Tổng Thống Obama nhắc ông Trọng nhân quyền, hứa thăm Việt Nam

Tổng Thống Obama nhắc ông Trọng nhân quyền, hứa thăm Việt Nam

Nguoi-viet.com


WASHINGTON, DC (NV) Tổng Thống Barack Obama hôm Thứ Ba, 7 Tháng Bảy, đã tiếp ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN, trong Phòng Bầu Dục của Tòa Bạch Ốc, và nói về sự hợp tác sâu rộng về sức khỏe, khí hậu và nhiều lãnh vực khác, mặc dù hai quốc gia có khác nhau về “quan điểm chính trị.” Nhân dịp này, ông Obama và ông Trọng cũng bàn về Biển Ðông, và nhà lãnh đạo Hoa Kỳ cũng nhắc nhở ông Trọng vấn đề nhân quyền, cũng như nhận lời của ông Trọng đến viếng thăm Việt Nam trong thời gian sớm nhất.


Ðồng hương Việt Nam biểu tình trước Tòa Bạch Ốc chống ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN. (Hình: Mladen Antonov/AFP/Getty Images)

Mặc dù không giữ một vai trò nào chính thức trong chính quyền, trên thực tế, ông Trọng lại là nhân vật lãnh đạo số một tại Việt Nam, và đây là lần đầu tiên một tổng bí thư đảng CSVN được tiếp trong Tòa Bạch Ốc.

Cuộc gặp gỡ giữa ông Trọng và ông Obama còn có sự hiện diện của Phó Tổng Thống Joe Biden.

Theo thông cáo báo chí của Tòa Bạch Ốc, hai nhà lãnh đạo thảo luận sâu rộng về hợp tác song phương trong các lãnh vực khoa học, kỹ thuật, thay đổi khí hậu, y tế công cộng, và an ninh.

Tổng Thống Obama được trích lời nói: “Việt Nam là một ‘đối tác rất xây dựng’ trong các lãnh vực này.”

Nhân quyền

Tuy nhiên, Tổng Thống Barack Obama cũng “thảo luận thẳng thắn một số vấn đề Mỹ quan tâm, ví dụ như nhân quyền và tự do tôn giáo,” theo bản thông cáo.

Hôm Thứ Hai, 6 Tháng Bảy, ngay lúc ông Trọng đặt chân xuống phi trường quân sự Andrews ở Maryland bắt đầu thăm chính thức Hoa Kỳ, chín dân biểu Mỹ, năm người thuộc đảng Cộng Hòa và bốn người thuộc đảng Dân Chủ, đã gởi thư cho Tổng Thống Barack Obama yêu cầu ông nhắc ông Nguyễn Phú Trọng lắng nghe người dân, thả tù chính trị.

Các dân biểu Hoa Kỳ cáo buộc hệ thống độc tài độc đảng của đảng CSVN hiện nay là nguyên nhân của tình trạng nhân quyền tồi tệ tại Việt Nam. Các dân biểu cũng đề nghị Hoa Kỳ cần gởi một thông điệp rõ rệt tới những người đang cầm quyền ở Hà Nội rằng tôn trọng nhân quyền là yếu tố cần thiết để thắt chặt hơn mối quan hệ kinh tế và an ninh.

Nội dung bức thư cũng đề cập việc hoan nghênh mối quan hệ chặt chẽ hơn với người dân Việt Nam, và ghi nhận tiềm năng kinh tế và an ninh của đất nước này. Do đó, Mỹ cũng nên xem vấn đề nhân quyền là tối quan trọng và đưa lên hàng đầu trong quan hệ song phương.

Chín dân biểu này viết: “Trong khi danh sách các blogger và tù nhân lương tâm Việt Nam bị bắt giữ ngày càng gia tăng, điều quan trọng hơn bao giờ hết là Hoa Kỳ cần gởi một thông điệp rõ rệt tới giới chức trách Hà Nội rằng tôn trọng nhân quyền là yếu tố cần thiết để thắt chặt hơn mối quan hệ kinh tế và an ninh.”

Các vị dân biểu cũng mạnh mẽ kêu gọi Tổng Thống Obama đòi hỏi ông Trọng phải thả ngay lập tức những nhà báo công dân, nhà hoạt động nhân quyền tiêu biểu như Hồ Ðức Hòa, Ðặng Xuân Diệu, Nguyễn Ðặng Minh Mẫn, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Ngô Hào, Trần Thị Thúy, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Mục Sư Nguyễn Công Chính và Linh Mục Nguyễn Văn Lý.


Ông Nguyễn Phú Trọng (trái) nói chuyện với ông Barack Obama trong Tòa Bạch Ốc. (Hình: Saul Loeb/AFP/Getty Images)

Trong khi đó, đông đảo đồng hương Việt Nam có mặt trước Tòa Bạch Ốc để biểu tình phản đối ông Nguyễn Phú Trọng hôm Thứ Ba.

Ngay từ 8 giờ sáng, nhiều người đã tập trung tại công viên Lafayette trên đại lộ Pennsylvania, đối diện Tòa Bạch Ốc, hô to các khẩu hiệu “Ðả đảo Cộng Sản Việt Nam,” “Nhân quyền cho Việt Nam,” “Nguyễn Phú Trọng phải thả tù nhân lương tâm,” vân vân.

Người biểu tình từ nhiều nơi đổ về, từ California, Florida, Texas, Louisiana, Georgia, New Hampshire… và thậm chí từ Canada.

Họ cũng mang theo nhiều biểu ngữ mang những hàng chữ phản đối người đứng đầu đảng CSVN và yêu cầu Việt Nam tôn trọng nhân quyền.

Người biểu tình cũng mang hình một số nhà bất đồng chính kiến đang bị giam giữ tại Việt Nam.

Theo dự trù, ông Trọng đến Tòa Bạch Ốc vào lúc 10 giờ 30 phút sáng, và gặp hai nhà lãnh đạo Hoa Kỳ vào lúc 11 giờ 10 phút.

Tuy nhiên, cho đến 11 giờ 30 phút, người biểu tình không thấy đoàn xe chở ông Trọng đi vào cổng trước của Tòa Bạch Ốc.

Sau đó, người biểu tình tuần hành một cách ôn hòa, theo vòng tròn, ngay trên đại lộ Pennsylvania, giữa Tòa Bạch Ốc và công viên Lafayette.

Thảo luận song phương

Trở lại bên trong Tòa Bạch Ốc, trong lời phát biểu của mình trước ông Trọng, ông Obama nhắc lại rằng Hiệp Ước Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) có “nhiều khả năng đẩy mạnh trao đổi hàng hóa tiêu chuẩn cao trong đó có tiêu chuẩn lao động, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, và có thể tạo ra một thị trường lao động tăng trưởng mạnh và giàu có cho cả người Việt Nam lẫn người Mỹ.”

Ông Obama cũng nhấn mạnh “tầm quan trọng trong việc giải quyết xung đột trên Biển Ðông và vùng Châu Á Thái Bình Dương một cách phù hợp với luật quốc tế” để bảo đảm “sự thịnh vượng và tự do hàng hải.”

Trong lời kết, nhà lãnh đạo Hoa Kỳ nói: “Tôi chắc chắn mong đợi có dịp đến thăm đất nước xinh đẹp của ông một lúc nào đó trong tương lai.”

Trong phần đáp từ, ông Trọng nói, qua một thông dịch viên, rằng cách đây 20 năm, ít người có thể tưởng tượng có một cuộc gặp gỡ giữa tổng thống Mỹ và tổng bí thư đảng CSVN, theo thông cáo của Tòa Bạch Ốc. Ông Trọng cho rằng cuộc gặp gỡ này là “xây dựng và thẳng thắn,” và nói thêm rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đã chuyển từ cựu thù thành bạn và đối tác, thể hiện sự “ủng hộ toàn diện hai dân tộc của hai quốc gia.”

Ông Trọng cũng nói rằng, hai nhà lãnh đạo đồng ý tiếp tục đẩy mạnh quan hệ Việt-Mỹ tiến triển hơn nữa trong “tất cả mọi mặt từ chính trị, hợp tác ngoại giao, cho tới trao đổi thương mại và đầu tư, giáo dục và huấn luyện, môi trường, sức khỏe, đáp ứng thay đổi khí hậu, hợp tác an ninh và quốc phòng, cũng như hợp tác mạnh mẽ hơn tại các diễn đàn khu vực và quốc tế,” theo bản thông cáo.


Phó Tổng Thống Joe Biden (phải) cụng ly với Tổng Bí Thư Ðảng CSVN Nguyễn Phú Trọng tại buổi ăn trưa ở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. (Hình: Brendan Smialowski/AFP/Getty Images)

Thông cáo cho biết thêm, ông Trọng cũng nói rằng, “với một phong cách rất xây dựng, chúng tôi đã thảo luận về những khác biệt,” qua đề tài TPP và nhân quyền.

Ngoài các đề tài trên, ông Obama và ông Trọng cũng thảo luận và chia sẻ quan điểm về “những sự kiện mới xảy ra trên Biển Ðông và cùng nhau chia sẻ những quan tâm về các hoạt động không phù hợp với luật pháp quốc tế có thể làm cho tình hình phức tạp thêm,” cũng theo bản thông cáo.

Bản thông cáo cho biết, ông Trọng có nhắc lại lời mời tổng thống Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam và nói: “Tôi rất vui khi tổng thống vui vẻ chấp nhận lời mời.”

Thông cáo chung

Ngay sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa tổng thống Hoa Kỳ và tổng bí thư đảng CSVN ở Phòng Bầu Dục, hai bên đã đưa ra một thông cáo chung, đề cập đến mở rộng quan hệ đối tác song phương, gia tăng hợp tác trong các vấn đề khu vực và quốc tế, và cho biết hai bên đạt một số thỏa thuận về TPP.

Sau đây là một số thỏa thuận để làm nền tảng cho sự hợp tác song phương trong tương lai:

-Mỹ và Việt Nam đồng ý tránh đánh thuế hàng hóa hai lần và tránh tình trạng trốn thuế, và tôn trọng thuế thu nhập của mỗi bên.

-Thực hiện một bản ghi nhớ giữa Bộ Quốc Phòng Mỹ và Bộ Quốc Phòng Việt Nam về việc tham gia gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc.

-Thực hiện bản ghi nhớ giữa Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ (USAID) và Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam liên quan đến chương trình ngăn chặn bệnh dịch lây lan để bảo đảm sức khỏe toàn cầu.

-Dự Án Kỹ Thuật và An Toàn Hàng Không Việt Nam giữa Cơ Quan Phát Triển và Thương Mại Hoa Kỳ với Cục Hàng Không Việt Nam; và

-Việt Nam đồng ý để Mỹ mở đại học Fulbright University Vietnam.

Theo AP, sau 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia cựu thù, Hoa Kỳ đang rất muốn cải thiện thêm nữa quan hệ với Việt Nam.

Các giới chức Hoa Kỳ tin rằng, Việt Nam sẽ đóng một vai trò quan trọng trong chính sách xoay trục sang Châu Á của Tổng Thống Barack Obama, nhất là khi Trung Quốc ngày càng có tham vọng kiểm soát Biển Ðông, nơi có số hàng hóa trị giá $5,000 tỉ qua lại mỗi năm, cũng theo AP.

Hai tổng thống Bill Clinton và George W. Bush từng đến thăm Việt Nam trước đây, trong nhiệm kỳ thứ hai của họ, sau khi Hoa Kỳ và Việt Nam nối lại bang giao.

Sau cuộc gặp gỡ ở Tòa Bạch Ốc, ông Nguyễn Phú Trọng đã sang Bộ Ngoại Giao dùng cơm trưa do Phó Tổng Thống Joe Biden khoản đãi và đọc một bài diễn văn tại đây.

Hôm Thứ Hai, ngay sau khi đáp xuống phi trường quân sự Andrews, ông Nguyễn Phú Trọng đã chứng kiến lễ bàn giao chiếc máy bay Boeing 787 Dreamliner đầu tiên cho Vietnam Airlines tại phi trường National Ronald Reagan và thăm đài tưởng niệm Thomas Jefferson ở Washington, DC. (Ð.D.)

Kinh tế thị trường và sứ mạng của Tổng Bí thư

Kinh tế thị trường và sứ mạng của Tổng Bí thư

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-07-08

07082015-mrkt-on-sidel-of-nptrong-trip.mp3

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trước bữa ăn với Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào ngày 07 Tháng Bảy 2015 tại Washington, DC

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trước bữa ăn với Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào ngày 07 Tháng Bảy 2015 tại Washington, DC

AFP

Bên lề chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, phía Việt Nam mong muốn sớm được Hoa Kỳ công nhận là nền kinh tế thị trường.

Gần 40 quốc gia đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường trong đó có Nhật Bản và Úc. Tuy nhiên cho đến nay các nước EU và Hoa Kỳ vẫn cho là Việt Nam chưa đáp ứng các điều kiện để được công nhận là nền kinh tế thị trường.

Kinh tế quốc doanh không thể là kinh tế thị trường

Tháp tùng phái đoàn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viếng thăm Hoa Kỳ, ông Hoàng Bình Quân Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương có bài phổ biến trên Washington Post với lời kêu gọi Hoa Kỳ công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam. Tiếng nói đối ngoại của Trung ương Đảng biện luận rằng, nền kinh tế Việt Nam cởi mở không kém một số quốc gia Âu Châu và đối với những lĩnh vực gọi là còn vấn đề, Việt Nam vẫn đang nỗ lực để có được những cải cách cần thiết.

TS Vũ Quang Việt, chuyên gia kinh tế từng nhiều năm làm việc cho  Liên Hiệp Quốc từ New York nhấn mạnh tới điểm cốt lõi mà theo ông đã khiến nền kinh tế Việt Nam không thể xem là kinh tế thị trường.

“ Việt Nam ngay cả trong Hiến pháp và các văn bản quyết định khác đều coi kinh tế quốc doanh là chủ đạo. Nếu quốc doanh chủ đạo thì có nghĩa là nó được hưởng rất nhiều ưu tiên. Cái đó là một trong 5 lý do mà người ta không chấp nhận kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường. Với chế độ cộng sản và với nền kinh tế họ coi là quốc doanh chủ đạo thì như vậy họ sẽ làm lợi nhất cho những người ở trong Đảng và những người cầm quyền, đặc biệt việc sử dụng đất đai…họ sẽ tạo ra những cơ sở để cho đảng viên những người liện quan đến Đảng, liên quan đến chính quyền được hưởng lợi ích và giới tư nhân khó lòng mà cạnh tranh lại những người đang nắm quyền…  ”

Thông thường, 5 điều kiện để các quốc gia được công nhận là nền kinh tế thị trường bao gồm sự minh bạch trong môi trường đầu tư kinh doanh, tuân thủ pháp luật đề ra, tiền tệ ổn định, đối xử công bằng giữa các khu vực doanh nghiệp, không phân biệt doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nước ngoài và sau cùng là trong hoạt động kinh tế không có các khoản chi không chính thức.

” Việt Nam ngay cả trong Hiến pháp và các văn bản quyết định khác đều coi kinh tế quốc doanh là chủ đạo. Nếu quốc doanh chủ đạo thì có nghĩa là nó được hưởng rất nhiều ưu tiên. Cái đó là một trong 5 lý do mà người ta không chấp nhận kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường.

