Hãy chống Trung Quốc bằng sức mạnh ý chí

Hãy chống Trung Quốc bằng sức mạnh ý chí

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok

Cám ơn nhà báo Mặc Lâm đã thực hiện một cuộc phỏng vấn rất hay. Cám ơn Thiếu tướng Lê Văn Cương đã phát biểu rất thẳng thắn và chí lý. Tôi cũng đã viết rõ: “Việt Nam không liên minh với nước này để chống nước khác, nhưng Việt Nam cần có đồng minh trong cuộc chiến để tự vệ”.

Tôi rất tiếc trong lần gặp Thiếu tướng Lê Văn Cương ở một hội nghị Việt-Mỹ tại Đại học Johns Hopkins sau khi hai nước thiết lập quan hệ bình thường, tôi đã không có dịp trao đổi riêng với ông. Có lẽ vào thời điểm đó, hai bên còn có sự nghi ngại về quan điểm và thái độ đối với nhau.

Bài trả lời phỏng vấn của Thiếu Tướng Cương cần phổ biến thật rộng rãi ở trong nước. Cũng cần được dịch ra Anh văn để gửi cho các Đại sứ quán ngoại quốc và truyền thông quốc tế.

Lê Xuân Khoa

Có những chân lý đơn giản, hiển nhiên, bàng bạc trong tâm trí nhiều người từ lâu, nhưng khi được một nhân vật tầm cỡ nào đấy nói lên thì bỗng  nhiên trở thành chân lý phổ biến, có sức lan tỏa lớn. Thiếu tướng Lê Văn Cương đã làm được một điều như vậy đúng vào những ngày cuối tháng Giêng năm 2015 này. Ông nói đại ý: Liên minh với Mỹ là yêu cầu lịch sử của Việt Nam, không phải để tấn công một nước nào khác mà để chống lại sự xâm lược của kẻ thù truyền kiếp Trung Quốc. Thật rõ ràng, giản dị, như hai với hai là bốn, và đúng là chân lý được bảo đảm bằng vàng, bởi người nói là một nhà chiến lược quân sự uy tín, từng nghiên cứu Trung Quốc trong rất nhiều thập niên. Theo quan sát của chúng tôi, từ lâu ông cũng là người đã thoát khỏi quan điểm “đu dây” nhập nhằng cố hữu của Đảng Cộng sản.

Cám ơn Giáo sư Lê Xuân Khoa đã có nhã ý nhắc chúng tôi đăng lại bài phỏng vấn đã cũ này, với lý do đã là chân lý thì không bao giờ cũ. Nói chính xác hơn, thực tiễn nóng bỏng ở Biển Đông trong những tháng vừa qua, không khí tranh luận ở một số hội nghị bàn tròn quốc tế gần đây, cũng như việc mời đón ngọt nhạt và ký kết xỏ xiên của Tập Cận Bình đối với TBT ĐCS Việt Nam trước khi ông này đi Mỹ, cho thấy chân lý mà Thiếu tướng Lê Văn Cương đã vạch ra, đang thực sự trở thành  ý chí mạnh mẽ của người dân Việt.

Bauxite Việt Nam



Báo chí TQ có hàng loạt bài viết cho rằng từ đảo Chữ Thập quân đội của họ có thể triển khai tấn công TP-HCM chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ. RFA/Google map

Báo chí Trung Quốc lại tiếp tục gây hấn Việt Nam với những bài viết cho rằng Bắc Kinh có thể tấn công thành phố Hồ Chí Minh chỉ trong vòng 1 giờ từ đảo Chữ Thập, nơi họ công khai xâm chiếm của Việt Nam trước đây. Hành động khiêu khích nước lớn này xảy ra liên tục nói lên điều gì khi Việt Nam luôn luôn nhẫn nại chịu đựng? Mặc Lâm phỏng vấn Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Bộ Công an để tìm hiểu thêm quan điểm của một chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc.
Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng báo chí Trung Quốc đang có chiến dịch khiêu khích Việt Nam khi hàng loạt bài viết cho rằng từ đảo Chữ Thập quân đội của họ có thể triển khai tấn công TP.HCM chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ, ông nghĩ thế nào về những luận điệu này và phía sau nó là gì ạ?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Thật ra mà nói thì đây không có vấn đề gì mới. Sách lược của Trung Quốc chưa kể lịch sử 4.000 năm với họ, chỉ kể từ mùng 1 tháng 10 năm 1949 tới giờ và có lẽ mãi mãi về sau cũng thế thôi.
Trước hết chúng ta phải nhận diện họ là ai cái đã. Nói theo tiếng Nga, Trung Quốc họ là ai? (китай, кто ты?) Đến giờ chúng ta vẫn mơ hồ về chuyện này, vẫn bị một cái bóng ý thức hệ nó đè lên lợi ích dân tộc. Bản chất chính quyền Trung Quốc ở Bắc Kinh hiện nay là một chính quyền theo đường lối dân tộc Sô vanh nước lớn chứ không có phần trăm nào cộng sản cả. Làm gì có cái chuyện cộng sản như ông Marx ông Lenin khuyến khích Trung Nam Hải làm cái trò vớ vẩn như vậy được? Điều thứ nhất là phải nhận thức cho rõ.
Điều thứ hai bản chất của họ là “mềm nắn rắn buông”. Trong 2.500  năm lịch sử khi Việt Nam đứng vững thì Trung Quốc không dám lấn nhưng khi Việt Nam tỏ ra yếu kém, hèn yếu nhu nhược thì nó lấn. Đấy là quy luật mà không chỉ riêng Việt Nam cả thế giới đều thế cả, chỗ nào rắn thì bỏ chỗ nào mềm thì dấn tới.
Tôi có cảm giác rằng lãnh đạo Trung Quốc đã ngửi thấy mùi chúng ta đang lùi và đang lùi thì họ tiến thôi. Không phải bây giờ mà cách đây mười, mười lăm năm đã lùi rồi. Chuyện đe dọa tấn công thành phố Hồ Chí Minh không phải bây giờ mà trước đây họ đã có đưa ra kịch bản đánh và chia đôi Việt Nam từ Nghệ Tĩnh trở ra là một phương án, chia đôi Việt Nam từ Nam Trung Bộ là một phương án và người ta làm rất nhiều rồi chứ không phải bây giờ đâu ạ.
Các phương án ấy chuẩn bị đầy đủ và được tung ra trên báo Hoàn Cầu và các báo khác để thử xem phản ứng của Việt Nam thế nào. Ở Việt Nam còn khối người còn sợ Trung Quốc, đến giờ phút này vẫn sợ. Cho nên đây là đòn gió nếu mà sợ thì nó làm thật, còn không sợ thì họ sẽ tính lại. Cái trò của Trung Quốc là vừa nắn vừa thăm dò nhưng cái này không có gì mới cả đâu ạ, bản chất Trung Quốc là thế rồi. Điều thứ ba tôi muốn nói là không có gì mới.
Điều thứ tư là chúng ta phải phản đối vì chúng ta không phản đối thì họ tiếp tục. Phản đối có nhiều cách. Tờ Hoàn Cầu là báo của đảng chứ không phải là báo lá cải vì vậy Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương Đảng phải gửi công hàm cho Trung Quốc hỏi họ xem tại sao các ông lại có những việc như vậy? Những việc này đi ngược lại tuyên bố của ông Tập Cận Bình đã ký với ông Trương Tấn Sang vào tháng 6 năm 2013. Nó cũng đi ngược lại tuyên bố của ông Lý Khắc Cường ký với ông Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 10 năm 2013.
Mấy chuyện này thì phải nói chứ chúng ta im lặng như thế là sao? Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh phải gửi công hàm cho Vương Nghị yêu cầu các ông không nên tung những loại như vậy lên báo chí, làm cho người Việt Nam hiểu sai Trung Quốc và kích động lên chủ nghĩa dân tộc, nó đi ngược lại những điều các ông cam kết. Chúng ta phải phản đối chứ? Tại sao chúng ta không phản đối, thiếu gì cách? Cho nên nếu chúng ta lùi thì họ tiến, cuộc đời chỉ đơn giản như vậy thôi. Có lẽ Trung Quốc đang cảm thấy Việt Nam đang lùi đang sợ họ thì họ lấn chứ có gì đâu!
Khi Việt Nam đứng vững thì họ không làm gì hết. Chín mươi triệu người chứ không phải chín trăm ngàn người. Chín mươi triệu người là một khối sắt đá bất khả xâm phạm. Nhưng chín mươi triệu người rời rạc thì không bằng chín trăm ngàn người cố kết với nhau, quan điểm của tôi không có gì mới cả.
Sau 44 năm tôi nghiên cứu Trung Quốc thì cái trò này không có gì. Tôi rất buồn vì không biết tại sao chúng ta không có phản ứng. Bây giờ các nhà khoa học có nói đến đâu.
Mặc Lâm: Thưa Thiếu tướng, về câu hỏi tại sao chúng ta không có bản lĩnh có thể xuất phát từ các vấn đề yếu kém nội tại của chúng ta như vũ khí, kinh tế, tiền bạc và là một nước nhỏ cho nên chính phủ có thể là đang…
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Hoàn toàn không phải, hoàn toàn không phải… anh nhớ rằng năm 938 Ngô Quyền dành độc lập trong trận Bạch Đằng thì lúc ấy sức mạnh nhà Tống là hai mươi mà Việt Nam chỉ có một. Cái trận Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt năm 1077 khi ấy phương Bắc là ba mươi mà ta chỉ một. Trận Xương Giang Chí Linh năm 1426 Lê Lợi, Nguyễn Trãi khi ấy triều đại rực rỡ nhất Trung Quốc cũng là ba mươi ba với một nhưng Việt Nam cũng vẫn thắng đấy ạ. Đấy là chưa nói trận nhà Thanh năm 1789 với Nguyễn Huệ đánh không còn cái lai quần, khi ấy nhà Đại Thanh đang ghê gớm lắm ta vẫn thắng cơ mà… cho nên không phải! không phải vì ta thiếu vũ khí, ta thiếu người.
Có lẽ chúng ta thiếu ý chí, có lẽ như vậy. Chính cái này mới quan trọng chứ chạy theo vũ khí thì 1.000 năm nữa Việt Nam vẫn không bì với Trung Quốc được. Phải có ý chí, phải có bản lĩnh chính trị, phải có quyết tâm chính trị. Cái này Trung Quốc mới sợ chứ làm sao trang bị mà đuổi kịp họ? Trung Quốc bây giờ đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Nga, họ chỉ sợ ý chí của Việt Nam thôi.
Ý chí người dân quy tụ chín mươi triệu người trong nước và tám tỷ người trên hành tinh này, đấy là sức mạnh vô địch mà Trung Quốc không thể muốn làm gì thì làm được. Chứ còn mấy cái tàu ngầm thì có đủ sức răn đe gì đâu, không ăn thua. Tất nhiên vẫn phải sắm, vẫn phải có máy bay, tàu ngầm tên lửa nhưng những cái này không có ý nghĩa gì cả. Nếu như chín mươi triệu người mà rời rạc không quy tụ về một mối thì tất cả vũ khí đều chẳng có ý nghĩa gì hết.
Trung Quốc không bao giờ sợ Việt Nam trang bị những loại tàu ngầm tên lửa vớ vẩn ấy. Họ sợ nhất là 90 triệu người này một khối sắt đá.
Mặc Lâm: Xin Thiếu tướng một câu hỏi nữa là một trong các biện pháp đối phó với Trung Quốc thì người trong nước cho rằng Việt Nam nên liên minh với các nước trong khu vực để tạo thành một sức mạnh nhằm đối phó với Trung Quốc hữu hiệu hơn, ông thấy ý tưởng này đưa ra vào thời điểm hiện nay có thích hợp hay không?
Thiếu tướng Lê Văn Cương: Thật ra mà nói thì thế này, cứ chơi bài ngửa, chỉ liên minh với Mỹ thôi chứ ASEAN như một bị khoai tây chẳng ý nghĩa gì đâu. Nga bây giờ cũng đang khốn nạn đừng hy vọng gì ở Nga nữa, lợi ích của họ là tối thượng. Ấn Độ thì ốc mang mình ốc chưa nổi nữa thì làm sao? Duy nhất trên hành tinh này chỉ có mình Mỹ thôi. Mở rộng quan hệ hợp tác với Mỹ mở toang cánh cửa ra. Phải tiến tới quan hệ Mỹ Việt mà trên bạn bè dưới liên minh, cứ nói thẳng như thế.
Trung Quốc phải hiểu thấu người Trung Quốc, Trung Quốc rất sợ Mỹ. Trên hành tinh này Trung Quốc chỉ sợ Mỹ thôi. Bây giờ cho ăn kẹo Bắc Kinh cũng không dám đụng tới Mỹ vì đụng tới Mỹ là tự sát. Bản chất của họ là dọa nạt cưỡng bức những kẻ yếu chứ còn đối với kẻ mạnh như Mỹ thì cho họ ăn kẹo chocolate họ cũng không dám đụng tới Mỹ.
Bây giờ đặt ra cuộc thảo luận nói thẳng như thế này chứ không giấu giếm gì cả. Chúng ta không  liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc, hoàn toàn không, nhưng cùng tạo một sức mạnh như thế khi cần thiết thì ứng phó với hành động của Trung Quốc. Nói thẳng với Trung Quốc chơi bài ngửa: Việt Nam không liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc nhưng chúng tôi cần sức mạnh của Mỹ để răn đe mọi thế lực ngoại bang muốn xâm lược Việt Nam.
Nhà nước phải chơi bài ngửa với người dân, công khai và minh bạch. Với thế giới cũng thế.
Mặc Lâm: Xin cám ơn Thiếu tướng rất nhiều về những bộc bạch này.
M.L
Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/fight-cn-wt-pwr-of-wills-01292015052321.html

Tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc tấn công gần Hoàng Sa

Tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc tấn công gần Hoàng Sa

Một chiếc thuyền của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần quần đảo Hoàng Sa hồi tháng 5/2014. Đã xảy ra nhiều vụ đụng độ của các tàu Trung Quốc với tàu của ngư dân Việt ở khu vực này.

Một chiếc thuyền của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần quần đảo Hoàng Sa hồi tháng 5/2014. Đã xảy ra nhiều vụ đụng độ của các tàu Trung Quốc với tàu của ngư dân Việt ở khu vực này.

