ĐỐI THOẠI VỚI VONG

Trần Bang

ĐỐI THOẠI VỚI VONG

(Chuyện thật 100% trong giấc mơ, không hư cấu)

Đêm qua vừa viết xong bài “Hủy hoại Phật giáo hay hủy hoại Chủ nghĩa Marx”, tôi nằm suy nghĩ thêm về lịch sử phát triển Phật giáo để đi đến mặc nhiên thừa nhận, rằng nhờ sự chuyển hóa từ vô thần luận sang hữu thần luận mà Phật giáo phát triển đại chúng. Thậm chí, ở Việt Nam hiện nay, Phật còn chuyển hóa thành Ma mới có thể quyến rũ, mê hoặc được hàng triệu triệu người. Khi Phật hóa thành Ma thì nhà tu hiện đại tự biến mình thành Thầy Mo thời nguyên thủy để làm mọi việc: giáo dục, tế lễ và trị bách bệnh thay cho khoa học, văn hóa giáo dục và y học hiện đại.

Đang nghĩ đến đó trong trạng thái mơ màng, lim dim thì một cái bóng hiện ra. Đó là một lão già với bộ râu tóc dị thường. Tôi bật dậy và ngồi trong tư thế kiết già. Tôi hỏi:

– Tôi biết ông không là Phật, cũng chẳng là Ma. Vậy ông là ai?

Ông ta cười :

– Ta là Vong của tất cả các vong…

Tôi nhìn ông ta với hai tay cầm hai thứ như cầm bửu bối. Ông ta đưa thứ đang cầm bên tay phải ra hỏi tôi:

– Ngươi biết đây là cái gì không?

– Chủ nghĩa Marx. – Tôi trả lời.

– Còn đây là gì? – Ông ta đưa món cầm bên tay trái và hỏi tiếp.

– Bùa của bọn thầy mo thời nguyên thủy. Vậy đích thị ông là Thầy Mo? – Tôi trả lời và hỏi lại ông.

Ông ta cười ngạo nghễ như thể nhổ vào mặt tôi:

– Ngươi thông minh, nhưng còn lâu mới hiểu được bí mật của ta.

Tôi hỏi:

– Ông dùng hai thứ đó khác nhau như nước với lửa, không sợ tẩu hỏa nhập ma sao?

Ông ta cười khùng khục và nói:

– Hiển nhiên hai thứ đó khác nhau như nước với lửa, nhưng đố ngươi chúng giống nhau chỗ nào?

Tôi nhắm mắt cố suy nghĩ vẫn không trả lời được. Ông ta trả lời:

– Ta có khả năng biến nước thành lửa và lửa thành nước.

Nói đoạn, ông ta châm lửa đốt cả hai và cho vào nước. Tôi nhìn thứ nước đen sì đang bốc khói và nghe ông nói tiếp:

– Giống nhau ở chỗ, cả hai đều là Bùa ai cũng có thể uống được. Ta dùng Chủ nghĩa Marx để mê hoặc người có trí. Còn tấm bùa nguyên thủy kia dùng để mê hoặc đám đông mất trí.

Tôi bật mí mắt ra và quát lên:

– Ngươi chơi trò tăm tối khốn nạn đó là đầu độc, sát hại cả dân tộc này. Ngươi có tin ta sẽ vạch trần ngươi ra ánh sáng không?

Nói đoạn, tôi bật công tắt đèn lên. Ánh điện 220V lóa lên bừng sáng cả gian phòng và cái “vong của các vong” kia biến mất. Tôi thở dài, chỉ vì dân mê lú trong tăm tối mà bị vong ám hết đời này đến đời khác. Nhưng tôi cũng hiểu ra bằng tất cả niềm vui, rằng dù là “Vong của các vong” thì cũng đều rất sợ Ánh sáng. Ánh sáng đó chính là Trí tuệ của sự Tự do, Khai phóng. Trí tuệ đích thực không bị thứ bùa mê thuốc lú nào mê hoặc…

Chu Mộng Long

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.

Image may contain: one or more people, people sitting, outdoor and nature
Image may contain: one or more people and outdoor

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh.

March 26, 2018

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.

Thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất xa so với các nước trong ASEAN và Trung Quốc, dù đổi mới và mở cửa cách đây hơn 30 năm (1986).

Ảnh 1& 2: Một góc vùng quê Bạc Liêu

Trong khi đó, cơ hội để Việt Nam đuổi kịp Trung Quốc và các nền kinh tế ASEAN sẽ vẫn là viễn cảnh xa vời, nếu thiếu đi những động lực cải cách hơn nữa.

Đây là cảnh báo của một đề tài khoa học cấp nhà nước mang tên “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020: từ nhận thức với hành động” do ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện.

Báo cáo này, thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, trích dẫn số liệu về thu nhập của Việt Nam và các quốc gia khu vực do Quỹ Tiền tệ Quốc tế thực hiện.

Bên cạnh đó, so với các quốc gia ASEAN khác, dù thu nhập của người Việt Nam đã dần được thu hẹp trong 20 năm qua, khoảng cách vẫn còn rất lớn ở vào thời điểm hiện tại.

Tiến sĩ Phạm Hồng Chương và các đồng sự ở ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia năm 1991.

Tiến sĩ Phạm Hồng Chương nhận xét: “Đây là những chỉ số còn thấp xa so với mức bình quân chung của khu vực, của châu Á và thế giới”.

Thu nhập của người Việt Nam bị bỏ lại quá xa bởi các nước trong khu vực không phải là vấn đề mới.

Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.

Theo Tiến sĩ Phạm Hồng Chương, xét về nhiều mặt: Việt Nam chưa thể hiện rõ quyết tâm tăng trưởng kinh tế và khó thoát khỏi nguy cơ tụt hậu phát triển. Trong vài năm gần đây, nền kinh tế còn bộc lộ nhiều rủi ro tiềm ẩn về tính bền vững của quá trình tăng trưởng.

Báo cáo kết luận “thực tế là Việt Nam sẽ phải rất lâu mới theo kịp được”.

Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn

S.T.T.D Tưởng Năng Tiế́n – Những Bãi Phân Giữa Thời Mạt Pháp

S.T.T.D Tưởng Năng Tiế́n – Những Bãi Phân Giữa Thời Mạt Pháp

Ảnh cá»§a tuongnangtien 

tuongnangtien

Quỷ Lộng Chùa Hoang

Thành ngữ Việt

Bố mẹ tôi đều gốc gác nông dân, và đều là những phật tử thuần thành. Cũng như bao nhiêu người dân Việt chân chất khác, ngoài việc cặm cụi mưu sinh, đời sống (văn hoá, tinh thần, tâm linh) của ông bà – dường như – chỉ xoay quanh việc kinh kệ, chùa chiền, lễ bái, cúng dường …

Thưở ấu thơ (khi còn “lon xon như con với mẹ”) vào những lễ tết, tôi vẫn lon ton  theo chân thân mẫu đến chùa. Vì đây là đất Phật nên bà yên tâm để tôi tha thẩn khắp nơi, suốt buổi, trong khi bận rộn làm công quả.

Cho đến lúc có thể đi đây, đi đó một mình thì tôi (thôi) không bao giờ lai vãng đến chùa chiền gì nữa. Không gian tâm linh của nơi thờ phượng tĩnh lặng và trang nghiêm quá, xem ra, không hợp lắm với cái “tạng” hiếu động của tôi!

Càng lớn tôi càng xa bố mẹ, xa chùa, và xa Phật Pháp Tăng. Mãi cho đến khi đời ngả về chiều – tóc đã điểm sương, song thân đà khuất núi – tôi mới lờ mờ cảm thấy rằng (hình như) mình đang xích lại gần, và cũng hơi để ý, đến chuyện tôn giáo hơn … chút xíu!

Hóa ra, chùa chiền ở Việt Nam không phải nơi đâu cũng đều “tĩnh lặng và trang nghiêm” như trong ký ức tuổi thơ an lành và êm ả của tôi. Không ít chỗ không gian tâm linh truyền thống của cả dân tộc đã bị quấy động … cho tới bến luôn:

 “Tại nhà thờ thánh, tượng Khổng Tử lăn long lóc như người ăn mày tha hương chết đường chết chợ, bị trẻ con ném cứt vào mặt. Tại ngôi chùa Trang Hà, hàng chục pho tượng đổ ngổn ngang, bị lũ mục đồng ném bùn lấm láp nước sơn. Cái giếng hình bán nguyệt trước cổng chùa đẹp thế mà cũng bị phá phách cày xới để trồng lúa. Mấy tấm đá ghép cầu bị bê làm hố tiêu. Mấy chiếc bia lớn nhà thờ chánh tổng, cái thì bị đem bắc cầu, cái thì bị bọn mục đồng khiêng đi làm trò chơi rồi ỉa đái vung vãi trên mặt bia…

Ở làng tôi, đền chùa miếu mạo, nhà thờ họ, mộ cổ, rừng cổ, cây cổ thụ đã bị phá trụi, không còn gì để phục hồi nữa. (Võ Văn Trực. Chuyện Làng Ngày Ấy. NXB Tạp Chí Văn Học: California, 2006).