TS Vũ Quang Việt”

Trả lời chúng tôi từ Hà Nội, TS Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhận xét về việc các nước EU và Hoa Kỳ vẫn còn chưa nhìn nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường trên thực tế. Theo ông, tiêu chuẩn về kinh tế thị trường của các nước EU và Hoa Kỳ tuy có khác biệt nhưng có thể tóm tắt:

“Tinh thần chung nó liên quan đến hoạt động phản ánh qua giá cả thị trường như thị trường đất đai, thị trường lao động, các vấn đề tỷ giá. Ngoài ra còn có câu chuyện doanh nghiệp nhà nước…Nếu nhìn tổng thể tôi cho rằng tính chất thị trường của kinh tế Việt Nam ngày một rõ hơn, rõ nhất nó thể hiện qua việc hội nhập của Việt Nam gắn với các hiệp định thương mại tự do và sắp tới có thể là Hiệp đinh thương mại tự do Việt Nam – EU và TPP Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương. Bởi vì bản chất những hiệp định này gắn với tự do hóa rất là kinh tế thị trường. Cho nên tôi nghĩ rằng nếu EU và Hoa Kỳ nhìn nhận kinh tế thị trường Việt Nam thì nó cũng phản ánh cái giá trị cải cách ở Việt Nam và đặc biệt như tôi nói là hội nhập. Thế còn gọi là bắt bẻ trong ngoặc kép 100% kinh tế thị trường hoàn hảo thì tất nhiên người ta cũng có điều này điều kia chưa thỏa mãn. Nhưng cũng phải nói luôn là những nền kinh tế gọi là thị trường thì cũng không phải là 100% thị trường tất cả.”

Được công nhận là nền kinh tế thị trường là điều kiện thuận lợi để các quốc gia phát triển kinh tế, tham gia các hiệp định thương mại tự do, gia tăng buôn bán và tránh bị xử ép khi có tranh chấp thương mại hay tranh tụng về chống bán phá giá.

Thể chế chính trị và kinh tế thị trường

Theo TS Vũ Quang Việt, sự kiện Việt Nam xác định theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không có nghĩa là Việt Nam không thể trở thành một nền kinh tế thị trường được quốc tế nhìn nhận. Điều quan trọng theo TS Việt, nền kinh tế Việt Nam cần được cải tổ đáp ứng các tiêu chuẩn chung về kinh tế thị trường. TS Vũ Quang Việt tiếp lời:

“Tôi nghĩ là câu chữ nó vô nghĩa, vì nước nào cũng vậy họ có chính sách đối với việc bảo vệ thành lập nghiệp đoàn, bảo vệ lương tối thiểu đối với tiền hưu trí … cho đến trợ cấp xã hội, ngay những nước tư bản đều có vấn đề như vậy hết, nếu Việt Nam có làm như vậy cũng là chuyện bình thường. Nếu Việt Nam cấm nghiệp đoàn, đây là điểm tôi chưa rõ TPP có đòi hỏi là Việt Nam mở rộng cạnh tranh các nghiệp đoàn, người ta muốn vào nghiệp đoàn nào cũng được hay người ta chỉ được vào nghiệp đoàn của nhà nước. Vấn đề Việt Nam chỉ cho phép một loại nghiệp đoàn thôi thì cũng là hình thức không kinh tế thị trường.”

” Việc công nhận kinh tế thị trường Việt Nam nó không hoàn toàn, không nhắm tới việc phải thay đổi về chế độ chính trị. Nhưng điều này rất rõ, Việt Nam thẳng thắn nói rằng VN cần cải cách mạnh mẽ cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Ví dụ sự sửa đổi Hiến pháp, ví dụ cách thức đẩy mạnh vai trò và tiếng nói của Quốc hội VN…thì đấy cũng là quá trình cải cách chính trị của VN.

TS Võ Trí Thành”

Nếu như Việt nam cải cách tích cực và nghiêm chỉnh để được phương tây công nhận là nền kinh tế thị trường thì có ảnh hưởng hay dẫn đến thay đổi thể chế chính trị và đây có phải là một mối quan ngại hay không. TS Võ Trí Thành giải đáp câu hỏi này:

“ Việc công nhận kinh tế thị trường Việt Nam nó không hoàn toàn, không nhắm tới việc phải thay đổi về chế độ chính trị. Nhưng điều này rất rõ, Việt Nam thẳng thắn nói rằng Việt Nam cần cải cách mạnh mẽ cả về mặt kinh tế lẫn chính trị. Ví dụ sự sửa đổi Hiến pháp, ví dụ cách thức đẩy mạnh vai trò và tiếng nói của Quốc hội Việt Nam…thì đấy cũng là quá trình cải cách chính trị của Việt Nam. Mặc dù có thể chế độ chính trị vẫn là ổn định và giữ tư cách gọi là chế độ một đảng.”

Theo TS Võ Trí Thành, kinh tế thị trường đem lại ý nghĩa rất là cụ thể nhưng cũng có ý nghĩa hình tượng tích cực. Thí dụ việc công nhận kinh tế thị trường Việt Nam có thể làm giảm thiệt hại trong những vụ kiện chống bán phá giá, bởi vì nếu là nền kinh tế phi thị trường thì người ta có thế áp đặt một nước thứ ba để lấy giá so sánh mà có thể không công bằng, việc này đã nhiều lần xảy ra. Ngoài ra nếu được công nhận là nền kinh tế thị trường thì cũng là điều thuận lợi cho Việt Nam trong vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài.

Trong câu chuyện với chúng tôi, TS Vũ Quang Việt người từng là chuyên gia Liên Hiệp Quốc về tài khoản thống kê nói rằng, nếu như Việt Nam hoàn tất đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP với Hoa Kỳ và với các nước thành viên khác thì sẽ rất gần với việc được công nhận là nền kinh tế thị trường. Nhưng điều này còn tùy thuộc vào các điều kiện mà TPP đặt ra và kết cục là Việt Nam có đáp ứng các điều kiện đó để được hưởng lợi về ưu đãi thuế quan xuất nhập khẩu hay không.

Du lịch Việt Nam liên tục tuột dốc

Du lịch Việt Nam liên tục tuột dốc

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Lượng khách ngoại quốc đến du lịch Việt Nam đã giảm tháng thứ 13 liên tiếp và chưa có dấu hiệu dừng lại do Việt Nam ngày càng có nhiều hình ảnh xấu trong mắt du khách.

Khách quốc tế đến du lịch Việt Nam đã giảm suốt 13 tháng liên tục.
(Hình: Người Lao Động)

Truyền thông Việt Nam dẫn thống kê của Tổng Cục Du Lịch, 6 tháng đầu năm, lượng khách ngoại quốc đến Việt Nam chỉ đạt 3.8 triệu lượt, giảm 11.3% so với cùng kỳ. Lượng khách đến bằng đường biển, đường bộ và đường hàng không đều giảm, nhất là đường biển khi chỉ đạt 73.5% so với cùng kỳ năm trước, khoảng hơn 29,800 lượt khách. Và đây là tháng thứ 13 liên tiếp lượng khách quốc tế đến Việt Nam lao dốc và chưa có dấu hiệu dừng lại.

Người Lao Động dẫn phát biểu của ông Hoàng Tuấn Anh, bộ trưởng Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch, tại hội nghị sơ kết công tác sáu tháng đầu năm của ngành diễn ra ngày 3 tháng 7, 2015 ở Hà Nội, “Mấy hôm nay các báo nói quá nhiều đến chuyện khách du lịch bị ‘chặt chém,’ ép giá tại các khu du lịch, điều này chẳng khác gì ăn cắp, cướp giật của người khác. Ép giá chắc chắn làm làm xấu hình ảnh đất nước với bạn bè quốc tế, ảnh hưởng đến du lịch Việt Nam.”

Ông Tuấn Anh kể một câu chuyện buồn về du lịch Hà Nội khi ông đọc được trên một tờ báo với nội dung: Hai vợ chồng Việt kiều vào một quán phở tại Hà Nội ăn, sau khi ăn xong ra tính tiền chủ quán đòi 800 ngàn đồng (gần $40) cho 2 tô phở. Hai người này không hài lòng và thắc mắc với chủ quán thì được đáp lại bằng cách chủ quán chém con dao xuống mặt bàn và quát “không nói nhiều,” buộc các vị khách phải trả tiền rồi lẳng lặng ra về.

Sau khi ông Hoàng Tuấn Anh kể xong câu chuyện, ông Trương Minh Tiến, phó giám đốc Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch Hà Nội cho biết, sẽ cho kiểm tra để tìm ra cửa hàng đã “chặt chém” các Việt kiều này.

Ông Tiến nói, “Hà Nội hiện nay có đường dây nóng để xử lý những vụ ‘chặt chém,’ chèo kéo khách du lịch và hoạt động rất hiệu quả, giúp phanh phui nhiều vụ việc tương tự.” Tuy nhiên, điều buồn cười là khi ông Tuấn Anh đề nghị ông Tiến đọc số điện thoại đường dây nóng thì ông Tiến cho biết ông không nhớ khiến cả hội nghị xôn xao.

Mặc dù thừa biết nguyên nhân chính, song phúc trình tại hội nghị, ông Nguyễn Văn Tuấn, tổng cục trưởng Tổng Cục Du Lịch né trách nhiệm đổ lỗi do trước ảnh hưởng bất lợi từ sự suy giảm một số thị trường nói tiếng Hoa từ cuối năm 2014, biến động kinh tế chính trị tại một số khu vực… khiến tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam sụt giảm. (Tr.N)

Việt Nam đang tái cân bằng chiến lược, xoay sang Hoa Kỳ?

Việt Nam đang tái cân bằng chiến lược, xoay sang Hoa Kỳ?

Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Hoài Hương-VOA

Một chuyên gia về Việt Nam đã đặt câu hỏi “Có phải Việt Nam đang tái cân bằng chiến lược, xoay trục sang Hoa Kỳ?” trong một bài viết đăng trên báo The Diplomat hôm 6/7, giữa lúc Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng khởi sự chuyến công du chính thức tới thăm Washington.

Giáo sư Carl Thayer trích các nguồn tin ngoại giao nói rằng Việt Nam đã dồn nỗ lực vận động để vượt qua được một số khó khăn về nghi thức, Hà Nội kiên trì vận động để dược Tổng Thống Barack Obama đón tiếp ông Nguyễn Phú Trọng tại Tòa Bạch Ốc, trong khi với tư cách Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Trọng không có người “tương nhiệm” trong hệ thống chính trị Mỹ.

Theo các nguồn tin ngoại giao, Tổng Bí thư Trọng sẽ được Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden đón tiếp tại Tòa Bạch Ốc, sau đó Tổng thống Obama sẽ tham gia các cuộc thảo luận. Có tin cho biết ông Nguyễn Phú Trọng cũng sẽ gặp bà Hillary Clinton, nhân vật có triển vọng nhất có thể được đề cử làm ứng viên của Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ sắp tới.

Giáo sư Thayer nhận định rằng cuộc gặp gỡ giữa Tổng Bí thư Trọng và Tổng thống Obama có ý nghĩa đặc biệt, và bất cứ sự đồng thuận nào mà hai ông đạt được trong lần gặp gỡ này sẽ đặt nền móng cho quan hệ Mỹ-Việt giữa lúc hai nước trải qua một giai đoạn chuyển tiếp chính trị, với thay đổi nhân sự ở cấp lãnh đạo cao nhất.

Năm 2013, Tổng thống Obama và vị tương nhiệm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký Hiệp định Đối tác Toàn diện. Mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước đã ký Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng. Đây sẽ là văn kiện chủ yếu làm khung cho các quan hệ song phương, trong bối cảnh Việt Nam sẽ tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 vào đầu năm 2016, thông qua chiến lược trong 5 năm tới.

Trong khi đó Việt Nam coi cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Barack Obama và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng như một động thái công nhận vai trò của Đảng Cộng sản trong hệ thống chính trị Việt Nam, và chuyến đi sẽ dọn đường cho các chuyến công du của các nhân vật lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trong tương lai.

Báo Washington Post hôm 3 tháng 7 đăng bài góp ý của Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Hoàng Bình Quân, nói rằng chuyến công du Mỹ của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng “là tín hiệu cho thấy sự tôn trọng của Mỹ đối với lựa chọn về thể chế chính trị của Việt Nam.”

Về vấn đề này, một nhà đấu tranh để dân chủ hoá Việt Nam đang sống lưu vong tại Hoa Kỳ, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, nhận định:

“Chúng ta không nên quên rằng trong hai lần Tổng thống Mỹ tiếp nhân vật cao cấp nhất Việt Nam, lần Tổng thống Bush tiếp ông Nguyễn Minh Triết, và lần này Tổng thống Obama tiếp ông Nguyễn Phú Trọng, thì chúng ta đều thấy là chính quyền Mỹ đã tiếp các nhà hoạt động chính trị bất đồng chính kiến. Lần này thì Hội đồng An ninh Quốc gia đã tiếp đại diện của ba tổ chức chính trị, trong đó có một tổ chức chính trị mà người sáng lập và lãnh đạo hiện có mặt tại Sài Gòn (Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, người sáng lập Tập họp vì nền Dân chủ ở Việt Nam). Thành ra Mỹ đã gửi đi một thông điệp có hai nội dung. Một nội dung là công nhận Đảng Cộng sản đang cầm quyền ở Việt Nam, và một nội dung thứ hai là ủng hộ những tiếng nói đối lập. Tôi nghĩ rằng trong thời gian tới đây thì chắc chắn Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thực hiện việc ủng hộ này, và tôi nghĩ rằng đây là một cánh cửa mở ra cho lực lượng đối lập chính trị hoạt động trong thời gian tới ở Việt Nam.”

” Tôi nghĩ rằng cái tình hình Việt Nam đã bước sang một cái giai đoạn mới và quan hệ Việt-Mỹ cũng bước sang một giai đoạn mới. Chúng ta hy vọng rằng Việt Nam sẽ phải thực hiện cái đổi mới mà quốc tế gọi là đổi mới Hai, tức là đổi mới về văn hoá và chính trị, sau cái đổi mới Một về kinh tế

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt”

Hãng tin AP tường thuật rằng vấn đề nhân quyền vẫn là một khó khăn chủ yếu, giữa lúc chiến dịch đàn áp giới bất đồng ở Việt Nam tác động tới sự ủng hộ chính trị tại quốc hội Hoa Kỳ cho tiến trình thương thuyết Hiệp định Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, mà các chuyên gia cho là không những mang lại lợi ích kinh tế cho Việt Nam, mà còn phục vụ các lợi ích an ninh của Việt Nam, trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông. Giáo sư Đoàn Viết Hoạt:

“Việt Nam chắc cũng đã thấy được cái điều này và chắc chắn là họ cũng sẽ tìm cách để mà thay đổi cái chính sách để có thể hoà nhập vào cái chính sách chung của vùng Thái Bình Dương về mặt kinh tế là TPP và về mặt an ninh quốc phòng mà tôi nghĩ sau Đại Hội 12 chúng ta có thể thấy nó hiện ra rõ hơn.”

AP dẫn lời ông John Sifton, đại diện của Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch ở Washington, nói rằng Tổng thống Obama nên được hoan nghênh vì đã tiếp tục gây sức ép với Hà Nội, đòi phóng thích tù chính trị, tôn trọng quyền người lao động và tự do tôn giáo, nhưng ông nói vấn đề nằm ở chỗ những đòi hỏi đó đã không được đáp ứng đúng mức.

