Xóa bỏ dối trá lớn để đẩy lùi dối trá nhỏ

Xóa bỏ dối trá lớn để đẩy lùi dối trá nhỏ

Nguyễn Khắc Mai

Dư luận đang quan tâm đến Báo cáo điều tra xã hội học về nhũng thói xấu của xã hội Việt hiện nay do Trần Ngọc Thêm chủ trì. Đây là một đề tài nhạy cảm, không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận, vì nó chính là những giá trị được hình thành một cách từ từ qua quá trình lịch sử do sự tác động bởi nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân chủ yếu là hệ ý thức ngoại lai được du nhập vào Việt Nam ngoài ý muốn của người dân.

Trước hết xin trích một câu nói của K. Marx về vấn đề này: “Tệ dối trá, tệ lớn nhất, gắn liền với báo chí bị kiểm duyệt, tệ xấu căn bản này là nguồn gốc của tất cả những thiếu sót khác của nó, trong đó cả mầm mống của mỹ đức , tệ đó là nguồn gốc của tệ đáng ghét nhất – thậm chí xét theo quan điểm mỹ học cũng thế – tệ tiêu cực. Điều đó dẫn đến cái gì? Chính phủ (ở VN thì phải nói trước hết là Đảng) chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình, duy trì sự lừa dối và cũng đòi nhân dân phải ủng hộ sự lừa dối đó. Còn nhân dân hoặc sẽ rơi vào tình trạng mê tín chính trị, hoặc hoàn toàn quay lưng với cuộc sống quốc gia , biến thành đám người chỉ sống với cuộc đời riêng tư”(Marx- Engels toàn tập,T1, tr105, NXB Sự thật).

Có một nghịch lý tồn tại từ rất lâu trong việc sử dụng chủ nghĩa Marx ở Việt Nam mà cả giới lãnh đạo chóp bu cũng như hệ thống Trường Đảng đều rất hiểu nhưng không bao giờ nói ra. Đó là, một mặt, họ lợi dụng những phần không tưởng, thậm chí sai lầm nghiêm trọng trong học thuyết của Marx làm kim chỉ nam lừa bịp nhân dân, nhằm duy trì càng lâu càng tốt chế độ độc tài toàn trị; mặt khác lại phủ nhận những tư duy khoa học, nhất là những phản tỉnh trên tinh thần phục thiện vào cuối đời khi ông nhận ra những sai lầm của mình trong quá trình viết “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”và “Tư bản luận”.

Cho dù là “tổ sư” của Chủ nghĩa duy ý chí, nhưng cách đây gần hai trăm năm, Marx cũng đã từng cảnh báo tệ dối trá là nguồn gốc của mọi thứ tệ hại khác. Chính phủ, Đảng duy trì sự dối trá là chỉ muốn nghe tiếng nói của chính mình bất chấp mọi ý kiến phản biện của các thành phần xã hội.Và kết quả của nó là đẩy xã hội tới sự bất ổn chính trị, kinh tế khủng hoảng, văn hóa đạo đức băng hoại.

Cuối đời Marx và Engels đã đính chính lại học thuyết của mình khi họ nhiều lần khẳng định rằng không có cái gọi là lý tưởng Cộng sản chủ nghĩa, đó là ảo tưởng nhất thời và ấu trĩ, và, về vai trò của giai cấp công nhân trong Cách mạng vô sản chỉ là sự ngộ nhận. Hãy nghe Ph. Engels nói (Trich Lời nói đầu Cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp): “Lịch sử chứng tỏ còn làm được nhiều hơn thế, không những đã xóa bỏ mê muội của chúng ta hồi đó mà còn thay đổi điều kiện đấu tranh của giai cấp vô sản. Phương pháp đấu tranh năm 1848 nay đã lỗi thời về mọi mặt, chẳng có mục tiêu lớn Chủ nghĩa cộng sản gì cả. Đó chỉ là một mệnh đề được người khai sáng chủ nghĩa Marx dề xuất lúc trẻ, nhưng vứt bỏ nó vào cuối đời”.

Còn về quyền sở hữu, thực chất là tư hữu, Marx đã phủ nhận chính học thuyết của mình: “Những nhà sản xuất (doanh nhân), chỉ trở thành tự do, một khi họ sở hữu được những phương tiện sản xuất” (đất đai, nhà xưởng, tàu thuyền, ngân hàng, tín dụng…). Thế mà các đảng Cộng sản cầm quyền, trong đó có Việt Nam lại xác quyết với dân là Marx chống tư hữu để đưa vào Hiến pháp khẳng định thể chế công hữu là chủ đạo, tìm mọi cách hạn chế quyền sở hữu của người dân nhất là về ruộng đất, đẩy đại đa số nông dân thành “vô sản” đúng với nghĩa đen của nó.

Điều thứ hai là Marx có một quan niệm hoàn toàn khác về vai trò giai cấp công nhân so với thời kỳ đầu: “Chính quyền của giai cấp công nhân sẽ được tạo dựng bằng một chế độ ủy quyền. Người ta sẽ phó thác cho một nhóm người tự mình ứng cử và bầu cử nhằm đại diện và cai trị họ. Điều ấy sẽ khiến cho họ rơi tõm ngay vào mọi sự lừa dối, và mọi sự lệ thuộc của chế độ ủy trị và tư sản. Sau một hồi ngắn ngủi tự do và say sưa cách mạng, làm công dân của một nhà nước mới, họ sẽ bừng tỉnh thấy mình là nô lệ, là con rối hoặc là con mồi cho những tham vọng mới” (ils se reveilleront esclave, jouets,ou victimes de nouveau ambitieux). Cả hai câu trên đều trich dẫn tư Marx Cuộc đời và tác phẩm của J.Eleinstein, NXB Fayard.

Khi nói về xã hội Việt Nam hiện tại, không thể không bàn tới cái gọi là chế độ Xã hội xã hội chủ nghĩa hay Chủ nghĩa cộng sản. Trước hết phải thừa nhận chủ trương công hữu tài sản là sai sai lầm nghiêm trọng, coi giai cấp công nhân là lực lượng tiên tiến lãnh đạo cách mạng, trong thực tế chính là đánh lừa họ, vô hình chung, biến họ thành con rối, con mồi cho những tham vọng chính trị của giới cầm quyền.

Chính thể CHXHCN Việt Nam hiện nay thực chất chỉ là bản sao không hoàn chỉnh của mô hình nhà nước kiểu trại lính của Stalin và phương châm “súng đẻ ra chính quyền” của Mao Trạch Đông. Những khẩu hiệu sáng loáng như “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” hay “Thể chế XHCN của chúng ta tốt đẹp gấp triệu lần tư sản”, “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”… chỉ là những ngôn từ rỗng tuếch, bịp bợm, mê hoặc nhân dân nhằm củng cố địa vị thống trị của một tập thể “vua lãnh đạo” mà tiểu biểu là 16 danh xưng ngồi chót vót ngôi cao nhưng thiểu năng trí tuệ, não trạng đen tối.

Từ nhũng năm 1960 cho đến trước năm1975 ở miền Bắc, rồi từ 1975 đến 1986 ở cả nước, Đảng CSVN đã quán triệt một chủ trương duy ý chí đến mức điên rồ “tiến nhanh, tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Kết quả là, không phải sức mạnh hủy diệt của B52 Mỹ như R.Nixson từng tuyên bố, mà chính đường lối sai lầm của Đảng CSVN, đã xuýt nữa “đưa đất nước Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. Đến trước Đại hội VI, khi mà nền kinh tế Việt Nam đang mấp mé bên bờ vực thẳm, người dân có nguy cơ chết đói hàng loạt, khiến ông Đảng trưởng phải buột miệng kêu lên “chúng ta phải tự cứu mình trước khi trời cứu, thì cũng là lúc Đảng nhận ra sai lầm nhưng lại đổ lỗi cho hoàn cảnh “khách quan”, đó là “tại kháng chiến chống Mỹ và thằng bao cấp(?!). Ông trùm Lenin từng cảnh báo về tác hại của thói “kiêu ngạo cộng sản” nhưng Đảng không lấy đó làm bài học sửa mình mà luôn tự vỗ ngực khoe khoang, họ bao giờ cũng đúng. Chỉ có nhân dân là sai, cho nên, khi bị dồn đến bước đường cùng, Đảng vội đẩy “thằng bao cấp” ra làm vật hy sinh.

Thật ra bao cấp chỉ là một phương thức quản lý và phân phối sản phẩm xã hội, nó được hình thành ngay từ thời kỳ phong kiến. Ngày nay, “bao cấp” được duy trì dưới nhiều hình thức khác nhau trong hầu hết các quốc gia, trong đó làm tốt nhất phải nói là các nước Bắc Âu như Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch. Đó là những nước nằm trong hệ thống Tư bản chủ nghĩa, nhưng thực chất nội hàm của nó lại là “Chủ nghĩa xã hội dân chủ”. Ở đó, an sinh xã hội cao chính là một hình thức bao cấp tuyệt vời nhất, mà với Việt Nam, có lẽ đến thế kỷ XXII vẫn chỉ là giấc mơ giữa ban ngày.

Ở châu Á , Singapore là nơi phương thức bao cấp theo Lý Quang Diệu cũng là một mô hình rất đáng cho những người Cộng sản Việt Nam học tập.

Nhưng vấn đề là, “đảng ta” không bao giờ hạ mình học tập ai bởi “Đảng là trí tuệ, là văn minh…” (Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của HCM), thì làm sao còn phải học.

Ai cũng biết nhà nước pháp quyền hiện đại đều phải dựa theo nguyên lý cơ bản “Tam quyền phân lập”, một thứ được xem là “khế ước xã hội” tiến bộ cả thế giới phải thừa nhận, Đảng không dám trắng trợn xóa bỏ nguyên lý này, bèn đánh tráo bằng mệnh đề rất chi là “thớ lợ”: “sự phân công giữa ba cơ quan quyền lực!”. Thế nhưng, đến đứa trẻ con cũng biết, sự phân công là đương nhiên giữa các cơ quan quyền lực, kể cả trong cái cơ cấu nhà nước độc tài toàn trị Cộng sản.

 

Có thể nói Đảng CSVN là bậc thầy của những chuyên gia sáng tạo “giảo ngữ”. Ví dụ, khi đưa ra “sáng kiến” “phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN”, thì báo chí hé lộ một định nghĩa quá tức cười, bởi vì nó không định được gì cả, rằng “kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế có đầy đủ yếu tố thị trường theo định hướng XHCN”(xem bài tường thuật cuộc hội thảo “Nhận thức mới về kinh tế thị trường XHCN” trên báo Tuổi tr TPHCM).

Một thiết chế xã hội, trong đó những thực thể được coi là chính thống, nhưng không chính danh, lô gích nội tại không chính xác, làm sao khắc phục được sự rối loạn chuẩn mực. Một khi đã rối loạn chuẩn mực thì tất yếu dối trá sẽ lên ngôi, biến một xã hội tử tế thành xã hội lưu manh, trong đó kẻ cầm quyền là trùm lưu manh.

Đầu năm Con Dê này, ở lĩnh vực văn hóa, ngoài các tin “giật gân” như hiện tượng “cướp” trong các lễ hội đến mức ẩu đả phải vào bệnh viện mà ông Phó trưởng Ban Tuyên Huấn Thành ủy Hà Nội giải thích theo “định hướng” là “cướp có văn hóa”, tin Mạnh Vương ngự trên “ngai vàng” ở “phòng khánh tiết” tư gia, tiếp Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn (lực lượng hậu bị) thì sự kiện làm bàn dân thiên hạ “choáng” nhất là cái hôn đầy nhơt dãi mang nặng màu sắc tình dục vào má cô hoa hậu mới đăng quang của một ông Giáo sư, Anh hùng lao động, rởm. Lại nữa, ngoài đôi câu đối đầu ngô mình sở nặng mùi sex mà một vế “mượn tạm” của Lý Bạch, tặng người đẹp Kỳ Duyên, “Đương đại quốc sư” còn bị bóc mẽ khi “thuổng” trọn vẹn đôi câu đối của người khác đặt lên bàn thờ tổ tiên họ Vũ của mình.

Từ những hiện tượng không bình thường trên, ta có thể thấy nền văn hóa Việt Nam đã đến kỳ mạt vận. Trần Nhân Tông viết trong Cư trần lạc đạo: “Cùng nơi ngôn cú”, nghĩa là nơi lĩnh vực ngôn cú – lĩnh vực tư duy khoa học, nghiên cứu…phải đi đến cho tận cùng. Điều tra xã hội học để thấy rõ cái thực trạng đang diễn ra từng ngày, từng giờ trong cuộc sống. Tuy nhiên, chỉ mô tả thực trạng không đủ mà phải cứu xét đến tận cùng của nguồn gốc. Có như thế mới tìm được cách uốn nắn, điều chỉnh.

Phương Tây họ có mấy chữ bắt đầu bằng ký tự “W” để nói cả qui trình nghiên cứu. Chữ “What” là nói nội dung của thực trạng tệ giả dối. Chữ “Who” nói ai là thực thể hành xử tiêu cực, và quan trọng là “ai” đã góp phần gây nên tệ nạn. Không thể không nghĩ tời tầng lớp trí thức vốn rất bạc nhược của nước ta. Họ không phải là kẻ đầu têu, nhưng là kẻ cổ xúy rất nhiệt tình cho những tệ nạn xấu xa đó. Có thể nói, “Văn hóa Đảng” đã biến giới trí thức Việt Nam thành những kẻ bạc nhược, nhưng lại cơ hội và đầy tham vọng.