15.06.2015

Tàu cá Việt Nam đụng độ với tàu Trung Quốc gần quần đảo Hoàng Sa hồi tuần trước, nêu bật những căng thẳng đang sôi sục giữa hai nước cộng sản, ngay giữa lúc lãnh đạo hai bên đang thảo luận việc cải thiện mối quan hệ song phương.

Hãng tin Bloomberg hôm 14/6 tường thuật rằng tàu Trung Quốc đã phun vòi rồng gây hư hại cho 1 tàu cá Việt Nam hôm 7 tháng 6, trong khi tờ Thanh Niên hôm qua tường thuật rằng 3 ngày sau sự cố vừa kể, một tàu cá Việt Nam khác bị tấn công, sau đó nhiều thiết bị và số lượng cá đánh bắt được trên chiếc tàu đều bị tịch thu.

Báo Lao Động cho biết tàu đầu tiên là tàu cá QNg 95193 TS do ông Phạm Trung Kiên thuộc xã Bình Châu, làm chủ.

Tờ Thanh Niên hôm qua thuật lời ngư dân trên hai tàu cá Việt Nam cho biết họ đã bị tàu Trung Quốc tấn công trong khi đang hoạt động trên ngư trường truyền thống gần quần đảo Hoàng Sa.

Báo này trích lời một ngư phủ tên Bùi Tấn Đoàn, 23 tuổi, thuật lại rằng anh và một thuyền viên khác tên Cao Xuân Ly, bị thương sau khi tàu Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu của anh trong suốt 2 giờ đồng hồ hôm 7 tháng 6. Trên tàu lúc đó có 13 ngư dân.

Trả lời phỏng vấn của tờ Thanh Niên hôm thứ Bảy sau khi trở về quê ở Quảng Ngãi, anh Đoàn cho biết thân tàu bị hư hại, và tàu bị tràn nước.

Anh Đoàn kể rằng thuyền viên Việt Nam đã ra dấu hiệu xin tàu Trung Quốc ngưng xịt nước, nhưng cuộc tấn công vẫn tiếp tục giữa lúc những người trên tàu tìm cách tát nước ra khỏi tàu. Anh Đoàn cho biết xương chân trái của anh bị gãy và bác sĩ nói anh sẽ không đi được trong 3 tháng tới.

Trong một vụ việc khác hôm 10 tháng 6, chủ chiếc tàu thứ nhì bị tấn công, thuyền trưởng Nguyễn Văn Phú thuật lại rằng anh cùng 10 thuỷ thủ trên tàu bị tấn công và tài sản cũng bị tịch thu.

Anh Phú, 29 tuổi, nói 4 tàu Trung Quốc đã bao vây tàu cá của anh có số hiệu QNg 90657 TS. Từ trên tàu 6 người Trung Quốc đã xuống 2 tàu có màu trắng sọc đỏ trên thân có ghi chữ Trung Quốc, rồi lao về phía tàu cá Việt Nam, kẹp chiếc tàu này từ 4 phía.

Báo chí Việt Nam kể rằng các thuyền viên trên tàu cá Việt Nam “bị dồn về phía mũi tàu, rồi bị dùng áo trùm đầu”. Sau đó tàu bị cướp hết tôm cá, phía Trung Quốc đã phá hỏng nhiều dụng cụ trên tàu trước khi bỏ đi. Theo báo Lao Động, số hải sản, trang thiết bị bị cướp phá ước lượng lên tới 550 triệu đồng.

Các vụ đụng độ như thế này này đã trở nên thường xuyên hơn quanh quần đảo Hoàng Sa, nơi có sự hiện diện hùng hậu của các tàu Trung Quốc.

Giáo sư Lê Hồng Hiệp thuộc Viện Đại học Quốc gia ở Saigon nói rằng những vụ chạm trán ấy ‘đã diễn ra từ lâu, nhưng mãi tới bây giờ mới được tường thuật bởi vì chính phủ Việt Nam muốn lên tiếng phản đối và tìm cách bảo vệ ngư dân.’

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hứa sẽ tài trợ cho ngư dân để xây tàu chắc chắn hơn để có thể tự vệ tốt hơn.

Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình hôm 11/6 nhắc lại rằng nhà chức trách Việt Nam đã ‘có các biện pháp cần thiết’ để tăng sức ép buộc tàu thăm dò dầu khí Trung Quốc, tàu 517, rời khỏi vùng biển của Việt Nam.

Nguồn: Bloomberg, Tuoi Tre, Thanh nien.

Cách Mạng Mùa Thu: Oán thù chồng chất!

Cách Mạng Mùa Thu: Oán thù chồng chất!

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

Năm 2015 này đánh dấu 70 năm kể từ Việt nam dành lại được nền tự chủ độc lập thóat khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp sau biến cố đảo chính vào ngày 9 Tháng Ba, 1945 (1945 – 2015). Nhưng đến ngày 19 Tháng Tám năm đó, thì người Việt Minh Cộng Sản lại tổ chức một “cuộc cướp chính quyền” và tuyên bố ngày đó là khởi sự cho “Cách Mạng Mùa Thu” ở nước ta – theo khuôn khổ “Cách Mạng Tháng Mười” của Liên Xô bắt đầu vào năm 1917.

Sau 70 năm, thời gian đã đủ nguôi ngoai lắng đọng để cho người Việt chúng ta có thể bình tâm luận định về biến cố lịch sử đày dãy những tang thương thống khổ – với biết bao nhiêu máu và nước mắt của hàng triệu người lương dân vô tội đã đổ ra tại khắp nơi trên quê hương đất nước mình.

Nói chung, thì cũng chỉ vì cái chủ trương cuồng tín quá khích gọi là “bạo lực cách mạng”, “chuyên chính vô sản” mà người cộng sản du nhập từ Liên Xô và Trung Cộng vào đất nước ta ngay từ năm 1945, nên mới xảy ra bao nhiêu cuộc thảm sát hàng lọat những người quốc gia yêu nước mà người cộng sản gán cho đủ các thứ nhãn hiệu xấu xa như : “ quân ngụy”, “việt gian”, “phản quốc”, “phản động”, “lưu manh”,“tay sai ngọai bang” v.v… Để rồi họ ra tay truy lùng, trừ diệt khủng bố cực kỳ dã man tàn bạo, không mảy may xót xa thương tiếc đối với người anh em cùng một nòi giống da vàng máu đỏ như chính mình.

Bài viết này nhằm ghi lại những cuộc thảm sát rùng rợn đó và tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của những hành vi cực kỳ tàn ác man rợ do người cộng sản cố tình gây ra ngay kể từ lúc họ mới nắm được chính quyền trong tay kể từ năm 1945 cho đến ngày nay. Xin trình bày một số vụ thảm sát điển hình theo thứ tự thời gian xảy ra lần lượt tại khắp các miền Trung, Nam, Bắc.

I-Những cuộc khủng bố tàn sát man rợ do người cộng sản gây ra tại khắp các nơi trong nước.

1-Vụ thảm sát tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi Tháng Tám và Tháng Chín, 1945.

Ngay sau khi Việt Minh Cộng Sản chiếm được chính quyền trong tay vào Tháng Tám, 1945, thì tại nhiều làng xã thuộc các huyện Bình Sơn, Đức Phổ, Mộ Đức, Nghĩa Hành trong tỉnh Quảng Ngãi đã đồng lọat xảy ra các cuộc tàn sát tập thể (mass killing) tổng cộng lên đến gần 3,000 tín đồ Cao Đài. Có vùng người dân “bị giết hết cả già trẻ lớn bé mà mồ chôn tập thể cùng khắp các miền quê…” Sự việc này đã được Giáo Hữu Ngọc Sách Thanh tại Hoa Kỳ trình bày chi tiết trước Ủy Hội Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc gần đây vào Tháng Tư, 1999.

Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài có bảng liệt kê danh tánh các nạn nhân lên đến con số 2,791 người. Và trong tài liệu nghiên cứu có nhan đề là “Colonial Caodaists” do sử gia Janet Hoskins biên sọan, thì cũng ghi nhận con số 2,791 nạn nhân này. Danh sách này cũng được ghi nơi Đài Tưởng Niệm thiết lập từ năm 1956 tại Quảng Ngãi – mà sau năm 1975 chính quyền cộng sản đã cho triệt hạ phá bỏ hết tất cả mọi dấu tích đi.

Người đồ tể khét tiếng trong vụ thảm sát này có tên là Đặng Bửu sau này giữ chức vụ hiệu trưởng Trường Chính Trị Nguyễn Ái Quốc ở Hà nội.

So với cuộc thảm sát tại Huế hồi Tết Mậu Thân 1968, thì cuộc tàn sát này tại Quảng Ngãi năm 1945 cũng thật là khủng khiếp ghê rợn không kém – nhưng mà nó lại ít được công chúng ở miền Nam trước năm 1975 biết đến. Nhưng có dấu hiệu lạc quan là gần đây giới học giả quốc tế cũng đã có điều kiện tìm hiểu nhiều về vụ thảm sát năm 1945 này.

Nhân tiện, cũng xin ghi thêm là nhà ái quốc Tạ Thu Thâu cũng đã bị Cộng Sản giết hại tại Quảng Ngãi hồi mùa thu năm 1945, vào lúc ông trên đường trở lại miền Nam sau cuộc viếng thăm miền Bắc vài tháng trước đó.

2-Những vụ khủng bố tiêu diệt người quốc gia yêu nước tại miền Nam trong thời gian từ 1945 đến 1947.

Tại miền Nam vào năm 1945, thì tuy không có vụ tàn sáp tập thể có quy mô lớn như tại Quảng Ngãi, nhưng lại có vô số những cuộc ám sát khủng bố giết hại những người quốc gia yêu nước do cán bộ cộng sản theo khunh hướng Đệ Tam Quốc Tế gây ra. Và tổng số các nạn nhân bị giết hại trong các năm 1945, 1946 và 1947 có thể lên đến hàng nhiều ngàn người.

Cụ thể là những nhân vật trí thức có tên tuổi thuộc khuynh hướng Đệ Tứ Quốc Tế (thường được gọi là Trotskystes) thì đều bị giết hại như: Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Phan Văn Hùm v.v… Còn phải kể đến những vị lãnh đạo chính trị nổi tiếng cũng đều bị Cộng Sản chém giết, điển hình như nhân sĩ Bùi Quang Chiêu, vợ chồng bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và Nguyễn Thị Sương, luật sư Dương Văn Giáo. v.v…

Tệ hại nhất là vụ sát hại Giáo Chủ Hùynh Phú Sổ người sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo ở miền đồng băng sông Mekong – do người Cộng Sản thực hiện vào Tháng Tư, 1947. Sự việc động trời này đã gây ra mối hận thù dai dẳng kinh khiếp cho hàng triệu tín đồ Hòa Hảo tại khắp miền Nam.

Đối với các tín đồ Cao Đài tại miền Đông Nam Bộ cũng vậy, cán bộ Cộng Sản cũng ra tay tàn sát đến cả hàng ngàn nạn nhân nữa.

Chỉ riêng có một ngày 13 Tháng Mười, 1947, thì đã có đến con số 300 nạn nhân bị Việt Minh Cộng Sản ra tay sát hại tại khu vực Hóc Môn, Thủ Đức chỉ cách thành phố Sài Gòn có chừng vài chục cây số mà thôi.

Người chủ chốt phát động các cuộc tàn sát này chính là Tướng Nguyễn Bình (tên thật là Nguyễn Phương Thảo) do Trung Ương ở Hà Nội phái vào miền Nam để phụ trách điều hành guồng máy chính trị và quân sự tại đây.

3-Những vụ sát hại các thành viên ưu tú của các đảng Đại Việt, Duy Dân và Quốc Dân Đảng ở miền Bắc.

Tại miền Bắc, thì các đảng phái quốc gia như Đại Việt, Duy Dân, Quốc Dân Đảng đều lần lượt bị người Cộng Sản dùng mọi thủ đọan tàn bạo thâm độc mà tiêu diệt cho bằng hết. Điển hình là các lãnh tụ nổi danh như Trương Tử Anh của Đại Việt, Lý Đông A của Duy Dân và vô số những đảng viên ưu tú khác của Quốc Dân Đảng cũng đều bị ám hại bằng cách thủ tiêu hay giam giữ ngặt nghèo trong các trại tù đến nỗi phải bỏ xác nơi xa xôi hẻo lánh – mà thân nhân không hề được thông báo để lo việc ma chay chôn cất và cúng giỗ. Có thể nói tổng số nạn nhân bị sát hại như vậy ở miền Bắc trong thời gian từ năm 1945 đến 1954 phải lên đến con số nhiều ngàn người.

Xin ghi lại vài trường hợp bị bắt giam rồi bị sát hại rất thương tâm của mấy nhân vật rất nổi tiếng như sau:

A-Nhà văn Khái Hưng.

Khái Hưng là một nhà văn nổi tiếng từ thập niên 1930 trong Nhóm Tự Lực Văn Đòan do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khởi xướng. Vào năm 1940, Khái Hưng và họa sĩ Nguyễn Gia Trí bị thực dân Pháp bắt đi an trí tại vùng quê xa Hà nội. Năm 1947, ông đang ở nhà nhạc phụ trong huyện Trực Ninh, Nam Định, thì bị công an Việt Minh đến bắt đi và sát hại rồi vất xác xuống dòng sông Ninh Cơ chỗ gần bến đò Cựa Gà.

B-Bộ trưởng Chu Bá Phượng.

Ông Chu Bá Phượng sinh năm 1908 tại Bắc Giang là một kỹ sư đã từng tham gia vào công trình thiết lập đường xe lửa Đông Dương vào hồi thập niên 1930. Ông còn là một người trong thành phần lãnh đạo nòng cốt của Quốc Dân Đảng. Năm 1946, ông Chu Bá Phượng giữ chức bộ trưởng Kinh Tế trong Chính Phủ Liên Hiệp trong đó có ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch, ông Nguyễn Hải Thần làm phó chủ tịch, ông Nguyễn Tường Tam làm bộ trưởng Ngọai Giao. Cuối năm 1946, vì các nhân vật quốc gia như Bảo Đại, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam đều đào thóat ra nước ngòai, nên chỉ còn có một mình ông Chu Bá Phượng bị kẹt lại và phải đi theo văn phòng chính phủ di tản lên chiến khu ở Việt Bắc.