Đó là chuyện xẩy ra ở miền Trung, vào giữa thế kỷ XX, trong Giai Đoạn Phóng Tay Phát Động Quần Chúng của những người CSVN. Sau khi đất nước thống nhất thì pháp nạn lan đến miền Nam:.

  • Năm 1977 Hoà Thượng Quảng Độ bị bắt giam, bắt đầu cho một cuộc sống tù đầy và lưu đầy cho mãi đến bây giờ.
  • Năm 1988 Thượng Tọa Tuệ Sĩ và Trí Siêu bị tuyên án tử hình, sau được giảm án xuống 20 năm cấm cố. Hai ông, cuối cùng, được phóng thích ngày 31 tháng 8 năm 1998, sau 14 năm giam cầm.

Những bậc chân tù đều bị cầm tù hay phát vãng thì chùa chiền bỏ lại cho ai?

Nhật ký của nhà phê bình văn học & xã hội Vương Trí Nhàn, ghi ngày 4 tháng 5 năm 79, có đoạn:

“Ngày Phật đản. Những người tu hành vẫn có nét mặt hệt như mặt người ngoài đời mà tôi vẫn gặp. Sao ở giữa cảnh đèn nhang nghi ngút của chùa Quán Sứ, giữa bao nhiêu cụ bà thành tâm cúng vái, lại thấy một vị sư tuổi còn thanh niên, có nét mặt trông như một trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng nào đó, mà tôi từng thấy ở các mặt trận.”

Cùng với những vị “sư ông” trông cứ như một sĩ quan tác chiến, chùa chiền VN còn có qúi vị “sư nữ mắt long sòng sọc … miệng rít lên” (cứ như loài rắn tiếng rắn) theo cách mô tả của nhà văn Dương Thu Hương:

“Trưa hôm đó, tôi qua cổng chùa đi vào ngôi nhà ngang. Vừa đặt chân lên bậc tam cấp tôi chứng kiến một cảnh tượng không tương hợp chút nào với chốn từ bi: Trên tấm phản gỗ mốc, sư cụ bà ốm nằm còng queo, bát cháo ăn dở ở một góc phản khô đét lại. Nhà “sư nữ” ngoại tam tuần mắt long sòng sọc, tay nắm cổ người bệnh lắc, miệng rít lên:

– Mày chết đi, mày chết ngay đi cho người ta nhờ!…

Sư cụ đã quá yếu không động cựa nổi, cái đầu lắc lư ngật ngưỡng như quả bưởi trong tay người đàn bà trẻ hung hãn:

– Mày chết đi…

Cụ không mở mắt nổi và giọng nói đã đứt quãng nhưng hoàn toàn minh mẫn. Ðó là người đã xuống tóc từ thời chính quyền 1945 chưa thiết lập, đã duy trì và tu tạo ngôi chùa này qua mọi thăng trầm của thời gian. Nhưng cụ không có mảy may quyền hành để lưu giữ các chân tu ở lại, thay cụ chủ trì. ‘Nhân sự’ do ‘bên trên’” đưa xuống.”

Vậy cái gì là ‘bên trên’ ? Quyền lực nào áp chế những người tu hành và thả lũ lợn bẩn thỉu vào khắp chùa chiền xứ sở?… Chẳng có gì bí mật cả, ‘bên trên’ là A 25 Cục bảo vệ văn hóa thuộc Tổng cục 1 Bộ Nội Vụ. A 25 có nhiệm vụ đào tạo sư sãi để ‘yểm’ Hội Phật Giáo Việt Nam, để trấn giữ hệ thống chùa toàn quốc.”

Ảnh: FB

Chắc không mấy ai có thể biết chính xác con số “heo lợn bẩn thỉu” mà A25 đã thả ra “để yểm” chùa chiền nhưng mọi người đều phát hoảng khi cứt đái của lũ súc vật này không chỉ làm ô uế cửa thiền mà còn tràn lan ra đến tận bên ngoài. Bản tin của trang Tiếng Dân, đọc được vào hôm 22 tháng 3 năm 2019, có tiểu mục “Buôn thần bán thánh” ở chùa Ba Vàng:  – Gọi vong, thu hàng trăm tỷ: Trụ trì thừa nhận sự việc xảy ra ở chùa Ba Vàng (GT). – Chùa Ba Vàng cho rằng có thể chữa bách bệnh bằng việc đuổi tà ma, tiễn vong (TN). – Gọi vong, thu hàng trăm tỷ: Chùa Ba Vàng quy tụ nghìn phật tử nhằm minh oan (GT). – Chùa Ba Vàng thu tiền gọi vong: Vừa công đức, vừa “do vong yêu cầu”? (LĐ). – Người phụ nữ tên “Phạm Thị Yến” tuyên truyền luận điệu “làm nhục” nữ sinh giao gà Điện Biên ở chùa Ba Vàng là ai? (TGT). – Truyền bá chuyện vong báo oán, chùa Ba Vàng mỗi năm thu trăm tỉ (Zing).

FB Nguyễn Ngọc Chu  đặt câu hỏi: CÓ BAO NHIÊU CHÙA BA VÀNG?

Rồi, ông trả lời ên: “Trên Đất Nước ta có hàng trăm chùa ‘Ba Vàng’. Có nhiều chùa ‘Ba Vàng mới’ khủng hơn chùa Ba Vàng Uông Bí. Đó là các chùa ở Bãi Đính, ở Tam Chúc…”

Tôi thì trộm nghĩ khác: đó chả phải là chùa chiền gì cả mà chỉ là những bãi phân giữa thời mạt pháp. Ngày nào mà chế độ hiện hành vẫn còn hoành hành thì sẽ còn nhiều bãi cứt tương tự xuất hiện ở mọi nơi. Và phân gio của Bộ Nội Vụ VN, thực ra, cũng đã vương vãi cùng khắp – miếu đền, thánh thất, giáo đường – chớ đâu có riêng chi ở chốn thiền môn.

TẦU NHÀ MINH TRIỆT TIÊU VĂN HÓA ĐẠI VIỆT NHƯ THẾ NÀO ?

TẦU NHÀ MINH TRIỆT TIÊU VĂN HÓA ĐẠI VIỆT NHƯ THẾ NÀO ?

 (CHUYỆN CƯỚP SÁCH CỦA TA ĐEM VỀ KIM LĂNG)

Năm 2004 hiểm họa tái xâm lăng nước ta của người Tàu chưa lộ rõ và chưa thật sự nguy hiểm như trong năm 2012 và những năm sau này.”

Có điều người ta cần phải ghi nhớ là người Tàu luôn luôn kiêu căng, tự coi nước mình là một nước lớn là duy nhất văn minh,  nằm ở giữa.  Chung quanh họ đều là man di mọi rợ, Việt Nam hay Đại Việt đi chăng nữa cũng chỉ là man, Nam Man, cùng với Bắc Địch, Đông Di, Tây Nhung… nằm ngoài rìa của Hoa Hạ thời cổ, của Trung Hoa thời Dân Quốc, của Trung Quốc thời Cộng Sản hiện tại…”

Phạm Cao Dương (*)

Chuyện Nhà Minh xâm lăng nước ta và cướp sách của ta đem về Tầu xảy ra cách đây hơn sáu trăm năm bị nhiều người cho là không quan trọng.  Thực sự đây là một mưu toan vô cùng thâm độc của người Tầu nhằm tiêu diệt dân tộc Việt mà người thường ít ai để ý đến, mà có để ý đến thì cũng khó nhận ra hay đã quá muộn.  Nó nằm trong “Mưu Độc Ngàn Năm” với lời nguyền “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” của Mã Viện gần hai ngàn năm trước và một lần nữa đã và đang trở thành một mối ưu tư và một đề tài vô cùng quan trọng cho những ai còn lưu tâm tới tiền đồ của đất nước và tương lai của con cháu mình cũng như trách nhiệm của mình đối với tổ tiên, đồng bào và hàng triệu người dân và chiến sĩ  đã hy sinh trong cuộc chiến kéo dài ba mươi năm vừa qua.  Không lẽ tổ tiên mình đã thành công bảo vệ được dân tộc, giữ vững được đất nước mà đến      đời mình lại bất lực và để mất hay sao? Không lẽ Các Cụ Ta đã thành công dìm “Cột đồng (của Mã Viện) chìm chín suối” và Hai Bà Trưng đã tạo dựng được “Bia đá rọi ngàn thu” để sang thế hệ chúng ta, chúng ta lại ngồi yên để sẽ ngậm ngùi tự hát cho mình mình nghe:

Để lại cho em này nước non mình.

Để lại cho em một nước đẹp xinh.

Một miền oai linh hiển hách.

Chỉ còn dư vang thần thánh.

