Nỗi Bất An Giữa Thời Tan Rã

Nỗi Bất An Giữa Thời Tan Rã

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Vấn đề với chủ nghĩa xã hội là tới lúc nào đó nó sẽ dùng hết tiền của người khác.

Margaret Thatcher

Tôi rời Cali đã lâu. Đủ lâu để bắt đầu thấy nhớ ánh nắng dịu dàng của Thung Lũng Hoa Vàng, và thèm tô phở gà (Nguyễn Huệ) trên phố Bolsa. Nắng Phnom Penh không chỉ chói chang mà còn nóng bỏng, và phở Nam Vang thì vô cùng nhạt nhẽo, và hoàn toàn không có mùi vị gì ráo trọi. Nó gần giống như cái thứ hủ tíu ăn liền ở một quán ăn xa xôi, nghèo nàn (nào đó) dù luôn có thịt bò tươi. Rất tươi và cũng rất dai, mười tô như chục.

Thiệt là hoạ vô đơn chí: nóng chịu không thấu; dở nuốt không vô. May mà có bia, đời còn dễ thương!

Có ai ngờ California (cứ tưởng là chốn tạm dung) lại có thể hoá “ngang” thành một thứ … quê hương thứ hai cho những hạt bụi đường viễn xứ, và mọi thứ đến từ “quê mình” đều bỗng trở nên gần gũi  – kể cả email.

Hôm rồi, ký giả Nguyễn Tuyển gửi thư tâm tình: “Tác giả Đèn Cù tới Quận Cam. Tôi có ngồi nói chuyện với ông ấy nhưng không được nhiều vì bận làm tin cho tờ báo. Ông có vẻ lạc quan, tin rằng chỉ hai ba năm nữa là chúng nó có thể sập. Dựa vào sự oán ghét, căm hận của người dân khắp nơi, ông ấy bảo Việt Nam như cái nồi nước sôi mà đậy nắp kín, thế nào cũng phải bung.”

Sự “lạc quan” của Trần Đĩnh khiến tôi nhớ đến một người cầm bút khác: Trần Khải Thanh Thủy. Mùa Hè năm kia, khi chúng tôi đang cùng Phan Quang Tuệ và Đỗ Thành Công ngồi bệt trước Lãnh Sự Quán (của nhà đương cuộc Hà Nội) ở San Francisco, cô bỗng nhỏ giọng nghiêm trang: “Chỉ vài tháng nữa là chúng nó đổ thôi. Qũy hưu trí cạn tiệt rồi, anh ạ.”

“Chúng nó” (rõ ràng) đã không “đổ” như Trần Khải Thanh Thuỷ mong đợi, và không chắc sẽ “xập” như Trần Đĩnh dự đoán. Chúng ta vẫn thường không nhìn thực tại như nó là mà chỉ như mình muốn. Đây là tâm cảm bình thường, và tự nhiên của mọi người trước hiện cảnh bức bối (và bí lối) hiện nay của đất nước.

Không phải ai cũng chia sẻ sự lạc quan và ước vọng của Trần Đĩnh và Trần Khải Thanh Thủy nhưng tất cả (tôi nói lại: tất cả) đều rất bi quan về tương lai của chế độ hiện hành. Chín mươi ngàn công nhân của Pouen, cùng đồng nghiệp ở những Long An, Tây Ninh, Tiền Giang đã lãng công (hồi tháng ba vừa qua) để phản đối điều 60 Luật BHXH  – điều luật chỉ cho phép người lao động nhận tiền BHXH một lần khi về hưu – chính vì họ nghi ngại về khả năng giữ tiền (và giữ quyền) của Nhà Nước trong những ngày tháng tới.

Ảnh: tuoitre.vn

Mọi giới chức có thẩm quyền, và có liên quan đến vấn đề BHXH, đều biết (rõ) như thế nhưng không ai dám thừa nhận như vậy. Tất cả đều chỉ nói dối quanh:

  • Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng: Việc công nhân phản ứng Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội 2014 có nhiều nguyên nhân, trong đó có lý do công tác tuyên truyền đến phổ biến pháp luật chưa tốt nên khi động đến lợi ích trước mắt là có phản ứng dù luật chưa có hiệu lực. Có lẽ đây là lời nói dối trơ tráo nhất của ông Hùng. Luật BHXH mới được cái quốc hội của ông ta thảo luận “chui” và thông qua “lén,” có dám cho ai biết đâu (cho tới khi công bố) mà bảo rằng “công tác tuyên truyền … chưa tốt.”
  • Thứ Thứ Trưởng Lao Động Thương binh và Xã hội Phạm Minh Huân:  Cần làm cho người lao động hiểu rằng việc tích lũy để sau này có điều kiện hưởng lương hưu chắc chắn tốt hơn nhiều so với lĩnh một lần. Vấn đề không phải là “không hiểu” mà là “không tin,” Giời ạ! Ai cũng hiểu cả nhưng không ai tin rằng chế độ hiện tại có thể tồn tại đến “sau này” nên mọi người đều muốn nhận một cục tiền (và nhận liền) cho nó chắc ăn.
  • Vụ Phó BHXH Nguyễn Duy Cường: Không tính đến yếu tố trượt giá, nếu người lao động tích lũy đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội để nhận lương hưu thì lợi ích thu được sẽ lớn gấp 4-5 lần so với việc nhận bảo hiểm xã hội một lần. Coi: “Gửi Tiết Kiệm Một Chỉ Vàng Nhận Lại Một Ổ Bánh Mì Thịt” / “Gửi Tiết Kiệm 20 Năm, Một Căn Hộ Còn Ba Tô Phở…” Tin tức hàng ngày nhan nhản như thế này trên mặt báo mà ông Cường lại nhất định “không tính đến yếu tố trượt giá” thì có bỏ mẹ con người ta không cơ chứ. Sao mà ông “tính” ngu vậy?
  • Phó Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân: Về quan điểm, mục tiêu khi xây dựng điều 60 Luật BHXH là đúng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và phù hợp với xu hướng quốc tế, hướng đến chiến lược an sinh lâu dài cho người lao động.

Quả là đúng xu hướng quốc tế thật nhưng ở những quốc gia khác qũy BHXH được điều hành bởi một chính quyền khả tín. Cái Đảng và Nhà Nước thổ tả của bà Kim Ngân (tiếc thay) lại là một tập đoàn thống trị vô cùng bất nhân, bất nghĩa, và bất tín nên không hề có được chút tín nhiệm nào cả – từ bất cứ ai. Đừng nói chi đến chuyện “an sinh lâu dài cho người lao động,” ngay giờ đây đã có tiếng cảnh báo rồi: “ Việc nhà nước Việt Nam vỡ nợ chỉ còn là vấn đề thời gian, khi nào thì công bố chính thức mà thôi.”

  • Bộ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền : Nội dung Điều 60 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 là phù hợp với xu hướng phát triển chung, đã thể hiện đúng quan điểm, định hướng mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo đảm quyền thụ hưởng lâu dài của người lao động, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội.

Cũng như bà Kim Ngân, bà Hải Chuyền phát biểu không có gì sai. Cả hai bà, cùng tất cả qúi vị có chức danh thượng  dẫn, chỉ đều không chịu nói thật thôi.

Sự thực là ở Việt Nam, cũng như ở Tầu, không ai cảm thấy an tâm về hiện cảnh cả.

Hãy nghe Tiến Sĩ Alan Phan nói qua về tình trạng ở Tầu:

“Theo một nghiên khảo của Hurun Consulting Group tại Shanghai, có 64% nhà giàu tại Trung Quốc đã và đang lên kế hoạch để xin di cư ra nước ngoài. Nhà giàu được định nghĩa là có tài sản hơn 12 triệu RMB (hay khoảng 1.8 triệu USD). Điểm đến mong ước? Mỹ (52%), Canada (21%), Úc (9%) và châu Âu (7%). Hai phần ba số người trên sẵn sàng bỏ quốc tịch Trung Quốc.”

Nguồn ảnh:vnmedia.vn

Từ Ba Lan, nhà báo Maciej Michalek cũng có nhận xét tương tự:

  • Họ gửi con cái đi học nước ngoài, chuyển tiền ra nước ngoài, cố gắng bằng nhiều cách khác nhau để có được hộ chiếu của các nước khác, và cuối cùng, nếu có thể, họ di cư để tìm kiếm một nơi tốt hơn để sống. Điều này cho thấy sự thiếu tin tưởng giữa chính phủ và các doanh nghiệp, cũng như sự thiếu niềm tin vào tương lai của người dân Trung Quốc tại chính quê hương của mình.”

Hiện trạng Việt Nam, tất nhiên, cũng không thể khác.  Từ Hà Nội phóng viên Luke Bùi có bài tường thuật (“Người Giầu Ở Hà Nội Tìm Đường Sang Mỹ”) chi tiết:

“Trong bối cảnh nợ công của Việt Nam sắp vượt trần, phân hóa giàu-nghèo ngày càng cách biệt, đời sống xã hội có nhiều rủi ro, giới giàu có ở Hà Nội đang ráo riết tìm đường định cư ở Mỹ để bảo toàn khối tài sản.

Có mặt tại Hà Nội trong những ngày này, người ta không khó để bắt gặp những chiếc xe BMW, Bentley, Roll-Royce bóng lộn, trị giá cả vài trăm ngàn đô la xuất hiện ngạo nghễ trên những con phố chật hẹp. Nhưng trong tầm mắt của du khách cũng có cả những người buôn thúng, bán bưng chật vật với chuyện kiếm được dăm ba chục ngàn đồng mỗi ngày. Quang cảnh khiến người ta nhớ đến khái niệm ‘phồn vinh giả tạo’ mà một nhà thơ đã dùng để miêu tả thời thế…

Mà Hà Nội bây giờ không chỉ có mình Ciputra, người ta có thể kể thêm một loạt những The Manor, Indochina, Pacific Palace, Golden West Lake… như là minh chứng về đẳng cấp của giới thượng lưu tại thủ đô.

Nhưng đằng sau vẻ hào nhoáng ấy có khi là tâm thế bất an trước thời cuộc… Điều này được minh chứng trong thực tế. Gần đây, các buổi hội thảo giới thiệu chương trình đầu tư định cư EB-5 lấy thẻ xanh Mỹ được tổ chức dồn dập ngay tại thủ đô Hà Nội và thường không còn một chỗ trống.

Bình quân sau mỗi buổi hội thảo, công ty định cư làm thủ tục cho hàng chục khách hàng với phí dịch vụ khoảng hơn $40,000/trường hợp. Tuy vậy, theo một doanh nhân làm lĩnh vực môi giới định cư cho biết thách thức lớn nhất đối với công ty ông và các luật sư đối tác là chứng minh nguồn gốc tài sản của khách hàng…”

Nếu qúi bà (Nguyễn Thị Kim Ngân, Phạm Thị Hải Chuyền…) và qúi ông (Nguyễn Sinh Hùng, Phạm Minh Huân, Nguyễn Duy Cường …) đều là những người nghèo, không ai có tài sản gì ráo trọi để mà phải lo tẩu tán, và tất cả đều tin tưởng tuyệt đối vào sự bền vững của chế độ mà mình đang phục vụ thì tôi xin chân thành ngỏ lời xin lỗi vì đã có  những lời lẽ xúc phạm đến qúi vị. Bằng không, tôi xin mượn ý của một nhà văn Việt Nam để kết thúc bài viết ngắn ngủi này:

“Giá các ông ấy cứ ăn nhưng đừng giảng dậy đạo đức cho mình thì dễ chịu hơn.” (Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói Cá. Hội Nhà Văn. Hà Nội: 2008).

Tác phẩm thượng dẫn đã được chuyển dịch sang Pháp ngữ (La Mer et le Matin-Pêcheur) bởi dịch giả Tây Hà, và được trao giải Henri Queffélec. Khi được biên tập viên Mặc Lâm ( RFA) yêu cầu tóm gọn đôi lời về cuốn sách này, tác giả đã phát biểu như sau:

“Tôi chỉ có thể tóm tắt lại như thế này, đây là sử thi, quyển tiểu thuyết sử thi thời sự tan rã. Tan rã trong hệ tư tưởng, tan rã trong quan hệ sản xuất, nghĩa là tan rã trong ý thức hệ, tan rã trong quan hệ giữa người với người.”

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN ( phần 3)

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN ( phần 3)

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-06-23

  • RFA
  • 06232015-vn-new-wve-refuge-part3.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Công an, côn đồ đàn áp giáo dân, tu sĩ giáo xứ Thái Hà và giáo dân của giáo phận Hà Nội biểu tình tại thành phố Hà Nội hôm 18/11/2011, để đòi hỏi nhà nước giải quyết quyền lợi chính đáng.

Công an, côn đồ đàn áp giáo dân, tu sĩ giáo xứ Thái Hà và giáo dân của giáo phận Hà Nội biểu tình tại thành phố Hà Nội hôm 18/11/2011, để đòi hỏi nhà nước giải quyết quyền lợi chính đáng.

File photo

Từ khi VN tiến hành cải cách về kinh tế vào năm 1986, cho dù nền kinh tế đã phần nào phát triển. Tuy vậy trước việc chính quyền VN tiếp tục, bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ và tôn giáo, thì đến nay vẫn có một làn sóng ngầm không ít những người đấu tranh tìm đường trốn khỏi VN để xin tỵ nạn vì lý do chính trị và tôn giáo.

