Hoài niệm và phản tỉnh về ngày 30 tháng 4 năm 1975 để giải ảo ngụy sử, hoà giải dân tộc và xây dựng đất nước

Hoài niệm và phản tỉnh về ngày 30 tháng 4 năm 1975 để giải ảo ngụy sử, hoà giải dân tộc và xây dựng đất nước

Đỗ Kim Thêm

Tóm lược: Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày toàn thắng của ĐCSVN và là ngày đại bại của toàn dân tộc Việt Nam. Chúng ta có các lý do chính đáng để không tham gia mừng lễ kỷ niệm chiến thắng, nhưng cần giúp đỡ nhau để có ý thức phản tỉnh về ý nghĩa tưởng niệm, hoà giải và trách nhiệm đối với những hậu quả của ngày này.

Hiện tình Việt Nam là đang bị nguy cơ hơn bao giờ hết; vì về mặt nội trị có quá nhiều bất ổn mà vẹn toàn lãnh thổ, tham nhũng và nợ công là chính; về mặt đối ngoại có quá nhiều tổn thương, vì lãnh đạo đặt quyền lợi Trung Quốc và quyền lợi riêng lên trên quyền lợi của dân tộc là chính. Hoa Kỳ sẽ không là một lá chắn an toàn cho Việt Nam vì Hoa Kỳ không có phép lạ để biến đổi nội tình và ngoại cảnh cho Việt Nam. Hoa Kỳ cũng đủ thông minh để không bao giờ chống Trung Quốc thay cho Việt Nam.

Mọi vấn đề hiện nay của Việt Nam có thể sẽ được giải quyết được một phần nào khi có sức mạnh dân tộc mà sự hiểu biết của toàn dân, đồng thuận chính trị, và quyết tâm chuyển hướng là chính và đường lối thực tiễn là thay đổi hiến pháp dân chủ, nâng cao đạo đức và giáo dục, tăng trưởng kinh tế, tôn trọng trí thức và pháp luật, thực thi nhân quyền và dân quyền và bảo vệ thiên nhiên.

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày khởi đầu cho trang sử Việt, mà một thế hệ hậu chiến trưởng thành và sẽ đảm nhận trách nhiệm chính trị cho đất nước. Thế hệ hậu chiến không cần có một lý tưởng cầu toàn để canh tân đất nước hay các biện pháp xé rào để cứu Đảng, mà cần nhất là có một ý thức bừng tỉnh về sự tồn vong của dân tộc.

***

Ký ức thay ngụy sử?

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày quan trọng trong lịch sử của Việt Nam, vì là ngày kỷ niệm 40 năm chiến tranh kết thúc. Hiện nay, các thế hệ tham chiến hầu như đã lần lượt ra đi hay đang quên đi những hậu quả của chiến cuộc. Thời gian dài này cũng đủ để làm một thế hệ hậu chiến trưởng thành mà không vướng bận với ký ức thuộc về lịch sử.

Tuy thế, có một sự khác biệt giữa ký ức và lịch sử. Ký ức là một điều kiện thiết yếu tự tại và có một giá trị đặc biệt cho lịch sử. Ký ức riêng tư tạo nên bản sắc cá nhân và ký ức tập thể tạo nên bản sắc xã hội. Cả hai đặc thù văn hoá này nếu kết hợp nhau được sẽ làm thành một lịch sử chung cho dân tộc. Để phác thảo lịch sử, sử gia cần có ký ức văn hoá, một sự thật của lịch sử và đây là một trong những điều kiện khách quan làm khởi điểm cho chính sử.

Nhưng trong hiện tại vấn đề soi sáng lịch sử ít được quan tâm, bởi vì chúng ta đang có những nhu cầu bức thiết, đó là hiểm hoạ Bắc thuộc và bất lực của chính quyền trước những khát vọng của toàn dân về toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng dân chủ, phát triển kinh tế, nâng cao công bình và tôn trọng nhân quyền.

Nhìn lại sau 40 năm dài thì thực tế cho thấy dù là ký ức của các chứng nhân lịch sử đang nhạt nhoà và bản sắc của đất nước đang tàn phai, nhưng người Việt vẫn còn bị ám ảnh bởi những chiến tuyến trong quá khứ, đề cao thành quả chiến thắng mãi làm cho việc hoà giải giữa người Việt còn khó khăn và những giá trị phổ quát trong xu thế thời đại như tự do, dân chủ, nhân quyền và trọng pháp lại chưa áp dụng. Lý do chính là người Việt đã không có và sẽ không thể chia sẻ một quá khứ chung của lịch sử cận đại.

Nếu chúng ta muốn xây dựng một chính sử Việt Nam cho hôm nay và mai sau, thì giải ảo ngụy sử là một nhu cầu tất yếu. Vậy vấn đề là liệu có nên khơi động lại ký ức cá nhân hay tập thể hoàn toàn độc lập với mọi dị biệt và đối kháng với ngụy sử để làm cơ sở được không?

Thế hệ tham chiến và quá khứ

Thế hệ tham chiến nghĩ gì về quá khứ và để làm gì trong hiện tình? Chiến tranh Việt Nam nằm trong bối cảnh quốc tế của Chiến tranh Lạnh và lại là một thí dụ điển hình trong khu vực về Chiến tranh Ủy nhiệm. Không riêng Việt Nam mà hầu như nhiều quốc gia đều hình thành bằng bạo lực. Trong cả một thời kỳ dài, tranh đấu bằng bạo lực là một phương tiện hiển nhiên, nó tạo nên một loại văn hoá chung và trở thành một sự thực khách quan của lịch sử. Chiến thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một bạo lực cách mạng để thống nhất đất nước và là một sản phẩm của lịch sử.

Công việc chọn lọc quá khứ để giải ảo lịch sử cũng có nghĩa là làm sống lại quá khứ, một phần hay toàn bộ ký ức của cá nhân hay tập thể. Phủ nhận hay quên đi quá khứ, cả hai nỗ lực này là bất khả. Không ai muốn quên lãng quá khứ oai hùng, vì mục đích kéo dài hạnh phúc đã hết là để làm quên đi thực tế bất hạnh. Quên lãng quá khứ thương đau thì không thể dễ dàng vì là một ám ảnh còn vang động trong hồn như một loại bịnh tâm thần kinh niên không trị được. Khép lại quá khứ và cảm nhận nó trong mối quan hệ với hiện tại và tương lai, cả hai việc đòi hỏi chúng ta có một ý thức phản tỉnh mà không bị dồn ép cực đoan bằng một ý thức hệ đã lỗi thời hay xí xoá dễ dãi bằng những thành tựu kinh tế nay đang sa sút.

Để trả lời các vấn đề này, thế hệ tham chiến lập luận là ký ức của các chứng nhân lịch sử sẽ mai một và ký ức của tập thể chỉ có tính địa phương. Đoàn kết dân tộc là một vấn đề trọng đại của lịch sử đất nước, chúng ta hãy để cho sử gia làm việc, vì họ có khả năng gạn đục khơi trong các tồn đọng cuả quá khứ để trình bày khách quan hơn và có tác động hữu hiệu hơn. Bất hạnh cho chúng ta là sử Việt bị ngụy tạo quá nhiều, nên không thể lý giải và thuyết phục các sự thật lịch sử cận đại.

Ngụy tạo chính sử

Có một sự khác biệt giữa quan điểm về lịch sử của người phương Tây và Việt Nam. Khi người Mỹ nói đó là chuyện lịch sử, mọi người cùng yên tâm nghĩ là toàn bộ vấn đề xảy ra được ghi chép cẩn thận và nghiên cứu nghiêm túc (That is history; it is totally a record). Khi người Việt nói đó là chuyện lịch sử, chúng ta phải dè dặt hơn, vì đó là một biến cố quan trọng đã xảy ra (It is a most importat thing); sự kiện còn ngờ vực, đúng sai hay hay dở còn cần xét lạ, vì tùy theo thời điểm và quan điểm chính trị. Đây không phải là một khám phá mới lạ, vì đã có vô số các bằng chứng về các sai lầm trong sử Việt, mà những ví dụ chính cho thấy các tầm mức tác hại nghiêm trọng của vấn đề ngụy tạo.

Thứ nhất, theo sử thì Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) giải tán ngày 11 tháng 11 năm 1945, nhưng thc tế thì Đảng tiếp tục hoạt động trong bí mật, sau đó lại công khai cho đến ngày hôm nay. Không có sử gia nào bỏ công cải chính sự kiện này của ĐCSVN và Đảng Lao Động, dù là hình thức.

Thứ hai, vai trò của ĐCSVN trong việc giành độc lập. Thực ra, Việt Nam chưa độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn, vì Đảng không cướp được chính quyền từ tay Nhật và Pháp, mà của chính phủ Trần Trọng Kim vào ngày 19 tháng 8 năm 1945 và về sau gọi đó là Cách mạng tháng Tám.

Việt Nam thâu hồi chủ quyền độc lập ngày 8 tháng 3 năm 1949 theo Hiệp Định Elysée. Điểm đặc biệt của Hiệp định là Việt Nam thống nhất và độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp. Sau đó, ngày 23 tháng 4 năm 1949 Quốc Hội Nam Kỳ đã giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị và sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Việt Nam. Do đó, Việt Nam đã được thống nhất năm 1949 về ngoại giao và chính trị.

Không ai bỏ công phân biệt ý nghĩa cao cả của công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc do ngoại xâm và phương cách bất chánh để cướp chính quyền trong nội chính. Xác minh thời điểm chính xác cho sự độc lập cũng bị quên lãng.

Thứ ba, cuộc đời của Hồ Chí Minh là một chuyện dài không đoạn kết. Bao nhiêu sách vở khác nhau viết về xuất xứ, hành tung, khả năng, quá trình hoạt động và tư cách đạo đức của ông. Mỗi lúc lại có một khám phá mới làm cho sự thật về cuộc đời của ông càng huyền bí hơn.

Nhu cầu tuyên truyền chính trị nhất thời là lời giải thích quen thuộc. Các nhà nghiên cứu đã (phải) suy tôn ông lên làm thần thánh, rồi một thời gian sau, vì lý do chính trị khác, lại hạ bệ. Nhiều tác phẩm viết về ông, nhưng ông không có một chỗ đứng vững chắc trong lịch sử. Vì ông là một nạn nhân của lịch sử quái ác nên các vấn đề tiểu sử, công nghiệp, đời tư của ông còn cần phải tiếp tục soi sáng.

Thứ tư, đấu tranh quân sự có phải là một giải pháp tối ưu duy nhất hay kết hợp với các giải pháp nghị trường và ngoại giao cũng là điều kiện khả thi?

Trước trào lưu đấu tranh giành độc lập tại các nước Á Phi đang dâng cao nên Pháp đã ý thức vấn đề này. Từ năm 1947 Pháp đã quyết định không tái lập chế độ thuộc địa và tôn trọng nguyện vọng độc lập của nhân dân Việt Nam bằng cách đăng ký Việt Nam là một quốc gia độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp tại Liên Hiệp Quốc. Đó là một thắng lợi ngoại giao và pháp lý mà Đảng Cộng Sản đã phủ nhận và về sau giải thích là Pháp đem quân trở lại Việt Nam để tái lập chế độ thuộc địa.

Do đó, khi nhân danh giành lại độc lập dân tộc, họ chiến đấu vũ trang chống Pháp, nhưng bằng cách độc quyền yêu nước và độc quyền lãnh đạo quốc gia. Trái lại, các nước châu Á khác đã chủ trương đấu tranh ôn hòa, không bạo động và không liên kết với Cộng sản Quốc tế, mà thành công của Ấn Độ (1947) là một thí dụ, dù bối cảnh phức tạp hơn Việt Nam nhiều.

Thứ năm, ĐCSVN sử dụng chiêu bài đấu tranh chống Pháp và chống Mỹ như một chiến thuật để đạt mục tiêu chiến lược là cướp chính quyền. Họ đã chống đối bất cứ giải pháp chính trị và ngoại giao nào không cho họ độc quyền đấu tranh và lãnh đạo quốc gia, mà Hiệp định Genève và Paris là hai cơ hội lịch sử.

Dù Hiệp định Genève chỉ là để định ranh giới ngưng bắn và không áp đặt những giải pháp chính trị, nhưng thống nhất Nam Bắc thuộc quyền dân tộc tự quyết, một cơ hội mới về tổng tuyển cử mở ra và sẽ do hai miền ấn định. Lãnh đạo cả hai miền đã không đủ nỗ lực để thực thi biện pháp tổng tuyển cử, một cơ hội không tốn xương máu. Đó là một quan điểm sai lầm của cả hai và trở thành một bất hạnh cho dân tộc hiếu hoà.

Hiệp định Paris là một hiệp ước ngoại giao và có tác dụng chính trị, nhưng là một cơ hội khác mở ra nếu các bên đồng ý “thực hiện từng bước bằng phương pháp hoà bình trên căn bản thương nghị và thỏa thuận giữa Miền Bắc và Miền Nam, không bên nào cưỡng ép bên nào, không bên nào thôn tính bên nào.” (Điều 15).

Phát động chiến dịch Hồ Chí Minh để thôn tính miền Nam không phải là phương pháp hòa bình như đã ký kết. Vi phạm Hiệp định Paris lại là một thành tích tự hào về sự phản bội của chính mình và chấp nhận hy sinh xương máu của thế hệ thanh niên cuối cùng của miền Bắc.

Thứ sáu, Đại Thắng Mùa Xuân là đỉnh cao chói lọi trong trang sử đấu tranh của ĐCSVN, nhưng Ted Gunderson (1928 – 2011), nhân viên của FBI tại Los Angeles và Wahsington DC tiết lộ là sau chiến dịch Operation Linebacker của Hoa Kỳ, Bắc Việt tuyên bố đầu hàng đầu hàng vô điều kiện. Ngũ giác Đài nhận điện tín này nhưng CIA buộc ép nhẹm nguồn tin và thuyên chuyển tất cả các nhân viên có trách nhiệm ra khỏi nhiệm sở. Dĩ nhiên, Việt Nam không hề kiểm chứng nguồn tin này.

Tóm lại, các vấn đề quan trọng trong chính sử cận đại như ý nghiã đích thực của chiến tranh, kết hợp các phương tiện khả thi để giải quyết xung đột, những hy sinh và thành tích cần được giải ảo trong một phương cách mới hơn, khi mà có vô số các nguồn tài liệu được liên tục giải mật. Quan trọng nhất là chúng ta phải có can đảm nhìn vào sư thật của lịch sử trong một nhãn quan mới.

Cho dù ngày nay ngụy sử đã không thể phản ảnh được toàn bộ quá khứ và chính sử cũng không hẳn là mất đi hết trong những gì còn sót lại nơi lòng người, nhưng điều may mắn hơn cho chúng ta là lịch sử vẫn còn được truyền tụng, mà ký ức cá nhân và tập thể cần hồi tưởng là thí dụ điển hình.

Những người Việt đang ở vào lớp tuổi bốn mươi hay trẻ hơn không có ký ức về chiến cuộc, vì họ chưa sinh ra. Dĩ nhiên, họ có quyền đặt câu hỏi vì sao Việt Nam chưa thể canh tân đất nước và hưởng độc lập dân tộc và họ phải gánh chịu một di sản tồi tệ như ngày hôm nay. Khi ngụy sử không thuyết phục được họ, thì ký ức của các bậc cha ông còn sống sót sẽ đóng vai trò gì?

Ký ức chiến cuộc nhạt nhoà

Tình yêu về dĩ vãng vốn bẩm sinh trong tâm hồn người Việt; họ thích ôm ấp kỷ niệm trong mơ hồ và không muốn dùng ngôn ngữ để diễn đạt những cảm xúc trân qúy. Ký ức là nhớ lại; một người không có trí nhớ là một người không còn bản sắc riêng. Nhưng ngược lại với ký ức là quên lãng; ai phải dồn ép quá khứ, thường là người không bình thường và hoặc sẽ mang bịnh ức chế. Một người trưởng thành không có ký ức sẽ mãi là một trẻ con.

Ký ức tập thể theo Maurice Halbwach quan trọng hơn. Nó vượt qua khuôn khổ kinh nghiệm sống của một cá nhân, hằn sâu, tiêm nhiễm vào một tầng lớp xã hội, một thế hệ trong một giai đoạn của dân tộc và tạo thành bản sắc chung. Một dân tộc không có ký ức lịch sử cũng là một dân tộc chưa trưởng thành.

Khi xưa, Tản Đà có than thở “Dân hai lăm triệu, ai người lớn?, Nước bốn nghìn măm vẫn trẻ con.” Lời thơ ai oán được truyền tụng như một lời cảnh tỉnh về tình trạng dân trí trong thời Pháp thuộc. Trong chiến tranh, Trịnh Công Sơn cũng đã nhắc nhiều đến thân phận đất nước, nhưng thê thiết nhất là “Ôi, đất nước u mê ngàn năm“. Điều ngạc nhiên là cả hai danh tài này sống trong hai thế hệ cách biệt nhau, nhưng lại cùng một tâm trạng, dù không hề quan tâm đến chính sử và ký ức.

Nhưng làm sống lại ký ức không dễ, vì có một cái gì đó thiếu bình thường mà có quá nhiều thí dụ làm cho chúng ta ngạc nhiên.

Thứ nhất, nhân ngày 30 tháng 4 mà nhân dân thủ đô Hà Nội kéo băng và biểu ngữ với nội dung “Hân Hoan Chào Mừng Ngày Giải Phóng Thủ Đô”. Vô ý hay là trớ trêu trong một ký ức nhạt nhoà? Không ai biết.

