Ba tàu cá Việt bị tàu TQ tấn công

Ba tàu cá Việt bị tàu TQ tấn công

Tàu cá từ huyện đảo Lý Sơn đã nhiều lần bị tàu Trung Quốc tấn công trong năm ngoái

Ba tàu cá Việt Nam từ huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, bị tàu hải giám Trung Quốc tấn công khi đang đánh bắt gần quần đảo Hoàng Sa, nhà chức trách cho biết.

Thông tin trên được ông Trần Bút, Chủ tịch UBND Lý Sơn cung cấp cho BBC trong cuộc phỏng vấn ngày 13/1.

“Ba tàu cá từ xã An Hải, huyện Lý Sơn đã bị các tàu Trung Quốc tấn công hôm 7/1 khi đang đánh bắt gần quần đảo Hoàng Sa,” ông Bút cho biết.

Các tàu này do các thuyền trưởng Lê Tân, Nguyễn Chí Thạnh và Bùi Văn Đông điều khiển, ông nói thêm.

“Không có thiệt hại nào về nhân mạng, nhưng các tàu đều bị đập phá, lấy tài sản”.

“Tổng thiệt hại vào khoảng 300 triệu đồng”.

Trước đó, báo Tuổi Trẻ dẫn lời bà Phạm Thị Hương, Phó Chủ tịch UBND Lý Sơn nói một trong các vụ va chạm xảy ra gần đảo Tây, quần đảo Hoàng Sa.

“Chúng tôi sẽ có các biện pháp hỗ trợ cho ngư dân,” ông Bút nói.

“Bên cạnh đó, chính quyền cấp tỉnh cũng sẽ có các biện pháp hỗ trợ riêng”.

Nhiều vụ tấn công nhằm vào tàu cá Việt Nam đang đánh bắt tại quần đảo Hoàng Sa cũng đã xảy ra hồi năm ngoái.

Hồi tháng Chín, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã triệu đại diện từ đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để phản đối “hành vi đập phá, tịch thu trái phép tài sản và đánh đập ngư dân Việt Nam đang hoạt động nghề cá bình thường tại khu vực quần đảo Hoàng Sa” của lực lượng chức năng Trung Quốc.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình khi đó được dẫn lời nói hành động của phía Trung Quốc đã “xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, trái với luật pháp quốc tế …”

Bộ trưởng Thăng bị báo Trung Quốc chỉ trích

Bộ trưởng Thăng bị báo Trung Quốc chỉ trích

Vụ tai nạn sập giàn giáo xảy ra hôm 28/12/2014

Hoàn cầu Thời báo chỉ trích Bộ trưởng Giao thông-Vận tải Việt Nam Đinh La Thăng vì cảnh cáo nhà thầu Trung Quốc, nói ông ‘khơi gợi tư tưởng bài Trung’.

Tờ báo theo xu hướng dân tộc chủ nghĩa của Trung Quốc hôm 10/1 có bài nói hành động của ông Thăng đã gây bất bình ở Trung Quốc.

Chiều 4/1, Bộ GTVT đã có cuộc họp với Tổng thầu Trung Quốc EPC của dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông (Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc) về sự cố sập giàn giáo tại dự án này hôm 28/12.

Tạ̣i đó, ông Đinh La Thăng đã gay gắt chỉ trích Tổng thầu EPC là thực hiện dự án không tốt và khẳng định sẽ trình Chính phủ để có thể thay thế tổng thầu EPC trong dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông.

Đoạn tin truyền hình phát trên kênh VTC cho thấy ông Thăng chỉ mặt nhà thầu Trung Quốc và nói những câu khá mạnh mẽ.

Bài trên Hoàn cầu Thời báo nói hành động của ông Đinh La Thăng là “tìm cách khơi gợi lại tư tưởng chống Trung Quốc ở trong nước”.

Ông Tề Kiến Quốc, cựu đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam, người trực tiếp vận động cho sự tham gia của nhà thầu Trung Quốc, được dẫn lời nói ông Đinh La Thăng không nên làm như vậy.

“Sự cố công trình xây dựng có thể xảy ra ở bất cứ đâu và không nên thổi phồng quá mức.”

Hoàn cầu Thời báo cũng dẫn ý kiến một số chuyên gia, nói rằng lỗi để xảy ra tai nạn là thuộc công ty Trung Quốc, nhưng phía Việt Nam cũng có lỗi vì “không theo dõi sát”.

Sự chậm trễ trong dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông được giải thích một phần là do giải tỏa mặt bằng muộn.

Chỉ mặt mắng

Hình ảnh video thu được từ cuộc họp 4/1 cho thấy ông Đinh La Thăng chỉ vào mặt đại diện nhà thầu Trung Quốc.

Ông nói: “Cứ mỗi lần xảy ra tai nạn các ông lại nhận khuyết điểm, cứ trơ ra như vậy thôi!”

“Phải thay Tổng chỉ huy công trường, đuổi tư vấn giám sát, tư vấn giám sát để chúng tôi chỉ định… Đuổi toàn bộ thầu phụ, lấy toàn bộ thầu phụ của các nhà thầu lớn tại Việt Nam.”

“Còn các ông không chấp nhận như vậy thì chúng tôi báo cáo chính phủ, thay tổng thầu EPC vì không đủ năng lực…”

Ông bộ trưởng khẳng định ngay cả khi câu chuyện liên quan tới vốn vay “thì chúng tôi báo cáo chính phủ dừng vay vốn này”.

“…không thể đánh đổi quyền lợi của người Việt Nam, không thể đánh đổi tính mạnh của người dân Việt Nam.”

Hoàn cầu Thời báo nhắc lại thời điểm giữa năm 2014, khi tinh thần bài Trung Quốc dâng cao trong nước Việt Nam sau sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan 981 vào vùng biển mà Việt Nam nói là của mình.

Lúc đó, nhiều doanh nghiệp đã bị đập phá và Trung Quốc phải điều tàu tới sơ tán công dân của họ vì lý do an toàn.

Báo chí Việt Nam và chuyện Nguyễn Bá Thanh

Báo chí Việt Nam và chuyện Nguyễn Bá Thanh

Nguoi-viet.com
Văn Lang/Người Việt

ĐÀ NẴNG (NV) – Thông tin nổi bật trong những ngày qua trên báo chí ở Việt Nam là nhân vật Nguyễn Bá Thanh được đưa từ Mỹ về Đà Nẵng bằng một chuyến bay riêng vì bệnh ung thư máu.

Thời ông Nguyễn Bá Thanh làm bí thư Đà Nẵng, dân bán hang rong ngoài
Quảng Nam-Đà Nẵng phải dạt vô Sài Gòn để “tha phương cầu thực.”
(Hình: Văn Lang/Người Việt)

Tin tức về nhân vật trưởng Ban Nội Chính Trung Ương, phó Ban Chống Tham Nhũng của Đảng CSVN, làm “lu mờ” các tin tức khác, như giàn khoan HD 981 của Trung Cộng đang lởn vởn ngoài khu vực Biển Đông, và cả tin khai mạc Hội Nghị 10 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN chuẩn bị cho kỳ Đại Hội 12 tới.

Nhân vật Nguyễn Bá Thanh làm hao tốn giấy mực và thời gian của công luận gần đây này cũng thật “lạ.”

Là vì, nhậm chức “trưởng Ban Nội Chính” cũng tức là nhận “thượng phương bảo kiếm” được toàn quyền xử lý giống như – Bao Hắc Tử ở phủ Khai Phong ngày xưa bên Tàu.

Nhưng thượng phương bảo kiếm chưa kịp rút ra khỏi vỏ, ngoài vài câu “chém gió” mà chả chết…em ruồi nào. Nhân vật “Hắc tử” này đã vội vàng bay qua Mỹ để trị bệnh, mà lúc đầu có tin đồn lan tràn là bị…đầu độc.

Nhưng báo chí thì đưa tin, mà công luận thì không thấy ai thắc mắc về việc một tay “đỏ gốc” như Nguyễn Bá Thanh lại “cả tin” chạy qua xứ Hoa Kỳ, không sợ bị “thay máu” sao?

Chuyện chính trị thâm sâu chốn cửu trùng, “dân đen” làm sao biết.

Báo chí dẫn lời của một vị phụ trách việc bảo vệ sức khỏe cho các yếu nhân của đảng, là, “Không có chuyện đảng bỏ tiền cho cá nhân đi trị bệnh ở nước ngoài!”

Thế ai bỏ tiền? Vì ai cũng biết “đồng chí” Nguyễn Bá Thanh này nổi tiếng là “công minh liêm chính” mà xứ Mỹ thì chữa bệnh không hề rẻ chút nào, không lận lưng bạc triệu Mỹ kim thì đừng có…mơ.

Báo chí Việt Nam còn loan tin rằng, dân chúng Đà Nẵng “dầm mưa” chờ máy bay chở Nguyễn Bá Thanh trở về. Và an ninh quanh sân bay đã được “siết chặt.” Để làm gì, thì không thấy tờ báo nào nói.

Các báo cũng đưa tin là nhiều người dân lên chùa cầu nguyện cho Nguyễn Bá Thanh, thậm chí có báo còn dẫn lời một người dân “nguyện sẽ ăn chay suốt đời” nếu Nguyễn Bá Thanh khỏi bệnh.

Trên tờ Tuổi Trẻ sáng ngày 6 tháng 1, đi một “phóng sự” nhanh, đề cập tới giới xe Honda ôm, bán hàng rong đang trông ngóng chuyến bay trở về quê cha của Nguyễn Bá Thanh. Bài có dẫn lời của một ông Honda ôm, nhưng không có ai “phát ngôn” cho giới bán hàng rong cả.

Đó là vì lúc còn “trên đỉnh cao quyền lực” tại Đà Nẵng, ông Nguyễn Bá Thanh nổi tiếng về việc “quét sạch” hàng rong, để Đà Nẵng cũng sạch sẽ như…Bình Nhưỡng, thủ đô đỏ của Bắc Hàn.

Vậy mà báo Tuổi Trẻ dám viết phóng sự nói những người bán hàng rong tại Đà Nẵng đang tha thiết ngóng trông ông Thanh về, chả hiểu để làm gì? Trừ khi tờ báo này có “ý đểu” với một VIP không rõ sức khỏe ra sao mà phải về quê cha trên máy bay cứu thương.