Trong phần một và hai thông tín viên Anh Vũ tại Bangkok và Tường An từ Paris đã đến với các bạn câu chuyện nơi dừng chân Thái Lan và những người tị nạn tại châu Âu và Úc. Trong phần cuối này là câu chuyện tại Bắc Mỹ của Kính Hòa từ Washington.

Triệt đường sống

Năm 2008 xảy ra vụ án Thái Hà, trong đó có việc tranh chấp tài sản đất đai giữa giáo hội công giáo và chính quyền Việt nam. Luật sư Lê Trần Luật là người đại diện cho Giáo hội công giáo. Sau phiên tòa, cơ quan an ninh đã gặp ông Luật và khuyên ông không nên theo đuổi những vụ án chính trị. Sau đó ông Luật bị cho là đã lợi dụng phiên tòa để tuyên truyền chống phá nhà nước.

Người ta đã tước bằng luật sư của ông Luật, và ông thường xuyên bị cơ quan công an mời làm việc. Theo ông nhớ lại thì trong khoảng thời gian 7 năm ông phải gặp cơ quan an ninh đến hơn 300 lần. Khi bị buộc phải chấm dứt hành nghề luật sư và cũng không tìm được việc làm nào khác, ông Luật lâm vào tình trạng rất khốn khó.

Khi biết được tình trạng này, cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ đề nghị rằng ông có thể xin đi tị nạn chính trị. Đứng trước tương lai không sáng sửa của gia đình và bản thân ông Luật chấp nhận xin đi cứ trú chính trị tại Mỹ.

Năm 2007 blogger Uyên Vũ và những người đồng chí hướng sáng lập câu lạc bộ nhà báo tự do với mong muốn cổ võ cho tự do ngôn luận. Lặp tức ông và những người khác rơi vào tầm ngắm của cơ quan an ninh. Cuộc sống của hai vợ chồng blogger Uyên Vũ cũng bắt đầu rơi vào tình trạng như luật sư Lê Trần Luật. Ông Vũ kể lại:

Chúng tôi gặp vô vàn khó khăn, tôi bị áp lực đến nỗi phải bỏ việc, ông giám đốc bị hăm dọa và không dám cho tôi tiếp tục làm việc nữa. Tôi cố gắng tìm một công việc nhưng không tìm được một công việc nào khác. Gia đình của chúng tôi là cha mẹ, anh chị thì cũng nhận những lời đe dọa của công an.”

Ông Uyên Vũ không còn con đường nào khác là quyết định xin đi tị nạn chính trị. Sau nhiều khó khăn ngăn trở từ phía nhà nước Việt nam ông đến Hoa Kỳ vào năm 2014 và hiện sống tại San Diego, California.

” Chúng tôi gặp vô vàn khó khăn, tôi bị áp lực đến nỗi phải bỏ việc, ông giám đốc bị hăm dọa và không dám cho tôi tiếp tục làm việc nữa. Tôi cố gắng tìm một công việc nhưng không tìm được một công việc nào khác. Gia đình của chúng tôi là cha mẹ, anh chị thì cũng nhận những lời đe dọa của công an

blogger Uyên Vũ”

Chuyện ra đi của ông Luật cũng không được dễ dàng. Cơ quan an ninh tìm nhiều biện pháp để xóa bỏ một hình ảnh tù chính trị và họ thường xuyên tuyên bố rằng ở Việt nam không có đàn áp chính trị. Ông Luật kể lại:

Họ nói là nếu mà tôi muốn đi Mỹ thì họ sẽ tạo điều kiện cho tôi đi, bằng cách là họ cấp hộ chiếu và để tôi lên sân bay thoãi mái, với điều kiện là tôi muốn đi Mỹ chứ không phải tôi bị đàn áp về mặt chính trị.”

Luật sư Lê Trần Luật (trái) và blogger Uyên Vũ

Luật sư Lê Trần Luật (trái) và blogger Uyên Vũ

Ông Luật từ chối điều này. Cuối cùng thì cơ quan an ninh Việt nam cũng cấp hộ chiếu và để gia đình ông lên đường sang Mỹ với lời nhắn gửi là đừng hoạt động gì ảnh hưởng tới hình ảnh của nhà nước Việt nam nếu muốn trở lại Việt nam sau này.

Để đối phó với những người mang quan điểm chính trị khác biệt, nhà cầm quyền Việt nam đã huy động một bộ máy an ninh khổng lồ. Ông Luật kể lại câu chuyện cơ quan an ninh điều tra nhân thân ông:

“Có những chuyện lâu rồi trong cuộc đời mình cách 10 hay 15 năm gì đó, mình đã quên, mà họ nhắc lại, chứng tỏ họ tìm hiểu về mình rất kỹ, họ có thể về cả quê nội quê ngoại của mình, để tìm hiểu cái động cơ mục đích, cũng như lý lịch của mình. Họ có thể bỏ ra hàng giờ hàng ngày để tiếp cận với bạn bè cũ, hồi học tiểu học, trung học của mình để tìm hiểu về cá tính, sở thích của mình.”

Ông Luật hiện sống tại thành phố Portland, tiểu bang Oregon.

Vượt biên

Có những người tị nạn chính trị khác không thể lên máy bay từ Việt nam, họ phải chọn con đường vượt biên trái phép sang Campuchia, rồi Thái Lan, rồi từ đây họ được chấp nhận qui chế tị nạn để sang Bắc Mỹ.

” Có những chuyện lâu rồi trong cuộc đời mình cách 10 hay 15 năm gì đó, mình đã quên, mà họ nhắc lại, chứng tỏ họ tìm hiểu về mình rất kỹ, họ có thể về cả quê nội quê ngoại của mình, để tìm hiểu cái động cơ mục đích, cũng như lý lịch của mình

Luật sư Lê Trần Luật”

Anh Đặng Chí Hùng hiện sống tại Toronto, Canada là một trong số những người như vậy. Anh Hùng sinh ra trong một gia đình cả cha mẹ đều là đảng viên cộng sản. Tuy vậy anh có một nguyên nhân khá lý thú đã thúc đẩy anh trở thành một nhân vật bất đồng chính kiến với chế độ cộng sản. Điều này nằm ngay trong những thông tin tuyên truyền về sự vĩ đại của ông Hồ Chí Minh, và sự phủ nhận nền âm nhạc của miền Nam Việt nam trước năm 1975. Anh Hùng đặt ra câu hỏi là tại sao một nhân vật như vậy lại được hết lời ca ngợi, và một nền âm nhạc như vậy lại bị chế độ hắt hủi.

Nhưng sự kiện quan trọng làm cho anh Hùng có một quyết định chính trị chống lại chủ nghĩa cộng sản là những cuộc biểu tình chống Trung quốc xâm lược bị đàn áp. Anh kể lại:

Anh Đặng Chí Hùng ngày đến Canada

Anh Đặng Chí Hùng ngày đến Canada

Khi Mỹ chuẩn bị đánh Iraq thì cộng sản Việt nam bắt bọn tôi phải xuống đường đi biểu tình chống Mỹ, nếu không đi biểu tình chống Mỹ thì sẽ trừ hạnh kiểm. Thật là kỳ lạ là tại sao Iraq thì lại biểu tình, còn người dân Việt nam mình bị Tàu giết thì không được đi biểu tình.”

Một người tù chính trị trẻ tuổi khác là anh Trương Quốc Huy. Anh Huy bị bắt giam sáu năm vì những bài viết bày tỏ chính kiến chính trị, cũng như tố cáo sự nhũng lạm của các quan chức địa phương. Anh kể lại hoàn cảnh của mình sau khi ra tù vào năm 2011:

Tôi ra khỏi tù thì họ không cấp giấy chứng minh nhân dân cho tôi, luôn kềm kẹp phía trước nhà tôi. Tôi không đi làm được vì không có giấy tờ, họ kéo dài cái tình trạng đó rất lâu. Mà khi ra tù thì tôi cũng cần phải sinh sống.”

Anh Trương Quốc Huy, cũng như anh Đặng Chí Hùng đã chọn con đường đào thoát sang Thái Lan. Ở đây họ bị chính quyền Thái bắt giam theo yêu cầu từ phía Việt nam. Ngoài ra Hà nội cũng yêu cầu Thái Lan trục xuất họ về Việt nam. Tuy nhiên với sự giúp đỡ của các tổ chức nhân quyền cũng như là Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc, chính quyền Thái lan đã phải cân nhắc và cuối cùng trả tự do cho họ để lên đường đi tị nạn chính trị.

Cuộc sống và quê hương

Cuộc sống của những người tị nạn chính trị mới tại Bắc Mỹ được nhìn nhận với những góc độ vui buồn khác nhau. Anh Trương Quốc Huy, ông Uyên Vũ thấy rằng mình hòa hợp với cuộc sống mới khá dễ dàng. Một người tị nạn chính trị trẻ tuổi là anh Nguyễn Xuân Thủy, đến Mỹ tháng 6/2015 cũng bằng con đường vượt biên sang Thái Lan kể với chúng tôi ấn tượng của anh về cuộc sống mới từ Houston:

Nó làm cho mình có cảm giác rằng tự do và khoáng đạt. Con người mình không bị để ý bị xoi mói nhiều, không bị đàn áp, tất nhiên là không bị công an đến nhà (cười.) Cảm thấy rất thoãi mái ở bên này.”

” Cái điều bất hạnh nhất là khi chúng ta không còn được sống trên quê hương chúng ta, nơi chôn nhao cắt rốn của mình. Quê hương nó luôn nằm trong lòng của mình, thành ra khi ình sống bên này thì điều kiện có thể tốt hơn khá hơn, nhưng nó không bao giờ bằng đất nước của mình quê hương của mình hết

Anh Trương Quốc Huy”

Luật sư Lê Trần Luật hiện đang làm việc tại một nhà máy ở Portland nói rằng:

Anh cứ tưởng tượng khi một người tị nạn đến Hoa kỳ hay bất cứ một đất nước nào, thì họ giống như người mới sinh ra, tức là công việc làm thì không có, xe cộ thì không biết đi, đường sá cũng không biết, ngôn ngữ không nói được, cũng không nghe được.”

Tuy nhiên cái nhìn của họ về quê hương đã bỏ lại sau lưng khá giống nhau. Ông Uyên Vũ nói rằng không biết bao giờ ông mới trở về Việt nam trong căn cước của một người tị nạn chính trị, nhưng khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ ở Việt nam làm ông cứ mang hình ảnh Việt nam trong tâm khảm ngay trong cuộc sống hiện nay tại miền Nam California.

Anh Trương Quốc Huy rất xúc động khi được hỏi về Việt nam:

Cái điều bất hạnh nhất là khi chúng ta không còn được sống trên quê hương chúng ta, nơi chôn nhao cắt rốn của mình. Quê hương nó luôn nằm trong lòng của mình, thành ra khi ình sống bên này thì điều kiện có thể tốt hơn khá hơn, nhưng nó không bao giờ bằng đất nước của mình quê hương của mình hết.”

Họ đều mong muốn sẽ quay về.

Anh Nguyễn Xuân Thủy, hiện đang chuẩn bị học đại học tại Texas nói:

Mình không thể quay mặt đi được, mình không thể làm ngơ được, cái đó là cái nghĩa vụ, cái trách nhiệm tôi nghĩ là của tôi. Tôi chắc chắn là sẽ quay về, được như thế nào thì tùy ở sức lực của mình.”

Anh Đặng Chí Hùng thì nói là anh không phải là một nhà hoạt động chính trị, anh sẽ tìm kiếm một nghề để kiếm sống, nhưng hoạt động nhằm thay đổi Việt nam là một hoạt động đương nhiên mà mọi người như anh phải làm.

Còn cựu luật sư Lê Trần Luật nói khi kết thúc cuộc trao đổi với chúng tôi rằng ông mong về Việt nam càng sớm càng tốt. Ông mong rằng Việt nam phải đổi thay để có thể đón tất cả những người tị nạn chính trị trở về với đất mẹ.

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN (phần 2)

Làn sóng mới người tỵ nạn chính trị từ VN (phần 2)

Tường An, thông tín viên RFA, Paris

RFA

06222015-vn-new-wve-refuge-part2.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Nhà văn Dương Thu Hương vẫn tiếp tục dùng ngòi bút của mình để đấu tranh

Nhà văn Dương Thu Hương hiện ở Pháp vẫn tiếp tục dùng ngòi bút của mình để đấu tranh

File photo

Sau khi chiến tranh VN kết thúc, đã có một làn sóng đông đảo người VN lên đến gần một triệu người bỏ nước ra đi để tìm kiếm cơ hội tỵ nạn ở nước ngoài vì các lý do chính trị và kinh tế. Và từ khi VN tiến hành cải cách về kinh tế vào năm 1986, cho dù nền kinh tế đã phần nào phát triển, tuy vậy sau gần 30 năm, trước việc chính quyền VN độc đoán và bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ, thì hiện tại vẫn có một làn sóng ngầm của không ít những người VN tìm đường trốn khỏi VN để xin tỵ nạn vì lý do chính trị hoặc vì những lý do khác.

