s post.
 
Image may contain: 6 people
Image may contain: 2 people, people smiling
Image may contain: one or more people, people sitting and indoor
Luân Lê added 3 new photos.Follow

 

TỘT CÙNG TỘI ÁC

Cho đến nay tôi thấy duy nhất chỉ có một bà Bộ trưởng Bộ Y tế của Việt Nam là giỏi nhất thế giới về trình độ luật pháp, bởi bà ấy đã kết luận toà án vừa rồi đã xét xử đúng người đúng tội.

Ông Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế báo cáo và làm rõ trách nhiệm của Bộ này trong vụ việc rúng động khi nhập khẩu và buôn bán thuốc chữa bệnh giả H-capita, thì bà Bộ trưởng và ông Cục trưởng Cục quản lý dược thuộc Bộ Y tế đã lên tiếng cho rằng các quy trình cấp phép là đúng quy định.

Tôi không còn lời nào tả nổi về những gì đang diễn ra nữa. Nếu luật pháp không được áp dụng và xét xử nghiêm minh, để cho một lũ gây tội ác tày trời lên truyền thông lớn tiếng đe doạ và biện minh mà để lọt tội phạm, và hơn thế là xem thường cả yêu cầu của người đứng đầu Chính phủ thì thật không còn chút hy vọng gì về Chính phủ kiến tạo, liêm chính và minh bạch của ông Thủ tướng nữa.

Nếu ai đó nhìn vào những người già, những người đàn bà hay những đứa trẻ nhỏ trọc đầu và xanh xao như tàu lá vì căn bệnh ung thư, trong những đôi mắt lạc quan và ngây thơ của những người bệnh, họ không hề biết có những tỷ lệ hoa hồng nhuốm máu đang đùa vui và ăn bớt sự sống đang mỗi ngày dần hao mòn theo cấp số nhân của mình, mới thấy hết được tội ác man rợ mà những kẻ có vị thế nhưng bất nhân âm thầm gieo lên những thân thể bất hạnh ấy.

Sự tàn ác đã được dồn đến tột cùng của những tội ác.

Anh là người sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn trải qua 2 thời kỳ trước và sau 75

From facebook:  Thuong Phan and Quang Ha shared Phan Quốc Cường‘s post.
Image may contain: one or more people and people sitting
Image may contain: one or more people and people standing
Phan Quốc Cường to Miền Nam Việt Nam – Trước 1975

 

Anh là người sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn trải qua 2 thời kỳ trước và sau 75. Anh xin mấy chú ngoài vĩ tuyến 17, tức là sinh sau đẻ muộn, đừng đem cái sự bịa đặt, tuyên truyền của ông cha mấy chú về viễn cảnh “Sài Gòn toàn đĩ điểm, dân Sài Gòn sống nhờ viện trợ Mỹ…” nghe nó thối lắm và nó NGU DỐT lắm. Nói về đĩ điếm, gái quán bar khi xưa Sài Gòn có đó, nhưng nó cũng không tới mức độ xuất khẩu đĩ điểm ở VN ngày nay đâu. Nhục mặt khi chính phủ Singapore kiểm soát gắt gao phụ nữ VN nhập cảnh sang Singapore, cũng bởi vì tại lượng gái bán hoa người VN, mượn cớ du lịch sang Singapore, rồi hành nghề mại dâm trái phép. Cái đó chưa kể là xuất khẩu mại dâm sang TQ và Cambodia nữa chớ. Còn cái trò lừa gạt phụ nữ, trẻ em VN bán sang TQ của mấy chú ngoài Bắc thì quả thường tình rồi.

Còn nói về kinh tế Sài Gòn trước 75, Mỹ nó viện trợ là viện trợ cho lính Mỹ, cho chính quyền miền Nam, tức là VNCH. Chứ Mỹ nó không dư tiền mà đi nuôi cả dân miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn. Dân Sài Gòn họ cũng phải cày thấy mẹ thấy cha, chứ không phải suốt ngày đợi viện trợ từ Mỹ mà ăn đâu. Nền kinh tế Sài Gòn trước 75 rất đa dạng, có rất nhiều công ty, tập đoàn nước ngoài vào đầu tư : Esso, Shell, Coca Cola, Panasonic, Philips…

