Vụ án Công Án Bia Sơn: Bị kết án oan, không dám kêu oan

Vụ án Công Án Bia Sơn: Bị kết án oan, không dám kêu oan

Nguoi-viet.com

PHÚ YÊN (NV)Bị vu cho tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền,” dù chỉ hoạt động tôn giáo, 25 người của nhóm “Hội Đồng Công Luận Công Án Bia Sơn” ở Phú Yên đành chịu đựng “pháp nạn.”

Ông Phan Văn Thu, người bị cáo buộc người cầm đầu tổ chức “âm mưu nhằm lật đổ chính quyền” bị án tù chung thân. (Hình: Người Lao Động)

“Đã gần 3 năm trôi qua kể từ ngày những người trong khu du lịch sinh thái Đá Bia bị bắt bỏ tù với tội danh âm mưu lật đổ chính quyền theo Điều 79 Bộ Luật Hình Sự, chúng tôi vẫn cứ im lặng như thế, không hề có bất cứ hành động nào để minh oan cho mình.”

Bà Võ Thị Thanh Thúy, vợ ông Phan Văn Thu tức Trần Nhơn người bị cáo buộc cầm đầu tổ chức tôn giáo “Hội Đồng Công Luận Công Án Bia Sơn” theo tinh thần Phật Giáo, nói với báo Người Việt như thế trong cuộc phỏng vấn mới đây.

Ông Phan Văn Thu (nay 66 tuổi) và 21 đồng đạo bị kết án ngày 4 tháng 2, 2013 rồi sau đó kết án tù giam thêm 3 người nữa với những bản án vô cùng nặng nề. Cá nhân ông Phan Văn Thu bị cáo buộc là cầm đầu nên bị bản án tù chung thân trong khi những người khác bị án tù từ 10 năm đến 17 năm tù.

Họ bị bắt phần lớn vào ngày 5 tháng 2, 2012 khi một lực lượng đông đảo công an gồm cả lực lượng chống khủng bố tấn công khu du lịch sinh thái Hoàng Long dưới chân núi Đá Bia thuộc thôn Hảo Sơn, xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên, nằm dưới chân Đèo Cả.

Báo chí nhà nước loan tin này nói rằng “tổ chức phản động ‘Hội Đồng Công Luận Công Án Bia Sơn’ có tiền thân là tổ chức ‘Ân đàn đại đạo’ (thành lập năm 1975) do Phan Văn Thu, quê ở xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên cầm đầu”… “tổ chức các hoạt động chống phá Nhà nước,” theo tin tờ Dân Trí ngày 7 tháng 2, 2012 thuật lời ông thiếu tướng Công an Phạm Văn Hóa, giám đốc Công an tỉnh này.

Trong cuộc lục soát, ông tướng Hóa kể công rằng, “Lực lượng công an đã thu giữ hàng trăm tập tài liệu thể hiện nội dung cương lĩnh hoạt động của tổ chức này, 19 kíp nổ, 10 bộ đàm, 1 ống nhòm, 2 máy tính xách tay, 1 máy ảnh, 1 máy quay phim, trên $12,000 và gần 190 triệu đồng.”

Khi đưa 22 người ra tòa đợt đầu ngày 28 tháng 1, 2013 rồi ra bản án 5 ngày sau đó, ngoài chuyện vu cho họ tội “hoạt động lật đổ chính quyền,” họ còn bị vu cho là vu khống, nói xấu chế độ hiện tại, ca ngợi chủ thuyết công bản để tuyên truyền mê hoặc một bộ phận quần chúng nhân dân (…) làm phai nhạt niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của đảng và nhà nước…

* Bị ép cung?

Trong các phiên xử, họ đã phủ nhận các cáo buộc của nhà cầm quyền và tố cáo đã bị ép cung. Bản cáo trạng bịa đặt những sự việc hay tang chứng không có. Nhà cầm quyền đưa một số luật sư của nhà nước tới chỉ có nhiệm vụ xin tòa “khoan hồng” cho họ.

Về chứng cứ “kíp nổ, bộ đàm, máy quay phim, máy chụp hình, máy điện toán” được nhà cầm quyền dùng để làm tang chứng “hoạt dộng lật đổ,” bà Võ Thị Thanh Thúy nói với báo Người Việt rằng, “Đúng là chúng tôi có những thứ đó nhưng đó không phải là tang vật hay những vật dụng phục vụ cho một vụ âm mưu lật đổ chính quyền như công an đã kết luận và báo chí đã đăng tin. Hàng trăm tập tài liệu đó là kinh điển mà ông Phan Văn Thu đã thuyết giảng và sau này đệ tử đã kết tập thành ‘Cửu Kinh Minh Triết’ (hiện nay, toàn bộ tài liệu này đã được đệ tử của ông Thu đăng tải lên mạng để mọi người có thể tham khảo). Đó là kinh điển, là giáo lý của một tổ chức tôn giáo chứ không phải là cương lĩnh hoạt động của tổ chức âm mưu lật đổ chính quyền.”

Bà giải thích, “19 kíp nổ, đó là kíp nổ chúng tôi dùng để phá đá xây dựng các công trình. Như mọi người đã biết, khu du lịch sinh thái được xây dựng nơi địa thế là rừng núi. Vậy, muốn núi thành phố, thành khu du lịch thì chúng tôi phải san lấp, phá đá tạo mặt bằng để xây dựng. Hơn nữa, để xây dựng phải dùng đến đá. Nếu chúng tôi không dùng kíp nổ thì liệu sức người có phá nổi mấy tảng đá to nặng thế không?”

“Máy ảnh, máy quay phim đều phục vụ cho khách du lịch vì chúng tôi làm sinh thái. Máy tính xách tay dùng để ghi chép kinh điển. Thời đại công nghệ khoa học phát triển, việc ai đó có máy tính xách tay, có máy ảnh hay máy quay phim là chuyện hết sức bình thường, hồ huống chi chúng tôi là một công ty du lịch sinh thái thì việc có những thứ này không có gì là bất thường cả. Vậy nên, tòa án đưa những tang chứng này để luận tội chúng tôi đó là một việc làm hết sức vô lý. Một khu sinh thái rộng hơn 48ha thì việc sử dụng bộ đàm và ống nhòm là việc rất bình thường, không thể kết luận đó là tang chứng lật đổ chính quyền được.”

Bà Võ Thị Thanh Thúy giải thích thêm, “ Nội dung tài liệu mà tòa án Phú Yên kết luận là ‘cương lĩnh hoạt động’ đó đơn thuần chỉ là giáo lý của đạo Ân Đàn Đại đạo. Đó là 55 điều trợ luật, là 37 phẩm trợ đạo, là những đại giới và tiểu giới… mà các phật tử phải làm theo.”

* Tất cả đều là ngụy tạo

Bà Thúy và những thân nhân của những người bị bắt đều không kháng án vì họ cho rằng đây là “pháp nạn.” Hơn nữa, họ trực tiếp dự tòa và biết rằng đây là một “vụ án được vạch định sẵn. Tất cả những tang chứng, vật chứng đều là ngụy tạo.”

Một góc Khu du lịch sinh thái Đá Bia, bị cáo buộc là “sào huyệt chính của tổ chức phản động.” (Hình: CAND)

Bà Võ Thị Thanh Thúy kể lại theo trả lời của ông Phan Văn Thu trước tòa thì ông đã bị ép cung và một số người khác cũng vậy. “Cụ thể là tất cả những người này đều phủ nhận việc họ có quốc kỳ, quốc ca, quốc huy, quốc ấn nhưng tòa vẫn giữ nguyên kết luận này trong bản kết luận điều tra. Hơn nữa, sau khi tòa xử xong, chính quyền thường xuyên sách nhiễu đời sống những người có liên quan đến vụ án này, làm họ mất tinh thần và không dám nghĩ đến việc kháng án nữa.”

Không những vậy, theo lời kể của bà Võ Thị Thanh Thúy, về đời sống của những thân nhân, đa phần họ là nông dân nghèo tay lấm chân bùn. Họ chắt chiu, lam lũ nuôi con để chồng đi làm đạo pháp. Giờ thì chồng con bị tù tội, vướng vào vòng lao lý, họ rất đau khổ. Đời sống kinh tế vất vả là vậy, lâu lâu họ còn bị chính quyền sách nhiễu, dọa nạt. Những khi có biến động gì đó liên quan đến vụ án, ví dụ như ai đó được phỏng vấn nói về vụ án Bia Sơn, hay một vài biến động liên quan đến chính trị chung cả nước, họ lại tìm đến nhà những người thân nhân này để “hỏi thăm sức khỏe.” Những người thân nhân này vẫn cúi đầu chấp nhận tất cả những bất công đó vì đơn giản một điều, họ là người tu hành, họ không hề muốn gây chiến với ai, và luôn luôn nhận những thua thiệt về mình.

Trong số những người của nhóm tôn giáo “Hội Đồng Công Luận Công Án Bia Sơn” bị bắt có hai Việt kiều Mỹ là đệ tử của ông Phan Văn Thu. Hai ông này chỉ bị phạt hành chính , được thả cho về Mỹ và không hề bị kết án trong khi những người khác thì bị áp đặt những bản án hình sự nặng nề bất thường.

Bản cáo trạng nói, “Hội Đồng Công Luật Công Án Bia Sơn thành lập được 12 ban, 26 pháp hội và bốn nhóm chưa có tên pháp hội. Những pháp hội này ở tại các tỉnh thành từ Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc, Sài Gòn, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang.”

Bản án của nhóm “Công Án Bia Sơn” nặng nhất so với những nhóm tôn giáo tín ngưỡng không được nhà cầm quyền CSVN công nhận. Liệu đây có phải là một mưu mô của kẻ cầm quyền muốn cướp không một khu du lịch sinh thái đẹp đẽ để băm xẻ chia nhau? (TN)

Uất ức chính quyền, một người tự thiêu trước trụ sở công an

Uất ức chính quyền, một người tự thiêu trước trụ sở công an

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) Một người đàn ông đi xe máy tới phía trước cổng trụ sở công an quận 5, Sài Gòn dừng xe, tưới xăng lên người rồi châm lửa tự thiêu.

Theo Thanh Niên, khoảng 1 giờ ngày 12 tháng 11, ông Nguyễn Hải Triều (34 tuổi), ngụ đường Trịnh Hoài Ðức, phường 13, quận 5, là hội viên của một hội nhiếp ảnh tại Sài Gòn, đi xe máy mang theo xăng tới trước cổng trụ sở công an quận 5 trên đường Trần Hưng Ðạo, rồi châm lửa tự thiêu và chết tại chỗ.



Ông Triều là một người chồng rất tốt, thương vợ, thương con. (Hình: Pháp Luật Ðời Sống)

Ngay khi xảy ra vụ việc, công an quận 5 đã phong tỏa hiện trường, thu giữ chai nhựa 1.5 lít dùng đựng xăng, một xe máy, điện thoại và giấy tờ tùy thân của ông Triều.

Tìm đến nhà tang lễ An Bình, nơi gia đình ông Triều đang thực hiện lễ tang chế. Không khí u buồn bao trùm cả khán phòng, những giọt nước mắt đau buồn không thể ngừng rơi trên má của người vợ và các người thân trong gia đình.

Theo vợ ông Triều cho biết, ông là một người chồng rất tốt, thương vợ, thương con. Hiện tại, ông đang sống cùng vợ và hai cô con gái nhỏ.

