Văn hóa không từ chức ‘lên tầm cao mới’

Văn hóa không từ chức ‘lên tầm cao mới’

Ngọc Thanh Gửi cho BBC từ Hải Phòng

Chia sẻ

Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng

Tác giả cho rằng Thủ tướng Dũng là người mở đầu thứ ‘văn hóa không từ chức’.

Cái ngày 14/11/2012, ngày mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nổ phát súng hiệu lệnh “không từ chức” tới nay đã được hai năm.

“Văn hóa từ chức” mà Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc nêu ra cuối cùng lại phản tác dụng, sau ngày 14/11/2012 ấy, có một văn hóa mới hình thành, đó là “Văn hóa không từ chức”.

Trước đây dù các quan từ chức là một việc hiếm, nhưng ít nhất là cũng có xảy ra, đó là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lê Huy Ngọ trong vụ việc cách đây tròn 10 năm (2004).

Cái ngày ấy giờ đây đã xa lắm rồi. Chỉ có dân nhớ chứ quan chức thì không, các Bộ trưởng thích nhớ về “tuyên ngôn” của người trực tiếp lãnh đạo họ – Thủ tướng chính phủ hơn, đó là “Đảng còn tín nhiệm thì còn làm”.

Và thế là sản sinh là một thế hệ chai lỳ hơn nữa, tiêu biểu là Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến – người mà có lẽ không cần nhắc đến tên thì độc giả cũng biết là ai rồi.

Ngoài việc vô tư phát ngôn những câu không khác gì con trẻ như: “Lỗi của Vắc xin thì xử Vắc xin” (chắc là trừng phạt Vắc xin bằng cách không cho để trong chai lọ mà đem đun sôi hoặc đổ xuống cống?) hay “nên có tem cá sạch” (đóng dấu lên cá đang bơi?), thì việc tiền hậu bất nhất cũng làm người ta liên tưởng bà với vị thủ trưởng của mình.

Một mặt Bộ trưởng Tiến nói: “Cấm cán bộ y tế nhận phong bì, quà cáp trước và trong quá trình điều trị nhưng không cấm bác sĩ nhận quà sau điều trị, vì đó là tấm lòng của người bệnh…”. Nhưng khi đại biểu Quốc hội chất vấn, bà trả lời: “”Tôi đâu có cho phép nhận phong bì sau điều trị”!

‘Trơ trẽn’

” Nếu mình làm hết sức, với đam mê và trách nhiệm mà đến lúc nào đó cấp trên hay theo quy trình cán bộ không cho phép mình làm nữa thì tôi sẽ quay về công việc nào đó, miễn vẫn có ích cho đời”

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Một điểm không lẫn đi đâu được nếu so sánh với Thủ tướng Dũng là cách trả lời về việc từ chức.

Khi bị chất vấn, Bộ trưởng Tiến nói bà trở thành Bộ Trưởng vì “qua quá trình quy hoạch và công tác của Đảng, Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và được Quốc hội phê chuẩn” và “nếu mình làm hết sức, với đam mê và trách nhiệm mà đến lúc nào đó cấp trên hay theo quy trình cán bộ không cho phép mình làm nữa thì tôi sẽ quay về công việc nào đó, miễn vẫn có ích cho đời”.

Rõ ràng vẫn là bài “Đảng phân công” và “chừng nào còn tín nhiệm thì còn làm”.

Nhưng Bộ trưởng Tiến có hơn Thủ tướng Dũng ở mức độ trơ trẽn. Sau khi dịch sởi cướp đi mạng sống của hơn 120 em nhỏ, bà Tiến nói:

“Tôi không thể từ chức vào lúc này” vì “giờ là lúc ngành y tế tập trung cao nhất để giành giật sự sống cho các bé.”

Nghe như thế người ta sẽ hiểu rằng khi dịch kết thúc, bà mới có thể từ chức. Nhưng mọi người chờ dài cổ mà không thấy bà Bộ trưởng nhắc lại chuyện này.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có thể tự hào vì đã có một học trò xuất sắc. Nói đúng hơn, giờ đây các Bộ trưởng có thể vững tâm phát ngôn tùy ý và thản nhiên không từ chức vì đã có tiền lệ của thủ trưởng.

“Văn hóa không từ chức” có thể nói đã được nâng lên một tầm cao mới.

Chưa hoàn vốn?

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Đương kim Bộ trưởng Y tế của Việt Nam được cho là chịu khá nhiều áp lực gần đây.

Thật ra cũng phải thông cảm cho các quan chức. “Quan trường như chiến trường”, nơi đây không dành cho những người tự trọng.

Tự trọng thì có lẽ nên đi làm những “nghề cao quý” như nhà giáo hay thầy thuốc theo đúng nghĩa. Chính trị gia thì phải trơ lỳ, mưu mô thủ đoạn.

Đặc biệt trong môi trường Chính trị Việt Nam, người ta phải bỏ một số tiền lớn để “chạy chức”.

 

Đặc biệt trong môi trường Chính trị Việt Nam, người ta phải bỏ một số tiền lớn để “chạy chức” Nếu từ chức sớm thì sẽ không thu hồi lại được “vốn”, đấy cũng là cái khó của họ.

Nhưng có những vị đã lãi rồi mà vẫn cố bám trụ, vì tiền thì chẳng bao giờ là đủ cả.

Tại sao phải từ chức khi chẳng có cơ chế nào ép mình phải như thế?

“Kính thưa các vị chưa bị phát hiện”, các vị cũng như tôi mà thôi, nên các vị đừng tỏ ra ngạc nhiên khi tôi vẫn tại vị – đó là suy nghĩ của các quan bây giờ.

Nói tóm lại, không thấy một lý do nào để có thể kéo các lãnh đạo ra khỏi vị trí béo bở đang nắm giữ. Nhưng người dân đừng lo, họ không ôm ghế cả đời được đâu, giỏi lắm là đến ngày kết thúc nhiệm kỳ là cùng.

Mỹ: VN muốn được quyền lợi không đơn giản chỉ thả tù nhân lương tâm

Mỹ: VN muốn được quyền lợi không đơn giản chỉ thả tù nhân lương tâm

Trà Mi phỏng vấn Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân chủ-Nhân quyền-Lao động Tom Malinowski.

Trà Mi phỏng vấn Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân chủ-Nhân quyền-Lao động Tom Malinowski.

Trà Mi-VOA

12.11.2014

Một quan chức ngoại giao cấp cao của Mỹ vừa hoàn tất chuyến công du Việt Nam tuyên bố Hà Nội không thể gặt hái các quyền lợi quan trọng từ mối quan hệ với Washington đơn giản bằng cách phóng thích tù nhân lương tâm.

Chuyến thăm của Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân chủ-Nhân quyền-Lao động Tom Malinowski vào hạ tuần tháng 10 diễn ra ngay sau khi Hà Nội trục xuất tù nhân bất đồng chính kiến Điếu Cày sang Mỹ giữa lúc Washington dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam và đôi bên đang nỗ lực hoàn tất Hiệp định Đối tác Thương mại Xuyên Thái Bình Dương TPP.

Trong cuộc phỏng vấn đặc biệt dành cho Trà Mi VOA Việt ngữ khi về lại Hoa Kỳ, ông Malinowski khẳng định dù Hoa Kỳ sẽ tiếp tục yêu cầu Việt Nam phóng thích tù nhân lương tâm, nhưng kế sách của Hà Nội thả vài người đổi chác quyền lợi khi cần thiết rồi lại bắt thêm nhiều người khác sẽ không lấy điểm được với Washington cũng như không mang lại TPP cho Việt Nam. Ông Malinowski nhấn mạnh mức độ phát triển của mối quan hệ Việt-Mỹ hoàn toàn tùy thuộc vào tốc độ cải cách nhân quyền, cải tổ luật lệ của Việt Nam.

VOA: Xin ông vui lòng tóm tắt thành quả chuyến thăm Việt Nam vừa qua?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi ở Việt Nam trong 5 ngày, gặp gỡ nhiều quan chức trong Bộ Ngoại giao, Thứ trưởng Bộ Công an, các giới chức trong đảng cộng sản, và đại diện các tổ chức xã hội dân sự, các nhà hoạt động, và những tù nhân lương tâm vừa được phóng thích. Thành quả chính của chuyến đi là tôi đã chuyển tải tới nhà nước Việt Nam thông điệp rất rõ ràng của chính phủ Mỹ rằng chúng tôi muốn bang giao Việt-Mỹ tốt đẹp hơn, một mối quan hệ sâu rộng-vững chắc như những mối quan hệ mà Hoa Kỳ đang có với các nước bạn thân thiết nhất trên khắp thế giới. Tuy nhiên, để được như vậy, Việt Nam nhất thiết phải có tiến bộ về nhân quyền. Tôi đã có dịp trao đổi với quan chức Việt Nam về những điều chúng tôi mong nhìn thấy họ thực hiện trong thời gian sắp tới.

VOA: Phản hồi của phía Việt Nam như thế nào, thưa ông?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Chúng tôi đã có những cuộc trao đổi tốt đẹp. Phía Việt Nam cũng muốn biết quan điểm và trông đợi của phía Mỹ. Chính phủ Việt Nam hết sức mong muốn xây dựng một mối quan hệ an ninh-kinh tế gần gũi hơn với Hoa Kỳ. Chúng tôi cũng mong như vậy, nhưng chúng tôi không muốn tiến tới quá nhanh để rồi bị ngã lui. Để có được mối quan hệ bền vững với thời gian, hơn là một mối quan hệ đổi chác, cần đảm bảo rằng đôi bên có một nền tảng những giá trị chung, cùng tin tưởng, hướng tới một điều chung chứ không phải là đối nghịch với nhau trong cùng một điều.

VOA: Còn những quan tâm cụ thể nào khác mà ông đã nêu ra với chính phủ Việt Nam và Hà Nội hồi đáp thế nào?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi đã nêu một số vấn đề cụ thể. Chúng tôi đề cập đến vấn đề tù nhân chính trị. Chúng tôi bày tỏ mong muốn được thấy Việt Nam trả tự do cho những người bị cầm tù vì thể hiện quan điểm chính trị hay niềm tin tôn giáo một cách ôn hòa. Tuy nhiên, quan trọng hơn, tôi đã nhấn mạnh với Hà Nội rằng hành động phóng thích thôi là chưa đủ nếu như họ vẫn tiếp tục bắt giam công dân như vậy. Cho nên, điều quan trọng nhất mà Hoa Kỳ muốn nhìn thấy là tiến bộ trong việc cải cách luật lệ, đặc biệt là các điều luật về an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự được Việt Nam dùng để sách nhiễu, bắt giam, và cầm tù công dân chỉ vì những hoạt động ôn hòa. Chính phủ Hà Nội nói họ thật sự muốn làm cho khung pháp lý của Việt Nam, kể cả Bộ luật Hình sự, phù hợp với chính bản Hiến pháp vừa thông qua năm 2013 và tương xứng với các chuẩn mực quốc tế. Chúng tôi đã thảo luận về việc này và đang chờ xem mọi chuyện sắp tới sẽ như thế nào.

VOA: Hà Nội có cho biết lịch trình cụ thể của kế hoạch đó như thế nào không, thưa ông?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Họ nói họ dự kiến các cải cách sửa đổi về Bộ luật Hình sự sẽ được đệ trình lên Quốc hội vào đầu năm tới và rằng việc này không thể diễn ra nhanh chóng. Tôi nói với họ rằng dĩ nhiên phải đề ra đường hướng cho các cải cách này theo lịch trình và tiến độ, nhưng triển vọng thắt chặt hơn mối quan hệ đối tác Việt-Mỹ tùy thuộc vào thành công trong nỗ lực đó. Tốc độ cải cách của Việt Nam nhanh tới mức nào thì quan hệ Việt-Mỹ sẽ tiến nhanh tới mức đó.

