Chuẩn bị cho Đại hội La Vang lần thứ 30

Chuẩn bị cho Đại hội La Vang lần thứ 30

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-08-10

08102014-30th-lavang-mari-day.mp3

Lễ khai mạc Tháng Hoa (1/05/2014) tại Linh đài Mẹ La Vang

Lễ khai mạc Tháng Hoa (1/05/2014) tại Linh đài Mẹ La Vang

melavang.info

Đại hội La Vang lần thứ 30 sẽ diễn ra trong 3 ngày 13, 14 và 15 tháng 8 này. Kỳ đại hội ba năm một lần như thế là một sinh hoạt lớn, quan trọng đối với hầu hết các tín hữu Công giáo La Mã tại Việt Nam.

Chuẩn bị và phối hợp

La Vang là vùng đất linh thiêng đối với người Công giáo La Mã tại Việt Nam. Theo họ Đức Maria, mẹ Chúa Giê su, từng hiện ra tại đó hồi tháng 8 năm 1798. Lúc ấy là thời điểm mà vua Cảnh Thịnh, triều Tây Sơn ban hành lệnh bách hại người theo Công giáo gắt gao khiến nhiều người phải trốn vào rừng để trốn. Họ đã nguyện cầu và được Đức Mẹ hiện ra che chở.

Riêng vào những dịp đại hội ba năm một lần số tín hữu hành hương về La Vang khá đông, trung bình chừng nửa triệu người. Do đó công tác chuẩn bị để dung nạp một lượng người như thế, tại một khu hoang vắng, khô hạn, thiếu nước.. là một việc làm không dễ dàng gì.

Linh mục Gia cô bê Lê Sĩ Hiền, chánh xứ La Vang, cho biết việc chuẩn bị cho kỳ đại hội lần thứ 30 này như sau:

” Chúng tôi cũng theo khả năng và điều kiện cũng cố gắng hết sức nơi ăn chốn ở cho bà con giáo dân: các lán trại, lều bạt, các nhà tiền chế tạm thời như thế. Bà con giáo dân họ cũng thông cảm điều kiện khó khăn, nhà cửa không có đủ

Linh mục Gia cô bê Lê Sĩ Hiền”

Chúng tôi cũng theo khả năng và điều kiện cũng cố gắng hết sức nơi ăn chốn ở cho bà con giáo dân: các lán trại, lều bạt, các nhà tiền chế tạm thời như thế. Bà con giáo dân họ cũng thông cảm điều kiện khó khăn, nhà cửa không có đủ.

Năm nay chúng tôi cũng tiến hành đại hội nhằm việc Hội đồng Giám mục Việt Nam đang khởi công xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ La Vang ở phần sau của đất La Vang. Việc khởi công được gần hai năm rồi. Xây xong móng và lên tầng hầm rồi; nên vừa lo tổ chức đại hội, đón rước, vừa lo công việc xây dựng Vương cung Thánh đường đang còn tiếp tục, chúng tôi khá vất vả.

Mấy ngày hôm nay trời cũng hạn hán, nên nước trong lòng đất cũng cạn đi nhưng chúng tôi cũng cố gắng hết sức khoan thêm giếng, xây thêm những bể lớn để lấy nước từ trên núi về. Nhưng năm nào cũng thiếu thốn về nước.  Cố gắng hết sức thôi!

Một nữ tu Dòng Mến Thánh Giá tại khu vực La Vang cho biết công tác của những người như bà vào dịp đại hội như thế:

Lu bu luôn: phải lo phụng vụ bên Nhà Thờ và phải lo phục vụ mọi người.

Ông Vũ Văn Hòa, trưởng ban Tuyên Huấn, Dân tộc và Tôn giáo thuộc Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng trị cho biết việc hổ trợ từ phia chính quyền cho kỳ đại hội La Vang hằng năm cũng như năm nay:

” Chính quyền luôn có sự hợp tác chặt chẽ giữa Ban giám đốc Trung tâm Hành hương với địa phương. Những hoạt động này luôn làm thường xuyên và đảm bảo.

Ông Vũ Văn Hòa”

Địa phương các cấp, đặc biệt các ngành liên quan bao giờ cũng có sự hỗ trợ thật tốt sau khi có đề xuất của Trung tâm Hành Hương La Vang. Ví dụ chính quyền tạo điều kiện tốt từ các khâu đảm bảo an toàn giao thông, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, vệ sinh môi trường, phòng chống chữa cháy, cung cấp các dịch vụ như điện, nước, các hệ thống phục vụ ăn, ngủ nghỉ.

Chính quyền luôn có sự hợp tác chặt chẽ giữa Ban giám đốc Trung tâm Hành hương với địa phương. Những hoạt động này luôn làm thường xuyên và đảm bảo.

Cản trở thành phần phản kháng

Theo những người từng tham gia công tác phục vụ khách đến La Vang vào những dịp đại hội hay những kỳ hành hương thường niên, thì mỗi lúc việc hành hương càng trở nên dễ dàng hơn vì phía cơ quan chức năng không còn gây khó khăn như những năm đầu sau thời điểm 1975.

Một giáo dân Công giáo cho biết lại thời kỳ mà chuyện đi hành hương La Vang không phải là chuyện dễ dàng, nhưng rồi mọi người vẫn quyết tâm thực hành cho được những cuộc hành hương như thế:

Trước đây hành hương La Vang rất khó vì thời đó chính quyền họ hay ngăn chặn. Lúc đó tôi còn nhỏ, vào những năm 82, 84, 85 khó quá nên cha mẹ đâu có cho đi. Nhưng những người trong xứ như cha me, anh chị tôi cũng đi đến La Vang.

Họ cũng bị chặn xe làm khó. Có những linh mục đi nhưng phải trốn tránh bằng cách đi bằng xe đạp để tới nơi. Có những linh mục đi xe đò với con chiên cũng bị chặn lại. Chắc mọi người còn nhớ một năm nào đó cha Nguyễn Văn Lý cùng đoàn giáo dân của ngài bị chặn lại tại cầu Mỹ Chánh và ngày quì xuống đọc kinh, hướng về La Vang cầu nguyện.

” Trước đây hành hương La Vang rất khó vì thời đó chính quyền họ hay ngăn chặn. Lúc đó tôi còn nhỏ, vào những năm 82, 84, 85 khó quá nên cha mẹ đâu có cho đi. Nhưng những người trong xứ như cha me, anh chị tôi cũng đi đến La Vang.

Một giáo dân Công giáo”

Một số giáo dân Công giáo gần đây tham gia công khai lên tiếng đấu tranh đối với những bất công mà nhà cầm quyền Hà Nội gây ra đối với người giáo dân Công giáo cũng như nhiều đồng báo khác. Họ bị an ninh, công an theo dõi thường xuyên. Ngay cả khi đến hành hương La Vang, một lần họ đã nêu lên ý nguyện của họ:

Thực tình vào đầu năm 2011 khi bế mạc Năm Thánh, chúng tôi có mặc những chiếc áo để có ý cầu nguyện cho những nơi bị bách hại như Thái Hà, Đồng Chiêm, Tam Tòa, Cồn Dầu, đặc biệt giáo xứ Loan Lý nơi chúng tôi ở; nhưng lực lượng an ninh đã sách nhiễu chúng tôi trong những ngày lễ đó. Từ đó mỗi lần chúng tôi đến với La Vang đều bị lực lượng an ninh đeo bám rất kỹ.

Dấu tích tử đạo bị xóa

Lịch sử cho thấy không chỉ dưới triều vua Cảnh Thịnh, Tây Sơn mà sang đến đời các vua nhà Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức việc bách hại đạo Công giáo La Mã tiếp tục được tiến hành.

Những người Công giáo kiên vững với niềm tin của họ không chịu bỏ đạo theo yêu cầu của triều đình đã chịu những khổ hình cho đến chết hay bị xử tử bởi không chịu bỏ đạo. Họ trở thành những vị tử đạo làm chứng cho niềm tin tại Việt Nam.

Vết tích của những nơi giam cầm và xử tử những người Công giáo như thế còn lại rất ít. Tuy nhiên, số ít ỏi đó cũng bị thời gian và ý đồ của nhà cầm quyền xóa đi.

Tại Huế, trước đây có một cây cầu nơi mà nhiều người Công giáo bị mang đến để xử chém vì không chịu bỏ đạo; mục đích nhằm đe dọa, làm gương cho dân chúng không được theo đạo Thiên Chúa. Tại đó trước đây có bảng nói lại điều đó nhưng gần đây nhà cầm quyền địa phương đã cho tháo dỡ như một giáo dân địa phương cho biết:

Ở Huế có một cầu gọi là Cầu Cổng Chém. Nơi đó tất cả những ai không bỏ đạo bị đưa ra đó chém. Những năm gần đây, Nhà Nước dở bảng đó ra không để Cầu Cổng Chém nữa.

Từ chỗ không được khuyến khích, nay các đại hội và kỳ hành hương La Vang được diễn ra theo định kỳ.Vào năm 2008, tỉnh Quảng Trị cấp lại cho La Vang 21 héc ta trong số 23 héc ta mà giáo xứ này sở hữu trước năm 1975, để phục vụ hoạt động tín ngưỡng- tôn giáo. Hội đồng Giám mục Việt Nam có quyết định xây lại khu vực linh địa La vang với những đề án lớn.

Thân phận con người trong xã hội Việt Nam hiện nay (1)

Thân phận con người trong xã hội Việt Nam hiện nay (1)

Bức thư của một người mẹ viết trước khi tự tử vì quá nghèo mà mình sau nhiều năm vất vả cực nhọc mang lấy chứng bệnh thần kinh, mỗi ngày tiêu đến 140 nghìn đồng – đúng bằng tiền chồng làm ra để nuôi con ăn học. Một người mẹ nhất quyết chết vì không muốn 3 con trở thành những trẻ thất học do gánh nặng bệnh tật của mình, tương lai gần hay xa có thể dẫn đến tai họa cho xã hội. Những dòng thư trong vắt thiện lương cào xé lương tâm chúng ta, bắt ta nhìn qua đó như một tấm gương soi để thấy trên mặt mình có chỗ nào bất thiện hay không, mình có đáng sống hay không đáng sống trên đời, tranh mất sự sống của con người này và nhiều người thiện lương khác. Tấm gương không chỉ soi tỏ gương mặt của một mình ta mà soi luôn cả một xã hội lổn nhổn xung quanh ta, hiện hình lên những vị tai to mặt lớn, ăn bẫm và ăn tạp từ miếng to đến miếng nhỏ, từ việc in một mớ tiền polymer bên Úc, vay một khoản ODA bên Nhật, cho đến chiếm một khoảnh đất của dân Dương Nội, cướp một đầm thả cá tự đắp đập be bờ làm lấy của vợ chồng con cái anh cựu chiến binh Đoàn Văn Vươn Hải Phòng… Các vị quan cộng sản suốt ngày chỉ ăn là ăn, hễ nghe lũ xâm lược rục rịch ở Biển Đông là rụt ngay cổ lại, thử hỏi có lúc nào các vị thử tính đếm xem bao nhiêu người dân Việt đã thiệt mạng, đã tự vẫn vì những cái miệng há to của các vị và con cái các vị hay không? Nhiều lắm lắm, tính ra không xuể đấy. Chính những cái miệng ấy chứ không phải cái gì khác chúng đã phủ định hết mọi thứ ngôn xưng đẹp đẽ về một thể chế cộng sản đến hồi rệu rã sau hơn 60 năm tồn tại đầu họng súng mà các vị đang cố sức níu giữ. Và dù báo chí có tô son trát phấn cho một thế hệ “thái tử đảng” đang ngấp nghé thay chiếc ghế của các vị – toàn những gương mặt nhờ bơ sữa làm cho đẹp đẽ thông minh, những Nguyễn Thanh… này, Lê Trương… kia, Tô Linh… nọ, v.v.  – thì trong con mắt dân cùng chúng tôi, đó cũng chỉ là ủy viên dự bị của những cái miệng há to đã đớp đến mỏi răng, chiếm phần sống của quá nhiều người, nay phải để cho con cháu trèo lên ghế đớp tiếp, thế thôi, họ chẳng làm nên cơm cháo gì, hay giúp cho xã hội bớt đi những người tự vẫn được đâu.

