Cựu tù nhân chính trị Huỳnh Anh Trí qua đời: Tố cáo chế độ lao tù ác nhân!

Cựu tù nhân chính trị Huỳnh Anh Trí qua đời: Tố cáo chế độ lao tù ác nhân!

clip_image002

Hội Cựu tù nhân lương tâm viếng đám tang anh Huỳnh Anh Trí

PV. CTNLT | 7/7/2014

Những bộ phim tài liệu về chiến tranh Việt Nam mà nhà trường chiếu cho học sinh dưới mái trường xhcn thường ca ngợi chế độ lao tù của VN là nhân đạo. Những “tên” lính Mỹ cao lều khều được cho ăn gà tây vào lễ tạ ơn, và nhiều hành động khác như cho buồng giam rộng rãi, giường, chiếu, nệm êm… khiến cho biết bao nhiêu người thầm cảm phục cộng sản Việt Nam!

Cũng vậy, những thước phim về Người đương thời (một talk show của Việt Nam) mô tả người công an – cán bộ quản giáo những năm gần đây như người thân trong gia đình với tù nhân. Tù nhân vào nhà tù được lao động, được xem sách vở, tivi giải trí… và được cải tạo để trở thành những con người tốt. Nhưng thực tế thì sao?

Chế độ lao tù trên thực tế

Mỗi dịp đặc xá sau những ngày lễ lớn của Việt Nam, biết bao nhiêu nghìn phạm nhân ra tù, và sau đó có bao nhiêu % phải trở lại nhà giam? Chỉ biết rằng người dân hoang mang nhắc nhở nhau phải giữ gì xe cộ, tư trang cẩn thận. Chế độ nhà tù, trại cải tạo không làm cho những người phạm tội trở nên tốt hơn, ngược lại nó giúp cho những “đàn anh” có thêm số má sau những lần vào tù ra trại!

Huỳnh Anh Trí, một tù nhân chính trị có án tù 14 năm vì tội “khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”. Anh ra tù vào cuối năm 2013, nhưng chỉ không đầy 6 tháng sau anh đã trút hơi thở cuối cùng vì căn bệnh HIV-AIDS. Những tiết lộ của anh trong những ngày cuối đời cùng với những cựu tù nhân lương tâm khác như BS. Nguyễn Đan Quế, Trương Minh Đức, Huỳnh Anh Tú… trong phóng sự của Truyền thông Chúa Cứu Thế làm cho rất nhiều người xót xa, phẫn nộ.

Trong y học, giai đoạn từ sơ nhiễm đến chuyển qua AIDS kéo dài từ 10-12 năm, vậy rõ ràng anh Trí đã mắc HIV từ khi còn trong nhà tù cộng sản. Một tin chấn động tới lương tâm nhân loại, lột bỏ bộ mặt nạ giả hiệu mà nhà cầm quyền Việt Nam đang cố đeo lên mình khi là thành viên của Hội đồng nhân quyền LHQ.

Mai này khi Việt Nam tươi đẹp hơn và có dân chủ, điều đầu tiên phải là phải vinh danh những người như Huỳnh Anh Trí đã chiến đấu vì nhân quyền đến hơi thở cuối cùng. Thứ hai phải điều tra những kẻ đã gây ra cái chết cho anh cũng như thầy giáo Đinh Đăng Định cùng những người tù khác.

Tang lễ

Linh cửu của cựu tù nhân chính trị Huỳnh Anh Trí được quàn tại nhà nguyện Đức Mẹ Thăm Viếng – đường Hoàng Sa (quận 3, Sài Gòn). Hội cựu tù nhân lương tâm, đại diện là chị Dương Thị Tân, anh Trương Minh Đức, anh Phạm Bá Hải đã đến phúng viếng số tiền 2 triệu đồng.

Trong tâm tình đó, rất nhiều bạn bè, những người đã tranh đấu cũng đã đến viếng linh cữu anh Trí để chia buồn cùng gia đình, cũng như muốn nói cho nhiều người biết rằng: người tranh đấu không thể cô đơn!

clip_image004

Hội CTNLT thắp nhang trước linh cữu anh Huỳnh Anh Trí

Nguồn: fvpoc.org

MỘT KIỂU PHẢN ỨNG THỦ THỈ

MỘT KIỂU PHẢN ỨNG THỦ THỈ

Nguyễn Văn Tuấn

Sáu ngư dân đã bị Tàu cộng bắt dưới họng súng, và lôi về Tàu. Không ai biết họ đang bị giam ở đâu và tính mạng ra sao. Đã BỐN ngày trôi qua. Phía VN phản ứng ra sao? Nói chung là phản ứng như thủ thỉ. Nhưng qua những cái gọi là phản ứng này chúng tôi mới thấy tình cảnh của ngư dân là giống như “đem con bỏ chợ”. Đây là vài cái tít tiêu biểu:

Thoạt đầu là xác định vị trí bị bắt:

• “Cục Kiểm ngư xác minh địa điểm TQ bắt 6 ngư dân Việt”

• “Đề nghị Trung Quốc cung cấp vị trí tọa độ, lý do bắt 6 ngư dân và tàu cá Việt Nam”

Rồi xem ra chẳng ăn thua gì, tiếp đến là:

• “Trung Quốc phải giải thích việc bắt sáu ngư dân Việt Nam”

• “Yêu cầu Trung Quốc làm rõ tọa độ nơi bắt 6 ngư dân”

Nhưng vui nhất là:

• “Phóng viên nước ngoài lo lắng ngư dân Việt bị Trung Quốc tấn công”

Nhờ kẻ cướp xác định tọa độ? Đúng là một yêu cầu chỉ làm cho kẻ cướp cười xòa. Thế lực lượng hải quân và kiểm ngư ở đâu mà không theo dõi được tàu đánh cá? Tôi hiểu một cách bình thường nếu khuyến khích (hay xúi dục) ngư dân ra đánh cá thì phải có cái gì hỗ trợ người ta chứ, ít nhất là hệ thống thông tin hay định vị để liên lạc với tổng đài. Nhưng đến khi sự việc xảy ra, chúng ta mới biết ngư dân chẳng được hỗ trợ gì!

Rồi lại yêu cầu kẻ cướp giải thích tại sao bắt?! Tại sao không yêu cầu giải thích tại sao chúng húc vào tàu kiểm ngư và ngư thuyền của VN? Có lẽ trong khi lúng túng, các quan chức đưa ra hết cái adhoc hay đến cái adhoc nọ. Điều này chứng tỏ họ không có lên kế hoạch đối phó trong tình huống xấu nhất xảy ra cho ngư dân.

Đọc cái tít kí giả nước ngoài lo lắng cho ngư dân VN tôi chỉ biết xấu hổ. Người ta chẳng có bà con họ hàng gì với mình mà người ta còn quan tâm đến tính mạng của ngư dân mình. Còn phía VN đã ba ngày qua chưa chứng minh bằng hành động mối quan tâm như người nước ngoài chưa?

Bộ Ngoại giao vẫn im lặng. Các lãnh đạo vẫn im lặng. Bây giờ mà có ai nói gì hay làm gì thì cũng chẳng ai thèm nghe và tin, vì nếu thật lòng thì nên làm ngay lúc dân mình bị nạn, còn làm sau khi bị áp lực nào đó thì chưa chắc là hành động thành thật. Ấy vậy mà ngư dân cứ được khuyến khích bám biển!

Có một yêu cầu đơn giản mà họ không dám nói ra: thả ngư dân VN vô điều kiện.

——

Ghi thêm: sau viết xong cái entry này tôi mới đọc được tin có cái hội gọi là “Hội nghề cá” ra yêu cầu thả ngư dân. Cái hội này lâu lâu xuất hiện ra yêu cầu này yêu sách nọ, nhưng tôi nghĩ hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì và cũng chẳng ai nghe. Vấn đề là giữa hai quốc gia, và Bộ Ngoại giao hay bộ nào đó liên quan phải có trách nhiệm ra tuyên bố, chứ cái hội vô danh đó thì chỉ làm trò hề cho Tàu. (Thú thật, chỉ đọc qua tên là thấy khó chịu. Tại sao không là hội ngư nghiệp như trước 1975 người ta vẫn gọi; tại sao phải sửa lại thành hội “nghề cá”?).

N.V.T.

Nguồn: https://www.facebook.com/drtuannguyen

Tàu chiến Trung Quốc lại tấn công tàu cá Việt Nam

Tàu chiến Trung Quốc lại tấn công tàu cá Việt Nam

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-07-06

RFA

 

Chiều 5/7, tàu cá QNg 96185 TS đã trở về với đầy thương tích do bị tàu Trung Quốc tấn công

Chiều 5/7, tàu cá QNg 96185 TS đã trở về với đầy thương tích do bị tàu Trung Quốc tấn công

Nguồn VTC.vn

Tàu cá QNg 96185 TS của ngư dân Đảo Lý Sơn vừa cập bến chiều hôm qua sau khi bị tàu chiến của Trung Quốc đâm và bỏ chạy hôm ngày 3 tháng 7, khi tàu này đang đánh bắt cá tại khu vực ngư trường truyền thống quần đảo Hoàng Sa.

