Từ bỏ một lý tưởng (phần 2)

Từ bỏ một lý tưởng (phần 2)

Kính Hòa, RFA
2015-03-02

Nghe audio: Từ bỏ chủ nghĩa cộng sản – phần 2: Nhận Thức

Luật đất đai theo kiểu cộng sản Việt Nam

Luật đất đai theo kiểu cộng sản Việt Nam

Files photos

Your browser does not support the audio element.

Ngày 30 tháng tư năm nay đánh dấu 40 năm ngày đảng cộng sản Việt nam nắm quyền thống trị trên toàn bộ nước Việt nam. Dưới chế độ độc đảng, xã hội Việt nam được qui định chỉ có một hệ tư tưởng duy nhất mà thôi, đó là chủ nghĩa cộng sản. Song người ta thấy rằng những người không đồng tình với chủ nghĩa này càng đông, đồng thời họ cũng không đồng ý rằng đảng cộng sản Việt nam độc quyền cai trị đất nước.

Phần hai: Nhận thức

Trong phần đầu chúng tôi đã điểm lại những người theo đảng cộng sản từ những ngày đầu tiên và vỡ mộng. Sự suy nghiệm về xã hội và chính trị vẫn tiếp tục dưới chế độ độc đảng đưa tới một thế hệ thứ hai ý thức rằng họ không đồng tình với chủ nghĩa cộng sản.

Suy nghiệm bản thân

Trong những năm đầu tiên của thế kỷ 21, trên truyền thông chính thống của đảng cộng sản, lẫn các phương tiện truyền thông quốc tế người ta thấy liên tục xuất hiện các bài viết về luật pháp của một luật sư trẻ tuổi là Lê Công Định. Các bài viết này mang nội dung phản biện xã hội hướng tới một mục đích xây dựng một chế độ pháp quyền tại Việt nam. Năm 2009 ông Lê Công Định bị bắt cùng các ông Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, và Nguyễn Tiến Trung. Nhà cầm quyền buộc tội họ là âm mưu lật đổ.

Năm 2014 luật sư Lê Công Định được trả tự do. Ông cho chúng tôi biết là sự nhận thức về chủ nghĩa cộng sản của ông bắt đầu từ ngay trong gia đình ông, một gia đình mà hầu hết mọi thành viên đều tham gia cách mạng cộng sản.

Sau năm 1975, tất cả đều thất vọng, tất cả đều sụp đổ về niềm tin. Những lời kể của họ, qua những kinh nghiệm cuộc đời họ, qua những nhận thức trực tiếp từ xã hội trước năm 75 mà họ có được, họ truyền lại cho thế hệ của tôi. Vì tôi là người quan tâm về chính trị sớm, nên tôi ý thức được sự thất vọng đó, sự đỗ vỡ về niềm tin đó, và từ đó tôi bắt đầu tôi tìm hiểu.”

” Với thực trạng xã hội sau năm 1975, dù đã được tô hồng, dù đã được nói những lời tuyên truyền rất hay ho, nhưng mà thực trạng thì hoàn toàn khác, cho nên tôi ngày càng thay đổi nhận thức của mình. Tôi thấy rõ là cái mô hình cộng sản, hay người ta nói là mô hình XHCN, hoàn toàn sụp đổ, vì nó không có tương lai

LS. Lê Công Định”

Sự quyết định rõ ràng về chính kiến của luật sư Định diễn ra sau hai sự kiện quan trọng, đó là ba ông, một người cộng sản bị bỏ từ bởi những đồng chí của mình, và sau đó là cuộc cách mạng Đông Âu làm sụp đổ hoàn toàn chủ nghĩa cộng sản trên chính quê hương của nó.

Những người bán hàng rong...

Những người bán hàng rong…

Với thực trạng xã hội sau năm 1975, dù đã được tô hồng, dù đã được nói những lời tuyên truyền rất hay ho, nhưng mà thực trạng thì hoàn toàn khác, cho nên tôi ngày càng thay đổi nhận thức của mình. Tôi thấy rõ là cái mô hình cộng sản, hay người ta nói là mô hình xã hội chủ nghĩa, hoàn toàn sụp đổ, vì nó không có tương lai, nó sai từ cái nền tảng lý thuyết của nó.”

Ở đầu kia của đất nước, một đảng viên cao cấp của đảng cộng sản tỉnh Lạng Sơn là ông Vi Đức Hồi cũng thay đổi nhận thức nhờ vào thực trạng xã hội, và từ những bậc tiền bối bị thất vọng về thực tại tại cộng sản.

Lúc tuổi trẻ tôi rất nhiệt quyết với chế độ cộng sản, tôi đứng trong hàng ngũ của đảng cộng sản rất là nhiều năm. Sau đó thì tôi thấy chế độ của đảng cộng sản Việt nam nó lừa dối, nói một đàng làm một nẻo. Tôi cũng đã nghe những bậc tiền bối của tôi như là cụ Hoàng Minh Chính, cụ Trần Độ, rồi sau đó là Trần Xuân Bách, tôi nhận thức được điều đó rất lâu, và đến năm 2006 thì tôi quyết định bắt đầu cuộc đấu tranh dân chủ của tôi một cách công khai.”

Một người cộng sản kỳ cựu khác là Trung tá Trần Anh Kim vào đảng từ năm 1968 nói rằng nhận thức của ông bắt đầu từ không khí chính trị cởi mở sau đại hội lần thứ 6 của đảng vào năm 1986. Nhưng mọi chuyện trở nên rõ ràng hơn với ông khi ông về quê là tỉnh Thái Bình.

Tôi không ngờ rằng khi tôi về Thái Bình thì tình hình tham nhũng, ức hiếp nhân dân, ăn cướp của dân nó ở mức độ tôi không thể tưởng tượng được. Trong đại hội đảng lần bảy (người ta nói) có bốn nguy cơ, trong đó có nguy cơ vong quốc và vong đảng. Tôi nói vong đảng thì tôi không quan tâm, nhưng vong quốc thì tôi không thể chấp nhận được vì cả cuộc đời tôi đi chiến đấu để bảo vệ tổ quốc và nhân dân. Nhân dân bây giờ khổ, tổ quốc sẽ vong do bọn tham nhũng nên tôi kiên quyết đấu tranh. Tôi đấu tranh từ năm 1991.”

Ông Trần Anh Kim cũng bị bỏ tù và vừa được trả tự do vào đầu năm 2015.

Mở cửa kinh tế và Internet

Tại Hà nội, cựu du học sinh Nguyễn Quang A trở về từ Hungary sau năm 1975. Ông cho biết đến thời điểm đó ông vẫn chưa có quan tâm về chính trị, và cũng như mọi du học sinh khác ông nghĩ rằng sau khi học hành thành đạt sẽ trở về phục vụ đất nước. Ông Nguyễn Quang A hiện nay là một trong những người hay lên tiếng phản biện xã hội, và công khai bày tỏ quan điểm là Việt nam cần một chế độ đa nguyên chính trị. Ông nói rằng sự nhận thức của ông là lâu dài, nhưng cũng có những sự kiện làm cho nhận thức đó rõ ràng hơn

” Từ trước đến giờ mình cứ nghĩ là chủ nghĩa xã hội của đảng cộng sản tuyên truyền là đúng. Sau khi đến Pháp mới thấy là người ta dân chủ, kinh tế thị trường mới phát triển được, nhờ đó mới vỡ lẽ ra là bao năm nay mình bị lừa, từ đó mới quyết tâm thay đổi để những thế hệ sau này không còn bị lừa bịp nữa

Kỹ sư Nguyễn Tiến Trung”

Có lẽ một cột mốc làm mình suy nghĩ rất là kỹ là năm 1989, sự biến đổi ở Đông Âu. Nhưng lúc đấy tôi cũng chỉ là một nhà kinh doanh không quan tâm đến chính trị. Đến năm 1992, khi mà tôi kinh doanh khá là thành công, người ta vu cho tôi là trốn lậu thuế, một cái vụ lớn nhất từ khi thành lập nước Việt nam đến lúc đó, mình phải đương đầu với những lời vu cáo từ bên chính quyền, rồi có đến ba ông ủy viên Bộ chính trị của đảng cộng sản Việt nam này, viết lời khen những người vu cáo tôi. Không thể chấp nhận một chế độ mà nó vu oan giá họa như vậy.”

Năm 1992 mà ông Nguyễn Quang A đề cập là thời điểm mà Việt nam mở cửa ra với bên ngoài được sáu năm. Cũng vào giai đoạn mở cửa kinh tế này mà nhiều thanh niên Việt nam được sang du học tại phương Tây, và tại đây họ bắt đầu thay đổi nhận thức. Kỹ sư Nguyễn Tiến Trung sinh sau năm 1975, trong một gia đình có tham gia cuộc cách mạng cộng sản nói:

Phải đến lúc qua Pháp thì Trung mới nhận thức ra được, vì trong nước mình không có thông tin và internet chưa phát triển nhiều. Và nói chung là mình bị nhồi sọ từ nhỏ nên không có nhận thức xã hội. Sau khi đến Pháp thì mới tìm hiểu đọc thêm, nói chung là thanh niên thì lúc nào cũng có nhiệt huyết cống hiến cho đất nước. Từ trướcc đến giờ mình cứ nghĩ là chủ nghĩa xã hội của đảng cộng sản tuyên truyền là đúng. Sau khi đến Pháp mới thấy là người ta dân chủ, kinh tế thị trường mới phát triển được, nhờ đó mới vỡ lẽ ra là bao năm nay mình bị lừa, từ đó mới quyết tâm thay đổi để những thế hệ sau này không còn bị lừa bịp nữa.”

Tiến Trung cũng nói thêm rằng sự nhận thức của anh là một quá trình dài lâu.

Sau khi đảng cộng sản Việt nam chấp nhận kinh tế thị trường, một yếu tố khác góp phần thay đổi nhận thức xã hội nữa xuất hiện đó là Internet.

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa nói là mặc dù ông đã ý thức được những vấn đề không ổn của mô hình cộng sản từ năm 1968, nhưng mãi đến khi tiếp cận Internet thì mọi chuyện trở nên rõ ràng hơn. Một đảng viên cao cấp, xin giấu tên,  thì nói với chúng tôi là ông quyết định từ bỏ chủ nghĩa cộng sản sau khi xem được câu chuyện về nhà lãnh đạo cộng sản Trung quốc mang tên Mao Trạch Đông ngàn năm công tội trên internet.

Trong phần tiếp theo cũng là phần cuối của lọat bài này chúng tôi sẽ nói đến những người từ bỏ đảng tịch và một thế hệ thanh niên trẻ bắt đầu nghĩ rằng sự cai trị của duy nhất đảng cộng sản ở Việt nam là không hợp lý cho sự phát triển của đất nước.

Việt Nam có thể quốc hữu hóa thêm hai ngân hàng thương mại

Việt Nam có thể quốc hữu hóa thêm hai ngân hàng thương mại

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN 1-3 (NV) .- Đó là thông tin của tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn sau khi phóng viên của tờ này trao đổi với một viên chức là lãnh đạo Ngân hang Nhà nước.

Ocean Bank – một trong hai ngân hàng thương mại mà Ngân hang Nhà nước Việt Nam dự trù “quốc hữu hóa”. (Hình: TBKTSG)

Hồi đầu tháng hai, thay vì để Ngân hàng Xây dựng Việt Nam (VNCB) phá sản, Ngân hàng Nhà nước tuyên bố mua lại VNCB với giá 0 đồng/cổ phần.