Không bao lâu sau, ông Phượng bị đem đi quản chế ngặt nghèo tại vùng Hà Giang, Sơn La. Và từ cuối năm 1960, thì gia đình ông ở Hà Nội không hề nhận được bất kỳ tin tức nào của ông nữa. Mấy chục năm sau vào đầu thập niên 1990, con cháu mới nhờ người sử dụng ngọai cảm mà tìm được hài cốt của ông tại nơi rừng núi hoang vắng vùng Việt Bắc giáp giới với Trung Quốc và cải táng đem về quê nhà ở miền xuôi.

Giám đốc công an ở miền Bắc thời đó chính là ông Lê Giản, ông này phải chịu trách nhiệm nghiêm trọng về các cuộc đàn áp và giết chóc này.

II-Tìm hiểu nguyên do tại sao người cộng sản lại gây ra những vụ tàn sát với quy mô rộng lớn khủng khiếp như thế?

Trước khi đi sâu vào vấn đề, ta cần phải tĩnh trí để nhận định tình hình xã hội chính trị thực tế ở nước ta vào thời kỳ trước năm 1945 đại khái như thế này:

1-Không hề có sự ân óan thù hận nào giữa người cộng sản với người không Cộng Sản cả. Bởi lẽ vào lúc đó, tất cả hai nhóm đều là những người yêu nước và cùng hành động giống nhau là chống thực dân Pháp. Như vậy là tất cả đều ở cùng chung một phe để đối nghịch chống lại cái ách đô hộ của người Pháp để cùng dành lại nền độc lập tự chủ cho người Việt Nam. Và cả hai nhóm đều bị chính quyền Pháp đàn áp, bị bắt giam chung với nhau trong cùng một nhà tù nữa. Vì cùng có tinh thần yêu nước như nhau, lại cùng là nạn nhân khốn khổ vì sự tàn ác của đế quốc thực dân, cho nên giữa người cộng sản và không cộng sản lúc đó lại có sự thương yêu đùm bọc liên đới gắn bó chặt chẽ với nhau nữa.

Điều này khác hẳn với hai phe Quốc Gia và Cộng Sản ở bên Trung Quốc, vì hai phe đánh phá giành giật, giết chóc lẫn nhau suốt trong mấy chục năm kể từ cuối thập niên 1920 cho đến năm 1949, thì phe Cộng Sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo mới tòan thắng và buộc phe Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu phải rút lui qua đảo Đài Loan. Từ đó mà phe Cộng Sản thắng trận phát động chiến dịch trả thù những người thua trận nào mà còn bị kẹt lại ở nội địa Trung Quốc. Tình trạng này chỉ xảy ra tại Việt Nam năm 1975 sau khi quân đội Cộng Sản từ miền Bắc xâm chiếm được tòan thể lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa.

2-Ấy thế mà tại sao vào năm 1945, khi có chính quyền nắm trong tay được rồi, thì người Cộng Sản lại ra tay tận diệt người quốc gia một cách tàn bạo man rợ đến thế?

Câu trả lời cho vấn nạn này có thể thật ngắn gọn như sau: Đó là do họ áp dụng triệt để cái chủ trương “Bạo Lực Cách Mạng” (the Revolutionary Violence) mà họ học tập được từ Trung Ương Đệ Tam Quốc Tế Comintern do Liên Xô lãnh đạo.

Ngay từ thập niên 1920 cho đến năm 1945, thì đã có đến hàng trăm cán bộ cao cấp của đảng Cộng Sản Việt Nam được đào tạo rất bài bản tại Trường Đông Phương tại Moscow do Comintern điều hành. Tại đây, họ được học rất kỹ về kỹ thuật gọi là “agitprop = agitation – propaganda” – tức là tổ chức vận động quần chúng, tuyên truyền và đặc biệt về phương thức gây bạo lọan để tạo thời cơ cướp chính quyền. Họ cũng học được kỹ thuật xây dựng guồng máy công an mật vụ theo mô hình của Liên Xô để kềm kẹp dân chúng một khi họ đã nắm giữ được chính quyền.

Nói vắn tắt là Cộng Sản Việt Nam được Comintern đào tạo hương dẫn rất kỹ về mọi thủ đọan tinh vi để thiết lập được một chế độ độc tài chuyên chính vô sản (proletarian dictatorship). Do đó mà họ đã không từ bỏ bất kỳ một thủ đọan tàn ác vô nhân đạo nào – miễn sao đạt được mục đích tối hậu của đảng Cộng Sản là nắm vững được chính quyền trong gọng kềm sắt thép của mình.

Trái lại, các đảng phái quốc gia khác, thì không hề có được sự huấn luyện đào tạo hay sự yểm trợ vật chất tinh thần nào từ phía ngọai quốc tương tự như của Comintern cấp phát dồi dào cho đảng cộng sản Việt Nam.

Do đó mà từ năm 1945, Cộng Sản đã mặc sức tung hòanh ở Việt Nam với đủ mọi thứ đòn phép thâm độc và quỷ quyệt để vô hiệu hóa và tiêu diệt được mọi sức đối kháng của các đảng phái quốc gia hay của các tổ chức tôn giáo.

III-Tóm lược

Ta có thể tóm lược bài viết này bằng mấy nét chính yếu như sau:

1-Trước năm 1945, những người yêu nước dù là Cộng Sản hay không Cộng Sản, thì đều cùng theo đuổi một mục tiêu là đánh đổ chế độ thực dân Pháp để giành lại nền độc lập cho Việt Nam.

Thế nhưng, từ khi người Cộng Sản nắm giữ được quyền hành trong tay, thì ngay tức khắc họ ra tay tiêu diệt những người yêu nước khác để dành độc quyền riêng cho mình trong mọi lãnh vực chính trị, kinh tế cũng như văn hóa tinh thần. Đó là một thứ độc tài chuyên chế tòan trị (totalitarian dictatorship).

Hâu quả tai hại trầm trọng nhất của chủ trương này là đã phá hoại tận gốc rễ cái nền nếp nhân bản, nhân ái truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta.

2-Dĩ nhiên là trong cái xã hội do thực dân, phong kiến tạo lập ra, thì có đầy rẫy những bất công áp bức. Nhưng vì người Cộng Sản đã cuồng tín du nhập cái chủ trương “hận thù giai cấp”, “bạo lực cách mạng” của Liên Xô và Trung Quốc vào đất nước ta, cho nên mới gây ra không biết bao nhiêu tang thương khổ nhục chết chóc cho tòan thể dân tộc ròng rã suốt 70 năm qua.

Như cha ông chúng ta từ xưa vẫn cảnh báo rằng “Lấy óan báo óan, óan ấy chập chùng”. Thì rõ ràng từ năm 1945 đến nay, đảng Cộng Sản đã liên tiếp gây ra biết bao nhiêu điều oan trái, khốn khổ cho cả hàng mấy chục triêu gia đình lương dân vô tội. Đó là một cái tội tày đình mà “Trời không dung, Đất không tha” cho người Cộng Sản vẫn còn cực kỳ ngoan cố mãi được.

3-Bài viết này là một lời nhắc nhở cho giới lãnh đạo chóp bu Cộng Sản ở Hà Nội phải biết phục thiện và thành khẩn công khai nhận lỗi của mình trước tòan thể dân tộc và dám có can đảm nói lên sự xám hối ăn năn về các tội ác man rợ kinh khủng như thế.

Có làm được như vậy, thì họ mới xứng đáng đón nhận được sự khoan dung tha thứ của đại khối dân tộc Việt Nam vậy./

Westminster California, Tháng Sáu 2015

Tài liệu tham khảo

Bài viết này được xây dựng trên những chứng từ của một số gia đình nạn nhân bị cộng sản sát hại với sự tham khảo từ một số bài nghiên cứu nghiêm túc mới đây của các chuyên gia sử học quốc tế. Cụ thể xin được trưng dẫn ra như sau đây :

1-Nhiều thư của ông Chu Bá Phượng viết về cho con vào cuối thập niên 1950 lúc ông bị quản chế tại Việt bắc. Búc thư sau cùng viết vào cuối năm 1960, sau đó thì biệt tăm luôn.

2-Thông tin do gia đình cụ Lê Quang Sách cung cấp. Cụ Sách năm nay đã 88 tuổi, cụ là người thóat chết trong vụ thảm sát gần 3,000 tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi vào Tháng Tám và Tháng Chín, 1945.

3-Về các tư liệu lấy từ Internet, thì đặc biệt có các tài liệu sau đây:

A-Vụ tàn sát tín đồ Cao Đài tại Quảng Ngãi vào Tháng Tám và Tháng Chín, 1945 (tiếng Việt). Do tổ chức của Giáo Hội Cao Đài phổ biến trên Trang Nhà “Hành Trình về Chân Lí Đạo” vào ngày 21/3/2015.

B-“Caught between Propaganda and History” by Shawn McHale, 2014. Tài liệu dài 10 trang là bài Điểm sách về cuốn “Lịch sử Nam bộ Kháng chiến” được đăng trong Tủ sách “Cold War International History Project”

C-“Autopsy of a Massacre” – “On a Political Purge in the Early Days of the Indochina War” (Nam Bộ 1947)  by Francois Guillemot, 2010. Tài liệu này dài 40 trang là một bài nghiên cứu rất công phu về sự khủng bố và tàn sát vì lí do chính trị ở miền Nam được đăng trong European Journal of Asian Studies.

D-“The Viet Minh Elimination of National Parties and Groups (1945-47)” by Human Rights Watch, April 23, 2013. Tài liệu dài 17 trang viết chi tiết về việc Việt minh tiêu diệt các đảng phái chính trị tại miền Nam trong giai đọan 1945 – 1947./

Đoàn Thanh Liêm

Pháp phá vụ buôn lậu ngà voi lớn dính tới Việt Nam

Pháp phá vụ buôn lậu ngà voi lớn dính tới Việt Nam

Giá ngà voi đã tăng nhanh chóng mặt trong những năm gần đây, lên mức khoảng hơn 1.500 đôla Mỹ một kg (khoảng 30 triệu đồng).

Giá ngà voi đã tăng nhanh chóng mặt trong những năm gần đây, lên mức khoảng hơn 1.500 đôla Mỹ một kg (khoảng 30 triệu đồng).

Quan chức hải quan Pháp hôm 11/6 cho biết đã chặn đứng việc vận chuyển 136 kg ngà voi từ Cộng hòa Dân chủ Congo trên đường tới Việt Nam.

Đây là lần ngăn chặn vụ vận chuyển ngà voi lậu lớn nhất ở Pháp trong gần một thập kỷ. Hồi tháng 12 năm 2006, giới hữu trách nước này cũng đã phát hiện 600 kg “vàng trắng”

Hơn một chục ngà voi được cưa thành 37 miếng nhỏ, và  được giấu trong các thùng phía dưới các đĩa nhôm nhằm tránh bị máy soi phát hiện.

Đồ thủ công mỹ nghệ chế biến từ ngà voi vẫn là những mặt hàng “ăn khách” ở các quốc gia châu Á như Việt Nam, Thái Lan, và Trung Quốc.

Giá ngà voi đã tăng nhanh chóng mặt trong những năm gần đây, lên mức khoảng hơn 1.500 đôla Mỹ một kg (khoảng 30 triệu đồng).

Các nhà hoạt động cho rằng việc mua bán lậu ngà voi đã đẩy đàn voi hoang ở châu Phi tới cảnh tuyệt chủng.

Điểm mặt

Ngoài việc nhiều gia đình người Việt sử dụng ngà voi để trang trí trong nhà, Việt Nam thời gian qua đã bị nhắc tên nhiều trên truyền thông quốc tế vì tình trạng mua bán sừng tên giác và các loại động vật hoang dã khác để làm thuốc.

Các nhân vật tranh đấu bảo vệ môi trường đề nghị áp dụng các biện pháp chế tài thương mại đối với Việt Nam vì Hà Nội đã không hành động để chống lại nạn mua bán sừng tê giác.

Báo cáo của các tổ chức bảo vệ môi trường nói rằng có “các bằng chứng  cho thấy Việt Nam và các nhân viên ngoại giao Việt Nam nằm ở trung tâm của một hoạt động mua bán sừng tê giác bất hợp pháp qui mô lớn, góp phần gây ra vụ khủng hoảng săn bắt tê giác trái phép lớn nhất trong vòng hơn 30 năm.”

Tuy nhiên, các giới chức Việt Nam đã phủ nhận tố cáo cho rằng Việt Nam là động lực thúc đẩy các hoạt động mua bán sừng tê giác trái phép.

Theo AFP, VOA

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đã ngưng tuyệt thực

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đã ngưng tuyệt thực

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-06-14

06142015-polit-pris-ta-p-tan-stop-hunger.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5

File photo

Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần được gia đình cho biết tuyệt thực trong trại giam từ ngày 13 tháng 5. Hôm nay 14 tháng 6, thân nhân đến Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa để tìm hiểu tình hình thực tế của cô và được biết cuộc tuyệt thực đã ngưng cách đây 10 hôm.

Tuy nhiên tình trạng giam giữ đối với những tù nhân chính trị ở Việt Nam vẫn đáng quan ngại; và biện pháp tuyệt thực để đấu tranh trong nhà tù như của cô Tạ Phong Tần vừa qua luôn được nhiều người quan tâm đồng hành.

Tin mới nhất

Những người quan tâm đến tình hình của tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần trong suốt tháng qua tỏ ra lo lắng về sức khỏe của cô. Trong chuyến đi thăm cô lần này ngoài hai người em là anh Tạ Minh Tuấn và chị Tạ Minh Tú còn có một số nhà hoạt động khác ở Việt Nam cùng đi.

Người trực tiếp được gặp tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần là cô em Tạ Minh Tú. Sau khi thăm gặp chị từ trại giam ra, chị Tạ Minh Tú cho biết thông tin mới nhất:

“Tình hình ổn rồi, chị Tần ngưng tuyệt thực từ ngày 4 tháng 6. Hôm  nay có những anh chị ủng hộ con đường dân chủ nhân quyền cũng chung chí hướng với chị Tần ủng hộ đến ngay trước trại giam đễ cùng đòi hỏi quyền lợi được gặp chị và khuyên chị ngưng tuyệt thực.

