Việt Nam sai khi ‘nhờ cậy’ Trung Quốc cứu hạn

Việt Nam sai khi ‘nhờ cậy’ Trung Quốc cứu hạn
Nguoi-viet.com

CẦN THƠ (NV)Ðó là nhận định của ông Lê Anh Tuấn, phó giám đốc Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu thuộc Ðại Học Cần Thơ. Nhận định này được trình bày trên tờ Thơi báo Kinh tế Sài Gòn.

Ðồng bằng sông Cửu Long đang đối diện với một đợt hạn hán chưa từng có. Do trời nóng nhiều ngày, ít mưa, lưu lượng nước giảm từ 30% đến 60% và do Trung Quốc trữ nước để vận hành các công trình thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong, tại đồng bằng sông Cửu Long đang có hàng trăm ngàn hecta lúa và các loại cây khác chết khô, hàng triệu người khốn khổ do thiếu nước ăn uống.


Ông Thạch Thanh (42 tuổi) ở vùng bị mặn xâm nhập nặng thuộc huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, bần thần bên ruộng lúc khô cằn, nứt toác. (Hình: VNExpress)

Hôm 15 tháng 3, 2016, Trung Quốc đã bắt đầu xả nước từ đập thủy điện Cảnh Hồng, tọa lạc tại tỉnh Vân Nam để hỗ trợ Việt Nam chống hạn. Trong khi Việt Nam đề nghị để giúp ngăn mặn, giảm thiệt hại do hạn hán, Trung Quốc nên xả nước nhiều đợt từ nay đến trung tuần tháng 8, mỗi đợt khoảng bảy ngày, lưu lượng xả phải vào khoảng 2.300 khối mỗi giây thì Bộ Ngoại Giao Trung Quốc thông báo, việc xả nước chỉ kéo dài cho đến ngày 10 tháng 4.

Theo các viên chức Việt Nam thì phải mất khoảng nửa tháng, nước từ đập thủy điện Cảnh Hồng mới về tới đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy việc Trung Quốc xả nước không như Việt Nam mong muốn nhưng một số viên chức Việt Nam hy vọng, nhờ vậy, nước mặn sẽ bị chặn lại, không lấn sâu hơn vào đất liền và các địa phương sẽ có nước để tổ chức tích trữ.

Trong bài viết có tựa là “Hạn, mặn ở đồng bằng sông Cửu Long: Có nên trông chờ vào thủy điện Trung Quốc?,” ông Tuấn không xem việc Trung Quốc xả nước, hỗ trợ Việt Nam chống hạn là đáng “phấn khởi.”

Ông nhấn mạnh, Trung Quốc không cho biết sẽ xả bao nhiêu nước và phương thức xả (liên tục hay gián đoạn trong khoảng thời gian từ nay đến 10 tháng 4. Ông Tuấn bảo rằng, điều đó chẳng có gì lạ vì xưa nay, tin tức và số liệu về thủy văn từ phía Trung Quốc lúc nào cũng rời rạc và mơ hồ như vậy.

Ông Tuấn cho biết, mỗi năm, đoạn thượng nguồn sông Mekong chảy trên đất Trung Quốc đóng góp khoảng 21% lượng nước cho khu vực trung lưu và hạ lưu của con sông này. Ðập của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng (Jinghon) là nơi gần Lào nhất. Bên trên Cảnh Hồng còn năm đập nước khác trong chuỗi 14 đập nước mà Trung Quốc dự tính xây dựng tại thượng lưu sông Mekong. Dung tích hữu dụng của hồ chứa nước thuộc nhà máy thủy điện Cảnh Hồng là 249 triệu mét khối nước. Nếu Trung Quốc chỉ dùng hồ chứa nước thuộc nhà máy thủy điện Cảnh Hồng để giúp Việt Nam chống hạn theo đề nghị của Việt Nam thì chỉ sau 30 tiếng, hồ chứa nước của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng sẽ cạn.


Bản đồ phác họa tình trạng hạn hán và nước mặn xâm nhập đồng bằng sông Cửu Long. (Ðồ họa: zing.vn)

Cũng vì vậy, hy vọng nước từ nhà máy thủy điện Cảnh Hồng sẽ giúp ngăn mặn, tích trữ để chống hạn bị ông Tuấn xem là hão huyền. Ông Tuấn cho rằng, có nhiều lý do khiến đề nghị Trung Quốc xả nước giúp Việt Nam ngăn mạn và giảm thiệt hại bởi hạn hán là thiếu khôn ngoan. Với đặc điểm như đã kể của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng, Trung Quốc sẽ chỉ xả cầm chừng, rửa được tiếng nhơ (vô trách nhiệm trong sử dụng tài nguyên, hủy diệt môi trường và nguồn sống của hàng trăm triệu người), mua được tiếng tốt (có trách nhiệm với các quốc gia ở khu vực hạ lưu sông Mekong) mà vẫn duy trì được hoạt động của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng.

Ngoài ra do khoảng cách từ nhà máy thủy điện Cảnh Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long lên tới 4,000 cây số, địa hình của Lào, Thái Lan, Cambodia lại có nhiều nhánh, vùng trũng nên theo ông Tuấn lượng nước thật sự về tới đồng bằng sông Cửu Long sẽ chẳng còn được bao nhiêu.

Chưa kể khi về tới đồng bằng sông Cửu Long, lượng nước mà nhà máy thủy điện Cảnh Hồng xả ra sẽ không cứu cho hàng trăm ngàn hecta lúa và cây trồng khác đã chết khô sống lại.

Giữa tháng 4, thời điểm nhà máy thủy điện Cảnh Hồng ngưng xả nước là thời điểm toàn khu vực không có mưa, hạn hán sẽ nghiêm trọng hơn. Quyết định của Trung Quốc: Xả nước giúp Việt Nam chống hạn chẳng đem lại lợi ích nào thật sự tích cực cho Việt Nam.

Phó giám đốc Viện Nghiên Cứu Biến Ðổi Khí Hậu thuộc Ðại Học Cần Thơ nhắc lại kinh nghiệm của nhiều quốc gia khác, đó là khi đối diện với hạn hán nghiêm trọng, người ta chấp nhận thiệt hại, không tìm mọi cách để chuyển nước từ nơi khác đến để cứu hạn vì điều đó vô nghĩa do tốn kém quá mức, hiệu quả kinh tế rất thấp. Bên cạnh đó, các quốc gia này đều tích lũy nguồn lực để hỗ trợ thích đáng những người bị thiệt hại do hạn hán nói riêng và thiên tai nói chung.

Ông Tuấn cho rằng, đợt hạn hán và nước mặn xâm nhập lần này là một cơ hội để xem lại tính hiệu quả của hàng loạt chính sách mà chính quyền Việt Nam đã thực hiện trong quá khứ, bất chấp các khuyến cáo từ giới chuyên gia: Ngọt hóa vùng ven biển. Thoát lũ ra biển Tây. Xây dựng hệ thống đê bao, phá bỏ hai hồ chứa nước tự nhiên lớn nhất ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long là Ðồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên để tăng diện tích trồng lúa.

Theo ông Tuấn, dẫu hậu quả của đợt hạn hán và nước mặn xâm nhập lần này rất nghiêm trọng nhưng nó sẽ trở thành tích cực nếu xem lại toàn bộ định hướng phát triển kinh tế-xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long. (G.Ð)

Sầm Sơn & Đồ Sơn

Sầm Sơn & Đồ Sơn

tuongnangtien

RFA

“Một người đến Sầm Sơn trước và sau khi đọc Trống Mái sẽ … nhìn Sầm Sơn khác đi. Bởi quyến vọng biển, núi, mây, nước trong tác phẩm có khả năng thúc đẩy, chuyển biến, có khả năng thay đổi con người, mời gọi viễn du, invitation au voyage, nói theo Bachelard. Và nói theo ngôn ngữ hàng ngày, Trống Mái có khả năng sáng tạo lại môi sinh, tìm về một thế giới nguyên thủy, ở đó có sự thăng hoa của con người đến bầu trời tự do sáng tạo.”

Tôi chưa bao giờ có cơ hội được đặt chân đến Thanh Hoá, và cũng chưa đọc tác phẩm Trống Mái nên không khỏi cảm thấy xấu hổ (lẫn ngạc nhiên) khi xem đoạn văn thượng dẫn của nhà phê bình văn học Thụy Khuê.

Tôi xấu hổ vì vốn kiến thức cùng vốn sống nghèo nàn/hạn hẹp của mình, và ngạc nhiên về khả năng (“thay đổi con người, mời gọi viễn du, invitation au voyage”) của thiên nhiên, qua ngòi bút Khái Hưng.

Nếu nhà văn của chúng ta đừng bị thủ tiêu vào năm 1947, và vẫn sống cho đến hôm nay – chắc chắn – ông cũng kinh ngạc (không ít) khi biết ra rằng Sầm Sơn còn có khả năng “khêu gợi lòng tham” nữa. Bãi biển này, trong những ngày qua, đã làm xôn xao dư luận.

Bãi biển Sầm Sơn. Ảnh: Tuấn Minh

Xin ghi lại đây là vài nhận định – ở trong cũng như ngoài nước, và của cả hai lề – để rộng đường dư luận.

  • Bùi Thanh Hiếu: “Cướp lớn ở Sầm Sơn… Liên tiếp những ngày đầu tháng 3 năm 2016, các ngư dân thuộc thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã biểu tình để phản đối dự án khu ăn chơi nghỉ dưỡng của tập đoàn FLC triển khai ở bờ biển Sầm Sơn.”
  • Thạch Lựu: “Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được, ngày 03/3/2016 cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự ‘gây rối trật tự công cộng’ và đang tiến hành điều tra, củng cố chứng cứ về hành vi phạm tội của một số đối tượng để xử lý nghiêm trước pháp luật.”
  • Văn Thị Hương: “tôi thử hỏi, 100 triệu các đồng chí bồi thường cho mỗi hộ dân, họ làm gì khi nguồn thực phẩm chính của họ bị mất, đất đai ruộng vườn không còn, khu công nghiệp không có, giá đất tăng vọt, lạm phát tăng, tệ tham nhũng chưa hết?”
  • Hoàng Anh – Văn Hùng:  “Điều bức xúc của người dân Sầm Sơn… Sau khi nhường hết đất cho Cty CP Tập đoàn FLC xây dựng các đại dự án sân golf, resort, khách sạn nghỉ dưỡng…, hàng nghìn người dân ở các xã Quảng Cư, phường Trung Sơn, Trường Sơn, Bắc Sơn… thuộc thị xã Sầm Sơn (tỉnh Thanh Hóa) chỉ còn sinh kế cuối cùng là bám biển mưu sinh. Vậy mà cũng chẳng yên…

Theo quan sát của phóng viên, hàng trăm người dân các xã Quảng Cư, phường Trung Sơn, Trường Sơn và Bắc Sơn đã tập trung trước cổng UBND tỉnh Thanh Hóa. Họ mang theo mỳ tôm, bánh mỳ, nước uống và cả chăn chiếu để chờ đợi gặp lãnh đạo tỉnh. Tuyến đường chính trước cổng UBND tỉnh phải lập hàng rào, hàng chục công an, cảnh sát được huy động để giữ trật tự. Người dân kiên trì chờ đợi.

Chúng tôi sẽ sống bằng gì nếu mất bãi biển”?

Ảnh: Tuấn Minh

Nỗi băn khoăn về sinh kế của người dân Sầm Sơn, trong những ngày tháng tới, khiến tôi chợt nhớ đến Đồ Sơn và sự “phồn thịnh” ở nơi đây nhờ vào dịch vụ bán dâm:

“Bãi biển Đồ Sơn nằm trong những bãi biển du lịch nổi tiếng. Nhưng nói không ngoa chút nào, nếu thiếu và yếu cái dịch vụ đi kèm thì Đồ Sơn chẳng thu hút được mấy khách. Từ lâu, những cô gái chân dài tứ xứ đã đổ về đây cư ngụ, mưu sinh bằng cái thứ mà ông trời ban phát. Hễ nói đi Đồ Sơn là nhiều người lại nháy mắt nhìn nhau bí hiểm. Bởi đến đây, ngoài mục đích là tắm biển thì cái thú vui duy nhất được khách du lịch quan tâm tới đó là…chơi gái…

Ở Đồ Sơn người ta gọi cái nghề bán miền xuôi, nuôi miền ngược này là ngành công nghiệp không khói hay còn nói hay ho là nghề làm giàu không khó. Xây một cái nhà nghỉ, nuôi mấy ả cave, chăn thêm mấy đứa bảo kê là ngồi một chỗ đếm tiền. Tiền vào như nước, mỗi ngày vài chục triệu đồng dễ ợt. Trong khi nền kinh tế suy thoái chưa có hồi kết nhưng những tụ điểm mây mưa, thác loạn như thế này thì vẫn ăn nên làm ra.” (Biên Thùy – “Những Cuộc Mua Vui Nhớp Nháp Ở Đồ Sơn”).

Số lần “nhớp nháp” của khách mua vui đều được ghi chép cẩn thận trong nhật ký của người bán. Xin xem qua đôi dòng của ký giả Anh Đào viết về một cuốn Nhật Ký Đồ Sơn:

Nguồn ảnh: báo Lao Động

“Đó là nhật ký ‘làm việc’ của một cô gái mại dâm gần như kín các dấu ‘X’. Sở dĩ phải ghi chép là để cuối tháng, cuối tuần, cuối ngày ‘đọ sổ’ với chủ mà thanh toán tiền, giống hệt với một dạng ‘chấm công’. Đây là một đoạn trong bài viết: ‘Những ký hiệu dấu sao ‘*’ trong vòng tròn, đó là ‘đi qua đêm’ và được tính bằng 3 ‘cuốc’ đi nhanh. ..Dấu ‘X’ có gạch dưới là những lần đi một lần, tính với chủ là 1, nhưng em cho khách làm 2, được bo khá. Còn cái dấu ‘X’ nằm trong ô vuông thì em không nói gì cả, nhất định không chịu nói ra. Như vậy, đây là một dạng ‘văn vật’ có hồn. Có ngày em đánh dấu 16 ‘nhát’, nói chung số ngày có trên 10 ‘nhát’ hơi nhiều. Ngày nhiều nhất là có tới đánh 21 cái dấu X’, lại có 3 gạch chân’. Nhưng 21 lần/ngày vẫn chưa phải là kỷ lục. Cũng chính cô gái này kể lại: Ở Đồ Sơn có đứa dịp 30/4, đã ‘đi khách’ tính với chủ là 50 lần.”

Số “nhát” hay số lần “nhớp nháp” được tính đủ và chia đều, theo như tường thuật của nhà báo Biên Thùy: “Một cô cave ở Đồ Sơn kể rằng, đằng sau những cô gái bán dâm, đằng sau những đêm mua vui dài dằng dặc là cuộc sống sung túc, đủ đầy của tầng tầng, lớp lớp những tú ông, tú bà. 250 nghìn đồng tàu nhanh ấy cũng phải chia năm, xẻ bảy ra thì mới yên thân, chứ đâu phải làm 10 đồng hưởng cả 10 đồng.

Lại nói đến cái tầng tầng, lớp lớp tú ông, tú bà ở thiên đường này cho rõ. Có những tú ông phơi mặt ngay cổng nhà nghỉ, đứng đón khách tận cửa phòng. Nhưng có cái loại tú ông, tú bà cao cấp hơn, chẳng cần đón khách, chẳng cần phơi mặt ra làm gì cũng có tiền. Những ‘tú ông cao cấp’ như thế chỉ đạo bằng những cú điện thoại, bằng một thứ văn bản không có dấu. Và, ngày ngày vẫn nghiễm nhiên hưởng lợi từ thân xác của gái bán dâm. Thế mới tài!”

