Ân xá Quốc tế : Việt Nam vẫn hạn chế nghiêm ngặt quyền tự do ngôn luận

Ân xá Quốc tế : Việt Nam vẫn hạn chế nghiêm ngặt quyền tự do ngôn luận

Thanh Phương

RFI

media

Biểu tượng “Ngọn nến Hy vọng” trên trang amnesty.fr (DR)

Trong bản báo cáo thường niên 2014 về tình hình nhân quyền trên thế giới, tổ chức Ân xá Quốc tế nhận định rằng Việt Nam tiếp tục hạn chế nghiêm ngặt các quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do tập hợp một cách ôn hòa.

Hôm nay, 25/02/2015, tổ chức Ân xá Quốc tế ( Amnesty International ) vừa công bố bản báo cáo thường niên 2014 về tình hình nhân quyền trên toàn thế giới.

Nhận định chung của Ân xá Quốc tế : năm 2014 là một năm « rất tồi tệ » đối với hàng triệu người là nạn nhân của bạo lực. Thế mà phản ứng của cộng đồng quốc tế với các vụ xung đột và hành động bạo lực của các quốc gia và các tổ chức vũ trang rất là vô hiệu quả và đáng chê trách. Theo Ân xá Quốc tế, trước việc gia tăng các vụ tấn công man rợ và trước việc người dân nhiều nước bị đàn áp, cộng đồng quốc tế đã không có hành động gì.

Riêng về Việt Nam, trong phần mở đầu, Ân xá Quốc tế nhận định : « Việt Nam tiếp tục hạn chế nghiêm ngặt các quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do tập hợp một cách ôn hòa. Nhiều tù nhân lương tâm bị giam giữ trong những điều kiện khắc nghiệt sau những phiên xử không công bằng (… ) Đã có thêm các blogger và nhà hoạt động nhân quyền bị bắt giữ và xét xử. Chính quyền đã tìm cách ngăn chận hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự chưa được cấp phép, bằng cách sách nhiễu, theo dõi và hạn chế tự do đi lại. Các nhân viên an ninh đã sách nhiễu và hành hung các nhà hoạt động hôn hòa và bắt giam họ trong thời gian ngắn. »

Trong báo cáo, Ân xá Quốc tế cũng nhắc lại rằng Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc vào tháng 01/2014 với nhiệm kỳ hai năm. Nhưng vào tháng 6 năm ngoái, Việt Nam đã bác bỏ 45 trên 227 khuyến nghị của Nhóm làm việc về Phiên kiểm điểm định kỳ phổ quát trong tháng 02/2014. Những khuyến nghị bị bác bỏ bao gồm những khuyến nghị về các nhà hoạt động nhân quyền và bất đồng chính kiến, về tự do ngôn luận và về án tử hình.

Báo cáo cũng cho biết là vào tháng 2 năm ngoái, một một phái đoàn Ân xá Quốc tế đã đến thăm Việt Nam để mở các cuộc họp chính thức. Trong chuyến viếng thăm vào tháng 7, Báo cáo viên đặc biệt của LHQ về quyền tự do tôn giáo đã tìm thấy bằng chứng về những vụ vi phạm nghiêm trọng, trong đó các vụ công an bố ráp, ngăn cản nghi lễ tôn giáo, đánh đập, tấn công các thành viên những tổ chức tôn giáo độc lập.

Nhật cảnh báo sau vụ tu nghiệp sinh Việt Nam ‘trộm dê’ làm thịt

Nhật cảnh báo sau vụ tu nghiệp sinh Việt Nam ‘trộm dê’ làm thịt

Nguoi-viet.com

NHẬT BẢN (NV) – Cảnh báo vừa kể được đưa ra sau khi sau khi có hai người Việt bị cảnh sát Nhật bắt giữ rồi công tố Nhật đề nghị tòa án phạt tù họ vì “trộm cắp.”

Hồi tháng 12 năm ngoái, ông Lê Thế Lộc, 30 tuổi và cựu sinh viên Bùi Văn Vỹ, 22 tuổi, bị bắt sau khi bắt trộm hai con dê trong một đàn dê 16 con được nuôi ở công viên Minokamo, tỉnh Gifu, để làm thịt cho một nhóm khoảng 20 người cùng ăn.



Hai người Việt bị đề nghị phạt tù vì trộm hai con dê trong đàn dê được nuôi ở công viên Minokamo, tỉnh Gifu, Nhật. (Hình: Asahi Shimbun)

Vụ bắt trộm dê được xem là nghiêm trọng vì 16 con dê vừa kể đang được Ðại Học Gifu phối hợp với thành phố Minokamo nuôi để thử nghiệm phương thức dùng động vật diệt cỏ.

Theo Asahi Shimbun, một tờ báo tại Nhật, thì Bùi Văn Vỹ đến Nhật để du học và bỏ dở việc học vì không có khả năng trả học phí.

Cựu sinh viên Bùi Văn Vỹ thuê chỗ trọ ở cùng với ông Lê Thế Lộc và trường hợp phạm tội của ông Lộc được Asahi Shimbun khắc họa rất chi tiết.

Ông Lộc, người đã có vợ và một bé gái từng là tài xế taxi tại Việt Nam. Do thu nhập thấp, không đủ sống, lại được một công ty chuyên xuất cảng lao động mời mọc, ông Lộc bàn bạc với gia đình, rồi đem thế chấp cả nhà lẫn đất, vay ngân hàng khoảng 270 triệu (tương đương 1.5 triệu Yen), để sang Nhật làm thuê dưới danh nghĩa tu nghiệp sinh trong Chương Trình Ðào Tạo Thực Tập Sinh Kỹ Thuật (TITP).

TITP là một chương trình do chính phủ Nhật mở ra để giúp công dân một số quốc gia mà chính phủ Nhật lựa chọn có cơ hội làm việc tại Nhật để phát triển kỹ năng nghề nghiệp rồi đem những kỹ năng đó về ứng dụng tại quê nhà. Mỗi tu nghiệp sinh có thể cư trú và làm việc tại Nhật trong ba năm.

Cho đến nay, có khoảng 150,000 tu nghiệp sinh ngoại quốc đang cư trú và làm việc trong 69 lĩnh vực nghề nghiệp tại Nhật theo chương trình TITP.

Qua trường hợp của ông Lộc, Asahi Shimbun cảnh báo chương trình TITP đang bị lạm dụng và đẩy nhiều người vào nghịch cảnh.

Lý do ông Lộc được gia đình ủng hộ trong việc thế chấp nhà đất – vay tiền ngân hàng để nộp cho công ty xuất cảng lao động sang Nhật làm tu nghiệp sinh vì công ty này khẳng định, tại Nhật, nếu làm việc 8 tiếng/ngày, 5 ngày/tuần, mỗi tháng, ông Lộc có thể kiếm được từ 200,000 Yen đến 300,000 Yen. Ngoài ra nơi ông Lộc làm việc sẽ cung cấp chỗ ở miễn phí.

Tuy nhiên trên thực tế, tháng 3 năm 2013, khi đến trồng cà chua cho một công ty ở tỉnh Nagano, ông Lộc phải làm việc 20 tiếng/ngày và 7 ngày/tuần. Còn lương chỉ có 80,000 Yen/tháng. Chưa kể mỗi tháng ông phải trả 20,000 yên cho việc thuê “chỗ ở,” trong khi “chỗ ở” là dưới gầm thùng cầu dao điện của một nhà kho chứa nông cụ, có một vòi nước để tắm nhưng không có nhà vệ sinh.

Tính ra mỗi tháng, ông Lộc chỉ còn 60,000 Yen và mỗi tháng chỉ có thể gửi về nhà từ 30,000 đến 40,000 Yen để gia đình trả nợ ngân hàng.

Sau bảy tháng làm việc và ăn ở theo kiểu như thế, ông Lộc kiệt sức và quyết định bỏ việc. Dựa vào những thông tin tuyển dụng được đăng trên Internet, ông Lộc tìm đến xin làm việc cho một công ty cơ khí ở tỉnh Aichi. Tuy nhiên, ông Lộc chỉ có thể làm việc tại đó cho đến tháng 3 năm 2014 thì phải nghỉ làm việc vì giấy phép cư trú tại Nhật hết hạn.

Ông Lộc kể với Asahi Shimbun rằng, ông hoàn toàn bế tắc bởi không có việc làm thì không có tiền gửi về cho gia đình trả nợ ngân hàng và sẽ mất sạch nhà cửa, đất đai. Ở lại Nhật thì thành người cư trú bất hợp pháp còn quay về Việt Nam thì cũng chẳng còn đường sống. Cuối cùng, ông Lộc quyết định ở lại Nhật và giấu tình cảnh của mình không cho người thân ở Việt Nam biết.

Sau khi thất nghiệp, ông Lộc trộm cắp thực phẩm tại các siêu thị ở Nhật để ăn trước khi bị bắt…

Trong vài năm gần đây, nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế liên tục cảnh báo về thảm trạng của những người Việt được các công ty xuất cảng lao động của Việt Nam đưa ra ngoại quốc làm thuê.

Hồi tháng 9 năm ngoái, Verité – một tổ chức quốc tế công bố kết quả một cuộc khảo sát kéo dài trong hai năm, theo đó, 40% người Việt đến Mã Lai làm thuê bị cưỡng bức lao động.

Chẳng riêng Verité cảnh báo về tình trạng người Việt bị các công ty môi giới lao động bóc lột từ trong nước và bị chủ ngoại quốc bóc lột tiếp khi ra ngoại quốc làm thuê.

Trước nữa, vào tháng 5 năm 2013, American Thinker đăng một bài viết của Michael Benge, lên án chính quyền Việt Nam chủ trương buôn người.

Ông Benge đã đưa ra nhiều dẫn chứng về việc chính quyền Việt Nam chuyên buôn người, qua hoạt động của các công ty xuất cảng lao động. Các công ty này thường có nguồn gốc phức tạp, thường xuyên lừa gạt người nghèo bằng những hợp đồng hấp dẫn (lương cao, điều kiện làm việc lý tưởng). Có những người nghèo phải trả tới 10,000 Mỹ kim cho cái gọi là phí nộp đơn. Vì nghèo, họ được khuyến khích thế chấp tài sản để vay tiền ngân hàng thanh toán các loại chi phí.

Khi ra đến ngoại quốc, họ bị thu hộ chiếu, bị ép ký những hợp đồng khác hẳn những gì đã được hứa hẹn, phải làm việc nhiều hơn, điều kiện làm việc tồi tệ hơn, chưa kể hàng tháng còn phải nộp môt khoản nhất định cho công ty xuất cảng lao động…

Kết quả, người nghèo đi làm thuê ở nước ngoài ngập trong nợ, lệ thuộc vì nợ, gia đình của họ tại Việt Nam thì mất hết tài sản. Ông Benge khẳng định, có nhiều dấu hiệu rõ ràng để kết luận, các công ty xuất cảng lao động đã liên kết với các ngân hàng và các viên chức chính quyền. (G.Ð

. Trần Trung Đạo: Hãy nói trước ngày chết

. Trần Trung Đạo: Hãy nói trước ngày chết

Vào thời điểm 1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường chẳng những không sợ gì phải che giấu mà còn xem đó như một thành tích cần được nêu ra. Xem đoạn phim, khuôn mặt Hoàng Phủ Ngọc Tường đằng đằng sát khí khi diễn tả việc giết một viên chức VNCH: “chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng”.