Trong đó khi gặp tôi cũng báo cho chị là các anh chị 3 miền tụ về để ủng hộ cho chị và bên ngoài người ta đang có cuộc vận động từ trong và ngoài nước ( yêu cầu) nhà cầm quyền phải trả tự do cho chị Tần. Chị gửi lời cám ơn.

” Chị Tần ngưng tuyệt thực từ ngày 4 tháng 6. Hôm nay có những anh chị ủng hộ con đường dân chủ nhân quyền cũng chung chí hướng với chị Tần ủng hộ đến ngay trước trại giam đễ cùng đòi hỏi quyền lợi được gặp chị và khuyên chị ngưng tuyệt thực

chị Tạ Minh Tú”

Nói với chị chỉ được 10 phút thôi và chị cho biết những ngược đãi đối với chị vẫn không có gì thay đổi. Sức khỏe của chị vì vừa mới tuyệt thực nên không có gì khả quan lắm!”

Quan ngại

Cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên hiện đang bị quản chế tại nhà ở Hải Phòng vào ngày 12 tháng 6 vừa qua cũng tuyệt thực một ngày để bày tỏ sự đồng hành cùng tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần trong nhà tù. Vào ngày 13 tháng 6 chị Phạm Thanh Nghiên chia sẻ sự quan tâm đối với người đang phải đấu tranh trong tù:

Có một người vừa trở về được vài tháng và họ cho biết khi chị Tần, Nguyễn Đặng Minh Mẫn và một số người khác vào thì họ sửa lại khu buồng giam kỷ luật; tức trong trại tù có khu kỷ luật và những tù nhân bị cho vi phạm kỷ luật thì bị nhốt vào đó 7 ngày, 10 ngày hoặc hằng tháng với những điều kiện rất khắc nghiệt. Tôi chưa bao giờ bị giam giữ trong những khu đó cả; nhưng những người tù từng ở với tôi nói lại rằng khi họ xây những trại giam đó thì những phần bệ nằm ( phần đủ cho một người tù nằm) được cho muối vào. Tôi không biết trong ngành xây dựng khi cho muối trộn vào xi măng để làm gì; nhưng những người kia nói lại với tôi là để khi vào mùa hè thì vào mùa hè như ở Thanh Hóa đã nóng rồi thì với kỹ thuật đó lại càng nóng hơn; vào mùa đông đã lạnh thì càng lạnh hơn.

Chị Tạ Minh Tú và Thượng tọa Thích Thiện Minh kêu gọi trả tự do cho blogger Tạ Phong Tần

Chị Tạ Minh Tú và Thượng tọa Thích Thiện Minh kêu gọi trả tự do cho blogger Tạ Phong Tần

Và cũng xin nói thêm là khi bị kỷ luật thì không được đắp chiếu mà chỉ có một bộ quần áo tù, không có đồ lót bên trong. Đến kỳ kinh nguyệt thì phải xin cán bộ trại giam mới có quần lót và băng vệ sinh. Đó là sự tra tấn vô cùng man rợ và trong thời gian tuyệt thực hằng ngày cán bộ trại giam vào hành hạ rất ghê gớm vì tôi chứng kiến trường hợp của chị Trần Ngọc Anh cũng như của tôi là mỗi ngày hai lần họ mang biên bản vào và bắt minh ký. Họ còn dùng nhiều hình thức khác để tra tấn tinh thần của mình. Vì chính là người từng ở trong đó nên tôi rất đồng cảm, tôi hiểu. Tôi cho rằng chị Tần là người phụ nữ phi thường.

Cô Phạm Thanh Nghiên cũng cho biết thông điệp của hành động tuyệt thực cùng với tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần:

“ Tôi muốn bằng khả năng hạn hẹp của mình do sức khỏe không tốt và đang bị quản chế là chỉ góp một chút tình cảm, tiếng nói để đồng hành với những đau khổ, khốn khó của chị Tạ Phong Tần người mà tôi rất yêu quí đang phải chịu trong nhà tù.

” Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5″

Tôi cũng xin gửi đến thông điệp mà thông điệp này tôi cũng gửi đi cách đây 2 năm khi mà tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ tuyệt thực. Lúc đó mở đầu là bác sĩ Phạm Hồng Sơn sau đó đến tôi và nhiều người khác đồng hành với cuộc tuyệt thực của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ. Thông điệp của tôi là không ai phải chịu cô đơn trên con đường tìm kiếm tự do và công bằng cho dù người đó đang ở trong chốn lao tù.”

Ủng hộ

Sau khi có tuyên bố tuyệt thực của cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên nhằm đồng hành cùng Tạ Phong Tần, blogger Mẹ Nấm từ Nha Trang cũng công khai trên trang Dân Làm Báo là sẽ tuyệt thực ba ngày để chia sẽ cùng các tù nhân Tạ Phong Tần, Bùi thị Minh Hằng, Nguyễn Hữu Vinh, Trần Huỳnh Duy Thức, Ngô Hào, Trần Minh Nhật, Thái Văn Dung, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương…

Từ khi có tin tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần tuyệt thực trong tù để phản đối sự ngược đãi tù chính trị của trại giam, nhiều người hiện ở nước ngoài cũng bày tỏ quan ngại và lên tiếng cho tình trạng của cô Tạ Phong Tần.

Tổ chức Ân Xá Quốc Tế vào ngày 8 tháng 6 vừa qua  phát động cuộc vận động khẩn cấp vì tình trạng của tù nhân lương tâm blogger Tạ Phong Tần, người tuyệt thực kể từ ngày 13 tháng 5.

Xin được nhắc lại cô Tạ Phong Tần năm nay 46 tuổi. Cô bị bắt từ tháng 9 năm 2011 và tháng 9 năm 2012 bị kết án 10 năm tù với cáo buộc ‘tuyên truyền chống nhà nước theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam trong phiên xử cùng với hai người cùng sáng lập Câu lạc Bộ Nhà báo Tự do là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và AnhbaSaigon PhanThanh Hải.

Từ khi bị kết án tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đạ bị đưa qua ba nhà tù khác nhau ở Bình Dương, Đồng Nai và Thanh Hóa. Tại Trại 5 Yên Định, Thanh Hóa hiện có những nữ tù nhân lương tâm khác là Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Cấn Thị Thêu…

Cô Tạ Phong Tần vào dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ năm 2013 được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vinh danh là một trong 10 phụ nữ can đảm trên thế giới.

Nhân ngày Tự do Báo chí Thế giới năm nay, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại nêu tên tù nhân Tạ Phong Tần cho rằng cô bị chính quyền Hà Nội bỏ tù một cách sai trái chỉ vì dán vạch trần tình trạng tham nhũng của chính phủ Hà Nội. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ kêu gọi chính quyền Việt Nam hiện nay trả tự do cho tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần.

Thấy gì từ đề xuất 3 cải cách đối với Đảng

Thấy gì từ đề xuất 3 cải cách đối với Đảng

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-06-12

Thấy gì từ đề xuất 3 cải cách đối với Đảng Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg4466727.jpg

Hình minh họa chụp năm 2011 tại Hà Nội.

AFP

Your browser does not support the audio element.

Nhóm chuyên gia của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại Saigon vừa có đề xuất khá đặc biệt gọi là “liên minh cải cách và phát triển cho Việt Nam gồm: Đảng, cơ quan dân cử, tư pháp, hành chính công vụ, kinh tế tư nhân.” Sự cải cách tập hợp này được xem như là điều kiện cần thiết để nền kinh tế Việt Nam có thể trở lại mức phát triển cao 7,5%-8%  trong mười năm tới.

“Không chịu uống thuốc đủ liều”

Theo Thời báo Kinh tế Saigon Online, tại cuộc tọa đàm về “Cải cách thể chế: từ tầm nhìn tới thực tiễn” do Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tổ chức ở Saigon sáng 10/6/2015, PGSTS Phạm Duy Nghĩa một thành viên của Chương trình đã nhận định rằng, thể chế của Việt Nam hiện nay không theo kịp yêu cầu cuộc sống. Học giả này ví von  nền kinh tế Việt Nam hiện nay như một người bệnh đã được định bệnh, kê toa cho thuốc nhưng lại không chịu uống đủ liều.

” Vấn đề ở Việt Nam là cách làm và hình thức làm, bước đi…cho nên những phản biện thẳng thắn đặt tất cả vấn đề ra thì người ta cho rằng nên làm trong một phạm vi hẹp, vừa phải vì Việt Nam chưa quen việc có môi trường để thực hiện dân chủ rộng rãi như ở các nước khác.
-LS Trần Quốc Thuận”

Đặt ra liên minh cải cách để hình thành mô hình phát triển mới, nhóm nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright đặt nặng tư duy cải cách cần thiết đối với Đảng Cộng sản. Vẫn theo SaigonTimes Online, một thành viên của nhóm, TS Huỳnh Thế Du đề xuất cải cách ba điểm mà Đảng trong vai trò lãnh đạo và dẫn đắt cần tập trung. Thứ nhất để định hướng chính sách quyết định đến sự phát triển của Việt Nam, để có chính sách tốt hợp lòng dân thì thảo luận chính sách phải công khai và để đạt mục đích này Đảng phải chấp nhận một xã hội cởi mở, chấp nhận vai trò phản biện của trí thức mạnh mẽ hơn.

Thứ hai là Đảng cần thúc đẩy cơ chế cạnh tranh, tìm ra nhân lực lãnh đạo có thực tài. Như vậy phải có một quá trình lựa chọn dân chủ, cởi mở, đựa trên nền tảng cạnh tranh.

Thứ ba là cần luật hóa vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng. Đảng cần gương mẫu là người đầu tiên tuân thủ chế độ pháp quyền, thượng tôn pháp luật.

Những đề xuất cải cách được cho là thẳng thắn đối với Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ có tính khả thi hay không trong cơ chế một đảng độc quyền ở Việt Nam. Chúng tôi sẽ lấy ý kiến chuyên gia theo từng điểm một.   Đối với điểm thứ nhất, Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội từ Sài Gòn nhận xét:

“Câu chuyện kêu gọi khuyến khích phản biện và giám sát thì Bộ Chính trị đã có có hai Nghị quyết 217, 218 để mà đặt vấn đề và tôi cho những việc đó cũng phù hợp với Hiến pháp 2013 là phát huy dân chủ, phát huy nhân quyền, tôi cho rằng điều đó không có gì trái. Nhưng vấn đề ở Việt Nam là cách làm và hình thức làm, bước đi…cho nên những phản biện thẳng thắn đặt tất cả vấn đề ra thì người ta cho rằng nên làm trong một phạm vi hẹp, vừa phải vì Việt Nam chưa quen việc có môi trường để thực hiện dân chủ rộng rãi như ở các nước khác.”

Đi đường vòng về tự do ngôn luận?

024_138495-250.jpg

Một bức tranh cổ động trên đường phố Sài Gòn, ảnh minh họa chụp trước đây. AFP PHOTO.

Việc kêu gọi Đảng chấp nhận một xã hội cởi mở, chấp nhận vai trò phản biện của trí thức mạnh mẽ hơn có thể hiểu là một cách nói khác đi đường vòng về tự do ngôn luận, tự do lập hội. TS Phạm Chí Dũng, nhà phản biện độc lập từ TP.HCM đưa ra nhận định:

“Vấn đề là cần phải có đề xuất cụ thể hơn nữa, chứ bây giờ chỉ đưa ra vấn đề xã hội cởi mở thì Đảng trước giờ vẫn nói xã hội cởi mở, vẫn có chủ trương phản biện, dân chủ từ trên xuống từ dưới lên và mới đây thì ông Trọng lại đưa ra lời kêu gọi trí thức đóng góp phản biện và ông Nguyễn Tấn Dũng cũng có Quyết định 501 xây dựng diễn đàn trí thức phản biện chuyên nghiệp giao cho Liên hiệp Hội Khoa học Kỹ thuật thí điểm xây dựng. Như vậy nếu như nhóm Chương trình Fulbright hay tổ chức nào khác không có đề xuất cụ thể hơn mà chỉ nói chung chung như vậy thì sẽ khó có thể thuyết phục được ai, đặc biệt là khó thuyết phục được đối tượng đang đề cập là Đảng và Nhà nước.”

Điểm thứ hai trong đề xuất cải cách của Chương trình Fulbright liên quan tới việc gọi là cơ chế cạnh tranh tìm nhà lãnh đạo thực tài, thông qua quá trình lựa chọn dân chủ. Luật sư Trần Quốc Thuận nhận xét:

“Câu chuyện cạnh tranh thi để giữ các chức vụ thì hiện nay có Bộ Giao thông Vận tải thực hiện rất mạnh mẽ. Nhưng cũng chỉ là cấp dưới Bộ còn thực hiện cạnh tranh rộng rãi thì cũng có đặt ra cho bầu cử ở cấp cơ sở phường xã chứ chưa đặt ra ở cấp cao hơn. Cho nên việc đặt ra là có bầu cử tranh cử tự do hay không thì có lẽ Đại hội Đảng 12 này chưa đặt ra được,”

Cùng một câu hỏi được nêu ra về tính khả thi của đề xuất: Đảng thúc đẩy cơ chế cạnh tranh, bầu cử dân chủ để lựa chọn nhân sự lãnh đạo. Ghi nhận một vài thí điểm thi tuyển ở cấp Vụ Cục Bộ GTVT hoặc ở cấp địa phương như Đà Nẵng, TS Phạm Chí Dũng nhấn mạnh:

“Vấn đề cạnh tranh vẫn là yếu huyệt rất lớn trong Đảng, trong nhà nước và chính phủ từ cấp trung ương tới cấp địa phương. Thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề cạnh tranh đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là chỉ ở cấp nhỏ cấp địa phương.
-TS Phạm Chí Dũng”

“Vấn đề cạnh tranh vẫn là yếu huyệt rất lớn trong Đảng, trong nhà nước và chính phủ từ cấp trung ương tới cấp địa phương. Thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề cạnh tranh đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là chỉ ở cấp nhỏ cấp địa phương.  Bởi vì muốn cạnh tranh được phải có con người cạnh tranh, muốn xây dựng được con người cạnh tranh phải xây dựng được cơ chế tổ chức cạnh tranh. Như đã thấy ở trong Đảng, trong nhà nước, trong bộ máy chính quyền gần như chưa có yếu tố cạnh tranh vẫn chỉ chủ yếu là cán bộ con ông cháu cha, hay mua quan bán chức là nhiều. Chưa có yếu tố thực tài nhân tài, chưa trải thảm đỏ chưa thu hút người tài mà tất cả chỉ là lời nói miệng mị dân mà thôi.”