VOA: Ông nói Mỹ không muốn một mối quan hệ đổi chác với Việt Nam. Theo ông, Hoa Kỳ cần phải làm gì để chấm dứt những gì không mong muốn, mở ra một mối quan hệ như mong muốn?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Chúng tôi đã làm một số bước. Chúng tôi đã dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam để cung cấp một số lượng giới hạn các thiết bị phục vụ công tác bảo vệ duyên hải. Điều này chứng tỏ với nhà nước Việt Nam rằng Mỹ sẵn sàng thực hiện các bước tiến tới nghiêm túc, nhưng cùng lúc, chúng tôi tỏ rõ với họ rằng việc hủy bỏ hoàn toàn lệnh cấm này tùy thuộc vào các tiến bộ hơn nữa về nhân quyền của Việt Nam. Chúng tôi cũng thảo luận về khả năng Việt Nam trở thành một thành viên của Hiệp định Tự do Thương mại Xuyên Thái Bình Dương TPP, vốn cũng là bước quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt-Mỹ chặt chẽ hơn, nhưng Hà Nội có vào được TPP hay không tùy thuộc mức độ họ gia tăng tôn trọng quyền của người lao động, cụ thể là cải cách để cho phép công nhân được quyền tự do lập hội, mở công đoàn độc lập. Tóm lại, có nhiều khả năng để hai nước Việt-Mỹ xích lại gần nhau hơn, nhưng cũng có nhiều trông đợi đối với những điều Việt Nam cần phải thực hiện để mở ra các cơ hội ấy.

VOA: Như ông nói, để Việt-Mỹ tiến xa hơn mối quan hệ đổi chác, Hà Nội phải thực hiện một số cải cách pháp lý. Có ý kiến cho rằng muốn điều đó xảy ra, Mỹ thay vì đòi hỏi Việt Nam phóng thích các trường hợp tù nhân lương tâm cụ thể, hãy yêu cầu Việt Nam cải cách luật lệ để được quyền lợi. Nếu không, dường như Mỹ đang tạo điều kiện thuận lợi để Hà Nội tiếp tục chiến thuật ‘đổi tù nhân lương tâm lấy quyền lợi.’ Ý kiến của ông ra sao?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi sẽ không ngừng yêu cầu phóng thích những người bị bắt giam một cách bất công. Tôi vui mừng mỗi khi có một người được tự do vì đáng lý ra họ không phải bị tù tội. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm như thế. Nhưng chúng tôi cũng chỉ rõ rằng việc này không tương đương với cải cách. Để hiện thực hóa quá trình cải cách ở Việt Nam, chúng tôi cần phải nhìn thấy những sửa đổi trong cấu trúc luật pháp. Và đó cũng là điều mà nhà nước Việt Nam đã cam kết với chính nhân dân của họ. Cho nên, đây không phải là một yêu cầu của Mỹ, không phải một đòi hỏi đến từ bên ngoài mà là điều mà người dân Việt Nam cần chính phủ của họ thực hiện như đã hứa. Chúng tôi chỉ biết chờ xem và theo dõi quá trình đó. Nếu quá trình đó diễn ra, nó sẽ mở ra nhiều cơ hội.

VOA: Phát biểu ở Hà Nội, ông nói nếu Việt Nam nghĩ rằng họ có thể dùng tù nhân chính trị như những con bài mặc cả với Mỹ thì sẽ không hiệu quả. Tuy nhiên, những gì đang diễn ra trên thực tế cho thấy chiến thuật này có kết quả, nếu không, đã không có những cuộc phóng thích không bao lâu, trước hoặc sau khi, Việt Nam gia nhập WTO, TPP, hay được Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí. Ông có suy nghĩ thế nào?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Có thể họ cho rằng các cuộc phóng thích này mang lại những kết quả đó, nhưng xin nhớ là những gì Việt Nam chung cuộc muốn gặt hái trong mối quan hệ với Hoa Kỳ sẽ không thể có được đơn giản bằng cách phóng thích tù nhân lương tâm, nhất là trong khi họ vẫn tiếp tục bắt giữ những người khác. Đó là điểm chúng tôi nhấn mạnh. Chẳng hạn như, dĩ nhiên chúng tôi vui mừng khi thấy một blogger như Điếu Cày được thả, nhưng cùng lúc đó lại thấy xuất hiện các cáo buộc đối với blogger Anh Ba Sàm. Đây cũng là một trường hợp mà tôi đã nêu ra trong chuyến công du Việt Nam vừa rồi. Nếu việc này cứ tiếp diễn, Hà Nội cứ thả vài người rồi bắt thêm vài người khác, họ sẽ không lấy điểm được với Hoa Kỳ và việc này dĩ nhiên sẽ không mang lại cho họ TPP. TPP là các cuộc thương lượng mà qua đó Việt Nam được hưởng nhiều quyền lợi rất quan trọng nhưng cũng bắt buộc phải thực hiện những bước đáng kể như cải cách pháp lý về quyền tự do lập hội. Và Việt Nam hiểu rất rõ điều này.

VOA: Ngoài những lời tuyên bố của Hà Nội, có dấu hiệu nào cho thấy Việt Nam sẽ bỏ chính sách hình sự hóa các hoạt động ôn hòa của công dân trong tương lai gần hay chăng? Ông có nhìn thấy tiến bộ nào trong các nỗ lực tiến tới việc này không?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Cho tới nay chưa đủ tiến bộ. Chúng tôi nghe những cam kết từ chính phủ. Chúng tôi thấy trong năm nay số người bị bắt vì các điều luật về an ninh quốc gia có lẽ ít hơn, nhưng chưa xuống tới mức 0. Vẫn còn xảy ra các vụ sách nhiễu những người chỉ thực hành các quyền căn bản của công dân được quốc tế công nhận. Mọi việc còn chưa đủ, nhưng tôi nghĩ vẫn còn cơ hội. Tôi cảm nhận người dân Việt Nam và cả chính phủ đều muốn một tương lai khác hơn cũng như một mối quan hệ đối tác tốt hơn với Mỹ. Họ muốn hòa vào cộng đồng quốc tế và họ hiểu có một số việc họ phải làm để biến mong muốn đó thành hiện thực, bền vững.

VOA: Mỹ có kế hoạch cụ thể thế nào giúp chấm dứt chiến thuật gọi là ‘dùng tù nhân lương tâm đổi chác quyền lợi’ hay không?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Đó không phải là điều chúng tôi đã, đang, và sẽ làm. Chúng tôi sẽ tiếp tục kêu gọi phóng thích tù nhân lương tâm, nhưng các quyền lợi quan trọng mà Việt Nam muốn có được từ mối quan hệ với Hoa Kỳ đòi hỏi phía Việt Nam phải làm nhiều hơn nữa, đặc biệt là thực hiện những cam kết chính họ đã đưa ra.

VOA: Có thể trông đợi điều gì sau chuyến công du của ông tới Việt Nam với trọng tâm về nhân quyền, nhất là sau khi Mỹ dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí cho Hà Nội?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Thông điệp chúng tôi đã gửi đi là chúng tôi sẵn lòng rằng có cơ hội cải thiện mối quan hệ an ninh song phương. Dỡ bỏ một phần cấm vận vũ khí cho Việt Nam là một hành động chân thành. Chúng đáng ra đã dỡ bỏ hẳn toàn bộ lệnh cấm này nếu như không có quan ngại về nhân quyền Việt Nam. Và điều đó đã đánh đi một tín hiệu rất rõ ràng cho Việt Nam. Chúng ta cần phải đợi xem mọi việc như thế nào, tôi sẽ không đưa ra dự đoán về những gì sẽ xảy ra. Tôi chỉ có thể nói rằng Mỹ muốn một quan hệ tốt hơn với Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng thực hiện các bước rất quan trọng vì lợi ích của cả đôi bên. Chúng tôi không yêu cầu cái gì bất khả dĩ với chính phủ Việt Nam cả, chỉ yêu cầu họ đi đúng con đường họ đã hứa sẽ thực hiện, con đường cải cách pháp lý, làm cho việc thực thi luật hàng ngày tại Việt Nam phù hợp với Hiến pháp.

VOA: Liệu sẽ có thêm những vụ phóng thích sau chuyến thăm của ông?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi hy vọng tiếp tục sẽ nhìn thấy có thêm người được phóng thích và không ai bị bắt nữa.

VOA: Qua chuyến đi, ông nhận thấy có tín hiệu tích cực hay tiêu cực về vấn đề nhân quyền Việt Nam?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi vừa mới về nên không dự kiến sẽ thấy bất kỳ sự thay đổi cơ bản nào. Một điều chúng tôi trông đợi có thể sớm xảy ra là Quốc hội Việt Nam thông qua Công ước Liên hiệp quốc Chống tra tấn. Đây là một trong những quan ngại lâu nay của chúng tôi về nhân quyền Việt Nam. Tôi cảm nhận chính phủ Hà Nội khá nghiêm túc trong vấn đề này, họ hiểu rằng việc thông qua Công ước chỉ là bước đầu, và sau khi thông qua, Quốc hội Việt Nam cần phải làm nhiều thứ để đảm bảo các luật lệ quy định hành vi của công an được tuân thủ đầy đủ với Công ước mà Việt Nam vừa tham gia.

VOA: Thang điểm của ông về nhân quyền Việt Nam trong chuyến đi lần này so với chuyến đi lần trước lên hay xuống?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi sẽ không cho điểm. Tôi đặt mong mỏi và kỳ vọng rất cao. Tôi không đong đếm thành tích nhân quyền từng ngày hay từng tháng. Tôi tiếp tục nỗ lực cùng với các đồng nghiệp ở Bộ Ngoại giao trong chính quyền của Tổng thống Obama để đạt được tiến bộ theo từng năm.

VOA: Trong chuyến thăm Việt Nam, ông có được tiếp xúc với tất cả những người mà ông muốn gặp?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Chúng tôi có thể tiếp xúc hầu như mọi người mà chúng tôi muốn gặp. Có một số người muốn gặp chúng tôi bị công an sách nhiễu. Chúng tôi cũng liệu trước việc này vì đã từng xảy ra trong quá khứ. Đó là điều không thể chấp nhận và chúng tôi đã bày tỏ thất vọng với chính phủ Việt Nam về các hành động đó.

VOA: Ông được phép vào thăm một nhà tù tại Việt Nam nhưng không gặp tù nhân lương tâm nào. Phải chăng vì ông không yêu cầu cụ thể hay vì nhà cầm quyền Việt Nam không cho phép?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Họ bảo các tù nhân lương tâm chúng tôi muốn gặp ở một trại giam khác, nhưng làm sao biết được thực hư thế nào. Họ cho phép chúng tôi thăm nhà tù là điều tích cực. Trong các dịp khác, nhân viên đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam đã vào thăm một số tù nhân lương tâm bị giam cầm. Chúng tôi sẽ tiếp tục yêu cầu được tiếp cận như vậy. Chúng tôi cảm kích việc này vì nó giúp xây dựng lòng tin. Dĩ nhiên ở Mỹ thì bất kỳ ai cũng được vào thăm bất kỳ tù nhân nào, điều này chứng tỏ là quốc gia và chính phủ không có gì phải che dấu.

VOA: Ông ghi nhận gì từ các cuộc gặp với đại diện xã hội dân sự, giới bất đồng chính kiến, và các nhà hoạt động tại Việt Nam?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Thật thú vị. Tôi thấy nhiều người trong số họ chia sẻ cùng quan điểm với chúng tôi. Họ dĩ nhiên rất quan tâm về tình hình tại Việt Nam. Một số họ đã qua thời gian tù đày vì các hoạt động cổ xúy cải cách. Họ phản ánh với chúng tôi một bức tranh rõ ràng, chân thật, nhưng đầy khó khăn về thực trạng nhân quyền Việt Nam. Đa số họ cho rằng một mối quan hệ Việt-Mỹ xích lại gần hơn chính là cơ hội, nếu chúng ta tiếp tục vận dụng mối quan hệ đó để cổ võ cho nhân quyền được tôn trọng hơn. Nếu có một điều mà các thành viên trong chính phủ Việt Nam và các thành viên trong xã hội dân sự Việt Nam cùng tán đồng đó chính là tìm kiếm một mối quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ.

