Cái Lon, Chiếc Nón & Nùi Giẻ Rách

Cái Lon, Chiếc Nón & Nùi Giẻ Rách

tuongnangtien

Bây giờ, trừ cái labtop, tôi rất ít để ý đến những vật dụng khác quanh mình. Sau tháng 4 năm 1975 – có lúc – tôi cũng không bận tâm đến bất cứ một thứ gì, ngoài cái lon Guigoz.

Tôi bắt đầu làm quen với nó vào mùa mưa năm 1975, trong trại cải tạo. Chịu đói là bài học đầu tiên mà chúng tôi được học, và đây cũng là bài học kéo dài suốt khóa.

Ở vào hoàn cảnh này mà vớ được mấy củ khoai đào sót, một con ếch chậm chân, một nắm rau rừng cấu vội, hay một vốc gạo thừa – vét được sau những lần tạp dịch dọn kho – mà có sẵn cái lon Guigoz bên mình thì tiện lắm. Cất dấu tang vật rất dễ, và chỉ cần rất ít nhiên liệu trong việc nấu nướng.

Hằng đêm chúng tôi đều được nghe giảng dậy về một cuộc sống mới không giai cấp, không còn cảnh người bóc lột người, mọi sản phẩm đều là của chung, làm việc theo khả năng và hưởng thụ theo nhu cầu… Chúng tôi cũng được động viên cứ yên tâm học tập, không phải bận tâm gì về thân nhân hay gia quyến. Cả nước đang đi từ giai đoạn ăn no mặc ấm, sang ăn sang mặc đẹp. Còn cả thế giới thì đang chuẩn bị bước vào thế giới đại đồng.

Chúng tôi tiếp thu tốt, thảo luận tốt, viết thu hoạch tốt, nhất trí rất cao về tất cả mọi vấn đề. Sau đó – sau giờ học tập – mọi người lại lục đục mang tất cả những thứ “cải thiện” được trong ngày, bỏ vào lon Guigoz, lúi húi tìm một góc riêng đun nấu, để “sột sệt” cho đỡ đói.

Cái lon Guigoz đối với chúng tôi (những kẻ thuộc bên thua cuộc) không chỉ là một vật dụng thiết thân mà còn trở thành một kỷ vật, với những kỷ niệm rất buồn. Điều tôi không ngờ là nó cũng rất thân thiết, và cũng là một kỷ vật buồn (không kém) đối với những người thuộc bên thắng cuộc:

Nhớ thằng bạn cùng đơn vị xưa kia kể lại, bà mẹ của cậu ta cứ nắc nỏm ao ước tìm đâu ra một chiếc hộp sắt để đựng kim chỉ khâu hay đựng thuốc cảm cúm, nhức đầu… Tìm đâu ra vài chiếc bình, chiếc chai thật đẹp để tích lạc, đựng vừng phòng ngày mưa gió, lụt lội. Vừa khô ráo, vừa tiện lợi, bày biện chỗ nào cũng sáng cả một góc nhà. Bà mẹ tơ tưởng vậy thôi, chứ đang thời bom rơi đạn nổ, mọi người chỉ sống nhờ vào mấy chiếc tem đậu phụ, tem thịt, vào những viên gạch xếp hàng giữ chỗ thay người trước một xe bán  rau,  trước cửa hàng bán nước mắm mậu dịch…, bới đâu ra chiếc hộp, chiếc chai bà ưng ý?

Ấy vậy mà hôm tiễn thằng bạn tôi vào chiến trường, không hiểu bằng cách nào, bà mẹ đã tìm được chiếc vỏ hộp sữa Guigoz đặt vào một bên túi cóc của cậu con trai. Nhờ cái vỏ hộp sữa ấy – chống được ẩm mốc, mưa nắng – cái ba lô lính của thằng bạn tôi thực sự trở thành một cái chạn di động. Không gặp thì chớ, hễ gặp nhau y như rằng nó sẵn sàng khoản đãi tôi đủ thứ “cao lương mỹ vị”: thịt nai sấy khô, mắm ruốc cá, thịt cheo sào gừng, sả… Tất cả chứa trong chiếc hộp sữa Guigoz đó!

Bạn tôi hy sinh ở Bàu Bàng cuối năm 1969. Nhận được giấy báo tử người con trai đâu đó chín tháng hay một năm, bà mẹ ngã bệnh qua đời. Mãi hơn hai mươi năm sau, những đội viên Hội Chữ thập Đỏ phường Mã Mây mới tìm ra nơi chôn cất thằng bạn tôi. Họ kể lại, di vật của người hy sinh đã ẩm mục, rã rữa hết, chỉ còn tìm được chiếc vỏ hộp sữa Guigoz. Hôm đưa hài cốt bạn tôi về với bà mẹ cậu ta ở một khu phố cổ Hà Nội, người ta đã đặt chiếc vỏ hộp sữa bên cạnh bó hài cốt bạn tôi trước bàn thờ bà mẹ. Đủ lệ bộ ngay ngắn, họ mới thắp hương báo với bà con trai bà đã về. (“Nỗi Buồn Lâu Qua” – Tô Hoàng).

Ngày trở về của chiếc nón cối thì ồn ào, và hoành tráng hơn nhiều:

Ảnh: AP

Năm 1968, người lính trẻ Hoa Kỳ là John Wast, khi lục soát trận địa tìm vũ khí, tài liệu, bất chợt trông thấy một chiếc nón cối có vết đạn, vẽ hình con chim bồ câu. Anh ta buộc chiếc nón vô ba-lô, và khi hồi hương vào năm tháng sau đó, anh ta mang theo làm kỷ niệm chiến tranh và đặt trên cái giá sách trong phòng.

Có một cựu chiến binh làm công tác từ thiện đến gặp anh lính cũ và hỏi anh ta có muốn trả lại chiếc nón về nơi cũ chăng, bởi vì năm tháng qua đi, cũng chẳng còn khơi lại những đau thương nhức nhối nữa. Một phái đoàn có tên là “Đoàn phát triển kinh phí thiện nguyện tại Việt Nam” tìm ra gia đình anh bộ đội Bùi Đức Hùng, bị tử thương, nhưng hài cốt không bao giờ được thu hồi.

Vào ngày Thứ Ba, bốn cựu chiến binh Hoa Kỳ mang hoàn trả chiếc nón cối cho gia đình anh Hùng qua một nghi lễ tại một ngôi làng cách Hà Nội 70 cây số; với nghĩa cử đề cao nhu cầu hòa bình và hòa giải.

Ông Bùi Đức Dục, 52 tuổi, là cháu của liệt sĩ Hùng phát biểu, “Đây thật là giây phút thiêng liêng đối với gia quyến chúng tôi.”

Ông Dục bật khóc khi chiến nón cối được mang đặt lên bàn thờ gia tộc, trước sự chiêm bái của những cựu chiến binh Hoa Kỳ, khoảng 100 dân làng và viên chức xã có mặt. Trong căn phòng cũng đặt một bức tượng ông Hồ Chí Minh, người đã lãnh đạo cuộc chiến tranh thắng lợi.

Ảnh: AP

Ông Dục ngỏ lời “Chúng tôi coi chiếc mũ này như chính một phần thân thể chú tôi, và sẽ bảo tồn nó để nhắc nhở cho thế hệ tiếp nối của gia tộc chúng tôi.”

Hơn ba triệu người Việt Nam đã chết trong chiến tranh qua thời gian Hoa Kỳ phải hành động để ngăn chặn làn sóng Cộng Sản tại Đông Nam Á. Ông Wast, nay đã 67 tuổi, là người dân vùng Toledo, bang Ohio, chưa từng du lịch Việt Nam. Lời nói của ông ta đã ghi và phát lại qua buổi lễ cho biết rằng liệt sĩ Hùng đã chiến đấu thành thạo và ngoan cường… (“46 years on, Vietnamese helmet returned.” Tran Van Minh. AP. Trans Y.Y).

Trường hợp của ông Nguyễn Chánh Nhường thì hơi khác, theo bản tin (“Sau 40 năm, liệt sỹ trở về thành hộ nghèo”) của báo Lao Động, số ra ngày 1 tháng 2 năm 2015:

Một sự kiện hy hữu vừa diễn ra tại xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) khi ông Nguyễn Chánh Nhường, đã có giấy báo tử và được công nhận Liệt sỹ tròn 40 năm bỗng trở về trước sự ngỡ ngàng của người thân và bà con xóm giềng. Ông Nhường hiện trí nhớ suy giảm, sức khỏe yếu được chính quyền địa phương xếp vào diện hộ nghèo.

Vào ngày 10.4.2014, gia đình ông Nguyễn Chánh An, xóm 19 xã Quỳnh Lâm hết sức ngỡ ngàng khi thấy một người đàn ông ăn mặc rách rưới, dáng vẻ tiều tụy, khắc khổ xuất hiện trước cửa nhà. Sau phút định thần, gia đình ông An bàng hoàng nhận ra đây là ông Nguyễn Chánh Nhường, người anh em ruột của gia đình, đi bộ đội và được báo tử, truy điệu Liệt sỹ vào năm 1974, vừa tròn 40 năm.

Ông Nguyễn Chánh Nhường sinh năm 1949, quê quán xã Quỳnh Lâm, lớn lên theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông xung phong lên đường nhập ngũ. Sau một thời gian bặt tin tức, vào năm 1974, cả gia đình ông chết lặng khi nhận được giấy báo tử của đơn vị gửi về, thông báo ông đã hi sinh ngày 6.4.1973. Địa phương và các tổ chức đoàn thể đến thăm hỏi, động viên gia đình và tổ chức lễ truy điệu. Gia đình ông được phát bằng Tổ quốc ghi công số DE 145, được lưu giữ trang trọng tại nhà ông anh cả Nguyễn Chánh Nghiệm…

“Liệt sỹ” Nguyễn Chánh Nhường trở về sau 40 năm báo tử. Ảnh và chú thích: Lao Động

Bà Bùi Thị Hường, Phó Chủ tịch UBND xã Quỳnh Lâm cho biết: “Sau khi nghe tin có ông Nhường trở về, chúng tôi đã thành lập đoàn xác minh thông tin. Kết quả cho thấy người trở về chính là ông Nguyễn Chánh Nhường, đã được công nhận Liệt sỹ cách đây 40 năm. Ông Nhường không có giấy tờ gì, trí nhớ cũng không còn minh mẫn, ngay cả nói cũng không mạch lạc…

Bà Hường nói:“Chúng tôi chưa thăm, tặng quà ông Nhường, nhưng đã có kế hoạch tặng quà và đề xuất UBND huyện tặng quà cho ông trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi. Đây là một trường hợp hết sức hi hữu, mong rằng các cơ quan chức năng sẽ xem xét giải quyết chế độ phù hợp cho một người đã từng đi bộ đội, tham gia chiến đấu và được công nhận là Liệt sỹ.”