Điểm thứ ba trong đề xuất cải cách ba điểm đối với Đảng Cộng sản, nhóm nghiên cứu Chương trình Fulbright TP. HCM cho rằng cần luật hóa vai trò và hoạt động của Đảng. Vì hơn ai hết Đảng cần gương mẫu là người đầu tiên tuân thủ chế độ pháp quyền, thượng tôn pháp luật. Đối với điểm này, LS Trần Quốc Thuận nhận xét:

“Câu đó người ta đã đặt ra và bàn nhiều trong khi làm Hiến pháp 2013 và Điều 4 vẫn tiếp tục ghi vai trò lãnh đạo của Đảng nhưng trong đó cũng ghi là Đảng chịu trách nhiệm về quyết định của mình, chịu sự giám sát của nhân dân. Điều này là tốt, cho nên Luật Mặt trận Tổ quốc vừa qua có người cũng đặt vấn đề này. Tuy nhiên Luật Mặt trận Tổ quốc cũng chưa đi thẳng vào là có nên giám sát Đảng hay không. Trên nguyên tắc Đảng là toàn quyền lãnh đạo và có giám sát triệt để các cơ quan chấp hành của Đảng. Ở Việt Nam cũng được hiểu như thế là gián tiếp giám sát Đảng, nhưng trực tiếp giám sát cá nhân Đảng Cộng sản giao cho xã hội, cho đoàn thể khác thì vấn đề đó Việt Nam chưa đặt ra.”

Cùng về vấn đề luật hóa vai trò và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nội dung ba điểm cải cách của nhóm nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright TP.HCM. Tiến Sĩ Phạm Chí Dũng nhận định:

“Vấn đề này không mới, người ta thường nói là có một tổ chức hoạt động trái pháp luật từ trước tới giờ, ai cũng thấy nhưng không ai dám nói, đó là tổ chức Đảng vì không có một luật nào cho Đảng cả. Tôi nghĩ đây là đề nghị đáng chú nhất của nhóm Chương trình Fulbright mặc dù đã có nhiều người nêu rồi. Đảng cần được luật hóa và đưa vào trong Hiến pháp và xây dựng nguyên một bộ luật về những điều kiện hoạt động riêng cho đảng cầm quyền. Tôi muốn nói là luật đó không chỉ áp dụng cho đảng cầm quyền hiện nay mà còn áp dụng cho những đảng cầm quyền cho những thế hệ sau này trong những năm sắp tới trong điều kiện có nhiều đảng hơn một đảng hiện nay.”

Theo tường thuật của SaigonTimes Online, diễn giả TS Huỳnh Thế Du thuộc nhóm nghiên cứu Chương trình giảng dậy kinh tế Fulbright TPHCM còn làm rõ hơn những góp ý cải cách với Đảng. Theo đó song song với những vấn đề mà Đảng cần tập trung cải cách vì là người định hướng chính sách quyết định đến sự phát triển của Việt Nam, Đảng cần tập trung một cách chủ động vào năm vấn đề mà ông gọi là năm cấu phần quan trọng của việc hình thành một liên minh cải cách và phát triển đúng nghĩa.

Đó là chuyên nghiệp hóa hoạt động của cơ quan dân cử và dân biểu; tạo dựng một nền hành chính công vụ chuyên nghiệp đủ năng lực quản lý và điều hành quốc gia; tạo dựng hệ thống tư pháp đủ quyền lực để bảo vệ công lý; xem kinh tế tư nhân trong nước như một đối tác liên minh của chính quyền trong việc tạo ra một Việt Nam thịnh vượng; thừa nhận sự tồn tại và vai trò tất yếu của các tổ chức xã hội; chấp nhận quyền giám sát nhà nước và thị trường của các các tầng lớp trong xã hội và giới truyền thông.

Vẫn theo tường thuật của Saigon Times Online, các chuyên gia khách mời tham dự Tọa đàm do Chương trình giảng dậy kinh tế Fulbright tổ chức trong đó có TS Trần Đình Thiên thuộc Viện Kinh tế Việt nam, LS Trần Hữu Huỳnh thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đều có chung nhận định là bộ máy hành pháp của Việt Nam hiện nay quá mạnh, trong khi tiếng nói của lập pháp và tư pháp quá yếu ớt nên cần phải có cơ chế mới để cân bằng.

Người đọc báo cảm nhận là đề xuất ba cải cách dành cho Đảng, cũng như thực hiện liên minh cải cách với năm cấu phần, với mục đích tối thượng để Việt nam chuyển đổi sang mô hình phát triển mới sẽ khó có khả năng thực hiện toàn phần, hay nói cách khác đó là một đề xuất ước mơ của giới học thuật. Các chuyên gia mà chúng tôi trao đổi nói rằng, cải cách như thế chẳng khác nào đổi tên chế độ chính trị hiện tại của Việt Nam, thực hiện tam quyền phân lập, bầu cử tự do dân chủ và người dân có đầy đủ dân quyền cũng như nhân quyền.

Ba kịch bản trên Biển Đông

Ba kịch bản trên Biển Đông

Chiến đấu cơ F/A-18 Hornet của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz trong một cuộc tuần tra ở Biển Đông.

Chiến đấu cơ F/A-18 Hornet của Hải quân Mỹ cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz trong một cuộc tuần tra ở Biển Đông.

Nguyễn Hưng Quốc

Mấy tuần vừa qua, Mỹ liên tục lên án gay gắt việc Trung Quốc bồi đắp và xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa và kêu gọi Trung Quốc ngừng ngay tức khắc những hành động mà họ cho là phi pháp, khiêu khích và nguy hiểm ấy. Mặc kệ, Trung Quốc vẫn tiếp tục xây dựng, thậm chí còn đặt cả mấy khẩu pháo trên những hòn đảo nhân tạo ấy. Chuyện gì sẽ xảy ra trên Biển Đông?

Theo tôi, sẽ có một trong ba kịch bản sau đây:

Thứ nhất, Biển Đông sẽ châm ngòi cho cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ.

Điều này, thật ra, đã có nhiều người nói đến từ lâu. Một số học giả đưa ra các lý do khiến Trung Quốc sẵn sàng mở một cuộc chiến tranh với Mỹ, trong đó, có ba lý do chính: Một, là một nước có nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, Trung Quốc cần khẳng định vị thế siêu cường của mình, ít nhất là trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và sự khẳng định ấy chỉ có thể thực hiện được qua chiến tranh. Hai, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc hiện nay đã bắt đầu khựng lại, sự phân hoá giàu nghèo càng ngày càng trở nên to lớn, sự bất mãn của dân chúng càng ngày càng sâu sắc, xu hướng đòi hỏi dân chủ càng ngày càng mạnh mẽ, Trung Quốc cần một cuộc chiến tranh để nâng cao chủ nghĩa quốc gia, thống nhất lòng dân và dập tắt mọi ngọn lửa phản kháng, từ đó, duy trì sự thống trị của đảng Cộng sản. Ba, để tiếp tục phát triển, Trung Quốc rất cần nhiên liệu mà Biển Đông, theo họ, là nguồn chứa dầu khí thuộc loại lớn nhất thế giới, do đó, họ xem việc chiếm cứ Biển Đông là một “lợi ích cốt lõi”, không thể nhân nhượng, ngay cả khi họ phải trực tiếp đối đầu với Mỹ.

Về phía Mỹ, có nhiều lý do để họ ngại một cuộc đối đầu quân sự như vậy. Chiến tranh ở Afghanistan và Iraq chưa chấm dứt. Tình hình chính sự ở Trung Đông vẫn còn ngổn ngang. Dân chúng Mỹ đã bắt đầu mệt mỏi với việc can thiệp ở nước ngoài. Tổng thống Barack Obama chỉ còn một năm rưỡi nữa là hết nhiệm kỳ, chắc chắn ông không muốn tham dự vào một cuộc phiêu lưu mới đầy bất trắc. Tổng thống kế tiếp cũng chắc không muốn mở đầu một nhiệm kỳ bằng chiến tranh. Đó là chưa kể kinh tế Mỹ, một mặt, vẫn chưa hồi phục hẳn; mặt khác, có quan hệ chặt chẽ với kinh tế Trung Quốc. Chỉ có hai lý do có thể khiến Mỹ vượt qua tất cả những sự khó khăn và trở ngại ấy: Một, Trung Quốc quyết định khống chế hoàn toàn con đường hàng hải đi ngang qua Biển Đông; và hai, Trung Quốc nổ súng trước vào máy bay hay chiến hạm của Mỹ.

Chuyện Trung Quốc nổ súng trước không phải không có khả năng xảy ra. Nó có thể xảy ra một cách cố ý với một sự tính toán rõ rệt từ nhà cầm quyền Trung Quốc nhưng cũng có thể xảy ra một cách ngẫu nhiên và bất ngờ, hay nói theo giáo sư Michael Auslin, như “một tai nạn” khi máy bay hoặc chiến hạm hai bên đụng vào nhau gây ra thương vong, từ đó, dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ từ cả hai phía và hậu quả là chiến tranh sẽ bùng nổ.

Một cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc chắc chắn sẽ vô cùng khốc liệt và rất dễ dẫn đến nguy cơ lan rộng thành chiến tranh thế giới, và đặc biệt, chiến tranh hạt nhân. Viễn cảnh ấy chắc chắn sẽ làm chột dạ mọi người. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn có thể khẳng định vị thế siêu cường trong khu vực của mình bằng một cuộc chiến tranh khác, ví dụ, chiến tranh với một nước đang tranh chấp nào đó. Đó là những nước nào? Có ba nước tranh chấp biển và đảo quyết liệt nhất với Trung Quốc: Nhật Bản, Philippines và Việt Nam. Trong ba nước ấy, mạnh nhất là Nhật Bản. Về quân sự, trừ vũ khí hạt nhân, có khi Nhật Bản còn mạnh hơn cả Trung Quốc. Hơn nữa, sau Nhật Bản là Mỹ. Có lẽ Trung Quốc sẽ không phiêu lưu vào cái nơi nguy hiểm và không nắm chắc phần thắng ấy. Nước yếu nhất là Philippines. Nhưng Philippines lại có liên minh về quốc phòng với Mỹ. Nếu Trung Quốc muốn tránh đương đầu với Mỹ, họ cũng sẽ không gây chiến với Philippines. Chỉ còn lại Việt Nam là vừa yếu vừa thân cô thế cô, dễ đánh nhất. Bởi vậy, chúng ta có kịch bản thứ hai: Chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Trong bài “Why A War Between China And Vietnam Is Inevitable” đăng trên tờ Business Insider vào tháng 7 năm 2011, Dee Woo cho chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam là chuyện không thể tránh khỏi. Ông cho cuộc chiến tranh ấy phục vụ lợi ích của chính quyền ở cả hai nước: Trung Quốc thì muốn chiếm trọn Trường Sa và, từ đó, Biển Đông, còn Việt Nam thì muốn làm lệch hướng sự quan tâm của dân chúng để không ai còn lên án những thất bại thảm hại về phương diện kinh tế và xã hội của nhà cầm quyền. Nhưng Dee Woo lại vẽ nên một viễn cảnh thê thảm của Việt Nam: sau khi tấn công cả trên biển lẫn trên đất liền, Trung Quốc sẽ phá huỷ toàn bộ các cơ sở hạ tầng của Việt Nam rồi rút về, để lại ở Việt Nam một cảnh tan hoang và thậm chí, nội chiến triền miên cả nửa thế kỷ sau cũng chưa chắc đã hồi phục được.

Viễn cảnh ấy, tuy bi quan, nhưng không có gì quá đáng. Tương quan lực lượng của Việt Nam và Trung Quốc hiện nay khác xa với thời chiến tranh biên giới vào năm 1979. Trung Quốc không những giàu hơn về kinh tế mà còn có kho vũ khí, khi tài cũng như các phương tiện phục vụ chiến tranh dồi dào và tối tân hơn Việt Nam cả mấy chục lần.  Việt Nam có đổ thêm bao nhiêu tiền để mua sắm vũ khí thì cũng không thể nào bắt kịp được Trung Quốc. Hơn nữa, cần lưu ý: Đánh nhau trên bộ người ta còn có thể sử dụng chiến thuật du kích và huy động chiến tranh nhân dân nhưng trên mặt biển, yếu tố quyết định nhất vẫn là vũ khí và kỹ thuật. Thua vũ khí và thua kỹ thuật là thua hẳn cuộc chiến. Chắc chắn chính quyền Việt Nam biết rõ điều đó nên họ vẫn tiếp tục chịu đựng và nhân nhượng. Nếu sách lược này kéo dài mãi, chúng ta sẽ có kịch bản thứ ba: Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành.

Nên nhớ một trong những sách lược chính của Trung Quốc ở Biển Đông là sách lược tằm ăn dâu (salami slicing). Họ cứ lấn dần dần. Lấn đến cỡ nào Việt Nam cũng nhịn, đến một lúc nào đó, tất cả những gì họ muốn đều biến thành hiện thực. Họ tuyên bố về đường lưỡi bò bao trùm lên 80% diện tích Biển Đông của Việt Nam: Việt Nam nhịn. Họ đem giàn khoan đến thềm lục địa Việt Nam: Việt Nam nhịn. Họ tái tạo bãi đá ngầm thành đảo nhân tạo: Việt Nam nhịn. Một lúc nào đó, họ tuyên bố thành lập vùng nhận dạng hàng không: Việt Nam lại nhịn. Thậm chí, họ có thể chiếm nốt các hòn đảo khác ở Trường Sa: Việt Nam cũng vẫn tiếp tục nhịn. Đến lúc đó, thực tình họ chả cần đánh nhau với Việt Nam làm gì: Họ đã có tất cả những gì họ muốn. Và đến lúc ấy, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc không còn nữa. Chỉ còn mâu thuẫn trong nội bộ Việt Nam: giữa nhân dân và một chính quyền bất lực, nhu nhược và đớn hèn.

