KHÔNG PHẢI CHỈ BÓNG ĐÁ LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH TRỊ MÀ CÒN CÓ CẢ TOÁN HỌC.

KHÔNG PHẢI CHỈ BÓNG ĐÁ LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH TRỊ MÀ CÒN CÓ CẢ TOÁN HỌC.

Nghệ thuật cai trị của bọn độc tài bao gồm những thủ pháp sau :

– Xây đắp một hình tượng lãnh tụ thật vĩ đại để toàn dân hướng ý niệm vào đó. Đây là nghệ thuật tập trung ý chí của đàn cừu vào một khuôn mẫu duy nhất, không để chúng nảy sinh những tư tưởng nổi loạn. Lãnh tụ với đạo đức bịa đặt theo kiểu “nói láo nghìn lần cũng thành chân lý” là “khuôn vàng thước ngọc” là một cách định hướng tư duy ,một cách tước bỏ tự do tư tưởng và tự do ngôn luận, cả nước chỉ có mỗi một việc là “làm theo lời bác” để giết chết các tư duy sáng tạo.

– Bịa đặt ra kẻ thù xâm lược để toàn dân không coi đảng độc tài là kẻ thù .Pháp và Mỹ, VNCH là nạn nhân của trò lừa đảo này. Họ là những ân nhân mang đến độc lập, tự do dân chủ thật sự cho dân tộc Việt Nam nhưng lại bị Hồ Chí Minh biến thành kẻ thù xâm lược dù Pháp được lãnh đạo bởi liên minh dân chủ sau chiến tranh thế giới và Mỹ là đất nước của tự do mà HCM đã trích dẫn Tuyên ngôn độc lập.Và thực tế ngày nay đều cho thấy Mỹ là nơi mà cả loài người xếp hàng để xin được định cư.

– Sử dụng thành tích để làm ảo tưởng một dân tộc vốn sống thiên về cảm tính. Đó là màn bịa đặt ra các mẫu anh hùng không có thực như Lê Văn Tám, Tô Vĩnh Diện… và thổi phồng thành tích để mị dân.

Trong các kỳ thi học sinh giỏi Toán quốc tế dù Mỹ chỉ đưa đến cuộc thi này các học sinh yêu thích môn toán,tự tìm kinh phí để đi thi và giải thưởng cũng trao cho rất nhiều người để khuyến khích. Nhưng CSVN lại nuôi gà chọi và đào tạo ra một đội ngũ học sinh tinh hoa nhất để tìm kiếm danh vọng đem về vinh quang trên lĩnh vực kinh tế. Lê Bá Khánh Trình hay Lê Tự Quốc Thắng cũng chỉ thi thố với các học sinh yêu toán của Mỹ và châu Âu và ban tổ chức chỉ trao giải đặc biệt cho những cách giải lạ thế là bộ máy tuyên truyền của đảng độc tài lập tức vào cuộc để tung hô.

Một người như Ngô Bảo Châu cũng lọt thỏm giữa hàng ngàn các cá nhân đoạt giải của đội ngũ trí thức nhập cư hàng năm vào nước Mỹ nhưng được chế độ CSVN tranh công đào tạo của Pháp để mời về rồi mua nhà, cấp đất dựng viện toán học mục đích cũng chỉ đánh bóng cho cái chế độ mục nát. Bởi lẻ trong hơn nửa thế kỷ cầm quyền chế độ này cũng chẳng tạo ra nổi một bằng sáng chế nào được thế giới công nhận, một phát minh khoa học kỷ thuật hay y học nào vào kho tàng tri thức của nhân loại.

Thể thao căn bản là phải xây nhà từ gốc đó là nền thể thao học đường. Một đất nước mà các trường học không có sân chơi bóng, không có các đội thể thao thì cho dù đất nước đó đoạt chức vô địch thế giới môn bóng đá hay huy chương vàng Olympic cũng vô ích.

Tại sao?

Vì mục đích của thể thao không phải là những tấm huy chương. Người ta tạo ra những tấm huy chương để khuyến khích nhân dân thế giới lao vào tập luyện thể thao nhằm đẩy lùi bệnh tật, giảm thiểu ngân sách cho y tế.

Huy chương Olympic của Mỹ có giá trị vì nó có đến 1/3 là từ thể thao học đường. Và bóng đá các nước dân chủ được xem trọng là vì nó có nền tảng từ cái móng là học sinh phổ thông. Trong khi đó bóng đá Việt lại xây từ nóc như lời huấn luyện viên người Áo.

Tức là nó mặc kệ mấy triệu học sinh bị béo phì thừa cân, chuyên đeo kính cận, tiểu đường vì sân bóng, sân chơi thể thao bị chính quyền cướp ,doanh nghiệp cướp hết đưa vào các quy hoạch đô thị. Chúng không cần dân khỏe mà chỉ cần tuyển lựa một số con gà có năng khiếu để nuôi riêng. Với chế độ chăm sóc riêng tất nhiên các con gà này sẽ có năng lực hơn những con gà bình thường trong nhất thời để tạo nên thành tích. Thế là chúng cho báo chí thổi phồng lên để dân tộc ấy quên đi thân phận đàn cừu bị cướp đất, bị xử án oan, bị bóc lột tham nhũng. Đáng ra họ phải xuống đường để thay đổi thể chế thì họ lại xuống đường để sùng bái các tên đao phủ đã đưa họ vào con đường diệt vong.

Đúng là một dân tộc mê muội. Bọn cướp thì luôn dùng mọi thủ đoạn ma giáo nhất để dụ dỗ ,lừa bịp dân tộc chậm phát triển này. Nhưng cái đáng nói là dân tộc ấy còn cả một đội ngũ trí thức.

Đầu óc họ để đâu, lương tâm họ để đâu ?

Họ phải chịu trách nhiệm với từng em bé vô gia cư,ăn xin ở bên đường .

Họ phải thấy xót xa khi nhìn những cái chết của các em bé bị ung thư khi tuổi đời còn rất nhỏ, những con người chết vì không có thể thao chỉ có những tấm huy chương sáo rỗng.

Đằng sau những đêm đi bão để tung hô những giá trị phù phiếm là những bệnh viện chật ních bệnh nhân vì quá tải,là những cái chết được đếm ngược từng ngày.

Tất cả cũng chỉ vì tất cả của dân tộc này đều được xây từ nóc.

SỐ PHẬN CỦA DOANH NHÂN VÀ NGHỆ SĨ XỨ VIỆT 

SỐ PHẬN CỦA DOANH NHÂN VÀ NGHỆ SĨ XỨ VIỆT 

VIETTUSAIGON

“…Bài học các nghệ sĩ từng được tung hô, bưng bê lên đài vinh quang của đảng và từng được phong danh hiệu nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân… cho đến một ngày bị bóc phốt và nguy cơ trắng tay, khóc mếu, giả bệnh, đổ bệnh… là bài học trước mắt…” 

woman&bird_juri_Arrak

Điều này không loại trừ một ai, đã là doanh nhân hay nghệ sĩ xứ Việt từ quá khứ đến hiện tại dưới thời Cộng sản xã hội chủ nghĩa, có một qui ước chung: Hoặc là làm con hát mua vui cho giới chính trị nếu là nghệ sĩ, làm con lợn thịt cho giới chính trị nếu là doanh nhân. Vấn đề là bao giờ sẽ vứt bỏ con hát ra đường và bao giờ sẽ thịt con lợn. Đây là một thứ số phận nghiệt ngã, là mẫu số chúng của doanh nhân và nghệ sĩ.

Bởi có một vấn đề mà cả giới nghệ sĩ và giới doanh nhân đều không nhìn thấy hoặc cố tình không nhìn thấy hoặc giả có nhìn thấy nhưng cố né tránh bằng một thứ ánh sáng huyễn hoặc khác: Đảng Cộng sản không bao giờ chấp nhận ai hơn mình!

Và ngoài tính chất căn bản này ra, tính vụ lợi của một hệ thống đảng hình thành và tồn tại hoàn toàn dựa vào lý thuyết chống bất công do tư bản gây ra sẽ không bao giờ chấp nhận sự tồn tại của tư bản cho dù đó là tư bản đỏ. Bởi một khi tư bản tồn tại, lựa chọn của con người hoặc giả chia làm hai hướng trong câu hỏi: Tư bản hay Cộng sản? Và, khi kinh tế thị trường phát triển đến ngưỡng chạm tư bản, tức các mối quan hệ giao lưu kinh tế đều tương tác mật thiết với thế giới tư bản, lúc đó sự tồn tại của Cộng sản sẽ rơi dần về số không. Với qui luật này, chắc chắn người Cộng sản muốn tồn tại, họ phải triệt tiêu tư bản hoặc giả vỗ béo con lợn tư bản đỏ dưới trướng của họ cho đủ to, đủ mập để họ có thể ngồi ăn tiệc ngay trên lưng của nó bằng cách khoét từng mảng thịt của chính nó mà dùng. 

Bởi tư bản không bao giờ là bạn hay là đồng minh của Cộng sản, nó càng không được tiếm quyền của Cộng sản. Chính vì vậy, các doanh nhân tại Việt Nam, cho dù họ có thể hô mưa gọi gió tứ phương nhưng chắc chắn một điều, khi cần thiết, đảng sẽ thu hồi mọi phép màu của họ và không ngần ngại cho vào lò quay trước một bữa tiệc có tính đại sự của họ. Điều này có gì đó tương đồng với giới nghệ sĩ, giới hoạt động tinh thần, thiên về tâm hồn và có khả năng tạo ra những xung động tình cảm về phía công chúng, đương nhiên một khi giới nghệ sĩ có chỗ đứng trong lòng công chúng thì tiếng nói của họ chi phối xã hội không hề nhỏ. Đây là một bài toán khó đối với nhà độc tài. Họ buộc phải lựa chọn hoặc là nuôi giới nghệ sĩ trong chuồng trại nghệ thuật xã hội chủ nghĩa để biến giới này thành con hát xun xoe, ca ngợi và ton hót họ, hoặc là đẩy ra khỏi xã hội, triệt tiêu mọi khả năng chi phối và tác động xã hội của nghệ sĩ. Đương nhiên, cho dù được đảng vỗ béo trong chuồng trại nghệ thuật xã hội chủ nghĩa chăng nữa, thì số phận của người nghệ sĩ cũng khó mà thoát được bi thảm. 

Bài học của hàng loạt nghệ sĩ cũng như một số doanh nhân Việt trong thời gian gần đây vô hình trung gợi nhắc đến những gì đã từng xảy ra trong lịch sử hình thành và hoạt động của đảng Cộng sản. Từ những vụ trước năm 1975 ở miền Bắc với cái tên mỹ miều là “vận động sức dân” bằng các cuộc kêu gọi góp gạo nuôi quân, góp vàng xây dựng chính phủ, tuần lễ vàng… cho đến những cuộc đánh tư sản ở miền Nam sau 1975 đã khiến cho hàng trăm doanh nhân máu mặt phải tả tơi, không còn đất dung thân và chết tức tưởi… Rồi với giới văn nghệ sĩ, từ những cuộc thanh trừng với Tự Lực Văn Đoàn cho đến Nhân Văn Giai Phẩm, rồi những Lộc Vàng, Toán Xồm và Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh… Mọi khổ nạn và cái chết của các nghệ sĩ đều nằm trong một kịch bản rất ư chi tiết, rành mạch và tính toán kĩ lưỡng. Nhưng đó là những cái chết rành mạch, không mờ ám.