Loại “tú ông cao cấp” này càng ngày càng xuất hiện nhiều ở Việt Nam, riêng Thanh Hoá – tất nhiên – cũng không ít. Cứ theo cách nói nước đôi của ông Bí Thư Tỉnh Ủy Thanh Hoá (“bà con nào đồng ý di dời thì nhận tiền bồi thường trước ngày 15.4… bà con nào chưa đồng ý thì cứ làm bình thường như lâu nay…”) trong cuộc đối thoại với dân – vào ngày 7 tháng 3 vừa qua – và theo chủ trương, đường lối, chính sách chung của Nhà Nước hiện nay thì sớm muộn gì Sầm Sơn cũng trở thành Đồ Sơn thôi.

Việt Nam tụt hậu, trách nhiệm không nhỏ thuộc về những nhà “khoa học” và “trí thức”

Việt Nam tụt hậu, trách nhiệm không nhỏ thuộc về những nhà “khoa học” và “trí thức”

FB Trương Nhân Tuấn

18-3-2016

Nếu có tầm nhìn thì VN đã không mỗi ngày một tụt hậu như hôm nay. Trách nhiệm là do lãnh đạo, nhưng một phần không nhỏ là do những nhà “khoa học” và “trí thức”.

Một thí dụ đơn giản, Hà Nội, Sài Gòn… cũng như nhiều tỉnh thành khác. Khoảng mười năm trở lại đây, hễ mùa mưa đến là ngập lụt. “Hà Nội mùa này nước cũng như sông”. Sài Gòn cũng vậy, không kém.

Nguyên nhân do trời hay do người? Và đâu là “giải pháp”?

Cả chục năm rồi, mưa xuống là lụt, người dân dài cổ chờ “giải pháp”.

Người ta cần giải pháp chớ không cần nghe “lý thuyết”.

Người nông dân đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đang khóc ròng, lớp khóc vì mất mùa, ruộng lúa cháy khô. Lớp khóc vì tiền tỉ nuôi con hàu, con tôm, con cua… tiêu tan thành mây khói. Mà một phần lớn dân nghèo khác khóc đến chảy máu mắt, vì giá nước ngọt trở nên đắt đỏ.

Người dân cần “giải pháp” chớ không cần nghe “khoa học gia” dạy bảo phải trồng cây gì, nuôi con gì.

Ý kiến của những “khoa học gia” VN, trên “lý thuyết” đều rất hay. Vấn đề là “trái mùa”.

Chuyện nhiễm mặn, chuyện trái đất hâm nóng và thay đổi thời tiết, chuyện các nước xây dựng đập ở thượng nguồn sông Cửu Long, cũng như chuyện lụt lội mùa mưa ở Hà Nội, Sài Gòn… người ta đã biết trước hàng chục năm rồi. Người ta cần giải pháp. Người ta mỏi cổ chờ mà giải pháp không thấy.

Hôm qua tôi đã viết, nếu có tâm và có tầm, thì trước tiên người ta đào tạo “vốn con người”. Đài Loan, Đại Hàn là hai nước có điểm tương đồng với VN, sau độc lập, kinh tế đặt nền tảng lên nông nghiệp. Hai nước này “hiện đại hóa, công nghiệp hóa” đất nước thành công, từ thập niên 70, 80. Đóng góp của nông nghiệp cho GDP từ 40%, chiếm 70% dân số, xuống còn khoảng 3% và không tới 10% dân số. Còn Việt Nam, bốn thế hệ đã qua là bốn đời nông dân tiếp bước. Dân số sống về nông nghiệp, đặc biệt ở miền nam (lục tỉnh), vẫn không thay đổi với thời gian, lên trên 80%.

Nếu có “tầm”, lý ra VN đã phải kiểm soát các đập nước ở thượng nguồn. Bởi vì VN không thể ngăn cấm các nước khác xây đập. Vì vậy, để không bị lệ thuộc, VN phải “kiểm soát” được các đập, bằng cách “đầu tư” xây dựng. VN không “nắm” được, vì thế sinh mạng ĐBSCL nằm trong tay các nước thượng nguồn.

Và nếu có tâm và có tầm, hạ tầng cơ sở (hệ thống điện, nước, đường xá, cầu cống, trường ốc…) lý ra cũng phải được xây dựng từ lâu. “Hệ thống nước uống” của nông dân vẫn là những lu nước bên hè (như trăm năm trước). Đường xá nhiều nơi vẫn là chèo xuồng… Nếu hệ thống giếng nước ngọt (miễn phí) dưới thời (chó đẻ) Mỹ, Diệm, Thiệu, Kỳ… được tiếp tục xây dựng thì dân đâu đến đỗi khóc ra máu mắt như hôm nay ?

Hạn hán khắp nơi, bây giờ khoa học gia bày ra chuyện nuôi tôm nuôi cua, thật là trái khoáy.

Những năm trước, khi má tôi còn khỏe, năm nào cận tết cũng cho xe chở về quê (Bạc Liệu) vài chục tấn gạo để “cứu đói”. Mĩa mai, đây là xứ của “công tử Bạc Liêu”, ruộng cò bay thẳng cánh.

Khu vực quê ngoại của tôi, từ khi nước nhiễm mặn, dân người ta cũng bỏ ruộng, đào mương nuôi tôm. Một hai mùa đầu bà con trúng đậm. Nhưng sang các mùa sau, tôm chết như rạ. Thay nước, đổ thuốc… đủ cách, mà cách nào dân cũng chết. (Tôm nhiễm thuốc trụ sinh bán không nước nào mua, cũng chết). Bơm nước rửa ruộng, thì ngay nước ngọt rửa ruộng cũng đã nhiễm mặn. Lúa trồng không được. Rốt cục trồng cây gì, nuôi con gì dân cũng chết. Người dân bỏ xứ đi các nơi ở đợ.

Năm nào cũng vậy, hiếm khi nhìn thấy người dân quê ở đây một nụ cười. Bây giờ nghe nói hạn hán ghê lắm, không có nước ngọt để uống.

Má tôi càng già trí nhớ càng mông lung. Không nhớ tới làng quê không chừng lại khỏe!

Và bây giờ không chỉ riêng quê ngoại của tôi chết vì nhiễm mặn, vì hạn hán. Các vùng khác, trước kia toàn là dân “phú hộ”, nay cũng bắt đầu than trời!

Kế hoạch thì phải tính trước 10 năm, 20 năm. Không cần ai dạy, lũ đến, người dân cũng biết mình phải “trồng cây gì, nuôi con gì”.

Mà bây giờ người dân cần nước ngọt.

HỒI KÝ MỘT BẠN TÙ CỦA CHA GB. NGUYỄN VĂN VÀNG, DCCT

HỒI KÝ MỘT BẠN TÙ CỦA CHA GB. NGUYỄN VĂN VÀNG, DCCT

 VŨ ÁNH,

 Trich EPHATA 685

 Ngày 29.4.1984, tôi được chuyển sang xà lim số 6 trại A-20 ở chung với Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, linh hồn của một vụ nổi dậy do ngài và người em chủ trương năm 1976. Tôi hoàn toàn không hiểu lý do của việc chuyển xà lim cá nhân này. Ðây cũng là ngày mà tôi đánh dấu 3

năm bị cùm hai chân và có giai đoạn cả hai tay trong xà lim số 5. Phải nói là tôi bị gông thì đúng hơn. Nếu quý vị được nhìn thấy những tội phạm của thời phong kiến bị gông như thế nào thì chúng tôi bị gông như thế nấy. Chỉ có khác là nhà tù CS không gông cổ mà thôi. ( Ảnh cha Vàng đang hướng dẫn về thuật hùng biện trước biến cố 30 tháng 4 ).

LM NGUYEN V VANG

Linh Mục Vàng, một nhà giảng đạo lỗi lạc của Dòng Chúa Cứu Thế, sau khi bị lên án chung thân khổ sai sau vụ và em ruột ngài là Linh Mục Hiệu bị xử tử, đã bị đưa lưu đầy tại trại A-20 Xuân Phước. Khi tôi đã nằm cùm trong biệt giam trong phòng số 5 được hai năm thì một hôm

Linh Mục Nguyễn Văn Vàng lúc ấy từ trại lao động bị đưa vào xà lim số 6, bên cạnh xà lim tôi bị giam. Khi còn ở ngoài trại lao động, ngài là đối tượng theo dõi của đám an ninh trại giam, nhất cử nhất động đều không qua mắt được một giàn ăng ten dầy đặc vây quanh vị Tu Sĩ Công Giáo này. Bọn an ninh trại nói thẳng ra rằng nếu chúng bắt gặp bất cứ tù nhân nào liên hệ với Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, sẽ cùm ngay.

Tôi là một Phật tử, nhưng mối liên hệ với Cha Vàng khá thân thiết và chúng tôi thường đàm đạo

với nhau vào mỗi ngày sau giờ cơm chiều trước khi điểm số để vào buồng giam, không chấp lệnh của trại. Có lẽ đây là lý do bọn an ninh trại đưa tôi đi “nghỉ mát” trước và hai năm sau họ đưa Cha Vàng và một vài anh em nữa vào những chiếc hộp nhỏ ở ngay sau nhà bếp của trại A. Trại tập trung A-20 ở Xuân Phước thường được chúng tôi gọi là trại trừng giới ( danh từ có từ thời Pháp thuộc để chỉ những trại có quy chế trừng trị tù nhân khắt khe ). Cục Quản Lý Trại Giam của CS thì gọi những loại trại này là Trại Kiên Giam. Tại sao chính quyền CS gọi những trại được đánh mã số bằng chữ A và tiếp theo là một hàng con số ? Thật ra thì rất ít người được biết lý do tại sao lại gọi A-20 là một trại kiên giam nếu không có dịp bị gọi đi thẩm cung nhiều lần trước khi được “gởi” vào những chiếc “hộp” ở Xuân Phước.

Sau biến chuyển đánh dấu bằng việc Trung Quốc tấn công 6 tỉnh sát biên giới Việt Trung năm 1979, Cục Trại Giam được lệnh thực hiện một kế hoạch gọi là “Phương Án 4”, nghĩa là thực hiện một kế hoạch tuyển lựa tất cả những thành phần cứng đầu “không thể cải tạo được nữa” để đưa vào những trại A và trại Z. Kế hoạch này là tác phẩm của một viên Ðại Tá về sau này trở thành một tướng lãnh công an tên là Hoàng Thanh ( có lẽ là bí danh ). Hoàng Thanh đã thẩm cung chúng tôi và rất nhiều tù nhân khác mấy tháng trước khi tôi bị chuyển trại về A-20. Lần sau cùng là vào mùa Thu 1979, khi thẩm cung tôi lần chót, ông ta cười cười nham hiểm nhưng nói huỵch toẹt: “Tôi biết chắc chắn là khi chuyển về trại mới, các anh không còn ngày ra. Cho nên tôi khuyên các anh là tốt nhất nên ngoan ngoãn để hưởng khoan hồng của nhà nước, nói chung là được mang vợ con các anh lên lập nghiệp ở đây cho gần. Khu vực trai giam sau này sẽ trở thành một đập nước và một thị trấn. Chúng tôi muốn thiết lập một trong những tiểu Siberia. Bây giờ, tôi thấy không còn cần phải giấu giiếm gì các anh nữa” rại A-20 lúc đầu ( 1979 ) có tới 4 trại được đánh số A, B, C, D, ở cách nhau trên dưới 5 cây số.

TRAI GIAM CS

Trại A được xây hoàn toàn bằng bê tông cốt sắt tường, bệ nằm, vườn rau ao cá dưới những rặng dừa xanh tốt. Nhưng bên trong những dãy nhà gạch, mái ngói đỏ au đó là những phương thức câu thúc thân thể và tinh thần không khác các trại giam ở Siberia dưới thời Stalin mà phần lớn người đọc sách ở Miền Nam Việt trước 1975 đều biết qua cuốn “Quần Ðảo Gulag” của văn hào Solzhenitsin. Tôi sẽ có dịp nói đến chuyện này trong một bài viết khác. Bây giờ tôi quay lại chủ đề của bài viết này. Những người xây dựng trại Xuân Phước là ai ? Cái oái oăm của lịch sử mà chúng tôi gặp phải chính là ở chỗ: Trại tù này lại do chính bàn tay của những người từng được di tản tới Guam trước ngày 30.4.1975, sau đó lại biểu tình đòi trở về lại Việt Nam bằng tầu Việt Nam Thương Tín, tạo dựng lên. Lúc chúng tôi được chuyển trại về đây thì có một số vẫn chưa được trả tự do. Chạy nạn CS tới Guam, rồi vì những lý do riêng biệt hầu hết là vì gia đình còn kẹt lại, trong cơn hoang mang và đau khổ tột độ, tình cảm che lấp lý trí và bị kích động, họ đòi quay trở về với lý do xây dựng lại quê hương sau chiến tranh. Nhưng người CS thừa hiểu, những người tị nạn này quay trở về chỉ vì có người còn vợ con, có người còn mẹ già không có người săn sóc, có người hoảng loạn bỏ lại vợ mới cưới, người tình đằng sau. ( Cảnh tàu Việt Nam Thương Tín trở về cập bến ). Cho nên, CS mở một cuộc đón tiếp để quay phim chụp hình và sau đó đẩy tất cả đàn ông vào khu rừng Xuân Phước và bị buộc phải xây dựng nhà tù này để chính quyền CS giam giữ chính những đồng đội của mình. Tôi đã có rất nhiều dịp tiếp xúc với họ, nên hiểu được tấm lòng của họ và thấy họ đáng thương quý hơn là đáng trách. Một sĩ quan xưng là quản gia cho tướng Nguyễn Cao Kỳ tâm sự với tôi: “Cậu tính coi, lúc đó vì hoang mang đi gấp không kịp lôi vợ con và bà mẹ già theo. Ðến Guam, cứ nghĩ đến họ, làm sao nuốt nổi miếng cơm chứ. Tôi biết nhiều người không thể thông cảm được lý do tôi trở về, trong đó có thể có cả vợ con tôi nữa, nhưng đành chịu vậy. Cho nên dù bị đẩy vào hoàn cảnh khốn nạn như thế này, tôi vẫn thấy lương tâm yên ổn hơn”. Tôi không có ý định nói chi tiết về vụ này mà muốn trở lại cái đêm Noel trong xà lim số 6. Xà lim là tiếng dịch theo âm Việt Nam của “cellule” ( tiếng Pháp ), xuất hiện trong văn chương và báo chí từ thời Pháp thuộc. Thực ra nếu tra tự điển tiếng Anh Việt hay Pháp Việt, chữ cell hay cellule đều có nghĩa là “tế bào”. Trong các trại tù của những quốc gia theo chủ nghĩa tư bản cũng như chủ nghĩa CS, hoặc các quốc gia dân chủ tự do, những “tế bào” vẫn được hiểu là những phòng biệt giam cá nhân để trừng phạt những tù nhân nguy hiểm. Những phòng biệt giam cá nhân này thường được xây dựng theo một tiêu chuẩn giống nhau: Không gian nhỏ hẹp của chúng phải đáp ứng được nhu cầu trừng phạt cả thể xác lẫn tinh thần người tù. Riêng tại các trại cải tạo do người CS dựng lên, những phòng biệt giam cá nhân được gọi bằng một nhóm từ “nhà kỷ luật”.