Phải truy tới cùng bọn quan tham

Phải truy tới cùng bọn quan tham

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Nghị trường của Quốc Hội VN đang nổi lên những cuộc tranh luận gay gắt về một số vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Có hai vấn đề đáng chú ý nhất, trong bài trước tôi đã tường thuật cùng độc giả là “quyền im lặng” của một can phạm khi bị cơ quan điều tra tạm giữ. Vấn đề thứ hai là “nên hay không nên bãi bỏ án tử hình cho tội tham nhũng.” Tuần này tôi đề cập đến vấn đề thứ hai. Cũng trong buổi thảo luận ấy đã có nhiều ý kiến trái ngược nhau, hầu hết ý kiến đều đồng tình là không bỏ án tử hình với các tội tham ô tài sản, nhận hối lộ nhằm trừng trị nạn tham nhũng. Tuy nhiên, nguyên Phó Chánh Án Tòa án Nhân Dân (TAND) Tối cao Trần Văn Độ, thành viên Hội Đồng Thẩm Định các dự án luật của chính phủ, lại có quan điểm khác hẳn.

Tử hình quan tham không giải quyết được gì?

Ông Độ ủng hộ bỏ án tử hình trong hai tội tham ô tài sản và nhận hối lộ. Trên số báo ngày 4-5, Pháp Luật đã đăng bài phỏng vấn ông Trần Văn Độ. Ông nói: “Tội tham ô, nhận hối lộ là các tội tham nhũng mang tính kinh tế. Hiện hầu hết các nước đã bỏ án tử hình đối với những tội danh này. Ở Trung Quốc cũng có tuyên án tử hình với hành vi tham nhũng nhưng là tử hình treo, tức hoãn thi hành, sau hai năm chuyển sang tù chung thân. Chỉ có Việt Nam là còn áp dụng án tử hình đối với tội tham ô, nhận hối lộ và hiện nay vẫn đang muốn giữ lại án tử hình trong dự thảo BLHS (sửa đổi).” Ông cho rằng cách hành xử “không được bao nhiêu” đối với tham nhũng càng làm mất lòng tin của người dân.

Căn dinh thự của ông Truyền được mệnh danh là hoa hậu xứ Dừa.

Ông chỉ ra một thực tế: “Tội tham ô, nhận hối lộ chúng ta quy định hình phạt tử hình nhưng thực tế không xử lý được bao nhiêu cả. Dân bảo các ông hô hào thôi chứ có làm được đâu? Nghiêm minh tức là tham ô 4-5 tỷ đồng trở lên phải tử hình, nhưng chúng ta có làm được đâu. Thậm chí có những người tham ô nhưng về mặt đảng chỉ cảnh cáo thôi. Tức là có độ chênh giữa quy định và thực thi trên thực tiễn. Chúng ta chỉ xử lý những vụ tham nhũng vặt, dăm ba chục triệu, vài ba trăm triệu. Quy định thật nặng, thật to nhưng không thực hiện được thì càng làm mất lòng tin của người dân.”
Ý kiến này lập tức bị phản đối ngay trong nghị trường, nhất là làn sóng phản kháng dữ dội của người dân.

Duy trì án tử để chống quan tham

Theo Viện Trưởng Đinh Xuân Thảo của Viện Nghiên Cứu Lập Pháp, việc thu hẹp án tử hình là phù hợp với xu hướng thế giới. Tuy nhiên việc Dự thảo luật đề xuất bỏ hình phạt tử hình với một số tội danh như cướp tài sản, phá hủy công trình quan trọng quốc gia là chưa phù hợp, cần cân nhắc lại.
Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ thì cho rằng, đối với tội phạm tham nhũng, khi sửa luật, điều quan trọng vẫn phải bảo đảm tính răn đe của pháp luật. “Tội tham nhũng nếu bảo bỏ người ta lại bảo không đấu tranh chống tham nhũng nữa. Điều này chưa thuyết phục.” ĐB Trần Du Lịch (TP Sài Gòn) cũng cho rằng, đối với tội tham nhũng là không thời hiệu, do vậy cần phải truy tới cùng, phát hiện đến cùng mới có thể trừng trị được.
Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Tư Pháp Nguyễn Đình Quyền cũng đề nghị không nên bỏ án tử hình bằng mọi giá để phúc đáp yêu cầu của thế giới. Đại biểu Quyền cũng không đồng tình với việc không áp dụng hình phạt tử hình đối với người già từ 70 tuổi trở lên. Vì hiện nay tuổi thọ đã được nâng cao, trong khi đó nhiều đối tượng ở độ tuổi này lại “phạm tội kinh khủng,” với tâm lý “hy sinh đời bố, củng cố đời con.”

Căn nhà lụp xụp, rách nát của một người dân nghèo ngay bên cạnh dinh thự của ông Truyền. Và ở rất nhiều địa phương khác, ai cũng thấy nghịch cảnh này.

Cưỡi lên đầu nhân dân còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản…!?

Đó là lời nhận xét của ông Nguyễn Xuân Tỷ, Phó Giám Đốc Học Viện Quốc Phòng, Đoàn đại biểu Quốc Hội tỉnh Bến Tre. Ông Tỷ nói nguyên văn như sau: “Làm cán bộ mấy năm mà trong nhà có vài ba trăm tỉ đồng, thậm chí cả ngàn tỉ đồng thì lấy ở đâu ra nếu không tham nhũng. Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa.”
Có lẽ đây là lời nhận xét thẳng thắn nhất của một đại biểu Quốc Hội về việc giàu lên nhanh chóng của “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, công chức. Ông Nguyễn Xuân Tỷ đã nói ra một điều tưởng như vô lý, đó là có hẳn một “đội ngũ” làm cán bộ có “mấy năm” mà trong nhà có “vài ba trăm tỉ” đồng, thậm chí cả “ngàn tỉ đồng” thì quả là khủng khiếp. Chuyện vô lý đã nghiễm nhiên trở thành một sự thật tràn lan không thể chối cãi ở VN ngày nay.
Trên báo Tiền phong, Giám Đốc Công An thành phố Hà Nội, tướng Nguyễn Đức Chung bày tỏ: “Người nghèo đi buôn ma túy bị lĩnh án tử hình, không cớ gì người có chức vụ, kiến thức mà tham ô, tham nhũng lại không bị tử hình.”
Về phía người dân, đã có rất nhiều lời phẫn nộ, tôi chỉ nêu một ý kiến trên báo Kiến Thức của bạn Nguyễn Duy Xuân:
“Bỏ tử hình là nương tay với quan tham nhũng! Chỉ có những kẻ tham nhũng chưa lộ mặt là hả hê chuẩn bị một quy trình đục khoét mới… Cách đây khoảng vài năm, ở quê tôi có một vị cán bộ chức tước cũng cỡ trưởng phòng cấp huyện, được dân tặng cho cái biệt danh cá rô phi. Hôm nghe ông tổ trưởng dân phố gọi thế, tôi ngạc nhiên hỏi lại nguyên do. Ông tổ trưởng giải thích ngắn gọn: Vì lão ta ăn tạp, không từ một thứ gì.
“À ra thế! Cứ nghĩ dân không biết gì, ai dè họ tinh đời lắm! Chuyện ông trưởng phòng tham lam ăn tạp, dư luận ai cũng tường, nhưng tặng cho cái biệt danh là cá rô phi thì chỉ có dân mới thâm thúy đến thế. Bây giờ nghĩ lại, bỗng thấy rùng mình. Giờ không chỉ một con rô phi mà cả một bầy rô phi nhung nhúc. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thì gọi là một bầy sâu. Một bầy sâu hay một bầy rô phi – đều là lũ ăn tàn phá hại – núi non cũng sạt chứ nói gì đến tài sản quốc gia. Những con sâu bự, những con cá rô phi tổ chảng ấy được che chắn bằng những chiếc bình phong liêm khiết trong sạch, thấy đó nhưng không dễ gì lột mặt nạ chúng được.”

Không tham nhũng thì là tội gì?

Cũng trên báo Kiến Thức, nhân dịp ồn ào này, Luật sư (LS) Phan Xuân Xiểm nêu quan điểm về những sai phạm của quan Phó Tổng Thanh Tra chính phủ Trần Văn Truyền mà LS xác định đây là tham nhũng. Tôi tóm tắt những điểm chính của ông LS này:
– “Ông Trần Văn Truyền đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nói dối cấp trên chưa có nhà để được cấp nhà, có nhà rồi vẫn cố tình xin nhà ở các nơi khác nhau, thế không gọi là tham nhũng thì là gì? Nếu chỉ thu hồi tài sản và xử lý kiểm điểm thì không thỏa đáng.”
– “Ngay từ lúc ông Truyền mới ra Hà Nội công tác đã có những đơn tố cáo về lối sống, đạo đức, không xứng đáng làm cán bộ lãnh đạo, gửi về Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương. Khi đó tôi còn đang làm, quá trình xác minh cũng được tiến hành nhưng rồi không hiểu sao không thấy phát hiện vấn đề gì. Nói thế để thấy những sai phạm của ông ấy không phải mãi đến gần lúc nghỉ hưu mới có mà có tính quá trình. Lợi dụng quyền hạn để có những đặc quyền đặc lợi cho bản thân, cho gia đình. Có nhà bảo chưa có, có đất bảo chưa, xây những dinh thự nguy nga hoành tráng, sống xa hoa gây ra sự phẫn nộ của người dân.”
LS phân tích tiếp: “Nếu kết luận có tội tham nhũng thì phải xử lý hình sự. Vấn đề là phải làm rõ tham nhũng như thế nào. Còn tôi khẳng định không tự nhiên cán bộ có tài sản nhiều như vậy được. Chỉ có thể là do tham nhũng, móc ngoặc thì mới có. Thứ trưởng Bộ Xây Dựng Nguyễn Trần Nam từng phát biểu trong một cuộc hội thảo rằng, cỡ lương thứ trưởng thì phải 40 năm mới mua được nhà thu nhập thấp cơ mà. Thế nên nói ông Truyền không tham nhũng là vô lý.”
Khi được PV hỏi: Từ câu chuyện này, có ý kiến cho rằng có thêm một bài học về phòng chống tham nhũng là kiểm soát chặt những cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo sắp nghỉ hưu để tránh tình trạng “hốt mẻ lưới, hạ cánh an toàn,” ý kiến của ông thế nào?
– Tôi nghĩ sai phạm của ông Truyền có tính quá trình, phải rất lâu mới tích tụ được khối tài sản lớn như vậy, không phải gần đến lúc nghỉ hưu ông ấy mới sai. Thế nên phải kiểm tra, giám sát chặt cả quá trình công tác, nhất là ở những vị trí, lĩnh vực nhạy cảm chứ không riêng là người sắp về hưu hay mới được bổ nhiệm.
Tóm lại vị LS này cho rằng cần phải tịch thu toàn bộ tài sản của ông Truyền đồng thời tịch thu tài sản của các con cháu do quan tham để lại hoặc cho đứng tên.
Chúng ta hãy thử phân tích trường hợp này.

Tâm lý hy sinh đời bố cũng cố đời con

Đó là một “khẩu hiệu” của những ông quan già đời, sắp về hưu. Trước khi “hạ cánh” cố gắng làm một vài vụ lớn và bất chấp luật lệ, sẵn sàng nhận lãnh án tù. Bởi ông già rồi, có sống thêm cũng chỉ vài năm nên làm vài quả thật lớn chừng vài ba trăm tỷ để lại cho con cháu.
Như trên tôi đã đề cập đến lời của Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Tư Pháp Nguyễn Đình Quyền không đồng tình với việc không áp dụng hình phạt tử hình đối với người già từ 70 tuổi trở lên. Vì hiện nay tuổi thọ đã được nâng cao, trong khi đó nhiều đối tượng ở độ tuổi này lại “phạm tội kinh khủng,” với tâm lý “hy sinh đời bố, củng cố đời con.”
Bạn Nguyễn Hùng (e-mail: thehung191073@gmail.com) viết: “Kiếm vài ba trăm tỉ, chấp nhận án tù vài chục năm, vào tù chỉ cần ngoan ngoãn chấp hành tốt, án sẽ được giảm còn dăm ba năm. Sướng thật. Đời cứ thế mà ung dung hưởng thụ bởi có tịch thu tài sản thì giỏi lắm nhà nước cũng chỉ lấy lại được phần nào bởi tất cả đều đã được tẩu tán, hợp thức hóa bằng cách cho vợ con cháu chắt đứng tên hết rồi.”
Đây là một thực trạng diễn ra từ lâu ở VN, đến bây giờ vẫn chưa có quan nào bị tịch thu tài sản, con cháu cứ việc ung dung thụ hưởng khối tài sản vĩ đại của ông cha để lại. Cần phải truy tận gốc những tài sản đó do đâu mà có. Không thể tin vào việc kê khai tài sản của các quan chức. Cần phải có những cuộc điều tra trung thực, quy mô hơn. Đừng để họ hàng hang hốc các quan tham cưỡi mãi lên đầu người dân nữa. Và không thể bãi bỏ án tử hình cho tội tham nhũng. Nếu pháp luật đã quy định “tham ô 4-5 tỷ đồng trở lên phải tử hình” thì cứ thế mà thi hành, còn bàn đi tán lại làm chi nữa cho dân nghi ngờ: Chắc có ông nào sợ chết nên mới khơi ra vụ bỏ án tử hình?

Văn Quang

(12-6-2015)

Nỗi Đau Của Núi

Nỗi Đau Của Núi

tuongnangtien

Sổ Tay Thượng Dân K’ Tiên

“Chính quyền từ trung ương đến địa phương đều cùng một duộc… chỉ nói vu vơ ngoài pháp luật… không giải quyết gì, tôi đến chỗ Hà Nội này tôi mới biết được rằng có rất nhiều người dân oan như chúng tôi cũng đang phải gánh chịu những hậu quả mà đảng và nhà nước đã gây cho mọi dân tộc…”

Ma Văn Pá (Dân Oan H’mông)

Báo Dân Trí, số ra ngày 20 tháng 5 năm 2015, đã vô cùng hân hoan gửi đến cho độc giả một tin vui:

Cô bé H’mông vượt “cổng trời” ra phố đi học… 11 tuổi, Mị vượt 50 cây số đường rừng, vượt những con dốc cao, lội qua những con suối mùa mưa nước cuồn cuộn chảy để đi học thêm cái chữ.