Vào chiều ngày 6 tháng 7, thuyền trưởng Mai Văn Cường của chiếc QNg 96185 TS, cho Đài Á Châu Tự do biết về tình hình tàu bị phía Trung Quốc đâm như sau:

Phía Trung Quốc đâm tàu lủng hai lỗ và làm bể gương tàu hôm ngày 3 tháng 7 tại vùng biển Hoàng Sa, tọa độ 16.8 (vĩ bắc) và 112,3 (kinh đông).  Tàu Trung Quốc là tàu 1312, giống như là tàu chiến. Khi gặp nó bảo em dừng tàu lại nhưng em không dừng nên nó rượt miết. Tàu đó áp sát tàu em và tông. Vì không qua tàu em được nên nó bỏ đi.

Theo anh Mai Văn Cường, thì trên chiếc tàu 1213 của Trung Quốc thấy có súng. Khi rượt đuổi thì phía bên tàu Trung Quốc dùng cây chỉa dài cả mấy thước phóng sang trúng cabin nên kính của cabin tàu QNg 96185 TS bị vỡ.

Trên tàu do anh Mai Văn Cường làm thuyền trưởng còn có 12 ngư dân khác cùng là người sinh sống tại thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. May mắn tất cả mọi người trên tàu đều không bị thương tích gì. Tuy nhiên thiệt hại do tàu bị đâm ước tính khoảng 100 triệu chưa kể phí tổn chi cho chuyến đi phải rút ngắn như thế.

Cũng vào ngày 3 tháng 7 vừa qua, chiếc tàu cá QNg 94912 TS cùng sáu ngư dân trên đó bị hải quân Trung Quốc vây bắt khi đang đánh bắt tại Vịnh Bắc Bộ.

Tàu này của ông Võ Đạt, ngụ tại thôn Thạnh Đức, xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Những ngư dân cùng đánh bắt tại Vịnh Bắc Bộ chứng kiến sự việc và dùng máy Icom gọi về cho ông Võ Đạt và ông này báo với cơ quan chức năng việc tàu của ông bị hải quân Trung Quốc bắt đưa về nước họ.

Hôm nay, ông Lương Thanh Quảng, trợ lý Cục trưởng, Trưởng phòng Bảo vệ Công dân và Pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài, Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao Việt Nam cho tờ Thanh Niên biết cơ quan này đã gặp Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội yêu cầu thông báo chính thức tọa độ và lý do bắt tàu QNg 94912 TS cúng 6 ngư dân Quảng Ngãi như vừa nêu.

Điều trần về nhân quyền Việt Nam và Đông Nam Á tại Hạ viện Mỹ

Điều trần về nhân quyền Việt Nam và Đông Nam Á tại Hạ viện Mỹ

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ, dân biểu Ed Royce.

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ, dân biểu Ed Royce.

Trà Mi-VOA

07.07.2014

Ủy ban Đối Ngoại Hạ Viện Mỹ tổ chức buổi điều trần về tình hình nhân quyền Việt Nam và khu vực Đông Nam Á vào sáng thứ tư tuần này (9/7) tại trụ sở Quốc hội.

Chủ Tịch Ủy ban, người triệu tập buổi điều trần, nói quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và tự do hội họp là các quyền quý giá trên toàn cầu nhưng tiếc thay nhiều nước ở Đông Nam Á khước từ các quyền này của công dân và đàn áp mạnh tay những ai thể hiện bất mãn với chính quyền dù bằng bất kỳ hình thức nào.

Một trong những dẫn dụ được dân biểu Ed Royce đưa ra là tại Việt Nam, những người lên tiếng phản đối chính phủ độc đảng do cộng sản cầm quyền thường bị tù đày hay đánh đập.

Tác giả Dự luật Chế tài Nhân quyền Việt Nam cho biết mục đích của buổi điều trần nhằm xem xét các vi phạm nhân quyền hết sức phổ biến tại khu vực và tìm kiếm các phương thức Hoa Kỳ có thể làm tốt hơn giúp mang lại sự thay đổi tích cực.

Các nhân chứng tham gia điều trần gồm cựu Trợ Lý Ngoại Trưởng Mỹ đặc trách Dân Chủ-Nhân Quyền-Lao Động Lorne Craner; cựu dân biểu Hoa Kỳ Tom Andrew; Ủy Viên Quận Cam Janet Nguyễn; và Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc Ủy ban Cứu người Vượt biển BPSOS.

Buổi điều trần diễn ra trong bối cảnh các kế hoạch vận động nhân quyền cho Việt Nam đang ráo riết được các hội đoàn của người Việt ở Mỹ thực hiện.
Mới hôm qua, đông đảo người Việt từ khắp nơi tề tựu về thủ đô Washington tham dự ngày vận động “Hát Cho Biển Đông & Quyền Con Người” với một buổi ca nhạc ngoài trời, các cuộc biểu tình trước cả tòa đại sứ Việt Nam lẫn Trung Quốc, và tuần hành qua Tòa Bạch Ốc để kêu gọi bảo vệ nhân quyền-chủ quyền Việt Nam trước hiểm họa xâm lược của Trung Quốc.

Một chiến dịch vận động khác cùng kêu gọi cho nhân quyền-chủ quyền Việt Nam sẽ khai diễn vào ngày 16/7 với một cuộc họp khoáng đại tại Quốc Hội Mỹ, các cuộc biểu tình ngay trước Quốc Hội, và các buổi tiếp xúc làm việc giữa cộng đồng người Việt với giới lập pháp-hành pháp Hoa Kỳ.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, thành viên ban tổ chức, cho biết mục tiêu cuộc vận động là kêu gọi Washington khẳng định thái độ đối với hành động bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông và yêu cầu Hà Nội chấp nhận dân chủ hóa như điều kiện tiên quyết để phát triển quan hệ mậu dịch và an ninh với Hoa Kỳ.

Điều trần về nhân quyền Việt Nam và Đông Nam Á tại Hạ viện Mỹ

Về sự kết hợp vận động giữa hai vấn đề nhân quyền và chủ quyền, Tiến sĩ Thắng giải thích:

“Chỉ khi nào người dân thật sự có dân chủ, nắm vận mạng đất nước trong tay thì họ mới sẵn sàng hy sinh và được sự yểm trợ của thế giới tự do. Trước nay c hưa bao giờ chính phủ Hoa Kỳ lại có chính sách liên minh với một quốc gia độc tài cộng sản. Do đó, đây là điều kiện tiên quyết để có được sự yểm trợ mạnh mẽ của Mỹ và thế giới tự do. Lý do thứ hai, chỉ khi nào người dân thật sự làm chủ đất nước thì mới có được những biện pháp dứt khoát đối với Trung Quốc, chẳng hạn như kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, hay mạnh hơn là đóng cửa tòa đại sứ, triệu hồi nhân viên sứ quán Việt Nam hoặc trục suất nhân viên sứ quán Trung Quốc để thể hiện sự bất bình với hành động bành trướng ngang nhiên của Trung Quốc. Hiện nay đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn lệ thuộc vào đảng cộng sản Trung Quốc nên chưa dám làm những điều cần thiết mà một chính quyền phải thực hiện khi đất nước của mình đang bị xâm lấn.”

Tiến sĩ Thắng cho biết hiện có 1 nghị quyết ở Thượng viện và 2 dự thảo luật ở Hạ viện về vấn đề Biển Đông cùng 2 dự thảo luật về nhân quyền Việt Nam ở cả Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ, và thúc đẩy thông qua các văn kiện này nằm trong số các mục tiêu của những nỗ lực vận động hiện nay.

Đám tang tù chính trị qua đời vì Aids

Đám tang tù chính trị qua đời vì Aids

Thứ hai, 7 tháng 7, 2014

Ông Huỳnh Anh Trí sau khi ra tù và biết mình bị nhiễm HIV

Đám tang ông Huỳnh Anh Trí, tù nhân chính trị từng bị giam 14 năm vừa qua đời vì bệnh Aids, được tổ chức tại TP HCM.

Ông Trí qua đời vào trưa hôm thứ Bảy ngày 5/7.

Hiện đang có cáo buộc ông Trí bị nhiễm HIV khi đang thụ án trong tù và đây là một ‘hành động cố ý’ đối với ông. Tuy nhiên, BBC không có điều kiện kiểm chứng cáo buộc này.

Ông bị chính quyền bắt vào năm 1999 cùng với người anh ruột với cáo buộc ‘Khủng bố chống chính quyền nhân dân’. Ông ra tù vào cuối năm 2013.

Kết quả xét nghiệm sau khi ra tù cho thấy ông đã bị nhiễm HIV.

Ông Trí qua đời khi mới 42 tuổi.

Cố tình gây nhiễm?