TRAI GIAM

Trại A ở A-20 Xuân Phước có một dãy 10 phòng biệt giam cá nhân, mỗi phòng như vậy giống như một cái hộp với bề rộng 3 thước, dài 3 thước, cao 6 thước, xây dựng bằng vật liệu bê tông cốt sắt, kín mít chỉ có một lỗ tò vò nhỏ ở cánh cửa trước để cho vệ binh kiểm soát tù nhân ở bên trong. Ở phía trong mỗi xà lim cá nhân, có hai bệ nằm song song, cách nhau bằng một khoảng hẹp chừng nửa thước. Người tù nằm trên bệ quay mặt ra phía cửa hai chân bị cùm chặt bằng một cùm sắt, có nhiều trường hợp bị cùm cả hai chân hai tay.

Nhưng cùm như thế nào ? Có phải là cùm bằng còng số 8 như ta thấy cảnh sát Mỹ còng tay

phạm nhân để giải giao về sở cảnh sát không ? Thưa không phải như vậy ! Làm gì chúng tôi lại được ưu đãi đó. Loại còng trong những xà lim mà tôi trải qua suốt 5 năm liên tiếp tại A-20 trong rừng Xuân Phước là “cùm Omega”. Tại sao lại gọi loại cùm này bằng cái tên của một hiệu đồng hồ rất nổi tiếng là đồng hồ Omega ? Hai cái vòng sắt để khóa hai chân người có hình thù giống y chang logo của đồng hồ Omega. Khi bị còng trong xà lim, người tù cải tạo bị đẩy ngồi lên bệ nằm, duỗi thẳng hai chân. Viên cán bộ an ninh trại giam sai một trật tự lấy ra một lô vòng sắt hình ký hiệu omega ra và ướm thử vào cổ chân người tù. Nếu đám an ninh trại giam không có ý định trừng phạt nặng tù nhân cải tạo thì họ ra lệnh cho trật tự lấy hai vòng omega vừa vặn với cổ chân người tù cải tạo. Ngược lại nếu họ muốn trừng phạt nặng và muốn làm nhiễm độc thối chân người tù, họ tra vào cổ chân tù cải tạo hai vòng omega nhỏ hơn vòng cổ chân rồi đóng mạnh xuống. Khi cổ chân người tù lọt vào được chiếc vòng omega, nó đã làm trầy trụa một phần hay nhiều phần cổ chân người tù. Sau đó, họ tra vào bên dưới một cây sắt dài qua bốn lỗ tròn ở hai vòng omega, một đầu cây sắt ăn sâu vào mặt tường trong, đầu phía ngoài của thanh sắt được xỏ qua một chốt được gắn thật sâu xuống cạnh bên ngoài của bệ nằm. Một cây sắt khác ngắn hơn, một đầu được uốn tròn, đầu kia của cây sắt này được đánh dẹp và khoan một lỗ nhỏ. Khi hai thanh sắt này được khóa chặt với nhau thì một đầu của cây sắt dọc sẽ xuyên qua một lỗ nhỏ tường phía trước, thò ra ngoài một đoạn. Chỉ việc tra một cái khóa vào đầu phía ngoài ấy của thanh sắt dọc là tất cả hệ thống trên sẽ tạo thành một cái cùm thật chặt khó lòng một người tù nào có thể mở khóa, vì mấu chốt để tháo cùm là ổ khóa bên ngoài. Phải mở được ổ khóa bên ngoài thì mới mở được cùm.

NHA TU

Có bốn mức cùm dành cho một tù cải tạo khi họ bị biệt giam ở trại Xuân Phước: mức độ 1: Cùm một chân phải, mức độ 2: Cùm một chân trái, mức độ 3: Cùm hai chân, mức độ 4: Cùm hai chân hai tay. Tôi đã trải qua mức độ 4 trong 8 tháng liên tiếp, sau đó giảm xuống mức độ 3, rồi lại tăng lên mức độ 4 trước khi giảm xuống mức độ 3, 2 rồi 1. Khi còn bị cùm mức độ 4, ngoài hai bữa ăn và ban đêm, tôi được tháo cùm 2 tay, thời gian còn lại lúc nào tôi cũng phải ngồi cong như con tôm luộc vì kiểu cùm độc ác này. Sở dĩ tôi được giảm xuống mức độ 3 rồi trở lại mức độ 4 chỉ vì một sự kiện: Sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc Tế để thả tôi ra. Khi hai thành viên của Hội này là bà Frederick Fuchs ( người Bỉ ) và ông Pierre Carreaux ( cựu chiến binh người Pháp ) từ Belgique bay qua Bangkok với một danh sách 14 ký giả, phóng viên bị trả thù bởi chế độ mới tại Việt Nam và đòi đến Hà Nội để được gặp mặt những người này. Chỉ có bà Fuchs là được vào Hà Nội, nhưng bà chỉ được nhận hồ sơ can thiệp và được phép thăm bà mẹ tôi tại Sàigòn chứ không được đến trại A-20 gặp mặt tôi. Khi bà Fuchs đòi chiếu khán ở Bangkok để vào Hà Nội trùng vào thời điểm tôi được tháo cùm hai tay và thời gian bà Fuchs rời Hà Nội trùng thời gian tôi bị trở lại mức cùm số 4. Trước khi tôi được tháo cùm hưởng ân huệ ở mức độ 2, thì một phái đoàn do Hoàng Thanh hướng dẫn từ Hà Nội vào “thăm” A-20. Ông ta lôi một lô những người tù cải tạo đang nằm trong biệt giam tại trại A cũng như B ở A-20 ra thẩm cung. Tôi được một trong những thẩm vấn viên cho xem bản sao những lá thư can thiệp đòi thả tôi, và 13 ký giả khác trong đó có kèm theo cả những lá thư của bằng hữu và đồng nghiệp với tôi ở Pháp, trong đó có thư của ông Trần Văn Ngô tức ký giả Từ Nguyên, một cựu phóng viên của Việt Tấn Xã thuộc lớp đàn anh chúng tôi. Sau đó anh ta nói thẳng với tôi: “Bọn mày thấy đấy, mấy thằng Tây này kể cả mấy thằng ký giả Việt gian chạy trốn tổ quốc không thể đánh tháo chúng mày được. Khôn hồn thì chịu cải tạo để không bị chết trong cùm. Suốt đời chúng mày sẽ không ra khỏi cái thung lũng này được đâu. Ân Xá Quốc Tế hả, còn khuya bọn nó mới làm gì được chúng tao”.

Tôi không trách gì việc can thiệp này mà lại còn vui là đằng khác, bởi vì nó củng cố cho tôi một niềm tin và thấy được tấm lòng hào sảng của bạn bè đồng nghiệp ra được nước ngoài. Tôi thành thật tri ân họ.

Những ngày tiếp theo, tôi bị nâng cùm ở mức độ 4 và bị cắt khẩu phần ăn xuống chỉ còn bằng một nửa so với các anh em bên ngoài, nghĩa là chỉ còn mỗi bữa ăn 150 grams. Nếu tính chi ly ra thì 150 grams thực phẩm mỗi ngày gồm khoảng 5 lát khoai mì khô luộc và một muỗng cơm, tất cả chan đẫm nước muối và được phát cho nửa ca nước một ngày. Ăn mặn và uống nước ít, người rất dễ bị phù sẽ ảnh hưởng tới thận. Trong tù mà bị thận thì kể như tàn đời. Cho nên ăn lúc đó trở thành ít quan trọng hơn dù lúc đó chúng tôi đã là lũ ma đói. Cái khát triền miên đã che đi cái đói. Nếu tôi muốn ăn được khẩu phần dành cho người đang bị trừng phạt phải dùng ít nhất nửa phần nước để rửa bớt cái mặn của nước muối được chan vào cơm và khoai mì. Tôi không dám hy sinh những muỗng nước quý như vàng lúc đó để rửa phần khoai. Tôi nghĩ chỉ có cách nhịn, nhưng càng đói lả đi thì mồ hôi ra như tắm, một tình trạng hết sức nguy hiểm. Cha Vàng thấy tôi lả đi, ngài đập cửa báo cáo nhưng đám cán bộ của nhà kỷ luật im lặng, coi như không có chuyện gì xảy ra.

Buổi trưa hôm đó, Cha Vàng nẩy ra một ý kiến. Ngài nói: “Anh không thể tránh ăn mãi như thế.

Nếu Chúa che chở cho mình, phù cũng không chết. Bố tự trách không nghĩ ra việc hy sinh nửa ca nước của bố cho anh. Khoai mì ít ngấm nước muối hơn. Bố sẽ hy sinh nửa phần nước để anh rửa khoai mì cho bớt mặn”. Tôi khước từ: “Bố ( trong tù chúng tôi đều gọi tất cả các Tu Sĩ của các đạo giáo là bố hết ) lớn tuổi sức chịu đựng yếu rồi, nhịn khát như con không được đâu”. Ông cười: “Sao biết không được đã thử đâu mà biết không được”. Tôi chọc ngài cho bớt căng thẳng: “Thế bố đã thử chưa mà khi đi giảng đạo có lúc bố nói về hạnh phúc lứa đôi”. Cả hai chúng tôi đều cười vang. Cha Vàng nói: “Ê này, để bố nói cho anh nghe chuyện này. Bố dù là Linh Mục thì cũng là người, con tim cũng rung động như mọi người khác, nhiều lúc bố cũng muốn thử. Những lúc như thế mình phải tranh đấu với chính bản thân mình ghê lắm để đừng vượt rào đi ăn tình. Ðiều này cũng cần can đảm mới làm được. Tín đồ kính trọng người tu hành là kính trọng sự can đảm ấy, kính trọng sự vượt qua để phụng sự, chứ nếu giống như thường tình thì nói gì nữa”.

Vâng thưa quý vị, giải pháp của Cha Vàng đã khiến cho một tuần, hai tuần, ba tuần qua đi nhanh và vô hiệu hóa được sự trừng phạt. Vào tuần lễ thứ tư của cuộc trừng phạt, như một phép lạ, viên cán bộ phát cơm nhà kỷ luật không phải là tên trực trại như thường lệ mà là một anh chàng lạ hoắc. Tù nhân mang cơm cho nhà kỷ luật cũng không phải là Hùng đen mà là Tuấn “sún” ở đội tù hình sự. Thông thường, khi vào phát khẩu phần cho nhà kỷ luật, viên cán bộ trực trại thường mở xà lim có tù nhân “bị gởi” ( tù nhân bị ăn chế độ trừng phạt ) trước. Nhưng lần này thấy các xà lim được lần lượt mở từ 1 cho đến 9 ( số hên ? ) Xà lim 10 không có “khách”.

Ðến xà lim số 6, Cha Vàng đưa hai chiếc bát nhựa và hai ca đựng nước ra trong khi viên cán bộ đích thân mở khóa tay cho tôi. Viên cán bộ này mặc đồ CA không lon lá gì cả nên không biết cấp bậc anh ta. Phát khoai xong, thấy Tuấn “sún” múc một vá nước muối, viên cán bộ nói ngay: “Ít muối thôi, chan đẫm vào, làm sao người ta ăn được”. Ðến phần nước, khi thấy Tuấn “sún” múc đầy cả hai ca, tôi hiểu rằng hôm đó tên cán bộ trực trại có việc gì đó không mở trại kỷ luật được, nên nhờ bạn thay thế. Vì làm thế nên anh chàng này không còn nhớ hoặc không thèm nhớ là trong trại có tù nhân phải ăn khẩu phần dành cho chế độ trừng phạt.

Phát xà lim số 9 xong, lại thấy có tiếng chìa khóa mở cửa xà lim số 6 của tôi. Tôi đinh ninh rằng họ quay lại để lấy bớt phần nước nên tôi vội vàng cầm ca nước uống hết. Nhưng không, Tuấn “sún” xách thùng nước đứng ở cửa phòng hỏi: “Có gì đựng thêm nước không”. Tôi nói: “Có” và đưa ca nước ra. Tuấn “sún” đổ đầy hai ca nước, rồi lại hỏi: “Còn đồ đựng nước khác không ?” Cả hai chúng tôi lắc đầu. Viên cán bộ xen vào: “Ðổ vào thau cơm cho họ, chiều hay mai lấy ra”.

Hình phạt dành cho tôi chấm dứt vào đầu tháng 11. Tôi đoán hết lý do này đến lý do khác khiến chúng chấm dứt sự trừng phạt đối với tôi. Nhưng Cha Vàng nhận định: “Nếu cần phải giết chúng ta, chúng đã tùng xẻo mình ngay từ lúc đầu. Ðoán làm gì cho mệt…” Cuối tháng 11, cả hai chúng tôi đều được mở cùm cho ra đi tắm, lần đầu tiên sau 3 năm biệt giam. Khi được mở cùm, tôi đứng lên không nổi vì hai chân dường như cứng lại. Cha Vàng cũng nằm trong tình trạng ấy, nhưng ngài mới bị biệt giam hơn một năm nên còn lết được. Chúng tôi bám lấy nhau theo hướng dẫn của trật tự đi ra ngoài giếng được đào bên cạnh một ao cá ngay sau nhà kỷ luật. Thời tiết tháng 11 ở vùng tiền sơn Tuy Hòa đã lạnh lắm rồi.

Tôi còn có được một cái áo lạnh tự may bằng cách phá một chiếc chăn len của một bạn tù cho từ

năm 1980. Khi được cho chiếc chăn len này, tôi nghĩ ngay đến chuyện may thành chiếc áo giống như áo trấn thủ. Trò may vá trong các trại tù cũng là một thú tiêu khiển và giết thời giờ. Chúng tôi dùng những cọng sắt để làm kim và chỉ thì bằng những sợi rút ra từ những chiếc áo hay quần may bằng bao cát . Chính ở những trò may vá này, chúng tôi học được một bài học: Cùng thì tắc biến. Trước những trò đàn áp, những mưu chước thô bạo quản thúc con người trong các nhà tù CS, vẫn có rất nhiều người vượt qua được cơn khốn khó do bản năng sống còn của họ rất mạnh. Cứ thử nghĩ một người nếu ăn bất cứ con vật gì mà họ bắt được kể cả rít núi, cỏ kiểng, ăn sống cả loại khoai mì H-34 có nhiều chất độc trên đất Hoa Kỳ này, thì chỉ có nước vào nhà thương sớm. Nhưng thời gian dưới các nhà tù CS bệnh không có thuốc, ăn bậy bạ mà các tù nhân cải tạo ít bị hề hấn gì. Tôi nghĩ một cách chủ quan rằng chỉ có phép lạ hay bản năng tự tồn của người khi bị đẩy vào cùng quẫn mạnh, mới giúp cho một người tù sống được và có ngày trở về.

Một số bạn tù của tôi sau này hay nói đến chuyện sống vì tinh thần, lúc đầu tôi chỉ coi là chuyện

vui, nhưng ngẫm nghĩ lại thấy cũng có phần chí lý. Khi một người tù chấp nhận phần xấu nhất về mình, sẽ bất chấp những đòn thù. Vì một người biết chấp nhận phần xấu nhất về mình trong hoàn cảnh lưu đầy, sẽ chẳng còn gì phải suy nghĩ về hiện tại lẫn tương lai, ngày về. Lúc đó nếu VC có bắn mình một viên vào ngực, có lẽ điều đó được coi là ân huệ hơn là kéo dài cuộc sống của những người tù theo cách nửa sống, nửa chết như thế. Cho nên, người CS có thể tính được nhiều trò đàn áp, hành hạ con người, nhưng không tính được điều liên quan đến bản năng và tinh thần của con người đã thử đâu mà biết không được”. Tôi chọc ngài cho bớt căng thẳng: “Thế bố đã thử chưa mà khi đi giảng đạo có lúc bố nói về hạnh phúc lứa đôi”. Cả hai chúng tôi đều cười vang. Cha Vàng nói: “Ê này, để bố nói cho anh nghe chuyện này. Bố dù là Linh Mục thì cũng là người, con tim cũng rung động như mọi người khác, nhiều lúc bố cũng muốn thử. Những lúc như thế mình phải tranh đấu với chính bản thân mình ghê lắm để đừng vượt rào đi ăn tình. Ðiều này cũng cần can đảm mới làm được. Tín đồ kính trọng người tu hành là kính trọng sự can đảm ấy, kính trọng sự vượt qua để phụng sự, chứ nếu giống như thường tình thì nói gì nữa”.