Chị Mỹ Nhân ơi, nhìn ảnh chị và đọc tên chị sao mà gợi quá nhiều trắc ẩn, Mỹ nhân tự cổ như danh tướng / Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu. Chị là một người quyết liệt chết để cho sự sống được nảy mầm, cái chết ấy sẽ không bao giờ uổng phí. Nhưng chị chết mà không hề biết oán hận những ai, những kẻ nào thực chất là nguyên nhân sâu xa gây nên cái chết của mình, đó mới là một cái chết vị tha có sức cứu rỗi hết thảy những ai đang sống, trừ một số ít những kẻ trơ lỳ mà ta thừa biết là ai rồi. Chị gửi lời xin ông bí thư đảng ủy xã An Xuyên và chính quyền Ấp 5 cho gia đình mình được “lên” diện nghèo để 3 đứa con nhờ vào cái “sổ nghèo” mà được vay tiền ngân hàng đóng học phí khỏi phải bỏ học. Đọc lá thư của chị bằng nước mắt, chúng tôi muốn mượn câu thơ của Cao Bá Quát thét lên một tiếng vào bản mặt của cái thể chế này: “Ước gì có một cơn dông bão quét sạch mọi nhơ bẩn để sau một đêm sáng dậy thấy non sông đổi thay tận gốc” (Phong vũ giang sơn tận cải quan – Lập xuân hậu nhất nhật tân tình).

Bauxite Việt Nam

Thắt lòng chuyện mẹ chết để lấy tiền phúng viếng cho con học

(PLVN) Sau một tháng toan tính kỹ lưỡng, chị Nguyễn Thị Mỹ Nhân, 38 tuổi, ngụ ấp 5, xã An Xuyên, TP Cà Mau, tỉnh Cà Mau quyết định… chết. Chị chọn quyên sinh là giải pháp cuối cùng với hy vọng kiếm được ít tiền phúng điếu và gia đình được cấp sổ hộ nghèo. Đau đớn đến mức trong lá thư để lại, chị còn nhắn chồng đi xin hòm về liệm, dành tiền đóng học cho con.

clip_image002

Di ảnh chị Nhân.

Nghẹn uất xót thương

Chiều 24/4/2013, xứ An Xuyên bàng hoàng, thảng thốt bởi cái tin chị Nhân treo cổ chết.

Trước khi thắt cổ chết một tháng, chị đã nói với chồng, với con, với nhiều người hàng xóm về kế hoạch chết của mình. Chị khẳng định với chồng là chỉ còn một con đường duy nhất duy trì việc học cho các con. Đó là chị phải chết đi để mọi người đến phúng viếng mới có tiền trang trải cho các con học, giảm gánh nặng cho chồng, lấy linh hồn phù hộ cho chồng con… trúng số độc đắc.

Người chồng đau khổ nhưng bất lực trước ý chí sắt son của người vợ.

Trong suốt hai ngày đám tang của chị Nhân, người ta không nghe anh Bảo trách vợ một tiếng nào. Hơn ai hết, anh là người thấu hiểu tấm lòng của vợ. Anh nói trong nước mắt: “Vợ tôi đã cố gắng đến hơi sức cuối cùng”.

Hơn 20 năm làm vợ chồng với nhau, anh Bảo chưa bao giờ thấy vợ mình đáng trách. Ngược lại, anh luôn cảm phục tấm lòng và nghị lực của vợ.

Chị làm lụng đến tối tăm mặt mũi, không từ công việc gì miễn kiếm được tiền. Cả những công việc nặng nhọc tưởng chỉ đàn ông mới đảm đương nổi, chị cũng không nề hà. Đến khi bị bệnh tật hành hạ, chị vẫn cố gắng đi làm, không dám chữa trị vì tiền kiếm được còn phải để đóng học cho con.

Người phụ nữ nghị lực “đã gõ mọi cánh cửa

Chị còn được xóm làng ngợi khen về tính đảm đang tháo vát hơn người. Chị chưa bao giờ bỏ qua một cơ hội kiếm tiền chính đáng. Nghe nói Nhà nước có chính sách cho sinh viên, học sinh vay tiền đi học, chị đích thân đi tìm hiểu và làm thủ tục xin vay. Người ta trả lời phải là hộ nghèo, hoặc hộ cận nghèo mới được cho vay. Chị về hỏi chính quyền địa phương xin được xét cấp sổ hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Bà Nguyễn Thị Nhu, Chi hội trưởng Cựu chiến binh ấp 5, xã An Xuyên kể: “Ngày 18/11/2012, khi họp dân ấp nhân ngày đại đoàn kết và xét chọn hộ nghèo, cận nghèo, Mỹ Nhân có đến dự. Tôi nhớ rất rõ lời nói của nó hôm đó. Nó nói “hoàn cảnh tôi quá khó khăn, xin được cấp sổ hộ nghèo để vay tiền cho các con ăn học”. Khi đó, Trưởng ấp ghi nhận nhưng chỉ hứa là sẽ xem xét sau, vì đã qua đợt xét hộ nghèo”.

Chị cũng đã tìm hiểu ra và làm thủ tục cho con trai nhận hỗ trợ của Nhà nước đối với sinh viên học ngành hóa chất độc hại. Chị cũng đã tranh thủ góp hụi, vay tiền từ Hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, thậm chí vay “nóng” bên ngoài.

Anh Từ Văn Nguyễn, công an ấp 5, kể thêm: “Cách đây một tháng, chị Nhân đi kêu một bà để bán nhà và đất đang ở. Bà này trả lời là để bàn lại với người thân, chứ đất đai đâu phải nói mua là mua liền. Chị Nhân năn nỉ bán trả chậm, 2 triệu một tháng cũng được để có tiền đóng học phí cho các con. Bà này không chịu, chị Nhân nói nếu không chịu thì vài bữa nữa đi đám ma của tôi”.

Trước khi thắt cổ chết 3 ngày, chị Nhân hay tin có ông Trần Đại Đoàn, một người bà con mới về làm bí thư xã An Xuyên. Chị lập tức lên xã gặp ông Đoàn để xin được xét cấp sổ hộ nghèo. Ông Đoàn ghi nhận và hứa sẽ xem xét để cấp sổ hộ nghèo cho chị khi đến đợt xét tới đây. Đến lúc chị qua đời, anh Bảo vẫn chưa hay biết việc chị đã lên xã xin anh Đoàn cái sổ hộ nghèo.

Tâm thư tuyệt mệnh

Bên cạnh xác chết của chị, người ta đã tìm thấy những bức tâm thư tuyệt mệnh.

“Anh Bình! Hoàn cảnh em quá khổ. Em chết, anh chôn em cặp Hà (em trai chị – PV), trên đất của cha mẹ. Em chết, anh thỉnh bàn thờ mẹ về nhà anh thờ. Mong anh đừng làm khó em, để em yên thân nằm cạnh Hà. Gia đình mình sống quá khổ, từ đời của cha mẹ đến đời con, không có ý nghĩa gì hết”.

clip_image004

Cha con anh Bảo đau thương trước cái chết của chị Nhân.

Bà Nguyễn Thị Tiến, Chi hội trưởng phụ nữ ấp 5, xã An Xuyên, TP Cà Mau bức xúc: “Suy cho cùng, cái chết của chị Nhân có nguyên nhân từ áp lực tiền học phí và tiền trị bệnh. Nếu như có tiền để chị đóng học phí cho các con đi học thì chị đã không chết như vậy.

Ngành giáo dục nên xem lại những cuộc cải cách của mình, chứ thực tế rất rõ là càng về sau này, việc học hành càng xa vời với người dân, cả người dân được cho là không nghèo.

Sau cái chết của chị Nhân, chúng tôi bị chỉ trách lớn. Xin hãy nghĩ lại cho chúng tôi. Với mức phụ cấp 400 – 600 ngàn đồng/tháng/cán bộ ấp, thử hỏi làm sao chúng tôi sâu, sát đến từng hộ dân một. Chúng tôi còn phải kiếm sống. Chúng tôi là những người hưởng lợi thấp nhất trong hệ thống chính quyền, nhưng khi có sự cố nào xảy ra, chúng tôi là những người lãnh đủ”.

Phần gửi cho chồng, chị Nhân viết: “Anh Bảo! Tiền em bỏ trong túi quần tây, trong tủ áo. Quần tây màu đỏ”.

Bức thư thứ hai dài đến bốn trang giấy học trò, chữ viết nguệch ngoạc, không chấm phết, ý tứ đứt quãng, lủng củng. Nhưng khi đọc lên, ai cũng có cảm giác là chị Nhân đang nói với mình. Bởi những điều đó chị đã nói rồi, nói với chồng, với con, với nhiều người hàng xóm, và nói từ cả tháng qua.

clip_image006

Thư tuyệt mệnh của người mẹ tự vẫn. (http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/545565/dau-don-thu-tuyet-menh-cua-nguoi-me-tu-van.html)

Chúng tôi tạm rút nội dung bức thư thứ hai của chị theo ý chính như sau:

“Tạm biệt chồng con!

Anh! Trong hoàn cảnh gia đình mình quá khổ, em không sống nổi với anh và các con. Từ một tháng qua, em bệnh, nằm xuống nhưng không ngủ được. Em nhớ đến nợ nần, đến tiền học phí của các con, đến sự khổ cực cả đời của anh. Em đã cố gắng lắm rồi, em chạy tiền bằng mọi cách để trị bệnh, để lo đóng học phí cho các con, nhưng có ai cho mình mượn, mình vay đâu.

Em khổ lắm. Em không còn lối thoát. Em biết chết trong lúc này, bỏ lại anh và 3 đứa con ngoan, hiền, học giỏi của chúng ta là em không đúng. Anh Bảo! em thương anh nhiều lắm. Anh sống với em cả đời cực khổ, chưa có bao giờ anh được sung sướng.

Các con, Bằng, Tâm, Ngân. Các con đừng trách mẹ, mẹ khổ nhiều lắm. Mẹ chạy tiền cho các con ăn học, bây giờ nợ nhiều lắm. Tiền hụi chết mỗi tháng phải đóng cho dì Ánh 1 triệu đồng. Mẹ đã đi van xin được cấp sổ hộ nghèo để mẹ vay tiền đóng học phí cho các con. Nhưng không ai cho gia đình mình nghèo hết. Mẹ chết để giảm gánh nặng cho cha con, để phù hộ cho cha con các con được trúng số độc đắc, để chính quyền thấy nhà mình thực sự khổ rồi cấp sổ hộ nghèo, vay tiền đóng học phí cho các con.

Xin các cấp chính quyền ấp 5 soi xét cho hoàn cảnh quá khổ, không lối thoát của chúng tôi mà xét cấp sổ hộ nghèo cho chồng con tôi được sống những ngày tháng còn lại trên đời.

Anh Bảo! Anh ra Hội chữ thập đỏ xin hòm liệm em, đừng mua tốn kém lắm, dành tiền lo cho các con mình ăn học nghe anh.

Anh. Em thương anh nhiều lắm! Các con hãy gắng vươn lên, học tập đổi đời, đừng để cha con phải khổ thêm. Vì mẹ con mình mà cha các con phải khổ cả đời rồi…

Mỹ Nhân tạm biệt!”.

Đám tang của chị được bà con An Xuyên phúng viếng trên 40 triệu đồng, một số tiền khá lớn so với những đám tang khác tại địa phương.

Gia đình chị Nhân không thuộc chuẩn xét hộ nghèo, cận nghèo

Ông Võ Văn Nhu, Bí thư chi bộ ấp 5, xã An Xuyên: “Việc không cấp sổ hộ nghèo cho gia đình chị Nhân là do hoàn cảnh nhà chị chưa đến chuẩn để xét.

Theo qui định hiện hành, hộ nào có mức thu nhập bình quân đầu người từ 400 ngàn đồng/người/tháng trở xuống thì là hộ nghèo. Từ 401 ngàn đồng – 520 ngàn đồng xét hộ cận nghèo. Trong khi chỉ tính riêng thu nhập từ công việc thợ hồ của anh Bảo đã là 3 triệu đồng/tháng, chia cho 5 nhân khẩu thì được 600 ngàn đồng/người/tháng.

Tuy nhiên, cái chết của chị Nhân khiến chúng tôi rất đau xót và nghiêm túc rút kinh nghiệm vì chưa thực sự sâu, sát hiểu rõ tâm tư nguyện vộng của dân, để đề xuất cộng đồng chung tay giúp đỡ.

Qua đây, chúng tôi cũng xin đề xuất với Nhà nước hãy điều chỉnh mức chuẩn xét hộ nghèo lên. Thực tế cho thấy, với vật giá hiện nay, để sống gói ghém, mỗi khẩu cần có ít nhất là một triệu đồng. Nếu có con đi học hành thì không thể nào đảm bảo được”.

Theo Xa lộ Pháp luật

Nguồn: baophapluat.vn

Blogger Điếu Cày sắp được trả tự do?

Blogger Điếu Cày sắp được trả tự do?

Chuacuuthe.com

VRNs (08.08.2014) – Sài Gòn – Chấp hành viên Lê Văn Kiệt của Chi cục thi hành án (CCTHA) dân sự quận 3, ngày 06.08 vừa qua đã gởi Giấy Mời đến gia đình blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải, yêu cầu gia đình thay mặt cho ông Hải đóng tiền án phí sơ thẩm và phúc thẩm hình sự để “đủ điều kiện xem xét giảm án đặc xá”.