Tương Tri

Trần Trung Đạo

22-03-2015

H1

Trong lịch sử nhân loại, không có một chủ nghĩa nào tàn bạo hơn chủ nghĩa Cộng Sản.
Từ khi Tuyên ngôn đảng cộng sản ra đời năm 1848 cho đến khi bức tường Bá Linh bị đập đổ vào 1989, khoảng gần 100 triệu người từ nhiều quốc gia đã bị giết. Hơn hai mươi năm qua, mặc dù ngọn lửa vô thần đã tắt trên phần lớn quả địa cầu, một góc trời phương đông lửa vẫn còn đỏ rực, nhà tù vẫn còn giam giữ nhiều người bất đồng với chế độ độc tài toàn trị và tự do vẫn là một bóng mây xa.

Người đời có thói quen kết án Stalin đã gây ra tội ác tày trời đối với nhân dân Liên Xô, Mao Trạch Đông đã giết trên 30 triệu nhân dân Trung Quốc và Pol Pot tiêu diệt một phần tư dân tộc Khmer bằng súng và cả bằng dao phay, cán cuốc. Những chuyện đó ngày nay nhân loại đều biết và tội ác của chúng không còn là vấn đề tranh cải nữa. Tuy nhiên, làm thế nào một nông dân có gốc gác bình thường, nếu không muốn nói là hiền lành như Mao lại có thể trở thành sát nhân của mấy chục triệu dân Trung Quốc? Làm thế nào Pol Pot, con của một điền chủ giàu có, được gởi sang Pháp ăn học, được bạn bè nhớ lại như một người nhã nhặn, lịch sự và được gọi là trí thức trong xã hội Khmer còn chậm tiến lúc bấy giờ, nhưng sau khi nắm chính quyền đã giết hai triệu dân Khmer bằng búa, dao và những cách giết người tàn bạo hơn cả trong thời Trung Cổ?

Bởi vì chủ nghĩa Cộng Sản trang bị cho chúng một quyền lực tuyệt đối, một niềm tin cuối cùng, một lối thoát tinh thần, một chỗ dựa lý luận để giải thích cho hành động bất nhân của chúng.

Nuon Chea, người đứng hàng thứ hai của chế độ Khờ Me Đỏ chỉ sau Pol Pot, lạnh lùng trả lời báo chí, những kẻ bị giết chỉ vì họ là “ kẻ thù của nhân dân”. Đơn giản vậy thôi. Chúng ăn rất ngon và ngủ rất yên dù sau một ngày ký hàng loạt bản án tử hình.

Giết một vài đối thủ thì không sao nhưng để loại bỏ hàng triệu người là chuyện khác. Stalin không thể lên tận các trại lao động khổ sai ở Siberia để bỏ đói những người chống đối y. Mao Trạch Đông không thể xuống từng trường học để tra tấn các thầy cô trong Cách Mạng Văn Hóa, Hồ Chí Minh không thể đích thân xử bắn bà Nguyễn Thị Năm trong Cải Cách Ruộng Đất. Nhưng họ có khả năng huấn luyện, đầu độc một thế hệ đao phủ thủ trẻ tuổi hăng say và cuồng tín để làm thay. Quyền lực đặt vào tay đám đao thủ phủ trẻ này chẳng khác gì con dao bén để chúng thanh toán những mối thù riêng và lập công dâng Đảng.

Tháng 10 năm 2002, nhà báo Mỹ Amanda Pike đến Campuchia để tìm hiểu nguyên nhân tội ác diệt chủng của Pol Pot đã không được làm sáng tỏ. Amanda Pike phỏng vấn bà Samrith Phum, người có chồng bị Khờ Me Đỏ giết. Theo lời kể của bà Samrith Phum, vào nửa đêm năm 1977 chồng bà bị một Khờ Me Đỏ địa phương bắt đi và giết chết vì bị cho là “gián điệp CIA”. Hung thủ chẳng ai xa lạ mà là người cùng làng với bà Samrith. Hiện nay, kẻ giết người vẫn còn sống nhởn nhơ chung một làng với bà cách thủ đô Nam Vang vài dặm nhưng không một tòa án nào truy tố hay kết án.

Với chủ trương “Dân tộc Khờ Me cần đào hố để chôn đi quá khứ” Hun Sen đã cản trở Liên Hiệp Quốc rất nhiều trong việc điều tra tội diệt chủng của chế độ Pol Pot. Hun Sen cản trở vì bản thân y cũng từng là một sĩ quan Khờ Me Đỏ. Hun Sen nhiệt tình với lý tưởng CS đến mức bỏ học theo Pol Pot khi còn trong tuổi thiếu niên. Nhiều chi tiết trong quảng thời gian từ 1975 đến 1979 của cuộc đời y vẫn còn trong vòng bí mật. Khi chôn quá khứ của Campuchia, Hun Sen muốn chôn đi quá khứ tội lỗi của mình.

Tình trạng kẻ sát nhân và gia đình những người bị sát hại vẫn còn sống chung làng, chung xóm, chung thành phố không chỉ phổ biến tại Campuchia nhưng cũng rất phổ biến tại Huế sau vụ Thảm sát Tết Mậu Thân 1968.

Số người bị giết trong vụ Thảm sát Tết Mậu Thân khác nhau tùy theo nguồn điều tra nhưng phần lớn công nhận số người bị giết lên đến nhiều ngàn người và “kẻ thù nhân dân” không chỉ là công chức chính quyền VNCH mà còn rất đông sinh viên, học sinh, phụ nữ, trẻ em và ngay cả một số giáo sư ngoại quốc. Ông Võ Văn Bằng, Nghị viên tỉnh Thừa Thiên và cũng là Trưởng Ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân, kể lại: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng.”

Tài liệu liên quan đến Thảm sát Tết Mậu Thân rất nhiều, từ điều tra của các nhà nghiên cứu nước ngoài cho đến các nhân chứng sống Việt Nam. Đến nay, thành phần được nghĩ đã gây ra biến cố đầy tang thương cho dân tộc Việt Nam này là những người Huế “nhảy núi”. Họ là những người bỏ trường, bỏ làng xóm, bỏ cố đô lên rừng theo CS và Tết Mậu Thân đã trở lại tàn sát chính đồng bào ruột thịt của mình. Họ là những kẻ vừa được giải thoát khỏi nhà giam Thừa Phủ đưa lên núi huấn luyện vài ngày rồi trở lại giết chết những kẻ bị nghi ngờ đã bỏ tù họ.

Không giống quân đội chính quy tấn công Huế, những du kích nằm vùng, những thanh niên, sinh viên, học sinh là những người sinh ra và lớn lên ở Huế, thuộc từng tên phố tên đường, biết tên biết tuổi từng người. Họ lập danh sách và đến từng nhà lừa gạt người dân bằng cách “mời đi trình diện” rồi sẽ trả về nhà ăn Tết. Những người nhẹ dạ đi theo. Mà cho dù không nhẹ dạ cũng chẳng ai nghĩ mình sắp bị chôn sống chỉ vì làm chức liên gia trưởng của năm bảy gia đình, ấp trưởng một ngôi làng nhỏ, xã trưởng của vài trăm dân. Kết quả, từng nhóm, từng đoàn người lần lượt bị đem ra “tòa án nhân dân” và kết án tử hình.

Người “nhảy núi” nổi tiếng nhất là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ngày 12 tháng 7 năm 1997, Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời câu hỏi của nhà văn Thụy Khuê về sự liên quan của ông đối với vụ Thảm sát Tết Mậu Thân : “Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế” và ông cũng thừa nhận Thảm sát Tết Mậu Thân là có thật chứ chẳng phải “Mỹ Ngụy” nào dàn dựng “Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng”.

Khi được hỏi ai là những người phải chịu trách nhiệm, Hoàng Phủ Ngọc Tường phát biểu “Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” và tiếp tục nêu thêm chi tiết chính Đại tá Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân thừa nhận trong tạp chí Sông Hương “Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi.”

Tóm lại, Hoàng Phủ Ngọc Tường trong buổi phỏng vấn dành cho nhà văn Thụy Khuê xác nhận ông ta không có mặt ở Huế trong suốt thời gian Huế bị CS chiếm đóng và những kẻ sát hại thường dân vô tội là do các “lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” chủ trương.

Tuy nhiên 15 năm trước đó, ngày 29 tháng 2 năm 1982, trong buổi phỏng vấn truyền hình dài 15 phút dành cho hệ thống WGBH, Hoàng Phủ Ngọc Tường thừa nhận việc dư luận đang tố cáo ông là đúng, nghĩa là chính ông đã có mặt tại Huế: “Tôi đã đi trên những đường hẽm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu …Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra ..” và ông cho rằng một số người dân Huế chết thảm thương là do sự trả thù của chính người Huế với người Huế “chính nhân dân đã căm thù quá lâu, đó là những người đã bị chính nó tra tấn, chính nó đã làm cho tất cả gia đình phải bị đi ở tù ra ngoài đảo v.v. và đến khi cách mạng bùng lên họ được như là lấy lại cái thế của người mạnh thì họ đi tìm những kẻ đó để trừ như là trừ những con rắn độc mà từ lâu nay nếu còn sống thì nó sẽ tiếp tục nó gây tội ác trong chiến tranh.”

Nếu phân tích theo thời gian và diễn biến chính trị thế giới, đặc biệt sự sụp đổ của phong trào CS quốc tế, câu trả lời của Hoàng Phủ Ngọc Tường vào năm 1982 là thành thật và sát với thực tế Mậu Thân nhất. Trong giai đoạn chuyên chính vô sản vài năm sau 1975, không chỉ ông ta mà cả các lãnh đạo CSVN vẫn nghĩ “con đường tất yếu” là con đường “tiến nhanh, tiến mạnh, tiếng vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Không có một thế lực nào cản trở sức chảy của “ba dòng thác cách mạng”. Vào thời điểm 1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường chẳng những không sợ gì phải che giấu mà còn xem đó như một thành tích cần được nêu ra. Xem đoạn phim, khuôn mặt Hoàng Phủ Ngọc Tường đằng đằng sát khí khi diễn tả việc giết một viên chức VNCH: “chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng”.

Thái độ đó hoàn toàn khác với giọng ôn tồn khi ông ta nhắc lại lời của Đại tá CS Lê Minh như thay cho chính mình 15 năm sau “bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ”. Thời gian đổi thay, lịch sử đổi thay và con người cũng thay đổi. Không phải chỉ Hoàng Phủ Ngọc Tường mà cả những cựu lãnh đạo CS Đông Âu, một thời giết người không chút xót thương, sau 1990 cũng trả lời báo chí với giọng ngọt ngào như thế.