Ông Nhường trở về ngày 18 tháng 3 năm 2014, gần một năm sau (hôm 1 tháng 2 năm 2015) bà Phó Chủ Tịch UBND xã Quỳnh Lâm tuy vẫn chưa đến thăm nhưng đã có “kế hoạch” và “đề xuất UBND huyện tặng quà” rồi. Chả biết “đề xuất” này có được chấp thuận hay không nhưng (“tiếng chào cao hơn mâm cỗ”) thế cũng qúi hoá lắm rồi.

Nếu ông Nguyễn Chánh Nhường đi luôn, và chỉ có cái lon Guigoz hay chiếc nón cối trở về (thôi) thì việc tiếp đón – chắc chắn – sẽ long trọng và đình đám hơn nhiều. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Đã đi chinh chiến mà còn (ráng) trở về làm chi nữa, cho nó thêm rách việc!

‘ Người tự ứng cử như cá nằm trên thớt’

‘ Người tự ứng cử như cá nằm trên thớt’

Vo An Don

Một số người tự ứng cử Đại biểu Quốc hội ở Việt Nam phê phán giai đoạn lấy ý kiến của cử tri về người ứng cử tại nơi sinh sống, làm việc.

Luật sư Võ An Đôn viết trên Facebook của ông, gọi những gì ông trải qua trong buổi lấy ý kiến hôm 01/04 ở nơi ông cư trú là buổi ‘đấu tố’.

“Tham dự hội nghị có hơn 100 người, phần lớn là công an, người nhà công an, cán bộ các đoàn thể chính quyền địa phương, người lạ mặt ở địa phương khác, dân chúng trong thôn chỉ vài người được mời đến dự.”

“…Họ đem chuyện gia đình, chuyện tôi không tham dự các cuộc họp của thôn, chuyện tôi viết bài trên Facebook ra mạc xác tôi; họ cho rằng tôi không đủ điều kiện làm đại biểu quốc hội, vì tôi có tư tưởng phản động; họ khuyên mọi người không bầu tôi.

“Điều đáng buồn là chính lãnh đạo Đoàn luật sư được mời đến dự lại đấu tố tôi, cho rằng tôi vừa bị Sở tư pháp phạt tiền vì không lập sổ tài chính nhưng không khai báo và tôi có tư tưởng không đảm bảo để bầu vào quốc hội,” ông Võ An Đôn viết.

Luật sư Đôn chỉ nhận được 29 phiếu ủng hộ trên tổng số 86 phiếu trong buổi tiếp xúc cử tri. Đến ngày 02/4 ông Đôn còn có buổi lấy phiếu tại Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên

‘Cá nằm trên thớt’

Ca sỹ Mai Khôi trả lời BBC Tiếng Việt hôm 01/04 sau buổi lấy ý kiến cử tri ở tổ dân phố tại thành phố Cam Ranh rằng, những người tự ứng cử “hoàn toàn như cá nằm trên thớt, và họ muốn mình vào được vòng nào là có sự sắp xếp của họ và mình cứ thế theo thôi.”

Mai Khôi kể lại về buổi hội nghị cử tri hôm 31/03: “Gọi là lấy ý kiến cử tri nhưng không được vận động trước, thứ hai là không được trình bày chương trình hành động của mình, không được phát biểu ý kiến gì ngoài việc phát biểu cảm ơn mọi người trong tổ dân phố của mình.

“Khôi thấy buổi lấy ý kiến đó như là hình thức, thiếu nội dung vì người ta không biết mình là ai, đang làm gì thì làm sao người ta cho ý kiến chính xác được. Ở đây chỉ là sự cảm tính.”

Trước buổi hội nghị với cử tri, Mai Khôi cho biết ‘một lãnh đạo’ đã tới tận nhà dặn dò cô một số điều không nên nói, mà cô kể lại rằng người này nói rất khéo léo, trong lời dặn dò có nhiều ‘ẩn ý’.

Khi được hỏi liệu cô có cho rằng mình sẽ qua được vòng hiệp thương để tiếp xúc cử tri, Mai Khôi nói xác suất có lẽ rất thấp.

“Đến nước này thì mình thấy rõ là họ đã có con đường, có sắp xếp của họ rồi, mình thấy rõ là chắc không có cơ hội đi tiếp.”

‘Không ghi âm, ghi hình’

Lam Ngan Mai

Đoạn tin trên Facebook kể lại chi tiết buổi lấy ý kiến cử tri của ca sỹ Lâm Ngân Mai

Ca sỹ Lâm Ngân Mai ở thành phố Hồ Chí Minh cũng tường thuật chi tiết về buổi lấy ý kiến cử tri về cô tại tổ dân phố Gò Vấp hôm 31/03 trên Facebook cá nhân.

Cô kể lại bị yêu cầu bỏ lại túi xách bên ngoài, và khi vào bên trong hội trường thì không được ghi âm, ghi hình cuộc họp do đã có “ban tổ chức làm việc đó”.

Cũng tương tự như ca sỹ Mai Khôi, Lâm Ngân Mai được yêu cầu không trình bày chương trình hành động của mình.

Lâm Ngân Mai viết, có sáu người lên phát biểu ý kiến về cô, trong đó nhắc trình độ lớp 9/12 của cô là “mơ mộng không đủ tiêu chuẩn làm Đại biểu Quốc hội, vì ngay cả ông [tổ trưởng dân phố] tự nhận mình lớp 10 đi xin việc làm còn khó, tổ trưởng nói thế”.

Ca sỹ này cũng nêu một người “không tên” đã liệt kê lại hàng loạt phát biểu của cô trên mạng xã hội như Facebook và YouTube, và kết luận, “nếu bầu Mai thì chắc Mai sẽ xây Vạn lý Trường Thành bằng thuế dân”.

Tường thuật trên Facebook của cô có đoạn tả lại việc nhiều người cho rằng cô đã ngụy tạo chữ ký của những người ủng hộ.

Ca sỹ Lâm Ngân Mai đăng tải đoạn video thu âm buổi tiếp xúc cử tri lên kênh YouTube của cô. Trên kênh này cũng có video cô tự giới thiệu chỉ học tới lớp 9 do gia đình hoàn cảnh khó khăn.

Những vấn đề biển Đông (phần 2)

Những vấn đề biển Đông (phần 2)

Nguyễn Duy Vinh

1-4-2016

Tiếp theo Phần 1: Nhân đọc bài của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích viết trước khi ông mất

Phần 2: Nhà cầm quyền Việt Nam phải có thái độ mạnh mẽ hơn trước những hành xử hung hăng của Trung Quốc

Trước hết phải xin nói ngay là tác giả bài viết không phải là luật sư mà cũng chẳng là một chuyên gia pháp lý nên chắc chắn sẽ không dám múa rìu qua mắt thợ. Bài viết này chỉ có một mục đích duy nhất là nói lên vài dữ kiện mà tác giả cảm thấy cần chia sẻ với cộng đồng trẻ trên mạng và cũng nhân tiện nói lên cái thấy và hiểu của mình về những diễn biến phức tạp và đầy thách đố về tình hình biển Đông.

Thách đố thứ nhất: từ ngày có UNCLOS, bãi đá chim … ỉa trở nên có giá nghìn vàng

Phần đất lồi của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có diện tích tổng cộng không quá 15 km2. Ngày xưa hình như đã có một nhà lãnh đạo Việt Nam hay một nhà ngoại giao Việt Nam nào đó gọi những đảo đó là “những bãi đá chim … ỉa”. Ngày nay nếu được định nghĩa là “đảo” theo Công Ước Quốc Tế về Luật Biển (UNCLOS, xin xem bài [1] để hiểu về những từ dùng trong bài này), nước có chủ quyền những quần đảo này có thể đòi và được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế quanh đảo (EEZ). Vùng này, theo UNCLOS, dài đến 200 hải lý đo từ đường cơ sở của đảo trở ra. Những bãi đá “chim ỉa” đó bỗng nhiên trở nên vô cùng quý giá. Những đảo đó không còn là những đảo nhỏ có đường cơ sở, nội thủy và lãnh hải 12 hải lý không thôi, nó còn được nới rộng đến 200 hải lý xung quanh.

Việc này cho thấy tầm quan trọng nắm được chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tầm ảnh hưởng vùng EEZ này là đầu mối của rất nhiều quan ngại, tranh cãi cũng như tranh chấp trên biển Đông. Chúng ta chỉ việc lấy bút vẽ từ đảo Tri Tôn (thuộc Hoàng Sa và gần bờ biển Việt Nam nhất) một khoanh tròn có bán kính 200 hải lý, chúng ta sẽ thấy là nếu TQ được tòa án  quốc tế chính thức cho phép nắm chủ quyền Hoàng Sa, vùng đặc nhiệm kinh tế EEZ với 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam đo ra, và thuộc về Việt Nam, sẽ bị bé đi như thế nào.

Cuộc tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa thêm vào quyền EEZ của quần đảo này sẽ làm những nước chung quanh “nhức đầu” lắm, đó là chưa nói đến vấn đề chiến lược của quần đảo này. Và TQ thì chúng ta đều biết, họ đã ngày đêm ráo riết xây cất từ khi chiếm được hoàn toàn Hoàng Sa năm 1974. Hiện nay trên đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc quần đảo Hoàng Sa đã có một phi đạo lớn và dài 3000 m và gần đây nhất họ đã đem ra đó những giàn hỏa tiễn (hay tên lửa nói theo tiếng trong nước) địa không (sol-air) như hình chụp được bởi vệ tinh quốc tế ngày 17 tháng 02 năm nay:

H1Ảnh tác giả gửi tới

Thách đố thứ hai : hiệp ước Việt-Trung năm 2011

Trước những hành xử hung hăng và tiếp tục lì lợm của Trung Quốc (TQ) trên biển Đông, Việt Nam không thể khoanh tay ngồi im mãi.