140807012

Điều đầu tiên gây ngạc nhiên cho chúng tôi là án phí của một bản án hình sự tại sao lại do CCTHA dân sự gởi thư mời (tương tự giấy đòi nợ) để thu tiền? Điều thứ hai là tại sao việc nộp án phí lại là “đủ điều kiện xem xét giảm án đặc xá”?

Anh Nguyễn Trí Dũng, con trai của blogger Điếu Cày bình luận trên trang facebook cá nhân, sau khi nhận được thư mời như sau:

“Đây là động tác mới nhất của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đối với vụ án xử kín các thành viên Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do (CLBNBTD) mà ông Hải Điếu Cày cho đến bây giờ còn chưa nhận được Quyết định thi hành án và Bản án phúc thẩm. Nó diễn ra trong bối cảnh ngay sau khi Đặc phái viên của Liên Hiệp Quốc về tự do tôn giáo Heiner Bielefeldt chấm dứt sớm cuộc tham sát và có những nhận xét mạnh mẽ, thẳn thắn về Việt Nam. Việc gửi 1 “giấy mời… đóng án phí” với gợi ý về việc trả tự do cho ông Hải rất có thể đến từ một nhu cầu cải thiện hình ảnh khẩn cấp của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.

Về phía gia đình, chúng tôi luôn khẳng định là ông Nguyễn Văn Hải vô tội vì những việc làm của ông là đúng với hiến pháp và pháp luật không cấm. Ngoài ra đã rất nhiều lần cán bộ An ninh điều tra chia sẻ rằng phải bắt ông Hải để ngoại giao với Trung Quốc. Sau rất nhiều đơn thư khiếu nại đến tất cả các cấp không được trả lời. Chúng tôi chỉ còn mong ước rằng công lý được thực thi, những gì các cơ quan hành pháp đã vi phạm phải được nhìn nhận và khắc phục, hoặc đơn giản hơn là dám trả lời những đơn thư khiếu nại của chúng tôi. Ngoài việc đó ra cơ quan chức năng còn có thể tùy tiện thả tự do cho ông Nguyễn Văn Hải không cần lý do (hoặc dàn dựng lên vài lý do), cũng giống như lúc đã bắt ông Hải, để thể hiện rõ bản chất của chế độ.

Xin nhắc lại câu nói của cha tôi trong những lần gặp trước đây, “bố có thể ở tù đến chết để cho tất cả mọi người được biết đến thực trạng của người tù chính trị ở Việt Nam”.

Vụ án Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do được đưa ra xét xử sơ thẩm ngày 24 tháng 9 năm 2012 và phúc thẩm ngày 28 tháng 12 năm 2012, xét xử 3 thành Viên là Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải. Ông Hải bị tuyên án 12 năm tù giam và 5 năm quản chế. Bị biệt giam không lý do trong các trại ông đi qua, chưa bao giờ được nhận bản án phúc thẩm và quyết định thi hành án, và bị ngăn chặn tuyệt đối các đơn thư khiếu nại và kháng cáo từ buồng giam. Đỉnh điểm là vụ tuyệt thực hơn 30 ngày của ông vào tháng 6 – 7 năm 2013 để được trả lời khiếu nại. Nhưng sau khi Viện kiểm sát nhân dân Nghệ An đến hứa hẹn, thì chưa một khiếu nại nào được giải quyết. Những người tù chính trị đã giúp đỡ ông trong thời gian tuyệt thực đó bao gồm ông Nguyễn Xuân Nghĩa đã bị đánh đập và chuyển đi những trại khác cách xa hàng ngàn cây số”.

Liêu đây có phải là tín hiệu cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội đang bị thúc ép, buộc phải thả blogger Điếu Cày ra để được kết thúc hồ sờ TPP, sau khi đã thả Đỗ Thị Minh Hạnh như áp lực của chính các cơ quan hành pháp Hoa Kỳ?

140807011PV. VRNs

Vừa ly dị, hai vợ chồng cùng chết vì tai nạn giao thông

Vừa ly dị, hai vợ chồng cùng chết vì tai nạn giao thông
August 07, 2014

Nguoi-viet.com

HẬU GIANG (NV)Tai nạn giao thông thảm khốc xảy ra tại quốc lộ 1 A, làm đôi vợ chồng thiệt mạng, có thể vì bi kịch gia đình.

Báo mạng Zing cho biết, tai nạn xảy ra vào chiều ngày 6 tháng 8, năm 2014, trên đoạn đường đoạn băng ngang thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Giấy tờ để lại cho biết, đôi vợ chồng này là ông Mai Thanh Hải, 36 tuổi và bà Võ Thị Chính, 35 tuổi, ngụ tại huyện Châu Thành A. Nhân viên điều tra tìm thấy trong túi xách của hai người bạc mệnh có một lá đơn ly dị còn chưa ráo mực, vừa được hai người cùng ký tên.



Nơi xảy ra tai nạn làm chết cả hai vợ chồng. (Hình: Zing)

Báo mạng Zing News dẫn lời một số nhân chứng cho biết, đôi vợ chồng trên cùng ngồi tại một quán nước trước khi tai nạn xảy ra. Cả hai cãi nhau kịch liệt, có vẻ như vừa cùng ký tên vào tờ giấy ly dị, chuẩn bị đưa nhau ra tòa, vì mâu thuẫn trong cuộc sống khiến họ không thể nào tiếp tục chung sống với nhau.

Hai người cùng lên chiếc xe gắn máy do ông Mai Thanh Hải cầm lái, rời khỏi quán nước. Bà Chính ngồi yên sau không đội nón an toàn. Chiếc xe rời quán nước chưa đầy một cây số, vừa băng lên cầu Ðất Sét thì tông phải một chiếc xe hơi chạy cùng chiều phía trước mặt. Ông Hải và bà Chính cùng té xuống đường, bị xe vận tải từ đàng sau chạy trờ tới cán chết tại chỗ.

Dư luận cho rằng, có thể vì đang trong trạng thái giận dữ, bất an, ông Hải rồ ga phóng xe như bay trên đường, theo hướng từ Hậu Giang đến thành phố Cần Thơ, bất chấp nguy hiểm. Cuối cùng thì tai nạn hiểm nghèo xảy ra tước đoạt sinh mệnh của cả hai người.

Hai vợ chồng ông Hải và bà Chính chết đi để lại hai đứa con, một 15 tuổi và một mới lên 5. (PL)

 

Tư Bản Đỏ VN Đầu Tư Vào Mỹ Để Định Cư; Trong Năm 2013 Có 60 Đại Gia Đầu Tư Diện EB-5

Bản Đỏ VN Đầu Tư Vào Mỹ Để Định Cư; Trong Năm 2013 Có 60 Đại Gia Đầu Tư Diện EB-5

Vietbao.com

SAIGON (VB) — Nhiều đại gia tư bản đỏ đã và đang lên kế hoạch đầu tư vào Mỹ và sẽ đưa toàn gia sang định cư ở Mỹ.

Bản tin Báo Dân Việt ghi theo VnExpress có tựa đề “Nhiều đại gia Việt quan tâm đầu tư định cư Mỹ,” nói rằng đã có “khoảng 60 hồ sơ của Việt Nam được duyệt định cư thông qua đầu tư dự án tại Mỹ năm ngoái, trong khi 6 năm trước gần như không trường hợp nào thành công – ông Trần Văn Tỉnh, Chủ tịch HĐQT IMM Group cho biết.”

Bản tin nói, Luật EB-5 quy định về việc định cư tại Mỹ thông qua các chương trình đầu tư dự án. Đây cũng là cách nước Mỹ thu hút đầu tư nước ngoài. Gần 10 năm trước, chương trình này hầu như không được quan tâm bởi quy định khắt khe của cơ quan Di trú. Nhưng hiện nay, số người có nhu cầu tìm hiểu và muốn định cư ở Mỹ có xu hướng gia tăng.

Nhưng, cần bao nhiêu tiền bơm vaò Mỹ đầu tư mới có thể vào định cư ở Mỹ?

Ông Trần Văn Tỉnh, Chủ tịch HĐQT IMM Group, giải thích về chương trình EB-5:

“Thị trường Mỹ không yêu cầu kinh nghiệm quản lý, không yêu cầu có doanh nghiệp, không giới hạn độ tuổi hay ngoại ngữ…, nhưng phải có khoản tiền 500.000 USD để rót vào một dự án ở Mỹ (vào những vùng đã được chỉ định đầu tư) và chứng minh nó tạo ra 10 việc làm cho người bản xứ.

Chính phủ Mỹ đưa ra hạn mức 10.000 visa một năm dành riêng cho EB-5 nhưng từ trước tới nay chưa có năm nào đạt được. Tuy nhiên, lượng hồ sơ xin thẻ xanh có điều kiện được chấp thuận tăng dần qua các năm (2010: 1.369 hồ sơ, 2012: 1.563; 2013 là 3.677, theo Bộ Di trú Mỹ). Mong muốn chứng kiến con cái lớn lên tại nơi có nền giáo dục và môi trường phát triển, sớm đoàn tụ với người hoặc tận dụng những lợi thế kinh doanh khi có thẻ xanh trong tay là lý do chính mà nhiều người, trong đó có người Việt tìm cách định cư ở nước ngoài.”

Nhưng, mức độ khó của hô sơ EB-5 ra sao?

Ông Tỉnh giải thích:

“Theo thông tin tôi nắm, năm 2013, Việt Nam mới có khoảng 60 hồ sơ đạt yêu cầu nhận thẻ xanh có điều kiện.

Cái khó nhất của nhà đầu tư Việt Nam hiện nay là chứng minh tính minh bạch của số tiền 500.000 USD sẽ dùng để đầu tư vào dự án ở Mỹ. Nhiều trường hợp bỏ hẳn ý định vì không cách nào thu thập đủ thông tin để trình bày cho Chính phủ Mỹ hiểu rõ ngọn nguồn khoản tiền này. Có khách hàng là đại gia ở TP HCM thừa sức chi gấp hàng chục lần số tiền này nhưng ông không cho thấy trên giấy tờ 500.000 USD đó là do nguồn thu từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà ông làm chủ mang lại. Hay một chị thu nhập hàng chục triệu đồng mỗi ngày từ cửa hàng điện tử ở quận 5 song không có gì xác minh đây là sự thật. Hóa đơn từ cơ quan thuế cũng vô hiệu bởi không được phía Mỹ chấp thuận. Trường hợp này đòi hỏi sự vào cuộc của phía luật sư, công ty kiểm toán… nên chỉ riêng khâu hoàn tất hồ sơ ban đầu chuyển cho công ty tư vấn đã mất vài tháng.”

Tình hình này cho thấy, các đại gia ở VN có rất nhiều, nhưng sẽ rất ít người chứng minh rằng đông tiền của họ có nguồn gốc “sạch.”

 

Đã đến lúc giải mật Hội Nghị Thành Đô?

Đã đến lúc giải mật Hội Nghị Thành Đô?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2014-08-06

Hội nghị Thành đô 1990

Hội nghị Thành đô 1990

Files Photos

Hội Nghị Thành Đô là cụm từ nhức nhối đối với người quan tâm tới vận mệnh đất nước có liên quan đến yếu tố Trung Quốc. Hồi gần đây sự đòi hỏi minh bạch hội nghị này ngày một xuất hiện nhiều hơn trong giới sĩ phu cũng như tướng lãnh quân đội Nhân dân Việt Nam.

Bí ẩn vẫn bao trùm Hội nghị Thành Đô

Trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 Hội nghị Thành Đô được tổ chức tại Tứ Xuyên quy tụ lãnh đạo cao cấp của hai nước Việt Nam-Trung Quốc cho đến nay vẫn còn để lại trong lòng người dân nhiều câu hỏi về những gì mà hai bên bàn luận. Những khuôn mặt phía Việt Nam như Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, và Phạm Văn Đồng, cố vấn ban chấp hành Trung ương Đảng. Phía bên kia là Giang Trạch Dân, Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc cùng với Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc.

Qua hình ảnh, những cái bắt tay đi kèm những nụ cười cho biết họ vừa bàn thảo những sự kiện quan trọng nhưng không ai được đọc hay nghe những gì mà hai bên thỏa thuận bên trong hội nghị. Từ đó đến nay, sự bí mật, hay nói đúng hơn là bưng bít vẫn bao trùm câu chuyện Thành Đô như một vùng cấm của người cộng sản mặc dù nội dung của nó liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc.

Lịch sử cho thấy bất cứ sự thỏa hiệp mờ ám nào dù tinh vi tới đâu cũng bị lật tẩy. Không ai có thể buộc kẻ thù không được công bố những gì mà trong quá khứ đã trót bằng lòng với chúng. Câu chuyện công hàm Phạm Văn Đồng là một thí dụ lớn nhất mà nhà nước có thể lấy làm bài học vì thời gian dù có bao lâu vẫn không mài mất được chữ ký của một Thủ tướng.