Vậy, họ ra đi vì lý do gì, cuộc sống hiện nay của họ ra sao và họ sẽ tiếp tục đấu tranh hay không?

Trong bài thứ nhất, Anh Vũ  đã  giới thiệu về chặng dừng chân đầu tiên của những người tỵ nạn này ở Thái lan và Campuchia. Trong bài này, Tường An sẽ gửi đến quý thính giả tâm tình của những người đã chọn Âu Châu và Úc làm nơi chốn định cư.

Cuộc đào thoát bằng thuyền để trốn khỏi chế độ độc tài Cộng sản 40 năm trước, nay vẫn tiếp diễn, với một hình thức khác, bằng những con đường khác. Nếu như những người tị nạn ở Thái Lan đa số vượt thoát bằng đường bộ qua ngã Campuchia thì Ở Âu Châu, người tị nạn chỉ có một con đường duy nhất bằng ngã hàng không.

Âu Châu

Cách đây 2 năm dư luận trong và ngoài nước xôn xao khi ông Đặng Xương Hùng, nguyên Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Thuỵ sĩ đã tuyến bố xin tị nạn chính trị ngày 18/10/2013 tại phi trường Charles de Gaulle của Pháp.  Lý do mà ông Đăng Xương Hùng quyết định từ bỏ Việt Nam là do bất mãn với chế độ Cộng sản, khi thấy nhà cầm quyền vẫn cương quyết bỏ ngoài tai những  kiến nghị sửa đổi Hiến pháp, trưng cầu dân ý cho phù hợp với xu thế phát triển mạnh mẽ của xã hội và của thế giới của nhiều đảng viên cũng như những người quan tâm đến đất nước. Trước những góp ý đó, đảng cộng sản Việt nam vẫn kiến quyết giữ điều 4 Hiến Pháp, kiên trì chủ nghĩ Mac-Lê, tư tưởng Hồ Chí Minh. Do vậy, ông Đặng Xương Hùng quyết định dứt khoát với 26 năm tuổi đảng để phản đối lại  chính sách của một nhà cầm quyền, mà theo ông, đang đưa đất nước đến 1 tương lai vô định, ông nói :

« Tôi là người trong cuộc, thuộc chính quyền và được hưởng những lợi ích của chính quyền ban cho, do đó trong tôi luôn luôn nuôi một hy vọng một ngày nào đó, đảng Cộng sản Việt Nam cũng sẽ thay đổi thôi. Thế mà những năm tháng kéo dài, tôi hết thất vọng này đến thất vọng khác thì tôi mới thấy rằng đảng Cộng sản không hề muốn thay đổi, đảng Cộng sản Việt Nam vẫn quyết tâm giữ điều 4, họ vẫn muốn nắm quyền lực, nắm độc quyền của đảng Cộng sản Việt Nam để chi phối toàn bộ đất nước cũng như dân tộc Việt Nam, do đó tôi đã quyết định ly khai và quyết định xin tị nạn »

” Những năm tháng kéo dài, tôi hết thất vọng này đến thất vọng khác thì tôi mới thấy rằng đảng Cộng sản không hề muốn thay đổi, đảng Cộng sản VN vẫn quyết tâm giữ điều 4, họ vẫn muốn nắm quyền lực, nắm độc quyền của đảng CSVN để chi phối toàn bộ đất nước cũng như dân tộc Việt Nam

ông Đặng Xương Hùng (Thuỵ Sĩ)”

Một người đối kháng khác cũng rất nổi tiếng với những bài viết vạch trần chế độ Cộng sản là nhà văn Dương Thu Hương. Năm 1994 bà đã từ chối cơ hội để xin tị nạn chính trị. Đến Pháp lần thứ nhì, năm 2006 bà bắt buộc phải ở lại Pháp trong một hoàn cảnh ngẫu nhiên. Nhà văn đối kháng Dương Thu Hương cho biết đã phải ở lại Pháp trong hoàn cảnh nào :

« Tôi không phải là người tị nạn như những người tị nạn bình thường khác. Năm 1994, khi chính phủ Mitterrand tồn tại, bà Danielle Mitterrand có đề nghị tôi ở lại tị nạn chính trị dưới sự bảo trợ và giúp đỡ của nước Pháp, lúc đó tôi có cảm ơn bà, nhưng mà tôi phải quay về. Cái nhóm của tôi toàn những người già thôi, tôi 50 tuổi vẫn được coi là trẻ nhất. Nhưng năm 2006 thì đã có một nhóm người khác trẻ hơn tôi nhiều lãnh đạo cuộc đấu tranh.Và vì vậy, tôi chủ ý đi ra nước ngoài để lao động cái phần của riêng tôi : văn học và một cuốn sách viết về lịch sử chiến tranh. Tôi không có dự định ở lại Pháp, nhưng năm 2007, trong một cuộc đi chơi ở Marseille tôi đã bị cướp giật hết giấy tờ. Sứ quán Việt Nam tìm thấy một cơ hội tuyệt vời để trả thù tôi nên dứt khoát không cấp lại visa và 3 năm trời tôi sống ở Paris như một con gián ngày, không dám đi đâu vì ở trong tình trạng không giấy tờ, sans papier.  Mãi đến 2010, tôi mới lấy được một cái giấy của người lao động. Vì lý do đó, hoàn toàn do những sự ngẫu nhiên mà tôi ở lại nước Pháp »

Ông Đặng Xương Hùng nguyên là Tổng lãnh sự Việt Nam tại Thuỵ Sĩ nhiệm kỳ 2008-2012

Ông Đặng Xương Hùng nguyên là Tổng lãnh sự Việt Nam tại Thuỵ Sĩ nhiệm kỳ 2008-2012

Úc Châu

Xa hơn nữa, tại miền Nam Bán Cầu, một lớp sóng thuyền nhân mới cũng đã vượt thoát khỏi Việt Nam để  tìm tự do. Từ Sydney, Úc châu. Anh Nguyễn Mười  cho biết lý do anh phải rời khỏi Việt Nam :

« Từ năm 1999-2000 em là phụ tá cho Cha Lý, khi Cha bị bắt em cũng có nhiều rắc rối với chính quyền, họ thường xuyên canh trước nhà của em, họ cản trở mọi công việc của em, nên em không thể sống được, nên em phải tìm cách rời Việt Nam để em đi vượt biên »

Do tinh hình kinh tế khó khăn chung của thế giới, các quốc gia không còn mở rộng vòng tay đón nhận người tị nạn như 40 năm về trước. Đối diện với những thủ tục hành chánh nhiêu khê là trở ngại lớn nhất trên con đường hội nhập của những người tị nạn sau này.

” Năm 2006 thì đã có một nhóm người khác trẻ hơn tôi nhiều lãnh đạo cuộc đấu tranh.Và vì vậy, tôi chủ ý đi ra nước ngoài để lao động cái phần của riêng tôi : văn học và một cuốn sách viết về lịch sử chiến tranh

nhà văn Dương Thu Hương (Paris)”

Nguyên là Tổng lãnh sự Việt Nam tại Thuỵ Sĩ nhiệm kỳ 2008-2012, Sau khi chấm dút nhiệm kỳ ông Đặng Xương Hùng về nước, 1 năm sau, ông trở lại Âu châu, chính thức xin tị nạn tại Thuỵ Sĩ ngày 28/10/2013. Gia đình ông đã có giấy cư trú. Cũng như bao hoàn cảnh tị nạn khác, gia đình ông cũng quen dần với cuộc sống nhập cư. Mặc dù với ít nhiều khó khăn trong buổi giao thời, ông vẫn từ chối nhận trợ cấp xã hội để không trở thành một gánh nặng cho chính quyền Thuỵ Sĩ, ông kể tiếp :

« Hiện nay thì vợ tôi đang đi làm. Còn tôi thì với cái kiến thức cũng như trình độ của mình, trong một chừng mực nào đó, thì tôi cũng chưa có một công viêc tương đối phù hợ với vị trí của mình. Dẫu sao thì tôi cũng ở ngay tại nơi mà tôi từng làm lãnh sự do đó tôi cũng vẫn còn lưỡng lự trong việc chọn công việc. Tôi cũng đang nghĩ trong vấn đề phải đào tạo lại để tìm được một công việc của tôi »

Với nhà văn Dương Thu Hương thì sự thay đổi không quá lớn lao, công việc hàng ngày của bà vẫn là sử dụng ngòi bút cho văn chương và góp phần vào sự thay đổi chế độ, bà nói :

« Công việc viết lách tôi cho đó là một phần ích kỷ của tôi, bởi vì  nó không liên quan gì vào cuộc tranh đấu của tôi cả, cho nên tôi cũng viết với đầy háo hức nhưng cũng đầy mặc cảm trong khi đó thì các đồng chí của tôi phải đấu tranh. Tuy nhiên, văn chương nó là cái hướng thoát cho tâm hồn đau khổ của tôi và cũng là niềm sung sướng nữa, bỡi vì nếu thành công thì nó cũng là một phần thưởng mà tôi cảm thấy xứng đáng. Tôi không viết hàng ngày, bỡi vì hàng ngày tôi cũng còn phải viết báo và làm những chuyện khác. Từ khi tôi ở đây thì trung bình cứ 3 năm tôi ra một quyển sách. Thế thôi ! đơn giản… »

Từ Việt Nam đi đường bộ đến Lào, vượt biên giới qua Thái Lan, từ Thái Lan dùng thuyền đến Christmas island ngày 28/10/2012 sau đó vào trại định cư ở Darwin và giờ đây tạm cư ở Sydney. Sau gần 3 năm trên nước Úc, tương lai anh Nguyễn Mười cũng như phần lớn những người tị nạn khác vẫn còn bấp bênh do chính sách cứng rắn của chính quyền đương nhiệm. Anh cho biết :

” Từ năm 1999-2000 em là phụ tá cho Cha Lý, khi Cha bị bắt em cũng có nhiều rắc rối với chính quyền, họ thường xuyên canh trước nhà của em, họ cản trở mọi công việc của em, nên em không thể sống được, nên em phải tìm cách rời Việt Nam để em đi vượt biên

Anh Nguyễn Mười (Úc)”

« Tình trạng của tụi em giờ cũng nằm trong sự chờ đợi thôi chứ tụi em cũng chưa biết như thế nào. Hồ sơ của em thì hiện tại cũng chưa được phép nộp giấy tờ để xin tị nạn và họ cũng chẳng có cho tụi em đi làm, chỉ cấp visa tạm thời 1 năm rồi họ xét tiếp »

Hầu hết những người tị nạn này đã ra đi vì không chấp nhận chế độ Cộng sản, ra đi để có thể tiếp tục cuộc đấu tranh ở một không gian khác. Nhưng, có những người hoàn toàn im lặng sau khi đã ổn định cuộc sống,  có những người vẫn tiếp tục đấu tranh.

Ông Đặng Xương Hùng tuyên bố trước các cơ quan tị nạn, vai trò mới của ông sẽ là cầu nối giữa người dân Việt Nam và Quốc tế để xé tan bức màn bưng bít thông tin của Cộng sản Việt Nam, ông nói :

« Sự cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam có những hình thái hết sức đặc biệt mà quốc tế  cũng cần phải lưu ý, đó là sự bưng bít giữa trong và ngoài. Người nước ngoài không biết tình hình đang diễn ra trong nước ra sao ? nhân dân Việt Nam đang sống như thế nào ? Cũng như là người dân Việt Nam không biết được những gì đang xảy ra ở thế giới văn minh bên ngoài. Tuy có những cải thiện nhưng nó cũng vẫn còn rất là hạn chế. Do đó tôi cũng nói với họ là tôi sẽ làm cầu nối giữa bên trong và bên ngoài, cho nên tôi đã tham gia những tổ chức mà có những tiêu chí đưa tình hình Việt Nam cho thế giới bên ngoài biết và đấu tranh để phấn đấu cho một nước Việt Nam có bầu cử tự do, có dân chủ , có nhân quyền, có văn minh để hoà nhập với cộng đồng quốc tế »

Từ Pháp, nhà văn Dương Thu Hương vẫn tiếp tục dùng ngòi bút của mình để đấu tranh, và dù ở cách Việt Nam gần nửa vòng trái đất, bà vẫn còn nguyện vẹn một trái tim cho quê hương cũng như vẫn còn gắn kết chặt chẽ với những đồng đội trong nước , bà nói :

« Tôi luôn luôn là người trung thành với nhóm của tôi. Là nhóm chủ trương chiến đấu đến cùng với chế độ Cộng sản, nhưng vì tôi già hơn các cậu ấy nên tôi được quyền ra nước ngoài để làm một phần việc của tôi là văn chương. Thế nhưng mà khi tôi chưa chết và chưa lẫn lộn quá thì tôi vẫn tiếp tục giúp đỡ cho những đàn em và đồng chí của tôi. Có một thời gian tôi đã gác bút, bỡi vì có một sự nhầm lẫn trong một bài báo năm 2010. Nhưng sau đó, những người đàn em của tôi đã yêu cầu tôi phải quay lại chiến đấu cùng với họ, thì tôi lại lấy lại ngòi bút của tôi dưới cái tên Sơn Diệu Mai. Và bây giờ tôi nhận thấy rằng không thể từ bỏ cuộc tranh đấu để (mặc) cho các đồng đội của mình được Các cậu có việc của các cậu ấy, tôi có việc của tôi »

Dù vẫn còn rất hoang mang về số phận của mình trên miền đất mới, anh Nguyễn Mười cũng tiếp tục cuộc đấu tranh cho những tù nhân lương tâm khác bằng hình thức biểu tình hay ký kiến nghị mà giờ đây anh không còn phải sợ bất cứ một đe doạ nào. Anh cho biết :

« Từ lúc em đặt chân đến Úc đây, em được tự do ra ngoài thì những lúc biểu tình trên Canberra, vận động chữ ký , không chỉ riêng gì Cha Lý mà những người tù nhân lương tâm khác như Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, anh Dũng ở Nghệ An…em vẫn tham gia trong những chương trình vận động để áp lực nhà nước Việt Nam để họ thả những người đấu tranh cho Tự do Dân chủ cho Việt Nam »

Cuộc đổi đời nào không có những khó khăn ban đầu ? Việc chọn một đất nước không phải là quê hương của mình để có cơ hội tiếp tục cuộc đấu tranh, với nhiều người không phải là một chọn lựa dễ dàng.