Trao đổi với BBC, linh mục Lê Ngọc Thanh, người đã gần gũi bên cạnh ông Trí vào những lúc cuối đời của ông, nói rằng ông Trí nghi ngờ mình đã bị nhà tù ‘cố tình làm cho nhiễm HIV’.

Linh mục Thanh cho biết ông Trí có đề cập đến ‘hai bằng chứng’ để chứng minh cho nghi ngờ này là “các tù nhân chính trị đều dùng chung một lưỡi lam để cạo râu cắt tóc” và “cùm chân cùng chiếc với những tù nhân bị chảy máu khi bị cùm”.

“Theo anh Trí thì không có sự chăm sóc y tế đặc biệt nào đối với những tù nhân bị nhiễm HIV’.

“Họ không bao giờ được tạo cơ hội để xét nghiệm.”

Ông Thanh cho biết trong những ngày cuối đời ông Trí ‘bình an, không sợ chết’.

“Điều anh Trí lo lắng nhất là làm sao cho những người bạn tù của mình, nhất là tù chính trị, tù tôn giáo, không bị vô tình hay cố ý làm lây nhiễm HIV,” ông nói.

Theo ông Thanh thì ông Trí ‘không hối tiếc việc mình đã làm’.

 

Ánh sáng xuyên màn đêm

Ánh sáng xuyên màn đêm

Chuacuuthe.com

tri0

VRNs (06.07.2014) – Sài Gòn – “Con thì đã xong rồi, nhưng còn các anh em trong tù thì sao?” Đó là câu hỏi của Huỳnh Anh Trí đặt ra với chúng tôi sau khi anh biết mình đã bị nhiễm HIV. Cái ngày mà tôi không thể quên : 28.05.2014.

Huỳnh Anh Trí sinh năm 1971 tại Sài Gòn. Đầu thập niên 90, anh Trí theo gia đình di cư sang Thái Lan. Năm 1999, anh tham gia vào tổ chức Việt Nam Tự Do tại Bangkok, một tổ chức có đường lối đấu tranh chống lại sự độc tài của đảng cộng sản Việt Nam.

Tháng 12.1999, Huỳnh Anh Trí bị bắt cùng với người anh ruột là Huỳnh Anh Tú (sinh năm 1968) tại Sài Gòn. Anh Trí và người anh cùng bị kết án 14 năm tù giam với tội danh “khủng bố” theo điều 79 của Bộ Luật Hình Sự .

Năm 2001, Huỳnh Anh Trí bị chuyển đến giam tại nhà tù Xuân Lộc (tỉnh Đồng Nai). Trong thời gian bị giam giữ tại đây, anh Trí đã đấu tranh với các quản giáo và giám thị trại giam để phản đối tình trạng giam giữ vô nhân đạo đối với tù nhân, đặc biệt là các tù nhân chính trị.

Năm 2005 và 2006, Huỳnh Anh Trí cùng với các tù nhân chính trị đã gởi đơn đến bộ trưởng bộ Công an lúc đó là ông Lê Hồng Anh, Ban giám thị nhà tù để phản đối quy định chỉ cho sử dụng một dao lam cạo râu, hớt tóc cho rất nhiều rất tù nhân (cả thường phạm và chính trị), điều này dẫn đến lây nhiễm HIV và các bệnh truyền nhiễm khác cho nhiều tù nhân bị giam giữ chung. Nhất là việc sử dụng cùm không sạch, sau khi người nhiễm HIV/AIDS đã cùm bị chảy máu, cho các tù nhân chính trị và Huỳnh Anh Trí đã bị lây nhiễm.

Anh Trí kể, khi bị cùm, người tù rất sợ cùm dơ. Cùm dơ là cùm đã khóa chân người nhiễn HIV/AIDS dính đầy máu, thậm chí có cả da và ít thịt, nhưng không bao giờ được tẩy sạch. Anh Trí nói: “Tôi đã hỏi bác sĩ tuyên truyền về HIV/AIDS của Tổng cục VIII rằng khi cùm dính máu người nhiễm, rồi cùm cho tôi thì tôi có bị nhiễm không? Ông bác sĩ đó trả lời : “ tôi không biết!”

Người tù muốn thoát cùm dơ thì phải biết điều, phải cắt phần tiền trong sổ cantin trại giam, có khi phải tới một triệu, cho người quản cùm thì mới được cùm sạch. Anh Trí bị cùm dơ trong cả một thời gian dài.

Chúng tôi hỏi, tại sao anh muốn kể lại chuyện anh bị nhiễm HIV/AIDS? Anh Trí cho biết là phải tố cáo những độc ác của nhà tù để bảo vệ những tù nhân chính trị. Ông Nguyễn Hữu Cầu cũng có mặt trong buổi nói chuyện đã bổ sung. “Tôi thấy một anh chuẩn bị cùm vào cùm dơ đã quỳ và bái lạy nhiều lần trung úy Giang để khỏi phải bị đưa chân vào đó”.

Kết quả xét nghiệm làm tại một Trung tâm y khoa ở Sài Gòn, ngày 28.05.2014 cho biết “Test HIV (test nhanh), kết quả phát hiện kháng thể HIV, đề nghị làm thêm Elisa HIV”. Kết quả xét nghiệm Elisa tại Viện Pasteur TP.HCM, ngày 29.05.2014, do thạc sĩ Lê Chí Thanh ký cho biết: Tỉ lệ tế bào TCD4 là 5.89%, trong khi bình thường phải là từ 29.5 – 41.9%. Số lượng tế bào TCD4 là 44.00/mm3, trong khi đó ngưỡng phải đạt từ 576 – 1254/mm3. Cơ thể của anh Huỳnh Anh Trí đã có nhiều bệnh cơ hội phát triển ngoài da và lao. Anh đã vào giai đoạn cuối của AIDS.

Một người em kết nghĩa đã đưa anh Trí đi làm các xét nghiệm kể: “Khi có kết quả, bác sĩ nói chuyện riêng với anh Trí. Anh Trí nói mình đã đoán biết và sẵn sàng đón nhận kết quả hôm nay. Bác sĩ ôm chầm lấy anh Trí và khóc. Ông nói họ đã dùng cách này để giết hại bao nhiêu người yêu nước”. Anh Trí kể, “bác sĩ cho tôi tiền và bảo ông sẽ cố gắng hết sức để cứu tôi. Tôi nói không sao đâu bác sĩ. Tôi chỉ lo cho các chiến hữu còn trong tù của tôi, vì khi ở trong tù, tôi đã chứng kiến 14 trường hợp tù chính trị bị nhiễm SIDA và chết”.

Anh Huỳnh Anh Tú, người anh trai cùng tội danh và bản án nói : “Những người tù chính trị chúng tôi phải giữ tư cách, không có chuyện xâm mình như các tù hình sự, nên không thể nói lây bệnh AIDS qua đó được”.

Khi được hỏi những ngày cuối cùng, anh Trí có ước mơ gì không? Cô Võ Thị Ánh Tuyết, sinh năm 1986, người yêu của anh Trí mới sáu tháng qua và cũng là người chăm sóc anh tận tình kể từ khi anh biết mình bị nhiễm AIDS. Cô nói: “Anh Trí muốn hai chúng tôi về quê chung sống, tôi hỏi ảnh, bây giờ mình làm đám cưới nha anh. Ảnh nói để anh khỏe rồi tính, chứ giờ lỡ có gì thì thiệt thòi cho em lắm”.

“Khi hay tin anh Trí bệnh, ba má chị Tuyết định lên thăm, thì anh Trí nói mình trẻ không đi thăm ông bà, để ông bà đi lên là không được. Anh dậy đi về An Giang thăm ba má vợ tương lai’- Người em kết nghĩa của Trí kể.

Ông bà rất muốn con gái mình chăm sóc cho anh Trí, vì xem đây là cái phước cũng như cái nghiệp của con gái mình.

Chúng tôi hỏi, tại sao cô Tuyết là đi yêu một cựu tù nhân? Cô Tuyết lắng lại một lúc lâu rồi nói: “Anh Trí là người rất tình nghĩa”.

Khi nghe anh Trí lâm trọng bệnh, nhiều người đã quen từ lâu, và nhiều người hơn chưa hề quen biết đã hỏi thăm, cầu nguyện và giúp đỡ.

Khoảng hơn 22:00g, ngày 04.07, anh Tú và cô Tuyết thấy tình trạng sức khỏe của anh đã nguy kịch, nên đã đưa anh đến Bệnh viện Nhiệt Đới, nhưng ở đây không tiếp nhận mà chỉ qua bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Những người thân đưa anh đến Phạm Ngọc Thạch thì ở đây không nhận với lý do không có hộ khẩu. Cấp cứu mà cũng cần có hộ khẩu nữa sao? Sau đó anh Trí bị ngất, không biết gì nữa. Các bác sĩ và nhân viên ý tế bệnh viện này đuổi anh và người nhà ra. Nhưng có một bác sĩ đến lay lay làm anh Trí tĩnh lại, nên họ chấp nhận đưa anh vào phòng hồi sức.