” Qua hình ảnh, những cái bắt tay đi kèm những nụ cười cho biết họ vừa bàn thảo những sự kiện quan trọng nhưng không ai được đọc hay nghe những gì mà hai bên thỏa thuận bên trong hội nghị. Từ đó đến nay, sự bí mật, hay nói đúng hơn là bưng bít vẫn bao trùm câu chuyện Thành Đô”

Công hàm Phạm Văn Đồng do Hà Nội quá lâu không lên tiếng giải bày khiến Trung Quốc có lợi thế như một yếu tố phân hóa quần chúng không còn tin tưởng vào sự lãnh đạo của chính quyền khi xảy ra vấn đề tranh chấp biển đảo với Trung Quốc. Tương tự như vậy, Trung Quốc đã dùng sự mập mờ của Hội Nghị Thành Đô để bịt miệng lãnh đạo Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử khiến tay họ trót nhúng chàm vì quá tin vào người bạn xã hội chủ nghĩa.

Năm 2004 tập hồi ký của nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cho thấy phần nào sự bí ẩn phía sau khi ông bị Trung Quốc gạt ra khỏi Hội Nghị vì quan điểm chống Trung Quốc công khai của ông. Yếu tố này một lần nữa chứng minh sự gượng ép của những người đại diện Việt Nam tham gia hội nghị và mãi một phần tư thế kỷ sau đó bí mật vẫn bao trùm câu chuyện Thành Đô.

Đại tá công an Nguyễn Đăng Quang là người từng nhiều lần tiếp xúc với nguyên Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch cho biết:

Chụp ảnh lưu niệm sau hội đàm Thành Đô

Chụp ảnh lưu niệm sau hội đàm Thành Đô

Trung quốc đưa ra một điều kiện tiên quyết đó là Việt Nam thực tâm muốn bình thường, cải thiện quan hệ ngoại giao với Trung Quốc thì việc đầu tiên là Việt Nam phải loại bỏ Bộ trưởng Thạch, đó là điều anh ấy nói riêng với tôi và sau này tôi được biết anh ấy nói công khai trong Bộ Ngoại giao. Còn nhiều việc anh ấy nói với tôi nữa nhưng tôi chưa dám công bố bởi vì có thể những việc đó anh ấy sẽ viết trong cuốn hồi ký của anh ấy.

Anh ấy là người rất hiểu Trung Quốc và hiểu tận tim gan của họ. Ví dụ như Trung Quốc nói rằng đảo Hoàng Sa có xương của người Trung Quốc thì ảnh đập lại anh ấy nói nếu như thế thì ngay thủ đô Hà Nội cũng sẽ là đất của Trung Quốc bởi vì gò Đống Đa có rất nhiều xương của Trung Quốc vì người Hán bị vua Quang Trung tiêu diệt chất thành cả một cái gò như thế. Nếu nói đâu có xương của người Hán người Trung Quốc thì nơi đó là dất của Trung Quốc thì phi khoa học.

Việt Nam một tỉnh tự trị của Trung Quốc?

Tài liệu về hội nghị này hết sức ít ỏi khiến bao nhiêu học giả muốn nghiên cứu về nó phải chịu thua vì sự trung thành của người trong cuộc. Bí mật càng giữ, sự xuyên tạc sự thật về nó càng khiến người ta tin hơn, đặc biệt nếu sự xuyên tạc ấy đến công khai từ phía Trung Quốc khi hai nước chạm trán với nhau trên vấn đề biên cương lãnh thổ.

” Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên

Tờ Thời báo Hoàn Cầu và Tân Hoa Xã”

Tờ Thời báo Hoàn Cầu và Tân Hoa Xã vừa cùng nhau công bố những chi tiết mà hai cơ quan này gọi là sự thật về “Kỷ Yếu Hội Nghị” trong những ngày vừa qua với những câu chữ như sau:

Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh , như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….

Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên , và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”

Với những từ ngữ tuyên giáo như thế không ai có thể tin rằng lãnh đạo Việt Nam đã mù quáng đến nỗi đi tới quyết định như vậy mặc dù sự xụp đổ của Liên Xô đã khiến đảng Cộng sản Việt Nam phải tìm cách dựa vào Trung Quốc để sống còn.

Dù sao thì Chủ nghĩa Xã hội cũng không thể biến Việt Nam thành một tỉnh tự trị của Trung Quốc vì ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười cộng với Phạm Văn Đồng không đủ chính danh để ký một văn tự vô giá trị như thế.

Tuy nhiên vì Hà Nội tiếp tục im lặng nên câu hỏi đã dần dần biến thành sự thật cho dù chỉ phân nửa sự thật đến từ Hoàn Cầu Thời Báo.

Phản ứng của nhân sĩ trí thức và tướng lãnh Việt Nam rõ ràng là phẫn nộ và họ đòi hỏi nhà nước phải bạch hóa sự kiện Thành Đô. Trước tiên là Thiếu tướng Lê Duy Mật sau đó là Đại tá công an Nguyễn Đăng Quang cùng nhiều người khác đã công khai kiến nghị lãnh đạo phải giải thích minh bạch những điều mà Trung Quốc đưa ra như đã từng đưa sự việc công hàm Phạm Văn Đồng khiến Hà Nội phải ngậm bù hòn làm ngọt không thể tiến tới một vụ kiện phản đối Trung Quốc.

” Hoàn Cầu Thời báo thì nó không phải là cơ quan chính thức của dảng và nhà nước Trung Hoa cho nên nó đưa như thế ai muốn hiểu thế nào thì hiểu, bản thân cá nhân tôi thì tôi không tin đó là sự thật. Thế nhưng nếu mình im lặng trong chuyện này thì bất lợi cho mình. Phải có một kênh thông tin nào đó để phản bác lại chuyện đó

Đại tá Nguyễn Đăng Quang”

Nói với chúng tôi Thiếu tướng Lê Duy Mật cho biết:

Vấn đề Thành Đô quan hệ như thế nào nó ảnh hưởng ra sao và hậu họa của nó thế nào thì giờ mình cũng chưa thật rõ cho nên tôi nêu ra vấn để để các đồng chí lãnh đạo xem xét và đồng thời có ý kiến với toàn bộ đảng toàn nhân dân thế thôi. Bây giờ thì cứ chờ họ xem quan điểm, thái độ và cách giải quyết như thế nào. Còn bây giờ mình hãy nêu vấn đề, một vài ví dụ thế thôi. Nó là vấn đề bang giao chiến lược và của tập thể chứ không phải của một cá nhân nào.

Đại tá Nguyễn Đăng Quang không tin vào những thông tin này tuy nhiên theo ông nếu nhà nước vẫn chủ trương im lặng thì không khác gì trao vũ khí tuyên truyền cho giặc, ông chia sẻ:

Cái thông tin này thì bản thân tôi nghĩ rằng không phải là thật. Hoàn Cầu Thời báo nó tung ra để gây chia rẽ mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo Việt Nam với nhau thôi và gây phân hóa trong người dân Việt Nam với nhau.

Hoàn Cầu Thời báo thì nó không phải là cơ quan chính thức của dảng và nhà nước Trung Hoa cho nên nó đưa như thế ai muốn hiểu thế nào thì hiểu. bản thân cá nhân tôi thì tôi không tin đó là sự thật. Thế nhưng nếu mình im lặng trong chuyện này thì bất lợi cho mình. Phải có một kênh thông tin nào đó để phản bác lại chuyện đó.

Còn chuyện có công bố cho dân biết về Hội nghị Thành Đô hay không thì tôi nghĩ rằng không phải là chuyện dễ làm nhưng phần nào ít nhiều gì cũng phải cho người dân biết.

Hội Nghị Thành Đô như một giọt nước tràn ly, đây là cơ hội để nhà nước bạch hóa một sự thật được giữ kín trong suốt 24 năm. Tuy nhiên bí mật khi đã trở thành gai nhọn thì cách hay nhất vẫn phải chịu đau mà lấy gai lể nó.

Thủy điện ở Việt Nam: ‘Bên nào cũng khóc’

Thủy điện ở Việt Nam: ‘Bên nào cũng khóc’
August 05, 2014

Nguoi-viet.com


VIỆT NAM (NV)
Bộ Công Thương Việt Nam vừa tuyên bố sẽ tổ chức một hội nghị với chính quyền các tỉnh có công trình thủy điện để bàn bạc cách thức quản lý thủy điện tốt hơn.

Tuyên bố vừa kể được đưa ra sau khi đập tạm để chặn nước làm đập chính của thủy điện Ia Krel 2 tại huyện Ðức Cơ, tỉnh Gia Lai bị vỡ lần thứ hai vào ngày 1 tháng 8.


Thủy điện Ia Krel 2. (Hình: Tuổi Trẻ)

Ðập tạm này từng bị vỡ hồi tháng 6 năm ngoái, gây thiệt hại khoảng ba tỉ đồng. Theo chủ tịch huyện Ðức Cơ, thiệt hại của lần vỡ thứ hai chắc chắn sẽ gấp vài lần thiệt hại hồi năm ngoái.

Vụ đập tạm để chặn nước làm đập chính của thủy điện Ia Krel 2 bị vỡ khiến chủ đầu tư bàng hoàng. Ðến bây giờ, ông Nguyễn Ngọc Ẩn, phó giám đốc công ty Bảo Long Gia Lai – doanh nghiệp chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng và phụ tùng xe vận tải nhưng không hiểu sao vẫn được chính quyền tỉnh Gia Lai cấp giấy phép đầu tư ba công trình thủy điện tại Gia Lai, trong đó có thủy điện Ia Krel 2 – chính thức thú nhận: “Chúng tôi không thể ngờ! Chúng tôi không lường hết được sự việc! Chúng tôi chưa có kinh nghiệm!”

May mắn là thủy điện Ia Krel 2 đang xây dựng, chưa tích nước, nếu đập chính vỡ khi hồ chứa nước đã tích đủ nước, hậu quả sẽ rất thảm khốc.

Vụ đập tạm của thủy điện Ia Krel 2 vỡ lần thứ hai khiến dân chúng Tây Nguyên và miền Trung thêm lo âu. Từ cuối năm 2012 đến nay đã xảy ra bốn vụ đập chặn nước của các công trình thủy điện ở Tây Nguyên và miền Trung bị vỡ. Ngoài đập tạm của thủy điện Ia Krel 2 bị vỡ hai lần, trong vòng chưa đầy hai năm, còn có đập chặn nước của thủy điện Ðak Mek 3 ở Kon Tum và đập chặn nước của thủy điện Ðakrong 3 ở Quảng Trị bị vỡ.

Ðến nay, việc cho phép thực hiện ồ ạt hàng ngàn dự án thủy điện đã tạo ra một thảm họa mới cả về kinh tế, môi trường lẫn dân sinh, đặc biệt là tại khu vực Tây Nguyên và miền Trung Việt Nam.

Các dự án thủy điện đã làm Tây Nguyên mất 80,000 héc ta đất, gây xáo trộn sinh hoạt, sinh kế của 26,000 gia đình, phần lớn là người thiểu số.

Những dự án thủy điện được cấp giấy phép để thực hiện tại Tây Nguyên và miền Trung được xem là nguyên nhân tăng thêm đói nghèo, đẩy dân chúng tới tột đỉnh của sự bần cùng, vì gây ra hạn hán nghiêm trọng vào mùa khô, lũ lụt thường xuyên vào mùa mưa.

Chưa kể chuyện xả lũ vô tội vạ sau các trận bão hồi năm ngoái đã làm 41 người chết, 5 người mất tích, 74 người bị thương, 410 ngôi nhà bị nước cuốn, 425,573 ngôi nhà bị ngập. Chưa kể thiệt hại do ruộng vườn mất trắng vì lũ. Hậu quả thiên tai thêm trầm trọng.

Cũng năm ngoái, sau khi thẩm tra các dự án thủy điện, Ủy Ban Khoa Học-Công Nghệ-Môi Trường của Quốc Hội Việt Nam cho biết, việc quản lý chất lượng, an toàn tại các công trình thủy điện tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường. Khoảng 30% đập chắn nước của các công trình thủy điện chưa được kiểm định. Khoảng 66% đập chắn nước chưa được duyệt phương án bảo vệ. Khoảng 55% chủ đập chưa có phương án phòng chống lụt bão.

Sau khi Quốc Hội Việt Nam yêu cầu chính phủ Việt Nam báo cáo về “Quy hoạch tổng thể cho thủy điện,” đại diện chính phủ Việt Nam loan báo đã loại bỏ 424 dự án thủy điện. Trừ đi các dự án bị loại bỏ, tại Việt Nam vẫn còn 815 dự án, công trình thủy điện, trong đó có 205 dự án đang thi công hoặc dự kiến sẽ khai thác cho đến 2017.