Vâng thưa quý vị, giải pháp của Cha Vàng đã khiến cho một tuần, hai tuần, ba tuần qua đi nhanh

và vô hiệu hóa được sự trừng phạt. Vào tuần lễ thứ tư của cuộc trừng phạt, như một phép lạ, viên cán bộ phát cơm nhà kỷ luật không phải là tên trực trại như thường lệ mà là một anh chàng lạ hoắc. Tù nhân mang cơm cho nhà kỷ luật cũng không phải là Hùng đen mà là Tuấn “sún” ở đội tù hình sự. Thông thường, khi vào phát khẩu phần cho nhà kỷ luật, viên cán bộ trực trại thường mở xà lim có tù nhân “bị gởi” ( tù nhân bị ăn chế độ trừng phạt ) trước. Nhưng lần này thấy các xà lim được lần lượt mở từ 1 cho đến 9 ( số hên ? ) Xà lim 10 không có “khách”. Ðến xà lim số 6, Cha Vàng đưa hai chiếc bát nhựa và hai ca đựng nước ra trong khi viên cán bộ đích thân mở khóa tay cho tôi. Viên cán bộ này mặc đồ CA không lon lá gì cả nên không biết cấp bậc anh ta. Phát khoai xong, thấy Tuấn “sún” múc một vá nước muối, viên cán bộ nói ngay: “Ít muối

thôi, chan đẫm vào, làm sao người ta ăn được”. Ðến phần nước, khi thấy Tuấn “sún” múc đầy cả hai ca, tôi hiểu rằng hôm đó tên cán bộ trực trại có việc gì đó không mở trại kỷ luật được, nên nhờ bạn thay thế. Vì làm thế nên anh chàng này không còn nhớ hoặc không thèm nhớ là trong trại có tù nhân phải ăn khẩu phần dành cho chế độ trừng phạt.

Phát xà lim số 9 xong, lại thấy có tiếng chìa khóa mở cửa xà lim số 6 của tôi. Tôi đinh ninh rằng họ quay lại để lấy bớt phần nước nên tôi vội vàng cầm ca nước uống hết. Nhưng không, Tuấn “sún” xách thùng nước đứng ở cửa phòng hỏi: “Có gì đựng thêm nước không”. Tôi nói: “Có” và đưa ca nước ra. Tuấn “sún” đổ đầy hai ca nước, rồi lại hỏi: “Còn đồ đựng nước khác không ?” Cả hai chúng tôi lắc đầu. Viên cán bộ xen vào: “Ðổ vào thau cơm cho họ, chiều hay mai lấy ra”.

Hình phạt dành cho tôi chấm dứt vào đầu tháng 11. Tôi đoán hết lý do này đến lý do khác khiến

chúng chấm dứt sự trừng phạt đối với tôi. Nhưng Cha Vàng nhận định: “Nếu cần phải giết chúng ta, chúng đã tùng xẻo mình ngay từ lúc đầu. Ðoán làm gì cho mệt…” Cuối tháng 11, cả hai chúng tôi đều được mở cùm cho ra đi tắm, lần đầu tiên sau 3 năm biệt giam. Khi được mở cùm, tôi đứng lên không nổi vì hai chân dường như cứng lại. Cha Vàng cũng nằm trong tình trạng ấy, nhưng ngài mới bị biệt giam hơn một năm nên còn lết được. Chúng tôi bám lấy nhau theo hướng dẫn của trật tự đi ra ngoài giếng được đào bên cạnh một ao cá ngay sau nhà kỷ luật. Thời tiết tháng 11 ở vùng tiền sơn Tuy Hòa đã lạnh lắm rồi.

Tôi còn có được một cái áo lạnh tự may bằng cách phá một chiếc chăn len của một bạn tù cho từ

năm 1980. Khi được cho chiếc chăn len này, tôi nghĩ ngay đến chuyện may thành chiếc áo giống như áo trấn thủ. Trò may vá trong các trại tù cũng là một thú tiêu khiển và giết thời giờ. Chúng tôi dùng những cọng sắt để làm kim và chỉ thì bằng những sợi rút ra từ những chiếc áo hay quần may bằng bao cát. Chính ở những trò may vá này, chúng tôi học được một bài học: Cùng thì tắc biến. Trước những trò đàn áp, những mưu chước thô bạo quản thúc con người trong các nhà tù CS, vẫn có rất nhiều người vượt qua được cơn khốn khó do bản năng sống còn của họ rất mạnh. Cứ thử nghĩ một người nếu ăn bất cứ con vật gì mà họ bắt được kể cả rít núi, cỏ kiểng, ăn sống cả loại khoai mì H-34 có nhiều chất độc trên đất Hoa Kỳ này, thì chỉ có nước vào nhà thương sớm. Nhưng thời gian dưới các nhà tù CS bệnh không có thuốc, ăn bậy bạ mà các tù nhân cải tạo ít bị hề hấn gì. Tôi nghĩ một cách chủ quan rằng chỉ có phép lạ hay bản năng tự tồn của người khi bị đẩy vào cùng quẫn mạnh, mới giúp cho một người tù sống được và có ngày trở về.

Một số bạn tù của tôi sau này hay nói đến chuyện sống vì tinh thần, lúc đầu tôi chỉ coi là chuyện

vui, nhưng ngẫm nghĩ lại thấy cũng có phần chí lý. Khi một người tù chấp nhận phần xấu nhất về mình, sẽ bất chấp những đòn thù. Vì một người biết chấp nhận phần xấu nhất về mình trong hoàn cảnh lưu đầy, sẽ chẳng còn gì phải suy nghĩ về hiện tại lẫn tương lai, ngày về. Lúc đó nếu VC có bắn mình một viên vào ngực, có lẽ điều đó được coi là ân huệ hơn là kéo dài cuộc sống của những người tù theo cách nửa sống, nửa chết như thế. Cho nên, người CS có thể tính được nhiều trò đàn áp, hành hạ con người, nhưng không tính được điều liên quan đến bản năng và tinh thần của con người . Khi chúng tôi ra đến bờ giếng là muốn trở lại ngay xà lim. Còn tắm táp gì trong điều kiện thời tiết này. Thấy Cha Vàng run lên bần bật vì gió lạnh. Ngài lại chỉ mặc một chiếc áo len mỏng bên trong bộ đồ tù, nên tôi cởi chiếc áo trấn thủ và nói: “Bố đưa chiếc áo len cho con, bố mặc chiếc áo của con vào ngay. Bố phong phanh thế, cảm lạnh bây giờ. Bố nhớ rằng ở đây không có thuốc, mặc chiếc áo này của con đi, bố đưa áo len cho con”. Ông nhất định không chịu, nhưng cuối cùng tôi vẫn lột chiếc áo len của Cha Vàng ra và mặc chiếc áo trấn thủ mang bằng chăn len hai lớp của tôi cho ngài, còn tôi mặc chiếc áo len của ngài. Dĩ nhiên chúng tôi chẳng tắm táp gì được cả, ngồi núp vào bức tường che giếng nước để tránh gió. Cha Vàng ít run rẩy hơn. Ngài đứng dậy và vung tay cử động. Tôi làm theo ngài. Tôi có cảm tưởng cứ mỗi lần vung tay cử động theo kiểu Dịch Cân Kinh thì chúng tôi choáng váng có thể chúi về trước, nhưng đồng thời cũng cảm thấy bớt lạnh. Viên cán bộ trực trại dặn chúng tôi: “Các anh tắm thì

tắm, không muốn thì thôi. Nếu không thì ngồi đây phơi nắng ( ở Xuân Phước, mùa Ðông thường không thấy mặt trời ). Cấm không được liên hệ với ai”. Nói xong, anh ta bỏ đi.

Nói thì nói vậy, nhưng các anh em trong nhà bếp đều là anh em sĩ quan cải tạo, nên cũng tìm cách tiếp tế cho chúng tôi vài miếng cơm cháy, mấy tán đường. LS., một người Việt gốc hoa, một tỷ phú, vua máy cày trước 30.4.1975, bị đẩy lên trại này sau khi lãnh cái án 20 năm tù sau đợt đánh tư sản mại bản lần thứ nhất, đang được cắt cử coi vườn rau cải. Ông ta từ vườn rau đi khơi khơi, không lén lút gì, đến thẳng chỗ chúng tôi, đưa một gói bánh trong đó có ít bánh biscuit lạt và ít đường tán, và thiết thực hơn là khoảng 10 viên thuốc B1. LS. nói: “Ngộ

biếu, bánh đường ăn hết ở ngoài này đi, đừng mang vào chúng nó sẽ tịch thu. Thuốc B1 cần cho các nị lắm á. Cứ ăn từ từ, đừng có lo, nhà nước… no hết”. Xong ông ta bỏ đi. Nhóm người Việt gốc Hoa sống trong trại rất đầy đủ, nhưng đối với chúng tôi, lúc nào họ cũng cư xử đàng hoàng. Những tin tức từ bên ngoài được đem vào trại của họ khá chính xác. A-20 là trại trừng giới nhưng quà thăm nuôi hàng tháng của họ chất đầy chỗ nằm. Mỗi lần thăm gặp, họ ở với gia đình cả ngày ở ngoài nhà thăm nuôi cũng được, nếu họ muốn. Nhưng ít khi nào họ hành động như vậy. Môi trường ở A-20 là môi trường tế nhị. Những doanh nhân này đầu óc rất thực tế: Có tiền mua tiên cũng được huống chi đám cán bộ trại giam vốn cũng đói rách. Cái giá của việc khơi khơi đến tiếp tế cho chúng tôi ít ra cũng phải trả bằng 6 tháng biệt giam, nếu bị bắt gặp. Nhưng 6 tháng biệt giam chỉ tương đương với 2 cặp lạp xưởng. Ông là người tù duy nhất ở trong trại có thể trả cái giá ấy bằng lạp xưởng hay nửa bao thuốc lá ba số 5 thay vì vào biệt giam. biết chắc rằng buổi tối hôm ấy, tên trật tự ( bị án chung thân vì tội cướp có súng ) sẽ xuống gọi LS. ra cửa sổ buồng giam và xin hai cặp lạp xưởng cho cán bộ nấu xôi. Cho nên, LS. đi đâu một lúc rồi ông ta trở lại với cái điếu cày, diêm và nói: “Thuốc lào này say lắm, cẩn thận. Ðừng mang diêm vào biệt giam”. Hút xong thuốc lào, chờ cơn “phê” nhạt dần, tôi chợt nẩy ra ý kiến: “Bố ơi mình giấu 2 bi ( tiếng long của hai điếu ) để đêm Noel hút”. Tôi quấn nhúm thuốc còn lại cho thật nhỏ vào bao nhựa đựng 10 viên B1 và nhét vào gấu quần. Cái gấu quần là chỗ hôi thối của những người tù 3 năm không được tắm, chắc không có ai muốn sờ đến nên có thể an toàn. Biệt giam là nơi cấm hết mọi thứ kể cả thuốc hút nên chúng tôi phải hành động như vậy. Và quả thật, trước khi mang chúng tôi vào lại xà lim, trật tự Hùng đen chỉ khám sơ sơ. Tôi và Cha Vàng đã thắng. Nhưng vào đến xà lim, sau khi xỏ chân vào cùm, nghĩ lại tôi mới thấy thất vọng: lửa ở đâu mà hút. Thảo luận mãi, Cha Vàng đưa ý kiến, lấy lửa bằng phương pháp của thời kỳ đồ đá. Tôi lại chọc vị Tu Sĩ Công Giáo rất hùng biện này: “Bố con mình đang ở thời kỳ đất sét mà bố nghĩ đến phương pháp của thời kỳ đồ đá”. Cha Vàng cười: “Mày chỉ tầm xàm. Ðứng đắn đấy. Ðêm Noel mình sẽ hút thuốc lào, bố có cách rồi”. Sau đó cha Vàng giảng giải cho tôi cách lấy lửa “thời kỳ đồ đá”. Vị Tu Sĩ nói như giảng đạo: “Này nhé, con có biết rằng nền văn minh ngày nay đến từ việc phát minh ra lửa. Lửa chế ngự đời sống con người khi họ thoát ra thời kỳ ăn lông ở lỗ… Con người thời kỳ đồ đá đã biết dùng đá chọi vào nhau cho đến khi xẹt lửa. Những tia lửa đó rớt xuống đám lá khô dễ bắt lửa và họ thổi cháy thành ngọn lửa”. Cha Vàng nói: “Chỉ cần một thanh vỏ tre và áo mục”. Tôi hỏi Cha Vàng: “Áo mục thì có sẵn, nhưng thanh vỏ tre ?” Cha Vàng cười: “Bố giao nhiệm vụ cho mày nếu bị kêu đi thẩm cung, thế nào trước Noel chúng cũng gọi chúng ta ra tra vấn và khám xà lim, một biện pháp an ninh trước những ngày lễ trọng…”

Do kinh nghiệm, Cha Vàng nói đúng. Năm ngày trước Noel, trời có nắng, những tia nắng hiếm

hoi xuyên qua cửa tò vò vào phòng giam. Ngài vội lấy chiếc áo tù bằng vải thô vá chằng vá đụp, xé hai mảnh nhỏ. Ngài nói: “Ðây là cái áo bố đã giặt rất sạch trước khi vào đây, để làm con cúi lấy lửa khi cần. Xé nó ra phơi cho thật khô. Cuộn lại cho chặt thành một cuộn bằng ngón tay cái. Dùng móng tay đánh tơi một đầu, đánh thật tơi cho đến khi sợi vải ở đầu con cúi xuất hiện một lớp bông. Dùng miếng vỏ tre thật mỏng luồn nó vào cái khe hẹp để gắn quai dép lốp rồi kéo cho đến khi thanh tre nóng bỏng. Hơi nóng của bột tre dính trên mặt bông của con cúi, lửa sẽ ngún và thổi nhè nhẹ vết lửa sẽ loang ra, chỉ cần thổi nhẹ là lửa sẽ bật lên”.