Trong khi ngoài xứ Bắc Kỳ của mấy chú, có chó nó vào đầu tư. Mấy chú được sống trong thời bình, thế mà đường sắt, đường bộ, cầu Thăng Long….của mấy chú là TQ nó xây cho. Nhiệm vụ của mấy chú là trồng lúa, tăng gia sản xuất cùng với những tổ hợp tác xã. Ngay tại Hà Nội của mấy chủ, tắm còn nhảy xuống sông tắm, chứ đào đâu ra nước máy, xà phòng mà tắm. Nhà nào vớ được cục xà bông “cô Ba” trong miền Nam là quí còn hơn cục vàng, 1 chiếc đài radio là cả xóm bu vào nghe, tivi là thứ xa xỉ phẩm. Mấy chú nằm chiếu manh, dân Sài Gòn họ nằm nệm từ trước 75 rồi. Mấy chú xài bếp củi, chứ đừng nói chi bếp dầu, vì dầu đâu ra mà xài, trong khi Sài Gòn người ta xài bếp gas khi đó rồi… Còn chuyện anh dùng 3 chữ “xứ Bắc Kỳ”, thì mấy chú cứ mạnh dạn chửi anh là “thằng Nam Kỳ”, anh càng thích. Bởi vì, Nam Kỳ Khởi Nghĩa là 1 tên đường ở Sài Gòn ngày nay, còn mấy chủ tự nhột khi nghe đến 2 chữ “Bắc Kỳ” là mấy chủ phải tự hiểu sao mình nhột.

Cái dân Sài Gòn từ xưa đến nay, có những cái “tật” kỳ lắm : Khi xưa, nếu mấy chú hỏi đường người cảnh sát Sài Gòn, thì họ chỉ tận nơi, tận tình cho mấy chú. Đi đường thấy ai quên đá chống xe, thì cố rượt lên mà nói với theo : anh, chị, chú, bác, cô, dì… ơi đá chống xe kìa. Người dân Sài Gòn xưa kia không phân biệt tình lẻ như mấy chú ngoài Bắc lồng lộn vụ Hà Nội 1, Hà Nội 2 đâu. Những doanh nghiệp làm ăn xưa kia : nước ngọt Phương Toàn (giờ là nước ngọt chương dương ), Bia La-de 33 ( giờ là bia Sài Gòn), nước tương Nam Dương, kem đánh răng Dạ Lan… hầu như là của tư nhân họ phát triển. Sau ngày giải phóng, Nhà Nước VN tiếp quản các công ty, nhà máy… rồi làm ăn như quần què người ta. Mấy chú gửi email cho nhà máy bia Hà Nội, hỏi giùm anh xem tiểu sử dây chuyền sản xuất bia Hà Nội bây giờ là lấy từ đâu ra ? Không vào Nam cướp dây chuyền sản xuất bia sau giải phóng, thì mấy chú có bia uống à ?

st

-Iraqsoldier-

Bản tường trình của tên côn đồ Nguyễn Trọng Nghĩa

 
No automatic alt text available.
No automatic alt text available.
No automatic alt text available.
Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: one or more people and text
+2
Lê Mỹ Hạnh added 6 new photos.Follow

 

Bản tường trình của tên côn đồ Nguyễn Trọng Nghĩa ( https://www.facebook.com/NguyenTrongNghiaDongThap) về vụ việc hắn cùng đồng bọn mang súng và những vũ khí nguy hiểm khác đến Giáo xứ Thọ Hoà ( Xuân Lộc – Đồng Nai) với mục đích “Vạch mặt kẻ thù” như trong livestream của hắn sáng nay đã thông báo.

Đây là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng cần phải được nghiêm trị. Nguyễn Trọng Nghĩa cùng đồng bọn đã rất nhiều lần tổ chức gây rối trật tự an ninh Xh và thách thức pháp luật cũng như cộng đồng.

Trong khi tên Nghĩa khai nhận trong bản tường trình là hắn đã lượm được khẩu súng và dùng để “phòng thân” thì tên Phan Sơn Hùng (fb Phan Hùng) lại khẳng định khẩu súng đó có giấy phép sử dụng (?)