Dù vậy những thảm họa đi kèm các dự án thủy điện vẫn lơ lửng trên đầu hàng chục triệu người cư trú ở Tây Nguyên và miền Trung Việt Nam.

Các hồ chứa nước của một số công trình thủy điện như Sông Tranh 2, Ðăk Ðrinh, Ðakrong nay là gốc rễ của vài chục trận động đất xảy ra liên tục ở huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam; huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum; huyện Ðakrong, tỉnh Quảng Trị.

Các dự án thủy điện còn là nguyên nhân gây ra xung đột giữa chính quyền thành phố Ðà Nẵng, chính quyền tỉnh Quảng Nam, chính quyền tỉnh Phú Yên với Bộ Tài Nguyên-Môi Trường, Bộ Công Thương do bất đồng về qui trình tích nước trong mùa khô và xả nước trong mùa lũ. Từ năm ngoái đến nay, những viên chức lãnh đạo ngành nông nghiệp-phát triển nông thôn của các tỉnh vừa kể, liên tục lên án hai Bộ Tài Nguyên-Môi Trường và Công Thương là vô trách nhiệm khi đặt lợi ích của thủy điện lên hàng đầu và bỏ qua lợi ích của hàng ngàn gia đình vùng hạ du. (G.Ð)

 

Phạm Chí Dũng : Nhà nước cần chấp nhận hoạt động ôn hòa của xã hội dân sự

Phạm Chí Dũng : Nhà nước cần chấp nhận hoạt động ôn hòa của xã hội dân sự

RFI

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng.

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng.

DR

Thụy My

Nhà báo Phạm Chí Dũng – Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam (Hội NBĐLVN) – vừa nhận hai giấy triệu tập liên tiếp của Cơ quan an ninh điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu anh phải đến trụ sở cơ quan này vào 8h sáng các ngày 4/8 và 5/8 để “trả lời các bài viết trên Internet”.

Được biết ngày 4/8 cũng là thời điểm một cuộc sinh hoạt định kỳ của Hội NBĐLVN được tổ chức tại Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Ngày 5/8 là ngày họp mặt các nhóm xã hội dân sự tại Saigon.

Với giấy triệu tập lần 1, nhà báo Phạm Chí Dũng đã từ chối không đến, nhưng đành vắng mặt trong buổi họp vì bị ngăn chặn. Còn hôm nay 05/08/2014, anh đã chấp nhận đến trụ sở công an để làm việc. Sau khi kết thúc buổi làm việc này, anh cho đài RFI biết:

Nhà báo Phạm Chí Dũng : Một chi tiết thú vị là tôi lại gặp chính ông Lê Đình Thịnh – điều tra viên mà vào năm 2012 đã tham gia bắt và hỏi cung tôi. Lần này, điều tra viên hỏi khá nhiều về Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, nội dung xoay quanh mục đích tôn chỉ của Hội và một số vấn đề khác. Có vẻ họ rất quan tâm đến tiêu chí “hoạt động ôn hòa” của Hội và cố gắng dò tìm xem hội này thực sự ôn hòa hay có định xách động dân chúng không.

Tôi trả lời thẳng là Hội NBĐLVN là tổ chức nghề nghiệp về báo chí, đã tuyên bố hoạt động ôn hòa tức sẽ luôn ôn hòa về quan điểm, trong đó có quan điểm chính trị. Nhà nước Việt Nam luôn đa nghi, nhưng sẽ hoài công vì Hội NBĐLVN chẳng bao giờ có ý định “lật đổ chế độ”.

Tuy nhiên, mục tiêu chính của Hội là phản biện, và Hội chấp nhận các luồng quan điểm và ý kiến đa chiều, kể cả trái chiều giữa các hội viên để tạo nên một môi trường đa nguyên tư tưởng theo đúng nghĩa.

Về ngày thành lập 4/7 của Hội NBĐLVN trùng với ngày Quốc khánh Mỹ, ngay từ đầu chúng tôi đã xác định đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng rất ý nghĩa, vì điểm thời gian này tương hợp với Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hơn hai trăm năm trước – năm 1776. Nhưng không thể lấy sự trùng hợp về thời điểm như thế để quy cho Hội NBĐLVN là “theo đuôi Mỹ”.

Họ cũng cho rằng có thể tôi bị “cuốn theo đô la và ảo vọng”, tức “khen Mỹ” nhiều quá. Tôi trả lời thẳng là: “Các anh có chứng minh được chúng tôi dùng nguồn tiền bất hợp pháp cho hoạt động của Hội NBĐLVN không? Các anh có bao giờ thấy tôi hoang tưởng chính trị không? Vừa qua sau vụ giàn khoan HD 981 của Trung Quốc, nếu không có sự lên tiếng mạnh mẽ của Hoa Kỳ và phương Tây thì liệu Trung Quốc có nhượng bộ Việt Nam không? Như vậy cần thấy rằng phải cố mà xây cho được mối quan hệ đồng minh với Mỹ chứ. Quan hệ này không chỉ bảo toàn lãnh thổ cho dân tộc Việt Nam mà còn có lợi cho cả đảng của các anh đấy”.

Nội dung hỏi và trả lời chỉ có thế. Sau đó họ đề nghị tôi ký xác nhận vào những bài viết của tôi trên mạng Internet, nhưng tôi yêu cầu họ về nhà tôi để tôi tự in các bài viết từ trên mạng rồi mới có thể ký được.

Điều đọng lại cuối cùng nhưng ấn tượng nhất đối với tôi sau buổi làm việc hôm nay là Cơ quan ANĐT không hề đề cập đến việc hình thành Hội NBĐLVN là đúng hay sai luật pháp, cũng không đả động gì đến việc “xử lý vi phạm” hay bắt bớ nào đối với các hội viên của Hội NBĐLVN.

Họ cũng không đề cập đến cụm từ “đối lập chính trị” mà giới dư luận viên đã luôn dùng để công kích và quy chụp Hội NBĐLVN trong gần ba chục bài viết trên mạng trong một tháng qua, hay truy tìm nguồn tài chính của Hội mà có thể họ luôn cho rằng không minh bạch. Và Cơ quan ANĐT cũng chỉ hỏi về hoạt động của cá nhân tôi chứ không đề cập đến bất cứ người nào khác trong Hội NBĐLVN.

Tôi cho rằng đã đến lúc Nhà nước Việt Nam cần chấp nhận hoạt động ôn hòa của các hội đoàn dân sự độc lập, và thay vì điều tra xét hỏi và triệu tập liên miên mà có thể phạm vào việc lạm dụng quyền lực, họ nên đối thoại với chúng tôi về những giải pháp cho đất nước.

Nhà báo Phạm Chí Dũng – Saigon

 

05/08/2014
by Thụy My

 

Nghe (03:04)

 

 

 

 

Sài Gòn là điểm trung chuyển nạn nhân buôn người

Sài Gòn là điểm trung chuyển nạn nhân buôn người
August 04, 2014

Nguoi-viet.com
SÀI GÒN (NV) – Ðó là lời thừa nhận của chính quyền thành phố Sài Gòn khi sơ kết tình hình an ninh trật tự ở thành phố này trong sáu tháng đầu năm 2014.


Chùa Bồ Ðề ở Hà Nội, một nơi chuyên nuôi trẻ mồ côi và người già. Công an Việt Nam đang điều tra hoạt động mua bán trẻ em tại ngôi chùa này. Ðã có hai bảo mẫu bị bắt hôm 3 tháng 8. (Hình: xahoi.com.vn)

Ðại diện nhà cầm quyền thành phố cho biết là đã và đang là nơi được các nhóm buôn người dùng làm điểm “tập kết” để trung chuyển nạn nhân từ các tỉnh khác ra ngoại quốc.

Các nhóm buôn người thường dụ dỗ thiếu nữ bằng cách hứa giúp họ tìm việc làm có thu nhập cao ở ngoại quốc, khi đã đưa họ ra ngoại quốc thì bán họ cho những nhóm buôn người khác, cưỡng ép họ làm gái mại dâm, bóc lột tình dục. Ða số nạn nhân cư trú tại các tỉnh hoặc từ các tỉnh tìm về Sài Gòn kiếm sống.

Giới chức này nói thêm rằng họ vẫn chưa dẹp được tệ nạn môi giới hôn nhân trái phép với đàn ông ngoại quốc vì các hoạt động của các nhóm này càng ngày càng tinh vi và liên tục thay đổi phương thức hoạt động.

Sài Gòn hiện cũng là nơi mà các nhóm chuyên mua bán trẻ em hoạt động. Những nhóm này thường đến những nơi chăm sóc, nuôi dạy trẻ mồ côi, bệnh viện phụ sản, móc nối với nhân viên làm việc tại các cơ sở này gạ gẫm những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, mang thai ngoài ý muốn bán trẻ sơ sinh cho chúng.

Trong sáu tháng đầu năm 2014, công an Sài Gòn đã tiếp nhận để điều tra bảy vụ bán phụ nữ sang Trung Quốc, ba vụ môi giới hôn nhân trái phép, bốn vụ mua bán trẻ em – giải cứu sáu đứa trẻ.

Cho đến nay, Việt Nam vẫn bị xem là một trong những điểm nóng về tệ nạn buôn người. Nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế liên tục cảnh báo về sự phát triển của tệ nạn này tại Việt Nam song chính quyền Việt Nam bất lực trong việc giải quyết thực trạng nhức nhối này.

Kết qủa điều tra về thực trạng buôn người 2014 do chính phủ Hoa Kỳ thực hiện và công bố cách nay vài tháng, ghi nhận Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể nhưng hiện tượng phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị bán sang các nước ở Châu Á để làm nô lệ tình dục vẫn rất đáng ngại. Nơi các nạn nhân này thường bị đưa đến là Trung Quốc, Campuchia, Malaysia và Nga.

Nạn nhân của tệ nạn buôn người tại Việt Nam không chỉ có phụ nữ và trẻ em. Thanh niên và đàn ông Việt Nam cũng bị biến thành hàng hóa để mua bán.

Hồi đầu năm nay, Walk Free – một tổ chức quốc tế chuyên tranh đấu cho nhân quyền, công bố kết quả một cuộc khảo sát-phân tích, xếp hạng về “chỉ số tình trạng nô lệ 2013.” Theo đó, Việt Nam bị xếp thứ 64/162 trên bình diện toàn cầu. Còn xét riêng khu vực Châu Á, Việt Nam xếp thứ 9. Nếu xếp theo tổng số nô lệ, Việt Nam đứng thứ 15 trên thế giới.

Con số nô lệ tại Việt Nam được Walk Free ước đoán nằm trong khoảng từ 240 ngàn đến 260 ngàn. Walk Free nhận định, tình trạng người Việt bị cưỡng ép lao động phổ biến cả ở bên ngoài lẫn bên trong Việt Nam.

Trước đây, chuyện lừa gạt, cưỡng ép làm việc và dùng nhiều biện pháp khác nhau để cầm giữ người lao động, cột chặt họ với giới chủ chỉ xảy ra với những người Việt đi làm thuê ở nước ngoài và những người Việt là nạn nhân của nạn buôn người. Nay, điều đó đang xảy ra trên khắp Việt Nam.

Thỉnh thoảng các tờ báo ở Việt Nam lại đưa tin, vừa có hàng chục, hàng trăm người, đa số là thành viên các sắc tộc thiểu số, bị gạt, bị đưa đến đâu đó ở Việt Nam, bị cưỡng ép làm việc như nô lệ. Chính quyền Việt Nam gần như làm ngơ, không can thiệp vào những vụ này. (G.Ð)

 

Nạn bức cung, nhục hình vẫn phổ biến

Nạn bức cung, nhục hình vẫn phổ biến

Nghe (13:21)

RFI

 

Ảnh minh họa. Đã có ít nhất 9 người chết trong đồn công an trong sáu tháng đầu năm nay ở Việt Nam.

Ảnh minh họa. Đã có ít nhất 9 người chết trong đồn công an trong sáu tháng đầu năm nay ở Việt Nam.

Thanh Phương

Trong những năm gần đây nạn bức cung, nhục hình ở Việt Nam trở nên phổ biến một cách đáng ngại. Thỉnh thoảng báo chí trong nước lại loan tin có người chết tại đồn công an, mà vẫn được mô tả là do “tự tử”, do “đột tử”…, nhưng trên thực tế ai cũng biết đó là do bạo lực của công an đối với các bị can hay người bị câu lưu, tạm giữ.

Chẳng hạn như vụ anh Nguyễn Công Nhựt ở Bình Dương, bị cho là đã “tự tử” tại đồn Công an Bến Cát vào năm 2011, vì đã chết trong tư thế treo cổ. Cho tới nay, gia đình của anh Nhựt vẫn không chấp nhận kết luận điều tra cho rằng anh đã “tự nguyện” ở lại đồn công an, rồi sau đó tự tử, để lại một “lá thư tuyệt mệnh”, với nét chữ không giống với nét chữ bình thường của anh.