13:30g, ngày 05.07.2014, anh Huỳnh Anh Trí từ trần tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch.
Anh đã ra đi, gia đình xin mang xác về để lo an táng. Đến đây thì bệnh viện không cho với lý do không có ai chứng thực được là thân nhân. Tiêu chuẩn phải để xác định thân nhân là có chung hộ khẩu. Lại hộ khẩu! Anh Tú và anh Trí khi ra tù đến nhà người chị là chị Đào xin nhập hộ khẩu thì công an gây khó khăn, suốt từ cuối năm 2013 đến nay vẫn chưa có hộ khẩu thì lấy đâu ra cùng tên trong hộ khẩu để xác nhận thân nhân.

Cách thứ hai là về công an địa phương xác nhận anh Trí là thân nhân chị Đào. Chiều thứ bảy không tìm được công an, mà gia đình cũng cho rằng công an đã tìm cớ không làm hổ khẩu thì họ cũng tìm cớ không xác nhận. Thế là không còn cách nào để xác nhận người ruột thịt với anh Huỳnh Anh Trí để lãnh xác về.

Người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu có mặt ngay sau khi anh Trí mất cho biết, “có mấy người cò mồi cứ đi theo hỏi hoài rằng có muốn lo không, họ sẽ lo từ A tới Z cho”. Theo ông Cầu đây là việc làm có phân công tổ chức, chứ không chỉ là một việc làm kiếm tiền của những người ăn bám vào xác chết. Ông kể, “một người đang nói thì có một bà mặc quần lửng bước tới nói, hôm nay thứ bảy là ngày lẽ, đâu phải của tụi bay đâu mà nói. Tức thì người kia bỏ đi”.

Chúng tôi vào cùng với anh Tú để thuyết phục cô điều dưỡng trưởng tên Hương rằng anh Tú và anh Trí cùng ra tù, và trên giấy quyết định ra tù có ghi rõ tên cha mẹ của hai người giống nhau, nên chắc chắn hai người này là ruột thịt, nên xin ch anh Tú lãnh xác. Cô Hương trả lời, “anh này cũng không có hộ khẩu thì làm sao, chúng tôi phải nắm người có tóc”. Giải thích và thuyết phục khá lâu, nhưng cô điều dưỡng trưởng tên Hương vẫn cứ nói rằng “chúng tôi không thể làm sai nguyên tắc”.

Sau đó chúng tôi yêu cầu gặp trực lãnh đạo của bệnh viện, cô gọi một bác sĩ xuống, có lẽ là bác sĩ phó khoa, ông này cũng xuôi theo cô điều dưỡng. Khi chị Đào mang giấy khai sanh của chị và anh Trí ra, thì ông bác sĩ này mới gọi điện thoại xin ý kiến lãnh đạo, và cuối cùng đã đồng ý cho nhận xác về.

Các linh mục DCCT, các nhân viên truyền thông VRNs, cộng tác viên phòng Công lý Hòa bình, và anh em Con đường Việt Nam cùng vài tù nhân lương tâm có mặt để tẩn liệm cho anh ngay tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch lúc 18:00. Sau đó thi hài anh Trí được đưa về quàn tại nhà nguyện xóm 2 thuộc giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, trên đường Hoàng Sa, gần ngã tư Rành Bùng Binh.

Bóng tối không che được ánh sáng, cũng chẳng làm mờ mắt người có ánh sáng trong con tim và cộng đồng như anh Huỳnh Anh Trí.

Antôn Lê Ngọc Thanh, CSsR

 

Cựu tù nhân lương tâm Huỳnh Anh Trí qua đời do nhiễm HIV trong tù ?

Cựu tù nhân lương tâm Huỳnh Anh Trí qua đời do nhiễm HIV trong tù ?

Trọng Thành

Cựu tù nhân lương tâm Huỳnh Anh Trí, người vừa mãn hạn tù được sáu tháng, sau 14 năm bị giam cầm, vừa qua đời hôm nay, 05/07/2014, ở tuổi 43, tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch ở Sài Gòn. Ít ngày nay, có nhiều thông tin được lưu truyền về các xét nghiệm y tế cho thấy ông Huỳnh Anh Trí có thể đã bị nhiễm HIV trong thời gian ở tù, và trước khi mất, sức khỏe ông suy yếu trầm trọng do bệnh đã chuyển sang giai đoạn AIDS.

Sau sự ra đi của nhà giáo Đinh Đăng Định, ông Huỳnh Anh Trí là cựu tù nhân lương tâm thứ hai từ trần ít lâu sau khi ra tù trong năm 2014. Dư luận đặt nhiều câu hỏi về những nguyên nhân khiến ông Huỳnh Anh Trí bị mắc căn bệnh hiểm nghèo trong tù.

Về cái chết của ông Huỳnh Anh Trí và phản ứng từ phía chính quyền Việt Nam, RFI đặt câu hỏi với ông Nguyễn Bắc Truyển, thành viên Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo, người đã có thời gian cùng sống trong một trại giam với người tù lương tâm vừa qua đời.

Nguyễn Bắc Truyển, thành viên Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo

 

05/07/2014

 

Nghe (07:32)

 

 

 

Phụ thuộc Trung Quốc vì kinh tế bị các nhóm lợi ích chi phối

Phụ thuộc Trung Quốc vì kinh tế bị các nhóm lợi ích chi phối
July 04, 2014

Nguoi-viet.com
HÀ NỘI (NV) – Thảo luận về tự chủ kinh tế, nhiều chuyên gia tin rằng sự phụ thuộc Trung Quốc về kinh tế là do kinh tế Việt Nam bị các “nhóm lợi ích” chi phối.


Dự án xây dựng cảng Vĩnh Tân ở Bình Thuận do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận có rất nhiều tai tiếng. (Hình: Thanh Niên)

Thực tế cho thấy, Việt Nam đã trao gần như toàn bộ các hợp đồng EPC (NV: Engineering, Procurement and Construction contract – hợp đồng tổng thầu, loại hợp đồng mà nhà thầu thực hiện toàn bộ các công việc từ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công, cung ứng vật tư, thiết bị đến thi công và chạy thử rồi mới bàn giao cho chủ đầu tư) cho nhà thầu Trung Quốc: 23/24 dự án xi măng, 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, 5/6 dự án hóa chất, 2/2 dự án chế biến khoảng sản, chưa kể các dự án giao thông, chưa kể ưu tiên cho thuê rừng và đất rừng ở biên giới.

Khi bàn về tự chủ kinh tế, ông Lê Ðăng Doanh, một chuyên gia kinh tế, tiếp tục thắc mắc tại sao lại xảy ra điều đó. Thực tế vừa kể đem lại bao nhiêu lợi ích quốc gia, bao nhiêu lợi ích cho các nhòm, các cá nhân?

Ông Doanh nhấn mạnh, Trung Quốc là “thầy” về mua chuộc, đút lót. Tình trạng kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc phải chăng là do bị các nhóm lợi ích chi phối quá mạnh.

Không chỉ giành được phần lớn các hợp đồng thông qua đấu thầu, các doanh nghiệp Trung Quốc còn đang dốc tiền mua lại các doanh nghiệp khác ở Việt Nam, chẳng hạn mua lại Công Ty CP của Thái Lan để nắm quyền chi phối toàn bộ thị trường thức ăn gia súc, gia cầm ở Việt Nam.

Theo thống kê của Hải Quan CSVN, năm 2012, Việt Nam nhập cảng các loại hàng hóa, nguyên liệu từ Trung Quốc có giá trị 28.8 tỉ Mỹ kim, trong khi Trung Quốc cho biết, năm 2012, lượng hàng hóa, nguyên liệu mà Trung Quốc xuất cảng sang Việt Nam trị giá 34 tỉ Mỹ kim. Chênh lệch giữa thống kê nhập cảng và xuất cảng giữa hai bên là 5,2 tỉ Mỹ kim và ông Doanh nhận xét, khoản chênh lệch lớn bất thường đó phải chăng là qua đường tiểu ngạch.

Ông Nguyễn Văn Thụ, chủ tịch Hiệp Hội Doanh Nghiệp Cơ Khí Việt Nam, lặp lại điều mà nhiều người từng thắc mắc, vì sao nhà thầu Trung Quốc thường xuyên không thực hiện đúng hợp đồng, chất lượng công trình và thiết bị kém, già thành công trình thường xuyên cao hơn giá dự kiến… nhưng hầu hết các dự án vẫn tiếp tục được giao cho các nhà thầu Trung Quốc và chẳng ai ngăn chặn các nhà thầu này đưa từ Trung Quốc sang những loại vật tư, phụ tùng vốn có sẵn tại Việt Nam, cũng như đưa cả lao động phổ thông sang làm việc tại các công trình mà họ là tổng thầu?

Theo ông Thụ, bởi Trung Quốc thắng thầu hầu hết các dự án ở Việt Nam nên nay, khi tổ chức đấu thầu quốc tế chỉ có các nhà thầu Trung Quốc tham gia, nhà thầu của các nước khác không muốn tham gia nữa.