Trước đó, vào hạ tuần tháng 7 và thượng tuần tháng 8 năm ngoái, công an CSVN từng bắt giữ các ông Phạm Công Danh – Chủ tịch Hội đồng Quản trị của VNCB, ông Mai Hữu Khương thành viên Hội đồng Quản trị VNCB, ông Phan Thành Mai cựu Tổng Giám đốc VNCB vì “vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”.

Đến cuối tuần qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết có thể sẽ mua lại “100% cổ phần của hai ngân hàng Ocean Bank và GP Bank” để thực hiện “tái cơ cấu” hệ thống ngân hàng. Từ tháng 10 năm ngoái đến cuối tháng 1 năm nay, công an Việt Nam đã bắt lần lượt ba nhân vật là lãnh đạo Ocean Bank cũng bởi “vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”.

GP Bank thì nằm trong danh sách phải “tái cơ cấu” từ năm 2012 nhưng không ai muốn mua. Tuy chế độ Hà Nội và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không cho biết chi tiết về hiện trạng của hệ thống ngân hàng thương mại song có nhiều dấu hiệu cho thấy hệ thống này vẫn không thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng và có thể sụp đổ theo kiểu dây chuyền.

Người ta phỏng đoán việc quốc hữu hóa (mua lại 100% cổ phần) của các ngân hàng thương mại là một nỗ lực nhằm ngăn chặn sự sụp đổ này.

Năm 2008, Quỹ Tiền Tệ Thế Giới (IMF) từng cảnh báo, sự yếu kém của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam là nguy cơ tiềm ẩn cho nền kinh tế. Hoạt động chủ yếu của hệ thống này là rót tiền vào lãnh vực bất động sản. Khi thị trường bất động sản đóng băng, hệ thống này có thể tạo ra khủng hoảng tín dụng.

Cũng thời điểm đó, một số chuyên gia kinh tế khác nhận định, dù được gọi là “cổ phần” song đa số ngân hàng ở Việt Nam đều do nhà cầm quyền CSVN thành lập hoặc cung cấp vốn. Bởi có sự trộn lẫn giữa vốn nhà nước và vốn tư nhân, chuyện kiểm soát việc góp và sử dụng vốn lại lỏng lẻo. Thậm chí có nhiều dấu hiệu đáng ngờ nên “nợ xấu” (nợ không có khả năng thu hồi cả vốn lẫn lãi) đã trở thành một vấn nạn nghiêm trọng.

Các chính sách của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm cứu hệ thống ngân hàng được xem là một trong những lý do chính khiến kinh tế Việt Nam tụt dần xuống đáy. Trong 15 năm từ năm 2000 đến nay, Việt Nam đã thực hiện ba đợt “tái cơ cấu” hệ thống ngân hàng vì kinh tế Việt Nam suy thoái và tác động của kinh tế thế giới: 2000 – 2003 (sau khủng hoảng tài chính châu Á), 2005 – 2008 (vì gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO), 2012 – 2015.

Các đợt “tái cơ cấu” hệ thống ngân hàng bao gồm đóng cửa một số ngân hàng thương mại, cho ngân hàng này mua lại ngân hàng khác, hợp nhất ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn với công ty tài chính cổ phần, chuyển ngân hang thương mại cổ phần nông thôn thành ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, sáp nhập các ngân hang thương mại cổ phần vào với nhau.

Tuy nhiên, trong một báo cáo về kết quả khảo sát việc thực hiện tái cơ cấu kinh tế trong đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và hệ thống ngân hàng giai đoạn 2011-2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội CSVN nhận định, ba lần “tái cơ cấu” hệ thống ngân hàng cho thấy, việc quản lý hệ thống ngân hàng không ổn và đó là lý do khiến hệ thống ngân hàng bất ổn, nguy hiểm cho toàn hệ thống.

Tính từ năm 2012 đến hết tháng 8 năm 2014, hệ thống ngân hàng đã giải quyết được 214,000 tỉ “nợ xấu” (những khoản cho vay bị mất cả vốn lẫn lãi) nhưng việc đối phó vẫn bị xem là quá chậm.

Việc để các tổ chức tín dụng tự giải quyết nợ xấu đã làm suy giảm năng lực tài chính, hiệu quả kinh doanh của tổ chức tín dụng. Trong tám tháng đầu năm ngoái, tổng nợ xấu được “xử lý” bằng cách dùng các nguồn “dự phòng rủi ro” lên tới 11,200 tỉ.

Việc thành lập Công ty Quản lý tài sản (VAMC) không đạt hiệu quả mong muốn vì năng lực tài chính có hạn. Tính đến cuối tháng 9 năm ngoái, VAMC đã mua 68,000 tỉ “nợ xấu” nhưng chỉ bán được hơn 1,400 tỉ. (G.Đ.)

Biển Đông và sự thật phía sau chiếc mặt nạ hữu nghị

Biển Đông và sự thật phía sau chiếc mặt nạ hữu nghị

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-02-26

000_Hkg9812263.jpg

Vùng đảo Gạc Ma nhìn từ trên cao, ảnh minh họa chụp hôm 15/5/2014.

AFP PHOTO

Trong những ngày gần đây, Trung Quốc ngang nhiên xây dựng căn cứ quân sự trên vùng đảo Gạc Ma mà Bắc Kinh đã chiếm của Việt Nam vào năm 1988. Vệ tinh xác định diện tích xây dựng gấp hai trăm lần nếu so với năm 2004.  Trước tình hình nghiêm trọng như vậy nhưng Việt Nam vẫn giữ phản ứng yếu ớt như từ trước tới nay thường làm. Mặc Lâm phỏng vấn Phó GSTS Hoàng Ngọc Giao, nguyên Vụ trưởng Ban biên giới Chính phủ để tìm hiểu thêm lý do tại sao Việt Nam tiếp tục gần như im lặng.

Đe dọa chủ quyền Việt Nam

Trước tiên Phó giáo sư Hoàng Ngọc Giao chia sẻ:

PGS Hoàng Ngọc Giao: Rõ ràng đây là vấn đề có thể nói rằng rất nghiêm trọng đang đe dọa toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo, thế nhưng tôi cũng như người dân và các đồng nghiệp khác cảm thấy rất là thất vọng, đang ngóng chờ xem không biết là chính phủ Việt Nam sẽ có những động thái gì.

“Rõ ràng đây là vấn đề có thể nói rằng rất nghiêm trọng đang đe dọa toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo, thế nhưng tôi cũng như người dân và các đồng nghiệp khác cảm thấy rất là thất vọng, đang ngóng chờ xem không biết là chính phủ Việt Nam sẽ có những động thái gì.
-PGS Hoàng Ngọc Giao”

Cho đến bây giờ thì chưa thấy có một động thái nào cả và điều này theo tôi nó rất là không bình thường, nhất là chính phủ là người chịu trách nhiệm về việc quản lý đất nước bảo vệ chủ quyền là lãnh thổ của đất nước mà lại chưa có động thái gì rõ rệt thì đây là điều đang gây nên băn khoăn và lo lắng trong giới trí thức cũng như nhiều người dân Việt Nam.

Mặc Lâm: Như GS cũng đã biết hiện nay Malaysia và Philippines đang rất lo ngại việc bành trướng của Trung Quốc qua các động thái xây dựng các nơi mà họ chiếm dụng trái phép. Theo GS Việt Nam có nên liên kết với các nước có cùng quan ngại tại Biển Đông  với mục đích bảo vệ chủ quyền của mình hay không?

PGS Hoàng Ngọc Giao: Vâng, theo tôi việc liên kết với các nước có cùng lợi ích trong khu vực Biển Đông là sự cần thiết. Có lẽ sự cần thiết này không phải bây giờ nó mới đặt ra mà ngay từ khi những động thái đầu tiên của Trung Quốc khi đưa dàn khoan HD 981 vào vùng biển của chúng ta thì nó đặt ra sự cần thiết là ngoài nỗ lực đấu tranh bằng ngoại giao, đấu tranh bằng pháp lý thì Việt Nam cần phải có sự liên kết hợp pháp với các nước khác như Philippines, Malaysia hay các nước trong ASEAN để làm sao thúc đẩy tiếng nói của các nước nhỏ trong vùng Biển Đông để hạn chế, kiềm chế chính sách bành trướng xâm lược xuống phía Nam của Trung Quốc.

Tuy nhiên những bước đi của Việt Nam cho đến ngày hôm nay trong sự liên kết đó thì mới chỉ thể hiện ở việc liên kết vể mặt chính trị ngoại giao trong khối ASEAN nhằm thúc đẩy việc xây dựng COC (Code of Conduct) chứ còn về mặt đấu tranh pháp lý thì có thể nói Việt Nam, mặc dù theo tôi được biết về mặt hồ sơ pháp lý cũng như các căn cứ pháp lý của Việt Nam rất tự tin và có thể lập hồ sơ một cách đầy đủ để mà thực hiện những hành động pháp lý, thế nhưng rất tiếc cho tới bây giờ thì Việt Nam vẫn chưa thể hiện một chính sách đối ngoại hòa bình bằng con đường pháp luật để giải quyết vấn đề này mà cũng chỉ là dừng lại ở những tuyên bố khẳng định chủ quyền rất là chung chung. Theo tôi thì điều này nó chưa giải quyết được vấn đề và trong bối cảnh hiện nay chính phủ Việt Nam cần phải mạnh mẽ hơn nữa.

001_GR308262-305.jpg

Bản đồ hình lưỡi bò do TQ tự công bố nhằm chiếm trọn biền Đông.

Mặc Lâm: Thế nhưng có những ý kiến cho rằng Việt Nam nên mềm mỏng chờ đợi thời cơ khi đất nước mạnh hơn thì việc đối phó với Trung Quốc sẽ hiệu quả và có lợi hơn là tích cực chống lại Bắc Kinh trong tình thế bây giờ?

PGS Hoàng Ngọc Giao: Chúng ta gìn giữ quan hệ mềm mỏng với Trung Quốc nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta phải để cho Trung Quốc lấn tới như thế này. Trên thực tế Trung Quốc đang lấn tới và những hành vi xây dựng như thế của họ trên biển trực tiếp đe dọa chủ quyền của Việt Nam. Cụ thể đường đi ra Biển Đông của chúng ta ở các đảo Trường Sa bây giờ họ đã san lấp và lập ra các trạm và sau này nó sẽ trở thành các căn cứ quân sự của họ. Họ kiểm soát mở rộng ra toàn bộ vùng biển và như vậy Việt Nam dường như vào cái thế rất kẹt.

Nếu ngay từ bây giờ chính phủ Việt Nam không quyết định ngay có những hành động pháp lý mạnh mẽ hơn nữa, một mình đơn phương hay kết hợp cùng với các nước trong khu vực, đặc biệt cùng với Philippines thì theo tôi tình hình nó sẽ diển biến ngày càng xấu đi và nguy cơ chúng ta bị mất cả vùng biển ở Biển Đông nó đang hiện hữu, nó đang ngày càng rõ rệt hơn.

Đã khởi kiện thì phải khởi kiện toàn bộ

Mặc Lâm: Thưa GS quần đảo Gạc Ma là của Việt Nam và bị Trung Quốc đánh chiếm vào năm 1988 với các bằng chứng thuyết phục không thể chối cãi qua sự hy sinh của các bộ đội vẫn còn danh sách tử vong, vậy có nên chăng bắt đầu khởi kiện Trung Quốc ngay tại thời điểm này khi Trung Quốc tăng tốc xây dựng và mở rộng đảo Gạc Ma?