Người bán báo dạo kiếm từng đồng bạc nhỏ nhoi. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Từ đó dư luận cũng dấy lên nỗi hồ nghi lâu nay về nền “báo chí cách mạng” Việt Nam. Nhất là sau hàng loạt bài ký tên là “Người trong cuộc” tung hê lên mạng Internet về cách làm báo (ở một trong những tờ báo uy tín hàng đầu). Thay vì đưa tin,các nhà báo này đã “làm tin” hay nói đúng hơn là đã “chế tác tin” từ thô thiển cho đến “cực kỳ tinh xảo.” Điều này phụ thuộc vào tay nghề cũng như sự gian ngoan của mỗi nhà báo trong việc cơ hội với lợi-danh, với triết lý-kiếm tiền và “thờ” minh chủ.

Sau 1986, báo chí đa số thay gì phải “ngửa tay” xin tiền đảng, thì trái lại đã đóng góp cho ngân sách rất nhiều. Có những báo như Tuổi Trẻ đã trở thành một công ty truyền thông với số tài sản kếch xù, nhờ bán báo, kinh doanh, thu tiền quảng cáo, vận động từ thiện…

Giai đoạn thập niên 90, hình thành khái niệm “Tư bản đỏ” ở Việt Nam. Các cơ quan báo chí, truyền thông Việt Nam cũng không nằm ngoài cuộc chơi này. Hình thành một mối tương quan mới giữa chính trị và báo chí. Nhiều tổng biên tập báo bắt đầu “ảo tưởng” về cái gọi là “Quyền lực thứ tư” của mình.

Bất mãn và sợ. Hiệu ứng đó làn truyền trong giới báo chí. Như vậy là công cuộc “định hướng” và “bình định” đám kiêu binh-loạn bút kia đã được hoàn thành một cách xuất sắc?

Chiều 7 Tháng Giêng họp báo về sức khỏe của ông Nguyễn Bá Thanh, bên tuyên giáo yêu cầu báo chí không làm “nóng” vụ này thêm nữa,vì đây chẳng qua là chiêu trò, câu khách, giật gân của báo chí qua tin đồn…đầu độc.

Tuyên giáo “khẳng định” tin đầu độc là tin của bọn “xấu” xuyên tạc, gây hoang mang…và Tuyên giáo hỏi báo chí:

– Bằng chứng đâu mà gọi là đầu độc?

Phóng viên của một tờ báo hỏi ngược lại tuyên giáo:

– Bằng chứng đâu mà bảo là không có đầu độc?

Sư thật nằm ở đâu trong một xã hội khi trống đánh xuôi thì kèn lại thổi ngược?

Đảng ‘nên công bố ngay’ về tín nhiệm lãnh đạo

Đảng ‘nên công bố ngay’ về tín nhiệm lãnh đạo

BBC

H1

Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 10 ‘nên và cần’ công bố ngay thông tin về lấy tín nhiệm với các lãnh đạo cao cấp trong Đảng cũng như về chuẩn bị ‘nhân sự’ cho Đại hội Đảng lần thứ XII để dân được biết, mà không nên giữ kín ‘nội bộ’ như hiện nay, theo nhà quan sát từ trong nước.

Bình luận với BBC hôm 11/01/2015 từ Sài Gòn, ngay sau khi Hội nghị 10 khóa XI hôm thứ Bảy loan báo đã hoàn tất việc lấy phiếu tín nhiệm với ‘các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XI’, cựu thành viên Ban tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, bà Phạm Chi Lan nói:

“Tôi nghĩ rằng những thông tin như tín nhiệm, đặc biệt bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ cao cấp trong Đảng cũng hoàn toàn nên và cần cung cấp cho xã hội, tương tự như Quốc hội.

“Khi họ bỏ phiếu đối với một số chức vụ do Quốc hội bầu hay Hội đồng nhân dân các cấp, thì họ đều công bố ngay trên báo chí và mọi người đều có thể theo dõi và biết được mức độ tín nhiệm của các cơ quan dân cử đó.

“Đến Trung ương Đảng cũng vậy, tôi nghĩ cũng rất cần đưa ra mức độ tín nhiệm đối với các vị lãnh đạo, các vị trí lãnh đạo đã khác như thế nào.”

Chỉ là nội bộ Đảng?

Nếu Đảng đã nhận là mình có vai trò lãnh đạo và chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của mình, thì bộ máy lãnh đạo của Đảng cũng cần phải công bố công khai về việc trách nhiệm ở trong nội bộ Đảng được đánh giá như thế nào

Bà Phạm Chi Lan

Theo cựu Phó Chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các thông tin này cần được công khai hóa vì chúng không chỉ liên quan tới nội bộ Đảng mà còn liên quan tới lợi ích của đất nước, xã hội và toàn dân.

Bà Chi Lan nói: “Bởi vì lãnh đạo Đảng đâu có phải chỉ chuyện của nội bộ Đảng, lãnh đạo Đảng đồng thời cũng là những người lãnh đạo rất cao cấp của đất nước Việt Nam chứ và như trong Hiến pháp cũng nói Đảng là cơ quan lãnh đạo tối cao và chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của mình.

“Cho nên người dân cũng có quyền và cũng cần biết những thông tin về vị trí của các vị lãnh đạo cấp cao trong Đảng được Ban Chấp hành Trung ương đánh giá như thế nào…

“Tôi nghĩ rằng đối với những chức vụ quan trọng trong Đảng, thì phải nói những người được Đảng cử ra để làm các chức vụ trong chính quyền, ví dụ như từ Chủ tịch Nước đến Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội v.v… thì hoặc là ở cấp địa phương, các vị là Bí thư Thành ủy mà đồng thời giữ chức vụ nào đó trong chính quyền, hoặc là trong Hội đồng Nhân dân là đều được đưa ra để lấy phiếu tín nhiệm cả.

“Thế thì những vị còn lại mà chỉ làm chuyên trách công tác Đảng thôi, cũng nên có trách nhiệm một việc tương tự và dù phiếu tín nhiệm các vị được bỏ trong một nội bộ Đảng, nhưng cũng liên quan rất nhiều đến hoạt động của các cơ quan chính quyền.

“Và nếu Đảng đã nhận là mình có vai trò lãnh đạo và chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của mình, thì bộ máy lãnh đạo của Đảng cũng cần phải công bố công khai về việc trách nhiệm ở trong nội bộ Đảng được đánh giá như thế nào,” nhà phân tích kinh tế, chính trị Việt Nam nói với BBC ngay sau khi Hội nghị 10 hôm 10/01 cũng cho hay đã tiến hành ‘lấy ý kiến Trung ương Đảng’ về danh sách bổ sung nhân sự ‘quy hoạch Bộ chính trị và Ban Bí thư’.

Mỗi con gà tại Việt Nam phải nộp 14 loại phí

Mỗi con gà tại Việt Nam phải nộp 14 loại phí
Nguoi-viet.com
HÀ NỘI (NV) – Đó là thống kê của ông Nguyễn Văn Trực, tổng giám đốc tổng công ty Nông Nghiệp Sài Gòn khi tham dự buổi góp ý cho dự luật về thú y tại Sài Gòn hôm 6 tháng 1.

Tại Việt Nam, doanh nghiệp phải nộp 14 loại phí, lệ phí cho mỗi con gà. (Hình: Tiền Phong)

Tại buổi thu thập ý kiến đóng góp cho dự luật thú y do Đoàn Đại Biểu Quốc Hội của thành phố Sài Gòn tổ chức, ông Trực nhấn mạnh, đang có rất nhiều loại phí, lệ phí liên quan tới gia cầm khiến cho chi phí sản xuất và lưu thông tăng vọt. Cũng vì vậy, ông Trực đề nghị, chỉ nên thu phí kiểm dịch đầu vào và đầu ra, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp sản xuất gia cầm theo qui trình khép kín (nuôi gia cầm-giết mổ-chế biến).

Dẫu lạm thu đã là căn bệnh mãn tính và trầm kha tại Việt Nam nhưng thống kê mà ông Trực công bố vẫn khiến công chúng choáng váng.

Người ta tin rằng câu chuyện “mỗi con gà tại Việt Nam phải nộp 14 loại phí” có liên quan đến thực trạng vốn đầu tư vào nông nghiệp (so với GDP) liên tục giảm. Tuy Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp và chính quyền Việt Nam lien tục giới thiệu hang loạt chính sách được tuyên truyền là “ưu đãi” nhằm phát triển “tam nông” (nông dân-nông thôn-nông nghiệp) nhưng năm 2000, đầu tư vào nông nghiệp chỉ chiếm 4.7% GDP, đến năm 2005 giảm xuống còn 3.1%, năm 2010 còn 2.4% và năm 2012 chỉ còn 1.6%.

Bất kể chính quyền Việt Nam hứa hẹn sẽ “tái cơ cấu nông nghiệp” để cải thiện mức sống cho nông dân mà đa số đang thuộc diện nghèo khổ song tính đến năm ngoái, vốn đầu tư của ngoại quốc vào nông nghiệp chỉ chiếm 3.4% số dự án và 1.5% tổng vốn đăng ký.

Hai ngày sau khi tổng giám đốc tổng công ty Nông Nghiệp Sài Gòn tố cáo, “mỗi con gà tại Việt Nam phải nộp 14 loại phí,” hôm 8 tháng 1, ông Cao Đức Phát, bộ trưởng Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam đã yêu cầu thuộc cấp kiểm tra và bãi bỏ ngay những khoản phí bất hợp lý trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Việc kiểm tra được giao cho Vụ Tài Chính của bộ trưởng Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam chủ trì và Vụ Tài Chính phải báo cáo kết quả kiểm tra vào giữa tháng tới.

Thật ra chẳng riêng với gà, dân chúng Việt Nam đã từng kêu “trời” nhiều lần về vô số những chuyện bất cập trong quản lý lĩnh vực nông nghiệp-phát triển nông thôn tại Việt Nam, ví dụ như: Giấy phép kiểm dịch trứng chỉ có giá trị một ngày, kiểm dịch trứng làm giá bán trứng tăng thêm 50 đồng/trái. Việc gọi là kiểm dịch dối với mật ong và con giống trong lĩnh vực thủy sản chỉ được thực hiện theo kiểu “ngó qua, giao giấy rồi thu tiền”…

Lên tiếng sau tố cáo “mỗi con gà tại Việt Nam phải nộp 14 loại phí,” bộ trưởng Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam yêu cầu lãnh đạo các ngành thú y, bảo vệ thực vật, quản lý chất lượng nông-lâm-thủy sản phải tham mưu cho Bộ Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam để hủy bỏ những qui định bất hợp lý nhằm giúp doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp-phát triển nông thôn tiết kiệm cả chi phí lẫn thời gian làm đủ thứ thủ tục rườm rà. Ông Phát nhấn mạnh, trong tháng này phải chấm dứt những chuyện phi lý như “mỗi con gà tại Việt Nam phải nộp 14 loại phí.”