Ông Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam có trụ sở tại Paris, và là một nhà đấu tranh cho tự do tôn giáo và Phật giáo Việt Nam, nói ông đồng ý với quan điểm đó. Ông nói Hoa Kỳ muốn giúp thì nên nghĩ tới 90 triệu dân hơn là chỉ nghĩ tới chế độ đương quyền hiện nay. Ông nói tiếp:

“Ngoại giao thì dĩ nhiên bao giờ nó cũng xảy ra giữa các nhà lãnh đạo, nhưng mà dưới các nhà lãnh đạo thì các tầng lớp nhân dân rất là lớn, tự do thì hoàn toàn không có… Thành ra có thể nói rằng nhân quyền chỉ là một cái mộng ước thôi, chứ còn trong thực tại Việt Nam thì tuyệt đối không hề có sự tôn trọng nhân quyền, chẳng những thế mà còn đàn áp một cách khốc liệt các tôn giáo ở Việt Nam.”

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa từng bị cầm tù vì những hoạt động đấu tranh đòi dân chủ trong nước, nhận định là muốn có dân chủ bền vững, Việt Nam phải thay đổi thể chế chính trị:

“Phải mở rộng tự do dân chủ cho nhân dân, công nhận những cái quyền căn bản của người dân, và sau cùng là phải công nhận cái hệ thống chính trị đa nguyên, đa đảng thì đất nước Việt Nam mới thực sự có dân chủ vững bền.”

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt cho rằng tình hình trên thế giới đã thay đổi với các yếu tố địa chính trị mới, trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục chính sách bành trướng đi kèm với những hành động gây hấn ở Biển Đông, thì có những lợi ích của hai bên đang hội tụ về môt điểm. Giáo sư Đoàn Viết Hoạt:

“Tôi nghĩ rằng cái tình hình Việt Nam đã bước sang một cái giai đoạn mới và quan hệ Việt-Mỹ cũng bước sang một giai đoạn mới. Chúng ta hy vọng rằng Việt Nam sẽ phải thực hiện cái đổi mới mà quốc tế gọi là đổi mới Hai, tức là đổi mới về văn hoá và chính trị, sau cái đổi mới Một về kinh tế.”

Giáo sư Thayer nói trong bối cảnh hệ thống làm quyết định tại Việt Nam luôn bị che lấp dưới màn bí mật. Giới phân tích quốc tế cho rằng có hai phe cánh trong Bộ Chính trị, một bên có lập trường bảo thủ, trong đó có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, và phe cải cách, trong đó có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nhân vật được tin là đang tìm cách thắt chặt các quan hệ kinh tế và có thể cả quan hệ an ninh với Hoa Kỳ.

Theo Giáo sư Thayer thì sự khác biệt quan điểm trong các phe phái trong nội bộ Bộ Chính trị phức tạp hơn thế, vì không chia rõ rệt thành hai phe, phe thân Trung Quốc và phe thân Mỹ, mà khác biệt chủ yếu dựa trên sự đánh giá và quan hệ với các cường quốc phải như thế nào để đừng phương hại tới các lợi ích của quốc gia.

Nguồn: The Diplomat, The Washington Post, VOA Interview

HD-981 và ba mũi giáp công của Trung Quốc nhắm vào Việt Nam

HD-981 và ba mũi giáp công của Trung Quốc nhắm vào Việt Nam

Trọng Nghĩa

RFI

HD-981 và ba mũi giáp công của Trung Quốc nhắm vào Việt Nam

Giàn khoan Hải Dương HD-981 (DR)

Ngày 25/06/2015, Bắc Kinh bất ngờ sử dụng trở lại biểu tượng của thái độ quyết đoán của Trung Quốc đối với Việt Nam tại Biển Đông : Giàn khoan nước sâu HD-981. Giàn khoan mà Trung Quốc đã cho hạ đặt trong vùng thềm lục địa của Việt Nam vào tháng Năm năm 2014, lần này cũng được đưa xuống Biển Đông, hướng về phía Việt Nam, nhưng nằm sát khu vực Vịnh Bắc Bộ.

Đối với giới phân tích, mục tiêu hù dọa Việt Nam của Trung Quốc quả thật đã rõ ràng, vì hành động di chuyển giàn khoan được tiến hành và loan báo đúng vào thời điểm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng chuẩn bị đi Mỹ, trong một chuyến đi được đánh giá là lịch sử, có khả năng đưa quan hệ Hà Nội – Washington chuyển sang một giai đoạn mới, điều mà Bắc Kinh không hề mặn mà.

Ý nghĩa gây sức ép lại càng mạnh hơn trong bối cảnh Trung Quốc, bất chấp những lời phản đối của quốc tế, vẫn tiếp tục xúc tiến các công trình xây cất trên các đảo nhân tạo mà họ bồi đắp lên từ những bãi ngầm hay rạn san hô ở vùng quần đảo Trường Sa, những thực thể mà họ đã đánh chiếm từ tay Việt Nam và Philippines hàng chục năm trước đây. Điểm hệ trọng là Bắc Kinh đang cho xây dựng những cơ sở có thể dùng vào mục tiêu quân sự trên các đảo nhân tạo đó.

Trả lời phỏng vấn của Ban Việt Ngữ RFI, Giáo sư Ngô Vĩnh Long (Đại học Maine Hoa Kỳ) đã ghi nhận ý đồ của Trung Quốc muốn hù dọa Việt Nam khi cho di chuyển giàn khoan HD-981 xuống gần Việt Nam, bên cạnh hai mục tiêu khác là : (1) thăm dò phản ứng của Việt Nam ; (2) đánh lạc hướng dư luận thế giới đang chú mục vào việc Trung Quốc xây căn cứ quân sự tại Trường Sa.

Hù dọa để Việt Nam không xích lại gần Mỹ

Điều khiến Bắc Kinh quan ngại là Việt Nam có thể thắt chặt thêm quan hệ với Mỹ nhân chuyến thăm của ông Nguyễn Phú Trọng, và theo Giáo sư Long, mục tiêu hù dọa đó sẽ thất bại. Thậm chí, như nhận xét của hãng tin Anh Reuters, việc Trung Quốc viện đến giàn khoan HD-981 còn có tác dụng củng cố thêm ý muốn siết chặt quan hệ với Mỹ của Việt Nam.

Đối với giáo sư Ngô Vĩnh Long, sự chuyển dịch của giàn khoan HD-981 đã nêu bật tình trạng Việt Nam đang phải chịu đến ba « mũi giáp công của Trung Quốc ; hai mũi trên Biển Đông là các cứ điểm quân sự đã và đang hoàn thành của Trung Quốc trên Biển Đông đặt ở hai vị trí yết hầu là Hoàng Sa và Trường Sa, và mũi thứ ba trên bộ là từ vùng biên giới với Cam Bốt ở phía Tây nam Việt Nam.

Chiến lược chung của Trung Quốc, tuy nhiên, theo giáo sư Long, lại là « giương đông kích tây », gây huyên náo tại vùng biên giới Việt Nam-Cam Bốt, đưa giàn khoan xuống gần Vịnh Bắc Bộ để thu hút sự chú ý của mọi người, trong lúc vẫn im lìm tiến hành xây dựng căn cứ quân sự tại vùng Trường Sa, đặt khu vực và thế giới vào tình thế sự đã rồi khi Trung Quốc hoàn tất công việc của mình.

Để đối phó với mưu toan áp đặt sự đã rồi của Trung Quốc trên Biển Đông, ngoài việc phải vận động công luận trong và ngoài nước, Giáo sư Long cho rằng Việt Nam cần mạnh dạn tham gia các cuộc tuần tra chung trên Biển Đông, cùng với các nước khác như Mỹ, Nhật, Úc …

HD-981 hiện gần Việt Nam hơn năm 2014

Ngô Vĩnh Long : Theo một số bài báo, tính đến ngày 1 tháng 7 năm 2015 thì giàn khoan Hải Dương 981 đã được neo ở cách đường ranh giới phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc khoảng 1 hải lý. Nếu đúng, thì vị trí của giàn khoan kỳ này gần đất liền Việt Nam hơn rất nhiều so với điểm Trung Quốc đã đặt giàn khoan này vào tháng 5 năm 2014.

Tôi nghĩ Trung Quốc họ muốn trêu chọc Việt Nam. Nếu chia từ Hải Nam đến Việt Nam, thì trong vùng Vịnh Bắc Bộ, nó nằm 1 hải lý về phía bên Trung Quốc chứ chưa nằm bên phía Việt Nam.

Ba mục đích : Gài bẫy, đánh lạc hướng, hù dọa

Ngô Vĩnh Long : Theo tôi, Trung Quốc để giàn khoan ở đó để nhử, nếu Việt Nam phản ứng thì họ sẽ nói : « Thấy không ? Mình đang neo cái giàn khoan này ở trong vị trí của đất mình, mà bọn Việt Nam lại la lối um xùm ! ».

Rồi nếu các nước khác ủng hộ Việt Nam, thì Trung Quốc cũng nói là mọi người đều xúm lại bắt nạt Trung Quốc, Trung Quốc là một nạn nhân, Trung Quốc không thể để cho bị bắt nạt mãi, cho nên Trung Quốc phải cứng rắn hơn !

Tôi nghĩ đó cũng là lý do vì sao Trung Quốc mới ra cái đạo luật bảo vệ an ninh quốc gia, nói rằng Trung Quốc không thể bị bắt nạt mãi, nếu ai bắt nạt họ thì họ sẽ phải cứng rắn hơn, sẽ dùng võ lực đánh các nước khác để bảo vệ quyền lợi của Trung Quốc… Vấn đề đưa giàn khoan vào sát gần Việt Nam là một cái cớ để đưa ra luật đó, và dùng luật đó như là một bước mới để lấn chiếm Biển Đông.

Mục đích thứ hai là đánh lạc hướng dư luận thế giới để Trung Quốc có thể tiếp tục hoàn tất các cơ sở quân sự trên các đạo nhân tạo mà Trung Quốc đã bồi đắp ở Trường Sa.

Và mục đích thứ ba, mà tôi cho là mục đích chính, là để hù dọa Việt Nam trước chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng, ngỏ hầu Việt Nam sẽ không dám siết chặt thêm quan hệ với Mỹ.

Quan hệ Việt Mỹ vẫn sẽ được siết chặt thêm

Ngô Vĩnh Long : Chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng sẽ siết chặt thêm một mức mối quan hệ với Mỹ.

(1) Ông ấy là nhân vật chóp bu của đảng cầm quyền ở Việt Nam, cho nên cuộc viếng thăm Mỹ có tính cách biểu tượng rất quan trọng trong thời điểm hiện tại. Mỹ và Việt Nam muốn chứng minh rằng quan hệ giữa hai nước đang được củng cố chủ yếu là vì lợi ích của hai nước và an ninh chung của khu vực.

Đối với Mỹ, việc này gởi thông điệp đến nhiều người “chống Cộng” ở Mỹ là ý thức hệ không còn là rào cản đối với nỗ lực phát triển quan hệ giữa hai nước.

(2) Chuyến đi, dù chỉ có hai ngày, nhưng khẳng định bản Tuyên bố chung về Tầm nhìn Chiến lược mà Bô trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã ký đầu tháng Sáu năm nay (2015) và như thế sẽ giúp đưa quan hệ Việt-Mỹ tiến đến mục tiêu “đối tác chiến lược toàn diện.”

(3) Chuyến đi cũng sẽ giúp cho việc vận động dư luận Mỹ ủng hộ hiệp định “Đối tác Xuyên Thái Bình Dương” (Trans-Pacific Partnership, TPP)… Nếu được thông qua, hiệp định này sẽ có lợi cho Việt Nam và Mỹ trên nhiều mặt, trong đó có việc phát triển kinh tế và củng cố an ninh cho toàn khu vực Đông Nam Á.

Việt Nam đang bị 3 gọng kềm : Hoàng Sa, Trường Sa, biên giới Cam Bốt

Ngô Vĩnh Long : Nếu chỉ tính Biển Đông, Việt Nam đang nằm giữa hai gọng kềm. Giàn khoan HD-981 chỉ là công cụ Trung Quốc xê dịch để thách thức, chứ quan trọng nhất là việc Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa, đã xây dựng cơ sở quân sự trên đó, thành lập thành phố Tam Sa trên đó để từ đó chỉ huy toàn bộ khu vực Biển Đông.

Cho nên, dù không có giàn khoan HD-981 được đẩy tới, đẩy lui, thì trên thực tế, Hoàng Sa với những cơ sở quân sự đó, đã là một cái gọng kềm gần Việt Nam nhất. Trong mấy năm qua, chúng ta đã nói nhiều lần là phải chú ý đến Hoàng Sa, một cái yết hầu của toàn Biển Đông…

Hiện nay, ngoài Hoàng Sa, Trung Quốc lại lập cơ sở quân sự trên 7 đảo ở Trường Sa, và tôi nghĩ là Trung Quốc sẽ không ngừng ở đó, mà sẽ tiếp tục.

Để có thể tiếp tục, Trung Quốc đã mở một mũi (tấn công) khác : Thúc đẩy gây rối ở vùng biên giới phía Tây nam của Việt Nam, tức là vùng biên giới với Cam Bốt.

Đúng là Việt Nam đang bị “3 mũi giáp công” của Trung Quốc, hai mũi từ biển (Hoàng Sa, Trường Sa) và một mũi từ đất liền, (biên giới Tây nam với Cam Bốt). Đây là chiến lược “giương đông kích tây” của Trung Quốc.

Báo chí gần đây có nói đến sự cố ở cột mốc 203 ở biên giới Tây Nam… Tôi nghĩ đây không phải là vấn đề ngẫu nhiên. Những nhà nghiên cứu vấn đề dọc biên giới Việt Nam đã thấy là trong mấy tháng gần đây căng thẳng đã có ở hầu như gần hết tuyến biên giới giữa Cam Bốt và Việt Nam trong khi Trung Quốc đang bồi đắp các bãi chìm ở Trường Sa và xây dựng các căn cứ quân sự.

Chiến lược giương đông kích tây

Thành ra Trung Quốc rõ ràng là có chiến lược giương đông kích tây, làm cho nhiều người không hiểu là mục đích chính của Trung Quốc là gì. Theo tôi, đó là tiếp tục xây căn cứ ở Trường Sa,

Các căn cứ này có cảng nước sâu có thể giấu tàu ngầm ở đó, có ăng ten liên lạc vệ tinh, có tháp radar, v.v.

Việc quân sự hóa các đảo nhân tạo này không những là đe dọa đối với Việt Nam và các nước nhỏ khác trong khu vực mà còn là thách thức đối với những nước ngoài khu vực, đặc biệt là đối với Mỹ.

Từ bốn, năm năm nay, Trung Quốc đã cố ý thách thức Mỹ, chĩa mũi dùi vào Mỹ, bởi vì nếu Mỹ im lặng hay nhẹ tay thì Trung Quốc sẽ tiếp tục lấn lướt. Cho nên, tôi thấy phản ứng (cứng rắn) của Mỹ mấy tháng gần đây là đúng hướng, vì nếu không thì Trung Quốc sẽ cứ tiếp tục khiêu khích, cứ tiếp tục xâm chiếm.

Trung Quốc sẽ tiếp tục “tằm ăn dâu” để áp đặt “sự đã rồi”

Ngô Vĩnh Long : Tôi nghĩ sắp tới đây Trung Quốc sẽ tiếp tục những động thái “tầm ngặm dâu” (salami slicing). Họ nghĩ rằng nếu cứ hai bước tiến, một bước lùi nhẹ nhàng, không thách thức mạnh lắm, thì họ sẽ dần dần chiếm được Biển Đông, dần dần tạo ra được tình trạng « sự đã rồi » (fait accompli).