Qua hai bài vừa qua, Anh Vũ và Tường An đã tường trình câu chuyện của những người tị nạn ở Á Châu, Âu châu và Úc châu. Trong phần cuối của loạt bài này, phóng viên Kính Hoà sẽ tường trình về con người và cuộc sống của những người tị nạn chính trị ở Hoa Kỳ và Canada.

Các lực lượng đặc biệt Việt Nam đang chuẩn bị cho tranh chấp Biển Đông?

Các lực lượng đặc biệt Việt Nam đang chuẩn bị cho tranh chấp Biển Đông?

Chiến hạm Đinh Tiên Hoàng của hải quân Việt Nam tại căn cứ Cam Ranh.

Chiến hạm Đinh Tiên Hoàng của hải quân Việt Nam tại căn cứ Cam Ranh.

22.06.2015

‘Quân đội Việt Nam đang chuẩn bị các lực lượng đặc biệt để có thể tấn công các cơ sở Trung Quốc trong khu vực’ là hàng tít đăng trên báo Want China Times của Đài Loan hôm nay, trích nguồn tin từ báo Kommersant có trụ sở ở Moscow.

Bài báo viết rằng cũng như các cuộc diễn tập quân sự đã được quân đội Việt Nam tiến hành từ năm 2004 đã cho thấy, máy bay chiến đấu SU-22 của Không quân Việt Nam sẽ được dùng để phát động cuộc tấn công đầu tiên chống các mục tiêu trên biển bằng tên lửa không đối địa AS-10. Các chiến đấu cơ này có thể tấn công các tàu hải quân Trung Quốc từ độ cao 2.500 tới 3.000 mét.

Cùng lúc, các chiến đấu cơ SU-30 có khả năng được dùng để yểm trợ đội máy bay dội bom SU-22. Tờ Want China Times đưa ra kịch bản là kế đó, Hải quân Việt Nam có thể đổ bộ lên các hòn đảo và bãi đá ngầm hiện do Trung Quốc chiếm đóng. Tàu đổ bộ sẽ được yểm trợ bởi máy bay, các tàu ngư lôi và hộ tống. Bài báo dẫn tin của Hệ thống Quân sự Sina ở Bắc Kinh nói rằng các tàu hộ tống lớp Tarantul được trang bị tên lửa Kh-35 do Nga chế tạo đặc biệt nguy hiểm đối với các tàu bè của Trung Quốc.

Việt Nam là nước thứ nhì trên thế giới sở hữu loại tên lửa Kh-35 do Nga chế tạo. Tầm bắn của vũ khí nguy hiểm này là 130km.

Vẫn theo kịch bản này, thì sau đó các lực lượng đặc biệt Việt Nam sẽ tiến hành các cuộc tấn công nhắm vào nhiều mục tiêu, kể cả các thương thuyền, tàu tiếp tế, các trạm radar, và các cơ sở và phương tiện khác của Trung Quốc trên các đảo nhỏ hay bãi đá, nơi mà một số ít binh sĩ Trung Quốc trú đóng.

Theo tờ Kommersant, mỗi đơn vị lực lượng đặc biệt của Việt Nam chỉ gồm từ 3 tới 5 người.

Một bài báo trên tờ Vancouver Sun của Canada viết rằng hiện nay, Việt Nam và Philippines nay đã công khai tranh chấp với Trung Quốc để giành chủ quyền hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Cuộc tranh chấp đã âm ỉ từ lâu lại bùng phát mới đây vì các hoạt động qui mô lớn của Bắc Kinh để lấp biển xây đảo nhân tạo tại vùng biển đang trong vòng tranh chấp này.

Theo tờ báo, chính các hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng đã khiến Washington phải lên tiếng cảnh báo Trung Quốc, và tăng cường các chuyến bay tuần tra trên không phận Biển Đông.

Tờ Vancouver Sun trích lời Tổng lãnh sự Philippines Neil Ferrer nói rằng “Chúng tôi yêu cầu tất cả các bên tôn trọng luật pháp quốc tế, không chỉ ở Biển Đông, mà trong tất cả các quan hệ quốc tế. Trong nội bộ ASEAN, chúng tôi đã đi đến đồng thuận là chúng tôi mong muốn các nước khác phải tôn trọng. Chúng tôi đang tích cực kêu gọi sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong cuộc tranh chấp, kể cả Trung Quốc”.

Tờ báo trích lời Tổng lãnh sự Việt Nam tại Vancouver Trần Quang Dũng, đồng tình với phát biểu của tổng lãnh sự Philippines. Ông Dũng nói: “Về vấn đề Biển Đông, lập trường của chúng tôi rất rõ ràng. Chúng tôi muốn vấn đề này được giải quyết dựa trên Công ước Quốc tế về Luật Biển. Chúng tôi muốn tất cả các bên liên quan tôn trọng luật này, và giúp tạo điều kiện để đạt một bộ Quy tắc Ứng xử với Trung Quốc”.

Tờ báo nhận định rằng có rất ít triển vọng là Trung Quốc sẽ lùi bước trong cuộc tranh chấp để giành chủ quyền trên hầu hết Biển Đông, làm tăng nguy cơ xung đột quân sự trong khu vực.

Trong khi đó, Philippines và Việt Nam nối lại đàm phán về việc thực thi luật pháp trên biển. Tờ Philippines Star hôm nay loan tin hai nước đang làm việc để thiết lập một cơ chế hầu có thể giải quyết hòa bình các vụ đối đầu trên biển, đặc biệt liên quan tới các vụ đối đầu vì các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp trong các vùng biển thuộc chủ quyền của mỗi nước.

Từ tháng Ba năm nay, Philippines và Việt Nam đã thiết lập đường dây nóng để có thể phối hợp phản ứng trong trường hợp xảy ra các hoạt động bất hợp pháp, cũng như để hợp tác trong các hoạt động cứu nạn trên biển.

Nguồn: Want China Times, Asean Correspondent, The Philippines Star.

Trung Quốc ‘khoe’ lính và rau trên đảo Đá Thập, Trường Sa

Trung Quốc ‘khoe’ lính và rau trên đảo Đá Thập, Trường Sa

Nguoi-viet.com

BẮC KINH (NV) .- Một báo mạng của Trung Quốc phổ biến hơn chục tấm hình để khoe vài khía cạnh trên đảo nhân tạo ‘Yongshu Jiao’ tức bãi Đá Thập mà họ cướp của Việt Nam từ  cuối thập niên 1980.

Một nhóm binh sĩ nam nữ Trung Quốc chụp hình tại bia “Vĩnh Thử Tiêu” tức bãi Đá Thập của Việt Nam. Tấm bia này đã được dựng từ nhiều năm trước. (Hình: sina)

Có tất cả 17 tấm hình dưới tiêu đề “Kết quả đáng mừng trên ‘Yongshu Jiao’ : làm nhà kiếng trồng rau và cây ăn trái.”

“Yongshu Jiao” phiên âm hán Việt là Vĩnh Thử Tiêu khi còn là bãi đá ngầm trên đó, sau khi cướp của Việt Nam, Trung Quốc xây dựng một tiền đồn, rồi sau đó làm thêm bãi đáp trực thăng và một khu nhà kiếng trồng rau, tất cả trên một quy mô vài ngàn mét vuông.

Trước 1988, Trung Quốc không có hiện diện tại khu vực quần đảo Trường Sa. Cho đến năm 1988 mới đưa hải quân đến đánh đuổi một số đơn vị hải quân CSVN đang xây dựng cơ sở tại một số bãi đá ngầm. Trận tấn công tại bãi đá Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988 đã làm 64 lính Việt Nam thiệt mạng.

Từ năm ngoái, Bắc Kinh lập kế hoạch biến 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa thành các đảo nhân tạo tầm cỡ lớn trong mưu đồ khống chế toàn bộ Biển Đông. Đảo nhân tạo ‘Yongshu Jiao’ là một đảo lớn gồm cả phi đạo dài đến 3,000 mét mà các phi cơ quân sự cỡ lớn và chiến đấu cơ có thể lên xuống. Diện tích tổng thể của đảo nhân tạo “Yongshu Jiao” khoảng 1 cây số vuông.

Nhiều nhà bình luận thời sự tin rằng tới một lúc nào đó khi tình hình tranh chấp chủ quyền biển đảo với các nước trong khu vực biến đổi, Bắc Kinh có thể tuyên bố lập “vùng nhận diện phòng không” trên Biển Đông, thách đố chủ quyền không những của Việt Nam và Philippines mà cả Hoa Kỳ và thế giới tại hải lộ bận rộn nhất thế giới với hơn 5 ngàn tỉ đô la hàng hóa được vận chuyển mỗi năm.

Nữ binh Trung Quốc ngồi chụp hình bên luống rau được cho là tại đảo nhân tạo “Jongshu Jiao” tức Đá Thập của Việt Nam. Nhà kiếng trồng rau này không phải vừa mới xây dựng. (Hình: Sina)

Những tấm hình về “Yongshu Jiao” xuất hiện trên mạng Sina không có chú thích là được chụp lúc nào. Nhưng những gì nhìn thấy trên đó có nguồn gốc từ nhiều trang mạng khác ở Trung Quốc mà một số được Sina lấy đăng lại. Một số tấm hình có vẻ như chụp tại “Yongshu Jiao” khi nó còn là một bãi đá ngầm, chưa được ào ạt bồi đắp thành một đảo nhân tạo rộng lớn mà không ảnh thấy có cả phi đạo dài.

Một số nữ binh Trung Quốc chụp hình trước tấm bia “Vĩnh Thử Tiêu” hoặc trước luống rau. Một số tấm hình cho thấy các luống rau, cây cà chua, cà tím trong nhà kiếng, đàn heo.

Đây là những tấm hình chụp gần, không hề có dấu tích gì về các hoạt động làm đảo nhân tạo như các tàu hút cát đá lòng biển, các xe cẩu, và các xe cơ giới xây dựng cũng như lính thợ và vật liệu các loại.

Tuần trước, Bắc Kinh loan báo chương trình xây dựng đảo nhân tạo tại Trường Sa sắp hoàn tất tại một số vị trí và tiếp theo là các hoạt động xây dựng cơ sở dùng cho các nhu cầu cả dân sự và quân sự. Thật ra, người ta đã nhìn thấy phi đạo trên đảo Đá Thập, một số tòa nhà cao tầng ở đá Gạc Ma, đá Ga Ven, đá Tư Nghĩa v.v…qua các không ảnh.

Vào các ngày 17 đến 19 tháng 6, 2015 , Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao CSVN Phạm Bình Minh dẫn đầu một phái đoàn tới Bắc Kinh, họp kỳ họp lần thứ tám của “Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc”.

Nhà kiếng trồng rau mà sina lấy lại từ <<mil.cnr.cn>> không thấy chú thích đích xác ở đâu. (Hình: mil.cnr.cn)

Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) kể lại rằng “Hai bên cũng trao đổi về sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc, kiên trì thông qua đàm phán, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được; cùng kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ có hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC); không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.”

Những lời lẽ này là những từ ngữ tuyên truyền rỗng tuếch khi đối chiếu với thực tế. Trung Quốc ngang nhiên tiến hành xây dựng các đảo nhân tạo bất chấp dư luận quốc tế. Chính bộ Ngoại Giao CSVN ngày 11 tháng 6, 2015 đã trao công hàm “phản đối Trung Quốc tiến hành các hoạt động cải tạo phi pháp bãi đá Chữ Thập, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam”. (T.N)

90 năm Ngày Nhà báo Việt Nam

90 năm Ngày Nhà báo Việt Nam

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2015-06-20

90 năm Ngày Nhà báo Việt Nam Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg7508717-600.jpg

Một sạp báo vỉa hè Hà Nội chụp hôm 26/6/2012

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Chiếc dù mang tên “nhạy cảm”

Ngày Báo chí Việt Nam năm nay được cho là kỷ niệm 90 năm khi tờ báo của chủ tịch Hồ Chí Minh xuất bản tại Quảng Châu vào năm 1925. Giới làm báo Việt Nam nói gì về ngày này khi mà quyền phát biểu trung thực của họ đã bị khống chế từ nhiều chục năm qua dưới chiếc dù mang tên “nhạy cảm”?