Khi nhận được thông tin ông Triều ra đi, chị như không thể tin vào tai của mình và lặng người khi nhìn thấy thi thể của anh. “Giờ chỉ còn một mình, không biết phải làm sao?” Vợ anh Triều nghẹn ngào nói.

Mẹ của anh Triều, người phụ nữ đã ngoài 60, giọng nói miền Trung đầy xót xa khi nói về con trai của mình. Bà cho rằng, ông Triều quá dại dột khi hành động như vậy, chuyện gì cũng có thể giải quyết…

Qua tìm hiểu được biết, gia đình ông Triều vừa bị Viện Kiểm Sát quận 5, Sài Gòn “bẻ cong sự thật” trong một vụ án liên quan đến việc tranh chấp tài sản.

Trả lời báo chí, ông Nguyễn Kim Tiếng, viện trưởng Viện Kiểm Sát quận 5, nói mọi việc đang được cơ quan điều tra và kiểm sát viên làm rõ, ông Tiếng không bình luận gì thêm.

Trước đó, vào khoảng 2 giờ ngày 28 tháng 10, trong lúc đi tuần tra trong công viên Tao Ðàn, đường Cách Mạng Tháng Tám, quận 1, Sài Gòn, hai nhân viên bảo vệ của công viên phát hiện đám lửa bùng phát ở cổng số 16 nên vội tới xem Tại đây, phát hiện một người đang bốc cháy.

Qua xác minh, công an xác định người đàn ông tự thiêu là Nguyễn Văn Út (60 tuổi), sống lang thang tại quận Phú Nhuận. Và “do có nhiều chuyện buồn trong cuộc sống nên ông Út đã tự thiêu.” (Tr.N)

Sài Gòn nở rộ cà phê ‘phim giường’ cho 2 người

Sài Gòn nở rộ cà phê ‘phim giường’ cho 2 người

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) – Kín đáo, có không gian riêng, thoải mái “tâm sự” chẳng sợ ai làm phiền, giá cả lại bình dân nên những rạp chiếu phim hai người theo yêu cầu ngày càng hút khách, đặc biệt là giới trẻ.

Loại hình cafe phim… giường đang được giới trẻ ưa chuộng. (Hình: Tuổi Trẻ & Đời Sống)

Mỗi phòng chiếu 20m2, được trang trí đơn giản với bàn và ghế bệt, giường nằm khách không chỉ được xem phim mà còn được làm&’diễn viên’ nên những quán café phim…giường đang được nhiều giới ở Sài Gòn thích thú.

Một vòng quanh những con đường như Phan Văn Trị, Nguyễn Trãi ở quận 5; Sư Vạn Hạnh, CMT8, 3 Tháng 2, quận 10; Tạ Quang Bửu, quận 8; Độc Lập, Phổ Quang, quận Tân Bình,…mọc lên nhiều bảng hiệu quán cà phê chiếu phim HD tự chọn dành cho 2 người.

Phòng xem phim được thiết kế không khác gì một phòng khách sạn, treo đầy bong bóng màu hồng và có chiếc giường màu đỏ khá đẹp đủ để 2 người nằm.

Một bạn trẻ thản nhiên chỉ dẫn: “Lần đầu mà rủ bạn gái đi khách sạn thì không ai nhận lời, nhưng rủ đi xem phim thì kiểu gì cũng đồng ý ngay. Đến quán café phim giường này thì khác nào khách sạn. Phòng kín mít, đèn có nhưng hầu như không ai buồn bật. Khi đóng cửa phòng lại thì mình muốn làm gì chẳng được…”

Quán café chiếu phim K. ở đường Nguyễn Trãi, quận 5; quán HDTibo gần cầu Nguyễn Văn Cừ, quận 5, hay quán HD May 2 ở đường Sư Vạn Hạnh, quận 10… hoạt động khá nhộn nhịp. Mức giá 60,000/giờ dành cho 2 người từ thứ 2 đến thứ 6; thứ 7 và Chủ Nhật là 80,000/giờ.

Nhiều quán còn có ưu đãi giảm giá 20% cho khách đến xem lần 2, và từ lần thứ 5 trở lên được tặng thẻ VIP, giảm 10% cho tổng hóa đơn cho các lần xem kế tiếp.

Hầu như các “rạp” phim kiểu này đều phục vụ cả ngày, nhưng thường nhộn nhịp về đêm. Một số quán chỉ phục vụ từ tối tới khuya. Nhân viên chỉ dẫn khách lên phòng, đem nước rồi đi xuống, khách cứ thoải mái tâm sự rồi tự xuống, thanh toán tiền phòng.

Vừa kín đáo, có không gian riêng, chẳng sợ ai làm phiền, giá cả lại bình dân, nên những rạp chiếu phim 2 người theo yêu cầu ngày càng thu hút khách. Dưới ánh sáng mờ mờ ảo ảo từ màn hình, các cặp đôi sẽ thoải mái “tâm sự” mà không sợ ai làm phiền.

Vì vậy, đây còn là một bãi đáp lý tưởng cho khách mại dâm hành nghề vì giá phòng rẻ. Đám sinh viên học sinh có thể chọn nơi đây để qua mắt phụ huynh và “học” làm chuyện người lớn. Không loại trừ cả chuyện hút chích. (Tr.N)

Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại Việt Nam không chỉ là một màn kịch chính trị

Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại Việt Nam không chỉ là một màn kịch chính trị

Martin Petty

Vũ Thị Phương Anh (dịch)

clip_image002

(Reuters) – Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm của quốc hội đối với các lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam dường như là một việc làm vô nghĩa, vì các đại biểu tham gia bỏ phiếu hầu hết đều là đảng viên Cộng sản, và trong các lựa chọn để bỏ phiếu không có lựa chọn nào là “không tín nhiệm”.

Mặc dù sẽ chẳng có ai bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cuộc bỏ phiếu hôm thứ Bảy nhằm đánh giá hoạt động của của khoảng 50 quan chức hàng đầu cũng bắt đầu cho thấy trách nhiệm giải trình, đồng thời hé lộ chút thông tin hiếm hoi về những động thái bên trong của một đảng đang tự tìm lại chính mình sau gần bốn thập niên kiểm soát chặt chẽ.

Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng, và người ta đang đồn rằng có sự chia rẽ nội bộ trong quan điểm phải làm gì trong tình hình hiện nay để vẫn giữ nguyên thể chế. Theo các nhà phân tích, sự chia rẽ này tồn tại giữa một bên là phe giáo điều bảo thủ và bên kia là những cán bộ nghiêng về tư bản và tự do hơn, trong nội bộ của một đảng vốn có truyền thống đồng thuận.

“Cuộc bỏ phiếu này tạo ra một sự cởi mở nhằm giảm bớt căng thẳng, nhưng rốt cuộc nó chỉ làm cho ta thấy có sự đấu đá nội bộ giữa các phe phái khác nhau”, nhà phân tích chính trị nổi tiếng Nguyễn Quang A nhận định.

Dân chúng lâu nay đã âm ỉ bất bình về nạn tham nhũng, chiếm đoạt đất đai và một nền kinh tế nhà nước là chủ đạo nhưng kém hiệu quả. Những vấn đề này đã trở thành cố hữu trong nền kinh tế của Việt Nam sau một thời kỳ tăng trưởng bùng nổ, và giờ đây đang mưng mủ như muốn vỡ ra trên diện rộng, đòi hỏi phải có các biện pháp cấp thiết nhằm khắc phục chúng.

Các chuyên gia cho rằng không có thách thức nào đối với quyền lực của đảng Cộng sản trong tương lai gần. Quỹ đạo của nền kinh tế có quy mô 178 tỷ đô la này, cùng khả năng nó hiện thực hóa được tiềm năng trở thành một ngôi sao thị trường mới nổi, hoàn toàn phụ thuộc vào phe nào sẽ nắm thế thượng phong.

Cuộc bỏ phiếu diễn ra chỉ hơn một năm trước một đại hội được tổ chức năm năm một lần, khi đảng Cộng sản lựa chọn người sẽ lãnh đạo bộ máy trong giai đoạn Việt Nam đang theo đuổi việc tham gia sâu hơn với thế giới phương Tây thông qua một loạt các hiệp định thương mại có tiềm năng làm thay đổi luật chơi, và đòi hỏi những nhượng bộ có thể sẽ không làm hài lòng các nhóm lợi ích khác nhau.

“Tôi không nghĩ có bất kỳ sự bất đồng nào trong việc theo đuổi các thỏa thuận thương mại lớn”, ông Nguyễn Quang A nói. “Sự bất đồng chủ yếu liên quan đến việc các thỏa thuận này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lợi ích của các cá nhân và các nhóm đang nắm quyền mà thôi”.

Sự chia rẽ trong Quốc hội

Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm lần đầu tiên diễn ra vào năm trước có thể đã phản tác dụng, vì kết quả của cuộc bỏ phiếu này càng củng cố những đồn đoán về sự cạnh tranh ngấm ngầm giữa Chủ tịch nước và Thủ tướng.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ giành được sự ủng hộ của 42% tổng số các đại biểu quốc hội và bị gần 1/3 tổng số đại biểu chọn mức “tín nhiệm thấp”. Kết quả này trái ngược với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, người giành được 330 phiếu tín nhiệm cao trên tổng số 498 đại biểu và chỉ nhận có 28 phiếu tín nhiệm thấp.

Các nhà phân tích tin rằng ông Dũng sẽ tìm cách đưa ra một người kế nhiệm trước khi nghỉ hưu trước đại hội năm 2016, và có lẽ tăng cường ảnh hưởng của mình trong năm nay bằng việc thúc đẩy cải cách ngành ngân hàng đang gặp khó khăn vì nợ xấu, đồng thời tư nhân hóa một phần hàng trăm doanh nghiệp nhà nước đang thua lỗ trầm trọng.

“Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm năm nay diễn ra trong bối cảnh đang có tranh cãi nặng nề trong giới lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam trước Đại hội Đảng sắp đến … như vậy, kết quả sẽ làm sáng tỏ ít nhiều về tình hình hiện nay của nền chính trị phe phái này”, Phương Nguyễn, một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế Washington cho biết.

“Người ta tin rằng Thủ tướng đã hồi phục từ cú đánh của năm ngoái, nếu không phải là đã củng cố được quyền lực của mình. Chúng tôi sẽ chờ xem kết quả bỏ phiếu tín nhiệm có phản ánh điều đó hay không”.

Ông Dũng vừa gặp Tổng thống Mỹ Barack Obama hôm thứ Năm, và có thể đã đạt được một số đòn bẩy quan trọng trong kế hoạch theo đuổi một mối quan hệ mạnh mẽ hơn với Mỹ và thách thức Trung Quốc trong cuộc tranh chấp về chủ quyền hàng hải gần đây.

Bế tắc với Trung Quốc có vẻ đã làm sâu sắc thêm cuộc tranh luận trong nội bộ đảng về sự phụ thuộc vào nước láng giềng Trung Quốc. Điều này đã bộc lộ ra trong tháng Sáu vừa qua, khi 61 đảng viên và cựu đảng viên đã gửi một bức thư ngỏ đến Trung ương đảng Cộng sản và cho rằng sự thất bại trong việc thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc sẽ là “một tội ác đối với đất nước “.