Một trong những vụ được dư luận chú ý nhất là vụ anh Ngô Thanh Kiều bị 5 công an đánh chết tại đồn Công an Phú Yên năm 2012. Dư luận càng phẫn nộ khi thấy là trong phiên xử sơ thẩm vào tháng 4 năm nay, 5 công an này chỉ bị tuyên án từ 12 tháng tù treo đến 5 năm tù giam. Trước sự phản đối mạnh mẽ của dư luận, vào đầu tháng 7 vừa qua, tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã hủy án sơ thẩm để điều tra lại vụ này.

Nạn nhân thậm chí là những người chỉ phạm tội vặt vãnh, như trường hợp của anh Cao Văn Tuyên (thôn Suối Lách, xã Khánh Trung, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà), đã bị công an xã dùng dùi cui đánh chết khi bị bắt về đồn để thẩm vấn vào đầu tháng 7 năm 2013. Nguyên nhân vụ bắt giữ chỉ là anh Tuyên thèm thịt gà mà không có tiền mua, nên ăn trộm gà hàng xóm.

Riêng trong năm 2014, chỉ tính đến tháng 6, đã có ít nhất 9 người dân chết trong đồn công an khi bị hỏi cung, căn cứ theo thông tin trên báo chí chính thức. Gần đây nhất, ngày 11/06, ông Trần Đình Toàn đã chết chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi bị đưa về trụ sở công an phường Hạ Long, Nam Định, vì bị nghi tàng trữ ma túy.

Khi đưa xác ông Toàn về để mai táng, gia đình phát hiện trên ngực ông có nhiều vết thâm bất thường, nên nghi là ông đã bị đánh chết. Còn theo Công an Nam Định, các bác sĩ tham gia cấp cứu cho ông Toàn khẳng định, những dấu vết trên là do trong quá trình cấp cứu, các bác sĩ đã ép lồng ngực ông này.

Trong số những nạn nhân chết trong đồn công an từ đầu năm 2014 đến nay, ngoài ông Toàn, có một số người khác cũng được cho là « tự tử », như trường hợp của anh Đỗ Văn Bình tại trụ sở công an huyện Hòa Vang, Đà Nẳng vào tháng 4 hay, của cô Bùi Thị Hương ở trụ sở công an ở tỉnh Bình Phước vào tháng 3.

Trong số còn lại có một người « bò » về đến nhà thì chết, đó là ông Huỳnh N. , ở xã Đạo Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Vào tháng 2, ông đã bị bắt về trụ sở công an về hành vi trộm cắp. Theo gia đình, lúc đi thì ông khoẻ, nhưng lúc công an xã cho về nhà để hôm sau lên « làm việc » tiếp với công an, thì trên người ông có hơn 30 vết thương, vết bầm tím và sáng hôm sau, nạn nhân đã tử vong.

Có người thì chết bị cho là do « đột tử » như trường hợp của ông Đỗ Duy Việt, bị mời lên trụ công an huyện Thường Xuân để điều tra về vụ xâm hại tình dục trẻ vị thành viên. Gia đình nghi nạn nhân đã bị công an đánh chết vì sức khoẻ của ông rất tốt, nhưng không thể nào biết được chuyện gì xảy ra sau khi ông bị bắt giữ.

Vấn đề là ở chỗ đó. Những người bị bắt lên đồn công an chỉ có một mình đối đầu với những đại diện cơ quan công quyền, thường là cấp xã, huyện. Những gì xảy ra ở đó rốt cuộc chỉ do các công an tham gia thẩm vấn, hỏi cung khai báo, chứ không có lời chứng của một bên thứ ba như gia đình, bạn bè, luật sư.

Cách đây vài ngày, bộ Công an Việt Nam vừa ban hành một thông tư “về công tác điều tra hình sự trong Công an nhân dân”. Thông tư này, sẽ có hiệu lực kể từ ngày 25/08/2014, “nghiêm cấm bức cung, mớm cung hoặc dùng nhục hình dưới bất kỳ hình thức nào.”

Thông tin này đã mặc nhiên thừa nhận là tệ nạn này vẫn diễn ra phổ biến mà gần như không có công an nào bị trừng trị đích đáng, mặc dù Hiến pháp cũng như Luật hình sự nghiêm cấm bức cung, nhục hình, cũng như quy định những hình phạt rất rõ ràng đối với người vi phạm.

Mặt khác, như đã nói ở trên, một số vụ người chết là xảy ra ở trụ sở công an xã do bị công an xã hỏi cung « quá trớn », trong khi theo pháp lệnh công an xã (do Chủ tịch nước ban hành ngày 02/12/2008), công an ở cấp này chỉ có quyền « lấy lời khai ban đầu các vụ việc, nhưng không được tạm giữ hình sự, hỏi cung các nghi can, nghi phạm ». Nếu vụ việc có dấu hiệu tội phạm phải chuyển nghi can lên cơ quan công an cấp trên…

Thế nhưng, Dự thảo Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự – hiện đang được thảo luận – lại dự trù là công an xã sẽ có quyền « tiến hành kiểm tra, xác minh ban đầu », tức là có thể tiến trành một số hoạt động điều tra ban đầu. Việc « tản quyền » cho công an cấp cơ sở khiến nhiều người sợ rằng nạn bức cung, nhục hình gây chết người ở trụ sở công an xã sẽ xảy ra nhiều hơn nữa, nhất là tại nhiều xã, công an gần như nắm quyền sinh sát trong tay đối với người dân. Như thế chẳng khác gì tăng thêm « quyền nhục hình » cho công an xã.

Theo tờ Người Lao Động ngày 13/07 vừa qua, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Đình Quyền, cho biết lả trong tháng 8, cơ quan này sẽ tổ chức điều trần về trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến việc truy bức, nhục hình trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự trong thời gian qua.

Nhưng theo ý kiến của luật sư Hà Huy Sơn ở Hà Nội, trả lời phỏng vấn RFI ngày 28/07 vừa qua, một trong những giải pháp đầu tiên để ngăn chận nạn nhục hình, đó là phải tôn trọng quyền của người bị bắt được mời luật sư đến chứng kiến việc thẩm vấn tại trụ sở công an. Nhìn xa hơn, theo luật sư Hà Huy Sơn, chỉ có một Nhà nước pháp trị thật sự mới có thể ngăn chận nạn nhục hình tại trụ sở công an. Sau đây mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn với luật sư Hà Huy Sơn.

LS Hà Huy Sơn, Hà Nội

 

31/07/2014

 

Nghe (07:03)

 

 

 

Những phận đời ly hương mưu sinh giữa Sài Gòn

Những phận đời ly hương mưu sinh giữa Sài Gòn

image

Không nơi nào lực lượng hàng rong đông như ở Sài Gòn. Hàng rong từ chỗ mưu sinh nay đã thành một nghề nghiêm túc của nhiều người. Từ những vùng quê nghèo khó, nhất là miền Trung “cát trắng gió Lào”, người bán hàng rong đổ về thành phố với bao nỗi lo toan, từ cơm áo nợ nần đến chữ nghĩa cho con cái đều trông chờ vào việc góp nhặt những đồng tiền lẻ ở vỉa hè, quán nhậu.

Một ngày tháng 8 Sài Gòn mưa sụt sùi, theo chân những người bà, người chú, người chị bán hàng rong dọc ngang phố xá tôi mới thấm thía nỗi vất vả nhọc nhằn, cả những hiểm nguy của họ trong cuộc mưu sinh.

image

Hàng rong Sài Gòn

Theo chân người bán rong

Hình ảnh đôi gánh hàng rong, những chiếc xe đạp với lỉnh kỉnh bánh kẹo, cá viên chiên đã không còn quá xa lạ với người Sài Gòn. Bất kể nắng hay mưa, từ hẻm sâu đến đường lớn, những bước chân phụ nữ, đàn ông đầy lam lũ vẫn lặng lẽ quẩy đôi quang gánh kĩu kịt trên vai, lội bộ cùng đôi dép mòn vẹt gót giữa dòng xe cộ tấp nập.

Sống ở Sài Gòn gần chục năm, tôi đã gặp không biết bao nhiêu đôi quang gánh, đã nghe kể những câu chuyện đời, chuyện người sau mớ cóc, ổi, xoài… buồn, vui lẫn lộn nhưng đều có điểm chung là thấm đẫm mồ hôi, nước mắt dọc dài năm tháng đời bán rong.

image

Còn nhớ, ngày 17.7.2008, UBND TP.HCM ra quyết định cấm bán hàng rong trên 15 tuyến đường trọng điểm tại Q.1 (về sau nâng lên thành 53 tuyến đường trên toàn thành phố). Từ đó, bán hàng rong trở thành hành vi phạm pháp. Thấp thỏm, lén lút và âu lo là tâm trạng thường trực của những kiếp nghèo tha phương.

Nhiều người trong số họ còn chọn buôn thúng bán bưng ngay cả vào thời điểm nửa đêm về sáng dù biết nguy hiểm luôn chực chờ mình. Bị cấm, nơm nớp lo chạy đội trật tự, nhưng lời rao da diết đến não lòng từ những gánh hàng rong vẫn khiến không ít người xúc động. Để hiểu hơn về cuộc sống của những phận đời ấy, tôi đã theo chân họ nhiều ngày, rảo qua không biết bao nhiêu con đường Sài Gòn mùa mưa.

image

Dù trời mưa tầm tã nhưng các chị vẫn lặn lội đi bán hàng rong

Sáng nào cũng vậy, mặt trời chưa ló dạng, khu vực Nhà điều hành xe buýt Bến Thành (Q.1) đã đông nghẹt người. Hành khách già, trẻ, nam, nữ vội vã chen chân lên tuyến xe sớm nhất. Người đi làm, đi học, người tung tăng đi chơi. Không ai còn thời gian để tâm đến cái dáng lầm lũi, bơ phờ của các bà, các chị đang quẩy gánh hàng rong đi qua phía đối diện, trên đường Phạm Ngũ Lão (Q.1). Đằng sau gánh hàng với không quá 400.000 – 500.000 đồng tiền vốn là bao phận đời éo le, cơ cực.

Tôi biết chị Trần Thị Trang cách đây bốn năm. Hồi đó, chị quẩy gánh hàng rong với lỉnh kỉnh cóc, ổi, xoài, bánh tráng trộn… đi bán ở công viên 23.9 (Q.1). Chị người Bình Định, mới 47 tuổi mà tóc đã bạc nhiều, gương mặt đen sạm và hai mắt lúc nào cũng thâm quầng vì mất ngủ.

Chị thuê trọ, mà nói thuê trọ cũng chưa đúng, chẳng qua chỉ là “mua” chỗ ngủ đêm giá 8.000 đồng/đêm. 3 giờ sáng, chị tất tả ra chợ mua bánh, trái rồi gánh bán đến tận 1 giờ sáng hôm sau mới về. Ăn vội phần cơm nguội, tắm, giặt, chưa kịp ngả lưng đã lại quầy quả đi. Thành ra, trông chị lúc nào cũng như kiệt sức tới nơi. Dạo đó, tôi hay ghé công viên chơi, thăm chị. Hai chị em ngồi nói đủ thứ chuyện. Chị khoe 2 đứa con ở nhà học giỏi, ngoan ngoãn, khoe tháng vừa rồi chị bán được, chắt chiu gửi về nhà cho chồng, con cả triệu.

image

Thi thoảng, ngớt khách, chị ngồi bó gối, trầm ngâm, vừa nhìn xe cộ vừa thủ thỉ: “Chị ước hai đứa nhỏ nhà chị có cơ hội biết giảng đường đại học, biết Sài Gòn đặng tương lai bớt khổ”. Mỗi lần nhắc đến con, trong mắt chị ánh lên nhiều niềm vui. Chị bảo, lăn lộn kiếm từng đồng bạc lẻ như thế này không khiến chị khổ tâm bằng việc phải cho con thôi học. Bởi vậy, cực mấy chị cũng ráng chịu, chỉ cần các con chăm ngoan, học giỏi. Quen lâu, tôi chưa nghe chị than vãn hay mơ ước điều gì cho riêng mình. Tất cả đều vì con.

Hôm rồi gặp lại, chị cười hiền, khoe: “Hai đứa nhỏ nhà chị vô đại học hết rồi đó em”. Tôi mừng cho chị. Mừng những nhọc nhằn của chị đã được đền bù xứng đáng. Nhưng, hình như con càng học lên cao, chị càng cực. Bằng chứng là bữa cơm trắng quẹt với muối ới, mấy năm rồi vẫn vậy, không có gì khá hơn. Đôi dép lào mòn vẹt, cái nón lá rách bươm ngày xưa thấy chị ghi số điện thoại của con lên đó giờ chị còn đội trên đầu.