Theo tôi, Mỹ và các đồng minh phải vận động các nước trong khu vực cùng nhau tuần tra trên Biển Đông cũng như xung quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã và đang xây các căn cứ quân sự. Nếu không thì Trung Quốc và nhiều nước trên thế giới coi như là Việt Nam, Mỹ, hay là các nước khác đã chấp nhận « sự đã rồi ».

Trong trường hợp đó thì Trung Quốc càng làm tới và Mỹ sẽ mất rất nhiều uy tín. Nếu Mỹ mất uy tín, Trung Quốc sẽ cứ tấn công tới. Thành ra những động thái của Mỹ như trong vài tháng nay, đặc biệt là nâng cấp hợp tác quân sự với Việt Nam, đã đi đúng hướng, và tỏ ra là Mỹ đã có thái độ rõ ràng và cương quyết.

Khi mà Mỹ đã làm việc đó rồi thì Mỹ không thể lùi được, vì lùi sẽ bị xem là con hổ giấy, khiến cho các nước khác trong khu vực, kể cả Việt Nam, nói rằng Mỹ không đáng tin cậy. Và như vậy thì Mỹ, vốn đã tốn rất nhiều công, sẽ không được gì.

Cho nên tôi nghĩ rằng quan hệ Mỹ-Việt sẽ càng ngày càng được siết chặt, việc mời ông Nguyễn Phú Trọng là một biểu tượng, để cho thấy rằng hai bên sẵn sàng bỏ qua vấn đề ý thức hệ, hay tạm gác những vấn đề chưa đồng ý, để có thể cùng nhau bảo vệ lợi ích của nhau, cũng như của những nước khác trong khu vực.

Việt Nam đã bắt đầu có tiếng nói rõ ràng và kiên quyết hơn

Ngô Vĩnh Long : Ba tờ báo Việt Nam như Vnexpress, Vietnamnet, Giáo Dục Việt Nam, dường như mỗi tuần đều có bài nói về vấn đề Biển Đông. Ngoài ra ; vừa qua có một bộ phim 5 tập, được chiếu ở Việt Nam rồi được đưa lên Youtube và một vài chỗ khác. Rõ ràng là Chính phủ Việt Nam nghĩ rằng bây giờ phải tích cực vận động quần chúng trong nước. Và dư luận thế giới, vì bây giờ cũng có nhiều bài của một số người trong nước, viết bằng tiếng Anh, gởi đăng trên các báo nước ngoài.

Tôi thấy rằng Việt Nam đang có tiếng nói rõ ràng và cương quyết, và điều đó rất quan trọng vì Việt Nam có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất trong khu vực Biển Đông, nếu Việt Nam không lên tiếng thì khó có thể giúp các nước như Mỹ vận động quần chúng họ để ủng hộ Việt Nam, để bảo vệ quyền lợi các nước xung quanh Biển Đông.

Nên tuần tra chung với Mỹ, Nhật, Philippines ….

Trước mắt, Việt Nam nên tham gia các hoạt động tuần tra chung với Mỹ, Nhật, Úc, Phillippines, Ấn độ, Hàn Quốc, trên Biển Đông. Nếu một mình Việt Nam thì khó có thể bảo vệ lợi ích của Việt Nam, mà Việt Nam tuần tra một mình, thì Trung Quốc có thể tạo các sự cố, rồi lại bắt nạt Việt Nam.

Nhưng nếu Việt Nam tham gia các hoạt động tuần tra chung với các nước như tôi vừa kể, thì tôi nghĩ rằng Trung Quốc sẽ phải e dè. Họ có thể đánh một nước như Việt Nam hay Philippines được, nhưng khó có thể đánh những nước lớn khác mà không bị thiệt thòi.


Lời nguyền chính trị

Lời nguyền chính trị

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-07-06

07052015-political-curse.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Ông Nguyễn Văn Linh được truyền thông chính thống Việt nam xem là cha đẻ của cái gọi là “đổi mới,” chuyển đổi chính sách kinh tế bao cấp sang việc chấp nhận thực tế thị trường

Ông Nguyễn Văn Linh được truyền thông chính thống Việt nam xem là cha đẻ của cái gọi là “đổi mới,” chuyển đổi chính sách kinh tế bao cấp sang việc chấp nhận thực tế thị trường

File photo

Hai nhà chính trị

Tên tuổi hai nhà chính trị Việt nam được giới blogger nhắc đến nhiều trong tuần qua là cựu Thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ vừa từ trần, và ông Nguyễn Văn Linh nguyên Tổng bí thư đảng cộng sản, được giới chức Việt nam kỷ niệm 100 năm ngày sinh một cách trọng thể.

Người ta nhắc nhiều đến ông Trần Quang Cơ vì khí phách của ông như lời một blogger bình luận, là ông chống lại ý kiến của những người đứng đầu nước Việt nam ở giai đoạn đầu thập niên 90 trong chính sách đối ngoại với Trung quốc. Ông từ chối nhận lãnh chức vụ Bộ trưởng ngoại giao, điều mà ông Nguyễn Vĩnh vốn là một thuộc cấp của ông cho là rất hiếm hoi trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp. Người ta nhắc tới ông Cơ nhiều nhất là về quyển hồi ký của ông liên quan đến hội nghị Thành Đô dẫn đến bình thường hóa quan hệ với Trung quốc. Quyển hồi ký không được in ở Việt nam mà chỉ lưu truyền trên mạng, trong đó ông đề cập nhiều đến những nhân nhượng quá đáng mà các nhà lãnh đạo đảng cộng sản lúc ấy dành cho Trung quốc.

Nếu ông Trần Quang Cơ được nhiều trang blog không chịu sự kiểm soát của đảng nhắc tới, thì trên báo chí chính thống người ta ít nhắc tới ông, mà thay vào đó là ông Nguyễn Văn Linh. Ông Linh được truyền thông chính thống Việt nam xem là cha đẻ của cái gọi là “đổi mới,” chuyển đổi chính sách kinh tế bao cấp sang việc chấp nhận thực tế thị trường. Rất nhiều lời tán dương ông Linh trên báo chí Việt nam, đặc biệt có một bài báo chạy hàng chữ đậm rằng ông Linh là người… Không chấp nhận đa nguyên đa đảng!

Ngược lại với báo chính thống, ông Linh bị nhiều chỉ trích trên các trang blog.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn cho rằng ở thời buổi hiện nay mà gióng lên ý tưởng của ông Linh rằng không chấp nhận đa nguyên đa đảng là một điều lạ.

Còn danh hiệu cha đẻ của đổi mới cũng được các blogger hoài nghi rằng có phải chính ông Linh là kiến trúc sư của cái gọi là đổi mới ấy hay không, vì gần 30 năm sau, nhiều tài liệu được công khai, người ta thấy rằng ông Linh không phải là một người can đảm đi đến những quyết định chính trị như vậy. Hơn nữa có nhiều bằng chứng cho thấy ông Linh lại là một người bảo thủ với nhiều nỗi sợ hãi khi chứng kiến chủ nghĩa cộng sản sụp đổ khắp nơi trên thế giới vào giai đoạn những năm 1989-1990. Chính điều này đẩy ông thành kẻ mà nhiều người cho rằng có tội khi chủ trương ký hiệp định Thành Đô với Trung quốc. Trang blog Bauxite Việt nam bình luận:

Đánh giá một nhân vật lịch sử chính là phải đứng ở góc độ dân tộc, chứ không phải trên lập trường của một đảng: Người đó đã làm gì cho đất nước, chứ không phải đã làm gì cho đảng. Lịch sử đã đánh giá Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống nghiêm khắc như thế nào, sẽ đánh giá những kẻ đang tâm bán đứng dân tộc qua thỏa thuận Thành Đô, mà di lụy của nó cho đến nay vẫn chưa biết hết, như thế ấy.

Còn Tiến sĩ Hà Sĩ Phu thì cho rằng ông Linh là kẻ có tội nhiều hơn công:

“Cuối cùng do sự bố trí của phe thân Trung Cộng ông Nguyễn Văn Linh đã cầm đầu phái đoàn đi sang Thành Đô, là hành động vô cùng tệ hại, đưa Việt Nam vào một quỹ đạo không thể ra được. Tôi nghĩ rằng ông Nguyễn Văn Linh đổi mới cũng chẳng qua là cứu Đảng thôi nhưng cũng do chuyện cứu Đảng mà trình độ lại non và quan điểm lại bảo thủ nên cuối cùng phải đi vào quỹ đạo Thành Đô cho nên cái tội nhiều hơn công rất nhiều.”

Và cuối cùng khi bàn về cái gọi là đổi mới, thì Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn xem đó chẳng phải là điều gì hay ho, vì vốn cuộc sống luôn cần một sự đổi mới.

Còn một điều khác nữa là bản chất của cái gọi là đổi mới là quay về với những gì đúng đắn hợp lẽ tự nhiên, phá đi những rào cản mà chính những người cộng sản tạo ra cho dân tộc và cho chính mình. Để nói về giai đoạn thay đổi đó, ngôn ngữ của đảng cộng sản hay dùng từ cởi trói, nhưng dường như là không có người lạ nào trói họ cả.

30 năm sau

Những quyết định chính trị trong những năm 1989-1990 đã định hình nước Việt nam với hoàn cảnh đối ngoại, và những xáo trộn xã hội đặc biệt của nó.

Sự thành công của ông Nguyễn Văn Linh, hay là sự thất bại của ông Trần Quang Cơ đã để lại một nước Việt nam gắn chặt về ý thức hệ với Trung quốc ngày nay.

Blogger Song Chi viết bài Nước còn hay mất. Bà cho rằng trong thời buổi hiện đại hiện nay, một kịch bản Trung quốc đưa quân xâm lược để đặt Việt nam thành quận huyện là khó có thể xảy ra. Tuy vậy với sự lệ thuộc Trung quốc ngày càng nhiều về kinh tế, văn hóa, bên cạnh sự cam kết chính trị trung thành với ý thức hệ của giới lãnh đạo,… thì Trung quốc cũng không cần dụng binh làm gì.

Sự lệ thuộc văn hóa Trung quốc lên đến đỉnh điểm trong hàng loạt công trình xây Văn miếu thờ Khổng Tử trong thời gian qua. Điều mà nhà báo Danh Đức gọi là Dịch xây Văn Miếu. Ông viết trên trang blog của thời báo Kinh tế Sài gòn:

Không phải là bài ngoại, song cái gọi là “văn hóa tương đồng” nhất định phải có giới hạn của nó, chứ không thể cứ “đánh đồng làm một” mãi. Trong lịch sử, quả là Nho giáo đã chiếm vị trí quan trọng ở Việt Nam, song ảnh hưởng đó cũng đã kết thúc hơn 100 năm nay rồi và Việt Nam đang là một quốc gia độc lập, nên không thể tùy tiện hay vì bất cứ lý do gì khác mà tái du nhập những di tích của sự lệ thuộc đó.

Cựu Thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ

Cựu Thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ 1927 – 2015

Có thể là Nho giáo không còn ảnh hưởng nhiều trong xã hội Việt nam, nhưng trên bình diện chính trị ý thức hệ, dường như một cụm từ khác đã thay thế, đó là xã hội chủ nghĩa. Điều mà blogger Cánh Cò mượn lời các quan chức Bắc Kinh mà gọi đó là một …. Đại cục vô hình mà tới giờ dường như các nhà lãnh đạo Việt nam chưa thoát ra được.

Và chính ý thức hệ đó trở thành một trở ngại cho công cuộc cải cách giáo dục mà nhiều trí thức Việt nam lo lắng hàng chục năm nay.

Trang blog Bauxite Việt nam kể lại câu chuyện đối thoại giữa nhóm Đối thoại giáo dục do Giáo sư Ngô Bảo Châu chủ xướng và một số ý kiến phản biện.

Nhóm Đối thoại giáo dục đề nghị một điều quan trọng trong cải cách Đại học là thành lập Hội đồng ủy thác để điều hành. Tiến sĩ Ngô Doãn Đãi cho rằng đề nghị này không thể thực hiện được vì theo luật giáo dục Việt nam thì Đảng cộng sản lãnh đạo các trường Đại học.

Một người tham gia phản biện nhóm Đối thoại giáo dục là dịch giả Đinh Bá Anh, lại cho rằng hiện nay nền giáo dục Việt nam không thể cải cách được vì nó không chịu một sức ép nào cả. Ông cho rằng nó có thể được cải cách nếu có một ý chí chính trị mạnh mẽ nào đó, nhưng ông tiếp lời là chuyện đó chưa xảy ra vì hiện nay chính trị Việt nam là một nền chính trị chịu sức ép từ nhóm lợi ích chứ không có viễn kiến.

Có lẽ câu chuyện cải cách giáo dục lại một lần nữa đi vào bế tắc.

Đứng trước tình trạnh xã hội chính trị hiện nay, Giáo sư Nguyễn Đình Cống cho rằng có một điều gì đó như là một lời nguyền mà nước Việt đang gánh chịu, lời nguyền đó theo ông xuất hiện sau khi cuộc chiến Việt nam tương tàn kết thúc:

Có thể những người cầm đầu phe bại trận đã không có một lời nguyền nào nhưng hàng vạn, hàng chục vạn những người khác đã công khai hoặc bí mật nguyền rủa vì cho rằng họ bị đối xử bất công, tàn bạo, bị phản bội lời hứa và lòng tin. Đó là những người bị triệu tập vào các trại cải tạo, bị giam giữ không kết án, bị tước đoạt tài sản và tự do, bị ép buộc đến các vùng kinh tế mới, bị trở thành “thuyền nhân”với không biết bao nhiêu tai họa.

Giáo sư Nguyễn Đình Cống là người công khai tuyên bố rằng muốn cho Việt nam phát triển thì phải từ bỏ chủ nghĩa cộng sản và ý thức hệ Mác Lê Nin, nền tảng của cấu trúc nhà nước Việt nam hiện tại.

Trong lãnh vực tư pháp, cấu trúc nhà nước ấy không chấp nhận sự cân bằng quyền lực như ở mô hình các quốc gia theo thể chế tư bản dân chủ. Đó cũng là điều mà Luật sư Nguyễn Văn Thân cho rằng nó làm cho Việt nam không thể xây dựng nên nhà nước Pháp quyền được. Ông viết:

Muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thì trước hết phải có sự phân quyền giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp và một hệ thống tư pháp thật sự độc lập. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn đứng trên pháp luật và cai trị một cách tùy tiện. Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Trương Hòa Bình là một thành viên Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản thì làm sao tòa án có thể độc lập?

Nhưng mô hình mới nào cho Việt nam để thoát khỏi bế tắc?

Tác giả Vũ Hoàng Nguyên viết trên trang Ngàn Lau rằng cần phải thận trọng, đừng lập lại sai lầm của những người cộng sản nữa:

Cần phải xác định một điều là không có cơ chế nào trên thế giới này hoàn hảo. Chúng ta không đi tìm một cơ chế hoàn hảo bởi nếu chúng ta vẫn mang tư tưởng tìm một cơ chế hoàn hảo thì tự chúng ta sẽ lập lại sai lầm của đảng cầm quyền hiện giờ, tức là đưa đất nước dân tộc vào Xã Hội Chủ Nghĩa mà chính những người lãnh đạo không biết cái Xã Hội Chủ Nghĩa đó ra sao, khi nào được hình thành. Chúng ta cũng không đem bất cứ cơ chế của quốc gia nào đó vào áp dụng trên dân tộc của mình bởi chúng ta sẽ vấp phải sai lầm mà đảng CSVN đang sai lầm.

Nhưng cho đến bao giờ?

LS Nguyễn Văn Thân viết rằng so với những mầm mống dân chủ hình thành ở nước Anh trước đây thì Việt nam đã muộn đến 800 năm.