(Editing by Robert Birsel)

Nguồn:http://www.ijavn.org/2014/11/cuoc-bo-phieu-tin-nhiem-tai-viet-nam.html

Lực lượng nào sẽ làm thay đổi Việt Nam?

Lực lượng nào sẽ làm thay đổi Việt Nam?

Biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội, ngày 13/5/2014.

Biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội, ngày 13/5/2014.

Nguyễn Hưng Quốc

14.11.2014

Rất nhiều người có chung một nỗi băn khoăn: Bao giờ thì Việt Nam được dân chủ hoá? Để trả lời câu hỏi ấy, hầu như ai cũng biết một cuộc cách mạng dân chủ ở Việt Nam chỉ có thể xảy ra với một trong hai tình huống: Một, từ trên xuống; và hai, từ dưới lên.

Dân chủ hoá từ trên xuống là một cuộc cách mạng lý tưởng nhất bởi nó nhanh nhất và ít bị trả giá nhất: Đó là các cuộc cách mạng đã diễn ra tại Liên Xô và Đông Âu vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, khi giới lãnh đạo ý thức là không thể kéo dài nguyên trạng và chấp nhận thay đổi chế độ ngay cả khi biết với sự thay đổi ấy họ sẽ mất tất cả quyền lực.

Theo tôi, một cuộc cách mạng loại này rất khó xảy ra ở Việt Nam. Có hai lý do chính.

Thứ nhất, ở Việt Nam không có, và sẽ không có một nhà lãnh đạo nào, dù sáng suốt đến đâu, có quyền lực để tự mình quyết định những sự thay đổi lớn lao liên quan đến số phận của cả chế độ. Kết cấu quyền lực ở Việt Nam khác hẳn ở các quốc gia cộng sản khác trước đây cũng như hiện nay: Ở các nước ấy, chủ tịch đảng cũng đồng thời là chủ tịch nước. Khi nắm trong tay cả hai chức vụ ấy, người ta dễ dàng trở thành kẻ quyết định cuối cùng. Ở Việt Nam, ngược lại, người lãnh đạo đảng và người lãnh đạo nhà nước và chính phủ khác nhau, do đó, không ai thực sự có quyền quyết định những vấn đề lớn cả. Tất cả đều phải thông qua ý kiến tập thể, ít nhất của Bộ Chính trị. Để cả tập thể ấy thống nhất với nhau về việc thay đổi chế độ để dân chủ hoá là một không tưởng.

Thứ hai, chắc chắn Trung Quốc sẽ không thể chấp nhận Việt Nam được dân chủ hoá trước. Khi thấy Việt Nam có dấu hiệu rục rịch từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, chắc chắn Trung Quốc sẽ can thiệp ngay. Trong tình hình hiện nay, khi Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung Quốc trong rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế đến chính trị, những sự can thiệp ấy rất dễ thực hiện.

Bởi vậy, triển vọng lớn nhất của xu hướng dân chủ hoá ở Việt Nam là từ dưới lên. Tuy nhiên, ở đây lại có một vấn đề lớn: Lực lượng nào sẽ đảm nhiệm công việc thay đổi theo chiều hướng dân chủ ấy? Để trả lời câu hỏi ấy, các nhà bình luận chính trị và xã hội có thói quen nhìn vấn đề từ góc độ kinh tế – xã hội với những thành phần giai cấp khác nhau.

Trước hết, đông đảo nhất ở Việt Nam là các nông dân. Trong nhiều năm qua, những kẻ bị áp bức và bóc lột nhiều nhất ở Việt Nam cũng là các nông dân. Những cuộc biểu tình đông đảo và gây chú ý trong dư luận nhất cũng gắn liền với nông dân. Lý do dễ hiểu: một trong những yếu tố quan trọng nhất bị giới lãnh đạo Việt Nam khai thác để làm giàu và phân phối lợi nhuận để mua chuộc sự trung thành của các đảng viên chính là đất đai. Việc cướp đất ấy dẫn đến sự bất mãn của nông dân ở nhiều địa phương khác nhau. Lâu nay, rải rác đây đó, có các cuộc biểu tình của nông dân nhằm chống lại lệnh cưỡng chế của chính quyền.

Nhưng những sự bất mãn và các cuộc biểu tình ấy có thể dẫn đến việc làm thay đổi chế độ hay không? Câu trả lời hầu như chắc chắn: Không. Lý do đầu tiên là hầu hết nông dân thường chỉ nghĩ đến những cái lợi cụ thể trước mắt: khi chính quyền cướp đất của mình thì mình vùng lên tranh đấu, nhưng khi chính quyền cướp đất của người khác thì người ta dễ khoanh tay đứng ngó, hoặc, khi tình hình căng thẳng quá, chính quyền chỉ cần nhân nhượng một tí, họ cũng dễ dàng thoả mãn và từ bỏ mọi toan tính chống đối. Lý do thứ hai là tuy nông dân chiếm một phần lớn dân số nhưng họ bị cô lập về phương diện địa lý: làng này xuống đường tranh đấu, làng khách chưa chắc đã biết. Từ việc cô lập về địa lý dẫn đến sự cô lập về truyền thông và hậu quả là không có nhiều người biết. Điều này dẫn đến hai hậu quả khác: Một, ít người ủng hộ; và hai, khó phát triển thành những cuộc xuống đường rầm rộ để có thể uy hiếp được chính quyền.

Còn lực lượng công nhân? Ở Việt Nam, giai cấp công nhân càng ngày càng lớn và đời sống kinh tế của họ cũng gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, sự bất mãn của họ, nếu có, thường nhắm vào chủ nhân của xí nghiệp hơn là vào chính quyền. Chủ nhân của các công ty lớn lại thường gắn liền với người ngoại quốc, do đó, thù hận của họ cũng hướng ra bên ngoài. Đó là lý do tại sao cho đến nay, hầu hết các cuộc đình công hay biểu tình thường diễn ra trong các xí nghiệp và công ty do người ngoại quốc làm chủ.

Giới thanh niên và trí thức Việt Nam hiện nay có thể được xem là thành phần “tiến bộ” nhất: Nhiều người trong họ thấy được những sự bất lực và bế tắc của nhà cầm quyền cũng như có khát vọng được tự do. Tuy nhiên, “nhiều” không có nghĩa là đa số. Khác với ở Ai Cập và các quốc gia Trung Đông trong cách mạng mùa xuân đầu năm 2011, nơi tỉ lệ thanh niên, dù đã tốt nghiệp đại học, thất nghiệp rất cao, ở Việt Nam, về phương diện kinh tế, thanh niên không đến nổi quá khó khăn, do đó, rất khó hy vọng họ sẽ kết tập lại thành một trận chung để đấu tranh cho dân chủ.

Một thành phần khác có khả năng đương đầu với chính quyền là các tôn giáo. Ở tôn giáo nào cũng có những người phản kháng, nổi bật nhất là Cao Đài, Hoà Hảo, Phật giáo và Công giáo. Hai tôn giáo đầu chỉ giới hạn ở các tỉnh phía Nam; Phật giáo thì bị quá phân tán; chỉ có Công giáo là tương đối thống nhất, và do đó, khá mạnh, nhưng dù mạnh đến mấy thì, một mặt, Công giáo cũng chỉ chiếm khoảng 10 phần trăm dân số; mặt khác, do chỉ là một thiểu số, họ khó trở thành những nhà lãnh đạo cho phong trào dân chủ trong cả nước.

Nói tóm lại, từ góc độ kinh tế và xã hội, sẽ không có lực lượng nào đủ sức để chống lại chính quyền, thậm chí, gây sức ép để chính quyền phải thay đổi chế độ.

Một vấn đề có thể được đặt ra: Tại sao tất cả các thành phần trên không thể kết hợp lại với nhau để thành một lực lượng duy nhất và mạnh mẽ? Dĩ nhiên, điều đó có thể xảy ra, và trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, đó là niềm hy vọng duy nhất để có dân chủ. Có điều: khi nào, và với điều kiện nào, tất cả các thành phần trên có thể đứng lại được với nhau? Câu trả lời: Tinh thần dân tộc hay chủ nghĩa quốc gia (nationalism). Người Việt Nam, bất kể thành phần kinh tế, xã hội và tôn giáo, sẽ đoàn kết lại khi đất nước bị uy hiếp và khi chính quyền bất lực, thậm chí, đầu hàng trước những sự uy hiếp ấy. Tất cả những sự uy hiếp ấy chỉ đến từ một nguồn: Trung Quốc.

Nói cách khác, theo tôi, lực lượng đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam chỉ đoàn kết và trở thành mạnh mẽ khi Trung Quốc gia tăng mức độ lấn chiếm biển đảo và khi chính quyền Việt Nam càng lộ rõ bản chất nhu nhược của họ trong thế trận đối đầu với tham vọng bành trướng ấy.

Dạy môn “Hầu đồng” – Thời văn hóa ma quỷ chính thức lên ngôi!

Dạy môn “Hầu đồng” – Thời văn hóa ma quỷ chính thức lên ngôi!

Thiên Điểu/ VNTB

Sau gần 80 năm ra đời, hơn 70 năm cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã mang hệ ý thức theo chủ nghĩa duy vật biện chứng – còn gọi là chủ nghĩa vô thần – du nhập vào Việt Nam. Mặc dù vẫn luôn kiên định đi theo quan điểm xây dựng CNXH, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lê, nhưng việc quản lý, xây dựng văn hóa tâm linh ngày càng hỗn loạn, xói mòn và hủy hoại các giá trị văn hóa thuần túy dân tộc.
Về mặt khoa học, nền giáo dục Việt Nam từ cái nôi là nền văn minh lúa nước thời phong kiến, ngụp lặn trong giáo trình và phương pháp xưa cũ, hết kiểu Liên Xô rồi tới Trung Quốc. Các kiến thức căn bản đều luôn tụt hậu hàng 40-50 năm so với giáo trình tiên tiến trên thế giới.

Những bất cập trong định hướng và tư duy giáo dục chạy đua bằng cấp theo kiểu học ăn cắp, học cho có cái bằng, học lấy danh… ngày càng đẻ ra những “trí thức” chỉ có cái bằng thật to mà không có một chút kiến thức thực thụ, khiến cho mặt bằng dân trí, văn hóa xã hội có không ít những câu chuyện dở khóc, dở cười mà không có bất cứ từ ngữ nào diễn tả đúng nghĩa được.

Ngay trong giới lãnh đạo cao cấp nhất của chế độ, những phát ngôn hớ hênh không dừng lại ở ý nghĩa “sơ xuất” mà phản ánh khá rõ cái tâm, cái tầm trí tuệ hết sức sơ sài. Bao nhiêu năm thay đi đổi lại, ngay đến những giáo trình giảng dạy sơ cấp cũng phải nhập khẩu, mua bản quyền từ nước ngoài, để xảy ra cả tai vạ bị Trung Quốc lợi dụng, đưa các nội dung tuyên truyền ảnh hưởng lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc vào đầu độc thế hệ trẻ.

Về mặt xã hội, việc quản lý các loại hình sinh hoạt văn hóa tâm linh ngày càng bất cập. Chủ yếu là nắm cái ngọn để tìm cách thu lợi chứ không hề có định hướng giáo dục, tôn tạo.

Sau thời kỳ “chống mê tín dị đoan”, việc đánh đồng tôn giáo vào loại hình mê tín, phản khoa học… để đập phá đình, chùa, miếu mạo thời kỳ 1977-1983 đã khiến cho đời sống văn hóa tâm linh ở cộng đồng người dân cả nước đi vào ngõ cụt không lối thoát.