Có một “ai” nữa là hệ thống chính trị cổ hủ, lạc hậu , giáo điều. Trong cái guồng máy đầy khuyết tật ấy, 4 triệu đảng viên không thể là kẻ vô can.

Còn chữ “Why” là nói sự tìm tòi cho ra nhũng nguyên nhân khác nhau. Có nguyên nhân từ hệ ý thức, thể chế chính trị, có nguyên nhân văn hóa , đạo đức, nguyên nhân kinh tế, giáo dục, nguyên nhân tông giáo (đương nhiên là tông giáo quốc doanh). Trong lĩnh vực này, K.Marx tuy mắc không ít sai lầm , nhưng đôi lúc ông cũng có những nhận định khá chính xác về các mối quan hệ xã hội: “bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”. Tuy nhiên hầu hết cán bộ tuyên huấn thường quên chữ “bản chất” nên hiểu hiểu sai ý Marx. Khi những quan hệ xã hội lệch pha, rối loạn, không xác tín, nghĩa là những quan hệ dối trá, thì phẩm chất của con người sẽ thế nào có thể đoán định ra được.

Bản báo cáo không chỉ tìm nạn nhân, phải tìm thấy tội nhân và cả nhũng tác nhân trong vô vàn những dữ liệu sống.

Tôi xin trich một câu nổi tiếng về chính danh trong sách Lã Thị Xuân Thu: “Danh chính thì trị, danh mất thì loạn. Kẻ làm cho mất danh là kẻ nói, chủ trương quá mức. Nói, chủ trương quá mức, tức là biến cái có thể, cái cho phép thành cái không có thể, không cho phép:nên cái phải, biến thành cái không phải, biến cái đúng thành cái không đúng, cái sai thành cái không sai…Phàm mọi sự loạn là do hình danh không đúng vậy”.

Trước khi dừng bút xin chép tặng giới trí thức nước nhà một câu triết lý của Alcuin, mà Nietzsche rất thán phục và nhắc lại: “Thiên chức của triết học (Trí thức) là đính chính những điều thiên lệch, củng cố những điều chính nghĩa, và làm thăng hoa những điều thánh thiện”(La vẻritable vocation royale pour une philosophie: Prava corrigere,et recta corroborare et saneta sublimare). Liệu trí thức nước nhà đã thật sự “thức dậy” chưa đặng kê lại cho bằng nhũng thiên lệch, gia cố cho đủ mạnh những gì đứng đắn, và làm thăng hoa những gì là tốt đẹp?

N.K.M.

PEW: Quốc gia cộng sản Việt Nam chuộng chủ nghĩa tư bản hơn Mỹ

PEW: Quốc gia cộng sản Việt Nam chuộng chủ nghĩa tư bản hơn Mỹ

13.03.2015

Hầu hết người Việt Nam hiện nay ủng hộ chủ nghĩa tư bản, theo kết quả khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew.

Global Post ngày 13/3 dẫn kết quả cuộc nghiên cứu thực hiện cuối năm ngoái về các vấn đề kinh tế tại gần 45 quốc gia cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia thân tư bản nhất trên thế giới, với  95% người Việt trong nước yêu chuộng chủ nghĩa tư bản.

Không một nước nào trong số các quốc gia được khảo sát vượt quá tỷ lệ 90%.

Ngay cả Hoa Kỳ, nơi khái niệm xã hội chủ nghĩa có thể được dùng như một sự sỉ nhục, chỉ 70% số người được hỏi đồng ý rằng kinh tế thị trường tự do là mô hình kinh tế tốt nhất.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, nơi mà đảng cộng sản cầm quyền từng buộc hàng triệu người tham gia các nông trường tập thể, hầu hết mọi người được hỏi lại tán đồng với quan điểm này.

Sự ủng hộ chủ nghĩa tư bản của Việt Nam, theo bài phân tích, là đáng ngạc nhiên khi nhìn lại lịch sử cận đại của nước này. Việt Nam được biết đến nhiều từ cuộc chiến của Mỹ tìm cách đánh bại chủ nghĩa cộng sản và đặt chủ nghĩa tư bản thân Tây phương tại Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam kết thúc cách đây 4 thập niên đã cướp đi 2 triệu mạng sống và biến các thành phố ở Việt Nam thành các đống đổ vụn bốc khói.

Hoa Kỳ đã rải bom tại khu vực này nhiều hơn số bom đã sử dụng trong thời Đệ Nhị Thế chiến để ngăn chủ nghĩa cộng sản do Liên Xô hậu thuẫn lan tràn khắp Châu Á, nhưng phe cộng sản đã chiến thắng trong cuộc chiến này.

Tuy nhiên, theo thời gian, học thuyết chủ nghĩa về lao động tập thể và nhà nước thống lĩnh kinh tế hoàn toàn của những người cộng sản đã tàn lụi đến nỗi hầu như tất cả người Việt, trong đó có cả những đảng viên cộng sản, giờ đây đi theo lý tưởng chủ xướng bởi cựu thù của họ.

Cuộc khảo sát cũng đo lường kỳ vọng của người dân cho tương lai, yếu tố chủ yếu của cái gọi là ‘giấc mơ Mỹ.’

Ở lĩnh vực này cũng thế, Việt Nam cũng qua mặt Mỹ, với 94% người Việt được hỏi cho biết họ tin con em họ hôm nay sẽ khá hơn cha mẹ chúng rất nhiều.

Tại Hoa Kỳ, cứ 10 người được khảo sát thì chỉ có 3 người tin rằng tương lai con cái họ sẽ vượt trội cha mẹ chúng.

Nguồn: Global Post/ Pew Research

Chuyện Riêng Của Chúng Tôi & Những Anh Hàng Xóm

Chuyện Riêng Của Chúng Tôi & Những Anh Hàng Xóm

RFA

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi.

Tôn Nữ Thị Ninh

Đèn Cù II phát hành cuối tháng 11 năm 2014. Tôi muốn đọc quá nhưng không thể đặt mua. Gửi thư cầu cứu Đinh Quang Anh Thái, nhận được hồi đáp (vô cùng) hứa hẹn: “Cứ yên tâm, sẽ nhận được sách trong thời gian ngắn nhất.”

Tôi “tưởng” thiệt nên mượn địa chỉ văn phòng của một cơ quan thiện nguyện ở Phnom Penh gửi ngay cho ông bạn (vàng) đầy thiện tâm và thiện chí. Chờ dài cổ cũng chả thấy sách vở gì ráo trọi mới vỡ lẽ là mình đã … “trao duyên lầm tướng cướp!”

Rồi Đèn Cù II cũng được phát tán tùm lum trên mạng. Tiếc là những nơi tôi đi qua, trong mấy tháng rồi, đều quá xa chốn thị thành nên vào được internet không dễ dàng gì. Nói chi đến chuyện đọc gần ngàn trang giấy.

Tuần rồi về lại Nam Vang mới có dịp “tiếp cận” thoải mái với tác phẩm mà mình mong đợi. Nói nào ngay cũng có hơi thất vọng chút xíu. Đọc uốn sau không “đã” bằng cuốn trước, dù vẫn có rất nhiều trang thú vị:

“Tôi quen ba người dạy tiếng Anh và tôi muốn nói tới các anh như những người từng chịu hẩm hiu lúc đất nước sập cửa lại với thế giới, tiếng Anh bị miệt thị. Thật ra chả phải chỉ tiếng Anh mà là bất cứ tiếng nói của kẻ thù nào.

Chị P. T. M., dạy tiếng Trung Quốc ở Đại học Sư phạm đã ngồi làm thường trực mãi ở cống trường cho tới khi Trung Quốc hết là thù mới lên truyền hình dạy lại. Ông Nghĩa dạy tiếng Trung Quốc ở Cao đẳng sư phạm Hà Nội thì đi làm bảo vệ. Khi đánh xét lại, các giáo viên tiếng Nga nghỉ dài dài.

Đầu tiên nói tới Đặng Chấn Liêu. Cùng tội ‘xét lại’. Treo giò, mất chức chủ nhiệm khoa tiếng Anh Đại học Sư phạm. Liêu cho hay hồi ấy chả ai thiết cái thứ tiếng phản động này…. Liêu ở Pháp làm viên chức của Liên Hợp Quốc. Theo Cụ Hồ kêu gọi, anh về nước và bị Hoàng Văn Hoan nghi là tình báo Anh…

Người thứ hai là Mỹ Điền. Học ở Anh từ 1947-48… Sau Điện Biên Phủ về nước, anh theo Ung Văn Khiêm, thứ trưởng ngoại giao đến chào bộ trưởng Phạm Văn Đồng. Trong chuyện trò, Đồng dặn Khiêm chú ý để Mỹ Điền sinh hoạt chi bộ. Nhưng rồi chả ai nhắc tới, có lẽ thấy anh không bập.

Sớm ngán thế cuộc, bắt đầu từ đọc báo cáo mật của Khrushchev trên báo Le Monde, Mỹ Điền trở thành một trong hai ba trung tâm lan, yến, kỳ hoa dị vật ở Hà Nội những năm 60, khi thú chơi này bị coi là ‘tư sản, đồi truỵ’ rồi bị cấm. Minh hoạ đúng cho câu thơ của Bertolt Brecht ‘Thời thế gì / Mà nói đến cỏ cây…’. ‘Chả ai thích dùng tôi, Mỹ Điền nói…” (Trần Đĩnh. Đèn Cù, tập II. Người Việt, Westminster, CA: 2014).

Theo tôi thì cách mạng cũng không đến nỗi khe khắt gì lắm trong việc dùng người, kể cả những kẻ đã (lỡ) sống ở nước ngoài và am tường ngoại ngữ. Những nhân vật vừa kể – chả qua – chỉ bị xui thôi, hay nói một cách văn hoa là họ sinh bất phùng thời.

Chớ gặp phải vận may thì cái vốn liếng sinh ngữ vẫn có thể giúp cho một công dân X.H.C.N.V.N trở thành hiển đạt. Trường hợp bà Tôn Nữ Thị Ninh là một thí dụ điển hình. Theo Wikipedia:

Tôn Nữ Thị Ninh (sinh ngày 30 tháng 10 năm 1947) từng là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Liên minh Châu Âu (EU) và một số quốc gia như Bỉ, Hà Lan, v.v… Bà cũng từng là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam. Bà có vai trò tích cực trong lĩnh vực đối ngoại của Việt Nam…

Bà trở thành nhà ngoại giao bắt đầu bằng công việc phiên dịch và bà đã học được nhiều kinh nghiệm khi đi dịch cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Xuân Thuỷ, ông Nguyễn Cơ Thạch… Bà đã làm đại sứ ở ba nước Bỉ, Hà LanLuxembourgLiên minh châu Âu (EU). Bà còn giữ cương vị là người đứng đầu đại diện của phái đoàn Việt Nam ở Liên minh châu Âu tại Brussel (Bỉ) và đã từng giữ một nhiệm kỳ trong Ủy ban Trung ương của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

Cương vị gần đây nhất mà bà nắm giữ là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội. Trên cương vị đó bà đã có một số những phản bác tương đối mạnh mẽ trước một số cáo buộc về vấn đề nhân quyền từ phía Hoa Kỳ và Quốc hội Hoa Kỳ.”

Đã chưa?

Con đường công danh của bà T.N.T.N. chỉ “bắt đầu bằng công việc phiên dịch” mà đi lên tuốt tới chức vụ “Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội” đâu phải chuyện nhỏ. Ở vị trí này, trong chuyến công du nhằm cải thiện mối tương giao (vốn chưa bao giờ tốt đẹp) giữa Việt Nam với Mỹ, và với cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở đất nước này – hồi năm 2004 – bà T.N.T.N đã tuyên bố nhiều câu (bất hủ) có thể được coi như danh ngôn của ngành ngoại giao của nước C.H.X.H.C.N.V.N:

-Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi.

Hay:

Mình là thế thượng phong của nguời chiến thắng, mình cần chủ động, người ta không thể chủ động được do mặc cảm, cũng không thể yêu cầu ngươi ta đi trước, họ đứng ở vị trí không thuận lợi trong tiến trình lịch sử.

Tôi thì e rằng chính bản thân bà Ninh cũng “đứng ở vị trí không thuận lợi (mấy) trong tiến trình lịch sử.” Vẫn theo Wikipedia:

“Tháng 8 năm 2007, bà đã thôi giữ chức tại quốc hội và tham gia vào lĩnh vực giáo dục với tư cách Chủ tịch Hội đồng sáng lập Trường Đại học Tư thục Trí Việt. Tuy nhiên dự án này bị thất bại.”

Sao lại “thất bại” cà?

Tôi nhớ lúc khởi đầu dự án (“Bắt Tay Xây Dựng Trường Đại Học Tư Thục Trí Việt”) ngó bộ hoành tráng lắm mà:

“Sáng 7.11.2007, tại trụ sở Ủy ban về người VN ở nước ngoài (NVNƠNN) TP.HCM, Câu lạc bộ Khoa học và Kỹ thuật NVNƠNN (OVSCLUB) và Hội đồng sáng lập Dự án trường Đại học tư thục Trí Việt đã ký kết Thỏa thuận hợp tác: xây dựng một trường đại học chính quy hiện đại, trên tinh thần thực học để đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nước.