VOA: Họ cần sự hỗ trợ hơn nữa từ phía Hoa Kỳ ra sao?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Dĩ nhiên, họ mong muốn Hoa Kỳ lên tiếng vận động chính phủ Việt Nam thực hiện những gì đã cam kết. Song song đó, họ cũng muốn có sự hiện diện của Hoa Kỳ về mặt kinh tế. Nhiều người cũng muốn Mỹ có quan hệ an ninh với Việt Nam trước những quan ngại về nước láng giềng phương Bắc. Tôi ghi nhận những thao thức rất mạnh mẽ muốn có sự hiện diện của Mỹ và mong Mỹ dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy chính phủ Việt Nam theo hướng như vậy.

VOA: Xin cho biết hồi đáp của chính phủ Mỹ trước những lời kêu gọi đó?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Đó chính là những gì mà chúng tôi cam kết thực hiện.

VOA: Ông có được báo cáo về xu hướng gia tăng bạo lực đối với các nhà hoạt động trong nước? Hoa Kỳ có kế hoạch nào thêm nữa giúp bảo vệ quyền tự do ngôn luận không bị đàn áp và sách nhiễu tại Việt Nam?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Họ có trình bày với chúng tôi là tình trạng sách nhiễu vẫn tiếp diễn, nhưng gia tăng hay giảm bớt thì tôi không rõ. Họ cho tôi biết đã xảy ra các trường hợp sách nhiễu trầm trọng và thường xuyên bởi công an, và tôi đã nêu vấn đề khi gặp giới chức chính phủ, kể cả trong cuộc họp 2 giờ đồng hồ với Thứ trưởng Bộ Công an ngay ngày đầu của chuyến thăm. Chúng tôi chưa đạt được những gì mong đợi trong vấn đề này trong lúc mở ra cơ hội tìm cách giải quyết.

VOA: Về trường hợp phóng thích mới đây đối với blogger Điếu Cày, Việt Nam viện dẫn lý do nhân đạo. Ông có bình luận ra sao?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi mừng thấy ông ấy ra khỏi tù. Tôi mừng khi thấy người ta được phóng thích vì bất cứ lý do gì. Dù vậy, suy cho cùng, việc phóng thích này không phản ánh tiến bộ đáng kể về nhân quyền trừ phi các nhà bất đồng chính kiến có thể tái lập cuộc sống ngay trên quê nhà với quyền tự do viết lách, tự do phát biểu ý kiến, và tự do lập hội.

VOA: Điếu Cày đi Mỹ là sự lựa chọn của cá nhân ông ấy hay là một thỏa thuận giữa hai nước Việt-Mỹ liên quan đến việc phóng thích?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Đó không phải là một thỏa thuận giữa Hà Nội và Washington. Có những trường hợp chính phủ Hà Nội nhất quyết rằng các nhà bất đồng chính kiến bị tù phải rời khỏi nước như là một điều kiện để được phóng thích. Có những trường hợp tù nhân lương tâm được trả tự do và được phép lưu lại đất nước. Chúng tôi rất mong là họ được phép tái lập cuộc sống tại Việt Nam sau khi được phóng thích, và chúng tôi đã nêu rõ điều này với chính phủ Việt Nam. Nếu những tù nhân lương tâm được chỉ thị phải ra đi mà họ đồng ý thì dĩ nhiên chúng tôi hoan nghênh họ tới Mỹ mặc dù rõ ràng đây không phải là thành quả khã dĩ tốt nhất.

VOA: Quay sang vấn đề thương thảo TPP, với thực trạng nhân quyền hiện nay của Việt Nam và với một Quốc hội mới trúng cử ở Hoa Kỳ, tính tới thời điểm này ông thấy cơ hội Việt Nam trở thành thành viên TPP ra sao?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi nghĩ Việt Nam có cơ hội trở thành một thành viên của TPP nếu các cuộc thương lượng thành công và nếu như họ đáp ứng đề nghị mà đại diện đàm phán thương mại của chúng tôi đã đưa ra để nỗ lực nghiêm túc trong lĩnh vực quyền tự do lập hội. Nếu đạt được điều đó thì có cơ hội được Quốc hội Mỹ thông qua thỏa thuận TPP. Tôi không nghĩ kết quả bầu cử Quốc hội Mỹ sẽ tạo ra khác biệt về khả năng vào TPP của Việt Nam vì các thành viên trong cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa của Quốc hội Mỹ đều có chung các quan ngại về nhân quyền Việt Nam. Trong Quốc hội Hoa Kỳ có rất nhiều quan ngại về việc có nên để cho Việt Nam gia nhập TPP hay không mà lý do là vì thành tích nhân quyền của Hà Nội. Chúng tôi đang trông đợi các cuộc đàm phán TPP đưa ra được những dấu hiệu tích cực từ Hà Nội để chúng tôi có thể nói với bên lập pháp Hoa Kỳ rằng Việt Nam thật sự quyết tâm đạt tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền.

VOA: Những cải thiện cụ thể nào là điều kiện để Việt Nam gia nhập TPP?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Có những cải thiện rất cụ thể đang được thảo luận trong các cuộc thương thuyết TPP.

VOA: Ông có thể đơn cử vài điểm?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi không thể tiết lộ cụ thể vì còn phụ thuộc vào tiến trình thương lượng. Tôi chỉ có thể nói rằng vấn đề đang trên bàn thảo luận là quyền của người lao động, một phần của thỏa thuận TPP, nhất là quyền tự do lập hội.

VOA: Ông có thể chia sẻ đôi chút về cuộc đối thoại nhân quyền kế tiếp giữa hai nước Việt-Mỹ?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Bất kỳ cuộc gặp nào giữa đôi bên mà vấn đề nhân quyền được nêu ra đều là cuộc họp nhân quyền. Tôi dự trù là bất cứ khi nào Ngoại trưởng John Kerry, Tổng thống Barack Obama, hay Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Michael Froman gặp gỡ các đối tác Việt Nam thì vấn đề nhân quyền cũng sẽ được nêu lên. Chúng tôi hy vọng sắp xếp cuộc đối thoại nhân quyền với Việt Nam vào một thời điểm nào đó trong năm tới. Cuộc đối thoại nhân quyền năm nay ở Washington, tôi hy vọng cuộc đối thoại lần tới sẽ diễn ra tại Việt Nam.

VOA: Thời điểm cụ thể ra sao, thưa ông?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Chúng tôi chưa thống nhất ngày giờ cụ thể nhưng chắc chắn sẽ tổ chức sự kiện này.

VOA: Xin chân thành cảm ơn Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Tom Malinowski đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này sau khi hoàn tất chuyến công du Việt Nam.

Công an đứng sau vụ hành hung Tổng Lãnh sự Pháp

Công an đứng sau vụ hành hung Tổng Lãnh sự Pháp

Nguoi-viet.com

PARIS (NV) .- Đó là nhận định của Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) trong thông báo về sự kiện ông Phạm Minh Hoàng, ông Nguyễn Bắc Truyển và ông Emmanuel Ly – Battallan  cùng bị hành hung ở Sài Gòn.

Từ trái qua, ông Pham Minh Hoàng, ông Emmanuel Ly Batallan và ông Nguyễn Bắc Truyển. Ảnh chụp tại tư gia ông Hoàng hôm 5 tháng 11. (Hình: VNHRD)

Ông Phạm Minh Hoàng, một người Việt có quốc tịch Pháp, từng là giảng viên Đại học Bách khoa ở Sài Gòn. Năm 2011, ông Hoàng bị bắt, bị truy tố và bị kết án ba năm tù vì  “âm mưu lật đổ chính quyền”. Trước khi bị bắt, ông Hoàng là tác giả nhiều bài viết ký tên Phạm Kiến Quốc, phân tích những sai lầm của chính quyền Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục, môi trường, đặc biệt là trong quan hệ với Trung Quốc. Tuy đã mãn hạn tù nhưng ông Hoàng vẫn đang bị quản chế ba năm.

Ông Nguyễn Bắc Truyển từng là luật sư, đồng thời còn là doanh nhân, chủ hai doanh nghiệp tại Sài Gòn. Ông tham gia Đảng Dân chủ nhân dân và viết nhiều bài vận động cho dân chủ, nhân quyền. Cuối năm 2006, ông cùng một số đồng chí bị bắt, bị đưa ra tòa và bị phạt 40 tháng tù, kèm hai năm quản chế do “tuyên truyền chống nhà nước”.

Sau khi mãn hạn tù vào tháng 5 năm 2010, ông Truyển là một trong những cựu tù chính trị cung cấp hàng loạt thông tin về số phận của những người tù bị giam giữ vì lý do chính trị và tôn giáo tại trại giam Z30A ở huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Nhờ vậy, người ta mới biết số phận của một số quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn còn bị giam giữ cho đến khi chết, hoặc ở tù đến năm thứ 38 như ông Nguyễn Hữu Cầu.

Ông Truyển còn tham gia sáng lập và điều hành Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo, hỗ trợ cả tinh thần lẫn vật chất cho các cựu tù chính trị, tôn giáo cũng như thân nhân của họ. Gần đây, ông Truyển bắt đầu tham gia nhiều hơn vào những hoạt động cho dân chủ, nhân quyền của những tổ chức dân sự khác và thường xuyên bị những kẻ lạ mặt mặc thường phục hành hung.

Vì ông Truyển liên tục bị truy bức, gần đây, gia đình ông Hoàng cho ông Truyển tá túc trong nhà của họ. Cũng vì vậy, tư gia của họ bị giám sát 24/24. Ngày 5 tháng 11-2014, những kẻ lạ mặt mặc thường phục bắt đầu hăm dọa, gây sức ép lên các thành viên trong gia đình ông Hoàng để họ ngưng “chứa chấp” ông Truyển.

“Côn đồ” tụ tập quanh cửa, ngăn cản mọi người ra vào, khi vợ ông Hoàng phản đối, côn đồ đã dùng dao dọa bà. Gia đình ông Hoàng gọi điện thoại báo cho công an phường nhưng công an phường từ chối can thiệp vì “bận họp”. Bởi có quốc tịch Pháp, vợ chồng ông Hoàng gọi điện thoại cho Lãnh sự quán Pháp tại Sài Gòn nhờ hỗ trợ.

Ông Emmanuel Ly – Battallan, Tổng Lãnh sự Pháp đến tận nơi, dùng máy ảnh chụp lại cảnh côn đồ vây tư gia của ông Hoàng, ngăn cản mọi người ra vào, đồng thới qua nhà đối diện chụp cả những kẻ giám sát từ xa. Côn đồ đã lôi ông Battallan vào nhà, kẹp cổ, khống chế để hăm dọa ông Battallan khoảng mười phút.

Trong thông báo cảnh báo về sự kiện vừa kể, ông Benjamin Ismail, người phụ trách khu vực châu Á –Thái Bình Dương của RSF, nhận định, những hành vi bạo lực như vậy là không thể chấp nhận được. RSF khẳng định, Công an Việt Nam có liên quan đến vụ này. RSF yêu cầu Việt Nam cần chấm dứt ngay lập tức việc quấy nhiễu, hăm dọa, dùng vũ lực đối với các blogger và thân nhân của họ. (G.Đ)

Bốn chữ ‘không’ tồi tệ trong giao thông ở Việt Nam

Bốn chữ ‘không’ tồi tệ trong giao thông ở Việt Nam

Nguoi-viet.com

TỔNG HỢP (NV) – Giao thông ở Việt Nam ngày càng tồi tệ không chỉ do nhà cầm quyền tham nhũng, yếu kém, mà còn do văn hóa giao thông “4 không” mất căn bản của người dân…

Phân luồng như thế này không kẹt xe mới là chuyện lạ. (Hình: Tuổi Trẻ)

Với tinh thần “Tưởng nhớ người đi – vì người ở lại,” ngày 9 tháng 11, hàng ngàn người đến dự đại lễ cầu siêu tưởng niệm những người chết bởi tai nạn giao thông được tổ chức tại Sài Gòn.