Thứ hai, ngược lại, nhân ngày này mà một số người Việt hải ngoại cũng có tổ chức “Ngày Diễn Hành Cho Tự Do”. Vì là buổi diễn hành nên ít có thuyết trình về ý nghĩa trọng đại về một ngày lịch sử của đất nước để người tham dự cảm thấy có trách nhiệm hơn đối với những hậu quả của ngày này. Vì tự do hoài niệm mà đôi khi cũng có nhiều nơi còn có kết hợp với lễ Lao Động với dạ tiệc và khiêu vũ thâu đêm là chính. Đó là sáng kiến giải trí cuối tuần kéo dài trong hoàn cảnh mới, nên không đem lại một âm vang tưởng niệm nào trong đau buồn, nhớ những nguời nằm xuống và người trốn chạy.

Thứ ba là chuyện không có quyền công khai tưởng niệm những người nằm xuống trong chiến tranh biên giới Trung – Việt. Khơi động ký ức lại cần có ý kiến chỉ đạo? Hồi sinh ký ức càng thêm chua chát khi lãnh đạo hân hoan đón tiếp lãnh đạo bạn để cùng “Thành Kính Tưởng Niệm Các Liệt sĩ Trung Quốc Hy Sinh Vì Chính Nghĩa” trong Tiết Thanh Minh, một việc làm đúng theo chính sách đề ra.

Còn nhớ về Ngày Hoàng Sa và Trường Sa lại càng khó hơn, cụ thể nhất là vụ thảm sát Gạc Ma. Trước đây binh sĩ không được phép chống trả với Trung Quốc nên đem lại một cái chết tập thể; chính quyền luôn che dấu sự thật và nay lại không cho phép tưởng niệm và ghi công và không nêu tên kẻ thù, đó là một hành vi xoá bỏ ký ức có định hướng.

Những người chiến đấu còn sống không được tri ân, đãi ngộ và chỉ còn âm thầm xót thương cho đời nhau. Họ cũng bất hạnh giống như các cựu chiến binh Mỹ, làm điều vô ích cho kẻ vô ơn và cuối cùng lại chứng kiến trớ trêu của lịch sử mà đó lại là định mệnh của mình.

Thứ tư là chuyện những người di tản buồn lại càng buồn hơn, khi phải nhớ tới những thuyền nhân qua cơn phong ba bảo táp, chưa hưởng được tự do và cuối cùng phải yên nghỉ nơi đảo vắng xứ người. Trùng tu mộ phần đã khó, sơn tặng cho họ một lá cờ trên mộ phần và lập đài tưởng niệm trên các đảo cũng bị nhà nước CSVN tìm cách áp lực ngoại giao nên không được phép. Thân nhân cũng đành khép lại quá khứ theo chính sách.

Thứ năm là vấn đề gọi tên ký ức. Thảm sát hay chiến thắng Mậu Thân? Định danh ký ức cũng cần thảo luận như gọi tên cho cuộc chiến. “Chống Mỹ xâm lược“ mà hơn 5000 ngàn thường dân Việt và vài ân nhân người Đức phải chết oan uổng, thì không thể nào gọi là thắng lợi huy hoàng và có thể giải thích thuần lý.

Những hung thủ còn sống sót cũng không đủ can đảm đính chánh về cáo giác của các nhân chứng trong “Giải Khăn Sô Cho Huế“. Dù tai họ còn nghe và mắt họ còn thấy phản ứng của nạn nhân khác còn sống, nhưng khác với Hitler đã tự xử, hung thủ yên tâm hơn để nghiên cứu về Huế học, mà họ quên đi đối tượng nghiên cứu khẩn thiết nhất của Huế học là làm sáng tỏ việc tàn sát. Tên tuổi và hành vi của họ vẫn bị ràng buộc với lương tâm và lịch sử.

Chúng ta là có vô số ký ức cá nhân có giá trị lịch sử: Giải Khăn Sô Cho Huế, Muà Hè Đỏ Lửa, Dấu Binh Lửa, Đường Đi Không Đến, Xương Trắng Trường Sơn, Thiên Đường Mù, Nổi Buồn Chiến TranhĐèn Cù là những thi dụ chính. Vì là tự truyện cá nhân nên có sự đãi lọc nhất định theo ý nghĩ cảm nhận và tùy theo cái gọi là lieux de mémoire của tác giả (các địa điểm liên hệ tới biến cố xãy ra để trở thành ký ức, một khái niệm của Pierre Nora). Thực ra, nhân chứng lưu giữ ký ức, họ chỉ là một người sống trong những biến cố kinh hoàng trong lịch sử, mà họ không hiểu tại sao, không lường đoán được hậu quả và giải thích các tầm mức phức tạp của diễn biến.

Do đó, chúng ta cần có sử gia, vì ký ức cần khách quan hoá theo phương pháp sử học, một tiến trình đến sau và có chọn lọc. Sử gia đối thoại với nhân chứng, vì nhân chứng biết rõ hơn các biến cố. Họ diễn dịch, sưu tầm và biên tập theo một hệ thống nhất định thành một loại đề tài chung.

Dù ký ức về chiến cuộc nhạt nhoà, nhân chứng lần lượt ra đi, quá ít sử gia chân chính, nhưng lịch sử không thể nguy tạo ký ức. Chính ký ức làm nên lịch sử. Ký ức không phải là vấn đề riêng của sử gia. Lịch sử không thuộc về sử gia, mà cho tất cả những người có liên quan và có tinh thần trách nhiệm. Những người đứng ra tổ chức các lễ tưởng niệm với các phương tiện truyền thông hiện đại cũng là một thí dụ.

Các buổi lễ truy điệu, báo chí, sách vở sẽ làm sống lại các ký ức tập thể. Những hình thức nghi lễ “hoành tráng“ của phe thắng cuộc không mang nhiều ý nghĩa đích thực để tìm ra bản chất của tưởng niệm. Những đề tài thảo luận nghiêm chỉnh về ý nghĩa của tưởng niệm là quan trọng hơn.

Nhờ thế, chúng ta viết lại lịch sử bằng cách khám phá những sự dị biệt trong ký ức với tinh thần trách nhiệm. Ký ức dị biệt của cá nhân là một phương tiện thông đạt dùng trong sinh hoạt hằng ngày khi thảo luận về những biến cố lịch sử. Ngược lại, ký ức tập thể là một sản phẩm xã hội, đẩy mạnh cho việc hình thành một bản sắc văn hoá dân tộc. Nhưng biết tìm đâu bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt?

Bản sắc dân tộc tàn phai

Dù là gọi là đất nước hay dân tộc cũng chỉ là một. Dân tộc là một ngôi nhà chung chứa đựng một linh hồn chung. Hồn thiêng này có hai phần: phần một nằm trong quá khứ, là một di sản thuộc toàn dân và ký ức lịch sử là một thành phần. Phần hai nằm trong hiện tại. Đó là tinh thần đồng thuận, cùng ước mơ chung sống để phát triển và lưu truyền giá trị của một di sản không thể phân chia. Khái niệm dân tộc này của Ernest Renan không phải là chủ nghiã dân tộc đã bị lạm dụng quá nhiều trong quá khứ.

Bản sắc văn hóa dân tộc gồm các đặc tính được duy trì trong quá trình của lịch sử và được kết tinh thành những biểu tượng để phân biệt với các dân tộc khác. Nó tạo thành những chuẩn mực giá trị cho xã hội và thể hiện tâm lý dân tộc mà các ký ức văn hoá là thí dụ.

Ký ức văn hoá theo Jan Assman gồm có việc sử dụng chính sử, tự truyện, hình ảnh và nghi lễ đặc biệt cho một xã hội trong một thời kỳ; mọi sự vun bồi này sẽ tạo nên một hình ảnh chung cho bản sắc dân tộc. Nhờ thế mà chúng ta có thể hiểu được giá trị truyền thống.

Chúng ta có thói quen ca ngợi bản sắc dân tộc và đơn giản hoá vấn đề, nhưng kỳ thực, bản sắc cá nhân phức tạp, vì dựa vào hoàn cảnh và điều kiện xã hội địa phương, thuộc về một thế hệ nhất định, một tôn giáo, một đoàn thể nghề nghiệp và trình độ giáo dục nào đó. Bản sắc thay đổi liên tục trong suốt cuộc đời qua những biến cố của riêng mình.

Mô tả về bản sắc đất nước càng khó hơn vì theo dòng lịch sử, có quá nhiều biến chuyển sẽ thay thế cho các ký ức cũ phai mờ, tạo thành những bản sắc mới. Tùy theo thời điểm hay địa điểm mà bản sắc đất nước có thể tiến hay thoái hoá. Các thay đổi về giá trị qua từng thế hệ kết hợp nhau trong liên tục và tái tạo.

Trong một thời kỳ dài đấu tranh, Đảng đã bao nhiêu lần nói là “thống nhất đất nước ta sẽ xây dựng lại ngàn lần tươi đẹp hơn”. Nhưng chiến thắng năm 1975 cho phép Đảng có lý do tự phong một bản sắc mới là “trung tâm phẩm giá của loài người và lương tâm của thời đại”. Bản sắc cường điệu này không thuộc truyền thống chân thành của dân tộc. Đảng đã không thể trau dồi bản sắc, và chiến thắng không đem lại tự do và cơm áo cho toàn thể dân chúng trong thời bình.

Dù thành tựu đổi mới kinh tế có đem lại cho sung túc cho một thiểu số, nhưng Đảng không thể nâng cao bản sắc văn hoá vì giáo dục xuống cấp, đạo đức suy đồi, thờ ơ của dân chúng và gương xấu của chính quyền là trở lực. Tìm lại bản sắc dân tộc đã đánh mất là điều không thể thực hiện được trước mắt, vì thành tựu của các biện pháp cải cách giáo dục và nâng cao đạo đức không thể là kết quả dễ được tìm thấy trong một sớm một chiều.

Đã đến lúc đất nước cần có bản sắc mới như là một vai trò kết nối, một khái niệm và một thành tố để xây dựng lịch sử. Nhưng làm sao nối kết những ký ức văn hoá dị biệt trong bối cảnh hiện nay. Thực ra, không ai có đủ viễn kiến để tiên đoán chuyện lý thuyết.

Nhưng sử gia không còn đi tìm những giá trị biểu tượng xa xưa, vì các biến động mới có những giá trị làm cho lịch sử độc đáo hơn. Họ dùng ngày 30 tháng 4 năm 1975 làm một phương tiện nhằm tạo ra huyền thoại chính trị duy nhất cho khởi điểm mới về ký ức lịch sử cận đại. Với 40 năm trôi qua, thời gian lắng đọng để họ cùng tìm hiểu về ý nghĩa của ngày 30 tháng 4. Do đó, giải ảo về nội dung ngày này cần được đặt ra.

Phản tỉnh về ý nghĩa của ngày 30 tháng 4 năm 1975

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 là một ngày để chúng ta nhớ về ngày 30 tháng 4 năm 1975 và tìm hiểu những gì mà dân tộc đã sống trong 40 năm qua. Bằng kinh nghiệm sống với chế độ, với các sử liệu mới, lý trí khách quan và tự do phê phán giúp cho chúng ta nhận ra sự thật. Sự thật sẽ giải phóng cho chúng ta.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là biểu tượng khởi đầu cho một tiến trình tương phản phức tạp. Giá trị biểu tượng của ngày này là một nghịch lý bi đát. Chiến tranh kết thúc giải phóng cho tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh, nhưng không phải chỉ là vinh quang mà còn là tủi nhục; ngày miền Nam thoát khỏi chiến tranh cũng là ngày mà miền Bắc hiểu rõ hơn thế nào là giải phóng và hy sinh cho chính nghĩa. Cả nước vừa được giải phóng lại vừa bị hủy diệt trong một hoàn cảnh mới, không phải chỉ là thiệt hại vật chất mà còn là tinh thần, một vấn đề bản sắc.

Dĩ nhiên, chúng ta phải chấp nhận những gì đã xảy ra vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, vì không thể thay đổi được, dù còn bị ảnh hưởng hậu quả cho đến hiện nay. Chúng ta không thể tách rời ngày 30 tháng 4 năm 1975 với ngày 3 tháng 2 năm 1930, ngày thành lập ĐCSVN, đó là một nguyên nhân khởi đầu mọi thay đổi trong các trang sử Việt.

Với ý thức phản tỉnh chúng ta có thể nói cho nhau hôm nay về ý nghĩa đích thực của ngày 30 tháng 4 là đây là một ngày toàn thắng trong tiến trình cướp chính quyền của ĐCSVN và là một ngày đại bại của toàn dân tộc Việt. Vì sao?

Vì nhìn lại quá khứ của công cuộc tiến nhanh tiến mạnh lên XHCN chúng ta chỉ thấy một bóng tối kinh hoàng. Đó là các biện pháp truất hữu ruộng đất, ngăn sông cấm chợ, đánh tư sản mại bản, bài trừ văn hoá đồi trụy, thanh niên xung phong, kinh tế mới và học tập cải tạo. Theo sau là thảm kịch thuyền nhân, chiến tranh Tây Nam và phiá Bắc. Cuối cùng là kinh tế kiệt quệ để rồi ĐCSVN phải chịu có biện pháp xé rào và đối mới để nuôi dưỡng chế độ.

Với một cơ hội mới và tiềm năng cao để tái thiết hậu chiến và hàn gắn vết thương chiến tranh, nhưng đến năm 2015 mà Việt Nam còn tụt hậu thua Lào về canh tân công nghiệp, trình độ phát triển dân chủ kém hơn Campuchia, cạnh tranh kinh tế suy yếu hơn Hàn quốc, phát minh khoa học thua xa Thái Lan, năng lực lao động thấp nhất trong khu vực, nhưng tình trạng vi phạm nhân quyền và bất công xã hội lại là trầm trọng nhất.

Vì nhìn về tương lai chúng ta càng lo sợ hơn vì không biết đất nước và con người sẽ đi về đâu. Chủ nghĩa tư bản thân tộc tạo ra một xã hội thị trường hỗn loạn trong một nhà nước sơ khai là nguyên nhân, mà tham nhũng lên ngôi thượng đỉnh, đạo đức suy sụp tận đáy, giáo dục băng hoại và môi sinh cạn kiệt là hậu qủa. Trong khi hiểm hoạ Bắc thuộc là hiện thực, thì bất ổn cá nhân, bất trắc kinh tế và bất công xã hội vẫn còn kéo dài.

Tóm lại, chúng ta có các lý do chính đáng để không hân hoan tham gia mừng lễ kỷ niệm chiến thắng, nhưng cần giúp đỡ nhau để có ý thức phản tỉnh về ý nghĩa tưởng niệm, hoà giải và tỉnh thức trong ngày 30 tháng 4. Nhờ thế, chúng ta sẽ thấy có trách nhiệm hơn đối với những hậu quả của ngày này trong tương lai.

Ngày tưởng niệm

Hồi tưởng thuộc về một phần trong đời sống tâm linh của chúng ta. Ai đã sống trong ngày 30 tháng 4 với đầy đủ ý thức và nhận xét, thì cũng tự hỏi là ngày này mình làm gì và ở đâu và sự ràng buộc của mình trong biến cố này.

Ngày 30 tháng 4 là một ngày để chúng ta tưởng niệm về tất cả những người quá cố của hai miền, những người đã tin là mình chiến đấu cho chính nghĩa của đất nước. Chúng ta không thể quên họ và cầu mong họ siêu thoát. Đau đớn nhất là các chiến sĩ giải phóng quân; bây giờ họ không còn cơ hội để nhận ra rằng họ đã bị phản bội; tất cả công lao của họ là vô ích và vô nghĩa; cái chết của họ chỉ là phục vụ cho các mục tiêu cướp chính quyền của giới lãnh đạo vô nhân đạo.

Chúng ta sống trong gọng kềm của lịch sử dân tộc và là nạn nhân phải hy sinh cho quyền lợi của giới lãnh đạo. Cả một dân tộc không ai có tội cá nhân; không ai có tội với lịch sử. Có tội ít hay nhiều chỉ có thể quy kết cho tập thể lãnh đạo, vì họ thiếu trí tuệ và thiếu bản lãnh; họ chỉ phục vụ cho ngoại bang, chủ nghĩa phi dân tộc và không tìm cách tiết kiệm máu xương.

Chúng ta cũng hoài niệm về những nổi đau khổ của thân nhân còn sống; đặc biệt là nữ giới, đau khổ vì sự mất mát về tất cả những gì không thể giữ được từ vật chất cho đến tinh thần. Đó là đau khổ qua bị thương tổn và tật nguyền, đau khổ vì buộc phải chịu mất tài sàn, mất người thân yêu, mất nhân phẩm, cảm xúc bị tổn thương, cưỡng bức lao động, bất công nghiêm trọng và tra tấn dã man, đói khổ, giam cầm và trốn chạy.

Ngày hoà giải

Ngày 30 tháng 4 là ngày mà chúng ta không những tưởng niệm cho những người nằm xuống mà còn muốn hòa giải giữa người Việt còn sống với nhau. Chúng ta tìm kiếm hòa giải, nhưng không thể hòa giải với những người đã nằm xuống và những người không còn ký ức. Số phận chung của dân tộc liên kết chúng ta với nhau thành một định mệnh chung trong ước muốn chung sống trong hòa bình và thịnh vượng.

Trong đời sống hằng ngày, người Việt chỉ muốn sống an vui trong hiện tại và không muốn nhớ những chuyện vô nhân đạo trong quá khứ. Chúng ta chấp nhận và chịu đựng sự khắc nghiệt do số phận an bài, đó là chuyện tinh thần được đặt ra bên cạnh các nhiệm vụ khác.

Nhưng ngày 30 tháng 4 là một vết rạch hằn sâu trong lịch sử cho toàn thể, nên có một nghịch lý xảy ra, người Việt có tinh thần hồi tưởng và sẽ luôn hồi tưởng khi có cơ hội. Bốn mươi năm sau khi kết thúc chiến tranh, dân Việt vẫn còn bị phân chia. Chúng ta cảm thấy chưa thuộc về nhau bởi vì chúng ta đã sống và nghĩ không cùng trong một nhận thức về quan điểm đấu tranh. Đó là một gánh nặng trong lịch sử mà chúng ta vẫn còn bị mang ít nhiều tổn thương.