Dị ứng với chữ nghĩa!

Dị ứng với chữ nghĩa!

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Tôi đồng ý với nhiều người đã cho rằng không có ngôn ngữ Việt Cộng, ngôn ngữ miền Nam mà chỉ có ngôn ngữ Việt Nam và ngôn ngữ phát triển và đa dạng hóa theo thời gian. Nhưng là một người sinh ra và lớn lên, sống ở miền Nam ít nhất là nửa thế kỷ, tôi cảm thấy hụt hẫng và cảm thấy dị ứng với thứ ngôn ngữ hôm nay, nói rõ là thứ ngôn ngữ phát sinh ra từ sau ngày đại họa, khi mà Việt Cộng cai trị toàn bộ đất nước miền Nam.

Người dân Việt Nam hiện nay dùng chữ “siêu” để thay cho chữ “rất
nhiều” hay “rất cao” như bảng quảng cáo này. (Hình: Getty Images)

Không phải dị ứng với chữ nghĩa, mà tôi còn dị ứng với giọng nói của Hà Nội bây giờ, nó khác xa với Hà Nội thanh lịch của bốn mươi năm về trước. Làm sao tôi quên được giọng nói của đài phát thanh Hà Nội, “thủ đô của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” mà mỗi tối, tôi vẫn thường phải nghe cái giọng the thé của cô xướng ngôn viên qua chiếc loa rè treo ở cái chòi gác đầu trại, những đêm rét buốt ở trong những trại tù Hoàng Liên Sơn. Giọng nói đó còn theo đuổi, ám ảnh tôi cho đến ngày hôm nay.

Từ ngày bị anh em “ngoài ta” thống trị, ngoài những tiếng “ngụy ngôn” xảo trá như cách mạng, giải phóng, học tập cải tạo, ngụy quân, ngụy quyền… chúng ta thấy cả một rừng chữ nghĩa đảo lộn trong một xã hội điên đảo. Dân Sài Gòn đã nhìn tận mắt loại chữ nghĩa quái đản, sản phẩm của chế độ mới như “xưởng đẻ,” “cửa hàng thịt phụ nữ,” “nhà đái nam, nhà đái nữ…”

Cũng không phải vì lý do chính trị mà tôi ghét nó, hoặc có định kiến, kiểu “ghét ai ghét cả tông nhân họ hàng,” nhưng tôi ghét cái thứ ngôn ngữ tùy tiện, vô nghĩa và lai căng hay bắt chước Tàu một cách hoàn toàn vô ý thức và thiếu khôn ngoan.

Trước khi đi quá xa, và để cho độc giả khỏi quên, tôi xin nói ngay vào lối nói kiểu Tàu của người trong nước bây giờ. Chúng ta vẫn nghe những tiếng lạ tai từ khi nón cối dép râu “tiến về Sài Gòn,” thứ ngôn ngữ đặc sệt Tàu, mà chúng ta chưa hề nghe, chưa biết dùng nhưng cuối cùng cũng phải dùng, phải nghe nếu không sợ bị lạc đường. Đó là những tiếng hộ khẩu, hộ lý, hải quan, xuất khẩu, trợ lý, thủ trưởng, đăng ký, đường cao tốc, vô tư, bức xúc, bảo vệ, cơ địa, xử lý, khẩn trương, triều cường, giải phóng mặt bằng, quân hàm, sư trưởng… khác xa những gì mà chúng ta đã dùng thời trước.

Cái thì quá Hán, nhưng có cái thì quá nôm na. Thủy Quân Lục Chiến thì gọi là “Lính Thủy Đánh Bộ,” Bạch Ốc là “Nhà Trắng,” trực thăng là “máy bay lên thẳng,” tài xế thì gọi là “lái xe,” đại tiện hay tiểu tiện thì gọi là “ỉa, đái”… có khi nửa nôm nửa hán như “cán bộ gái,” có khi thô bỉ như “giường cứng- giường mềm,” có lúc ngớ ngẩn và vô nghĩa như “làm gái!”

Nếu chữ nghiêm trang, nghiêm chỉnh của chúng ta để nói về một thái độ, một nhân dáng thì vì sao trong nước lại dùng chữ nghiêm túc (nghĩa của nó là đứng yên – toàn thể túc lập!) Nếu chữ “liên lạc” của chúng ta dùng trong nghĩa trao đổi, thông tin thì cũng với nghĩa đó, họ dùng chữ “liên hệ,” như trong nghĩa nó có nghĩa trói buộc với nhau như gia tộc, con cái, họ hàng. Vì chúng ta đâu cần phải “liên hệ” qua điện thoại với một công ty khi chỉ cần mua một món hàng.

Có những địa hạt, việc dùng chữ nghĩa quá tùy tiện và ngu dốt, một cách “nói chữ” như chữ “xử lý” bị lợi dụng một cách nặng nề và không cần thiết như nói “xử lý cá xong” thì đến “xử lý” rau. Thay vì nói đơn giản “một con bọ xít” thì họ nói “một cá thể bọ xít,” thay vì nói “đi dạy học tại trường X.” thì người ta nói “nhận công tác giảng dạy…”

Nói chung là người ta thích dùng “đại ngôn” cho nó oai, ra điều chữ nghĩa, như ông bà ta có câu: “dốt thì hay nói chữ,” quảng cáo cho mấy cái bồn rửa nhà cầu, người ta cũng dùng đến tiếng “hoành tráng.”

Ba chữ “dòng, luồng và chùm” bị lạm dụng và gán ép một cách ngây ngô như: – “Dòng kem dưỡng da;” – “Luồng tư duy, luồng thông tin , luồng văn hóa , khám bệnh ngoài luồng;” – “Chùm ảnh, chùm thơ…”

Trong nước bây giờ thích nói chữ, Tây hay Tàu hơn là thuần Việt: Ảnh “nude” hơn là ảnh khỏa thân , “VIP” hơn là nhân vật quan trọng , “logic” là lý luận, “tuổi teen” hơn là tuổi thiếu niên, “ô tô” thay vì xe hơi, “nội y” thay vì áo quần lót , “sở hữu” hơn là có , “khẩn trương” thay vì nhanh lên.

Nếu vì trời sương mù mà trên xa lộ nhiều chiếc xe hơi đụng nhau dây chuyền (xe nọ đụng đít xe kia) thì vì sao họ dùng chữ “đụng liên hoàn,” cho ra Tàu, trong khi chữ liên hoàn còn có nghĩa “trở lại” như thơ liên hoàn là bài thơ mà câu cuối lặp lại câu đầu tiên. Cái xe đầu tiên bị đụng không thể nào đụng lại cái xe cuối cùng trên đường!

Trong khi chúng ta dùng chữ máy thu thanh (radio) thì Cộng Sản dùng chữ “đài,” chữ này chỉ có thể dùng để chỉ nơi phát thanh, như đài phát thanh Hà Nội. Cũng với lối nói tắt này, đôi khi vô nghĩa, nhưng theo thói quen ở trong nước, người ta vẫn hiểu, như vừa “xuất viện” là mới ở bệnh viện (nhà thương) ra, “nhập viện” là vào nhà thương. Nếu nói “điện” thì phải hiểu nghĩa là điện thoại. Thu phí là thu lệ phí!

Cộng Sản lấy tên Hồ Chí Minh đặt thay cho Sài Gòn có nhiều điều bất tiện và bất kính, vì người ta không thể nói: “Tôi đi… Hồ Chí Minh,” hay “Hồ Chí Minh bây giờ nạn cướp bóc tràn lan” mà phải dùng nguyên câu “thành phố Hồ Chí Minh.” Vì cái tên quá dài, nên bây giờ người Cần Thơ đi Sài Gòn thì chỉ cần nói là “lên thành phố!” là người ta đã hiểu.

Cỡ lớn láo như Phùng Quang Thanh, lên tới đại tướng mà còn mở miệng nói, “Không phong tướng, anh em tâm tư!” thì “chị em ta” cũng có thể nói, “Chị làm em cũng tâm trạng theo chị!” hay “con ấy… cực kỳ!” Danh từ, động từ, tĩnh từ, trạng từ… cứ loạn cả lên, toàn là những thứ “lộng ngôn” và “loạn ngôn” một cách rất “bất quy tắc!”

Thời trước đi học, mà viết, làm luận văn, nói lối này thì chắc chắn là bị thầy, cô giáo sổ…toẹt! Và thời nay nếu bỏ nước ra đi khá lâu, về thăm lại quê hương nên có một người đi theo để thông dịch.

Nói chuyện chữ nghĩa thời nay, thì phải viết thành một cuốn từ điển dày nghìn trang. Tôi không có tham vọng làm một cuộc nghiên cứu hay thống kê mà chỉ ghi.. tạp một vài chuyện mua vui. Nhưng chúng ta cũng nên cẩn thận, đừng ngộ nhận, khi có những tiếng ít nghe, ít dùng, nghe chưa quen tai đã vội chụp nón cối cho nó. Có lần tôi dùng tiếng “xiển dương” trong một bài viết, đã bị một ông bạn già khiển trách “sao lại dùng chữ Việt Cộng?”

Điều đau lòng tôi muốn trình bày với độc giả hôm nay là chúng ta lệ thuộc Tàu cả nghìn năm mà còn giữ được tiếng nói, chữ viết và bản sắc dân tộc. Trong nước nô lệ Cộng Sản mới bốn mươi năm mà dễ chừng ngôn ngữ đã có những sự thay đổi, nhất là ảnh hưởng không ít với những người đã đi ra nước ngoài, đã từng là nạn nhận của Cộng Sản. Tôi đã gặp những người tù chính trị đã ở trong nhà tù tập trung năm, mười năm mà vẫn dùng những danh từ “đi học tập- cải tạo” hay “trước giải phóng- sau giải phóng” một cách không suy nghĩ, thì trách gì vợ con họ, lấy lý do vì ở với Cộng Sản một thời gian dài, nên bị “đồng hóa!”

Một chuyện khác là các cơ quan truyền thông ở hải ngoại, vẫn cho mình là có lập trường chống Cộng nhưng vẫn dùng nguyên bản những tin tức, chương trình trong nước mà không chịu bỏ thời giờ sửa đổi lại theo cách nói và cách viết truyền thống của người Việt tại miền Nam trước 1975 và kể cả tại miền Bắc trước năm 1954.

Có khi vì thiếu vốn, lười biếng hay thỏa hiệp, truyền thông hải ngoại đem luôn cả chương trình làm sẵn, các cuốn phim của các nhà sản xuất hay đài truyền hình Việt Nam chiếu trong chương trình hằng ngày. Do vậy, tuy trên đài truyền hình không có cờ đỏ sao vàng, có chân dung lãnh tụ cộng sản, nhưng ngôn ngữ, hình ảnh, và chương trình từ giải trí đến thời trang, thi hoa hậu, đố vui, thực chất là những đài truyền hình Cộng Sản được soạn ra công phu để dành làm quà cho hải ngoại.

Người ta đã nói đến chuyện con ếch được luộc chín từ từ trong nước lạnh, hay chiến thuật vết dầu loang. Dần đà, chúng ta sẽ nghe quen tai, nhìn quen mắt và bị “luộc” lúc nào không hay.

Và những con người vốn chân chất, thật thà, tin người, chỉ thấy cái lợi trước mắt và cho cá nhân mình, không cảnh giác sẽ còn thua… nữa!

Người Sài Gòn sống như dân du cư du canh

Người Sài Gòn sống như dân du cư du canh

Nguoi-viet.com

Trần Tiến Dũng/Người Việt

SÀI GÒN (NV) – Ở Sài Gòn lúc này, chỉ cần dừng xe máy ở các giao lộ là sẽ được nhân viên các công ty bất động sản phát cho một xấp giấy quảng cáo mua bán nhà.

Nhìn lên cột điện, thậm chí nhìn vào vách các bô rác chung cư cũng thấy xanh xanh đỏ đỏ những áp phích quảng cáo bán nhà, bán đất nền… đủ cỡ, nhưng than ôi hàng triệu người Sài Gòn chỉ biết ngó cho vui mắt vậy thôi chớ giấc mơ mua được một căn nhà dạng nhà xã hội trả góp cũng là chuyện viển vông, thế nên chuyện họ sống du canh du cư như đồng bào các dân tộc thiểu số ở giữa lòng một đô thị hào nhoáng như là một kiếp nạn.

Từng cột đèn Sài Gòn đều dán quảng cáo bán nhà nhưng hàng triệu người
du cư không bao giờ với tới. (Hình: Trần Tiến Dũng)

Một giảng viên đại học Bách Khoa Sài Gòn ghé nhà thầy cũ mình để mời thầy dự tiệc mừng nhà mới của anh. Người giảng viên gốc Cà Mau, có con trai học lớp ba này kể, “Phải làm dân du cư ở Sài Gòn hơn 20 năm mới có chỗ định cư đó thầy.”

Không hề quá đáng khi cho rằng ở Sài Gòn trong hàng chục năm qua, hàng triệu người dân từ các địa phương đến nhập cư ở trọ nhà tập thể, mướn nhà và họ thường xuyên thay đổi chỗ ở vì giá thuê nhà hay vì nhu cầu công việc đã hình thành nên số lượng người du cư khổng lồ.

Có một nhà thơ, cũng là dân du cư lâu năm ở Sài Gòn ví von rằng, “Giống như đồng bào dân tộc thời xưa, dân ở trọ như bọn tôi chuyện du cư hết chỗ này đến chỗ kia thì coi các tòa cao ốc là núi, các con đường là sông, còn các hẻm phố chằng chịt như những cánh rừng khó tìm lối ra.”

Trả lời trên bản tin kinh tế, vị chủ tịch hiệp hội bất động sản thành phố Hồ Chí Minh cho biết, các dự án đầu tư nhà ở xã hội chỉ chiếm không tới 30% trong tổng số các dự án. Lý do đưa ra là lợi nhuận thu được khi đầu tư nhà ở xã hội rất thấp.

Từ ngày 1 tháng 7, 2015, chế độ Hà Nội áp dụng luật cho phép Việt kiều và người Ngoại Quốc mua nhà, điều này khiến các tư sản đỏ bất động sản hứng thú và một lần nữa chuyện nhà cho người Sài Gòn thu nhập thấp cùng hàng triệu người đang sống du cư cũng hoàn toàn vô vọng về chuyện định cư.

Cô L, một giáo viên ở trường trung cấp dạy nghề, có mức lương khoản sáu triệu một tháng nói, “Từ lúc còn là sinh viên đến lúc đi làm, tôi đã thay đổi nhà trọ năm lần. Giá nhà từ năm trăm ngàn nay lên một triệu rưỡi, tôi chuyển chỗ ở không chỉ vì giá nhà mà còn vì đường ngập, an ninh, hàng xóm không hợp… Nói chung tôi biết chắc mình không thể quay về quê nhưng càng không chắc là mình có ngày được định cư ở Sài Gòn.”

Với những ai có mức thu nhập trung bình thấp như cô L, thì hy vọng sau mười, hai mươi năm nữa mua được một căn chung cư trả góp dưới 40 mét vuông ở Sài Gòn để chấm dứt đời du cư là khó có thể.

Các xóm nhà ven kênh rạch ở quận 8, quận 7… là nhà trọ “lý tưởng” của
người ngoài mới bắt đầu vào thành phố. (Hình: Trần Tiến Dũng)

Hỏi chuyện hai vợ chồng người Thanh Hóa làm nghề bán cháo lòng dạo ở quận 12, rằng họ có nghĩ ngày nào sắm được nhà để làm nghề không. Anh chồng có ba con đang gởi cho nhà nội ở quê này nói, “Mơ làm gì, cứ nhà mướn cho nhẹ đầu mà để dành tiền gởi về quê cất nhà, mai kia hết sức làm thì còn có chỗ mà về.” Hai tiếng “mai kia” từ miệng một người chỉ chừng ba lăm tuổi đã chỉ ra một cuộc đời, một gia đình ly hương sống du cư dai dẳng vằn vặt.