Bởi, khi người Cộng sản tràn vào miền Nam, ngoài chủ nghĩa Cộng sản, họ còn mang vào miền Nam thứ tính chất giảo hoạt và tinh ranh. Chính cái tính chất giảo hoạt và tinh ranh này của họ đã ảnh hưởng không nhỏ đến giới nghệ sĩ trẻ. Thay vì chống đối hay thể hiện quan điểm, phần đông các nghệ sĩ trẻ chọn con đường đen trắng lẫn lộn miễn sao có được thứ mình muốn. Và cái thứ mình muốn trong thời đại kim tiền này không có gì khác là quyền lực sàn diễn và thu nhập tài chính. Hai thứ này vừa là chất xúc tác vừa là mục đích tối thượng của người làm nghệ thuật xã hội chủ nghĩa. Đây là cơ hội để đảng chơi nước đôi với các nghệ sĩ, vừa thẳng tay loại bỏ những nghệ sĩ không “cùng chí hướng” như Thành Lộc, Kim Chi, Tuấn Khanh… (Những người không chấp nhận nhuộm đen mình để nhảy vào ao bùn), đảng cho nuôi thả vườn các nghệ sĩ khác, sẵn sàng lăng xê họ thành những ngôi sao đắt giá trong làng showbiz và đương nhiên, về chất lượng nghệ thuật của họ thì không có gì đáng bàn. Bởi có một thứ tâm lý rất rõ, nghệ sĩ càng sâu sắc càng không dễ thỏa hiệp với nhà cầm quyền và những người càng ham tiền, háo danh càng dễ trở thành tay sai của thế lực lớn. 

Bài học các nghệ sĩ từng được tung hô, bưng bê lên đài vinh quang của đảng và từng được phong danh hiệu nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân… cho đến một ngày bị bóc phốt và nguy cơ trắng tay, khóc mếu, giả bệnh, đổ bệnh… là bài học trước mắt. Bởi chắc chắn không có bất kỳ nghệ sĩ nào được bỏ qua và những nghệ sĩ bị bóc phốt không hẳn xấu hơn các nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa còn lại nhưng vì họ không may mắn, họ cá tính hơn các nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa khác và họ bị biến thành lời đe nẹt của đảng trước đám đông nghệ sĩ đang phục tùng, phụng sự, làm con hát chính trị.

Có một thứ chu kì, vòng giáp ranh của nó không giới hạn, có khi mười năm, hai mươi năm hoặc ba mươi năm dành cho giới doanh nhân và nghệ sĩ. Và điểm chung của chu kỳ này là triệt tiêu, mất dấu. Bởi sau mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, khi mà các doanh nhân, nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa đủ trưởng thành, đủ nguôi ngoai về những cái chết và khổ nạn của đàn anh, đàn chị, họ lạc quan và quên mất mình là ai trước sức hút tiền bạc và quyền lực, lúc đó, chu kỳ ấy sẽ lặp lại. Mỗi vòng chu kì càng tinh vi hơn.

Cái chết của chu kỳ trước tức tưởi bao nhiêu thì cái chết của chu kỳ sau nghe hợp lý và chịu ném đá của đám đông bấy nhiêu, bởi khi cái bẫy quyền lực và kim tiền được giăng ra, con mồi sẽ chết trong kinh sợ và hết đường thoát. Đó là số phận chung của doanh nhân và nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa, ngoài những số phận khác chúng tôi chưa nhắc tới.

VietTuSaigon

Hoàng hậu lâm bồn – Thái tử bất dục!

Hoàng hậu lâm bồn – Thái tử bất dục!

Bởi  AdminTD

Mai Bá Kiếm

12-6-2021

Lưu Ngao – vua thứ 12 nhà Hán (12 TCN) cường dương nhưng không có con nối dõi. Khi mỹ nhân Triệu Phi Yến được tiến cung, Lưu Ngao hàng đêm “cuồn cuộn” với nàng, bỏ bê Hứa Hoàng hậu.

Để đoạt ghế của Hứa Hoàng hậu, nàng móc nối với Thái giám tung Fake News “Triệu Phi Yến có thai”. Nàng độn bụng ngày càng to, nhai cơm nguội pha giấm, khi vua đến thăm thì ói đầy xiêm y, rồi quỳ xin vua đừng chạm vào nàng mà ô uế long thể.

Ngự y đến khám thai, nàng dọa bụng nàng do vua sở hữu, nên Ngự y khám “lâm sàng từ xa”, ngồi ngoài rèm thò ngón tay vào bấm mạch cổ tay nàng, rồi tâu vua “bà dính bầu”.

Bụng nàng lớn, Thái giám ra ngoại thành tìm 5 thai phụ đặt cọc để mua con trai. Nhờ cung thất Triệu Phi Yến ở sát nhà bếp, Thái giám đục tường một lỗ to để đút đứa bé qua.

Đúng giờ G, thằng Bếp gánh rau vào kinh thành, bên dưới có 1 bé trai sơ sinh. Thái giám tâu vua “Hoàng hậu lâm bồn”, nhưng trời xui khi thằng bếp tới cổng thành thì bé khóc, phải quay lại chỗ vắng để mẹ ruột cho bú, nhưng khi đến cổng nó lại khóc, thằng bếp sợ lính canh nghi, quay ra trả thằng bé.

Liên tục ba ngày đổi 3 bé, nhưng chúng đều khóc, hoàng hậu cứ “lâm bồn” mà đẻ không ra. Ngày thứ 4, thằng bếp bỏ thằng bé vô hộp kín, gánh một đoạn giở ra xem thì bé chết, thằng bếp vứt bé xuống hào.

Triệu Phi Yến diễn hết nổi vở tuồng dài 9 tháng. Nàng sai thái giám bắt con thỏ lột da làm cascadeur thái tử, rồi tâu vua “hoàng hậu khai hoa, thái tử bất dục (chết)”.

CÁT LINH “XUỐNG ĐỜI” – ĐƯỜNG SẮT NÁO HOẠT!

Lại nói ở nước Việt, sáng 10/10/2011, Thượng thư Kiều lộ Đinh La Thăng phát lệnh cho “người đẹp” Metro Hà Nội (Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội) “kết duyên” cùng Tổng thầu EPC Trung Quốc để thai nghén đứa con đầu lòng “Đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông” (ĐS CL-HĐ).

ĐS CL-HĐ chỉ dài 13,08 km, chi phí ban đầu 8.770 tỷ đồng, thời gian mang thai 4 năm, tức năm 2015 ĐS CL-HĐ chào đời! Nhưng nó khó đẻ gấp trăm lần Fake Pregnant Triệu Phi Yến. Trải qua ba đời Thượng thư Kiều lộ Đinh La Thăng, Trương Quang Nghĩa, Nguyễn Văn Thể có 9 lần dời ngày chào đời, chi phí “sinh đẻ thiếu kế hoạch” tăng từ 8.770 tỷ lên 18.000 tỷ đồng, tăng 205%.

Suốt 9 tháng Fake Pregnant, Triệu Phi Yến lo sợ bị phát hiện và bị chém đầu. Nhưng trong 6 năm chưa đẻ ra “ngày khánh thành” ĐS CL-HĐ, Thượng thư Thể luôn “hồ hởi sảng” và “lạc quan tếu”.

Bằng chứng, ngày 30/11/2019, VOV đăng bài “ĐS CL- HĐ sử dụng công nghệ Trung Quốc nhưng có tiêu chuẩn kỹ thuật tương thích với tiêu chuẩn Châu Âu”. Đó là lời ông Vũ Hồng Trường TGĐ Metro Hà Nội vỗ ngực khoe tại Hội nghị Ủy ban ATGT QG.

Khi báo chí đăng Tư vấn Pháp nêu ra 16 khuyến cáo không bảo đảm an toàn… Tổng thầu EPC TQ không cung cấp đủ tài liệu liên quan tới an toàn vận hành hệ thống. Khi thử nghiệm 10 quy trình khẩn cấp của hệ thống thì có 8 quy trình thất bại.

Bộ Kiều lộ phải thanh minh, dự án thực hiện phần lớn theo tiêu chuẩn của Trung Quốc. Trong khi đó, Tư vấn ACT lại đánh giá theo tiêu chuẩn Châu Âu nên mới xảy ra sự “lệch pha” giữa tiêu chuẩn.

Cuối cùng, thượng thư Thể cho phép “đẽo chân” (Tiêu chuẩn Châu Âu) để “vừa giầy” (công nghệ Trung quốc), giống như hàng “Made in Hongkong bên hông Chợ lớn”.

Nhiều người hỏi, Bộ biết hai tiêu chuẩn không tương thích, tại sao mời Tư vấn Pháp chi tốn tiền? Sự thật là Bộ không biết một tí gì về tiêu chuẩn đường sắt đô thị, cho nên năm 2008 khi thương thảo với EPC, bộ chấp nhận tiêu chuẩn TQ.

Đến năm 2017, Luật Đường sắt ban hành có thêm Điều 77: “Đường sắt đô thị xây dựng mới hoặc nâng cấp trước khi đưa vào khai thác phải được đánh giá, chứng nhận an toàn hệ thống; thẩm định, cấp Giấy chứng nhận thẩm định hồ sơ an toàn hệ thống đường sắt đô thị”.

Đến lúc này, thượng thư Thể cũng chưa biết tiêu chuẩn đường sắt Châu Âu cao hơn tiêu chuẩn của TQ, nên “lạc quan tếu” đi thuê Tư Vấn Pháp và “hồ hởi sảng” tuyên bố: “công nghệ TQ nhưng tương thích tiêu chuẩn Châu Âu”.

Giờ anh Thể mới ngộ ra: “tiêu chuẩn tàu điện đô thị của TQ chỉ yêu cầu đánh giá và cấp chứng nhận an toàn với hệ thống tín hiệu điều khiển chạy tàu; không đánh giá và cấp chứng nhận an toàn cho các hạng mục hệ thống điện kéo, phanh điện của đoàn tàu và các hệ thống còn lại của dự án, như tiêu chuẩn Châu Âu yêu cầu đánh giá”.

Nhớ Hề Minh hồi xưa ca: “Thôi, thôi bà đã lỡ đò, thì ngồi xuống đó chớ đừng bò ra sông…”

PHẢN BIỆN VỀ SỰ KÊU GỌI CỦA CHÍNH PHỦ.

PHẢN BIỆN VỀ SỰ KÊU GỌI CỦA CHÍNH PHỦ.

Gọi điện bảo mụ dzợ chiều ghé chợ mua con cá về ăn, chứ mấy ngày nay ăn nước mắm hoài, nóng ruột chịu không thấu. Chuông ĐT mụ chưa đổ thì lập trình của bộ Y Tế léo nhéo nhắc nhở phải đóng góp, ủng hộ quỹ vắc xin.

Gọi điện cho cô em hỏi vay ít tiền mai đi khám bệnh, chuông cô ấy chưa đổ thì bộ Y Tế nhảy xổm vào nhắc đóng góp cho quỹ vắc xin.

Chán chường! Tắt máy, định nhắn tin cho cô hồn khỏi ám. Nhưng vừa mở tin nhắn ra thì gặp ngay chính phủ kêu gọi: tương thân tương ái cùng chung tay đóng góp quỹ vắc xin. Ôi!!!

Bực bội, click vào facebook giải sàu thì cu Mark hỏi, bạn đang nghĩ gì? À! Tao nghĩ thế này nè Mark:

– Thứ nhất, những người cộng sản trong giai đoạn kháng chiến. Họ phải núp trong hang, trốn trong rừng nên họ phải kêu gọi nhân dân ủng hộ, đóng góp. Điều này thì nhân dân có thể chấp nhận đóng góp, chứ không có gì phải bàn cãi cả. Nhưng, khi đã cướp được chính quyền rồi; lãnh thổ đất nước đã thống nhất rồi; chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ rồi; Mỹ cũng đã bỏ cấm vận mấy chục năm nay rồi….Vậy thì nhà nước chẳng có lý do gì kêu gọi nhân dân đóng góp, ủng hộ nữa cả!