Làm sao chúng ta có thể xoá bỏ vết hằn khôn nguôi nếu không có hoà giải? Thực ra, kinh nghiệm quốc tế cho thấy hoà giải không chỉ là tha thứ của nạn nhân về sai trái của thủ phạm, mà còn là một đồng thuận giá trị về chính trị. Đầu hàng là một thay đổi thái độ của phe thua cuộc trước phe thắng cuộc, một quyết định hợp lý của lý trí của phe thua cuộc và cần được thể chế chính trị của phe thắng cuộc bảo vệ. Vai trò luật pháp là điều kiện thể chế tiên quyết để bảo vệ họ. Khuôn khổ cho hoà giải là bình đẳng trước pháp luật, thực thi dân chủ, tôn trọng nhân quyền và dân quyền của phe thắng cuộc. Sự đồng tình của cả hai phe sẽ đem lại ý nghiã chung sống. Đó là một khuôn khổ xây dựng lại mối quan hệ và niềm tin cho xã hội và tạo lập một cộng đồng cho tương lai.

Dầu bối cảnh tranh chấp khác nhau, các nước Nam Phi, Nam Tư củ, Bắc Ái Nhĩ Lan, Sierra Leone, El Salvador, Guatemala và Rwanda đã tìm ra một căn bản đồng thuận cho tiến trình hoà giải, mà đạo đức là mục tiêu và luật pháp là phương tiện. Vì say men chiến thắng mà kinh nghiệm hoà giải chính trị hậu xung đột không là vấn đề quan trọng để Việt Nam quan tâm học tập, cải tạo tập trung là trường hợp minh chứng ngược lại.

Sau ngày Đổi Mới, Việt Nam khởi đầu tiến trình hoà giải chính trị bằng Nghị Quyết để nhằm thu hút tài năng trí tuệ và đóng góp tài chánh. Nghị Quyết không đề ra sư tương thuận của phe thua cuộc; khuôn khổ pháp luật làm nền tảng và tinh thần đạo đức dân tộc làm nội dung cho hoà giải cũng không có. Việt Nam chỉ đo thành tựu Nghị Quyết bằng lượng kiều hối, du lịch và giao lưu văn nghệ trong ngoài. Hoà giải loại này không đem lại một niềm tin chung hướng về tương lai.

Trong nỗ lực hoà giải có một thử thách chung cho hai phía. Sẵn lòng hòa giải phải phát sinh từ trong nội tâm và do ngoại cảnh, không phải là vấn đề mà phe thắng cuộc đòi hỏi nơi phe thua cuộc theo tinh thần Nghị Quyết, nhưng là tự nội tâm của mỗi phe đòi hỏi nơi chính mình, đó là khởi điểm quan trọng nhất.

Cụ thể là liệu phe thắng cuộc có thể thực sự tự đặt mình trong hoàn cảnh của phe thua cuộc đựợc không hay phe thua cuộc có tin tưởng vào thành tâm hoà giải của phe thắng cuộc được không? Liệu Nghị Quyết một chiều có phải là một cơ sở ràng buộc nhau không? Cả hai phải nhận ra những gánh nặng của nhau, xem có chịu đựng nhau không và có quên quá khứ được không?

Cả hai phe làm gì trong tiến trình này? Chủ yếu là phe thắng cuộc cần có ý thức hơn để tìm lại nguyện vọng trung thực của phe thua cuộc; thay vì diễn binh mừng chiến thắng chỉ khơi động lại lòng thù nghịch, phe thắng cuộc nên can đảm hơn là đem tàu ngầm hiện đại ra biển Đông để bày tỏ quyết tâm trước Trung Quốc, phô trương này sẽ gây tác động hoà giải dân tộc cao hơn. Thay vì ngăn cản tưởng niệm, nên thành tâm bày tỏ thương tiếc những người của hai phiá đã hy sinh bằng cách xây một tượng đài chung, một hình thức tỉnh ngộ về sự lầm lạc chung của cả dân tộc trong cả một giai đoạn lịch sử. Họ nên đãi ngộ người đóng góp còn sống, một hình thức xoa dịu thương đau xã hội; nỗ lực hoà giải với người đối kháng và trực tiếp đối thoại trong tinh thần dân chủ là thực tế hơn, vì không phải ai có quan điểm đối lập chính trị với chính quyền cũng đều là những phần tử suy thoái đạo đức và phản động.

Phe thua cuộc cũng cần có nhận định nghiêm chỉnh hơn về ý nghĩa cao cả của tha thứ. Tha thứ là tìm hiểu và mến yêu người sai phạm. Hiểu nhau là vì đã tìm thấy lại nhau trong một quá khứ chung lầm lạc. Yêu mến nhau là vì cùng có một số phận và ý chí chung sống để xây dựng tương lai đất nước.Thực tế ngược lại. Một số không nhỏ của phe thua cuộc tự nguyện tìm đến phe thắng cuộc vì những bả lợi danh cuối đời, những lạc thú do những chênh lệch giá cả tại quê nhà, ngay cả những hạnh phúc thoáng qua như tiếng còi hụ đưa đón. Đó là một sự sĩ nhục mà một số trong phe thua cuộc tự tạo ra, vì trong khi cho đến ngày hôm nay, vẫn còn có rất nhiều người khả kính, can trường và liêm chính trong chiến bại.

Tương lai của hoà giải không ai biết được, nhưng khởi động một trào lưu nhận thức mới về tinh thần hoả giải là khẩn thiết, vì các thế hệ tham chiến sẽ lần lượt ra đi và các thế hệ nối tiếp sẽ không đủ quan tâm để giải quyết.

Ngày tỉnh thức

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 bắt đầu một chương mới trong lịch sử Việt Nam và một thế hệ mới đang trưởng thành. Giới trẻ không có các ký ức dị biệt và không chịu trách nhiệm về những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng họ đang và sẽ có trách nhiệm đối với những gì sẽ trở thành lịch sử. Họ sẽ đóng một vai trò chính về số phận của con người, đất nước và dân tộc trong khoảng thời gian bốn mươi năm tới. Nhưng ngày 30 tháng 4 năm 1975 lại có ý nghĩa tỉnh thức vì ký ức cá nhân kéo dài chỉ trong bốn mươi năm. Nếu ký ức phai nhạt thì những gì quan trọng khác còn lại cũng không còn ý nghĩa. Thế hệ tham chiến cần giúp cho giới trẻ hậu chiến tìm hiểu về sự thật của lịch sử, không thiên vị theo ý thức hệ, trốn chạy trách nhiệm và nhân danh đạo đức. Đâu là giá trị tỉnh thức trong ngày 30 tháng 4?

Chúng ta cần can đảm để nói cho thế hệ hôm nay biết là hiện tình Việt Nam là đang bị nguy cơ hơn bao giờ hết; vì về mặt nội trị có quá nhiều bất ổn mà vẹn toàn lãnh thổ, tham nhũng và nợ công là chính; về mặt đối ngoại có quá nhiều tổn thương, vì lãnh đạo đặt quyền lợi Trung Quốc và quyền lợi riêng lên trên quyền lợi của dân tộc là chính; nay lại hy vọng là Hoa Kỳ đoái thương dân Việt. Nhưng thực tế, Hoa Kỳ sẽ không có phép lạ nào để biến đổi nội tình Việt Nam hôm nay và sẽ không là một lá chắn an toàn cho Việt Nam mai sau. Mỹ đủ thông minh để không bao giờ chống Trung Quốc cho đến xương máu của người Mỹ cuối cùng thay cho Việt Nam, như miền Bắc Việt Nam đã hãnh diện chống Mỹ thay cho Trung Quốc trong quá khứ.

Do đó, giới trẻ nên tỉnh thức để tránh lầm lạc của bậc cha ông. Đó là do khuấy động các ý thức hệ đối nghịch, hận thù lầm lạc và gian dối lẫn nhau mà Việt Nam đã có chiến tranh. Do bất tài, bất xứng và bội tình mà thế hệ cha ông đã không để lại được một non sông gấm vóc cho con cháu thừa hưởng; “Gia tài của mẹ, một nuớc Việt buồn“, nếu nói theo nhạc của Trịnh Công Sơn.

Từ tỉnh thức này mà giới trẻ sẽ lưu truyền các ký ức lịch sử và không để bị lôi cuốn vào những hận thù và chống đối nhau, mà cố gắng liên tục học hỏi để tìm cách chung sống với nhau trong tình hiếu hoà và nhất là sẽ có ý thức trách nhiệm nhiều hơn cho tương lai đất nước.

Thế hệ hậu chiến và tương lai

Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày khởi đầu cho thế hệ hậu chiến trưởng thành. Họ có trách nhiệm chính trị cho đất nước trong thời kỳ mới. Nhưng họ phải nghĩ gì và làm gì để canh tân đất nước và tìm lại độc lập cho dân tộc?

Nghĩ gì? Thách thức vô cùng to lớn khi thế hệ hậu chiến cần có nhiều ý thức và kinh nghiệm hơn để đảm nhiệm trọng trách này. Đó là vấn đề còn mở rộng để tranh luận, nhưng họ có bốn khó khăn chính.

Một là, họ không kế thừa một phương sách khả thi nào. Đảng đã không thể lý giải được cơ chế Kinh tế Thị trường và Nhà nước Pháp quyền theo định hướng XHCH là gì. Đảng cũng tự nhận là đã theo một đường lối không có cho đất nước. Vì nhận hư thành thực cho nên Đảng cũng không thể hoàn thiện đường lối này cho đến cuối thế kỷ XXI. Nhưng Đảng sẽ vượt qua các chống đối bằng cách dùng bạo lực đàn áp để duy trì chế độ, một bất hạnh cho toàn dân.

Hai là, họ không thể phát huy các kinh nghiệm cuả bậc cha ông. Các kinh nghiệm của Cách Mạng Tháng Tám và Đại Thắng Mùa Xuân không còn phù hợp với trào lưu đấu tranh bất bạo động cho Việt Nam, mà đó là một giải pháp tương ứng khả thi. Thành quả cuả Cách Mạng Đông Âu, Đông Đức, Miến Điện và Muà Xuân Á Rập là những bài học mới thích hợp hơn, nhưng họ chưa thể huy động được dân chúng vì thái độ vô cảm chính trị của đa số.

Ba là, họ không thể hy vọng là được Đảng chuyển giao quyền lực cho dù họ có khả năng và tâm huyết, vì thân tộc của lãnh đạo còn vây quanh. Trong một xã hội thị trường đang thay đổi hỗn loạn, họ không thể tiên đoán được là đổi mới chính trị sẽ hình thành như thế nào. Tất cả đều tuỳ thuộc vào một số quan niệm về tương lai, những cách đánh giá khác nhau về ý nghĩa của xu hướng hiện nay và về các chuẩn mực để giải quyết các khác biệt, thí dụ như vi phạm nhân quyền và tự do báo chí.

Bốn là điều kiện ý thức về truyền thống lịch sử và chuyển hoá chính trị. Từ thắng lợi của việc cướp chính quyền mà Đảng tự hào về thành tích làm nên “Ý nghĩa Lịch sử” cho dân tộc. Nhưng ý nghĩa lịch sử này không phải là những gì đã được Đảng tuyên bố, mà giới trẻ cần khám phá lại. Nhu cầu giải ảo ngụy sử và niềm tin về tương lai dân chủ cần đến các điều kiện trí thức. Đó là kiến thức và ý thức về chính sử và dân chủ, để từ đó làm cơ sở cho tinh thần xây dựng. Kiến thức là khởi điểm cho ý thức và có kiến thức thì mới có ý thức để xây dựng một ý chí chung sống.

Tuy nhiên, thực tế bi quan hơn, vì sử học và kinh tế chính trị học không còn thu hút giới trẻ, một môn mà người học không muốn học và người dạy không muốn dạy. Sự tụt hậu là do một hệ thống giáo dục gian dối và ngụy sử làm mất niềm tin về giá trị cuả toàn xã hội qua nhiều thế hệ.

Ý thức về lịch sử và dân chủ do đào tạo mà ra, có tính thuần lý vì do lý trí hướng dẫn và được đãi lọc qua thời gian. Học chính sử giúp giới trẻ lý luận và phán đoán về sự thật của lịch sử. Ý thức về lịch sử sẽ tạo nên một thái độ chung đối với lịch sử, một khả năng để giải ảo, một loại trách nhiệm cá nhân đối với xã hội và có tình cảm dân tộc.

Do đó, hy vọng còn lại là giới trẻ sẽ phát huy tinh thần tìm hiểu và mến yêu lịch sử và giá trị của dân chủ. Sự thật lịch sử sẽ là bước khởi đầu và giới trẻ phải tìm kiếm sự thật giữa dòng lịch sử. Giới trẻ có thể so sánh lịch sử tương lai như một dòng sông, nhưng các dòng nước sẽ luôn biến đổi mà họ đang khởi đầu bơi lội và cũng không biết đi về đâu, như một câu nói quen thuộc là “Người ta không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông“. Nhưng có ý thức lịch sử và dám dấn thân làm lại lịch sử cho dân tộc là một hy vọng khởi đầu.

Làm gì? Giới trẻ cần thảo luận để nhận ra điều kiện đem lại hoà bình và thịnh vượng cho đất nước. Mọi vấn đề hiện nay có thể sẽ được giải quyết được một phần nào khi có sức mạnh dân tộc mà sự hiểu biết của toàn dân, đồng thuận chính trị, và quyết tâm chuyển hướng là chính và đường lối thực tiễn là thay đổi hiến pháp dân chủ, nâng cao đạo đức và giáo dục, tăng trưởng kinh tế, tôn trọng trí thức và pháp luật, thực thi nhân quyền và dân quyền và bảo vệ thiên nhiên. Nhưng sự hợp tác về một chính sách ngoại giao Trung-Việt ổn định và tương kính là khả thi, khi Việt Nam đủ khả năng chứng tỏ là một người bạn đối tác đích thực bình đẳng và không phải chỉ bằng ngôn ngữ bóng bẩy như hiện nay. Với nỗ lực của nhiều thế hệ, chúng ta hy vọng là Việt Nam sẽ đạt được một phần nào những mục tiêu này.

Việt Nam sẽ đi về đâu? Không ai biết rõ, nhưng chắc một điều là đất nước dù năng động đến đâu đi nữa, thì Đảng cũng sẽ không còn phép lạ khi Đảng không tự chuyển hoá. Thế hệ hậu chiến không cần có một lý tưởng cầu toàn để canh tân đất nước, một ảo tưởng trí thức để thăng hoa bản sắc văn hoá hay các biện pháp xé rào để cứu Đảng, mà cần nhất là có một ý thức bừng tỉnh về sự tồn vong của dân tộc.

Đ.K.T.

Nguồn: https://anhbasam.wordpress.com/2015/04/07/3675-hoai-niem-va-phan-tinh-ve-ngay-30-thang-4-nam-1975-de-giai-ao-nguy-su-hoa-giai-dan-toc-va-xay-dung-dat-nuoc/

 

Thích to để “tự sướng”

Thích to để “tự sướng”

VienDongDaily.Com

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Trước hết để nói về hai chữ “tự sướng” gần đây hay được báo chí VN dùng trong nhiều trường hợp, nhất là những người tự chụp ảnh đều được cho là “tự sướng.” Trong năm 2013, từ này xuất hiện liên tục trên mạng Internet, đặc biệt là các trang mạng xã hội, trở thành một từ thông dụng và thời thượng.
Thật ra từ ngữ này trước đây chỉ dùng trong trường hợp người ta tự làm một cách nào đó khiến mình sung sướng (tính từ). Xin lỗi bạn đọc, hành động này khiếm nhã nên tôi không dám viết rõ ở đây. Tôi thấy dùng từ ngữ “tự sướng” cho người tự chụp ảnh có vẻ không đúng chỗ. Thí dụ Tổng Thống Nam Hàn Lee Myung-bak chụp hình theo yêu cầu của nữ cầu thủ Ji So-yun có phải để “tự sướng” không? Tất nhiên là không rồi.

Mẹ già đau đớn bên đứa con bệnh tâm thần phải xích lại nhiều năm nay, trong khi chính phủ chi hàng chục triệu Mỹ kim chỉ để “tự sướng,” không ích lợi cho ai.

Tuy nhiên trong bài này lại có vẻ đúng, bởi người ta thích to để “tự sướng” với nhau hoặc che đi cái mặc cảm tự ti “nước mình nghèo và nhỏ quá” và bản thân dân mình cũng “rách như cái mền” nên cố phồng mang trợn mắt lên để tỏ ra “mình cũng sang như các anh ở nước giàu có.”
Thí dụ như hồi giữa tháng 8/2013, đại gia Lê Ân đã mua mua chiếc giường Hoàng gia với giá hơn 6 tỷ đồng (gần $280,000), sản xuất trong hơn ba tháng và sẽ vận chuyển bằng đường hàng không về Việt Nam.
Giải thích về việc bỏ ra một khoản tiền lớn để mua giường, ông Ân khẳng định, “Giá của chiếc giường với tôi không phải là cao. Trung Quốc mua được thì người Việt Nam cũng mua được. Tôi tìm cách đặt mua không phải để ngủ mà để thế giới biết rằng Việt Nam cũng có nhiều đại gia lắm tiền.”
Không dừng lại ở đó, đại gia Lê Ân còn cho tạc ba bức tượng của ba người vợ từng phụ bạc, ôm tài sản của ông ra đi trong khuôn viên Làng du lịch Chí Linh, Vũng Tàu.
Đã đành anh có tiền, miễn là đồng tiền lương thiện, anh chơi gì chẳng được nhưng trong khi ai cũng biết dân và nước VN còn nghèo, trong khi xã hội đều được khuyến cáo phải tiết kiệm thì những hành vi khoe khoang này trở nên xa xỉ, chướng mắt và lố bịch. Trước khi kể đến vài hiện tượng mang tính cách quốc gia nổi lên trong thời gian gần nhất, tôi kể vài kiểu chơi ngông của đại gia Việt khiến đại gia thế giới có lẽ cũng phải “chào thua” trước đại gia Việt.