Để lại cho em hèn kém của anh

thay vì:

Người sau, kẻ trước lao vào địch,

Giữ vững nghìn thu một giống nòi.

hay sao?  Xin để quý bạn đọc tùy nghi trả lời.

Đây là bài thứ hai trong loạt bài tác giả viết về “Mưu Độc NgànNăm” của người Tầu nhắm vào Dân Tộc Việt Nam sau bài nói về Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng và Cột Đồng Đông Hán của Mã Viện kỳ trước.

Trong tháng 4 năm 2004, dưới nhan đề “Từ Lĩnh Nam Chích Quái Đến Các Tài Liệu Bị Quân Minh Tịch Thu Đem Về Tàu”, tôicó viết một bài về việc người Tàu tịch thu sách của ta. Vì bài viết quá ngắn và vì tôi không chỉ rõ các nguồn tài liệu nên sau đó nhiều người thắc mắc.  Năm 2012, tôi đã viết thêm và năm nay 2019, tôi xin được viết thêm nữa.  Đầu tiên tôi xin nói lànăm 2004 khác với năm 2012 và năm 2019 lại khác hơn nữa. Năm 2004 hiểm họa tái xâm lăng nước ta của người Tàu chưa lộ rõ và chưa thật sự nguy hiểm như trong năm 2012 và những năm sau này.  Cập nhật hóa và phổ biến những gì tôi thấy được cho bạn bè nói riêng và cho tuổi trẻ Việt Nam nói chung là một điều tôi thấy nên làm mặc dầu tôi vẫn muốn kiếm thêm tài liệu để viết nhiều hơn nữa dù đã ở trên đường tới tuổi chín mươi, tuổi bị kể như là quá già và sắp rời cõi tạm.

Thực sự thì sự quan tâm của tôi về chuyện người Tàu tịch thu hết các sách vở của ta đem đốt hết hay đem về Tàu đã có từ lâu.  Thắc mắc nhưng đồng thời cũng là một nỗi ấm ức, bực bội, đau đớn, xót xa, tủi nhục, tiếc nuối, đặc biệt là mỗi khi tôi có việc phải tìm hiểu về hai thời Lý Trần, hai triều đại đã đóng góp rất nhiều cho vinh quang, thịnh vượng của xứ sở, nói chung và đặc sắc riêng cho văn hóa của dân tộc mình, nói chung..  Tôi biết nỗi ấm ức, bực bội, đau đớn, xót xa, tủi nhục, tiếc nuối của tôi cũng là của chung dân tộc tôi, dù là tôi đang làm công chuyện tìm hiểu và nghiên cứu.  Tôi cũng biết tìm hiểu và nghiên cứu là phải có cái đầu lạnh chừng nào hay chừng ấy, càng lạnh càng tốt, nhất là nghiên cứu về quá khứ, nhưng dù muốn hay không tôi vẫn là người Việt Nam.  Những gì tôi viết ra ở đây chỉ là một gợi ý và gợi ý về những sách vở và tài liệu liên hệ tới nước Đại Việt đương thời do chính người Đại Việt viếtngoài văn chương, thơ phú, còn có học thuật, tư tưởng, phong tục, tập quán, sử ký, địa lý, con người và tất nhiên gồm cả văn chương, thi ca…, những gì có thể giúp cho người thời đó và người sau này tìm hiểu về nước Đại Việt và dân tộc Đại Việt cũng như những thành công vĩ đại mà tổ tiên ta đã đạt được ngót ngàn năm trước.  Những sách vở, tài liệu này tôi tin là nhiều lắm, nhiều hơn là những gì ta hiện có, cộng thêm với những gì được liệt kê trong danh sách những sách đã mất mà các cụ ta sau này còn nhớ được và viết lại trong sử sách do các cụ viết.[1] Tôi dám tin là như vậy vì đây là cả một kho tàng tổ tiên ta đã tạo dựng được trong suốt bốn trăm năm thịnh trị nhất của lịch sử dân tộc mình.  Tôi cũng dám tin như vậy căn cứ vào bài tựa của Việt Âm Thi Tập, sưu tập thơ của thời Lý-Trần và thời Lê Sơ do Phan Phu Tiên khởi đầu và Chu Xa thực hiện, Lý Tử Tấn đề tựa. Cả ba đều là người đương thời, từ đónhững sự hiểu biết của các ông còn rất nóng, chưa đến nỗi bị thời gian làm cho hao mòn.  

Phan Phu Tiên đậu Thái Học Sinh năm 1396 đời Vua Trần Thuận Tông, Lý Tử Tấn đậu đồng khoa Thái Học Sinh với Nguyễn Trãi, khoa Canh Thìn (1400) triều Nhà Hồ, còn Chu Xa thì trẻ hơn một chút vì sách được soạn xong năm 1459 dưới triều Vua Lê Nhân Tông, tiếp nối công trình của Phan Phu Tiên hoàn thành năm 1433, niên hiệu Thuận Thiên triều Vua Lê Thái Tổ, nên những gì các ông biết về sách vở, thi ca của hai Triều Lý và Trần phong phú đến mực nào cũng như hành động tịch thu sách của không thể nào tàn bạo hơn của Nhà Minh là như thế nào.  Lý Tử Tấn trong bài tựa của Việt Âm Thi Tập cho biết là sau cơn binh lửa, số thơ còn lại chỉ được một hai phần nghìn. Nguyên văn như sau:

“… Như các vua Triều Trần là Thánh Tông, Nhân Tông, Minh Tông, Nghệ Tông, cùng là Chu Tiều Ẩn tiên sinh (Chu An), các ông họ Phạm ở Hiệp Thạch (Phạm Sư Mạnh), họ Lê ở Lương Giang (Lê Quát), Nguyễn Giới Hiên (Nguyễn Trung Ngạn) và anh em ông Phạm Kính Khê (Phạm Tông Mại, Phạm Ngộ) đều có tập thơ riêng lưu truyền ở đời.  Về sau, vì binh lửa, số thơ còn lại chỉ được một hai phần nghìn.” [2]

Điều cần phải để ý là đây mới chỉ là về thơ văn mà thôi.  Những tài liệu khác liên quan tới sự tìm hiểu về nền văn hiến của nước Đại Việt dưới hai thời Lý Trần trước đó có thể ít hơn về số lượng nhưng quan trọng hơn nhiều cho các học giả sau này.

Sự thịnh trị này đã được chính Minh Thái Tổ ghi nhận khi ông ban cho sứ thần của ta bốn chữ Văn Hiến Chi Bang vào năm 1368 [3] và Trần Nguyên Đán (1325 – 1390), cha vợ của Nguyễn Phi Khanh hay ông ngoại của Nguyễn Trãi đã miêu tả qua câu thơ bất hủ “Triệu tính âu ca lạc thịnh thì” (trăm họ vui ca mừng thời thịnh trị) [4] và người lính già đầu bạc thời Trần Nhân Tông còn thỉnh thoảng ngồi kể chuyện thời Nguyên Phong:

“Bạch đầu quân sĩ tại,

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong”

Lính già phơ tóc bạc

Kể chuyện thuở Nguyên Phong

(Ngô Tất Tố dịch) [5]

Cái gì đã làm cho Đại Việt là một nước văn hiến?  Cái gì đã làm cho trăm họ Đại Việt “âu ca lạc thịnh thì”?  Cái gì đã làm cho người lính già phơ tóc bạc ngồi kể chuyện thuở Nguyên Phong?  Cái gì đã làm cho một nước nhỏ bằng bàn tay [6]thắng được quân nhà Tống và luôn cả quân Mông Cổ, điềuThiên Triều, thượng quốc của người Việt trong nhiều thế kỷ và luôn cả sau này, tôi muốn nói là chính nước khổng lồ Trung Quốc, không làm được?  Cái gì đã làm cho Hồ Nguyên Trừng được Hoàng Đế Nhà Minh biết tới và trọng dụng?  Đó phải là những câu hỏi mọi người nghiên cứu về triều đại này phải tìm hiểu để trả lời và đương nhiên cả người nhà Minh, trong đó có Minh Thành Tổ khi chủ trương xâm lăng và đô hộ nước ta cũng muốn tìm hiểu.  Chính vì vậy, những sách vở do người Đại Việt đương thời biên soạn hay sáng tác chắc chắn phải là những nguồn hiểu biết vô cùng quan trọng về đất nước và con người Đại Việt mà những ai, kể cả người Tàu đương thời, có nhu cầu tìm hiểu hay chỉ vì vì tò mò, cũng muốn có được trong tay đểđọc và lưu giữ thay vì nhắm mắt đốt bỏ hết.  Đó là lý do tại sao hai sắc chỉ ban đầu của Minh Thành Tổ đã không được triệt để thi hành.  Nếu quả như vậy thì phần nào những sách vở, tài liệu này vẫn chưa bị mất và vẫn còn nằm đâu đó bên Tàu, dưới hình thức này hay hình thức khác, nếu kiên trì tìm kiếm và có phương pháp tìm kiếm, người ta vẫn có thể thấy lại được.  Tất nhiên là với tất cả sự dè dặt và kiên trì tối thiểu mà một nhà sưu tầm, khảo cứu cần phải có.