Ít ai tin lời ông Phát.

Chuyện phí, lệ phí làm nông dân khánh kiệt, nông thôn bất ổn, nông nghiệp tuột dốc đã từng được nêu ra tại diễn đàn Quốc Hội Việt Nam hồi tháng 11 năm 2013.

Lúc đó, ông Phát từng thửa nhận, phong trào “người cày bỏ ruộng” bùng lên ở ngoài Bắc và miền Trung là vì nông dân bỏ nông thôn đi làm những công việc khác bởi “có lợi hơn.”

Cũng chính ông Phát thừa nhận, phong trào “người cày bỏ ruộng” phát triển còn vì nông dân phải nộp quá nhiều thứ phí, lệ phí. Dẫu đa số phí, lệ phí là do chính quyền các địa phương đặt định, không phải do ngành nông nghiệp-phát triển nông thôn đề ra nhưng viên bộ trưởng Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam-một trong những nhân vật chính của việc thực thi “chính sách tam nông” không làm gì cả mà chỉ đăng đàn để giải thích với Quốc Hội. (G.Đ)

Ở Sài Gòn có những cuộc gặp gỡ như thế

Ở Sài Gòn có những cuộc gặp gỡ như thế

Chuacuuthe.com

VRNs (11.01.2015) – Sài Gòn – Đó là những cuộc gặp gỡ của các anh thương binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tại Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, số 38 đường Kỳ Đồng, Q.3, Tp. HCM.

150111001

Cuộc gặp gỡ mới nhất đã được tổ chức vào ngày 9.01.2015 với mục đích khám và chữa bệnh cho các anh thương bệnh binh. Trong suốt buổi sáng, các anh đã thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng và buổi chiều lại được các bác sĩ khám bệnh, cho những lời khuyên về chữa trị và phòng ngừa theo hoàn cảnh bệnh tật của từng người. Có cả trên 100 anh cần phải được chữa trị chuyên sâu hơn ở các bệnh viện, các anh được mời ở lại dùng cơm trưa để tiếp tục công việc khám chữa bệnh vào buổi chiều. Thế là trước và sau khi được gặp các bác sĩ, các anh đã ngồi quây quần chuyện vãn với nhau, kể cho nhau nghe những chuyện xưa ở đơn vị. Chúng tôi gặp một anh đã mất cả đôi mắt ở mặt trận Snoul (Hạ Lào), từ vùng Gia Kiệm được cô cháu nội dẫn về. Cháu bé mới chỉ khoảng 12 tuổi mà đã có thể dẫn ông trên chặng đường dài lạ lẫm này. Anh chỉ cháu gái và không ngần ngại xác nhận đây là nguồn an ủi của đời anh, còn mọi sự anh phó thác trong tay Chúa.

150111003

Trước lúc dùng cơm, 5, 10 phút sinh hoạt bỏ túi, một anh cựu chiến binh Lữ Đoàn Dù, bằng đôi chân giả, nhưng anh vẫn đứng vững vàng để hát tặng bè bạn bài “Xuân Này Con Không Về”, một anh trước đây thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh góp vui bằng bài: “Tình Cha”, anh vóc dáng trẻ trung, tóc đen láy, anh cho biết vào ngày 30.04.1975, anh mới 24 tuổi. Anh về lại cuộc sống đời thường chỉ với một con mắt.

Người dẫn chương trình đã đưa một vài tin vui, như việc các Dì Dòng Mến Thánh Giá Nha Trang đã cải táng hơn 400 ngôi mộ vô danh của các chiến sĩ VNCH được chôn vùi vội vã tại một nơi có cái tên rất nên thơ: “Đồi Hoa Sim”, với những chi tiết tỉ mỉ của từng ngôi mộ: Mộ này xác còn cuốn trong sponsor, mộ kia có cái răng vàng, mộ khác vẫn còn cái đinh niken ở ống chân…. May mắn hơn cả, là 74 ngôi mộ còn nguyên chiếc thẻ bài cùa người lính, như vậy là không còn vô danh nữa, và đã có một vài gia đình đến nhận. Chuyện vui nữa là các tử sĩ VNCH ở đồi Charlie, Đaktô, Kontum đã được các chiến hữu cải táng về Chơn Thành, Bình Phước và lập khu mộ với Bia Tưởng Niệm. (Huỳnh Công Thuận, “Dân Làm Báo” ngày 5.01.2015). Trước lúc cầm đũa, sau khi Cha Bề Trên Giám Tỉnh Vinh Sơn Phạm Trung Thành dâng lời cảm tạ Ơn Trên, các anh đã không quên cầu xin Thượng Đế đón nhận các tử sĩ chiến hữu về Cõi Phúc Muôn Đời.

150111004150111002

Tôn chỉ của Dòng Chúa Cứu Thế là đến với những người nghèo, những linh hồn tất bạt. Nghèo được hiểu không chỉ nghèo tiền bạc, nhưng nghèo về tình thương và thân phận cũng là những đối tượng của Dòng. Kể từ ngày 30.04.1975, những anh thương binh VNCH đã bị đẩy sang bên lề xã hội và trở nên người nghèo về nhiều phương diện. DCCT Việt Nam đã chọn đúng đối tượng để phục vụ.

Vũ Sinh Hiên

Một học sinh lớp 6 thiệt mạng sau khi bị cô giáo đánh

Một học sinh lớp 6 thiệt mạng sau khi bị cô giáo đánh

Bàn thờ em Lê Thị Phước Hải 11 tuổi, thiệt mạng sau khi bị cô giáo đánh đòn. (Ảnh: Facebook của Khải Hoàn, mẹ em Hải).

Bàn thờ em Lê Thị Phước Hải 11 tuổi, thiệt mạng sau khi bị cô giáo đánh đòn. (Ảnh: Facebook của Khải Hoàn, mẹ em Hải).

Trà Mi-VOA

09.01.2015

Một học sinh cấp hai ở TP HCM thiệt mạng sau khi bị cô giáo đánh đòn hôm 6/1.

Em Lê Thị Phước Hải 11 tuổi học lớp 6/7 trường trung học Phan Bội Châu, quận Tân Phú, đã tử vong sau khi bị cô giáo dạy môn Công nghệ cặp những chiếc thước học sinh lại đánh vào mông.

Báo Tuổi Trẻ ngày 9/1 nói em bị cô giáo tên Vy phạt là vì không thuộc bài, nhưng bạn bè cùng lớp cho gia đình em biết Hải bị phạt vì nói chuyện trong giờ học.

Gia đình Hải cho hay em có bệnh sử động kinh được điều trị từ năm lớp 2 tới nay và gia đình đã thông báo bệnh trạng của Hải cho nhà trường và bạn bè biết để tránh những trường hợp đáng tiếc xảy ra với em.

Thế nhưng, theo lời kể của các nhân chứng là bạn cùng lớp, em Hải đã bị cô Vy bắt nằm lên bàn và dùng nhiều chiếc thước đánh dù em đã van xin cô hãy đánh vào tay và các bạn cùng lớp cũng xin cô tha cho em vì Hải bị bệnh.

Em Hải có bệnh sử động kinh, và gia đình đã thông báo bệnh trạng của Hải cho nhà trường và bạn bè biết để tránh những trường hợp đáng tiếc xảy ra với em.

Em Hải có bệnh sử động kinh, và gia đình đã thông báo bệnh trạng của Hải cho nhà trường và bạn bè biết để tránh những trường hợp đáng tiếc xảy ra với em.

Sau 4 lần roi của cô Vy, em Hải ngất xỉu, rơi từ trên bàn xuống, tiểu ra quần, nhưng cô Vy không đỡ em lên vì nghi em giả vờ.

Sau đó, Hải được đưa xuống phòng y tế và chuyển đi cấp cứu nhưng tim em đã ngừng đập trước khi tới bệnh viện.

Bà Khải Hoàn, mẹ em Hải, cho VOA Việt ngữ biết gia đình không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cô giáo Vy vì không muốn hình hài nhỏ bé của em bị mổ xẻ tử thi theo quy định điều tra.

Vụ việc này một lần nữa khơi dậy làn sóng phẫn nộ trong công luận Việt Nam vốn lâu nay bức xúc trước tệ nạn đạo đức sư phạm xuống dốc, bạo lực học đường leo thang, với rất nhiều vụ giáo viên hành hạ, đánh đập học sinh bị phơi bày lên các phương tiện truyền thông xã hội.

Bà Khải Hoàn, mẹ em Hải, nói với VOA Việt ngữ:

“Gia đình tôi đã nhiều lần nói với nhà trường rằng em học được thì học, không thì thôi, không sao hết, trả em về nhà không sao hết vì em có chứng bệnh động kinh. Vậy thì tại sao cô giáo vẫn đánh? Đâu có được phép đánh học sinh, huống hồ là đối với một người bệnh. Hơn nữa, các bạn cùng lớp đã la lên ‘Cô ơi bạn Hải bị bệnh đó’ mà tại sao vẫn ngoan cố đánh? Nói là phải mổ tử thi con tôi thì tôi không bao giờ tôi thưa. Tùy theo lương tâm của bậc làm cha mẹ, của những phụ huynh có con em học trường này, tôi để cho tòa án lương tâm và dư luận xã hội muốn làm gì thì làm.”

Cô giáo Vy (Ảnh: Facebook của bà Khải Hoàn, mẹ em Hải)

Cô giáo Vy (Ảnh: Facebook của bà Khải Hoàn, mẹ em Hải)

Bà Hoàn nói dù gia đình bà không thưa kiện cô Vy ra tòa, nhưng Bộ Giáo dục và các ban ngành hữu trách phải có biện pháp thỏa đáng để chấn chỉnh đạo đức học đường và lương tâm-trách nhiệm nghề giáo, cũng như tránh để tái diễn những thảm kịch tương tự trong tương lai.

“Không xử lý nghiêm khắc, cô giáo này sẽ tiếp tục làm chết thêm một em học sinh khác nữa. Ngành giáo dục Việt Nam phải xem lại, làm thế nào mà để tình trạng chết người xảy ra như vậy. Ngành giáo dục phải kiểm tra lại vì tôi thấy nhiều trường hợp quá.”