Việc phục hoạt tôn giáo sau này, tuy không chính thức thừa nhận sai lầm của chính sách bài tôn giáo trong giai đoạn triệt phá trước đó, nhưng nó ghi nhận chính quyền vì nhiều lý do đã phải thừa nhận tôn giáo là một văn hóa không thể tách rời đời sống con người. Tuy nhiên, cái đuôi “định hướng” của tư tưởng chính trị vẫn tiếp tục ngoáy nát đời sống tâm linh của xã hội.

Tiền bạc và chính trị thao túng thần thánh

Nếu nhìn vào những ngôi chùa, những nhà thờ, những dịch vụ ăn theo tôn giáo, tâm linh mọc lên như nấm với đủ mọi hình thức thì có vẻ như chế độ đang rất tôn trọng tôn giáo, tôn trọng văn hóa tâm linh. Từ các quan chức hàng đầu bảo trợ, cắt băng khánh thành cho công trình chùa chiền, tới các quan chức, cá nhân… đua nhau lên chùa cầu danh cầu lợi, mưu cầu cá nhân, thể hiện một thứ văn hóa thụ động, ỷ lại, thiếu vắng kiến thức và bản lĩnh, gián tiếp gây nên phong trào đồng bóng, cúng bái núp sau danh nghĩa tâm linh đua nhau ra đời. Hậu quả tai hại của loại “văn hóa” này là liên minh ma quỷ giữa cán bộ và đồng bóng trong các dịch vụ lừa đảo tìm hài cốt liệt sĩ. Dân gian gọi thẳng là trò “ăn xác chết”, một so sánh sát thực về hành vi trong các câu chuyện về ma quỷ mất tính người, Để lại không ít hệ lụy đầy nhức nhối trong xã hội!

Đặt chân tới các khu danh lam, thắng cảnh, chùa chiền nổi tiếng, không nơi nào không nhìn thấy cảnh mua bán bát nháo, các hành vi phi văn hóa. Các ngôi chùa, không kể cũ mới, lẽ ra là nơi thanh tịnh, yên bình để con người tìm về với không gian đạo hạnh, tu tĩnh tâm hồn thì các nhà hàng, quán ăn, các dịch vụ ăn theo đủ kiểu chen lấn đến tận chân nơi thờ phượng. Các dịch vụ mượn danh “nâng cấp; khai thác du lịch” thẳng tay tàn phá không gian thiên nhiên để trục lợi, mang bàn tay nhớp nhúa, được “bảo kê” bởi các giấy phép của chính quyền đầy các toan tính tiền bạc, lời lỗ thọc vào cái nơi xuất phát của tâm linh.

Đau xót thay! Cái ăn theo thô bạo của những kẻ thiếu nhận thức ngày nay lại được hậu thuẫn bởi chính những mưu toan chính trị, quyền lực! Những “ông sư” hủ hóa, ăn chơi trác táng, lừa đảo…, thậm chí phớt lờ cả luật pháp vẫn ngang nhiên hoạt động.

Các hành động lộ rõ sự “cưng chiều” với loại hình Phật giáo qua việc các quan chức công khai tham gia các hoạt động, nghi lễ. Mở đường cao tốc lên Chùa Bái Đính, cấp phép dễ dàng cho các chùa mới… Trong khi đó, các việc liên quan xâm hại quyền lợi của Công giáo – ví dụ điển hình là việc nhùng nhằng không trả một phần cơ sở tu viện của nhà thờ Thái Hà, san lấp đất của giáo xứ ở Hồ Ba Giang, cưỡng chế, áp đặt đối với Phật giáo Hòa Hảo, Chùa Liên Trì.v.v. lại là một ví dụ thể hiện ý đồ chính trị hóa, kiểm soát tôn giáo một cách thô bạo, bất bình đẳng.

Từ đứng sau hậu thuẫn thành công khai

Chưa dừng lại ở sự hậu thuẫn, giờ đây Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đưa thêm vào chương trình đào tạo một bộ môn mới: Môn Hầu đồng(!?).

Loại hoạt động bị tất cả các tôn giáo chính thống, lâu đời thừa nhận nó là biểu hiện của ma quỷ – ma quỷ đúng nghĩa đen – và từng là đối tượng chính trong phong trào chống mê tín dị đoan của chế độ, nay được hợp pháp hóa bằng cách đánh tráo là loại hình “văn hóa dân gian được nhìn nhận”!

Nhìn nhận một hoạt động, một sự việc, một vật… trong thực tế bằng con mắt là để thấy. Nhưng nhìn nhận để giáo dục, đào tạo là đưa cái nhìn thấy vào tâm hồn, vào trí não. Các giảng viên trường ĐH Văn hóa Hà Nội nhìn nhận ra sao khi nhìn một nghi lễ cúng tế dân gian thành hoạt động đồng bóng, cầu hồn (Hầu đồng) là văn hóa?

Hậu thuẫn cho đám đồng bóng, ma quỷ hoành hành, lừa mị, moi tiền… chưa đủ. Phải chăng giờ đây cần phải đào tạo thêm nhiều nữa để phá nốt những dấu tích văn hóa dân tộc đang ngày càng tan nát? Bịt chặt góc nhìn đúng sai trong lương tri con người?

Theo VNTB

Nguồn tham khảo:

http://motthegioi.vn/tieu-diem/dua-hau-dong-vao-giang-day-cho-sinh-vien-nganh-van-hoa-du-lich-119870.html

http://www.baomoi.com/Can-canh-thu-rung-bi-xe-thit-tai-chua-Huong/137/10390034.epi

http://news.zing.vn/Choang-voi-canh-bao-luc-truoc-chon-cua-Phat-post235277.html

http://www.baoangiang.com.vn/Chuyen-muc-khac/Tin-trong-tinh/Muon-chon-linh-thieng-len-ong.html

“Cường quốc”

“Cường quốc”

Chuacuuthe.com

VRNs (15.11.2014) – Sài Gòn – Báo Tuổi Trẻ số ra ngày thứ hai 10/11/2014, nơi trang nhất đã dành một diện tích hơn nửa trang báo để đăng hình bản đồ nước Việt Nam với 8 điểm xây dựng các nhà máy lọc dầu, cùng với tựa đề: Việt Nam sẽ là “cường quốc” lọc dầu? Có thể kể 8 điểm ấy như sau: Hải Phòng, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu, và Cần Thơ. Với cách bố trí các nhà máy lọc dầu như vậy, dọc theo bãi biển của Việt nam được đan ken dày đặc các nhà máy lọc dầu. Có một số vấn đề cần quan tâm.

Cuong quoc

Môi trường

Nhà máy lọc dầu là nguồn gây ô nhiễm môi trường rất lớn, khí thải từ nhà máy lọc và các chất thải sẽ xử lý ra sao? Kinh nghiệm của bao nhiêu công trình từ thủy điện đến giao thông, công trình nào trong dự án đều có công đoạn “đánh giá tác động môi trường”, nhưng gần như không công trình nào tính toán đúng và hợp lý về sự tàn phá môi trường do nó gây ra, thậm chí đánh giá và trù liệu hoàn lương môi trường, nhưng chẳng đơn vị thi ông hay chủ đầu tư thực hiện việc hoàn lương này, hoặc thực hiện xử lý chất thải. Sẽ không thể kể ra hết những công trình kiểu như vậy đầy dẫy trên đất nước này, hậu quả là mất rừng, lũ lụt, lũ quét, lũ ống, động đất, động vật hoang dã biến mất hoặc về phá phách hoa màu, giết người, khai tử hầu hết các dòng sông hiền hòa giàu thủy sản,…

Cứ nhìn một nhà máy lọc dầu Dung Quất để xem rừng phòng hộ tiêu thụ khí thải được trồng ra sao. Nhà máy đã hoạt động nhiều năm nay nhưng rừng vẫn không có lấy đâu mà tiêu thụ khí thải.

Tài nguyên

Tàu quốc đã đưa giàn khoan vào hải phận Việt Nam để khoan thăm dò dầu khí, đã chào hàng đấu thầu khai thác dầu khí và tuyên bố tiếp tục sẽ đưa thêm nhiều dàn khoan ra ngoài khơi hải phận Việt Nam để khai thác. Thử nghĩ, giàn khoan ngoài khơi Việt Nam, nhà máy lọc dầu dọc bờ biển Việt Nam, Việt Nam không thể là “cường quốc” lọc dầu, nhưng toàn bộ dải giang san gấm vóc hình chữ S này biến thành công trường khai thác và lọc dầu của Tàu quốc. Tài nguyên của chúng ta bị khai thác triệt để, môi trường của chúng ta bị khai thác triệt để, còn lại chỉ là một mảnh đất, một thềm lục địa nghèo nàn xác xơ.

An ninh và sự toàn vẹn lãnh thổ

Chúng ta thấy gì qua bản đồ các nhà máy lọc dầu? Hầu hết các công trình của Việt Nam hiện nay đều do Tàu quốc đầu tư và thi công. Không cần phải minh chứng vì sự thật này đã nói hàng ngày trên báo chí, ngay cả trong nghị trường Quốc hội Việt Nam. Nơi nào Tàu quốc đầu tư nơi đó trở thành khu tự trị của Tàu quốc! Hàng hóa vật tư của Tàu quốc, nhân công đến từ Tàu quốc, trật tự an ninh do Tàu quốc đảm nhận, không nhà cầm quyền địa phương nào của Việt Nam có thể can thiệp vào, thậm chí Tàu xây cả đền miếu để thờ bành tổ nhà họ mà Việt Nam không sao giải quyết được.

Dọc dãy Trường Sơn Tàu quốc làm rừng, khai thác Bauxit, dọc bờ biển Tàu quốc làm nhà máy lọc dầu, nhà máy điện, nhà máy thép,…ngoài khơi Tàu quốc đặt dàn khoan, xây phi trường, dựng trạm kiểm soát giao thông, …

Việt Nam đi về đâu? Chắc hẳn vì thế mà nơi tựa đề của bài báo, hai chữ “cường quốc” được để trong ngoặc kép!!! Buồn thay.

Đình Trung

Văn hóa không từ chức ‘lên tầm cao mới’

Văn hóa không từ chức ‘lên tầm cao mới’

Ngọc Thanh Gửi cho BBC từ Hải Phòng

Chia sẻ

Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng

Tác giả cho rằng Thủ tướng Dũng là người mở đầu thứ ‘văn hóa không từ chức’.

Cái ngày 14/11/2012, ngày mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nổ phát súng hiệu lệnh “không từ chức” tới nay đã được hai năm.

“Văn hóa từ chức” mà Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc nêu ra cuối cùng lại phản tác dụng, sau ngày 14/11/2012 ấy, có một văn hóa mới hình thành, đó là “Văn hóa không từ chức”.

Trước đây dù các quan từ chức là một việc hiếm, nhưng ít nhất là cũng có xảy ra, đó là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lê Huy Ngọ trong vụ việc cách đây tròn 10 năm (2004).

Cái ngày ấy giờ đây đã xa lắm rồi. Chỉ có dân nhớ chứ quan chức thì không, các Bộ trưởng thích nhớ về “tuyên ngôn” của người trực tiếp lãnh đạo họ – Thủ tướng chính phủ hơn, đó là “Đảng còn tín nhiệm thì còn làm”.