Nhiều bạn hữu của Hoàng Phủ Ngọc Tường như tác giả Ngô Minh viết trên talawas 2008, cho rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường “trong suốt những năm lên “xanh” ở A Lưới, Hoàng Phủ Ngọc Tường không được phân công về thành phố hay đồng bằng một chuyến nào cả” mà không biết hay cố tình bỏ qua sự kiện 26 năm trước chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã xác nhận mình ở Huế với những tình tiết mắt thấy tai nghe của một người trong cuộc.

Hai buổi trả lời phỏng vấn hoàn toàn trái ngược chứng tỏ Hoàng Phủ Ngọc Tường phải có một khó khăn để giải thích sự liên hệ của mình đến vụ Thảm sát Mậu Thân. Lời phát biểu của ông cho thấy một điều, những người bị giết chắc chắn biết người giết mình là ai.

Không giống Hoàng Phủ Ngọc Tường mâu thuẫn, hai ông Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Phan từ trên núi theo đoàn quân CS đánh vào Huế. Hai ông không từ chối điều này nhưng đều phủ nhận đã có liên hệ gì với Thảm sát Mậu Thân. Trong bài viết nhân đọc bài “Trịnh công sơn – Những hoạt động nằm vùng” Hoàng Phủ Ngọc Phan khẳng định: “Còn tôi thì có theo chiến dịch về hoạt động ở Thành nội Huế nhưng tôi không hề giết ai cả, suốt gần 10 năm đi kháng chiến cũng không hề làm thiệt mạng một con thú trên rừng chứ đừng nói là con người.”

Nhà văn Nhã Ca kết án ông Nguyễn Đắc Xuân trong Giải Khăn Sô Cho Huế vì đã “đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố để xử tử” và ông Nguyễn Đắc Xuân đáp lại trong bài Hậu Quả Của “Cái Chết” của tôi: “Còn tôi, một sinh viên Phật tử mới thoát ly chưa đầy một năm rưởi, không có quyền hành gì, nếu tôi muốn làm những việc như Nhã Ca viết thì cũng không thể làm được. Không ai cho tôi làm. Nếu tôi tự ý làm, làm sao tôi có thể thoát được sự phê phán của đồng chí đồng sự của tôi, đặc biệt là những người sau nầy không còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến nữa…”

Chuyện “thoát ly chưa đầy một năm rưỡi” không chứng minh được ông ta không có quyền giết người, trái lại cũng có thể giải thích ngược, càng tham gia trễ càng phải chứng tỏ nhiệt tình cách mạng cao độ, càng phải giết nhiều người, càng phải lập nhiều công. Nói thế không phải để đánh bồi thêm một người đã ngã nhưng cho thấy lời biện bạch của ông không thuyết phục.

Trong tinh thần “Lợi ích của sự ngờ” (Benefit of the doubt), tạm cho những lời người khác kể về các ông chưa đủ bằng chứng kết tội, tuy nhiên, các ông Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân, những thành viên tích cực của phong trào đấu tranh đô thị, hoạt động 26 ngày trong lòng thành phố Huế bị rơi vào tay các ông với nhiều ngàn người dân vô tội bị giết bằng những cách dã man hơn cả bọn diệt chủng Pol Pot mà các ông nói rằng không biết gì, không thấy gì thì trẻ con ngây thơ cũng không tin được.

Và không chỉ ba ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan mà cả thế hệ “nhảy núi” ở Huế trong đó rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ cho đến nay vẫn không biết gì, không thấy gì, không viết gì về Thảm sát Tết Mậu Thân thì quả là chuyện lạ. Hãy thử đặt mình trong vị trí của gia đình các nạn nhân vụ Thảm sát Huế, các ông có nghĩ rằng chính Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân hoặc đã giết hoặc biết chắc ai đã giết thân nhân các ông không?

Lẽ ra Thảm sát Tết Mậu Thân phải là nguồn thôi thúc cho nhiều tác phẩm văn học lớn nói lên sự đau khổ, sự chịu đựng tận cùng của đồng bào Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Lẽ ra những người đang bị dư luận kết án, nếu thật sự không tham dự vào cuộc tàn sát, thay vì than mây khóc gió trong văn chương hay lao đầu vào cơm áo, nên dành phần còn lại của đời mình đi tìm cho ra cội nguồn gốc rễ để vừa giải oan cho đồng bào mà cũng minh oan cho chính mình. Gia đình nạn nhân còn đó, nhân chứng còn đó, hầm hố còn đó, bạn bè còn đó, chứng tích còn đó, chế độ còn đó. Có thể người đọc vì sự công phẫn chưa nguôi, sẽ không tin hết các điều các ông các bà viết nhưng nếu đúng rồi lịch sử sẽ tin. Nếu không làm thế, cơ chế độc tài này chắc chắn sẽ tàn lụi nhưng tên tuổi Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh v.v.. mãi mãi vẫn là những dấu đen ngàn đời không phai.

Dư luận khắt khe nhưng không bất công. Suốt 42 năm, các ông các bà có rất nhiều cơ hội để làm sáng tỏ một sự kiện lịch sử mà các ông các bà từng tham dự, nhưng ngoại trừ việc phải trả lời vài buổi phỏng vấn rải rác đó đây, các ông các bà im lặng. Kết án lại những người kết án không phải là cách trả lời mà nhân dân Việt Nam đang muốn biết. Ông Nguyễn Đắc Xuân được gọi là “nhà Huế học” nhưng Huế không chỉ có sông Hương, núi Ngự, lăng tẩm, đền đài mà còn có Bãi Dâu, Khe Đá Mài, khu Gia Hội và hàng chục ngôi mồ tập thể khác.

Đời sống của một dân tộc không chỉ gồm những thời đẹp đẻ, vinh quang mà còn cả những giai đoạn đau buồn, tủi nhục.

Tại sao ông không viết?

Phải chăng những người “nhảy núi” ở Huế cũng giống như Hun Sen hay tên Khờ Me Đỏ giết chồng bà Samrith Phum năm 1977, đang cố chôn đi quá khứ ?

Sự im lặng của các ông là lời tự tố cáo lớn tiếng nhất.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ suy vi và phân hóa nhưng sự kiện một số người dã tâm tàn sát nhiều ngàn người Việt khác trong chỉ vài tuần bằng các phương tiện phi nhân chưa từng có như ở Huế là lần đầu. Vết thương Mậu Thân sẽ không bao giờ lành một khi tội ác chưa được đưa ra ánh sáng. Nền tảng của hòa giải là công lý và sự thật chứ không phải che đậy và lãng quên.

Nhiều tác giả đã viết về Thảm sát Mậu Thân. Những dữ kiện trong bài viết này không có gì mới mà đã được nhắc đi nhắc lại. Dụng ý của kẻ viết bài này chỉ muốn nhấn mạnh một điều rằng, nhiều trong số những người “nhảy núi” còn sống ở Huế hay trong và cả ngoài nước, nhưng chắc không sống bao lâu nữa. Tuổi tác của các ông các bà đều trên dưới bảy mươi. Thời gian còn lại như tiếng chuông ngân đã quá dài. Tất cả sẽ là không. Các ông các bà ra đi không mang theo gì cả nhưng sẽ để lại rất nhiều. Vẫn biết con người khó tự kết án chính mình nhưng các ông, các bà vẫn còn nợ dân tộc Việt Nam, nhất là các thế hệ mai sau, câu trả lời cho cái chết của nhiều ngàn dân Huế vô tội.

Ngọn nến trước khi tắt thường bật sáng, vì tương lai dân tộc, các ông các bà hãy sáng lên sự thật một lần trước ngày chết.

Làm thế nào để VN đuổi kịp các nước Asian-6?

Làm thế nào để VN đuổi kịp các nước Asian-6?

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2015-02-21

anhvu02212015.mp3

000_Del6394306-622.jpg

Ảnh minh họa chụp tại trung tâm thành phố Hà Nội hôm 17/02/2015.

AFP PHOTO / HOANG DINH Nam

Your browser does not support the audio element.

Nguy cơ tụt hậu?

Mùa xuân đến với nhiều tín hiệu tốt lành, tuy vậy nền kinh tế của đất nước vẫn không phát huy hết khả năng để phát triển mạnh mẽ ở mức có thể, ngược lại đang còn bị tụt hậu khá xa so với các nước láng giềng. Điều gì đã cản trở và cần phải làm thế nào để VN có thể đuổi kịp các nước Asian-6?

Khoảng cách về phát triển giữa VN với Asean-6 ngày càng tăng, trong lúc so với các nước Asean-4 thì ngày càng thu hẹp. Điều này cho thấy VN đang đứng trước nguy cơ tụt hậu.

Hiện tại, VN đang đứng sau 6 nước Asean tức là xếp thứ 7, sau các quốc gia như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Brunei và chỉ đứng trên Myanmar, Lào, Campuchia.

Trong một phiên họp của Chính phủ  gần đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đặt câu hỏi: “Sao lại cứ phải đứng sau 6 nước Asean? Chúng ta có đuổi kịp được Asean-6 không? Không có lý do gì chúng ta không cải thiện được để bằng Asean-6.”

Cái thứ nhất là phải triệt để xóa bỏ đường lối sai lầm của Đảng CSVN là: KT Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Trên cơ sở đó có thể vạch ra các chính sách kinh tế thúc đẩy cho sự phát triển của khu vực KT Tư nhân trong nước và tạo điều kiện cho chúng hoạt động ngang ngửa, sòng phẳng và bình đẳng với các thành phần KT khác.
-TS Nguyễn Quang A

Điều gì đã cản trở sự phát triển của dân tộc, để đến hôm nay khiến người đứng đầu Chính phủ phải đặt câu hỏi trên?

Nói về những hạn chế được cho là cơ bản nhất đã khiến cho kinh tế VN không phát huy hết khả năng, để phát triển mạnh mẽ ở mức có thể.

Chuyên gia KT Bùi Kiến Thành, trong một lần trao đổi với RFA gần đây thấy rằng, tư duy lãnh đạo là nguyên nhân dẫn tới kinh tế VN trì trệ không phát triển được, theo ông lãnh đạo VN cần phải thay đổi tư duy một cách tích cực, nếu không muốn đất nước tụt hậu so với khu vực và thế giới. Ông nói:

“Bây giờ các vị lãnh đạo đi ra nước ngoài cũng vẫn nói  Việt Nam là một nền kinh tế thị trường, yêu cầu Mỹ yêu cầu Châu Âu và khắp mọi nơi mà các vị đến, yêu cầu công nhận chúng tôi là nền kinh tế thị trường. Như vậy rõ ràng chúng ta muốn hội nhập vào nền kinh tế thị trường của thế giới. Nhưng mà tiếp theo câu đó nó có sự không ăn khớp, tức là doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Vấn đề này tư duy chưa rõ ràng, doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo thì làm gì có nền kinh tế thị trường được nữa?”

Nền kinh tế thị trường gắn với định hướng XHCN là biểu hiện sự ôm đồm không cần thiết của nhà nước. Đây là cái cần phải xóa bỏ ngay lập tức để tạo điều kiện cho nền KT của VN có thể cất cánh. TS. Nguyễn Quang A nhấn mạnh:

000_Hkg10147574-400.jpg

Ảnh minh họa chụp tại ngoại thành Hà Nội hôm 28/01/2015. AFP PHOTO / HOANG DINH Nam.