Sau cái chết của em Hải, cô giáo Vy đang tạm thời bị ngưng công tác.

Gia đình nạn nhân cho biết họ rất bất bình trước biện pháp xử phạt đối với cô Vy, người từng đánh chảy máu tay một học sinh trước trường hợp tử vong của em Hải, theo lời bà Hoàn.

Phú Yên: Phải kiểm điểm vì ‘bịt miệng’ luật sư bất thành

Phú Yên: Phải kiểm điểm vì ‘bịt miệng’ luật sư bất thành

Nguoi-viet.com
PHÚ YÊN (NV) – Đại diện Tỉnh Ủy Phú Yên vừa loan báo, cơ quan này đã yêu cầu tòa án, Viện Kiểm Sát và công an thành phố Tuy Hòa phải “kiểm điểm, rút kinh nghiệm” vụ Luật Sư Võ An Đôn.

Những vết thương trong số 70 vết thương trên thi thể ông Ngô Thanh Kiều.
Luật sư đòi công lý cho ông Kiều suýt bị thu hồi chứng chỉ hành nghề. (Hình: Internet)

Ông Võ An Đôn là người tình nguyện bảo vệ quyền lợi cho ông Ngô Thanh Kiều – một nạn nhân bị công an thành phố Tuy Hòa tra tấn đến chết để ép phải thừa nhận đã trộm cắp.

Hồi tháng 5 năm 2012, một nhóm công an thành phố Tuy Hòa bắt giữ ông Kiều vì cho rằng ông dính líu đến một vụ trộm cắp. Ngày hôm sau ông Kiều chết. Pháp y xác định trên người ông Kiều có 70 vết thương. Ngoài việc bị nứt sọ, chấn thương não, ông Kiều còn bị dập phổi gan, thận.

Sự kiện vừa kể khiến dân chúng thành phố Tuy Hòa nổi giận. Họ đòi công an phải truy cứu trách nhiệm những kẻ đã tra tấn ông Kiều đến chết. Đám đông chỉ giải tán sau khi giám đốc công an tỉnh Phú Yên hứa hẹn sẽ điều tra và xử lý những kẻ lạm quyền khi thi hành công vụ.

Một năm sau, Viện Kiểm Sát thành phố Tuy Hòa mới công bố quyết định truy tố bốn sĩ quan công an của thành phố Tuy Hòa và một sĩ quan công an của tỉnh Phú Yên, đã “dùng nhục hình” với ông Ngô Thanh Kiều.

Cáo trạng xác định, các điều tra viên đã còng ông Kiều vào ghế và thay nhau dùng dùi cui tra tấn, buộc ông nhận tội. Khi ông Kiều lả đi, họ mới đưa ông đến bệnh viện nhưng ông Kiều chết trên đường đi cấp cứu.

Phải mất thêm gần một năm nữa, vào cuối tháng 3-đầu tháng 4 năm nay, hệ thống tư pháp Việt Nam mới đưa năm sĩ quan tra tấn ông Kiều tới chết ra xử sơ thẩm. Tuy nhiên, chỉ có một sĩ quan cấp thấp nhất (thiếu úy) bị phạt 5 năm tù, một thiếu tá bị phạt 2 năm tù, một thượng úy bị phạt 18 tháng tù, còn một thiếu tá và một trung úy được hưởng án treo vì đã “dùng nhục hình.”

Bản án sơ thẩm vụ Ngô Thanh Kiều khiến công chúng Việt Nam nổi giận. Ngay cả thẩm phán của một số tòa án khác cũng cho rằng bản án không thỏa đáng. Theo họ, truy tố, xét xử năm sĩ quan này về tội “dùng nhục hình” là chưa chính xác, phải xem đó là “giết người.” Đó là chưa kể việc điều tra, truy tố, xét xử có dấu hiệu bao che, đổ hết tội cho viên sĩ quan có cấp bậc thấp nhất, bỏ qua trách nhiệm của ông Lê Đức Hoàn, thượng tá, phó công an thành phố Tuy Hòa, kẻ chỉ đạo bắt ông Kiều trái pháp luật.

Trước sự phẫn nộ của công chúng, nhiều viên chức, trong đó có chủ tịch nhà nước Việt Nam cũng đề nghị phải xem lại việc điều tra, xét xử vụ bắt giữ trái pháp luật, tra tấn – ép nhận tội khiến ông Kiều uổng tử.

Đến đầu tháng 7, tòa án tỉnh Phú Yên đưa vụ ông Ngô Thanh Kiều bị tra tấn đến chết ra xử phúc thẩm. Bản án sơ thẩm bị hủy và tòa yêu cầu điều tra lại từ đầu. Đến lúc này ông Lê Đức Hoàn, thượng tá, phó công an thành phố Tuy Hòa, mới bị khởi tố.

Ông Võ An Đôn được xem là người đã góp phần đáng kể trong việc hệ thống tư pháp Phú Yên phải hủy bản án mang tính bao che, lôi những sĩ quan công an cao cấp hơn ra trước vành móng ngựa.

Tuy nhiên ngay sau đó, tòa án, Viện Kiểm Sát và công an thành phố Tuy Hòa cùng ký vào một văn bản, gửi Sở Tư Pháp tỉnh Phú Yên và Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên, yêu cầu thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của ông Võ An Đôn.

Văn bản này khiến công chúng và báo giới Việt Nam tiếp tục nổi giận. Sau đó, Sở Tư Pháp Phú Yên và đoàn luật sư tỉnh Phú Yên chính thức đề nghị tòa án, Viện Kiểm Sát và công an thành phố Tuy Hòa cung cấp bằng chứng về cái gọi là “sự xúc phạm hệ thống tư pháp của ông Đôn.”

Mới đây, ông Trần Quang Nhất, phó chủ tịch kiêm ủy viên của Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Phú Yên, bảo rằng, cách hành xử của tòa án, Viện Kiểm Sát và công an thành phố Tuy Hòa là không đúng.

Ông Nhất cho biết, những “bằng chứng” mà tòa án, Viện Kiểm Sát và công an thành phố Tuy Hòa cung cấp không đủ để chứng minh ông Đôn đã “lợi dụng việc hành nghề luật sư có lời lẽ thiếu văn hóa, xúc phạm đến người tham gia tố tụng trong vụ án và nhiều đồng chí lãnh đạo đương nhiệm khác trong các ngành nội chính. Sau khi phiên tòa kết thúc, luật sư Đôn tiếp tục có nhiều lời nói, bài viết, trả lời phỏng vấn bình luận đăng tải trên các mạng xã hội, các diễn đàn trong nước, quốc tế cung cấp nhiều thông tin, nội dung sai lệch không đúng sự thật khách quan của vụ án.” (G.Đ)

Hai vụ giết người tàn độc xảy ra trong một ngày

Hai vụ giết người tàn độc xảy ra trong một ngày

Nguoi-viet.com

ÐỒNG NAI (NV) Chỉ vì những mâu thuẫn bình thường trong đời sống hàng ngày mà các hung thủ đã ra tay sát hại người thân, người quen một cách tàn độc.

Tờ Tuổi Trẻ cho biết, đến sáng ngày 8 tháng 1, công an tỉnh Ðồng Nai hoàn tất việc khám nghiệm hiện trường vụ án mạng xảy ra giữa đêm khuya tại nhà ông Trần Văn Hùng (42 tuổi), ngụ ấp Cáp Rang, xã Suối Tre, thị xã Long Khánh, khiến chị Trần Thị Ngọc Hậu (18 tuổi), con gái ông Hùng chết tại chỗ và con chị Hậu là cháu Ð.P.L. (16 tháng tuổi) phải nhập viện trong tình trạng nguy kịch.



Lương Vĩnh Phúc, người giết ông Bảo một cách tàn độc. (Hình: Tuổi Trẻ)

Nghi can gây ra vụ án mạng ban đầu được xác định là chồng chị Hậu, ông Ðoàn Huy Hoàng (32 tuổi).

Khoảng 1 giờ cùng ngày, vợ chồng ông Hùng đi cạo mủ cao su về đến nhà thì tá hỏa vì cửa nhà bị khóa trái bên trong. Khi vào được trong nhà, ông Hùng thấy một gói thuốc lá xếp hình một quan tài và một chai thuốc trừ sâu để ở giữa nhà.

Ông Hùng tiếp tục chạy vào giường con mình nằm ngủ thấy máu chảy lênh láng và thấy chị Hậu nằm gục trên giường, còn cháu Long đang nằm thoi thóp với vết đâm ở ngực. Ông Hùng đã đưa hai mẹ con đi bệnh viện cấp cứu. Tuy nhiên, chị Hậu đã chết trước đó.

Qua xác minh trong đêm, công an phát hiện ông Hoàng nằm bất tỉnh tại nhà mình, cách hiện trường khoảng 500m có mùi thuốc trừ sâu nồng nặc và nhanh chóng đưa ra bệnh viện Suối Tre cấp cứu. Còn cháu L. chuyển lên bệnh viện Chợ Rẫy.

Theo ông Hùng, vợ chồng chị Hậu lấy nhau được hai năm và sống bên nội. Hàng ngày, chị Hậu gởi con cho ông bà nội trông coi, đi làm công nhân tại khu công nghiệp Trảng Bom. Còn ông Hoàng không có việc làm, ở bên nội nhưng thường xuyên qua nhà ông Hùng kiếm chị Hậu gây gổ. Thời gian gần đây giữa chị Hậu và Hoàng thường có mâu thuẫn.

Cũng theo Tuổi Trẻ, cùng thời điểm trên, khoảng 0g ngày 8 tháng 1, Lương Vĩnh Phúc (29 tuổi) ở thôn 12, xã Ðắk Sin, huyện Ðắk R’lấp, tỉnh Ðăk Nông đã đến công an huyện Ðắk R’lấp để đầu thú, tự khai nhận hành vi giết người, đồng thời giao nộp con dao là hung khí gây án cho cơ quan điều tra.

Trước đó một ngày, hôm 7 tháng 1, khi vào thăm rẫy ở xã Ðắk Sin, huyện Ðắk R’lấp, Ðắk Nông, người dân tìm thấy ông Phạm Văn Bảo (35 tuổi), trú tại thôn Quảng Trung, xã Nghĩa Thắng, huyện Ðắk R’lấp, đã chết trong tư thế đang nằm trên võng, với hàng chục nhát, trong đó có một nhát chém đứt đầu nạn nhân rất tàn độc.