– Thứ 2: Một đất nước độc lập có biển bạc rừng vàng; có tài nguyên phong phú; có gạo xuất khẩu hạng nhất nhì trên thế giới; có mức tăng trưởng GDP hằng năm cao chót vót; có nhận kiều hối hàng năm hàng chục tỷ đô, thuộc top đầu thế giới; và có nhân dân đóng thuế cao nhất trong khu vực… Một nhà nước như vậy ngân sách phải dồi dào, thừa sức lo cho an sinh xã hội. Vậy thì, chẳng có lý do gì nhà nước ấy phải kêu gọi nhân dân đóng góp, ủng hộ cho chính phủ cả!

– Thứ 3: Đảng csVn khẳng định: “ngoài đảng cộng sản ra thì chẳng có 1 tổ chức nào đủ bản lĩnh, đủ khả năng, đủ trình độ để lãnh đạo đất nước. Đảng cho rằng, mình luôn sáng suốt, trí tuệ, tài tình…lèo lái đất nước qua mọi khó khăn để tiến lên CNXH”. Một đất nước mà có đảng lãnh đạo giỏi giang, vinh quang như vậy, thì chẳng có lý do gì kêu gọi nhân dân đóng góp, ủng hộ cho nhà nước cả. Đúng chưa?

– Thứ 4: Chính phủ kêu gọi mọi người tương thân tương ái….. Tương thân tương ái là gì vậy? Đó là:

– Khi, nhà nước bỏ ra hàng nghìn tỷ đồng xây nhà hát giao hưởng phục vụ tầng lớp quý tộc, thì hãy nghĩ đến những kẻ lê lết trên vỉa hè, chui rúc dưới gầm cầu lượm rác mưu sinh. Đó, mới là tương thân tương ái.

– Khi, chính phủ xuất ra hàng nghìn tỷ từ ngân sách để xây nghĩa trang cao cấp cho cán bộ. Thì, phải nghĩ ngay đến những con người không có tiền thuê xe chở xác người thân, mà phải bó chiếu cột trên xe máy chở từ bệnh viện về đến quê nhà, xa cả hàng chục cây số. Đó, mới là tương thân tương ái.

– Khi, Chính quyền bỏ ra hàng nghìn tỷ xây cổng chào, tượng đài. Thì, hãy nghĩ đến hoàn cảnh bà mẹ trẻ tự tử chết vì túng thiếu. Trước lúc nhâm mắt, bà mong số tiền bà con làng xóm phúng viếng cho mình, đủ đóng tiền học phí cho con. Đó, mới là tương thân tương ái…..

Ngoài xây dựng những công trình nghìn tỷ cũng chỉ để trang trí cho chế độ. Mỗi năm, nhà nước còn phung phí hàng chục nghìn tỷ khác qua các lễ hội, ăn mừng, bắn pháo hoa….Vậy mà dám mạnh miệng nêu tinh thần tương thân tương ái!

Qua vụ lùm xùm tiền bạc của nghệ sĩ Hoài Linh, cậu ta đăng đàn lên tiếng: quý vị thử nghĩ, tôi có thể đánh đổi 14 tỷ ấy với 30 năm sự nghiệp của tôi không? Chẳng hiểu lần này đảng kêu gọi được bao nhiêu tỷ, nhưng xem ra, sự nghiệp hơn 75 năm xây dựng, mà bây giờ phải ngửa tay nhận tiền của từng đứa trẻ 7-8 tuổi, nhận cả tiền dành dụm mua quan tài của các cụ gần đất xa trời. Vậy còn gì nữa mà vĩ đại với quang vinh?

Tui nói vậy đúng hông quý dzị?

Ngô Trường An

Tòa án lập gần 60 vụ án ‘ảo’ để… tự xét xử cho đủ chỉ tiêu!

 Đài Á Châu Tự Do

Luật sư Đặng Đình Mạnh, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh, khi trả lời RFA hôm 8/6 cho biết, giới hoạt động tư pháp đã hết sức kinh ngạc về sự kiện Tòa án Nhân dân Huyện Đắk Song đã ngụy tạo 60 vụ án ‘ảo’ để bảo đảm thành tích thi đua. Theo Luật sư Mạnh, đây là hành vi chưa từng có tiền lệ xảy ra trong hoạt động tư pháp tại Việt Nam. Điều đáng nói theo ông Mạnh là việc xử lý sau đó chỉ kỷ luật với mức khiển trách đối với những cán bộ tòa án có liên quan mà thôi. Luật sư Đặng Đình Mạnh nhận định:

“Về phương diện pháp lý, để thực hiện một hồ sơ vụ án, từ khởi kiện đến thụ lý, đình chỉ vụ án thì lãnh đạo tòa án và thẩm phán đã phải thực hiện một loạt hành vi tố tụng, trong đó có các quyết định tố tụng, mà hành vi cuối cùng là quyết định đình chỉ vụ án. Thế nhưng, tất cả quá trình này đều là ngụy tạo, trong đó, lãnh đạo tòa án và thẩm phán là chủ mưu, đồng phạm cùng thực hiện các hành vi mà họ biết rất rõ là ngụy tạo, trái pháp luật mà vẫn thực hiện. Rõ ràng như 1 + 1 =2 vậy, hành vi của họ đã đủ yếu tố cấu thành tội danh “Ra quyết định trái pháp luật” theo điều 371 Bộ luật Hình sự có hình phạt lên đến 12 năm tù và cấm đảm nhiệm chức vụ cho đến 05 năm.”

Theo Luật sư Đặng Đình Mạnh, sự việc cho thấy, việc không khởi tố vụ án hình sự đối với các hành vi ngụy tạo hồ sơ vụ án là không nghiêm minh, không bảo đảm nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Tạo ra những hệ lụy rất tai hại cho chính hoạt động tư pháp và xã hội. Ông nói tiếp:

“Thật vậy, về phương diện xã hội, rõ ràng, tòa án với chức năng như là nút chặn cuối cùng đối với đạo đức xã hội đã bị vô hiệu hóa. Nơi để ban phát công lý, tái lập lại niềm tin xã hội cho công chúng lại bị tha hóa đến cùng cực.”

Theo đó, Luật sư Đặng Đình Mạnh cho rằng, sự việc cần được các cơ quan bảo vệ pháp luật đánh giá nghiêm túc lại sự việc để có xử lý thích đáng, phù hợp với các quy định pháp luật và phục hồi niềm tin của công chúng đối với hoạt động tư pháp nước nhà.

https://www.rfa.org/…/the-district-court-set-up-nearly…

Tòa án lập gần 60 vụ án ‘ảo’ để... tự xét xử cho đủ chỉ tiêu!
RFA.ORG

Tòa án lập gần 60 vụ án ‘ảo’ để… tự xét xử cho đủ chỉ tiêu!

Mới đây cơ quan chức năng phát hiện một tòa án cấp huyện đã lập gần 60 vụ án ‘ảo’ để … tự xét xử cho đủ chỉ tiêu… 

“Một chính phủ vừa bất tài, vừa bất lực, vừa to họng…”

“Một chính phủ vừa bất tài, vừa bất lực, vừa to họng…”

Bởi  AdminTD

 BTV Tiếng Dân

1-6-2021

Đại dịch cho thấy rõ, chính quyền nào là chính quyền thật sự của dân; chính quyền nào là chính quyền lo cho dân. Những tiếng kèn thắng trận đã nổi lên quá sớm ở Việt Nam qua những khẩu hiệu tuyên truyền như Việt Nam “chống dịch tốt nhất thế giới”, rằng các nước ấn tượng về “thành tích chống dịch của Việt Nam” và “thế giới phải học Việt Nam cách chống dịch”… chỉ mua vui được một thời gian.

Sau hơn một năm thì mọi chuyện đã thay đổi, nhiều nước đã chích ngừa miễn phí cho dân và gần như trở lại bình thường, trong khi Việt Nam vẫn loay hoay dập dịch. Do lãnh đạo CSVN quá tự tin vào các biện pháp khoanh vùng, cách ly, truy vết… rồi “ngạo nghễ” tự tin rằng mình sẽ chiến thắng được dịch qua cách chống dịch kiểu này, mà không có kế hoạch chích ngừa cho toàn dân, để bây giờ trở thành nước nằm trong nhóm có tỉ lệ chích ngừa thấp nhất thế giới (hiện chỉ có khoảng 0,5% dân được chích ngừa đủ hai liều).

Trong khi các nước chích ngừa miễn phí cho dân, thì Việt Nam “xã hội hóa vaccine”, kêu gọi người dân trong và ngoài nước góp tiền để mua thuốc chích ngừa. Đại dịch xảy ra khắp nơi trên thế giới, trong đó số ca nhiễm ở VN công bố thuộc nhóm thấp nhất so với hầu hết các nước. Nhiều nước bị dịch nặng nề, nhưng cũng đã giúp đỡ cho Việt Nam hơn một năm qua, chưa kể Việt Nam tăng trưởng cao, trong lúc thế giới gồng mình chống dịch.

Dịp Tết Nguyên đán vừa qua, tác giả Phương Hạ còn có bài viết đầy lạc quan: “Niềm tin và khát vọng“, qua câu kết như sau: “Trong bức tranh u ám kinh tế toàn cầu, tăng trưởng GDP 2,91% thật sự là kỳ tích, góp phần đưa Việt Nam vào nhóm 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới, là cơ sở để các tổ chức quốc tế lạc quan về triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2021 và những năm tiếp theo“.

Lạc quan về những “kỳ tích”, tự hào, “ngạo nghễ” qua chuyện chống dịch, qua triển vọng kinh tế sáng sủa… nhưng đến bây giờ, chính phủ CSVN vẫn tiếp tục kêu gọi thế giới hỗ trợ, kêu gọi người dân góp tiền mua vaccine!

Xin được giới thiệu bài viết của các tác giả: Song Chi, Hoàng Ngọc Diêu và Nguyễn Ngọc Như Quỳnh dưới đây, để quý bạn đọc hiểu thêm về cái gọi là nhà nước “của dân, do dân và vì dân” ở Việt Nam.

***

Song ChiDân mình thật… dễ chịu, khi đại dịch chưa bùng phát mạnh ở VN và các nước láng giềng mà chỉ hoành hành ở Mỹ và châu Âu, nhiều người Việt cứ nắc nỏm khen “chính phủ ta” chống dịch giỏi, rồi còn tự hào thật may mắn đang ở VN, nhìn sang Mỹ sang châu Âu kia chết như rạ v.v…

Nhưng cuối cùng thì đại dịch COVID-19 chả chừa quốc gia nào, và khi dịch nặng thì rõ ràng những cái tệ hại của một quốc gia độc tài, một chính phủ không biết nghĩ cho dân càng lộ ra rõ rành rành.

Trong khi các nước từ Mỹ cho tới châu Âu, Canada, Úc v.v… chính phủ đều có những chính sách hỗ trợ cho các thành phần bị thiệt hại vì đại dịch, từ người thu nhập thấp, người thất nghiệp, lao động tự do, doanh nghiệp nhỏ cho tới doanh nghiệp lớn; mọi người dân đều được chích vaccine miễn phí, ưu tiên những người hoạt động trong ngành y tế, người già, người có bệnh nền được chích trước, Thủ tướng, Tổng thống thì cũng phải chờ đến lượt; vậy mà dân ngày nào cũng kiếm cách chỉ trích chính phủ đủ thứ…

Còn ở VN, dân đóng bao nhiêu thứ thuế, nhưng lại không được hỗ trợ cái gì, khi thiên tai lũ lụt cho tới đại dịch, lúc nào nhà cầm quyền cũng kêu gọi người dân đóng góp, và dân thì cứ phải đứng ra tổ chức quyên góp giúp đỡ nhau, rồi bây giờ thì lại kêu gọi “xã hội hóa vaccine”, đóng tiền mua vaccine… Cái gì cũng đè cổ dân!