PGS Hoàng Ngọc Giao: Theo tôi việc kiện Trung Quốc không phải chỉ đơn thuần chỉ có một cái đảo Gạc Ma. Nếu nói về hồ sơ pháp lý thì Hoàng Sa là của chúng ta đó là chắc chắn, rất mạnh mẽ. Trường Sa thì có một số đảo, bãi đá các thứ thì chúng ta sau này mới tiếp quản và nó cũng chỉ là những cái đảo không có người ở tức là những bãi đá không được thừa nhận trong công ước luật biển năm 82. Do đó nếu chúng ta khởi kiện Trung Quốc là chúng ta khởi kiện về vấn đề danh nghĩa chủ quyền đối với các đảo và bãi đá trên Biển Đông.

” Nếu bây giờ chúng ta chỉ đi kiện mỗi cái đảo Gạc Ma thì dường như được hiểu là chúng ta mặc nhiên công nhận Hoàng Sa là của họ. Cho nên đã khởi kiện thì phải khởi kiện toàn bộ danh nghĩa chủ quyền của chúng ta đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
-PGS Hoàng Ngọc Giao”

Tôi nghĩ rằng đấy mới là đầy đủ, chứ còn có một bãi Gạc Ma thì chưa phải là một nội dung lớn để chúng ta có đầy đủ tất cả các căn cứ pháp lý. Bởi vì nó liên quan với nhau mà, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nó liên quan rất nhiều. Chúng ta có nhiều bằng chứng về lịch sử, pháp lý liên quan đến cả Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Chúa Nguyễn, do đó nếu như khởi kiện thì chúng ta cần phải lập một hồ sơ về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và khởi kiện trong nghĩa chủ quyền đối với các đảo và bãi đá này.

Nếu bây giờ chúng ta chỉ đi kiện mỗi cái đảo Gạc Ma thì dường như được hiểu là chúng ta mặc nhiên công nhận Hoàng Sa là của họ. Cho nên đã khởi kiện thì phải khởi kiện toàn bộ danh nghĩa chủ quyền của chúng ta đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ở đây tôi muốn nói “danh nghĩa chủ quyền” và việc này phải để cho tòa xác định. Chúng ta luôn luôn khẳng định rằng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của chúng ta nhưng về mặt căn cứ pháp lý cũng như mặt địa lý, địa mạo rồi hàng hải thì phải để cho quốc tế phân định.

Tôi không nghĩ rằng chúng ta yêu sách đòi tất cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì chúng ta sẽ được ngần đó, thế nhưng đã là một hồ sơ pháp lý thì phải đầy đủ tất cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Mặc Lâm: Vâng, thưa GS Trung Quốc tỏ ra rất lo ngại dư luận của người dân Việt Nam. Khi dân chúng tổ chức các cuộc biểu tình chống Trung Quốc thì Bắc Kinh luôn luôn yêu cầu nhà nước Việt Nam can thiệp. Ông có nghĩ rằng đến một thời điểm nào đó thì nhà nước sẽ tổ chức hay khuyến khích các cuộc biểu tình chống Trung Quốc nhằm hỗ trợ các chính sách đối phó của nhà nước hay không?

PGS Hoàng Ngọc Giao: Theo tôi ở một nền dân chủ thì tiếng nói người dân rất quan trọng và chính sách đối ngoại của nhà nước phải dựa trên lòng dân. Ở đây tôi không muốn nói nhà nước phải khuyến khích hay cho phép. Ở đây phải khẳng định cái quyền có được tiếng nói để bảo vệ chủ quyền của đất nước, đó là quyền của nhân dân Việt Nam.

Tuy nhiên điều đáng tiếc là quan hệ chính trị cho nên chính phủ Việt Nam nhiều lúc cân nhắc đến chuyện quan hệ đối ngoại đối với Trung Quốc, giữ lấy khẩu hiệu 16 chữ vàng và 4 tốt. Trong khi đó nhận thức của nhân dân, công chúng thì người ta thừa thấy rằng cái 16 chữ vàng và 4 tốt nó chả có ý nghĩa gì cả và người ta thấy đường lối đối ngoại của phía Trung Quốc theo kiểu bành trướng đã xé toạc cái khẩu hiệu 16 chữ vàng và 4 tốt do họ nêu ra. Họ nêu ra như thế nhưng họ áp đặt chính phủ Việt Nam theo đường lối gọi là hữu hảo.

Đây là một âm mưu một sách lược vừa đánh vừa trói buộc đối phương của Trung Quốc.

Mặc Lâm: Xin cám ơn giáo sư.

“LÂU ĐÀI” CỦA ÔNG NÔNG ĐỨC MẠNH VÀ CHÍNH SÁCH NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG

“LÂU ĐÀI” CỦA ÔNG NÔNG ĐỨC MẠNH VÀ CHÍNH SÁCH NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG

Huỳnh Ngọc Chênh

Ảnh trên báo Tiền Phong đã bị gỡ xuống

Ảnh trên báo Tiền Phong đã được gỡ xuống

Con gà khoe tiếng gáy; Con thú lo chăm chút bộ lông (ngay cả khi đồng loại của nó đang gào thét vì đau đớn); Trọc phú khoe của cải và nhà cao cửa rộng; Nhà văn hóa tự hào về tác phẩm của mình; Nhà lãnh đạo chính trị chăm chút sự nghiệp và những công trình để lại cho dân cho nước.

Ông cựu TBT Nông Đức Mạnh lại chăm chút cái lâu đài hào nhoáng của mình.

Ông bỏ công chăm chút đến từng chi tiết trên ghế ngồi, từng hoa văn trên mặt đá cẩm thạch lót nền và lót tường…nghĩa là ông chăm chút độ hào nhoáng của lâu đài ông đến từng cm, mặc cho chung quanh, dân chúng của ông đang lầm than rách nát vì đói nghèo, vì bất công xã hội. Trẻ con vùng cao thiếu trường để học, thiếu áo quần giữ ấm, thiếu cầu để vượt sông, thiếu thịt để ăn. Bà con dân oan lang thang giữa thủ đô ngay trong đêm 30 tết, không nơi trú ngụ. Đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng…

Khi sự hào nhoáng đến kệch cỡm của lâu đài ông lộ ra thì không những tầm văn hóa và tầm nhận thức của ông lộ ra, bộ mặt đạo đức giả cũng rơi xuống mà cả cái chính sách nhân sự của đảng CSVN cũng phơi trần ra mặt trái của nó.

Ông là người cộng sản được tổ chức đánh giá tốt nhất trong gần 4 triệu đảng viên, nên ông mới được sàng lọc và chọn ra là người số một, người đứng đầu đảng và cũng là người lãnh đạo tuyệt đối đất nước.

Người cộng sản tốt nhất là người “vừa hồng vừa chuyên” tốt nhất trong số 4 triệu người vừa hồng vừa chuyên, có đạo đức cao vời vợi không ai sánh bằng, có trí tuệ và nhận thức không ai theo kịp… và có như vậy thì mới được đưa lên làm tổng bí thư.

Ở cương vị TBT, ngoài việc lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện đất nước, ông còn là người số một đưa ra quyết định chọn lựa ai là nhân tài để kế vị ông, kế vị những chức danh cao nhất cho bộ máy nhà nước theo chính sách xây dựng nhân sự của đảng ông.

Ông là người quyết định cao nhất ai sẽ là TBT, ai sẽ là chủ tịch nước, ai sẽ là thủ tướng, ai sẽ là bộ trưởng…trong các nhiệm kỳ sau ông.

Tại hội nghị 10 vừa rồi, ông Tô Huy Rứa đã tuyên bố nhiệm vụ chọn lựa đội ngũ nhân sự kế thừa là rất gay go nhưng bô chính trị và trung ương đảng đã hoàn thành tốt đẹp khi chọn ra được 22 người được cho là xuất sắc nhất để quy hoạch vào bộ chính trị và ban bí thư kế thừa, rồi trong số đó sẽ chọn ra người tài đức số một để đưa lên làm TBT.
Hội nghị trung ương đảng trước đây trên 10 năm cũng đã làm như vậy để chọn ra ông để đưa lên. Ông dĩ nhiên được đánh giá là tài đức nhất vào khi đó.

Thế nhưng, sau khi vãn tuồng, ông nhanh chóng bộc lộ ra là một con người như thế nào thì ai nhìn vào cũng biết là như thế nào.

Vậy thì làm sao tin được những nhân sự kế thừa ông do ông lựa ra, tin được những nhân sự tiếp theo, tin vào 22 nhân sự mà hội nghị 10 vừa quy hoạch?

Làm sao tin được chính sách nhân sự theo kiểu người trước nhường ngôi lại cho người sau một cách chủ quan duy ý chí không thông qua sự bầu bán dân chủ thật sự của toàn dân?

HNC

Chỉ có con thú mới ngoảnh đi trước nỗi đau của đồng loại để chăm chút cho bộ lông của mình.

https://anhbasam.files.wordpress.com/2015/02/h1172.jpg

Ðồng Nai: Man rợ vụ giết người, hiếp rồi đốt xác

Ðồng Nai: Man rợ vụ giết người, hiếp rồi đốt xác

Nguoi-viet.com

ÐỒNG NAI (NV)Chiều 30 Tết, hai nghi can nhậu xong đòi bạn nữ cho quan hệ tình dục nhưng bị cự tuyệt, cả hai đã bóp chết nạn nhân, thay nhau hiếp xác rồi đốt để phi tang.

Báo Công Lý đưa tin, ngày 23 tháng 4, công an tỉnh Ðồng Nai cho biết, đang bắt giữ hai hung thủ là Lương Tấn Khanh (38 tuổi), ngụ tại huyện Tân Phú và Bùi Thanh Hoài (29 tuổi), ngụ tại tỉnh Long An) về hành vi giết người.



Hiện trường vụ giết người, đốt xác ở rừng tràm. (Hình: báo Công Lý)

Trước đó, vào ngày 20 tháng 2 (tức ngày mồng 2 Tết), người dân phát hiện một xác chết bị thiêu rụi trong đồi tràm tại ấp Lộ Ðức, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom. Nạn nhân được công an xác định là Phạm Thị Phương Vân (30 tuổi), ngụ tại ấp Thái Hòa, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom.

Theo thông tin từ gia đình nạn nhân, ông Phạm Công Sơn, anh ruột của nạn nhân cho biết, bà Vân chưa có gia đình riêng, hiện đang sống cùng bố mẹ và làm nghề buôn bán tạp hóa. Khoảng 10 giờ ngày 18 tháng 2 (tức ngày 30 Tết), bà Vân chạy xe máy rời khỏi nhà để đi chơi cùng với bạn nhưng không cho biết mình đi đâu. Cũng kể từ hôm đó, gia đình không thấy bà Vân trở về nhà.

Cho đến trưa ngày 20 tháng 2, thì gia đình ông Sơn nhận được hung tin là bà Vân đã bị thiêu cháy trong đồi tràm. Khi đến nơi kiểm tra, gia đình thấy thi thể đã bị cháy đen, nhưng tất cả tài sản thì vẫn còn nguyên không bị mất.

Xác định đây là một vụ án giết người nên cơ quan công an đã truy tìm hung thủ. Liền sau đó, hai hung thủ giết người đã ra đầu thú và khai nhận tội.

Báo Công Lý dẫn lời khai ban đầu của các hung thủ Khanh và Hoài với cơ quan điều tra, bà Vân là bạn chung, thường tổ chức ăn nhậu cùng nhau. Vào ngày 20 tháng 2, cả 3 tổ chức nhậu chung tại xưởng gỗ thuộc ấp Lộ Ðức.