Báo chí Việt Nam cũng tương tự với các nước thuộc khối Cộng sản trước khi sụp đổ, được định hướng theo chính sách nhất định của nhà nước và bất cứ tờ báo nào cũng phải tuân theo quy luật này nếu muốn tồn tại. Những định hướng do Ban Tuyên giáo trung ương chỉ đạo xuống địa phương đã làm nhiều tờ báo không thể viết lên sự thật đang xảy ra tại địa phương tờ báo cũng như các trăn trở của xã hội về các diễn biến tiêu cực trong chính quyền đi ngược lại với quyền lợi hay nguyện vọng người dân.

” Ngay trong lý lun dy trong các trường Văn và trường Báo chí do Ban tuyên giáo Trung ương ch đo, v mt ni dung chương trình đào to thì điu tôi trăn tr nht là tính trung thc ca nhà báo.
i tá Bùi Văn Bng”

Tờ báo bị định hướng như con ngựa thồ mang hai miếng che mắt chỉ chạy hay dừng theo giây cương của mã phu và do đó sự trung thực của tờ báo bị triệt tiêu tới mức thấp nhất. Mặc dù ngay khi ngồi tại một ngôi trường báo chí, sinh viên được dạy rằng thiên chức cao nhất của một nhà báo là sự trung thực nhưng khi trình diện để nhận việc tại bất cứ tòa soạn của một tờ báo nào thì người sinh viên ấy hiểu ra rằng sự trung thực là con dao vô hình sẵn sàng kết liễu nghề nghiệp của người làm báo tại Việt Nam.

Đại tá Bùi Văn Bồng, nhà báo quân đội, nguyên trưởng đại diện báo QDND khu vực đồng bằng sông Cửu Long cho biết những nhận định của ông về lý luận và thực tiển của việc trung thực trong báo chí, ông nói:

“Ngay trong lý luận dạy trong các trường Văn và trường Báo chí do Ban tuyên giáo Trung ương chỉ đạo, về mặt nội dung chương trình đào tạo thì điều tôi trăn trở nhất là tính trung thực của nhà báo. Nhưng khi đào tạo ra xong rồi và trực tiếp làm việc tại các tòa soạn báo và vào biên chế rồi thì người ta lại bị trói buộc. Bởi người ta muốn tính trung thực như trong lý luận báo chí mà nhà nước đã dạy thì không thực hiện được trọn vẹn hay là có tự do để mà thực hiện.

Những chủ trương đường lối, những chỉ đạo của đảng buộc người ta phải né bớt sự trung thực. Vấn đề đặt ra là tính trung thực, tính kịp thời và thời sự của báo chí… tất cả những cái đó đều phải chịu sự bảo đảm một cách chắc chắn: đó là bài báo muốn được đăng thì người ta phải coi trọng cái “tính đảng”.”

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chính thức ra mắt hoạt động vào ngày 4 tháng 7 năm 2014.

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam chính thức ra mắt hoạt động vào ngày 4 tháng 7 năm 2014.

“Tính đảng” là một khái niệm buộc mọi hoạt động của người sinh hoạt tư tưởng phải tuân theo một cách nghiêm khắc. Đảng ở đây được hiểu là sự chỉ đạo tùy thời điểm và tùy vào vai trò lãnh đạo của mỗi cá nhân. Tính đảng biến thiên nhưng không vượt ra cái khung o ép mọi bài viết, hình ảnh, quan điểm đi ngược lại lợi ích của đảng chứ không phải lợi ích của người dân, kể cả lợi ích của thông tin trung thực.

“Tính đảng này nó không rõ ràng. Tính đảng đúng ra về quan điểm đường lối các mặt hay về thực hiện theo các nghị quyết đảng thì người ta vẫn luôn luôn bảo đảm được. Nhưng tính đảng buộc người ta phải viết mà uốn ngòi bút hoặc là bài báo phải vo tròn nắn vuông để nó phù hợp với sự chỉ đạo của đảng, nhất là đảng bộ đảng ủy trực tiếp quản lý tờ báo đó và sau đó là chỉ đạo chung của Ban tuyên giáo Trung ương để bảo đảm được thì rất là khó! Cái tính đảng nó cứ trùm lên hết mà khi nó đã trùm lên rồi thì các tính khác như tính chân thật, tính thời sự, tính nhân dân rồi tính dân chủ và các thứ nó bị nhạt đi hết. Nếu anh không theo tính đảng thì bài báo không được đăng mà thậm chí nhà báo còn bị phê bình hay mất biên chế không được làm trong tòa soạn nữa mà phải làm nghề khác.”

Khái niệm “nhạy cảm”

Cơ quan báo chí được hiểu là hoàn toàn được sở hữu bởi nhà nước do bài vở của họ chỉ viết theo một chiều duy nhất. Tuy nhiên không phải tờ báo nào cũng chấp nhận sự bao cấp này, tại thành phố Hồ Chí Minh hai tờ báo tiên khởi thoát ra sự khống chế ấy là Thanh Niên và Tuổi Trẻ, hai tờ báo này được xem là mạnh nhất nước khi con số ấn bản hàng ngày của nó có khi lên tới gần nủa triệu tờ. Nhà báo Nguyễn Công Khế, 23 năm làm Tổng biên tập cho tờ Thanh Niên chia sẻ:

“Phải nói rằng nghề báo ở Việt Nam gian nan nhất. Nếu như tôi để mà tồn tại được cỡ 23 năm trong vai trò Tổng biên tập thì rất gian nan. Phía chính quyền phía những người có quyền kể cả giới quản lý báo chí họ chưa đánh giá hết tác dụng tốt, nhiều mặt của báo chí. Thực ra với tâm huyết và nhiệt huyết phải nói người làm báo Việt Nam tôi nghĩ không thua bất cứ ở đâu. Ở các nước khác nếu khó khăn 1 thì người làm báo Việt Nam khó khăn 10. Điều kiện, tập quán, thể chế đều khó khăn.

” Tính đng buc người ta phi viết mà un ngòi bút hoc là bài báo phi vo tròn nn vuông đ nó phù hp vi s ch đo ca đng, nht là đng b đng y trc tiếp qun lý t báo đó và sau đó là ch đo chung ca Ban tuyên giáo Trung ương.
i tá Bùi Văn Bng”

Tờ Thanh Niên của tôi và tờ Tuổi Trẻ là hai tờ sống được bằng cái đồng tiền của chính mình từ lúc tôi xây dựng cho tới giờ này cũng như tờ Tuổi Trẻ lên trên nửa triệu bản trogn điều khó như Việt Nam mà tụi tôi làm được thì phải nói là một kỳ công. Người đọc họ đánh giá đúng và lịch sử báo chí đánh gái đúng. Phải nói thẳng về cái đối xử, vì báo nhà nước, báo đoàn thể mà, thì cách đối xử của Tổng biên tập nhiều khi bất công. Tôi nói thật, những người trong báo chính thống như vậy thì tôi nghĩ cách xử sự đối với cá nhân những người làm báo nó cũng bất công lắm.”

Tin tức là thực phẩm chính nuôi sống một tờ báo nhưng bị bóp nghẹt qua cụm từ “nhạy cảm” khiến hai chữ “báo chí” không phù hợp với định nghĩa phổ quát của thế giới. Có tờ báo liều lĩnh đăng tải tin tức về Biển Đông có lợi cho người muốn đọc tin nhưng xét thấy có hại cho chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc nên bị ra lệnh gỡ bỏ khỏi bản tin là điều xảy ra thường xuyên trên mọi tờ báo lớn nhỏ của Việt Nam.

Tránh viết tin vì lo nhạy cảm khiến thông tin bị nhiễu qua các tầng số chồng chéo lên nhau khiến người đọc trong nước tìm tới internet và từ đó phát sinh các chuyển biến có tính tự phát khiến nhà nước không thể tìm ra một đối sách toàn vẹn để vừa bao biện nguồn tin vừa tránh cho dân chúng không bị lạc vào những vùng tin tức sai lệch do bóp méo dù vô tình hay hữu ý. Nhà báo Võ Văn Tạo kể lại kinh nghiệm của ông về vấn đề này:

“Cái khái niệm nhạy cảm khi mà tôi chưa làm báo thì tôi đã biết cái khái niệm đó rồi mặc dù không biết từ đâu đưa ra nhưng đã có chữ “nhạy cảm”. Cái đó có lúc thì có văn bản chỉ đạo, có lúc anh em phóng viên cũng như các tòa soạn tự ràng buộc mình với chữ “nhạy cảm” đó cho nên an hem trong giới chúng tôi hay gọi đùa với nhau là “tự thiến”. Tự nhiên cứ nghĩ, à cái việc này nó có đụng chạm gì đây không hài lòng khi bị đề cập tới, trong tòa soạn hay phóng viên cũng lại hay dùng từ “nhạy cảm” với nhau có nghĩa là “né” đi không đụng chạm tới.

Hồi chiến tranh thực ra khi tôi đã trưởng thành bắt đầu đi bộ đội rồi từ hồi đó không đặt ra. Báo chí hồi đó theo tôi biết ở ngoài bắc chỉ có tuyên truyền thôi chảng có vần đề gì khác cả. Tuyệt nhiên không có một ý kiến nào, một bài viết nào phản biện với chủ trương đường lối cả. Trong chiến tranh là như thế.”

Người đọc quay lưng với báo chí chính thống để đọc báo từ các trang lề trái trên mạng phần nào nói lên hiện trạng báo chí Việt Nam trong bối cảnh bị che chắn mọi phía, đã khiến báo chí ngày một lún sâu hơn vào vũng lầy độc quyền mà không một nước văn minh nào trên thế giới chấp nhận cho nền báo chí của nước họ.

Nhiều phóng viên kỳ cựu Việt Nam cho rằng Ngày Nhà Báo Việt Nam mỗi năm ăn mừng một lần trong suốt 90 năm qua nhưng chưa khi nào các nhà báo có cơ hội ngồi lại với nhau để cùng yêu cầu một việc đơn giản và quan trọng nhất: Được phép viết sự thật, và vì vậy Việt Nam vẫn chưa có một nền báo chí đúng nghĩa.

Quảng Ngãi: Xuất hiện nhóm cướp chặn xe tải cướp tiền

Quảng Ngãi: Xuất hiện nhóm cướp chặn xe tải cướp tiền

Nguoi-viet.com

QUẢNG NGÃI (NV) – Một nhóm cướp có hung khí vừa xuất hiện ở huyện Tư Nghĩa đã chặn xe container, xe tải đập phá và hăm dọa sẽ giết chết tài xế nếu không đưa tiền mãi lộ.

Tài xế Du chỉ vết chém của băng cướp trước cabin xe container. (Hình: Người Lao Động)

Chiều 19 tháng 6, ông Huỳnh Hoàng Tích, trưởng công an xã Nghĩa Phương, huyện Tư Nghĩa xác nhận, công an huyện đang truy bắt nhóm cướp có hung khí chuyên chặn xe container, đập phá và hăm dọa sẽ giết chết tài xế nếu không đưa tiền tại đoạn đường qua cánh đồng vắng thuộc xã Nghĩa Phương.

Báo Người Lao Động dẫn lời tài xế Đinh Văn Du (40 tuổi), ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết, khoảng 1 giờ 15 sáng 19 tháng 6, ông Du lái xe container chở trái vải từ tỉnh Hưng Yên vào Sài Gòn, khi đang lưu thông trên quốc lộ 1, đoạn qua xã Nghĩa Phương, huyện Tư Nghĩa thì bất ngờ gặp một nhóm năm người bịt mặt đuổi theo, cầm mã tấu chặn trước đầu xe.

“Tôi lập tức phanh xe lại. Nhóm này lao lên xe đạp cửa kính la hét, yêu cầu đưa hết tiền cho họ thì mới cho đi. Khi đó trên xe có ba tài xế, chúng tôi hết sức hốt hoảng định rồ ga chạy thì nhóm này vây lấy xe đập kính, thùng nước và tìm cách nhảy vào cabin. Lúc đó ba chúng tôi cầm cờ lê cố thủ trên xe. Nếu bọn cướp mở cửa xe vào thì chúng tôi chống trả,” ông Du kể.

Cùng lúc chặn xe container của ông Du cầm lái, nhóm cướp trên còn chặn thêm một xe tải chở trái vải cũng xuất phát từ tỉnh Hưng Yên. “Nhưng may mắn là công an đã có mặt tại hiện trường kịp thời, nếu không xe tải đó cũng sẽ bị nhóm này đập phá rồi,” ông Du kể.

Chứng kiến vụ việc, một người dân cho biết, “Tôi nghe tiếng hò hét ở khu vực vắng người cứ nghĩ có tai nạn nên chạy ra xem thử. Khi ra đến nơi thì thấy nhóm này đang đập phá một xe tải. Bọn chúng hét: Nếu không đưa tiền thì giết hết.”