Ý được gợi ra nhưng câu trả lời đầu tiên được ghi nhận gần như là không, vì nếu cứ nhất định căn cứ vào tài liệu của thời đó để lại thì làm gì có chuyện người Tàu lấy sách của ta đem về Tàu.  Minh Thành Tổ trong hai đạo sắc dụ của ông có hạ lệnh cho tướng lãnh, quân binh của ông đem về Tàu đâu.  Câu trả lời của tôi là căn cứ vào các sách sử của ta.  Tôi có thể chưa có dịp đọc hết các sách vở, tài liệu có thể chứa những chi tiết về chuyện này, nhưng trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, chính sử của nhà Nguyễn, một tác phẩm không do một người mà do nhiều người thuộc Quốc Sử Quán đương thời do Phan Thanh Giản làm Tổng Tài biên soạn, và trước đó, Lê Quý Đôn (1726 – 1784) trong Lê Triều Thông Sử đã viết rất rõ điều này.

Trước hết, trong Lê Triều Thông Sử, phần “Nghệ Văn Chí”, Lê Quý Đôn có viết: “Đến đời Nhuận Hồ mất nước, tướng nhà Minh là Trương Phụ lấy hết sách vở cổ kim của ta gửi theo đường sông về Kim Lăng.” [7] Nên để ý ba chữ “theo đường sông” tác giả dùng để nói rõ chi tiết về cách chở về Kim Lăng ở đây chứ không nói chung chung.  Còn trong KĐVSTGCM, phần Chính Biên, quyển XXXIII, sau phần nói về việc vua nhà Minh cho in các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh và Tính Lý Đại Toàn và sai Giám Sinh Đường Ngha sang nước ta ban phát cho những người Nho học, một cách khẳng định, có chép thêm “Còn các sự tích và sử sách của nước ta từ đời Trần trở về trước đều tịch thu đưa về Kim Lăng.” [8]

Gần ta hơn, Trần Quốc Vượng, giáo sư sử học thuộc Viện Đại Học Quốc Gia Hà Nội, trong tuyển tập nhan đề Văn Hóa Việt Nam, Tìm Tòi và Suy Gẫm cũng viết:

“Cướp được nước ta, trong 20 năm trời bên nền đô hộ hà khắc về chính trị, vơ vét tham tàn về kinh tế, giặc Minh đã thi hành một chính sách hủy diệt độc ác về văn hóa, giặc Minh đã quyết tâm đập cho tan nát những cơ cấu văn hóa dân tộc xây dựng suốt hơn 400 năm, chủ yếu dưới thời Lý – Trần.  Vua Minh đã trực tiếp ra mật lệnh cho bọn tướng xâm lăng khi tiến quân vào nước ta, thấy bất cứ cuốn sách vở nào, gặp bất cứ tấm bia đá nào đều phải thiêu hủy, đập phá hết. Tên tướng Trương Phụ lượm lặt hết các sách vở cổ kim của ta, đóng thùng chở về Kim Lăng. Tháng 7 năm Mậu Tuất (1418), nhà Minh còn sai tiến sĩ Hạ Thì và hành nhân Hạ Thanh sang tìm tòi và thu lượm tất cả những sách chép về lịch sử và sự tích xưa nay do người Việt viết. Năm 1419, nhà Minh lại cho người đem sách Khổng giáo, Đạo và Phật giáo của Trung Quốc sang thay thế cho những sách trước     kia chúng lấy đi. Chính sách hủy diệt văn hóa thâm độc đó đã phá hoại gia tài văn hóa, tinh thần của dân tộc ta không phải là ít. Nếu không, cái gia tài văn hóa, văn học tư tưởng thời Lý Trần để lại sẽ phong phú biết chừng nào!” [9]

Tất nhiên các nhà nghiên cứu thận trọng có thể nói rằng những ghi chú kể trên đều là bởi những người của nhiều thế kỷ sau này viết nên vẫn chưa đủ thuyết phục, và ta vẫn cần phải có thêm bằng chứng.  Thực sự thì ta không biết Lê Quý Đôn rồi sau này các nhà san định bộ KĐVSTGCM đã căn cứ vào đâu để ghi chép như trên.  Có thể các vị sau này đã căn cứ vào Lê Quý Đôn còn Lê Quý Đôn thì căn cứ vào những gì ông đọc được và nghe được từ những người của thời trước ông, trong đó không thể không có Lý Tử Tấn.  Chúng ta cần ghi nhớ là Lê Quý Đôn là người chịu khó tìm tòi, học hỏi.  Ông đã đọc rất nhiều, rất rộng và ghi chép rất cẩn thận.  Chỉ cần đọc các tác phẩm của ông người ta thấy rõ điều này.  Còn Trần Quốc Vượng thì đã không nêu rõ các nguồn sử liệu ông đã dùng.  Nhưng sử gia này cũng là người làm việc rất tỉ mỉ và có phương pháp nên chắc chắn đã không đưa ra những ghi nhận về sự kiện kể trên một cách hồ đồ vô căn cứ.  Dù sao, một khi nghi vấn đã được đưa ra, ta vẫn cần phải truy tầm vừa bằng tài liệu nếu có và vừa bằng suy luận cặn kẽ chừng nào hay chừng nấy.

Trước hết ta hãy đọc lại những phần chính liên hệ tới vấn đề sách vở của người Việt trong ba sắc chỉ của Minh Thành Tổ được ghi trong Việt Kiệu Thư, được dịch và in lại trong Thơ Văn Lý Trần, một công trình được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu có uy tín và đáng tin cậy của Việt Nam trong thế kỷ XX trước, để thấy lại phần nào chi tiết liên hệ, nhất là sắc chỉ thứ hai, ban hành vào ngày 16 tháng 6 năm 1407, theo đó thì vị Hoàng ĐếTrung Hoa này đã nhiều lần bảo các tướng sĩ của ông ta là phải hủy diệt lập tức những sách vở của người Việt này, nhưng các tướng lãnh của ông đã không ra lệnh đốt ngay, lại để xem xét rồi mới đốt. Còn quân lính thì phần đông không biết chữ…thì khi “đài tải” sẽ bị mất mát nhiều [10]..

Tại sao lại “đài tải”? Tại sao lại lo mất mát nhiều? Tại sao lại để xem rồi mới đốt?

Đến sắc chỉ thứ ba ban hành ngày 24 tháng 6 năm 1407, Minh Thành Tổ lại ra lệnh cho các tướng lãnh của ông phải cấp tốc thu hồi những văn kiện ông ban hành từ trước: “Nay An-nam đã bình định xong […] trừ các loại chế dụ ra, còn thì tất cả các đạo sắc viết tay và các ký sự thư thiếp, đã từng phát đi từ trước, cùng với sổ ghi chép mà Thành Quốc Công đã lĩnh hoặc các thứ [sổ sách] trù nghị mọi chuyện, đều phải đem toàn số kiểm kê, đối chiếu, niêm phong cẩn mật, gửi trả lại, không cho lưu lại một chữ. Nếu có một chữ bỏ lại rơi vào tay bọn kia thì rất bất tiện.” [11] thì người ta thấy sự kiện đã quá rõ rệt là lệnh của vua Nhà Minh đã không được triệt để thi hành và các sách vở quân Minh thu được đã không bị đốt bỏ hết. Một số khác trên đường đài tải đã bị mất mát rất nhiều.  Ngoài ra, ngoài ba dụ chỉ hiện được người ta biết tới, chắc chắn còn nhiều văn kiệntối mật khác hoặc đã được niêm phong gửi lại Triều Đình Kim Lăng, hoặc đã bị hủy bỏ trong thời điểm này. Chúng chứa đựng những gì hiện tại chúng ta chưa biết được và có thể không bao giờ biết được nhưng người ta có thể chắc chắn là chúng chứa đựng rất nhiều chi tiết liên quan tới đường lối thâm độc của nhà Minh trong thời gian này, nếu không tại sao Minh Thành Tổ lại thêm câu cuối “Nếu có một chữ bỏ lại rơi vào tay bọn kia thì rất bất tiện”.  Đây mới là điểm quan trọng của vấn đề.  Tại sao Minh Thành Tổ lại sợ đến như vậy?  Do đó nếu chúng ta chỉ căn cứ vào sắc chỉ thứ nhất (được nói tới trong Thơ Văn Lý-Trần), ban hành ngày 21 tháng 8 năm 1406, cho Chu Năng kể trên, mà bảo rằng không hề có chuyện người Minh đem sách vở của ta về Tàu, tôi e rằng quá máy móc và vội vã.  Chúng ta chỉ có thể biết rõ hơn chừng nào kiếm ra được những tài liệu mật này. Đây gần như là một việc mò kim đáy biển.  Tuy nhiên còn có những lý do khác khiến ta có thể viện dẫn được.  Thứ nhất là tính tò mò của các tướng sĩ nhà Minh, một tính tự nhiên và phổ quát của con người mà họ không tránh được, đặc biệt ở những người có học khi họ kiếm được những sách nói về những điều họ đã học và muốn biết.  Ở đây tôi muốn nói tới các sách về Tam Giáo, đặc biệt là sách của Hồ Quý Ly [12] và của Chu Văn An [13], cộng thêm nhu cầu cần biết để xâm lăng, bình định và cai trị, chưa kể tới hoàn cảnh họ phải sống xa triều đình và xa nhà.  Các tướng sĩ trong ban tham mưu của Chu Năng và sau này của Trương Phụ và các nhà hành chánh sau này nữa chắc chắn phải thu thập bất cứ tài liệu gì họ thu thập được, phân tích nghiên cứu chúng một cách tỉ mỉ để hiểu rõ kẻ địch của họ và của dân bản địa mà họ phải bình định và cai trị.  Nghiên cứu rồi sau đó đem theo mình và giữ lại làm của riêng là một việc làm tự nhiên của họ; còn triều đình nhà Minh thì ở quá xa, làm sao có thể hiểu rõ những nhu cầu này và theo dõi chặt chẽ được, chưa kể tới chuyện ra lệnh chỉ là bề ngoài để che mắt mọi người.