“Cái thứ nhất là phải triệt để xóa bỏ đường lối sai lầm của Đảng CSVN là: KT Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Trên cơ sở đó có thể vạch ra các chính sách kinh tế thúc đẩy cho sự phát triển của khu vực KT Tư nhân trong nước và tạo điều kiện cho chúng hoạt động ngang ngửa, sòng phẳng và bình đẳng với các thành phần KT khác. Chỉ có trên cơ sở đó thì nền KT của VN mới phát triển một cách bền vững.”

Những khó khăn đang phải đối mặt khiến Việt Nam ngày càng tỏ ra “hụt hơi” trong việc bắt kịp tốc độ phát triển của các nước trong khu vực, đặc biệt là Asean-6. Tuy nhiên, theo các chuyên gia cho biết nếu nỗ lực và có chính sách đúng, kinh tế Việt Nam vẫn chưa hết hy vọng sẽ cất cánh.

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), TS. Bùi Tất Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển cho rằng: “Các phân tích kinh tế gần đây cho thấy, Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được thành công như những nền kinh tế trong khu vực đã biến thành các nước công nghiệp mới – (NICs) một khi xây dựng được một thể chế hỗ trợ phát triển. Một trong những cơ sở tiền đề ấy là kinh tế Việt Nam vẫn có tiềm năng phát triển lớn”.

Trách nhiệm thuộc về ai?

Trả lời câu hỏi cần phải có các giải pháp quan trọng nào để tạo ra sự bứt phá của kinh tế VN để đuổi kịp các nước Asean–6 trong thời gian tới?

Trên thực tế Nhà nước vẫn có vai trò can thiệp trực tiếp quá lớn vào nền kinh tế, với tư cách là chủ đầu tư công và chủ sở hữu doanh nghiệp, trong khi Nhà nước lại chưa thực hiện tốt các chức năng quản lý và điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế. Đây là một trong những điểm nghẽn đang làm thui chột tinh thần kinh doanh của không ít người dân. TS. Võ Đại Lược Viện Kinh tế và Chính trị thế giới nhận định:

“Cái gì thuộc quyền nhà nước quyết thì nhà nước quyết và cái đó có thể có tính pháp lệnh, còn cái gì thuộc về thị trường thì nhà nước không nên quyết, mà để thị trường định. Do vậy dù ông quyết thông qua các cái tín hiệu của thị trường, nếu can thiệp quá mạnh các tín hiệu của thị trường thì anh sẽ làm thị trường méo mó. Và do thế nó làm cho nên kinh tế phát triển kém hiệu quả.”

Cái gì thuộc quyền nhà nước quyết thì nhà nước quyết và cái đó có thể có tính pháp lệnh, còn cái gì thuộc về thị trường thì nhà nước không nên quyết, mà để thị trường định.
-TS Võ Đại Lược

Theo TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế VN cho biết: VN có đủ các điều kiện cần để thực hiện “cú nhảy vọt lịch sử” để rút ngắn khoảng cách phát triển, tiến kịp thế giới và Asean – 6. Cần định rõ lộ trình tận dụng thời cơ để tiến vượt bằng lộ trình công nghiệp hóa đến năm 2020 gồm 2 bước. Bước 1 ráo riết chuẩn bị các điều kiện và năng lực, chuẩn bị điều kiện cất cánh. Bước 2 bùng nổ phát triển, cất cánh và tăng tốc. Ông nói:

“Nếu chúng ta tạo ra sự ổn định, tạo ra niềm tin của các nhà đầu tư trong thị trường, thì có khi đặt mục tiêu tăng trưởng thấp nhưng tăng trưởng thực vẫn cứ cao, vì các nhà đầu tư tin cậy. Nhà nước định hướng, nhưng nhà nước có thể tác động đến bằng cách tạo ra các công cụ khuyến khích hay là kiềm chế để cho các nhà đầu tư hành động làm sao nó gần nhất với định hướng của mình.”

Chỉ có xây dựng khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa của VN lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng và bất cứ nhà nước nào cũng phải can thiệp vào thị trường bằng chính sách của mình. Do vậy, đừng lo ngại việc Nhà nước không kiểm soát được khu vực KT Tư nhân. TS. Nguyễn Quang A khẳng định:

“Nền Kinh tế thuộc sở hữu tư nhân phải đóng vai trò trung tâm, dẫn dắt và vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Chỉ có nền kinh tế tư nhân nó mới có những động lực để thúc đẩy nền kinh tế chung phát triển. Kinh tế Nhà nước không thể giữ vai trò chủ đạo trong một nền kinh tế được, nó chỉ giữ một vai trò có tính chất phù trợ nào đấy mà thôi. Tôi nghĩ biện pháp quan trọng nhất là phải xóa bỏ tất cả những cái ưu ái, trước hết là các ưu ái đối với DN Nhà nước, thậm chí cả những ưu ái đối với DN Đầu tư nước ngoài. Tôi không nghĩ các DN Tư nhân cần có sự hướng dẫn hay hỗ trợ của Nhà nước, tôi tin họ sẽ tự lo lấy của họ. Song cái quan trọng là phải để cho nó có một môi trường thông thoáng và không bị ai chèn ép.”

Nếu nhìn sang các nước láng giềng thì thấy thiên hạ đã đi nhanh hơn VN rất nhiều, lẽ dĩ nhiên nếu không tiến theo kịp thì lập tức VN sẽ tụt hậu và bị họ bỏ rơi. Trong lúc VN, là một đất nước có vị trí địa lý chiến lược quan trọng, tài nguyên thiên nhiên giàu có, con người cần cù và chịu khó. Vậy tại sao đất nước vẫn cứ tụt hậu, chậm phát triển? Trách nhiệm này thuộc về ai?

Dư luận phẫn nộ về tư dinh xa hoa của ông Nông Đức Mạnh

Dư luận phẫn nộ về tư dinh xa hoa của ông Nông Đức Mạnh
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Tin tường thuật sự kiện Ban Bí Thư Trung Ương Đoàn Thanh Niên CSVN đến chúc Tết ba cựu tổng bí thư Đảng CSVN hôm mùng 1 tháng 1 Âm lịch khiến công chúng phẫn nộ.

Ba tấm hình ông Nông Đức Mạnh tiếp Ban Bí Thư Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Việt Nam tại tư gia hôm 19 tháng 2, 2015, khiến dư luận phẫn nộ. (Hình: Tiền Phong)

Các tờ báo trực thuộc Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Việt Nam như Tiền Phong, Thanh Niên vừa có tin tường thuật về việc Ban Bí Thư Trung Ương Đoàn Thanh Niên CSVN đến chúc Tết các ông: Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh – ba nhân vật từng là tổng bí thư Đảng CSVN, Lê Đức Anh – cựu chủ tịch Nhà Nước Việt Nam và thắp nhang cho ông Võ Nguyên Giáp.

Lẽ ra sẽ chẳng có bao nhiêu người quan tâm đến sự kiện này nếu như tờ Tiền Phong không dùng ba tấm ảnh giới thiệu sự xa hoa tại tư gia của ông Nông Đức Mạnh. Phòng khách trong nhà ông Mạnh được bày biện như cung điện. Các vật dụng được chạm trổ cầu kỳ. Kiểu ghế giống như ngai vàng…

Nhiều blogger, Facebooker dẫn lại tin tường thuật này như một bằng chứng về việc tại sao giới lãnh đạo Đảng CSVN tìm mọi cách để Đảng CSVN nắm giữ độc quyền lãnh đạo: Toàn dân, toàn quân phải bảo vệ đảng để giới lãnh đạo Đảng CSVN có thể tiếp tục duy trì cuộc sống xa hoa, vương giả như thế…

Trong quá khứ, việc công bố hình ảnh liên quan đến tư gia của giới lãnh đạo Đảng CSVN đã từng được xem là “trọng án.”

Cũng vì vậy, người ta chưa rõ ba tấm ảnh vừa được tờ Tiền Phong công bố về tư gia của ông Nông Đức Mạnh kể liệu có biến thành một vụ “trọng án” hay không.

Trước Nông Đức Mạnh là Lê Khả Phiêu

Ngày 24 tháng 1 năm 2009, ban liên lạc đồng hương Thanh Hoá ở Hà Nội với đại diện là các ông: Lê Thế Chữ – trưởng ban liên lạc đồng hương Thanh Hoá, Lê Xuân Thảo – trưởng ban doanh nghiệp đồng hương Thanh Hoá, Hoàng Văn Đoàn – phó ban doanh nghiệp đồng hương Thanh Hoá, Lữ Thành Long – tổng giám đốc công ty Misa, Nguyễn Hồng Chung – chủ tịch công ty Luật Đại Việt, Bùi Việt Hà – giám đốc công ty HINCO, Nguyễn Hữu Hùng – công ty Truyền Thông Dầu Khí Việt Nam, Lê Xuân Tiến Trung – công ty Việt FT và một số người khác, cùng là dân Thanh Hoá đã đến tư gia ông Lê Khả Phiêu để chúc Tết, tặng quà cho cựu tổng bí thư Đảng CSVN…

Các thành viên trong đoàn đã được ông Lê Khả Phiêu đưa đi thăm tư gia và không rõ ai đó đã đưa hàng loạt ảnh lên Internet để tất cả mọi người có thể tận mắt mục kích, một cựu tổng bí thư của Đảng CSVN đang sống xa hoa như thế nào (?), sùng bái cá nhân mình ra sao.

Khắp nhà Lê Khả Phiêu, chỗ nào cũng có tượng đồng, tranh, ảnh của ông Lê Khả Phiêu, nhân vật này còn tặng cho các thành viên đến thăm, mỗi người một cuốn sách do Lê Khả Phiêu tự viết về mình với tên sách là… “Mênh mông tình dân”?

Đáng lưu ý là Lê Khả Phiêu từng được tôn vinh như một lãnh đạo liêm khiết, đi đầu trong việc chống tham nhũng nhưng trong tư gia của ông Phiêu lại có những báu vật quốc gia, cấm cá nhân sở hữu như trống đồng, hoặc những bộ ngà voi mà người ta lượng giá không dưới 50,000 Mỹ kim, hoặc vườn rau được trồng, tưới tự động, phục vụ nhu cầu của gia đình ông Phiêu, mà vốn đầu tư được ước đoán không dưới 20,000 Mỹ kim.

Lê Khả Phiêu cũng từng là nhân vật được xem như “tuyệt đối trung thành với lý tưởng Cộng Sản,” từng lớn tiếng dạy dỗ ông Bill Clinton khi ông đến thăm Việt Nam về sự ưu việt của Chủ Nghĩa Cộng Sản.

Lúc đó, loạt ảnh chụp tư gia kèm theo lời bình về sự xa hoa và những tuyên bố giả dối “vì nước quên thân, vì dân phục vụ” của ông Phiêu cũng như các viên chức cao cấp khác của đảng và chính quyền CSVN đã khiến dư luận trong nước rúng động. Những hình ảnh và lời bình này đã được phát tán rộng rãi trên Internet.