Theo ông Tích, ít nhất có bốn xe container, xe tải chạy trên quốc lộ 1 qua xã Nghĩa Phương đã bị nhóm cướp này chặn lại đòi cướp và đập phá xe. (Tr.N)

Chiến dịch Todocabi “Tớ đố cậu biết “

Chiến dịch Todocabi “Tớ đố cậu biết “

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-06-22

06222015-budget-transparency-people.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Trang web Todocabi ngày 21 tháng 6, 2015 cho biết đã có 11656 người tham gia chiến dịch

Trang web Todocabi ngày 21 tháng 6, 2015 cho biết đã có 11656 người tham gia chiến dịch

Trang web Todocabi

Minh bạch ngân sách là một trong những biện pháp điều hành công cần phải có. Tuy nhiên tại Việt Nam điều này lâu nay vẫn chưa được thực hiện.

Vừa qua trước phiên họp thứ 9, quốc hội khóa 13 diễn ra, một chiến dịch góp phần thúc đẩy minh bạch ngân sách Nhà nước tại Việt Nam có tên ‘Tớ đố cậu biết ( Todocabi)’ được tiến hành. Mục tiêu của nhóm là kêu gọi các bạn trẻ trong nước quan tâm ký tên vào một bản kiến nghị để gửi đến quốc hội.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh là một trong những chuyên gia kinh tế được nhóm điều phối chiến dịch mời tư vấn. Vào ngày 15 tháng 6 vừa qua, ông dành cho biên tập viên Gia Minh cuộc nói chuyện liên quan chiến dịch Todocabi hướng đến việc thúc đẩy cộng đồng quan tâm và cùng lên tiếng về quyền lợi của bản thân trong việc minh bạch ngân sách Nhà nước.

Trước hết tiến sĩ Lê Đăng Doanh đưa ra nhận định về chiến dịch Todocabi.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Đó là chương trình của những bạn rất trẻ. Các bạn ấy có chương trình ‘Tớ đố cậu biết’ để tìm hiểu về thực trạng thu- chi ngân sách của Việt Nam; mức độ công khai, minh bạch về thu chi ngân sách của Việt Nam.

Tôi thấy đó là một việc rất có ích. Tôi đánh giá cao và tôi cũng đã gặp gỡ các bạn đó và giúp đỡ cho họ. Tôi nghĩ rằng quyền của người dân biết được mức thu ngân sách thế nào và chi ngân sách vào việc gì, và những tiêu chuẩn về công khai minh bạch trên thế giới như thế nào là những điều rất quan trọng. Bởi vì những bạn trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước. Các bạn ấy sẽ nộp thuế để nuôi đất nước này nên các bạn ấy có quyền và cần phải có hiểu biết để các bạn ấy biết thực trạng thu chi ngân sách ở Việt Nam.

” Đó là chương trình của những bạn rất trẻ. Các bạn ấy có chương trình ‘Tớ đố cậu biết’ để tìm hiểu về thực trạng thu- chi ngân sách của Việt Nam; mức độ công khai, minh bạch về thu chi ngân sách của Việt Nam

TS Lê Đăng Doanh”

Gia Minh: Qua tiếp xúc và tiến sĩ nói có giúp đỡ cho họ thì tiến sĩ thấy sự hiểu biết của họ đến đâu và sự giúp đỡ của tiến sĩ cho họ thế nào rồi?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Tôi gặp các bạn ấy cách đây độ hai tháng, lúc ấy các bạn mới bắt đầu và các bạn đó có được một số số liệu ban đầu và đưa lên. Tôi thấy các bạn đó có nhiệt tình rất lớn và tôi nghĩ đó là điều rất hoan nghênh và các bạn ấy có thể tìm hiểu thêm, tôi hy vọng các bạn ấy có điều kiện để có thể học thêm để biết thực trạng thu chi ngân sách của chúng ta hiện nay như thế nào.

Gia Minh: Theo đánh giá của tiến sĩ thì thực trạng đó ra sao?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Về mức thu thế trên tổng GDP thì Việt Nam là nước thu nhập trung bình thuộc nhóm thấp nhất nhưng thu ngân sách của Việt Nam hiện nay đã lên đến khoảng 23% GDP. Như vậy cao hơn mức bình quân của các nước trong nhóm. Bình quân của các nước trong nhóm chỉ độ 18% thôi. Ngay cả Trung Quốc hiện nay họ cũng thu thấp hơn Việt Nam. Họ thu khoảng 17-18% ngân sách thôi mặc dù GDP cũa họ cao hơn Việt Nam rất nhiều;  hiện nay GDP của họ vào khoảng 6.800 đô la một đầu người nếu như tôi nhớ không nhầm.

Và có một số ví dụ để chúng ta có thể so sánh: ví dụ thuế thu nhập cá nhân ở Hong Kong là 9%, thuế thu nhập cá nhân ở Singapore là 0%; nhưng thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam lũy tiến có thể lên đến 38%. Đấy là một mức thuế khá cao. Ngoài ra những mức thuế khác cũng là mức thuế cao.

Todocabi trên Facebook

Todocabi trên Facebook

” Những bạn trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước. Các bạn ấy sẽ nộp thuế để nuôi đất nước này nên các bạn ấy có quyền và cần phải có hiểu biết để các bạn ấy biết thực trạng thu chi ngân sách ở Việt Nam

TS Lê Đăng Doanh”

Tuy vậy tình trạng thất thu và lạm thu đang còn khá phổ biến. Tình trạng thất thu và lạm thu có thể thể hiện qua con số này: tức là hộ gia đình của Việt Nam đóng góp 33,2% vào GDP nhưng tỷ lệ nộp thuế của khu vực này chỉ là 2% của tổng thu ngân sách. Như vậy có khoảng cách rất lớn. Tại sao kinh tế hộ gia đình lại nộp thuế thấp như vậy? Một điều tra gần đây trong một cuộc hội thảo cho thấy rằng các hộ kinh tế gia đình đó có thể thương thảo và có thể đút lót cho các viên chức thu thuế. Vì vậy cho nên thuế thu có thể ít đi nhưng các viên chức ( thu thuế ) kia cũng được thu một phần. Người bị thiệt hại nhiều nhất là ngân sách Nhà nước. Đó là một số điều sơ sơ có thể nêu lên được.

Còn việc chi ngân sách thì tình trạng là thiếu minh bạch và còn nhiều lãng phí cả chi thường xuyên cho đến chi đầu tư. Và mức độ công khai minh bạch của quá trình soạn thảo ngân sách, việc công bố dự toán ngân sách, cũng như việc công bố quyết toán ngân sách và có những bước điều chỉnh là rất thấp.

” Tại sao kinh tế hộ gia đình lại nộp thuế thấp như vậy? Một điều tra gần đây trong một cuộc hội thảo cho thấy rằng các hộ kinh tế gia đình đó có thể thương thảo và có thể đút lót cho các viên chức thu thuế. Vì vậy cho nên thuế thu có thể ít đi nhưng các viên chức ( thu thuế ) kia cũng được thu một phần

TS Lê Đăng Doanh”

Ví dụ như hiện nay chi thường xuyên lên đến 71% tổng số chi là một mức chi quá cao về chi thường xuyên nuôi bộ máy của Nhà nước. Đó là điều cần có điều chỉnh sớm. Tình hình thu chi ngân sách của Việt Nam hiện nay đang có cá tín hiệu khá khẩn trương. Bởi vì như năm nay, mức phải nộp nợ công, trả nợ công là 31% của chi ngân sách. Như vậy tức 71% chi thường xuyên + 31% trả nợ công, thì ngân sách đã thâm hụt 0,2%.

Toàn bộ số tiền đầu tư phải nhờ vào trái phiếu chính phủ và vay mượn. Đó là tình trạng khá khẩn trương, và tôi nghĩ Quốc hội cần phải có biện pháp để điều chỉnh tình trạng này.

Gia Minh: Trong cuộc họp quốc hội sắp kết thúc thì vấn đề có được nêu ra không và có đề cập đến những giải pháp gì không?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Về thảo luận thì các đại biểu có chất vấn và có nêu lên rất nhiều vấn đề. Còn về việc kết luận và hành động thì cho đến nay tôi chưa được thấy. Tôi mong rằng đến khi kết thúc thì quốc hội sẽ có những nghị quyết về vấn đề quan trọng và cũng là rất cấp bách này.

Gia Minh: Nói một cách nôm na thì đây cũng như chuyện thu chi trong một gia đình, theo tiến sĩ cách để giải quyết tình trạng này thì ngoài việc như những nhóm người trẻ đòi hỏi quyền được biết; nhưng biết rồi thì cần phải có biện pháp ra sao?

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh: Tôi nghĩ rằng điều này sẽ giúp ích cho người trẻ là có quan tâm hơn, có trách nhiệm hơn đối với tình hình chung của đất nước. Và nó sẽ góp phần làm cho tình trạng công khai minh bạch của thu chi ngân sách của Việt Nam sẽ được cải thiện. Bởi vì nếu như người trẻ đã lên tiếng thì tôi chắc sẽ có nhiều tầng lớp khác của nhân dân cũng sẽ quan tâm.

Gia Minh: Cám ơn tiến sĩ dành cho những thông tin vừa rồi.

Báo chí và người làm báo trong một chế độ độc tài toàn trị

Báo chí và người làm báo trong một chế độ độc tài toàn trị

Song Chi.

+Nhân ngày Báo chí “cách mạng” VN 21.6.

Đặc điểm của báo chí trong một chế độ độc tài: không đặt quyền lợi của đất nước, dân tộc lên trên mà phải đặt quyền lợi của chế độ đang cai trị đất nước trên tất cả, “ông chủ” của những nền báo chí ấy không phải là nhân dân, bởi vì nó không phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân, nhất là những con người bé nhỏ không thể cất tiếng nói trong xã hội như tầng lớp lao động, những người nghèo, bất hạnh, phận con sâu cái kiến… mà phục vụ trước hết là giai cấp cầm quyền, sau đó là những kẻ có tiền.
Báo chí ở VN dưới chế độc tài toàn trị do đảng cộng sản nắm quyền suốt bảy thập kỷ qua, là một nền báo chí như vậy. Nó phải phục vụ cho sự tồn tại của chế độ, của đảng cộng sản, chịu sự kiểm duyệt, cầm tay chỉ việc của Ban Văn hóa Tư tưởng, Ban Tuyên giáo Trung ương.…
Ngay cả bây giờ, ở thời điểm năm 2015, so sánh với báo chí của chế độ VNCH đã bị “bức tử” từ 40 năm trước, báo chí của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN vẫn thua xa hàng dặm về mức độ tự do, dân chủ.
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, báo chí “cách mạng” VN nhìn chung đã thừa hưởng, tiếp thu được nhiều tố chất của nền báo chí ở miền Nam, nếu so với báo chí ở miền Bắc trước năm 1975 không chỉ sặc mùi tuyên truyền đậm đặc mà còn khô cứng, nghèo nàn, đơn điệu, quê mùa từ phần trình bày, kỹ thuật in ấn, phông chữ, cung cách đưa tin, viết bài. Báo chí sau 1975 hiện đại hơn từ kỹ thuật, cho đến cung cách làm báo. Sau khi ‘đổi mới” và đời sống kinh tế có khá lên thì báo chi càng “khởi sắc” hơn với đủ loại báo ngày, tập san, nguyệt san, tạp chí, báo ảnh… đẹp đẽ bắt mắt về hình thức, và “tự do” hơn trong việc khai thác những khía cạnh đời thường của các nghệ sĩ, những người nổi tiếng, những khía cạnh vật chất của cuộc sống-một điều hoàn toàn không hề có so với báo chí miền Bắc trước năm 1975.
Nhưng sự thay đổi bề ngoài ấy không hề thay đổi cái bản chất, cái mục đích chính của báo chí trong chế độ cộng sản. Đó là phải tuyên truyền, bảo vệ chế độ, có tính định hướng rõ ràng, phải là “vũ khí” của đảng.
Chỉ có điều, báo chí bây giờ lại có thêm một khía cạnh tệ hại thứ hai là xu hướng “lá cải hóa” tràn lan, nhất là những tờ báo mạng, tập san, tạp chí, báo ảnh, phụ trương…Hoặc khai thác tỉ mỉ những yếu tố giật gân trong những vụ án cướp giết hiếp xảy ra hàng ngày trong xã hội và cả trên thế giới, hoặc chạy theo khai thác đời tư những người nổi tiếng, giới showbiz…
Hãy thử lướt qua hàng chục, hàng trăm tờ báo mạng, hoặc cầm trên tay hàng chục những tờ phụ trương, tạp chí bắt mắt bày đầy trên các sạp báo, chúng ta sẽ thực sự lo ngại, thậm chí rùng mình vì kinh hãi. Vì sao người ta có thể vô lương tâm, vô trách nhiệm đến thế khi cho ra đời những bài báo, tờ báo như vậy, và mức độ ‘lá cải’ này chỉ có tăng lên trong những năm qua chứ không hề có dấu hiệu giảm sút, mặc cho dư luận nhiều lần lên tiếng bất bình, phẫn nộ, mặc cho nhiều cuộc hội thảo của người trong nghề về tình trạng này.