Thật không thể xác định độ tuổi của dòng người khổng lồ đang sống du cư hiện nay, bé sơ sinh có, người già tuổi gần đất xa trời có. Chưa thời đại nào mà toàn cảnh và thực trạng người tứ xứ du cư ở Sài Gòn lại đa dạng và phức tạp như hiện nay. Nào là cộng đồng du cư được biết theo nguyên quán như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, Phú thọ, Cà Mau… hay cộng đồng du cư theo ngành nghề như hủ tiếu gõ, bánh tráng, ve chai, thợ mộc, thợ xây… thậm chí có cả những nhóm du cư “ làm ăn” với các nghề tệ nạn xã hội.

Từ lúc chế độ mở cửa kinh tế, hàng chục năm qua nguồn nhân lực phổ thông và trí thức du cư này đã là nhân tố chính làm thay đổi toàn diện chất lượng và diện mạo các đô thị lớn, nhưng phần lớn nguồn nhân lực quan trọng đó vẫn không thể đặt chân về chính căn nhà mình sở hữu sau một ngày làm việc.

Việc hàng triệu người không sở hữu được căn nhà ở đô thị nơi mình kiếm sống, sống du cư kéo dài có khi cả đời người hoặc nhiều thế hệ gia đình. Trừ một số ít người nhập cư có tài năng, ý chí, nguồn vốn, đã có ngôi nhà để yên ổn mà mơ ước một tương lai thành đạt, thử hỏi hàng triệu người không thể mong gì được an cư kia, họ làm cách nào để yên tâm nâng cao nghề nghiệp, tri thức và chất lượng sống của họ. Những hiện tượng tiêu cực xã hội như sử dụng bạo lực bất thường, sa đà trong bia rượu, số đề, lối sống thụ động buông xuôi… việc họ bị tướt đi quyền được an cư rõ ràng cho thấy bộ mặt u tối của thực trạng mất nhân quyền ở các đô thị lớn Việt Nam hiện nay.

Ý hướng Xây Đời Mới

 

Ý  hướng  Xây  Đời  Mới

Trong Chương Trình Phát Triển Quận 6, 7, 8 Saigon (1965 – 1971)

Hồi tưởng của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Vào khỏang tháng 6 năm 1965, một số thanh niên chúng tôi đang ở lứa tuổi 25 – 30 cùng hội họp bàn thảo với nhau liên tục trong nhiều ngày và cuối cùng chúng tôi đã đúc kết cuộc thảo luận thành một tài liệu lấy tên là Dự Án về một chương trình họat động xã hội, tài liệu này dài chừng 30 trang có nhan đề là :

“Phong Trào Xây Đời Mới

Chương Trình Phát triển Quận 8 Saigon”

Bản Dự Án này liền được đệ trình lên văn phòng của vị Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung ương (tức là Thủ tướng Chính phủ) lúc đó do Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảm trách.

Sau khi xem xét ít lâu, Tướng Kỳ đồng ý chấp thuận trên nguyên tắc mấy đề nghị của chúng tôi và chỉ thị cho Bô Thanh niên và Tòa Đô chính Saigon cùng đứng ra bảo trợ cho công việc thực hiện Chương Trình Phát Triển này.

Thế là vào khỏang trung tuần tháng 8 năm 1965 đó, anh em thiện nguyện chúng tôi bắt đầu cùng “xuất quân” xuống quận 8 là một địa phương tương đối nghèo túng và kém mở mang nhất tại Saigon thời ấy.

Sau một năm họat động, chương trình này đã mở rộng phạm vị họat động sang hai quận lân cận là quận 6 và quận 7. Và trong suốt 6 năm hăng say họat động (1965 – 1971), chương trình đã thực hiện được một số công trình xây dựng cụ thể đem lại sự thay đổi cải tiến rõ rệt trong nếp sống vật chất và tinh thần của người dân trong cả ba quận ở về phía Tây Nam thành phố Saigon.

Trong mấy năm gần đây, tôi đã có dịp tường thuật chi tiết về chương trình xây dựng này trong nhiều bài viết, nên trong bài này tôi khỏi cần nhắc lại những điều đã ghi ra trước đây nữa. Mà tôi chỉ xin nhắc lại cho rõ hơn về cái ý hướng tích cực góp phần vào công cuộc xây dựng Đời Sống Mới của lớp thanh niên thiện nguyện chúng tôi vào cái thời kỳ đất nước mình còn đang sôi động với cuộc chiến tranh tàn khốc cách nay đã gần 50 năm. Xin thật ngắn gọn trong vài mục như sau :

I – Không phải “Phong trào Xây Đời Mới” – mà là “Kế Hoạch Xây Đời Mới”

Mặc dầu như đã ghi ở trên, bản Dự Án đệ trình lên văn phòng Thủ tướng có viết rõ là “Phong trào Xây Đời Mới” như là một tổ chức thực hiện “Chương trình Phát triển Quận 8” – thì đến khi tra tay vào giai đọan hành động cụ thể tại địa phương, anh em chúng tôi lại không bao giờ nhắc đến danh xưng “Phong trào Xây Đời Mới” nữa.

Lý do là vì các anh em trong ban điều hành cho rằng danh xưng “Phong trào Xây Đời Mới” này dễ gây hiểu lầm nơi nhiều người coi như đây là một thứ tổ chức chính trị – chứ không phải là một chương trình thuần túy họat động xã hội nữa. Vì thế mà mọi họat động của nhóm anh em thiện nguyện chúng tôi – ngay kể từ lúc khởi đầu vào tháng 8 năm 1965 – thì đều được đặt trong khuôn khổ của một chương trình phát triển cộng đồng tại địa phương quận 8 mà thôi. Và chỉ sau một thời gian ngắn, qua những việc làm cụ thể có ích lợi rõ rệt cho đồng bào địa phương, thì chương trình đã bắt đầu tạo ra được sự tin tưởng của số đông người dân – để rồi từ đó mà tiến lên thêm bước nữa với những công tác có quy mô lớn lao rộng rãi hơn mãi.

Vì thế mà qua năm 1966, khi được phép mở rộng phạm vi họat động sang các quận 6 và 7, thì cơ cấu tổ chức cũng phải được nới rộng ra. Cụ thể là, ngòai Chương trình Phát triển Quận 8 rồi, thì lại có thêm hai đơn vị nữa, đó là : Chương trình Phát triển Quận 6 và Chương trình Phát triển Quận 7. Và ở trên cả ba Chương trình này là một cơ quan để phối hợp điều khiển – được anh em cho khai sinh dưới cái tên chính thức là: “Kế Hoạch Xây Đời Mới”.

Qua danh hiệu Kế hoạch Xây Đời Mới này, ta có thể thấy ngay được cái ý hướng Xây Đời Mới vẫn được duy trì như từ lúc ban đầu. Tức là mọi họat động nhằm cải thiện về gia cư, chỉnh trang các ngõ hẻm, đặt hệ thống thóat nước cho đến việc mở mang thêm trường học, tổ chức các lớp dậy nghề, chăm sóc về y tế vệ sinh công cộng v.v…- thì tất cả những công tác đó đều nhằm mục tiêu duy nhất là : Góp phần xây dựng cuộc sống mới tại địa phương sao cho mỗi ngày một thêm tốt đẹp, thoải mái tươi vui hơn mà thôi.

II – Vai trò làm “chất men, chất xúc tác” nhằm khơi động quần chúng tham gia vào công cuộc xây dựng ở địa phương.

Vì chủ trương theo đuổi công cuộc phát triển lâu bền tại hạ tầng cơ sở ở địa phương (at the grassroots), nên anh em chúng tôi phải kiên trì bám sát địa bàn họat động qua những cuộc tiếp súc tham khảo thường ngày với các vị thân hào nhân sĩ là những nhân vật có uy tín đối với đồng bào trong khu vực. Các vị này thường là giới giáo chức, giới tu sĩ của các tôn giáo, giới công tư chức đã về hưu và cả giới tiểu thương tiểu chủ của các cơ sở kinh doanh nhỏ v.v… Qua những cuộc tham khảo bàn luận với quý vị tôn trưởng như vậy, chúng tôi lần hồi mới đề ra được những công tác có ích lợi cụ thể thiết thực  để mời gọi bà con trong cộng đồng cùng ra tay chung sức với nhau – người góp công, kẻ góp của – mà thực hiện cho có kết quả tốt đẹp, đem lại sự cải tiến cho môi trường sinh họat của địa phương sở tại.

Làm việc sát cánh với bà con trong các xóm hẻm trong thời gian lâu dài, chúng tôi nhận ra được là nơi đâu, lúc nào thì cũng đều có những người có tấm lòng tốt luôn quan tâm đến việc giúp đỡ những người kém may mắn hơn mình – cũng như lưu tâm đến sự an vui của tập thể dân chúng ở địa phương nơi gia đình mình cùng sinh sống. Những người có thiện chí như thế chính là những nhân tố thiết yếu cho sự thay đổi của xã hội (essential agent for social change). Họ khôn ngoan tìm cách khuyến dụ lôi kéo thêm những bà con khác cùng tham gia vào công việc đem lại ích lợi chung cho cả tập thể cộng đồng. Và chỉ khi nào mà số đông bà con ở địa phương cảm nhận được cái nhu cầu cần phải cải thiện xã hội như thế nào đó (felt need), thì chính khối quần chúng nhân dân đông đảo đó họ mới hăng hái đem hết công sức ra mà thực hiện những công việc có ích lợi chung cho tòan thể cộng đồng.

Như vậy, vai trò chính yếu của mỗi thanh niên thiện nguyện chúng tôi là làm chất men, chất xúc tác (catalyst) được vùi trong môi trường quần chúng nhân dân – nhằm khơi động mọi người ý thức được cái nhu cầu cải tiến xã hội – và rồi tiếp theo là họ sẽ nhập cuộc tham gia vào công việc xây dựng cộng đồng cho thêm phần tốt đẹp hơn. Một anh bạn khi đến thăm và thấy công chuyện chúng tôi làm ở quận 8, thì anh đã phát biểu như thế này: “Các bạn đích thực là những người đang khơi động công trình phát triển cộng đồng ở địa phương này đấy” (nguyên văn tiếng Pháp :  Animateurs de développement communautaire).

Nói khác đi, điều chúng tôi thực hiện lúc đó, thì chính là khai mở ra cái quá trình gây lên men, gây ý thức và vận động quần chúng dấn thân tham gia vào công cuộc phát triển tòan diện ngay tại địa phương sở tại (mass fermentation, mass conscientisation, mass mobilization).

Linh mục Bernard Pineau có lần nói với tôi như sau : “ Luật sư Trần Văn Tuyên trong dịp gặp gỡ gần đây, có trao đổi với tôi về chuyện công tác xã hội các em đang làm ở Quận 8 – thì cả hai chúng tôi đều coi đó là một việc làm thật sự có ích. Rõ ràng đây là một thứ “micro-réalisation” (nguyên văn) rất thích hợp trong hòan cảnh chiến tranh hiện nay…”

III – Một số công trình xây dựng điển hình với giá trị lâu bền.

Trong những năm tháng họat động hăng say nhiệt thành sát cánh với bà con tại địa phương các quận 6,7 và 8 Saigon thời ấy, chương trình đã thực hiện được hàng mấy trăm những công trình xây dựng lớn nhỏ trong các lãnh vực chỉnh trang tái thiết gia cư, cải thiện hạ tầng cơ sở nơi các khu ổ chuột (slum areas), mở mang thêm trường học, tổ chức các lớp dậy nghề v.v… Anh chị em thiện nguyện viên phải chia nhau đến tham dự các phiên họp của ủy ban công tác nơi các xóm hẻm – hầu hết là hội họp vào ban đêm hay các ngày nghỉ thứ bảy, chủ nhật – vì chỉ lúc đó bà con mới có thời gian rảnh rỗi để tham gia sinh họat cộng đồng, sau khi đã làm xong công việc buôn bán hay ở sở làm.

Xin đơn cử một số công trình xây dựng điển hình mà hiện vẫn còn có giá trị thiết thực ở địa phương như sau.

1 – Trường Trung học Lương Văn Can khởi sự từ năm 1966 tại Quận 8.

Trường này được thành lập do sự vận động của số đông thân hào nhân sĩ trong quận 8 và được Bộ Giáo dục chấp thuận cho họat động với điều kiện địa phương phải lo xây dựng sao cho đày đủ cơ sở vật chất và trang bị bàn ghế cho các lớp học – trong khi Bộ cử giáo sư về lo việc giảng dậy. Như thế, đây là một thứ trường công lập để học sinh khỏi phải đóng học phí – nhờ vậy mà con em các gia đình nghèo túng ở địa phương mới có cơ hội học tiếp lên bậc trung học.

Vì thế mà ban đầu, trường có tên là “Trung học Cộng đồng Quận 8” – đây là lọai trường trung học đầu tiên ở miền Nam mà do người dân địa phương đứng ra xây dựng và thành lập, rồi được Bộ Giáo dục chấp thuận và cử thày giáo đến chăm lo phụ trách việc dậy dỗ. Sau này, trường đổi tên là “Trung học Lương Văn Can” và hiện vẫn còn họat động cho đến ngày nay. Và sau 47 năm họat động, thì tính ra đã có đến hàng vạn học sinh đã hòan tất chương trình học tập tại cơ sở này, và nhiều cựu học sinh Lương Văn Can nay đã trở thành ông nội, bà ngọai với tuổi đời trên dưới 60 nữa rồi.

2 – Cây cầu “Phát Triển” ngang qua rạch Ụ Cây, sau chợ Xóm Củi.

Rạch Ụ Cây là một con rạch nhỏ bề ngang chừng 40 mét, ngăn cách khu vực Xóm Đầm thuộc phường Hưng Phú với phường Xóm Củi là nơi thị tứ sầm uất nhất ở quận 8. Hằng ngày, có đến hàng ngàn người dân ở Xóm Đầm phải băng qua con rạch này để đến mua bán ở chợ Xóm Củi và học sinh thì qua học tại trường Tiểu học Xóm Củi. Mà họ phải trả tiền cho người chủ con đò nổi trên con rạch – chủ đò mỗi năm phải đấu thầu nơi Sở Tài chính của đô thành Saigon để được độc quyền khai thác dịch vụ chuyên chở ngang qua con rạch. Có gia đình vì nhu cầu mua bán ở chợ và con cái đi học, thì phải trả rất nhiều tiền cho việc đi qua con đò nổi này. Vì thế mà bà con bày tỏ sự mong ước có được một cây cầu bác ngang qua con rạch để vừa đi lại cho an tòan, thuận tiện, mà cũng vừa đỡ tốn tiền nữa.

Về phương diện kỹ thuật, việc xây cất một cây cầu nho nhỏ với bề rộng cỡ 2 mét và chiều dài chừng 50 – 60 mét, thì tương đối không phải là chuyện quá khó khăn. Nhưng cái khó là làm sao vận động để chánh quyền tại Tòa Đô chánh chấp thuận cho xây dựng cây cầu đó – và như vậy thì phải bãi bỏ chuyện đấu thầu – khiến cho ngân sách hàng năm của nhà nước mất đi một khỏan thu nhập đáng kể. Đó là chưa kể sự chống đối rất mạnh mẽ quyết liệt của người chủ con đò – vì họ không muốn mất đi một số lợi khá lớn cho cả gia đình, nói gì đến quyền lợi của giới có chức có quyền mà vẫn được người chủ con đò mua chuộc lấy lòng bằng đủ thứ lọai quà cáp này nọ.