Tôi ngỏ ý xin theo chị bán hàng rong vài buổi. Chị lắc đầu nguây nguẩy, nói: “Thôi, thôi, sức đâu mà bán hả em. Sài Gòn đang mùa mưa, đường sá ngập nước tùm lum hết à, cái gánh này dòm vậy chớ nặng lắm, em kham không nổi đâu”. Tôi kham không nổi thật. Vừa kề vai vào, chực đứng dậy đã ngã nháo nhào. Mấy chị em cười ứa nước mắt. Chị Trang xuýt xoa: “Khổ chưa. Thôi, nếu muốn biết thì cứ theo chị, khỏi gánh gồng gì hết”. Đi cả buổi chiều, mưa không ngớt. Khách vắng, lạnh và đói meo.

image

Những người bán hàng rong trong đêm Sài Gòn

Chúng tôi ngang qua đường Nguyễn Thông (Q.3), trời bỗng đổ mưa ào ào. Trong mái hiên nhỏ, người đàn ông tóc bạc ngồi bó gối, không biết vì mệt hay vì lạnh. Tôi lân la hỏi chuyện, ông Huỳnh Văn Khương (61 tuổi, người Phú Yên) trải lòng: “Tôi vô Sài Gòn bán đậu phộng luộc 5 năm nay. Nhà có 4 đứa con, mần ruộng không đủ ăn nên phải đi thôi. Tôi thuê trọ dưới quận Bình Thạnh, chừng 4 giờ sáng là dậy nhận đậu đi bán đến 9-10 giờ đêm. Ngày nào cũng như ngày nào, lội bộ riết nên hai bàn chân từ chỗ sưng, đau thành ra chai luôn rồi”.

Ngoài thúng đậu phộng, bọc ni-lông, trong túi ông Khương còn có mớ thuốc Tây. Thấy lạ, hỏi mang theo thuốc chi vậy? Ông Khương bộc bạch: “Bệnh nhiều lắm cô à. Tôi bị tăng-xông, mệt trong người, phải mang theo thuốc đề phòng lỡ lên cơn đau đột ngột giữa đường thì còn biết xử trí”.

image

Mưa càng lúc càng nặng hạt. Ngoài đường, vài chị trùm áo mưa mỏng dính, tiếp tục quày quả đi. Cũng có người chở hàng bằng xe đạp, nhưng chủ yếu dắt bộ chứ chẳng ai dám ngồi lên xe chạy. Chị Trang nói vui: “Dắt bộ đặng mời khách chứ chạy ào ào thì bán cho ai. Những đêm ế khách, bọn chị hay ngồi chuyện trò rôm rả và so sánh coi chân ai chai hơn, “lì đòn” với mưa, nắng và sỏi đá hơn. Giả sử có cái giải thi gánh mướn, lội bộ đường dài chắc tụi chị trúng giải lớn quá”. Chị đùa mà tự dưng thấy nước mắt chảy.

Chập chờn giấc ngủ đêm

image

Lang bạt giữa Sài Gòn, không nhà, không người thân, tất nhiên phải ở trọ. Nhưng thực tế cho thấy, rất ít người bán hàng rong có đủ khả năng thuê một căn phòng tươm tất, sạch sẽ để ngả lưng sau ngày làm việc vất vả. Bởi vậy, ăn uống kham khổ, đến ngủ cũng kham khổ là tình cảnh chung của những người bán hàng rong.

Dì Tám (bán hàng rong tại công viên 23.9) tình thiệt: “Ôi, ăn còn không dám nói chi thuê phòng hả cô! Tụi tui chỉ mướn một chỗ ngủ vài ba giờ đồng hồ thôi. Hồi xưa giá có 6.000- 8.000 đồng/đêm, giờ thì 10.000- 15.000 đồng/đêm rồi. Nếu muốn sạc pin điện thoại thì phải trả thêm tiền. Nói chung, hở ra là tiền nên tiết kiệm được khoản nào hay khoản đó”.

Theo dì Tám, mấy xóm trọ trên đường Rạch Bùng Binh (Q.3), Cầu Ông Lãnh (Q.1) và cả dưới quận Bình Thạnh, Thủ Đức đều có những ngôi nhà cho người bán rong “mua ngủ” qua đêm. Bất kể già, trẻ, nam, nữ gì cũng có thể đi mua ngủ bởi giá thuê phòng trọ ở những quận này rất mắc. Hơn nữa, tâm lý chung của người bán hàng rong là “mỗi ngày ngủ chừng 2, 3 tiếng đồng hồ là nhiều, thuê phòng chi cho tốn kém”.

Phải năn nỉ mãi, chị Trang mới chịu đưa tôi về chỗ trọ mà chị đã tá túc mấy năm qua. Cái lý của chị nghe thương lắm: “Em là con gái, chỗ đó chẳng thích hợp cho em đâu. Đàn ông, phụ nữ, già, trẻ gì cũng chen vô ngủ, không có khoảng cách, không chăn, màn chi cả, đến cựa mình cũng khó khăn. Sợ vừa thấy cảnh đó, em lại nằng nặc đòi ra thì khổ. Đi bán như chị, miễn có được chỗ nằm nghỉ tí là mừng rồi, không dám đòi hỏi gì thêm”. Tôi quả quyết, dù thế nào cũng sẽ ngủ với chị một đêm.

Vậy là lại lẽo đẽo theo chị về khu vực Cầu Ông Lãnh. Chúng tôi dừng chân trong một căn nhà tối bưng, ẩm thấp và nồng nặc những mùi gián, chuột, thuốc lá. Nhà vệ sinh, nhà tắm dùng chung. 1 giờ sáng mà có cả chục người đứng, ngồi chờ đến lượt “giải quyết nhu cầu”. Chị Trang phân bua: “Đi bán cũng gặp nhà vệ sinh công cộng nhưng mình vô là mất 2.000 đồng/lượt chứ ít gì. Bởi vậy, ai cũng ráng nhịn em à, chừng nào chịu không thấu mới bấm bụng bỏ ra 2.000 đồng thôi. Riêng tắm, giặt thì chờ về đây, tắm phải dè xẻn từng ca nước.

image

Dù đã khuya nhưng những người phụ nữ bán hàng rong vẫn miệt mài với công việc của mình

Dạo này mưa, đi lang thang ngoài đường, người hết ướt rồi lại khô. Ngày mấy bận như vậy rất dễ bị cảm lạnh. Mà cảm thì cảm, hôm sau vẫn gắng dậy đi bán chứ không dám nghỉ”. Đứng cạnh chúng tôi, chị Phạm Thị Tâm (người Quảng Ngãi) xắn quần ống thấp, ống cao, mặt mũi bơ phờ. Chị thủ thỉ: “Nhiều khi, 2- 3 người phải vô nhà vệ sinh chung một lượt. Biết sao giờ, mình đi mua ngủ mà, có chỗ tắm táp, giặt giũ là may lắm rồi”.

Căn phòng mấy chục mét vuông mà cả trăm người chen chúc. Tiếng thở dài, tiếng ngáy, ho và cả những tiếng rì rầm chẳng rõ nghĩa vọng lại trong đêm. Tôi hỏi, có ngủ được không? Chị Trang cười: “Chập chờn thôi em. Từ ngày vô Sài Gòn đến giờ, chị chưa biết cảm giác ngả lưng xuống giường, chiếu, có gối, có mền nó thế nào. Thời gian đầu, buồn và tủi thân dữ lắm. Nhiều lúc muốn bỏ hết, về quê với chồng con, nhưng nghĩ đến cảnh ruộng ít, nhà lụp xụp, về thì tiền đâu đóng học phí, mua sách vở cho con, vậy là đành ở lại”.

Trong những ngày theo chân các bà, các chị bán hàng rong, tôi ngỡ ngàng nhận ra, đối với họ, mua chỗ ngủ qua đêm xem như vẫn còn may. Nhiều người vì không “xí” được một khoảng nền bé tẹo trong các nhà trọ đành ra quán cóc vỉa hè thuê võng, ghế ngủ ngồi. Có dịp ghé chợ đầu mối Bình Điền, Thủ Đức hay chợ Bình Tây lúc nửa đêm về sáng, sẽ không khó bắt gặp những phận đời ngủ ngồi giữa tiếng xe cộ ồn ào, khói thuốc lá nặng mùi và tiếng ngáy o o của cánh đàn ông.

image

Ông Khương cho biết: “Tôi thuê chỗ ngủ dưới Bình Thạnh, mấy trăm nghìn một tháng. Anh, em nằm, ngồi la liệt. Nhưng như vậy là mừng lắm rồi. Tôi đi bán mấy năm, gặp nhiều anh em khổ hơn nhiều. Họ ngủ ngoài đường, trong nhà chờ xe buýt hoặc mấy quán cà phê, người ta tính giá ghế, theo loại nước mình gọi, võng thì mắc hơn, chừng 10 ngàn/chiếc”.

Người xa quê, chọn nghề buôn thúng bán bưng giữa Sài Gòn là vậy. Họ luôn cố gắng tiết kiệm đến hết mức có thể. Ví như chị Trang, chị Tâm mỗi ngày chỉ ăn đúng một bữa. Thức ăn thường trực của họ là muối ớt, năm khi mười họa mới dám mua hộp cơm có thịt, cá. Không thuê phòng trọ, giấc ngủ luôn trong cảnh “thiếu trước hụt sau”.

Những ngày dọc ngang qua mấy công viên, thỉnh thoảng tôi lại gặp một bà, chị ngồi ngủ gật ngay bên gánh hàng của mình. Đến chừng giật mình dậy, gương mặt của họ hãy còn phảng phất cái sự “thèm ngủ”. Vậy mà, chẳng thấy ai than vãn điều gì. Họ cứ lặng lẽ đi, về như con ong chăm chỉ. Chị Trang bảo người bán rong dù là nam hay nữ gì cũng vậy, giấc ngủ luôn luôn thiếu.

Và những hiểm nguy

“Đã nghèo còn gặp eo” là câu nói tôi hay nghe các bà, các chị rỉ tai trong những ngày theo chân họ. Nào bị cụt vốn vì khách ăn quỵt, xin đểu, nào cướp giật, móc túi, đủ cả những điều bất an. Thế nhưng, lỡ có gặp nạn cũng cắn răng chịu chứ không biết cầu cứu ai. “Đã chọn nghề này thì phải chấp nhận rủi ro”- chị Trang kết luận.

image

Ghé Hồ Con Rùa vào đêm mưa, tôi chạnh lòng bắt gặp hình ảnh một người phụ nữ nằm co ro ngủ bên gánh hàng ế ẩm. Gọi mãi chị mới giật mình ngồi dậy. Rồi như nhớ ra điều gì khẩn cấp lắm, chị dụi mắt, hì hục lục lọi trong mấy lớp áo cũ tìm vật gì đó. Đến khi lôi ra được cái túi vải xỉn màu, chị mới thở phào: “Lội bộ từ quận Bình Thạnh lên tới công viên Lê Thị Riêng rồi qua đây, tôi kiệt sức, ngủ lúc nào không hay.

Mấy bận trước cũng thế này, tỉnh dậy thì không chỉ bánh, trái mất mà ngay cả tiền bọc trong túi cũng mất sạch”. Nói rồi, chị lại khẽ thờ dài. Chị tên Dinh, người Quảng Ngãi, 45 tuổi, tóc đã bạc và đôi mắt rất buồn. Chị bảo, hành trình buôn thúng bán bưng của mình mới đó mà đã ngót chục năm. Chị Dinh cho biết: “Mình phụ nữ chân yếu tay mềm, đi bán ban đêm nguy hiểm lắm. Có lần, một nhóm 5, 6 thanh niên tóc đỏ, tóc vàng ghé lại kêu tôi làm bánh tráng trộn. Tôi mừng quá chừng vì nghĩ mình gặp mánh, bán được nhiều. Ai dè, đang lúi húi thì một cậu đâu 20, 21 tuổi gì đó, kề dao sát cổ tôi, kêu có nhiêu tiền đưa ra, im thì sống. Vậy là, tôi có dám ú ớ câu nào đâu. Bao nhiêu vốn liếng bay hết chỉ trong vòng một phút.