Theo lời tự thú của ông Phúc, vào trưa ngày 7 tháng 1, trong lúc đang cùng người nhà xay cà phê thì ông Bảo đi xe máy tới. Vừa tới nơi, ông Bảo không nói gì với ông Phúc mà dựng xe máy trước sân và đi thẳng vào võng nhà ông Phúc nằm.

Khoảng 30 phút sau, ông Phúc vào nhà để uống nước và lấy dụng cụ sửa máy xay thì thấy ông Bảo mở mắt nhìn mình nhưng không nói gì.

Do trước đây đã có mâu thuẫn, thấy vậy ông Phúc nghĩ ông Bảo có ý định thách thức mình nên nảy sinh ý định giết chết. Thế là liền lấy dao phát dưới gầm giường chém liên tiếp khiến ông Bảo chết tại chỗ.

Nguyên nhân hai vụ án đang được công an tiếp tục điều tra làm rõ. (Tr.N)

Thủy điện VN là món nợ lớn với dân’

Thủy điện VN là món nợ lớn với dân’

Giải quyết hậu quả của các dự án thủy điện với nông nghiệp, nông dân và nông thôn đang là ‘món nợ’ của nhà nước với dân, theo chuyên gia chính sách từ Việt Nam.

Trao đổi với BBC hôm 09/01/2015, nhà nghiên cứu chính sách công Phạm Quý Thọ từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng Việt Nam hiện đang phải ‘trả giá’ trong lĩnh vực năng lượng do việc ‘tăng trưởng nóng’ từ phát triển ‘tùy tiện’ các dự án thủy điện, thủy lợi trong cả nước nhiều năm qua.

Phó Giáo sư Thọ cho rằng có ba cơ quan phải chịu trách nhiệm chính đối với các dự án vốn gây xáo trộn dân sinh, phá hoại môi trường và để lại nhiều hậu quả kinh tế, xã hội nghiêm trọng.

PGS Phạm Quý Thọ nói việc giải quyết hậu quả các dự án thủy điện đang là một ‘món nợ’ với dân.

Đó là các Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Ủy ban Nhân dân các cấp.

Nhà nghiên cứu cho rằng nạn phát triển tràn lan thủy điện ‘bằng mọi giá’ xuất phát một phần từ bệnh thành tích, từ cơn đua xin dự án mà trong đó có nhiều liên hệ tới các lợi ích nhóm.

Trong cuộc trao đổi với BBC hôm 09/01/2015, PGS. TS. Phạm Quý Thọ cũng bình luận về các bài học về hoạch định, thực hiện chính sách mà trước mắt để giải quyết hậu quả và về lâu dài là để tránh lặp lại các cách làm không tốt.

Nhà nghiên cứu cũng đề cập tới một số vấn đề liên quan tới có nên làm hay không ‘năng lượng nguyên tử’ ở Việt Nam và nhìn chung cần quan tâm điều gì nhất khi ra các quyết định chính sách trong lĩnh vực năng lượng và phát triển này.

‘Cái nhìn hạn hẹp’

Tạp chí The Economist của Anh vào hôm 9/01 có bài bàn về thủy điện ở Việt Nam. Bài báo cho hay vào năm 2013 Quốc hội nói có 268 dự án thủy điện đang được vận hành với 205 dự án nữa dự kiến sẽ hoạt động vào năm 2017.

“Tuy nhiên cơn sốt thủy điện có cái giá phải trả. Sông và rừng già đã bị tàn phá, và hàng chục ngàn dân làng, thường là người dân tộc thiểu số phải di dời. Nhiều người đã được tái định cư trên đất nghèo. Những người ở lại có nguy cơ lũ quét gây ra bởi công nghệ đập yếu kémi và giám sát không đầy đủ. Trung tâm Phát triển Tái tạo Năng lượng Xanh, một nhóm môi trường tại thủ đô Hà Nội, cho biết việc xây dựng đập kém chất lượng không phải là hiếm và các nhà thi công xây dựng không đếm xỉa gì tới câu hỏi liệu dự án của họ có thể gây tác động dẫn tới động đất hay không.

Khi mưa lớn vào mùa hè và mùa thu, nước lũ tràn tường đập mà không hề có cảnh báo hoặc cảnh báo rất ít

Bài báo cho biết nhiều công ty thủy điện này được sở hữu bởi hoặc liên kết với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), doanh nghiệp nhà nước thua lỗ nhưng làm ăn độc quyền.

“Bởi vì thủy điện là nguồn điện rẻ nhất của Việt Nam, EVN quả quyết rằng đầu tư vào những đánh giá cho biện pháp an toàn cho đập sẽ tiếp tục làm yếu vị thế tài chính của mình. Thực tế là, mặc dù đánh giá ảnh hưởng môi trường có tác động đối với các dự án thủy điện là việc bắt buộc, việc đánh giá này không bao giờ được công bố, theo Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP).

“Một vấn đề là khi các quan chức có quyền lợi trong các dự án thủy điện là họ đặt công suất phát điện lên trên nhu cầu quản lý nước vì lợi ích và sự an toàn của người dân địa phương. Các công ty thủy điện muốn giữ hồ trữ nước của họ càng đầy càng tốt để tạo ra càng nhiều điện trong bối cảnh sông ngòi của Việt Nam cho phép.

“Nhưng cái nhìn hạn hẹp đó có thể làm nông dân mất nước tưới tiêu trong mùa khô. Và khi mưa lớn vào mùa hè và mùa thu, nước lũ tràn tường đập mà không hề có cảnh báo hoặc cảnh báo rất ít. Khi đập bị vỡ vào tháng Tám ở tỉnh Gia Lai, một dân làng nói với báo Thanh Niên rằng tiếng ồn và sự hoảng loạn chẳng khác gì những đợt ném bom từ thời chiến tranh”, báo The Economist cho hay.

KẺ XẤU ĐÃ THẮNG TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

KẺ XẤU ĐÃ THẮNG TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

Tác giả: Uwe Siemon-Netto

(http://www.legion.org/magazine/217890/wrong-side-won)

Người dịch: Trần Văn Minh

01-12-2013

clip_image002

Một phụ nữ Việt đang than khóc bên cạnh xác chồng, được tìm thấy trong số 47 người khác tại một ngôi mộ tập thể gần Huế. Ảnh Corbis

Vào lúc cao điểm của chiến tranh Việt Nam, Ralph White đã tìm cách gia nhập Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ nhưng bị từ chối vì mắt bị chấn thương khi chơi tennis trước đó. Tuy nhiên, khi cuộc chiến đầy biến động gần tới hồi kết thúc hồi tháng 4 năm 1975, ông White khi ấy 27 tuổi, đang ở Sài Gòn, đã làm đúng với phương châm người lính thủy quân lục chiến “luôn luôn trung thành” – chỉ với phương cách dân sự.

Bằng cách khuyến dụ, thuyết phục và khéo léo qua mặt các thủ tục hành chánh, White đã tìm được một phương cách tuyệt vời để cứu thoát 112 nhân viên Việt Nam của Ngân hàng Chase National Bank và những người gia đình của họ: ông chỉ đơn giản nhận bảo trợ tất cả những người đó, trước sự chứng kiến của các thẩm phán Mỹ đang làm nhiệm vụ khẩn cấp tại sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn. Trong khi đối mặt với thất bại sắp xảy ra của đồng minh Hoa Kỳ là người Việt ở miền Nam, người công dân Mỹ này đã đạt được một chiến thắng tuy nhỏ bé nhưng thật nổi bật.

Bốn ngày sau đó, vào ngày 30 tháng 4, xe tăng T-54 của Liên Xô đã hoàn tất cuộc chinh phục của cộng sản đối với miền Nam Việt Nam bằng cách cán qua cổng rào của dinh tổng thống ở Sài Gòn. Ở bên trong, Tổng thống miền Nam, Việt Nam là ông Dương Văn Minh (Big Minh) đề nghị chuyển giao quyền hành. Đại tá Bắc Việt Bùi Tín trả lời: “Không có chuyện chuyển giao quyền lực… Ông không thể chuyển giao cái mà ông không có”.

Đối với tôi, một người Đức, những lời này nghe có vẻ giống các điều khoản của Đồng Minh áp đặt lên đất nước chúng tôi năm 1945, khi tôi còn là một đứa trẻ: đầu hàng vô điều kiện. Sự trớ trêu là trong khi vào cuối Đệ Nhị Thế chiến, một chính phủ rõ ràng là độc ác đã bị buộc phải đầu hàng theo cách này, điều trái ngược lại xảy ra 30 năm sau ở Sài Gòn: một chế độ độc tài toàn trị với các đặc điểm vô nhân đạo đến tận cùng uy hiếp một đối thủ nhân đạo hơn nhiều – mặc dù có những khuyết điểm – vào tình thế đầu hàng vô điều kiện, và được thế giới hoan hô.

Sau thời gian tường thuật về Việt Nam cho một nhà xuất bản lớn nhất của Tây Đức trong khoảng thời gian 5 năm, tôi kết luận rằng: kẻ xấu đã thắng. Không có lý do gì để vui mừng. Tuy nhiên, khi Tổng thống Gerald Ford tuyên bố tại Đại học Tulane ở New Orleans rằng chiến tranh Việt Nam “đã chấm dứt, ít nhất là đối với Hoa Kỳ”, một tuần trước khi miền Nam, Việt Nam cuối cùng đã bị tiêu diệt, ông đã nhận được sự hoan hô nồng nhiệt.

Đáng lẽ ra các phản ứng này nên được kềm lại trước số phận tăm tối của số lượng lớn những người Việt bị chuyển giao. Đối với họ, hành trình tử nạn thực sự chỉ mới bắt đầu với chiến thắng của cộng sản. Khoảng từ 200.000 tới 400.000 người đã bị chết chìm trong khi chạy trốn khỏi đất nước của họ trên những chiếc thuyền đánh cá và thuyền chắp vá tạm bợ, theo Cao ủy LHQ về người tị nạn. Khoảng 65.000 người đã bị hành quyết. Một triệu người bị đẩy vào các trại tập trung, ở đó, 165.000 người bị tra tấn hay bị bỏ đói đến chết. Trong số những người bị giết gồm có 30.000 người trong danh sách tình báo viên của CIA bị sót lại tại tòa đại sứ, theo tường trình của National Review.