Đại diện cho Hội đồng sáng lập Dự án Đại học tư thục Trí Việt là bà Tôn Nữ Thị Ninh, Chủ tịch Hội đồng và đại diện của OVSCLUB là TSKH Trần Hà Anh, Trưởng Ban điều hành. Buổi lễ ký kết diễn ra với sự chứng kiến của Ban Chủ nhiệm Ủy ban NVNƠNN, Ban Liên lạc NVNƠNN TP.HCM…

Giới thiệu về Dự án trường Đại học tư thực Trí Việt, bà Tôn Nữ Thị Ninh cho biết, trường sẽ được xây dựng trên địa bàn huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, trên diện tích đất rộng 55 ha. Tâm huyết của những người xây dựng dự án này là xây dựng tại VN một trường đại học đạt chuẩn quốc tế và phi lợi nhuận, tạo được một không gian xanh với thiên nhiên hài hòa và những trang thiết bị đủ để thầy và trò có được những điều kiện học tập và nghiên cứu tốt nhất.”

Bà Tôn Nữ Thị Ninh (bên trái) trong buổi ra mắt Viện Trí Việt. Ảnh và chú thích: Dân Trí

Sao “tâm huyết” cỡ đó mà lại trở thành một chuyện “đầu voi đuôi chuột,” hả Trời?

Ngồi rà lại chút xíu tôi mới thấy có hai điểm khiến cho dự án xây dựng Đại Học Trí Việt khó được hanh thông:

Luật chơi của Trí Việt là: nói không với thiếu trung thực.

Gọi là trường quốc tế bởi vì sẽ dạy bằng tiếng Anh kể từ năm thứ 2, với lập luận rằng thanh niên Việt Nam thời hội nhập phải có tiếng Anh như là một ngôn ngữ làm việc của mình, ngoài tiếng mẹ đẻ…

Coi: sống trong một chế độ mà lường gạt, dối trá và nghi ngờ là chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà Nước mà bà Tôn Nữ Thị Ninh lại đặt ra “luật chơi là nói không với thiếu trung thực” và còn nói bằng tiếng Anh nữa (cơ) thì không “thất bại” mới là chuyện lạ.

Bà Ninh, lẽ ra, nên thức thời chút xíu. Bầy đặt màu mè “trung thực” làm chi – vậy má? Thử nhớ lại coi: trong suốt thời gian làm thông dịch cho Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Xuân Thủy, Nguyễn Cơ Thạch … mấy chả có nói một câu nào “trung thực” không? Hay tất cả đều  dối trá (như Vẹm) hết trơn – đúng không?

Đại học Trí Việt vẫn còn có cơ may “chuyển bại thành thắng” nếu sửa lại chương trình học chút xíu thôi: “Gọi là trường quốc tế bởi vì sẽ dạy bằng tiếng Trung Hoa kể từ năm thứ 2, với lập luận rằng thanh niên Việt Nam thời hội nhập phải có tiếng Tầu như là một ngôn ngữ làm việc của mình, ngoài tiếng mẹ đẻ…

Ráng nhịn chút xíu như vậy đi, chị Ninh.  Chảnh quá, thường khi, dễ trở thành lố bịch: “Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi.”

Sau Hội Nghị Thành Đô thì nhiều anh hàng xóm, khỏi cần gõ cửa, cũng đã (dám) chui luôn vô mùng của đám ái nữa của lắm vị Ủy Viên Bộ Chính Trị rồi. Bởi vậy, Đại Học Trí Việt (với sứ mệnh Trí Cao – Tâm Rộng –  Tầm Xa) sao không dậy bằng tiếng Tầu đi cho nó hợp thời?

Tương tự, cái “thế” mà mấy năm trước chị Ninh mô tả là “thượng phong của nguời chiến thắng” đó, với thời gian – rõ ràng – mỗi lúc một thêm chênh vênh dữ. Với con số xí nghiệp phá sản, cùng với nợ công mỗi lúc một nhiều thì trong tương lai gần – rất có thể – bầy sâu của Đảng lại phải nhờ chị Ninh chạy qua Hoa Kỳ “công du” chuyến nữa.

Lần này, làm ơn nhỏ họng lại chút xíu nha – chị Ninh. Đã bị gậy đi ăn xin mà còn lớn giọng (nghe) kỳ lắm. Hàng năm nếu không có hàng chục tỉ đô la của đám người “ở vị trí không thuận lợi trong tiến trình lịch sử” cứu trợ thì cái Đảng và Nhà Nước (thổ tả) hiện nay đã chuyển qua từ trần tự lâu rồi, đúng không?

Xây dựng khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma

Xây dựng khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma

RFA

20150313121506-anh3-600.jpg

Lễ đặt đá xây dựng khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma sáng 13/3 tại tỉnh Khánh Hòa

Courtesy of vtv.vn

Lễ đặt đá xây dựng khu tưởng niệm 64 chiến sỹ hải quân Việt Nam hy sinh trong cuộc hải chiến bảo vệ đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa vào tháng 3 năm 1988 được tiến hành hôm nay tại xã Cam Đông, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.

Buổi lễ do Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam và Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa tiến hành.

Thông tấn xã Việt Nam loan tin vừa nêu và nói thêm trận chiến xảy ra vào rạng sáng ngày 14 tháng 3 năm 1988 khi các binh sĩ Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và xây dựng các công trình phục vụ đời sống quân, dân trên đảo bị tàu chiến của Trung Quốc tấn công.

64 binh sĩ Việt Nam đã bị giết chết trong cuộc chiến được nói là không cân sức; họ phải đứng thành vòng tròn lấy thân mình để khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Gạc Ma.

Tin cho hay khu tưởng niệm Gạc Ma được xây dựng trên khuôn viên rộng 2 hecta rưỡi, gồm có tượng đài, nhà bảo tàng, hệ thống cây xanh…Kinh phí được cho biết lấy từ nguồn đóng góp của các tổ chức công đoàn và người lao động tham gia chương trình ‘Nghĩa tình Hoàng Sa- Trường Sa’ mà Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động từ tháng ba năm ngoái.

Việt Nam có thể mất Trường Sa ?

Việt Nam có thể mất Trường Sa ?

Trương Nhân Tuấn

07-03-2015

VN có thể bị mất toàn bộ các đảo, các cấu trúc địa lý thuộc quần đảo Trường Sa cho Trung quốc, nếu vẫn còn giữ nguyên chính sách “ba không” như hiện nay.

Trên quan điểm địa chiến lược, TQ chỉ có thể trở thành “đại quốc” khi các nước chung quanh “yếu”. Nếu các nước này đã là các nước “giàu” thì cũng phải làm thế nào cho họ ít nhiều lệ thuộc vào TQ. Đã từ lâu TQ là động cơ cho phát triển của cả khu vực (và thế giới). GDP của TQ lên hàng thứ nhì và ngân sách quốc phòng cũng hàng thứ nhì trên thế giới (150 tỉ đô là số công bố. Số thật sự có thể lên gấp đôi). TQ đã là một “nước lớn”. Các nước “giàu” trong khối ASEAN, hay Đại Hàn, Nhật đã “tương thuộc” một cách sâu sắc về kinh tế với TQ.

VN là một ngoại lệ. Nước này từ đầu thập niên 90 đã ngoan ngoãn nằm trong “quĩ đạo” của TQ. VN tuyên bố là không “liên minh” với nước nào. Điều này rất hợp ý Bắc Kinh. TQ sẽ liên tục “giúp” mọi thứ để cho VN trở thành một nước “yếu” và nghèo đói kinh niên.

Một cái nhìn (địa chiến lược) khác, Mỹ lại không muốn thấy một “đại cường” TQ, đối trọng với Mỹ trong khu vực. Mỹ không thể tái dựng lại “chiến tranh lạnh” nhằm cô lập TQ mà chỉ có thể thiết lập một hàng rào các nước đồng minh để bao vây TQ. Các nước nằm trong “hàng rào” của Mỹ đều là các nước giàu (hay tương đối giàu hơn VN) và mạnh. VN có vị trí rất “đắc địa”, vì là thanh kiếm dưới yết hầu của TQ. Dĩ nhiên được Mỹ coi trọng.

VN có hai lựa chọn:

Một là không liên minh với ai hết (theo như ý nguyện của Bắc Kinh) như hiện nay. Kết quả là nghèo kinh niên, (lãnh thổ mất lần hồi) vì đó là mục đích chiến lược của TQ.

Hai là “liên minh” với Mỹ để trở thành một nước giàu và mạnh (ít ra như Đại Hàn). Vì một VN nghèo đói sẽ không ngăn cản được TQ mà còn là một gánh nặng cho Mỹ.

Và chỉ có liên minh với Mỹ VN mới có thể bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, vùng trời của quốc gia mình.

Một số yếu tố trình bày sau đây, cho thấy nếu VN không thay đổi, mất nước sẽ là một trình tự êm ái.

1/ Từ vụ kiện của Phi:

Ngày 23 tháng giêng năm 2013, Bộ Ngoại giao Phi trao công hàm cho Bắc Kinh, đồng thời thông báo trước dư luận trong ngoài nước, việc Phi đã nộp hồ sơ đưa Trung Quốc ra Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Quốc Tế về Biển 1982. Hồ sơ kiện của Phi gồm 4.000 trang tài liệu, được Tòa Trọng tài Thường trực (La Hague, Hòa Lan) thụ lý. Tháng 6-2014, Tòa thông báo cho Trung Quốc, nước này có 6 tháng để nộp bản phản biện, thời hạn chót là ngày 15-12-2014. Như đã biết, từ ngày 19 tháng 2 năm 2013, bộ Ngoại giao TQ đã tuyên bố từ chối tham gia vụ kiện, và dĩ nhiên, không nhìn nhận thẩm quyền của Tòa. Một bản Tuyên bố ngày 7-12-2014 đã được phía TQ công bố. Theo đó lập luận của TQ về các lý do không tham gia vụ kiện được trình bày khá rõ rệt.

Những lập luận đáng ghi nhận của TQ là : 1/ Tòa không có thẩm quyền vì cốt lõi của vụ kiện liên quan đến “chủ quyền lãnh thổ” mà điều này không thuộc phạm trù của Công ước Quốc tế về Biển 1982. 2/ Vụ kiện liên quan đến vấn đề “phân chia ranh giới biển” mà điều này TQ đã bảo lưu năm 2006 (loại trừ mọi biện pháp trọng tài có mục đích phân chia ranh giới biển).

Thái độ của TQ, không tham gia vụ kiện và không nhìn nhận thẩm quyền của tòa, không cản trở được quá trình thụ lý của Tòa Thường Trực. Nếu không có gì trở ngại, nội vụ sẽ xử vào tháng 7 năm 2015.

Trong tiểu đoạn trước người viết có nói rằng sẽ có 40% xác suất Tòa tuyên bố “không có thẩm quyền”. Vì sao sẽ giải thích bên dưới. Điều này nếu xảy ra, vùng nhận diện phòng không (ADIZ) của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ sớm được thành lập (theo bản đồ dưới đây). Dĩ nhiên, tất cả các đảo, cấu trúc địa lý trong vùng biển (được bao che bởi vùng ADIZ) phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc. TQ không thể lập vùng nhận diện phòng không nếu có một vùng lãnh thổ (nào đó) ở phía dưới còn thuộc về một nước khác.
Tức là, trước khi tuyên bố vùng nhận diện phòng không, công việc của TQ là “thâu hồi” các đảo, các cấu trúc địa lý bên dưới khu vực này. Phía thiệt hại nhiều nhất không phải Phi Luật Tân mà là VN. Toàn bộ lãnh thổ của VN trong Biển Đông sẽ bị mất.

<a href=”https://www.flickr.com/photos/22851651@N03/16562437918” title=”Hoang Sa – Truong Sa 1 by truongnhantuan, on Flickr”><img src=”https://farm9.staticflickr.com/…/16562437918_54799b9608_o.j…” width=”2278″ height=”3150″ alt=”Hoang Sa – Truong Sa 1″></a>

Hình trên: Vùng ADIZ của TQ, giả định của tác giả.

2/ Nội dung hồ sơ kiện của Phi.

Phi yêu cầu Tòa tuyên bố, gồm 10 điều :

1- Các quyền của TQ và Phi ở biển Đông phải tuân thủ theo UNCLOS. (Các quyền được xác định theo phần II đối với lãnh hải và vùng tiếp giáp, theo phần V đối với vùng ZEE và theo phần VI đối với thềm lục địa).

2- Yêu sách đường 9 đoạn của TQ là vô giá trị.

3- Các cấu tạo lúc chìm lúc nổi, không nằm trong lãnh hải các quốc gia ven biển, thuộc đáy biển, thì không thể chiếm hữu, ngoại trừ cấu tạo đó nằm trên thềm lục địa của quốc gia theo phần VI UNCLOS.

4- Các bãi Vành Khăn, Mc Kennan, Xu Bi và Gaven là các cấu tạo chìm khi thủy triều lên, không phải là đảo theo qui định của điều 121 UNCLOS, cũng không nằm trên thềm lục địa TQ, việc TQ chiếm đóng có trái phép hay không và việc xây dựng trên các bãi cạn này có trái phép hay không ?

5- Bãi Vành Khăn và McKennan thuộc thềm lục địa của Phi theo phần VI của UNCLOS.

6- Bãi Hoàng Ngam và các đá Châu Viên, Gạc Ma, Chữ Thập là các bãi chìm, ngoài trừ vài mỏm đá nhô trên nước khi thủy triều lên. Chúng chỉ là « đá » theo điều 121 khoản 3 của UNCLOS, vì thế chỉ có thể có lãnh hải không quá 12 hải lý. TQ đã đòi hỏi một cách phi lý quyền mở rộng các vùng biển quá 12 hải lý tại các cấu tạo này.