Nghe Cha Vàng nói tôi tưởng là ngài nói chuyện thần thoại. Nhưng do vẫn nghĩ đến phép lạ, nên

tôi nghe theo lời ngài. Tôi nghĩ đây là một trò vui và cũng là dịp tự thử thách mình. Ðúng như dự đoán, trước Noel 1984 ba ngày, lần lượt chúng tôi bị kêu ra ngoài thẩm cung và xà lim bị khám xét rất kỹ. Nhưng họ vẫn không phát giác ra được mấy điếu thuốc lào và thuốc B1 tôi giấu trong lai quần. Có lẽ do người hôi thối quá, nên anh cán bộ nào cũng sợ mó vào quần áo tôi. Chỉ còn thanh tre mỏng. Tôi nghĩ ra một kế nên báo cáo cán bộ cho xin một thanh tre mỏng mang vào xà lim để làm đồ cạo lưỡi. Viên cán bộ hỏi tôi: “Lưỡi anh làm sao ?” Tôi nói: “Ðóng bợn ba năm rồi không được cạo, nên xin cán bộ”. Anh ta không nghi ngờ gì cả nên gật đầu: “Nhưng tre ở đâu ra ?” Tôi nói ngay: “Ở nhà bếp chắc có”. Anh cán bộ gọi trật tự Hùng đen: “Xuống nhà bếp bảo họ cho tôi một vỏ tre cạo lưỡi cho anh này”. Tôi lại gặp may lần nữa. Mấy anh em nhà bếp tưởng làm cây cạo lưỡi cho cán bộ nên họ làm rất kỹ và tôi có một thanh cạo lưỡi bằng vỏ tre khô dài khoảng 2 gang tay. Sau khi trở lại xà lim, tôi bắt đầu thực tập ngay. Tháo một quai dép lốp ra, tôi luồn thanh tre vào và dùng hai tay kéo cưa. Thấy nóng thật, tôi ra sức kéo mạnh. Cha Vàng vội can: “Kéo từ từ, thở ra hít vào đều, ít ra cũng một tiếng đồng hồ”. Tôi lại chọc cha Vàng: “Bố ơi, mình đang ở thời kỳ đồ đất mà kéo như thế này, chắc phải ăn 5 phần khoai mì may ra mới bù

lại được. Ðồ đất dễ vỡ lắm !” Vị Linh Mục cười hiền lành: “Thôi dừng có nói nữa, anh nói nhiều xì hơi còn sức đâu mà kéo”. Trong khi tôi đánh vật với chiếc dép và thanh tre, thì Cha Vàng

móc trong tay nải lấy hai miếng vải đã phơi khô ra và làm thành một con cúi. Ông chà một đầu con cúi xuống sàn rồi lấy móng tay út lúc đó đã dài như móng tay của mấy bà người Tàu bó chân, khẩy khẩy cả tiếng đồng hồ vào những thớ vải lúc đó đã hơi bung ra.

Ðến khi thấy mệt, mồ hôi ra như tắm, tôi nói với Cha Vàng: “Con chịu thua rồi bố ơi, mệt quá”.

Cha Vàng khuyến khích: “Ðừng ngừng, tiếp tục để bố thử coi”. Tôi tiếp tục kéo. Bột tre đã văng ra có thể nhìn thấy trên sàn. Khi cha Vàng lựa thế đưa cúi vào thì tôi gia tăng tốc độ. Cha Vàng reo lên: “Hơi ngún rồi, tại chưa bén than vì anh kéo chưa đủ đô”. Quả thật tôi cũng thấy một chút khói bốc lên. Ngày hôm sau, chúng tôi lại thử, một cuộc chạy đua tiếp sức của hai người. Ðể con cúi vải xuống sàn, tôi và Cha Vàng thay phiên nhau kéo, từ 9 giờ sáng cho đến hơn 11 giờ thì “phép lạ” đã đến. Ðầu con cúi bắt đầu ngún và có khói, có nghĩa là bột tre nóng quá độ đã khiến cho lớp bông nhẹ trên con cúi bén lửa. Một lát sau khi thấy xuất hiện những đốm hồng, cha Vàng thổi nhẹ nhẹ, vết lửa lan ra, trang sử của mấy ngàn năm trước được lật lại. Cha Vàng tiếp tục thổi nhẹ để nuôi dưỡng ngọn lửa. Và khi đã ngủi thấy mùi khét của vải, ngài thổi hơi mạnh. Ngọn than hồng lan rộng ra hơn và cuối cùng chỉ cần một hơi nhẹ, ngọn lửa bùng lên. Vị Tu Sĩ nhìn con cúi vải có than hồng giống như một điếu thuốc lá mới được đốt lên, rồi cười vang: “Mình thắng”. Ngài lục trong tay nải một miếng giấy châm vào cúi vải, ngọn lửa lan sang đóm giấy. Xong, cha nắm chặt tay tôi giơ lên cao như một võ sĩ được trọng tài nắm tay giơ

cao sau khi đấm địch thủ đo ván. Chúng tôi ngồi nghỉ một lát, sau đó cha Vàng nói: “Chúng ta đã học xong bài học lúc bố đã ngoài 50, còn con đã 33 tuổi. Nhưng tự bố, bố thấy chúng ta xứng đáng với bài học ấy. Ðó là kiên trì đạt mục tiêu trong hoàn cảnh khó khăn nhất”. Ðúng vào tối 24.12.1984, trước khi Cha Vàng cử hành Thánh Lễ nửa đêm trong xà lim số 6, chúng tôi đã hút mỗi người một điếu thuốc lào. Hút bằng một miếng giấy cuộn tròn như loa kèn và ngậm nước. Hút như thế, miệng mình chính là cái điếu, và cũng có tiếng kêu, cũng chếnh choáng say như khi hút bằng điếu cày. Chỉ có điều khác với hút thuốc lào bằng điếu cày: Sau khi hút phải

nhổ nước đi. Trong hoàn cảnh tôi và Cha Vàng lúc đó thì hơi tiếc vì chúng tôi thiếu nước uống kinh niên.

Kể từ ngày sống cùng một xà lim với cha Nguyễn Văn Vàng, tôi học được nhiều điều. Trong suốt thời gian này, ngài giảng cho tôi bộ Tân Ước. Dù tôi là một Phật Tử, nhưng nghe một nhà truyền đạo Công Giáo chuyên môn giảng kinh, nên bộ Tân Ước đã củng cố những lập luận sau này của tôi rất nhiều. Quan trọng hơn hết, đó chính là kỷ niệm với một Tu Sĩ mà tôi kính trọng.

Tháng 4 năm 1985, Cha Vàng lâm bệnh vào lúc sức khỏe của ngài đã quá yếu. Có lẽ ngài đã kiệt sức, sốt cao rồi đi vào hôn mê. Tôi đập cửa kêu cấp cứu suốt ngày, nhưng lúc tên trực trại chịu mở cửa để cho một y sĩ vào khám bệnh, thì mọi việc có vẻ quá muộn. Hai viên trụ sinh không đủ khả năng làm Cha Vàng tỉnh lại. Vào đúng lúc cả hai chúng tôi đều cảm nhận được Mùa Giáng Sinh đã trở lại thung lũng Xuân Phước qua tiếng chuông của một Nhà Thờ dường như ở cách chúng tôi xa lắm vọng về trong đêm lạnh giá và u tịch. Linh Mục Nguyễn Văn Vàng qua đời ngay trong xà lim số 6.

 Trước đó, dù yếu và bệnh, ngài đã bàn với tôi là làm sao có được Bánh Thánh lúc ngài làm Lễ nửa đêm dịp Noel 1985 mà con chiên duy nhất trước ngài lúc đó lại là một Phật Tử như tôi. Nhưng mơ ước của ngài không thành, kể cả việc lớn trước đó là lập lực lượng võ trang để mong lật ngược lại tình thế của một đất nước vừa chìm đắm trong luồng sóng đỏ. Nhưng dù ngài đã mất đi, trong suy nghĩ của tôi cho đến bây giờ, Linh Mục Nguyễn Văn Vàng vẫn là một ngọn lửa, âm thầm cháy như con cúi vải ngày nào bỗng bùng lên soi sáng cái không gian tăm tối

của tất cả những xà lim đang hiện diện trên đất nước Việt Nam.

VŨ ÁNH,

5.12.2010

Giảm án nhưng vẫn còn đó bất công

Giảm án nhưng vẫn còn đó bất công

Mặc Lâm, biện tập viên RFA
2016-03-17

nguyen-thi-tam-622.jpg

Bà Nguyễn Thị Tâm tại phiên xử phúc thẩm ở Bình Phước hôm 16/3/2016.

Courtesy DLB

Your browser does not support the audio element.

Sau khi em Nguyễn Mai Trung Tuấn bị xử y án trong phiên phúc thẩm của tòa án Tỉnh Long An về “tội cố ý gây thương tích” do chống lại công an khi cưỡng chế đất của gia đình, thì một vụ án khác tại tòa phúc thẩm tỉnh Bình Phước xử hai vợ chồng ông bà Ngô Văn Huynh và Nguyễn Thị Tâm cũng với tội danh “cố ý gây thương tích” nhưng có giảm nhẹ cho hai vợ chồng ông này.

Áp lực của dư luận?

Ngày 16 tháng 3 vừa qua phiên tòa phúc thẩm của tòa án tỉnh Bình Phước đã tuyên án trong vụ án cố ý gây thương tích cho hai bị cáo là dân oan Nguyễn Thị Tâm và chồng là ông Ngô Văn Huynh. Bà Tâm được trả tự do tại tòa với bản án 3 năm tù giam so với ngày bà bị giam giữ là 2 năm 6 tháng 17 ngày thì bà ra tù sớm hơn thời hạn. Riêng ông Ngô Văn Huynh được giảm án còn 3 năm tù giam thay vì 5 năm rưỡi như bản án sơ thẩm trước đây.

Bản án của tôi trước đây tòa sơ thẩm nó xử tôi 4 năm tôi mới kháng án lên phúc thẩm thì ngày hôm qua nó xét xử tuyên án tôi là 3 năm còn bà Tâm thì đã ở như vậy là 2 năm 6 tháng 17 ngày và nó trả tự do cho bà Tâm tại tòa.
-Ông Ngô Văn Huynh

Ông Ngô Văn Huynh là chồng bà Nguyễn Thị Tâm cho biết:

“Bản án của tôi trước đây tòa sơ thẩm nó xử tôi 4 năm tôi mới kháng án lên phúc thẩm thì ngày hôm qua nó xét xử tuyên án tôi là 3 năm còn bà Tâm thì đã ở như vậy là 2 năm 6 tháng 17 ngày và nó trả tự do cho bà Tâm tại tòa.”

Theo luật sư Nguyễn Khả Thành, một trong ba luật sư bảo vệ quyền lợi của ông bà Ngô Văn Huynh thì “Tội cố ý gây thương tích” với khung hình phạt lên đến từ 5 tới 15 năm tù nên tòa giảm án cho vợ chồng ông Huynh bà Tâm là một sự lắng nghe và do áp lực của dư luận. LS Thành cho biết:

“Theo tôi thì giữa bản án đầu tiên thì ông Huynh là người chồng cũng 5 năm rưỡi tù bà vợ cũng vậy 5 năm rưỡi tù so với bản án hiện nay bà vợ được thả ngay tại tòa ông chồng thì mức án chỉ còn 3 năm. Theo tôi thấy thì Hội đồng xét xử đã biết lắng nghe dư luận, lắng nghe những gì mà luật sư trình bày tại phiên tòa, đưa ra những điều không hợp lý trong vụ này. Mặc dù trên mặt giấy tờ nhận định người ta vẫn nói là hoàn toàn họ đúng nhưng với mức án giảm như vậy thì tôi nghĩ rằng chắc chắn cũng có tác động phần nào khi mình đưa ra các bất hợp lý trong vụ án. Với khung hình phạt khởi tố như vậy, khung 3 điều 104 Bộ luật hình sự thì nó có mức án từ 5 đến 15 năm tù, nhưng bây giờ ông chồng còn 3 năm thì chúng tôi nghĩ họ cũng có một sự lắng nghe nào đó khi luật sư đưa ra những vấn đề không hợp lý.”

nguyen-thi-tam-400.jpg

Bà Nguyễn Thị Tâm (phải) và Ông Ngô Văn Huynh (giữa) sau phiên xử phúc thẩm ở Bình Phước hôm 16/3/2016. Photo courtesy of DLB.

Tuy nhiên ông Ngô Văn Huynh, hiện được tòa cho tại ngoại để chữa bệnh, lại cảm thấy không công bằng dù cho bản án đã được giảm xuống cho ông. Ông cho rằng mức giám định y khoa của bên bị hại không chính xác và nhất là hồ sơ y khoa của ông do bị bên bị hại tấn công gây ra lại không được tòa nhìn nhận:

“Tôi không biết bây giờ phải kêu oan như thế nào, phải đi tới đâu rồi phải làm thế nào để trắng án vì thương tích tôi gây ra không tới mức như vậy (43%). Tôi yêu cầu giám định pháp y của phân viện pháp y quốc gia để phân tích vết thương do tôi gây ra và vết thương do bị tai nạn gây nên cho bị hại cũng gần với vết thương gây ra mà đổ trút cho tôi hết bây giờ tôi không có cách nào để mà gỡ rối kể cả 3 luật sư của tôi đã đưa ra những bằng chứng cụ thể nhưng hội đồng xét xử đều bác bỏ hết cuối cùng tôi phải lãnh án 3 năm.”

Ép cung?

Theo ông Huynh kể lại thì miếng đất của gia đình ông bị Cục Thi hành án cưỡng chế giao cho ông Nguyễn Bá Tuyên sau đó ông Tuyên đã lấn đất nhà ông Huynh và chuyện ẩu đã xảy ra khi bà Tâm vợ ông Huynh lượm hạt điều trên phần đất của nhà mình nhưng bị ông Tuyên cho là xâm phạm đất của ông ta. Khi xô xát xảy ra thì hai bên đều có thương tích nhưng do ông Tuyên có thế lực nên cả hai vợ chồng ông Huynh đều bị bắt giam và giấy giám định y khoa chứng nhận ông Tuyên bị thương tật 43%. Vấn đề thế lực được dư luận cho biết đó là anh ruột của ông Nguyễn Bá Tuyên là Nguyễn Bá Hưng, đương kim bí thư xã Đường 10 nơi hai gia đình ông Huynh và ông Tuyên sinh sống.

Giấy giám định y khoa trong trường hợp vợ chồng ông Ngô Văn Huynh tương tự như trong phiên tòa của em Nguyễn Mai Trung Tuấn tại Long An. Số phần trăm vượt mức thông thường có thể nhìn thấy bằng mắt đã làm cho vụ án trở nên mất công bằng nhất là giám định thương tật bao gồm luôn cả những vết thương khác không gây ra trong lúc ấu đả. Ông Huynh cho rằng không tính tới thương tích của gia đình ông là bất công, ông nói:

Thương tích của ba cha con tôi thì tòa không công nhận. Thương tích trong giấy chứng y của tôi do bệnh viện đa khoa huyện Bù Đăng tôi đã nạp vào tòa do bị hại gây ra nhưng tòa không công nhận nhưng với bị hại thì tòa lại công nhận giám định pháp y của Bình Phước là 43%.
-Ông Ngô Văn Huynh

“Thương tích của ba cha con tôi thì tòa không công nhận. Thương tích trong giấy chứng y của tôi do bệnh viện đa khoa huyện Bù Đăng tôi đã nạp vào tòa do bị hại gây ra nhưng tòa không công nhận nhưng với bị hại thì tòa lại công nhận giám định pháp y của Bình Phước là 43%.”

Bên cạnh đó sau khi phiên tòa kết thúc bà Nguyễn Thị Tâm tuy được tự do nhưng vẫn lên tiếng tố cáo đại úy Nguyễn Đình Khuyên là cán bộ điều tra thuộc công an huyện Bù Đăng, trong khi điều tra bà ông Khuyên đã dùng súng đánh đập và bức cung bà. Ông Khuyên còn đập vào cạnh tai bà khiến bà bị điếc một bên tai tới nay vẫn chưa hồi phục. Bà Tâm nói với chúng tôi như sau:

“Ngày 12 tháng 11 năm 2013 ông Nguyễn Đình Khuyên kêu tôi lên điều tra tuy chưa điều tra tôi ngày nào hết mà ổng lấy tờ giấy có kết luận điều tra sẵn, hỏi cung sẵn rồi bắt tôi ký cái kết luận điều tra đó thì tôi không chịu. Ông Khuyên mới nói bà không chịu thì đưa cho tôi tờ giấy viết vào đó và ký vào là không đi khiếu nại tố cáo thì tôi mới thả hai vợ chồng ông bà ra.