Đây là đại lễ bày tỏ niềm thương xót những người không may thiệt mạng, đồng thời chia sẻ đau thương, mất mát với những gia đình nạn nhân.

Chuyện giao thông ở các đô thị lớn của Việt Nam hiện nay càng nói, càng bàn, càng rối càng không hiểu nổi.

Gạt bỏ những thứ chung chung, cứ nói đến giao thông là nói đến văn hóa giao thông. Mà văn hóa giao thông cụ thể là gỉ?

Với người dân, chuyện về văn hóa giao thông là 4 chữ “không”: không sợ; không nhường; không xếp hàng và không biết ngại.

“Không sợ” là vấn đề nhận thức. Không sợ nên chạy xe bạt mạng, lạng lách, băng qua đầu xe, quay đầu đột ngột, sang đường bất chợt, uống rượu lái xe…

“Không nhường” là vấn đề thái độ ứng xử. Đường của chung, mạnh ai nấy cứ lấn tới, thấy chỗ nào trống cũng cố dí đầu xe vào dù chỉ để hơn nửa bánh xe, rồi đè đầu xe người khác mà chạy, bất kể lịch sự, bất chấp văn minh.

Không nhường kết hợp với cái “không sợ,” thế là sẵn sàng dí đầu xe gắn máy của mình vào ngay trước đầu xe hơi.

“Không xếp hàng” là vấn đề về hành vi. Việc này diễn ra từ nhà ra phố nên người Việt khi ra đường sẵn sàng tìm cách lấn làn, chèn đầu xe người khác khi chờ đèn đỏ đã trở nên phổ biến. Xe sau chèn xe trước, kiểu cài thế răng lược ở các nút giao thông và rồi kẹt xe. Đường hẹp cũng kẹt mà đường rộng cũng thông.

“Không biết ngại” là vấn đề đạo đức. Trời mưa cứ lao xe vào vũng nước với tốc độ cao, nước bẩn văng tung tóe, ai trúng ráng chịu. Chèn đầu xe lấn làn gây kẹt cho cả đám người, ai nhắc thì quay ra sửng cồ, to tiếng. Đường là của thiên hạ, nên cứ thế mà tạt nước, mà vứt rác… Hành vi sai đã đáng phê, biểu hiện đạo đức còn đáng trách hơn nhiều.

Còn với nhà cầm quyền thì sao? Cũng là chuyện về 4 chữ “không”: không khoa học; không nhất quán; không nghiêm và không đàng hoàng.

“Không khoa học” thì đã rõ, chỉ cần xem cách bố trí đèn giao thông ở Việt Nam cũng đủ biết. Đèn xanh, hai dòng xe ngược chiều cùng xông tới, các làn xe rẽ trái, rẽ phải, đi thẳng cùng nhận lệnh xung phong. Xe nọ đè đầu xe kia, cài qua cài lại đến hết lượt đèn chỉ đi được vài chiếc.

Trong tình cảnh đó, người tham gia giao thông sẵn sàng chơi trò liều mạng không sợ hoặc láu cá bằng mọi cách để qua được nút đèn nhanh nhất. Thế là đè đầu xe người khác để vượt đèn, rồi thì người này chạy xe đàng hoàng nhưng bị kẻ chạy xe ít đàng hoàng hơn chửi…

“Không nhất quán” lại càng rõ. Mỗi chuyện đèn đỏ quẹo phải mà chỗ được phép, chỗ không; lúc được phép lúc không; giờ cao điểm được giờ bình thường thì không. Vậy nên dân tình đi xe quen chơi trò hên xui, còn lực lượng làm nhiệm vụ thì tùy cơ hội thuận tiện mà thổi còi “làm luật.”

“Không nghiêm” là vì muốn nghiêm cũng không nghiêm nổi. Lúc cao điểm là lúc cần người dân tuân thủ luật lệ nhất, thì lại là lúc gần như người dân được phép lấn làn xe, rướn đèn, chạy ngược chiều…vì cảnh sát giao thông kẹt nhiệm vụ điều khiển, không thể phạt nổi. Thậm chí, có trường hợp người đi đường còn chủ động chỉ cho người chạy xe đi trái luật.

“Không đàng hoàng” là chuyện đạo đức của những người thực thi công vụ. Núp và canh bắt những lỗi sơ suất không đáng của người đi đường để làm luật, trong khi những lỗi nghiêm trọng thì lại hầu như không bắt được. (Tr.N)

Gọi vốn qua IPO kiểu VN ‘chẳng giống ai’

Gọi vốn qua IPO kiểu VN ‘chẳng giống ai’

Vietnam Airlines đã nhiều lần định cổ phần hóa nhưng không thành.

Vietnam Airlines theo dự kiến sẽ có đợt bán cổ phần ra công chúng lần đầu tiên (IPO) vào ngày 14/11.

Để tìm hiểu về đợt IPO này nói riêng và nỗ lực tư nhân hóa nền kinh tế tại Việt Nam, BBC tiếng Việt đã phỏng vấn ông Kevin Snowball, giám đốc điều hành Quỹ Tài sản PXP Vietnam.

Ông Snowball cho rằng cách huy động vốn tư nhân qua IPO cho doanh nghiệp nhà nước không có kết quả và chính phủ Việt Nam thiếu rõ ràng về cách phát triển thị trường chứng khoán.

BBC: Dường như ông có vẻ không mấy hào hứng trước đợt IPO này, tại sao vậy?

“98% số cổ phiếu sẽ được bán cho hai ngân hàng trong nước mà chúng tôi hiểu rằng họ là Techcombank và Vietcombank mặc dù thông tin này chưa được xác nhận”

Kevin Snowball, CEO PXP Vietnam

Về cơ bản thì cầu vượt quá cung một chút. Tức là nhu cầu muốn mua nhiều hơn số cổ phiếu sẽ được chào bán ra 1.70 lần. 98% số cổ phiếu sẽ được bán cho hai ngân hàng trong nước mà chúng tôi hiểu rằng họ là Techcombank và Vietcombank mặc dù thông tin này chưa được xác nhận. Nhà đầu tư nước ngoài tham gia rất ít, có vẻ như 28 cá nhân từ giới đầu tư nước ngoài chia nhau mua khoảng 100.000 USD trị giá cổ phiếu.

Có một số lý do khiến chúng tôi không tham gia mua. Tức là về cơ bản là IPO tại Việt Nam hiện có một số vấn đề. Thứ nhất là giá cổ phiếu là quá đắt. Thông tin cũng không thật đầy đủ và rõ ràng, nói cách khác đi là thiếu minh bạch. Đây là IPO nhưng lại không có ngày cụ thể cho việc khi nào trong tương lai mới niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Tức là đó không phải là cách người ta thực hiện IPO như bình thường.

BBC: Vậy IPO có ý nghĩa gì đối với Vietnam Airlines (VNA)?

Họ dự kiến huy động dưới 50 triệu USD, là việc gọi vốn nhỏ. VNA muốn tìm nhà đầu tư chiến lược. Chúng tôi nghe nói có nhà đầu tư muốn mua 20% cổ phần VNA nhưng cho tới nay thì không có thông tin rằng nhà đầu tư đó là ai. Do đó đợt IPO này chỉ là việc bán ra cổ phần rất nhỏ cho một vài nhà đầu tư nội địa, do đó chẳng có chút hào hứng nào cả.

BBC: Nhìn rộng ra về nỗ lực cổ phần hóa của Chính phủ Việt Nam, ông đánh giá thế nào?

Tôi cho là mọi việc diễn ra không được suôn sẻ. Trong năm nay đã có hàng chục IPO, tôi chỉ thấy có một trường hợp có thể tạm coi là thành công là trường hợp Vinatex. Chúng ta thấy là tuần trước Việt Nam bán 1 tỉ đôla trái phiếu để huy động vốn từ thị trường tài chính quốc tế và cầu gấp 10 lần cung. Đó là bởi giá bán là hợp lý, ấn định giá đúng thì bán cái gì cũng được.

Đối với nhà đầu tư nước ngoài thì để có thể tham gia vào IPO thì hẳn phải có triển vọng thực sự là họ sẽ kiếm được tiền từ đó. Đó là một trong những đặc điểm của thị trường chứng khoán. Còn nếu bán cổ phiếu ra để giới đầu tư trông đợi 100 năm nữa mới có lãi thì khả năng để người ta huy động được vốn là rất ít. Tức là trong trường hợp này thị trường nói với chính phủ là giới đầu tư không thích kiểu thực hiện IPO này của VNA.

BBC: Nhà nước vẫn nắm cổ phần chính của Vietnam Airlines và phải chăng đó là chỉ dấu cho thấy nhà nước chưa sẵn sàng có những thay đổi thực sự tại VNA nói riêng và nền kinh tế mà quốc doanh nắm vai trò chủ đạo nói chung?

” Rồi sẽ đến lúc người ta sẽ hỏi rằng liệu có cần phải có thị trường chứng khoán không và làm gì với nó”

Hiện nhà nước vẫn nắm 96.5% cổ phần của Vietnam Airlines. Họ chưa bán 20% cổ phần. Có việc đồn đoán là có thể có nhà đầu tư Nhật nào đó sẽ mua nhưng hiện chưa thấy chỉ dấu nào từ phía Nhật là họ muốn thực hiện điều đó. Có một số nhỏ cổ đông nắm 3.5% cổ phần của VNA nhưng họ không biết sẽ buôn bán các cổ phần này ở đâu.

Thực tế rằng Việt Nam giới hạn mức sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài ở mức tối đa là 49% cho thấy là Việt Nam chưa sẵn sàng để cho thị trường chứng khoán vận hành theo cách mà đáng ra phải vận hành như tại những nơi khác. Có nhiều công ty được niêm yết trên sàn giao dịch tại Việt Nam nhưng đa số vẫn thuộc quyền sở hữu thuộc về nhà nước.

Tôi nghĩ là có vấn đề mang tính tổng quát hơn đối với thị trường chứng khoán và cách vận hành cũng như vấn đề về chủ trương. IPO là bước đi cốt để cung cấp nguồn tiền mặt thì dường như đã và đang không có mấy kết quả. Chúng ta đang đối diện rủi ro là cứ để tình trạng này càng kéo dài bao lâu thì nó chỉ càng thêm tiêu cực. Rồi sẽ đến lúc người ta sẽ hỏi rằng liệu có cần phải có thị trường chứng khoán không và làm gì với nó. Tức là chính phủ Việt Nam không có chính sách rõ ràng việc họ muốn phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam như thế nào.

Sài Gòn: Đi siêu âm, nữ bệnh nhân bị trộm mất quần!

Sài Gòn: Đi siêu âm, nữ bệnh nhân bị trộm mất quần!
November 11, 2014

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN ( NV) – Trong lúc thay váy của bệnh viện để siêu âm, nữ bệnh nhân đã bị trộm mất chiếc quần cùng số tài sản để ngay dưới chân bác sĩ tại một bệnh viện nổi tiếng ở Sài Gòn.

Nơi bà V. đi siêu âm bị mất trộm quần và tài sản ( Hình: Người Lao Động)

Theo báo Tuổi Trẻ, ngày 13 tháng 10, bà N.T.T.V. ở quận 10 đến Bệnh Viện Đại Học Y Dược Sài Gòn khám bệnh, thì được bác sĩ chỉ định siêu âm phụ khoa ở phòng 21.

“Khi tôi thay váy của bệnh viện để siêu âm, do trong phòng không có móc treo quần áo nên tôi để dưới chân bác sĩ. Lúc này, trong phòng chỉ có một bác sĩ, một điều dưỡng tên D. và một bệnh nhân mới được siêu âm trước đó.

Khi siêu âm xong, tôi lấy quần áo để mặc thì phát hiện chiếc quần của tôi biến mất cùng 15 triệu đồng và một chiếc điện thoại iPhone 4S trong túi quần,” bà V. cho biết.