Mấy hôm nay lại thấy đổ hết tội lan truyền dịch cho cái Hội thánh gì đó, vậy chứ giữa khi đang có dịch vẫn cứ tổ chức trò hề bầu cử Quốc hội, vừa tốn kém bao nhiêu tiền của, vừa lây lan dịch thì sao? Cái số tiền “khủng” bỏ ra cho cái trò hề đó cũng mua được bao nhiêu liều vaccine đấy!

***

Hoàng Ngọc Diêu: Ở Úc, từ lúc bùng nổ đại dịch đầu 2020 đến nay, chưa hề thấy chính phủ Úc kêu gọi quyên góp hoặc giúp đỡ cái gì. Ngược lại, chính phủ Úc liên tục giúp đỡ người dân bằng mọi cách. Đến nay, thuốc chích ngừa cũng do chính phủ giàn xếp mọi thứ và người dân chỉ việc đi chích miễn phí.

Nhiều bạn nói, so sánh Úc với Việt Nam là khập khiễng nhưng xét về khía cạnh trách nhiệm của chính phủ Việt Nam (lúc nào cũng rêu rao đúng đắn tài tình) thì vẫn cần so sánh và quả là sự khác biệt một trời một vực. Hết kêu gọi cái này, đến xin xỏ cái kia, thậm chí còn đại ngôn kiểu “đề nghị chuyển giao công nghệ” này nọ. Nay thì lại đẻ ra cái chuyện kêu gọi dân góp tiền mua vaccine, rồi đề nghị doanh nghiệp tự lo chuyện vaccine, thậm chí đẻ ra chuyện “đấu giá vaccine”.

Lúc bình thường thì đẻ bao nhiêu là thuế, phí và lắm trò hút máu dân để tham nhũng, để xây tượng đài, để làm những thứ vô ích và phí phạm. Đụng chuyện thì viện cớ, đổ thừa, xin xỏ. Một chính phủ vừa bất tài, vừa bất lực, vừa to họng như vậy mà vẫn tiếp tục tồn tại thì quả là chuyện bi hài.

Vậy chớ ít bữa đâu vào đó, chắc chắn lại tiếp tục cái trò “ơn đảng”, “đúng đắn, tài tình”.

***

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh: Sơ kết một số khoản hỗ trợ của quốc tế dành cho Việt Nam trong năm 2020 – 2021.

– Tháng 4/2020: Thông cáo của Đại sự quán Hoa Kỳ cho biết Mỹ hỗ trợ y tế gần 4,5 triệu USD giúp Việt Nam đối phó với dịch COVID-19.

– Tháng 4/2020: Đại diện tổ chức Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam đã tiến hành lễ bàn giao 3 thiết bị y tế với tổng trị giá 50 triệu yen cho Bệnh viện Trung ương Huế nhằm hỗ trợ bệnh viện này phòng, chống dịch COVID-19.

– Tháng 5/2020: Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tiết lộ thêm con số 5 triệu đô la cho quỹ hỗ trợ kinh tế giúp Việt Nam trong đại dịch, Tổng hai lần hỗ trợ từ Hoa Kỳ ở thời điểm này là $9,5 triệu.

– Tháng 5/2020: Úc cam kết hỗ trợ Việt Nam 10,5 triệu đôla Úc cho nỗ lực ứng phó và phục hồi từ COVID-19.

– Tháng 7/2020: Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia Đông Nam Á sẽ nhận được sự giúp đỡ từ gói hỗ trợ hơn 800 triệu euro của EU.

– Tháng 9/2020: Nhật Bản sẽ viện trợ gần 500 tỷ đồng giúp Việt Nam phòng, chống dịch COVID-19. Thông tin này được công bố trong Lễ ký công hàm trao đổi giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Nhật Bản về khoản viện trợ không hoàn lại phòng, chống dịch COVID-19.

– Tháng 4/2021: Chính phủ Nhật Bản, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc hỗ trợ Việt Nam 2,8 triệu USD cho nhóm dân số dễ bị tổn thương bởi Covid-19.

– Tháng 5/2021: Hàn Quốc hỗ trợ hệ thống máy đo thân nhiệt trị giá gần 1 triệu USD cho Việt Nam.

– Tháng 5/2021: Nhật Bản sẽ hỗ trợ Việt Nam 1,8 triệu đô để xây dựng hệ thống kho lạnh trong kế hoạch tiếp cận vaccine.

– Việt Nam tham gia chương trình COVAX của Tổ chức Y tế thế giới nên sẽ nhận được 1,7 triệu liều vaccine thông qua WHO.

Trên đây tôi chưa tính đến các khoản viện trợ thiết bị y tế, test kit từ Hàn Quốc và một số nước khác cho Việt Nam.

Cuối cùng thì chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sau hơn 1 năm tuyên bố đã chế tạo thành công bộ xét nghiệm, đang nghiên cứu và sẽ đưa vaccine made in Vietnam vào sử dụng cuối quý 3/2021, rộn ràng ca ngợi “mặt trời Việt Nam đang tỏa sáng trong khi thế giới u ám”, giờ làm gì?

Chính phủ hô hào cùng nhân dân chống dịch, không để một ai lại phía sau, bây giờ không những không giải ngân ngân sách giúp dân vượt qua khó khăn trong đại dịch, mà còn mở tài khoản để các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, kiều bào xa quê góp tiền để mua vaccine.

Gói 62,000 tỷ hỗ trợ dân trong đại dịch từ tháng 4/2020 đến nay vẫn chưa giải ngân xong và cũng không có một lời giải trình, tổng kết gì.

P/s: Đây là chưa tính đến khoản hỗ trợ quốc tế cho người dân Việt Nam trong bão lũ tháng 10/2020 lên tới hơn 10 triệu đô nữa.

Không lẽ năm nào cũng vậy và không lẽ hết lần này đến lần khác, chính phủ không có kịch bản gì do dân và vì dân hay sao?

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Nguyên Ngọc / Hà Giang & Hoa Thuốc Phiện

                 

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Nguyên Ngọc / Hà Giang & Hoa Thuốc Phiện

05/06/2021

blank

Trước khi “tập kết ngược” (trở lại miền Nam) vào năm 1962, Nguyên Ngọc có thời gian lang thang ở cao nguyên Đồng Văn – Mèo Vạc. “Mùa Hoa Thuốc Phiện Cuối Cùng” là chuyện viết về người thật việc thật, nơi vùng giới tuyến (Việt/Hoa) này.

“Đây cũng là một truyện ngắn hay của ông. Cô gái Mèo Vàng Thị Mỹ ở với bố trên những đỉnh núi cao quanh năm mây phủ. Ở đó nếu có khách tới nhà thì chỉ là thú rừng thôi. Cô bé thấy thèm người. Rồi ông bố cho cô đến với người.

 Đó là một phiên chợ. Cơ man nào là người. Ông bố bán thuốc phiện, một thứ vàng đen, mong giúp con gái đổi đời. Nhưng bị trả quá rẻ, ông không bán. Thế rồi dọc đường trở về, bố con ông bị bọn người đó chặn lại. Chúng cướp không số thuốc phiện rồi bắn chết ông. 

Cô bé may mà thoát chết. Rồi cô được một bà goá đem về nuôi. Năm 13 tuổi, cô bị gả chồng. Chồng cô là thằng bé mới 7 tuổi, con lão chúa đất. Ngày về nhà chồng, cô khóc nhiều lắm. Khóc vì không được cô độc sống giữa các vách núi. Cô lại phải đến với người.

 Ở nhà chồng, cô bỗng nhận ra bố chồng là một tên dã thú đã giết bố cô. Thế là cô bỏ trốn. Bây giờ thì cô sợ phải gặp người. Cứ thấy làng, thấy người là cô tránh. Cô đi lang thang rồi lạc vào rừng. Hoang mang và đói lả, cô ngồi thụp xuống bên hang đá, thiếp đi. Rồi cô chợt bừng tỉnh khi thấy trong hang lại có tiếng người. 

Thế là cô bé lại vùng dậy chạy. Nhưng không còn sức chạy nữa. Cô lại phải gặp người. Không phải người thú mà người cách mạng. Chính người cách mạng đó đã cứu cô. Rồi cô gặp Đảng. Đảng chỉ cho cô đường đi, nước bước. Đảng bảo phải bỏ cây thuốc phiện. Nó chính là nguồn gốc mọi nỗi đau khổ của người Mèo. Phải phá bỏ cây thuốc phiện trồng ngô sắn. Rồi Nguyên Ngọc còn để cô Vàng Thị Mỹ nói với đồng bào Mèo nguyên văn như thế này: ‘Ngày xưa, người đối với người coi nhau như thú dữ, bây giờ có Đảng, có chính phủ, có Cụ Hồ, người với người mới tin nhau, giúp nhau như thể anh em một nhà vậy. Đó là bản chất của Chủ nghĩa xã hội đấy, bà con ạ…”  (Trần Đăng Khoa. Chân Dung Và Đối Thoại. NXB Thanh Niên: 1998).

Với thời gian, cái “bản chất của Chủ Nghĩa Xã Hội đấy” – mỗi lúc – được “bà con”  nhận thức rõ ràng hơn. Năm 1991, Nguyên Ngọc có dịp quay lại Hà Giang. Vẫn cảnh cũ, người xưa nhưng nỗi lạc quan của nhà văn thì đã hoàn toàn tan biến: 

Phiên chợ Mèo Vạc nghèo và buồn. Phải nói thật điều này thôi: không bằng 30 năm trước. Không còn những chõ xôi vàng rực, chỉ nhìn đủ thèm. Không còn những gói hoàng tinh (mà ở đây người ta gọi là voòng chính) mỡ màng chất đầy các củi tấu. Không còn những chú lợn béo ụ được dòng dây vào cổ, người bán người mua thách và mặc cả ầm ĩ… không còn thấy cảnh các đôi trai gái say mèm, người con trai cầm khèn vừa nhảy lò cò vừa thổi, người con gái cầm ô xanh đỏ hát dìu dặt Tu tè chí dù mưng, rồi dìu nhau vào các hốc đá tiếp tục cuộc tình đắm đuối cho đến tối mịt… Mới trưa chợ đã vãn. Không gì bộc lộ rõ rệt đời sống của người dân bằng cái chợ… (Nguyên Ngọc. “Trở Lại Mèo Vạc”).

blank

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng “buông một tiếng thở dài” tương tự khi bước chân đến cái cao nguyên đá dựng này: “Người ta nói, đi qua một khu chợ sẽ biết đời sống của cư dân ở đó. Mình tin điều đó. Và nhìn món hàng bày trước mặt những người phụ nữ vùng cao, mình hình dung được nồi cơm, căn bếp, cuộc đời…”

Những sản phẩm mà Nguyễn Ngọc Tư “nhìn” được ở chợ Hà Giang hồi mười năm trước (“nụm nịu một hai nải chuối, co ro vài ba bó củi”) hay hình ảnh những em bé H’Mong đang ngồi vật vạ (bên mấy mớ rau rừng) ngày nay giúp cho kẻ ở miền xuôi “hình dung được nồi cơm, căn bếp, cuộc đời…” của đồng bào nơi mạn ngược.

Vấn đề của họ cũng không chỉ giới hạn vào “nồi cơm” hay “căn bếp.” Những cuộc nổi dậy liên tiếp (vào những năm 2001, 2004, và 2011) cho thấy sự bất ổn và khủng hoảng trầm trọng trong cuộc sống của người dân bản địa tại Việt Nam, ở rất nhiều nơi. 