Đau lắm! Tụi nhỏ bỏ đi, tôi ngồi khóc như mưa. Thấy thương mình quá!”. Ngồi gần chị Dinh, chị Nguyễn Thị Gái (người Bình Định) góp chuyện: “Làm nghề này, ngoài vất vả ra, rủi ro cũng rất nhiều. Hôm rồi, tôi ngồi bán bên công viên 23/9, có hai thanh niên tới mua cóc, xoài và bánh tráng trộn. Vừa làm xong, chưa kịp nói gì thì cả hai hè nhau giật phăng mấy gói bánh bỏ chạy. Vậy là mất tiền. Tôi đâu thể chạy theo, phần biết sức mình đuổi không kịp, phần lo, lỡ hớ ra, mấy đứa có đồng bọn đằng sau chạy tới trút luôn cái gánh thì cụt đường buôn bán chứ chẳng chơi”.

image

Bị móc túi, ăn quỵt chưa phải là những mối lo duy nhất của người bán hàng rong. Việc mua chỗ ngủ qua đêm cũng thường trực bất an cho họ. Tôi chưa kịp ngả lưng xuống nền, chị Tâm đã dặn dò: “Em có mang theo tiền bạc hay điện thoại thì nhớ cẩn thận kẻo bị móc mất, sáng dậy không còn gì đâu”. Chị Trang kể: “Người mua chỗ ngủ đủ mọi thành phần, biết ai mà lần. Chuyện kẻ xấu trà trộn vô ngủ để móc túi xảy ra thường xuyên. Chị bị mất một lần rồi. Về sau, kinh nghiệm là mình phải chia tiền ra, bỏ trong nhiều túi, chẳng may mất cái này thì còn cái khác”.

Bán hàng rong ban đêm, giá có nhỉnh hơn ban ngày 1.000- 2.000 đồng/loại hàng. Không chỉ vậy, ban đêm, khách ghé công viên chơi, ra bờ kè nhậu nhẹt nên các loại trái cây, đậu phộng, trứng cút, trứng gà bán được nhiều. Do dó, người bán hàng rong thường chấp nhận cảnh đi sớm, về khuya những mong có thêm ít tiền lời. Theo tìm hiểu của tôi, không chỉ cánh phụ nữ mà đàn ông cũng gặp phải cảnh xin đểu, trấn lột giữa đêm như thường.

Bán cá viên chiên, trứng cút chiên ngót 8 năm, anh Ngô Văn Thành (30 tuổi) không thể nhớ hết số lần mình bị ăn quỵt, xin đểu. Anh Thành kể: “Nhiều khi do đông khách, mình lơ là nên mấy tên choai choai ghé mua rồi bỏ chạy khi chưa trả tiền, nhưng phần lớn là chúng đi thành nhóm, 3- 4 tên, kề dao, kim tiêm vào cổ mình xin “chút đỉnh”. Những lúc như vậy, rất khó phản ứng kịp”.

image

Kham khổ nhiều, nguy hiểm cũng lắm nhưng khi tôi hỏi tính chừng nào về quê hẳn thì các bà, các chị, cá chú lại lắc đầu: “Chắc còn lâu lắm. Chờ tụi nhỏ học hành thành tài cái đã rồi mới tính. Ai chẳng muốn sum họp bên gia đình, nhưng về quê thì lấy gì sống?”. Câu hỏi nghe nhẹ hều mà chẳng ai trả lời được. Và như thế, họ lại lầm lũi sống những ngày đơn độc, vắt kiệt sức bên những gánh, thúng hàng rong. Với những phận đời ấy, đường về quê xa lắc!

Nhật Nguyệt

Hàng rong Sài Gòn hơn 100 năm trước

image

Gánh phở, xe kem, thùng tào phớ… trên vai, bộ bưu ảnh tái hiện nhiều ký ức thân quen ở Sài Gòn – Chợ Lớn đồng thời cho thấy cảnh sôi động của thành phố ngay từ đầu thế kỷ 20.

Đô thị Sài Gòn- Chợ Lớn, một trong hai thành phố quan trọng nhất Việt Nam sau khi Pháp chiếm Đông Dương vào cuối thế kỷ 19. Các nhà nhiếp ảnh người Pháp nhanh chóng phát hiện ra hoạt động buôn bán kiểu di động- hàng hoá, thức ăn được lưu thông dựa vào sự dẻo dai của đôi chân người bán hàng, có mặt ở khắp các ngóc ngách của thành phố. Bộ bưu ảnh hàng rong ở Sài Gòn- Chợ Lớn tái hiện một phần đời sống kinh tế- xã hội cũng như văn hoá của người Việt hồi đầu thế kỷ 20.

image

Phở là món ăn truyền thống của người Việt xuất hiện đầu tiên trên các gánh hàng rong. Thành phần đơn giản, chỉ gồm nước lèo, bánh phở, một vài miếng thịt và các lọ gia vị. Đây là một gánh phở dạo khác của người Sài Gòn xưa, người bán hàng gánh cả bếp lò, nồi nước sôi đi khắp nơi phục vụ.

image

Bánh gạo, một loại bánh phổ biến ũng được bán rong trên các khu phố. Bánh được làm từ gạo trộn cùng một số loại ngũ cốc khác cho có mùi vị, cho thêm bột kết dính rồi ép dẹp, sau đó hấp chín.

image

Cháo, mì hay hủ tiếu được người Pháp gọi chung là súp. Các gánh hàng loại này khá cồng kềnh, nặng nề nên chủ gánh thường chọn một góc phố đông người, ngã tư để tiện buôn bán.

image

Hình ảnh khá thú vị về một xe bán kem của người Hoa Sài Gòn những năm đầu thế kỷ 20. Kem được làm mát bằng đá lạnh xếp xung quanh, sát thùng là một lớp xốp mỏng để giữ đá lâu tan. Người bán sẽ “thu hút” khách bằng một cái chuông nhỏ gắn sát tay lái bên phải.

image

Khu vực Chợ Lớn tập trung đông đúc người Tàu theo đường biển vào lập nghiệp ở Việt Nam từ thời các chúa Nguyễn mở mang bờ cõi. Người Hoa là những người giỏi buôn bán, chịu khó nên các gánh hàng của họ thường đông khách. Hình ảnh chú “Khách”- một cách gọi người Hoa của người Việt bán với đôi quang gánh bán dạo các món ăn như mì, cháo, tào phớ… rất quen thuộc và tồn tại cho đến những năm 70 của thế kỷ 20.

image

Hình ảnh điển hình của gánh tào phớ xưa. Người bán thường gánh một thùng gỗ đựng tào phớ, một chạn gỗ đựng chén bát, muỗng, và những vật dụng khác. Người bán tào phớ có tiếng rao rất đặc biệt, chỉ có một chữ ” phớ…” kéo dài.

image

Quán bán nước giải khát trên vỉa hè. Người bán hàng ngồi trên ghế cho thấy quán hàng kiểu này là cố đinh, khách hàng là khách qua đường, các bác phu xe kéo nghỉ chân uống chén trà xanh hay một loại nước trái cây nào đó như dừa, được trồng nhiều ở ngay tại vùng Sài Gòn- Chợ Lớn.

image

Những thực khách ngồi xổm thưởng thức món mỳ của một người bán hàng rong người Hoa ngay trên đường. Các gánh hàng kiểu này vẫn duy trì nhiều ở Sài Gòn cho đến tận những năm 1970.

image

Nón lá, hình ảnh đặc trưng của người Việt, được làm từ lá cọ lợp trên nên khung tre nhỏ hình chóp nhọn dưới có quai đeo, nón rộng vành nên che kín mặt và rất mát. Nón của người Việt khác với nón người Trung Quốc hay đội với cái chóp nhọn đặc trưng.

image

Sài Gòn xưa cũng có những khu phố tập hợp các loại gánh hàng rong để người dân và khách thuận tiện ăn uống. Vào buổi sáng khu phố rất náo nhiệt thu hút cả người Tây sống ở thuộc địa.

image

Họp chợ trên đường phố là một thói quen cố hữu của người Việt. Buôn bán nhỏ, mang bán từng mớ rau, con cá nuôi được nên người Việt tiện đâu bán đấy. Những hình ảnh này cho thấy các bà các chị đang mua bán nông sản, thực phẩm rất sôi động trên phố phường Sài Gòn xưa.

image

Một người Việt với chiếc nón lá đặc trưng quẩy đôi quang gánh trên đường phố Sài Gòn. Trong đôi sọt đan bằng lá của người đàn ông này thường có nhiều loại nông sản do chính gia đình trồng được để mang đi bán.

Chính quyền Việt Nam mắc nợ ‘khủng khiếp’

Chính quyền Việt Nam mắc nợ ‘khủng khiếp’

August 03, 2014

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Ông Trịnh Tiến Dũng, một chuyên gia kinh tế khẳng định, các doanh nghiệp nhà nước nợ “khủng khiếp” và chính quyền Việt Nam không thể phủ nhận đây là nợ của mình.

Tuy phủ nhận trách nhiệm đối với chuyện nợ nần của các doanh nghiệp nhà nước nhưng những khoản nợ này vẫn tồn tại như các trái bom có thể nổ bất kỳ lúc nào. (Hình minh họa: Báo Dân Trí)

Ông Dũng là cựu trợ lý của trưởng ban cải cách khu vực công của Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại Việt Nam.

Hồi Tháng Sáu vừa qua, Bộ Tài Chính Việt Nam công bố báo cáo về sử dụng vốn vay, quản lý nợ công của chính quyền Việt Nam.

Theo báo cáo vừa kể, tính đến hết năm ngoái, Việt Nam nợ 1,913,000 tỷ đồng, tương đương 53.4% GDP, trong đó nợ của chính phủ Việt Nam là 1,488,000 tỷ đồng, tương đương 41.5% GDP.

Tính đến hết năm 2013, tổng số dự án được chính phủ Việt Nam bảo lãnh để vay là 104 dự án, trong đó có 23 dự án đã trả xong nợ.

Riêng năm ngoái, chính phủ Việt Nam bảo lãnh cho tám dự án vay $3.161 tỷ từ các tổ chức tín dụng ngoại quốc hoặc phát hành trái phiếu quốc tế.

Cả Bộ Tài Chính lẫn chính quyền Việt Nam liên tục khẳng định, những khoản nợ khác của các doanh nghiệp nhà nước không thể xem là nợ của chính quyền. Các doanh nghiệp nhà nước tự vay và tự trả.

Nhiều chuyên gia kinh tế khẳng định đó là một kiểu ngụy biện. Chính quyền Việt Nam ngụy biện như thế để trấn an mọi người rằng, nợ nần của chính quyền Việt Nam chưa vượt quá mức 65% GDP.

Theo khuyến cáo của nhiều tổ chức quốc tế, nếu nợ nần vượt quá mức 65% GDP thì an ninh tài chính quốc gia không còn an toàn.

Theo ông Dũng, dù những khoản vay của các doanh nghiệp nhà nước được chính quyền Việt Nam bảo lãnh rồi được gộp vào khối nợ chung của chính quyển, chỉ chừng 4.2% đến 6.9% tổng nợ quốc gia nhưng tỷ lệ đó không phản ánh đúng thực chất nợ nần và thực tế vay trả.

Tại một cuộc hội thảo về nợ công, diễn ra hồi trung tuần tháng trước, ông Dũng đưa ra nhiều dẫn chứng để bác bỏ lập luận, các doanh nghiệp nhà nước tự vay và tự trả nợ. Nợ của các doanh nghiệp nhà nước không liên quan đến nợ nần của chình quyền.

Ví dụ rõ ràng nhất là trường hợp Vinashin. Năm 2009, tập đoàn nhà nước này phá sản và để lại khoản nợ 89,000 tỉ đồng, tương đương 52% GDP của năm 2009. Sau đó, chính quyền Việt Nam đã tổ chức chuyển nợ của Vinashin cho Vinalines và Petro Vietnam, bổ sung vốn, khoanh nợ. Tuy Vinashin “tự vay” nhưng rõ ràng trả là do chính quyền Việt Nam, kể cả phát hành trái phiếu để bù đắp và vì thế khiến ngân sách thâm thủng.

Không riêng ông Dũng, hai ông Phạm Thế Anh và Ðinh Tuấn Minh cũng đã sử dụng nhiều số liệu để chứng minh rằng, tổng các khoản nợ của hệ thống doanh nghiệp nhà nước đã vay mà không được chính quyền Việt Nam bảo lãnh, nên không được kể là nợ công, tương đương 40.9% GDP.

Nếu tính đúng, tính đủ, cộng cả nợ nần chính thức lẫn nợ nần của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, những khoản chưa thanh toán khi thực hiện các công trình hạ tầng, nợ nần của chính quyền Việt Nam hiện nay xấp xỉ 98.2% GDP.

Hai ông Phạm Thế Anh và Ðinh Tuấn Minh khẳng định, các khoản vay ngoại quốc, vay các nhân hàng trong nước, vay lẫn nhau của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, dù không được chính quyền Việt Nam bảo lãnh vẫn đe dọa an ninh tài chính quốc gia.

Nếu không muốn những quả bom này phát nổ, việc cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa những doanh nghiệp này phải “triệt để,” không thể “hình thức” nhưng thực tế cho thấy, đến nay, cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa những doanh nghiệp này vẫn như trò đùa. (G.Ð.)