Sau khi phát hiện bị mất đồ, bà V. nghi ngờ bệnh nhân trước đó đã lấy đồ của mình, nên đề nghị điều dưỡng D. cho thông tin bệnh nhân, song bà D. đã không cho, thậm chí “Khi tôi kiểm tra đồ xung quanh đó xem quần tôi có lẫn ở đâu không, cô D. còn lớn tiếng với tôi, ‘Tưởng tôi lấy đồ của bà hả?’”

“Trên người tôi lúc này chỉ có cái váy của bệnh viện. Tôi mếu máo ra ngoài mượn điện thoại gọi cho người thân thì lúc này mới được sự hỗ trợ của cô y tá trưởng,” bà V. uất ức kể lại.

Sau khi hỏi chuyện, y tá trưởng đã báo công an và đề nghị bà V. làm bản tường trình vụ việc. “Tôi nghĩ, nếu được sự hỗ trợ của nhân viên bệnh viện sớm hơn, tôi đã tìm được đồ của mình,” bà V. tiếc nuối.

Ông Trần Văn Hùng, phó trưởng phòng hành chính Bệnh Viện Đại Học Y Dược Sài Gòn cho biết, “Sau khi sự việc xảy ra, điều dưỡng trưởng đã mời bảo vệ tiếp nhận sự việc, đồng thời trình báo công an phường. Đây chuyện đáng tiếc xảy ra ngoài dự kiến.”

Theo ông Hùng, việc điều dưỡng D. không cung cấp thông tin cá nhân của người bệnh siêu âm trước đó cho bà V. là do bệnh viện phải giữ thông tin bí mật của bệnh nhân. Tuy nhiên, sau đó bệnh viện đã cung cấp cho cơ quan công an để phục vụ công tác điều tra.

Liên quan đến việc này, điều dưỡng D. chỉ bị viết bản tường trình, bệnh viện đề xuất hình thức kỷ luật nhưng không cho biết cụ thể và tạm đình chỉ công việc…hai tuần.

Thật ra đây chỉ là giọt nước làm tràn ly về việc mất cắp tài sản tương tự đã từng xảy ra ở bệnh viện này, cũng như nhiều bệnh viện khác ở Việt Nam.

Chuyện mất đồ của bà V. là một cảnh báo cho nhiều người rằng, dù ở bất cứ địa điểm đông người nào ở Việt Nam cũng phải cố gắng tự giữ gìn, bảo quản tài sản của mình để tránh rơi vào tình huống “dở khóc, dở cười” như trên. (Tr.N)

‘ Đam mê của tôi không được khuyến khích ở VN’

‘ Đam mê của tôi không được khuyến khích ở VN’

Xe bọc thép mà cha con ông Trần Quốc Hải đóng mới cho quân đội Campuchia

Một nhà sáng chế ở tỉnh Tây Ninh vừa được Campuchia phong tặng Huy chương Đại tướng quân vì đã giúp sửa chữa xe bọc thép cho quân đội nước này.

Ông Trần Quốc Hải, ở tỉnh Tây Ninh, và con trai là Trần Quốc Thanh đã được Nhà nước Campuchia vinh danh.

Ông Hải cũng là người từng chế tạo máy bay trực thăng và nhiều máy móc công nghiệp mà báo chí Việt Nam từng phản ánh. Tuy nhiên ông nói ở Việt Nam, đam mê của ông không được khuyến khích.

Ông Trần Quốc Hải: Xe bọc thép ở các nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) thì đại đa số là dùng xe của Liên Xô cũ, nhiều xe đã trong tình trạng hỏng hóc.

Những xe này cũng không phù hợp với địa hình và điều kiện địa phương nên các tướng lĩnh Campuchia họ muốn có một loại xe phù hợp hơn.

Người Campuchia họ biết là tôi có năng lực, chế tạo máy bay rồi máy móc công nghiệp nên họ mời tôi sang, Trước hết là sửa máy nông nghiệp, sau đó thấy xe bọc thép Liên Xô chế tạo hỏng rất nhiều họ yêu cầu mình khắc phục.

Khắc phục được 11 chiếc thì họ biết mình có năng lực rồi nên họ bàn làm sao chế tạo xe bọc thép mới để không phụ thuộc vào nước ngoài.

Tới nay thì tôi cũng mới chỉ bắt đầu chế tạo hoàn toàn một chiếc xe bọc thép phù hợp với điều kiện Đông Dương.

Campuchia họ đang muốn xây dựng nhà máy để chế tạo 100 chiếc, thay thế cho loại xe của Liên Xô đã không còn phù hợp nữa.

Hiện tôi mới chỉ chế loại xe sáu bánh, họ yêu cầu chế xe tám bánh.

BBC: Thế ở Việt Nam, giới chức quân đội họ có tiếp cận ông và đề nghị ông làm việc cho họ không ạ?

Ông Trần Quốc Hải: Chưa nghe thấy ai đề nghị gì cả.

BBC: Trước kia ông đã từng chế tạo cả trực thăng, rồi máy móc, báo chí cũng đã viết nhiều về ông. Vậy mà chính quyền tỉnh và trung ương không tiếp cận ạ?

Ông Trần Quốc Hải: Cũng có tiếp cận, rồi thưởng bằng khen. Thế nhưng cơ chế của Việt Nam nó rất là ngộ.

Họ [giới chức Việt Nam] nói: “Anh chế (tạo) rất giỏi, nhưng thôi đừng chế nữa”

Ông Trần Quốc Hải

Ở Campuchia, nếu anh làm được một công trình nào đó, đánh giá xong họ công nhận anh là nhà khoa học.

Ở Việt Nam, người làm được thì họ không công nhận, người chưa làm được gì thì công nhận.

Khi làm trực thăng thì họ nói thế này: thứ nhất là không phù hợp. Thứ hai là Việt Nam không có đủ trình độ để chế tạo máy bay. Tôi cũng tranh luận với họ, nhưng họ cũng không muốn tranh luận ra ngô ra khoai.

Tôi nói ở châu Âu người ta làm máy bay từ cách đây cả trăm năm, Việt Nam không lẽ thua họ? Tôi tự hào là người Việt Nam chứ.

Họ cũng im lặng không tranh luận, nhưng về họ viết văn bản. Họ nói: “Anh chế rất là là giỏi, nhưng thôi đừng chế nữa”.

BBC: Như vậy, ông không có dự án gì ở Việt Nam ạ?

Ông Trần Quốc Hải: Các dự án lớn thì cần quy hoạch của chính phủ. Không có kế hoạch của chính phủ, một mình mình thì không làm gì được.

BBC: Vừa rồi, ông được Campuchia vinh danh phải không ạ?

Ông Trần Quốc Hải: Họ tặng tôi huy chương Đại tướng quân, do Quốc vương Sihamoni ký lệnh và Thủ tướng Hun Sen trao tặng. Họ cũng đối xử với tôi như cấp tướng. Sống, sinh hoạt bên Campuchia họ cho tôi hưởng tiêu chuẩn cấp tướng.

BBC: Ông có ý định sống và làm việc bên Campuchia không ạ?

Ông Trần Quốc Hải: Chuyển sang sống hẳn bên đó thì tôi chưa có ý định, nhưng người Campuchia rất thân thiện và tạo điều kiện cho tôi thực hiện những đam mê của tôi nên tới đây chắc tôi sẽ tiếp tục hợp tác với họ.

Khoa học không có biên giới, nơi nào họ cần mình, họ coi trọng mình thì mình đến phục vụ cho họ. Đơn giản thế thôi.

Đòn thù thâm độc của công an trại giam

Đòn thù thâm độc của công an trại giam

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-11-10

  • RFA

11102014-reveng-treat-to-poli-pri.mp3

Từ trái: anh Nguyễn Hữu Vinh, chị Cấn Thị Thêu và anh Đặng Xuân Diệu.

Từ trái: anh Nguyễn Hữu Vinh, chị Cấn Thị Thêu và anh Đặng Xuân Diệu.

RFA files

 

Nhiều tù nhân chính trị/lương tâm kiên quyết không chịu nhận tội phải đón nhận những hành xử mang tính trả thù dữ dội trong trại giam.

Anh Basam Nguyễn Hữu Vinh

‘Kiến nghị về việc đổi người giam cùng buồng với nghi can Nguyễn Hữu Vinh’ do luật sư Hà Huy Sơn gửi Viện Kiểm sát Tối cao và giám thị trại giam B14 Bộ Công An ký vào ngày 31 tháng 10 vừa qua. Trong thư luật sư Hà Huy Sơn, người bào chữa cho trường hợp của blogger AnhBasam Nguyễn Hữu Vinh, hiện đang bị tạm giam và khởi tố về điều 258 Bộ luật hình sự Việt Nam ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ …’ thuật lại lần làm việc vào ngày 30 tháng 10, đích thân ông Nguyễn Hữu Vinh cho biết đang bị giam giữ cùng một bị can nhỏ hơn chừng 20 tuổi có biểu hiện tâm lý bất thường. Người này từng có tiền án giết người và đang bị khởi tố về một tội hình sự đặc biệt nghiêm trọng. Ông Nguyễn Hữu Vinh đã sử dụng nhiều phương cách để khuyên nhủ, chấn tĩnh tâm lý cho bị can giam chung phòng; thế nhưng mọi biện pháp đều không hiệu quả và nếp sinh hoạt bất thường của bị can đó gây ảnh hưởng đến tinh thần của ông Nguyễn Hữu Vinh một cách nghiêm trọng, cũng như có nguy cơ không bảo đảm an toàn cho ông Vinh. Bản thân ông này đề nghị được đổi người giam chung cùng phòng như thế.

Luật sư Hà Huy Sơn vào ngày 9 tháng 11 cho biết như sau:

Trong buổi làm việc cùng điều tra viên thì ông Vinh có trình bày như vậy. Tôi với trách nhiệm của luật sư tôi cũng làm kiến nghị và tôi gửi cho các cơ quan chức năng và tôi thông báo cho gia đình, vợ ông Vinh được biết.

Dân oan Cấn Thị Thêu

Một trường hợp khác được gia đình lên tiếng kêu cứu là của tù nhân Cấn Thị Thêu hiện đang bị giam chung với hai tù nhân nhiễm HIV nặng, thân hình bị lở lói. Thông tin này được một tù nhân khác cũng là dân oan Dương Nội vừa mãn án tù cho các con của bà Cấn Thị Thêu biết.

Anh Trịnh Bá Phương, con trai bà Cấn Thị Thêu, nói về việc nhận được tin xấu đó:

Sau khi cô Nguyễn thị Ngân và Nguyễn thị Toàn, hai người cùng trong đoàn Dương Nội bị bắt, trước khi ra tù hai cô ở cùng buồng giam của mẹ tôi gần một tháng. Sau khi ra tù, các cô cho biết thông tin ở trong đó là mẹ tôi bị nhốt chung với hai tù nhân bị nhiễm HIV và trong trại giam họ có nhiều sai phạm, ngược đãi tù nhân. Qua lời cô Nguyễn thị Ngân thì mẹ tôi bị nhốt cùng hai tù nhân bị nhiễm HIV từ khi bị bắt vào. Cũng theo lời cô Ngân, sau khi xử xong mẹ tôi chuyển sang buồng khác thì hai tù nhân đó cũng đi theo sang. Tôi nghĩ rằng đây là một sự sắp đặt, cố tình nhốt mẹ tôi với hai tù nhân nhiễm HIV.

Về việc ngược đãi, qua lời cô Ngân, cô Toàn, thì mẹ tôi bị cấm cả buồng giam khoảng hơn 20 người không ai được giao tiếp, không ai được nói chuyện với mẹ tôi. Nếu ai nói chuyện sẽ bị kỷ luật trực thêm 5 ngày. Cô Ngân một lần thấy mẹ cháu mệt đến vuốt đầu thì bị đe dọa kỷ luật; thế nhưng mẹ cháu đấu tranh nên không bị.