Các nguồn thạo tin kể rằng, đích thân ông Lê Hồng Anh, ủy viên Bộ Chính Trị, thời điểm đó là bộ trưởng Công An Việt Nam đã trực tiếp chỉ đạo điều tra. Sau đó, Công An Việt Nam xác định, trong nhóm đến thăm tư gia ông Phiêu, có ít nhất ba người mang máy ảnh và cả ba đều đã bị triệu tập để lấy lời khai, nhằm xác định xem người đưa tin vô danh là ai…

Nay, hình ảnh về tư gia của ông Mạnh cho thấy nó giống hệt tư gia của ông Phiêu ở cả sự xa hoa lẫn sự tôn vinh ông Hồ Chí Minh – “tấm gương” mà họ “nguyện suốt đời noi theo.” (G.Đ)

Báo Tiền Phong gỡ ảnh ‘nhạy cảm’

Báo Tiền Phong gỡ ảnh ‘nhạy cảm’

Một trong các bức ảnh đã bị gỡ bỏ

Tờ báo của Trung ương Đoàn Thanh niên CS vừa gỡ ba bức ảnh chụp tại tư gia cựu Tổng Bí thư Đảng CSVN Nông Đức Mạnh, vốn gây bàn tán trên các mạng xã hội.

Bài báo ‘ Ban Bí thư T.Ư Đoàn chúc Tết nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước‘ đăng hôm 19/2 phản ánh việc “Ban Bí thư T.Ư Đoàn do Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn Nguyễn Đắc Vinh dẫn đầu tới thăm, chúc Tết các đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và thắp hương tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại số nhà 30 Hoàng Diệu (Hà Nội)”.

Sự kiện diễn ra sáng 19/2, tức sáng Mùng 1 Tết Ất Mùi.

Trong bài có một số ảnh đoàn đại biểu tới thăm và chúc Tết cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười; Lê Khả Phiêu; cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh và cựu Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh.

Ba bức ảnh được cho là chụp tại tư gia ông Nông Đức Mạnh với nội thất màu vàng rực rỡ đã gây bàn tán khá nhiều trên các mạng xã hội.

Một bức mô tả ông Mạnh ngồi tiếp ông Nguyễn Đắc Vinh trong phòng khách có tượng Hồ Chủ tịch màu vàng bày trước mặt trống đồng cũng màu vàng.

Hai ông ngồi trên hai chiếc ghế bành có tay nắm hình đầu rồng, lưng ghế cao như ngai vàng.

Hai bức khác cũng được chụp trong căn phòng trên, nhưng có nhiều người hơn.

Tư gia ông Nông Đức Mạnh trên các bức ảnh khá khác biệt với nhà của hai ông tiền nhiệm Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu.

Ba bức ảnh nhanh chóng được lưu truyền trên mạng xã hội Facebook với nhiều bình luận khen chê.

Báo Tiền Phong sau đó đã gỡ bỏ ba bức ảnh này và thay bằng một bức khác trung tính hơn mô tả đoàn đại biểu chụp hình lưu niệm cùng ông Nông Đức Mạnh và các em thiếu nhi quàng khăn đỏ. Bức này không nhìn rõ nội thất.

Ông Nông Đức Mạnh, sinh năm 1940, làm tổng bí thư Đảng CSVN hai nhiệm kỳ từ 2001 tới 2011.

Trước đó ông làm Chủ tịch Quốc hội Việt Nam từ 1992 đến 2001.

Nghịch lý ở Việt Nam: Một quốc gia nhỏ chỉ ăn rồi chơi.

Nghịch lý ở Việt Nam: Một quốc gia nhỏ chỉ ăn rồi chơi.

Tác Giả : Tạ Duy Anh

Xahoi – Có lẽ không quốc gia nào mà cuộc sống của giới công chức chứa nhiều điều nghịch lý như ở Việt Nam.


Lương không đủ sống nhưng lại thuộc thành phần khá giả của xã hội; đã vào biên chế là có thể nằm lỳ cho đến hết đời, ngang nhiên đòi hỏi mọi chế độ phúc lợi, ngay cả khi chẳng làm gì; là người làm thuê cho dân nhưng lại hành xử như ông chủ có quyền ban ơn; năng lực cũng như tinh thần trách nhiệm trước công việc phần lớn ở mức trung bình và thấp, nhưng cực kỳ có khả năng trong việc kinh doanh “quyền lực Nhà nước” để tư lợi …Nhưng điều nghịch lý nhất là một nền hành chính cồng kềnh, ì ạch, dôi dư cả triệu người như vậy lại vẫn cứ ngày một phình to?

Trong một hội nghị có đưa tin trên truyền hình và sau đó hầu như các báo đều đưa lại, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói thẳng ra rằng: “Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”. Nói cách khác, cái số 30 % công chức đó hoàn toàn không cần thiết, y như cái bướu trên cổ. Với 2,8 triệu công chức, chỉ cần làm phép tình nhẩm cũng ra ngay con số thuộc diện có cũng như không kia khoảng 800.000. Nghĩa là mỗi 100 người dân Việt Nam, phải nuôi không một ông (bà) vô công rồi nghề mang danh công chức! Vậy tại sao một nền dịch vụ công chỉ cần 2 triệu người, mà phải trả lương cho tận những gần ba triệu? Ai phải chịu trách nhiệm về vấn đề này? Trong khi chưa thể tìm ra câu trả lời, chúng tôi chỉ xin làm thứ công việc đơn giản hơn là giúp mọi người hình dung một phần cái gánh nặng vật chất và tinh thần mà cả xã hội đang phải è lưng chịu đựng để “cõng” gần một triệu công chức dư thừa đó.

Trước hết, 800 ngàn người lớn đến mức nào? Đó là số dân (hơn kém chút ít) của Cyprus, Bahrain, Bhutan, Qatar, Đông Timor…Hay nó có quy mô gấp đôi dân số Luxemburg, Brunei, Malta, Iceland…

Thứ hai, và đây là vấn đề chính, cần bao nhiêu tiền để nuôi cái đám công chức thừa thãi ấy? Chắc chắn là không ai có thể tính chính xác, vì có những công chức thuộc loại dư thừa, nhưng lại hưởng mức thu nhập nhiều người mơ ước. Hẵng chỉ tính đơn giản thế này: Mỗi người trong số đó, vì họ là công chức, nên thuộc diện thu nhập trung bình khá (so với mức 1000 USD trung bình) sẽ nhận của Nhà nước khoảng 60 triệu đồng (3000 USD) một năm. Nghĩa là cần số tiền lên tới 50.000 tỷ đồng ( 2,5 tỉ USD) cho việc chi lương để ngày ngày 800.000 người ăn mặc sang trọng chỉ để “sáng vác ô đến cơ quan, tối vác ô về nhà” mà không làm bất cứ việc gì. Tuy nhiên, số tiền phải bỏ ra phục vụ việc ngồi chơi xơi nước của “một quốc gia nhỏ” ấy trên thực tế còn lớn hơn nhiều.

Theo thông lệ thì số tiền lương cho công chức chỉ bằng hai phần ba số tiền phải chi ra để họ có thể làm việc, được tính vào khoản duy trì hoạt động của cơ quan Nhà nước. Đó là tiền thuê nhà, tiền điện, tiền điện thoại, tiền khấu hao tài sản, tiền phúc lợi, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chi phí đi lại và cơ man nào những thứ tiền khác được gọi bằng cái tên chung là văn phòng phí. Khiêm tốn tính gộp thì con số 50.000 tỉ đó phải cộng thêm khoảng 20.000 tỉ đồng. Giờ ta thử xem 70.000 tỷ đồng nhiều đến mức nào? Nó nhiều hơn toàn bộ số tiền thu được từ xuất khẩu gạo năm 2012; nó bằng khoảng 5 lần số tiền phí bảo trì đường bộ mà Bộ GTVT dự kiến thu được hằng năm từ ô tô, xe máy với giả phải trả là hứng chịu biết bao lời chì chiết của dư luận; nó bằng già nửa số tiền 120.000 tỉ đồng cần để nâng cấp quốc lộ 1A lên thành đường bốn làn xe ô tô; nó giúp cho khoảng 7 triệu dân miền núi đủ gạo ăn trong một năm để không phá rừng. Nếu có ngần ấy số tiền, toàn bộ các xã nghèo miền núi có trường học, có chợ, có đường trải bê tông. Nó có thể mua được số bò giúp cho Chương trình Lục lạc vàng duy trì liên tục 1500 buổi, với khoảng 9000 gia đình nông dân thuộc dạng nghèo nhất nước có cơ hội đủ cơm ăn. Nó là con số dài tới mức mà không một nông dân bình thường nào đọc chính xác được.

Nhưng đấy mới chỉ tính về khoản vật chất, cho dù không hề nhỏ nhưng chưa chắc đã là lớn nhất. Tai hoạ của nạn biên chế tràn lan là nó khiến cho bộ máy hành chính công của chúng ta thuộc loại công kềnh, kém hiệu quả và lạc hậu vào loại nhất khu vực. Nhàn cư vi bất thiện. Vì không làm gì nên những ông, bà công chức thừa thãi trên trở thành những “con bệnh” của xã hội. Ta hãy xem họ làm gì mỗi ngày để tiêu hết 8 giờ vàng ngọc? Nếu là đàn ông thì phần lớn lướt web, chơi game oline, xem phim sex, tìm cách vào nhà nghỉ với chính đồng nghiệp của mình. Thời gian còn lại ngồi nghĩ mưu kế tư lợi hoặc hại người khác. Còn với thành phần nữ giới thì shoping tối ngày, ăn uống, khoe của tối ngày, buôn dưa lê tối ngày…

Nhiều người coi trụ sở cơ quan chẳng hơn gì cái bếp nhà mình, tranh thủ tận dụng điện nước miễn phí để nấu nướng. Số còn lại, nếu không làm những việc như trên, thì làm chim bói cá, cứ thấy ở đâu có mầu mỡ là đến. Cũng vì thừa dẫn đến lười, ích kỷ, đấu đá chèn ép nhau thay vì thực thi công vụ. Có rất nhiều người cả một đời công chức chỉ chuyên kiện cáo, lao vào đấu đá vì những lợi ích cá nhân. Nhưng lương của họ thì vẫn cứ đến hẹn lại lên. Chức của họ thì cứ đến tuổi là đến. Kèm với lương với chức là đủ thứ tiêu chuẩn ưu đãi khác. Những công bộc này, về nguyên tắc là những người giúp việc cho “ông chủ” Nhân dân, nhưng trên thực tế cũng là những người quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, tham lam, làm khổ “ông chủ” vào loại nhất thế giới. Làm bất cứ việc gì thuộc phạm vi chức phận cũng đòi lót tay. Trong bất cứ nhiệm vụ nào cũng lồng lợi ích của mình vào. Từ lái xe, nhân viên đóng dấu, nhân viên gác cổng…đến những người có tí chức, tí quyền đều là những kẻ chỉ thạo ăn tiền, vòi vĩnh, hạch sách…biến cửa Công đường thành nơi nhếch nhác, bất tín, đáng sợ hơn cả hang hùm. Nền đạo đức xã hội xuống cấp, có phần đóng góp không nhỏ của những thành phần được gọi là công chức ấy.