Câu hỏi kế tiếp người ta có thể nêu lên là cho đến những ngày hiện tại đã có tác phẩm nào của người Việt sau nhiều thế kỷ luân lạc đã được người ta khám phá ra dưới hình thức này hay hình thức khác chưa?  Câu trả lời là có.  Đó là Việt Sử Lược và Thiền Uyển Tập Anh.  Hai cuốn sách này xuất hiện từ thời nhà Trần và đã được người sau chép hay viết lại.  Việt Sử Lược đã bị thất truyền rất lâu, mãi đến thời Càn Long nhà Thanh (1736 – 1795) mới được đem in, nói là theo bản của Tuần Phủ Sơn Đông thu nhặt được đem dâng lên vua với người hiệu đính là Tiền Hi Tộ, người Giang Tô, người đã san định bộ Thủ Sơn Các Tùng Thư.  Việt Sử Lược được lưu trữ ở Thủ Sơn Các Tùng Thư và ở Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư của nhà Thanh và đã được nhiều nhà xuất bản Trung Quốc ấn hành.  Tác phẩm này đã được Giáo Sư Trần Quốc Vượng phiên dịch sang Việt ngữ, giới thiệu và chú giải.[14] Trong bản dịch của ông, Trần Quốc Vượng có nói tới Thiền Uyển Tập Anh khi ông bàn về việc các người họ Lý bị đổi thành họ Trần, nhưng đến Lê Mạnh Thát thì sau khi đối chiếu nội dung của Thiền Uyển Tập Anh với An Nam Chí Nguyên, nhà học giả Phật Giáo uyên thâm này đã khẳng định là: “Khi quân Minh đánh chiếm được nước ta vào năm 1407, Thiền Uyển Tập Anh đã bị chúng thu gom và sau này được dùng một phần để viết An nam chí nguyên.” [15]

CHUYỆN NGÀY NAY

Trên đây là những gì tôi ghi tạm để cấp thời chia sẻ với mọi người, đặc biệt là giới trẻ khi hiểm họa mất nước của dân tộc ta trước những toan tính ngàn năm, vừa công khai, vừa tiệm tiến và vô cùng thâm độc của người Tàu đang diễn ra ở cả ngoài biển đảo lẫn trên đất liền, ở dọc biên giới với những khu rừng đầu nguồn, trên cao nguyên cũng như dưới đồng bằng dọc theo bờ biển từ Móng Cái đến Cà Mau, đối với đất đai cũng như đối với con nguời Việt Nam Mưu độc ngàn năm với lời nguyền “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” của Mã Viện một lần nữa đã trở thành một mối ưu tư và một đề tài vô cùng nóng hổi cho những ai còn lưu tâm tới tiền đồ của tổ quốc và tương lai của con cháu mình cũng như trách nhiệm của mình đối với tổ tiên, đồng bào và hàng triệu chiến sĩ ở cả hai bên đã hy sinh trong cuộc chiến kéo dài ba mươi năm vừa qua nhân danh bảo vệ đất nước.  

Bài viết, do đó, chắc chắn còn nhiều thiếu sót và sơ hở. Tôi sẽ xin bổ túc khi có dịp.  Riêng về giá trị văn chương của thi phú của ta so với của Tầu thì tôi không dám lạm bàn vì sự hiểu biết và khả năng của tôi về khía cạnh này không đủ, vả lại đó không phải là loại tài liệu mà các tướng lãnh và các nhà cai trị người Minh quan tâm, nhất là loại thơ văn lãng mạn, tình cảm cá nhân.  Nếu tôi có đọc các tác phẩm thuộc loại này thì chỉ là để tìm hiểu về các thời kỳ hay các nhân vật liên hệ tới lịch sử mà thôi.  Điều tôi muốn nói lên ở đây là nếu người Tàu có làm chuyện hủy diệt hay chép lại rồi đề tên bất cứ người nào kháchay viết lại hay đạo văn của ta, nếu có, khi họ xâm lăng nước ta vào đầu thế kỷ XV với chủ trương chính yếu của họ là nhằm triệt tiêu khả năng tinh thần, lòng tự tin và nguồn hãnh diện của dân tộc ta để phòng ngừa hậu họa, đồng  thời giữ cho nước Tầu vị thế độc tôn, trung tâm của thế giới văn minh, không phải chỉ ở thời điểm xâm lăng hay đô hộ mà vĩnh viễn sau này nữa.Thơ văn chỉ là một phần nhỏ.  Đây là một chính sách vô cùng tàn độc nếu ta dùng từ ngữ chung của nhiều người khi nói tới hay viết về giai đoạn lich sử này của dân tộc và của đất nước ta. Một chính sách không phải chỉ phát xuất từ tham vọng Đại Hán mà còn có thể được coi như phản ảnh của một mặc cảm, một sự sợ hãi lo âu trước sự thành công không thể ngờ được của Đại Việt trước sự thất bại của Thiên Triều Trung Quốc, một chính sách và một hành vi nếu được thực hiện vào thời điểm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI hiện tại, quốc gia chủ trương sẽ phải chính thức và long trọng xin lỗi, coi như đã phạm một tội ác đối với nhân loại.  Có điều người ta cần phải ghi nhớ là người Tàu luôn luôn kiêu căng, tự coi nước mình là một nước lớn là duy nhất văn minh, nằm ở giữa.  Chung quanh họ đều là man di mọi rợ, Việt Nam hay Đại Việt đi chăng nữa cũng chỉ là man, Nam Man, cùng với Bắc Địch, Đông Di, Tây Nhung… nằm ngoài rìa của Hoa Hạ thời cổ, của Trung Hoa thời Dân Quốc, của Trung Quốc thời Cộng Sản hiện tại… Bao nhiêu tài nguyên, của cải quý báu nhất từ vật chất đến tinh thần trong thiên hạ là phải được tập trung hết về tay họ.  Những chiến thắng của người Việt trong các thời Lý Trần, đặc biệt là chiến thắng chống quân Mông Cổ trong khi người Tàu thực hiện không nổi là những gì họ không thể chấp nhận được.  Còn nếu vị Hoàng Đế sáng lập nên Triều Đại Nhà Minh là Minh Thái Tổ ban cho sứ Đại Việt bốn chữ Văn Hiến Chi Bang, vô tình ông đã mở đầu khai tử cả một nền văn hóa riêng của Đại Việt mà đao phủ là hậu duệ của ông, Minh Thành Tổ.  Là người sáng lập nên một triều đại mới, Minh Thái Tổ có thể có một cái nhìn rộng rãi bao dung nhưng những người kế vị ông coi đó là một sự xúc phạm đến thiên triều khi chính tình của nhà Minh đã ổn định.  Cuối cùng ta cũng không nên quên là kiêu căng nhưng người Tàu vẫn luôn mở cửa để thu góp chất xám từ các xứ chung quanh bằng cách đòi hỏi các xứ này phải cống những người tài giỏi khi các nước này còn độc lập hoặc ruồng bắt những người này khi các nước họ bị xâm lăng hay đô hộ đem về Trung Quốc.  Điều này đã xảy ra trong thời quân Minh xâm lăng nước ta khi vua Minh hạ lệnh cho Trương Phụ và các tướng tá của ông này phải “tìm tòi dò hỏi những người ẩn dật ở núi rừng, có tài, có đức, thông suốt năm kinh, văn hay, học rộng, thạo việc, am hiểu thư toán, nói năng hoạt bát, hiếu đễ, chăm làm ruộng, tướng mạo khôi ngô, gân sức cứng rắn, cùng những người hiểu biết nghề cầu cúng, làm thuốc, xem bói, đều đưa sang Kim Lăng, sẽ trao cho quan chức, rồi cho về trấn trị các phủ, châu huyện”.[16]  Lệnh này phải được hiểu xa hơn là nhằm thâu góp nhân tài của Đại Việt để phục vụ cho thiên triều ở Trung Quốc hơn là để sau này cho về phục vụ trong ngành hành chánh ở Đại Việt vì nếu cho họ phục vụ ngay tại Đại Việt, cần gì phải đưa họ về Kim Lăng, đường xá vừa xa xôi, vừa tốn kém, vừa nguy hiểm.  Đưa về phục vụ ở Đại Việt chỉ là miếng mồi không hơn, không kém, giữ họ lại Trung Quốc để khai thác mới là chính.  Một trường hợp điển hình cho chính sách tom góp và thu dụng nhân tài của nhà Minh đương thời là trường hợp của Hồ Nguyên Trừng, con trưởng của Hồ Quý Ly.  Bị bắt đưa về Tàu nhưng Nguyên Trừng đã không bị ghép tội và bị xử cực hình vì ông đã bằng lòng đem tài riêng của mình, tài chế súng thần cơ, và sự hiểu biết của mình về tình hình Đại Việt ra giúp cho nhà Minh hay cung cấp cho nhà Minh những chỉ dẫn cần thiết để diệt nhà Hậu Trần. Trái lại, ông đã được trọng dụng, làm quan đến chức á khanh, công bộ tả thị lang và đã được pháo binh Trung Quốc thời đó kính trọng đểsau này coi như là thánh tổ của họ.  Chưa hết, không lâu trước đó, năm 1385, thời Trần Đế Hiện, năm Xương Phù thứ 9, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục có ghi sứ thần Nhà Minh sang yêu cầu ta dâng nộp các nhà sư với các chi tiết như sau:

Trước đây, ta đưa sang nhà Minh những hoạn quan là bọn Nguyễn (Tông) Đạo và Nguyễn Toán.  Nhà Minh dùng họ làm chức nội quan, đối xử rất hậu.  Nguyễn (Tông) Đạonhân nói với vua Minh rằng: Phép thuật sư Nam giỏi hơn sư Bắc (Trung Quốc).  Đến đây, Minh sai sứ sang yêu cầu.  Nhà vua sai tuyển lấy 20 vị sư đưa sang Kim Lăng.[17]

Chưa hết, năm sau, 1386, cũng nghe Nguyễn Tông Đạo nói nước ta có nhiều cây quý, Nhà Minh lại sai Lâm Bột sang  yêu cầu dâng nộp. “Nhà vua lại sai viên ngoại lang là Phạm Đình đưa sang các cây : cau, vải, nhãn và mít, nhưng các cây ấy không quen chịu lạnh , dọc đường, đều chết hết cả”.  Sau đó “Nhà Minh lại sai Lý Anh sang hỏi nhờ đường nước ta để đi đánh Chiêm Thành và đòi 50 thớt voi nữa.  Ta bèn sắp xếp từ Nghệ An đổ ra , cứ theo dọc đường , dựng các cung trạm, chứa sẵn lương thảo, luân chuyển đưa đến Vân Nam”. [18]

Tưởng cũng nên biết thêm là do vị trí địa lý, ngay từ thời Bắc thuộc, Giao Châu đã là nơi Phật Giáo phát triển rất sớm và rất mạnh.   Các sư người Giao Châu như Mộc Xoa Đề Bà, Khuy Sung Pháp Sư, Huệ Diêm Pháp Sư, Trí Hành Thiền Sư, Đại Thặng Đăng Thiền Sư… đã sang tận Ấn Độ, Tích Lan để học hỏi và nghiên cứu; Nhật Nam Tăng sang trụ trì một ngôi chùa trong hang núi bên Tầu và được thi hào Trương Tịch tặng thơ, Vô Ngại Thượng Nhân được thi hào Thẩm Thuyên Kỳ làm thơ để tỏ lòng kính mộ.  Phụng Đình Pháp Sư và Duy Giám Pháp Sư sang Trung Quốc giảng kinh trong cung vua Đường, khi về được thi hào Dương Cự Nguyên và Cổ Đảo làm thơ tiễn biệt.  Nhận xét về những sự kiện này, Thượng Tọa Mật Thể viết:

Tăng già Annam mà được sang giảng kinh ở cung vua cũng là một sự hiếm có, mà bấy giờ bên Trung Quốc đời Đường Phật giáo đương hồi thạnh, hẳn không thiếu gì cao tăng mà Tăng già ta được dự vào việc giảng kinh, kể cũng là một điều chứng nhận vẻ vang cho lịch sử Phật giáo Việt Nam vậy. [19]

Đồng thời để giải thích sự phát triển này Thượng Tọa viết thêm:

Nước ta thời ấy làm trung gian cho Tàu và Ấn Độ lại có cái lợi này: hồi ấy dân Chàm còn mạnh lại ở gần ta, họ lại dùng chữ Phạn làm văn tự và thông hiểu cả tiếng Qua Oa (Java), nên ta cũng có nhiều người giao thiệp với họ, cũng hiểu hai thứ chữ đó.  Bởi thế những người Tàu qua Ấn Độ và người Ấn Độ qua Tàu, khi tới Giao châu, thường tìm người nước ta làm thông ngôn hoặc cộng tác dịch kinh chữ Phạn.  Như vậy ta không nên ngạc nhiên khi thấy nhiều kinh điển về bản cựu dịch hoặc tân dịch đều dịch lần đầu tại Annam.

Nói cách khác, người Tàu luôn luôn có chính sách thu góp mọi thứ từ các xứ  chung quanh về làm giàu cho xứ họ..  Đối với họ, nước họ phải là nhất, các nước chung quanh không được phép hơn họ.  Do đó cái gì có giá trị họ thu góp hết, trong đó có sự hiểu biết, có sách vở, có các sản phẩm nghệ thuật, có văn chương, thơ phú… Thu góp và để nguyên như vậy hay sửa đổi đi nhưng tất cả đều phải trở thành di sản văn hóa riêng của họ, điều sau này họ tiếp tục làm, người Nhật cũng làm và người Mỹ, người Anh, người Pháp cũng làm; nhưng không thời nào, không người nào có mưu toan thâm độc và tàn bạo như người Tàu dưới thời nhà Minh xâm lăng Đại Việt.  Hậu quả là từ sau thời Minh Thuộc, Người Việt không bao giờ có được những vinh quang đáng nể đối với người ngoài, lòng tự tin và niềm hãnh diện cho chính mình như thời trước đó nữa.

Thay cho kết luận

Chuyện Nhà Minh xâm lăng nước ta và cướp sách của ta đem về Tầu xảy ra cách đây hơn sáu trăm năm bị nhiều người không cho là quan trọng.  Thực sự đây là một mưu toan vô cùng thâm độc của người Tầu nhằm tiêu diệt người Việt mà người thường ít ai để ý đến, mà có để ý đến thì cũng khó nhận ra và đã quá muộn.  Nó nằm trong “Mưu Độc Ngàn Năm” với lời nguyền “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” của Mã Viện gần hai ngàn năm trước và một lần nữa đã và đang trở thành một mối ưu tư và một đề tài vô cùng quan trọng cho những ai còn lưu tâm tới tiền đồ của đất nước và tương lai của con cháu mình cũng như trách nhiệm của mình đối với tổ tiên, đồng bào và hàng triệu người dân và chiến sĩ  đã hy sinh trong cuộc chiến kéo dài ba mươi năm vừa qua.  Không lẽ tổ tiên mình đã thành công bảo vệ được dân tộc, giữ vững được đất nước mà đến đời mình lại bất lực và để mất hay sao? Không lẽ Các Cụ Ta đã thành công dìm “Cột đồng (của Mã Viện) chìm chín suối” và Hai Bà Trưng đã tạodựng được “Bia đá rọi ngàn thu” [20] để sang thế hệ chúng ta, chúng ta lại ngồi yên để sẽ ngậm ngùi hát cho mình mình nghe:

Để lại cho em này nước non mình.

Để lại cho em một nước đẹp xinh.

Một miền oai linh hiển hách.

Chỉ còn dư vang thần thánh.

Để lại cho em hèn kém của anh [21]

thay vì:

Người sau, kẻ trước lao vào địch,

Giữ vững ngìn thu một giống nòi. [22]

hay sao?  Xin để quý bạn đọc tùy nghi trả lời.

Phạm Cao Dương

Khởi viết Tháng Tư 2004,

sửa lại nhằm kỷ niệm Ngày Giỗ Trận Đống Đa, Nhâm Thìn 2012

Cập nhật hóa Xuân 2019

Xin chú ý:  Đây là bài thứ hai trong loạt bài tác giả viết về “Mưu Độc                               Ngàn Năm” của người Tầu nhắm vào Dân Tộc Việt Nam sau bài                         nói về Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng và Cột Đồng Đông                                 Hán của Mã Viện kỳ trước.