Tôi không chịu thì nó bắt đầu ép cung nó đánh tôi rồi bắt tôi quỳ xuống nó dùng dùi cui đánh tôi 28 cái dùi cui. Nó bấm huyệt tay tôi nó xốc tôi lên nó quay rồi nó bấm lổ tai tôi giờ tai tôi bị điếc không nghe được. Tôi thở không nổi hai giò tôi nó quýnh vào nhau. Khi bình thường thì thôi khi trở trời mưa gió thì nó nhức nó xuội luôn đi không được. Ông Khuyên hăm tôi là bà ở trong trại bà chết với tôi, bà ở huyện thì có tay chân tôi còn bà lên tỉnh thì có anh em tôi hết, bà đi đâu cũng không thoát. Tôi cho bà chết trong trại không cho bà sống bà không ra khỏi tay tôi đâu.”

Bản án tuy được dư luận cho rằng đã có tiến bộ so với vụ án của em Nguyễn Mai Trung Tuấn nhưng chính người trong cuộc là hai vợ chồng ông bà Ngô Văn Huynh và Nguyễn Thị Tâm cho là không công bằng với họ cũng khiến dư luận quan tâm hơn về sự công chính, khách quan của các phiên tòa liên quan đến người dân oan vì mất đất đã trở nên bạo động.

Người tự ứng cử tiếp tục ‘vượt rào’ ở Việt Nam

Người tự ứng cử tiếp tục ‘vượt rào’ ở Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Quang A trước tòa thị chính của một thành phố ở Trung Quốc với chiếc áo No-U phản đối đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông. Ông là một trong những ứng viên đầu tiên tự ứng cử vào Quốc hội Việt Nam khóa tới.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A trước tòa thị chính của một thành phố ở Trung Quốc với chiếc áo No-U phản đối đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông. Ông là một trong những ứng viên đầu tiên tự ứng cử vào Quốc hội Việt Nam khóa tới.

VOA Tiếng Việt

17.03.2016

Gần 50 người tự ứng cử vào Quốc hội Việt Nam ở Hà Nội vượt qua “trở ngại” là vòng hiệp thương thứ hai, sau khi xuất hiện cáo buộc rằng “có tổ chức phản động” đứng sau một số người.

Truyền thông trong nước đưa tin, Ủy ban Mặt trận tổ quốc thủ đô của Việt Nam hôm 17/3 đã tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai để lập danh sách sơ bộ người ứng cử đại biểu quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú.

Hàng chục người tự ứng cử trên địa bàn, trong đó có tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện, nằm trong danh sách gần 100 người đã được thông qua.

Ông Diện cho VOA Việt Ngữ biết:

“Sáng hôm nay, 17/3, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc của thành phố Hà Nội đã tổ chức hội nghị hiệp thương vòng hai để rà soát danh sách đó, và 100% các đại biểu dự hội nghị hiệp thương vòng 2 hôm nay đã biểu quyết và tán thành cả 87 người ứng cử vào đại biểu quốc hội khóa 14, trong đó có 39 người do các cơ quan đoàn thể giới thiệu, và 48 người, người ta tự ứng cử. Như vậy, có thể nói, đến 13 giờ chiều hôm nay, có thể khẳng định rằng trong 48 người tự ứng cử này thì không có một người nào được các thế lực thù địch, hay các tổ chức phản động, tài trợ cả. Nếu có như vậy thì người ta sẽ bị gạt trong danh sách ngay sáng hôm nay”.

Một ngày trước đó, nhiều tờ báo trong nước dẫn nguồn tin giấu tên trong “tiểu ban an ninh Hội đồng bầu cử Quốc gia cho rằng có tổ chức phản động cung cấp tài chính để vận động bầu cử cho một số người”.

Có thể khẳng định rằng trong 48 người tự ứng cử này thì không có một người nào được các thế lực thù địch, hay các tổ chức phản động, tài trợ cả. Nếu có như vậy thì người ta sẽ bị gạt trong danh sách ngay sáng hôm nay.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện.

Cáo buộc này, theo tiến sỹ Diện, ngay lập tức đã “gây bức xúc” trong “giới nhân sỹ trí thức, bản thân cá nhân, gia đình, bạn bè” [của những người tự ứng cử], và “họ đã nhanh chóng gửi đơn thư để yêu cầu Hội đồng Bầu cử Quốc gia làm rõ về vấn đề này”.

Trước đó, truyền thông trong nước đưa tin, trong một cuộc tiếp xúc cử tri cũng tại Hà Nội, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói rằng “không để lọt vào cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng, nhà nước những phần tử thế này thế khác”.

Sau những tuyên bố như vậy, hôm nay, tin cho hay, nhiều ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc đã bày tỏ quan điểm, trong đó có Thiếu tướng Lê Mã Lương. Báo điện tử VnExpress dẫn lời ông Lương nói rằng ông nghĩ “không nên chỉ nói như thế, nếu được hãy cung cấp rõ ràng, cụ thể vì nói như vậy sẽ làm phương hại đến tất cả những người tự ứng cử”.

Tiến sỹ Nguyễn Quang A, một người tự ứng cử khác, nói với VOA Việt Ngữ rằng việc các ứng viên tự đề cử được thông qua là một tín hiệu “tích cực”.

Ông nói thêm:

“Những người tham gia hội nghị hiệp thương lần thứ hai này, mấy hôm trước, họ còn nói loại người này, loại người kia, và họ cũng đưa những tin để lót đường cho việc loại này, nhưng mà sáng hôm nay, các vị tham gia hiệp thương đó đã thông qua mà không loại người nào cả. Trong bối cảnh hiện nay, theo quy định hiện hành, tôi nghĩ đấy là một dấu hiệu tốt”.

Sáng hôm nay, các vị tham gia hiệp thương đó đã thông qua mà không loại người nào cả. Trong bối cảnh hiện nay, theo quy định hiện hành, tôi nghĩ đấy là một dấu hiệu tốt.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A.

Truyền thông Việt Nam đưa tin, hôm nay, 100% đại biểu có mặt tại hội nghị Hiệp thương lần thứ hai bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa 14 đồng ý thông qua danh sách 197 ứng viên đại biểu Quốc hội khối trung ương, trong đó có 19 uỷ viên Bộ Chính trị.

Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Nguyễn Thiện Nhân cho biết, sau hội nghị lần thứ nhất ngày 23/2, Thường vụ Quốc hội đã phân bổ khoảng 35 đại biểu là người ngoài Đảng ở địa phương, và đây là con số tối thiểu dự kiến.

Ông Nhân cho biết biết thêm rằng sẽ có “những người ngoài Đảng tự ứng cử, và nếu đủ tiêu chuẩn sẽ được bổ sung ở các hội nghị hiệp thương tiếp theo”.

Chính quyền chưa công bố con số ứng viên tự ứng cử, nhưng theo các nguồn tin, có gần 100 người tự ứng cử trên toàn quốc.

Sáng Tạo của “Đỉnh cao trí tuệ loài người”

Sáng Tạo của “Đỉnh cao trí tuệ loài người”

Đường 12 làn của Dubai mất 4 triệu USD/km, dùng 50 năm còn đường Việt Nam mất 20 triệu USD/km, dùng 2 năm

 Tác giả: Theo CafeBiz/TTV

CAU DUBAI

“Một con đường đẹp như mơ của Dubai với 12 làn xe có chi phí xây đường là 4 triệu USD/km, dùng trong 50 năm. Còn ở Việt Nam, chi phí xây đường trung bình là hơn 20 triệu USD/km, dùng trong 2 năm, thử hỏi làm sao phát triển được”.

Nói về cơ hội và thách thức của hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) tới Việt Nam, ông Nguyễn Quang Khai, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất (UAE) đã kể lại một câu chuyện đón đoàn đại biểu Việt Nam trước khi kết thúc nhiệm kỳ Đại sứ vào năm 2011.

Ông Khai đã giới thiệu với đoàn đại biểu do nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc làm trưởng đoàn 2 địa điểm.

Thứ nhất, con đường xuyên Emirates – một đại lộ với 12 làn xe (mỗi bên 6 làn) đẹp như mơ, không hạn chế tốc độ, chi phí xây dựng tiêu tốn 4 triệu USD cho 1 km đường.

Vậy mà ở Việt Nam, chi phí xây đường trung bình gấp 5 lần con số trên, tới 20 triệu USD/km.

“Tuổi thọ đường của Dubai là 50 năm, còn đường Việt Nam chạy xe 2 năm đã hỏng. Như vậy làm sao Việt Nam phát triển được?”, nguyên Đại sứ Khai đặt câu hỏi.

Điểm thứ 2 ông Khai đưa đoàn đến là Bộ Ngoại giao của UAE – một khu vực gồm 6 villas, rất thưa người. Bộ trưởng của họ cởi mở và sẵn sàng tiếp khách.

“Trong khi đó, Bộ của mình to ra sao? Có bao nhiêu người?”, ông Khai tiếp tục đặt dấu hỏi.

“TPP không phải cây gậy thần. Dubai không có TPP, không có FTA… và họ là thành phố số 1 thế giới. Ngoài mức thuế hải quan 5%, doanh nghiệp không phải chịu một loại thuế gì”.

“Doanh nghiệp muốn vào Dubai, visa tự do. Doanh nghiệp muốn vào Việt Nam thì sao? Phải xin visa hết 7 ngày, thì ai vào?”

Dubai là một mẫu hình rất nhiều điều đáng học, TS. Võ Trí Thành – nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định.

Ông Thành cho rằng, Việt Nam cần tự thân vận động, phải tự tin, học hỏi và kết nối để tận dụng được cơ hội và vượt qua những thách thức do TPP mang lại.

Văn hóa… nhang khói

Văn hóa… nhang khói
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Tôi ra tù năm 1982. Bảy năm qua các trại cải tạo, tôi hiểu được những người Cộng Sản nhiều hơn ngày trước. Sau khi ra tù, về lại Sài Gòn, tôi lại hiểu được những người Cộng Sản hơn những ngày còn trong nhà tù. Cán bộ coi tù dù có chức phận đi nữa thì số phận cũng không hơn gì thằng tù, cũng thâm sơn cùng cốc, cũng bữa sắn bữa ngô, thằng tù phải lên rừng xuống rẫy giữa mùa Đông giá rét, hay trời Hè nóng nực, thì thằng cai tù cũng phải vác súng đi theo. Gia tài cai tù thì áo quần mỗi năm cũng chỉ hai bộ, đôi dép râu vừa mang trong chân vừa để chà lưng lúc tắm, cũng có thể để gối đầu lúc ngủ, thêm một cái bàn chải đánh răng, một cái chén ăn cơm với đôi đũa mang theo. Sang hơn thì có cái ca nhôm uống nước, nhưng không thì cơm rồi, rót nước vào chén cũng xong.

(Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Cán bộ cấp cao còn có cái “xắc cốt” đeo kè kè bên mình.

Năm 2002, tỉnh Quảng Trị lắp đặt hệ thống thoát nước tại cổ thành Quảng Trị đã phát hiện ra một chiếc hầm chữ A, trong hầm còn nguyên năm bộ hài cốt của lính miền Bắc trong tư thế đang ngồi, trong đó có bộ hài cốt của một sĩ quan, Thượng Úy Lê Binh Chủng, chỉ huy phó chính trị của một tiểu đoàn. Duy nhất bên bộ hài cốt này có chiếc “xắc cốt” da Liên Xô. Trong “xắc cốt” người ta tìm thấy: Một quyển nhật ký một nửa ghi chép công việc, một nửa viết cho cho gia đình, một quyển điều lệ đảng, một quyển 10 điều chính sách của mặt trận GPMN, một chiếc lược làm bằng nhôm, và một cái bút máy Trường Sơn có khắc dòng chữ tặng. Trong cuốn nhật ký còn kẹp những lá thư của người vợ từ quê nhà miền Bắc gửi cho chồng.

Gia tài của một binh sĩ hay một sĩ quan chỉ có ngần ấy.

Lúc không có gì trong tay, đến cả một đồng bạc lẻ, người ta dễ nói chuyện lý tưởng hay hy sinh. Năm người lính Bắc Việt trong chiếc hầm này không chết vì súng đạn mà vì chết đói và hầm bị gạch đá lấp kín, vì lý tưởng “chết là chết cho Liên Xô-Trung Quốc!”Năm 1982, tức là năm năm sau khi “giải phóng,” cán bộ Cộng Sản vào Nam không còn nghèo nữa, họ có thể vơ vét một ít chiến lợi phẩm là “tàn dư” hay “phồn vinh giả tạo” của miền Nam đem về Bắc đắp đổi, hay được ở lại miền Nam là “chuột sa” vào “hũ nếp” Mỹ Ngụy.

Nhà tôi ở Quận 10, Sài Gòn, gần đường Minh Mạng, là nơi chuyên bán đồ mộc. Tôi không chú ý đến chuyện cán bộ miền Bắc mua sắm, bàn ghế, tủ, giường… vì bây giờ họ có nhà cửa, cơ ngơi, sắm đồ đạc là chuyện thường tình. Điều tôi chú ý là cán bộ (giờ đó hầu hết còn mặc đồ bộ đội) đã chở trên xe gắn máy hay những chiếc xích lô những chiếc tran thờ còn mới mua từ những tiệm mộc đem về nhà.

Đó là những tran thờ Thần Tài, Ông Địa, dấu hiệu của chuyện bảo vệ tư hữu, tức là của cải mình có từ vợ con, nhà cửa, tiền của đến chức vụ, quyền lực.

Khi con người chỉ có một cái chén và một đôi đũa, ăn xong, tự rửa lấy và đeo bên mình thì không hề sợ mất và cũng chẳng nhờ con người hay ông Thần, ông Thánh nào giữ giùm.

Bây giờ cướp được chính quyền rồi thì cán bộ có chức phận, có nhà cửa, có tiền bạc. Thực tế là phải nuôi con chó giữ nhà để đêm hôm canh chừng trộm đạo, chức sắc lớn thì có nhân viên bảo vệ, nhà cửa thời đại này chắc chắn phải gắn máy quay phim. Chưa đủ, phải nhờ thêm đến Thần Linh, tức là Ông Địa, ông Thần Tài để giữ của, giữ chức vụ, tức là giữ ghế cho bền. Bàn thờ Ông Địa, ông Thần Tài thì phải nhang khói suốt năm, khi điếu thuốc lá, khi nải chuối, đối với cấp trên cũng vậy phải nhớ “nhang khói” đừng quên. Cấp trên thì không cần chuối, cũng chẳng cần gà, cũng chẳng cần điếu thuốc 555 như thời bao cấp. Bây giờ cái mặt “bác Hồ” cũng chẳng còn giá trị gì nữa mà phải là chân dung quý vị tổng thống Mỹ.

Thói quen là văn hóa, văn hóa hối lộ đã tràn qua địa hạt tín ngưỡng hay mê tín, dân tình trong đó tất nhiên có cán bộ nhét tiền vào tay Phật, đầu rùa, bỏ tiền vào ngai vua, bỏ lên bài vị, tượng La Hán, Kim Cương bị “ép” cầm tiền lễ ở tay, bị nhét dưới râu, thậm chí nhét tiền vào thạch nhũ khi thăm động. Hối lộ để cầu xin may mắn, tiền của vào nhiều, thăng quan tiến chức, giữ yên ổn cho gia đình và bản thân mình.