Tính theo tỷ lệ, Ralph White thành công vượt trội so với chính phủ Hoa Kỳ: anh đã đem được tất cả người của mình ra, như đã dự tính khi anh tình nguyện chuyển từ Bangkok đến Sài Gòn để làm quyền tổng giám đốc cho chi nhánh Chase ở Việt Nam hai tuần trước khi Sài Gòn thất thủ. Trong báo cáo với cấp trên của mình tại Chase sau này, ông viết rằng “việc duy trì mối liên lạc giữa ngân hàng Mỹ và tòa đại sứ để bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ trong kế hoạch di tản” là “mục đích duy nhất” cho sứ mạng của anh.

“Đọc lại báo cáo của mình làm cho tôi khá tự hào về người đàn ông 27 tuổi này,” Ông White, người bây giờ là một nhà văn ở Litchfield, Connecticut cho biết.

Gần bốn thập niên sau sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, tôi gặp một câu chuyện cảm động về một công dân Mỹ dũng cảm và trung thành với những giá trị của mình như bất cứ người lính nghiêm chỉnh nào. Patricia Palermo là một cô gái tiếp viên hàng không tóc vàng của hãng máy bay Pan Am từ Nebraska, tình nguyện làm tiếp viên trưởng cho các chuyến bay liên tục từ Guam đến Sài Gòn, đưa “những chàng trai trẻ má hồng và tinh thần phấn khởi” ra mặt trận, như cô nhớ lại trong một cuộc phỏng vấn gần đây. “Khi tôi thấy họ một lần nữa 12 tháng sau đó, họ trông giống như những người đàn ông 50 tuổi. Nhiều người bị thương và tàn phế, một số bị đánh thuốc mê. Họ không được phép lên máy bay cho đến khi sau những ‘người trở về’ khác đã được xếp vào khoang hàng hóa – những người nằm trong quan tài kẽm”.

Palermo hiện đang sống ở New York, cho biết trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại rằng bà bị tác động tình cảm dữ dội về các chuyến bay này đến nỗi bà đã loại ra khỏi tâm trí của mình cho đến năm 1980, khi bà xem trên truyền hình về tường thuật trực tiếp cuộc diễu hành đầu tiên vinh danh các cựu chiến binh Việt Nam. “Tôi lập tức lao ra khỏi nhà và cùng tham gia”, bà nhớ lại.

Phần đáng ghi nhớ nhất trong sự nghiệp hàng không của mình trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi Pan Am đem ít nhất 2.000 trẻ sơ sinh, hầu hết là người Mỹ gốc Á đang chờ được nhận làm con nuôi ở Hoa Kỳ, ra khỏi Sài Gòn. “Chúng tôi không được phép rời khỏi máy bay vì hỏa lực địch, nhưng chúng tôi có thể thấy một số bà mẹ tuyệt vọng ném con em của họ qua hàng rào tại Tân Sơn Nhất để được phi hành đoàn chúng tôi đưa đến nơi an toàn. Tôi nhớ một ai đó đưa cho tôi hai em bé giấu trong một cái giỏ. Một lần tôi đếm được hơn 400 trẻ sơ sinh trên chiếc máy bay Boeing 747 của chúng tôi. Trẻ sơ sinh ở khắp mọi nơi, ngay cả trong các ngăn để hành lý phía trên chỗ ngồi, và chúng nó rất yên lặng, luôn luôn yên lặng…. “

Tôi đã chứng kiến sự sụp đổ của Sài Gòn trên truyền hình trong căn chung cư của tôi ở Paris với nỗi đau buồn và tức giận vô cùng. Tôi ngạc nhiên trước việc thi hành hoàn hảo Chiến dịch Gió lốc, đã di tản 1.373 người Mỹ cuối cùng, cộng với 5.595 người Việt Nam và người các nước khác, chủ yếu bằng máy bay trực thăng từ một bãi đáp trên nóc nhà của văn phòng tùy viên quân sự ở Tòa Đại sứ Mỹ ngày 29 và 30 tháng 4. Tôi đã ở đó bảy năm trước trong dịp Tết Mậu Thân và theo dõi từ bên kia đường cuộc tấn công bị đánh bại của cộng sản vào Tòa Đại sứ. Bây giờ họ sắp sửa chiến thắng; vì thế tôi đau buồn.

Tuy nhiên, cơn giận của tôi chủ yếu hướng về các sinh viên và trí thức, những người cổ vũ chiến thắng của cộng sản là một hành động giải phóng. Họ hành xử như thế ở khắp mọi nơi: bên kia sông Seine ở Bờ trái; ở đất nước của tôi, Tây Đức; và ở Hoa Kỳ. Chứng kiến một biển cờ Việt Cộng màu xanh đỏ trên TV làm cho tôi cảm thấy muốn mửa, bởi vì đối với tôi, những màu sắc này tiêu biểu cho các vụ thảm sát tàn khốc mà tôi đã chứng kiến ở Việt Nam.

Chẳng hạn như, một đêm ở Tây Nguyên, tôi đã tình cờ gặp những xác chết bị chặt chân tay của một ông xã trưởng, vợ ông và 12 đứa con của họ, tất cả đã bị các tay sai cộng sản tra tấn. Theo như những người dân làng nói với tôi, gia đình đó đã bị giết chết bởi vì ông xã trưởng vẫn trung thành với chính quyền Sài Gòn. Đó là vào năm 1965. Trong năm 1967 là năm bầu cử, Việt Cộng đã thi hành ít nhất 100.000 hành vi khủng bố như thế chống lại dân thường để ngăn cản họ không đi bỏ phiếu.

Khi xướng ngôn viên Pháp thông báo sự kết thúc của miền Nam Việt Nam, tự nhiên tôi với lấy một cuốn sách nằm trên bàn cạnh giường ngủ của tôi ở khách sạn Continental Palace ở Sài Gòn và tôi mang theo tới Paris: “Hai nước Việt Nam”. Tôi đã từng gặp tác giả cuốn sách, nhà khoa học chính trị Pháp Bernard B. Fall, nhiều lần ở Sài Gòn và Washington trước khi ông bị giết bởi một quả mìn Việt Cộng. Đối với tôi, ông là một trong những chuyên gia sắc bén nhất về Đông Dương. Một đoạn trong cuốn sách của ông đã ám ảnh tôi từ đó đến giờ. Fall trích lời một chiến lược gia chủ yếu của Bắc Việt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã qua đời ngày 4 tháng 10 [năm 2013] ở tuổi 102, nói với các chính ủy của một trong những sư đoàn của ông: “Kẻ thù (có nghĩa là phương Tây) … không có… các phương tiện tâm lý và chính trị để chống lại một cuộc chiến tranh kéo dài”.

Giáp chưa bao giờ nghi ngờ khả năng quân sự của Mỹ, nhưng tin rằng ông đã tìm thấy gót chân Asin của hệ thống dân chủ, như Fall giải thích: “Trong tất cả các khả năng, Giáp kết luận, công luận trong các nền dân chủ sẽ đòi hỏi chấm dứt sự ‘đổ máu vô ích’, hay cơ quan lập pháp của họ sẽ yêu cầu được biết trong bao lâu nữa họ sẽ phải bỏ phiếu gia tăng không ngừng tín dụng khi không có một chiến thắng rõ ràng trước mặt. Đây là những điều luôn luôn bắt ép các nhà lãnh đạo quân sự của các quân đội dân chủ phải hứa hẹn một kết thúc nhanh chóng cho cuộc chiến – để ‘đưa các chàng trai về nhà vào dịp Giáng sinh’ – hoặc buộc các chính trị gia dân chủ phải đồng ý với hầu hết các loại thỏa hiệp nhục nhã, thay vì chấp nhận ý tưởng về chiến dịch chống du kích bán thường trực”.

Phải chăng sự thể thảm khốc này nảy sinh từ thất bại của Washington trong việc đáp trả, như đã hứa, “với lực lượng quân sự đáng kể” đối với bất kỳ vi phạm nào của Bắc Việt trong việc thi hành Hiệp Định Paris 1973, tôi tự hỏi? Hiệp định đã cho phép Hà Nội giữ lại 80.000 quân chính quy ở miền Nam, nhưng không có gì xảy ra khi con số đó tăng lên đến 200.000. Khi thảm kịch Việt Nam diễn ra quá tàn khốc, tôi cũng tự hỏi làm thế nào chúng tôi trong giới truyền thông, bao gồm đại đa số trong chúng tôi không đứng về phía Việt Cộng (một cách công khai hay âm thầm), đã không làm cho độc giả của chúng tôi nhận ra những bằng chứng không thể chối cãi nhất, rằng hầu hết người dân miền Nam không bao giờ ủng hộ cộng sản: từ đầu, chúng tôi, các phóng viên, đã nhìn thấy họ chạy trốn Việt Cộng.

Họ chạy trốn không phải vượt qua sông Bến Hải vào Bắc Việt, cũng không vào cái gọi là vùng giải phóng – “giải phóng” bởi những người cộng sản. Cho đến cuối cùng, những người tị nạn đổ xô về phần thu hẹp của đất nước dưới quyền kiểm soát của Sài Gòn; 2 triệu người đổ vào thành phố Đà Nẵng. Những con đường về Sài Gòn đã quá đông đúc với những gia đình chạy trốn đến nỗi làm chậm lại bước tiến quân của Bắc Việt, và khi mọi chuyện lắng dịu, “thuyền nhân” không những ra đi từ phía Nam với số lượng khổng lồ mà còn từ các cửa khẩu phía Bắc. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam có một cuộc di cư hàng loạt khỏi đất nước như vậy – không phải trong những ngày dưới quyền Trung Hoa, Pháp hay Mỹ. Và điều này được cho là giải phóng? Bằng cách nào đó, lúc đó tôi nghi ngờ và bây giờ đã tin, lối lập luận đó là một trong những thiệt hại của chiến tranh Việt Nam. Và cũng như sự trung thực trí thức.

Một hình ảnh lóe sáng trên màn hình TV ở Paris đã ghi khắc trong tôi nhiều thập niên vì đã đâm sâu vào suy tư của tôi. Hình ảnh cho thấy Phó Tổng thống Miền Nam Nguyễn Cao Kỳ đang cầm lái chiếc trực thăng UH-1A (Huey) hạ cánh trên boong của hàng không mẫu hạm USS Midway. Tôi đã được biết ông Kỳ khá rõ và thích ông. Đúng thế, ông là tướng lãnh hào nhoáng của Không lực Việt Nam, một con công như nhiều nhà quân sự trong suốt lịch sử. Nhưng ông không phải là anh hề quanh co như thường được mô tả.