(*) Giáo sư, Tiến sỹ Lịch sử.

DÂN VIỆT NAM ĐANG BỊ MỘT CỔ BỐN TRÒNG BÓC LỘT.

DÂN VIỆT NAM ĐANG BỊ MỘT CỔ BỐN TRÒNG BÓC LỘT.

FB.Duong Hoai Linh

– Tròng thứ nhất : Trung Quốc.

Trung Quốc đang thông qua đảng cộng sản để nhập khẩu hàng hoá dư thừa kém chất lượng, độc hại, phế thải vào Việt Nam. Hàng hoá này đã bóp chết nền sản xuất trong nước khiến nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp lao đao.

– Tròng thứ hai : đảng và chính phủ.

Đảng và chính phủ đã thi hành nhiều chính sách bóc lột thậm tệ sức lao động của dân Việt qua chính sách tăng thuế phí bằng cách đánh thuế vào các mặt hàng thiết yếu và tăng hàng trăm thứ phí bằng các thông tư nghị định của chính phủ. Đồng thời gia tăng cướp đất .

– Tròng thứ ba : doanh nghiệp tư bản trong nước và nước ngoài.

BOT là hình thức bóc lột của tư bản trong nước bắt tay câu kết với chính quyền.
Các nhà máy FDI là hình thức bóc lột của tư bản nước ngoài cấu kết với chính phủ CSVN để tận dụng nhân công giá rẻ, không cần các chế độ bảo hiểm lao động, phúc lợi xã hội (vốn rất cao ở các nước dân chủ, pháp trị) để hạ giá thành sản phẩm nhằm cạnh tranh với hàng hoá được sản xuất ở các nước dân chủ.

– Tròng thứ tư : tôn giáo.

Việc đảng CS quốc doanh hoá Phật giáo đã biến tôn giáo thành một ngành công nghiệp hái ra tiền. Chúng đã thay đổi giáo lý nhà Phật, xuyên tạc thuyết luân hồi, quả báo, vong báo oán để lừa bịp dân chúng nhằm biến chùa thành một BOT, trạm thu phí tín ngưỡng và nơi hối lộ thánh thần để tồn tại. Đây cũng là một hình thức bóc lột sức lao động của người dân qua tiền bạc trả phí cho sự u mê về dân trí.

Ngày xưa trước 1945 dân Việt chỉ bị một cổ 2 tròng. Bây giờ nhờ ơn đảng đã tăng lên thành một cổ 4 tròng.

Image may contain: motorcycle

BẮT NGƯỜI

Đinh Nguyên Kha shared a post.
Image may contain: 3 people, people smiling, indoor
Phạm Thanh NghiênFollow

BẮT NGƯỜI:
Gia đình tôi về thăm gia đình ở Hải Phòng ba hôm nay. Vì anh Tú không có giấy tờ tuỳ thân, không thể đi một mình nên có em Nguyễn Ngọc Tường Thi (là cựu TNLT) đi cùng. Anh Tú và và Thi mới tới Hải Phòng sáng hôm qua 25/3/2019.

Sáng nay, khi Thi đang đứng ở cổng nhà tôi hút thuốc thì bị công an Hải Phòng bắt đi. Người nhà tôi đi theo thì thấy Thi đã bị đưa đến côn an phường Đông Hải 1 ( quận Hải An, HP).

Hiện tôi còn con nhỏ, nếu đi đến phường Đông Hải “ đòi người” thì lại lo chúng vào bắt chồng tôi là anh Huỳnh Anh Tú. Đầu năm 2017 vợ chồng tôi về giỗ mẹ, anh Tú đã bị một kẻ bịt mặt cầm gậy tấn công, nhưng may mắn là cú đập bị trượt qua vai nên chỉ bị xây xước nhẹ.

Bắt bớ, bỏ tù, bách hại, đập nhà vẫn chưa đủ, chẳng lẽ muốn giết chúng tôi. Và hãm hại cả những người đang giúp đỡ chúng tôi sao.

Xin mọi người chia sẻ thông tin này giúp chúng tôi.

Đây là số điện thoại công an phường Đông Hải 1: 0313 979872.

Đây là hình ảnh của vợ chồng Nguyễn Ngọc Tường Thi – Phạm Bích Chi và con gái út, cả hai đều là cựu TNLT. Thi là con trai của cựu TNLT Nguyễn Ngọc Cường, người từng đi tù 4 lần tổng cộng 17 năm vì đấu tranh đòi nhân quyền, dân chủ.

Huỳnh Anh Tú,

Tại sao Hải chưa vào tù?

Tại sao Hải chưa vào tù?

Trần Mai Trung

25-3-2019

Năm 2006, Đinh la Thăng là ủy viên (UV) trung ương ĐCSVN và Chủ tịch PetroVietnam. Năm 2011, Thăng được thăng chức Bộ trưởng Giao thông Vận tải. Năm 2016 được lên UV Bộ Chính trị và Bí thư Thành ủy Hồ chí Minh. Năm 2018 Thăng bị chiến dịch “đốt lò” của ông Trọng kết án 30 năm tù với tội cố ý làm trái, tham nhũng công quỹ trong thời gian làm Chủ tịch PetroVietnam.

Bên cạnh con sâu Đinh La Thăng còn có một con sâu lớn hơn, hôi thối hơn, là con sâu Lê Thanh Hải. Trước năm 1975 Hải từ Mỹ Tho lên Sài Gòn làm thợ hàn và hoạt động cho ĐCS. Sau năm 1975, Hải tiến thân qua con đường Thanh niên Xung phong.

Cuộc đời Hải bốc lên khi được làm Bí thư quận 5 trong thập niên 1990. Quận 5 là nơi có nhiều người Việt gốc Hoa sinh sống, có các đường dây tình báo Cộng sản Trung quốc và Quốc dân đảng Đài loan. Năm 2001 Hải là UV trung ương ĐCSVN và Chủ tịch UBND Hồ chí Minh. Năm 2006 Hải được lên UV Bộ Chính trị và Bí thư Thành ủy Hồ Chí Minh. Trong 15 năm làm bố già Hồ Chí Minh, Hải tham nhũng rất nhiều, ăn tham và ăn dơ như lợn, nên nhân dân đặt cho biệt hiệu là “Hải heo”.

– Muốn biết Hải tham nhũng nhiều như thế nào thì hãy nhìn các chân rết, đàn em của Hải. Tất Thành Cang, Phó Bí thư Thành ủy, Ủy viên Trung ương ĐCSVN, cựu Bí thư quận 2, ăn đất Thủ Thiêm, Nhà Bè.

– Nguyễn Thành Tài, Phó Chủ tịch HCM, ăn dự án đường Lê Duẩn.

– Nguyễn Hữu Tín, Phó chủ tịch HCM, Bí thư quận 5, ăn đất đường Thi Sách, Hai Bà Trưng.

– Huỳnh Ngọc Sĩ, sở GTVT, thông gia với Hải, ăn đại lộ Đông Tây.

– Lê Tấn Hùng, Tổng giám đốc Công ty Nông nghiệp Sài Gòn, em trai Hải, ăn 1900 ha đất ngoại thành.

– Trương Thị Hiền, nhà giáo ưu tú, vợ Hải, ăn đất Thủ Thiêm khi làm Phó chủ tịch quận 2, ăn dự án Trường Cán bộ.

Và còn nhiều con sâu khác. Cả một đàn sâu tham nhũng công khai như chỗ không người.

***

“Hải heo” tham nhũng công quỹ, thu tiền ăn chia từ các đàn em. Hải còn kiếm tiền trực tiếp từ người dân. Các lợi ích nhóm muốn khu đất nào thì Hải cho công an đuổi dân đi chỗ khác, đập phá rồi giao đất cho lợi ích nhóm, Hải được chia tiền. Mấy chục ngàn người dân Sài Gòn bị mất nhà cửa vì Hải, một số người lâm vào đường cùng đã tự tử chết. Họ đã chết vì Hải muốn giàu thêm. Thật tàn nhẫn!

Một nguồn tiền của Hải đến từ các lợi ích nhóm, một nhóm chính là công ty Vạn Thịnh Phát (VTP). Chủ của VTP là Trương Mỹ Lan, chị em kết nghĩa với vợ của Hải, và ông chồng HongKong Eric CNK. VTP được thành lập năm 1992 hoạt động bình thường. Năm 2007 thì VTP bắt đầu bốc lên, sau khi Hải là Bí thư Thành ủy, và VTP là công ty con của một công ty khác ở HongKong, Eric là cổ đông thiểu số của công ty đó. Có nhiều tiền từ ngoài đưa vào, có thế lực trong chính quyền, VTP độc quyền thâu tóm hàng loạt phố vàng, đất vàng tại Sài Gòn. Có tin nói những người đứng sau số tiền to lớn đó đã giúp Hải chưa vào tù.