Đặt trước mua quan tài $463,000

Quan tài có nhiều loại và tương đương với nó là “đẳng cấp” cùng với số tiền phải chi trả cũng khác nhau. Quan tài hạng bình thường thì không có gì phải nói và đầy rẫy. Hạng quan tài dành cho người trung lưu thì có khác hơn một chút. Còn các loại quan tài dành cho tầng lớp thượng lưu, quan chức, đại gia thì có sự khác biệt hoàn toàn. Một người am hiểu vấn đề này cho biết, với những người này, người ta sẽ đặt quan tài từ khi vẫn còn khoẻ mạnh, hoặc khi mới ngã bệnh, chứ ít khi qua đời rồi con cái mới chạy đi mua. Vì có sự chuẩn bị từ trước nên họ rất kỹ trong việc chọn lựa từ kiểu dáng, mẫu mã, vật liệu… Họ thường thuê hẳn một người thiết kế riêng, sau đó mới đưa bản vẽ đến để cửa hàng đóng.
Thường thì họ sẽ chọn gỗ Pơmu hoặc gỗ Sưa, hai loại gỗ này khá đắt tiền nhưng đúng là chất lượng tuyệt hảo. Muốn có một cỗ quan tài bằng gỗ này sẽ phải đặt trước ít nhất 3 tháng để gom nguyên liệu. Giá của nó thì thực sự là xứng tầm đại gia, ít nhất cũng phải $400,000 đến $600,000 USD/cỗ.
Đã từng có đại gia ở Hải Phòng lên tận Hà Nội đặt quan tài gỗ sưa, tiền không phải là vấn đề. Sau đó lại yêu cầu chạm khắc rồng phượng đủ thứ, dát vàng 18k, tổng chi phí rơi vào khoảng… 10 tỉ đồng ($463,000).

Kỳ công chọn nhà ướp xác và mộ phần khi còn sống

Ở Sơn Lâm, Lương Sơn, Hòa Bình, hầu như ai cũng biết đến biệt danh ‘Đức gấu.’ Ông Đức nổi tiếng không chỉ vì nuôi gấu mà còn tự mình xây dựng một trang trại, trong đó có khu lăng mộ chờ ướp xác mình. Hầm mộ ướp xác được ông Đức khởi công từ năm 2000, hoàn thiện năm 2006. Công trình nhằm hướng Tây Bắc, số bậc thang dẫn lên hầm mộ được các pháp sư tính toán cẩn thận. Ba pháp sư cao tay (hai người Việt Nam, một người Trung Quốc) cùng chọn hướng hầm mộ là Tây Bắc.
Trên quả đồi rộng trồng nhiều cây bách diệp và cây gỗ lát, phần nổi của hai hầm mộ là khối bê tông kiên cố, dài 12m, rộng 7.5m, chiều cao tính từ nền đất trang trại là 25m.
Trên bề mặt đặt thêm tấm bê tông lớn mô phỏng hình một bàn cờ tướng, bàn cờ này mới được làm thêm năm 2007. Vị trí đặt xác ông Đức được ông thiết kế sâu 18m và nằm sâu trong ngóc ngách lòng núi
Để tự ướp xác mình, ông Đức phải nghiên cứu đủ các loại tài liệu Việt Nam, nước ngoài. Những chuyến chu du hàng tháng trời tới Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc tốn hàng chục ngàn đôla để vào các bảo tàng, đến tận những trung tâm nghiên cứu ướp xác người để học hỏi kinh nghiệm.
Ông Đức cũng không ngại hao tốn công sức đi tìm các dụng cụ, nguyên vật liệu phục vụ cho việc ướp xác tốt nhất. Ông vào tận núi Bà Đen, Tây Ninh – nơi tìm thấy xác người còn nguyên vẹn để tìm hiểu địa chất, địa hình nơi đây, tìm mua tinh dầu Cổ Am, tinh dầu Gù Hương để tẩm xác.
Ông cũng tới Ninh Thuận rất nhiều lần để đặt mua than trai – một loại than rất hiếm đốt từ thân cây trai, một loài cây chỉ mọc ở Ninh Thuận, trồng cả chục năm nhưng thân cây chỉ bằng cổ chân.
Bột gạo nếp rắc lên thi thể, áo quan làm từ gỗ quý, tinh dầu ướp xác… đến nay tất cả đã được ông Đức chuẩn bị đầy đủ đặt tại lòng hầm mộ.

Chơi toàn thú dữ

Thời đại này chó Tây, chim hiếm, cá cảnh độc không còn là những con vật quý hiếm nữa. Giờ đây những vị mang thương hiệu đại gia thực thụ phải đi liền với nuôi… thú dữ. Vì thế, các đại gia cũng không ngần ngại trong việc tậu cho mình vài ba con trăn khổng lồ, rắn cực độc, gấu, hổ hay cá sấu cho “vui cửa vui nhà.”
Quan điểm của họ là mua được những con thú lạ, thú độc, càng đứng đầu danh sách đỏ càng tốt, vì thế, thú chơi này cũng được phân tầng bậc. Thường thường thì “chơi” đà điểu, heo rừng, hươu, sóc, khỉ… Còn thời thượng, tay chơi hơn thì trong bộ sưu tập phải có gấu, có hổ, báo, hay sư tử, tê giác, trăn, rắn độc… trong vườn nhà. Để củng cố thứ bậc và thể hiện đẳng cấp của mình, các đại gia sẵn sàng chi tài chính cho các chuyến săn hàng tận Lào, Campuchia, Ấn Độ hay sang tận cả các nước châu Phi. Số tiền bỏ ra không dưới hàng trăm tỉ.

Đại gia dùng 140 cây vàng dát nhà vệ sinh

Nghiện dát vàng từ thang máy tới căn nhà, ông Đường “bia” tên thật là Nguyễn Hữu Đường, Tổng giám đốc Công ty Hòa Bình (Hà Nội) đã bỏ ra 140 cây vàng để dát vàng cho cả toilet. Từ giá treo khăn, tới vòi hoa sen, vòi rửa thậm chí là cả hộp đựng giấy vệ sinh của phòng tắm được mạ vàng, khiến cho căn nhà trở nên độc và xa xỉ bậc nhất Việt Nam.

Đến kiểu chơi sang của nhà nước

Giữa tháng 3-2015, nhiều cư dân mạng chia sẻ hai tấm ảnh mang tính tương phản cao: Một chụp tượng đài Bà Mẹ Việt Nam anh hùng vừa hoàn thành ở Quảng Nam với chi phí 411 tỉ đồng ($19 triệu Mỹ kim), một chụp một bà mẹ anh hùng khốn khó trong đời thực. Hình ảnh này khiến dư luận dậy sóng. Rõ ràng công luận có lý do để phẫn nộ bởi nếu dùng khoản tiền khổng lồ ấy để giúp đỡ những bà mẹ anh hùng đang sống trong cảnh khốn khó sẽ có ý nghĩa và hiệu quả hơn nhiều. Và ngay cả những bà mẹ VN không cần phải là anh hùng nhưng gặp hoàn cảnh vô cùng khó khăn cũng cần được giúp đỡ. Họ cũng là người mẹ VN. Chẳng thiếu gì những cành đời đau thương của các bà mẹ VN.
Thí dụ như hoàn cảnh của bà Lê Thị Kỷ 74 tuổi ở xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh hàng ngày người mẹ già khốn khổ phải đi lên rừng đốn củi, nhổ rau má về bán kiếm tiền nuôi đứa con tâm thần. Hôm nào mệt không đi được, không có tiền mua con mắm, bó rau là đứa con tâm thần không chịu ăn, đập phá, đá đổ nồi cơm. Một sợi xích dài được buộc vào chân người đàn ông đó, đầu kia thắt vào cột nhà, mỗi khi anh ta cất bước dậy đi là sợi xích căng lên, khiến anh đau điếng, la hét. Bà Kỷ chỉ còn ôm mặt khóc.
Hoàn cảnh như thế có đáng được cứu giúp không? Xây đài 411 tỉ đồng to nhất Đông Nam Á để làm gì? Mới khánh thành được vài ngày, nền gạch tượng đài Mẹ Việt Nam vỡ vụn. Rồi qua thời gian dãi nắng dầm mưa, pho tượng lại phải được trùng tu, sửa chữa, ngốn thêm bao nhiêu tiền của nữa? Đúng là kiểu khoe mẽ để các quan tự sướng với nhau thôi.

Tháp truyền hình VN sẽ cao nhất thế giới

Cùng thời điểm, báo chí cũng đưa tin về việc khởi công xây dựng tượng Phật Thích Ca cao nhất thế giới (cao 81 m) khắc vào vách núi Sam tại thành phố Châu Đốc (tỉnh An Giang), ngoài ra là tháp truyền hình Việt Nam phá kỷ lục thế giới (cao 636 m) tại Hà Nội, thậm chí còn cao hơn cả tháp Tokyo Sky Tree của Nhật.
Có thể vẫn có những người tự hào về hai kỷ lục sắp thành hiện thực đó nhưng nếu suy nghĩ kỹ, bạn sẽ thấy việc xây một biểu tượng Phật giáo bề thế đi ngược lại triết lý nhà Phật về việc hạn chế khoa trương, trong lúc tư duy xây tháp truyền hình bây giờ đã trở nên lạc hậu. Đang là thời truyền hình vệ tinh và tích hợp các dịch vụ truyền thông ứng dụng công nghệ cao, chẳng có quốc gia nào xây tháp truyền hình cao ngất như trước. Ngay cả các tháp truyền hình nổi tiếng như tháp Eiffel, tháp Tokyo, tháp Seoul hiện nay chỉ để khai thác làm điểm cho khách du lịch quan sát trên cao.
Đúng là một hội chứng “phát cuồng với những cái khổng lồ.” Theo một thống kê chưa đầy đủ, hội chứng phát cuồng với những cái khổng lồ được gọi chung là gigantomania rất được ưa thích ở Liên Xô thời Stalin, ở Đức thời phát xít và ở Bắc Hàn hiện nay và bây giờ thêm “ông Việt Nam” nữa!

Văn Quang

(3-4-2015)

Ðại Tá Lê Bá Hùng cùng 2 chiến hạm Mỹ thăm Ðà Nẵng

Ðại Tá Lê Bá Hùng cùng 2 chiến hạm Mỹ thăm Ðà Nẵng

Nguoi-viet.com

ÐÀ NẴNG (NV)Hai chiến hạm USS Fitzgerald và USS Fort Worth của Hải Quân Hoa Kỳ cập cảng Tiên Sa, thăm thành phố Ðà Nẵng, dưới sự chỉ huy của đại tá người Mỹ gốc Việt Lê Bá Hùng, gây chú ý dư luận Việt Nam.


Ðại Tá Lê Bá Hùng (phải) nhận hoa của Hải Quân CSVN. (Hình: GDVN)

Báo điện tử Giáo Dục Việt Nam đưa tin, ngày 6 tháng 4, hai tàu của Hải Quân Hoa Kỳ là khu trục hạm có tên lửa dẫn đường USS Fitzgerald (DDG 62) và chiến hạm USS Fort Worth (LCS 3) thuộc Liên Ðội Tàu Khu Trục (DESRON) cập cảng Tiên Sa, chính thức thăm thành phố Ðà Nẵng trong 5 ngày.

Báo này dẫn lời Ðại Tá Lê Bá Hùng, chương trình kéo dài trong 5 ngày, tập trung vào một loạt các sự kiện và các hoạt động trao đổi kỹ năng về quân y, tìm kiếm và cứu nạn, an ninh hàng hải, các hội thảo về luật biển, các buổi hòa nhạc, các hoạt động phục vụ cộng đồng và các hoạt động thể thao.

Ðặc biệt, hoạt động hợp tác trên biển sẽ có các hoạt động như tàu hải quân của hai nước thực hành Bộ Quy tắc Ứng xử cho những cuộc chạm trán ngoài ý muốn trên biển (CUES), các kỹ thuật tìm kiếm và cứu nạn, và cách điều khiển tàu.

Tin cho biết, chiều 7 tháng 4, trên hai chiến hạm USS Fitzgerald và USS Fort Worth, đại diện lực lượng hải quân hai nước đã có những hoạt động đầu tiên.

Ðây là các hoạt động nằm một loạt các hoạt động hợp tác thường niên lần thứ 6 giữa Hải Quân Hoa Kỳ và Việt Nam.

Trên khu trục hạm USS Fitzgerald, hải quân hai bên đã trao đổi trên sơ đồ một số thông tin liên quan đến bộ quy tắc ứng xử cho những cuộc chạm trán ngoài ý muốn trên biển, các kỹ thuật tìm kiếm và cứu nạn, và cách điều khiển tàu.

Cùng lúc trên chiến hạm USS Fort Worth, hải quân hai nước đã có cuộc trao đổi về việc điều hành các máy bay trực thăng có người lái cũng như không người lái.


Lãnh đạo thành phố Ðà Nẵng và Hải Quân Việt Nam đón tiếp thủy thủ đoàn của Hoa Kỳ do Ðại Tá Lê Bá Hùng dẫn đầu ngày 6 tháng 4, tại cảng Ðà Nẵng. (Hình: báo Ðà Nẵng)

Các sĩ quan phi công thuộc Lữ Ðoàn Không Quân-Hải Quân 954 CSVN cũng đã lên buồng lái máy bay trực thăng SeaHawk để xem và trao đổi kinh nghiệm.

Bà Rena Bitter, tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, cho biết, hoạt động của lực lượng hải quân 2 nước lần này là một trong những hoạt động quan trọng đánh dấu kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Theo bà Rena Bitter, đánh giá của chính phủ Hoa Kỳ về tiến trình bình thường hóa giữa 2 nước Mỹ-Việt nhanh nhất so với bất kỳ quốc gia nào.

Ðây cũng là hoạt động hợp tác hải quân thường niên lần thứ 6 (NEA) giữa hải quân hai nước, nhân kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ (1995-2015).

*Lần thứ 2 trở lại quê nhà sau 6 năm

Ðiều gây chú ý dư luận tại Việt Nam chính là sĩ quan cao cấp phụ trách hai chiến hạm này là Ðại Tá Lê Bá Hùng, một người Mỹ gốc Việt, phó tư lệnh biên đội tàu khu trục số 7 của DESRON.

Cách đây 6 năm, khi còn là trung tá, hạm trưởng khu trục hạm USS Lassen, ông Lê Bá Hùng đã có chuyến trở về đầu tiên kể từ khi ông cùng gia đình di tản khỏi miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng 4, 1975.


Một phi công chuyên lái máy bay săn ngầm tàu tác chiến gần bờ thế hệ mới USS Fort Worth trao đổi kinh nghiệm với các phi công của Lữ Ðoàn Không Quân-Hải Quân 954 Việt Nam tại cảng Tiên Sa (Hình: Tuổi Trẻ)

Ðại Tá Hùng quê Thừa Thiên-Huế. Ông tốt nghiệp hạng ưu tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ năm 1992 với bằng cử nhân về kinh tế, từng làm sĩ quan chỉ huy trên nhiều chiến hạm, khu trục lớn của Hải Quân Hoa Kỳ, giành được nhiều giải thưởng về “Hoạt động tác chiến hiệu quả” (năm 2009); giải thưởng “Ðơn vị Hải Quân nổi bật” (năm 2010)…

Ðại Tá Hùng từng phục vụ tại Hạm Ðội 2, Bộ Tư Lệnh Liên Quân Hoa Kỳ, từng là trợ lý điều hành cho hai tư lệnh thuộc Hạm Ðội 7; phụ tá quân sự cho bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ…

Thân phụ của Ðại Tá Lê Bá Hùng là Hải Quân Trung Tá VNCH Lê Bá Thông, người mà ông Hùng coi là tấm gương để ông noi theo.

Sáu năm trước, trong lần trở về đầu tiên, trả lời phỏng vấn của báo Người Việt, ông Lê Bá Hùng nói rằng: “Tôi rất lấy làm tự hào là một công dân Hoa Kỳ và cũng tự hào về nguồn gốc Việt Nam của tôi. Là một trung tá của Hải Quân Hoa Kỳ, tôi có được đặc ân và vinh dự phục vụ tổ quốc mình cũng như cha tôi đã thực hiện điều đó khi ông là một hải quân trung tá của miền Nam Việt Nam.”

Ông nói thêm: “Ảnh hưởng của cha tôi đến việc tôi trở thành một sĩ quan hải quân khá sâu sắc. Cho dù cha tôi chưa bao giờ buộc tôi chọn nghiệp hải quân, nhưng bản thân cha tôi, một tấm gương cần cù, sự nhẫn nại và đức hy sinh – cả khi còn là một sĩ quan hải quân miền Nam Việt Nam lẫn khi là một thường dân Mỹ đi làm để chăm lo cho gia đình mình – là một điều to lớn. Tôi muốn nối gót cha mình trở thành một sĩ quan hải quân là vậy.” (Tr.N.)

Giật mình kế hoạch cắt tỉa cây xanh $2.7 triệu của Hà Nội

Giật mình kế hoạch cắt tỉa cây xanh $2.7 triệu của Hà Nội

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Để moi tiền thuế của dân đút túi riêng, nhà cầm quyền CSVN đã vẽ ra kinh phí cắt tỉa cây xanh tại thành phố Hà Nội lên đến 35 tỷ đồng hay khoảng $2.7 triệu đô la.