Nhà cầm quyền CHXHCNVN hiện nay đang bị kẹt cứng bởi hiệp ước Việt-Trung mà cả hai nước đã cùng ký ngày 11 tháng 10 năm 2011.  Hai nước “anh em xã hội chủ nghĩa” đã ký thỏa thuận với nhau trên 6 nguyên tắc:

  1. Lấy quan hệ đại cục giữa 2 nước làm trọng, phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị, xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện VN-TQ.
  2. Tôn trọng chứng cứ pháp lý, nỗ lực tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài.
  3. Đàm phán vấn đề biển, hai bên nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung. Theo nguyên tắc DOC (Tuyên bố ứng xử của các bên biển Đông) đối với tranh chấp trên biển giữa VN-TQ, giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị.
  4. Tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng.
  5. Tự tiệm tiến, dễ trước khó sau.
  6. Tiến hành cuộc gắp gỡ định kỳ Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần.

Sáu điểm rất là đẹp và cũng rất lý tưởng. Trên thực tế, những sự kiện xảy ra trên biển Đông sau ngày ký hiệp ước này (từ vụ giàn khoan HD-981 cho đến những vụ đánh phá tàu đánh cá và giết ngư dân Việt Nam gần đây nhất trong vùng EEZ của Việt Nam) cho thấy người bạn phương Bắc là một người bạn đểu. Việt Nam không thể tiếp tục đặt niềm tin vào cái hiệp ước này. TQ rõ ràng là một anh láng giềng xỏ lá.

Đứng trước một TQ vừa mạnh vừa hay bắt nạt đó, Việt Nam (VN) phải tìm cách bảo vệ chủ quyền và biển đảo của mình. Hiện nay VN hầu như không có đồng minh trong những tranh chấp trên biển Đông. Mà Việt Nam lại sợ TQ một phép nên không dám tỏ ra thân thiện với Mỹ.

Thách đố thứ ba : sự trì trệ yếu hèn của Việt Nam trước Trung Quốc

Ông Jonathan London trong bài viết mới đây [2] nói Việt Nam cần dũng cảm đối với Trung Quốc (TQ). Ông này đã nhìn thấy rõ ràng sự yếu hèn và trì trệ của nhà cầm quyền Việt Nam trước những hành xử bạo cường của TQ. Bài viết của ông rất thâm thúy mà tôi nghĩ các cấp lãnh đạo trong nước nên đọc. Trong những phương pháp ông London đưa ra, có đoạn này (chép lại dưới đây mà tôi muốn đào sâu thêm):

“Mặc dù Hà Nội không nên có những động thái kích động Bắc Kinh, nhưng họ cũng không nên e ngại làm những gì trong phạm vi chủ quyền của mình. Chẳng hạn như việc kiện TQ ra trước Toà Án Công Lý Quốc Tế hay Toà Án Hàng Hải Quốc Tế sẽ không phải là một hành động gây hấn, mà là việc chẳng đặng đừng vì cách hành xử phi pháp của Bắc Kinh đã không cho Việt Nam một lựa chọn nào khác.

Tôi rất tâm đắc với ông London về điểm này. Xin nói sơ về Tòa Án Quốc Tế ở đây. Tòa Án Quốc Tế được thành lập từ năm 1922 và mang nhiều tên gọi khác nhau theo thời gian : Tòa Án Trọng Tài Thường Trực (Permanent Court of Arbitration hay PCA), Tòa Án Thường Trực Công Lý Quốc Tế (Permanent Court of International Justice hay PCIJ), Tòa Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice hay ICJ). Tên được dùng nhiều nhất ngày nay là ICJ. Các tòa chính thức nhận hồ sơ, thụ lý và giải quyết tranh chấp các vấn đề giữa các quốc gia thành viên, cũng như làm công tác cố vấn pháp luật cho Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và các ủy ban khác trực thuộc Liên Hiệp Quốc như đã ghi rõ trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc từ năm 1946. Tòa tọa lạc tại thành phố Den Haag (hay La Haye – tiếng Pháp), Hoà Lan.

Tòa Án Quốc Tế đã xử những vụ tranh chấp chủ quyền biển đảo từ năm 1928 (giữa Mỹ và Hòa Lan, sẽ nói thêm chi tiết dưới đây) và vụ gần đây nhất là vụ Phi Luật Tuân đưa Trung Quốc ra tòa trọng tài thường trực (PCA) với một hồ sơ kiện dầy 4000 trang hoàn tất vào ngày 30 tháng 03 năm 2014. Nghe đâu giữa tháng 07 sắp tới sẽ diễn ra tại La Haye những phiên xử đầu tiên về vụ tranh chấp này dù Trung Quốc tuyên bố không tham dự cũng như phản đối tính cách pháp lý của vụ kiện.

Thách đố thứ tư : sửa soạn hồ sơ cho vụ kiện Trung Quốc ra Tòa Án Quốc Tế

Việc sửa soạn hồ sơ này công phu lắm và phải bắt đầu ngay. Phải có một toán luật sư quốc tế giỏi lo thiết lập hồ sơ và đứng ra lo toàn vụ kiện tụng. Kiện đây là kiện đòi chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam.

Tác giả bài viết cũng muốn tản mạn thêm ở đây về những vụ kiện đã xảy ra trong quá khứ, tuy không phải là một chuyên gia pháp lý. Đa số những vụ kiện về lãnh thổ và lãnh hải đều có thể tìm được trên mạng, nếu có thì giờ các bạn có thể tìm đọc bài viết của ông Brian Taylor Sumner [3] rất xúc tích. Đọc qua những case studies (khảo sát) về những vụ kiện [6], tác giả bài viết ghi lại được cả thảy 5 tiêu chuẩn quan trọng mà các quan tòa đã dựa vào để đi đến phán quyết cuối cùng :

  1. Hiệp Ước hay Công Ước quốc tế giữa các nước : nếu các nước đã ký với nhau những hiệp ước hay công ước được Liên Hiệp Quốc ủng hộ hay phê chuẩn, những hiệp ước này sẽ có một ảnh hưởng lớn trong vụ kiện. Ví dụ như Hòa Ước giữa Mỹ và Tây Ban Nha ký năm 1898. Hòa Ước này cho phép Mỹ nắm chủ quyền các đảo Puerto Rico, đảo Guam và quần đảo Philippines. Ví dụ Hiệp Định Lausanne ký năm 1923 đưa đến việc thành lập các nước Jordan, Syria và Iraq sau khi vương quốc Ottoman bị thua trận sau đại chiến thứ nhất…
  2. Uti Possidetis (dịch tạm là tiếp tục giữ cái gì đang có) : đa số những nước bị đô hộ trong thời kỳ thuộc địa, sau khi nhà nước đô hộ ra đi, họ trả lại cho nước bị đô hộ biên giới lãnh thổ đã có sẵn. Như trường hợp Việt Nam, vấn đề đàm phán biên giới Việt-Trung đã phải dựa trên biên giới vạch ra từ hòa ước Pháp – Thanh. Dĩ nhiên trong cuộc đàm phán này, VN đã bị TQ lừa về vấn đề cột mốc và còn bị bắt nạt nữa và VN có thể đã mất hàng ngàn km2 trên biên giới Việt-Trung. Vụ Ải Nam Quan nay thuộc TQ cũng như thác Bản Giốc bị cắt đi phân nửa là một vài ví dụ về sự mất mát của Việt Nam sau cuộc đàm phán này. Các bạn trẻ trong nước nên tìm hiểu và học hỏi thêm để thấy tại sao chúng ta lại đàm phán thiệt thòi như thế, có bài của ông Trương Nhân Tuấn cũng đáng xem lắm [4].
  3. Quản trị hữu hiệu : tôi dịch tạm từ chữ “effective control”. Nếu dùng google để dịch chữ này thì sẽ được dịch là “kiểm soát hiệu quả” nhưng khi đọc sâu vào các chi tiết vụ kiện, hai chữ đó dính dấp đến việc quản trị nghiêm túc và hiệu quả với lãnh thổ (hay lãnh hải) mình đòi chủ quyền. Tỉ dụ đối với Hoàng Sa và Trường Sa, các quan tòa có thể đặt câu hỏi này : xin quý vị cho chúng tôi biết các nhà nước Việt Nam từ thời các vua triều Nguyễn cho đến nay đã có những bằng chứng nào về việc tổ chức quản trị hữu hiệu những quần đảo này. Qua các vụ xử mà tôi sẽ lần lượt nói sơ đến dưới đây, tiêu chuẩn này có thể được xem là tiêu chuẩn quan trọng nhất đưa đến những phán quyết cuối cùng của Tòa Án.
  4. Sự đồng thuận (acquiescence) : chữ này tôi mượn của ông Trương Nhân Tuấn vì tôi không tìm được từ nào hay hơn. Khi mình làm lơ, im hơi lặng tiếng không phản đối về vụ chiếm đảo chẳng hạn, là mình có sự đồng thuận. Một câu hỏi xin nhờ các chuyên gia và học giả Việt Nam cho một câu trả lời (không dễ) là : khi Trung Cộng chiếm hết đảo Hoàng Sa năm 1974, chỉ có VNCH phản đối chính thức với LHQ trong khi VNDCCH thì im hơi lặng tiếng. Ngày nay CHXHCNVN là kế thừa của VNDCCH, vậy thì CHXHCNVN có bị quy vào tội “acquiescence” không đối với chủ quyền Hoàng Sa ? Nhà nước CHXHCNVN luôn coi VNCH là “ngụy” thì có cách nào để được tư cách kế thừa VNCH ? Tôi có đọc một số bài viết về vụ này nhưng chưa thấy một giải pháp nào đơn giản. Vần đề lại càng khó khăn hơn vì thêm vào đó có công hàm 1956 của ông Phạm Văn Đồng.
  5. Công Ước Quốc Tế về Luật Biển (UNCLOS) : xin nhớ là UNCLOS chỉ cho ra những khuôn khổ cho việc thẩm định trong khi việc xác định chủ quyền thuộc về luật quốc tế, các bạn nào có thì giờ có thể nghiên cứu thêm về luật quốc tế với những tác phẩm của ông James Crawford xuất bản bởi đại học Oxford bên Anh.

Bây giờ mời các bạn xem những tóm tắt của tôi về những case studies:

Vụ kiện giữa Mỹ và Hòa Lan về chủ quyền đảo Palmas, 1928:

Sau cuộc chiến Mỹ-Tây Ban Nha (TBN), Mỹ chiếm đóng Phi Luật Tân (PLT) và đòi chủ quyền đảo Palmas vì đảo này thuộc quần đảo PLT mà Mỹ là nước kế thừa sau hòa ước Paris năm 1898. Hòa Lan (HL) phản đối và đòi chủ quyền đảo này mà theo HL là một phần của các đảo miền Đông (Dutch East Indies) dưới quyền đô hộ của HL. Tòa Án Quốc Tế (PCA) xem hòa ước Mỹ-TBN không đủ tư cách pháp lý vì trong hòa ước này không có tên đảo Palmas và HL không là nước ký hòa ước này. Theo lịch sử thì HL có quản trị và kiểm soát đảo hữu hiệu, có cả cờ HL được cắm trên đảo từ năm 1700 và có thu thuế từ đó. Thêm vào đó TBN đã không phản đối HL về chủ quyền đảo Palmas khi TBN rút quân ra khỏi Molucca năm 1666. Không phản đối chủ quyền có nghĩa là đồng thuận (acquiescence). Ông chánh án Max Huber kết luận là HL tiếp tục có chủ quyền đảo Palmas vì đã gìn giữ quản lý ôn hòa đảo này trong một thời gian dài kể từ năm 1700. Mỹ thua.