Học giỏi, múa hay, là liên đội trưởng xuất sắc, Mị vinh dự đại diện cho hàng nghìn bạn nhỏ H’mông được ra Hà Nội báo công với Bác nhân dịp kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Người.

Vừa qua, trong Hội thi “Chúng em kể chuyện Bác Hồ”, bằng giọng kể trầm ấm, diễn xuất sinh động, cô học trò người H’mông Vừ Y Mị vinh dự đạt giải Nhất toàn huyện. Câu chuyện “Bác Hồ với câu hát dân ca” mà Mị kể khiến nhiều người cảm động. “Chúng em chỉ được gặp Bác qua những câu chuyện kể và biết rằng, Bác dành nhiều tình yêu mến cho những làn điệu dân ca đã nuôi dưỡng tâm hồn Người từ thửa thiếu thời. Yêu Bác, em thêm yêu hơn nhưng câu ví, giặm quê mình. Người H’mông nay không còn du canh du cư nữa, trẻ em H’mông được cắp sách tới trường… Người H’mông ơn Đảng, ơn Bác Hồ nhiều”, Vừ Y Mị chia sẻ.

Ảnh: Dân Trí

Lời lẽ của cháu Mị khiến tôi nhớ đến bản nhạc (Người Mèo Ơn Đảng) của Thanh Phúc:

Bao đời nay sống nghèo lam lũ
Nay cuộc sống dân Mèo từ đây sáng rồi …
Người Mèo ơn Đảng suốt đời.

Đảng vốn hảo ngọt nên “nhạc sĩ” pha chế nước đường (cho uống bằng thích) là chuyện thuận lý nhưng nếu chỉ vì thế mà bắt cả một sắc tộc, hàng triệu người miền núi, phải “ơn Đảng suốt đời” thì chơi hơi bị ép . “Cuộc sống của dân Mèo” (nói nào ngay) không “sáng” gì cho lắm, nếu chưa muốn nói là ngược lại. Gia cảnh của ông Thắng A Di có thể được coi là một trong những trường hợp (tối tăm) tiêu biểu:

“Cùng với 6.500 người Hmong khác, cũng chạy nạn từ Lào sang, gia đình ông Thắng A Di bị nhà cầm quyền Thái Lan coi là những di dân bất hợp pháp. Từ ngày 4 tháng 7, họ bị xua đuổi và không còn chỗ nào khác hơn là tập trung trên hành lang dài 2 KM, dọc theo con lộ chính nơi Bản Làng Bên Dòng Sông Trắng.

Họ che những tấm vải nhựa, nhưng rõ ràng là khó vượt qua được cái nóng vẫn còn gay gắt, hoặc những trận mưa đầu mùa ở vùng đông Bắc Thái … Họ đã trải qua bốn ngày điêu đứng như người chạy loạn, không nơi che mưa nắng, không thực phẩm, không nước sạch, kể cả không có chỗ làm công việc vệ sinh cần thiết …”

Dù vậy, vẫn theo tường trình của Nam Nguyên (từ Phet Chabun – Bắc Thái) ông Thắng A Di cứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần với phóng viên RFA rằng “nếu phải chết em thà chết tại đây.”

Ủa, chớ cớ sao mà cái ông Thắng A Di này lại nói năng lạng quạng (và liều mạng) dữ vậy cà? Câu trả lời có thể tìm được qua lời phát biểu của một thanh niên H’mông khác, anh Ma Văn Pá (tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng) vào hôm 9 tháng 10 năm 2013:

“Chính quyền từ trung ương đến địa phương đều cùng một duộc… chỉ nói vu vơ ngoài pháp luật… không giải quyết gì, tôi đến chỗ Hà Nội này tôi mới biết được rằng có rất nhiều người dân oan như chúng tôi cũng đang phải gánh chịu những hậu quả mà đảng và nhà nước đã gây cho mọi dân tộc…”

Người H’Mông biểu tình ở Hà Nội. Ảnh: Trần Thị Cẩm Thanh

Những lời lẽ thẳng thắn và bộc trực (thượng dẫn) cũng giúp cho công luận hiểu thêm tại sao có biến động Mường Nhé – xẩy ra hồi năm 2011, ở tỉnh Điện Biên –  khiến cho hàng trăm người H’mông bị sát hại, hàng ngàn người khác bị bắt giữ, và vô số kẻ phải rời bỏ quê hương bảng làng để tìm đường lánh nạn.

Cùng với những sách nhiễu (thường xuyên) liên quan đến vấn đề tôn giáo, văn hoá và sắc tộc …, môi trường sống của người H’mông hiện nay cũng đang bị huỷ hoại không thương tiếc. Từ Hà Nội, tác giả Đặng Hoàng Giang (qua BBC – vào hôm 4 tháng 3 năm 2015) đã bầy tỏ sự lo ngại “Rồi Tất Cả Sẽ Trở Thành Đồ Sơn” trong tương lai gần:

“Từ sau khi đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai khánh thành, lượng khách tới Sapa tăng đột biến. Dịp Tết Nguyên đán vừa rồi, ô tô và xe khách biển số 29 và 30 chen chúc nhau nhích từng tí một trên những con phố dốc và hẹp ở trung tâm, rú ga giữ máy, bấm còi inh ỏi…

Không còn nhìn thấy núi non gì nữa vì hai bên đường đã kín hàng quán bán đồ lưu niệm. Trẻ con Hmong xếp hàng đợi được phát bánh kẹo như là khỉ trong sở thú.

Những đứa bạo dạn hơn thì đi giật lùi trước mặt khách, chúng từ chối kẹo, chỉ nhận tiền, và đồng thanh kêu như những cái máy vô hồn, tiếng Kinh không sõi ‘cô cho hai nghìn, cô cho hai nghìn.’ Một cộng đồng và một vùng thiên nhiên đã đánh mất nhân phẩm của mình vì du lịch…

Hiện nay, mỗi du khách tới Sapa sau khi bỏ ra 1 triệu đồng cho việc đi lại, khách sạn, ăn uống – tất cả chảy vào túi người Kinh, kể cả tiền cho một chai nước trắng – thì mới bỏ ra 10 nghìn mua mấy cái đồ thổ cẩm của người dân tộc. Thậm chí nhiều hướng dẫn viên du lịch còn dẫn khách tới các cửa hàng bán thổ cẩm nhập từ Trung Quốc vì họ được hoa hồng từ đây.

Và như vậy, những người Hmong, người Dao, người Tày, người Giáy, sẽ chủ yếu là đứng chầu rìa ở ngay trên quê hương họ.”

Bên lề cuộc đời. Ảnh lấy từ BBC

Thay vì được quan tâm, nâng đỡ để có thể dễ dàng hoà nhập vào dòng sống chung của cả dân tộc thì tất cả những sắc dân bản địa đều bị “chầu rìa” ráo trọi, chứ có riêng chi người H’mông. Và sau khi bị đẩy ra khỏi biên giới Việt Nam thì hầu như họ đều sống bấp bênh (“bên lề cuộc đời”) dù trôi dạt đến bất cứ nơi đâu.

Tôi có theo dõi nhưng không tìm được tin tức gì thêm về gia đình của ông Thắng A Di, chả biết họ cầm cự được bao lâu trong điều kiện sống “không nơi che mưa nắng, không thực phẩm, không nước sạch, kể cả không có chỗ làm công việc vệ sinh cần thiết …” nơi Bản Làng Bên Dòng Sông Trắng và – chung cuộc – đã lưu lạc đến chân trời góc biển nào rồi?

Cuối tháng Năm vừa qua, ở Thái Lan, tôi có dịp ngồi uống rượu suốt buổi với một người H’mông khác. Ông không đồng ý cho tôi chụp hình, và cũng chỉ cho biết mình họ Sùng nhưng không muốn nêu tên vì sợ những chuyện phiền phức có thể xẩy ra cho bà con hay bè bạn ở quê nhà.

Ông Sùng quê ở Hà Giang, mang gia đình vào Đắc Nông làm ruộng rẫy đã lâu. Ông hơi nghễng ngãng sau khi “bị các ông cán bộ thay phiên tát tai liên tục mấy giờ đồng hồ liền vì tôi không chịu thề bỏ đạo.” Chuyện cưỡng bức đức tin, tuy thế, không phải là nguyên do chính để ông rời bỏ Việt Nam.

Đất đai canh tác bị thu hồi mới thực sự là giọt nước  tràn ly khiến ông Sùng đã dắt díu vợ con chạy băng qua Lào, rồi (cuối cùng) đến Thái.

  • Nó bảo đất mới khai thác chưa được 10 năm thì nhà nước không có đền bù đồng nào cả. Không có đất thì chúng tôi biết sống làm sao nên phải tìm chỗ để đi thôi.

“Đi đâu ?” Có lẽ chưa bao giờ là câu hỏi ông Sùng đặt ra một cách … nghiêm trang:

  • Người ta chạy thì chúng tôi cũng chạy theo, chứ muốn ở lại cũng không được đâu. Khó sống với Nhà Nước lắm!

Kiểu lập luận giản dị của ông Sùng, tất nhiên, không được cả Cao Ủy Tị Nạn và chính quyền Thái Lan chấp nhận. May mắn là IDC (Immigration Detention Center, Nhà Giam Của Cơ Quan Di Trú) ở Thái Lan luôn ở trong tình trạng quá tải nên cả gia đình ông không ai bị truy tố và giam giữ về tội nhập cư trái phép.

Thế là cả nhà sống lêu bêu giữa thủ đô Bangkok. Tiền không có một cắc, tiếng không biết một chữ, và cũng chả quen biết bất cứ ai để có thể nhờ cậy hay tá túc.

Cuối cùng – cứ như là phép lạ – họ may mắn được “cứu sống” bởi những nhân viên của cơ quan thiện nguyện ở Thái. Hiện ông Sùng đang chen chúc với nhiều gia đình, gồm cả trăm người H’mông Việt Nam khác, trong một căn nhà thuê bốn tầng (do một hội thánh Tin Lành tài trợ ) ở ngoại ô Bangkok.

Cả ông lẫn bà đều đã ngoài sáu mươi nên ở nhà giữ mấy đứa cháu. Con trai ông Sùng đứa làm nghề phụ hồ, đứa bán kem. Hai cô con dâu đi rửa chén cho quán ăn gần đó.

  • Cũng kiếm đủ ăn đấy nhưng buồn quá ông ơi. Chúng tôi nhớ nương rẫy lắm. Ở đây chả có cây cối gì cả. Vợ tôi cứ khóc hoài. Nó đòi về nhưng làm sao mà mình về được?

Nam vô tửu như kỳ vô phong. Chúng tôi đã cưa gần hết một chai Regency Brandy Thai (một loại rượu mạnh rất rẻ tiền và bốc rất hỗn) nhưng cả hai đều vẫn ngồi xụi lơ, buồn bã. Trầm ngâm một lát, rồi ông Sùng ngại ngần tiếp:

  • Thế liệu rồi chúng tôi có được đến Mỹ không?
  • Dạ, chắc phải được chứ!

Tôi nói láo, tất nhiên. Thực tình thì tôi không “chắc” lắm. Sau đợt cưỡng bách mấy ngàn người H’mông phải quay về Lào, hồi cuối năm 2009, cả chính phủ Thái lẫn Cao Ủy Tị Nạn bị dư luận chỉ trích nặng nề. Nhờ thế, những người H’mông Việt Nam đến sau (sau biến động Mường Nhé) như gia đình ông Sùng, mới được “yên lành” cho mãi đến hôm nay.

Vô hình trung nhóm người H’mông này (bỗng) trở thành một thứ “cây cảnh về lòng nhân đạo” để trang điểm cho cả nước Thái lẫn Cao Ủy Tị Nạn. Họ không đông lắm, chỉ vài trăm người nên không phải là một ghánh nặng đáng kể. Họ lại rất thuần phác, hiền lành, chăm chỉ và chả bao giờ dám lên tiếng đòi hỏi hay làm phiền chi cả.

Sự hiện diện của họ tránh cho Thái Lan, cũng như Cao Ủy, khỏi bị điều tiếng về chuyện trục xuất người tị nạn. Chính vì vậy,  rất có thể, họ sẽ không bao giờ có cơ hội được đặt chân đến nước thứ ba.

Lý do, giản dị, ai cũng biết là nếu mấy trăm con  người khốn khổ này mà được định cư thì chỉ vài tuần sau (hay vài ngày sau) thôi sẽ có ít nhất là hàng ngàn (hay chục ngàn) người H’mông khác – từ Việt Nam và Lào – lại tiếp tục ồ ạt chạy qua biên giới Thái. Cái cột đèn mà còn phải đi thì nói chi đến người, nhất là người H’mông hay người Thượng.

Ngoài bờ biển phía Đông ra, phần biên giới còn lại của Việt Nam đều là nơi cư ngụ của những dân tộc bản địa tự ngàn xưa. Với cuộc sống đơn giản và hài hoà cùng thiên nhiên, họ đã giữ cho môi trường sinh thái được quân bằng và tạo một “vòng đai xanh” cho cả nước.

Cũng chính họ là những kẻ đứng ở tuyến đầu, giữ gìn vòng đai an ninh cho tổ quốc. Cớ sao lại tỏ thái độ kỳ thị, khinh thị, và cương quyết tìm mọi cách đẩy người ta đến tận bước đường cùng như thế?

“Khi bọn bành trướng Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979, một bộ phận không nhỏ dân tộc thiểu số, sống ở vùng biên giới, đã đồng loạt ngả theo, làm tay sai cho ngoại bang. Ðó chính là hậu quả của chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” (Lý Hồng Xuân. Nhận diện chân dung nhà văn. Văn Nghệ: California 2000,177).

“Bọn bành trướng Bắc Kinh” (rõ ràng) đang muốn tràn sang lần nữa, và “những chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc” thì mỗi lúc lại một thêm ngu xuẩn và tệ hại hơn!