Ngày xưa, nghe lời dụ dỗ của đảng, thanh niên miền Bắc “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,” trên đầu nón cối, dưới đất dép râu, không biết cầu xin, van vái ai, cuộc đời cũng chẳng biết đến nhang khói là gì. Ngày nay khi đã có chính quyền trong tay, với thế giặc phương Bắc, chỉ biết có một điều cư xử là cúi lạy. Khi người dân cúi lạy xin tha mạng trước bạo lực, thì chính phủ phải lấy đó làm nhục, vì chính phủ là đại diện của dân, chính phủ không che chở được cho dân, thì dân lạy vái cũng như chính phủ lạy vái.

Cả nước ngày này không có gì gọi là dũng khí, ngay cả báo chí Việt Nam cũng đã than thở đất nước đã đến hồi “mạt vận.” Thay vì ngẩng cao đầu, đứng thẳng lưng, thì cả biển người lại sống bằng quỳ lạy dập đầu và đi xin xỏ Thần Thánh ban phát sự giàu có, vinh hiển, công danh sự nghiệp.

Ở miền Bắc Việt Nam rộ lên cái gọi là lễ hội văn hóa, tôn giáo, với cảnh chen chúc giẫm đạp nhau nơi đền chùa, dâng đội mâm cao cỗ đầy, sì sụp lạy lục, lâm râm khấn vái, đốt vàng mã cho thần thánh, để xin xỏ, năn nỉ xuýt xoa, rồi giành giật nhau, đánh nhau u đầu chẩy máu để lấy hay cướp lộc mang về.

Xin một cái ấn đền Trần, là được may mắn thăng quan tiến chức. Chính ông Nguyễn Thiện Nhân, khi còn làm phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, đã “đích thân” đóng ấn để phát cho du khách thì còn ra cái sĩ diện quốc gia gì nữa!

Ba triệu thanh niên miền Bắc với “cái chén ăn cơm và đôi đũa giắt lưng” đã nằm xuống cho ba triệu đảng viên Cộng Sản hôm nay chỉ biết lạy lục kẻ thù và nhang khói Thần Thánh.

Trong bức di thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh chết tại cổ thành Quảng Trị, để lại, có viết cho vợ:

-“Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống trong hòa bình hãy nhớ tới anh!”

Theo tôi nghĩ, chỉ tiếc thương cho những cái chết trở thành vô nghĩa như của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh. Máu xương của hàng triệu người đó, không phải hy sinh để chúng ta có một đất nước như ngày hôm nay!

Ứng cử viên tự do và vòng vây dư luận

Ứng cử viên tự do và vòng vây dư luận

Cát Linh, phóng viên RFA
2016-03-16

000_875JO

Facebook, một trong những trang mạng xã hội các ứng cử viên dùng để vận động bầu cử.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Truyền thông Nhà Nước và cơ quan chức năng phụ trách bầu cử của chính quyền có nhiều ý kiến bất lợi nhắm vào số người tự ứng cử Quốc hội khoá 14. Phản ứng từ phía những ứng cử viên độc lập đó ra sao, Cát Linh ghi nhận ý kiến của người trong cuộc và người quan sát với vai trò của một cử tri.

Mới hôm 15 tháng 3 vừa qua, một thành viên của ban giám sát, tiểu ban an ninh của Hội đồng bầu cử quốc gia lên tiếng trong buổi làm việc giữa Đoàn giám sát công tác bầu cử do Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu nói với thành phố Hà nội rằng có những tổ chức phản động đứng đằng sau những người tự ra ứng cử đại biểu quốc hội lần này.

Người này nói tiếp là vì lý do đó nên trong số 47 người tự ứng cử lần này phải loại một số người khỏi danh sách ứng cử trong các lần hiệp thương tới đây.

Có thêm ý kiến nói rằng một số đối tượng tự ứng cử đã sử dụng công nghệ để tuyên truyền vận động. Báo này nói thêm là những người này dùng những trang mạng cá nhân để hô hào bỏ phiếu ủng hộ họ.

Theo bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, chủ tịch ủy ban bầu cử thành phố Hà Nội thì trong số 47 người tự ứng cử có nhiều nhân sĩ trí thức quan tâm đến các vấn đề xã hội, tuy nhiên phải loại trừ những một số đối tượng đặc biệt.

Cũng tại buổi làm việc như vừa nêu, ông Nguyễn Xuân Phúc nói là trong kỳ bầu cử lần này có việc ứng cử, đề cử, mở rộng dân chủ nhưng phải đảm bảo chất lượng đại biểu.

Chưa sẵn sàng?

Nghệ sĩ hài Vượng Râu, một trong những ứng cử viên độc lập lần này, cho rằng phản ứng của dư luận và những bài viết trên báo chí vừa qua là do đến từ việc tự ứng cử của các ứng cử viên tự do chưa được sẵn sàng đón nhận. Chính vì thế mà từ một việc hoàn toàn bình thường, có nhiều người đã làm ra thành những việc bất bình thường, thậm chí có phần hoang tưởng.

“Tức là nếu như mọi người cứ để nó bình thường như vốn dĩ nó có thì nó không sao. Nhưng bây giờ chúng ta cứ cố tình để cho nó khác đi, thì đương nhiên hàng trăm con mắt, hàng trăm đôi tai và hàng trăm sự nhìn nhận của người dân vào sự bầu cử nó sẽ khác đi.”

Giải thích rõ thêm, nghệ sĩ Vượng Râu nói rằng một trong những vấn đề chưa sẵn sàng mà hội đồng bầu cử đang gặp phải đó là cách ban bầu cử đón nhận hồ sơ và hướng dẫn thủ tục cho ứng cử viên. Ông đưa ra trường hợp hồ sơ ứng cử của ca sĩ Mai Khôi được cho là không hoàn chỉnh và đòi hỏi phải sửa gấp:

“Cái việc thủ tục hành chính đó là một việc mà tôi khẳng định rằng nó không thể hoàn thành một cách vội vã. Như thế nó sẽ làm giảm đi thời gian và tiến độ của việc chốt hồ sơ. Tất cả những việc đó nếu chúng ta có ý định cho số người tự ứng cử vào thì cần phải thoải mái hơn.”

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều trong bài viết cá nhân của mình, ông lên tiếng về sự việc này và cho rằng đây là do một cơ cấu chưa quen với việc tự ứng cử:

“Bởi chúng ta vẫn chưa quen được hành động này. Chúng ta đã mắc một thói quen cố hữu lâu nay khi cho những người tự ứng cử trong những trường hợp tương tự nói trên là những người không hiểu mình là ai, là những người ham danh háo chức…” (Trích bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Thiều).

“ Rõ ràng thể chế bầu cử ở Việt Nam bây giờ tồn tại quá nhiều hạn chế mà nó khiến cho việc tạo ra những chính trị gia chuyên nghiệp, những dân biểu chuyên nghiệp vẫn còn quá xa vời.
– Nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn”

Theo nghệ sĩ Vượng Râu, khi các ứng cử viên tự do thực hiện việc tự ứng cử nghĩa là họ đã không lo ngại việc bị ném đá, đã quyết định việc có trách nhiệm với đất nước. Chính vì vậy ông kêu gọi nên có những thái độ công bằng đối với các ứng cử viên tự do.

“Để có tiến trình của sự dân chủ rõ rệt, và đặc biệt là cho những người dân nhìn thấy sự phát triển của đất nước thì không nên có những thông tin cũng như những bài báo phiếm diện nói về việc tự ứng cử của những người nhằm mục đích để phát triển đất nước tốt hơn.”

Vấn đề uy tín

Thế nhưng, phản ứng lại với những trách nhiệm như nghệ sĩ Vượng Râu đề cập thì theo ông Nguyễn Văn Pha, Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát biểu với truyền thông trong nước rằng “không uy tín thì khó.”

Thầy giáo Đỗ Việt Khoa, người ra ứng cử ĐBQH lần thứ hai cho kỳ này, lên tiếng cho rằng uy tín của ứng cử viên là do cử tri quyết định:

“Uy tín hay không hãy để cho cử tri đánh giá. Có rất nhiều ứng cử viên tự do có uy tín gấp mấy lần những người đã làm ĐBQH. Có vô số ĐBQH hoạt động rất mờ nhạt. Cả một nhiệm kỳ không phát biểu, không tham gia, bỏ nhiều cuộc họp không có mặt. Các vị ấy cho rằng mình được người ta cơ cấu, phát biểu gì cũng sợ đụng chạm. Vừa rồi chúng ta còn nghe nhiều ĐBQH tâm sự là khi đi họp thì lãnh đạo địa phương căn dặn là không được phát biểu về vấn đề tham nhũng.”

‘Mười năm phấn đấu không bằng một năm cơ cấu’

Như chúng ta đã biết, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, blogger Đặng Bích Phượng, nhà báo Trần Đăng Tuấn, luật sư Lê Luân và một số ứng cử viên tự do khác là những người có nhiều hoạt động, đóng góp về chính trị và các chính sách phát triển xã hội dân sự. Chính vì thế, họ nhận được rất nhiều sự ủng hộ từ người dân trong nước, những người mong muốn có một sư thay đổi về đường lối lãnh đạo nhà nước.

Chính vì vậy, khi những người nghệ sĩ như nghệ sĩ Vượng Râu, ca sĩ Mai Khôi, quyết định ra ứng cử, họ nhận được khá nhiều phản ứng khác nhau từ dư luận.

Nguyễn Anh Tuấn, một nhà hoạt động xã hội dân sự trẻ cho biết góc nhìn cá nhân của mình về sự việc này:

“Đứng ở góc độ cử tri thì với những người tự ứng cử mà mình tạm gọi là vẫn còn non kinh nghiệm thì câu chuyện phức tạp hơn thế nhiều. Rõ ràng thể chế bầu cử ở Việt Nam bây giờ tồn tại quá nhiều hạn chế mà nó khiến cho việc tạo ra những chính trị gia chuyên nghiệp, những dân biểu chuyên nghiệp vẫn còn quá xa vời. Chẳng hạn như vòng hiệp thương thứ nhất, họ lựa chọn thành phần đại biểu quốc hội, nghe rất xa lạ với truyền thống dân chủ tây phương. Nghĩa là nó chọn ra sẵn cái cơ cấu, thành phần đến từ tầng lớp nào, giai cấp nào, cơ quan nào, cơ quan nào, nghề nghiệp nào. Nghe rất là lạ. Thành phần đó được ấn định thành một tỷ lệ gọi là cơ cấu.”

Chính vì thế, theo Nguyễn Anh Tuấn, rất là khó để có một đại biểu hay dân biểu chuyên nghiệp.

Tuy nhiên, không vì vậy mà những ứng viên tự do không thuộc “cơ cấu” định sẵn của Hội đồng bầu cử quốc gia như nghệ sĩ Quốc Vượng, ca sĩ Mai Khôi lại không thể thực hiện quyền ứng cử.

“Có thể họ chưa có kinh nghiệm hoạt động xã hội chính trị, tuy nhiên, sự tham gia, quyết định tự ứng cử của họ đóng góp rất quan trọng ở khía cạnh là bình thường hoá quyền tự ứng cử. Ai cũng có thể thực hiện được.”

Và từ những cử tri như Nguyễn Anh Tuấn cho thấy rằng dù việc tự ứng cử là một cuộc chơi từ các ứng cử viên tự do, thì họ vẫn có tâm ý và kế hoạch, xã hội Việt Nam vẫn chấp nhận thay cho những người do cơ cấu sắp đặt nên. Vì những ứng viên tự do ấy sẽ đưa đến một xã hội đa diện trong sinh hoạt dân chủ của đất nước.

Dân bất an với ‘phố Trung Quốc’ ở Trà Vinh

Dân bất an với ‘phố Trung Quốc’ ở Trà Vinh
Nguoi-viet.com

TRÀ VINH (NV)Từ khi nhà máy nhiệt điện Duyên Hải bắt đầu được xây dựng, cũng là lúc xã Dân Thành có thêm “khu phố Tàu” với nhiều loại dịch vụ để phục vụ cho người Trung Quốc.

Công ty China Chengda Engineering đưa hàng ngàn người Trung Quốc tới làm việc tại dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 3, xã Dân Thành, thị xã Duyên Hải, cũng là lúc đời sống người dân ven biển này đã thay đổi bằng việc chuyển từ làm nông nghiệp sang kinh doanh dịch vụ.


Những tấm bảng hiệu có chữ Trung Quốc chiếm tới 90% ở khu nhà máy nhiệt điện Duyên Hải. (Hình: Dân Trí)

Ði dọc các con đường ở gần nhà máy nhiệt điện Duyên Hải, không khó để bắt gặp các tấm bảng hiệu hàng quán đầy chữ Trung Quốc từ quán cà phê võng, tiệm tạp hóa, massage, hớt tóc…

Ông Huỳnh Văn Ðịnh (51 tuổi), nhà ở “khu phố Tàu” cho biết, từ khi khởi công xây dựng nhà máy nhiệt điện này, gia đình ông bắt đầu xây dựng nhà trọ, kinh doanh tạp hóa để phục vụ hàng ngàn công nhân đang làm việc tại đây. “Do khách hàng phần lớn là người Trung Quốc nên những tấm bảng hiệu cũng phải viết bằng tiếng Trung,” ông Ðịnh nói.

Người dân địa phương cho hay, do dân tứ xứ về đây làm công nhân nên tình hình an ninh trật tự rất phức tạp. Mới đây, sau một vụ va quẹt xe gắn máy, một nhóm người Trung Quốc đã đánh nhau với người địa phương. Họ còn định đốt luôn xe máy của người Việt. Rất may công an địa phương can thiệp kịp thời nên không gây hậu quả nghiêm trọng.

Nói với phóng viên Dân Trí, ngày 15 tháng 3, ông Phan Quốc Lễ, trưởng ấp Láng Cháo, lo ngại: “Những dịch vụ nhạy cảm như gội đầu, massage, xông hơi… phục vụ cho khách hàng Trung Quốc ngày càng mọc ra nhiều hơn đã khiến người dân vùng quê hẻo lánh, hiền lành này lo ngại về tệ nạn xã hội, mại dâm sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống hàng ngày, nhất là thế hệ trẻ.” (Tr.N)

Bệnh viện lớn nhất tỉnh Bến Tre chia nhau từng lít nước ngọt

Bệnh viện lớn nhất tỉnh Bến Tre chia nhau từng lít nước ngọt
Nguoi-viet.com

BẾN TRE (NV) Ngày 14 tháng 3, bệnh viện Nguyễn Ðình Chiểu, thành phố Bến Tre, cho biết, bệnh viện vừa có kế hoạch chia từng lít nước vì thiếu nước ngọt trầm trọng.

Theo ông Lê Thanh Nguyễn, trưởng phòng Hành Chính Quản Trị bệnh viện, nước sinh hoạt bị nhiễm mặn gây ảnh hưởng cho quá trình điều trị cho bệnh nhân chạy thận nhân tạo, vận hành các máy xét nghiệm, nước và thực phẩm cho người bệnh và gây rỉ sét các dụng cụ y tế của các khoa trong bệnh viện.


Mỗi ngày, công ty cấp nước Bến Tre chở cho bệnh viện Nguyễn Ðình Chiểu 10 mét khối nước ngọt. (Hình: Tuổi Trẻ)

Do nguồn nước máy bị nhiễm mặn 3g/lít, không thể sử dụng nên mỗi ngày bệnh viện Nguyễn Ðình Chiểu được công ty cấp nước chở tới khoảng 10 mét khối nước mỗi ngày. Số nước này chỉ đủ để phục vụ những nhu cầu thiết yếu của bệnh viện và được chia ra từng lít cho các phòng, khoa.