7- TQ đã vi phạm luật pháp khi ngăn cấm các tàu của Phi khai thác các vùng biển cận Hoàng Nham và đá Gạc Ma.

8- Phi có quyền về lãnh hải 12 hải lý, ZEE 200 hải lý và thềm lục địa, theo các phần II, V và VI của UNCLOS, tính theo đường cơ bản quần đảo của Phi.

9- TQ đã yêu sách một cách bất hợp pháp các quyền đối với tài nguyên sinh vật và phi sinh vật và đã khai thác phi pháp các tài nguyên này và cũng đã vi phạm pháp luật khi không cho Phi khai thác các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng EEZ và thềm lục địa của mình.

10- TQ đã can thiệp một cách bất hợp pháp quyền tự do hàng hải của Phi được xác định theo UNCLOS.

Các điểm, theo tôi, Tòa không có thẩm quyền để tuyên bố là :

Điểm 3 và điểm 4 : về tình trạng pháp lý các cấu tạo địa lý lúc chìm lúc nổi (mà TQ hiện chiếm đóng và xây dựng). Công ước Quốc tế về Biển 1982 không đề cập đến việc các cấu trúc địa lý này có thể chiếm hữu hay không ? Phán lệ (hay án lệ) của CIJ trong vụ kiện giữa Qatar và Bahreïn. Tòa nói về việc này như sau:

“luật pháp quốc tế im lặng về tình trạng pháp lý của các bãi lúc chìm lúc nổi, các bãi này có thể xem như là một “lãnh thổ” hay không ? luật pháp hiện hành cũng không thể xác định là các bãi đó có thể xem như là một lãnh thổ tương đương với “đảo” hay không”.

Tuy nhiên, trong vụ tranh chấp giữa Tân Gia Ba và Mã Lai về chủ quyền của các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge qua phán lệ của Tòa án Quốc tế (CIJ) ngày 23-5-2008. Trường hợp tương tự, South Ledge là một đảo đá lúc chìm lúc nổi, chỉ thấy khi thủy triều thấp. Tòa có nhắc lại tình trạng mơ hồ về tình trạng pháp lý của các cấu trúc địa lý này trong vụ án Qatar và Bahreïn. Dầu vậy Tòa phán rằng South Ledge nằm ở vùng lãnh hải nước nào thì sẽ thuộc chủ quyền của nước đó.

Nếu phán quyết của Tòa CIJ ở trên trở thành một “phán lệ”, được áp dụng trong trường hợp các cấu trúc địa lý tương tự ở Trường Sa, thì chủ quyền các cấu trúc (lúc chìm lúc nổi) sẽ phụ thuộc vào các đảo chính. Tức là nước nào có chủ quyền ở đảo chính thì các cấu trúc phụ thuộc cũng sẽ thuộc chủ quyền của quốc gia đó.

Ở điểm này Tòa sẽ không có thẩm quyền phán xét. Đơn giản vì nó liên quan đến vấn đề “chủ quyền lãnh thổ” mà điều này nằm ngoài thẩm quyền của UNCLOS.

Điểm 5, đá McKennan thuộc nhóm đảo Sinh Tồn, phụ thuộc vào đảo Sinh Tồn. Trong khu vực đảo này TQ đã chiếm hai bãi (đá) Gạc Ma và Tư Nghĩa. Đá Vành Khăn sẽ phụ thuộc vào đá (nổi thường trực) hay đảo nào kế cận trong vòng 12 hải lý. Phía TQ tuyên bố có chủ quyền các đảo TS, theo Tuyên Bố đơn phương năm 1958 về hải phận 12 hải lý.

Ở điểm này Tòa cũng không có thẩm quyền, vì thuộc vấn đề “chủ quyền lãnh thổ”.

Điểm 6 nói về hiệu lực của “đảo” hay “đá” theo điều 121 UCLOS. Ở đây tranh luận là về lý thuyết luật học nhưng rất dễ sa vào lãnh vực “phân chia ranh giới biển” mà điều này Tòa cũng không có thẩm quyền do bảo lưu của TQ năm 2006.

Tức là, khi tôi nói có xác suất 40% Tòa không có thẩm quyền là dựa trên các cơ sở dữ kiện này.

3/ VN cần có thái độ nào ?

Nghe báo chí loan tải, VN đã gởi hồ sơ lên Tòa, trong vụ kiện của Phi, không phải để tham gia vụ kiện mà nhằm bảo vệ (bảo lưu) quyền lợi của VN trong khu vực. Điều này tôi cũng đã cảnh báo từ sau khi Phi tuyên bố đi kiện. Lý do các chủ thể mà Phi đề cập tới hầu hết đều thuộc chủ quyền của VN.

Sự việc TQ ráo riết xây dựng trên các cấu trúc địa lý (chiếm được của VN), trong vòng một thời gian ngắn, đã biến các cấu trúc địa lý này thành những đảo nhân tạo. Như vậy chủ ý của TQ là phải hoàn tất việc xây dựng trước ngày Tòa tuyên bố (dự tính tháng 7 năm 2015).

TQ đã đặt thế giới trước một việc đã rồi.

Bước kế tiếp (có thể là hai bước song song) là TQ sẽ tuyên bố vùng “nhận diện phòng không” đồng thời tuyên bố phong tỏa vùng biển chung quanh các đảo Trường Sa. Vấn đề “tự do hàng hải” sẽ không ảnh hưởng vì TQ không có mục đích làm gián đoạn việc này. Các đảo (có người sinh sống) sẽ phải kéo cờ đầu hàng trong một thời gian ngắn vì thiếu nước và lương thực.

Bằng mọi cách TQ sẽ chiếm các đảo trong khu vực ADIZ mà họ đã vạch ra. Vì nếu còn một đảo nào đó thuộc chủ quyền nước khác, vùng ADIZ này sẽ không hiệu lực.

Việc xây dựng các đảo của TQ chắc chắn đã làm VN “chới với” nhưng lãnh đạo (và phần lớn học giả) VN vẫn dường như chưa nhìn thấy viễn ảnh nan giải phía trước. Lãnh đạo CSVN vẫn yên bình tổ chức hội nghị “sắp xếp nhân sự”, khẳng định “kinh tế thịc trường định hướng xã hội chủ nghĩa” trong khi học giả thì viết luận văn tuyên truyền chính sách “đu dây” với “lời nguyền địa lý”.

Có “lời nguyền địa lý” nào độc địa bằng địa lý nước Nhật ?

Về tình trạng văn hóa và địa lý, Nam Hàn có khác gì VN với TQ ?

Không có lời nguyền nào cả. Chỉ có vấn đề là khôn hay dại. Có chui đầu vào niền “kim cô” hay không mà thôi.

Giải pháp tốt nhất (để phá nước cờ thế của TQ) hiện nay của VN là liên minh với Mỹ và tức thời lập hồ sơ đi kiện TQ.

Vì tình thế mới phải có kế sách mới.

Vụ Phi đi kiện TQ không thuyết phục được Tòa. Bởi vì các đảo mà Phi hiện chiếm đóng phần lớn là trái phép. Chỉ có VN mới có tư cách (hơn Phi) để kiện TQ ở Trường Sa. Điều này tôi cũng đã cảnh báo từ hơn thập niên nay.

Việt Nam phải làm gì với hành động của Trung Quốc?

Việt Nam phải làm gì với hành động của Trung Quốc?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-03-10

03102015-what-cn-wnt-n-vn-sh-do.mp3

Vị trí Trung Quốc hạ đặt giàn khoan nổi HD-981 trên vùng biển Việt Nam

Vị trí Trung Quốc hạ đặt giàn khoan nổi HD-981 trên vùng biển Việt Nam (tháng 5, 2014)

Source UNCLOS

Your browser does not support the audio element.

Sáng ngày 8 tháng Ba vừa qua, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị nói rằng “Trung Quốc đang tiến hành những hoạt động xây dựng cần thiết trên đảo và bãi đá của Trung Quốc. Việc xây dựng này không nhắm hay ảnh hưởng đến ai” . Có thật là việc xây dựng này không ảnh hưởng đến ai hay không? Mặc Lâm trao đổi với nhà nghiên cứu Biển Đông Trương Nhân Tuấn để tìm hiểu thêm về sự kiện này.

Mặc Lâm: -Thưa ông là người nghiên cứu Biển Đông trong hàng chục năm qua theo ông Trung Quốc đang công nhiên xây dựng trên các bãi đá ngầm tại Trường Sa thì hành động này có đi ngược lại với DOC năm 2002 yêu cầu phải giữ nguyên trạng các vùng đang tranh chấp hay không?

Trương Nhân Tuấn: Trung Quốc đã lợi dụng việc Phi đi kiện, tháng giêng năm 2013, cho rằng Phi đã vi phạm Tuyên bố chung giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002 gọi là DOC, từ đó lấy cớ tiến hành việc xây dựng các đảo nhân tạo tại các cấu trúc địa lý tại Trường Sa.

Vụ giàn khoan 981 đặt trên thềm lục địa VN vào tháng 5 năm ngoái thật ra chỉ là kế  “giương đông kích tây”. Cùng thời điểm đó Trung Quốc đưa tàu bè hút cát, nạo vét đại dương đến Trường Sa để thực hiện các công trình một cách rầm rộ như thế mà phía Việt Nam, cả năm sau, hoàn toàn không có một phản ứng nào. Biến cố giàn khoan 981 có thể đã che mắt mọi người, nhưng không thể che mắt nhà cầm quyền.

” Vụ giàn khoan 981 đặt trên thềm lục địa VN vào tháng 5 năm ngoái thật ra chỉ là kế “giương đông kích tây”. Cùng thời điểm đó TQ đưa tàu bè hút cát, nạo vét đại dương đến Trường Sa để thực hiện các công trình một cách rầm rộ

Trương Nhân Tuấn”

Trung Quốc đã chiếm các bãi đá của Việt Nam từ năm 1988, sau đó cho xây dựng một số công trình có tầm vóc nhỏ vài trăm mét vuông. Tình trạng đó kéo dài cho đến đầu năm 2014, tức là tuyên bố DOC có hiệu lực được 12 năm. Việc xây dựng hiện nay đã làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông. Các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang xây dựng, như công trình trên đá Chữ Thập khi hoàn tất có thể lên đến vài chục cây số vuông. Nếu các đảo đó được quân sự hóa, tương quan lực lượng giữa các bên sẽ thay đổi lớn lao. Trung Quốc, dựa vào các đảo vừa xây dựng, có thể tuyên bố vùng “nhận diện phòng không”, đồng thời phong tỏa để chiếm các đảo khác hiện đang trong tay của Việt Nam và Phi, và có thể cả Đài Loan.

Hành động này của Trung Quốc dĩ nhiên đi ngược lại tinh thần của Tuyên bố DOC 2002. Nhưng văn bản này vốn không có giá trị ràng buộc. Do đó cũng không nước nào làm gì được Trung Quốc.

Mặc Lâm: Theo ông thì sự im lặng của Việt Nam có thể được xem là từ bỏ chủ quyền theo luật quốc tế. Có cách nào để sửa sai hay ít ra điều chỉnh lại hay không?

Trương Nhân Tuấn: Theo một số phán lệ của Tòa án quốc tế, thái độ im lặng trong một số trường hợp có thể được xem là sự “đồng thuận”. Sự đồng thuận có thể “mặc thị” hay “ám thị”. Đây là một nguyên tắc quan trọng trong luật học, gọi là  “acquiescement “, có hiệu lực tương tự như nguyên tắc “Estoppel “.

Những hành vi của Việt Nam, có thể xem là các dấu hiệu “acquiescement-đồng thuận”, công nhiên hay mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thứ nhứt là công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Thứ hai là thái độ im lặng của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong biến cố 17-1-1974 khi Trung Quốc đưa quân xâm lăng quần đảo Hoàng Sa. Thứ ba, thái độ của Việt Nam vào tháng 3 năm 1988 khi Trung Quốc chiếm một số bãi đá ở Trường Sa.

Về công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, Việt Nam hiện nay có khuynh hướng diễn giải nội dung chỉ công nhận 12 hải lý về hải phận chứ không có ý nghĩa về nhìn nhận chủ quyền. Tuy nhiên, nội dung tuyên bố của Trung Quốc năm 1958 không phải chỉ nói về hải phận 12 hải lý mà còn nói về chủ quyền của Trung Quốc tại các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ta có thể xem là Việt Nam đã “im lặng” trước tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc.

Theo luật quốc tế, trong những trường hợp đòi hỏi quốc gia liên hệ phải có một thái độ dứt khoát, thì sự im lặng đó có thể được hiểu như là sự đồng thuận. Tức là, theo nguyên tắc “acquiescement”, Việt Nam đã mặc nhiên đồng thuận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

” Theo luật quốc tế…thì sự im lặng đó có thể được hiểu như là sự đồng thuận. Tức là, theo nguyên tắc “acquiescement”, Việt Nam đã mặc nhiên đồng thuận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa

Trương Nhân Tuấn”

Trường hợp tháng giêng năm 1974, trước hành vi Trung Quốc xâm lăng lãnh thổ của VN, hai chính phủ Nam và Bắc Việt Nam đều có trách nhiệm như nhau trong vấn đề bảo vệ lãnh thổ chung. Rốt cục miền Bắc, đã không tìm cách can thiệp vào cuộc xâm chiếm đó mà còn từ chối đứng chung với miền Nam để ra một tuyên bố chung chống lại Trung Quốc. Hành vi Trung Quốc xâm chiếm lãnh thổ bắt buộc chính phủ các bên phải có thái độ. Việc giữ im lặng ở đây cũng được xem là dấu hiệu của “acquiescemnt”, mặc nhiên nhìn nhận lý lẽ và hành vi xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc là chính đáng.