Sáu năm trước, tháng 5 năm 1969, Kỳ và tôi đã đi du lịch với nhau từ Paris đến vào Sài Gòn, nơi tôi làm phóng sự về các cuộc đàm phán hòa bình của Việt Nam và ông dẫn đầu đoàn đại biểu Sài Gòn. Cuộc trò chuyện giữa chúng tôi lủng củng một cách bất thường, có lẽ bởi vì cả hai chúng tôi biết rằng mọi chuyện đã không diễn ra tốt đẹp ở Paris cho phía của ông; rõ ràng là một nhận thức sai lầm ở Hoa Kỳ và các nơi khác về Tết Mậu Thân năm 1968 đã phá vỡ ý chí của Mỹ để mang cuộc xung đột này đến một kết luận chiến thắng.

“Nhưng chúng tôi đã thắng vào dịp Tết!” Kỳ nổi giận. “Tại sao người Mỹ nghĩ khác đi?”

Tôi trả lời: “Tôi biết, thưa Thiếu tướng, tôi ở Huế trong thời gian ông giành chiến thắng. Nhưng công chúng tại Hoa Kỳ và Âu châu đã nhận được thông tin khác nhau”.

Tại Huế, tôi đã đứng bên mép một ngôi mộ tập thể, chứa thi thể của ít nhất 1.000 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị những người cộng sản tàn sát. Một nhóm truyền hình Mỹ lảng vảng quanh hiện trường một cách vô định. “Tại sao bạn không quay phim cảnh này?” Đồng nghiệp của tôi, Peter Braestrup, báo The Washington Post, hỏi họ. Người quay phim của họ trả lời: “Chúng tôi đến đây không phải để tuyên truyền chống cộng sản”.

Tôi đã nói với Kỳ điều này, và ông ta đã không bình luận. Ông ta biết tôi biết rằng chiến thắng quân sự của Mỹ và VNCH vào dịp Tết đã bị biến thành một thất bại chính trị khi Walter Cronkite tuyên bố chiến tranh không thể thắng trên CBS trong một chuyến thăm ngắn sau Tết. Điều này trái ngược hẳn với những gì nhiều người trong chúng tôi, phóng viên chiến trường, đã chứng kiến và tường thuật từ Huế. “Nếu tôi mất Cronkite, tôi mất Trung Mỹ”, Tổng thống Lyndon B. Johnson được cho là đã nói như thế. Tôi chia sẻ cảm giác mất mát của Tổng thống và không bao giờ tha thứ thần tượng Cronkite về hành động bất cẩn báo chí của ông.

Ông Kỳ nhìn chằm chằm vào cánh cửa dẫn đến buồng lái của chiếc máy bay Air France.

“Tại sao ông cứ nhìn vào đó?” Tôi hỏi ông.

“Tôi chỉ muốn trở lại làm một phi công,” ông nói khẽ.

Cuộc chạy thoát của ông đến Midway bằng chiếc Huey đánh dấu sự nghiệp bay của ông kết thúc.

Một vài năm trước đây, tôi dạy một lớp báo chí cao cấp tại Đại học Concordia, Irvine, California. Chúng tôi tập trung vào cộng đồng tị nạn người Việt lớn mạnh và thành công tại Quận Cam. Sinh viên Kellie Kotraba, bây giờ là một nhà báo thành công ở Missouri, đã xem qua nghiên cứu của một nhóm gồm tám nhà nghiên cứu nổi tiếng dẫn đầu bởi bác sĩ tâm thần Richard F. Mollica của đại học Harvard, có tiêu đề “Sự bất thường cơ cấu não bộ và di chứng sức khỏe tâm thần nơi những cựu tù nhân chính trị miền Nam Việt Nam, những người đã sống sót sau chấn thương đầu và tra tấn”.

Nghiên cứu, được Hiệp hội Y khoa Mỹ công bố, cho thấy hàng ngàn tù nhân chính trị trước đây hiện đang sống tại Hoa Kỳ vẫn phải chịu đựng nặng nề từ hậu quả của tra tấn gây ra cho họ trong thời gian bị giam cầm nhiều thập niên trước đây. “Phải trên 100.000 người như họ,” Mollica nói với Kotraba, người sau đó đã yêu cầu Tòa Đại sứ Việt Nam tại Washington bình luận. Cô nhận được một lời từ chối qua điện thư từ tùy viên báo chí của Tòa Đại sứ, Tùng Phạm, với lời lẽ: “Thông tin nói rằng các tù nhân của trại cải tạo (sic) đã (sic) bị tra tấn là hoàn toàn không đúng sự thật”.

Chuyện này chẳng có gì lạ. Đáng ngạc nhiên hơn là một thực tế rằng các nghiên cứu của Mollica ít được chú ý trong giới truyền thông Mỹ khi nghiên cứu được công bố năm 2009, và khi tôi cung cấp những câu chuyện hấp dẫn của Kotraba cho nhiều nhà xuất bản, các biên tập viên của họ không mấy thích thú.

Tôi tự hỏi: tại sao các biên tập viên Mỹ làm ngơ trước thông tin về sự khổ đau ở quy mô lớn như vậy đang xảy ra, hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam? Có một sự tương đồng mạnh mẽ giữa những gì đã xảy ra ở một số trong 300 ngục tù cộng sản ở Việt Nam với các trại tập trung ở vùng chiếm đóng của Đức Quốc xã ở Âu châu. Tôi vừa đọc xong một bản dịch tiếng Pháp về trường hợp của Cha Andrew Nguyễn Hữu Lễ, một linh mục Công giáo hiện đang sống ở New Zealand, về 13 năm của cha trong điều kiện giam giữ của cộng sản, 2.020 ngày cha trải qua trong cùm sắt – gây ra những vết thương mưng mủ với giòi bọ nảy nở.

Trong “Je dois vivre” (“Tôi phải sống”), Lễ mô tả chi tiết khủng khiếp như thế nào về bạn tù Đặng Văn Tiếp, một cựu đại úy quân đội VNCH và là thành viên của Quốc hội, đã bị giết chết trong sự vui mừng của đám đông quan chức cộng sản và vợ con họ hò hét đầy phấn khích. Ông bị bắt buộc phải uống một lượng lớn nước. Sau đó, tù nhân tay sai Bùi Đình Thi, cai tù tàn bạo nhất trong trại tù Thanh Cẩm, nhảy lên bụng của Tiệp cho đến khi nổ tung và ruột đổ ra ngoài. Tiệp chết.

Thi từng là một đại úy trong quân đội VNCH. Kẻ bị giam cầm tại Thanh Cam gọi ông là “Kapo”, một thuật ngữ được sử dụng cho những “kẻ được tin dùng” trong các trại tập trung của Đức Quốc xã. Giống như một số cựu Kapo Đức Quốc xã, ông đã tới Hoa Kỳ. Ông đã bị phát hiện tại Garden Grove, California, bị bắt giữ và bị trục xuất. Theo tin tức sau cùng, ông sống ở quần đảo Marshall.

Trong cuốn sách của mình, Lễ mô tả các nỗi ám ảnh thường xuyên của ông, trong đó gồm đau bụng dữ dội. Nỗi ám ảnh là một triệu chứng mà nhiều cựu chiến binh Mỹ biết quá rõ. Khi tôi làm việc với vai trò tuyên úy tập sự trong số những người này tại các trung tâm y tế Cựu Chiến binh ở St. Cloud, Minnesota, Tôi đã gặp một người làm bánh từ St. Paul, ông có cơn ác mộng cứ tái diễn. Mỗi ngày, ông mơ màng về một sự kiện gần Đà Nẵng. Ông đang ngồi ở ghế sau của một chiếc xe tải quân sự và thấy một cậu bé kéo chốt một quả lựu đạn, sẵn sàng liệng vào xe tải, có lẽ sẽ giết chết toàn bộ tiểu đội.

Người lính đã giết đứa trẻ. Nhưng rồi, đêm đêm, ông nhìn thấy khuôn mặt méo mó của cậu bé đã chết. “Đứa bé ấy khoảng 8 tuổi,” người cựu chiến binh nói, “bây giờ tôi có con sinh đôi và trong giấc mơ của tôi, khuôn mặt của đứa trẻ khoác lên hình ảnh con tôi”. Đây là một trong những câu chuyện buồn nhất tôi được nghe trong thời gian tập sự của tôi, đó là một phần của giáo dục thần học mà tôi đã bắt đầu vào khoảng giữa đời, có lẽ để trả lời cho những kinh nghiệm làm phóng viên ở Việt Nam.

Nhưng có điều gì đó tồi tệ hơn mà tôi tìm thấy trong số những cựu chiến binh Việt Nam: hầu hết mỗi thành viên của ba nhóm chăm sóc mục vụ mà tôi hướng dẫn, cùng với một nhà tâm lý học, đã bị xem là một kẻ sát hại trẻ em trong vòng 24 giờ đầu tiên sau khi từ giã chiến tranh. Một người thậm chí còn được yêu cầu không trở lại nhà thờ cho đến khi tóc của ông mọc trở lại, và xin xuất hiện trong bộ quần áo dân sự.

Hầu hết những người trong nhóm của tôi tin vào Thiên Chúa, nhưng nghĩ rằng Chúa đã bỏ rơi họ ở Việt Nam. Vì vậy, họ đã “quẳng Chúa đi”, theo kiểu họ gọi. Tôi đã viết một luận án thần học cho các cựu chiến binh Việt Nam với tựa đề “Sự tha thứ của Chúa”, nhắc nhở họ về cái nhìn sâu sắc của nhà thần học tử đạo người Đức Dietrich Bonhoeffer. Ông nói rằng loài người được kêu gọi để “chịu đau khổ với Chúa trong một thế giới vô thần”, mà trong trường hợp của họ hàm ý Chúa đang đau khổ với họ và luôn hiện diện với họ trong đau khổ – cả ở Việt Nam và sau khi họ trở về. Vì vậy, Chúa không bỏ rơi họ nhưng là người cùng chịu đau khổ với họ. Nhiều người trong số bệnh nhân tìm thấy ý nghĩ này hấp dẫn.