Nhưng vì cần phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của số đông bà con lao động như vậy, nên chương trình chúng tôi đã phát động một chiến dịch vận động rất mạnh mẽ rộng lớn để giới chức chính quyền thể theo nguyện vọng của đồng bào mà chấp thuận việc xây dựng cây cầu này. Và kết cục chính quyền đã đồng ý và dự án xây dựng cây cầu được thực hiện trong một thời gian thật ngắn. Và đó là căn nguyên của công trình được mang tên là Cầu Phát Triển như nhiều bà con tại khu Xóm Đầm ngày nay vẫn còn nhớ đến vậy.

3 – Khu tái thiết 1,200 căn nhà tại phường Cầu Tre Bình Thới, quận 6.

Trong vụ tấn công xâm nhập vào thành phố của quân đội cộng sản hồi Tết Mậu Thân năm 1968, thì có đến mấy chục ngàn căn nhà tại 3 quận 6,7, 8 bị phá hủy. Vì thế mà chương trình phát triển chúng tôi phải ưu tiên dồn mọi cố gắng vào công cuộc tái thiết thật quy mô mà được dàn trải ra đến trên 20 khu chỉnh trang tái thiết – do các gia đình nạn nhân cùng hợp nhau thành lập thành các Ban Tái thiết cho từng khu vực để điều hành công việc xây dựng thật khó khăn mệt nhọc này.

Khu tái thiết lớn nhất nằm trong địa hạt phường Cầu Tre thuộc quận 6, giáp ranh với quận Tân Bình Gia Định, phía sau ngôi chùa cổ Giác Viên, thì có đến trên 1,200 đơn vị gia cư. Cái khó trong việc này là khu vực đó không bị tàn phá bình địa, mà vẫn còn lại nhiều căn nhà còn nguyên vẹn hay chị bị hư hại nhẹ – thế nhưng vì cần phải mở rộng đường xá cho ngay ngắn tại khu tái thiết rộng lớn này, thì cần phải hy sinh đập bỏ hết số căn nhà đó đi, để mà xây dựng lại thành những lô nhà theo họa đồ chỉnh trang hòan tòan mới. Việc này, nếu chính các chủ nhân không tự nguyện cho đập bỏ, thì chương trình chúng tôi cũng không có phương cách nào mà bó buộc cưỡng ép họ được. Do đó mà chúng tôi chỉ có thể gợi ý cho Ban Tái thiết trong khu ráng tìm cách thuyết phục các vị chủ nhân đó thỏa thuận cho phá bỏ căn nhà của mình đi – với điều kiện họ được quyền ưu tiên chọn căn nhà ở lô mặt tiền hay căn bìa.

Và kết cục, sau chừng vài năm khu tái thiết Cầu Tre Bình Thới này đã được hòan tất tốt đẹp như ta còn có thể thấy ngày nay vậy.

*     *     *

Bài viết đã dài rồi, tôi chỉ xin ghi tóm tắt thêm một vài chi tiết thật ngắn gọn như sau :

*  Trong lòng khối quần chúng nhân dân, thì bất kỳ ở đâu, lúc nào cũng đều có sẵn một tiềm năng thật quý báu dồi dào phong phú – để có thể sử dụng vào công cuộc xây dựng và cải tiến xã hội về mọi mặt tại mỗi địa phương. Như vậy, vấn đề là người cán bộ xây dựng xã hội phải tìm ra đúng cái phương pháp để khơi động khai thác được cái kho tàng năng lựợng vô biên đó. Có làm được như vậy, thì mới mong phát huy được cái sức mạnh tổng hợp của quần chúng hầu thực hiện được những công trình có quy mô rộng lớn.

*  Chương trình phát triển ở các quận 6,7,8 Saigon mới chỉ là một thí điểm trong thời gian ngắn ngủi có 6 năm đó (1965 – 1971) – mà lại giữa cái thời chiến tranh ác liệt – thì cũng chỉ mới gặt hái được một số thành quả tương đối còn khiêm tốn hạn chế mà thôi.

*  Tuy nhiên, chương trình này cũng đã có thể coi như là một chứng minh cho cái phương thức vận động quần chúng phấn khởi hăng hái tham gia nhập cuộc vào những dự án phát triển cụ thể thiết thực ở mỗi địa phương. Điểm đáng ghi nhớ tại đây là ở chỗ chương trình đã tìm cách đáp ứng đúng với nguyện vọng sâu xa cuả quần chúng là được sống an vui trong một xã hội trong đó phẩm giá của mỗi con người đều được tôn trọng đúng mức.

*  Cụ thể là cái ý hướng “Xây dựng Đời Sống Mới” đã được thể hiện thông qua nhiều công trình xây dựng cải tiến thiết thực – ngay tại nơi những xóm hẻm khuất nẻo nghèo túng, trong các khu nhà ổ chuột của tầng lớp người dân lao động cần cù lương hảo.

Và đây cũng là một minh họa cho vai trò của các đơn vị thuộc khu vực Xã hội Dân sự trong công cuộc xây dựng một cuộc sống tươi vui tốt đẹp cho chính khối quần chúng nơi những khu vực kém may mắn trong xã hội chúng ta vậy (the most underpriviledged areas)./

Costa Mesa California, trung tuần tháng Bảy năm 2013

Đoàn Thanh Liêm

Phụ   Lục

*           *           *

Vào giữa năm 1990, lúc tôi bị giam giữ tại trại B34 trong khu Tổng Nha Cảnh Sát cũ ở Saigon, thì nhân kỷ niệm năm thứ 25 ngày khởi sự của Chương trình Phát triển Quận 8 (1965 – 1990), tôi có làm mấy câu thơ để tặng các bạn cùng làm việc chung với nhau tại Chương trình này trong khuôn khổ của Kế Hoạch Xây Đời Mới (1965 – 1971).

Bài thơ gồm có 4 câu như sau đây. Xin được ghi lại để đính kèm bài viết có nhan đề “Ý hướng Xây Đời Mới trong Chương trình Phát triển Quận 6,7,8 Saigon (1965 – 1971)

Tặng các bạn Xây Đời Mới

Quận Tám năm xưa cùng Phát Triển

Ngày đêm lặn lội – vai sánh vai

Đời Mới ước mơ thời trai trẻ

Vẫn còn tươi nét – chẳng phôi phai.

Trại B34 Saigon

Tháng 8 năm 1990

Đoàn Thanh Liêm

Vẫn Đỏ nhưng bớt giáo điều?

Vẫn Đỏ nhưng bớt giáo điều?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-07-03

Vẫn Đỏ nhưng bớt giáo điều? Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Tranh cổ động chào mừng ngày 2/9 tại Hà Nội, ảnh chụp hôm 28/8/2014.

Tranh cổ động chào mừng ngày 2/9 tại Hà Nội, ảnh chụp hôm 28/8/2014.

AFP PHOTO / HOANG DINH Nam

Your browser does not support the audio element.

Đảng sau Tổ quốc, dân tộc và Hiến pháp?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có vẻ thể hiện điều gọi là mới mẻ bớt giáo điều hơn các nhà lãnh đạo khác của chế độ, khi ông là người đầu tiên xếp vị trí của Đảng đi phía sau Tổ quốc, dân tộc và Hiến pháp.

Báo chí Việt Nam trong đó có Thanh Niên Online đưa tin, trong dịp tham dự Đại hội thi đua quyết thắng toàn quân lần thứ IX tổ chức ngày 1/7/2015 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ mong muốn quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Dân tộc, với Hiến pháp. Lâu nay, tất cả các nhà lãnh đạo của nhà nước cộng sản Việt Nam khi phát biểu chính trị đều rập khuôn công thức quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng sau đó mới tới Tổ quốc và Nhân dân.

Khái niệm quân đội phải trung thành với Đảng sau đó mới đến Tổ quốc và Nhân dân là một sự quen thuộc đến hiển nhiên ở Việt Nam và chỉ từ khi mạng xã hội bùng nổ, các nhà báo tự do, giới blogger mới có nhiều bài viết châm biếm về khái niệm gọi là không giống ai này. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thể hiện một sự điều chỉnh đáng chú ý, dù rằng ở vế thứ hai ông vẫn xác định quân đội phải nghiêm túc chấp hành sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước….

” Ông ấy cũng không coi nhẹ chuyện trung thành với Đảng đâu ạ, đến câu sau thì ông ấy nói rất kỹ về điều đó… những ai mà nghĩ rằng có một sự thay đổi gì lớn… thì họ nên đọc kỹ lời phát biểu của ông Thủ tướng.
-TS Nguyễn Quang A”

Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có hàm chứa sự thay đổi nào hay không trong khái niệm quân đội Việt Nam trước tiên là phải trung thành với Đảng. TS Nguyễn Quang A, nhà phản biện độc lập từ Hà Nội nhận định:

“Không có gì là mới cả, bởi vì ông ấy nói trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân rồi với Hiến pháp. Thực sự thứ tự đó cũng giống như ở trong Hiến pháp là Tổ quốc Nhân dân rồi Đảng. Tôi nghĩ có thể ông ấy hơn những người khác có những đầu óc cũ kỹ của thời xưa đặt Đảng lên trên đầu, còn ông Thủ tướng tuân thủ đúng như lời văn của Hiến pháp vừa rồi. Nhưng ông ấy cũng không coi nhẹ chuyện trung thành với Đảng đâu ạ, đến câu sau thì ông ấy nói rất kỹ về điều đó… những ai mà nghĩ rằng có một sự thay đổi gì lớn… thì họ nên đọc kỹ lời phát biểu của ông Thủ tướng.”

Giáo sư Tiến sĩ Vũ Minh Giang Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương Khóa 10 từ Hà Nội nói với chúng tôi, là ông không thấy có sự thay đổi gì trong phát biểu của Thủ tướng vì khái niệm Quân đội trung thành với Đảng không xa lạ với Việt Nam. Theo ông, dư luận bên ngoài chú ý nhiều tới thứ tự câu chữ khi nói về sự trung thành của quân đội, vì thực sự có sự khác biệt giữa các quốc gia. GSTS Vũ Minh Giang nhận định:

“Nếu mà nói về sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước thì có vấn đề ấy thật là bởi vì ngay cả trong những qui định có tính chất pháp luật thì quân đội là tổ chức chịu sự lãnh đạo toàn diện tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy cho nên trung thành với Đảng là cách ở Việt Nam nghe cũng quen rồi và cũng bình thường.”

Đối với các ý kiến trên mạng xã hội cho rằng, quân đội ở bất kỳ quốc gia nào cũng có lời thề trung thành và bảo vệ tổ quốc, còn ở Việt Nam thì quân đội có lời thề theo trình tự là trung thành với Đảng sau mới đến Tổ quốc và nhân dân. Sự kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người đầu tiên đã thay đổi trình tự gần hơn với quan niệm chung trên thế giới được nhìn nhận như thế nào. GSTS Vũ Minh Giang nhận định:

“Tôi cũng nghĩ rằng, một quân đội thì trước hết phải vì lợi ích của dân tộc, lợi ích của quốc gia. Tất cả những giá trị khác theo tôi nó cũng xoay quanh giá trị cốt lõi ấy. Một đất nước nào thì dân tộc và quốc gia cũng được coi là giá trị trung tâm, tất cả những giá trị khác kể cả chính trị …đều phải xoay quanh giá trị này thôi. Vì vậy Thủ tướng có nói phải trung thành với Tổ quốc thì cũng là quan niệm bình thường thôi.”

000_DV1889379.jpg

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị thượng đỉnh Á Âu (ASEM) tổ chức tại Milan, Ý vào ngày 16 tháng 10 năm 2014.

Trong bài nói chuyện tại Đại hội Thi đua quyết thắng toàn quân lần thứ IX Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đảo ngược trình tự về nhiệm vụ của quân đội, ông mong muốn quân đội một lòng xây dựng quân đội ngày cảng vững mạnh về mọi mặt; kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân; bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ.

GSTS Vũ Minh Giang nhận định:

“Trong những văn kiện đưa ra lấy ý kiến rộng rãi và đây có lẽ cũng là điểm mới của Đại hội 12, nêu rất cao lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia, coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Tôi coi xác định như thế là đúng, thế còn các hệ thống chính trị, lực lượng chính trị hay tất cả những cái khác thì phải coi đó là cốt lõi lợi ích dân tộc của một quốc gia là hàng đầu. Vì vậy quân đội là quân đội nhân dân được nhân dân nuôi nấng, được trang bị bằng tiền thuế của người dân thì trước nhất phải bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc. Thế còn đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị theo qui định Điều 4 Hiến pháp là lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị thì quân đội có trách nhiệm bảo vệ Đảng. Tôi nghĩ Thủ tướng nói như thế là đúng.

Cần minh bạch thông tin

Đọc các báo trên mạng tuần này, như Tuổi Trẻ, Tiền Phong, VnExpress chúng tôi ghi nhận tin Đại tướng Phùng Quang Thanh Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam được giải phẫu cắt khối u ở phối ở Pháp và sắp trở về Việt Nam. Tuy vậy những thông tin chính thức xuất hiện ngày 2/7/2015 chậm một tuần sau khi ông Phùng Quang Thanh đã rời Việt Nam và trên các trang facebook râm ran tin đồn ông bị ám sát chết.

GSTS Vũ Minh Giang nhận định:

“Cũng có thể do thói quen mang tính truyền thống, cũng có thể do tính nguyên tắc của mỗi nước. Xưa nay cán bộ cao cấp đi chữa bệnh điều trị thì không bao giờ loan báo, hình thành lệ thường như thế. Vài ngày qua có những tin tức như vậy nên cũng cần có thông báo như cách để cải chính lại những tin không đúng. Bình thường nếu không có những tin đồn đoán thì chắc cũng chẳng đưa. Tôi nghĩ đưa tin đó ra bởi vì có tin trên mạng nói ông ấy gặp nạn ở Paris thì việc đưa tin là một cách cải chính.”

” Tôi được bạn bè cho biết ông Phùng Quang Thanh sang Pháp chữa bệnh, ông được mổ cũng năm ba ngày rồi. Những thông tin như thế họ phải có nghĩa vụ đưa ra để cho dư luận được biết nhưng mà họ không đưa ra.
-TS Nguyễn Quang A”

Ở những quốc gia văn minh dân chủ, chính phủ công khai thông tin về tình trạng sức khỏe của các giới chức cao cấp kể cả thủ tướng, tổng thống để người dân được biết. Có ý kiến cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam cần thay đổi tư duy về vấn đề này. TS Nguyễn Quang A nhận định:

“Đấy là một sự thiếu khôn ngoan của họ về vấn đề bí mật thông tin. Bởi vì họ càng giấu bao nhiêu, càng bí mật bao nhiêu thì càng làm cho dư luận nghi ngờ. Bản thân tôi được bạn bè cho biết ông Phùng Quang Thanh sang Pháp chữa bệnh, ông được mổ cũng năm ba ngày rồi. Những thông tin như thế họ phải có nghĩa vụ đưa ra để cho dư luận được biết nhưng mà họ không đưa ra và đến sáng nay thì Tuổi Trẻ mới đưa và vừa rồi ở trong buổi chiêu đãi quốc khánh Mỹ tôi gặp một vài người, họ cho biết Tuổi Trẻ đang bị kiểm điểm. Tôi nghĩ rằng đấy là một cách rất là không khôn ngoan về việc minh bạch thông tin và chính việc không minh bạch thông tin đã làm cho sự chính danh của chế độ cộng sản này bị xói mòn đi. Điều này họ phải tự trách mình vì chính họ làm hỏng cho họ.”