Để tìm cách ăn tiền thuế của dân, chính quyền Hà Nội lập kế hoạch cắt tỉa cây xanh hàng chục tỷ đồng. (Hình: báo Lao Động)

Theo truyền thông Việt Nam, kế hoạch cải tạo hệ thống cây xanh đô thị giai đoạn 2014-2016, nhà cầm quyền thành phố Hà Nội chi khoảng 55 tỷ đồng cho việc cắt tỉa và thay thế cây không đúng chủng loại cây đô thị. Trong đó, chỉ riêng việc cắt sửa, khống chế chiều cao của cây xà cừ đã hết khoảng 30 tỷ đồng.

Kế hoạch đầu tư phát triển cây xanh, công viên, vườn hoa, hồ nước tại thành phố Hà Nội được đưa ra từ năm 2013, nêu cụ thể chương trình cắt tỉa, cải tạo, thay thế hệ thống cây xanh đô thị giai đoạn 2014-2016.

Theo tờ Lao Động, thời điểm đó, nhà cầm quyền thanh phố Hà Nội dự kiến tổng kinh phí chi cho việc cắt tỉa cây trên các tuyến phố là 35 tỷ đồng. Theo kế hoạch này, đơn vị chuyên môn sẽ cắt sửa nhẹ tán, cân tán, khống chế chiều cao đối với xà cừ, muồng và các cây cao nguy hiểm trong mùa mưa bão trên các tuyến phố cho 10,854 cây.

Số xà cừ nằm trong kế hoạch trên là 5,306 cây, muồng có 5,548 cây. Kinh phí dành riêng cho việc cắt tỉa xà cừ vào khoảng 30 tỷ đồng, cắt tỉa cây cao nguy hiểm khác khoảng 5 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, còn có kinh phí khoảng 9 tỷ đồng chi cho việc thay thế cây xanh không đúng chủng loại cây đô thị trên 9 quận nội thành trong 2 năm từ 2014-2016, với khoảng 2,208 cây tại các tuyến phố như Ba Đình, Đống Đa, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng, Hoàn kiếm, Thanh Xuân…Và 1,3 tỷ đồng để đánh mã số 44,225 cây xanh trên toàn thành phố để làm cơ sở xây dựng phần mềm quản lý hệ thống cây xanh đô thị.

Ngoài ra, nhà cầm quyền thành phố Hà Nội còn có kế hoạch chi 25 tỷ đồng để bổ sung xe cộ, máy móc phục vụ chặt hạ, duy trì cây xanh. Trong đó phương tiện được đầu tư bổ sung gồm 2 xe cẩu Huyndai 10 tấn, 2 xe cẩu tự hành 5 tấn, 4 xe nâng đưa người làm việc trên cao. (Tr.N)

Việt Nam liệu đã có độc lập, tự do?

Việt Nam liệu đã có độc lập, tự do?

Văn Báu Gửi tới BBC từ Tp HCM

Chuyến đi của ông Trọng sang Trung Quốc diễn ra trước chuyến đi theo dự kiến của ông sang Hoa Kỳ.

Nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc, tôi băn khoăn Việt Nam đã thực sự độc lập, tự do hay chưa.

Ngày 30/4/1975, nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, dân tộc Việt Nam được hưởng một nền độc lập tự do hoàn toàn. Đã thắng Pháp – đệ tứ cường quốc, thắng Mỹ – cường quốc số một thế giới rồi thì còn phải sợ ai nữa?

Nhầm to! Thắng do chúng ta trực tiếp chiến đấu, nhưng không có vũ khí đạn dược, xe tăng, máy bay, tên lửa… thì đánh bằng gì? Việt Nam có tự sản xuất được những thứ ấy không? Không có viện trợ từ Trung Quốc, Liên Xô, không dựa vào họ, chúng ta không thắng được Mỹ!

Chính vì thế mà Trung Quốc chẳng ngán gì cái tay vừa đánh bại được nước giàu nhất thế giới ấy mà sẵn sàng “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Láng giềng phương Bắc sau đó đã chủ động rút quân sau khi gây tổn thất nặng nề cho Việt Nam, lẽ ra Việt Nam nên lấy đó làm bài học thực sự mới phải. Phải hiểu rằng với sức của mình hiện tại, người ta muốn đánh lúc nào thì đánh, chả ai cứu được.

Đàn anh Liên Xô khi đó cũng có kịp làm gì đâu. Đến năm 1988 ở đảo Gạc Ma cũng vậy.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hiện đang thăm Trung Quốc, gọi là thăm nhưng thực ra là bị gọi sang một cách vội vã trước khi Việt Nam thăm Mỹ. Nó giống việc con cái phải hỏi ý kiến cha mẹ trước khi đi chơi với bạn vậy.

Nếu đã trưởng thành, có độc lập tự do thật sự thì không anh nào còn làm cái việc trẻ con ấy cả. Hóa ra Việt Nam mang tiếng là độc lập tự do (tính từ thời điểm năm 1975 thì cũng đã được 40 tuổi rồi đấy) nhưng làm gì cũng phải xin phép.

Kể cả Trung Quốc có mời sang, nhưng thời gian quá gấp cho một chuyến đi lớn như thế thì hoàn toàn có thể dời lại. Nếu đã quyết “đi chơi” với Mỹ thì cứ đi, nếu đã kiên quyết kiểu gì cũng phải thay đổi quan hệ với Mỹ thì “láng giềng thân thiết” có nói gì cũng mặc, đi về rồi tính.

Sang Trung Quốc bây giờ người ta sẽ lại ngon ngọt, vỗ về, hứa hẹn, liệu lúc đi về quyết tâm còn được bao nhiêu? Hay lại giống anh Chí Phèo định đến rạch mặt ăn vạ nhà Bá Kiến nhưng bị tay cáo già mời vào giết gà đãi rượu thấy xuôi tai rồi lại chịu làm tay sai suốt đời cho tên gian ác đó?

Không có hy vọng?

Việt Nam và Hoa Kỳ đang có những cải thiện lớn trong quan hệ song phương.

Nhưng phải nói thật rằng kể cả có đi Mỹ trước, hiệu quả cũng không cao. Vì các lý do dễ thấy:

Thứ nhất: Mức độ Mỹ giúp đỡ chỉ tương ứng với mức độ Việt Nam cải cách. Nếu Việt Nam chỉ cải cách nửa vời hoặc hình thức thì các “gói cứu trợ” sẽ không đủ tác dụng. Việt Nam mà chưa thành đồng minh của Mỹ, nếu Việt Nam và Trung Quốc có xung đột Mỹ cũng không lấy làm buồn vì cộng sản anh em còn đánh nhau thì trách ai được nữa.

Nếu Việt Nam muốn Mỹ can thiệp mạnh, thì sự can thiệp ấy có thể sẽ đi quá mức, tức là có thể mất chế độ. Điều này lãnh đạo Việt Nam không cho phép xảy ra.

Lý do thứ hai: Đặt một khả năng viễn tưởng: Việt Nam thay đổi chế độ để làm đồng minh của Mỹ. Có Mỹ bảo trợ thì chắc chắn là hơn rồi. Nhưng cứ nhìn vào Đài Loan – đồng minh thực sự, đã bị Mỹ đẩy ra khỏi Liên Hợp Quốc sau chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Nixon đến Trung Quốc năm 1972 (chuyến thăm mà Việt Nam cũng bị ảnh hưởng) thì biết.

Trung Quốc dẫu sao cũng là nước lớn, và các nước quan hệ với nhau luôn phải đặt lợi ích lên trên hết. Khi cần thì những quân cờ nhỏ như quân tốt đều có thể hy sinh, đều có thể lấy ra để đánh đổi, để mặc cả.

Liệu Mỹ có thể mang quân hỗ trợ Việt Nam nếu có xung đột với Trung Quốc? E rằng là không. Nhưng nếu là Nhật Bản và Hàn Quốc thì có thể đấy, vì đây là 2 nước lớn và giàu có thuộc hàng nhất thế giới.

Ngoại giao cần phải khôn khéo, nhưng ngoại giao cũng chỉ hạn chế trên cái sức mạnh của quốc gia đó mà thôi. Mình có lớn mạnh thì tiếng nói của mình mới có trọng lượng, người ta mới nể mình.

Mới đây có ai đó nhắc lại tư tưởng độc lập của nhà yêu nước Phan Châu Trinh mà nhiều người thấy đúng quá:

“Việt Nam phải phát triển kinh tế và giáo dục để tự lực tự cường, hội nhập vào thế giới văn minh rồi mưu cầu độc lập chứ không cầu viện ngoại bang dùng bạo lực giành độc lập.

Chỉ như vậy mới bảo đảm Việt Nam sẽ có một nền độc lập chân chính, lâu bền về chính trị lẫn kinh tế trong quan hệ với ngoại bang cũng như nhân dân sẽ được hưởng độc lập và tự do cá nhân trong quan hệ với nhà nước.”

Còn cứ nghèo, cứ lạc hậu thì mãi chỉ là quân tốt trên bàn cờ của các nước lớn mà thôi. Như đã nói ở trên: Có được tự do không dễ. Nghèo thì lấy đâu ra tự do. Luôn phải dựa vào người khác thì lấy đâu ra độc lập. Tại sao một nước nhỏ xíu như Singapore vẫn có vị trí đáng nể trên trường quốc tế với sức mạnh quân sự mà không cường quốc nào dám coi thường?

Tóm lại, hai khả năng để Việt Nam không sợ Trung Quốc: Thay đổi chế độ làm đồng minh với Mỹ và Phát triển thành cường quốc kinh tế đều là những khả năng xa vời.

Ngoại giao của Đảng Cộng sản cuối cùng cũng chỉ để kéo dài sự sống của chế độ và làm chậm lại quá trình gặm nhấm Biển Đông của Trung Quốc mà thôi. Nước Việt Nam rồi sẽ đi về đâu?

‘ Điều Việt Nam cần làm ngay bây giờ’

‘ Điều Việt Nam cần làm ngay bây giờ’

Giáo sư Tương Lai

“Việt Nam không thể đảm nhiệm vai trò địa chính trị quan trọng của mình cho tới khi kinh tế phát triển đầy đủ và cải cách chính trị mạnh mẽ hơn,” theo Giáo sư Tương Lai

Việt Nam cần phải tham gia vào Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP), một kế hoạch thương mại toàn diện được hỗ trợ bởi Mỹ. Hiệp định sẽ cho phép nền kinh tế Việt Nam có thể hội nhập hoàn toàn với thế giới hiện đại; và điều này sẽ đi cùng với viễn cảnh dân chủ hóa tốt hơn tại Việt Nam.

Quan trọng không kém, TPP, bao gồm 12 quốc gia Thái Bình Dương trừ Trung Quốc, sẽ điều chỉnh lại các mối quan hệ địa chính trị giữa các thành viên trong khu vực và giúp ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông – một đóng góp quan trọng cho chiến lược tái cân bằng của Mỹ đối với Châu Á.

Việt Nam có 3.500km đường bờ biển đối diện Biển Đông, một vùng biển mang tính trọng yếu đối với thương mại quốc tế. Gần 1/3 lượng dầu thô trên thế giới và trên một nửa lượng khí gas đã di chuyển qua đây trong năm 2013. Tuyến đường này cũng là con đường ngắn nhất từ phía tây Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương, một chặng đường thiết yếu của hải quân nhiều nước, kể cả Mỹ.

Những điều cần khắc phục

Nhưng Việt Nam không thể đảm nhiệm vai trò địa chính trị quan trọng của mình cho tới khi kinh tế phát triển đầy đủ và cải cách chính trị mạnh mẽ hơn. Và việc đáp ứng các yêu cầu của TPP – công đoàn tự do, giảm vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, tăng cường tính minh bạch – sẽ giúp Việt Nam đi theo con đường đó.

Sau nhiều năm cô lập về mặt kinh tế, Việt Nam đã có những bước tiến ấn tượng sau năm 1986, khi bắt đầu mở cửa với thế giới bên ngoài. Việt Nam đã đạt được một trong những tỷ lệ tăng trưởng GDP cao của thế giới trong giai đoạn 1990 – 2010.

Việt Nam tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007, và từ đó đã ký nhiều hiệp định thương mại quan trọng. Việt Nam đã từng là quốc gia xuất khẩu gạo và cà phê lớn thứ 2 trên thế giới trong năm 2013. Năm ngoái, Việt Nam là nước ASEAN xuất khẩu hàng đầu vào Mỹ tính bằng giá trị USD, vượt trên Malaysia và Thái Lan.

Nhưng đây chỉ là giai đoạn 1 của quá trình phát triển, dựa rất nhiều vào xuất khẩu nguyên vật liệu, các ngành công nghiệp dùng nhiều lao động và ít giá trị gia tăng. Việt Nam hiện tại đang đối mặt với nguy cơ vướng vào bẫy thu nhập trung bình. Tỷ lệ tăng trưởng GDP đã chậm lại khá đáng kể trong những năm gần đây.

Việt Nam đang đứng cuối trong số các ứng cử viên gia nhập TPP về mặt phát triển kinh tế, với GDP bình quân đầu người vào khoảng 1.910 USD, so với khoảng 6.660 USD của Peru, một quốc gia xếp hạn áp chót.

TPP cung cấp một lộ trình cho giai đoạn 2 của sự phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam. Như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu vào tháng 2 năm nay, trích dẫn hiệp định này và các thỏa thuận thương mại khác, “Các hiệp định này đòi hỏi chúng ta phải cởi mở hơn. Do đó thị trường của chúng ta cần phải trở nên năng động và hiệu quả hơn”.

Ví dụ, TPP đồng nghĩa với một sự giảm thiểu đáng kể thuế nhập khẩu áp dụng cho hàng may mặc của Việt Nam vào các thành viên TPP khác, điều này sẽ tăng cường tính cạnh tranh của các sản phẩm đó so với những mặt hàng tương tự từ Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Thái Lan. Nhưng Quy tắc Xuất xứ của TPP cũng đòi hỏi nguyên liệu sử dụng trong thành phẩm xuất khẩu cần phải được sản xuất tại địa phương.

Quy định này sẽ buộc Việt Nam phải phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và mở rộng cơ sở sản xuất của mình – cùng lúc giúp Việt Nam bớt lệ thuộc vào Trung Quốc hơn, trong bối cảnh Trung Quốc hiện đang cung cấp phần nhiều nguyên vật liệu dùng trong ngành dệt may Việt Nam.

Hiện nay ở Việt Nam các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn đang áp đảo trong các lĩnh vực chính của nền kinh tế – như ngân hàng thương mại, sản xuất năng lượng và vận tải – sử dụng đòn bẩy tài chính rất cao, nạn tham nhũng đầy rẫy.

TPP cũng yêu cầu những thành viên của mình chấp nhận công đoàn lao động tự do, quyền sở hữu trí tuệ và minh bạch trong pháp luật, trong quy định và thực thi. Có lẽ điểm nổi bật nhất đối với Việt Nam là kỳ vọng của các quốc gia TPP sẽ không có các đối xử đặc biệt đối với doanh nghiệp nhà nước, nếu không nó sẽ tạo ra những biến dạng trong thương mại. Điều này có nghĩa là cần giảm thiểu một cách đáng kể vai trò của các công ty thuộc loại này tại Việt Nam.

Hiện nay ở Việt Nam các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn đang áp đảo trong các lĩnh vực chính của nền kinh tế – như ngân hàng thương mại, sản xuất năng lượng và vận tải – sử dụng đòn bẩy tài chính rất cao, nạn tham nhũng đầy rẫy.

Việc hạn chế ảnh hưởng của các doanh nghiệp này sẽ gây nên các cuộc đối đầu trực diện với một số cán bộ cao cấp có quyền lợi tài chính và bám chặt vào “ý thức hệ” để duy trì quyền lực gắn với lợi ích. Một bộ phận không nhỏ trong thế lực ấy hiện nay vẫn cố trì kéo việc chuyển đổi, nhằm đeo đuổi tình hình tồi tệ này, một phần cũng bởi vì bộ máy hành chính hoạt động kém hiệu quả.

Điều này có nghĩa là hiện nay Việt Nam đang còn, tuy không nhiều, những trở ngại gia nhập TPP.

Chẳng hạn như, nhà nước đã đồng ý cho phép công đoàn lao động độc lập tại xí nghiệp. Chính phủ gần đây cũng nỗ lực tuân theo các quy chuẩn quốc tế về nhân quyền mà trước đây họ vẫn lẩn tránh, trả tự do cho một vài nhà hoạt động xã hội nổi bật và hạn chế bắt giữ những người bất đồng quan điểm. Chính phủ cũng đang thực thi quyền sở hữu trí tuệ, với việc lực lượng công an thực thi khám xét những cơ sở hoạt động vi phạm luật bản quyền.

‘Lực cản từ Trung Quốc’

Nếu nói đến lực cản Việt Nam gia nhập TPP thì duy nhất chính là sự phá rối từ phía Trung Quốc và những người hậu thuẫn cho mưu toan đó.

Giới lãnh đạo Việt Nam đang có nhiều chuyến công du quốc tế nổi bật

Bắc Kinh đang cố chống lại chiến lược tái cân bằng của Washington đối với Châu Á – chính sách được gọi là trọng tâm của Chính phủ Obama – bằng cách thúc đẩy khu vực thương mại tự do của họ, quảng bá Giấc mơ Châu Á – Thái Bình Dương, mở ra một ngân hàng đầu tư khu vực và rót hàng tỷ đô vào các dự án cơ sở hạ tầng to lớn.

Trung Quốc cũng đang đặt rất nhiều áp lực lên các nhà lãnh đạo Việt Nam để Việt Nam không gia nhập TPP, cũng như họ đã từng làm trước khi Việt Nam ký Hiệp định WTO và hiệp định thương mại song phương với Mỹ.

Một ví dụ nổi bật là khi các thông tin với độ tin cậy ngày càng cao gần đây về chuyến đi của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thăm Mỹ vào tháng 6 thì Bắc Kinh cũng bất ngờ mời Tổng Bí thư sang Trung Quốc tham dự cuộc họp cấp cao trong tuần này.