Trong cơn say, ông Khanh và ông Hoài đã đòi bà Vân phải quan hệ tình dục với mình. Bị bạn gái cự tuyệt, cả hai đã bóp cổ cho đến khi bà Vân tắt thở, rồi thay nhau hiếp xác nạn nhân. Sau đó đưa xác vào đồi hoang để đốt phi tang và cùng nhau bỏ trốn. (Tr.N)

Ân xá Quốc tế : Việt Nam vẫn hạn chế nghiêm ngặt quyền tự do ngôn luận

Ân xá Quốc tế : Việt Nam vẫn hạn chế nghiêm ngặt quyền tự do ngôn luận

Thanh Phương

RFI

media

Biểu tượng “Ngọn nến Hy vọng” trên trang amnesty.fr (DR)

Trong bản báo cáo thường niên 2014 về tình hình nhân quyền trên thế giới, tổ chức Ân xá Quốc tế nhận định rằng Việt Nam tiếp tục hạn chế nghiêm ngặt các quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do tập hợp một cách ôn hòa.

Hôm nay, 25/02/2015, tổ chức Ân xá Quốc tế ( Amnesty International ) vừa công bố bản báo cáo thường niên 2014 về tình hình nhân quyền trên toàn thế giới.

Nhận định chung của Ân xá Quốc tế : năm 2014 là một năm « rất tồi tệ » đối với hàng triệu người là nạn nhân của bạo lực. Thế mà phản ứng của cộng đồng quốc tế với các vụ xung đột và hành động bạo lực của các quốc gia và các tổ chức vũ trang rất là vô hiệu quả và đáng chê trách. Theo Ân xá Quốc tế, trước việc gia tăng các vụ tấn công man rợ và trước việc người dân nhiều nước bị đàn áp, cộng đồng quốc tế đã không có hành động gì.

Riêng về Việt Nam, trong phần mở đầu, Ân xá Quốc tế nhận định : « Việt Nam tiếp tục hạn chế nghiêm ngặt các quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do tập hợp một cách ôn hòa. Nhiều tù nhân lương tâm bị giam giữ trong những điều kiện khắc nghiệt sau những phiên xử không công bằng (… ) Đã có thêm các blogger và nhà hoạt động nhân quyền bị bắt giữ và xét xử. Chính quyền đã tìm cách ngăn chận hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự chưa được cấp phép, bằng cách sách nhiễu, theo dõi và hạn chế tự do đi lại. Các nhân viên an ninh đã sách nhiễu và hành hung các nhà hoạt động hôn hòa và bắt giam họ trong thời gian ngắn. »

Trong báo cáo, Ân xá Quốc tế cũng nhắc lại rằng Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc vào tháng 01/2014 với nhiệm kỳ hai năm. Nhưng vào tháng 6 năm ngoái, Việt Nam đã bác bỏ 45 trên 227 khuyến nghị của Nhóm làm việc về Phiên kiểm điểm định kỳ phổ quát trong tháng 02/2014. Những khuyến nghị bị bác bỏ bao gồm những khuyến nghị về các nhà hoạt động nhân quyền và bất đồng chính kiến, về tự do ngôn luận và về án tử hình.

Báo cáo cũng cho biết là vào tháng 2 năm ngoái, một một phái đoàn Ân xá Quốc tế đã đến thăm Việt Nam để mở các cuộc họp chính thức. Trong chuyến viếng thăm vào tháng 7, Báo cáo viên đặc biệt của LHQ về quyền tự do tôn giáo đã tìm thấy bằng chứng về những vụ vi phạm nghiêm trọng, trong đó các vụ công an bố ráp, ngăn cản nghi lễ tôn giáo, đánh đập, tấn công các thành viên những tổ chức tôn giáo độc lập.

Nhật cảnh báo sau vụ tu nghiệp sinh Việt Nam ‘trộm dê’ làm thịt

Nhật cảnh báo sau vụ tu nghiệp sinh Việt Nam ‘trộm dê’ làm thịt

Nguoi-viet.com

NHẬT BẢN (NV) – Cảnh báo vừa kể được đưa ra sau khi sau khi có hai người Việt bị cảnh sát Nhật bắt giữ rồi công tố Nhật đề nghị tòa án phạt tù họ vì “trộm cắp.”

Hồi tháng 12 năm ngoái, ông Lê Thế Lộc, 30 tuổi và cựu sinh viên Bùi Văn Vỹ, 22 tuổi, bị bắt sau khi bắt trộm hai con dê trong một đàn dê 16 con được nuôi ở công viên Minokamo, tỉnh Gifu, để làm thịt cho một nhóm khoảng 20 người cùng ăn.



Hai người Việt bị đề nghị phạt tù vì trộm hai con dê trong đàn dê được nuôi ở công viên Minokamo, tỉnh Gifu, Nhật. (Hình: Asahi Shimbun)

Vụ bắt trộm dê được xem là nghiêm trọng vì 16 con dê vừa kể đang được Ðại Học Gifu phối hợp với thành phố Minokamo nuôi để thử nghiệm phương thức dùng động vật diệt cỏ.

Theo Asahi Shimbun, một tờ báo tại Nhật, thì Bùi Văn Vỹ đến Nhật để du học và bỏ dở việc học vì không có khả năng trả học phí.

Cựu sinh viên Bùi Văn Vỹ thuê chỗ trọ ở cùng với ông Lê Thế Lộc và trường hợp phạm tội của ông Lộc được Asahi Shimbun khắc họa rất chi tiết.

Ông Lộc, người đã có vợ và một bé gái từng là tài xế taxi tại Việt Nam. Do thu nhập thấp, không đủ sống, lại được một công ty chuyên xuất cảng lao động mời mọc, ông Lộc bàn bạc với gia đình, rồi đem thế chấp cả nhà lẫn đất, vay ngân hàng khoảng 270 triệu (tương đương 1.5 triệu Yen), để sang Nhật làm thuê dưới danh nghĩa tu nghiệp sinh trong Chương Trình Ðào Tạo Thực Tập Sinh Kỹ Thuật (TITP).

TITP là một chương trình do chính phủ Nhật mở ra để giúp công dân một số quốc gia mà chính phủ Nhật lựa chọn có cơ hội làm việc tại Nhật để phát triển kỹ năng nghề nghiệp rồi đem những kỹ năng đó về ứng dụng tại quê nhà. Mỗi tu nghiệp sinh có thể cư trú và làm việc tại Nhật trong ba năm.

Cho đến nay, có khoảng 150,000 tu nghiệp sinh ngoại quốc đang cư trú và làm việc trong 69 lĩnh vực nghề nghiệp tại Nhật theo chương trình TITP.

Qua trường hợp của ông Lộc, Asahi Shimbun cảnh báo chương trình TITP đang bị lạm dụng và đẩy nhiều người vào nghịch cảnh.

Lý do ông Lộc được gia đình ủng hộ trong việc thế chấp nhà đất – vay tiền ngân hàng để nộp cho công ty xuất cảng lao động sang Nhật làm tu nghiệp sinh vì công ty này khẳng định, tại Nhật, nếu làm việc 8 tiếng/ngày, 5 ngày/tuần, mỗi tháng, ông Lộc có thể kiếm được từ 200,000 Yen đến 300,000 Yen. Ngoài ra nơi ông Lộc làm việc sẽ cung cấp chỗ ở miễn phí.

Tuy nhiên trên thực tế, tháng 3 năm 2013, khi đến trồng cà chua cho một công ty ở tỉnh Nagano, ông Lộc phải làm việc 20 tiếng/ngày và 7 ngày/tuần. Còn lương chỉ có 80,000 Yen/tháng. Chưa kể mỗi tháng ông phải trả 20,000 yên cho việc thuê “chỗ ở,” trong khi “chỗ ở” là dưới gầm thùng cầu dao điện của một nhà kho chứa nông cụ, có một vòi nước để tắm nhưng không có nhà vệ sinh.

Tính ra mỗi tháng, ông Lộc chỉ còn 60,000 Yen và mỗi tháng chỉ có thể gửi về nhà từ 30,000 đến 40,000 Yen để gia đình trả nợ ngân hàng.

Sau bảy tháng làm việc và ăn ở theo kiểu như thế, ông Lộc kiệt sức và quyết định bỏ việc. Dựa vào những thông tin tuyển dụng được đăng trên Internet, ông Lộc tìm đến xin làm việc cho một công ty cơ khí ở tỉnh Aichi. Tuy nhiên, ông Lộc chỉ có thể làm việc tại đó cho đến tháng 3 năm 2014 thì phải nghỉ làm việc vì giấy phép cư trú tại Nhật hết hạn.

Ông Lộc kể với Asahi Shimbun rằng, ông hoàn toàn bế tắc bởi không có việc làm thì không có tiền gửi về cho gia đình trả nợ ngân hàng và sẽ mất sạch nhà cửa, đất đai. Ở lại Nhật thì thành người cư trú bất hợp pháp còn quay về Việt Nam thì cũng chẳng còn đường sống. Cuối cùng, ông Lộc quyết định ở lại Nhật và giấu tình cảnh của mình không cho người thân ở Việt Nam biết.

Sau khi thất nghiệp, ông Lộc trộm cắp thực phẩm tại các siêu thị ở Nhật để ăn trước khi bị bắt…

Trong vài năm gần đây, nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế liên tục cảnh báo về thảm trạng của những người Việt được các công ty xuất cảng lao động của Việt Nam đưa ra ngoại quốc làm thuê.

Hồi tháng 9 năm ngoái, Verité – một tổ chức quốc tế công bố kết quả một cuộc khảo sát kéo dài trong hai năm, theo đó, 40% người Việt đến Mã Lai làm thuê bị cưỡng bức lao động.

Chẳng riêng Verité cảnh báo về tình trạng người Việt bị các công ty môi giới lao động bóc lột từ trong nước và bị chủ ngoại quốc bóc lột tiếp khi ra ngoại quốc làm thuê.

Trước nữa, vào tháng 5 năm 2013, American Thinker đăng một bài viết của Michael Benge, lên án chính quyền Việt Nam chủ trương buôn người.

Ông Benge đã đưa ra nhiều dẫn chứng về việc chính quyền Việt Nam chuyên buôn người, qua hoạt động của các công ty xuất cảng lao động. Các công ty này thường có nguồn gốc phức tạp, thường xuyên lừa gạt người nghèo bằng những hợp đồng hấp dẫn (lương cao, điều kiện làm việc lý tưởng). Có những người nghèo phải trả tới 10,000 Mỹ kim cho cái gọi là phí nộp đơn. Vì nghèo, họ được khuyến khích thế chấp tài sản để vay tiền ngân hàng thanh toán các loại chi phí.

Khi ra đến ngoại quốc, họ bị thu hộ chiếu, bị ép ký những hợp đồng khác hẳn những gì đã được hứa hẹn, phải làm việc nhiều hơn, điều kiện làm việc tồi tệ hơn, chưa kể hàng tháng còn phải nộp môt khoản nhất định cho công ty xuất cảng lao động…

Kết quả, người nghèo đi làm thuê ở nước ngoài ngập trong nợ, lệ thuộc vì nợ, gia đình của họ tại Việt Nam thì mất hết tài sản. Ông Benge khẳng định, có nhiều dấu hiệu rõ ràng để kết luận, các công ty xuất cảng lao động đã liên kết với các ngân hàng và các viên chức chính quyền. (G.Ð

. Trần Trung Đạo: Hãy nói trước ngày chết

. Trần Trung Đạo: Hãy nói trước ngày chết

Vào thời điểm 1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường chẳng những không sợ gì phải che giấu mà còn xem đó như một thành tích cần được nêu ra. Xem đoạn phim, khuôn mặt Hoàng Phủ Ngọc Tường đằng đằng sát khí khi diễn tả việc giết một viên chức VNCH: “chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng”.