Theo Infonet và Tiền Phong Online, chiều 2/7 GS Phạm Gia Khải, thành viên Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương cho biết Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh sang Paris Pháp chữa bệnh từ ngày 24/6/2015 vừa qua. Ông Thanh đã được giải phẫu cắt bỏ khối u xơ ở phổi. Tình trạng sức khỏe của Đại tường Phùng Quang Thanh là ổn định không có diễn biến xấu và tới đây sẽ về Việt Nam. Tuy vậy bản tin không xác định bao giờ ông Bộ trưởng trở về nước.

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh 66 tuổi là Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng và được dự báo ở trong danh sách ứng cử các chức vụ lãnh đạo chủ chốt trong kỳ Đại hội Đảng khóa 12 năm 2016. Ông Phùng Quang Thanh nổi tiếng về những phát biểu thân Trung Quốc trong thời gian vừa qua. Hiện chưa rõ tình trạng sức khỏe của ông Phùng Quang Thanh có ngăn trở bước đường công danh của ông hay không.

Chuyện Của Đám Con Sen & Thằng Ở

Chuyện Của Đám Con Sen & Thằng Ở

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

RFA

Những đứa bé trai và gái bưng thức ăn cho khách vẫn là những đứa bé đã được mô tả trong tiểu thuyết Nam Cao hay Trương Tửu cách đây năm sáu thập niên, còm cõi, nhọc nhằn, cơ cực, chỉ biết cúi đầu vâng dạ và sống quen với lo âu, sợ hãi….

Bùi Bích Hà

Qua đến mùa mưa thứ hai ở Cambodia thì tôi đủ tự tín để nghĩ rằng: chỉ cần vài ba trăm đô la là mình có thể sống “ung dung” cả tháng ở cái xứ sở (dễ thương) này.

Ăn sáng rẻ rề hà. Cà phê pha vợt thêm một cái bánh tiêu hay bánh quẩy chỉ 60 xu, nếu tính theo Mỹ Kim bản vị. Cháo lòng và hủ tíu thì mắc hơn chút xíu, giá cả “dao động” từ 80 xu đến 90 xu thôi.

Cơm trưa hoặc chiều [canh chua cá (đủ loại) canh khổ qua nhồi thịt, giá xào đậu hũ, sườn ram, cá lóc nướng (cỡ cườm tay), trứng chiên, thịt heo kho tầu, mắm chưng, bò xào khóm …] đồng gía 4.000 riel, tương đương với một dollar. Thêm phần cơm trắng một quarter nữa là xong bữa.

Nhớ thử canh chua nấu theo kiểu Khmer nha, mấy cha. Bất cứ loại cá, hay loại rau nào mà lọt vô tay người dân xứ này là họ đều bỏ vô nồi canh chua tuốt luốt. Bởi vậy, thực khách có thể thưởng thức mười bốn tô canh chua liên tiếp trong một tuần, với mùi vị hoàn toàn khác nhau, và tô nào cũng ngon hết biết luôn.

Chỉ có điều phải phàn nàn là khứa cá thường nhỏ xíu, và mỏng tanh hà, nhứt là cá lóc. Nói là mỏng như tờ giấy thì hơi quá đáng nhưng nói khác đi thì thiệt tình là tôi không biết nói làm sao cho đúng. Nhưng nói tóm lại thì chỉ cần một đồng rưỡi, và đừng bầy đặt bia bốc hay rượu chè gì ráo, là sẽ được một bữa ăn bảo đảm là no bụng tuy hơi có phần đạm bạc.

Muốn cho tươm tất và bảnh bao thì phải ra khỏi những con hẻm nhỏ (“hắt hiu vàng ánh điện câu”) ở ngoại ô Phnom Penh, rồi “giả dạng” làm du khách, hiên ngang kêu Taxi ra trung tâm thủ đô cho nó ngon lành.

Trên đại lộ Shihanouk có Ngon Restaurant. Không phải món nào ở đây cũng “ngon” nhưng phần lớn đều ăn được. Thử kêu một ơ cá rô kho tiêu với một tô cơm trắng coi, chắc chắn là sẽ quên đường về luôn – nhứt là khi mình (lại) chưa biết là sẽ về đâu.

Còn muốn đổi không khí cho nó có vẻ Tây chút xíu thì ghé quán Cái Muỗm (The Spoon Restaurant) nằm trên Tchecoslovaquie Blvd. Thực khách chỗ này, ngó bộ, đều hơi snobbish. Nghe nói phần lớn họ đều là giới chức hành chánh hay quân sự cao cấp của xứ Chùa Tháp. Cả hai loại người này tôi đều rất ghét (vì cái hối lộ hay thói tham nhũng vô độ của họ) nên ghét luôn …cái quán, dù các em tiếp viên nam/nữ đều rất dễ thương và nước mắm (để ăn với cơm gà Hải Nam) ở đây ngon tuyệt̉.

Có bữa, tôi và cả đám cộng tác viên – tân cũng như cựu – của RFA (ở Nam Vang) được ông Mặc Lâm mời ăn trưa tại Khmer Surin Restaurant, trên đường 57. Tiệm ăn nhiều tầng, có luôn khách sạn, rất sạch sẽ, rất đẹp đẽ và giá cả – tất nhiên – không nhân nhượng xíu nào ráo trọi. Bù lại là thức ăn không dở, với khung cảnh thiên nhiên và tình tứ.

Từ trái: Quốc Việt, Danh Hồng, Mặc Lâm. Ảnh: Sơn Trung

Tui uống rất tiết độ, nếu uống một mình. Còn khi được “mời” (nghĩa là uống free) thì khác. Tôi uống tì tì. Đang săm soi tìm rượu, tính kiếm một chai gì đó thiệt mắc cho có cha đứt ruột chơi thì chợt nghe tiếng đám đông lào xào trong quán.

Tôi ngẩng nhìn và thấy hàng trăm thực khách, phần lớn đều là phụ nữ, mặc đồng phục, có in đậm ba chữ ILO (International Labour Organization) đang xếp hàng đi qua trước mặt.

  • Ủa, chuyện gì vậy cà?

Sơn Trung, thổ công của Phom Penh, đáp liền:

  • Ồ, bữa nay là ngày hội của “domestic worker” mà anh. Hội của những người giúp việc. Chắc họ họp ở tầng trên bây giờ xuống ăn trưa đó.
  • Trời, ô sin mà cũng họp hành ở khách sạn nữa sao? Em nói thiệt không vậy?
  • Dạ, thiệt chớ. Đây là Phnom Penh, chớ đâu phải Sài Gòn hay Hà Nội.

Những người giúp việc nhà ở Phnom Penh đang dùng cơm trưa tại Khmer Surin Restaurant. Ảnh: Quốc Việt.

Tôi bán tin bán nghi cho đến khi đọc được bản tin (“Domestic Workers Push for Protections”) của ký giả Pech Sotheary trên  The Phnom Penh Post:

“Những Người Giúp Việc Nội Trợ Thúc Đẩy Việc Bảo Vệ Quyền Lợi”

Ngày hôm qua, bốn mươi tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế đã kêu gọi Chính phủ Căm Bốt phê chuẩn Hiệp định năm 2011 về NNGVNT của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nhằm bảo vệ tốt hơn quyền của NNGVNT Căm Bốt, cả ở bên trong lẫn bên ngoài đất nước.

Bức thư, trong đó nói rõ NNGVNT của Vương quốc hiện nay không được luật pháp bảo vệ, đã được các nhóm đấu tranh cho nhân quyền đồng ký tên, như “Licadho”, “Trung tâm hướng dẫn luật pháp Căm Bốt”, “Mạng lưới NNGVNT Căm Bốt” (CDWN), cùng nhiều nhóm khác.

Theo Hiệp định của ILO, NNGVNT phải được hưởng những điều kiện sống và làm việc xứng đáng, có ngày nghỉ, có quyền thương lượng tập thể và “được bảo vệ chống lại mọi hình thức hành hạ, sách nhiễu và bạo lực.

Phó Giám đốc CDWN, bà Yem Sothy cho biết, 240000 NNGVNT trong nước và nhiều nghìn người ở nước ngoài sẽ được hưởng lợi nhờ sự tham gia của Căm Bốt vào Hiệp định. “Nếu có được sự đồng thuận, những công nhân này sẽ được trả lương đúng mức… và được hưởng những ngày lễ để họ về thăm nhà”, bà nói.

Hai Somaly, 20 tuổi, quê ở Kandal, đã đến Phnom Penh làm người giúp việc, khi cô mới chỉ có mười tuổi. Theo cô, những người giúp việc phải đứng ở một địa vị thấp kém trong xã hội Căm Bốt, và thường bị bóc lột.

“Tôi muốn luật pháp bảo vệ chúng tôi và tôi cũng muốn được hưởng mức lương tối thiểu như những công nhân ngành khác”.

(“Domestic Workers Push for Protections, The Phnom Penh Post, 11 Dec. 2014. Trans. Bùi Xuân Bách”).

Cái thứ con sen và thằng ở (ở) Việt Nam mà cũng ăn nói kiểu đó thì có mà bỏ mẹ, hay … bỏ mạng. Tất cả có bao giờ  dám nói năng gì đâu mà vẫn cứ bị roi vọt đều đều:

VNEXPRESS :

“Sau khi bị tra tấn bằng kìm, chọc que sắt nóng vào vùng kín đến ngất xỉu, một nữ nhân viên nhà hàng đặc sản thú rừng Thanh Loan (huyện Lương Sơn, Hòa Bình) đã bị vứt ra đường.”

Tiền Phong:

“Nguyễn Thị Bình quê ở huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) được mẹ đưa ra Hà Nội làm tại quán phở của ông Chu Minh Đức và vợ là Trịnh Hạnh Phương …  từ năm em 10 tuổi.

Suốt hơn 10 năm qua, Bình phải làm việc quần quật suốt từ 3 giờ sáng đến tận đêm khuya. Sau khi làm xong việc trong nhà, em phải ra quán phở xách nước, thu dọn bát đũa, chuyên chở nước dùng, bánh phở, đưa thịt đi thái, quét dọn… nhưng vẫn bị hành hạ, đối xử như một nô lệ.

Theo lời Bình kể, em bị đánh thường xuyên, lúc thì do làm mất lòng chủ, lúc thì do sơ suất để vỡ một cái bát hoặc làm đổ nước ra nhà. Ông, bà chủ dùng dây điện thắt nút quất liên tiếp vào mặt, lưng; dùng kìm kẹp vào mạng sườn; bắt em quỳ ngoài sân giữa đêm khuya, trời lạnh nhiều tiếng đồng hồ…”

Trong khi Nguyễn Thị Bình bị hành hạ ở Việt Nam thì “đồng nghiệp” của cô cũng đồng loạt bị ngược đãi ở xứ người –  theo tin tức được phổ biến bởi Ban Điều Hợp VNSN (Những Cuộc Đời Bất Hạnh) vào hôm 15 tháng 5 năm 2015:

1. Lấy Chồng Nước Ngoài: 1 Phụ Nữ Việt Nam Chết sau một ngày làm dâu
http://www.youtube.com/watch?v=OCk8YlOORTw

2. Lời cầu cứu của nô lệ xứ người !
http://www.youtube.com/watch?v=8FN3QRcJ6Ac

3. Tiếng kêu than của công nhân Xuất Khẩu Lao Động
http://www.youtube.com/watch?v=SvRnaD_1YA8

4. Nạn Buôn Người Ở Việt Nam 2 – Nữ công nhân Việt xuất khẩu qua Malaysia
https://www.youtube.com/watch?v=vEo9tXIFxpM

5. Nạn Buôn Người Ở Việt Nam 1 – Những Nữ công nhân Việt Ở Jordan Bị Bóc Lột
https://www.youtube.com/watch?v=7we6ZMhH84k

6. Nạn Buôn Người Ở Việt Nam 3 – Nữ Osin Việt Nam ở Malaysia bị bóc lột
https://www.youtube.com/watch?v=jN5jQRpjqvE

7. Tệ Nạn Buôn Bán Phụ Nữ và Trẻ Em tại Việt Nam
https://www.youtube.com/watch?v=L8jyWiq2lWQ

Ngoài ra, trên tạp chí Bốn Phương (phát hành tại Đài Loan) người ta đọc được một lá thư – song ngữ, Việt/Hoa – của linh mục Nguyễn Văn Hùng, kêu gọi giúp đỡ cho một nam công nhân vừa bị tai nạn. Xin chỉ ghi lại nguyên văn (phần tiếng Việt) để rộng đường dư luận:

“Kính thưa anh chị em công nhân, cô dâu Việt Nam tại Đài Loan!

Tôi xin quý anh chị em công nhân và cô dâu người Việt hãy rộng tay giúp đỡ cho trường hợp của chị Dương Thị Toàn.”

“Sau khi người thân của anh Hùng, chồng chị Toàn, liên lạc với Văn Phòng nhờ giúp đỡ, Văn phòng đã cho nhân viên xã hội lên bệnh viện thăm anh Hùng. Nếu anh Hùng không phải trả một số tiền khổng lồ cho môi giới Việt Nam, thì có lẽ anh đã không phải trốn ra ngoài để đi làm kiếm tiền trả nợ mà đã về đoàn tụ với vợ con gia đình. Vì số tiền môi giới quá lớn đã trói chặt anh vào số phận lao động nô lệ, biến anh thành nạn nhân của tệ nạn bóc lôt và buôn bán con người.”

“Chính phủ Việt Nam vẫn làm ngơ trước những hành vi bóc lột công nhân qua số tiền môi giới phải trả trước khi rời Việt Nam! Bao lâu chính phủ Việt Nam chưa có luật pháp chế tài đối với các trung tâm môi giới hút máu người qua việc thu tiền lệ phí quá cao thì những trường hợp thương tâm như anh Hùng vẫn còn xảy ra hàng ngày.”

Mười năm sau, “Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục làm ngơ,” cứ y như chưa bao giờ có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra – theo tường thuật của ký giả Anh Tuấn, báo Lao Động, số ra ngày 18 tháng 4 năm 2015:

“Hơn tháng qua, hai lao động do chi nhánh Cty CP Việt Hà – Hà Tĩnh (VIHATICO, ngõ Anh Sơn, đường Đỗ Đức Dục, phường Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội) đưa đi làm việc tại Qatar đang sống vật vờ do không được bố trí việc làm, phải đi xin ăn từng bữa nơi đất khách.”

Những Người Giúp Việc Nhà biểu dương lực lượng trước Bộ Lao Động, ở thủ đô Phnom Penh. Ảnh: Sen David. Nguồn: The Phnom Penh Post

Bao giờ thì ở cái nước Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc của chúng ta sẽ có Trung Tâm Hướng Dẫn Luật Pháp (Legal Education Center) và Mạng Lưới Người Nội Trợ (Domestic Worker Network) để bảo vệ quyên lợi của những người giúp việc nhà trong, cũng như ngoài nước – để họ “phải đi xin ăn từng bữa nơi đất khách”?

Khi nào thì giới ô sin Việt Nam được quyền đòi hỏi nhận tiền lương tối thiểu, ngày nghỉ cuối tuần, và những ngày nghỉ lễ được về thăm nhà – như đồng nghiệp của họ ở bên Cambodia?