Hải tham nhũng, ai cũng biết. Hải tàn ác, ai cũng ghét. Hải không còn giữ chức vụ gì, chuột đã ra khỏi bình, tại sao ông Trọng không đập nó? Thăng tham nhũng công quỹ bị tù 30 năm, Hải cũng tham nhũng công quỹ, cộng thêm tàn phá nhà cửa mấy chục ngàn người dân, một số người đã tự tử chết, bán đất đai cho “người lạ” qua vỏ bọc VN, tại sao Hải chưa bị tù chung thân? Phải chăng Thăng chỉ trích nhà thầu TQ nên vào tù, còn Hải hợp tác với người TQ nên không vào tù?

Có người nói ông Trọng không có khả năng bắt “Hải heo” vào tù. Những người dân bị mất nhà, đi làm dân oan, sẽ không được thấy công lý. Có thể nói Hải là kẻ tham nhũng nhất nước trong 15 năm làm bố già ở Hồ Chí Minh, có nhiều tội ác với nhân dân.

Tổng-Chủ muốn đốt “Hải heo” trong lò mà không làm được thì ai sẽ làm? Giải pháp cuối cùng là nhân dân Việt Nam phải đốt đảng cộng sản thì mới đốt được “Hải heo”!

Vụ chùa Ba Vàng: Cuộc chiến giữa hai ‘sư quốc doanh?’

Diệt bớt được phe nào cũng tốt. Diệt được cả 2 phe. 2 chùa Phật tử VN lại càng mừng vui… Ăn chay cúng dường 1 tháng!!! kakakaaaa

******

Vụ chùa Ba Vàng: Cuộc chiến giữa hai ‘sư quốc doanh?’

QUẢNG NINH, Việt Nam (NV) – Hôm 23 Tháng Ba, trong lúc các báo nhà nước ở Việt Nam tiếp tục đăng bài công kích chùa Ba Vàng, Luật Sư Trần Vũ Hải ở Hà Nội đặt câu hỏi trên trang cá nhân: “(Đây là) cuộc chiến của hai thầy (Thích Thanh Quyết và Thích Trúc Thái Minh)? Tôi đánh giá cao sự bản lĩnh của thầy Thích Trúc Thái Minh (trụ trì chùa Ba Vàng), đối mặt ‘cuộc khủng hoảng,’ trong khi hầu hết các nhà chính trị, đại gia hay chức sắc tôn giáo ở Việt Nam đều ‘bịt tai, bịt mắt’ khi có khủng hoảng đối với họ. Ngay thầy Thích Thanh Quyết, trong cuộc khủng hoảng ‘thiếu 50,000 đồng’ ở chùa Phúc Khánh, cũng ‘trùm mền,’ chỉ cử ‘bề dưới’ trình bày với báo giới.”

“Thuyết âm mưu có vẻ đáng tin, sau khi chùa Phúc Khánh của thầy Thích Thanh Quyết bị ‘khủng hoảng,’ có bàn tay điều khiển hướng đến chùa Ba Vàng mới nổi. Thầy Quyết là một quan chức hàng đầu và nhiều quyền lực nhất của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, cũng tỏ ra một ‘tay chơi cờ?’ Chúng ta đang chứng kiến (hay có thể vô ý tham gia) một cuộc chiến của một ‘đại sư quyền lực lâu nay’ của Phật Giáo Việt nam với một thầy ‘startup’ quá thành công, thành một thế lực mới của Phật Giáo, ‘dễ bị ganh ghét, đố kỵ?’”, theo Facebook Vu Hai Tran.

Trên thực tế, chùa Ba Vàng của nhà sư Thái Minh nằm gần khu di tích, chùa Yên Tử của nhà sư Thanh Quyết, người còn đồng trụ trì một cơ sở tôn giáo khác là chùa Phúc Khánh ở Hà Nội.

Cả hai vị chức sắc nêu trên đều là “sư quốc doanh,” do họ đảm nhiệm chức danh trong các tổ chức liên quan đến nhà cầm quyền CSVN. Trong khi nhà sư Thanh Quyết hiện là đại biểu Quốc Hội CSVN khóa 14 nhiệm kỳ 2016–2021 thuộc đoàn đại biểu Quốc Hội tỉnh Quảng Ninh, kiêm ủy viên Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội và trưởng Ban Trị sự Phật Giáo tỉnh Quảng Ninh thì nhà sư Thái Minh là phó ban Thông Tin Truyền Thông Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Trong lúc vụ bê bối do kinh doanh thỉnh vong của chùa Ba Vàng gây rúng động dư luận, báo Trí Thức Trẻ hôm 22 Tháng Ba đột nhiên dẫn lời Đại Đức Thích Đạo Hiển, phó ban trị sự kiêm chánh thư ký Ban Trị Sự Phật Giáo tỉnh Quảng Ninh: “Ban Trị Sự đã góp ý với Đại Đức Thích Trúc Thái Minh nhiều lần về những vấn đề dư luận phản ánh nhưng không hiệu quả.

Nhà sư Thái Minh thể hiện là tiếp thu nhưng sau đó lại làm theo hướng của mình. Nhà sư Thái Minh đã quỳ trước Thượng Tọa Thích Thanh Quyết và trước Ban Trị Sự sám hối bao nhiêu lần. Sám hối xong rồi hôm sau đâu lại vào đấy, lại đẻ ra cái khác nữa. Cứ vài ngày, nhà sư này lại nghĩ ra một cách khác người và không biết đây có phải cách thu hút tín đồ, quần chúng hay không.”

Điều khiến công luận băn khoăn là các báo nhà nước nay đang đồng loạt lên án và kêu gọi điều tra việc kinh doanh thỉnh vong bị cho là “mê tín dị đoan” của nhà sư Thái Minh tại chùa Ba Vàng trong lúc trước đó, các vụ bê bối về “dâng sao giải hạn” và “đại lễ cầu an” tại chùa Phúc Khánh của nhà sư Thanh Quyết mau chóng rơi vào quên lãng.

Luật Sư Phùng Thanh Sơn ở Sài Gòn bình luận trên trang cá nhân: “Kinh doanh thần thánh là ngành nghề được ưu đãi và an toàn nhất Việt Nam vì được miễn tiền sử dụng đất, không đóng thuế thu nhập, không bị thanh tra, kiểm tra thuế, không bị kiểm toán nhà nước kiểm toán, không bị xử lý hình sự nếu sử dụng tiền (cúng dường) sai mục đích hoặc lấy tiền công đức làm của tư.

Mặc dù về pháp lý, hoàn toàn có thể xử lý được nhưng vì lý do nội bộ tôn giáo nên những hành vi phạm pháp này không bị chính quyền xử lý.”

 

NGUOI-VIET.COM
Cả hai vị chức sắc Thích Thanh Quyết và Thích Trúc Thái Minh đều là “sư quốc doanh”, do họ đảm nhiệm chức danh trong các tổ chức liên quan đến nhà cầm quyền CSVN…

 Lực lượng rọ mõm đánh bắt người cướp đất Vườn rau Lộc Hưng

Trần Bang shared a post.

#VRLH Lực lượng rọ mõm đánh bắt người cướp đất Vườn rau Lộc Hưng

Image may contain: 3 people, outdoor
Võ Hồng Ly is with Võ Hồng Ly.

24.03.2019

Đây là một trong những bức ảnh được chụp trong đợt cưỡng chế tại Vườn Rau Lộc Hưng diễn ra vào ngày 04 và ngày 08 tháng 01/2019 vừa rồi do Chủ Tịch Nguyễn Thành Danh đã ra lệnh cưỡng chế và phá hủy toàn bộ nhà cửa của hơn 500 hộ công dân nghèo.

Trong hình ghi lại một nạn nhân đang gào thét trong tuyệt vọng khi chị đau đớn chứng kiến bàn tay của Quỷ đỏ đang kéo sập và san phẳng căn nhà của mình…

Cướp, phá thôi chưa đủ vì sau đó chị còn bị “bọn rọ mõm cái” lôi đi đánh đập dã man không nương tay dù cho chị đã kêu cứu trong khi lực lượng sắc phục có vũ trang thì đứng nhìn…

Cùng là đồng bào, là phụ nữ, là những người vợ, người mẹ, người chủ gia đình mà họ đã không hề ghê tay hay day dứt khi đánh đập một người phụ nữ đã bị đẩy vào đường cùng không còn gì để mất và không còn gì để tự vệ !

Nhìn sự độc ác, vô cảm, không còn tình người mới thấy chế độ này đã thành công như thế nào khi dùng dân trị dân, khi đem những lợi ích trước mắt để biến những người dân vừa thiếu hiểu biết, vừa tham lam thành công cụ tay sai của mình.

Nguy hiểm hơn là nhà cầm quyền còn “nhân danh tiếng nói của người dân “để biến họ thành lá chắn sống bảo vệ chế độ và đẩy họ vào cuộc đối đầu trực diện trong các cuộc đụng độ với chính những người dân thấp cổ bé họng của mình…

Nguồn ảnh: Marie Uyên Lê