Nhưng thiệt hại vẫn chưa dừng lại ở đó. Nạn chạy chức chạy quyền thì ai cũng biết. Nhưng nạn chạy chọt để được thành công chức Nhà nước còn khốc liệt hơn và cũng bi hài hơn rất nhiều. Vì số người tham gia luôn rất đông, diễn ra trên một diện rộng, với sự tham gia của mọi thành phần. Nó làm hư hỏng cả người có quyền nhận và người được nhận. Người có quyền nhận thì một khi đã lấy tiền, đã nhúng chàm, làm sao còn dám yêu cầu cấp dưới phải nêu cao đạo đức, kỷ cương, nhân cách-ngoại trừ đó là một truyện hài! Người được nhận vào làm công chức thì cậy tiền nên không cần học, không cần trau dồi chuyên môn, coi thường kỉ cương, phép tắc. Đó là chưa kể họ phải tìm cách ăn chặn, ăn bẩn, vơ vét bằng mọi cách để bù lại số vốn đã bỏ ra.

Nhưng những bệnh tật trên, dù rất trầm trọng, nếu quyết tâm ngăn ngừa, vẫn còn nhiều hy vọng chữa chạy, dù rất tốn kém. Song có một thứ bệnh do nạn chạy công chức gây ra rất khó chữa, thuộc loại nan y, là bệnh ỷ lại, lười biếng và mất khả năng tự trọng. Căn bệnh thuộc loại lây nhiễm này có thể huỷ hoại nhân cách cả một thế hệ, góp phần làm nghèo đất nước. Người ta cần một cái bằng đại học với bất cứ giá nào đôi khi không phải để sau đó làm việc, cống hiến, mà để có cơ hội gia nhập cái đội quân công chức vốn là thừa thãi kia. Với những người này, cái điều đáng lẽ thành nỗi xấu hổ khi chả làm gì ngoài việc “sáng vác ô đi, tối vác ô về”, thì lại là mục tiêu phấn đấu, là sự nghiệp của đời họ. Liệu có khác gì một thứ quốc nạn?

Những thương phế binh VNCH không có Tết

Những thương phế binh VNCH không có Tết

Nguoi-viet.com

Việt Hùng/Người Việt

SÀI GÒN (NV)Trên đường phố Sài Gòn ngày 30 Tết Ất Mùi có những phận đời hẩm hiu, xem đường phố là nhà. Họ là những thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) mưu sinh giữa lòng Sài Gòn khi năm mới cận kề.

Nếu ai đó đã từng đi qua ngã tư Ðiện Biên Phủ-Lê Quí Ðôn, Quận 3, Sài Gòn, ắt hẳn từng bắt gặp hình ảnh một người đàn ông, khoảng 68 tuổi, bị mất cả 2 chân, tay cầm xấp vé số, giơ lên hua qua hua lại: “Các cô các chú giúp giùm một tờ vé số.”



TPB Nguyễn Văn Quang bị mất 2 chân đang bán vé số. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Ðó là chú thương phế binh Nguyễn Văn Quang, số quân 52/711750, thuộc đơn vị Tiểu Ðoàn 328, địa phương quân Tiểu Hậu, xã Hậu Nghĩa, Huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Chú Quang cho biết: “Hôm nay đã là 30 Tết rồi, chú cố gắng ra đây bán, để kiếm thêm một ít mua vài món quá về làm lễ cúng giao thừa. Nhà trọ của chú ở huyện Nhà Bè, cách đây hơn 30km, chú không có tiền nên phải thuê xa cho nó rẻ…”

Bữa trưa của chú Quang là ổ bánh mì, xong rồi tiếp tục bán cho đến hết khoảng 100 tờ vé số mới nghỉ.

Lau những giọt mồ hôi trên trán, chú cho biết thêm: “Tôi là lính VNCH, tôi bị mất cả 2 chân trong chiến dịch Phượng Hoàng vào năm 1969. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên tôi mới phải đi bán vé số thế này. Nhà nước này không hoan nghênh những trường hợp như tôi, nhưng tôi luôn tự hào vì mình là người lính VNCH, đã chiến đấu cho sự bình yên của miền Nam Việt Nam.”

Khi biết chúng tôi muốn viết phóng sự về những người lính VNCH, chú còn nhiệt tình cho vài số điện thoại của những người bạn mà chú biết. Chú nói thêm: “Hầu hết người lính VNCH bây giờ có hoàn cảnh rất khó khăn, như chú là còn có sức khỏe để bán vé số, chứ nhiều người bây giờ phải nằm liệt giường, hoàn cảnh rất thương tâm.”

Trước khi chào chú ra về, chú Quang còn lấy trong đống hành lý những tấm hình lính cũ ngày xưa mà chú đã cất giữ rất cẩn thận để chúng tôi xem.



TPB Nguyễn Văn Tài hành nghề xe honda ôm, khuôn mặt buồn bã khi không có khách. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Cũng tương tự như trường hợp chú Quang, chú Ðoàn Quang Thí (số quân 131798, đơn vị Triệu Phong, Quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) cũng làm nghề bán vé số ở ngã tư Bà Huyện Thanh Quan-Lý Chính Thắng, Quận 3, Sài Gòn.

Sài Gòn những ngày cận Tết trời nắng gắt, thế nhưng trưa 30 Tết, chúng tôi vẫn bắt gặp chú ngồi trên chiếc xe lăn, tay cầm xấp vé số hua qua hua lại: “Ngày 30 rồi cô chú ơi, mua giúp tờ vé số lấy hên may mắn đầu năm.”

Chú tâm sự: “Chú bị thương vào mùa Hè đỏ lửa 1972 ở Quảng Trị. Trọng một lần hành quân, đơn vị của chú bị tập kích của địch, chú bị trúng đạn xuyên sống lưng, bị đứt dây thần kinh, nên 2 chân hoàn toàn bị bại liệt. May mắn còn giữ được tính mạng.”

Chú còn cho biết thêm: “Chú không có nhà cửa, cũng không có tiền thuê nhà, bởi vậy mọi sinh hoạt của chú đều trên xe lăn. Buổi tối chú về chỗ nhà thờ Mai Khôi (12 Tú Xương, Quận 3) và lấy nhà vệ sinh chung của nhà thờ để tắm rửa. Ban đêm chú ngủ trên xe lăn ở mai hiên nhà thờ.”

Tuy hoàn cảnh rất thương tâm, thế nhưng khi được chúng tôi hỏi về đời lính, chú rất hào hứng: “Chú sinh ra trong thời chiến, chú tự hào vì đã cầm súng cho chế độ VNCH. Nếu có sự lựa chọn làm lại, thì chú vẫn sẽ làm lính VNCH, vì miền Nam là quê hương máu mủ của chú.”

Những ngày này không khí Tết đã lan tỏa khắp các thôn xóm Việt Nam, nhiều người hồ hởi sắm sửa Tết cho gia đình, nhưng cũng có nhiều người Tết như một giấc chiêm bao mà ở đó cảm giác nửa mơ nửa tỉnh, nửa đói nửa buồn, nửa tồn tại, nửa mơ hồ cứ vây bủa lấy họ.

Ðiển hình là TPB VNCH Nguyễn Văn Tài, số quân 75109488, Tiểu Ðoàn 9 Nhảy Dù, Lữ Ðoàn 1, chỉ huy trưởng là Trung Úy Thăng, trung đội trưởng là Thiếu Úy Tâm. Hiện nay chú đang làm nghề xe ôm ở góc ngã ba Võ Thị Sáu-Lê Quí Ðôn.

Chúng tôi bắt gặp chú vẫn đang chở đồ thuê vào chiều 30 Tết. Chú cho biết: “Trước đây thì còn có khách đi xe ôm, bây giờ sát Tết rồi, không ai đi xe nữa, nên tôi chuyển sang chở hàng cho khách.”



TPB Ðoàn Quang Thí bị liệt 2 chân ngồi xe lăn bán vé số. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Chú tâm sự: “Chú bị thương vào ngày 23 tháng 12, 1972 vào mua Hè đỏ lửa ở Quảng Trị. Trong một lần nhảy dù xuống để yểm trợ cho quân ta, tiểu đoàn của chú đã bị trúng mìn của địch. Hấu hết đều bỏ mạng vào lúc đó, chú may mắn chỉ bị thương ở chân, nhưng phải cắt bỏ để giữ lấy tính mạng.”

“Ngày mai là mồng Một Tết rồi, tôi cố gắng chạy thêm vài ‘cuốc’ nữa để kiếm thêm chút ít, ngày mai mồng một hẳn nghỉ. Tôi thuê nhà ở quận 9, cách xa chỗ này khoảng 20km. Thuê ở xa cho nó rẻ, chứ ở trung tâm này mắc quá…”

Có lẽ ngày 30 Tết, ai cũng muốn về nhà để yên vui với gia đình, con cái. Thế nhưng với những người từng là lính VNCH, thì mơ ước nhỏ nhoi đó lại là bài toán mà họ đã tìm cách giải hơn 40 năm nay vẫn chưa được.

Cuộc sống có vẽ như quá bất công với họ. Mỗi con người một hoàn cảnh, một ngành nghề kiếm sống khác nhau, thế nhưng điều đọng lại cho người viết khi tiếp xúc với họ đều có một mẫu số chung “Tôi tự hào là một người lính VNCH.”

Từ thế kỷ trước, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết ra câu thơ mô tả dân nghèo thời đấy: “Có một người nghèo không biết Tết. Mang lì chiếc áo độ thu tàn.” Thế nhưng một thế kỷ trôi qua, câu thơ này vẫn con nguyên giá trị của nó.

Thêm một cái Tết nữa đã đến, mùa Xuân đã về. Nhưng còn nhiều lắm những hoàn cảnh TPB VNCH với bao nỗi lo toan vất vả. Mỗi dịp Tết đến là một lần họ lại chạnh lòng thấm thía thân phận của mình trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Sài Gòn, chiều 30 Tết và Giao Thừa

Sài Gòn, chiều 30 Tết và Giao Thừa

Văn Lang/Người Việt

SÀI GÒN (NV)Trưa 30 Tết tại chợ hoa Bến Bình Đông vẫn tấp nập người qua kẻ lại. Nhưng người “chơi hoa” dường như vẫn chưa thực sự xuất hiện. Mặc dù năm nay mai nở rất đều, bất chấp trời lạnh và năm nhuần.

Mai nở hoa vàng rực rỡ Bến Bình Đông trưa 30 Tết nhưng không có khách mua. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Mai nở vàng rực rỡ cả Bến Bình Đông… Nhưng giữa đám đông qua lại ồn ào, trong cái nắng “quái”gắt gao của một buổi trưa 30, cất lên một tiếng rao, chói lỏi: “Mua dzô! Mua dzô ! Một trăm ngàn một cây mai đâââyyy…!!!”

Không thấy ai hưởng ứng, người đàn ông có nước da đen nhẻm, tự cất tiếng cười một mình, rồi than: “Cây bây lớn, bán có một trăm ngàn mà chẳng có ma nào thèm mua!”

Gặp một cô gái ôm một chậu tắc nhỏ rất đẹp. Chúng tôi hỏi thăm. Cô gái cho biết mua có… 40 ngàn đồng. Hết hồn! Thời điểm rớt giá của chợ hoa Bến Bình Đông đã điểm.