Vụ kiện giữa Na Uy và Đan Mạch về chủ quyền Đông Greenland, 1933:

Năm 1933, TAQT (PCIJ) phán xét cuộc tranh chấp giữa Na Uy (NU) và Đan Mạch (ĐM) dành chủ quyền miền Đông của đảo Greenland. Theo hòa ước Kiel ký năm 1814 thì trên nguyên tắc Greenland thuộc về ĐM. Tuy nhiên TAQT (PCIJ) cũng khảo sát xem ĐM có tiếp tục quản lý tốt đời sống trên toàn đảo sau hiệp ước Kiel. TAQT định nghĩa việc quản lý “tốt” như sau : “ý định và thiện chí lãnh nhận chủ quyền và tiếp tục thực thi cũng như thể hiện chủ quuyền đó”. TAQT xét lại tất cả những văn kiện ngoại giao và thương mại của ĐM trong suốt thời gian quản lý Greenland thì rõ ràng có chứng tích là những văn kiện này bao gồm cả vùng phía đông đảo Greenland [5]. Thêm vào đó lại có bằng chứng “acquiescence” phía NU qua bức thư trả lời của bộ trưởng bộ ngoại giao NU, ông Nils Claus Ihlen về chủ quyền trên toàn đảo Greenland vào ngày 22 tháng 07 năm 1919. PCIJ kết luận là chủ quyền Greenland hoàn toàn thuộc về Đan Mạch. Vụ xử này cho thấy việc quản lý và kiểm soát hữu hiệu đảo của một nước dành chủ quyền rất quan trọng trong phán quyết của tòa án.

Vụ kiện giữa Pháp và Anh về chủ quyền đảo Minquiers và Ecrehos, 1953:

Năm 1953, ICJ phán quyết chủ quyền của 2 nhóm đảo nhỏ Minquiers và Ecrehos. Hai nước tranh chấp là Anh và Pháp. Tòa đã dựa vào sự quản lý hữu hiệu để xác định chủ quyền. Và tòa đã xử có lợi cho Anh Quốc. Pháp đưa ra bằng chứng về công ước đánh cá và các phao đặt để giúp thuyền bè qua lại, Anh không phản đối, Pháp đưa lý do acquiescence. Nhưng những bắng chứng này chỉ có tác dụng trên biển và không đụng tới đảo nên tòa quyết định chủ quyền thuộc vế Anh.

Vụ kiện giữa El Salvador và Honduras về đất, đảo và biên giới đảo, 1992:

Ba đảo trong vụ tranh chấp này là 3 đảo nằm trong vịnh Gulf of Fonseca: đảo El Tigre, đảo Meanguera và đảo Meanguerita. Tòa định dùng uti possidetis lúc đầu để định chủ quyền nhưng cách này không rõ ràng. Tòa xem những bằng chứng về quản trị hiệu quả trong thời gian hậu thuộc địa với Tây Ban Nha. Tòa cũng chấp nhận những bằng chứng về acquiescence và cuối cùng tòa quyết định trao chủ quyền đảo El Tigre cho Honduras (dựa trên tiêu chuẩn quản trị hữu hiệu) và trao chủ quyền hai đảo kia cho El Salvador.

Rồi tôi có thể tiếp tục kể thêm nhưng đến đây tôi thấy cũng khá tạm đủ, tôi cho tất cả những case studies đọc được [6] vào bảng dưới đây:

H1

Và tác giả bài viết xin ngừng tại đây và xin dán xuống đây một tấm hình tiêu biểu cho những tranh chấp hiện nay trên biển Đông Nam Á:

H1

Tấm hình này cho thấy những yêu sách đòi chủ quyền của mỗi nước. Màu vàng trong vùng biển của mỗi nước là vùng đòi chủ quyền, một loại EEZ như theo đòi hỏi của Brunei. Đường lưỡi bò của TQ và Đài Loan cũng được thể hiện rất rõ. Chỉ cần chụp những đòi hỏi này lên cùng một bản đồ, chúng ta có thể mường tượng dễ dàng sự chồng chéo lên nhau của những yêu sách.

Thay lời cuối thì hiện nay Hoàng Sa đã bị TQ hoàn toàn chiếm đóng, riêng Trường Sa thì tôi mời độc giả xem bảng tóm tắt dưới đây:

H1____

Tài liệu tham khảo:

[1] https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%B9ng_%C4%91%E1%BA%B7c_quy%E1%BB%81n_kinh_t%E1%BA%BF

[2] Việt Nam Cần Dũng Cảm Đối Với Trung Quốc

[3] TERRITORIAL DISPUTES AT THE INTERNATIONAL COURT OF JUSTICE

[4] Về bài viết “Ải Nam Quan và thác Bản Giốc được phân chia như thế nào” của TS Trần Công Trục

[5] Charles Cheney Hyde, American Journal of International Law, Oct 1933

[6] Jason S. Nakata, “Law on the rocks : international law and China’s maritime disputes”, Dec. 2014, M.Sc. Thesis, Naval Postgraduate School, Monterey, USA

Nguyễn Duy Vinh (Douala, mùa mưa năm 2016)

Ts Nguyễn Quang A: Tôi muốn thức tỉnh người dân, thúc đẩy quá trình học tập dân chủ

Ts Nguyễn Quang A: Tôi muốn thức tỉnh người dân, thúc đẩy quá trình học tập dân chủ

Dongchuacuuthe.com

Sự kiện một số người tự ứng cử vào Quốc hội khóa XIV đã làm nóng các diễn đàn mạng và báo chí. Một số người đã đưa chương trình hành động khi ra tranh cử, một số người đã gặp những khó khăn từ nhiều phía. Điểm chung nổi bật là hầu hết họ đã tỏ rõ quyết tâm “biến quyền hão thành quyền thực” như Tiến sĩ Nguyễn Quang A đã phát biểu.

Nhân việc tự ứng cử vào Đại biểu Quốc hội khóa 14, chúng tôi đã thực hiện một loạt phỏng vấn các ứng cử viên độc lập cũng như quan điểm và suy nghĩ của các nhân sĩ, trí thức về vấn đề này. Quan điểm, điều kiện, suy nghĩ của họ ra sao… được phản ánh qua video và các cuộc phỏng vấn sau đây.

 

Tiến sĩ Nguyễn Quang A: Tôi muốn thức tỉnh người dân, thúc đẩy quá trình học tập dân chủ

– Thưa ông, vừa qua được tin là ông đã vào danh sách tự ứng cử vào Quốc hội VN khóa 14. Xin ông cho biết việc tự ứng cử này có ý nghĩa gì đối với ông?

NguyenQuangA_ungcu

– Sở dĩ tôi ứng cử vào ĐB Quốc hội, là tôi muốn thức tỉnh người dân, người dân có rất nhiều quyền, trong đó có quyền ứng cử để tham gia vào việc xây dựng đất nước. Mục đích là tiếp tục thúc đẩy quá trình học tập dân chủ mà chúng tôi đã khởi động từ lâu, chí ít là từ Kiến Nghị 72[1].

– Thưa ông, trong quá trình bắt đầu tự ứng cử cho đến bây giờ, ông có gặp khó khăn, thuận lợi gì?

– Trong quá trình nộp hồ sơ đăng ký ứng cử, nói chung khá thuận lợi. Tuy nhiên, có một vài thủ tục hành chính không được thuận lợi cho lắm. Nhưng, tất cả những cái đó đều vượt qua được.

– Thưa ông, nếu trúng cử, ông sẽ hành động như thế nào với tư cách của một Đại biểu Quốc hội?

– Nếu trúng cử vào Quốc hội, như tôi đã nêu trong cương lĩnh tranh cử của mình, tôi sẽ yêu cầu Quốc hội sửa hàng loạt Luật và loại bỏ tất cả những điều khoản của những Luật hiện hành vi phạm nhân quyền và vi hiến, cũng như thúc đẩy để Quốc hội ra những điều luật mới, để tạo điều kiện pháp lý cho người dân thực hiện các quyền của mình chứ không phải là các Luật để cản trở hay quản lý người dân.

– Thưa ông, tiền lệ từ trước đến nay là Đảng cử, dân bầu. Bây giờ dân tự ứng cử mà  không được Đảng cử. Như vậy, ông có hy vọng trong cuộc bầu cử này được đối xử công bằng và trúng cử hay không?

– Tôi mong muốn được đối xử công bằng. Nhưng thực tiễn tôi nghĩ rằng người ta sẽ không đối xử công bằng, người ta sẽ tìm mọi cách để loại tôi ra khỏi danh sách ứng cử viên cuối cùng. Điều đó cũng sẽ giúp cho người dân và bản thân chính quyền thấy Luật Bầu cử hiện hành nó phi lý như thế nào và mọi người phải lên tiếng để sửa đổi trong tương lai.

Như tôi đã nói, mục tiêu của tôi là thúc đẩy quá trình học tập, và khả năng lọt vào vòng trong là không nhiều.

– Thưa ông, câu hỏi cuối có hai ý: Thứ nhất là vừa qua một số báo chí đã lên những bài viết, để “đánh” những người tự ứng cử và bôi nhọ họ về vấn đề cá nhân, bới móc đời tư cũng như những động tác mà người ta gọi là “đánh dưới thắt lưng”. Những động tác như vậy có ý nghĩa gì với những người tự ứng cử hay không? Thứ hai là theo ông đánh giá chung, Quốc hội VN từ trước đến nay qua các bầu cử. Ở phương Tây, VN thường hay gọi là “dân chủ giả hiệu”. Vậy ở Việt Nam, có phải là dân chủ thật sự hay không?

– Một trong những khẩu hiệu tôi nếu ra là hãy biến quyền hão thành quyền thực. Nói cách khác, những quyền trước đây là quyền hão, được ghi trong giấy tờ nhưng trong thực tế không được thực hiện. Cho nên, các quyền đó xưa nay chỉ là các quyền hão mà thôi.