Ông Thụ khẳng định, thực trạng vừa kể là do các chủ đầu tư không có lương tâm.

Ông Thụ cho biết, Hiệp Hội Doanh Nghiệp Cơ Khí Việt Nam đã gửi văn bản cho thủ tướng và chủ tịch nhà nước, đề nghị kiểm tra lại toàn bộ các dự án do Trung Quốc đang thi công dở dang để huy động doanh nghiệp Việt Nam và các nhà thầu ngoại quốc khác hoàn tất những dự án này.

Ông Doanh cho rằng, vì các nhóm lợi ích chi phối các dự án đầu tư nên đã phát sinh nhiều “sơ hở không đáng có” khiến kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc. Ông Doanh đề nghị phải minh bạch và làm rõ trách nhiệm cá nhân.

Hồi hạ tuần tháng trước, sau khi các chuyên gia kinh tế, báo giới liên tục cảnh báo kinh tế Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc. Nếu Trung Quốc gây áp lực bằng cách cắt đứt quan hệ kinh tế – thương mại, kinh tế Việt Nam sẽ suy sụp, thông tấn xã Việt Nam đã thực hiện cuộc phỏng vấn ông ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nhà nước Việt Nam. Trong cuộc phỏng vấn đó, ông Sang tuyên bố, không để kinh tế Việt Nam phụ thuộc Trung Quốc.

Nhân vật là chủ tịch nhà nước Việt Nam cho biết, Việt Nam theo đường lối “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ” để “bảo đảm cùng có lợi và dứt khoát không để phụ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào trong cả kinh tế lẫn chính trị” song nhìn nhận, “một số lĩnh vực thực hiện không đúng chủ trương này, ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế” và thừa nhận nhập siêu từ Trung Quốc “càng ngày càng lớn, liên tục” và trong đó có “các nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất.” (G.Ð)

 

VN lên án TQ tại LHQ

VN lên án TQ tại LHQ

Thứ sáu, 4 tháng 7, 2014

Tàu hai nước tiếp tục va chạm hàng ngày tại vùng biển đặt giàn khoan

Việt Nam đề nghị Liên Hiệp Quốc (LHQ) lưu hành hai văn bản về lập trường của Việt Nam về vụ giàn khoan Hải Dương – 981 và chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa.

Diễn biến mới nhất xảy ra hôm 3/7, khi Đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại LHQ, một lần nữa gửi thư cho Tổng thư ký Ban Ki-moon.

Đại sứ Trung đề nghị lưu hành hai văn bản “như là những tài liệu chính thức của Đại hội đồng LHQ”, theo thông cáo của Bộ Ngoại giao Việt Nam.

Văn bản thứ nhất “bác bỏ toàn bộ, cả trên thực tế cũng như pháp lý” hai văn bản của Trung Quốc gửi cho Tổng thư ký Ban Ki-moon ngày 22/5 và 9/6.

Theo thông cáo của Việt Nam, văn bản gửi LHQ nói Trung Quốc “làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông bằng các hành động vi phạm luật pháp quốc tế”.

“Tình hình căng thẳng hiện nay xuất phát từ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam,” Việt Nam nói.

Việt Nam cáo buộc Trung Quốc đã tấn công cả tàu thực thi pháp luật và tàu của ngư dân.

Hành động của Trung Quốc “không chỉ vi phạm quy định cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong luật pháp quốc tế mà còn là hành động vô nhân đạo đối với những người đi biển”.

Việt Nam cũng nói với LHQ rằng Trung Quốc “khước từ” các “nỗ lực và thiện chí của Việt Nam để giải quyết tình hình căng thẳng”.

Theo phía Việt Nam, từ ngày 2/5, Việt Nam đã “gửi công hàm, giao thiệp trên 30 lần ở nhiều cấp khác nhau” để phản đối Trung Quốc.

Chủ quyền Hoàng Sa

Văn bản thứ hai của Việt Nam nói Việt Nam “hoàn toàn bác bỏ” yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

Việt Nam cho biết trong các trao đổi gần đây, Trung Quốc dẫn ra một số “bằng chứng lịch sử”, nhưng Việt Nam nói chúng “không có nguồn gốc rõ ràng, không chính xác và được Trung Quốc diễn giải một cách tùy tiện”.

“Các ghi chép lịch sử cho thấy Trung Quốc hiểu rằng chủ quyền của họ chưa bao giờ có quần đảo Hoàng Sa,” phía Việt Nam nhấn mạnh.

“Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn không nhắc gì đến chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa”

Văn bản của Việt Nam cũng bác bỏ những tư liệu gần đây được Trung Quốc dẫn ra để nói Việt Nam từng công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa.

Việt Nam nói Trung Quốc “cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi viện dẫn Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài liệu, ấn phẩm được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975”.

“Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn không nhắc gì đến chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa,” văn bản nói.

Việt Nam cũng nhấn mạnh vào tháng 9 năm 1975, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nói với lãnh đạo Việt Nam Lê Duẩn tại Bắc Kinh rằng “với nguyên tắc thông qua Hiệp thương hữu nghị để giải quyết bất đồng, sau này hai nước sẽ bàn bạc giải quyết”.

Việt Nam cho rằng đây là bằng chứng Trung Quốc nhận thức được “vấn đề chủ quyền không được dàn xếp có lợi cho phía Trung Quốc qua các phát biểu hay thỏa thuận trước đây”.

Gần đây các lãnh đạo cao cấp của Việt Nam, từ Tổng Bí thư đến Thủ tướng, đều đề cập khả năng kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế vì vụ giàn khoan.

Nhà đấu tranh Lư Văn Bảy vừa mãn hạn tù

Nhà đấu tranh Lư Văn Bảy vừa mãn hạn tù

Tường An, thông tín viên RFA
2014-07-03

tuongan07032014.mp3

2681287-305.jpg

Ông Lư Văn Bảy tại phiên tòa ngày 22/8/2011 ở Kiên Giang.

Courtesy toaan.gov.vn

Ngày 26 tháng 6 vừa qua, lại có thêm một nhà hoạt động nữa vừa được trả tự do sau 4 năm tù. Đó là ông Lư Văn Bảy, Thông tín viên Tường An gửi những thông tin về nhà hoạt động này như sau:

Chỉ thực hiện quyền tự do ngôn luận

Cùng một ngày ra khỏi tù với nhà hoạt động công đoàn Đỗ Thị Minh Hạnh là một nhà đấu tranh thầm lặng ít được biết đến hơn, đó là ông Lư Văn Bảy. Ông được giảm án 2 lần = 9 tháng và ra tù ngày 26/6 vừa qua.

Sinh năm 1952, quê tại Kiên Giang, ông Lư Văn Bảy nguyên là chuyên viên kỹ thuật không quân trước năm 1975. Sau thời gian tù cải tạo, ông về quê làm ruộng. Tháng 9 năm 1977, ông tham gia “Mặt Trận Liên Tôn” bị bắt vào tháng 12 cùng năm đó, bị kết án 6 năm tù. Mãn hạn tù giam, ông trở về nhà vào tháng 9 năm 1983.

Những tưởng sẽ an bình với cuộc đời làm ruộng, nhưng rồi, bức xúc trước sự xâm lấn ngang ngược của Trung Quốc trên lãnh hải Việt Nam, từ năm 2006 ông đã bắt đầu viết những bài viết dưới những bút hiệu khác nhau như: Chánh Trung, Nguyền Hoàng, Hoàng Trung Việt, Hoàng Trung Chánh… gửi đến các mạng truyền thông nước ngoài, có những bài ông gửi thẳng cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Lê Công Phụng, cho Quân đội Nhân dân Việt Nam hoặc cho ông Nguyễn Cao Kỳ. Ông cho biết lý do thôi thúc ông, từ một người nông dân chỉ quen với ruộng vườn trở thành tác giả của những bài viết với chủ đề nhạy cảm như: dân chủ đa nguyên, chủ quyền lãnh hải…v.v

Tôi viết những bài, trước nhất là để lên án Trung Quốc đồng thời phản đối chính quyền Việt Nam quá mềm yếu đối với Trung Quốc.
-Lư Văn Bảy

“Tình cờ tôi đọc được trong một cuốn sách “Sự thật về chiến tranh biên giới năm 1979” do đó tôi được biết được những cảnh tàn ác của Trung Quốc, do đó lòng yêu nước của tôi, lòng thương dân tộc của tôi trỗi dậy. Tiếp theo đó là tôi coi được đoạn phim về đảo Gạc Ma, nó ngang nhiên chiếm năm 1988 và tôi cũng đã nhìn thấy cảnh 64 chiến sĩ hải quân ở đó, nó dàn hàng ngang nó bắn từng người. Còn trong nước thì hàng hoá của Trung Quốc là chất độc mà biểu tình thì không được, lên tiếng nói Trung Quốc cũng không được. Do tự do ngôn luận của tôi, tôi mới viết những bài, trước nhất là để lên án Trung Quốc đồng thời phản đối chính quyền Việt Nam quá mềm yếu đối với Trung Quốc.”