Và thế là sản sinh là một thế hệ chai lỳ hơn nữa, tiêu biểu là Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến – người mà có lẽ không cần nhắc đến tên thì độc giả cũng biết là ai rồi.

Ngoài việc vô tư phát ngôn những câu không khác gì con trẻ như: “Lỗi của Vắc xin thì xử Vắc xin” (chắc là trừng phạt Vắc xin bằng cách không cho để trong chai lọ mà đem đun sôi hoặc đổ xuống cống?) hay “nên có tem cá sạch” (đóng dấu lên cá đang bơi?), thì việc tiền hậu bất nhất cũng làm người ta liên tưởng bà với vị thủ trưởng của mình.

Một mặt Bộ trưởng Tiến nói: “Cấm cán bộ y tế nhận phong bì, quà cáp trước và trong quá trình điều trị nhưng không cấm bác sĩ nhận quà sau điều trị, vì đó là tấm lòng của người bệnh…”. Nhưng khi đại biểu Quốc hội chất vấn, bà trả lời: “”Tôi đâu có cho phép nhận phong bì sau điều trị”!

‘Trơ trẽn’

” Nếu mình làm hết sức, với đam mê và trách nhiệm mà đến lúc nào đó cấp trên hay theo quy trình cán bộ không cho phép mình làm nữa thì tôi sẽ quay về công việc nào đó, miễn vẫn có ích cho đời”

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Một điểm không lẫn đi đâu được nếu so sánh với Thủ tướng Dũng là cách trả lời về việc từ chức.

Khi bị chất vấn, Bộ trưởng Tiến nói bà trở thành Bộ Trưởng vì “qua quá trình quy hoạch và công tác của Đảng, Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và được Quốc hội phê chuẩn” và “nếu mình làm hết sức, với đam mê và trách nhiệm mà đến lúc nào đó cấp trên hay theo quy trình cán bộ không cho phép mình làm nữa thì tôi sẽ quay về công việc nào đó, miễn vẫn có ích cho đời”.

Rõ ràng vẫn là bài “Đảng phân công” và “chừng nào còn tín nhiệm thì còn làm”.

Nhưng Bộ trưởng Tiến có hơn Thủ tướng Dũng ở mức độ trơ trẽn. Sau khi dịch sởi cướp đi mạng sống của hơn 120 em nhỏ, bà Tiến nói:

“Tôi không thể từ chức vào lúc này” vì “giờ là lúc ngành y tế tập trung cao nhất để giành giật sự sống cho các bé.”

Nghe như thế người ta sẽ hiểu rằng khi dịch kết thúc, bà mới có thể từ chức. Nhưng mọi người chờ dài cổ mà không thấy bà Bộ trưởng nhắc lại chuyện này.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có thể tự hào vì đã có một học trò xuất sắc. Nói đúng hơn, giờ đây các Bộ trưởng có thể vững tâm phát ngôn tùy ý và thản nhiên không từ chức vì đã có tiền lệ của thủ trưởng.

“Văn hóa không từ chức” có thể nói đã được nâng lên một tầm cao mới.

Chưa hoàn vốn?

Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến

Đương kim Bộ trưởng Y tế của Việt Nam được cho là chịu khá nhiều áp lực gần đây.

Thật ra cũng phải thông cảm cho các quan chức. “Quan trường như chiến trường”, nơi đây không dành cho những người tự trọng.

Tự trọng thì có lẽ nên đi làm những “nghề cao quý” như nhà giáo hay thầy thuốc theo đúng nghĩa. Chính trị gia thì phải trơ lỳ, mưu mô thủ đoạn.

Đặc biệt trong môi trường Chính trị Việt Nam, người ta phải bỏ một số tiền lớn để “chạy chức”.

 

Đặc biệt trong môi trường Chính trị Việt Nam, người ta phải bỏ một số tiền lớn để “chạy chức” Nếu từ chức sớm thì sẽ không thu hồi lại được “vốn”, đấy cũng là cái khó của họ.

Nhưng có những vị đã lãi rồi mà vẫn cố bám trụ, vì tiền thì chẳng bao giờ là đủ cả.

Tại sao phải từ chức khi chẳng có cơ chế nào ép mình phải như thế?

“Kính thưa các vị chưa bị phát hiện”, các vị cũng như tôi mà thôi, nên các vị đừng tỏ ra ngạc nhiên khi tôi vẫn tại vị – đó là suy nghĩ của các quan bây giờ.

Nói tóm lại, không thấy một lý do nào để có thể kéo các lãnh đạo ra khỏi vị trí béo bở đang nắm giữ. Nhưng người dân đừng lo, họ không ôm ghế cả đời được đâu, giỏi lắm là đến ngày kết thúc nhiệm kỳ là cùng.

Mỹ: VN muốn được quyền lợi không đơn giản chỉ thả tù nhân lương tâm

Mỹ: VN muốn được quyền lợi không đơn giản chỉ thả tù nhân lương tâm

Trà Mi phỏng vấn Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân chủ-Nhân quyền-Lao động Tom Malinowski.

Trà Mi phỏng vấn Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân chủ-Nhân quyền-Lao động Tom Malinowski.

Trà Mi-VOA

12.11.2014

Một quan chức ngoại giao cấp cao của Mỹ vừa hoàn tất chuyến công du Việt Nam tuyên bố Hà Nội không thể gặt hái các quyền lợi quan trọng từ mối quan hệ với Washington đơn giản bằng cách phóng thích tù nhân lương tâm.

Chuyến thăm của Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân chủ-Nhân quyền-Lao động Tom Malinowski vào hạ tuần tháng 10 diễn ra ngay sau khi Hà Nội trục xuất tù nhân bất đồng chính kiến Điếu Cày sang Mỹ giữa lúc Washington dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam và đôi bên đang nỗ lực hoàn tất Hiệp định Đối tác Thương mại Xuyên Thái Bình Dương TPP.

Trong cuộc phỏng vấn đặc biệt dành cho Trà Mi VOA Việt ngữ khi về lại Hoa Kỳ, ông Malinowski khẳng định dù Hoa Kỳ sẽ tiếp tục yêu cầu Việt Nam phóng thích tù nhân lương tâm, nhưng kế sách của Hà Nội thả vài người đổi chác quyền lợi khi cần thiết rồi lại bắt thêm nhiều người khác sẽ không lấy điểm được với Washington cũng như không mang lại TPP cho Việt Nam. Ông Malinowski nhấn mạnh mức độ phát triển của mối quan hệ Việt-Mỹ hoàn toàn tùy thuộc vào tốc độ cải cách nhân quyền, cải tổ luật lệ của Việt Nam.

VOA: Xin ông vui lòng tóm tắt thành quả chuyến thăm Việt Nam vừa qua?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi ở Việt Nam trong 5 ngày, gặp gỡ nhiều quan chức trong Bộ Ngoại giao, Thứ trưởng Bộ Công an, các giới chức trong đảng cộng sản, và đại diện các tổ chức xã hội dân sự, các nhà hoạt động, và những tù nhân lương tâm vừa được phóng thích. Thành quả chính của chuyến đi là tôi đã chuyển tải tới nhà nước Việt Nam thông điệp rất rõ ràng của chính phủ Mỹ rằng chúng tôi muốn bang giao Việt-Mỹ tốt đẹp hơn, một mối quan hệ sâu rộng-vững chắc như những mối quan hệ mà Hoa Kỳ đang có với các nước bạn thân thiết nhất trên khắp thế giới. Tuy nhiên, để được như vậy, Việt Nam nhất thiết phải có tiến bộ về nhân quyền. Tôi đã có dịp trao đổi với quan chức Việt Nam về những điều chúng tôi mong nhìn thấy họ thực hiện trong thời gian sắp tới.

VOA: Phản hồi của phía Việt Nam như thế nào, thưa ông?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Chúng tôi đã có những cuộc trao đổi tốt đẹp. Phía Việt Nam cũng muốn biết quan điểm và trông đợi của phía Mỹ. Chính phủ Việt Nam hết sức mong muốn xây dựng một mối quan hệ an ninh-kinh tế gần gũi hơn với Hoa Kỳ. Chúng tôi cũng mong như vậy, nhưng chúng tôi không muốn tiến tới quá nhanh để rồi bị ngã lui. Để có được mối quan hệ bền vững với thời gian, hơn là một mối quan hệ đổi chác, cần đảm bảo rằng đôi bên có một nền tảng những giá trị chung, cùng tin tưởng, hướng tới một điều chung chứ không phải là đối nghịch với nhau trong cùng một điều.

VOA: Còn những quan tâm cụ thể nào khác mà ông đã nêu ra với chính phủ Việt Nam và Hà Nội hồi đáp thế nào?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi đã nêu một số vấn đề cụ thể. Chúng tôi đề cập đến vấn đề tù nhân chính trị. Chúng tôi bày tỏ mong muốn được thấy Việt Nam trả tự do cho những người bị cầm tù vì thể hiện quan điểm chính trị hay niềm tin tôn giáo một cách ôn hòa. Tuy nhiên, quan trọng hơn, tôi đã nhấn mạnh với Hà Nội rằng hành động phóng thích thôi là chưa đủ nếu như họ vẫn tiếp tục bắt giam công dân như vậy. Cho nên, điều quan trọng nhất mà Hoa Kỳ muốn nhìn thấy là tiến bộ trong việc cải cách luật lệ, đặc biệt là các điều luật về an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự được Việt Nam dùng để sách nhiễu, bắt giam, và cầm tù công dân chỉ vì những hoạt động ôn hòa. Chính phủ Hà Nội nói họ thật sự muốn làm cho khung pháp lý của Việt Nam, kể cả Bộ luật Hình sự, phù hợp với chính bản Hiến pháp vừa thông qua năm 2013 và tương xứng với các chuẩn mực quốc tế. Chúng tôi đã thảo luận về việc này và đang chờ xem mọi chuyện sắp tới sẽ như thế nào.

VOA: Hà Nội có cho biết lịch trình cụ thể của kế hoạch đó như thế nào không, thưa ông?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Họ nói họ dự kiến các cải cách sửa đổi về Bộ luật Hình sự sẽ được đệ trình lên Quốc hội vào đầu năm tới và rằng việc này không thể diễn ra nhanh chóng. Tôi nói với họ rằng dĩ nhiên phải đề ra đường hướng cho các cải cách này theo lịch trình và tiến độ, nhưng triển vọng thắt chặt hơn mối quan hệ đối tác Việt-Mỹ tùy thuộc vào thành công trong nỗ lực đó. Tốc độ cải cách của Việt Nam nhanh tới mức nào thì quan hệ Việt-Mỹ sẽ tiến nhanh tới mức đó.