Chuyện người ta bôi nhọ những người tự ứng cử, về phía tôi, tôi phấn đấu cho một xã hội dân chủ, tôi tôn trọng quyền tự do biểu đạt của tất cả mọi người.  Nhưng, tôi kiên quyết phản đối những việc lạm dụng quyền đó để bôi nhọ người khác. Những người bôi nhọ đó đã vi phạm luật hình sự hiện hành của nước Việt Nam, những người tự ứng cử sẽ cân nhắc xem liệu có đưa những kẻ phạm tội phỉ báng đó ra trước pháp luật hay không.

– Xin cảm ơn ông, chúc ông thành công trong việc tự ứng cử để khẳng định quyền công dân của mình, cũng chúc ông mọi sự bình an và thành đạt trong sự nghiệp cũng như công việc của mình.

– Xin cảm ơn.

YouTube player

Nhà giáo Phạm Toàn: Dấy lên một ý thức rõ rệt, về quyền của mình

– Thưa nhà giáo Phạm Toàn[2], xin hỏi cụ một vài ý kiến về việc ông Nguyễn Quang A và một số người tự ứng cử Quốc hội khóa 14. Xin cụ một vài ý kiến.

– Tôi phải nói luôn là lần ứng cử, bầu cử năm 1946, ở Hà Nội rất vui, từng đoàn kéo nhau đi qua các phố để cổ động cho các ứng cử viên. Đoàn cổ động cho ông Tôn Thất Tùng là đoàn đẹp nhất.  Ăn mặc blu trắng, một cái ông tiêm to đẩy trên cái xe bò, hô Tôn Thất Tùng, Tôn Thất Tùng… rất vui.

Sau đó, nhiều nhiều giải pháp cho phong trào tự do dân chủ đúng Hiến pháp lụn bại đi. Đợt trước, có nhiều người tự ứng cử, nhưng mà không có một ý thức như lần này. Lần này, anh chị em ứng cử với ý thức là làm thay đổi thực sự. Mỗi người có một cương lĩnh, đặc biệt nó sẽ làm gương kê khai tài sản. Những ai mà kê khai như xưa nay mà ông tướng ở trong Sài Gòn nói, là kê khai xong bỏ tủ, thì bây giờ phải nghĩ lại, yêu cầu các anh kê khai đi. Dần dần nó phải như thế.

Triển vọng chưa biết thế nào, nhưng nó dấy lên một ý thức rõ rệt, về quyền của mình.

– Xin cảm ơn ông và chúc ông sức khỏe.

DuongTuong

Dịch giả, nhà thơ Dương Tường: Những lần bầu cử trước tôi đều coi là những trò giả vờ

– Xin chào nhà thơ Dương Tường[3], xin hỏi cụ về việc một số ứng cử viên tự do, tự ứng cử vào Quốc hội khóa 14 lần này, ý kiến cụ cảm nhận điều đó như thế nào?

– Tôi thấy năm nay những người tự ứng cử có khác so với những năm trước. Tôi xin thú thực là những lần bầu cử trước tôi đều coi là những trò giả vờ. Những người dân đi bầu cử là gạch số nào, để số nào chứ không cần biết là tên nữa… Năm nay, tôi thấy trong số những người tự ứng cử, có những người như ông Nguyễn Quang A, là một cái mừng về ý thức là những cái tự ứng cử lần này nó có khác.

Tôi thấy trong dư luận, việc tự ứng cử lần này có một ý thức rõ rệt. Đó là một điều đáng mừng.

– Xin cảm ơn nhà thơ, chúc nhà thơ sức khỏe.

J.B Nguyễn Hữu Vinh

[1] Bản Kiến nghị của 72 nhân sĩ, trí thức khởi đầu gửi Quốc hội để góp ý cho việc sửa đổi Hiến Pháp 1992 theo Nghị quyết của Quốc hội. Bản Kiến nghị đã đưa ra nhiều vấn đề cẩn thay đổi cơ bản bản văn Hiến pháp. Nhưng bản văn đã không được chấp nhận.

[2]  Nhà giáo Phạm Toàn sinh năm Nhâm Thân (1932) quê quán Đông Anh, Hà Nội, là một nhà giáo, nhà văn và dịch giả. Ông được biết tới nhiều là nhờ những hoạt động chính trị, như vào năm 2009, cùng với giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, thành lập ra trang mạng Bauxite Việt Nam, để phản đối khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Ngoài ra ông còn cùng với giáo sư Ngô Bảo Châu, và giáo sư toán học Vũ Hà Văn, mở một trang mạng giáo dục với tên là Học thế nào chính thức hoạt động vào ngày 1/5/2013 với kỳ vọng đóng góp vào việc tìm ra phương hướng giải quyết các vấn đề của giáo dục Việt Nam.

[3] Dương Tường là một dịch giả, nhà thơ, nhà phê bình nghệ thuật, phóng viên,… trong đó nổi bật nhất là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học có giá trị như Cuốn theo chiều gió, Con đường xứ Flandres và tác giả của những bài thơ như Tình khúc 24. Nhiều bài thơ của ông lấy cảm hứng từ chủ nghĩa siêu thực và phong trào tượng trưng.

Ông tự nhận bản thân “một đời ăn nằm với chữ”. Về dịch thuật, ông quan niệm “một bản dịch lý tưởng phải là một tác phẩm, trong đó người dịch là đồng tác giả”.

Dân chưa bầu, Quốc Hội CSVN đã có chủ tịch

Dân chưa bầu, Quốc Hội CSVN đã có chủ tịch
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) Dường như những chỉ trích kịch liệt về sự ngạo mạn, trịch thượng của đảng CSVN đối với quốc gia, dân tộc đã có tác dụng và được thể hiện qua việc tân chủ tịch Quốc Hội Việt Nam tuyên thệ.

Hôm 31 tháng 3, sau khi được các đại biểu Quốc Hội khóa 13 “bầu” làm chủ tịch Quốc Hội, bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã tuyên thệ nhậm chức.


Bà Kim Ngân, tân chủ tịch Quốc Hội CSVN. (Hình: Getty Images)

Bà Ngân, 62 tuổi, vừa là nữ chủ tịch đầu tiên của Quốc Hội Việt Nam, vừa là người đầu tiên “tuyên thệ nhận chức.” Mãi tới gần đây, Việt Nam mặt đặt định qui định, chủ tịch Quốc Hội, chủ tịch nhà nước, thủ tướng và chánh án Tòa Án Tối Cao phải “tuyên thệ trung thành với tổ quốc, nhân dân và Hiến Pháp khi nhận chức.”

Bà Ngân là người đầu tiên thực hiện qui định mới nhưng điều đó không gây chú ý bằng nội dung lời tuyên thệ: “Tuyệt đối trung thành với tổ quốc, với nhân dân, với Hiến Pháp.” Trong lời tuyên thệ, tân chủ tịch Quốc Hội Việt Nam chỉ “nguyện nỗ lực rèn luyện, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được đảng, nhà nước và nhân dân giao phó.”

Vài năm nay, không chỉ dân chúng mà một số viên chức, đảng viên cao cấp đã nghỉ hưu cùng cho rằng, đảng CSVN chỉ là một tổ chức chính trị. Không thể đặt một tổ chức chính trị như đảng CSVN lên trên quốc gia, dân tộc!

Nhiều người tin rằng những chỉ trích đó có tác dụng và là lý do khiến qui định, chủ tịch Quốc Hội, chủ tịch nhà nước, thủ tướng và chánh án Tòa Án Tối Cao phải “tuyên thệ trung thành với tổ quốc, nhân dân và Hiến Pháp khi nhận chức,” ra đời.

Tuy nhiên sự “trung thành với tổ quốc, nhân dân và Hiến Pháp” vẫn chưa thực chất.

Theo Hiến Pháp Việt Nam, nhiệm kỳ của chủ tịch Quốc Hội, chủ tịch nhà nước, thủ tướng là theo nhiệm kỳ Quốc Hội.

Các đại biểu Quốc Hội Việt Nam khóa 13 đang họp kỳ họp cuối cùng. Ðến tháng 5, sau kỳ bầu cử, Việt Nam mới có Quốc Hội mới. Lẽ ra các đại biểu Quốc Hội mới sẽ là người bầu chọn, phê chuẩn tân chủ tịch Quốc Hội, tân chủ tịch nhà nước, tân thủ tướng.

Song vì Bộ Chính Trị của đảng CSVN đã sắp đặt xong nhân sự để đảm nhận những vai trò vừa kể nên những đại biểu Quốc Hội sắp mãn nhiệm kỳ được sử dụng để miễn nhiệm chủ tịch Quốc Hội, chủ tịch nhà nước, thủ tướng đương nhiệm và bầu tân chủ tịch Quốc Hội, tân chủ tịch nhà nước, tân thủ tướng – bất kể nhiều người khẳng định chuỗi hành động này là vi hiến.

Ai sẽ chịu trách nhiệm trên đất nước này?

Ai sẽ chịu trách nhiệm trên đất nước này?

 Trách nhiệm luôn đi cùng danh dự và sự tồn vong của tổ quốc. Chúng ta sẽ mất cả, nếu không ai có đủ danh dự để chịu trách nhiệm trên đất nước mình, khởi đầu từ những điều nhỏ nhất.

____

Tuấn Khanh

30-3-2016

H1

Cuộc tranh cãi gay gắt giữa hai phe phụ huynh vẫn không ngớt về nạn bắt cóc trẻ em, hiện râm ran trong từng gia đình.Người ta kể về những chuyện giành giật lại con cháu mình từ bọn bắt cóc ở ngã tư, có người may mắn, có người thì chỉ còn khóc hận.

Cuộc tranh cãi dữ dội hơn, ngay sau khi có lời tuyên bố của trung tá Nguyễn Quang Thắng, phó phòng tham mưu Công an TPHCM rằng không thể có nạn bắt cóc tràn lan trên đường phố.

Theo ông Quang Thắng thì cơ quan công an điều tra chỉ tiếp nhận duy nhất một vụ như vậy mà thôi.

Thật đáng phân vân, một bên là lời đoán chắc của hệ thống công quyền, còn một bên là an nguy của chính mình.

Báo Phụ nữ Việt Nam thì khẳng định rằng nhiều trường đã ra thông báo cho phụ huynh về tình trạng này, mà nhiều nơi đang xảy ra như ở trường Đặng Thuỳ Trâm (quận 7, TPHCM), trường mầm non Anh Tú (quận Tân Bình), trường Phan Như Thạch (phường 9, Lâm Đồng)…

Thật bất ngờ khi trong những lời cảnh báo về nạn bắt cóc trẻ em, có cả thông báo chính thức của Bộ Giáo dục vào ngày 13/1. Vụ trưởng vụ Công tác học sinh sinh viên Ngũ Duy Anh đã kêu gọi các trường học phải đề cao cảnh giác, tăng cường đảm bảo an ninh cho các em.