Tương Tri

Trần Trung Đạo

22-03-2015

H1

Trong lịch sử nhân loại, không có một chủ nghĩa nào tàn bạo hơn chủ nghĩa Cộng Sản.
Từ khi Tuyên ngôn đảng cộng sản ra đời năm 1848 cho đến khi bức tường Bá Linh bị đập đổ vào 1989, khoảng gần 100 triệu người từ nhiều quốc gia đã bị giết. Hơn hai mươi năm qua, mặc dù ngọn lửa vô thần đã tắt trên phần lớn quả địa cầu, một góc trời phương đông lửa vẫn còn đỏ rực, nhà tù vẫn còn giam giữ nhiều người bất đồng với chế độ độc tài toàn trị và tự do vẫn là một bóng mây xa.

Người đời có thói quen kết án Stalin đã gây ra tội ác tày trời đối với nhân dân Liên Xô, Mao Trạch Đông đã giết trên 30 triệu nhân dân Trung Quốc và Pol Pot tiêu diệt một phần tư dân tộc Khmer bằng súng và cả bằng dao phay, cán cuốc. Những chuyện đó ngày nay nhân loại đều biết và tội ác của chúng không còn là vấn đề tranh cải nữa. Tuy nhiên, làm thế nào một nông dân có gốc gác bình thường, nếu không muốn nói là hiền lành như Mao lại có thể trở thành sát nhân của mấy chục triệu dân Trung Quốc? Làm thế nào Pol Pot, con của một điền chủ giàu có, được gởi sang Pháp ăn học, được bạn bè nhớ lại như một người nhã nhặn, lịch sự và được gọi là trí thức trong xã hội Khmer còn chậm tiến lúc bấy giờ, nhưng sau khi nắm chính quyền đã giết hai triệu dân Khmer bằng búa, dao và những cách giết người tàn bạo hơn cả trong thời Trung Cổ?

Bởi vì chủ nghĩa Cộng Sản trang bị cho chúng một quyền lực tuyệt đối, một niềm tin cuối cùng, một lối thoát tinh thần, một chỗ dựa lý luận để giải thích cho hành động bất nhân của chúng.

Nuon Chea, người đứng hàng thứ hai của chế độ Khờ Me Đỏ chỉ sau Pol Pot, lạnh lùng trả lời báo chí, những kẻ bị giết chỉ vì họ là “ kẻ thù của nhân dân”. Đơn giản vậy thôi. Chúng ăn rất ngon và ngủ rất yên dù sau một ngày ký hàng loạt bản án tử hình.

Giết một vài đối thủ thì không sao nhưng để loại bỏ hàng triệu người là chuyện khác. Stalin không thể lên tận các trại lao động khổ sai ở Siberia để bỏ đói những người chống đối y. Mao Trạch Đông không thể xuống từng trường học để tra tấn các thầy cô trong Cách Mạng Văn Hóa, Hồ Chí Minh không thể đích thân xử bắn bà Nguyễn Thị Năm trong Cải Cách Ruộng Đất. Nhưng họ có khả năng huấn luyện, đầu độc một thế hệ đao phủ thủ trẻ tuổi hăng say và cuồng tín để làm thay. Quyền lực đặt vào tay đám đao thủ phủ trẻ này chẳng khác gì con dao bén để chúng thanh toán những mối thù riêng và lập công dâng Đảng.

Tháng 10 năm 2002, nhà báo Mỹ Amanda Pike đến Campuchia để tìm hiểu nguyên nhân tội ác diệt chủng của Pol Pot đã không được làm sáng tỏ. Amanda Pike phỏng vấn bà Samrith Phum, người có chồng bị Khờ Me Đỏ giết. Theo lời kể của bà Samrith Phum, vào nửa đêm năm 1977 chồng bà bị một Khờ Me Đỏ địa phương bắt đi và giết chết vì bị cho là “gián điệp CIA”. Hung thủ chẳng ai xa lạ mà là người cùng làng với bà Samrith. Hiện nay, kẻ giết người vẫn còn sống nhởn nhơ chung một làng với bà cách thủ đô Nam Vang vài dặm nhưng không một tòa án nào truy tố hay kết án.

Với chủ trương “Dân tộc Khờ Me cần đào hố để chôn đi quá khứ” Hun Sen đã cản trở Liên Hiệp Quốc rất nhiều trong việc điều tra tội diệt chủng của chế độ Pol Pot. Hun Sen cản trở vì bản thân y cũng từng là một sĩ quan Khờ Me Đỏ. Hun Sen nhiệt tình với lý tưởng CS đến mức bỏ học theo Pol Pot khi còn trong tuổi thiếu niên. Nhiều chi tiết trong quảng thời gian từ 1975 đến 1979 của cuộc đời y vẫn còn trong vòng bí mật. Khi chôn quá khứ của Campuchia, Hun Sen muốn chôn đi quá khứ tội lỗi của mình.

Tình trạng kẻ sát nhân và gia đình những người bị sát hại vẫn còn sống chung làng, chung xóm, chung thành phố không chỉ phổ biến tại Campuchia nhưng cũng rất phổ biến tại Huế sau vụ Thảm sát Tết Mậu Thân 1968.

Số người bị giết trong vụ Thảm sát Tết Mậu Thân khác nhau tùy theo nguồn điều tra nhưng phần lớn công nhận số người bị giết lên đến nhiều ngàn người và “kẻ thù nhân dân” không chỉ là công chức chính quyền VNCH mà còn rất đông sinh viên, học sinh, phụ nữ, trẻ em và ngay cả một số giáo sư ngoại quốc. Ông Võ Văn Bằng, Nghị viên tỉnh Thừa Thiên và cũng là Trưởng Ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân, kể lại: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng.”

Tài liệu liên quan đến Thảm sát Tết Mậu Thân rất nhiều, từ điều tra của các nhà nghiên cứu nước ngoài cho đến các nhân chứng sống Việt Nam. Đến nay, thành phần được nghĩ đã gây ra biến cố đầy tang thương cho dân tộc Việt Nam này là những người Huế “nhảy núi”. Họ là những người bỏ trường, bỏ làng xóm, bỏ cố đô lên rừng theo CS và Tết Mậu Thân đã trở lại tàn sát chính đồng bào ruột thịt của mình. Họ là những kẻ vừa được giải thoát khỏi nhà giam Thừa Phủ đưa lên núi huấn luyện vài ngày rồi trở lại giết chết những kẻ bị nghi ngờ đã bỏ tù họ.

Không giống quân đội chính quy tấn công Huế, những du kích nằm vùng, những thanh niên, sinh viên, học sinh là những người sinh ra và lớn lên ở Huế, thuộc từng tên phố tên đường, biết tên biết tuổi từng người. Họ lập danh sách và đến từng nhà lừa gạt người dân bằng cách “mời đi trình diện” rồi sẽ trả về nhà ăn Tết. Những người nhẹ dạ đi theo. Mà cho dù không nhẹ dạ cũng chẳng ai nghĩ mình sắp bị chôn sống chỉ vì làm chức liên gia trưởng của năm bảy gia đình, ấp trưởng một ngôi làng nhỏ, xã trưởng của vài trăm dân. Kết quả, từng nhóm, từng đoàn người lần lượt bị đem ra “tòa án nhân dân” và kết án tử hình.

Người “nhảy núi” nổi tiếng nhất là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Ngày 12 tháng 7 năm 1997, Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời câu hỏi của nhà văn Thụy Khuê về sự liên quan của ông đối với vụ Thảm sát Tết Mậu Thân : “Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế” và ông cũng thừa nhận Thảm sát Tết Mậu Thân là có thật chứ chẳng phải “Mỹ Ngụy” nào dàn dựng “Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng”.

Khi được hỏi ai là những người phải chịu trách nhiệm, Hoàng Phủ Ngọc Tường phát biểu “Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” và tiếp tục nêu thêm chi tiết chính Đại tá Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân thừa nhận trong tạp chí Sông Hương “Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi.”

Tóm lại, Hoàng Phủ Ngọc Tường trong buổi phỏng vấn dành cho nhà văn Thụy Khuê xác nhận ông ta không có mặt ở Huế trong suốt thời gian Huế bị CS chiếm đóng và những kẻ sát hại thường dân vô tội là do các “lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” chủ trương.

Tuy nhiên 15 năm trước đó, ngày 29 tháng 2 năm 1982, trong buổi phỏng vấn truyền hình dài 15 phút dành cho hệ thống WGBH, Hoàng Phủ Ngọc Tường thừa nhận việc dư luận đang tố cáo ông là đúng, nghĩa là chính ông đã có mặt tại Huế: “Tôi đã đi trên những đường hẽm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu …Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra ..” và ông cho rằng một số người dân Huế chết thảm thương là do sự trả thù của chính người Huế với người Huế “chính nhân dân đã căm thù quá lâu, đó là những người đã bị chính nó tra tấn, chính nó đã làm cho tất cả gia đình phải bị đi ở tù ra ngoài đảo v.v. và đến khi cách mạng bùng lên họ được như là lấy lại cái thế của người mạnh thì họ đi tìm những kẻ đó để trừ như là trừ những con rắn độc mà từ lâu nay nếu còn sống thì nó sẽ tiếp tục nó gây tội ác trong chiến tranh.”

Nếu phân tích theo thời gian và diễn biến chính trị thế giới, đặc biệt sự sụp đổ của phong trào CS quốc tế, câu trả lời của Hoàng Phủ Ngọc Tường vào năm 1982 là thành thật và sát với thực tế Mậu Thân nhất. Trong giai đoạn chuyên chính vô sản vài năm sau 1975, không chỉ ông ta mà cả các lãnh đạo CSVN vẫn nghĩ “con đường tất yếu” là con đường “tiến nhanh, tiến mạnh, tiếng vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Không có một thế lực nào cản trở sức chảy của “ba dòng thác cách mạng”. Vào thời điểm 1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường chẳng những không sợ gì phải che giấu mà còn xem đó như một thành tích cần được nêu ra. Xem đoạn phim, khuôn mặt Hoàng Phủ Ngọc Tường đằng đằng sát khí khi diễn tả việc giết một viên chức VNCH: “chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng”.

Thái độ đó hoàn toàn khác với giọng ôn tồn khi ông ta nhắc lại lời của Đại tá CS Lê Minh như thay cho chính mình 15 năm sau “bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ”. Thời gian đổi thay, lịch sử đổi thay và con người cũng thay đổi. Không phải chỉ Hoàng Phủ Ngọc Tường mà cả những cựu lãnh đạo CS Đông Âu, một thời giết người không chút xót thương, sau 1990 cũng trả lời báo chí với giọng ngọt ngào như thế.

Nhiều bạn hữu của Hoàng Phủ Ngọc Tường như tác giả Ngô Minh viết trên talawas 2008, cho rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường “trong suốt những năm lên “xanh” ở A Lưới, Hoàng Phủ Ngọc Tường không được phân công về thành phố hay đồng bằng một chuyến nào cả” mà không biết hay cố tình bỏ qua sự kiện 26 năm trước chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã xác nhận mình ở Huế với những tình tiết mắt thấy tai nghe của một người trong cuộc.

Hai buổi trả lời phỏng vấn hoàn toàn trái ngược chứng tỏ Hoàng Phủ Ngọc Tường phải có một khó khăn để giải thích sự liên hệ của mình đến vụ Thảm sát Mậu Thân. Lời phát biểu của ông cho thấy một điều, những người bị giết chắc chắn biết người giết mình là ai.