Phóng viên  Thanh Trúc (RFA) tường thuật: “Từ một thập niên trở lại đây, vì thường xuyên bị sách nhiễu và gây khó dễ trong cuộc sống, nhiều người H’mong, phần lớn đi đạo Tin Lành và thường tụ họp để thờ phượng Chúa như họ kể, từ Điện Biên, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang… vượt biên giới sang Lào rồi tìm đường sang Thái Lan xin tị nạn.”

Kể từ “Mùa Hoa Thuốc Phiện Cuối Cùng”, cho đến khi xẩy ra cuộc Chiến Tranh Biên Giới Việt – Trung (Sino -Vietnamese War) nhà đương cuộc Hà Nội – dường như – không hề có bất cứ một dự án hay hành động thiết thực nào để để giúp đỡ người H’Mong cả. 

Hệ quả, hay hậu quả, nhãn tiền: “Khi bọn bành trướng Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979, một bộ phận không nhỏ dân tộc thiểu số, sống ở vùng biên giới, đã đồng loạt ngả theo, làm tay sai cho ngoại bang. Đó chính là hậu quả của chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc.” (Lý Hồng Xuân. Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn. NXB Văn Nghệ: California 2000).

Thêm gần nửa thế kỷ đã qua, và những “chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” – xem chừng – mỗi lúc một thêm tệ hại. Người H’Mong vẫn bị bỏ mặc cho chính quyền địa phương áp bức hay dầy xéo. Công luận đã từng biết đến tên tuổi những quan chức “khét tiếng” ở Hà Giang (Sầm Đức Xương, Nguyễn Trường Tô, Triệu Tài Vinh, Vũ Trọng Lương) và vô số tệ trạng nơi đây. 

“Thật sự chưa có con đường ra cho cái cao nguyên đá kỳ dị này” là nguyên văn lời của Nguyên Ngọc, cùng nỗi “ấm ức” của ông:.

Ba mươi năm trước, người H’mông chuyên trồng loại cây đắt giá nhất, kỳ ảo nhất, say đắm nhất trên đời này: cây thuốc phiện.

Bây giờ thuốc phiện bị cấm rồi. Thay bằng cây ngô. Trồng ngô ở đây, thì chết đói.

Trồng thuốc phiện – thì hư hỏng. Hư hỏng cả xã hội.

Làm sao?

Cuộc nổi phỉ và cuộc tiễu phỉ ác liệt năm 1959, với tất cả sự đan chen vô cùng phức tạp của các mưu đồ chính trị lớn và nhỏ, trong nước ngoài nước… đều dính líu chằng chịt đến chuyện trồng cái cây gì trên bụm đất nhỏ xíu còn sót lại giữa các hốc đá nham nhở nơi này.

 Trồng cây gì?

Câu hỏi chừng đơn giản vậy mà đẫm máu, mà chi phối khắc nghiệt số phận hàng vạn con người, từng số phận con người, từng chặng đường số phận mỗi con người…

Tôi liều mạng bục ra một câu hỏi kỳ thực vẫn ấm ức từ lâu:  Hay trở lại cây thuốc phiện?

“Trở lại” e đã muộn. Bây giờ thì chất gây nghiện có thể chế tạo bằng nhiều thứ hoá chất chứ không nhất thiết phải cần đến nhựa của hoa Anh Túc nữa. Và “xã hội thì hư hỏng” hết rồi. Ma túy đã được vận chuyển (theo đơn vị tấn) đi khắp mọi nơi: 

Cái ảo vọng của Tố Hữu về tình hữu nghị (bên ni biên giới là mình/bên kia biên giới cũng tình quê hương) cũng đã tan vỡ từ lâu. Sớm muộn gì thì “bọn bành trướng Bắc Kinh” cũng sẽ “tràn sang” lần nữa thôi, trong khi “những chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” thì vẫn cứ tiếp tục xô đẩy người dân về phía kẻ thù! 

Chả phải vô cớ mà tiếng nói của Nguyên Ngọc bỗng trở nên tiếng cú: “Chế độ này thế nào cũng sụp đổ. Nhưng không biết nó sẽ sụp đổ theo kịch bản nào?” Kịch bản nào cũng được vì ngày nào mà cái chính thể hiện hành còn tồn tại thì cả nước Việt sẽ không có lối ra, chứ chả riêng chi vùng cao nguyên Đồng Văn – Mèo Vạc.

Đại dịch, bản năng đổ lỗi, và những cuộc săn dê tế thần

Đại dịch, bản năng đổ lỗi, và những cuộc săn dê tế thần

Khi chọn được vật tế thần, ta yên chí rằng chỉ cần loại nó đi, tất cả sẽ sạch tội.

  04/06/2021

By  HIỀN MINH

Ảnh gốc: Thanh Niên. Đồ họa: Luật Khoa.

Ảnh gốc: Thanh Niên. Đồ họa: Luật Khoa.

 Bên dưới bức thư xin lỗi đăng trên trang Facebook Muối và Ánh sáng của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng ngày 30/5/2021 là hàng loạt các bình luận chửi bới, mỉa mai, công kích.[1]

“Tắt văn dùm, vì sự vô ý thức, thái độ thiếu trung thực của các ông các bà mà ảnh hưởng đến bao người. Thay vì cảm ơn chúa thì hãy cảm ơn các y bác sĩ ấy.”

“Nếu ngay từ đầu hợp tác và khai báo trung thực thì hậu quả đâu đến mức này? Giờ viết thư xin lỗi để làm gì trong khi biết bao nhiêu con người ngoài kia đang phải chịu ảnh hưởng và gồng mình chống dịch […]”

“Thay vì viết cái lá thư sáo rỗng này thì ông bà nên thành thật khai báo đã tiếp xúc những ai để cho chính quyền còn biết mà khoanh vùng dịch cho đúng. Khỏi bệnh rồi thì bán hết tài sản để nộp cho quỹ phòng chống dịch bệnh đi, nguy hại mà gia đình ông bà gây ra cả mấy triệu dân ở thành phố này đang phải gánh chịu đấy. Đừng có nói mồm hay viết tay suông.”

“Tụ tập đông người trong phòng kín, không đeo khẩu trang (mặc dù đang có dịch và có quy định phải đeo khẩu trang nơi công cộng và chỗ đông người) thì lỗi của ai đây? Thiệt hại của hàng triệu con người cả thành phố do hậu quả của việc này thì ai chịu trách nhiệm đây?”

Giữa đợt bùng phát dịch lần thứ tư tại Việt Nam, tất cả sự chú ý dường như đang dồn vào một cái tên: Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng. Từ ba ca nhiễm được phát hiện vào hôm 26/5, họ bị quy kết trách nhiệm cho hàng ngàn ca nhiễm mới trong thành phố. Truyền thông đưa tin dồn dập về họ. [2] Các phản ứng chính sách diễn ra liên tiếp chỉ trong vài ngày: khởi tố vụ án (30/5), đề nghị đình chỉ hoạt động và rút giấy phép hoạt động tôn giáo (1/6). [3] [4] Ban Tôn giáo còn lên tiếng cả về cách họ gọi tên tổ chức mình (không phải hội thánh!), cách họ gọi tên chức sắc tôn giáo của mình (không phải mục sư!). [5]

Các bài viết về chuyện xử lý vụ việc này thu hút hàng loạt bình luận cho rằng nhà nước thật “anh minh”, và việc quản lý các điểm nhóm tôn giáo phải được siết chặt hơn nữa.

Cảnh phong tỏa ở khu vực nơi tín đồ của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng sinh hoạt. Ảnh: Kênh 14.

Cảnh phong tỏa ở khu vực nơi tín đồ của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng sinh hoạt. Ảnh: Kênh 14.

Những dữ kiện bị phớt lờ

Có một vài dữ kiện mà những người đang nhiệt tình kết án nhóm sinh hoạt chỉ có hơn 50 thành viên kia bỏ qua.

Thứ nhất, không có bằng chứng cho thấy nhóm sinh hoạt này giấu thông tin hay vi phạm các quy định phòng chống dịch. Các thông tin trên báo chí về chuyện đeo khẩu trang hay không, tập trung bao nhiêu người đều rời rạc và thiếu căn cứ. Người quản nhiệm hội thánh khẳng định rằng họ đã tuân thủ các quy định và không giấu thông tin. [6] Cho dù viết thư xin lỗi và mong được lượng thứ, họ không hề thừa nhận làm lây lan dịch bệnh. Vụ án mới chỉ bắt đầu được điều tra, chưa đưa ra kết luận gì.

Thứ hai, chưa rõ nguồn lây nhiễm và thời điểm lây nhiễm của những ca bệnh thuộc hội thánh này. Những dấu hiệu đầu tiên của đợt lây nhiễm mới nhất đã xuất hiện từ tháng Tư, nhưng các hoạt động vẫn diễn ra bình thường. Người dân cả nước vẫn nghỉ lễ và du lịch khắp nơi trong kỳ nghỉ 30/4 và 1/5. Đến ngày bầu cử 23/5, khi dịch đã bùng phát mạnh ở các tỉnh phía Bắc, nhà nước truyền đi thông điệp quyết tâm tổ chức thành công kỳ bầu cử trong mọi tình huống của dịch. [7] Ngay cả tâm dịch Bắc Ninh và Bắc Giang cũng hô hào quyết tâm. [8] Các cán bộ mang luôn cả thùng phiếu vào trong bệnh viện, tới tận giường của những bệnh nhân nằm liệt tại chỗ để họ bỏ phiếu. [9]

Nếu như mầm bệnh đã có trong cộng đồng từ lâu, chỉ với hai sự kiện nói trên, việc truy nguyên là gần như bất khả. Các ca nhiễm từ hội thánh hoàn toàn có thể là lây chéo từ những chuyến du lịch trong kỳ nghỉ lễ, hay những điểm bầu cử mà họ tham gia trước đó. Việc gán nguyên nhân của chuỗi lây nhiễm mới với các sinh hoạt tôn giáo của hội thánh này, cho đến nay, là vô căn cứ.

Thứ ba, có sự phân biệt đối xử đối với Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng. Khi dịch bùng phát ở các khu công nghiệp tại Bắc Giang, Bắc Ninh, không cá nhân nào bị đem ra chỉ trích. Khi có ca nhiễm từ tổ bầu cử ở Goldmark City, Hà Nội, chẳng ai chất vấn ai đã vi phạm quy định. [10] Thế nhưng, khi một nhóm sinh hoạt tôn giáo tiếp tục hoạt động và có ca nhiễm, vụ việc lại bị khởi tố.

Ngày 21/5/2021, Bộ Y tế ra một công văn yêu cầu không cung cấp cho báo chí danh tính, lịch trình di chuyển và quá trình tiếp xúc của bệnh nhân, nhằm tránh xâm phạm đời tư của người bệnh.11 [11] Quy định này sau đó được báo chí tuân thủ, nhưng đến trường hợp của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng thì lại như chưa từng tồn tại.

Các tờ báo chạy đua với nhau đăng thông tin cá nhân, [12] lịch trình di chuyển của những ca nhiễm là thành viên của nhóm. [13] Giữa hàng trăm ca nhiễm mới được đánh số, bỗng dưng lại có vài nhân vật có danh tính, tôn giáo, địa chỉ rõ ràng. Không khó hiểu tại sao tất cả sự căm ghét dồn về phía họ.