Trên truyền hình, các bài học võ thuật cơ bản nhằm chống cướp con trên tay cũng xuất hiện.

Vậy thì ai đúng, ai sai? Trong một xã hội mà mỗi ngày càng có nhiều biến động, người ta không thể răn đe việc tán phát tin đồn trong sự bất an của dân chúng, mà phải có những phương pháp giải quyết khủng hoảng hợp lý và tích cực của chính quyền.

Việc trống đánh xuôi, kèn thổi ngược chỉ làm mọi thứ thêm rối rắm, và cuối cùng chỉ có người dân là nạn nhân.

Xã hội Việt Nam nhận được rất nhiều các phát ngôn của các quan chức và chính quyền địa phương. Nhưng có vẻ như ít khi nào tìm thấy được ai thật sự là người chịu trách nhiệm trước mắt người dân, hoặc chịu trách nhiệm của bản thân mình.

Ngược lại, đôi khi người có trách nhiệm thường thoái thác rằng “bận họp” hoặc cúp máy đột ngột khi trả lời phỏng vấn. Dường như có ai đó phải chịu trách nhiệm, phải hành động trên đất nước này là điều mơ hồ, xa xôi.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng tại Hà Nội, bị một nhóm người lạ mặt tấn công dã man bằng gậy vào ngày 23/3 ngang nhiên như trong phim xã hội đen.

Vụ tấn công diễn ra giữa ban ngày, như một nỗi nhục của nền báo chí quốc gia mà cho đến khi kết thúc không hề có bóng dáng công an viên nào xuất hiện. Sau khi đi cấp cứu, nhà báo Đỗ Doãn Hoàng phải tự mình ra công an của khu vực đó để trình báo.

Lúc này, có rất nhiều nhà báo, rất nhiều sinh viên truyền thông dõi theo sự kiện này với nỗi phập phồng về tương lai và nghề nghiệp của mình, nhưng có vẻ vụ án như “bế tắc”. Và không ai phải chịu trách nhiệm về việc mất an ninh kỳ quặc như vậy ngay giữa thủ đô Hà Nội.

Trong sự kiện nữ học sinh Lê Thị Hà Vi, 15 tuổi ở Cư Kuin, Dăk Lăk bị bệnh viện địa phương chẩn đoán sai khiến phải cưa chân, ai cũng bất ngờ khi bà Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đến động viên và nói “bác hứa sẽ giúp cho con thi đậu vào ngành y”.

Sự kiện tắc trách của ngành y tế khiến ai cũng đau lòng, khiến một nữ sinh phải tàn tật suốt đời, nhưng để “đền” cho chuyện đó, mà một nữ sinh có nguyện vọng học ngành công an, đột nhiên được động viên chỉ cần học một năm là sẽ được giúp đậu ngành y, khiến ai cũng ngạc nhiên.

Nguyên gốc câu nói đó có thể trở thành vấn đề của pháp luật. Thi cử và học vấn là vấn đề thiết yếu của quốc gia, không thể tuỳ tiện như vậy. Ở vị trí là một người có học và có trách nhiệm, bà Tiến không thể tuỳ tiện. Việc “hứa giúp” của bà Tiến có thể đặt vào thế bị Bộ Giáo dục Việt Nam khởi kiện.

Nhưng tiếc thay, có vẻ như Bộ Giáo dục Việt Nam cũng không có ai thấy mình có trách nhiệm để cần phải lên tiếng.

Trách nhiệm cá nhân là một phần quan trọng của đất nước, trong giai đoạn mà mọi thứ đang có vẻ dần vào rối ren bởi quá nhiều hư hỏng, quá nhiều tai ương… hiện ra, cho thấy đó là những quyết định sai lầm, vội vã hay tư lợi của những cá nhân, những nhóm người nhưng hôm nay thì thật khó tìm ra người chịu trách nhiệm.

Chỉ còn lại nhân dân là người phải gánh vác những hậu quả, từ nợ công cho đến sự sụp đổ một cây cầu, một con đường hay một hàng cây xanh.

Từ chuyện một đứa trẻ bị bắt cóc, cho đến chuyện của Bộ Y tế, Bộ Giáo dục… rồi đến việc đánh đập nhà báo để bịt miệng công luận… mọi thứ cứ đi dần vào cõi u u mê mê của đời sống, vào tiếng thở dài của những người ngồi trên vỉa hè nhìn về tương lai đất nước với cảm giác rằng mọi thứ đang bị bỏ trôi, không có ai thật sự chịu trách nhiệm trên đất nước này.

Trách nhiệm luôn đi cùng danh dự và sự tồn vong của tổ quốc. Chúng ta sẽ mất cả, nếu không ai có đủ danh dự để chịu trách nhiệm trên đất nước mình, khởi đầu từ những điều nhỏ nhất.

3 phụ nữ giương cờ Việt Nam Cộng hòa bị 10 năm tù

  3 phụ nữ giương cờ Việt Nam Cộng hòa bị 10 năm tù

Các bị cáo bị giải ra khỏi tòa án sau phiên xử (Ảnh chụp từ trang Tuoitre)

Các bị cáo bị giải ra khỏi tòa án sau phiên xử (Ảnh chụp từ trang Tuoitre)

Một tòa án Việt Nam vừa tuyên phạt 3 phụ nữ giương cờ Việt Nam Cộng hòa tổng cộng 10 năm tù về tội danh ‘tuyên truyền chống phá nhà nước’ theo điều 88 Bộ luật Hình sự.

AP hôm nay dẫn báo Thanh Niên cho hay 3 bị cáo bị kết tội giương băng-rôn, biểu ngữ chống nhà nước và cờ của chế độ cũ bên ngoài tòa lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn vào tháng 7 năm 2014 nhằm mục đích ‘thay đổi chế độ, lập nên nhà nước mới.’

Sau phiên xử kéo dài nửa ngày hôm nay, Ngô Thị Minh Ước (57 tuổi) bị tuyên án 4 năm tù, Nguyễn Thị Trí và Nguyễn Thị Bé Hai (58 tuổi) cùng lãnh án 3 năm tù.

Ngoài ra, Tòa án Nhân dân TPHCM còn phạt cả ba người thêm 2 năm quản chế tại địa phương sau khi mãn án.

Theo cáo trạng, do khiếu kiện đất đai lâu năm tại Bình Phước, Bình Dương, và Đồng Tháp không được giải quyết, nhóm phụ nữ này đã ‘tụ tập biểu tình trái pháp luật trước lãnh sự quán Mỹ’, mang theo 3 lá cờ lớn, 51 lá cờ nhỏ, cùng các băng-rôn, biểu ngữ ‘bôi nhọ’ đảng và so sánh chế độ hiện hành với những thể chế khác.

Cáo trạng nói hành vi của ba phụ nữ này là ‘đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm an ninh quốc gia, xuyên tạc, xúi giục, gây nghi ngờ và làm mất lòng tin của nhân dân đối với đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam.’

Tờ Thanh  Niên dẫn lời 3 bị cáo tại tòa khai có tham gia ‘Phong trào Liên đới Dân oan Tranh đấu’ được thành lập từ tháng 3/2014 do dân oan Trần Ngọc Anh làm đại diện.

Công an Việt Nam cho hay khi khám xét nơi ở của các bị cáo có phát hiện thêm 2 biểu ngữ ‘vu khống đảng và nhà nước’ viết bằng tiếng Anh.

Trước khi bị bắt, cả ba người từng bị phạt hành chính về cáo buộc ‘gây rối trật tự công cộng’ vì tham gia ‘biểu tình trái phép.’

Các luật sư, blogger, và giới hoạt động cổ xúy cho dân chủ, nhân quyền hay quyền lợi đất đai thường bị nhắm mục tiêu tấn công, sách nhiễu, bắt giam, và kết án tại Việt Nam, nơi báo chí và truyền thông đều thuộc quốc doanh.

Ba bản án về tội vi phạm điều 88 được đưa ra một tuần sau khi Hà Nội tuyên phạt blogger Nguyễn Hữu Vinh 5 năm tù theo điều 258 ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước’ vì các bài viết bị xem là ‘chống đối’ trên trang blog Anh Ba Sàm thu hút đông đảo độc giả.

Liên hiệp quốc lâu nay kêu gọi Việt Nam ngưng đàn áp những tiếng nói đối lập và chấm dứt các bản án dựa trên những điều luật có nội dung bao quát như 79, 88, hay 258 nhằm chống lại giới hoạt động.

Việt Nam cũng bị các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế, Hoa Kỳ, và các chính phủ Tây phương chỉ trích vì không chấp nhận bất đồng chính kiến và bỏ tù những ai chỉ trích chế độ.

Ngược lại, Hà Nội một mực khẳng định không giam giữ ai do đối lập quan điểm, mà chỉ trừng phạt những người phạm pháp vì chống đối đảng và nhà nước.

Theo AP, AFP

HỌ LÀM VẬY ĐỂ LÀM GÌ? (03-2016)

HỌ LÀM VẬY ĐỂ LÀM GÌ? (03-2016)

6 năm trước, khi đọc thông tin về phiên tòa xét xử vụ án anh Lê Công Định và Trần Huỳnh Duy Thức, tôi đã đặt ra câu hỏi đó. Ngày ấy, vì chỉ đọc và tin một cách mù quáng vào thông tin một chiều từ báo chí “lề phải”, tôi vẫn nghĩ rằng họ là thành phần “phản động”, bị các “thế lực thù địch” lôi kéo, dụ dỗ. Không những thế, tôi còn ngây ngô đến mức cứ tin rằng mỗi người cứ học thật tốt, làm thật tốt công việc của mình là có thể góp phần xây dựng đất nước. Là một sinh viên Bách Khoa, ở cái tuổi hai mươi hừng hực lửa, tôi đã từng tin theo ngọn cờ Đoàn, cờ Đảng, mong góp sức xây dựng quê hương.