Tháng 1 năm 2008, ông bị công an tịch thu máy tính với nhiều bài vở. Sau đó ông được thả với lời hứa sẽ không viết nữa. Tuy nhiên, một thời gian sau, bức xúc trước sự xâm lấn của Trung quốc và chính sách mềm yếu của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, ông lại tiếp tục viết dưới bút hiệu khác là Trần Bảo Việt với nội dung kêu gọi một nền Dân chủ đa nguyên, lên án Trung Quốc xâm lược, xin chút tình thương cho Người tù xuyên thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu, người tù Trương Văn Sương… Về nội dung của những bài viết này, ông khẳng định:

“Tôi chỉ viết ra những bài về nền Dân chủ Đa nguyên thôi chứ tôi không chủ trương lật đổ chính quyền, tôi cũng không chủ trương chống đối chính quyền gì hết mà tôi chỉ thực hiện quyền tự do ngôn luận theo điều 69 của tôi là thực hiện một chế độ đa nguyên để đất nước có một sự đoàn kết toàn dân, nhưng mà chuyện thực hiện đa nguyên bây giờ ở Việt Nam lại rơi vào điều 88 là tuyên truyền chống nhà nước.”

Không muốn đất nước bị lệ thuộc

Lu-van-Bay-tranh-cua-hoa-si-Tran-Thuc-Lan-250.jpg

Chân dung tù nhân lương tâm Lư Văn Bảy qua nét vẽ của hoạ sĩ Trần Lân – Paris. Courtesy Hoạ sĩ Trần Lân.

Ngày 26/3/2011 ông lại bị bắt và trong phiên tòa kéo dài nửa ngày tại tỉnh Kiên Giang ngày 22/8/2011, ông bị kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế với tội danh “Truyền truyền chống nhà nước XHCNVN” theo điều 88 bộ luật hình sự Việt Nam. Ông bị Thẩm phán tòa án Kiên Giang buộc tội đã viết trên 10 bài kêu gọi đa nguyên đa đảng đăng trên các mạng truyền thông hải ngoại từ năm 2007 đến 2011. Mặc dù trước áp lực của tòa án, ông Bảy đã nhận việc mình làm là không đúng với luật pháp Việt Nam nhưng ông vẫn tin rằng việc lên tiếng cho một xã hội đa nguyên là phù hợp với điều 69 về Tự do Ngôn luận của pháp luật Việt Nam. Ông bày tỏ:

“Trước phiên tòa tôi cũng nói là tôi không quen biết bất cứ một ai, tôi cũng không tham gia bất cứ một tổ chức nào mà tôi chỉ thực hiện cái quyền tự do, cái quyền của một người công dân của tôi thôi. Trong phiên tòa đó thì họ nói là tôi “Truyền truyền chống nhà nước XHCNVN”, điều 88. Họ nói tôi viết những bài lên án như vậy tức là không đi đúng theo đường lối của nhà nước, nói xấu nhà nước. Trong lúc làm việc với công an điều tra, tôi nói rằng tôi chỉ thực hiện quyền 69, trong đó có quyền tự do ngôn luận, quyền tự do chính trị. Nhưng bây giờ bắt tôi vi phạm điều 88 thì tôi cũng chịu thôi tại vì tôi quá cô đơn, tôi không có ai bênh vực, tôi chỉ bộc phát cá nhân của mình thôi. Nhưng nói đúng ra, họ đối xử với tôi cũng đàng hoàng, có sao tôi nói vậy, tôi là một phật tử. Cái quan trọng của tôi, là một con người, tôi không muốn đất nước của mình phải bị lệ thuộc, nhất là lệ thuộc một bọn bá quyền Trung Quốc.”

Qua những bài viết của ông, người ta nhận thấy ở đó một con người luôn luôn đau đáu trước vận mệnh đất nước, một người yêu nước thầm lặng và chấp nhận trả giá cho lòng yêu nước đó bằng những ngày tù tội. Thân sinh ông chết trước ngày ông ra tù 3 tháng, hậu quả của 4 năm tù là một người vợ bệnh hoạn vì tần tảo nuôi ông trong những năm tháng bị giam cầm. Vẫn không ân hận về những việc đã làm, ông nói:

Trước phiên tòa tôi cũng nói là tôi không quen biết bất cứ một ai, tôi cũng không tham gia bất cứ một tổ chức nào mà tôi chỉ thực hiện cái quyền tự do, cái quyền của một người công dân.
-Lư Văn Bảy

“Hối hận thì tôi không hối hận đâu, nhưng mà bản án quá nặng, tại vì tôi không biết bất cứ một tổ chức nào hết mà tôi cũng không tham gia một tổ chức nào hết, cũng không ai xúi dục tôi hết mà tôi chỉ bộc phát cá nhân của tôi thôi, nhưng mà cái bộc phát cá nhân của tôi mà cái bản án này thì nó quá nặng. Đối với đất nước, đối với tổ quốc, đối với nhân dân thì tội không thẹn với lương tâm của mình. Bản án 4 năm tù, tôi thấy quá nặng đối với tôi, nhưng mà tôi cũng không ân hận vì tôi đã nói lên được tiếng nói của mình mặc dầu tiếng nói của tôi quá bé nhỏ, nó không đủ sức để cảm hoá ai hết, nhưng mà đối với đất nước tôi cũng chỉ làm được thế thôi, biết sao bây giờ !”

Sau 4 năm, tình thế hình như có nhiều thay đổi, đã có những lên tiếng mạnh mẽ hơn từ phía nhà cầm quyền, mặc dù vẫn còn những ngần ngại đâu đó. Những thông tin từ báo chí nhà nước đã cho ông một chút hy vọng:

“Khi tôi ra tù, tôi nói với mấy anh công an như thế này: Trước đây khi Trung Quốc lấn lướt chúng ta mà chính phủ có những hành động như bây giờ thì tôi không ở từ. Và bây giờ tôi hy vọng rằng tất cả những lời nói của ông Nguyễn Tấn Dũng, của chủ tịch nước Trương Tấn Sang và của tất cả những nhà lãnh đạo Việt Nam là đúng sự thật. Tôi rất mong rằng những lời nói của mấy ông này không phải là lời nói suông. Tôi hy vọng rằng những lời nói này sẽ biến thành sự thật, tôi rất mừng. Nhưng nếu những lời nói đó chỉ là những lời nói suông thì nói thật, tôi không biết những gì sẽ xảy ra…”

Khi mà mọi quyền uy chỉ tập trung vào một cá nhân, khi mà một nhóm độc tài lăm le đem quê hương ra làm miếng mồi để thủ lợi. Để được an toàn, người dân chỉ còn biết thể hiện lòng yêu nước trong những giấc mơ. Từ Kiên Giang, người chiến sĩ thầm lặng gửi đến quý thính giả đài Á châu Tự do một niềm ước vọng:

“Tôi xin cám ơn tất cả những người đã quan tâm đến tôi trong thời gian tôi ở tù, và tôi gửi đến tất cả quý khán thính giả của Đài Á Châu Tư Do những lời chúc tốt đẹp và tôi mong rằng đất nước Việt Nam của chúng ta thoát khoải sự xâm lăng của Trung Quốc.”

 

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chính thức ra mắt

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chính thức ra mắt

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ RFA
2014-07-03

giaminh07042014.mp3

hnbdl0703.jpg

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chính thức ra mắt hoạt động vào ngày 4 tháng 7 năm 2014.

Courtesy HNBĐLVN

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam là một tổ chức mới được hình thành và chính thức ra mắt hoạt động vào ngày 4 tháng 7 năm 2014.

Một tiếng nói độc lập

Tiến sĩ Phạm  Chí Dũng, một trong những thành viên sáng lập, có cuộc nói chuyện với Đài Á Châu Tự Do về những thông tin liên quan hội này trong ngày chính thức ra đời. Trước hết ông cho biết:

TS Phạm Chí Dũng: Ngày hôm nay là một ngày vui và theo một số anh em thì đó là ngày lịch sử của Việt Nam vì lần đầu tiên Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam ra đời.

Có thể nói đây là một tiếng nói độc lập với công luận, độc lập với các hội đoàn dân sự. Có một sự thú vị, một sự ngạc nhiên thú vị, như anh Bùi Minh Quốc nói, là ngày thành lập Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam lại rơi đúng vào ngày 4 tháng 7- ngày của Bản Tuyên Ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776, và điều đó quá xứng đáng cho tính chất độc lập của Hội Nhà báo Độc Lập Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh chủ quyền quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng như thế này.

Gia Minh: Vừa qua đã có Hội Nhà Văn Độc Lập ra đời, nay có Hội Nhà Báo Độc Lập ra đời thì sẽ có những hoạt động khác với Hội Nhà Văn Độc Lập cũng như các tổ chức xã hội dân sự ra đời trong thời gian vừa qua như thế nào?