Từ việc quy kết mọi lỗi lầm cho một tổ chức tôn giáo, người ta bắt đầu chất vấn cả loại hình tổ chức của họ. Kết quả là khi sự việc chưa ngã ngũ, hội thánh đã bị dọa rút giấy phép hoạt động. Các điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tương tự thì bị đưa vào đối tượng nguy cơ cao cần xét nghiệm đầu tiên. [14] Những lời yêu cầu nhà nước tăng cường quản lý điểm nhóm tôn giáo xuất hiện ở nhiều diễn đàn, bất chấp một thực tế rằng chính sách quản lý tôn giáo ở Việt Nam đã luôn khắt khe đến mức báo động trên thế giới. [15]

Người dân đi bầu ở quận Gò Vấp, TP. HCM ngày 23/5/2021. Ảnh: hcmcpv.org.vn.

Người dân đi bầu ở quận Gò Vấp, TP. HCM ngày 23/5/2021. Ảnh: hcmcpv.org.vn.

“Ai chịu trách nhiệm đây?” (Không phải tôi)

Con người không được tạo hóa thiết kế để thấy dễ chịu trong những tình huống rủi ro và bất định. Khi có chuyện gì xấu xảy ra, bản năng đổ lỗi (blame instinct) sẽ được kích hoạt để tìm ra một nguyên do đơn giản, rõ ràng cho nó. Như một cơ chế tự vệ, bản năng này có nhiệm vụ tìm ra ai đó chịu trách nhiệm cho việc này, nếu không thì thế giới sẽ thật khó đoán, rối bời, đáng sợ. [16]

Đại dịch COVID-19, đặc biệt là đợt lây nhiễm mới nhất với những biến chủng nguy hiểm và khó lường, rõ ràng đã đặt chúng ta vào một tình thế bấp bênh chưa từng có.

Mark Schaller, giáo sư tâm lý tại Đại học British Columbia, tác giả cuốn “Social Psychology of Prejudice” cho rằng mối liên quan giữa đại dịch và việc đổ lỗi có nguồn gốc tiến hóa. [17] Phản ứng đó là một phần của khái niệm mà ông gọi là hệ miễn dịch tâm lý hành vi (behavioral immune system), tương tự như hệ miễn dịch của cơ thể. Ta đẩy lỗi cho ai đó khác để bản thân có thể yên tâm rằng mình vô can. Và để khiến cho sự đùn đẩy của mình có lý lẽ, chúng ta tự động gán cho đối tượng những đặc tính tiêu cực.

Cơ chế này dường như khớp với cách mà chúng ta đang đòi Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng chịu trách nhiệm cho đợt lây lan dịch tại thành phố Hồ Chí Minh, trong khi mọi thứ còn đang là dấu hỏi. Từ vài lời kể rời rạc, chúng ta vội vàng quy kết rằng họ làm sai quy định, họ giấu giếm không hợp tác. Suy nghĩ đó dựa trên một niềm tin rằng nếu tuân thủ quy định thì hẳn là đã không sao rồi.

Niềm tin đó rõ ràng là mong manh, chỉ cần xét riêng một chuyện là hàng chục triệu người dân cả nước vẫn đi du lịch khắp nơi và đi bầu khi dịch đã bắt đầu bùng phát. Thực tế cho thấy, các diễn biến xảy ra bất ngờ, và tất cả mọi người, bao gồm cả các đơn vị chuyên trách, đều đang ở thế căng mình để chống chọi. Phần lớn có lẽ đều đang ở trong trạng thái như người quản nhiệm Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng chia sẻ khi biết chuyện: “Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra”. [18] Nhưng thừa nhận sự bất lực này lại không phải thói quen của bản năng đổ lỗi. Bằng cách chỉ ngay ngón tay vào người đã dám “không biết”, dư luận khước từ gánh nặng của việc phải chấp nhận một sự thật khó nhằn.

Lựa dê tế thần

Nếu đổ lỗi là một bản năng tự vệ của từng cá nhân, thì việc lựa chọn ai làm người gánh chịu tội lỗi lại phản ánh những định kiến, niềm tin, lý tưởng của cộng đồng. Hành vi này gọi là “scapegoating”.

“Scapegoat” trong tiếng Anh được ghép từ “escape” – chạy thoát và “goat” – con dê. Từ này có nguồn gốc từ Kinh thánh, mô tả một nghi thức đền tội của người Do Thái với Thiên Chúa của họ, trong đó có hai con dê được chọn. [19] Một con bị giết để dâng lên làm vật đền tội, con còn lại thì gánh tất cả tội lỗi của một cộng đồng và sau khi cầu nguyện thì được thả vào trong hoang mạc. Bằng cách đó, tất cả được sạch tội.

Dê tế thần. Ảnh: cruciformcoc.com.

Dê tế thần. Ảnh: cruciformcoc.com.

Các nhà tâm lý học xã hội mượn từ này để xác lập lý thuyết vật tế thần (scapegoat theory). Theo Peter Glick, giáo sư Đại học Lawrence, khái niệm này mô tả một hình thái định kiến cực đoan, trong đó một nhóm ngoại lai bị đổ lỗi cố tình gây ra tai ương cho một nhóm nội bộ. [20]

Các phong trào tế thần (scapegoat movement) trong một cộng đồng thường diễn ra khi họ phải đối mặt với những tình huống phức tạp, trong đó, chướng ngại vật để vượt qua là không rõ ràng. Các cuộc săn linh vật tế thần thu hút nhiều người tham gia là do nó có thể đưa ra một câu trả lời đơn giản hơn. Trong cuộc săn tìm đó, người ta thường đưa ra các lựa chọn phi lý trí, do nỗi sợ và tâm lý vội vàng ảnh hưởng đến năng lực nhận thức, và do thiếu thông tin.

Trong chương 15 của cuốn sách “On the Nature of Prejudice: Fifty Years after Allport”, Peter Glick tổng hợp các lý do giải thích cho lựa chọn vật tế thần trong các lý thuyết tâm lý xã hội đương đại. [21] Theo đó, vật tế thần thường là một nhóm thiểu số với các tiêu chí: (1) quyền lực không quá mạnh để có thể phản kháng, nhưng cũng không quá yếu (vì yếu quá thì không thể gây ra tai ương), (2) khớp với những định kiến có sẵn trước đó trong cộng đồng và (3) tiện lợi.

Thử dùng lý thuyết này để xem xét vụ việc Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng bị chỉ trích, ta thấy nhóm này thỏa các điều kiện đã nêu của một “vật tế thần”. Họ là một nhóm tôn giáo thiểu số, không có tổ chức mạnh nhưng đã được công nhận hoạt động điểm nhóm, thuộc tầng lớp trung lưu (không quá mạnh, không quá yếu). Hoạt động của các nhóm sinh hoạt tôn giáo tự phát từ lâu đã nhận nhiều định kiến từ phía dư luận, bị nhà nước xem là “tà đạo” (định kiến). Thông tin về họ được công bố theo cách vừa đủ để dư luận suy đoán và đánh giá (tiện lợi).

So sánh với các nguồn lây nhiễm khả thi khác, như một tổ chức tôn giáo lớn hơn, những nhóm công nhân yếu thế, hay các hội đồng bầu cử, ta thấy việc đổ lỗi cho hội thánh nhỏ này “tiện lợi” hơn nhiều.

Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng có phải là vật tế thần hay không chỉ là một giả thuyết. Vẫn tồn tại khả năng họ thực sự đã cố tình làm sai, xem nhẹ an toàn của cộng đồng. Nhưng việc các nhóm tôn giáo thiểu số trở thành mục tiêu đổ lỗi trong đại dịch COVID-19 thì không phải là chuyện lạ trên thế giới, và còn có tính lịch sử. [22]

Các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Phát triển (Institute of Development Studies – Anh) đã tư liệu hóa sự phân biệt đối xử và đổ lỗi mang tính hệ thống với người Hồi giáo ở Ấn Độ, người Yazidis, Kaka’i và các nhóm theo đạo Cơ Đốc ở Iraq, và người Khmer theo đạo Hồi ở Campuchia. [23] Những cộng đồng này thường bị cáo buộc làm lây lan dịch bệnh. Họ trở thành nạn nhân của các chiến dịch thù ghét trên mạng xã hội, với sự tham gia của cả các chính khách và giới báo chí. Đáng chú ý, họ đều đã là nạn nhân của định kiến phổ biến từ trước đó, khớp với lý thuyết được giáo sư Peter Glick nêu phía trên.

Đơn cử, vào tháng 3/2020, khi một nhóm người Hồi giáo trở về Campuchia sau khi tham gia một sự kiện ở Malaysia, họ được phát hiện dương tính với COVID-19. Thông tin về tôn giáo của những người này được chính bộ trưởng y tế Campuchia tiết lộ trên Facebook cá nhân, trong khi Bộ Y tế yêu cầu truyền thông cẩn trọng khi công bố thông tin người bệnh. Chi tiết về tôn giáo lập tức tạo nên một làn sóng thù ghét và đổ lỗi nhắm vào người Khmer theo đạo Hồi, vốn đã là nhóm yếu thế so với những người Khmer theo đạo Phật ở Campuchia. [24]

“Họ nên bị nhốt trong nhà”, một người dùng Facebook viết.

“Tại sao mấy người có thể ngu ngốc và vô tâm đến mức mang lại phiền toái cho biết bao người khác”, một người khác bình luận.

Các bình luận dạng này cũng xuất hiện nhiều trong phong trào đổ lỗi cho người Hồi giáo ở Ấn Độ, cùng thời điểm tháng 3/2020. [25] Khi một số nhà truyền giáo Ấn Độ được phát hiện nhiễm virus SARS-coV-2 sau một sự kiện quốc tế tổ chức tại Delhi, bộ trưởng phụ trách các vấn đề của cộng đồng thiểu số đã công khai gọi những người tổ chức sự kiện này là “tội phạm Taliban”. Những làn sóng chỉ trích, lăng mạ đi kèm với thông tin sai lệch lan rộng với phạm vi khoảng 170 triệu tài khoản Twitter.

“Đại dịch đã cho thấy người Hồi giáo Ấn Độ là những kẻ phản bội và không trung thành với tổ quốc.”

“Ấn Độ cần được tự do khỏi Corona và Jihad (từ ám chỉ những người Hồi giáo với nghĩa tiêu cực) vì cả hai đều là những vũ khí chết người.”

Khi đã chọn được con dê tế thần, người ta được trấn an với ảo giác rằng chỉ cần loại nó ra khỏi cộng đồng thì mọi chuyện sẽ được giải quyết.

Cơn say đổ tội thường sẽ khiến chúng ta ngừng tìm hiểu các nguyên nhân khác, cũng như giải pháp để ngăn chặn các vấn đề tương tự xảy ra trong tương lai. Đối tượng được chọn làm vật tế thần thì chẳng biết mình có tội gì, nhưng vừa phải chịu đau đớn thể xác vì nhiễm bệnh, lại vừa phải chịu hành hạ về tinh thần trước những lời nhẫn tâm không ngừng trút xuống lúc này, mà chắc chắn để lại hậu quả kỳ thị dài lâu.

Hơn ai hết, chúng ta hiểu rằng đại dịch không thể được giải quyết bằng những cách hành xử phi lý trí đó.

From: Luật Khoa

Gắp lửa bỏ tay người

Gắp lửa bỏ tay người

Bởi  AdminTD

Đỗ Ngà

3-6-2021

Ngày 27/5, báo Zing có post phóng sự ngắn có tựa đề “Số ca nhiễm liên quan Hội thánh truyền giáo Phục Hưng sẽ tăng”. Trong phóng sự đó BS. TS Nguyễn Trung Hoàng – giám đốc Trung Tâm Y tế Quận Gò Vấp cho biết “Những người trong gia đình của ông bệnh nhân này ngày bầu cử có đi bầu cử”.

Ngày 3/6 báo Vnexpress có bài viết “Gần 300.000 người TP HCM liên quan ổ dịch hội truyền giáo”, trong bài này người ta thống kê trong nửa tháng qua, cả TP. HCM 275 ca nhưng những ca liên quan đến Hội Truyền Giáo Phục Hưng là 248 ca.