Không giống Hoàng Phủ Ngọc Tường mâu thuẫn, hai ông Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Phan từ trên núi theo đoàn quân CS đánh vào Huế. Hai ông không từ chối điều này nhưng đều phủ nhận đã có liên hệ gì với Thảm sát Mậu Thân. Trong bài viết nhân đọc bài “Trịnh công sơn – Những hoạt động nằm vùng” Hoàng Phủ Ngọc Phan khẳng định: “Còn tôi thì có theo chiến dịch về hoạt động ở Thành nội Huế nhưng tôi không hề giết ai cả, suốt gần 10 năm đi kháng chiến cũng không hề làm thiệt mạng một con thú trên rừng chứ đừng nói là con người.”

Nhà văn Nhã Ca kết án ông Nguyễn Đắc Xuân trong Giải Khăn Sô Cho Huế vì đã “đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố để xử tử” và ông Nguyễn Đắc Xuân đáp lại trong bài Hậu Quả Của “Cái Chết” của tôi: “Còn tôi, một sinh viên Phật tử mới thoát ly chưa đầy một năm rưởi, không có quyền hành gì, nếu tôi muốn làm những việc như Nhã Ca viết thì cũng không thể làm được. Không ai cho tôi làm. Nếu tôi tự ý làm, làm sao tôi có thể thoát được sự phê phán của đồng chí đồng sự của tôi, đặc biệt là những người sau nầy không còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến nữa…”

Chuyện “thoát ly chưa đầy một năm rưỡi” không chứng minh được ông ta không có quyền giết người, trái lại cũng có thể giải thích ngược, càng tham gia trễ càng phải chứng tỏ nhiệt tình cách mạng cao độ, càng phải giết nhiều người, càng phải lập nhiều công. Nói thế không phải để đánh bồi thêm một người đã ngã nhưng cho thấy lời biện bạch của ông không thuyết phục.

Trong tinh thần “Lợi ích của sự ngờ” (Benefit of the doubt), tạm cho những lời người khác kể về các ông chưa đủ bằng chứng kết tội, tuy nhiên, các ông Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân, những thành viên tích cực của phong trào đấu tranh đô thị, hoạt động 26 ngày trong lòng thành phố Huế bị rơi vào tay các ông với nhiều ngàn người dân vô tội bị giết bằng những cách dã man hơn cả bọn diệt chủng Pol Pot mà các ông nói rằng không biết gì, không thấy gì thì trẻ con ngây thơ cũng không tin được.

Và không chỉ ba ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan mà cả thế hệ “nhảy núi” ở Huế trong đó rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ cho đến nay vẫn không biết gì, không thấy gì, không viết gì về Thảm sát Tết Mậu Thân thì quả là chuyện lạ. Hãy thử đặt mình trong vị trí của gia đình các nạn nhân vụ Thảm sát Huế, các ông có nghĩ rằng chính Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân hoặc đã giết hoặc biết chắc ai đã giết thân nhân các ông không?

Lẽ ra Thảm sát Tết Mậu Thân phải là nguồn thôi thúc cho nhiều tác phẩm văn học lớn nói lên sự đau khổ, sự chịu đựng tận cùng của đồng bào Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.

Lẽ ra những người đang bị dư luận kết án, nếu thật sự không tham dự vào cuộc tàn sát, thay vì than mây khóc gió trong văn chương hay lao đầu vào cơm áo, nên dành phần còn lại của đời mình đi tìm cho ra cội nguồn gốc rễ để vừa giải oan cho đồng bào mà cũng minh oan cho chính mình. Gia đình nạn nhân còn đó, nhân chứng còn đó, hầm hố còn đó, bạn bè còn đó, chứng tích còn đó, chế độ còn đó. Có thể người đọc vì sự công phẫn chưa nguôi, sẽ không tin hết các điều các ông các bà viết nhưng nếu đúng rồi lịch sử sẽ tin. Nếu không làm thế, cơ chế độc tài này chắc chắn sẽ tàn lụi nhưng tên tuổi Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh v.v.. mãi mãi vẫn là những dấu đen ngàn đời không phai.

Dư luận khắt khe nhưng không bất công. Suốt 42 năm, các ông các bà có rất nhiều cơ hội để làm sáng tỏ một sự kiện lịch sử mà các ông các bà từng tham dự, nhưng ngoại trừ việc phải trả lời vài buổi phỏng vấn rải rác đó đây, các ông các bà im lặng. Kết án lại những người kết án không phải là cách trả lời mà nhân dân Việt Nam đang muốn biết. Ông Nguyễn Đắc Xuân được gọi là “nhà Huế học” nhưng Huế không chỉ có sông Hương, núi Ngự, lăng tẩm, đền đài mà còn có Bãi Dâu, Khe Đá Mài, khu Gia Hội và hàng chục ngôi mồ tập thể khác.

Đời sống của một dân tộc không chỉ gồm những thời đẹp đẻ, vinh quang mà còn cả những giai đoạn đau buồn, tủi nhục.

Tại sao ông không viết?

Phải chăng những người “nhảy núi” ở Huế cũng giống như Hun Sen hay tên Khờ Me Đỏ giết chồng bà Samrith Phum năm 1977, đang cố chôn đi quá khứ ?

Sự im lặng của các ông là lời tự tố cáo lớn tiếng nhất.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ suy vi và phân hóa nhưng sự kiện một số người dã tâm tàn sát nhiều ngàn người Việt khác trong chỉ vài tuần bằng các phương tiện phi nhân chưa từng có như ở Huế là lần đầu. Vết thương Mậu Thân sẽ không bao giờ lành một khi tội ác chưa được đưa ra ánh sáng. Nền tảng của hòa giải là công lý và sự thật chứ không phải che đậy và lãng quên.

Nhiều tác giả đã viết về Thảm sát Mậu Thân. Những dữ kiện trong bài viết này không có gì mới mà đã được nhắc đi nhắc lại. Dụng ý của kẻ viết bài này chỉ muốn nhấn mạnh một điều rằng, nhiều trong số những người “nhảy núi” còn sống ở Huế hay trong và cả ngoài nước, nhưng chắc không sống bao lâu nữa. Tuổi tác của các ông các bà đều trên dưới bảy mươi. Thời gian còn lại như tiếng chuông ngân đã quá dài. Tất cả sẽ là không. Các ông các bà ra đi không mang theo gì cả nhưng sẽ để lại rất nhiều. Vẫn biết con người khó tự kết án chính mình nhưng các ông, các bà vẫn còn nợ dân tộc Việt Nam, nhất là các thế hệ mai sau, câu trả lời cho cái chết của nhiều ngàn dân Huế vô tội.

Ngọn nến trước khi tắt thường bật sáng, vì tương lai dân tộc, các ông các bà hãy sáng lên sự thật một lần trước ngày chết.

Làm thế nào để VN đuổi kịp các nước Asian-6?

Làm thế nào để VN đuổi kịp các nước Asian-6?

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2015-02-21

anhvu02212015.mp3

000_Del6394306-622.jpg

Ảnh minh họa chụp tại trung tâm thành phố Hà Nội hôm 17/02/2015.

AFP PHOTO / HOANG DINH Nam

Your browser does not support the audio element.

Nguy cơ tụt hậu?

Mùa xuân đến với nhiều tín hiệu tốt lành, tuy vậy nền kinh tế của đất nước vẫn không phát huy hết khả năng để phát triển mạnh mẽ ở mức có thể, ngược lại đang còn bị tụt hậu khá xa so với các nước láng giềng. Điều gì đã cản trở và cần phải làm thế nào để VN có thể đuổi kịp các nước Asian-6?

Khoảng cách về phát triển giữa VN với Asean-6 ngày càng tăng, trong lúc so với các nước Asean-4 thì ngày càng thu hẹp. Điều này cho thấy VN đang đứng trước nguy cơ tụt hậu.

Hiện tại, VN đang đứng sau 6 nước Asean tức là xếp thứ 7, sau các quốc gia như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Brunei và chỉ đứng trên Myanmar, Lào, Campuchia.

Trong một phiên họp của Chính phủ  gần đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đặt câu hỏi: “Sao lại cứ phải đứng sau 6 nước Asean? Chúng ta có đuổi kịp được Asean-6 không? Không có lý do gì chúng ta không cải thiện được để bằng Asean-6.”

Cái thứ nhất là phải triệt để xóa bỏ đường lối sai lầm của Đảng CSVN là: KT Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Trên cơ sở đó có thể vạch ra các chính sách kinh tế thúc đẩy cho sự phát triển của khu vực KT Tư nhân trong nước và tạo điều kiện cho chúng hoạt động ngang ngửa, sòng phẳng và bình đẳng với các thành phần KT khác.
-TS Nguyễn Quang A

Điều gì đã cản trở sự phát triển của dân tộc, để đến hôm nay khiến người đứng đầu Chính phủ phải đặt câu hỏi trên?

Nói về những hạn chế được cho là cơ bản nhất đã khiến cho kinh tế VN không phát huy hết khả năng, để phát triển mạnh mẽ ở mức có thể.

Chuyên gia KT Bùi Kiến Thành, trong một lần trao đổi với RFA gần đây thấy rằng, tư duy lãnh đạo là nguyên nhân dẫn tới kinh tế VN trì trệ không phát triển được, theo ông lãnh đạo VN cần phải thay đổi tư duy một cách tích cực, nếu không muốn đất nước tụt hậu so với khu vực và thế giới. Ông nói:

“Bây giờ các vị lãnh đạo đi ra nước ngoài cũng vẫn nói  Việt Nam là một nền kinh tế thị trường, yêu cầu Mỹ yêu cầu Châu Âu và khắp mọi nơi mà các vị đến, yêu cầu công nhận chúng tôi là nền kinh tế thị trường. Như vậy rõ ràng chúng ta muốn hội nhập vào nền kinh tế thị trường của thế giới. Nhưng mà tiếp theo câu đó nó có sự không ăn khớp, tức là doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Vấn đề này tư duy chưa rõ ràng, doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo thì làm gì có nền kinh tế thị trường được nữa?”

Nền kinh tế thị trường gắn với định hướng XHCN là biểu hiện sự ôm đồm không cần thiết của nhà nước. Đây là cái cần phải xóa bỏ ngay lập tức để tạo điều kiện cho nền KT của VN có thể cất cánh. TS. Nguyễn Quang A nhấn mạnh:

000_Hkg10147574-400.jpg

Ảnh minh họa chụp tại ngoại thành Hà Nội hôm 28/01/2015. AFP PHOTO / HOANG DINH Nam.

“Cái thứ nhất là phải triệt để xóa bỏ đường lối sai lầm của Đảng CSVN là: KT Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Trên cơ sở đó có thể vạch ra các chính sách kinh tế thúc đẩy cho sự phát triển của khu vực KT Tư nhân trong nước và tạo điều kiện cho chúng hoạt động ngang ngửa, sòng phẳng và bình đẳng với các thành phần KT khác. Chỉ có trên cơ sở đó thì nền KT của VN mới phát triển một cách bền vững.”

Những khó khăn đang phải đối mặt khiến Việt Nam ngày càng tỏ ra “hụt hơi” trong việc bắt kịp tốc độ phát triển của các nước trong khu vực, đặc biệt là Asean-6. Tuy nhiên, theo các chuyên gia cho biết nếu nỗ lực và có chính sách đúng, kinh tế Việt Nam vẫn chưa hết hy vọng sẽ cất cánh.