” Chúng tôi là một hội nghề nghiệp, và phục vụ cho các nhà báo, cũng như các cộng tác viên báo chí độc lập, và kể cả những nhà báo quốc doanh.
-TS Phạm Chí Dũng”

TS Phạm Chí Dũng: Chắc cũng có một số khác biệt nhất định. Trước hết chúng tôi là một hội nghề nghiệp, và phục vụ cho các nhà báo, cũng như các cộng tác viên báo chí độc lập, và kể cả những nhà báo quốc doanh muốn tham gia vào trong hội của chúng tôi.

Thứ hai chúng tôi hướng đến những hoạt động thực chất thay cho tính chất hình thức của những hội đoàn dân sự mà vẫn bị dư luận phàn nàn trong thời gian gần đây. Thực chất có nghĩa là chúng tôi sẽ hướng đến những hoạt động cụ thể như tạo ra diễn đàn tự do ngôn luận cho các hội viên. Diễn đàn này sẽ được thể hiện bằng các cuộc tọa đàm, hội thảo, hội nghị liên quan đến một số chủ đề và vấn đề nóng bỏng của đất nước như luật lập hội, luật biểu tình, luật trưng cầu dân ý, và một số vấn đề khác liên quan đến vấn đề thời sự rất nóng bỏng trong tình hình hiện nay là vấn đề truyền thông và vấn đề thoát Trung.

Hoạt động thứ hai là chúng tôi phải có ngay một trang báo để phục vụ cho nhu cầu của độc giả; và chúng tôi kỳ vọng trong 10 năm, nó phải trở thành một tờ báo có đẳng cấp quốc tế trong khu vực Đông Nam Á và ít nhất có thể sánh ngang với tờ Bangkok Post và có thể tiến lên so sánh với tờ  Strait Times của Singapore.

Đồng thời chúng tôi cũng tổ chức đào tạo cho các phóng viên trẻ vốn xuất thân từ giới blogger hiện nay. Đó là một hoạt động hết sức quan trọng vì đó là lớp kế thừa, kế cận cho lớp nhà báo lớn tuổi hiện nay.

pham-chi-dung-250.jpg

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, một trong những thành viên sáng lập trả lời phỏng vấn VRNs, tháng 7 năm 2014. Screen Capture.

Gia Minh: Để có thể trở thành tờ báo có thể so sánh với những tờ như Bangkok Post và Strait Times mà ông vừa mới nói, thì ai là người viết đóng góp cho tờ báo (của Hội Nhà báo Độc Lập)?

TS Phạm Chí Dũng: Hiện nay chúng tôi bắt đầu từ con số không tròn trĩnh, nhưng như anh biết để có thể tạo ra một tờ báo chuyên nghiệp và có đẳng cấp quốc tế thì phải có những cây viết và những nhà làm báo chuyên nghiệp. Mà muốn có những cây viết và những nhà làm báo chuyên nghiệp thì phải đào tạo. Có hai nguồn có thể tiếp sức cho Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam và trang báo độc lập này, chúng tôi hy vọng nhất là nguồn các tay viết có kinh nghiệm từ giới báo chí quốc doanh. Đó là những người viết mà theo chúng tôi là những người có trình độ, có năng lực, có nhu cầu để thể hiện nhưng chưa có nhu cầu để thể hiện. Và chúng tôi hy vọng trong thời gian tới họ có điều kiện để tham gia và để thể hiện trên trang báo độc lập này.

Thứ hai là nguồn đào tạo từ lớp trẻ. Đây là nguồn mà báo chí Việt Nam từ lề phải lẫn lề trái đều đang thiếu hụt trầm trọng và thậm chí đang bị khủng hoảng. Chúng tôi sẽ cố gắng đào tạo.

Thứ ba, chúng tôi cố gắng gửi những người trẻ được đào tạo đi nước ngoài để học hỏi dựa vào một số tổ chức phi chính phủ quốc tế về báo chí như Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, hay Tổ chức Bảo vệ Ký giả Quốc tế, hay Văn bút Quốc tế, hoặc Freedom House…

Chúng tôi hy vọng với tất cả những biện pháp, giải pháp như vậy, chúng tôi có thể làm cho tờ báo có tiếng nói không chỉ là tự do và độc lập mà còn nâng cao về mặt chuyên môn của nó và dần dần có thể vượt ra ngoài biên giới Việt Nam.

Không phân biệt thành phần hội viên

Gia Minh: Đó là những cây bút, như ông nói, ở trong nước. Hiện trên khắp thế giới có những người Việt Nam sinh sống, lâu nay có những người đã viết và có đưa bài lên mạng, vậy lực lượng đó có được sử dụng cho tờ báo của Hội Nhà Báo Độc Lập không?

” Theo điều lệ của hội không phân biệt người trong nước và người ngoài nước. Tất có thể trở thành hội viên, và chúng tôi dự kiến có thể xây dựng một vài chi hội của Hội Nhà báo Độc Lập VN ở nước ngoài.
-TS Phạm Chí Dũng”

TS Phạm Chí Dũng: Đó là những cây viết đáng giá nhưng chúng tôi không dám hy vọng họ tham gia vào hội một cách toàn phần. Có lẽ họ còn chờ chúng tôi hoạt động và chứng tỏ hiệu quả như thế nào. Tuy nhiên theo điều lệ của hội không phân biệt người trong nước và người ngoài nước. Tất có thể trở thành hội viên, và chúng tôi dự kiến có thể xây dựng một vài chi hội của Hội Nhà báo Độc Lập Việt Nam ở nước ngoài nếu có điều kiện. Cho tới nay đã có vài ba anh chị là nhà báo ở nước ngoài tham gia Hội Nhà báo Độc Lập. Chúng tôi hy vọng từ những người đó sẽ lan tỏa ra và sẽ thu hút một lực lượng cây viết hải ngoại đóng góp cho trang báo và cho Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam.

Gia Minh: Qua kinh nghiệm lâu nay, bao giờ có những trang web và đặc biệt bây giờ tờ báo tên Việt Nam Thời báo của Hội Nhà báo Độc lập ( Việt Nam) ra đời, đều bị sự đánh phá từ phía chính quyền; vậy hội có những biện pháp gì để có thể đưa tờ báo đến độc giả thường xuyên, không bị gián đoạn do những hoạt động đánh phá như thế?

TS Phạm Chí Dũng: Trong Ban lãnh đạo Hội đã giao cho nhà báo độc lập, linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh, Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn phụ trách về trang báo và cùng với anh Ngô Nhật Đăng, cũng là một nhà báo độc lập trị sự trang báo này.

Chúng tôi cũng đã tính tới những phương án kỹ thuật chặt chẽ và có mối quan hệ, liên hệ chặt chẽ với hệ thống Facebook. Và vấn đề kỹ thuật, nếu cần thiết thì anh có thể hỏi thêm linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh vì đây là người nắm chắc vấn đề kỹ thuật và làm sao bảo đảm trang báo không bị xâm nhập, không bị hack trong quá trình hoạt động và vẫn chó thể phục vụ được cho độc giả.

Gia Minh: Là một trong những thành viên của ban biên tập và thành viên của ban sáng lập Hội Nhà báo Độc lập, trong ngày ra mắt ông muốn nhắn gửi gi đến người đọc và người xem tại Việt Nam và trên thế giới?

TS Phạm Chí Dũng: Tôi chỉ xin nói ngắn gọn là chúng tôi sẽ cố gắng làm thế nào để Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam hoạt động một cách có thực chất và đại diện cho tiếng nói độc lập của báo giới Việt Nam, không chỉ trong nước mà còn quốc tế. Và làm thế nào để những hội viên của Hội Nhà báo Độc Lập Việt Nam trong tương lai không xa có thể và hoàn toàn có quyền tự hào rằng họ là những nhà báo độc lập đầu tiên của Việt Nam và có tiếng nói quốc tế, được quốc tế nể trọng.

Gia Minh: Cám ơn Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, một trong những thành viên khởi xướng Hội Nhà báo Độc Lập Việt Nam, trong ngày ra mắt có những chia sẻ với khán thính giả của Đài chúng tôi.

Việt Nam – Trung Quốc: Ai nợ ai?

Việt Nam – Trung Quốc: Ai nợ ai?

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2014-07-02

07022014-vn-cn-who-own-oth.mp3

Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã phát biểu cho rằng“ mang ơn thì có cách trả ơn chứ không thể áp đặt”

Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã phát biểu cho rằng“ mang ơn thì có cách trả ơn chứ không thể áp đặt”

AFP

Một số người cho rằng VN mang ơn và nợ TQ. Tại cuộc gặp với cử tri ngày 26-6-2014, Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã phát biểu cho rằng“ mang ơn thì có cách trả ơn chứ không thể áp đặt”. Nhận thức như thế có đúng hay không và thực chất của vấn đề này là gì? Anh Vũ cho biết thêm chi tiết.

Láng giềng thì có mang ơn thì không

Là hai nước láng giềng, chung biên giới trên bộ và trên biển, lại có một quá trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch sử, cũng như các cuộc chiến tranh qua lại giữa hai nước, đã làm cho quan hệ Việt Trung trở nên vô cùng phức tạp và nhạy cảm.