Chính vì vậy, với nhiều lý do về kinh tế, chính trị và chiến lược, Việt Nam không thể không gia nhập TPP.

Nhưng để làm được điều đó sẽ đòi hỏi nhiều thay đổi khó khăn về chuyển đổi cơ cấu về nhiều mặt trong đố nội, và sự chống trả với sức ép từ phía Trung Quốc đang ngày một dữ dội. Việt Nam cần, và xứng đáng nhận được tất cả sự hỗ trợ có thể từ phía Mỹ. Phải có một nỗ lực phối hợp nhất quán để đẩy lùi tham vọng bành trướng ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực.

Bản tiếng Anh của bài viết này đã đăng trên báo Mỹ New York Times hôm 6.4.2015.

Một thời gian bị đánh mất trong lịch sử

Một thời gian bị đánh mất trong lịch sử

Lê Diễn Đức

Trong sự tồn tại của một dân tộc, có những giai đoạn lịch sử vinh quang, nhưng cũng có giai đoạn tăm tối, không tương xứng với tầm vóc và sự phát triển của dân tộc. Giai đoạn tăm tối ấy có thể xem là thời gian bị đánh mất.

Nước Cộng hoà Ba Lan có một truyền thống dân chủ lâu đời. Bản Hiến pháp được thông qua vào ngày 3 tháng 5 năm 1791, là bản Hiến pháp hiện đại đầu tiên ở châu Âu và thứ hai trên thế giới (sau Hiến pháp năm 1787 của Mỹ).

Quốc hội Ba Lan thông qua Hiến pháp ngày 3 tháng 5 năm 1791 – Ảnh tư liệu

Ba Lan giành lại độc lập năm 1918, sau Thế chiến thứ nhất, với tư cách nền Cộng hoà Ba Lan II.

Ngày 1 tháng 9 năm 1939 phát xít Đức tấn công Ba lan, mở màn cho Chiến tranh Thế giới II. Chính phủ Ba Lan buộc phải rời khỏi Ba Lan và thành lập Chính phủ lưu vong có trụ sở ở London trong những năm 1939-1990, là sự tiếp nối hợp pháp của nền Cộng hoà II.

Chiến tranh Thế giới II kết thúc, thoát khỏi ách đô hộ của phát xít Đức thì Ba Lan lại bị gạt qua sự áp bức khác không kém phần khắc nghiệt: đất nước bị áp đặt sự cai trị của một nhà nước Cộng sản độc tài toàn trị, được gọi là “Cộng hoà Nhân dân Ba Lan”, từ năm 1945 đến 1989.

Chế độ cộng sản sụp đổ vào năm 1989. Sau cuộc bầu cử tổng thống tự do với thắng lợi thuộc về Lech Walesa, nhà chức trách của Cộng hòa Ba Lan lưu vong kết thúc nhiệm vụ và Tổng thống lưu vong R. Kaczorowski đã chuyển giao quốc hiệu cho Tổng thống dân cử Lech Walesa.

Tổng thống Cộng hoà Ba Lan lưu vong R. Kaczorowski trao quốc hiệu cho Tổng thống Lech Walesa – Ảnh: PAP

Nhà nước Ba Lan dân chủ ra đời và về mặt chinh thức, được gọi là nền Cộng hoà Ba lan III.

Như vậy thời gian từ 1945 đến 1989, nhà nước “Cộng hoà Nhân dân Ba Lan” đã không được ghi vào sự kế tục của Nhà nước Cộng hoà. Một thời gian 44 năm bị đánh mất trong lịch sử của dân tộc Ba Lan!

Nước Việt Nam kém may mắn hơn!

Ngày 17 tháng 4 năm 1945 Chính phủ của “Đế quốc Việt Nam” đứng đầu là Trần Trọng Kim được thành lập và được vua Bảo Đại phê chuẩn. Đây là nội các đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và thống nhất trên danh nghĩa và ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4.

Mặc dù đây là thể chế do Nhật dựng lên, không có thực quyền, nhưng có thể là một cơ hội cho Việt Nam chuẩn bị đầy đủ khả năng nhận lãnh hay đòi hỏi độc lập hoàn toàn khi thế chiến thứ II kết thúc, giống như nhiều nước châu Á khác.

Tuy nhiên, Đế Quốc Việt Nam chỉ tồn tại trong 5 tháng, từ tháng 3 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945 cho tới khi bị Đảng Cộng sản Việt Nam bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 xoá bỏ.

Cuộc kháng chiến chống Pháp đưa đến việc ký kết hiệp định Geneve và từ năm 1954 Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền cai trị trên miền Bắc, còn ở miền Nam một chính thể Cộng hoà ra đời. Mặc dù đây là một chính quyền thân Mỹ nhưng nó đảm bảo những yếu tố cơ bản của một nhà nước Cộng hoà.

Ở một khía cạnh nào đó có thể xem nền Cộng hoà ở miền Nam là sự kế tục nền Cộng hoà “Đế quốc Việt Nam” của Thủ tứơng Trần Trọng Kim.

Quốc kỳ cho Việt Nam Cộng hoà được sử dụng khá tương đồng với quốc kỳ của Đế quốc Việt Nam, nền vàng ba sọc đỏ.

Quốc kỳ của “Đế quốc Việt Nam” năm 1945 – Ảnh: Wikipedia

Theo Hiệp định Paris năm 1973, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam và cắt viện trợ quân sự khiến Việt Nam Cộng hoà phải đương đầu với cuộc đánh chiếm miền Nam bằng bạo lực của Bắc Việt và cả khối cộng sản.

Tháng 4 năm 1975, Bắc Việt chiến thắng. Đảng Cộng sản Việt Nam thống trị trên cả nước. Nền Cộng hoà non trẻ của Việt Nam tại miền Nam chấm dứt.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực hiện tập thể hoá nông nghiệp, di dân đi kinh tế mới, cải tạo công thương, ngăn sống cấm chợ, áp dụng chế độ phân phối lương thực trên cả nước, bắt giam giữ cải tạo hàng trăm ngàn quân cán chính của Việt Nam Cộng hoà và phân biệt đối xử tàn bạo với gia đình và con em họ… Chủ trương và chính sách khắc nghiệt này đã khiến cả triệu người phải dứt bỏ quê hương, đối diện với cái chết, ra đi tìm tự do ở xứ sở khác.

Khó chính xác để nói có bao nhiêu người đã bỏ mình trên biển. Có nguồn dẫn con số 200 ngàn nhưng một số nguồn khác ước tính 500 ngàn – 600 ngàn người chết ngoài biển. Năm 1981 hội Chữ thập đỏ quốc tế ước đoán phân nửa số người vượt biển chết dưới tay hải tặc.

Một cộng đồng người Việt hải ngoại được tạo nên, ngày mỗi lớn mạnh và có ảnh hưởng tại các nước bản xứ. Sự căm thù và bất hợp tác với nhà nước cộng sản của cộng đồng này xuất phát từ những mất mát nêu trên.

Nhà nước Cộng sản đã áp đặt một bộ máy công an trị trên cả nước, dùng bạo lực để đàn áp mọi tư tưởng phản kháng, tước đoạt các quyền cơ bản của con người mà trước hết là quyền bầu cử tự do, tự do ngôn luận, tự do lập hội…

Có thể nói không cường điệu rằng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã biến cả nước thành một nhà tù khổng lồ, nơi mà an ninh theo dõi kiểm soát, chi phối từng hoạt động của mỗi người. Chỉ sự ngoan ngoãn, tuân phục mới có thể mang lại yên lành. Một chế độ bất nhân và vong bản, chỉ đáp ứng ít nhiều về vật chất nhưng hoàn toàn giam hãm tư tưởng của con người trong một của học thuyết ngoại lai, không tưởng: học thuyết Mác-Lenin.

Chẳng biết khi nào chế độ Cộng sản ở Việt Nam mới sụp đổ, nhưng là một chế độ đi ngược với xu thế của nhân loại tiến bộ, chắc chắn sẽ bị xoá sổ. Đã hình thành những tiếng nói phản kháng, đã có sự thức tỉnh của nhiều đảng viên trong guồng máy và sự chán nản của dân chúng đối với nhà nước cộng sản.

Nếu giống như Ba Lan, khi chế độ cộng sản được thay thế bằng một nhà nước Cộng hoà dân cử. Lúc ấy nhìn lại lịch sử chúng ta có thể kết luận rằng, thời gian cầm quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam là thời gian bị đánh mất. Một thời gian bi thảm, chứa chất đầu thù hận, chia rẽ và đau thương của người Việt.

© Lê Diễn Đức

Dân sinh và Dân quyền

Dân sinh và Dân quyền

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-04-06

04062015-welfare-n-right-people.mp3

Mới khánh thành nhưng công trình tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng hơn 400 tỷ đồng gạch nền dưới chân tượng đài bị bong tróc, bể nát

Mới khánh thành nhưng công trình tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng hơn 400 tỷ đồng gạch nền dưới chân tượng đài bị bong tróc, bể nát

Hoituthienquangnam.com

Your browser does not support the audio element.

Những điều bệ rạc và nhà lãnh đạo

Một dự án vĩ đại dù có bị phản đối nhưng cuối cùng cũng hoàn thành, đó là tượng đài Bà mẹ Việt nam được khánh thành tại tỉnh Quảng nam trong tuần qua. Ngay sau lễ khánh thành, sân lát đá trước tượng đài đã bị hư hại. Nhưng đó không phải là điều quan trọng mà blogger Tưởng Năng Tiến nhìn thấy qua tượng đài đồ sộ nhất Đông Nam Á này. Cái ông thấy là những người phụ nữ Việt Nam ủng hộ và hy sinh cho những người cộng sản ngày xưa nay được đền bù bằng các tượng đài và không có gì khác.

Lúc đói, mỗi người sẵn lòng giúp cho Nhà Nước hàng ngàn cân gạo; khi no, Đảng và Chính Phủ cũng không ngần ngại giúp lại cho nhân dân hàng ngàn tượng đài, nặng hàng ngàn tấn, với kinh phí hàng ngàn tỉ bạc chi từ tiền thuế của họ.

Nhưng tượng đài Bà mẹ Việt nam không phải là cái nhất duy nhất mà Việt nam thực hiện chỉ trong vòng một năm qua, người ta còn phải kể đến nào là cái bánh chưng lớn nhất, tô hủ tíu lớn nhất,… và trong tương lai còn có tháp truyền hình cao nhất thế giới nữa. Những cái nhất ấy, cộng với những nhiễu nhương khác như tranh giành đánh nhau trong lễ hội, xếp hàng hàng giờ đồng hồ để được ăn miễn phí, sự thờ ơ của dân chúng … được Viết từ Sài gòn gọi là những điều bệ rạc, và đặt câu hỏi là ai đã biến người dân Việt nam trở nên một trạng thái không phải là con người như thế?

Tác giả tìm kiếm nguyên nhân ở thời bao cấp, và kết luận rằng không thể đổ lỗi cho người dân, mà chính giới lãnh đạo phải chịu trách nhiệm vì đã đưa đất nước tới chỗ hỗn độn như ngày nay.

” Những nhà lãnh đạo Việt nam họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh. Chỉ có nguy cơ bị cộng đồng quốc tế ruồng bỏ mới khiến họ phải suy xét lại đường lối hiện tại

ông Lý Quang Diệu “

Liên quan đến trách nhiệm đó của nhà cầm quyền, và cũng nhân lúc một nhà lãnh đạo lịch sử người châu Á là ông Lý Quang Diệu bên Singapore qua đời, nhà văn Phạm Thị Hoài đăng lại bức thư của ông Lý gửi bà Thủ tướng Anh Margaret Thatcher cách đây mấy mươi năm về thảm trạng thuyền nhân Việt nam lúc ấy. Trong bức thư này ông Lý viết rằng:

Những nhà lãnh đạo Việt nam họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh. Chỉ có nguy cơ bị cộng đồng quốc tế ruồng bỏ mới khiến họ phải suy xét lại đường lối hiện tại.

Nội dung này lập tức được hàng chục trang FB và blog đăng lại.

Nhưng ông Lý cũng là nhân vật được nhiều nhà nước được xem là độc tài lấy làm gương. Người ta cho rằng có thể duy trì duy nhất một đảng như đảng Nhân dân hành động của ông Lý để đạt được phồn vinh của một đất nước.

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc viết rằng ông Lý là một nhà lãnh đạo giỏi vì đã tạo nên đất nước Singapore, nhưng lại là người thầy dở vì những học trò tự nguyện của ông là những nhà độc tài.

Và ở những đất nước độc tài đó người ta chưa thấy Singapore nào xuất hiện.

Nay, ngay tại chính đảo quốc sư tử người ta cũng tự hỏi là tương lai của đất nước này sẽ như thế nào! Nhân đám tang ông Lý, mọt cậu học trò Singapore chỉ trích ông và bị bắt giam! Nhà báo Huy Đức từ Việt nam trông sang và cảnh báo rằng người dân Singapore còn phải làm rất nhiều việc để sửa đổi nó nếu muốn thành phố 5 triệu dân này mang gương mặt của họ thay vì chỉ mang gương mặt của chỉ một gia đình, một “cha già”.

Dân sinh và dân quyền

Trở lại tiêu đề những điều bệ rạc mà chúng tôi mượn ý của blogger Viêt từ Sài gòn, thì ngẫm cho cùng nó cũng xảy ra trong thời gian khá dài, điều đáng nói trong tuần qua là những sự kiện liên quan đến môi trường và dân sinh.

Hàng nghìn công nhân Công ty Pouyen Việt Nam (TP HCM) đã xuống đường tuần hành phản đối quy định bảo hiểm mới trong 5 ngày qua. 31/3/2015

Hàng nghìn công nhân Công ty Pouyen Việt Nam (TP HCM) đã xuống đường tuần hành phản đối quy định bảo hiểm mới trong 5 ngày qua. 31/3/2015

Thoạt đầu là cuộc biểu tình chống chặt hạ cây xanh tại Hà nội, rồi đến việc ngăn lấp sông Đồng Nai bị tạm ngừng, và mới nhất là câu hỏi về dự án Bauxite Tây Nguyên lỗ hay lời, có hại môi trường hay không, lại trở lại làm sôi động báo chí.

Đã có một sự phản kháng xảy ra trong xã hội Việt nam đòi môi trường sống tốt hơn, hoặc với hình thức phản kháng trực tiếp là cuộc biểu tình vì cây xanh ở Hà nội, hay thông qua báo chí, dù vẫn còn bị nhà nước kiểm soát.

Và hơn 100 ngàn công nhân tại các khu công nghiệp ở Sài Gòn, Long An, Tiền Giang đình công chống luật bảo hiểm xã hội. Các blogger nói rằng cuộc đình công này của công nhân khác những cuộc đình công của họ chống giới chủ, lần này chống lại một chính sách của nhà nước.

” Qua hai sự kiện trên, (biểu tình chống chặt cây xanh và chống luật bảo hiểm xã hội) chúng ta có thể thấy rằng người dân đã cam chịu, đã nhẫn nhục quá lâu, nhưng cuối cùng thì họ cũng đã thức tỉnh. Đất dưới chân của những kẻ độc tài đã bắt đầu rung chuyển

Trang Bauxite Việt nam”

Blogger Cánh Cò viết rằng đã có một áp lực lớn hơn từ phía người dân để giành lại quyền của mình.

Nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự  thì nói rằng đó là sự chuyển mình từ cam chịu sang phản kháng

Trang Bauxite Việt nam viết:

Qua hai sự kiện trên, (biểu tình chống chặt cây xanh và chống luật bảo hiểm xã hội) chúng ta có thể thấy rằng người dân đã cam chịu, đã nhẫn nhục quá lâu, nhưng cuối cùng thì họ cũng đã thức tỉnh. Đất dưới chân của những kẻ độc tài đã bắt đầu rung chuyển. Sẽ không có gì là bất thường nếu một ngày đẹp trời nào đó, không phải 90.000 mà 100.000, 200.000… con dân đất Việt xuống đường đòi xóa bỏ điều 79, 88 và 258 của Bộ luật hình sự nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Người ta nhớ lại rằng chính trang Bauxite Việt nam là nơi khởi nguồn của cuộc đấu tranh chống dự án Bauxite Tây nguyên cách đây hơn 6 năm của các nhân sĩ trí thức Việt nam. Và người ta thấy trong những ngày đầu tháng tư này các nhà khoa học vẫn không mệt mỏi cất lên tiếng nói phản biện về sông Đồng Nai, về dự án tinh lọc quạng nhôm trên đất Tây nguyên, nơi được dự báo sẽ là Sông khô hồ cạn, nếu các chính sách phát triển kinh tế cứ tiếp tục được thực hiện một cách độc đoán xem thường nhận thức và kiến thức của xã hội.

Nhân những cuộc biểu tình đòi dân sinh trong tuần qua, một blogger đồng thời cũng là một nhà tranh đấu cho nhân quyền nổi tiếng là cô Phạm Thanh Nghiên ở Hải phòng được một bạn đọc cật vấn là tại sao cô không hoạt động như những người đòi cây xanh ở Hà nội hay đòi bảo hiểm ở Sài gòn, tức là những điều mà người dân quan tâm, mà lại mơ những chuyện lớn lao là nhân quyền quá to tác. Cô Phạm Thanh Nghiên trả lời:

Nhưng bên cạnh, có những điều người dân không quan tâm. Chính vì không quan tâm cho nên chúng ta phải sống mà không có quyền. Và vì không có đầy đủ quyền nên mới nảy sinh những vấn nạn về Dân Sinh. Cho nên mới có mặt trận Nhân Quyền. Đó là một mối quan hệ hệ quả mang tính tất yếu song nhiều người vẫn ngộ nhận là có thể tách bạch được.

Khôn ngoan, Bối rối, và E ngại!

Trong những diễn từ giải quyết vụ cây xanh ở Hà nội, bài phát biểu của ông Bí thư Thành ủy Hà nội Phạm Quang Nghị được blogger Người Buôn Gió đánh gia là khôn ngoan đầy bản lĩnh nhất.