Thế nhưng, khi có dịp ra nước ngoài để tiếp tục con đường học vấn, tôi đã thấy được nhiều điều làm tôi thay đổi suy nghĩ. Giấc mơ đưa Việt Nam ngang tầm quốc tế vẫn cháy bỏng trong tôi, nhưng tôi nhận ra rằng cứ tin một cách mù quáng như thời sinh viên không phải là cách. Tôi bắt đầu nghi ngờ về những điều mình đã được rao giảng, những bài học bị bắt phải thuộc lòng. Tôi bắt đầu tìm hiểu “bọn phản động”, bắt đầu từ Facebook anh Lê Công Định. Tôi tìm đọc quyển “Con Đường Nào Cho Việt Nam” của anh Trần Huỳnh Duy Thức. Từ đó, tôi quen biết và follow nhiều “thế lực thù địch” khác. Càng đọc và suy ngẫm, tôi càng thấu hiểu tâm tư của họ dành cho đất nước. Những cô chú, anh chị thuộc “thành phần phản động” đã cho tôi hiểu ra rằng cái Việt Nam cần là một nền tự do dân chủ thật sự, từ đó trí thức mới có thể góp tiếng nói phản biện để xây dựng đất nước.

Sau phiên tòa xử blogger Anh Ba Sàm chiều nay, tôi lại nhớ đến câu hỏi ngày xưa, nhưng hôm nay tôi đã có câu trả lời: Họ làm thế vì một Việt Nam tươi đẹp hơn. Có thể hôm nay sẽ có nhiều người chỉ trích họ, như tôi đã từng chỉ trích anh Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức ngày xưa, nhưng tôi tin những việc họ làm không vô ích. Họ đã nhóm lên những ngọn lửa nhỏ cổ vũ cho tự do dân chủ. Những ngọn lửa nhỏ ấy không ít thì nhiều sẽ có tác động tích cực đến vài người, để một ngày nào đó tất cả mọi người cùng cất lên tiếng nói vì một Việt Nam tươi sáng hơn.

Đối với tôi, họ là những bông hoa thầm lặng mà có thể bây giờ, hay trăm năm sau vẫn bị vùi lấp và chưa thể tỏa hương. Tuy nhiên, tôi vẫn tin rằng trong tương lai không xa, những bông hoa ấy sẽ tỏa hương mãi mãi trong những trang sử tiếp theo của dân tộc Việt Nam.

Thật đáng mừng vì Việt Nam đã, đang và sẽ có nhiều hơn nữa những “thành phần phản động” như Anh Ba Sàm!

Hung Le

Anh Ba Sàm, cuộc chiến khai dân trí

Anh Ba Sàm, cuộc chiến khai dân trí

Kính Hòa, phóng viên RFA
2016-03-28

RFA

image-basam

Những người ủng hộ blogger Nguyễn Hữu Vinh đứng trước Tòa án Hà Nội ngày 23 tháng 3 năm 2016.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Tạp chí điểm blog do Kính Hòa thực hiện với phần trích lời trực tiếp của các blogger được thực hiện qua giọng đọc của các anh chị em ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do.

Hy vọng

Các blogger Việt Nam hướng mọi sự chú ý vào ngày 23 tháng Ba, ngày tòa án Hà nội mở phiên xét xử một người đồng nghiệp của họ, blogger Nguyễn Hữu Vinh, anh Ba Sàm.

Nhiều người thấy rằng đã có nhiều đổi thay theo chiều hướng tiến bộ trong thời gian qua, nhất là trong lĩnh vực thông tin truyền thông, cho nên người ta hy vọng rằng vụ án được cho là phạm nhiều sai trái này của cơ quan tố tụng sẽ có một kết thúc có hậu.

Blogger Cánh Cò viết trước phiên xử rằng anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh sẽ được trở về với gia đình.

Sáng ngày 23, trước khi phiên tòa diễn ra, blogger Nguyễn Anh Tuấn, một nhà hoạt động dân sự trẻ tuổi viết bài hồi tưởng những kỷ niệm của anh với trang thông tin Ba Sàm. Đối với Nguyễn Anh Tuấn con đường mà blogger Nguyễn Hữu Vinh lựa chọn là con đường của lương tâm, và anh hy vọng:

Anh Vinh đã lựa chọn theo một lương tâm như vậy. Chúng ta, bạn đọc thân thiết của anh, chúc anh – một nhà báo lương tâm – hôm nay quay trở về với gia đình bè bạn.

Và về với nước Việt mà anh luôn đau đáu muốn phá vòng nô lệ để giải phóng – một sự giải phóng đích thực, đến từ nhận thức của mỗi công dân được tiếp nhận thông tin tự do đa chiều.

Mong đợi của Nguyễn Anh Tuấn và nhiều blogger khác đã không thành sự thực, khi anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh bị xử 5 năm tù về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ để chống phá nhà nước.

Vụ án và xử án

Ông Nguyễn Hữu Vinh cùng một cộng sự bị bắt cách đây gần hai năm, trong một vụ án mà nhiều người cho là có rất nhiều sai phạm từ phía cơ quan tố tụng. Một trong những sai phạm quan trọng, theo luật sư Hà Huy Sơn, bào chữa cho ông Vinh thì cơ quan tố tụng đã bắt người trước khi đi tìm chứng cứ. Ngoài ra sau 5 lần điều tra, một lần hoãn xử án, thời gian của qui trình xử án cũng không được tôn trọng theo qui định của chính luật pháp Việt nam.

Một điểm khá đặc biệt của vụ án này là ông Nguyễn Hữu Vinh là một đảng viên cộng sản, lúc ông bị xử ông vẫn còn là đảng viên. Điều này là một sự trớ trêu vì theo chỉ thị 15 của đảng cộng sản đang độc quyền cai trị Việt nam thì cơ quan công an không được lập hồ sơ theo dõi ông Vinh. Blogger cùng tên, JB Nguyễn Hữu Vinh nhận xét rằng vì việc làm của anh Ba Sàm làm đảng nguy cơ bị bóc trần, lộ ra sự thật nên dù vướng phải chỉ thị 15 của chính mình, đảng cũng phải bắt Nguyễn Hữu Vinh.

Đã có rất nhiều người nhận ra, muốn vô hiệu hóa “chuyên chính vô sản” tại Việt Nam thì phải cung cấp đủ thông tin đúng cho đồng bào của mình. Thông tin là con đường duy nhất giúp thay đổi nhận thức.
– Bà Đinh Ngọc Thu

Phiên tòa Nguyễn Hữu Vinh được nhà nước Việt Nam tuyên bố là một phiên tòa công khai, nhưng lại được một lực lượng an ninh dày đặc ngăn chận không cho những người ủng hộ ông Vinh vào tham dự. Hơn thế nữa, những người đáng ra là nhân chứng tại tòa như blogger Đoan Trang lại bị cầm giữ trong đồn công an trong thời gian diễn ra phiên xử.

Blogger Đoan Trang là tác giả của một số bài viết đăng trên trang Ba Sàm, mà nhà cầm quyền dùng để kết tội ông Vinh.

Dấn thân phá vòng nô lệ

Ông Nguyễn Hữu Vinh sinh ra trong một gia đình cán bộ cộng sản cao cấp. Blogger Song Chi viết rằng ông Vinh có thể có một con đường công danh và sự nghiệp thăng tiến trong lòng chế độ cộng sản, nhưng ông đã chọn con đường khó khăn, con đường khai dân trí người Việt nam bằng tự do thông tin.

Bà Đinh Ngọc Thu, một cộng sự của Ông Nguyễn Hữu Vinh, viết rằng:

Đã có rất nhiều người nhận ra, muốn vô hiệu hóa “chuyên chính vô sản” tại Việt Nam thì phải cung cấp đủ thông tin đúng cho đồng bào của mình. Thông tin là con đường duy nhất giúp thay đổi nhận thức. Khi nhận thức đã thay đổi thì hành vi cũng sẽ thay đổi. Hình như “phá vòng nô lệ” phải khởi đầu từ đó.

Một blogger khác là Lê Sơn viết trên trang Dân Luận rằng trang Ba Sàm của ông Nguyễn Hữu Vinh đã khai mở tâm trí cho nhiều thanh niên Việt Nam trong thời gian qua, để họ không bị nhồi sọ, không bị nhuộm đen:

Một xã hội thiếu thốn sự thật thì ham muốn tự nhiên của con người là tìm kiếm sự thật.

Sự thật về xã hội Việt Nam từ trang blog anhbasam đến đâu thì hãy xem hàng triệu bộ não của tất cả các thành phần đánh giá đúng bản chất của nó. Tôi không nghĩ rằng ‘’những bộ óc lãnh đạo thiên tài’’ của đảng cộng sản lại qua mặt được hàng triệu người dân Việt Nam đau đáu vì hiện tình đất nước?.

Nếu đất nước Việt Nam không có tham nhũng. Nếu đất nước Việt Nam không bị Trung Quốc cộng sản xâm lược Biển Đông. Nếu đất nước Việt Nam thực sự có nhân quyền, dân chủ, cuộc sống người dân đầy đủ ấm no, không phải vay nợ thế giới, thì có thể những bài viết trên trang Anhbasam đã thực sự ‘’bôi nhọ nhà nước’’ do đảng cộng sản cai trị.

Tuy nhiên, những điều vừa nói trên tại Việt Nam đều được phủ định đã, đang, diễn ra một cách trầm trọng và có hệ thống.

Một bạn trẻ nói rằng ‘’nếu không có internet, không có basam, không có các blog tự do thì chắc chắn đầu óc tôi vẫn bị cộng sản nhồi sọ và nhuộm cho đen như đít nồi’’.

Cách dọn dẹp tàn dư của đám cháy là hãy cho nó cháy sạch sành sanh thành tro bụi.

ee3d1372-3c94-4d44-8e73-535c1c5409ba-400

Blogger Basàm Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự, bà Nguyễn Thị Minh Thúy, tại Tòa án Nhân dân Hà Nội ngày 23 tháng 3 năm 2016. AFP photo

Chẳng có ai bôi nhọ được đít nồi cả, vì nó đã đen sẵn rồi làm sao mà bôi đen được nữa. Dù vậy, người dân lên tiếng về các sai phạm nhũng nhiễu, về chủ quyền biển đảo, về sự tham ô hối lộ thì lại gán cho họ cái tội bôi nhọ nhà nước ?!

Một tác giả khác là Đỗ Trọng, từng là chuyên viên cao cấp trong chính quyền Việt nam, cho rằng việc làm của ông Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự đáng lý ra phải được đảng cộng sản hàm ơn vì trang Ba Sàm đã cảnh tỉnh những sai lầm của họ. Đỗ Trọng viết trên trang Dân Luận:

Đảng cộng sản Việt Nam thường khoe những lời kiêu ngạo cộng sản “Đảng ta là chân lý, là văn minh, là trí tuệ”. Nếu đúng như vậy thì người khôn phải lấy những lời cảnh tỉnh để tự răn mình. Chỉ những kẻ đã mất trí mới đàn áp những người đã cho mình những lời cảnh tỉnh. Vì thế, thay vì bỏ tù ông Vinh và bà Thúy, đảng nên cảm ơn họ đã chỉ cho mình vết nhơ trên mặt để lau chùi cho sạch sẽ, hủy bỏ những lời cáo buộc họ ngày 23/3/2016 và trả tự do ngay cho họ.