Trường hợp ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc đem quân xâm lăng một số đá, bãi của Việt Nam tại Trường Sa. Dĩ nhiên Trung Quốc đã sử dụng bạo lực. Vấn đề là phía Việt Nam đã không sử dụng quyền “tự vệ chính đáng” được Hiến chương LHQ qui định để chống trả lại. Phía Việt Nam được lệnh là không được nổ súng bất kỳ giá nào. Nhà nước Việt Nam cũng từ chối mọi thủ tục pháp lý có sẵn để tranh đấu chống lại Trung Quốc ở thời điểm đó. Mặc dầu nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam lúc đó có đầy đủ tư cách pháp nhân để thực hiện. Các công hàm phản đối dĩ nhiên không có hiệu lực bằng các phương tiện pháp lý.

Đá Gạc Ma của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ năm 1988, sau khi cải tạo đất và xây dựng năm 2014 nay đã trở thành đảo nhân tạo nối với cơ sở ban đầu của bãi đá này, có cả 1 sân bay trực thăng và 1 trạm xi măng - Ảnh: Airbus Defe

Đá Gạc Ma của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ năm 1988, sau khi cải tạo đất và xây dựng năm 2014 nay đã trở thành đảo nhân tạo nối với cơ sở ban đầu của bãi đá này, có cả 1 sân bay trực thăng và 1 trạm xi măng – Ảnh: Airbus Defence &amp; Space/IHS Jane’s

Nếu đưa ra một trọng tài quốc tế, chắc chắn thái độ của các chính phủ VNDCCH hay CHXHCNVN trong quá khứ chắc chắn sẽ gây bất lợi cho Việt Nam. Việt Nam có thể thua kiện.

Theo tôi, để Việt Nam hiện nay có nhiều xác suất thắng kiện, nhà nước Việt Nam cần phải thực thi những thủ tục để “kế thừa” di sản của VNCH trước kia. Chỉ khi nào đứng dưới tư cách người thừa kế chính đáng của VNCH thì danh nghĩa chủ quyền của VN mới được củng cố.

” “Liên minh” với Mỹ để trở thành một nước giàu và mạnh, ít ra như Đại Hàn. Vì một Việt Nam nghèo đói sẽ không ngăn cản được TQ mà còn là một gánh nặng cho Mỹ. Chỉ có liên minh với Mỹ về quốc phòng thì VN mới có thể bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ

Trương Nhân Tuấn”

Riêng về hiệu lực của công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng, theo tôi là không thể giải thích theo lối hiện nay. Vì giải thích thế nào thì cũng nhìn nhận nó có hiệu lực, chỉ nhiều hay ít. Mà cách tốt nhứt phải phủ nhận hoàn toàn hiệu lực của nó, bằng cách dựa vào hai Hiệp định Genève 1954 và Hiệp định Paris 1973. Theo nội dung hai hiệp định này thì các nước nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia duy nhứt và lãnh thổ toàn vẹn. Vịn vào đó, các tuyên bố, các hành vi nào của một bên nếu xâm phạm đến sự “toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam” thì nó vô giá trị.

Mặc Lâm: Ông nghĩ thế nào nếu Việt Nam liên minh với Mỹ? ngoài chỗ dựa vào quân sự thì nước Mỹ sẽ giúp cho Việt Nam các phương tiện như luật sư, kinh nghiệm, luật quốc tế để đối phó với Trung Quốc trên mặt trận pháp lý mà điều này thì Việt Nam cần không kém khả năng quân sự?

Trương Nhân Tuấn: Theo tôi, mình thấy Việt Nam hiện nay đã đi vào quĩ đạo của Trung Quốc mà việc này dài lâu sẽ giam hãm Việt Nam vĩnh viễn trong nghèo đói và chậm tiến.

Trên quan điểm địa chiến lược của Trung Quốc, nước này chỉ có thể trở thành “đại quốc” khi các nước chung quanh “yếu”, không thể đe dọa được an ninh cũng như sự phát triển của họ.

GDP của Trung Quốc hiện nay lên hàng thứ nhì và ngân sách quốc phòng cũng hàng thứ nhì. Ngân sách này chính thức vào khoảng 150 tỉ đô. Số thật sự có thể lên gấp đôi.

Một cái nhìn khác, Mỹ lại không muốn thấy một “đại cường” Trung Quốc đối trọng với Mỹ trong khu vực. Mỹ không thể tái dựng lại “chiến tranh lạnh” nhằm cô lập Trung Quốc mà chỉ có thể giúp các nước đồng minh như Nhật, Đại Hàn, Phi, Thái Lan… giàu mạnh để thiết lập một hàng rào các nước đồng minh để bao vây Trung Quốc. Việt Nam như thế có hai lựa chọn:

Một là không liên minh với ai hết như hiện nay. Kết quả là nghèo đói và chậm tiến, lãnh thổ mất lần hồi, vì đó là mục tiêu chiến lược của Trung Quốc.

Hai là “liên minh” với Mỹ để trở thành một nước giàu và mạnh, ít ra như  Đại Hàn. Vì một Việt Nam nghèo đói sẽ không ngăn cản được Trung Quốc mà còn là một gánh nặng cho Mỹ.  Chỉ có liên minh với Mỹ về quốc phòng thì Việt Nam mới có thể bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, vùng trời của quốc gia mình.

Ngoài ra, về pháp lý, Hoa Kỳ, với một lực lượng luật gia hùng hậu, cũng là nước duy nhất có thể giúp Việt Nam thắng được mặt trận pháp lý đối với Trung Quốc.

Mặc Lâm: Xin cám ơn nhà nghiên cứu Biển Đông Trương Nhân Tuấn.

Đà Nẵng bán đứt núi Bà Nà cho tập đoàn Sun Group

Đà Nẵng bán đứt núi Bà Nà cho tập đoàn Sun Group

Nguoi-viet.com

ĐÀ NẴNG 8-3 (NV) .- Dân chúng Việt Nam, đặc biệt là dân chúng thành phố Đà Nẵng đang chỉ trích kịch liệt việc nhà cầm quyền thành phố Đà Nẵng bán đứt khu vực núi Bà Nà cho Tập đoàn Sun Group.

Trạm gác chặn người và xe không cho tự đi lên Bà Nà. (Hình: Tuổi Trẻ)

Bà Nà cao khoảng 1,400 mét, thuộc địa phận huyện Hòa Vang cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 30 cây số. Nổi tiếng vừa vì đẹp, vừa vì thời tiết độc đáo: Mỗi ngày có nét đặc trưng của cả bốn mùa riêng biệt, buổi sáng giống như mùa Xuân, buổi trưa giống như mùa Hè, buổi chiều giống như mùa Thu và đêm xuống chẳng khác gì mùa Đông.

Mới đây, Tập đoàn Sun Group đã quyết định đóng con đường dài khoảng 15 cây số dẫn lên Bà Nà. Muốn thăm Bà Nà phải dùng hệ thống cáp treo dài khoảng 5,000 mét. Nếu là dân Đà Nẵng, phí dùng cáp treo là 350,000/người/chuyến đi – về. Không phải dân Đà Nẵng thì phải trả 500,000//người/chuyến đi – về.

Dân chúng thôn An Sơn, xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng – nơi có tỉnh lộ 602 (tên con đường dẫn lên Bà Nà) cho biết, bất cứ ai muốn dùng tỉnh lộ 602 phải xin phép và được Ban Quản lý Khu du lịch Bà Nà đồng ý.

Thậm chí theo tờ Tuổi Trẻ, ngay cả các nhân viên kiểm lâm của Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa bao quanh Khu Du lịch Bà Nà, cũng phải xin phép Ban Quản lý Khu du lịch Bà Nà để dùng tỉnh lộ 602.

Ông Nguyễn Điểu, Giám đốc Sở Tài nguyên – Môi trường thành phố Đà Nẵng, giải thích, trước đây, Đà Nẵng giao cho nhiều nhà đầu tư cùng khai thác các dịch vụ tại Khu du lịch Bà Nà nên khu vực này trở thành manh mún, không theo chiến lược nào cả.

Sau đó thì Tập đoàn Sun Group tìm tới và bỏ tiền làm tuyến cáp treo chạy từ chân lên đỉnh Bà Nà. Do Tập đoàn Sun Group có khả năng, Đà Nẵng đã quyết định giao toàn bộ Khu du lịch Bà Nà cho Tập đoàn Sun Group khai thác (bán một phần để Tập đoàn Sun Group xây dựng biệt thự nhằm bán lại, phần khác thì cho tập đoàn này thuê).

Ông Điểu tiết lộ, sắp tới Đà Nẵng sẽ giao toàn bộ rừng Bà Nà – Núi Chúa, kể cả rừng nguyên sinh cho Tập đoàn Sun Group quản lý.

Ông Điểu xác nhận với tờ Tuổi Trẻ rằng, Đà Nẵng đã giao cho Tập đoàn Sun Group quản lý luôn tỉnh lộ 602 và tập đoàn này dùng con đường đó để vận chuyển thiết bị, vật tư phục vụ các công trình xây dựng nên nó trở thành nguy hiểm cho du khách.

Theo ông Điểu, Tập đoàn Sun Group đã đầu tư khoảng 500 triệu Mỹ kim vào Khu Du lịch Bà Nà nên có ưu đãi như vậy thì tập đoàn này mới sớm thu hồi được vốn, chứ chỉ dựa vào nguồn thu từ dịch vụ du lịch thì rất khó cho doanh nghiệp.

Trước thắc mắc của nhiều người: Họ đã từng góp tiền xây dựng chùa Linh Ứng nhưng tại sao, nay muốn đến chùa phải mua vé của Khu du lịch mới được vào? Ông Võ Văn Thương – Chánh Văn phòng thành phố Đà Nẵng, bảo rằng, chùa Linh Ứng nằm trong quần thể Khu Du lịch Bà Nà mà chính quyền thành phố này đã giao cho Tập đoàn Sun Group đầu tư và quản lý nên… “khó bóc tách ra được”. (G.Đ.)

Tiền Giang: Chuẩn bị tẩm liệm thì sống lại

Tiền Giang: Chuẩn bị tẩm liệm thì sống lại

TIỀN GIANG 8-3 (NV) –  Một người đàn ông bị bệnh viện trả về, gia đình chuẩn bị tang lễ thì được cứu sống trở lại nhờ một người khách viếng, theo tin tờ Dân Việt hôm Chủ Nhật 8/3/2015.

Ông Nguyễn Văn Đạo (bên phải) tươi cười bên ân nhân cứu mạng Phạm Tấn Lộc.(Hình: Dân Việt)

“Người đàn ông đột quỵ, bị bệnh viện trả về gia đình lo hậu sự. Trong lúc chờ tẩm liệm, một người khách đến viếng sờ thử vào ngực thấy ấm liền nhấn mấy cái rồi đưa đi cấp cứu. Và, “người chết” đã… sống khỏe”.

TỜ Dân Việt kể như vậy và cho hay tiếp rằng, ngày 8/3/2015, theo lời bác sĩ Hồ Văn Bảy – Trưởng khoa Cấp cứu Bệnh viện Quân y 120 Tiền Giang, bệnh nhân Nguyễn Văn Đạo (53 tuổi, ngụ xã Kim Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) đã bình phục sau 10 ngày được điều trị.

Trước đó, ông Đạo “bị đột quỵ và được gia đình đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Long An trong tình trạng hôn mê, nhiều lần ngừng tim, sau đó được bệnh viện này cho về lo hậu sự”.

Nguồn tin trên kể rằng, sáng mùng 4 Tết (tức ngày 22/2/2015), ông Đạo bị đột quỵ tại nhà dì ruột ở thành phố Tân An, tỉnh Long An. Ông được người thân đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Long An trong tình trạng hôn mê, nhiều lần ngừng tim. Cuối ngày 22.2, Bệnh viện Đa khoa Long An đồng ý để người nhà đưa ông Đạo về lo hậu sự.

Các bác sĩ điều trị dặn, “khi về nhà rút ống thở, ông Đạo sẽ chết nên gia đình và hàng xóm lập tức dựng rạp, thuê nhạc lễ, mua quan tài chờ sẵn. Sau khi coi “thầy”, gia đình quyết định sẽ tẩm liệm vào 19 giờ 30 ngày 23/2/2015. Trong thời gian chờ tẩm liệm, cả trăm người tụ tập tại nhà ông Đạo để phụ lo hậu sự. Hàng chục người thân quỳ xung quanh tụng kinh”.

Vào buổi trưa ngày 23/2, có ông Phạm Tấn Lộc (cư dân thành phố Mỹ Tho) đến dự đám tang. “Khi lại nhìn mặt ông Đạo lần cuối đã thử sờ lên ngực và thấy ấm nên ông Lộc yêu cầu đưa đi cấp cứu”. Nguồn tin nói vật và nhiều người có mặt tại đám tang không đồng ý vì “sợ khổ người chết lẫn người sống”. Một trong những lý do chính được nêu ra là gia cảnh của ông Đạo rất nghèo.

Tuy nhiên, ông Lộc “cam kết nếu cấp cứu không sống, ông sẽ chịu toàn bộ chi phí và gọi xe đưa ông Đạo đi cấp cứu”, tờ Dân Việt nói.