Người Buôn Gió phân tích rằng ông Nghị đã làm cho người ta nghĩ rằng chuyện chặt cây xanh là chuyện nóng vội, do đó nó trở thành không quan trọng nữa.

Rồi cuối cùng ông Nghị cũng cho rằng cuộc biểu tình bảo vệ cây xanh cũng bị kích động và xúi giục từ bên ngoài.

Người Buôn Gió kết luận rằng:

Nói thật thì hiếm có vị lãnh đạo nào trong BCT đủ bản lĩnh đứng ra để lèo lái sự việc đổ vỡ thành không có gì như ông đã làm.

Nhưng không phải phản ứng nào của cơ quan tuyên truyền của đảng cộng sản lại được đánh giá là khôn ngoan như ông Nghị. Tờ Petro Times lại bị giới blogger nói là đã bối rối khi không biết đưa tin như thế nào về vụ biểu tình bảo vệ cây xanh. Và cũng không phải blogger nào cũng nói là ông Nghị khôn ngoan khi ông nói rằng ông không lường được người dân. Câu nói này lại làm cho nhiều người lo lắng cho cái ghế của ông Nghị và tương lai chính trị của ông vì rằng tại sao ông làm lãnh đạo mà lại không lường được dân? Sự lo lắng này càng tăng thêm khi người ta đặt câu hỏi là tại sao báo chí Việt nam lại được tự do đưa tin về biểu tình đến thế, một điều vốn là điều cấm kỵ trong thể chế cộng sản? Người ta nghi có một âm mưu gì đó nhằm tấn công vào ông Bí thư thành ủy.

” Nhưng bên cạnh, có những điều người dân không quan tâm. Chính vì không quan tâm cho nên chúng ta phải sống mà không có quyền. Và vì không có đầy đủ quyền nên mới nảy sinh những vấn nạn về Dân Sinh. Cho nên mới có mặt trận Nhân Quyền

Cô Phạm Thanh Nghiên”

Một tin vui được các blogger đấu tranh cho nhân quyền đón nhận trong tuần qua là việc Việt nam đang từng bước thực hiện Công ước chống tra tấn mà mình đã cam kết.

Blogger, nhạc sĩ Tuấn Khanh cho biết rằng có hy vọng là quyền lực của giới công an sẽ bị giảm với những điều luật về giam giữ sẽ ra đời trong thời gian tới.

Nhưng Tuấn Khanh đón nhận tin đó với sự cẩn trọng, ông viết rằng một lực cản đầy âm mưu vẫn hậu thuẫn cho bóng tối, vì rằng vẫn có sự e ngại từ một thể chế đặt mọi thứ trên nền tảng bạo lực.

Như để minh họa cho sự cẩn trọng đó của Tuấn Khanh, Luật sư Võ An Đôn viết về vụ án lạm dụng bạo lực của công an mà ông sắp thụ lý, rằng đó là một cuộc chiến không cân sức!

Mọi thứ không dừng lại ở đó

Viết về bản báo cáo của Tập đoàn than khoáng sản Việt nam được đưa ra để biện minh cho hiệu quả kinh tế của dự án Bauxite Tây Nguyên, nhà khoa học Tô Văn Trường mượn hai câu thơ của thi hào La Fontaine

Người hiền triết kẻ cuồng điên,

Mơ trong khi thức là tiên trên đời

Một biện minh dành cho một dự án lớn hơn, vĩ đại hơn, dự án cộng sản độc đảng tại Việt nam trong mấy mươi năm qua cũng đã và đang được đưa ra.

Nhân cái chết của ông Lý Quang Diệu, người ta nhắc lại câu hỏi của ông rằng Mục tiêu tối hậu của nền chính trị là gì? Ông trả lời rằng đó là cuộc sống của người dân có được cải thiện hay không! Trong một lần trao đổi với chúng tôi về mô hình độc đảng hay đa đảng, một cựu quan chức Việt nam cũng nói rằng hệ thống chính trị nào thì cũng phải nhắm đến việc giàu mạnh của dân chúng.

Theo Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, nếu như thế thì dường như nền chính trị Việt nam đã thất bại, vì dường như mục tiêu của nền chính trị này chỉ nhằm vào việc duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của đảng cộng sản mà thôi.

Nhưng có blogger lại nói rằng việc tranh cãi nhau về dự án Bauxite trên báo chí chính thống, hay là việc báo chí công khai sự bối rối của giới lãnh đạo thủ đô Hà nội trong việc chặt cây xanh, hay tin về việc cả trăm ngàn công nhân đình công… . đã là một điều đáng hy vọng.

Còn Blogger nhạc sĩ Tuấn Khanh thì viết Hãy tin rằng mọi thứ không dừng lại ở đó.

Phóng sự ‘chìm trong khói shisha’ gây tranh cãi ở Việt Nam

Phóng sự ‘chìm trong khói shisha’ gây tranh cãi ở Việt Nam

Báo chí trong nước dẫn lời các học sinh trong nước cho biết, các phóng viên của VTC đã “gọi một bình shisha lên bảo đó là ‘đạo cụ’ để bọn em hút và quay”.

Báo chí trong nước dẫn lời các học sinh trong nước cho biết, các phóng viên của VTC đã “gọi một bình shisha lên bảo đó là ‘đạo cụ’ để bọn em hút và quay”.

05.04.2015

Một phóng sự về việc các học sinh mặc đồng phục ở Hà Nội hút shisha gây ra nhiều phản ứng của dư luận tới mức chính quyền phải vào cuộc và một đài truyền hình phải lên tiếng xin lỗi.

Ban biên tập Đài truyền hình kỹ thuật số VTC14 hôm 4/4 đã gửi lời xin lỗi tới các học sinh cũng như gia đình các em “về những tác động không mong muốn”, sau khi các em tham gia một phóng sự có tên gọi “Khi áo trắng học sinh chìm trong khói trắng shisha”.

Đài này cũng thông báo “tạm đình chỉ sản xuất của cả nhóm tác nghiệp chương trình nói trên để xem xét xử lý theo quy định”.

Trước đó, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã yêu cầu hai trường trung học có học sinh xuất hiện trong phóng sự “làm rõ vụ việc”, và cho biết “sẽ báo cáo sự việc” lên chính quyền TP Hà Nội”.

Báo chí trong nước dẫn lời các học sinh trong nước cho biết, các phóng viên của VTC đã “nói nội dung trước cho bọn em, đưa ra những câu hỏi và gợi ý trả lời liên quan đến hút shisha” và “gọi một bình shisha lên bảo đó là ‘đạo cụ’ để bọn em hút và quay”.

Sau khi phóng sự lên sóng, nhiều tờ báo đã đặt những cái tít như: “Học sinh Hà Nội hút shisha”: Thật hay dàn dựng?” hay “Vụ phóng sự học sinh hút shisha: Có dấu hiệu vi phạm luật báo chí”.

Trong lời xin lỗi, VTC14 nói: “Khi áo trắng học trò chìm trong khói trắng shisha” không phải là một phóng sự điều tra ghi lại hình ảnh bắt gặp các học sinh đang hút shisha một cách tự nhiên, không phải là một phóng sự dàn dựng để nói về một cá nhân cụ thể hay đề cập về một vấn đề có tính chất tệ nạn”.

Đài truyền hình này nói thêm: “Đây chỉ là một chương trình mang tính chất cảnh báo, có sự tham gia cộng tác và trả lời của các học sinh khi biết được thông tin về chương trình”.

Truyền thông trong nước thời gian qua đăng tải nhiều bài viết về tình trạng học sinh đổ xô đi hút shisha, mà nhiều người gọi là “thuốc lào Ảrập”, gây quan ngại trong các bậc phụ huynh. Shisha hiện không phải là mặt hàng bị cấm ở Việt Nam.

Theo Tuổi Trẻ, Dân Trí

Quảng Nam: Dân bị ‘chôn sống’ vì phản đối thu hồi đất

Quảng Nam: Dân bị ‘chôn sống’ vì phản đối thu hồi đất

Nguoi-viet.com

QUẢNG NAM 5-4 (NV) .- Ông Nguyễn Thạnh, 56 tuổi, ngụ tại xã Bình Phục, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đang được cấp cứu tại Bệnh viện Thăng Hoa, sau khi bị chôn sống vì phản đối thu hồi đất.

Hình chụp ông Nguyễn Thạnh sau khi bị chôn sống. (Hình: VnExpress)

Theo báo chí Việt Nam, sáng 4 tháng 4-2015, khi xe vận tải chở đất đá đến đổ xuống công trường mở rộng quốc lộ 1, đoạn chạy ngang xã Bình Phục, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, ông Thạnh và một số người khác đã đổ ra ngăn chặn vì chính quyền chưa thực hiện các cam kết khi thu hồi đất của họ để mở rộng quốc lộ 1.

Khi ông Thạnh nằm xuống hiện trường để ngăn cản việc san lấp, tài xế của một trong những xe vận tải chở đất đá đã trút toàn bộ đất đá trong thùng xe xuống người ông Thạnh rồi bỏ xe đi mất. Hàng xóm phải xúm vào bới đống đất đá đã vùi kín ông Thạnh để cứu ông. Khoảng 15 phút sau, họ mới moi được ông Thạnh ra…

Chiếc xe tải trút đất đá chôn sống ông Thạnh thuộc Công ty Xây dựng công trình 545, vốn là doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 – một trong những doanh nghiệp của Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam, nay có thêm hai cổ đông là ông Thân Đức Khánh và ông Phan Minh Ánh.

Sau vụ trút đất đá chôn sống ông Thạnh, chiếc  xe vận tải vừa kể đã bị dân chúng xã Bình Phục đâm nát các bánh xe.

Bà Huỳnh Thị Thảo, vợ ông Thạnh, cho biết, sau khi chính quyền địa phương loan báo sẽ thu hồi đất để mở rộng quốc lộ 1, vợ chồng bà đã yêu cầu chính quyền địa phương phải điều chỉnh những giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất mà trước nay, chính quyền địa phương lần lữa không cấp. Chính quyền địa phương hứa sẽ đáp ứng nhưng nay chưa thực hiện.

Mặt khác, vợ chồng bà Thảo còn yêu cầu phải giúp san lấp ao cá nằm bên cạnh nhà để bù vào phần đất bị mất cho việc mở rộng quốc lộ 1, chính quyền địa phương cũng hứa sẽ đáp ứng và cho biết nhà thầu sẽ thực hiện nhưng nhà thầu không làm.

Sáng 4 tháng 4-2015, cán bộ xã Bình Phục đến nhà thuyết phục vợ chồng bà Thảo để nhà thầu đổ đất, mở quốc lộ 1 và hứa sẽ sớm thực hiện cả hai yêu cầu của vợ chồng bà nhưng sau khi cán bộ xã Bình Phục vừa ra khỏi nhà thì có hàng chục người xông vào đòi vợ chồng bà Thảo trả lại 65 triệu tiền bồi thường việc lấy đất mở đường.

Trong khi nhóm người này chửi bới, dọa hành hung thì xe vận tải chở đất đá đổ đến hiện trường. Ông Thạnh lao ra khỏi nhà để ngăn cản, sau đó bị chôn sống. Còn trong nhà, bà Thảo bị nhóm người lạ mặt bóp cổ, đánh vào mặt…

Bởi có nhiều người làm chứng về việc một nhóm người lạ mặt, hành xử như du đãng xông vào nhà vợ chồng bà Thảo hăm dọa vợ chồng bà rồi hành hung bà, chưa kể còn một người lạ mặt khác ra lệnh cho tài xế chiếc xe vận tải mang biển kiểm soát số 92K 9850 trút đất đá chôn sống ông Thạnh, nên viên thượng tá, Trưởng Công an huyện Thăng Bình, hứa sẽ điều tra.

Năm 2013, chế độ Hà Nội bắt đầu thực hiện kế hoạch mở rộng 1,510 cây số quốc lộ 1 và đường Hồ Chí Minh qua khu vực Tây Nguyên. Kế hoạch này ảnh hưởng tới dân chúng của 22 tỉnh. Có rất nhiều gia đình mất toàn bộ nhà, đất phải chuyển vào sống trong các khu tái định cư. Nhiều gia đình mất một phần nhà, đất. Việc giải tỏa nhà, thu hồi đất bị phản đối kịch liệt và đó cũng là lý do, đến nay, một số đoạn quốc lộ 1 chạy qua hai tỉnh Phú Yên và Bình Định vẫn chưa hoàn tất việc mở rộng.

Việc mở rộng 40 cây số quốc lộ 1 chạy qua tỉnh Quảng Nam được tiến hành từ tháng 3 năm 2013. Dự kiến hoàn tất trong 24 tháng nhưng đến nay vẫn còn dang dở. Khi hoàn tất, Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 – phía dùng 1,600 tỉ để đầu tư, có quyền tổ chức thu phí từ xe cộ chạy qua đoạn quốc lộ 1 này trong 23 năm. (G.Đ.)

Việt Nam còn ăn xin đến bao giờ?

Việt Nam còn ăn xin đến bao giờ?

Nguyễn Văn Tuấn

Chuyện lãnh đạo nước mình đi ăn xin dài dài không đợi bác Nguyễn Văn Tuấn nói, thằng Tàu nó đã vạch mặt chỉ tên từ lâu.

Còn nhớ, ngày trước cứ mở đài Bắc Kinh ra là nghe Tàu nó réo chửi mình: “Việt Nam là tên ăn mày quốc tế vô liêm sỉ”.

Ngẫm kỹ ra thì từ khi cách mạng về, kể đã mấy chục năm, Đảng mình, các lãnh tụ nước mình có hai cái tài đặc biệt, xưa nay hiếm: Một là tài đi ăn xin, hai là tài … sống lâu. Kìa, xem bác Phạm Văn Đồng, bác Đỗ Mười, bác Lê Đức Anh… đều sống ngót nghét cả trăm tuổi. Ít hơn một chút thì có bác Phiêu U 90 rồi mà vẫn lặn lội suốt từ Nam chí Bắc, hễ đâu có chuyện hiếu hỉ là có bác. Rồi bác Nông Đức Mạnh U 80 mà răng vẫn chắc, môi vẫn đỏ, còn phong độ hơn cả vận động viên thể hình. Có lẽ bác này phải thọ đến 200 tuổi chứ chẳng chơi. Các bác đày tớ cứ phong độ như thế suốt cả thế kỷ trong lúc đám 90 triệu ông chủ cứ thi nhau lăn đùng ra chết, hết chết vì tai nạn giao thông lại đến chết vì ung thư, tiểu đường, ho lao. Bệnh viện người nằm đè lên người như xếp cá trong nồi. Ô hay, các bác cứ sống lâu như vậy còn dân thì tranh nhau chết như vậy rồi ra còn ai cho các bác lãnh đạo? Còn ai để đi trên con đường mang tên Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu…

Trở lại với chuyện Việt Nam ăn xin. Nhục thì nhục rồi, nhưng nước mình không phải là ngoại lệ. Hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đều là những kẻ ăn xin có hạng, ăn xin lẫn nhau và ăn xin các nước ngoài hệ thống XHCN, nghĩa là ăn xin các nước tư bản. Hồi còn Liên Xô, họ đã phải nuôi báo cô hàng loạt nước XHCN vệ tinh. Điển hình nhất là Cu Ba. Rồi Bắc Triều Tiên cũng sống nhờ vào bầu sữa Trung Quốc. Khi thiếu đói quá, họ phải buôn lậu vũ khí và thuốc phiện để tồn tại qua ngày.

Không ăn xin sao được khi mà năng suất lao động thấp nhất khu vực, tham nhũng cao nhất khu vực? Không ăn xin sao được khi mà số cán bộ của một xã ở Thanh Hóa (500 người), xấp xỉ một cơ quan quản lý của khối EU trông coi mấy trăm triệu công dân EU ? Không ăn xin sao được khi mà chỉ một cái Văn phòng trung ương Đảng đã có tới gần 3000 nhân sự và chi tiêu mỗi năm hàng trăm triệu USD ?

Bauxite Việt Nam

Thật ra, đó là câu hỏi của người đại diện JICA (Quĩ Hợp tác Quốc tế của Nhật) dành cho phía Việt Nam trong cuộc họp báo hai ngày trước ở VN (1). Điều vui vui là phóng viên đặt câu hỏi rằng Quốc hội VN về tài trợ của Nhật có ràng buộc (như phải thông qua hay dùng nhà thầu Nhật), ông đại diện nói rất thẳng là “Tôi nghĩ đến câu chuyện Việt Nam lúc nào không cần ODA nữa. Đến nay Việt Nam đã nhận ODA 20 năm. Bao giờ Việt Nam không cần cần nữa? 10 năm hay 20 năm nữa?” Có thể hiểu câu đó một cách nôm na là: các anh còn ăn xin đến chừng nào nữa, 10 năm hay 20 năm? Đã ăn xin mà còn cao giọng đòi hỏi! Phải nói rằng đó là một lời bình rất thật, hơi trịch thượng, và có thể làm cho người có tự trọng cảm thấy rất nhục.

Ông đại diện JICA không chỉ mắng là ăn xin đến khi nào, mà còn gõ đầu cảnh cáo về tình trạng tham nhũng hối lộ. Ông nói thẳng thừng: “Nếu có vụ tham nhũng nữa, Nhật sẽ ngưng viện trợ ODA cho VN“. Bất quá tam. Thú thật, đọc câu đó thoạt đầu tôi cứ tưởng là chuyện “Cá Tháng Tư”, chứ có ngờ đâu là tin thật. Cảm giác đầu tiên dĩ nhiên là thấy nhục nhã, bởi vì để cho một nước khác nói thẳng như thế, nói trong tư thế của kẻ bề trên. Nhưng nghĩ lại thì thấy cũng … đáng. Quen thói “ăn không chừa thứ gì” (lời của một quan chức cao cấp) thì cũng phải đến ngày bị người ngoài mắng cho một trận nên thân. Chỉ tội đa số người dân Việt phải hứng chịu sự khinh bỉ của người khác.