Là một người cũng từng nhiều năm làm báo trong môi trường VN trước khi rời nước ra đi và bây giờ vẫn tiếp tục viết lách với tư cách một người viết tự do, tôi không lạ gì bầu không khí làm báo ở VN, những giới hạn “đèn vàng” mà người làm báo không thể vượt qua, sức ép đối với những người làm báo chân chính khi muốn viết lên sự thật, và một sức ép khác là phải bảo đảm yêu cầu có người đọc.
Trừ những tờ báo đảng như Nhân Dân, Quân đội nhân dân…báo chí VN nói chung cũng phải tự cân đối, tự thu tự chi bằng nguồn bán báo và nguồn thu từ quảng cáo, nhất là những tờ báo online chỉ sống hoàn toàn bằng quảng cáo, nên phải tính đến yếu tố “câu khách”. Từ sự thúc bách phải có người đọc, nhiều tờ báo đã chạy theo khai thác tối đa những đề tài giật gân như vừa nói trên.
Các nước tự do dân chủ cũng có báo “lá cải”, kể cả báo khiêu dâm. Nhưng ở các nước ấy có những quy định rất chặt chẽ về đạo đức nghề báo, có luật pháp rõ ràng, và nếu nhà báo vượt quá giới hạn hoặc viết ẩu, viết bậy thì cá nhân hoặc tập đoàn nào là “nạn nhân” sẽ kiện ra tòa và không chỉ phóng viên mà cả ban biên tập, chủ bút, cả tờ báo đó cũng bị phạt một cách xứng đáng. Còn ở VN, nếu một cá nhân hay một công ty nào bị một phóng viên vì lý do nào đó viết ẩu, viết sai, thậm chí vu khống, bôi nhọ, lắm khi cũng chẳng muốn kiện vì có kiện cũng chưa chắc đã được gì, mà chỉ mất thì giờ, mệt mỏi thêm. Với tâm lý ấy người ta thường đành là cho qua, và các nhà báo vô lương tâm hoặc yếu kém về tay nghề cứ vậy mà tồn tại, tiếp tục viết bậy!
Từ khi internet phát triển, rồi blog, các trang mạng xã hội và những tờ báo ngoài luồng, những tờ “dân báo” ra đời, chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của dòng báo chí ngoài luồng và các trang mạng xã hội này đối với một bộ phận người dân và ngay cả đối với báo chí “chính thống” ra sao. Nhiều người đã được “mở mắt” thức tỉnh từ khi đọc báo bên ngoài, biết được những sự thật về lịch sử, về xã hội, về chế độ mà đảng và nhà nước cố tình bưng bít, bóp méo bao lâu nay. Con số người bỏ không đọc, không tin vào báo đảng, ngược lại theo dõi thường xuyên các tờ báo bên ngoài, các trang mạng xã hội ngày càng nhiều. Ngay báo chí “chính thống” của nhà nước cũng bị tác động bởi báo ngoài luồng.
Bất cứ một thông tin dối trá, một bài viết tuyên truyền sặc mùi tuyên giáo, một hành động phản cảm hay một lời phát biểu dốt nát, ngu xuẩn của một ông quan bà nghị nào đó, những chi tiết sai sót, phi lý của một vụ án oan hay một vụ án có tính chất chính trị, một điều luật, chính sách ngớ ngẩn mới được thông qua…tất cả đều nhanh chóng bị đưa ra mổ xẻ trên các tờ “dân báo”, các trang mạng xã hội. Không chỉ một hai lần, báo chí “chính thống” phải điều chỉnh hoặc âm thầm gỡ bài khi bị báo ngoài luồng “bóc mẽ” những sự dối trá, sai sự thật.

Không ít nhà báo đang ăn lương ở một tờ báo nào đó vẫn theo dõi báo bên ngoài và nhiều khi lấy tin từ các báo, blog bên ngoài hoặc lặng lẽ thay đổi quan điểm trong một bài viết của mình. Còn các quan to quan nhỏ trong bộ máy nhà nước VN, không rõ họ có bao giờ dám đọc báo ngoài luồng không, nhưng có một điều chắc chắn là họ hiểu được “tác động” của dòng báo chí đó dối với chế độ và họ lo ngại. Ngược lại, con số blogger, nhà báo tự do bị xách nhiễu, bị hành hung, bị tống giam vào tù với những bản án cực kỳ khắc nghiệt vì những bài blog, bài báo của mình ngày càng nhiều, đã đưa VN vào trong danh sách những quốc gia bỏ tù nhà báo nhiều nhất, là kẻ thù của internet. Những blogger, nhà báo tự do ấy đã phải trả một cái giá không hề rẻ cho việc viết lên sự thật, với khao khát cung cấp những thông tin đa chiều cho người dân VN.
Họ là những anh hùng. Còn những nhà báo anh hùng khác nữa, là những nhà báo vẫn đang làm việc cho một tờ báo của nhà nước, nhưng cố gắng không trở thành bồi bút hoặc không góp phần “ xả rác” vào xã hội bởi những tin bài của mình.
Tôi vô cùng khâm phục những nhà báo tử tế, chân chính còn sót lại giữa làng báo thiếu vắng tự do dân chủ và tràn ngập những cướp, giết, hiếp, mông đùi hở hang…như ở VN.
Những nhà báo ấy đã phải xoay sở tìm cách “lách” sao cho thông tin thuộc loại “nhạy cảm” về mặt chính trị xã hội có thể đến được với người đọc, hoặc ít nhất, viết cách nào đó để người đọc có thể đọc và hiểu giữa hai hàng chữ những gì người viết thực sự muốn nói. Họ đã phài tận dụng những cơ hội hiếm hoi khi báo chí được “thả lỏng” giây lát. Ví dụ như trong mối quan hệ phức tạp và bất tương xứng giữa hai đảng, hai nhà nước Việt-Trung, đôi khi quan hệ giữa hai bên trở nên xấu đi và nhà cầm quyền VN cảm thấy cần phải để báo chí “xả” một chút, hoặc để báo chí chuyển tải thông điệp về tình trạng xấu đi đó đến nhà cầm quyền Trung Quốc. Báo chí được dịp đưa những thông tin như tàu Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí VN, tàu TQ rượt đuổi, cướp bóc, đánh chìm tàu cá của ngư dân Việt, hay Trung Quốc đang cấp tập xây cất, biến các bãi đá ngầm trên biển Đông thành những hòn đảo nhân tạo và những căn cứ quân sự nguy hiểm trong tương lai như thế nào…
Những lúc ấy báo chí khởi sắc hẳn lên, nhiều bài báo mạnh mẽ lên án Trung Quốc, các nhà báo lúc ấy đang thực sự đứng về phía người dân VN, nói lên tâm trang uất ức, phẫn nộ, tình cảm thật sự của người dân VN đối với nhà cầm quyền Trung Quốc và những chinh sách bành trướng, xâm lược, mưu mô thâm độc của họ.
Tất nhiên, những lúc mở xả như vậy rất hiếm hoi và có thể lại đóng lại bất cứ lúc nào nếu nhà cầm quyền cảm thấy có thể làm cho Bắc Kinh tức giận hoặc nếu những người lãnh đạo Trung Nam Hải lại tìm được cách nào đó vừa xoa dịu vừa khống chế đám lãnh đạo cao cấp nhất của VN.
Lảm báo ở VN khốn nạn như vậy đấy.
Bên cạnh đó là rất nhiều người cũng mang danh nhà báo nhưng không hề mảy may động lòng trước hiện trạng đất nước, dân tộc cũng như viễn cảnh không mấy sáng sủa của VN trước tham vọng ngày càng rõ và quyết tâm ngày càng sắt đá của Bắc Kinh. Những dạng ấy nhiều lắm. Hoặc tiếp tục bưng bô nịnh bợ chế độ, tuyên truyền những điều dối trá về đảng và nhà nước cộng sản, về lịch sử, hiện tại và cả tương lai, điên cuồng chống lại con đường tốt đẹp hơn cho VN là thoát khỏi chế độ độc tài độc đảng lạc hậu và gây hại cho đất nước cho dân tộc như lâu nay. Hoặc chỉ chăm chăm khai thác những đề tài “cướp, giết, hiếp”, mông đùi, đời tư người nổi tiếng, cổ vũ cho lối sống chạy theo bản năng của con người, chạy theo vật chất, nhà lầu, xe hơi, thời trang hàng hiệu khi suốt ngày viết “thiếu gia” này mới tậu con xe tiền tỷ, diễn viên kia sắm nhà lộng lẫy, người mẫu nọ có bồ là đại gia tiêu tiền như nước, hoa hậu kia khoác lên người bộ cánh hàng chục ngàn USD, đeo chiếc nhẫn kim cương “khủng”…
Không ai hồ nghi gì về sức mạnh của báo chí. Sức mạnh ấy nếu được đặt vào những nhà báo chân chính có tài có đức, trong một môi trường báo chí tự do dân chủ, có thể tạo ra những thay đổi biến chuyển theo chiều hướng tích cực cho xã hội, cho đất nước. Và ngược lại. Trong một xã hội độc tài và tôn thờ đồng tiền như VN hiện nay, báo chí không thể làm tốt được chức năng tôn trọng sự thật, phục vụ lợi ích của đất nước, nhân dân, ngược lại ngày càng biến tướng và tệ hại.
Nhiều người làm báo không lương tâm khi đưa ra một vụ án chưa thực sự khởi tố, người bị tình nghi vẫn chưa bị kết tội đã thay mặt tòa kết án người ta, giết chết người ta về mặt uy tín xã hội. Có những bài báo khi viết về những vụ án hiếp dâm, đã không thèm che mặt nạn nhân hoặc có làm mờ và ghi tắt tên nhưng lại đưa những thông tin về trường học, cơ quan hoặc đưa hình ảnh nhà cửa khiến những người nào biết nạn nhân có thể dễ dảng đoán ra. Nhất là những vụ án mà nạn nhân hay người phạm tội là trẻ vị thành niên, cuộc đời vẫn còn dài trước mắt, sẽ sống ra sao sau khi vụ án đi qua.
Có những bài báo khai thác nhiều kỳ một vụ án giết người không chỉ từ lúc kẻ thủ phạm ra tay thủ ác mà cả quãng đời trước đó và sau đó trong trại giam, thông tin về cha mẹ người yêu hay vợ, chồng được đưa tuốt lên mặt báo. Hay vụ những người mẫu bán dâm, báo chí khai thác tối đa, phỏng vấn cả chồng, mẹ chồng tương lai của một người mẫu trong số đó, cuộc đời người mẫu này coi như không còn có cửa làm lại, cho dù sau khi mãn hạn tù. Và vô số những ví dụ về những cách đưa tin bài thiếu lương tâm như vậy mà chúng ta có thể bắt gặp tràn ngập trên báo chí VN.
Chưa nói đến khía cạnh lớn hơn là dối trá, bóp méo sự thật. Biết bao nhiêu sự dối trá trong suốt chiều dài nắm quyền của đảng cộng sản mà nhờ có internet, báo chí bên ngoài, người dân VN mới biết được, nhưng vẫn còn rất nhiều thông tin nằm trong bóng tối chưa bị lộ ra.
Một môi trường làm báo thiếu vắng tự do, đầy nghịch lý, những kẻ bồi bút bưng bô chế độ thì leo cao, hưởng mọi vinh quang phú quý, những người viết sự thật thì bị xách nhiễu, buộc thôi việc, hoặc bị tù; những kẻ viết tin bài vớ vẩn lá cải thì sống khỏe còn những nhà báo chân chính thì đau khổ vì không thể viết được theo đúng lương tâm mình.

Trong một môi trường như vậy, những người làm báo chỉ còn lại sự đối diện với chính mình. Rằng trước khi đặt bút viết bất cứ cái gì, tự hỏi mình bài viết ấy sẽ phục vụ cho ai, cho đất nước, nhân dân hay cho nhà cầm quyền, có lợi cho đất nước hay có hại; đối với những bài viết có liên quan đến số phận con người cụ thể, thì cuộc sống của họ sẽ ra sao sau khi bài báo được đưa ra. Nếu làm được như thế tin rằng những bài viết dối trá, bóp méo sự thật lịch sử, nhằm nịnh bợ chế độ và làm ngu dân, hay những bài viết dễ dãi khai thác phần bản năng của con người, sẽ có thể bớt đi.
Mọi vinh hoa phú quý, danh hiệu nhận được từ chế độ chả có nghĩa lý gì. Sự phán xét lâu dài của lịch sử, của nhân dân mới là sự phán xét mà không một ai có thể tránh được.

Kinh doanh ở VN: Lời hay lỗ đều phải hối lộ cho cán bộ thuế

Kinh doanh ở VN: Lời hay lỗ đều phải hối lộ cho cán bộ thuế

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Để tránh bị hạch sách và yên ổn sản xuất kinh doanh, các chủ doanh nghiệp ở Việt Nam buộc phải “biết điều” với cán bộ thuế.

Doanh nghiệp và người dân khi đi làm thủ tục đóng thuế phải hối lộ cho
cán bộ thuế. (Hình: Thuvienphapluat)

Ngày 21 tháng 6, Tuổi Trẻ dẫn kết quả khảo sát của trung tâm nghiên cứu phát triển hỗ trợ cộng đồng trong đề tài “nguy cơ tham nhũng trong khu vực hộ kinh doanh tại Việt Nam” cho thấy, trong 500 hộ kinh doanh được khảo sát, có 1/3 đồng ý hoàn toàn về việc thường “dàn xếp” với cán bộ thuế để phải nộp mức phạt thấp hơn và không lấy biên lai; 14% cho biết họ phải nộp thuế ít hơn nếu biếu quà cho cán bộ thuế.