Quan hệ VN-TQ luôn là chủ đề nóng bỏng trong suốt chiều dài lịch sử của Việt Nam, cho dù thời đại nào cũng đều mang tính thời sự. Đặc biệt trong lịch sử cận đại, từ năm 1945 đến nay thì mối quan hệ giữa 2 quốc gia cộng sản cũng để lại không ít các vấn đề thăng trầm.

” Chúng ta không quên sự giúp đỡ của Trung Quốc trong hai cuộc kháng chiến, nhưng mang ơn không có nghĩa là muốn áp đặt cái gì thì áp đặt

Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang”

Hiện nay, quan hệ Việt – Trung đang xấu đi một cách nhanh chóng, đặc biệt sau việc TQ đưa giàn khoan HD-981 vào sâu trong lãnh hải của VN. Nhất là khi phía TQ bạch hóa các tư liệu về quan hệ giữa hai nước liên quan đến chủ quyền lãnh thổ và vu cáo rằng VN vong ơn bội nghĩa.

Tại cuộc gặp với cử tri ngày 26-6-2014, khi nói về quan hệ VN-TQ, Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang đã phát biểu cho rằng “Chúng ta không quên sự giúp đỡ của Trung Quốc trong hai cuộc kháng chiến, nhưng mang ơn không có nghĩa là muốn áp đặt cái gì thì áp đặt”.

Bình luận về phát biểu của Chủ tịch Trương Tấn Sang, ông Khuất Duy Chiến một sĩ quan quân đội thuộc Binh đoàn 559 trong chiến tranh chống Mỹ, đã nghỉ hưu cho biết: ông hoàn toàn không tán đồng ý kiến của Chủ tịch Nước. Theo ông các nhà lãnh đạo Việt nam trong quá khứ đã mắc phải sai lầm khi biến VN thành nơi thử nghiệm và đối đầu giữa các thế lực quân sự quốc tế hàng đầu. Đây là cuộc chiến giữa ý thức hệ CS và ý thức hệ tự do dân chủ. Việc TQ ủng hộ và giúp đỡ VN không ngoài mục đích cổ vũ tình đoàn kết cộng sản quốc tế để chống kẻ thù chung.

” Trong chiến lược bành trướng xuống phía Nam của Chủ nghĩa CS, VN đã lĩnh vai trò tiền đồn của phe XHCN, do đó đối với nhân dân Việt Nam thì chính Trung Quốc nợ xương máu, nợ cả việc chia cắt đất nước

ông Khuất Duy Chiến”

Từ Ninh bình, ông Khuất Duy Chiến nói với chúng tôi:

“Trong chiến lược bành trướng xuống phía Nam của Chủ nghĩa CS, Việt nam đã lĩnh vai trò tiền đồn của phe XHCN, do đó đối với nhân dân Việt Nam thì chính Trung Quốc nợ xương máu, nợ cả việc chia cắt đất nước. Tất cả nằm trong phương châm “Đánh Mỹ tới người Việt nam cuối cùng” của Mao Trạch Đông. Nên nhớ như cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã từng nói “Ta đánh Mỹ là đánh cho phe XHCN, đánh cho cả Liên xô, Trung quốc”.”

Nói về sự giúp đỡ của TQ đối với cách mạng VN từ năm 1945 đến nay, ông Nguyễn Tường Thụy một cựu chiến binh ở Hà nội thấy rằng cuộc chiến tranh Việt nam (1955-1975) về bản chất là một cuộc chiến tranh ý thức hệ, vì lúc đó VN tự xác định mình là tiền đồn XHCN. Do vậy chính quyền CS đã nhận được sự ủng hộ của các nước XHCN, nếu không có sự ủng hộ này thì VN không thể chiến thắng được.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến ý thức hệ của Chủ nghĩa Cộng sản, Trung quốc chỉ bỏ ra súng đạn đảng cộng sản Việt Nam bỏ người (1,2 triệu bộ đội hy sinh trong cuộc chiến ý thức hệ này)

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến ý thức hệ của Chủ nghĩa Cộng sản, Trung quốc chỉ bỏ ra súng đạn đảng cộng sản Việt Nam bỏ người (1,2 triệu bộ đội hy sinh trong cuộc chiến ý thức hệ này)

Ông Nguyễn Tường Thụy nói với chúng tôi:

“Tất cả những người lính Miền Bắc đi vào miền Nam lúc ấy thì tất cả trang bị từ đầu đến chân, quân trang quân dụng đều của TQ cả, còn Liên xô thì viện trợ các vũ khí hạng nặng. Tôi nghĩ rằng nếu như nợ TQ thì là Ban lãnh đạo Đảng CSVN nợ TQ chứ nhân dân VN thì không nợ TQ.”

Trong bài viết “Việt nam không mang ơn Trung quốc” của tác giả Vương Trí Dũng trên trang Bauxite gần đây, tác giả đã viết rằng “Ngay từ ban đầu lãnh đạo Trung Quốc giúp Việt Nam là vì lợi ích của chính Trung Quốc. Nếu Trung Quốc không có lợi, lãnh đạo Trung quốc đã không giúp Việt Nam. Không phải tự nguyện hay do Việt Nam đề nghị, mà lãnh đạo Trung Quốc buộc phải giúp Việt Nam vì lợi ích sát sườn trực tiếp của chính Trung Quốc. Lãnh đạo Trung Quốc không phải tình cờ hay chỉ thông thường mà có chủ mưu sâu xa thâm độc trong lá bài giúp đỡ Việt Nam. Lãnh đạo Trung Quốc giúp Việt Nam chống Pháp và Mỹ không chỉ bảo vệ lợi ích của Trung Quốc trước sự đe dọa của Pháp và Mỹ mà còn có mục đích chiếm đoạt thống trị Việt Nam.”

Trung Quốc nợ Việt Nam thì có…

Trả lời câu hỏi trong cuộc chiến tranh VN với sự chi viện rất lớn của TQ và các nước XHCN thì VN có nợ TQ hay không? Ông Khuất Duy Chiến thấy rằng sự giúp đỡ của TQ trong các cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ là sự giúp đỡ dưới trách nhiệm của tình đoàn kết quốc tế vô sản. Mà thực chất là các bên với cùng mục đích chung để bành trướng ý thức hệ cộng sản trên toàn cầu, trên cơ sở sử dụng xương máu của người Việt để thực hiện ý đồ đó.

” Cái nợ của TQ đối với nhân dân VN là nợ máu và nợ lãnh thổ, nên không thể nói VN mang ơn TQ được. Nếu như ban lãnh đạo Đảng CSVN mang ơn thì đấy là chuyện của họ. Còn quan điểm của tôi là một công dân VN, là một người VN tôi không chấp nhận được điều này

Ông Nguyễn Tường Thụy”

Ông Khuất Duy Chiến nói với chúng tôi:

“Nói về nợ, thì Trung Quốc đã từng giúp Việt Nam lương thực, quân trang, quân dụng, vũ khí… trong chiến tranh chống Mỹ . Nhưng đó là họ làm nghĩa vụ quốc tế, dựa trên chiến lược của ý thức hệ của Chủ nghĩa Cộng sản, với mong muốn nhuộm đỏ toàn thế giới. Chẳng qua là một bên bỏ sức người, một bên bỏ sức của thôi. Thử hỏi rằng nếu xét về người và của thì cái gì quý hơn?”

Ông Nguyễn Tường Thụy thấy rằng trong các cuộc chiến tranh kéo dài đã có khoảng 4-5 triệu người VN của cả hai bên đã chết trong các cuộc chiến này mà không thể tiền bạc nào trả nổi. Đúng ra TQ phải mang ơn VN đã dùng xương máu của từng ấy triệu người chiến đấu cho việc lan tỏa của Chủ nghĩa CS. Cái nợ đó là nợ bằng máu của người VN, mà theo ông VN chằng có gì phải mang ơn TQ. Đó là chưa kể đến việc TQ đã lợi dụng để bành trướng về lãnh thổ, lãnh hải cụ thể là Bãi Tục lãm và Quần đảo Hoàng sa, đảo Gạc ma… của VN.

Ông Nguyễn Tường Thụy nói với chúng tôi:

“Cái nợ của TQ đối với nhân dân VN là nợ máu và nợ lãnh thổ, nên không thể nói VN mang ơn TQ được. Nếu như ban lãnh đạo Đảng CSVN mang ơn thì đấy là chuyện của họ. Còn quan điểm của tôi là một công dân VN, là một người VN tôi không chấp nhận được điều này”.

Tư duy cùng chung ý thức hệ cộng sản và chuyện ‘ơn nghĩa’ giữa hai đảng đang khiến cho chính quyền Hà Nội chưa thể đưa ra biện pháp dứt khoát, rõ ràng trong việc giải quyết căng thẳng Trung Quốc xâm chiếm Biển Đông như hiện nay.