Mặc dù hai vợ chồng bà Cấn Thị Thêu và ông Trịnh Bá Khiêm bị đưa ra xét xử sơ thẩm vào ngày 19 tháng 9 vừa qua, nhưng đến nay gia đình chưa phép được thăm nuôi hai ông bà này, lý do được cơ quan chức năng đưa ra với gia đình như sau, qua lời của anh Trịnh Bá Phương:

Từ ngày 25 tháng tư khi hai bố mẹ tôi bị bắt thì hai anh em chúng tôi chưa được gặp mặt. Chỉ có em gái được gặp ở phiên tòa thôi, còn hai anh em chúng tôi do không vào được phiên tòa nên từ đó đế nay không được gặp. Họ lấy lý do án chưa có hiệu lực, còn kháng án, án sơ thẩm chưa chính thức có hiệu lực nên chưa cho gặp.

Tù nhân Đặng Xuân Diệu

Vào ngày 7 tháng 10 vừa qua, anh Trương Minh Tam mãn án một năm tù và ra khỏi Trại giam số 5 Yên Định, Thanh Hóa. Cựu tù nhân này tiết lộ thông tin tù nhân lương tâm Đặng Xuân Diệu bị giam trong một phòng giáp vách với anh này bị đối xử rất hà khắc vì anh Đặng Xuân Diệu không chịu nhận tội, không mặc áo tù. Theo cựu tù nhân Trương Minh Tam thì tình trạng của anh Đặng Xuân Diệu rất nguy cấp và mọi người cần phải lên tiếng để cứu tù nhân lương tâm này trước những đòn thù mà nhà tù dành cho anh này.

Phản ứng của cơ quan chức năng

Sau khi có sự lên tiếng của cựu tù nhân lương tâm Trương Minh Tam về trường hợp tù nhân lương tâm Đặng Xuân Diệu, trong lần thăm gặp hồi tháng 10 vừa qua, thân nhân anh này được trại giam cho thấy mặt anh trong vòng chừng một phút. Trước đó từ khi chuyển trại đi thi hành án, vì không chịu nhận tội và mặc áo tù, nên trại giam cắt thăm gặp của gia đình đối với tù nhân lương tâm Đặng Xuân Diệu.

Đối với trường hợp của bà Cấn Thị Thêu, các con của bà cùng dân oan Dương Nội đã đến các cơ quan chức năng tại Hà Nội yêu cầu ngưng việc giam chung bà với những người nhiễm HIV nặng như thế; tuy nhiên việc kêu cứu đó chưa hề được lắng nghe. Anh Trịnh Bá Phương cho biết:

Đơn thư thì gia đình và bà con đã gửi rồi, phản ánh vi phạm trực tiếp của trại giam đã vi phạm Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền Con người và các công ước mà Việt Nam đã ký về quyền dân sự và chính trị. Theo công ước này mẹ tôi bị vi phạm nghiêm trong điều 7 điểm 10, điều 1 và điều 4. Kể cả luật pháp Việt Nam hiện hành là khi những người vào tù phải được đảm bảo sức khỏe và an toàn tính mạng. Nhưng việc nhốt chung với những người nhiễm HIV là đe dọa trực tiếp đến tính mạng của mẹ tôi. Hành vi này là hành vi cố ý giết người, nhưng đến nay chưa có cơ quan nào đứng ra để giải quyết, chúng tôi đã đến cả Bộ Công An và rất nhiều cơ quan rồi nhưng đến nay chưa có ai đứng ra để giải quyết.

Luật sư Hà Huy Sơn cũng cho biết về sự lên tiếng cho trường hợp mới nhất của blogger Anh Basam Nguyễn Hữu Vinh và một số trường hợp khác trước đây và phản hồi từ phía cơ quan chức năng như sau:

Khi xảy ra các dấu hiệu nguy hiểm thì người bị giam cùng và luật sư khi biết cần phải có thông báo với ban giám thị trại và đơn vị thụ lý giai đoạn cuối cùng. Thường chỉ có sự khiếu nại thôi chứ sự đáp ứng luật sư không được thông báo. Nguy cơ như thế nhưng giải quyết thế nào, bản thân tôi trong các trường hợp tôi làm chưa thấy trường hợp nào được trả lời.

Việt Nam tham gia ký kết Công ước Chống Tra tấn và quốc hội kỳ 8 khóa 13 đang họp vừa được chủ tịch nước Trương Tân Sang trình công ước để phê chuẩn. Có thể nói Hà Nội tham gia rất sớm nhiều công ước quốc tế, thế nhưng việc thực thi những công ước đó rất hạn chế. Những đối tượng như tù chính trị, tù nhân lương tâm, những thành phần đối kháng, bất đồng chính kiến… tại Việt Nam luôn đối diện với những hành xử mà những người trong cuộc nói là ‘trả thủ’ nặng nề khi không khuất phục được họ.

Hàng chục người Sài Gòn tố bị lừa xuất cảng lao động qua Mỹ

Hàng chục người Sài Gòn tố bị lừa xuất cảng lao động qua Mỹ

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN 9-11 (NV) – Hàng chục nạn nhân tố cáo một phụ nữ và công ty ở quận Bình Thạnh, Sài Gòn, hứa hẹn đưa họ sang Mỹ làm việc, nhưng thực chất là lừa đảo, chiếm đoạt tiền của họ.

Trụ sở công ty VietNam Daily bị cáo buộc lừa xuất khẩu lao động. (Hình: VietnamNet)

Bản tin của Vietnamnet hôm Chủ Nhật cho hay như vậy về lá đơn của khoảng 20 người tố cáo phụ nữ tên Nguyễn Thị Mỹ Phương và công ty cổ phần đầu tư thương mại xây dựng và du lịch VietNam Daily (gọi tắt là công ty VietNam Daily, trụ sở trên đường Nguyễn Hữu Cảnh, phường 22, quận Bình Thạnh) có “dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thông qua hình thức “xuất khẩu lao động sang Mỹ.”

Nguồn tin kể rằng “Anh N.V.T (SN 1992, quê Tiền Giang) trình báo, khoảng nửa năm trước anh quen biết với bà Phương. Lúc này bà Phương giới thiệu là kế toán công ty VietNam Daily. Bà này tư vấn với anh T rằng, hiện công ty đang có nhu cầu tuyển dụng lao động đưa sang Mỹ làm việc, có thu phí dịch vụ.”

Hy vọng có cơ hội kiếm tiền cũng như tin lời bà Phương, Vietnamnet nói “giữa Tháng Sáu anh T nộp cho bà Phương 50 triệu đồng và mang đến công ty VietNam Daily giao nộp các hồ sơ, giấy tờ mà bà Phương yêu cầu. Tuy nhiên nhiều tháng trôi qua, anh T thường xuyên hỏi thăm nhưng phía công ty lẫn bà Phương liên tục hứa hẹn…”

Đến cuối Tháng Chín, nguồn tin trên nói bà Phương gọi cho anh T “thông báo thủ tục của anh không đi Mỹ được và yêu cầu anh đến công ty nhận lại tiền. Từ đó đến nay anh T nhiều lần đến công ty VietNam Daily đòi tiền nhưng được một số người ở đây thông báo bà Phương đã nghỉ việc. Anh T tìm gặp tổng giám đốc công ty nhưng không được.”

Vì không biết cách nào đòi lại tiền, anh T làm đơn tố cáo vụ việc đến công an phường 22, quận Bình Thạnh. Được biết, tại thời điểm anh T tố cáo, trước đó có khoảng 20 người cũng nộp đơn tại công an địa phương này tố cáo bà Phương và công ty VietNam Daily có dấu hiệu lừa tiền của họ với hình thức tương tự. Các nạn nhân này khai báo đã nộp cho bà Phương và công ty VietNam Daily khoản tiền hơn 800 triệu đồng.

Hồi Tháng Tám vừa qua, hai anh em Nguyễn Văn Tuấn và Nguyễn Văn Tú giới thiệu là công an công tác tại “Cục An Ninh” và “cảnh sát kinh tế” ở Hà Nội, nên đã lừa được ông Nguyễn Đình Tiến (Hải Dương) số tiền 200 triệu đồng để lo lót đi xuất khẩu lao động tại Anh, theo tin Người Lao Động.

Hồi Tháng Ba, một đường dây lừa xuất khẩu lao động đi Canada, Nam Hàn… ở tỉnh Nghệ An đã bị cáo buộc lừa tiền lối 2.5 tỷ đồng cho những người muốn được xuất cảng lao động, hy vọng thoát đói nghèo, theo tin tờ Tuổi Trẻ ngày 28 Tháng Ba.

Theo tờ Tuổi Trẻ, tính đến ngày hai kẻ chủ mưu bị bắt, có tất cả 28 nạn nhân đã nộp tiền, có người mất đến $10,000, nhưng chờ mãi không thấy gọi lấy vé máy bay đi nước ngoài.

Hồi Tháng Bảy, theo VNExpress, khoảng 30 người đã bị một tổ chức lừa xuất cảng lao động sang Nhật với số tiền lên khoảng 3 tỷ đồng. (TN)

Sau 25 năm Việt Nam vẫn kém Đông Âu

Sau 25 năm Việt Nam vẫn kém Đông Âu

Nguyễn Giang bbcvietnamese.com

Châu Âu làm lễ kỷ niệm ngày đập tường Berlin 9/11/1989

Đúng một phần tư thế kỷ đã trôi qua từ ngày Bức tường Berlin sụp đổ, một khoảng thời gian đủ dài – một phần ba cuộc đời, năm nhiệm kỳ tổng thống, tổng bí thư – để so sánh Việt Nam và Đông Âu.

Tôi sang Berlin hè năm 1990 từ Ba Lan bằng hộ chiếu Việt Nam với visa Đông Đức, một trong số tấm thị thực cuối cùng Đại sứ quán của họ ở Warsaw cấp cho người nước ngoài, vì đến tháng 10 năm đó, Đông Đức chấm dứt tồn tại.

Lúc tôi đến xem, Bức tường Berlin khi ấy vẫn còn dài, chạy vòng vèo qua các khu phố, bờ sông, cánh rừng của thành phố đầy ắp dấu ấn của sự chia cắt.

Nhưng cổng thành Brandenburg đã mở để ai thích thì đi xe thênh thang sang phía Tây, xem chủ nghĩa tư bản là cái gì mà sáng choang như thế.

Các bạn bè và thân nhân của tôi ở Đông Berlin vào năm 1990 thì đều băn khoăn với câu hỏi về hay ở, và ở thì làm ăn tại chỗ hay đi tiếp sang Tây Đức.

Giữa cơn sốt buôn bán, đổi tiền, mua hàng, tích trữ quà cáp, ai cũng nhớn nhác suy tính xem ở lại sẽ có một tương lai tốt hơn hay về nước.

Bao trùm lên nỗi băn khoăn đó thực ra là câu hỏi ‘Việt Nam sẽ ra sao những năm tới?’

Nhưng dù phải lo kinh tế và cuộc sống cá nhân, không phải người ta không thấy vụ kéo đổ tường Berlin báo hiệu một cơn bão chính trị.

Chủ nghĩa xã hội đã phá sản ngay trên quê hương của nó.

Nhưng Việt Nam đã không chọn con đường của các nước đầy những người bạn giàu lòng nhân hậu, tư duy thoáng đãng, bao dung, không xỏ lá, trịch thượng, không bắt nạt kẻ kém hơn mình.

Giờ nhìn lại, theo cảm quan của riêng tôi, một người bám sát các biến đổi ở Đông Âu từ đó đến nay, thì sự lựa chọn của các vị thế hệ cha anh của tôi về đường hướng cho Việt Nam là hoàn toàn thông cảm được vào thời điểm đó nhưng là quyết định chỉ đạt điểm trung bình kém.

Nhiều tác giả đã phân tích về sự nghiệp Đổi Mới ở Việt Nam và nói về lựa chọn của lãnh đạo nước này khi Đông Âu chuyển mình.