Nguồn tin kể tiếp rằng, tại Bệnh viện Quân y 120, các bác sĩ chẩn đoán ông Đạo “bị hôn mê do đột quỵ não, viêm phổi và cơ thể suy kiệt nặng do 2 ngày không được ăn uống, nên truyền nước, bù dịch, sinh tố, thực hiện các bước điều trị. Ngày hôm sau thì ông Đạo tỉnh và bình phục dần. Đến ngày 5/3/2015, ông Đạo được cho xuất viện”.

Giải thích với nhà báo, bác sĩ Võ Công Luận – Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Long An – nói: “Ông Đạo nhập viện ngày 22.2 trong tình trạng hôn mê, phải thở máy, có lúc ngưng tim. Chúng tôi đã kiểm tra kỹ và thấy khó có khả năng cứu sống. Chiều cùng ngày, gia đình xin về, bệnh viện đồng ý và cho xe cấp cứu đưa về nhà. Trên đường đi, có lúc ông Đạo ngưng tim, phải đưa trở lại bệnh viện cấp cứu. Việc bệnh nhân này khỏe trở lại đúng là trường hợp hy hữu”.

Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết – vợ ông Đạo – kể: “Nhà tôi nghèo, may mắn là bà con lối xóm đến dự đám ma, thấy ổng không chết nên lấy tiền phúng điếu góp tiền cho ổng đóng viện phí. Ông Phạm Tấn Lộc có 1.3 triệu đồng cũng tạm ứng cấp cứu, rồi cho luôn”.

Nói về trường hợp của ông Đạo, bác sĩ Hồ Văn Bảy chia sẻ: “Nếu ông Đạo được điều trị tích cực ngay từ đầu thì sẽ xuất viện sớm hơn. Thực tế khi ông nhập viện, cơ thể đã suy kiệt trầm trọng. Nếu gia đình chờ tới giờ tẩm liệm, không ai đưa đi cấp cứu chắc chắn ông sẽ chết vì kiệt sức”, báo Dân Việt kể lại. (TN)

Gia đình họ Ngô ‘đáng thương, đáng kính trọng’

Gia đình họ Ngô ‘đáng thương, đáng kính trọng’

BBC

Phần hai cuộc phỏng vấn về cuộc đời bà Ngô Đình Thị Hiệp (1903-2005) nói về quan hệ của bà với người con trai, Hồng y Nguyễn Văn Thuận.

Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là người Việt Nam giữ cương vị cao nhất trong Toà thánh Vatican, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hoà bình, cho tới lúc qua đời.

Ông có xuất thân đặc biệt khi mẹ của ông là em gái của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm.

Không lâu trước ngày Sài Gòn sụp đổ năm 1975, bà Hiệp sang Úc, nhưng con trai bà ở lại và bị chính quyền mới bắt giam trong 13 năm.

Ông Nguyễn Văn Châu, tác giả cuốn sách tiếng Anh về cuộc đời bà Hiệp và gia tộc họ Ngô, A lifetime in the eye of the storm, nói bà Hiệp đau đớn khi nghe tin con bị tù.

“Nhưng bà nói với tôi chuyện đau đớn về con không bằng sự đau khi thấy thuyền nhân chết trên biển cả.”

Năm 1990, hai mẹ con lần đầu gặp nhau sau khi ông Thuận được thả.

Người con trai của bà Hiệp được Vatican phong Hồng y năm 2001, một năm trước ngày qua đời.

Nói về gia tộc họ Ngô, tác giả Nguyễn Văn Châu nói ông hy vọng lịch sử “một ngày cho thấy ông Diệm, ông Nhu là người yêu nước và gia đình bà Hiệp là gia đình đáng thương, đáng tiếc và đáng kính trọng”.

LS Nguyễn Thanh Lương: Công lý tùy thuộc ý muốn của người cầm quyền

LS Nguyễn Thanh Lương: Công lý tùy thuộc ý muốn của người cầm quyền

Luật sư Nguyễn Thanh Lương

Luật sư Nguyễn Thanh Lương

Trà Mi-VOA

07.03.2015

Thêm một luật sư tại Việt Nam buộc phải bỏ nghề sau các hoạt động bênh vực và tranh đấu bảo vệ nhân quyền.

” Cơ chế tam quyền phân lập mà thế giới đã tìm ra 500 năm mà Việt Nam không có, nếu có chỉ là hình thức. Đó là những nguyên lý cơ bản mà tôi tiếc là Việt Nam không có

LS Nguyễn Thanh Lương”

Nhiều năm nay, nguyên Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre Nguyễn Thanh Lương được mọi người biết đến như một luật sư bảo vệ miễn phí cho người nghèo, nông dân, công nhân, và những dân oan bị mất đất đai.

Ông cũng nằm trong số rất ít trong tổng số hàng chục ngàn luật sư trong nước mạnh dạn tham gia các vụ án chính trị ‘nhạy cảm,’ bênh vực những nhà tranh đấu dân chủ, các nhà hoạt động cổ xúy nhân quyền và chống Trung Quốc như trường hợp của sinh viên Nguyễn Phương Uyên-Đinh Nguyên Kha, thầy giáo Đinh Đăng Định, và blogtger Tạ Phong Tần.

Ông vừa tuyên bố từ giã sự nghiệp từng dày công xây dựng và theo đuổi với 20 năm hành nghề luật gồm 4 năm làm luật gia và 16 năm làm luật sư sau 4 năm khởi nghiệp làm thanh tra công an TPHCM.

Quyết định của luật sư Lương tiếp nối sự ra đi của các đồng nghiệp trước đó như Huỳnh Văn Đông, Lê Trần Luật, các bản án của luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Công Định, Lê Quốc Quân, luật gia Phan Thanh Hải, Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, và trường hợp đang bị sách nhiễu của luật sư Võ An Đôn ở Phú Yên một lần nữa khiến dư luận chú ý tới những hiểm nguy, thách thức đối với giới luật sư bênh vực nhân quyền trong nước.

Tạp chí Thanh niên VOA hôm nay có cuộc trao đổi với luật sư Nguyễn Thanh Lương về sự ra đi của ông và những tâm tư trăn trở về giới hạn của vai trò người luật sư trong nền tư pháp còn nhiều lỗ hổng hiện nay.

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Khát khao của tôi muốn trở lại về nghề trong tương lai, nhưng trước mắt phải ‘tạm dừng’ để chuyển qua một cái nghề khác, đó là nghề công chứng, để nhẹ đi những xung đột, những áp lực. Áp lực là vì mình đã bảo vệ những vụ án chính trị xung đột, đụng chạm, đối kháng với nhà nước, với cơ quan-tổ chức đảng cộng sản. Những phát biểu của tôi có khả năng dẫn tới những chuyện ngoài ý muốn. Cụ thể như điều 258 ‘xâm phạm lợi ích hợp pháp” của tổ chức, công dân, nhưng đối với “lợi ích nhà nước” thì không có khái niệm hợp pháp hay bất hợp pháp gì hết. Cho nên những tiếng nói thẳng, nói thật nếu làm ảnh hưởng tới uy tín nhà nước thì sẽ không tồn tại. Tôi đã thấy những điều đó. Đó là những áp lực nên tôi phải tự rút lui trước. Nghề luật sư có nhiều vấn nạn. Ví dụ như luật sư chỉ được gặp bị can trong trại giam 1 tiếng đồng hồ theo văn bản chỉ đạo của Bộ Công an cách đây 16 năm vẫn tồn tại. Vấn đề đó, theo tôi, đã vi phạm hiến pháp, luật lao động, luật của luật sư, nhưng vẫn tồn tại. Đó là một minh chứng. Rồi ai cản trở, ngăn cấm hoạt động của luật sư thì không có chế tài. Ngược lại, luật sư mà vi phạm sẽ bị xử phạt. Có quy định về hàng trăm hành vi của luật sư/tổ chức luật sư sẽ bị xử lý. Nghề luật sư chưa được đảm bảo quyền hành nghề cho đúng mức.

Trà Mi: Người luật sư có nhiệm vụ bảo vệ người khác, nhưng bản thân họ trong các trường hợp bị trù dập, trả thù, bất công thì luật định ra sao?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Tại điều 91 hay điều 6 Luật luật sư có quy định nghiêm cấm các cơ quan, tổ chức, cá nhân cản trở luật sư. Nhưng thực tế không có chế tài. Thế giới luật sư còn nhiều vấn đề trăn trở lắm. Còn những người có quan điểm bất đồng với nhà nước cũng không được quyền xét xử công khai. Người thân của họ và những ai quan tâm đâu có được tham dự phiên tòa. Cái ‘công khai’ đó là nửa vời. Luật sư không được tham gia tố tụng ngay giai đoạn điều tra ban đầu, giai đoạn truy tố.

Trà Mi: Ngoài những trăn trở khi còn hành nghề, bây gìờ ra khỏi nghề rồi, ông có những tâm tư như thế nào?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Ra khỏi nghề, hàng ngày tuy làm công chứng nhưng hàng ngày tôi vẫn tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo, cho dân oan. Tôi vẫn làm với tư cách của một công dân, một luật gia, cũng soạn thảo đơn từ này kia. Nhưng ở đây mình giúp với góc độ khuyến khích của xã hội. Ở quê tôi, người dân sau mấy chục năm nay vẫn khó khăn. Họ cũng không rành phải ký chữ ký như thế nào. Đa số còn nhiều hạn chế, thấy thương, thấy cuộc sống họ sao lao nhọc quá.

Trà Mi: Ông có hối hận gì không trên con đường ông đã đi?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: ‘Lịch sử không có chữ nếu’. Tôi không có tiếc nuối gì hết. Tôi chỉ trông chờ thời gian, mong mỏi xã hội được cởi mở hơn, ưu ái hơn thì nghề luật sư mới có tiếng nói hơn, mới có hiệu quả, tác dụng. Tiến bộ của pháp luật không có làm ảnh hưởng sự phát triển của xã hội. Bản thân tôi từng tâm huyết với xã hội. Tôi từng đứng đơn tố cáo trạm thu phí Xa lộ Hà Nội ở quận 2 TPHCM. Tới nay trạm này vẫn còn, không ai trả lời tôi hết. Có điều cho tôi biết rằng nếu tôi tố cáo sai thì chắc chắn tôi đã phải trả giá. Ở đây dù không có phản ứng đó, nhưng mong mỏi bảo vệ cho hàng triệu người tiêu dùng hàng ngày bị thu phí oan uổng không đạt kết quả. Điều này làm tôi hiểu rằng công lý chưa hẳn thuộc về lẽ phải, mà nó thuộc về ý chí của người cầm quyền. Tôi hiểu điều đó nên không thể ngây thơ mà tin cậy nhiều quá, thôi phải rút lui. Nếu làm hết lương tâm, chức năng nghề nghiệp của một luật sư tâm huyết thì có thể đi tù.

Trà Mi: Ông nói không hối hận gì, nhưng vuột khỏi tầm tay một sự nghiệp dày công xây dựng và theo đuổi, chắc chắn khó tránh khỏi cảm giác tiếc nuối. Trên suốt chặng đường sự nghiệp, ông tiếc nuối nhất điều gì?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Tôi tiếc nuối không riêng cho cá nhân tôi mà cho cả xã hội này. Đó là sự lắng nghe của nhà nước, của những người có thẩm quyền. Bởi vì tất cả những đóng góp, phản biện, bất đồng không có nghĩa là xấu. Nhưng tiếc là những ý kiến đó không được tiếp thu mà thậm chí còn bị tiêu diệt. Tôi tiếc điều đó làm cho xã hội không phát triển.

Trà Mi: Trong số các điểm yếu của pháp luật Việt Nam hiện nay, điểm nào theo ông là cấp thiết cần phải sửa đổi ưu tiên hàng đầu?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Nói vấn đề này thì mênh mông lắm. Phải nói từ cái chóp bu, từ nguyên tắc nguyên lý lãnh đạo. Nhiều người cũng đã nói về nguyên lý lãnh đạo của đảng cộng sản, tức điều 4 Hiến pháp, và điều 13 bảo vệ an ninh quốc gia nghiêm cấm các hành vi nhằm xóa bỏ giai trò lãnh đạo của đảng cộng sản. Theo tôi, thời chiến có thể tập trung quyền lực vào thống nhất một đảng, nhưng với thời bình theo quy luật cạnh tranh mà áp dụng độc đảng thì lỗi thời. Thôi thì tôi hy vọng một ngày nào đó những nhà lãnh đạo sẽ xem xét lại theo quy luật của lịch sử. Cơ chế tam quyền phân lập mà thế giới đã tìm ra 500 năm mà Việt Nam không có, nếu có chỉ là hình thức. Đó là những nguyên lý cơ bản mà tôi tiếc là Việt Nam không có.

Trà Mi: Các luật sư bảo vệ những tiếng nói trái chiều hay thể hiện quan điểm bất đồng với nhà nước thường gặp rủi ro, hoặc đi tù, hoặc bị trù dập, hoặc phải bỏ nghề. Ông nghiệm ra điều gì từ thực tế này?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Tôi nghiệm ra điều thúc đẩy xã hội phát triển hay kiềm hãm chính là chính trị. Đối với luật sư, tuy tôi nghỉ rồi, nhưng tôi vẫn mong mỏi các cơ quan thấy được chỗ tồn tại yếu kém, cụ thể là nghị định 98 cho phép luật sư chỉ tham gia có 1 giờ, hai là các chế tài đối với luật sư thì quá nhiều mà bảo vệ thì không có. Điều này tôi đã vận động nhiều trên các tờ báo của nhà nước, nhưng tiếng nói đó tôi thấy còn lạc lõng quá.