Chúng ta có quyền đặt ra những câu hỏi rằng:

– Thế lực nào đứng sau và bảo kê cho những kẻ côn đồ này để chúng ngang nhiên dùng vũ khí công khai giữa ban ngày khủng bố, uy hiếp tính mạng của người dân?

– Có phải Nhà cầm quyền CSVN đang dung túng cho những tội ác, tiếp tay cho côn đồ để gây chia rẽ nhân dân? Chia rẽ tôn giáo?? 
…………………????

Đây là những chiêu trò bỉ ổi và khốn nạn, dùng quyền lực và vũ khí để khủng bố nhằm bịt miệng những người lên tiếng vì SỰ THẬT.

Nóng: Ngày 4/9/2017 Việt cộng thất thủ tại giáo xứ Thọ Hòa

From facebook:  Thuong Phan shared Nguyen Thien Nhan‘s post.
 
Image may contain: 4 people
Image may contain: one or more people and indoor
Image may contain: 2 people
Image may contain: 1 person
Image may contain: 3 people
Nguyen Thien Nhan added 5 new photos.

 

Nóng: Ngày 4/9/2017 Việt cộng thất thủ tại giáo xứ Thọ Hòa

20 tên Việt cộng mang theo súng ngắn, roi điện và loa đến Giáo xứ Thọ Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai gây rối.

Chúng mang theo cờ đỏ sao vàng, trương băng ron, cầm loa tự xưng “giáo dân” đòi gặp LM Nguyễn Duy Tân, sau đó đe dọa “có biện pháp trừng phạt” LM Nguyễn Duy Tân. Cầm đầu băng này là tên Nguyễn Trọng Nghĩa.

LM Nguyễn Duy Tân gọi giáo dân đến vây chúng và phát hiện chúng mang theo súng ngắn và roi điện. Công an đã đến rất đông, đòi đem về trụ sở giải quyết nhưng giáo dân yêu cầu lập biên bản tại chỗ. LM Nguyễn Duy Tân yêu cầu ghi họ tên, số CMND, địa chỉ những tên gây rối và bắt chúng cam kết không đến quậy phá nữa.

Thất trận, những tên gây rối tiu ngỉu. Một giáo dân đáng tuổi cha chú của chúng giải thích rằng hành vi của chúng là vi phạm pháp luật, thái độ hung hăng kéo đến giáo xứ gây rối là không chấp nhận được, tên Nguyễn Trọng Nghĩa xuống giọng “dạ, dạ, dạ” liên tục. Chúng bị giáo dân Thọ Hòa dạy cho một bài học nhớ đời.

Việt Nam sản xuất được xe hơi từ bao giờ?

From facebook:  Christina Le
Vào những năm 70 của thế kỷ trước, miền Nam Việt Nam đã cho ra đời chiếc xe hơi đầu tiên với tỉ lệ nội địa là 25%. Hồi đó, La DaLat là chiếc xe khiến cho các hãng xe hơi Nhật, Hàn Quốc gặp khó khăn ở thị trường trong nước bởi giá cả hết sức cạnh tranh. Đến năm 1975 thì bốn dòng xe thương hiệu La DaLat đã nội địa với tỉ lệ 40%.

Giờ đây, năm 2017. Một anh tư bản đỏ có nguồn gốc Đông Âu, giàu lên nhờ bất động sản đã khiến cả thế giới bàng hoàng khi tuyên bố mình sẽ sản xuất xe hơi, xe máy và xe điện.

Ơn giời ! Nếu cộng sản không giải phóng miền Nam chắc giờ chiếc xe thương hiệu Việt ngày ấy đã nội địa một trăm phần trăm và xuất khẩu ra thế giới.

Nếu không nhờ bác đảng làm gì có ngày hôm nay, làm gì có ăn khoai Mì, BoBo trộn cơm, làm gì có cảnh học sinh bị đem ra đấu tố vì chưa kịp đóng tiền học phí, làm gì có cảnh mẹ tự tử để cho con có cơ hội được học hành.

(Trương Quang Thi)

Ra đời năm 1970, La Dalat là chiếc xe hơi dân dụng đầu tiên được lắp ráp, mang thương hiệu và sản xuất hàng loạt ở Việt Nam với mức độ nội địa hóa lên đến 40%.
BAOMOI.COM