Nỗi sợ đổ vỡ, sợ bị ‘bọn tư bản’ lấn chiếm, lật đổ…là điều hoàn toàn hiểu được bởi các lãnh đạo quá nửa đời sống trong cuộc chiến mà kẻ thù chính là Phương Tây.

Bức tường Berlin một thời chia cắt Đông và Tây Âu

Không chỉ bác bỏ mô hình mà Ba Lan, Hungary, CH Czech…chọn lựa, báo chí ở Hà Nội từng có lúc tự hào là không cần thay đổi thể chế mà vẫn phát triển được kinh tế, vẫn hội nhập quốc tế thành công.

Ta hãy so sánh tiêu chuẩn kinh tế, xã hội và mức độ hội nhập để xem lựa chọn của Việt Nam và Đông Âu cũ hơn kém ra sao, chưa nói đến nhân quyền, dân chủ.

Đầu tiên là về thu nhập bình quân đầu dân.

Theo tiêu chuẩn Liên Hiệp Quốc, GNI năm 2012 thì không tính vùng Đông Đức nay thuộc Cộng hòa Liên bang Đức giàu mạnh nhất châu Âu, dân các nước Ba Lan (12 nghìn USD), Hungary (12 nghìn USD), Lithuania (11 nghìn USD), Slovakia (8600 USD), Romania (7700 USD), Bulgaria (6000 USD), đều nhiều tiền hơn dân Việt Nam.

Thậm chí dân Albania, quốc gia nghèo nàn lạc hậu nhất châu Âu từ thời cộng sản đến nay, và chưa là thành viên EU vẫn có thu nhập 3800 USD, bỏ xa Việt Nam ở mức 1600 USD.

Cuộc chiến khốc liệt sau khi Nam Tư tan rã từng làm nhiều người Việt Nam lo sợ.

Nhưng nay các nước đó đều ổn định, phát triển và giàu có hơn Việt Nam.

Bosnia nghèo cũng có GNI 4500 USD, còn Croatia không chỉ giàu hơn (13 nghìn USD) mà còn là điểm du lịch nổi tiếng với bờ biển đẹp, các di tích cổ và cả bảo tàng về cuộc chiến 1991, thu hút đông đảo du khách châu Âu.

Như thế, không thể nói mô hình Việt Nam chọn 25 năm qua là điều gì kỳ diệu vì nó mới chỉ giúp nước này thoát nghèo mà thôi.

Thứ nhì là về công bằng và an sinh xã hội.

Sau chừng 15 năm chuyển đổi cơ chế, từ 2004 đến 2013, một loạt quốc gia Đông Âu đã gia nhập ngôi nhà chung EU.

Công dân họ ở lại hay sang Đức, Hà Lan, Anh, Pháp… đều được hưởng các quyền lợi như các nước dân chủ tư bản lâu đời, từ an sinh xã hội đến quyền giáo dục, y tế, bầu cử…

Nếu không thỏa mãn với toà án nước mình, họ có thể kiện lên các toà nhân quyền châu Âu để đòi công lý.

Việt Nam cũng tiến triển trong hội nhập quốc tế và công dân đã có thể sang ASEAN không cần thị thực nhưng không được hưởng quyền gì hết, đôi khi còn bị kỳ thị như ở Thái Lan, Singapore gần đây.

Và để tìm vận hội, người Việt nghèo lại tìm đến vùng Đông Âu cũ nay thuộc EU.

Các nước gốc Đông Âu cộng sản như Romania vẫn có thu nhập cao hơn Việt Nam

Ở Việt Nam, ai có thu nhập cao hơn mức trung bình 1300 USD một năm đó thì cũng nên thận trọng vì điều đó có nghĩa là còn một số rất đông sống dưới mức đó.

Mất cân bằng thu nhập và thiếu cơ hội vươn lên trong một bộ phận dân cư đông đảo đang là quả bom nổ chậm cả về an ninh lẫn kinh tế.

Thứ ba là về chính cơ chế kinh tế và tốc độ hội nhập.

Cải cách, ‘cải nhiều mà vẫn cách đó’, ở Việt Nam đã ngày càng lộ ra tính nửa vời vì không tôn trọng các nguyên tắc bình đẳng của thị trường.

Vốn liếng của quốc gia thường bị dồn vào cho các tập đoàn nhà nước làm ăn yếu kém, lãng phí.

Khối tư nhân đóng thuế cao, tạo nhiều công ăn việc làm hơn thì bị kỳ thị, bóp nặn.

Tư duy chính trị độc tôn ‘Đảng và Nhà nước trên hết’ vì không bị kiềm chế nên các quán tính xấu của nó như dùng quyền lực can thiệp vào kinh tế không hề giảm đi mà còn ngày càng mạnh lên.

Các sự kiện như gia nhập WTO được báo chí nhà nước ở Việt Nam đề cao như một thành tích về tiến bộ của cải cách.

Đa số các nước Đông Âu cũng đã vào WTO và còn vào sớm hơn Việt Nam.

Ví dụ như Romania vào năm 1995 khi Việt Nam mới bắt đầu đàm phán để gia nhập chính thức năm 2007.

Nghèo như Albania và vừa thoát khỏi nội chiến như Croatia cũng đã vào WTO từ năm 2000.

Điều này cho thấy sức ì của cải tổ cơ chế chính trị nói chung đã khiến Việt Nam chậm chân hơn nhiều so với các nước Đông Âu trong việc hội nhập kinh tế thế giới, bất kể tuyên truyền nói gì.

Điều cần nói nữa là di sản rất đặc thù, khủng khiếp hơn ta vẫn tưởng của mô hình Liên Xô.

Một khi đã dính vào mô hình này, quốc gia nào cũng sẽ phải trả giá, trả giá rất cao, rất lâu dài.

Nhiều lần quay lại các bang thuộc Đông Đức cũ cho tôi cảm nhận rất rõ rệt về điều này.

Cùng một dân tộc thuộc hàng văn minh nhất của nhân loại, người Đông Đức chỉ phải chịu đựng mô hình Liên Xô trong 40 năm mà ngày nay các bang phía Đông vẫn chưa thực sự hồi sinh.

Đến thăm một số bạn Việt Nam ở Chemnitz, thành phố từng mang tên Karl Marx, tôi thấy chỉ có mấy hộ gia đình ở cả một toà nhà nhiều tầng, phần còn lại bỏ hoang.

Lý do là người dân Đức cứ còn sức, còn tuổi trẻ là bỏ đi sang phía Tây, để lại những khu phố gió lùa vắng lặng, công viên lá vàng đẹp rực rỡ nhưng thiếu bóng người.

” Bạo lực chuyên chính do mô hình Liên Xô tích tụ, ép xuống, dồn nén vào dân đã gây ra các xung lực đa chiều phá tung các tế bào xã hội, bẻ cong nhiều chuẩn mực, làm biến dạng nhân cách”

Về đêm, Đông Berlin vẫn ít ánh đèn, tối hơn hẳn Tây Berlin sau 25 năm thống nhất.

Việt Nam từng tự hào là tránh được nội chiến, xung đột sắc tộc như ở Nam Tư một thời.

Nhưng bạo lực chuyên chính do mô hình Liên Xô tích tụ, ép xuống, dồn nén vào dân đã gây ra các xung lực đa chiều phá tung các tế bào xã hội, bẻ cong nhiều chuẩn mực, làm biến dạng nhân cách.

Y tế và giáo dục tiếp tục trên đà xuống dốc, giao thông thì kinh khủng hơn và hệ thống công quyền tham nhũng, tư pháp hà khắc chính là ‘món quà từ mối tình Liên Xô’ còn gây di hại.

Việt Nam ngày hôm nay đã khác nhiều.

Hiển nhiên, Việt Nam hôm nay không phải là những ngày tháng u ám của thập niên trước Đổi Mới.

Xã hội và con người đã tiến bộ lên rất nhiều, tự do cũng tăng và tư duy từ quan chức đến người dân đều cởi mở hơn trước vượt bậc.

Điều này một phần nhờ làn sóng giao lưu con người, thông tin tăng cao trên toàn thế giới, nhờ sự hỗ trợ tài chính, khuyến khích kiên trì không ngừng nghỉ của các cường nước có trách nhiệm toàn cầu.

Nhưng cũng phải ghi nhận đóng góp của nhiều vị lãnh đạo, các nhà hoạch định kinh tế, giới ngoại giao, doanh nghiệp, văn nghệ sỹ, giới vận động dân chủ, nhân quyền và người dân nói chung cho sự biến đổi dần nhận thức, thúc đẩy các xu hướng mới.

Việt Nam cũng nhanh chóng nối lại quan hệ thân thiện với toàn bộ các nước Đông Âu cũ và tỏ quyết tâm làm bạn, làm đối tác chiến lược với Đức, Anh, Pháp trong EU.

Xã hội Việt Nam cần xây dựng chung một tương lai dựa trên những điều tiến bộ chính mình đạt được.

Tuy thế, trong nhận thức mới này vẫn cần một đánh giá công minh về thành quả của Đông Âu và lòng dũng cảm để nói rằng lựa chọn của Việt Nam 25 năm qua còn nhiều thiếu hụt.

Ngày nay người Việt lại tiếp tục trở lại Đông Âu làm ăn

Bài học cho Việt Nam vì thế là bài học của các nước nhỏ vùng Đông Âu đã thành công trong cả cải cách chính trị và kinh tế, không chạy theo đại cường hạt nhân như Trung Quốc và Nga vốn luôn có tính toán của họ.

Vào những đêm sôi động đập tường Berlin 25 năm về trước, nhiều bạn tôi đã ‘chui nách’ các công dân Đức to cao để sang xem phía Tây có gì lạ.

Ngày nay, hàng triệu người Việt, từ quan chức đến người dân đã đi nước ngoài, đã biết rõ những điều hay dở của thế giới ngày nay.

Để bước hẳn sang miền văn minh, tiến bộ, cần dỡ bỏ nốt những bức tường lo sợ trong tư duy và nghiệm lại bài học của các nước Đông Âu một thời là đồng minh đồng chí.

Bài đã đăng trên trang Facebook của BBC Tiếng Việt và của tác giả.

Ông Phùng Quang Thanh dối trá Quốc hội?

Ông Phùng Quang Thanh dối trá Quốc hội?

Nguyễn Đình Ấm

http://thanhtra.com.vn/portals/0/news_images/2014/10/huonggiang/bo_truong_qp_phung_quang_thanh_tra_loi_pv_1.JPG

Trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội “Tại sao có sân golf trong sân bay?”, chiều 4/11/2014, ông đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh giải trình: “…Trước hết là sử dụng đất, thì đất ở đây là đất lưu không, đất ở loại khung sườn, tức là không dùng gì vào việc xây dựng hạ tầng ở bên dưới…”.

Tôi cũng như dư luận rộng rãi ở ngành hàng không Việt Nam (HKVN) hết sức kinh ngạc, bất bình về lời giải thích này của ông PQT. Ông Thanh nói, đất mà doanh nghiệp quân đội làm sân golf trong sân bay Tân Sơn Nhất (TSN) là đất “lưu không, đất khung sườn, tức không dùng gì vào việc xây dựng hạ tầng…” là hoàn toàn xuyên tạc. Bởi vì: Ở một sân bay, để máy bay hoạt động an toàn thì nó phải có khoảng tĩnh không rộng đủ cho việc hạ, cất cánh nên ở sân bay nào cũng phải có quỹ đất để trống rộng gấp nhiều lần những diện tích có công trình như đường băng, nhà ga, xưởng… Những khoảng đất trống ấy phải bằng phẳng, không có vật cứng (địa không), thoáng đãng (tĩnh không) để phòng khi máy bay gặp sự cố hạ cánh bắt buộc không trúng đường băng trượt ra đó mà vẫn an toàn. Ngoài tác dụng trên, những khoảng đất trống đó còn làm quỹ đất dự trữ để đáp ứng giai đoạn phát triển sau đó của sân bay. Vậy khu đất làm sân golf ở TSN có địa hình đồi núi, ao hồ nhân tạo, có nhà nghỉ, biệt thự, chung cư… có đáp ứng với khu địa không, tĩnh không, dự trữ phát triển cho sân bay hay không?