Trà Mi: Nhìn vào các trường hợp luật sư bị nhắm mục tiêu, nhiều người cho rằng nghề luật sư trong nước là một nghề nguy hiểm, nhưng có người phản biện rằng hàng chục ngàn luật sư hành nghề đó có sao đâu, chẳng qua chỉ là mấy ông luật sư ‘chống đối’ ‘cá biệt’ mới bị thế thôi. Ý kiến luật sư thế nào?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Nếu luật sư làm hết tâm huyết mà không nhìn trước, nhìn sau thì đương nhiên sẽ bị chuốc hậu quả. Còn những luật sư không có tâm huyết, theo kiểu quân bình chủ nghĩa thì sẽ không gặp rủi ro. Nhưng xã hội cần phải có những người tiên phong, những người cất tiếng thì mới phát triển được. Còn những người toan tính, thủ lợi thì đương nhiên họ sẽ yên ổn hơn. Trong một xã hội còn nhiều trăn trở, biến động, nhiều vấn đề về đạo đức, về vật chất thì sẽ có những tình huống như vậy.

Trà Mi: Các hành vi mà nhà nước gọi là ‘chống đối’, ‘chống tham nhũng’, ‘chống tiêu cực’ đều có kết cục khá buồn. Không chống gì cả thì yên thân, có phải đây là con đường ông đang lựa chọn?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Không. Tôi lựa chọn làm nghề công chứng cũng là một hình thức tôi giúp người dân. Tham gia một số vụ án chính trị về xâm phạm an ninh quốc gia, tôi đủ hiểu, nó giống như một thước đo về văn minh, tiến bộ xã hội. Nếu mình không  nhìn hết mà cứ tiếp tục thì sẽ bị trượt dốc đến cái điều xấu nhất. Thành ra tôi phải tự điều chỉnh lấy.

Trà Mi: Có thể hiểu nôm na là mình điều chỉnh xã hội không được thì tự điều chỉnh mình cho thích hợp với xã hội?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Dạ đúng vậy.

Trà Mi: Nhưng nếu mỗi người tự điều chỉnh mình theo xu hướng chung của xã hội như vậy thì liệu xã hội này sẽ đi về đâu, ông có bao giờ suy nghĩ tới điều đó?

“… Xã hội cần phải có những người tiên phong, những người cất tiếng thì mới phát triển được. Còn những người toan tính, thủ lợi thì đương nhiên họ sẽ yên ổn hơn. Trong một xã hội còn nhiều trăn trở, biến động, nhiều vấn đề về đạo đức, về vật chất thì sẽ có những tình huống như vậy

LS Nguyễn Thanh Lương”

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Có, nhưng mọi việc tôi nghĩ phải chờ thời gian. Nhanh hay chậm, trả giá đắt hay ít để lịch sử xem xét.

Trà Mi: Cách đây hơn chục năm không nghe tới khái niệm luật sư nhân quyền, giờ đã có. Nhưng liệu nó có phát huy rộng rãi thành đoàn luật sư nhân quyền, hội luật sư nhân quyền, hay thậm chí là hiệp hội luật sư nhân quyền hay không trước những áp lực, trở ngại hiện nay mà ông là một trong những người đã gặp rồi buộc phải rút lui?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Có thể xã hội sẽ tự phát lên vì nhu cầu, nhưng cũng sẽ có những sự cọ xát nhiều. Nhà nước không thay đổi, cởi mở chính sách thì đương nhiên phải vậy thôi vì đó là quy luật. Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh.

Trà Mi: Với những bạn trẻ đang hành nghề hoặc mới vào nghề, ông có tâm tình gì muốn chia sẻ, một luật sư bảo vệ người nghèo đã phải ‘cáo quan về ở ẩn’?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Mong sao các bạn sống và hành nghề sao cho không hổ thẹn với lương tâm là được. Cá nhân tôi, trước khi vào nghề, tôi nghĩ hành nghề để tạo một cuộc sống ấm no gia đình vì bản chất tôi là một nông dân, tôi muốn cải tạo số phận đi lên hòa nhập, bình đẳng với mọi người trong xã hội. Nhưng sau khi vào nghề, tôi có khuynh hướng quan tâm về xã hội, cộng đồng, và người nghèo nhiều hơn. Đôi khi tôi còn muốn xả thân quên đi sinh mạng của mình nữa.

Trà Mi: Lúc hành nghề ông tự thấy mình thay đổi rất nhiều, muốn đóng góp cho xã hội. Giờ ra khỏi nghề rồi, ông có hy vọng gì không?

Luật sư Nguyễn Thanh Lương: Ra khỏi nghề rồi, nguyện vọng ấp ủ của tôi vẫn canh cánh còn đó. Tôi vẫn hy vọng một ngày nào đó môi trường pháp lý cho luật sư hoạt động được thông thoáng hơn bởi vì lúc đó thao tác của luật sư mới có tác dụng nhiều hơn. Nói cụ thể, từ ‘dân chủ’ không xuất xứ từ Việt Nam. Nó là những từ ngữ từ bên ngoài du nhập vào. Cho nên, khái niệm đó hơi xa lạ, là điều mới mẽ, là sự vận động phát triển của xã hội chứ không phải đương nhiên mà có đâu.

Trà Mi: Cảm ơn luật sư rất nhiều đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này. Mong ông đạt thành hy vọng của mình trong thời gian sớm nhất.

Làm đơn xin vào bãi nhặt rác mưu sinh

Làm đơn xin vào bãi nhặt rác mưu sinh

Trên bãi rác ngập đến đầu người bốc mùi hôi thối, hàng trăm người vẫn trèo lên đào bới, tìm kiếm ve chai bán lấy tiền sinh sống qua ngày.

Làm đơn xin vào bãi nhặt rác mưu sinh
Từ sáng sớm, hàng chục chiếc xe nối đuôi nhau đưa rác từ trung tâm TP về bãi Khánh Sơn (phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng). Khi xe đổ rác xuống bãi, hàng trăm người dân ở các phường Hòa Khánh Nam, Hòa Khánh Bắc ào tới tranh nhau lùng sục, đào bới tìm bất cứ thứ gì có thể bán được. Mỗi ngày bãi Khánh Sơn tiếp nhận hơn 700 tấn rác thải của người dân TP.
Tại bãi rác này thường xuyên có hơn 100 người hành nghề nhặt rác để nuôi sống bản thân và gia đình họ. Mỗi ngày bãi rác Khánh Sơn tiếp nhận hơn 700 tấn rác thải của người dân toàn TP Đà Nẵng.
Dụng cụ bới rác là một chiếc cuốc 3 chĩa nhỏ. Những người này lượm từng bao nylon, giấy vụn, phế liệu, chai nhựa… thậm chí cả xương động vật, thức ăn thừa.
cho biết hầu hết các loại rác thải nhặt được đều có thể bán. Vừa nói, bà Lan vừa phân loại từng thứ một, bao ni-lông hay gọi là lông giòn bán 800 đồng/kg, sắt phế liệu thì tùy loại có giá khác nhau, xương (heo, bò) cũng có giá 800 đồng/kg…
Sau khi rác được phân loại, họ mang bán cho các cơ sở thu gom. Theo đó, 1 kg nylon có giá 800 đồng, xương heo và bò 800 đồng/kg, còn sắt phế liệu thì tùy từng loại có giá khác nhau…
Ban đầu chỉ có vài người tìm đến mưu sinh nhưng càng về sau hình thành cả đội quân chuyên nhặt rác. Trong đó, có những gia đình cả cha mẹ, con cái nối tiếp nhau với nghề .
Ban đầu chỉ vài người tìm đến mưu sinh nhưng càng ngày càng nhiều, có những gia đình cả cha mẹ, con cái nối tiếp nhau sống với nghề lượm phế liệu ở Khánh Sơn.
Ông Hà Văn Thái - Giám đốc xí nghiệp cho biết, về nguyên tắc là sẽ cấm người dân nhặt rác, nhưng do những người nhặt rác tại bãi rác này phần lớn là dân địa phương, có hoàn cảnh nghèo khó nên đã cho họ làm đơn xin nhặt rác.
“Vẫn biết rất nguy hiểm và lây nhiễm bệnh tật nhưng vì nghèo khó nên chúng tôi phải chấp nhận sống trên bãi rác này chứ biết làm gì bây giờ”, ông Nguyễn Văn Đắc (trú Hòa Khánh Nam) cho hay. Theo tìm hiểu, nhiều người đã có hơn 20 năm làm nghề nhặt rác ở bãi này.
Nhiều gia đình có vợ, chồng và các con đều nhặt rác ở đây. Theo lời kể của họ thì trước đây họ đều làm nông. Nhưng sau đó chính quyền đã thu hồi ruộng của họ để quy hoạch bãi rác này (khoảng 38 ha) nên họ phải lên đây nhặt rác mưu sinh.
“Ai cũng nói sao không kiếm cái nghề gì sạch sẽ hơn chút để làm tiền, thiếu gì chỗ mà chui lên bãi rác bẩn thỉu này. Nhưng nhìn rứa chứ bãi rác này nuôi sống được biết bao nhiêu gia đình. Đây không phải là nghề xấu xa nên tôi không ngại gì”, một người nhặt rác nói. Ông Hà Văn Thái – Giám đốc xí nghiệp Quản lý bãi và xử lý chất thải Đà Nẵng (thuộc công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Đà Nẵng) cho biết về nguyên tắc là cấm người dân vào bên trong, nhưng do những người nhặt rác ở đây phần lớn là dân địa phương, nghèo khó nên… ai làm đơn thì xí nghiệp cho vào.
Ông Hà Văn Thái, Giám đốc xí nghiệp cho biết thêm, những người nhặt rác đều rất thật thà. Có những trường hợp họ nhặt được sổ đỏ, sổ hộ khẩu… họ đều tìm đến tận nơi để nộp mà không hề đòi hỏi gì cả.
Ông Thái cho biết thêm, những người nhặt rác đều rất thật thà. Nhiều lần họ nhặt được sổ đỏ, sổ hộ khẩu… đều tìm đến tận nơi để giao lại mà không hề đòi hỏi gì cả.
Làm đơn xin vào bãi nhặt rác mưu sinh
Theo ông Thái, việc người dân vào bãi rác để mưu sinh không có phương tiện bảo hộ rất dễ sinh bệnh. “Nếu cấm người dân nhặt rác cũng đồng nghĩa chặn hết đường sống của họ. Nguyện vọng của tôi là muốn TP đầu tư dây chuyền xử lý và phân loại rác. Lúc đó, chính quyền có thể tận dụng người nhặt rác làm công đoạn phân loại thủ công để cuộc sống của họ không bấp bênh như hiện nay ”, ông Thái tâm tư.
Những người nhặt rác thường ăn, ngủ luôn tại bãi rác. Họ làm từ mờ sáng và đến tối mới về nhà.
Những người này làm từ mờ sáng đến tối mới về nhà.
Sau khi ăn cơm trưa, họ tranh thủ tìm chỗ hạ lưng nghỉ ngơi ngay tại bãi rác rồi sau đó lại tiếp tục làm việc.
Sau khi ăn cơm trưa, họ tranh thủ tìm chỗ nghỉ ngơi ngay tại bãi rác, sau đó lại tiếp tục làm việc.
Phóng to 

Bà Lê Thị Tuyết Mai, Phó Chủ tịch UBND phường Hòa Khánh Nam, cho biết địa phương rất khó xử trong việc tính toán phương án thay đổi ngành nghề cho những người nhặt rác ở Khánh Sơn. Phần lớn những người nhặt rác đều có trình độ thấp và đã lớn tuổi nên khó tìm được công việc thích hợp.

Theo bà Lê Thị Tuyết Mai, Phó Chủ tịch UBND phường Hòa Khánh Nam, địa phương rất khó xử trong việc tính toán phương án thay đổi ngành nghề cho những người nhặt rác ở Khánh Sơn. Phần lớn họ đều có trình độ thấp và lớn tuổi nên khó tìm được công việc phù hợp

Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn

Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn

Đặng Hoàng Giang Gửi tới BBC Tiếng Việt từ Hà Nội

  • 4 tháng 3 2015

BBC

Cảnh phân phát quà cho trẻ em dân tộc thiểu số

Từ sau khi đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai khánh thành, lượng khách tới Sapa tăng đột biến. Dịp Tết Nguyên đán vừa rồi, ô tô và xe khách biển số 29 và 30 chen chúc nhau nhích từng tí một trên những con phố dốc và hẹp ở trung tâm, rú ga giữ máy, bấm còi inh ỏi.

Buổi tối, ở quảng trường nhà thờ, nhạc disco được mở to hết cỡ, tiếng bass làm vạt áo rung bần bật. Các buổi sáng, du khách chen lấn nhau để xuống thung lũng “thăm quan” các bản, lượng iPad nhiều hơn số lợn con nằm vầy đất ven đường.

Không còn nhìn thấy núi non gì nữa vì hai bên đường đã kín hàng quán bán đồ lưu niệm. Trẻ con Hmong xếp hàng đợi được phát bánh kẹo như là khỉ trong sở thú.

Những đứa bạo dạn hơn thì đi giật lùi trước mặt khách, chúng từ chối kẹo, chỉ nhận tiền, và đồng thanh kêu như những cái máy vô hồn, tiếng Kinh không sõi “cô cho hai nghìn, cô cho hai nghìn”. Một cộng đồng và một vùng thiên nhiên đã đánh mất nhân phẩm của mình vì du lịch.