Một giờ chiều tại chợ hoa đầu mối (bán quanh năm) có tên là Hồ Thị Kỷ, thuộc quận 10. Đó là một con đường nhỏ, một đầu ăn thông với Lý Thái Tổ, gần bùng binh ngã 7, đầu kia ăn thông ra đường Hùng Vương.

Đủ thứ tiếng rao “đại hạ giá” được xướng lên cùng lúc: “Bông cúc 10 ngàn đồng đây! Lây-ơn Đà Lạt 30 ngàn! Lily Đà Lạt 50 ngàn đồng đây!”

Trên đường Lý Thường Kiệt (Nguyễn Văn Thoại cũ), bắt gặp hình ảnh một chiếc xe cẩu đang cẩu những chậu mai cổ thụ lên xe tải. Chúng tôi biết thời điểm của hoa trái lui về “bến xưa” -nơi chốn vườn nhà đã điểm.

Gặp ông chủ của những gốc mai đại thụ đang đứng gần xe tải chờ chở mai về. Chúng tôi hỏi thăm, thì chỉ nhận được một cái lắc đầu, ngao ngán: “Năm nay bán ế lắm!”

Hỏi thăm tiếp, xe chở mai này về tới đâu lận? Ông chủ mai chỉ trả lời bâng quơ: “Xa lắm!”

Trên đường Thành Thái, mai và tắc (loại tốt) cũng đang lần lượt được khiêng lên xe tải để “hồi cố hương.”

Duy chỉ có mấy gian hàng bán cây trái kiểng coi bộ “kẹt cứng.” Đã là 14 giờ chiều của ngày 30 tết mà gian hàng quýt kiểng vẫn gần như còn nguyên, có lẽ vì đã kêu giá quá cao, từ 2 triệu rưỡi tới 4-5 triệu đồng/1 cây. Ổi kiểng và “lão vú sữa”cũng chịu chung số phận, trong khi năm ngoái thì hai loại cây kiểng có trái đẹp này gần như bán hết ngay trong ngày đầu (23 Tháng Chạp). Năm nay, cây kiểng chỉ có Thanh Long là bán hết hàng, có lẽ do giá bình dân, chỉ từ 300 ngàn đồng tới 1 triệu. Và cây Thanh Long trưng tết cũng khá đẹp và “hợp duyên” với Tết.

Dưa hấu bị chủ nhân “bỏ rơi” lăn lóc trên vỉa hè (đường Bắc Hải nối dài) vào trưa 30 Tết. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Kế bên đường Thành Thái là đường Bắc Hải (nối dài).Thấy nhiều người đang lúi húi bên một đống dưa hấu khá lớn trên vỉa hè. Chúng tôi ghé lại để hỏi thăm giá dưa, ai dè một người đàn ông đang lựa dưa hấu cho biết là chủ dưa đã bỏ, ai thích thì cứ lựa mà lấy.

Vụ chủ dưa bỏ lại dưa trên vỉa hè, chúng tôi cũng đã chứng kiến mấy lần, nhưng chưa bao giờ chúng tôi thấy ai lại bỏ lại những trái dưa hấu lớn như vậy, trong khi trời còn sớm mới chỉ chưa tới 15 giờ chiều.

Bốn giờ chiều, nắng bớt gắt, trời mát dịu, nhưng hầu hết các chủ hoa đều…mặt héo. Vì dù đã ra rả kêu gọi “đại hạ giá,” nhưng bông vẫn còn nhiều.Lác đác đã có những chủ bông (loại bèo) “đứng lên,” mặc cho đám hoa héo thành ra …vô chủ.

Năm giờ chiều, cổng chợ Bà Chiểu, những gian hàng quần áo bày trên vỉa hè, ngoài khu mặt tiền chợ vẫn tấp nập kẻ mua người bán.

Quần áo bán ở đây khá đẹp, người bán không quá nói thách, cái hay là khu chợ này bao giờ cũng bán tới tận tối 30. Nên những người nghèo, người bận rộn công việc cuối năm thường nhớ tới khu này để sắm cho mình “một cái gì đó,” kịp trước thềm năm mới.

Lăng Ông cổng vẫn khép hờ.Phải tới sau 21 giờ mới có người đến viếng, đông dần lên cho tới tận giao thừa.

Đón Giao Thừa

Trở lại Bến Bình Đông vào lúc 9 giờ 30 tối, chúng tôi thật ngạc nhiên khi thấy vẫn tấp nập người…đi coi bông. Mặc dù một số ghe đã quay lui, nhưng cũng còn không ít ghe vẫn kiên trì “bám trụ.”

Dưới ánh đèn đường gương mặt người bán bông như tối hẳn lại. Cả tuần qua họ đã quá mệt mỏi, bây giờ đang bước gần tới thời điểm đón giao thừa mà hàng vẫn còn đó, đường về quê lại xa.

Ít thấy khi nào như năm nay, tới tận 11 giờ mà một số nơi vẫn còn người bán bông (như bên hông Thuận Kiều Plaza) và cả trên Bến Bình Đông, mai tắc loại vừa và nhỏ cùng với những vựa dưa hấu vẫn ê hề…

Quang cảnh chùa Bà (Thiên Hậu) quận 5 trong đêm giao thừa. (Hình: Văn Lang/Người Việt)
Sau 10 giờ đêm, có hai dòng người như “chảy” ngược chiều nhau.

Đa số lớp trung niên, người lớn tuổi (đôi khi được những người trẻ đi kèm) đổ về chùa chiền, nơi thờ tự, như: chùa Vĩnh Nghiêm, Lăng Ông – Bà Chiểu, còn người Hoa vùng Chợ Lớn thì đổ về chùa Bà (Thiên Hậu)…

Lớp trẻ thì đổ về khu trung tâm Sài Gòn, để “lượn lờ”xem đường hoa (năm nay đã dời qua đường Hàm Nghi, thay gì đường Nguyễn Huệ như mọi năm). Và chờ coi bắn pháo bông từ bến Bạch Đằng.

Lăng Ông, Chùa Bà, chùa Vĩnh Nghiêm năm nay cũng như mọi năm đều đông và khói nhang mù mịt.

Gần tới giao thừa, dòng xe Honda chạy trên đường phố Sài Gòn như lao vun vút, hối hả hơn. Nhưng cũng không ít người chợt dừng xe, khi họ thấy trên đường 3 tháng 2 (đường Trần Quốc Toản cũ), có nhiều người lang thang phải ngủ vỉa hè giữa đêm lạnh. Của ít lòng nhiều, họ đặt vô tay những người kia ít đồng bạc, với hy vọng an ủi được chút nào với những người có số phận không may…

Tiếng pháo bông nổ lụp bụp trên bầu trời Sài Gòn báo hiệu thời khắc “tống cựu nghênh tân” – Tiễn năm cũ đi và đón năm mới về.

Cùng với tiếng trống báo hiệu từ Lăng Ông, tiếng chuông chùa Vĩnh Nghiêm hòa cùng tiếng chuông trầm ấm của hàng trăm, hàng ngàn tiếng chuông từ các ngôi chùa lớn nhỏ ở Sài Gòn, rền vang lên tiếng ngân trong không gian như một câu bi chú cầu chúc cho nhân gian được thái hòa…

NGÀY XUÂN NGHE LẠI CA KHÚC “XUÂN NÀY CON KHÔNG VỀ”

NGÀY XUÂN NGHE LẠI CA KHÚC “XUÂN NÀY CON KHÔNG VỀ”

Nguyễn Tường Thụy

RFA

“Xuân này con không về” là sáng tác của bộ ba nhạc sĩ Trần Trịnh, Lâm Đệ, Nhật Ngân, vào khoảng năm 1960. Ca khúc này, Duy Khánh thể hiện thành công nhất.

Thời chiến tranh, Miền Bắc không bao giờ có những bài hát kiểu này (được gọi là nhạc vàng). Nhạc vàng, và cả những bài thuộc dòng nhạc xanh (nhạc tiền chiến) bị cấm cho đến khi hết chiến tranh mới được phổ biến. Còn nhạc đỏ là phục vụ cho cách mạng (cộng sản). Tuy nhiên, sự phân loại xanh, đỏ, vàng cũng chỉ là tương đối.

Nghe “Xuân này con không về” mà người lính muốn bỏ trận địa. Nhưng Việt Nam Cộng Hòa vẫn chấp nhận dòng nhạc này. Ca khúc thường được phát trên sóng phát thanh miền Nam Việt Nam vào mỗi dịp xuân sang cho đến năm 1975.

Có thể VNCH tự tin, có thể không nhận ra tác động tâm lý của dòng nhạc này, có thể vì nhân bản. Dù sao thì đấy là một trong những điểm yếu (không nói là sai lầm) của VNCH trong chiến tranh nhưng tôi tin họ không bao giờ ân hận.

Thực ra, dòng nhạc này không có tội. Nhạc sĩ sáng tác bằng cảm xúc thật của mình nên không thể gọi là nhạc tâm lý chiến. Nó phản ánh rất trung thực cảm xúc, tâm trạng con người. Ở đây là những người lính. Nội dung bài hát không nói đến các vấn đề chính trị lớn lao. Khác với các ca khúc thiên về căm hờn, giục giã, xung trận dành cho người lính miền Bắc, tâm lý người lính ở đây nặng về gia đình, quê hương, chiến hữu… nói chung là các trạng thái tình cảm của con người. Không có chuyện lên gân, lên cốt theo kiểu con không về vì nhiệm vụ, vì lời kêu gọi của quốc gia, dân tộc.

Giai điệu hay, ca từ cảm động lại được thể hiện bằng giọng ca tuyệt vời của Duy Khánh, bài hát đã đi sâu vào lòng người qua nhiều thế hệ. Mỗi độ Tết đến, Xuân về, nghe lại ca khúc này, lòng người không khỏi rưng rưng.

Chỉ tiếc câu cuối, những lần hát sau được sửa là “Mẹ thương con xin đợi ngày mai”. Việc sửa này nó mang cái gì đó khiên cưỡng, mòn xáo. Còn bản cũ, điệp khúc “Mẹ ơi con xuân này vắng nhà” kéo dài, nghe càng lắng sâu, càng thêm da diết.

httpv://www.youtube.com/watch?v=D2qSGfyISHc#t=164

Nhân đây, xin giới thiệu thêm một clip thể hiện bài hát này của Đỗ Thị Minh Hạnh – một tù nhân lương tâm mới được trả tự do Tháng 6/2014. Xin lưu ý, Minh Hạnh không phải là ca sĩ chuyên nghiệp hay nghiệp dư mà chỉ là cô gái hay ca hát. Clip vừa được thực hiện ngày 27 âm lịch vừa rồi.

httpv://www.youtube.com/watch?v=9QuBrGk0Ijc

Tết Ất Mùi (2015)

Nguyễn Tường Thụy

Không ngăn cản bất cứ ai về Việt Nam?

Không ngăn cản bất cứ ai về Việt Nam?

Mặc Lâm – RFA
2015-02-13

maclam02132015.mp3

nguyen-hung-quoc

GS. Nguyễn Hưng Quốc, Australia

Courtesy of vi-wikipedia.com

Your browser does not support the audio element.