VOA: Ông nói Mỹ không muốn một mối quan hệ đổi chác với Việt Nam. Theo ông, Hoa Kỳ cần phải làm gì để chấm dứt những gì không mong muốn, mở ra một mối quan hệ như mong muốn?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Chúng tôi đã làm một số bước. Chúng tôi đã dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam để cung cấp một số lượng giới hạn các thiết bị phục vụ công tác bảo vệ duyên hải. Điều này chứng tỏ với nhà nước Việt Nam rằng Mỹ sẵn sàng thực hiện các bước tiến tới nghiêm túc, nhưng cùng lúc, chúng tôi tỏ rõ với họ rằng việc hủy bỏ hoàn toàn lệnh cấm này tùy thuộc vào các tiến bộ hơn nữa về nhân quyền của Việt Nam. Chúng tôi cũng thảo luận về khả năng Việt Nam trở thành một thành viên của Hiệp định Tự do Thương mại Xuyên Thái Bình Dương TPP, vốn cũng là bước quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt-Mỹ chặt chẽ hơn, nhưng Hà Nội có vào được TPP hay không tùy thuộc mức độ họ gia tăng tôn trọng quyền của người lao động, cụ thể là cải cách để cho phép công nhân được quyền tự do lập hội, mở công đoàn độc lập. Tóm lại, có nhiều khả năng để hai nước Việt-Mỹ xích lại gần nhau hơn, nhưng cũng có nhiều trông đợi đối với những điều Việt Nam cần phải thực hiện để mở ra các cơ hội ấy.

VOA: Như ông nói, để Việt-Mỹ tiến xa hơn mối quan hệ đổi chác, Hà Nội phải thực hiện một số cải cách pháp lý. Có ý kiến cho rằng muốn điều đó xảy ra, Mỹ thay vì đòi hỏi Việt Nam phóng thích các trường hợp tù nhân lương tâm cụ thể, hãy yêu cầu Việt Nam cải cách luật lệ để được quyền lợi. Nếu không, dường như Mỹ đang tạo điều kiện thuận lợi để Hà Nội tiếp tục chiến thuật ‘đổi tù nhân lương tâm lấy quyền lợi.’ Ý kiến của ông ra sao?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi sẽ không ngừng yêu cầu phóng thích những người bị bắt giam một cách bất công. Tôi vui mừng mỗi khi có một người được tự do vì đáng lý ra họ không phải bị tù tội. Chúng tôi sẽ tiếp tục làm như thế. Nhưng chúng tôi cũng chỉ rõ rằng việc này không tương đương với cải cách. Để hiện thực hóa quá trình cải cách ở Việt Nam, chúng tôi cần phải nhìn thấy những sửa đổi trong cấu trúc luật pháp. Và đó cũng là điều mà nhà nước Việt Nam đã cam kết với chính nhân dân của họ. Cho nên, đây không phải là một yêu cầu của Mỹ, không phải một đòi hỏi đến từ bên ngoài mà là điều mà người dân Việt Nam cần chính phủ của họ thực hiện như đã hứa. Chúng tôi chỉ biết chờ xem và theo dõi quá trình đó. Nếu quá trình đó diễn ra, nó sẽ mở ra nhiều cơ hội.

VOA: Phát biểu ở Hà Nội, ông nói nếu Việt Nam nghĩ rằng họ có thể dùng tù nhân chính trị như những con bài mặc cả với Mỹ thì sẽ không hiệu quả. Tuy nhiên, những gì đang diễn ra trên thực tế cho thấy chiến thuật này có kết quả, nếu không, đã không có những cuộc phóng thích không bao lâu, trước hoặc sau khi, Việt Nam gia nhập WTO, TPP, hay được Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí. Ông có suy nghĩ thế nào?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Có thể họ cho rằng các cuộc phóng thích này mang lại những kết quả đó, nhưng xin nhớ là những gì Việt Nam chung cuộc muốn gặt hái trong mối quan hệ với Hoa Kỳ sẽ không thể có được đơn giản bằng cách phóng thích tù nhân lương tâm, nhất là trong khi họ vẫn tiếp tục bắt giữ những người khác. Đó là điểm chúng tôi nhấn mạnh. Chẳng hạn như, dĩ nhiên chúng tôi vui mừng khi thấy một blogger như Điếu Cày được thả, nhưng cùng lúc đó lại thấy xuất hiện các cáo buộc đối với blogger Anh Ba Sàm. Đây cũng là một trường hợp mà tôi đã nêu ra trong chuyến công du Việt Nam vừa rồi. Nếu việc này cứ tiếp diễn, Hà Nội cứ thả vài người rồi bắt thêm vài người khác, họ sẽ không lấy điểm được với Hoa Kỳ và việc này dĩ nhiên sẽ không mang lại cho họ TPP. TPP là các cuộc thương lượng mà qua đó Việt Nam được hưởng nhiều quyền lợi rất quan trọng nhưng cũng bắt buộc phải thực hiện những bước đáng kể như cải cách pháp lý về quyền tự do lập hội. Và Việt Nam hiểu rất rõ điều này.

VOA: Ngoài những lời tuyên bố của Hà Nội, có dấu hiệu nào cho thấy Việt Nam sẽ bỏ chính sách hình sự hóa các hoạt động ôn hòa của công dân trong tương lai gần hay chăng? Ông có nhìn thấy tiến bộ nào trong các nỗ lực tiến tới việc này không?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Cho tới nay chưa đủ tiến bộ. Chúng tôi nghe những cam kết từ chính phủ. Chúng tôi thấy trong năm nay số người bị bắt vì các điều luật về an ninh quốc gia có lẽ ít hơn, nhưng chưa xuống tới mức 0. Vẫn còn xảy ra các vụ sách nhiễu những người chỉ thực hành các quyền căn bản của công dân được quốc tế công nhận. Mọi việc còn chưa đủ, nhưng tôi nghĩ vẫn còn cơ hội. Tôi cảm nhận người dân Việt Nam và cả chính phủ đều muốn một tương lai khác hơn cũng như một mối quan hệ đối tác tốt hơn với Mỹ. Họ muốn hòa vào cộng đồng quốc tế và họ hiểu có một số việc họ phải làm để biến mong muốn đó thành hiện thực, bền vững.

VOA: Mỹ có kế hoạch cụ thể thế nào giúp chấm dứt chiến thuật gọi là ‘dùng tù nhân lương tâm đổi chác quyền lợi’ hay không?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Đó không phải là điều chúng tôi đã, đang, và sẽ làm. Chúng tôi sẽ tiếp tục kêu gọi phóng thích tù nhân lương tâm, nhưng các quyền lợi quan trọng mà Việt Nam muốn có được từ mối quan hệ với Hoa Kỳ đòi hỏi phía Việt Nam phải làm nhiều hơn nữa, đặc biệt là thực hiện những cam kết chính họ đã đưa ra.

VOA: Có thể trông đợi điều gì sau chuyến công du của ông tới Việt Nam với trọng tâm về nhân quyền, nhất là sau khi Mỹ dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí cho Hà Nội?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Thông điệp chúng tôi đã gửi đi là chúng tôi sẵn lòng rằng có cơ hội cải thiện mối quan hệ an ninh song phương. Dỡ bỏ một phần cấm vận vũ khí cho Việt Nam là một hành động chân thành. Chúng đáng ra đã dỡ bỏ hẳn toàn bộ lệnh cấm này nếu như không có quan ngại về nhân quyền Việt Nam. Và điều đó đã đánh đi một tín hiệu rất rõ ràng cho Việt Nam. Chúng ta cần phải đợi xem mọi việc như thế nào, tôi sẽ không đưa ra dự đoán về những gì sẽ xảy ra. Tôi chỉ có thể nói rằng Mỹ muốn một quan hệ tốt hơn với Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng thực hiện các bước rất quan trọng vì lợi ích của cả đôi bên. Chúng tôi không yêu cầu cái gì bất khả dĩ với chính phủ Việt Nam cả, chỉ yêu cầu họ đi đúng con đường họ đã hứa sẽ thực hiện, con đường cải cách pháp lý, làm cho việc thực thi luật hàng ngày tại Việt Nam phù hợp với Hiến pháp.

VOA: Liệu sẽ có thêm những vụ phóng thích sau chuyến thăm của ông?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi hy vọng tiếp tục sẽ nhìn thấy có thêm người được phóng thích và không ai bị bắt nữa.

VOA: Qua chuyến đi, ông nhận thấy có tín hiệu tích cực hay tiêu cực về vấn đề nhân quyền Việt Nam?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi vừa mới về nên không dự kiến sẽ thấy bất kỳ sự thay đổi cơ bản nào. Một điều chúng tôi trông đợi có thể sớm xảy ra là Quốc hội Việt Nam thông qua Công ước Liên hiệp quốc Chống tra tấn. Đây là một trong những quan ngại lâu nay của chúng tôi về nhân quyền Việt Nam. Tôi cảm nhận chính phủ Hà Nội khá nghiêm túc trong vấn đề này, họ hiểu rằng việc thông qua Công ước chỉ là bước đầu, và sau khi thông qua, Quốc hội Việt Nam cần phải làm nhiều thứ để đảm bảo các luật lệ quy định hành vi của công an được tuân thủ đầy đủ với Công ước mà Việt Nam vừa tham gia.

VOA: Thang điểm của ông về nhân quyền Việt Nam trong chuyến đi lần này so với chuyến đi lần trước lên hay xuống?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi sẽ không cho điểm. Tôi đặt mong mỏi và kỳ vọng rất cao. Tôi không đong đếm thành tích nhân quyền từng ngày hay từng tháng. Tôi tiếp tục nỗ lực cùng với các đồng nghiệp ở Bộ Ngoại giao trong chính quyền của Tổng thống Obama để đạt được tiến bộ theo từng năm.

VOA: Trong chuyến thăm Việt Nam, ông có được tiếp xúc với tất cả những người mà ông muốn gặp?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Chúng tôi có thể tiếp xúc hầu như mọi người mà chúng tôi muốn gặp. Có một số người muốn gặp chúng tôi bị công an sách nhiễu. Chúng tôi cũng liệu trước việc này vì đã từng xảy ra trong quá khứ. Đó là điều không thể chấp nhận và chúng tôi đã bày tỏ thất vọng với chính phủ Việt Nam về các hành động đó.

VOA: Ông được phép vào thăm một nhà tù tại Việt Nam nhưng không gặp tù nhân lương tâm nào. Phải chăng vì ông không yêu cầu cụ thể hay vì nhà cầm quyền Việt Nam không cho phép?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Họ bảo các tù nhân lương tâm chúng tôi muốn gặp ở một trại giam khác, nhưng làm sao biết được thực hư thế nào. Họ cho phép chúng tôi thăm nhà tù là điều tích cực. Trong các dịp khác, nhân viên đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam đã vào thăm một số tù nhân lương tâm bị giam cầm. Chúng tôi sẽ tiếp tục yêu cầu được tiếp cận như vậy. Chúng tôi cảm kích việc này vì nó giúp xây dựng lòng tin. Dĩ nhiên ở Mỹ thì bất kỳ ai cũng được vào thăm bất kỳ tù nhân nào, điều này chứng tỏ là quốc gia và chính phủ không có gì phải che dấu.

VOA: Ông ghi nhận gì từ các cuộc gặp với đại diện xã hội dân sự, giới bất đồng chính kiến, và các nhà hoạt động tại Việt Nam?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Thật thú vị. Tôi thấy nhiều người trong số họ chia sẻ cùng quan điểm với chúng tôi. Họ dĩ nhiên rất quan tâm về tình hình tại Việt Nam. Một số họ đã qua thời gian tù đày vì các hoạt động cổ xúy cải cách. Họ phản ánh với chúng tôi một bức tranh rõ ràng, chân thật, nhưng đầy khó khăn về thực trạng nhân quyền Việt Nam. Đa số họ cho rằng một mối quan hệ Việt-Mỹ xích lại gần hơn chính là cơ hội, nếu chúng ta tiếp tục vận dụng mối quan hệ đó để cổ võ cho nhân quyền được tôn trọng hơn. Nếu có một điều mà các thành viên trong chính phủ Việt Nam và các thành viên trong xã hội dân sự Việt Nam cùng tán đồng đó chính là tìm kiếm một mối quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ.