Đi du lịch là một sở thích khá mới của người Việt. Tới tận giữa những năm 1990, Sapa vẫn còn là một thị trấn xanh, yên tĩnh và thanh bình, du khách chủ yếu là người nước ngoài. Hồi đó, không có một người Kinh nào quan niệm leo lên đỉnh Phan Si Pang là một việc đáng làm, đấy là việc chỉ người Hmong “phải” làm để mưu sinh.

Cũng giống như ở phương Tây sau chiến tranh thế giới thứ II, phong trào đi du lịch của người Việt dần dần lớn mạnh khi có đủ ba yếu tố hội tụ.

Thứ nhất, thu nhập đã vượt qua những nhu cầu tối thiểu. Thứ hai, quỹ thời gian rộng rãi hơn, người ta không phải đầu tắt mặt tối lo cho cuộc sống nữa. Thứ ba, cơ sở hạ tầng, nghĩa là phương tiện đi lại, dịch vụ khách sạn và ăn uống, đã tốt lên, để cho việc xê dịch không còn vất vả nữa.

Những yếu tố đó làm thay đổi thái độ của người ta với việc di chuyển, chuyển từ quan điểm “xểnh nhà ra thất nghiệp” tới chỗ coi việc ra khỏi nhà như một thú vui, một sự hưởng thụ.

Thậm chí, để thoát khỏi cái buồn chán của cuộc sống công sở hàng ngày ở một thành phố lớn, người ta còn tìm tới cái vất vả như một cuộc chạy trốn ngắn ngủi, tất nhiên bởi người ta biết là cái vất vả này là hữu hạn về mặt thời gian, và các rủi ro nằm trong vùng được kiểm soát. Các phong trào phượt, phong trào đạp xe, phong trào “leo Phan” ra đời.

Lũ lượt đi chơi

Cái đang xảy ra ở Sapa là sự hoành hành phá phách của hiện tượng du lịch đại trà (mass tourism) và chính sách phát triển phục vụ nó.

Giờ đây, tình hình đã khác hẳn. Năm ngoái có gần 4 triệu lượt người Việt đi du lịch nước ngoài, cộng với 40 triệu lượt khách nội địa, tổng lại là bằng một nửa dân số quốc gia. Nhìn xung quanh, ta thấy mỗi gia đình đều lên kế hoạch cho một vài chuyến đi trong năm. Với người Việt trung lưu, du lịch đã trở thành một sinh hoạt cơ bản, như mua sắm hay đi nhà hàng.

Khoảng khắc cho đồ đạc lên ô tô để lên đường bao giờ cũng là một trong những khoảnh khắc phấn khởi nhất của cả gia đình trong năm, và hình ảnh người bố trẻ lái xe trên xa lộ, người mẹ trẻ gọt hoa quả ở ghế bên cạnh, ở đằng sau là hai đứa con chụm đầu chơi iPad, truyền tải một trong những cảm giác sống viên mãn nhất của Việt Nam đầu thế kỷ 21.

Du lịch là con ngỗng đẻ trứng vàng với nhiều địa phương, họ giàu có lên trông thấy nhờ vào nguồn thu từ du khách, nếu “giàu có” được đo bằng số lượng nhà cao tầng mới xây và số ô tô chạy trên đường. Cái mất mát thì không ai lượng hoá được. Thờ ơ hoặc không ý thức được mặt trái xấu xí của du lịch, phần lớn các chính quyền địa phương tiếp tục cổ suý vô điều kiện cho “ngành công nghiệp không khói” này như một hướng phát triển văn minh và tiến bộ.

Cái đang xảy ra ở Sapa là sự hoành hành phá phách của hiện tượng du lịch đại trà (mass tourism) và chính sách phát triển phục vụ nó. Chính sách này có thể được gói gọn trong một mục tiêu: càng nhiều khách càng tốt. Để tiếp tục với ví dụ Sapa: số lượng khách tới đây vào năm 1991 là 2 000.

Năm 2002, con số này là 60 000 người. Nhưng riêng trong đợt nghỉ Tết Nguyên đán 2015 vừa rồi số du khách đã là 50.000 người.

Sapa đang bị phá hủy vì cách làm du lịch?

Trong cuốn “Quá tải: kinh doanh du lịch bùng nổ”, tác giả Elizabeth Becker gọi du lịch là một ngành công nghiệp toàn cầu tàn bạo, một con dao hai lưỡi, hứa hẹn thu nhập và việc làm cho bên chủ nhà, và các trải nghiệm để đời cho bên khách, nhưng cùng lúc cũng có sức tàn phá khủng khiếp với môi trường, văn hoá và cộng đồng.

Số phận của các địa điểm du lịch tầm cỡ khác của Việt Nam cũng tương tự như Sapa. Ở vịnh Hạ Long, mỗi ngày 20.000 du khách được đưa đến và chuyển đi như gà con trên băng chuyền, sau khi trực tiếp xả thẳng phế thải của mình xuống dưới biển.

Ở Phú Quốc, mùi nắng gió, mùi nước mắm, các đồn điền tiêu, những làng chài, tâm hồn và cá tính của hòn đảo, đang biến mất dần. Thay vào đó là chi chít hàng quán, biển hiệu rối rắm, như một thị trấn vô hồn bất kỳ nào khác.

Người ta xẻ rừng quốc gia để đặt vào đó các lâu đài nhái kiểu cổ tích châu Âu chóp nhọn loè loẹt xanh đỏ, những cây thông và bãi cỏ ôn đới lạ lẫm với khí hậu địa phương, biến một thiên đường nhiệt đới tự nhiên thành một “thiên đường” bê tông nhân tạo.

Du lịch đại trà là một hiện tượng toàn cầu, nhưng nó gây ra tác hại nhiều nhất ở các nước đang phát triển, vì sức chống cự của những nước này, cả từ nguồn lực tài chính lẫn trình độ quản lý yếu kém hơn. Ở Angkor Wat, gần đây các ngôi đền bắt đầu bị lún vì mực nước ngầm hạ thấp do mức tiêu thụ nước của các khách sạn liên tục tăng lên.

Ám ảnh nhất với tôi là Vang Viêng ở Bắc Lào. Nằm bên bờ sông Nam Song, được vây xung quanh bởi các dãy núi đá vôi trùng điệp, cái làng nhỏ duyên dáng và xinh xắn này bỗng nhiên trở thành nơi các thanh niên phương Tây tập kết để ăn chơi như không có ngày mai. Họ tụ tập ở các bar trải dài 4 km dọc bờ sông, ăn pizza trộn với cần sa, nốc whisky đựng trong các bát ô tô nhựa, nhảy nhót trong tiếng nhạc rầm rầm, rồi nằm trong xăm ô tô lao mình xuống nước xoáy để tiêu khiển. Sau mấy chục ca tử vong chỉ trong vòng một năm, chính phủ Lào phải ra tay dừng cuộc vui lại.

Mức sống chung cao lên, các đường bay giá rẻ ra đời, càng tạo điều kiện cho du lịch đại trà phát triển. Thậm chí, người ta bắt đầu dùng tới thuật ngữ “du lịch siêu đại trà” (mega-mass tourism) để mô tả hiện tượng này.

Đầu thế kỷ 21, Giáo hoàng John Paul II phê phán du lịch đại trà là một hình thức bóc lột mới, nó “biến văn hoá, các nghi lễ tôn giáo, và các lễ hội dân tộc thành những sản phẩm tiêu dùng” khi khách du lịch tìm tới những cái mới lạ một cách hời hợt và không muốn tiếp xúc thực sự với văn hoá bản địa.

Thật vậy, trong trường hợp Sapa, điều quan trọng nhất với các du khách là câu hỏi ăn lẩu cá hồi ở đâu và mua rượu táo mèo chỗ nào. Không ít người lên đây vì bạn rủ đi để “có người uống cùng cho khỏi buồn.” Văn hoá, thể hiện qua đám người dân tộc ăn mặc sặc sỡ và những cái ruộng bậc thang, sẽ chỉ là cái phông cho các bức selfie.

Chả ai bỏ công ra tìm hiểu về lịch sử, tín ngưỡng, xung đột xã hội, hoàn cảnh kinh tế của người dân ở đây. Có lẽ yếu tố “văn hoá” duy nhất mà khách quan tâm là cái chợ tình như là cái gì man di đáng yêu của “bọn nó”, nhưng đằng nào nó cũng biến mất từ nhiều năm nay rồi – cũng vì du lịch.

Đấy là chưa nói tới chuyện sắp tới sẽ có nhiều hội thảo, tập huấn, tổng kết, liên hoan v.v… được tổ chức ở Sapa, ngạch này gọi là du lịch – công việc (business tourism). Loại du khách này thường không đi cùng gia đình, nên chắc lúc đó sẽ mọc lên nhiều tiệm massage và karaoke thư giãn với các cô gái miền Tây Nam Bộ đổ về cạnh tranh với con gái địa phương.

Chầu rìa trên quê hương?

Nhìn những gì người ta đang tiếp tục làm với Sapa mà thấy đau lòng. Các khách sạn khổng lồ tám, chín tầng vẫn đang xẻ núi mọc lên, nhiều khi chỉ cách cái bên cạnh một con phố nhỏ, xe không quay được đầu.

Đảo qua một vòng trên báo chí, cũng thấy nhắc tới các “thách thức” du lịch ở Sapa, nhưng hoá ra đó chỉ là các vấn đề “cháy” phòng và khan hiếm chỗ đỗ xe. Chính quyền địa phương cam kết sẽ ưu tiên giải quyết để “Sapa ngày một vui hơn.”

Sắp tới, cáp treo sẽ làm hàng trăm người đang khuân vác phục vụ khách leo núi mất việc. Họ sẽ ra nhập đám vợ con họ đang lang thang hàng ngày ở thị trấn.

Cáp treo lên đỉnh Phan Si Pan cũng đang được thi công. Ở độ cao 3000 m, người ta đang phá đá để tạo ra một khu vực rộng gần 8 ha, một diện tích rất lớn ở độ cao chênh vênh đó. Quần thể ga đến sẽ có “khu dịch vụ du lịch, khu tham quan, công viên văn hoá tâm linh và một tượng Phật khổng lồ”.

Cáp treo có công suất 2000 người một giờ, nghĩa là khi đi vào hoạt động sẽ cho phép mười mấy nghìn người lên đỉnh núi mỗi ngày, quanh năm, ngày nào cũng như ngày nào, thay vì con số hiện nay chỉ là mấy chục người một ngày leo đường bộ, và chỉ trong 6 tháng mùa khô.

Còn những người dân tộc, những người thực ra là chủ từ bao đời của vùng núi này, họ được gì từ tất cả những cái này? Hiện nay, mỗi du khách tới Sapa sau khi bỏ ra 1 triệu đồng cho việc đi lại, khách sạn, ăn uống – tất cả chảy vào túi người Kinh, kể cả tiền cho một chai nước trắng – thì mới bỏ ra 10 nghìn mua mấy cái đồ thổ cẩm của người dân tộc. Thậm chí nhiều hướng dẫn viên du lịch còn dẫn khách tới các cửa hàng bán thổ cẩm nhập từ Trung Quốc vì họ được hoa hồng từ đây.

Người thiểu số đang ra rìa ngay trên quê hương họ

Và như vậy, những người Hmong, người Dao, người Tày, người Giáy, sẽ chủ yếu là đứng chầu rìa ở ngay trên quê hương họ. Sắp tới, cáp treo sẽ làm hàng trăm người đang khuân vác phục vụ khách leo núi mất việc. Họ sẽ ra nhập đám vợ con họ đang lang thang hàng ngày ở thị trấn.

Họ sẽ không để cho du khách yên, sẽ táo tợn, sẽ đeo bám quấy rầy cho tới khi khách mua hàng mới thôi, sẽ hét “no money, no photo.”

Buổi trưa, khi các đoàn khách bận rộn với món lợn mán nướng bên trong các quán ăn, họ sẽ ngồi trên bậc thềm bên ngoài, ngước nhìn lên để thấy ngọn “Hủa Xi Pan” của mình, một biểu tượng của thiên nhiên hùng vĩ, nóc nhà chung của họ từ hàng trăm năm nay, bỗng nhiên trở thành một điểm hành hương Phật giáo mới để cho những người ở đâu tới khấn lậy và nhét tiền vào tay tượng, xa lạ và thô bạo với không gian văn hoá của họ.

Có thể dừng lại cỗ máy khổng lồ mang tên “phát triển” này được không? Tôi không chắc. Bởi nó đang được đốt bởi lòng tham. Các doanh nghiệp thì say lợi nhuận. Chính quyền thì say tăng trưởng GDP.

Các du khách thì tham các trải nghiệm mì ăn liền, được tưởng thưởng mà không phải lao động. Họ muốn “chỉ cần 15 phút để lên nóc nhà Đông Dương”, chụp selfie giữa rừng già mà vẫn đi guốc cao gót được, nhẹ nhàng như vào Paris Deli.

Nhưng cũng như với mọi thứ khác trên đời, sự tham lam sẽ phá huỷ hết. Lòng tham sẽ biến con ngỗng vàng mang tên du lịch thành một con quái vật. Các nhà chuyên môn đã nói nhiều về cú nổ bong bóng của các điểm đến sau thời kỳ tăng trưởng nóng vô độ.

Với cách làm du lịch hiện nay, sẽ tới lúc Sapa giống muôn vàn những chỗ khác: vô bản sắc, ô hợp, nhân tạo và rẻ tiền. Rồi tất cả sẽ trở thành Đồ Sơn, một sự thảm hại cho cả người ở đó lẫn người tới thăm.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả từ Hà Nội.