Bồi dưỡng để công việc được thuận lợi, nhanh chóng, chứ không là thế nào cán bộ thuế cũng tìm ra sai phạm rồi làm khó dễ mình. Chỉ những người làm kinh doanh mới thấy được nỗi cay đắng, của hộ kinh doanh và doanh nghiệp khi bị cán bộ thuế và quản lý thị trường “hỏi thăm,” nhiều chủ doanh nghiệp đã cho biết như vậy về việc tại sao phải “lót tay” cho cán bộ thuế.

“Một năm hai lần cứ đến tháng 6 và tháng 12, chúng tôi lại được cán bộ gọi điện để… hỏi thăm sức khỏe. Và dù muốn hay không, vui hay buồn, thua lỗ hay lời to, chúng tôi vẫn phải ‘gặp’ các vị nếu không chỉ có con đường bị làm khó mà thôi,” ông Sơn, chủ doanh nghiệp nhựa ở Chợ Lớn nói.

Còn chị Ngọc, chủ một doanh nghiệp sản xuất thức ăn gia súc cho biết, “Mình muốn cán bộ thuế xông xáo thì phải “tốt” với họ. Cái nào cũng có cái giá của nó. Nếu không ‘bồi dưỡng’ khi gặp khó khăn về thuế họ không hướng dẫn nhiệt tình. Tuy nhiên, mỗi năm, lại có nhiều quy định mới, do không theo kịp nên chắc chắn doanh nghiệp cũng vướng vài sai phạm.”

Còn anh Hoàng, một chủ trang trại heo ở Long An cho biết, “Chỉ cần không ‘bồi dưỡng’ thử một lần đi rồi sẽ thấy năm đó tự dưng ‘lòi’ ra bao nhiêu sai phạm. Làm kinh doanh phải tính chuyện lâu dài, tính đến lợi nhuận nên thà bỏ ra chút ít vẫn tốt hơn là bị cán bộ ‘để ý’ doanh nghiệp của mình.”

Kết quả điều tra xã hội học cho thấy, có 63% hộ kinh doanh tại 8 tỉnh lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Cần Thơ… được khảo sát tin rằng, việc thông đồng, cấu kết, vòi tiền trong ngành thuế luôn diễn ra. Không ai tin rằng hiếm hoặc không diễn ra thực tế này.

Theo ông Đặng Hoàng Giang, trung tâm phát triển cộng đồng, chủ đề tài khảo sát trên thì, hộ kinh doanh đóng thuế chỉ là đóng lấy lệ, một phần để chia cho cán bộ thuế. Các hộ kinh doanh khi bị nhũng nhiễu thường không tố cáo vì họ cho rằng có tố cáo cũng không có kết quả.

Sở dĩ xảy ra tình trạng này là do thông tin về mức đóng thuế rối rắm, biểu thuế và việc áp dụng các mức thuế nào cho đối tượng nào không rõ ràng nên hộ kinh doanh không nắm được. Việc người dân không tin các khiếu nại, tố cáo của mình được giải quyết nên họ tìm cách thông đồng đút lót cho cán bộ thuế để hai bên cùng có lợi.

Trả lời Tuổi Trẻ, ông Ngô Trí Long, nguyên viện phó Viện Nghiên Cứu Thị Trường Giá Cả xác nhận: Hiện nay, thuế là một trong những mảnh đất màu mỡ cho tội phạm tham nhũng. Bằng chứng là ngành thuế luôn “hot,” mỗi khi thi tuyển luôn có hàng ngàn người xếp hàng tham gia. (Tr.N)

Cuộc sống người bán vé số ở Sài Gòn

Cuộc sống người bán vé số ở Sài Gòn

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2015-06-19

Cuộc sống người bán vé số ở Sài Gòn Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Untitled-1.jpg

Người già cầm xấp vé số trên tay ở Sài Gòn

RFA photo

Your browser does not support the audio element.

Sài Gòn như một điểm dừng không thể đi thêm được nữa của người lao động nghèo. Mặc dù Sài Gòn đất chật người đông nhưng có vẻ như bất kì người lao động từ miến Bắc, miền Trung hay miền Tây Nam Bộ nào khi đi tìm đất hứa đều nghĩ đến Sài Gòn. Có người vào Sài Gòn để làm thuê, phụ hồ, chạy xe ôm, chạy xe ba gác, người ít vốn, không đủ sức khỏe thì đi buôn đậu phộng rang, đi bán me xoài cốc ổi, bán trái cây dạo. Và những người quá nghèo, vốn liếng duy nhất có thể cầm cược với người khác là thẻ căn cước thì họ sẽ dùng thẻ căn cước cầm cho đại lý vé số để mang vé số đi bán mỗi ngày.

Đất chật người đông, cạnh tranh khốc liệt

Việc bán vé số trên đất Sài Gòn thời kinh tế khó khăn nghe ra hết sức chật vật, cạnh tranh khốc liệt mà trong cuộc cạnh tranh này, người nghèo bao giờ cũng thua thiệt nhiều thứ. Có một điểm chung là đa phần người lao động Quảng Nam và Quảng Ngãi đều chọn nghề bán vé số trên đất Sài Gòn để sống qua ngày. Và nếu như thử dạo một vòng trên các quận Sài Gòn, dễ dàng bắt gặp người bán vé số gốc Quảng Nam, Quảng Ngãi chiếm số đông, sau đó đến người Bình Định, Phú Yên và thi thoảng gặp một vài người đến từ miệt Tây Nam Bộ.

Một người bán vé số tên Lý, đến từ Thăng Bình, Quảng Nam, chia sẻ: “Một bữa thì kiếm bảy chục, bốn chục, năm chục kiếm tiền qua bữa. Nếu mình đau thì họ cho một lon sữa hoặc Tết thì có chai dầu với gói bột ngọt. Giờ đi không nổi, xa quá mỏi chân đi không nổi bằng mấy đứa con gái nó mạnh. Buổi sáng thì ăn bánh mì năm ngàn, hoặc tô bún, nếu có tiền thì ăn mười ngàn, không có thì ăn năm ngàn, bảy ngàn giống ổ bánh mì. Buổi trưa cũng ăn cơm năm ngàn nếu họ không bán thì mua bảy ngàn. Bữa nay họ ít trúng nên họ ít mua, bán không ra, đi chết người luôn.”

Theo bà Lý, hiện nay, số lượng người Quảng Nam, Quảng Ngãi đi bán vé số trên đất Sài Gòn chiếm rất đông, họ sống tập trung ở các khu nhà trọ trong quận Tân Bình và Gò Vấp. Sở dĩ người bán vé số sống tập trung ở hai quận này vì đây cũng là hai địa điểm có người miền Trung định cư trên đất Sài Gòn nhiều nhất. Chỉ riêng khu xóm chợ Bà Hoa, Tân Bình đã có đến vài trăm người Quảng Nam, Quảng Ngãi vào trọ để bán vé số.

Cũng trong khu vực này, chiếm hầu hết là người Quảng Nam định cư, chính vì có nhiều đồng hương đi trước, đã ổn định ở nơi đây nên những lao động nghèo đã chọn đất Tân Bình và Gò Vấp như một chỗ dựa lúc sa cơ lỡ vận mặc dù tình đồng hương ở đây cũng không giúp được gì cho họ. Nhưng dẫu sao, có chung giọng nói, thói quen và quê cũ cũng giúp những người tha phương cầu thực cảm thấy ấm lòng nơi đất khách quê người.

Nhưng cũng theo bà Lý, cuộc cạnh tranh trong nghề bán vé số càng lúc càng trở nên khốc liệt, đôi khi chính các đồng hương với nhau trở thành đối thủ đáng sợ của nhau. Ví dụ như một người Quảng Nam hay Quảng Ngãi đã ổn định, có nhà cửa nơi Sài Gòn sẽ dễ dàng trụ lại trong cơn lốc kinh tế trượt dốc. Một người thất nghiệp chỉ cần bày một chiếc bàn trước cửa nhà, nhận một loạt vé số về bán và khi bán họ sẽ có chế độ ưu đãi đặc biệt cho khách hàng, sẽ hút khách gấp nhiều lần so với người đi bán dạo.

Ví dụ như trường hợp khuyến mãi một cặp vé 50 tờ, nếu trúng hai số cuối của giải đặc biệt sẽ được nhận 500 ngàn đồng. Nếu làm một phép toán kinh tế, chuyện này rất đơn giản. 50 tấm vé loại 10 ngàn đồng, người bán sẽ lãi được 50 ngàn đồng theo mức hoa hồng 10%. Và khi bán xong cặp vé 50 tấm, đại lý chỉ cần gọi điện thoại cho số đề, ghi hai số cuối của cặp vé vừa bán theo diện đầu đuôi hoặc theo diện đuôi chừng 20 ngàn đồng.

Nếu tối đó xuất hiện hai số cuối trong giải đặc biệt, đại lý vé số sẽ trúng đề được từ bảy trăm ngàn đồng nếu ghi đầu đuôi đến một triệu bốn trăm ngàn đồng nếu chỉ ghi số đuôi. Như vậy, vẫn lãi được 30 ngàn đồng từ hoa hồng mà vẫn dư được 200 ngàn đồng hoặc 400 ngàn đồng nếu xuất hiện hai số đuôi, sau khi đã thanh toán giải thưởng cho khách.

Chính nhờ lợi thế ngồi tại chỗ, bán cặp lớn và thu hút được những khách hàng chịu chơi bởi số lượng vé nhiều, phong phú, khác xa với người đi bán dạo chỉ có lèo tèo một đến hai trăm vé, trong đó gánh cả tiền thuê phòng trọ, tiền ăn, tiền tích lũy phòng khi đau ốm, tiền gửi về giúp đỡ gia đình ngoài quê. Nói theo cách gì, người bán vé số dạo cũng không thể nào cạnh tranh nổi với các điểm bán cố định.

Thu nhập ngày càng teo tóp

veso-400.jpg

Một người bán vé số đang mời khách. RFA photo

Một người bán vé số tên Nhường, đến từ Quảng Ngãi, hiện trú ngụ tại Gò Vấp, Sài Gòn, chia sẻ: “Tuổi già mà đi bán vé số là bất đắc dĩ vì cuộc sống mà phải làm, chứ nắng thế này đi đau đớn lắm. Vì không có con cháu, không có nhà cửa nên phải ở nhờ nhà họ. Bữa trưa gặp dọc đường thì ăn đại một miếng.”

Theo ông Nhường, việc đi bán vé số mỗi ngày, nếu nói lãng mạn một chút là đánh cược sự may mắn cho một ai đó thì cũng là việc đánh cược sự may mắn và sức khỏe của bản thân với nắng mưa, với xe cộ ngược xuôi và với bản thân mỗi ngày thêm mệt mỏi, rời rạc, hết muốn sống.

Nhưng con người, một khi còn thở thì còn phải biết lăn lê ngoài đời để kiếm ăn. Mặc dù với tuổi đời thuộc vào dạng “cổ lai hy” nhưng ông không có nơi nương tựa, nếu nghỉ bán vé số cũng không có gì để ăn, không có chỗ để ở. Ông có mệt cũng phải bước ra đường mà mời từng tấm vé số. Nếu bỏ cuộc về quê, cái nghèo sẽ chào đón ông trong vòng vài ngày, sau đó cái đói ghé đến, thậm chí chết không có tiền mua quan tài. Chính vì vậy, ông phải nỗ lực mỗi ngày để dành dụm, tích lũy phòng khi nhắm mắt xuôi tay, hàng xóm có cái để mua giùm ông chiếc quan tài.

Hiện tại, mỗi ngày ông Nhường đi bộ từ mười đến hai chục cây số, dạo qua các quán cà phê, quán cơm ở các quận Gò Vấp, Tân Bình, có khi xuống đến quận Thủ Đức rồi lại quay về đại lý trả vé số thừa trước bốn giờ chiều. Dù mệt cỡ nào ông cũng phải có mặt tại đại lý lúc bốn giờ kém. Nếu về không kịp, số vé thừa ông phải tự ôm lấy và đền tiền cho nhà nước.

Có ngày đi bán chỉ kiếm được hai chục ngàn đồng, cũng có ngày mưa gió, không thể bán được, ông chỉ cầu trời bán cho được mười tờ quanh quẩn chỗ quán cà phê gần phòng trọ và đội mưa đến đại lý trả vé. Có được mười ngàn, ông sẽ mua được một gói mì tôm loại rẻ và hai ổ bánh mì không. Như vậy đã đủ một bữa ấm lòng. Trường hợp trời không mưa mà bán ế thì ông sẽ đến quán cơm từ thiện giá hai ngàn đồng để ăn. Cũng có bữa ông được hàng cơm cho cơm để ăn.

Ông Nhường nói rằng đâu chỉ riêng ông già cả, khó khăn phải bươn chải trên đất Sài Gòn này mà hầu hết những người già không nơi nương tựa, chưa đủ tám mươi tuổi để nhận mỗi tháng 180 ngàn đồng của nhà nước hằng tháng, thì đều phải bươn bả ngược xuôi, đều phải chật vật kiếm ăn qua ngày giữa đất Sài Gòn. Dù sao ông cũng cám ơn Sài Gòn đã mở rộng vòng tay cưu mang ông và những người cùng khổ giống như ông!