Tại sao người Nhật họ có thể nói thẳng như thế? Câu trả lời là vì họ là người chủ nợ lớn nhất của Việt Nam. Trong quá khứ và cho đến nay, Nhật đã tài trợ cho VN rất nhiều. Một bài báo năm ngoái cho biết trong thời gian 20 năm qua, Nhật đã hỗ trợ cho VN 20 tỉ USD (2), và con số vẫn còn tăng. Chỉ riêng năm 2014 Nhật đã tài trợ cho VN gần 2 tỉ USD, có lẽ là nguồn tài trợ lớn nhất cho VN (?). Có lẽ chính vì thế mà Nhật có tư cách cảnh báo VN như cha cảnh báo con: cứ tối ngày phung phí thì coi chừng, nghe chưa con! Thật ra, nói là tài trợ, nhưng thực tế là vay, và thế hệ con cháu phải trả số tiền vay này trong tương lai.

Nhưng VN không chỉ nhận từ Nhật, mà còn từ một nguồn quan trọng khác là Ngân hàng Thế giới (WB). Tôi thử tra số liệu của WB thì thấy tiền vay ODA từ WB qua các thời gian như sau:

1995-1999: 2.94 tỉ USD
2000-2004: 3.59 tỉ USD
2005-2009: 4.11 tỉ USD

Số tiền này rất lớn so với các nước khác. Thật ra, các nước như Phi Luật Tân và Nam Dương thì họ giảm vay ODA (riêng Thái Lan và Mã Lai thì không thấy vay ODA nữa, chắc là họ đã “ok”). Số liệu của Nam Dương:

1995-1999: 1.39 tỉ USD
2000-2004: 419 triệu USD
2005-2009: 67 triệu USD

và Phi Luật Tân:

1995-1999: 531 triệu USD
2000-2004: không vay
2005-2009: 5.14 triệu USD

Ngay cả Lào cũng có xu hướng giảm vay ODA. Năm 1995-1999, Lào vay 414 triệu USD, đến năm 2005-2009 thì còn 409 triệu USD. Còn Kampuchea thì chỉ vay khoảng 700 đến 800 triệu USD mỗi 5 năm, và không thấy tăng.

Tất cả những con số trên cho thấy VN là nước vay rất nhiều từ WB, và xu hướng đang tăng (xem biểu đồ). Nếu dân số năm 2014 là khoảng 89.7 triệu, thì tính trung bình số tiền vay (5 năm) là 46 USD mỗi người dân. Có lẽ vì vay nhiều thế, nên có chuyên gia tính toán rằng hiện nay, mỗi người Việt nợ 900 USD (?).

Biểu đồ về số tiền vay ODA từ Ngân hàng Thế giới trong thời gian 1995-2009 của Việt Nam, Nam Dương, Lào, và Phi Luật Tân. Đơn vị là triệu USD.

VN vay nhiều nhưng “ăn” cũng nhiều. Nguồn tin từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) thì cho biết trong các nước mà WB tài trợ, thì VN là nước bị than phiền nhiều, đứng hàng thứ 2 (chỉ sau Ấn Độ). Người ta than phiền VN ăn hối lộ, ăn chận tài trợ của WB. Lĩnh vực bị than phiền nhiều là giao thông vận tải, viễn thông và công nghệ thông tin, và cấp nước (4). Đã ngửa tay ăn xin mà còn tham nhũng! Chính vì thế mà VN bị khinh bỉ trên trường quốc tế.

Thuỵ Điển đã cúp viện trợ. Vài nước khác cũng đang sắp cúp viện trợ cho VN. Cuối cùng thì có lẽ VN nhờ vào kiều hối, nhưng số này cũng sẽ giảm vì thế hệ thứ 2 người Việt ở nước ngoài sẽ không có gắn bó gì với VN, và họ sẽ chẳng gửi tiền về VN nữa.

Quay lại câu hỏi nhức nhối (ăn xin đến khi nào), nên nhớ rằng viên đại diện Nhật không phải là người đầu tiên nói như thế. Ông Lê Đăng Doanh, trong một buổi báo cáo cho Trung ương Đảng, đã nói thẳng, không màu mè (5):

Ngày 01 tháng 12 này cũng có một cái Hội nghị tài trợ. Tôi xin báo cáo rất chân thành với các anh là ra đấy chỉ khổ tâm thôi. Nhiều thằng nó nói với tôi là chúng mày định ngửa tay đi ăn xin đến bao giờ nữa? Chúng mày là người thông minh, có học, về mặt nào đấy chúng mày không kém gì chúng tao cả… Tại sao chúng mày cứ ăn xin miết thế. Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến như thế là thế nào? Chúng mày cứ đề ra cái mục tiêu là đến bao giờ chúng mày đừng có đi ăn xin nữa được không? Nó nói với tôi trắng trợn và thẳng lắm chứ, y nguyên như tôi nói với các anh chị.”

Ông nói thêm:

Nó bảo mày phải nghĩ đi, mà phải nghĩ cả phẩm giá, tư cách của mày đi xem mày là thế nào đi, lúc nào rồi dân tộc của mày sẽ như thế này sao? Trí tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin hoài thế? Ta cứ tưởng nó cho tiền mãi là vinh dự. Tôi thấy vinh dự vừa phải thôi, chứ trong thâm tâm tôi như muối xát vào ruột chứ không đơn giản đâu. Vì nó nói đến như thế. Thằng không nói thì trong thâm tâm nó cũng nghĩ thế cả, thằng bỗ bã thì nó nói toẹt vào mặt chứ không phải đơn giản đâu. Cho nên, có người nói với tôi là, vậy thì bây giờ mình có lãnh đạo ASEAN được không, tức ông phải trả lời trước hết ông lãnh đạo thì ông có tiền ông bao thằng khác không? Hai là ông có cái học thuyết gì để hướng dẫn cho người ta không? Thứ ba nữa là ông muốn lãnh đạo thì thằng Washington và thằng Bắc Kinh nó có tin ông không? Hai thằng ấy mà nó không tin ông nó cho ông mấy chưởng thì lúc bấy giờ, ông chưa lãnh đạo nó đã cho ông què cẳng rồi. Thì thôi, bây giờ coi như ông đừng lãnh đạo; chứ ông mà lên tiếng, ông mạnh mồn ra tiếng lãnh đạo, hò hét thì đừng là nó cho ông mấy chưởng ngay chứ không phải không đâu. Mà nó có nhiều võ hơn mình, nhiều tiền hơn mình, nhiều công cụ hơn mình”.

Hãy đọc và suy nghĩ! Ai làm cho đất nước này và con người Việt Nam nhục như thế, để cho thiên hạ mắng mình ngay trong đất nước mình và mắng trên mặt báo.

_____

(1) http://laodong.com.vn/kinh-te/nhat-ban-co-the-cham-dut-cho-viet-nam-vay-von-oda-neu-con-xay-ra-hoi-lo-311314.bld

(2) http://globalanticorruptionblog.com/2014/04/16/the-scandal-of-corruption-in-development-aid/

(3) http://data.worldbank.org/indicator/DT.ODA.ALLD.CD

(4) http://www.thanhniennews.com/business/vietnam-world-bank-projects-blighted-by-corruption-37838.html

(5) http://www.wright.edu/~tdung/LeDangDoanh_02_11_2004.htm

Nguồn: https://anhbasam.wordpress.com/2015/04/03/3689-viet-nam-con-an-xin-den-bao-gio/#more-146622

Khi Cây Búa Nổi Giận

Khi Cây Búa Nổi Giận

RFA

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Nói thật, phen này gay go đấy các bác ạ! Một đạo luật bất công và bất hợp lý bao giờ cũng phải đối diện với phong trào bất tuân dân sự của toàn xã hội. Những ngày êm ả nay còn đâu?

Lê Công Định

Tôi không có may mắn được quen biết nhà thơ Bùi Minh Quốc  lúc ông còn trẻ trung, và sung sức:

Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy

Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường.

Khi tôi được hân hạnh diện kiến người thơ thì thi sĩ của chúng ta đã già quá cỡ thợ mộc rồi, trông hom hem thấy rõ, và thơ thẩn (xem ra) cũng … yếu xìu hà:

Tuổi sáu mươi khi nghĩa đời đã thấy

Thì gian nan biết mấy cũng lên phường.

Lên là phải. Phường xã ở Việt Nam – cả nước này đều biết –  đâu phải chỉ là nơi chứng nhận giấy tờ hộ tịch (vớ vẩn) như bên xứ Lào, xứ Thái, xứ Miên hay xứ Miến … mà là chốn quan quyền. Dữ dằn thấy rõ!

Ngay cả đến ông Hồ Chí Minh mà nhận được lệnh triệu tập chưa chắc đã dám không đi, nói chi đến “cỡ” ông Bùi Minh Quốc. Không trình diện phường thì lôi thôi lắm, lôi thôi lâu, và (không chừng) dám lôi thôi lớn.

Đôi khi, khỏi cần phải lên tới phường cũng vẫn bị rắc rối như thường – theo tin báo Người Lao Động:

“Tối 26-3, trong lúc ông Dũng cùng nhân viên đang bán hàng, một số cán bộ phường 1 đến tịch thu tấm biển quảng cáo của quán nhưng không hề có văn bản, không có ý kiến từ cơ quan chức năng có thẩm quyền. Lý do là do tấm biển có nội dung phản cảm và nhảm nhí…

‘Tôi cố giải thích rằng đó là bảng quảng cáo với nội quy mang tính hài hước để thu hút thực khách. Không chỉ để giải trí, thư giãn mà còn nhắc nhở mọi người giữ vệ sinh chung. Tôi thấy hết sức vô lý khi họ không đưa ra lý do chính đáng nhưng vẫn lao vào gỡ bỏ rồi tịch thu tấm biển. Họ còn nói sẽ mời tôi lên phường làm việc nhưng đến chiều nay (27-3) vẫn chưa thấy phản hồi hay đưa ra lý do cụ thể’ – ông Dũng nói.”

Ảnh: Người Lao Động

Sáu ngày sau, ngày 1 tháng 4 năm 2015, sau khi có phản ứng  của dư luận, tấm biển quảng cáo đã được hoàn lại cho khổ chủ – báo Người Lao Động cho biết tiếp:

“Tiếp xúc với báo báo chí, đại diện phường 1 cho biết việc tịch thu bảng hiệu ở quán Bún Bò Gân không phải là ý kiến của UBND hay công an phường mà do lực lượng kiểm tra trật tự lòng lề đường đã vội vàng xử lý khi chưa có chỉ đạo từ trên. Phường 1 cũng sẽ họp kiểm điểm những cá nhân đã trực tiếp tịch thu bảng hiệu ở quán Bún Bò Gân.”

Ồ thì ra đây “không phải là ý kiến của UBND hay công an phường mà do lực lượng kiểm tra trật tự lòng lề đường đã vội vàng xử lý khi chưa có chỉ đạo từ trên.” Cũng “ vội vàng” và “chưa có chỉ đạo” y như vụ chặt (đại) đám cây xanh ở Hà Nội vậy, theo tường thuật của báo Pháp Luật:

“Việc thực hiện thay thế đồng loạt hàng trăm cây xanh, trong đó rất nhiều cây cổ thụ đang tươi tốt, đã vấp phải phản ứng của người dân, cũng như các nhà khoa học, chuyên gia bảo tồn trên cả nước.

Ngày 20-3, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã yêu cầu dừng việc chặt hạ cây xanh tại Hà Nội. Ngày 22-3, Chủ tịch UBND TP Hà Nội tiếp tục yêu cầu thanh tra toàn diện việc thay thế cây xanh, đồng thời tạm đình chỉ công tác một số cán bộ liên quan trực tiếp đến vụ việc kể trên…

Ngày 31-3, Bí thư Thành ủy TP Hà Nội Phạm Quang Nghị nhìn nhận việc triển khai chặt cây xanh, thay thế cây xanh đã làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của Thủ đô. ‘Chúng ta phải tự phê bình, tự kiểm điểm, khẩn trương khắc phục sai sót, sự nóng vội giản đơn trong việc cải tạo thay thế cây xanh.’ –  ông Nghị nói.”

Cũng trong này 31 tháng 3 năm 1975, công nhân Công ty TNHH Pou Yuen nhận được thư  của ông Đặng Ngọc Tùng (Ủy Viên Trung Ương Đảng, Chủ Tịch TLĐLĐVN) với lời lẽ hết sức mềm mỏng, tử tế và … phục thiện:

Anh chị em đoàn viên và công nhân lao động thân mến,

Trong những ngày vừa qua, một số công nhân lao động tại Công ty TNHH Pou Yuen Việt Nam (quận Bình Tân, TP HCM) đã ngừng việc tập thể để thể hiện quan điểm không đồng tình với điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 về trợ cấp bảo hiểm xã hội 1 lần…

Trên cơ sở những nguyện vọng chính đáng của công nhân lao động, Tổng LĐLĐ Việt Nam đã có báo cáo và kiến nghị với Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Thủ tướng Chính phủ đồng ý giải quyết thỏa đáng quyền lợi của người lao động: Từ nay đến hết ngày 31-12, các chế độ bảo hiểm xã hội vẫn giữ nguyên theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành. Sau năm 2015, kiến nghị Quốc hội sửa việc chi trả trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo hướng để người lao động tự chọn hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần như cũ hoặc thực hiện theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

Vì vậy, tôi kêu gọi toàn thể cán bộ, đoàn viên và công nhân lao động:

– Hãy yên tâm trở lại làm việc để bảo đảm thu nhập và thể hiện ý thức trách nhiệm của người  lao động đối với doanh nghiệp và xã hội.

– Không để cho kẻ xấu lợi dụng, kích động, xúi giục làm ảnh hưởng đến doanh nghiệp và tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Qua hôm sau, vẫn theo báo Người Lao Động:

“Ngày 1-4, Chính phủ đã thống nhất kiến nghị sửa Điều 60 Luật BHXH; nhất trí kiến nghị QH sửa theo hướng nếu người lao động không đủ thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu thì được hưởng BHXH 1 lần.”

Ô hay, sao mới cách đó hai hôm, hôm 30 tháng 3, Thứ Trưởng Doãn Mậu Diệp còn “nhấn mạnh” rằng: “xét một cách toàn cuộc thì quy định tại Điều 60, Luật BHXH 2014 có tới 6 điểm có lợi hơn cho NLĐ.”

Cùng ngày, ông Đặng Quang Điều, trưởng ban chính sách pháp luật Tổng liên đoàn Lao động VN, cũng nói cùng một giọng: “Tổng liên đoàn đã có kế hoạch và sắp tới các cấp công đoàn sẽ triển khai tuyên truyền, phổ biến sâu rộng với công nhân ở các địa phương về những lợi ích, tính ưu việt của Luật BHXH 2014. Khi hiểu thấu đáo, người lao động sẽ đồng thuận.”

Khu Công Nghiệp Tân Hương-Tỉnh Tiền Giang, hôm 2 tháng 4. Ảnh:  FB Hành Nhân

Nhưng khi thấy người lao động nhất định không chịu “đồng thuận,” và nguy cơ đình công có thể lan rộng khắp nơi thì Chính Phủ quên ngay “6 điểm có lợi hơn” và tính “ưu việt” của Luật BHXH 2014 để sẵn sàng “kiến nghị QH sửa theo hướng nếu người lao động không đủ thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu thì được hưởng BHXH 1 lần.”

Thì ra  “mềm nắn, rắn buông”!

Vì có sự can thiệp của công luận nên ông chủ quán bún bò ở Sài Gòn thoát khỏi một phen “lên phường làm việc,” và hàng ngàn cây xanh ở Hà Nội cũng (tạm thời) thoát nạn. Tương tự, nhờ thái độ sáng suốt và cương quyết của nhân viên công ty TNHH Pou Yuen nên giới công nhân VN cũng vừa thoát khỏi một vụ cướp ngày từ tay Nhà Nước. Thấy nuốt không trôi nên đành phải ói ra thôi.

Nói chuyện ói, mửa, nôn, oẹ … nghe (e) hơi phản cảm.  Nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự có cách diễn tả khác, tuy dài dòng chút đỉnh nhưng thanh lịch hơn nhiều:

Diễn tiến trong thái độ của chính quyền đối với vụ tưởng niệm Gạc Ma 14/3 và việc thực hiện kế hoạch chặt 6700 cây xanh ở thủ đô Hà Nội cho thấy hành động của nhân dân đã tác động đến chính quyền.

Sau khi đám “dư luận viên” phá rối vụ tưởng niệm Gạc Ma, khác với sự im lặng hay công khai hỗ trợ hành động phá rối, lần này chính quyền đã lên tiếng phủ nhận việc tổ chức và ủng hộ đám “dư luận viên” thô thiễn, ngu ngốc gây phẫn nộ trong nhân dân; thay vì gọi những người đến tưởng niệm là “bọn phản quốc” như các lần khác, đã tôn vinh họ là “những người yêu nước”. Tương tự, sau việc chặt phá một số cây xanh, chính quyền đã lùi bước trước phản ứng mạnh mẽ và tức thời của nhiều tầng lớp dân chúng trên đường phố và trên mạng xã hội.”

Những điều trên làm ta liên tưởng đến câu tổng kết của một nhà tư tưởng: “Nhân dân nào chính quyền ấy”.

Dân trí và ý thức của người dân Việt Nam mỗi lúc một cao mà quan trí ở xớ sở này thì vẫn vậy. Vẫn cứ tiếp tục với chủ trương xuyên suốt dối trá, lươn lẹo, lấp liếm, quanh co và hù doạ – khi cần. Với “nhân dân này” thì cái “chính quyền ấy” chả còn tí cơ may để mà tồn tại nữa.