VOA: Họ cần sự hỗ trợ hơn nữa từ phía Hoa Kỳ ra sao?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Dĩ nhiên, họ mong muốn Hoa Kỳ lên tiếng vận động chính phủ Việt Nam thực hiện những gì đã cam kết. Song song đó, họ cũng muốn có sự hiện diện của Hoa Kỳ về mặt kinh tế. Nhiều người cũng muốn Mỹ có quan hệ an ninh với Việt Nam trước những quan ngại về nước láng giềng phương Bắc. Tôi ghi nhận những thao thức rất mạnh mẽ muốn có sự hiện diện của Mỹ và mong Mỹ dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy chính phủ Việt Nam theo hướng như vậy.

VOA: Xin cho biết hồi đáp của chính phủ Mỹ trước những lời kêu gọi đó?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Đó chính là những gì mà chúng tôi cam kết thực hiện.

VOA: Ông có được báo cáo về xu hướng gia tăng bạo lực đối với các nhà hoạt động trong nước? Hoa Kỳ có kế hoạch nào thêm nữa giúp bảo vệ quyền tự do ngôn luận không bị đàn áp và sách nhiễu tại Việt Nam?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Họ có trình bày với chúng tôi là tình trạng sách nhiễu vẫn tiếp diễn, nhưng gia tăng hay giảm bớt thì tôi không rõ. Họ cho tôi biết đã xảy ra các trường hợp sách nhiễu trầm trọng và thường xuyên bởi công an, và tôi đã nêu vấn đề khi gặp giới chức chính phủ, kể cả trong cuộc họp 2 giờ đồng hồ với Thứ trưởng Bộ Công an ngay ngày đầu của chuyến thăm. Chúng tôi chưa đạt được những gì mong đợi trong vấn đề này trong lúc mở ra cơ hội tìm cách giải quyết.

VOA: Về trường hợp phóng thích mới đây đối với blogger Điếu Cày, Việt Nam viện dẫn lý do nhân đạo. Ông có bình luận ra sao?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi mừng thấy ông ấy ra khỏi tù. Tôi mừng khi thấy người ta được phóng thích vì bất cứ lý do gì. Dù vậy, suy cho cùng, việc phóng thích này không phản ánh tiến bộ đáng kể về nhân quyền trừ phi các nhà bất đồng chính kiến có thể tái lập cuộc sống ngay trên quê nhà với quyền tự do viết lách, tự do phát biểu ý kiến, và tự do lập hội.

VOA: Điếu Cày đi Mỹ là sự lựa chọn của cá nhân ông ấy hay là một thỏa thuận giữa hai nước Việt-Mỹ liên quan đến việc phóng thích?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Đó không phải là một thỏa thuận giữa Hà Nội và Washington. Có những trường hợp chính phủ Hà Nội nhất quyết rằng các nhà bất đồng chính kiến bị tù phải rời khỏi nước như là một điều kiện để được phóng thích. Có những trường hợp tù nhân lương tâm được trả tự do và được phép lưu lại đất nước. Chúng tôi rất mong là họ được phép tái lập cuộc sống tại Việt Nam sau khi được phóng thích, và chúng tôi đã nêu rõ điều này với chính phủ Việt Nam. Nếu những tù nhân lương tâm được chỉ thị phải ra đi mà họ đồng ý thì dĩ nhiên chúng tôi hoan nghênh họ tới Mỹ mặc dù rõ ràng đây không phải là thành quả khã dĩ tốt nhất.

VOA: Quay sang vấn đề thương thảo TPP, với thực trạng nhân quyền hiện nay của Việt Nam và với một Quốc hội mới trúng cử ở Hoa Kỳ, tính tới thời điểm này ông thấy cơ hội Việt Nam trở thành thành viên TPP ra sao?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi nghĩ Việt Nam có cơ hội trở thành một thành viên của TPP nếu các cuộc thương lượng thành công và nếu như họ đáp ứng đề nghị mà đại diện đàm phán thương mại của chúng tôi đã đưa ra để nỗ lực nghiêm túc trong lĩnh vực quyền tự do lập hội. Nếu đạt được điều đó thì có cơ hội được Quốc hội Mỹ thông qua thỏa thuận TPP. Tôi không nghĩ kết quả bầu cử Quốc hội Mỹ sẽ tạo ra khác biệt về khả năng vào TPP của Việt Nam vì các thành viên trong cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa của Quốc hội Mỹ đều có chung các quan ngại về nhân quyền Việt Nam. Trong Quốc hội Hoa Kỳ có rất nhiều quan ngại về việc có nên để cho Việt Nam gia nhập TPP hay không mà lý do là vì thành tích nhân quyền của Hà Nội. Chúng tôi đang trông đợi các cuộc đàm phán TPP đưa ra được những dấu hiệu tích cực từ Hà Nội để chúng tôi có thể nói với bên lập pháp Hoa Kỳ rằng Việt Nam thật sự quyết tâm đạt tiến bộ trong lĩnh vực nhân quyền.

VOA: Những cải thiện cụ thể nào là điều kiện để Việt Nam gia nhập TPP?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Có những cải thiện rất cụ thể đang được thảo luận trong các cuộc thương thuyết TPP.

VOA: Ông có thể đơn cử vài điểm?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Tôi không thể tiết lộ cụ thể vì còn phụ thuộc vào tiến trình thương lượng. Tôi chỉ có thể nói rằng vấn đề đang trên bàn thảo luận là quyền của người lao động, một phần của thỏa thuận TPP, nhất là quyền tự do lập hội.

VOA: Ông có thể chia sẻ đôi chút về cuộc đối thoại nhân quyền kế tiếp giữa hai nước Việt-Mỹ?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Bất kỳ cuộc gặp nào giữa đôi bên mà vấn đề nhân quyền được nêu ra đều là cuộc họp nhân quyền. Tôi dự trù là bất cứ khi nào Ngoại trưởng John Kerry, Tổng thống Barack Obama, hay Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Michael Froman gặp gỡ các đối tác Việt Nam thì vấn đề nhân quyền cũng sẽ được nêu lên. Chúng tôi hy vọng sắp xếp cuộc đối thoại nhân quyền với Việt Nam vào một thời điểm nào đó trong năm tới. Cuộc đối thoại nhân quyền năm nay ở Washington, tôi hy vọng cuộc đối thoại lần tới sẽ diễn ra tại Việt Nam.

VOA: Thời điểm cụ thể ra sao, thưa ông?

Trợ lý Ngoại trưởng Malinowski: Chúng tôi chưa thống nhất ngày giờ cụ thể nhưng chắc chắn sẽ tổ chức sự kiện này.

VOA: Xin chân thành cảm ơn Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Tom Malinowski đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này sau khi hoàn tất chuyến công du Việt Nam.

Công an đứng sau vụ hành hung Tổng Lãnh sự Pháp

Công an đứng sau vụ hành hung Tổng Lãnh sự Pháp

Nguoi-viet.com

PARIS (NV) .- Đó là nhận định của Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) trong thông báo về sự kiện ông Phạm Minh Hoàng, ông Nguyễn Bắc Truyển và ông Emmanuel Ly – Battallan  cùng bị hành hung ở Sài Gòn.

Từ trái qua, ông Pham Minh Hoàng, ông Emmanuel Ly Batallan và ông Nguyễn Bắc Truyển. Ảnh chụp tại tư gia ông Hoàng hôm 5 tháng 11. (Hình: VNHRD)

Ông Phạm Minh Hoàng, một người Việt có quốc tịch Pháp, từng là giảng viên Đại học Bách khoa ở Sài Gòn. Năm 2011, ông Hoàng bị bắt, bị truy tố và bị kết án ba năm tù vì  “âm mưu lật đổ chính quyền”. Trước khi bị bắt, ông Hoàng là tác giả nhiều bài viết ký tên Phạm Kiến Quốc, phân tích những sai lầm của chính quyền Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục, môi trường, đặc biệt là trong quan hệ với Trung Quốc. Tuy đã mãn hạn tù nhưng ông Hoàng vẫn đang bị quản chế ba năm.

Ông Nguyễn Bắc Truyển từng là luật sư, đồng thời còn là doanh nhân, chủ hai doanh nghiệp tại Sài Gòn. Ông tham gia Đảng Dân chủ nhân dân và viết nhiều bài vận động cho dân chủ, nhân quyền. Cuối năm 2006, ông cùng một số đồng chí bị bắt, bị đưa ra tòa và bị phạt 40 tháng tù, kèm hai năm quản chế do “tuyên truyền chống nhà nước”.

Sau khi mãn hạn tù vào tháng 5 năm 2010, ông Truyển là một trong những cựu tù chính trị cung cấp hàng loạt thông tin về số phận của những người tù bị giam giữ vì lý do chính trị và tôn giáo tại trại giam Z30A ở huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Nhờ vậy, người ta mới biết số phận của một số quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn còn bị giam giữ cho đến khi chết, hoặc ở tù đến năm thứ 38 như ông Nguyễn Hữu Cầu.

Ông Truyển còn tham gia sáng lập và điều hành Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo, hỗ trợ cả tinh thần lẫn vật chất cho các cựu tù chính trị, tôn giáo cũng như thân nhân của họ. Gần đây, ông Truyển bắt đầu tham gia nhiều hơn vào những hoạt động cho dân chủ, nhân quyền của những tổ chức dân sự khác và thường xuyên bị những kẻ lạ mặt mặc thường phục hành hung.

Vì ông Truyển liên tục bị truy bức, gần đây, gia đình ông Hoàng cho ông Truyển tá túc trong nhà của họ. Cũng vì vậy, tư gia của họ bị giám sát 24/24. Ngày 5 tháng 11-2014, những kẻ lạ mặt mặc thường phục bắt đầu hăm dọa, gây sức ép lên các thành viên trong gia đình ông Hoàng để họ ngưng “chứa chấp” ông Truyển.

“Côn đồ” tụ tập quanh cửa, ngăn cản mọi người ra vào, khi vợ ông Hoàng phản đối, côn đồ đã dùng dao dọa bà. Gia đình ông Hoàng gọi điện thoại báo cho công an phường nhưng công an phường từ chối can thiệp vì “bận họp”. Bởi có quốc tịch Pháp, vợ chồng ông Hoàng gọi điện thoại cho Lãnh sự quán Pháp tại Sài Gòn nhờ hỗ trợ.

Ông Emmanuel Ly – Battallan, Tổng Lãnh sự Pháp đến tận nơi, dùng máy ảnh chụp lại cảnh côn đồ vây tư gia của ông Hoàng, ngăn cản mọi người ra vào, đồng thới qua nhà đối diện chụp cả những kẻ giám sát từ xa. Côn đồ đã lôi ông Battallan vào nhà, kẹp cổ, khống chế để hăm dọa ông Battallan khoảng mười phút.