Dẫu chỉ một ngày

Dẫu chỉ một ngày

Phạm Thanh Nghiên (blog)

Ngày mai 11 tháng 6 năm 2015, tôi sẽ tuyệt thực để như là một cách bày tỏ sự đồng cảm, sự  sẻ chia nỗi khổ đau mà Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đang phải gánh chịu trong nhà tù cộng sản.

Ngày mai, Blogger Tạ Phong Tần sẽ bước sang ngày thứ 30 tuyệt thực trong nhà tù để phản đối hành vi ngược đãi tù nhân chính trị của cán bộ Trại giam số 5 Thanh Hóa.

Một ngày so với ba mươi ngày là quá ít ỏi. Nhưng với tình trạng sức khỏe của một người bệnh đang phải điều trị tại nhà sau khi ra viện, và với thân phận của một người tù đang bị quản chế, tôi không thể làm nhiều hơn những gì mình mong muốn.

Hành động rất nhỏ bé này, xin được góp một tiếng nói, góp một bàn tay cho bước hai của chiến dịch Nhân quyền 2015 “tranh đấu cho Tù Nhân Lương Tâm” tại Việt Nam.

Hành động rất nhỏ bé này cũng là để “bày tỏ sự khâm phục và sẻ chia tinh thần tranh đấu” với Blogger Tạ Phong Tần cũng như với tất cả những Tù Nhân Lương Tâm can trường khác: Bùi Thị Minh Hằng, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Trần Huỳnh Duy Thức, Hồ Đức Hòa, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Đặng Xuân Diệu, Ngô Hào…

Và qua hành động rất nhỏ bé này xin được gửi một lời nhắn nhủ rằngKhông một ai phải độc hành trên con đường tìm kiếm Tự do và Công bằng cho dù người đó đang trong chốn ngục tù.”

Hy vọng, cuộc tuyệt thực của người phụ nữ phi thường Tạ Phong Tần trong nhà tù sẽ được công luận và những người yêu chuộng tự do- công lý quan tâm, tiếp sức như đã dành những điều ấy cho cuộc tuyệt thực của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, của Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải.

Hải Phòng ngày 10 tháng 6 năm 2015

P.T.N

Ngun: http://phamthanhnghien.blogspot.com/2015/06/dau-chi-mot-ngay.html

Đại sứ Mỹ: Tổng bí thư Đảng CSVN đến Mỹ tháng 7

Đại sứ Mỹ: Tổng bí thư Đảng CSVN đến Mỹ tháng 7

Nguoi-viet.com

CẦN THƠ  (NV) – Tổng bí thư Đảng CSVN dự trù đến thăm Hoa Kỳ vào tháng 7 và Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương cũng có thể được ký kết vào mùa hè năm nay.

Người Việt Nam từ nhiều nơi trên nước Mỹ và Canada đã tập trung trước Tòa
Bạch Ốc biểu tình khi chủ tịch nước CSVN Trương Tấn Sang đến đây ngày 25
tháng 7, 2013. (Hình: Karen Bleier/AFP/Getty Images)

Cả hai điều vừa kể được đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius nói trong cuộc họp báo chiều ngày 8 tháng 6, 2015 tường thuật trên tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn nhân dịp ông tới Cần Thơ và vùng đồng bằng Sông Cửu Long.

Trước đây, các lãnh tụ CSVN như Trương Tấn Sang, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Phan Văn Khải, từng đến Hoa Kỳ vào dịp tháng 6 hay tháng 7. Năm nay hai nước đã chuẩn bị để tổ chức kỷ niệm 20 năm thiết lập bang giao giữa hai kẻ cựu thù. Nhờ vậy chuyến viếng thăm này sẽ mang ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh những căng thẳng về chủ quyền biển đảo trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Những lãnh tụ CSVN đến Mỹ trước đây hoặc là thủ tướng hoặc chủ tịch nước. Nếu ông Nguyễn Phú Trọng đến Mỹ sẽ là người tổng bí thư Đảng CSVN đầu tiên thăm viếng chính thức Hoa Kỳ mà đại sứ Ted Osius nói đó là “cuộc thăm viếng lịch sử” trong mối bang giao giữa hai bên và “Chuyến thăm này sẽ đưa ra một tầm nhìn chung giữa hai nước.”

Đại sứ Osius không cho biết đích xác ngày nào ông Nguyễn Phú Trọng sẽ tới Mỹ mà chỉ cho hay “Tôi là một trong số người đang lo thu xếp chi tiết cho chuyến đi. Tôi tin là chuyến thăm sẽ diễn ra vào tháng 7 tới.”

Cách đây 20 năm, Tổng Thống Mỹ Bill Clinton loan báo chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam từ ngày 11 tháng 7, 1995. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ từ hơn 300 triệu USD vọt lên nhanh chóng, liên tục năm sau nhiều hơn năm trước. Thống kê của Bộ Công Thương CSVN cho thấy năm 2014 Việt Nam xuất cảng sang Mỹ một số lượng hàng hóa lên tới 28.6 tỷ USD trong khi nhập cảng từ nước này 6.28 tỷ USD.

Dịp này, về một hiệp định kinh tế hai nước đang đàm phán, ông Osius cho hay, tuy thượng nghị viện đã thông qua, Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama đang chờ hạ nghị viện thông qua đạo luật cho phép tổng thống được quyền ký nhanh các hiệp định quốc tế, gồm cả Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong đó Việt Nam là một thành phần.

“Nếu lưỡng viện Quốc Hội Mỹ thông qua xong thì TPP sẽ được ký kết nhanh trong mùa Hè này,” Đại Sứ Osius bày tỏ hy vọng. Theo ông, nhờ bản hiệp định TPP, hàng hóa từ Việt Nam xuất cảng sang Mỹ sẽ tăng cao hơn và có thể đạt đến 40 tỷ USD. Trên tờ TBKTSG, ông nói đến tương lai gia tăng của nông sản Việt Nam, đặc biệt là trái cây.

“Lô hàng nhãn đầu tiên xuất sang Mỹ rất là ngon. Gia nhập TPP, cơ hội xuất hàng nông sản, nhất là trái cây của Việt Nam, sang Mỹ sẽ gia tăng.”

Giơ cao một trái chuối chín vàng đem theo trong cuộc họp báo, ông nói, “Hai bữa nay tôi đã ăn chuối và măng cụt ở Cần Thơ, rất là ngon. Ngày mai tôi sẽ thử ăn sầu riêng, một loại trái cây nổi tiếng ngon của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)”.

Trên trang Facebook của mình, Đại Sứ Osius cho hay, “Hoa quả ở Việt Nam rất là ngon. Thật thú vị khi mua dứa trực tiếp từ người bán buôn ở đồng bằng sông Cửu Long!”

Sau cuộc họp báo khoảng 30 phút, Đại Sứ Ted Osius đã nói chuyện với sinh viên đại học Cần Thơ về hợp tác và bang giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 20 năm qua cũng như triển vọng quan hệ giữa hai nước cho 20 năm tới.

Trên trang Facebook, ông cho hay ông đã đến thăm một chùa Khmer ở tỉnh Sóc Trăng và đến thăm một dự án điện gió tại tỉnh Bạc Liêu mà Mỹ đang tài trợ giai đoạn 2. (TN)

Việt Nam lại ‘ngậm bồ hòn làm ngọt’ với Trung Quốc

Việt Nam lại ‘ngậm bồ hòn làm ngọt’ với Trung Quốc

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Ông Đinh La Thăng, bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải CSVN vừa phân trần với công chúng Việt Nam rằng, mua 13 tàu điện của Trung Quốc là chuyện thuộc loại “bất khả kháng.”

Dự án tuyến metro Cát Linh-Hà Đông lẽ ra phải hoàn tất vào năm 2012 nhưng
đến nay vẫn đang còn… xây dựng. (Hình: Bộ Giao Thông-Vận Tải)

Trước đó, công chúng Việt Nam tỏ ra hết sức giận dữ sau khi các viên chức Ngành Giao Thông-Vận Tải Việt Nam loan báo, sẽ bỏ ra 63.2 triệu Mỹ kim để mua 13 tàu điện (mỗi tàu có bốn toa) do công ty trang thiết bị tàu điện ngầm Bắc Kinh của Trung Quốc sản xuất, để dùng cho tuyến metro Cát Linh-Hà Đông.

Viên bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam kêu gọi dân chúng thông cảm vì khi ký hợp đồng vay vốn ODA của Trung Quốc cho dự án xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông, Việt Nam bị buộc phải mua các tàu điện do Trung Quốc sản xuất.

Ông Thăng nói thêm rằng, nhà thầu Trung Quốc thực hiện dự án xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông “yếu kém, chúng tôi rất bức xức nhưng muốn thay thì lại vướng các điều kiện đã ký nên không thay được.”

Có thể xem dự án xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông là một trường hợp Việt Nam phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” khi nhận “hỗ trợ” từ Trung Quốc.

Chiều dài của tuyến metro này chỉ có 13 cây số, lẽ ra phải hoàn tất vào năm 2012 nhưng đến nay vẫn còn dở dang. Năm ngoái, nhà thầu Trung Quốc cam kết sẽ hoàn tất công trình vào tháng 6 năm 2015 nhưng gần đây, thời điểm khánh thành được thông báo là tiếp tục dời lại đến cuối năm song tin mới nhất cho biết, phải đến hết quí 1 năm tới mới có thể vận hành tuyến metro Cát Linh-Hà Đông.

Hồi hạ tuần tháng 11 năm ngoái, tại điểm xây dựng một nhà ga trong tuyến metro Cát Linh-Hà Đông, ở đoạn chạy qua quận Thanh Xuân, do cẩu bị đứt cáp, ba thanh dầm bằng thép đã rớt xuống đường, đè chết một người và làm hai người trọng thương.

Lúc đó, Bộ Giao Thông-Vận Tải Việt Nam đã ra lệnh cho nhà thầu Trung Quốc tạm ngưng thi công để kiểm tra toàn bộ quy trình giám sát bảo đảm an toàn. Nửa tháng sau, nhà thầu Trung Quốc được phép tiếp tục thi công và chỉ trong hai tuần lại gây thêm tai nạn khác.

Rạng sáng 28 tháng 12, năm 2014, giàn giáo trong công trình xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông, ở đoạn sát bến xe Hà Đông đột nhiên sụp xuống lúc đang đổ bê tông. May mắn là tai nạn xảy ra vào lúc rạng sáng, đường chưa đông người qua lại nên không có tổn thất nhân mạng. Sắt thép, bê tông chỉ đè nát phần đầu của một chiếc taxi vừa trờ tới. Tài xế taxi và ba hành khách trong xe không bị thương. Theo một số chuyên gia, giàn giáo sập do bị dịch chuyển lúc đang đổ bê tông.

Công trình xây dựng tuyến metro Cát Linh-Hà Đông không chỉ thiếu an toàn, kém chất lượng mà còn nổi tiếng vì sự tráo trở của nhà thầu Trung Quốc. Nhà thầu Trung Quốc đã đòi nâng vốn đầu tư dự án từ 553 triệu Mỹ kim lên 892 triệu Mỹ kim. Tuy yêu sách này phi lý song chế độ Hà Nội vẫn bất chấp sự can gián của chuyên gia nhiều giới, vay thêm của Trung Quốc 339 triệu Mỹ kim để đáp ứng đòi hỏi của nhà thầu Trung Quốc!

Lúc đó, theo tường thuật của báo chí Việt Nam, tại cuộc họp với ông Chu Hằng Vũ, phó tổng giám đốc tập đoàn hữu hạn của Cục 6 Ngành Đường Sắt Trung Quốc, ông Đinh La Thăng, bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam, nhận định, tuyến metro Cát Linh-Hà Đông là công trình giao thông tồi tệ nhất ở Việt Nam. Công trình này khiến dân chúng Việt Nam lo ngại về mức độ an toàn, chất lượng và phẫn nộ vì nhà thầu Trung Quốc không thèm đếm xỉa đến những yêu cầu của Bộ Giao Thông-Vận Tải Việt Nam.

Ông Thăng yêu cầu nhà thầu Trung Quốc phải tìm một người “có trình độ và lương tâm” để thay thế tổng chỉ huy công trường, đổi ngay công ty Trung Quốc đang giữ vai trò giám sát (công ty giám sát xây dựng thuộc viện nghiên cứu thiết kế công trình đường sắt Bắc Kinh). Cũng đến lúc đó, Bộ Giao Thông-Vận Tải Việt Nam mới đòi nhà thầu Trung Quốc phải sử dụng công ty giám sát do bộ này chỉ định và loại toàn bộ các nhà thầu phụ để trực tiếp ký hợp đồng với các tổng công ty xây dựng công trình giao thông của phía Việt Nam.

Viên bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam khẳng định, nếu nhà thầu Trung Quốc không chấp nhận những yêu cầu đó thì ông ta sẽ đề nghị chính phủ Việt Nam loại họ để kiếm một nhà thầu khác. Cũng phải đến lúc đó, đại diện nhà thầu Trung Quốc mới nhượng bộ, mới xin lỗi hứa sẽ đáp ứng tất cả các yêu cầu của viên bộ trưởng Giao Thông-Vận Tải Việt Nam.

Tuy nhiên chuyện “cảnh cáo” nhà thầu Trung Quốc của ông Thăng bị cả báo giới lẫn cựu viên chức ngoại giao của Trung Quốc cho là kích động “bài Trung.”

Hồi đầu năm nay, Hoàn Cầu Thời Báo dẫn lời ông Tề Kiến Quốc, từng là đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, khuyến cáo, lẽ ra, ông Thăng không nên làm như thế đối với nhà thầu Trung Quốc, không nên làm sự việc trở thành rùm beng vì tai nạn ở các công trường tại Việt Nam là… bình thường. (G.Đ)

Xem thêm:

Vay tiền Trung Quốc: lợi bất cập hại (RFA)

Dự án đường sắt đô thị Hà Nội, tuyến Cát Linh – Hà Đông được thực hiện theo Hiệp định vay vốn ODA được ký giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2003. Theo Hiệp định này, phía Trung Quốc tài trợ vốn kiêm luôn thầu thi công và giám sát.