Ông PQT nói khu đất làm sân golf là “khung sườn” tức đất bên rìa, không vuông vắn, bề ngang hẹp… Vậy hãy xem một khu đất 157,6 ha mà “loại sườn” thì nó dài đến bao nhiêu, có thể làm được sân golf “khủng” như vậy? 157,6 ha đất khu vực “đất vàng” của TP HCM mà là “vô dụng” ư?

Từ những năm 2005, 2006 sân bay TSN đã quá tải chỗ đỗ, nhiều chuyến bay đến TSN giờ cao điểm không có chỗ đậu phải bay vòng chờ hoặc đỗ ở nơi xa, thuê chỗ đỗ bên quân sự sân bay TSN, ngành HKVN đề nghị dùng đất dự trữ bên quân sự để làm thêm sân đỗ. Cuối năm năm 2007 chính phủ cho phép TSN quy hoạch theo hướng tăng thêm 30 ha đất sang bên quân sự để làm thêm 30 vị trí đỗ máy bay nhưng “bên quân sự không thỏa thuận”. Từ đó TSN luôn thiếu chỗ đỗ, hãng HK quốc gia phải thuê bên quan sự để hoạt động (chưa rõ số tiền này ai hưởng?).

Vì vậy, việc ông PQT nói đất làm sân golf, biệt thự, chung cư, tổ hợp thương mại, giải trí… trong sân bay TSN như là khu đất “vô tích sự” là không đúng sự thật, lừa dối quốc hội.

Tại đây, ông PQT cũng khẳng định “Những cái này (sân golf, biệt thự, chung cư…) làm từ năm 2005, 2006 được các bộ, ngành liên quan như Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông, cục HKDD, Bộ KHĐT thẩm định đồng ý…”. Xin khẳng định: Việc làm sân golf 157,6 ha trong đất quốc phòng khi không theo luật đất đai, chưa được Quốc hội cho phép là sai pháp luật. Những người, cơ quan ông Thanh dẫn ra kia không có thẩm quyền để cho phép một doanh nghiệp lấy đất tĩnh không, địa không, đất dự trữ của một sân bay quốc tế, một sân bay quân sự, một khu đất chuyên dùng cho an ninh, quốc phòng làm các công trình kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, cản trở sự hoạt động và phát triển của TSN. Có dấu hiệu ông cũng bịa ra việc này: Tại kỳ họp Quốc hội tháng 11 năm 2011 khi đại biểu chất vấn Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng, ông Thăng không trả lời và khẳng định: “Đó là công trình của Bộ Quốc phòng, đại biểu chất vấn nhầm”. Còn Bộ trưởng KHĐT Bùi Quang Vình thì: “Khi đi kiểm tra thì cơ bản dự án đã làm xong” (GTVT onlines 20/11/20110)…

Cần khẳng định hai sân golf của doanh nghiệp dưới sự quản lý của ông PQT ở TSN và Gia Lâm là sai pháp luật. Có luật nào cho phép các ông lấy đất phục vụ an ninh quốc phòng làm cơ sở kinh doanh cho cá nhân để “không phải bồi thường” khi thu hồi để đẩy sân bay TSN đến chỗ chật hẹp, “quá tải”? Luật nào cho phép các ông lấy 75 ha đất quốc phòng ở sân bay Gia Lâm và 40 ha đất nông nghiệp màu mỡ, hai vụ lúa, một vụ màu (nguồn sinh sống quan trọng của dân phường Phúc Đồng, Gia Thụy…) làm sân golf, nhà hàng, khách sạn kinh doanh trong khi sân bay Gia Lâm đã được chính phủ phê duyệt quy hoạch trong hệ thống sân bay quốc gia?

clip_image002[5]

Xe của đại gia sân golf sân bay Gia Lâm qua cầu Vĩnh Tuy chở đất (quá tải) rải đầy đất cát ra cầu không hề bị phạt

Năm 2010, 2011 ngành HKDD đã bàn với Bộ Quốc phòng lập dự án sử dụng sân bay Gia Lâm rất ít máy bay quân sự hoạt động để chuyển các chuyến bay nội địa ngắn từ Nội Bài về Gia Lâm, tiết kiệm thời gian, nhiên liệu và giảm tải cho Nội Bài, nhưng cũng không thành. Nay tại sân bay Gia Lâm về đêm sân golf sáng rực đèn còn họat động bay thì vắng teo, cả tuần chỉ có vài chuyến bay quân sự…

Ban đêm sân bay Gia Lâm vắng teo nhưng sân golf sáng rực bởi hàng nghìn bóng đèn cao áp

Tại hội nghị Shang-ri 13 ở Singapore tháng 6/2014, khi Trung Quốc đang xâm phạm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam, ông PQT phát biểu ví hành vi xâm lược đó chỉ như chuyện xích mích trong gia đình, trái hẳn với sự phản kháng của cộng đồng quốc tế và với thủ tướng Nguyễn tấn Dũng; hôm cùng 9 tướng đi Trung Quốc về ông nói quần đảo Trường Sa của VN như là bãi đất vô chủ “Trung Quốc xây công trình, Philippines cũng xây, ta cũng xây”… thì có lẽ chuyện cấp dưới, người nhà hoặc người thân của ông xây công trình kinh doanh trong khu đất an ninh quốc phòng, đất dự trữ của sân bay và nói dối Quốc hội để đẩy hàng không dân dụng TSN đi chỗ khác cũng chỉ là chuyện nhỏ.

N.Đ.A.

Việt Nam tịch thu sách Đèn Cù

Việt Nam tịch thu sách Đèn Cù

Thiên An/Người Việt

SÀI GÒN, Việt Nam (NV)- Một thời gian sau ngày sách lẽ ra đã về nhà, một số khách hàng tại Việt Nam mua sách Đèn Cù qua trang mạng Amazon cuối cùng nhận được thư báo của Bưu Cục Ngoại Dịch nói rằng sách bị tạm giữ, cho 45 ngày để viết “giấy từ chối nhận hàng vi phạm,” trước khi bưu phẩm “được giải quyết theo thể lệ bưu chính quốc tế.”

Đèn Cù- tự truyện gây xôn xao dư luận của tác giả Trần Đĩnh. (Hình: Thiên An/Người Việt)

“Hôm nay (6 Tháng Mười Một) tôi nhận được thư báo của Bưu Cục Ngoại Dịch cho biết cuốn Đèn Cù mà tôi mua qua Amazon.com đã bị tịch thu vì ‘Vi phạm luật xuất bản 2012,’” một nữ tiến sĩ tên P.A. cho biết. Cô xin giấu tên để tránh phiền phức với chính quyền Việt Nam.

“Tôi chưa đọc luật xuất bản 2012 vì nghĩ nó chỉ liên quan đến những ai làm nghề xuất bản, chứ không liên quan đến độc giả. Nhưng tôi sẽ tìm đọc để biết mình vi phạm điều gì.” Cô P.A. nói. Số tiền mua sách cô đã bỏ ra là gần 800,000 đồng, cô không biết có lấy lại được hay không.

Thư báo Bưu Cục Ngoại Dịch tịch thu sách. (Hình: Nhân vật cung cấp)

Đèn Cù là tên gọi tắt cho tác phẩm “Đèn Cù- Số Phận Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản” của tác giả Trần Đĩnh.

Ông Trần Đĩnh vào đảng Cộng Sản từ năm 18 tuổi, sau đó làm báo đảng, từng giữ chức phó trưởng ban tuyên truyền văn nghệ báo Nhân Dân, và từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh và nhiều lãnh đạo cao cấp khác như Nguyễn Lương Bằng và Phạm Hùng… Ông bị khai trừ đảng năm 1976.

Đèn Cù được viết theo dạng tự truyện, với nhiều tình tiết được cho là “thâm cung bí sử” của các nhân vật cao cấp nhất của đảng Cộng Sản Việt Nam từ những năm 1945.

Sách được Nhà Xuất Bản Người Việt ở Nam California chính thức phát hành ngày 20 Tháng Tám. Từ đó đến nay, sách gây nhiều chú ý của dư luận trong và ngoài Việt Nam.

Đơn mẫu để “từ chối nhận hàng vi phạm”. (Hình: Nhân vật cung cấp)

Cũng trong ngày 6 Tháng Mười Một, một khách hàng khác có tên T.S. Cũng nhận được thư báo tương tự của Bưu Cục Ngoại Dịch.

Thư báo ba trang gồm ba phần: một trang Bưu Cục Ngoại Dịch cho biết “nội dung hàng hóa” là sách Đèn Cù 597 trang – “có nội dung nói xấu chế độ, xúc phạm lãnh tụ Việt Nam, không được nhập khẩu;” một trang đơn mẫu để “từ chối nhận hàng vi phạm”- khi gửi “nhớ kèm giấy chứng minh nhân dân photo hoặc passport photo;” và một trang về quyết định của Phòng Xuất Bản, In và Phát Hành của Sở Thông Tin và Truyền Thông – “đề nghị không cho nhận sách.”

Theo Bưu Cục Ngoại Dịch, việc mua sách Đèn Cù vi phạm Luật Xuất Bản 2012, nhưng không nêu rõ là vi phạm khoản mấy, điều nào, trong 54 điều về xuất bản, in ấn, và phát hành của luật này.

Một phần của thư báo tịch thu sách. (Hình: Nhân vật cung cấp)

“Cuốn ấy trên mạng có đầy ra rồi. Mình đọc chùa nên thấy cần phải mua để ủng hộ tác giả và nhà xuất bản,” cô P.A cho biết.

“Tôi mua sách qua mạng nhiều lần rồi, nhưng là sách chuyên môn. Sách gửi về tận nhà nhanh chóng. Vì lâu nay hình như sách vở được mua qua Amazon thường xuyên nên tôi nghĩ họ có thể không kiểm duyệt xuể. Tuy có nghĩ có thể bị tịch thu, nhưng cũng có thể thoát.”

“Nếu nhận được thì tốt, mà không nhận được thì tặng cho mấy an ninh văn hóa họ đọc để mở mang đầu óc vậy,” cô P.A nói.

Về thời gian 45 ngày Bưu Cục Ngoại Dịch cho để “phản hồi,” cô P.A và anh T.S. nói “sẽ để mặc họ xử lý,” “không muốn khiêu khích chế độ.”

“Khi mình đặt mua cũng biết trước là sẽ bị thu sách nhưng cũng thử may rủi,” anh T.S. nói với nhật báo Người Việt, và cho biết không lấy làm phiền lòng về trục trặc này.

Khác với cô P.A, anh T.S. cho biết đây là lần đầu tiên mua sách qua mạng Amazon, anh đã không đọc những bản sao của sách bị tung lên mạng, nhưng “đã có người bạn từ Mỹ về tặng cho cuốn sách rồi.”

Về việc Bưu Cục Ngoại Dịch sẽ giải quyết “theo thể lệ bưu chính quốc tế” số sách Đèn Cù mà người trong nước đặt mua qua Amazon,  nhật báo Người Việt gọi đến bưu cục và công ty Amazon, nhưng hiện chỉ mới liên lạc được với phía Amazon.

“Vì bất kỳ một lý do nào đó mà khách hàng không nhận được sách trong khoảng một tháng sau ngày của dự tính, hãy liên lạc với chúng tôi, Amazon sẽ hoàn trả toàn bộ số tiền mua sách theo luật công ty,”  ông Edwin R., một nhân viên phục vụ khách hàng, cho biết.

Sau cuốn Đèn Cù 1, Đèn Cù 2 sắp được xuất bản trong những ngày tới. Anh T.S. bày tỏ “mua cuốn một đã không lọt, cuốn hai làm sao lọt được, muốn đọc thì tự tìm cách khác,” trong khi chị P.A. ngao ngán: “Người trong nước phải chấp nhận lên mạng đọc chùa thôi.”

–Liên lạc tác giả: vu.an@nguoi-viet.com