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), TS. Bùi Tất Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển cho rằng: “Các phân tích kinh tế gần đây cho thấy, Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được thành công như những nền kinh tế trong khu vực đã biến thành các nước công nghiệp mới – (NICs) một khi xây dựng được một thể chế hỗ trợ phát triển. Một trong những cơ sở tiền đề ấy là kinh tế Việt Nam vẫn có tiềm năng phát triển lớn”.

Trách nhiệm thuộc về ai?

Trả lời câu hỏi cần phải có các giải pháp quan trọng nào để tạo ra sự bứt phá của kinh tế VN để đuổi kịp các nước Asean–6 trong thời gian tới?

Trên thực tế Nhà nước vẫn có vai trò can thiệp trực tiếp quá lớn vào nền kinh tế, với tư cách là chủ đầu tư công và chủ sở hữu doanh nghiệp, trong khi Nhà nước lại chưa thực hiện tốt các chức năng quản lý và điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế. Đây là một trong những điểm nghẽn đang làm thui chột tinh thần kinh doanh của không ít người dân. TS. Võ Đại Lược Viện Kinh tế và Chính trị thế giới nhận định:

“Cái gì thuộc quyền nhà nước quyết thì nhà nước quyết và cái đó có thể có tính pháp lệnh, còn cái gì thuộc về thị trường thì nhà nước không nên quyết, mà để thị trường định. Do vậy dù ông quyết thông qua các cái tín hiệu của thị trường, nếu can thiệp quá mạnh các tín hiệu của thị trường thì anh sẽ làm thị trường méo mó. Và do thế nó làm cho nên kinh tế phát triển kém hiệu quả.”

Cái gì thuộc quyền nhà nước quyết thì nhà nước quyết và cái đó có thể có tính pháp lệnh, còn cái gì thuộc về thị trường thì nhà nước không nên quyết, mà để thị trường định.
-TS Võ Đại Lược

Theo TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế VN cho biết: VN có đủ các điều kiện cần để thực hiện “cú nhảy vọt lịch sử” để rút ngắn khoảng cách phát triển, tiến kịp thế giới và Asean – 6. Cần định rõ lộ trình tận dụng thời cơ để tiến vượt bằng lộ trình công nghiệp hóa đến năm 2020 gồm 2 bước. Bước 1 ráo riết chuẩn bị các điều kiện và năng lực, chuẩn bị điều kiện cất cánh. Bước 2 bùng nổ phát triển, cất cánh và tăng tốc. Ông nói:

“Nếu chúng ta tạo ra sự ổn định, tạo ra niềm tin của các nhà đầu tư trong thị trường, thì có khi đặt mục tiêu tăng trưởng thấp nhưng tăng trưởng thực vẫn cứ cao, vì các nhà đầu tư tin cậy. Nhà nước định hướng, nhưng nhà nước có thể tác động đến bằng cách tạo ra các công cụ khuyến khích hay là kiềm chế để cho các nhà đầu tư hành động làm sao nó gần nhất với định hướng của mình.”

Chỉ có xây dựng khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa của VN lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng và bất cứ nhà nước nào cũng phải can thiệp vào thị trường bằng chính sách của mình. Do vậy, đừng lo ngại việc Nhà nước không kiểm soát được khu vực KT Tư nhân. TS. Nguyễn Quang A khẳng định:

“Nền Kinh tế thuộc sở hữu tư nhân phải đóng vai trò trung tâm, dẫn dắt và vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Chỉ có nền kinh tế tư nhân nó mới có những động lực để thúc đẩy nền kinh tế chung phát triển. Kinh tế Nhà nước không thể giữ vai trò chủ đạo trong một nền kinh tế được, nó chỉ giữ một vai trò có tính chất phù trợ nào đấy mà thôi. Tôi nghĩ biện pháp quan trọng nhất là phải xóa bỏ tất cả những cái ưu ái, trước hết là các ưu ái đối với DN Nhà nước, thậm chí cả những ưu ái đối với DN Đầu tư nước ngoài. Tôi không nghĩ các DN Tư nhân cần có sự hướng dẫn hay hỗ trợ của Nhà nước, tôi tin họ sẽ tự lo lấy của họ. Song cái quan trọng là phải để cho nó có một môi trường thông thoáng và không bị ai chèn ép.”

Nếu nhìn sang các nước láng giềng thì thấy thiên hạ đã đi nhanh hơn VN rất nhiều, lẽ dĩ nhiên nếu không tiến theo kịp thì lập tức VN sẽ tụt hậu và bị họ bỏ rơi. Trong lúc VN, là một đất nước có vị trí địa lý chiến lược quan trọng, tài nguyên thiên nhiên giàu có, con người cần cù và chịu khó. Vậy tại sao đất nước vẫn cứ tụt hậu, chậm phát triển? Trách nhiệm này thuộc về ai?

Dư luận phẫn nộ về tư dinh xa hoa của ông Nông Đức Mạnh

Dư luận phẫn nộ về tư dinh xa hoa của ông Nông Đức Mạnh
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Tin tường thuật sự kiện Ban Bí Thư Trung Ương Đoàn Thanh Niên CSVN đến chúc Tết ba cựu tổng bí thư Đảng CSVN hôm mùng 1 tháng 1 Âm lịch khiến công chúng phẫn nộ.

Ba tấm hình ông Nông Đức Mạnh tiếp Ban Bí Thư Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Việt Nam tại tư gia hôm 19 tháng 2, 2015, khiến dư luận phẫn nộ. (Hình: Tiền Phong)

Các tờ báo trực thuộc Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Việt Nam như Tiền Phong, Thanh Niên vừa có tin tường thuật về việc Ban Bí Thư Trung Ương Đoàn Thanh Niên CSVN đến chúc Tết các ông: Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh – ba nhân vật từng là tổng bí thư Đảng CSVN, Lê Đức Anh – cựu chủ tịch Nhà Nước Việt Nam và thắp nhang cho ông Võ Nguyên Giáp.

Lẽ ra sẽ chẳng có bao nhiêu người quan tâm đến sự kiện này nếu như tờ Tiền Phong không dùng ba tấm ảnh giới thiệu sự xa hoa tại tư gia của ông Nông Đức Mạnh. Phòng khách trong nhà ông Mạnh được bày biện như cung điện. Các vật dụng được chạm trổ cầu kỳ. Kiểu ghế giống như ngai vàng…

Nhiều blogger, Facebooker dẫn lại tin tường thuật này như một bằng chứng về việc tại sao giới lãnh đạo Đảng CSVN tìm mọi cách để Đảng CSVN nắm giữ độc quyền lãnh đạo: Toàn dân, toàn quân phải bảo vệ đảng để giới lãnh đạo Đảng CSVN có thể tiếp tục duy trì cuộc sống xa hoa, vương giả như thế…

Trong quá khứ, việc công bố hình ảnh liên quan đến tư gia của giới lãnh đạo Đảng CSVN đã từng được xem là “trọng án.”

Cũng vì vậy, người ta chưa rõ ba tấm ảnh vừa được tờ Tiền Phong công bố về tư gia của ông Nông Đức Mạnh kể liệu có biến thành một vụ “trọng án” hay không.

Trước Nông Đức Mạnh là Lê Khả Phiêu

Ngày 24 tháng 1 năm 2009, ban liên lạc đồng hương Thanh Hoá ở Hà Nội với đại diện là các ông: Lê Thế Chữ – trưởng ban liên lạc đồng hương Thanh Hoá, Lê Xuân Thảo – trưởng ban doanh nghiệp đồng hương Thanh Hoá, Hoàng Văn Đoàn – phó ban doanh nghiệp đồng hương Thanh Hoá, Lữ Thành Long – tổng giám đốc công ty Misa, Nguyễn Hồng Chung – chủ tịch công ty Luật Đại Việt, Bùi Việt Hà – giám đốc công ty HINCO, Nguyễn Hữu Hùng – công ty Truyền Thông Dầu Khí Việt Nam, Lê Xuân Tiến Trung – công ty Việt FT và một số người khác, cùng là dân Thanh Hoá đã đến tư gia ông Lê Khả Phiêu để chúc Tết, tặng quà cho cựu tổng bí thư Đảng CSVN…

Các thành viên trong đoàn đã được ông Lê Khả Phiêu đưa đi thăm tư gia và không rõ ai đó đã đưa hàng loạt ảnh lên Internet để tất cả mọi người có thể tận mắt mục kích, một cựu tổng bí thư của Đảng CSVN đang sống xa hoa như thế nào (?), sùng bái cá nhân mình ra sao.

Khắp nhà Lê Khả Phiêu, chỗ nào cũng có tượng đồng, tranh, ảnh của ông Lê Khả Phiêu, nhân vật này còn tặng cho các thành viên đến thăm, mỗi người một cuốn sách do Lê Khả Phiêu tự viết về mình với tên sách là… “Mênh mông tình dân”?

Đáng lưu ý là Lê Khả Phiêu từng được tôn vinh như một lãnh đạo liêm khiết, đi đầu trong việc chống tham nhũng nhưng trong tư gia của ông Phiêu lại có những báu vật quốc gia, cấm cá nhân sở hữu như trống đồng, hoặc những bộ ngà voi mà người ta lượng giá không dưới 50,000 Mỹ kim, hoặc vườn rau được trồng, tưới tự động, phục vụ nhu cầu của gia đình ông Phiêu, mà vốn đầu tư được ước đoán không dưới 20,000 Mỹ kim.

Lê Khả Phiêu cũng từng là nhân vật được xem như “tuyệt đối trung thành với lý tưởng Cộng Sản,” từng lớn tiếng dạy dỗ ông Bill Clinton khi ông đến thăm Việt Nam về sự ưu việt của Chủ Nghĩa Cộng Sản.

Lúc đó, loạt ảnh chụp tư gia kèm theo lời bình về sự xa hoa và những tuyên bố giả dối “vì nước quên thân, vì dân phục vụ” của ông Phiêu cũng như các viên chức cao cấp khác của đảng và chính quyền CSVN đã khiến dư luận trong nước rúng động. Những hình ảnh và lời bình này đã được phát tán rộng rãi trên Internet.

Các nguồn thạo tin kể rằng, đích thân ông Lê Hồng Anh, ủy viên Bộ Chính Trị, thời điểm đó là bộ trưởng Công An Việt Nam đã trực tiếp chỉ đạo điều tra. Sau đó, Công An Việt Nam xác định, trong nhóm đến thăm tư gia ông Phiêu, có ít nhất ba người mang máy ảnh và cả ba đều đã bị triệu tập để lấy lời khai, nhằm xác định xem người đưa tin vô danh là ai…

Nay, hình ảnh về tư gia của ông Mạnh cho thấy nó giống hệt tư gia của ông Phiêu ở cả sự xa hoa lẫn sự tôn vinh ông Hồ Chí Minh – “tấm gương” mà họ “nguyện suốt đời noi theo.” (G.Đ)

Báo Tiền Phong gỡ ảnh ‘nhạy cảm’

Báo Tiền Phong gỡ ảnh ‘nhạy cảm’

Một trong các bức ảnh đã bị gỡ bỏ

Tờ báo của Trung ương Đoàn Thanh niên CS vừa gỡ ba bức ảnh chụp tại tư gia cựu Tổng Bí thư Đảng CSVN Nông Đức Mạnh, vốn gây bàn tán trên các mạng xã hội.

Bài báo ‘ Ban Bí thư T.Ư Đoàn chúc Tết nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước‘ đăng hôm 19/2 phản ánh việc “Ban Bí thư T.Ư Đoàn do Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn Nguyễn Đắc Vinh dẫn đầu tới thăm, chúc Tết các đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và thắp hương tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại số nhà 30 Hoàng Diệu (Hà Nội)”.