Cho đến hôm nay, tôi nghe các cựu chiến binh Việt Nam hỏi: “Phải chăng sự hy sinh của chúng ta vô ích?” Là một phóng viên chiến trường lớn tuổi, tôi không thể trả lời câu hỏi này một cách sáng tỏ. Nhưng là một nhà thần học tôi có câu trả lời. Trong bài tiểu luận nổi tiếng, “Ngay cả binh lính cũng có thể được giải thoát”, Martin Luther so sánh công việc của binh sĩ với bác sĩ giải phẫu, có thể phải cắt bỏ chân tay của bệnh nhân để cứu các phần còn lại của cơ thể. Thông thường bệnh nhân chết trong vài ngày hoặc vài tháng sau khi phẫu thuật. Nhưng liệu điều này có nghĩa là ca giải phẫu vô ích?

Là một phóng viên chiến trường, tôi thấy đại đa số các binh sĩ Mỹ và Việt Nam tận tình với công việc phục vụ người khác. Kẻ xấu đã thắng; điều này là sự thật. Là một nhà thần học, tôi phải nói thêm: con người không phải là chủ thể của lịch sử, và lịch sử luôn luôn rộng mở cho tương lai. Có thể sẽ mất nhiều thập niên nữa cho đến khi chúng ta nhìn thấy sự hy sinh của những người lính ở Việt Nam (thời xưa) đơm hoa kết trái và chế độ cộng sản biến mất, như các chế độ độc tài khác đã từng biến mất trong quá khứ. Có lẽ tới khi đó, thế giới sẽ khám phá ra rằng máu của người Mỹ và các đồng minh đổ ra ở Việt Nam trở thành hạt giống của một chiến thắng đặc biệt hơn chiến thắng mà họ đã bị từ chối ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Tác phẩm mới nhất của Uwe Siemon-Netto là “Đức: Thâm tình của một phóng viên với thương binh Việt Nam”.

https://anhbasam.wordpress.com/2015/01/07/3257-ke-xau-da-thang-trong-cuoc-chien-viet-nam/

Kháng thư phản đối án tử hình tại Việt Nam

Kháng thư phản đối án tử hình tại Việt Nam

Hòa Ái, phóng viên RFA
2015-01-07

hoaai01072015.mp3

dasua3-622.jpg

Bố mẹ và con gái của Anh Nguyễn Văn Chưởng kêu oan cho Anh.

Một kháng thư phản đối án tử hình tại Việt Nam của các tổ chức dân sự độc lập đồng ký tên vừa được phổ biến rộng rãi trong và ngoài nước, kêu gọi người Việt khắp nơi cùng tham gia.

Góp tiếng nói cứu mạng người

Kháng thư phản đối án tử hình tại Việt Nam của nhiều tổ chức dân sự độc lập trong nước đồng ký tên lần đầu tiên được công bố trong bối cảnh dư luận xôn xao về 2 án tử hình của tử tù Nguyễn Văn Chưởng ở Hải Dương và tử tù Hồ Duy Hải ở Long An. Theo thông tin từ gia đình và luật sư cho biết đây là 2 vụ án oan sai. Cả 2 tử tù bị giam 7, 8 năm trong tù và gia đình đã khiếu kiện trong ngần ấy năm nhưng không được giải quyết. Những ngày cuối năm 2014 và đầu năm 2015, hình ảnh kêu oan ngưng thi hành án tử hình của người thân gia đình 2 tử tù được truyền đi khắp các trang mạng xã hội với kỳ vọng công luận cùng góp một tiếng nói để cứu một mạng người.

Chúng tôi thấy rằng án tử hình là vô nhân đạo, không văn minh, không giải quyết được gì cả và nhất là ở Việt Nam thì án tử hình đã được thực thi từ rất lâu.
-LM Phan Văn Lợi

Kháng thư ra đời không những kêu gọi các cơ quan chức năng có thẩm quyền xét xử lại 2 án tử hình này mà còn lên tiếng về việc chính quyền Hà Nội vẫn áp dụng án lệnh tử hình tại Việt Nam. Linh mục Phan Văn Lợi, một trong những người khởi xướng cho biết nguyên nhân hình thành của kháng thư:

“Chúng tôi thấy rằng án tử hình là vô nhân đạo, không văn minh, không giải quyết được gì cả và nhất là ở Việt Nam thì án tử hình đã được thực thi từ rất lâu, đặc biệt sau năm 1975 với việc đã tử hình rất nhiều người trong quân dân cán chính VNCH bị đưa vào trong các trại cải tạo, cũng như là những tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị đã bị xử bắn và từ năm 1975 cho đến hôm nay có rất nhiều tù nhân hình sự có án tử chịu hành hình… Chính đó là một vấn đề làm nhức nhối lương tâm của con người và là một thách thức trước nền văn minh nhân loại cho nên chúng tôi nghĩ rằng cần phải lên tiếng để yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam phải học theo văn minh của loài người hủy bỏ án tử hình”.

Việt Nam có trên 500 tử tù

ho-duy-hai-622

Hồ Duy Hải trước tòa (trên) và bà Nguyễn Thị Loan mẹ của tử tù Hồ Duy Hải (hình phía dưới).

Theo số liệu của Tổ chức Ân xá Quốc tế, Việt Nam có trên 500 tù nhân bị kêu án tử hình vào thời điểm cuối năm 2012. Và theo thống kê của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam thì hiện tại con số này lên đến hơn 700 tử tù. Trong năm 2014, khoảng 50 tù nhân đã bị hành hình. Thế nhưng con số những tử tội xấu số bị thiệt mạng do oan sai như Hồ Duy Hải hay Nguyễn Văn Chưởng là bao nhiêu thì vẫn còn là ẩn số.

Cựu tù nhân lương tâm-Nguyễn Bắc Truyển, thành viên của Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam, ký tên trong “Kháng thư phản đối án tử hình tại Việt Nam” chia sẻ rằng trong thời gian thụ án tù ông gặp rất nhiều người bị án oan sai do bị ép cung, bị đánh đập, bị tra tấn để làm sao cho bản kết luận điều tra của công an được lô-gíc theo sự mớm cung. Do không chịu nổi sự bức cung trong trại giam nên nhiều người phải khai nhận theo sự hướng dẫn của công an.

Đại diện các tổ chức dân sự độc lập đồng ký tên trong kháng thư cho rằng vì án tử hình tước đi quyền căn bản được sống của con người nên việc tiến tới bãi bỏ án tử hình là xu hướng tiến bộ chung của thế giới. Họ cho rằng Việt Nam có tăng án tử hình nhiều hơn thì cũng không hạn chế được vấn đề tội phạm. Dù án tử hình ở con số cao nhưng các vụ án nghiêm trọng vẫn xảy ra, tội ác không được ngăn chặn. Ông Nguyễn Bắc Truyển chia sẻ thêm quan điểm của mình trong việc lên tiếng kêu gọi chính quyền Việt Nam nên bãi bỏ án tử hình:

Xu hướng tiến tới bãi bỏ án tử hình là điều cần nên làm và do đó chúng ta phải đi từ cái gốc là giáo dục con người để cho họ đừng phạm tội đến đến mức độ phải dẫn đến án tử hình hay dẫn đến án chung thân.
-Ông Nguyễn Bắc Truyển

“Xu hướng tiến tới bãi bỏ án tử hình là điều cần nên làm và do đó chúng ta phải đi từ cái gốc là giáo dục con người để cho họ đừng phạm tội đến đến mức độ phải dẫn đến án tử hình hay dẫn đến án chung thân. Nếu chúng ta làm được điều đó thì mới giải quyết được phần gốc và phần căn bản chứ còn nếu như chỉ đem những người phạm tội nghiêm trọng giết người rồi tử hình thì không giải quyết được phần gốc mà chỉ giải quyết phần ngọn. Con người ta thì vẫn do không được giáo dục, không được trang bị một tấm lòng nhân bản thì họ tiếp tục dễ dẫn đến hành vi giết người. Tôi cho rằng cái gốc căn bản vẫn là giáo dục”.

Hằng năm, các hội nghị quốc tế ủng hộ bãi bỏ án tử hình còn tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới do Tổ chức Ân xá Quốc tế cùng các tổ chức nhân quyền chủ trì. Tổ chức Ân xá Quốc tế vẫn kêu gọi chính quyền Hà Nội ân xá các án lệnh tử hình dù trong thời gian qua Việt Nam đã cải thiện cách thức thi hành án bằng phương pháp nhân đạo hơn là tiêm thuốc độc đối với tử tù thay vì xử bắn. Trường hợp mới nhất được ghi nhận là Viện KSND Tối cao của Việt Nam cho phép lập tổ liên ngành xem xét lại vụ án tử tù Hồ Duy Hải để làm rõ có bị kết án oan sai hay không.

Hiện Hoa Kỳ và Việt Nam nằm trong danh sách 58 quốc gia trên thế giới còn đang áp dụng án tử hình. Tuy nhiên, số liệu này ở Hòa Kỳ đang ở mức thấp trong vòng 20 năm qua. Năm 2014 chỉ có 35 người bị hành quyết ở 7 tiểu bang của Mỹ. Vào ngày 31/12/2014, Thống đốc tiểu bang Maryland, là người đang cân nhắc ra tranh cử Tổng thống năm 2016, ông Martin O’Malley tuyên bố sẽ giảm án tử hình đối với 4 tử tội thành án chung thân trước khi kết thúc 2 nhiệm kỳ vào tháng tới.

Tại Việt Nam, một trong những lời tuyên bố chính yếu trong kháng thư của các tổ chức dân sự độc lập vừa công bố nêu rõ “yêu cầu các cơ quan hữu trách Việt Nam ngưng ngay việc thi hành mọi án tử đã tuyên, bỏ ngay một số tội tử hình như buôn bán ma túy, in tiền giả (trong số 22 tội) và sớm sửa đổi Bộ luật Hình sự để án ‘tử hình’ hoàn toàn bị bãi bỏ”. Qua một cuộc trao đổi giữa Hòa Ái với TS. Xã hội học Trịnh Hòa Bình liên quan đến án tử hình ở Việt Nam hồi tháng 6/2013, ông cho rằng sớm hay muộn thì VN cũng sẽ theo xu hướng chung sẽ bỏ án tử hình nhưng chắc chắn không phải ngay lập tức. Câu hỏi đặt ra trong thời điểm này là Chính phủ Việt Nam sẽ có quyết định như thế nào khi “Kháng thư phản đối án tử hình tại Việt Nam” được đặt trên bàn nghị sự?