Ngày 28/5, trên báo Vnexpress có bài viết “Thêm hai ca nghi nhiễm, hình thành chuỗi lây mới ở TP HCM” có cho biết Hai vợ chồng trú tại chung cư Sen Xanh, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú bị mắc Covid -19, và hai vợ chồng này “không đi bầu cử”. Và cho đến nay, không thấy báo chí nói gì về những bệnh nhân nào nữa lây từ 2 bệnh nhân này.

Đều là người nhiễm Covid-19 nhưng người đi bầu cử lại làm Covid bùng phát còn người không đi bầu thì không bùng. Đây là những thông tin tôi lấy từ báo chí CS. Với bạn đọc công tâm, hãy xem nguyên nhân nào gây nên tình trạng dịch bùng phát? Phải chỉ đích danh nó là do bầu cử.

Cuộc bầu cử giả hiệu ngày 23/5 vừa qua được ví như là một kho xăng, còn mỗi bệnh nhân nhiễm Covid – 19 là một đốm lửa. Nếu chính quyền CS không lấy đóm lửa đó quẳng vào kho xăng thì làm sao xăng bùng cháy giữ dội như hôm nay? Dù cho chính quyền này đang biến Hội Truyền Giáo Phục Hưng thành bao cát để xã hội trút giận thì bản chất vấn đề vẫn không thay đổi. Sự thật vẫn là do ĐCS đã ép mồi lửa phải châm vào xăng cho ngọn lửa dịch bùng phát chứ không ai khác.

Việc cho báo chí đồng loạt tố Hội Truyền Giáo Phục Hưng là hành động gắp lửa bỏ tay người – một thủ đoạn đáng tởm của cái đảng này. Nó đã làm điều đó từ 76 năm qua và bây giờ vẫn tiếp tục. Người dân Việt Nam đang phải sống dưới sự cai trị của cái đảng khốn nạn như vậy, thật là bất hạnh.

_____

Tham khảo:

https://zingnews.vn/video-so-ca-nhiem-lien-quan-hoi-thanh-truyen-giao-phuc-hung-se-tang-post1220184.html

https://vnexpress.net/them-hai-ca-nghi-nhiem-hinh-thanh-chuoi-lay-moi-o-tp-hcm-4284855.html

https://vnexpress.net/gan-300-000-nguoi-tp-hcm-lien-quan-o-dich-hoi-truyen-giao-4288382.html

Ước mơ sở hữu ô tô giá rẻ ở Việt Nam có hiện thực hay không?

Một chiếc Camry XLE 2.5 2019 có giá lăn bánh tại Mỹ là 28925 USD (670 triệu) nhưng để lăn bánh ở Việt Nam sẽ có những loại thuế và phí sau:

+ Thuế nhập khẩu 70% giá xe là: 1tỷ 140 triệu

+ Tiếp theo là thuế tiêu thụ đặc biệt áp lên dung tích 2500cc là 50% giá xe Camry XLE 2.5 2019 lên: 1tỷ 710 triệu

+ Sau đó là thuế giá trị gia tăng (VAT) là 10% giá xe: 1tỷ 881 triệu

+ Để chiếc xe lăn bánh ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh bạn mất thêm 12% phí trước bạ giá xe ~2tỷ 100 triệu

+ Phí cấp biển số ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là 20 triệu giá xe: 2tỷ 120 triệu

+ Và sau khi trải qua 15 loại thuế và phí giá xe Camry XLE 2.5 2019 là ~2tỷ 200 triệu cho 1 con xe có giá gốc 670 triệu!

Mọi người đã thấy tại sao lại có những loại phí và thuế chồng lên nhau, như vậy ước mơ sở hữu ô tô giá rẻ ở Việt Nam có hiện thực hay không?

May be an image of text

 Truyền- Đơn Người

 Truyền- Đơn Người

Lê Xuân Cảnh

Nhân Memorial Day là ngày nước Mỹ tưởng-niệm các chiến-sĩ đã chết khi phục-vụ cho đất nước Hoa-kỳ, chúng ta không quên tưởng-niệm gần ba trăm ngàn thuyền-nhân Việtnam đã bỏ xác ngoài biển Đông khi phục-vụ cho đất nước Hoa-kỳ.

Sẽ có người đặt câu hỏi:

Thuyền-nhân Việt tử-nạn trên đường vượt-biên thì có dính dáng gì đến việc phục-vụ cho đất nước Hoa-kỳ?

Dưới đây là câu trả lời rất chủ-quan của chúng tôi:

Thuyền-nhân Việt tử-nạn trên đường vượt-biên đã phục-vụ cho quốc-gia lãnh-đạo thế-giới tự-do là Hoa-kỳ trong việc chống lại sự bành-trướng của chủ-nghĩa Cộng-sản trên toàn-cầu.

“Những cái chết tức-tưởi của thuyền-nhân Việt trên đường trốn chạy Cộng-sản là thông-điệp mạnh-mẽ nhất được gửi đi khắp nơi để cho loài người trên trái đất này nhìn thấy Cộng-sản là gì mà anh em cùng một dòng máu, anh em cùng một màu da, anh em cùng một ngôn-ngữ, anh em cùng một quê-hương, anh em cùng một lòng yêu quí sự thống-nhất đất nước và độc-lập xứ sở của dân-tộc mình đã không sống với nhau được, đã phải bỏ nước ra đi bằng mọi giá, chỉ vì người anh em bên kia của mình là người Cộng-sản không giống ai. Ít nhất là trong hơn một thập-niên sau biến-cố 30 tháng Tư năm 1975.”

“Giữa anh em trong một nước với nhau mà còn không sống với nhau được, vậy thì ngụy-thuyết Cộng-sản với chủ-trương sống đại-đồng giữa các quốc-gia là một điều khôi-hài, hoang-tưởng.”

LXC

Truyền-đơn giấy chỉ có tác-dụng nhỏ, rất hạn-chế trong khu-vực được rải xuống hoặc được chuyền tay nhau, rất giới-hạn.

Truyền-đơn người, với qui- mô rộng lớn hơn, nhất là với sự tiếp tay rất tích-cực của những hãng truyền-thông lớn trên thế-giới ra rả quảng-bá liên-tục cả thập-niên từ 1975, đã lan rộng và gây ảnh-hưởng rất lớn, nếu không nói là lớn nhất trong công việc chống Cộng-sản toàn-cầu.

Hình-ảnh những chiếc ghe đánh cá nhỏ bé như chiếc lá chòng-chành chất chồng cả trăm người nhét chật hơn cá hộp chịu đựng bão tố khắc-nghiệt trên đại-dương mênh mông, tin-tức về những người vượt-biên được kể lại qua các cuộc phỏng-vấn thuyền-nhân người Việt còn sống sót của Cao-ủy Tị-nạn Liên-hiệp-quốc nói về việc người gần chết rình chia nhau ăn thịt người sắp chết, về việc hải-tặc cướp bóc hãm-hiếp thuyền-nhân, rõ ràng là những truyền-đơn người này có tác-dụng mạnh mẽ cho thấy Việt-nam là một bằng-chứng hùng-hồn nhất về sự thất-bại về lâu về dài của chủ-thuyết Cộng-sản, dù cho họ có chiến-thắng về mặt quân-sự.

Những cái chết của gần ba trăm ngàn người Việt liều mạng trốn chạy Cộng-sản kia đã ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, thập-niên qua thập-niên, gây nhức nhối con tim loài người, đánh động lương-tri nhân-loại, trong số đó có lương-tri của một người Cộng-sản thức-thời, Tổng-bí-thư Mikhail Gorbachev của Nga, người đã bắt tay Tổng-thống Ronald Reagan của Mỹ, và cả hai phối-hợp nhịp nhàng với Pope John Paul ll của Vatican đã cùng nhau dựt sập bức tường ô-nhục Berlin và dẫn đến sự sụp-đổ hoàn-toàn của toàn-bộ khối Cộng-sản Đông-âu.

Gần ba trăm ngàn xác chết của thuyền-nhân Việt bị tử-nạn trên đường trốn chạy Cộng-sản này là những TRUYỀN-ĐƠN NGƯỜI đã cảnh-tỉnh và giúp những người còn mơ ngủ hiểu rõ Cộng-sản là gì, từ đó giúp chống lại chủ-nghĩa Cộng-sản một cách hữu-hiệu nhất.

TỰ-PHÁT HAY DO TÍNH TOÁN?

Hơn một triệu rưỡi người Việt vượt-biên trong đó gần ba trăm ngàn thuyền-nhân đã chết tức tưởi ngoài biển Đông vào thập-niên 80 đã là những truyền-đơn người sống động nhất vạch rõ cái xấu xa của Cộng-sản cần phải tránh xa và cái tốt đẹp của thế-giới tự-do cần phải tìm đến bằng mọi giá, ngay cả việc có thể phải đổi cả mạng sống của mình.

Câu hỏi được đặt ra:

Đây là loại truyền-đơn người tự-phát, hay đây là sản-phẩm của người Mỹ trong cuộc chiến-tranh ý-thức-hệ?

Nhiều người cho rằng chính người Mỹ khi rút quân ra khỏi chiến-trường VN, tạm-thời chấp-nhận thua cuộc về mặt quân-sự đã âm-mưu cài dùng người Việt chống Cộng-sản ở lại để dấy động một phong-trào vượt-biên, chịu khổ sở chết chóc trên biển Đông để thế-giới tự-do có phương-tiện tuyên-truyền chống Cộng-sản.

Hãy nghe vị đại-sứ Mỹ cuối cùng tại VN trước biến-cố 30 tháng Tư, 1975, Graham Martin nói trong “Tears Before The Rain”, một tập sử-liệu về sự sụp đổ của miền Nam Vietnam được thu-thập qua những cuộc phỏng-vấn các nhân-vật có liên-hệ đến cuộc chiến thực-hiện bởi Larry Engelmann, một giáo-sư sử-học tại San Jose State University, California. Sách được dịch bởi Nguyễn Bá Trạc và xuất-bản năm 1990 (cùng năm với sự qua đời của Graham Martin.)

“Tại vì bấy giờ ở đấy có một việc không một ai biết ngoại-trừ tôi và Wolf Lehmann, phụ-tá của tôi.

Việc ấy là chuyện đi lại của Brezhnev và Kissinger với Hà Nội. Và theo Leonid Brezhnev, Hà Nội đã đồng-ý ấn-định thời-hạn cho chúng tôi rút: Hạn chót là ngày 3 tháng 5. Đó là một thỏa-thuận.”

Vậy thì vì sao vị đại-sứ này đã rời Saigon vào sáng sớm ngày 30 tháng Tư, theo lệnh của Tổng-thống Mỹ lúc bấy giờ là Gerald Ford, bỏ lại gần 400 quân cán chính người Việt và Nam-hàn đã ở bên trong tòa đại-sứ cả ngày hôm trước mà mạng sống sẽ bị đe dọa một khi Cộng quân vào đến Saigon ?

Ngay cả việc thế-giới tự-do lơ là trong việc cứu vớt người vượt-biên ngoài biển cả khi các tàu buôn lớn bỏ chạy luôn không cứu vớt thuyền-nhân, ngay cả việc thế-giới tự-do làm ngơ để cho hải-tặc Thái-lan hoành-hành tại vịnh Thái-lan, tất cả những lơ-là đó không phải là không có mục-đích.

Rõ ràng càng gây hiểm nguy cực-kỳ cho thuyền-nhân trong việc vượt biển bao nhiêu, người Mỹ càng cho cả thế-giới nhìn thấy rõ hơn bấy nhiêu là Cộng-sản là con quái-vật gì mà dân cùng một nước không thể sống chung được, phải trốn chạy, dù biết nguy-hiểm đến chết người vẫn cứ bỏ đi.