Thứ trưởng Vũ Hồng Nam trong cuộc họp báo mang tên “Xuân Quê Hương” vào ngày 30 tháng 1 chào đón kiều bào đã nói rằng theo Nghị quyết 36 của Bộ chính trị thì đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu cao cả, cuối cùng của toàn dân tộc Việt Nam.

Ông Thứ trưởng còn nói đối với người Việt Nam ở nước ngoài thì Bộ Ngoại giao có chính sách hàn gắn, đoàn kết dân tộc với những người còn có ý kiến khác, còn có những hoạt động chống đối, lời nói xâm hại lợi ích quốc gia, dân tộc. Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đã tiếp cận những kiều bào còn định kiến, cử các đoàn chuyên viên gặp gỡ, trao đổi với đại diện kiều bào ở các nước, có những chính sách cởi mở hơn nữa để vận động họ trở về…

Đối chiếu với tuyên bố này, thực tế có những bức tranh hoàn toàn khác đang gây ẩn ức từ việc công an cửa khẩu nhận được chỉ thị cấm hàng trăm người nhập cảnh mỗi năm theo danh sách mà họ gọi là thành phần chống đối. Trong các thành phần chống đối ấy công an không loại trừ các trí thức, chuyên gia, hay những người làm từ thiện mà hoạt động của họ hoàn toàn không có một sự chống đối nguy hiểm nào.

Trường hợp thứ nhất là chuyên gia an ninh mạng Hoàng Ngọc Diêu, anh bị nhà nước cấm cửa không cho vào Việt Nam mặc dù được mời tham dự một hội thảo chuyên đề về an ninh mạng vào cái tết năm 2012, anh Hoàng Ngọc Diêu cho biết thêm chi tiết như sau:

“Khoảng tháng 1 đầu năm 2012 tôi được mời về Việt Nam do một nhóm chuyên bảo mật an toàn thông tin của Việt Nam mời về dự cuộc hội thảo được gọi là “Tetcon” (Viết tắt của Tết Conference, do được tổ chức vào ngày gần Tết) mình nhận được giấy mời đàng hoàng, được đài thọ mọi thứ, coi như cái event đó nó được Ủy ban nhân dân thành phố chấp thuận đầy đủ hết rồi.

Ngày hôm đó mình chỉ lên máy bay, về tới nơi thì hải quan của phi trường Tân sơn nhất họ giữ lại, họ lôi vô trong phòng nói chuyện trên trời dưới đất họ tìm cách trì hoãn thời gian. Lúc đó mình chưa có hiểu rõ là mình không được vô Việt Nam mình chỉ nghĩ họ muốn biết mình về Việt Nam làm gì thôi không ngờ họ kéo dài ba bốn tiếng đồng hồ cuối cùng họ nói: thôi bây giờ anh ra máy bay, họ tống cổ lên chuyến bay kế tiếp bay ngược lại Úc!”

hoang-ngoc-dieu

Ông Hoàng Ngọc Diêu – Ảnh từ goctroikhac.wordpress.com

Trường hợp thứ hai là Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc giảng dạy tại đại học Victoria thành phố Melbourne nước Úc. Giáo sư bị công an cửa khẩu từ chối không cho nhập cảnh hai lần, lần đầu tiên vào năm 2005 khi ông dẫn 14 sinh viên người Úc về Việt Nam để làm một cuộc du khảo vì các sinh viên này đã theo học tiếng Việt ở Úc và cuộc đi này nhằm góp phần mở mang kiến thức văn hóa Việt Nam cho các bạn sinh viên. Trong khi tất cả các sinh viên không có vấn đề gì thì chính bản thân người dẫn đầu lại bị chặn và không cho phép vào Việt Nam. Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc bị buộc phải lên máy bay quay về Úc ngay sau đó.

Ba năm sau vào năm 2009 Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc được mời thuyết trình trong một hội thảo quốc tế về vấn đề giảng dạy ngôn ngữ do trường đại học Hà Nội và một trường đại học tại Úc đồng tổ chức. Ông được mời, được Việt Nam cấp Visa nhưng khi tới phi trường Nội Bài ở Hà Nội thì lại không được phép nhập cảnh.

Trở về Úc, Giáo sư hỏi đại sứ Việt Nam tại Úc và Bộ Ngoại giao Việt Nam tại sao lại có chuyện như vậy thì Bộ Ngoại giao không trả lời chỉ có đại sứ Việt Nam tại Úc trả lời là họ không biết.

Trường hợp thứ ba là của cô MiVan Lovstrom, vào tháng 10 năm 2011 cô cũng bị cấm nhập cảnh khi cùng hai người bạn Na Uy đi với cô vào Việt Nam mang quà tặng cho trẻ khuyết tật. Chỉ mình cô bị cấm vào và phải quay về Thái Lan mà không một lời giải thích. MiVan cho biết:

“Lúc đó thì họ nói là tạm thời MiVan không được nhập cảnh, MiVan có hỏi lý do thì không được trả lời lý do như thế nào. Sau đó MiVan hỏi nữa thì tòa đại sứ Việt Nam ở Thái Lan nói là chắc MiVan đi tới những vùng nhạy cảm họ cũng nói rằng ở Việt Nam muốn làm từ thiện thì phải qua Mặt trận tổ quốc hay Đoàn thanh niên.

MiVan cảm thấy nó không hợp lý vì vẫn không có câu trả lời thỏa đáng và lúc hỏi khi nào mới trở vào được thì vẫn không có câu trả lời rõ ràng. MiVan cảm thấy chuyện của mình làm là mang một chút nguồn vui tới những người kém may mắn hơn vì vậy MiVan mong được sự thông cảm đối với việc của mình.”

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc là một nhà phê bình lý luận văn học có tiếng ở hải ngoại. Ông là một trí thức hiếm hoi ở nước ngoài dấn thân lặn lội trong việc nghiên cứu văn học Việt Nam nhưng bắt đầu từ hai chuyến cấm nhập cảnh đó người theo dõi thấy chủ đề và cách viết của ông thay đổi một cách rõ ràng. Ông không viết về văn học nữa mà tập trung các bài phân tích chế độ cộng sản Việt Nam một cách sắc sảo mà trước đó ông chưa bao giờ làm. Khi được hỏi có phải sự thay đổi lớn lao này phát sinh từ hai chuyến về Việt Nam hay không ông nói:

“Tôi nghĩ là có anh ạ. Thật ra không phải tôi không quan tâm đến chính trị thế nhưng từ lúc vượt biên, lúc cầm bút vào cuối năm 1985 cho đến khoảng năm 2008 thì hầu như hoàn toàn tôi không viết về chính trị mà chỉ viết về văn học thôi. Không phải vì mình không băn khoăn, không suy nghĩ về chính trị nhưng có hai lý do: Lý do thứ nhất tôi muốn tập trung vào lĩnh vực văn học thôi vì tôi nghĩ đó là sở trường của mình, thứ hai, chuyện chính trị tôi nghĩ có thể có nhiều người khác có khả năng hơn mình họ có thể làm được và làm một cách xuất sắc hơn mình.

Thế nhưng sau khi bị trục xuất ra khỏi Việt Nam lần thứ hai thì tôi bị shock, rồi chính cái shock ấy tôi mới nghĩ rằng là mình muốn tránh né chuyện chính trị cũng không được. Ngay bản thân tôi hồi trước chỉ tập trung vào phê bình văn học, tậy trung vào nghiên cứu nhưng cuối cùng vẫn bị áp lực của chính trị buộc mình không được đặt chân vào ngay chính quê hương của mình để thăm gia đình, bạn bè cho nên thật ra mà nói tôi rất shocked.”

Cò lẽ sự ẩn ức của Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc không phải từ cá nhân ông, nhưng việc cấm nhập cảnh giống như mảnh vải đen che mắt của ông bị lột bỏ để ánh sáng tri thức soi rọi vào một góc tối mà trước đó ông không để ý, giáo sư chia sẻ:

” … có thể nói thế này, chính cái việc bị trục xuất ra khỏi Việt Nam nó làm như một cái cú shock về phương diện tâm lý và từ phương diện tâm lý như vậy nó thay đổi cả về phương diện nhận thức và cuối cùng tôi viết về chính trị một điều mà trước đó tôi nghĩ có lẽ mình sẽ không bao giờ nghĩ tới.

GS. Nguyễn Hưng Quốc “

“Ngay cả khi mình sống ở hải ngoại mà mình còn chịu sự tác động của những quyết định độc tài độc đoán như vậy huống hồ gì những người trong nước họ hoàn toàn lệ thuộc vào các quyết định của chính phủ. Họ có thể sợ những công an trong khu vực ra đường thì sợ cảnh sát…cả đời họ sợ hãi bởi vậy cho nên tôi nghĩ nếu trong hoàn cảnh như vậy mà mình tiếp tục viết vể văn học nghệ thuật thì tự nhiên mình cảm thấy có gì nó hơi hờ hững quá, nó không phải cho nên tôi bắt đầu viết vể chính trị.

Thoạt đầu tôi định viết ít thôi, mỗi tuần viết trên blog của đài VOA thì tôi định mỗi tuần tôi viết hai bài vể văn học, một bài về ngôn ngữ học hoặc giáo dục và một bài vể chính trị nhưng mà càng đọc, theo dõi tình hình chính trị Việt Nam thì càng cảm thấy khó chịu, bức bối nó đòi viết bởi vậy dần dần về sau này thì gần như tôi viết hoàn toàn về vấn đề chính trị. Gần đây tôi có mở một trang Facebook thì ở trong đó tôi cũng viết về chính trị cho nên có thể nói thế này, chính cái việc bị trục xuất ra khỏi Việt Nam nó làm như một cái cú shock về phương diện tâm lý và từ phương diện tâm lý như vậy nó thay đổi cả về phương diện nhận thức và cuối cùng tôi viết về chính trị một điều mà trước đó tôi nghĩ có lẽ mình sẽ không bao giờ nghĩ tới”

Trong buổi họp báo vào trước Tết, Thứ trưởng Vũ Hồng Nam khẳng định với báo chí rằng “Việt Nam có chủ trương rõ ràng, đất mẹ Việt Nam mở rộng cánh tay đón tất cả những người con trở về, không phân biệt thành phần quá khứ, miễn là không chống lại đất nước, không chống lại nhân dân. Đây là một thông điệp rõ ràng của Đảng, Nhà nước chúng ta.”

Rất tiếc thông điệp này, ít nhất theo những người bị cấm nhập cảnh vô cớ, chỉ có thể là thông điệp phát đi từ Bộ Ngoại giao, làm theo nội dung của nghị quyết 36 chứ Bộ Công an hoàn toàn không chia sẻ. Những cái nhìn quá nhạy cảm của Cục Đối ngoại thuộc Bộ Công an không phân biệt nổi đâu là sự chống đối nguy hiểm đến chế độ và đâu là các hoạt động thuần túy nghề nghiệp đã đẩy những người có tâm với đất nước trở thành đối đầu một cách kiên trì để từ đó mọi giải thích chỉ được đánh giá là tuyên truyền không hơn không kém.