Trong đó, khoa nội A – thận nhân tạo được cấp nhiều nhất với 10,000 lít nước/ngày, các khoa còn lại như ngoại tổng quát, ung bướu, ngoại thần kinh, chấn thương chỉnh hình và tim mạch chỉ được cấp 30 lít/ngày/khoa.

Nói với phóng viên Tuổi Trẻ, cùng ngày, ông Cao Văn Trọng, chủ tịch tỉnh Bến Tre cho biết, hiện chỉ còn vài nơi ở phía Bắc chưa ảnh hưởng, còn lại 162/164 xã, phường, thị trấn của tỉnh đều bị nước mặn “bủa vây” với độ mặn 1-3g/lít.

Tại các huyện ven biển Bình Ðại, Ba Tri, Thạnh Phú,… nước ngọt đang cực kỳ khan hiếm. Với nước ít nhiễm mặn người dân phải mua 100,000 đồng/khối. (Tr.N)

Trả Lại Sự Thật Cho Lịch Sử Việt Nam

Trả Lại Sự Thật Cho Lịch Sử Việt Nam

Nguyễn Ngọc Bích

12/03/2016

LTS.- Ngày 3-3-2016, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích từ trần trên chuyến bay tới Phi Luật Tân dự Hội Nghị về Biển Đông. Hôm nay, Thứ Bảy 12 tháng Ba, lễ tang được chính thức cử hành tại Virginia. Nhân dịp này, Việt Báo trân trọng giới thiệu một trong những bài viết sau cùng của Giáo sư  Bích, đề cập tới những diễn tiến tại đại học Cornell,  trong nỗ lực làm sáng tỏ sự thật về chiến tranh Việt Nam,  từ việc ông tham dự cuộc hội luận “Voice from the South Vietnam” năm 2012 tới việc tác giả “Giải Khăn Sô cho Huế” nói chuyện tại Cornell năm 2015. Giáo sư  Bích đã viết bài này vào đêm 16 tháng 12 năm 2015, dành riêng Việt Báo Tết Bính Thân. Khi bài tới, báo đã in xong. Nhờ vậy, đây là lần đầu tiên bài viết được phổ biến. Vào ngày tiễn đưa vị học giả một đời tận tụy với văn hóa lịch sử dân tộc, xin mời đọc bài viết nhiều tâm huyết của ông.

Hình ảnh ngày hội luận Cornell 2012 về Đệ Nhị Cộng Hòa VN trước Kehin Center tại Đại Học Cornell. Hàng thứ hai, người thứ nhất từ phải, người đầu bạc áo trắng cúi tựa lan can là Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Người đứng dưới GS Nguyễn Ngọc Bích là bình luận gia Trần Bình Nam, tức cựu dân biểu Trần Văn Sơn, vừa từ trần sáng Thứ Sáu 11-3-2016 ở Calif.

***

Hội-thảo “Những Tiếng Nói từ Miền Nam” (“Voices from the South”) ở Cornell University do Giáo sư Keith W. Taylor đứng ra mời và tổ-chức vào tháng 6 năm 2012.

Là một cựu-chiến-binh đã từng tham chiến tại Việt-nam, sau khi về Mỹ, ông Keith W. Taylor đã muốn tìm hiểu thêm về nước ta.  Ông học tiếng Việt, tiếng Hán, chữ nôm và đã viết cuốn sách rất giá trị trong tiếng Anh,The Birth of Vietnam  – “Việt Nam Khai Quốc”, do University of California Press in ra năm 1983- kể lịch-sử nước ta từ thuở lập quốc đến thế-kỷ X.  Gần đây nữa, năm 2013, ông lại có một cuốn sách để đời do Cambridge University Press ở Anh in ra mang tên A History of the Vietnamese (“Một cuốn sử về người Việt”).

Trong nhiều năm dạy ở Cornell, ông Taylor đã bị ảnh-hưởng không ít bởi lối trình bầy lịch-sử truyền-thống của chúng ta: rằng Việt-nam là một dân-tộc thống nhất với một lịch-sử tuyến-tính, kết thúc (làm như lịch-sử có kết thúc) bằng sự thống nhất dưới sự giầy xéo của xe tăng Nga vào Dinh Độc Lập ngày 30 tháng Tư 1975.  Nhưng rồi ông tỉnh ra rằng lịch-sử Việt-nam đã có nhiều giai-đoạn phân ly, chia cách.  Như ở thế-kỷ XVI đã một thời-gian dài nước ta có ba chính-quyền (nhà Mạc, nhà Lê với sự phò trợ của chúa Trịnh, rồi chúa Nguyễn ở miền Nam) hoặc giai-đoạn Trịnh-Nguyễn phân tranh (trên 200 năm), rồi sự tranh hùng giữa hai nhà Nguyễn (Nguyễn Tây-sơn và Nguyễn Gia-miêu, chưa kể là mấy anh em nhà Tây-sơn cũng chia nước ra làm ba) và nhất là Việt-nam sau Genève 1954.  Thành thử không thể thiên-vị phe này để gọi phe kia là “ngụy” được.

Chính vì thế mà cách đây ít năm ông đã viết một bài dài phân-tích, cho rằng lối trình bày cũ không sát thực-tế, là quá một chiều.  Từ đó ông nhìn lại lịch-sử Việt-nam cận-hiện-đại để thấy Miền Nam trong ít nhất 21 năm (1954-1975) đã thực-sự là một quốc gia được quốc-tế công-nhận rộng rãi (hơn rất xa miền Bắc CS trong nhiều lãnh-vực và trong nhiều nghĩa).  Từ đó ông nảy sinh ra ý-tưởng phải nghiên cứu một cách đứng đắn về Miền Nam, về hai nền Việt-nam Cộng-hòa.

Đó là lý-do vì sao ông, tức là Cornell University, là nơi đầu tiên trong các đại-học lớn ở Mỹ tìm cách mời một số diễn-giả mà đã có vai trò đáng kể trong những lãnh-vực như chính-trị, ngoại-giao, an-ninh quốc-phòng, kinh tế tài-chánh, thông tin tuyên-truyền thời Đệ nhị Cộng-hòa đến trình bầy cho khoảng 100 học-giả đến từ khắp nước Mỹ và cả một số nước khác (Pháp, Anh, Canada…) về những kinh-nghiệm xây dựng dân-chủ, qua một hiến-pháp (1967) tôn trọng tam quyền phân lập và những quyền căn-bản của người dân, qua một nền kinh tế tự do nhưng có điều tiết, khuyến khích phát triển nông-nghiệp và công-nghiệp, xuất khẩu, và đang trên đà bứt phá (takeoff).

Đến từ Chicago, Illinois, là Hoàng Đức Nhã, ông trình bầy về những nỗ lực xây dựng một nền dân-chủ ngay trong chiến-tranh.  Như các cuộc tranh cử có cạnh tranh, trong Quốc-hội có đối-lập, có khối này khối nọ.  Và ông Thiệu dám cưỡng lại tổng-thống Mỹ Nixon và ông Kissinger trong những ngày cuối của hòa-đàm Ba-lê khi thấy hiệp-định như Kissinger và Lê Đức Thọ thỏa-thuận quá bất lợi cho miền Nam.

Ủng-hộ cho lập-luận của ông Hoàng Đức Nhã là ông tòa Phan Quang Tuệ, đến từ San Francisco, và ông Trần Văn Sơn, một cựu-sĩ-quan Hải-quân và một dân-biểu đối-lập, đến từ Phila.  Ông Sơn, một thành-viên trong khối đối-lập của Luật-sư Trần Văn Tuyên (29 dân-biểu, đa-phần thân Phật-giáo), cho biết là khối đối-lập của ông có tiếng nói rõ ràng trong Quốc-hội, được báo chí đưa tin đầy đủ và sự an-toàn cá-nhân của các thành-viên trong khối không bị đe dọa.  Tuy phút chót không đến được nhưng B.S. Mã Xái cũng đã gởi bài nói về sự “đóng góp của Đảng Tân Đại Việt vào việc xây dựng dân-chủ ở miền Nam.”

Sang lãnh-vực xây dựng quốc gia có bài thuyết-trình của cựu-tổng-trưởng Thương mại và Kỹ-nghệ Nguyễn Đức Cường đến từ San Jose.  Gốc kỹ-sư, ông Cường trình bầy bằng những con số thuyết-phục về các chương-trình do chính-quyền đưa ra thời đầu thập-kỷ 1970 để kìm lạm-phát (kinh tế thị-trường), phát triển đầu tư và công-kỹ-nghệ (như khu chế xuất Biên-hòa), tìm ra dầu hỏa v.v.  Riêng cựu-thứ-trưởng Cải cách Điền địa và Phát triển Nông-nghiệp Trần Quang Minh, đến từ Louisville, Kentucky, nói về chương-trình “Người cày có ruộng” (1970), thành công tới mức khi CS vào cũng không thay đổi gì được, cũng như chương-trình về thực-phẩm quốc gia, tất cả trong một khung-cảnh chiến-tranh toàn-diện trên toàn-quốc.

Về mặt an-ninh quốc-phòng thì có hai bài, một của Trung-tướng Lữ Lan đến từ Virginia nói về an-ninh diện-địa và một của Phó-đề-đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tư lệnh Khu Duyên hải vùng I, tư lệnh trực-tiếp của hải-chiến Hoàng-sa 1974 và cũng là tác-giả cuốn Can trường trong chiến bại.  Ông đến từ Houston, Texas, và đã cho biết trong chi-tiết những diễn-biến của trận hải-chiến để đời này trong lịch-sử nước nhà, với những anh-hùng  như Ngụy Văn Thà và 71 đồng-đội hải-quân hy sinh trong trận chiến đó.

Ngoài ra, ông Phan Công Tâm thuộc Trung-ương Tình-báo mô-tả một số hoạt-động của ông ở Cao-miên cũng như sang tận Phi-châu mang con gái ông Bokassa sang nước Trung-Phi.

Riêng tôi nói về công-tác thông tin quốc-ngoại, không chỉ ở Sứ-quán VNCH tại Hoa-thịnh-đốn (1967-1971) mà còn trong thời-gian tôi làm Trung-tâm-trưởng Trung-tâm Dân-vụ (lo cho các nhà báo ngoại-quốc đến làm tin ở VN) và Cục-trưởng Cục Thông tin Quốc-ngoại, hơn một lần phụ-tá cho Tổng-thống Nguyễn Văn Thiệu để tiếp đón các nhà báo Tây-phương (như Oriana Fallaci, Patrice De Beer, v.v.) và thậm chí trong cả chuyến đi họp Thượng-đỉnh San Clemente với Tổng-thống Mỹ Nixon, sau đó đi diện kiến Đức Giáo-hoàng và trên đường về, ghé thăm Tổng-thống Phác Chánh Hy của Đại-Hàn và Tổng-thống Tưởng Giới-thạch ở Đài-loan (Trung-hoa Dân-quốc).

Cựu-Đại-sứ Bùi Diễm, đến từ Maryland, thì cho một cái nhìn tổng-quan về quan-hệ Việt-Mỹ, những ngộ-nhận đáng tiếc để sau đó dẫn đến những sai lầm trong chính-sách của Hoa-kỳ đối với VNCH.  Chuyến đi Cornell này còn để lại cho tôi một số ký-ức thật đẹp vì Đại-sứ Bùi Diễm, “boss” cũ của tôi ở Tòa Đại-sứ Washington, và chúng tôi đã hẹn gặp nhau ở phi-trường Rochester (với tôi bay thẳng từ Cali về) để sau đó tôi thuê xe lái qua vùng Finger Lakes (Mấy hồ thật đẹp có hình như mấy ngón của một bàn tay) leo núi xuống đồi đôi khi thật ngoạn mục qua vùng mấy vườn nho làm rượu vang trước khi đến trường Cornell.

Tóm lại, chuyến đi như một cuộc du ngoạn song cũng nhân cơ-hội đó mà 12 diễn-giả gốc từ miền Nam đã nói lên được một cách khá đầy đủ và dõng dạc về những thành-tựu rất đáng kể và đáng nể của VNCH, nhất là nền Đệ nhị Cộng-hòa, một quốc gia càng ngày càng chứng minh được nếp sống văn-minh và dân-chủ cao-độ so với miền Bắc u tối cùng thời.

Hội-luận Cornell, “Những Tiếng Nói từ Miền Nam,” đến quá muộn (37 năm sau khi mất miền Nam) nhưng vẫn là một “corrective” cần thiết đối với lịch-sử.  Và qua hội-luận đó, Giáo-sư Keith Taylor đã trả lại được phần nào sự thật cho lịch-sử–gần như “ở ngay trong lòng địch” vì cũng chính ở Cornell, chính khoa Đông-Nam-Á-học ở đây, đã là “lò phản-chiến” của Mỹ trong chiến-tranh VN với ông George McT. Kahin viết cùng với ông John W. Lewis cuốn “Thánh Kinh” của phong trào phản chiến Mỹ (và trên thế-giới), cuốn The United States in Vietnam (A Delta Book, 1967), một cuốn sách méo mó xuyên tạc khá tệ hại.

Sau hội-luận Cornell 2012, các bài tham-luận đã được in thành sách dưới tên VOICES from the Second Republic of South Vietnam (1967-1975), K.W. Taylor, editor (Cornell Southeast Asia Program Publications, 2014). Năm nay, đánh dấu 40 năm ngày miền Nam bị đẩy vào cảnh sụp đổ,  ông Taylor lại đi thêm một bước nữa trong việc trả lại sự thật cho lịch-sử Việt-nam khi ông mời nhà văn Nhã Ca lên Cornell nói về sự thật Tết Mậu Thân tại Huế. Cuốn Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca đã được  Olga Dror dịch thành Mourning Headband for Hue (Indiana University Press, 2015).

Tiến sĩ Olga Dror là một nhân vật khá lạ.  Là người gốc Do Thái sinh tại Nga, bà nói lưu loát tiếng Việt và đã dịch cuốn sách của Nhã Ca sang tiếng Anh cũng không kém văn chương.  Trong quá-khứ bà đã từng nghiên cứu về folklore Việt-nam và viết được một cuốn sách rất giá trị mang tên Cult, Culture and Authority: Princess Liễu Hạnh in Vietnamese History (“Thờ phụng, Văn-hóa và Quyền-uy: Chúa Liễu Hạnh trong Lịch-sử VN,” University of Hawaii Press, 2007).  Để có thể dịch được cuốn của Nhã Ca, bà đã nghiên cứu và đào sâu về trận Mậu-thân ở Huế cũng như tìm cách xác-định về vụ thảm-sát Tết Mậu-thân ngoài đó.  Do đó mà cuốn sách có một phần dẫn nhập thật dài và chi-tiết (50 trang) trình bầy kiểu nói có sách mách có chứng tất cả những sự tranh cãi về trận Mậu-thân tại Huế, chẳng hạn như vai trò của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân, trong thời-gian Cộng-sản chiếm đóng Huế trong 23 ngày.  Chỉ riêng phần dẫn nhập này với đầy đủ cước-chú các nguồn tin cũng đủ đáng để cho ta mua cuốn sách rồi.

Tháng trước sang Cali để dự “Đại-nhạc-hội Việt-nam Cộng-hòa Trở Lại”, hôm ghé thăm Việt Báo gặp anh Trần Dạ Từ, anh bảo tôi: “Ông ơi, ông đã tham dự hội luận “Voices from the South” ở Cornell năm 2012 để lấy lại sự thật cho miền Nam, vậy thì ông phải viết về chuyến đó cho báo Tết năm nay!”

Như mọi khi, tôi hay có tật ừ.  Thế là…

Đồng Xuân, bang Trinh Nữ, Hoa Kỳ Quốc

Viết xong đêm 16 tháng 12, 2015

Nguyễn Ngọc Bích