Sự kiện diễn ra sáng 19/2, tức sáng Mùng 1 Tết Ất Mùi.

Trong bài có một số ảnh đoàn đại biểu tới thăm và chúc Tết cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười; Lê Khả Phiêu; cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh và cựu Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh.

Ba bức ảnh được cho là chụp tại tư gia ông Nông Đức Mạnh với nội thất màu vàng rực rỡ đã gây bàn tán khá nhiều trên các mạng xã hội.

Một bức mô tả ông Mạnh ngồi tiếp ông Nguyễn Đắc Vinh trong phòng khách có tượng Hồ Chủ tịch màu vàng bày trước mặt trống đồng cũng màu vàng.

Hai ông ngồi trên hai chiếc ghế bành có tay nắm hình đầu rồng, lưng ghế cao như ngai vàng.

Hai bức khác cũng được chụp trong căn phòng trên, nhưng có nhiều người hơn.

Tư gia ông Nông Đức Mạnh trên các bức ảnh khá khác biệt với nhà của hai ông tiền nhiệm Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu.

Ba bức ảnh nhanh chóng được lưu truyền trên mạng xã hội Facebook với nhiều bình luận khen chê.

Báo Tiền Phong sau đó đã gỡ bỏ ba bức ảnh này và thay bằng một bức khác trung tính hơn mô tả đoàn đại biểu chụp hình lưu niệm cùng ông Nông Đức Mạnh và các em thiếu nhi quàng khăn đỏ. Bức này không nhìn rõ nội thất.

Ông Nông Đức Mạnh, sinh năm 1940, làm tổng bí thư Đảng CSVN hai nhiệm kỳ từ 2001 tới 2011.

Trước đó ông làm Chủ tịch Quốc hội Việt Nam từ 1992 đến 2001.

Nghịch lý ở Việt Nam: Một quốc gia nhỏ chỉ ăn rồi chơi.

Nghịch lý ở Việt Nam: Một quốc gia nhỏ chỉ ăn rồi chơi.

Tác Giả : Tạ Duy Anh

Xahoi – Có lẽ không quốc gia nào mà cuộc sống của giới công chức chứa nhiều điều nghịch lý như ở Việt Nam.


Lương không đủ sống nhưng lại thuộc thành phần khá giả của xã hội; đã vào biên chế là có thể nằm lỳ cho đến hết đời, ngang nhiên đòi hỏi mọi chế độ phúc lợi, ngay cả khi chẳng làm gì; là người làm thuê cho dân nhưng lại hành xử như ông chủ có quyền ban ơn; năng lực cũng như tinh thần trách nhiệm trước công việc phần lớn ở mức trung bình và thấp, nhưng cực kỳ có khả năng trong việc kinh doanh “quyền lực Nhà nước” để tư lợi …Nhưng điều nghịch lý nhất là một nền hành chính cồng kềnh, ì ạch, dôi dư cả triệu người như vậy lại vẫn cứ ngày một phình to?

Trong một hội nghị có đưa tin trên truyền hình và sau đó hầu như các báo đều đưa lại, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói thẳng ra rằng: “Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”. Nói cách khác, cái số 30 % công chức đó hoàn toàn không cần thiết, y như cái bướu trên cổ. Với 2,8 triệu công chức, chỉ cần làm phép tình nhẩm cũng ra ngay con số thuộc diện có cũng như không kia khoảng 800.000. Nghĩa là mỗi 100 người dân Việt Nam, phải nuôi không một ông (bà) vô công rồi nghề mang danh công chức! Vậy tại sao một nền dịch vụ công chỉ cần 2 triệu người, mà phải trả lương cho tận những gần ba triệu? Ai phải chịu trách nhiệm về vấn đề này? Trong khi chưa thể tìm ra câu trả lời, chúng tôi chỉ xin làm thứ công việc đơn giản hơn là giúp mọi người hình dung một phần cái gánh nặng vật chất và tinh thần mà cả xã hội đang phải è lưng chịu đựng để “cõng” gần một triệu công chức dư thừa đó.

Trước hết, 800 ngàn người lớn đến mức nào? Đó là số dân (hơn kém chút ít) của Cyprus, Bahrain, Bhutan, Qatar, Đông Timor…Hay nó có quy mô gấp đôi dân số Luxemburg, Brunei, Malta, Iceland…

Thứ hai, và đây là vấn đề chính, cần bao nhiêu tiền để nuôi cái đám công chức thừa thãi ấy? Chắc chắn là không ai có thể tính chính xác, vì có những công chức thuộc loại dư thừa, nhưng lại hưởng mức thu nhập nhiều người mơ ước. Hẵng chỉ tính đơn giản thế này: Mỗi người trong số đó, vì họ là công chức, nên thuộc diện thu nhập trung bình khá (so với mức 1000 USD trung bình) sẽ nhận của Nhà nước khoảng 60 triệu đồng (3000 USD) một năm. Nghĩa là cần số tiền lên tới 50.000 tỷ đồng ( 2,5 tỉ USD) cho việc chi lương để ngày ngày 800.000 người ăn mặc sang trọng chỉ để “sáng vác ô đến cơ quan, tối vác ô về nhà” mà không làm bất cứ việc gì. Tuy nhiên, số tiền phải bỏ ra phục vụ việc ngồi chơi xơi nước của “một quốc gia nhỏ” ấy trên thực tế còn lớn hơn nhiều.

Theo thông lệ thì số tiền lương cho công chức chỉ bằng hai phần ba số tiền phải chi ra để họ có thể làm việc, được tính vào khoản duy trì hoạt động của cơ quan Nhà nước. Đó là tiền thuê nhà, tiền điện, tiền điện thoại, tiền khấu hao tài sản, tiền phúc lợi, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chi phí đi lại và cơ man nào những thứ tiền khác được gọi bằng cái tên chung là văn phòng phí. Khiêm tốn tính gộp thì con số 50.000 tỉ đó phải cộng thêm khoảng 20.000 tỉ đồng. Giờ ta thử xem 70.000 tỷ đồng nhiều đến mức nào? Nó nhiều hơn toàn bộ số tiền thu được từ xuất khẩu gạo năm 2012; nó bằng khoảng 5 lần số tiền phí bảo trì đường bộ mà Bộ GTVT dự kiến thu được hằng năm từ ô tô, xe máy với giả phải trả là hứng chịu biết bao lời chì chiết của dư luận; nó bằng già nửa số tiền 120.000 tỉ đồng cần để nâng cấp quốc lộ 1A lên thành đường bốn làn xe ô tô; nó giúp cho khoảng 7 triệu dân miền núi đủ gạo ăn trong một năm để không phá rừng. Nếu có ngần ấy số tiền, toàn bộ các xã nghèo miền núi có trường học, có chợ, có đường trải bê tông. Nó có thể mua được số bò giúp cho Chương trình Lục lạc vàng duy trì liên tục 1500 buổi, với khoảng 9000 gia đình nông dân thuộc dạng nghèo nhất nước có cơ hội đủ cơm ăn. Nó là con số dài tới mức mà không một nông dân bình thường nào đọc chính xác được.

Nhưng đấy mới chỉ tính về khoản vật chất, cho dù không hề nhỏ nhưng chưa chắc đã là lớn nhất. Tai hoạ của nạn biên chế tràn lan là nó khiến cho bộ máy hành chính công của chúng ta thuộc loại công kềnh, kém hiệu quả và lạc hậu vào loại nhất khu vực. Nhàn cư vi bất thiện. Vì không làm gì nên những ông, bà công chức thừa thãi trên trở thành những “con bệnh” của xã hội. Ta hãy xem họ làm gì mỗi ngày để tiêu hết 8 giờ vàng ngọc? Nếu là đàn ông thì phần lớn lướt web, chơi game oline, xem phim sex, tìm cách vào nhà nghỉ với chính đồng nghiệp của mình. Thời gian còn lại ngồi nghĩ mưu kế tư lợi hoặc hại người khác. Còn với thành phần nữ giới thì shoping tối ngày, ăn uống, khoe của tối ngày, buôn dưa lê tối ngày…

Nhiều người coi trụ sở cơ quan chẳng hơn gì cái bếp nhà mình, tranh thủ tận dụng điện nước miễn phí để nấu nướng. Số còn lại, nếu không làm những việc như trên, thì làm chim bói cá, cứ thấy ở đâu có mầu mỡ là đến. Cũng vì thừa dẫn đến lười, ích kỷ, đấu đá chèn ép nhau thay vì thực thi công vụ. Có rất nhiều người cả một đời công chức chỉ chuyên kiện cáo, lao vào đấu đá vì những lợi ích cá nhân. Nhưng lương của họ thì vẫn cứ đến hẹn lại lên. Chức của họ thì cứ đến tuổi là đến. Kèm với lương với chức là đủ thứ tiêu chuẩn ưu đãi khác. Những công bộc này, về nguyên tắc là những người giúp việc cho “ông chủ” Nhân dân, nhưng trên thực tế cũng là những người quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, tham lam, làm khổ “ông chủ” vào loại nhất thế giới. Làm bất cứ việc gì thuộc phạm vi chức phận cũng đòi lót tay. Trong bất cứ nhiệm vụ nào cũng lồng lợi ích của mình vào. Từ lái xe, nhân viên đóng dấu, nhân viên gác cổng…đến những người có tí chức, tí quyền đều là những kẻ chỉ thạo ăn tiền, vòi vĩnh, hạch sách…biến cửa Công đường thành nơi nhếch nhác, bất tín, đáng sợ hơn cả hang hùm. Nền đạo đức xã hội xuống cấp, có phần đóng góp không nhỏ của những thành phần được gọi là công chức ấy.

Nhưng thiệt hại vẫn chưa dừng lại ở đó. Nạn chạy chức chạy quyền thì ai cũng biết. Nhưng nạn chạy chọt để được thành công chức Nhà nước còn khốc liệt hơn và cũng bi hài hơn rất nhiều. Vì số người tham gia luôn rất đông, diễn ra trên một diện rộng, với sự tham gia của mọi thành phần. Nó làm hư hỏng cả người có quyền nhận và người được nhận. Người có quyền nhận thì một khi đã lấy tiền, đã nhúng chàm, làm sao còn dám yêu cầu cấp dưới phải nêu cao đạo đức, kỷ cương, nhân cách-ngoại trừ đó là một truyện hài! Người được nhận vào làm công chức thì cậy tiền nên không cần học, không cần trau dồi chuyên môn, coi thường kỉ cương, phép tắc. Đó là chưa kể họ phải tìm cách ăn chặn, ăn bẩn, vơ vét bằng mọi cách để bù lại số vốn đã bỏ ra.

Nhưng những bệnh tật trên, dù rất trầm trọng, nếu quyết tâm ngăn ngừa, vẫn còn nhiều hy vọng chữa chạy, dù rất tốn kém. Song có một thứ bệnh do nạn chạy công chức gây ra rất khó chữa, thuộc loại nan y, là bệnh ỷ lại, lười biếng và mất khả năng tự trọng. Căn bệnh thuộc loại lây nhiễm này có thể huỷ hoại nhân cách cả một thế hệ, góp phần làm nghèo đất nước. Người ta cần một cái bằng đại học với bất cứ giá nào đôi khi không phải để sau đó làm việc, cống hiến, mà để có cơ hội gia nhập cái đội quân công chức vốn là thừa thãi kia. Với những người này, cái điều đáng lẽ thành nỗi xấu hổ khi chả làm gì ngoài việc “sáng vác ô đi, tối vác ô về”, thì lại là mục tiêu phấn đấu, là sự nghiệp của đời họ. Liệu có khác gì một thứ quốc nạn?