Trong thông báo cảnh báo về sự kiện vừa kể, ông Benjamin Ismail, người phụ trách khu vực châu Á –Thái Bình Dương của RSF, nhận định, những hành vi bạo lực như vậy là không thể chấp nhận được. RSF khẳng định, Công an Việt Nam có liên quan đến vụ này. RSF yêu cầu Việt Nam cần chấm dứt ngay lập tức việc quấy nhiễu, hăm dọa, dùng vũ lực đối với các blogger và thân nhân của họ. (G.Đ)

Bốn chữ ‘không’ tồi tệ trong giao thông ở Việt Nam

Bốn chữ ‘không’ tồi tệ trong giao thông ở Việt Nam

Nguoi-viet.com

TỔNG HỢP (NV) – Giao thông ở Việt Nam ngày càng tồi tệ không chỉ do nhà cầm quyền tham nhũng, yếu kém, mà còn do văn hóa giao thông “4 không” mất căn bản của người dân…

Phân luồng như thế này không kẹt xe mới là chuyện lạ. (Hình: Tuổi Trẻ)

Với tinh thần “Tưởng nhớ người đi – vì người ở lại,” ngày 9 tháng 11, hàng ngàn người đến dự đại lễ cầu siêu tưởng niệm những người chết bởi tai nạn giao thông được tổ chức tại Sài Gòn.

Đây là đại lễ bày tỏ niềm thương xót những người không may thiệt mạng, đồng thời chia sẻ đau thương, mất mát với những gia đình nạn nhân.

Chuyện giao thông ở các đô thị lớn của Việt Nam hiện nay càng nói, càng bàn, càng rối càng không hiểu nổi.

Gạt bỏ những thứ chung chung, cứ nói đến giao thông là nói đến văn hóa giao thông. Mà văn hóa giao thông cụ thể là gỉ?

Với người dân, chuyện về văn hóa giao thông là 4 chữ “không”: không sợ; không nhường; không xếp hàng và không biết ngại.

“Không sợ” là vấn đề nhận thức. Không sợ nên chạy xe bạt mạng, lạng lách, băng qua đầu xe, quay đầu đột ngột, sang đường bất chợt, uống rượu lái xe…

“Không nhường” là vấn đề thái độ ứng xử. Đường của chung, mạnh ai nấy cứ lấn tới, thấy chỗ nào trống cũng cố dí đầu xe vào dù chỉ để hơn nửa bánh xe, rồi đè đầu xe người khác mà chạy, bất kể lịch sự, bất chấp văn minh.

Không nhường kết hợp với cái “không sợ,” thế là sẵn sàng dí đầu xe gắn máy của mình vào ngay trước đầu xe hơi.

“Không xếp hàng” là vấn đề về hành vi. Việc này diễn ra từ nhà ra phố nên người Việt khi ra đường sẵn sàng tìm cách lấn làn, chèn đầu xe người khác khi chờ đèn đỏ đã trở nên phổ biến. Xe sau chèn xe trước, kiểu cài thế răng lược ở các nút giao thông và rồi kẹt xe. Đường hẹp cũng kẹt mà đường rộng cũng thông.

“Không biết ngại” là vấn đề đạo đức. Trời mưa cứ lao xe vào vũng nước với tốc độ cao, nước bẩn văng tung tóe, ai trúng ráng chịu. Chèn đầu xe lấn làn gây kẹt cho cả đám người, ai nhắc thì quay ra sửng cồ, to tiếng. Đường là của thiên hạ, nên cứ thế mà tạt nước, mà vứt rác… Hành vi sai đã đáng phê, biểu hiện đạo đức còn đáng trách hơn nhiều.

Còn với nhà cầm quyền thì sao? Cũng là chuyện về 4 chữ “không”: không khoa học; không nhất quán; không nghiêm và không đàng hoàng.

“Không khoa học” thì đã rõ, chỉ cần xem cách bố trí đèn giao thông ở Việt Nam cũng đủ biết. Đèn xanh, hai dòng xe ngược chiều cùng xông tới, các làn xe rẽ trái, rẽ phải, đi thẳng cùng nhận lệnh xung phong. Xe nọ đè đầu xe kia, cài qua cài lại đến hết lượt đèn chỉ đi được vài chiếc.

Trong tình cảnh đó, người tham gia giao thông sẵn sàng chơi trò liều mạng không sợ hoặc láu cá bằng mọi cách để qua được nút đèn nhanh nhất. Thế là đè đầu xe người khác để vượt đèn, rồi thì người này chạy xe đàng hoàng nhưng bị kẻ chạy xe ít đàng hoàng hơn chửi…

“Không nhất quán” lại càng rõ. Mỗi chuyện đèn đỏ quẹo phải mà chỗ được phép, chỗ không; lúc được phép lúc không; giờ cao điểm được giờ bình thường thì không. Vậy nên dân tình đi xe quen chơi trò hên xui, còn lực lượng làm nhiệm vụ thì tùy cơ hội thuận tiện mà thổi còi “làm luật.”

“Không nghiêm” là vì muốn nghiêm cũng không nghiêm nổi. Lúc cao điểm là lúc cần người dân tuân thủ luật lệ nhất, thì lại là lúc gần như người dân được phép lấn làn xe, rướn đèn, chạy ngược chiều…vì cảnh sát giao thông kẹt nhiệm vụ điều khiển, không thể phạt nổi. Thậm chí, có trường hợp người đi đường còn chủ động chỉ cho người chạy xe đi trái luật.

“Không đàng hoàng” là chuyện đạo đức của những người thực thi công vụ. Núp và canh bắt những lỗi sơ suất không đáng của người đi đường để làm luật, trong khi những lỗi nghiêm trọng thì lại hầu như không bắt được. (Tr.N)

Gọi vốn qua IPO kiểu VN ‘chẳng giống ai’

Gọi vốn qua IPO kiểu VN ‘chẳng giống ai’

Vietnam Airlines đã nhiều lần định cổ phần hóa nhưng không thành.

Vietnam Airlines theo dự kiến sẽ có đợt bán cổ phần ra công chúng lần đầu tiên (IPO) vào ngày 14/11.

Để tìm hiểu về đợt IPO này nói riêng và nỗ lực tư nhân hóa nền kinh tế tại Việt Nam, BBC tiếng Việt đã phỏng vấn ông Kevin Snowball, giám đốc điều hành Quỹ Tài sản PXP Vietnam.

Ông Snowball cho rằng cách huy động vốn tư nhân qua IPO cho doanh nghiệp nhà nước không có kết quả và chính phủ Việt Nam thiếu rõ ràng về cách phát triển thị trường chứng khoán.

BBC: Dường như ông có vẻ không mấy hào hứng trước đợt IPO này, tại sao vậy?

“98% số cổ phiếu sẽ được bán cho hai ngân hàng trong nước mà chúng tôi hiểu rằng họ là Techcombank và Vietcombank mặc dù thông tin này chưa được xác nhận”

Kevin Snowball, CEO PXP Vietnam

Về cơ bản thì cầu vượt quá cung một chút. Tức là nhu cầu muốn mua nhiều hơn số cổ phiếu sẽ được chào bán ra 1.70 lần. 98% số cổ phiếu sẽ được bán cho hai ngân hàng trong nước mà chúng tôi hiểu rằng họ là Techcombank và Vietcombank mặc dù thông tin này chưa được xác nhận. Nhà đầu tư nước ngoài tham gia rất ít, có vẻ như 28 cá nhân từ giới đầu tư nước ngoài chia nhau mua khoảng 100.000 USD trị giá cổ phiếu.

Có một số lý do khiến chúng tôi không tham gia mua. Tức là về cơ bản là IPO tại Việt Nam hiện có một số vấn đề. Thứ nhất là giá cổ phiếu là quá đắt. Thông tin cũng không thật đầy đủ và rõ ràng, nói cách khác đi là thiếu minh bạch. Đây là IPO nhưng lại không có ngày cụ thể cho việc khi nào trong tương lai mới niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Tức là đó không phải là cách người ta thực hiện IPO như bình thường.

BBC: Vậy IPO có ý nghĩa gì đối với Vietnam Airlines (VNA)?

Họ dự kiến huy động dưới 50 triệu USD, là việc gọi vốn nhỏ. VNA muốn tìm nhà đầu tư chiến lược. Chúng tôi nghe nói có nhà đầu tư muốn mua 20% cổ phần VNA nhưng cho tới nay thì không có thông tin rằng nhà đầu tư đó là ai. Do đó đợt IPO này chỉ là việc bán ra cổ phần rất nhỏ cho một vài nhà đầu tư nội địa, do đó chẳng có chút hào hứng nào cả.

BBC: Nhìn rộng ra về nỗ lực cổ phần hóa của Chính phủ Việt Nam, ông đánh giá thế nào?

Tôi cho là mọi việc diễn ra không được suôn sẻ. Trong năm nay đã có hàng chục IPO, tôi chỉ thấy có một trường hợp có thể tạm coi là thành công là trường hợp Vinatex. Chúng ta thấy là tuần trước Việt Nam bán 1 tỉ đôla trái phiếu để huy động vốn từ thị trường tài chính quốc tế và cầu gấp 10 lần cung. Đó là bởi giá bán là hợp lý, ấn định giá đúng thì bán cái gì cũng được.

Đối với nhà đầu tư nước ngoài thì để có thể tham gia vào IPO thì hẳn phải có triển vọng thực sự là họ sẽ kiếm được tiền từ đó. Đó là một trong những đặc điểm của thị trường chứng khoán. Còn nếu bán cổ phiếu ra để giới đầu tư trông đợi 100 năm nữa mới có lãi thì khả năng để người ta huy động được vốn là rất ít. Tức là trong trường hợp này thị trường nói với chính phủ là giới đầu tư không thích kiểu thực hiện IPO này của VNA.

BBC: Nhà nước vẫn nắm cổ phần chính của Vietnam Airlines và phải chăng đó là chỉ dấu cho thấy nhà nước chưa sẵn sàng có những thay đổi thực sự tại VNA nói riêng và nền kinh tế mà quốc doanh nắm vai trò chủ đạo nói chung?

” Rồi sẽ đến lúc người ta sẽ hỏi rằng liệu có cần phải có thị trường chứng khoán không và làm gì với nó”

Hiện nhà nước vẫn nắm 96.5% cổ phần của Vietnam Airlines. Họ chưa bán 20% cổ phần. Có việc đồn đoán là có thể có nhà đầu tư Nhật nào đó sẽ mua nhưng hiện chưa thấy chỉ dấu nào từ phía Nhật là họ muốn thực hiện điều đó. Có một số nhỏ cổ đông nắm 3.5% cổ phần của VNA nhưng họ không biết sẽ buôn bán các cổ phần này ở đâu.

Thực tế rằng Việt Nam giới hạn mức sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài ở mức tối đa là 49% cho thấy là Việt Nam chưa sẵn sàng để cho thị trường chứng khoán vận hành theo cách mà đáng ra phải vận hành như tại những nơi khác. Có nhiều công ty được niêm yết trên sàn giao dịch tại Việt Nam nhưng đa số vẫn thuộc quyền sở hữu thuộc về nhà nước.

Tôi nghĩ là có vấn đề mang tính tổng quát hơn đối với thị trường chứng khoán và cách vận hành cũng như vấn đề về chủ trương. IPO là bước đi cốt để cung cấp nguồn tiền mặt thì dường như đã và đang không có mấy kết quả. Chúng ta đang đối diện rủi ro là cứ để tình trạng này càng kéo dài bao lâu thì nó chỉ càng thêm tiêu cực. Rồi sẽ đến lúc người ta sẽ hỏi rằng liệu có cần phải có thị trường chứng khoán không và làm gì với nó. Tức là chính phủ Việt Nam không có chính sách rõ ràng việc họ muốn phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam như thế nào.