Thái-lan là đệ-tử ruột của Mỹ, nếu Mỹ muốn bóp mũi bọn hải-tặc mà đa-số là lính biên-phòng và dân đánh cá Thái, chỉ cần một cú phone từ đàn anh Mỹ.

Nhưng dẹp bỏ hải-tặc để làm gì trong khi duy-trì nó có lợi cho việc tuyên-truyền chống Cộng-sản hơn.

Phải chăng Boat People cũng là Best Propaganda ? BP.

Hơn một thập-niên sau đó người Mỹ đã gặt hái được một thắng-lợi chính-trị vĩ-đại khi chủ-nghĩa Cộng-sản bị khai-tử tại liên-bang Sô-viết và các nước chư-hầu Đông-âu.

Không tốn một viên đạn!

Không tốn một giọt máu.

Chỉ có sự hy-sinh của gần ba trăm ngàn người Việt chúng ta trên biển Đông.

Và gần sáu chục ngàn lính Mỹ chết trước đó trong cuộc chiến với Bắc-việt tại Việt Nam mà chúng ta tưởng-niệm hôm nay.

Thuyết âm-mưu này có thật hay không?

Hay chỉ là một sự diễn-biến trùng-hợp tự-nhiên.

Xin quí anh chị vui lòng bỏ vài phút cùng chúng tôi, một truyền-đơn người may mắn không bỏ mạng trên con đường trốn chạy Cộng-sản, cùng ngược dòng lịch-sử trở lại Saigon ngày 29 tháng Tư năm 1975.

MỘT ÂM-MƯU CỦA MỸ?

HAY CHỈ LÀ MỘT CUỘC DI-TẢN TỒI?

Sáu giờ ba mươi sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi

vào được bên trong sân sau của toà đại-sứ Mỹ tại Saigon.

Dân chúng muốn di-tản đã phá cổng ùa vào khi toàn-bộ lính Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ có nhiệm-vụ bảo-vệ tòa đại-sứ đã rút hết vào bên trong toà nhà chính kiên-cố, chuẩn-bị chờ trực-thăng đưa ra hạm-đội Mỹ đang neo ngoài khơi biển Vũng Tàu.

Tôi đứng lạc-lõng cạnh hồ bơi, nước mắt ràn rụa.

Nhìn những hộp giấy đựng thức ăn dở, muỗng nĩa nhựa chai lon vứt bừa bãi tung toé trên hồ bơi, tôi biết chúng là một trong những thành-phần đang sống trong thành-phố Saigon không muốn di-tản. Chúng sẽ ở lại với Cộng-sản và những người bị kẹt lại như chúng tôi.

Khi cánh cửa bên hông tòa đại-sứ mở ra, hàng trăm người, đàn ông thì complet cà-vạt đàng-hoàng tay xách samsonite, đàn bà thì váy đầm váy điết đẹp đẽ nách mang ví bóp hợp thời-trang, ngay cả con nít quần áo cũng rất chỉnh-tề, úa ra sân và lục-tục bỏ ra cổng trước phía đường Thống Nhất, hốt-hoảng lo kiếm đường về nhà hoặc vội-vã chạy ra bến Bạch Đằng kiếm đường thoát thân bằng cách leo lên những tàu buôn dân-sự đang neo tại đó. Một số đã đi được vào giờ phút chót bằng con đường này.

Không ai buồn nhìn lại toà nhà kiên-cố mình đã sống chết trong đó cả ngày mà không được Mỹ bốc đi.

Họ là những người có tên trong danh-sách cần phải được di-tản vì mạng sống sẽ bị đe dọa nếu ở lại.

Chiếc cổng trước mở toang, chả bù với trước đó vài giờ, quân-cảnh và lính Thuỷ-quân lục-chiến Mỹ súng ống đầy đủ, nhất là lựu đạn thì đeo đầy người đang phải đối-phó với hàng ngàn người Việt bên ngoài cổng đang chen lấn xô đẩy nhau cố trình giấy tờ vào phút chót để được cho vào bên trong toà đại-sứ với hy-vọng được di-tản vào giờ chót bằng trực-thăng ra đệ Thất hạm-đội Mỹ đang neo tại ngoài khơi Vũng Tàu, mất khoảng ba mươi phút bay.

Tôi đã đứng chen lấn với đám đông người ngay trước cổng sắt của toà đại-sứ Mỹ này từ tối hôm trước, chỉ mong tìm cách lọt vào bên trong sân lúc đó đang lốn nhốn đầy ngập người. Tôi không biết có được cho vào không vì trong người chỉ có cái căn-cước có hình và một cái bùa rất tồi là cái business card có tên mình và logo của Vietnamese American Asociation (VAA). Tôi có cơ-hội cộng-tác với Phòng Văn-hoá của hội để phụ-trách một lớp dạy đàn Tây-ban-cầm cổ-điển tại đây.

Trước đó, tại điểm hẹn do VAA thông-báo cho các nhân-viên của hội tập-họp lại để được đón đi di-tản, chúng tôi chờ mãi chả thấy bóng dáng một chiếc trực-thăng nào đỗ xuống.

Có khi nào những chiếc trực-thăng này đã đi đón những người ba Tàu giàu có đã đóng vàng hoặc dollars để được đi? Hay thật ra cũng chẳng có máy bay trực-thăng nào ráo.

Ban giám-đốc của VAA đã ra đi và nhân-viên của VAA tụ-họp lại với nhau tại những địa-điểm tập-trung coi như giả nay đầy những tiếng chửi thề thật.

Chúng tôi chửi Mỹ bằng tiếng mẹ đẻ là tiếng “Đan Mạch” cho nên cả bọn nghe với nhau thật đầy đủ, thấm-thía, không sót một chữ. Toàn là những nhân-viên làm việc tại phòng VĂN-HÓA nên nghe nhau chửi thề rất là thú-vị. Phải nói là VAA đã tuyển chọn lầm người vào làm công việc văn-hóa cho hội.

Các ông họa-sĩ chửi nhiều nhất, nhất là các ông có mang theo những bức tranh quí giá của mình vẽ, tưởng sẽ có dịp được triển-lãm ở Mỹ nay mai !?

WHO CARES?

Suốt đêm 29 rạng 30 đứng bên ngoài hàng rào của toà đại-sứ Mỹ trên đường Thống-nhất nghe tiếng rì rầm của những chuyến trực-thăng đến và đi trên nóc toà đại-sứ Mỹ lúc bấy giờ đang rực sáng do lửa cháy mà theo Wikipedia (Operation Frequent Wind) là do nhân-viên toà đại-sứ vừa đốt hủy tài-liệu mật và năm triệu dollars Mỹ vừa để hướng-dẫn trực-thăng thấy đường đáp xuống. Tài-liệu mật bị đốt thì có lý. Năm triệu dollars thì chắc bị đốt trên báo-cáo cho đúng nguyên-tắc. Cũng theo tài-liệu này thì cứ cách 10 phút lại có một chiếc trực-thăng đáp xuống để bốc người đi.

Bắc-việt đã thỏa-thuận không can-thiệp vào việc di-tản cho đến ngày 3 tháng Năm, chỉ mong sao Mỹ và chúng ta rút nhanh để họ sớm vào Saigonmột cách êm-ái. Cuộc pháo-kích vào phi-trường Tân Sơn Nhất ngày 28 và 29 có lẽ đã không xảy ra nếu trước đó không có việc ba chiếc phản-lực-cơ nặng ký F-5 bay qua Thái-lan, trái với thỏa-ước là Mỹ phải để lại toàn-bộ các máy bay chiến-đấu cho VC.

Đến 7:35 sáng thì việc di-tản tại toà đại-sứ Mỹ chấm dứt. Một TQLC Mỹ từ trên nóc nhà toà đại-sứ vứt một quả lựu đạn cay xuống hồ bơi và chiếc trực-thăng cuối cùng rời nóc toà đại-sứ, bỏ lại bên dưới hàng trăm người đã ở bên trong toà đại-sứ suốt cả ngày hôm qua.

Chắc chắn những người này sẽ là những người tiền-phong dấy động việc tìm đường vượt-biên, và không biết ai trong bọn họ sẽ là truyền-đơn người còn sống sót sau cuộc vượt biển.

THÂN-PHẬN CỦA CON DÂN MỘT NƯỚC NHƯỢC-TIỂU.

Bây giờ nhìn lại, sau gần nửa thế-kỷ, ngoài gần ba trăm ngàn đồng-bào của chúng ta đã phải bỏ mình trên đường vượt-biên, phần còn lại trong chúng ta đã may mắn đến được bến bờ tự-do, không còn là công-dân của một nước nhược-tiểu mà số-phận luôn bị định-đoạt bởi các cường-quốc trên thế-giới nữa.

Dù là một âm-mưu chính-trị tinh-vi có tính-toán của người Mỹ dùng thuyền-nhân Việt làm truyền-đơn sống chống Cộng-sản, dùng Boat People như một Best Propaganda để tuyên-truyền ngăn cản sự bành-trướng của chủ-nghĩa Cộng-sản; hay chỉ là một cuộc di-tản quân-sự tồi dẫn đến một phong-trào vượt biên trốn chạy Cộng-sản

thi đối với người Việt tị-nạn chúng ta, rõ ràng đây là một sự-kiện lịch-sử có tính Tiền Hung Hậu Kiết.

Trong cái rủi có cái may.

Không có cuộc đổi đời này, làm sao ngày nay chúng ta thấy được có những người cha người mẹ trước đây vốn gốc nông-dân hay làm nghề chài lưới ở VN, nay hành-nghề cắt cỏ hay làm Nail tại Mỹ nuôi dạy con thành bác-sĩ, kỹ-sư, dược-sĩ, chuyên-viên giỏi không thua kém bất-kỳ sắc dân nào trên thế-giới.

KẾT.

Việc bỏ nước ra đi, chấp-nhận cái chết, chấp-nhận bị cướp bóc hãm hiếp đã nói lên cho cả thế-giới, ngay cả thế-giới Cộng-sản, thấy là Cộng-sản là cái gì mà cùng một màu da cùng một dòng máu mà con người ta vẫn không sống với người anh em của mình được.

Tác-dụng của những cái chết ngoài biển Đông của hàng trăm ngàn người Việt hy-sinh ngoài biển cả phải chăng là tác-dụng tuyên-truyền mạnh nhất, hữu-hiệu nhất cho công việc chống Cộng trên toàn thế-giới.

Và chúng ta không là truyền-đơn người là gì?

Nay chúng ta là Mỹ GIẤY, là Úc GIẤY, là Pháp GIẤY, là Bỉ GIẤY, là Đức GIẤY, là Ý GIẤY, là Hoà-lan GIẤY, là Anh GIẤY, là Canada GIẤY, là vv….và ….vv….

Nhưng chúng ta là những truyền-đơn NGƯỜI THẬT hãy còn sống, không vô-tri vô-giác như giấy.

Chúng ta luôn nhớ đến gần ba trăm ngàn đồng-bào của chúng ta, những truyền-đơn NGƯỜI đã vĩnh-viễn ra đi, những chiến-sĩ chống Cộng hữu-hiệu nhất trên hành-tinh này là những người xứng-đáng cho chúng ta tưởng nhớ, không những trong ngày lễ Memorial Day, mà còn trong những ngày nào chúng ta còn sống.

Truyền-đơn người sống còn đây,

Khóc truyền-đơn người chết thây không mồ,

Biển khơi sóng biếc nhấp nhô,

Hồn người năm cũ bây giờ nơi đâu ?

Lê Xuân Cảnh.

(Memorial Day, 05/31/2021)

May be an image of flower, nature and sky