Ông Vinh và bà Thúy thuộc những người có công lớn góp phần chống lại đà tha hóa bộ máy quyền lực ở Việt Nam, đòi đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam phải luật hóa và thực thi các quyền tự do dân chủ của người dân đã được Hiến pháp thừa nhận và góp phần thúc đẩy xu thế tất yếu lịch sử ra đời Xã hội dân sự ở Việt Nam. Chúng ta thành thực cảm ơn họ và cùng nhau lên tiếng đòi Chính quyền hủy bỏ bản án ngày 23/3/2016, trả tự do ngay cho ông Vinh và bà Thúy.

Sự dấn thân phá vòng nô lệ của Nguyễn Hữu Vinh cũng gây sự chú ý rất lớn bên ngoài Việt nam. Một dân biểu Đức là ông Martin Patzelt đích thân sang Việt nam với mong muốn tham dự phiên tòa. Phát biểu của ông về công lao của những blogger dấn thân như ông Nguyễn Hữu Vinh được nhiều trang blog chia sẻ:

Dùng kẻ ngu để vô hiệu hóa, tầm thường hóa trí thức – đó là chiến thuật mà chính quyền công an trị vẫn sử dụng suốt nửa thế kỷ nay.
– Nhà báo Đoan Trang

“Họ đã thay đổi thế giới. Và họ đã thực sự tranh đấu cho một đời sống mà ngày nay chúng ta đương nhiên coi đó là cuộc sống của chúng ta. Chúng ta nên ghi nhớ rằng chúng ta được thừa hưởng của những người đấu tranh dũng cảm mà trong quá khứ đã nghĩ ra, hình dung, khuyến khích và tranh đấu cho các quyền con người. Đoàn kết, liên đới là điều mà chúng ta nợ họ“.

Blogger Song Chi tiếp lời về những gì mà ông Nguyễn Hữu Vinh đã làm được, đồng thời cảnh báo những nguy hiểm của việc cản trở con đường dân chủ hóa đất nước,

Tôi nghĩ rằng tôi và tất cả những ai đã từng tìm đọc tin, bài trên trang anh Ba Sàm ngay từ khi trang này mới thành lập và vẫn tiếp tục đọc cho tới bây giờ, đều mang “nợ” anh Ba Sàm và những người biên tập viên, phụ tá… đã âm thầm làm việc để giữ cho trang anh Ba Sàm tồn tại. Nếu không có sự hy sinh của những người như anh Ba Sàm và rất nhiều người khác, trước anh, đồng thời với anh, và sau anh, đất nước này sẽ không bao giờ thay đổi.

Bởi thực tế đã chứng minh một chế độ độc tài do đảng cộng sản cầm quyền sẽ tồi tệ hơn, di hại cho đất nước, dân tộc hơn mọi chế độ độc tài khác nhiều, và cũng lì lợm, bảo thủ, thù dai, cố giữ quyền lực tới cùng nhất; nếu mỗi người trong chúng ta không cố gắng làm một điều gì đó về phần mình để góp phần thức tỉnh người dân và cả thức tỉnh nhà cầm quyền nữa, để thúc đầy quá trình tự do dân chủ hóa… thì sự thay đổi còn lâu mới đến trên đất nước này.

Bản án và bạo lực cách mạng

Sau khi bản án được công bố, Luật sư Lê Công Định, người từng là tù nhân chính trị bình luận rằng bản án chứng tỏ chế độ cộng sản là hết thuốc chữa, phải đào thải đi như một cái xác chết chứ không còn cách nào khác.

Blogger Trần Minh Nhật cho rằng bản án đó cũng như tất cả những bản án chính trị tại Việt Nam đều là những bản án cười ra nước mắt, chúng là thắng lợi của đảng cộng sản nhưng lại là những thất bại trước mắt của nhân loại.

Nhà báo blogger Đoan Trang nhận thấy một điều là trong phiên xử vụ án này, nhà cầm quyền đã dùng những người kém cỏi, một đặc điểm của chế độ công an trị,

Xử một người như Nguyễn Hữu Vinh, một trí thức, một blogger đi tiên phong trong việc dùng mạng Internet để khai dân trí, mà lại dùng những thẩm phán không sử dụng mạng và không biết đọc từ “wordpress”, không đọc nổi cả từ “gmail”. Điều đó khiến tất cả những lập luận của ông Vinh và các luật sư, dù sắc sảo, dù hùng biện đến đâu, cũng thành vô nghĩa trước những bộ mặt ngớ ngẩn. Bảo mật hai lớp, quyền quản trị, chứng cứ điện tử, dữ liệu điện tử, quyền tự do thông tin, quyền riêng tư trên mạng… tất cả những cái đó có nghĩa là gì vậy?

Dùng kẻ ngu để vô hiệu hóa, tầm thường hóa trí thức – đó là chiến thuật mà chính quyền công an trị vẫn sử dụng suốt nửa thế kỷ nay.

Chế độ công an trị mà Đoan Trang đề cập được những người cộng sản gọi là chuyên chính vô sản, và để thiết lập nền chuyên chính đó, những người cộng sản công khai tuyên bố là họ dùng bạo lực. Bà Đinh Ngọc Thu nhận xét về nền tảng bạo lực này của những người cộng sản:

“Bạo lực cách mạng” có thể giúp Đảng CSVN đạt được một số “thắng lợi” nhưng lịch sử từng cho thấy bạo lực không thể tạo ra phát triển và thịnh vượng. Đó là quy luật. Cứ ngẫm sẽ thấy, không ai có thể chống lại các quy luật.

Trang blog Nghiên cứu lịch sử cũng viết rằng lịch sử của tất cả các chế độ sử dụng bạo lực đều kết thúc một cách bi thảm.

Và sau cùng, sau khi bản án được công bố, giáo sư Trần Hữu Dũng, người thực hiện trang thông tin Việt-Studies, đặt câu hỏi một cách trào lộng rằng trong các vụ án chính trị tại Việt Nam, người ta cần đến luật sư để làm gì!

Ba Sao chi mộ

Ba Sao chi mộ

Phạm Thanh Nghiên

28-3-2016

Tấm bia thờ tù nhân chính trị chết ở trại Ba Sao do người Giám thị lập, hiện đang được đặt tại một ngôi Chùa ở miền Bắc. Ảnh: Phạm Thanh Nghiên

Xin kính cẩn nghiêng mình thắp nén tâm hương trước tấm bia không mộ của 626 người tù chính trị đã chết trong nhà tù Ba Sao, Nam Hà giai đoạn 1975-1988. Và rất nhiều những người tù chính trị khác đã chết oan khiên trong ngục tù cộng sản.

Lời đầu

Lẽ ra, câu chuyện này phải được chúng ta kể cho nhau nghe một cách trọn vẹn. Tiếc rằng, vì một số lý do ngoài ý muốn, “người trong cuộc” (1) đã ngừng sự giúp đỡ tôi nên việc thu thập, tìm hiểu thông tin đã bị gián đoạn.

Hơn nữa, xuất phát từ nhu cầu an toàn cá nhân của nhân chứng, nỗi lo về sự can thiệp hầu phá vỡ sự bình yên, tôn nghiêm của ngôi Chùa – nơi đặt tấm bia thờ 626 người tù chính trị, nên người viết đã phải rất cân nhắc khi chuyển tải thông tin đến bạn đọc. Nhưng tôi tin, câu chuyện dù không được kể trọn vẹn như mong muốn cũng sẽ khiến chúng ta thấy xót xa cho Thân phận quê hương. Một Thân phận quê hương được phản chiếu từ Thân phận của những người con Việt bị bức tử bằng cách này hay cách khác trong một giai đoạn khốc liệt, đau thương nhất của lịch sử.

Phần 1: Chuyến tàu vét

Sau khi cưỡng chiếm miền Nam, một trong những hành động đầu tiên mà chế độ cộng sản thực hiện là trả thù những người từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Hầu hết những cựu quân nhân cán chính, những viên chức từng làm việc trong chính quyền VNCH, hoặc bị nghi ngờ thuộc thành phần này đều bị đưa đi “cải tạo”, nhưng thực chất là chịu lưu đày tại các nhà tù trên khắp cả nước. Một trong những nơi khét tiếng tàn bạo ở miền Bắc, từng giam cầm hàng ngàn cựu quân nhân cán chính VNCH là nhà tù Ba Sao, Nam Hà.

Con tàu cuối cùng chở tù chính trị từ Nam ra Bắc có cái tên rất thơ mộng: Sông Hương. Rời Sài Gòn ngày 18/4/1977, sau 2 ngày 3 đêm (2), tàu cập bến Hải Phòng, tiếp tục hành trình lưu đày tù ngục của 1200 con người thuộc “bên thua cuộc”.

Chúng tôi, cứ hai người bị chung một chiếc còng. Vừa lên đất liền, hai bên đường đã có người dân Miền Bắc đợi sẵn. Họ ném gạch đá vào chúng tôi. Vừa ném, vừa chửi rủa, mạ lỵ rất thậm tệ. Nhiều người trong số chúng tôi bị ném trúng, vỡ đầu, chảy máu và thương tích”.

Đấy là lời kể của ông Nam, một trong những người tù bị đẩy ra Bắc trong chuyến tàu Sông Hương. Khi cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam, ông Nam đang là thiếu úy quân đội VNCH. Chi tiết này cũng được Linh mục Nguyễn Hữu Lễ thuật lại trong cuốn hồi ký “Tôi phải sống”.

Từ Hải Phòng, số tù nhân này bị tách ra để chia rải rác cho các trại giam khác. Bài viết này xin chỉ đề cập tới những người tù ở Ba Sao, Nam Hà.

Không riêng gì những người tù Ba Sao, hầu như tất cả những người từng phục vụ trong chính quyền VNCH đều bị bắt sau biến cố 30/4/1975. Một số bị đưa ra Bắc ngay thời kỳ đầu. Nhiều người khác bị giam cầm ở miền Nam sau vài năm mới bị chuyển ra Bắc, rồi lại trở ngược vào Nam để tiếp tục cuộc đời lao tù cho đến ngày chết, hoặc trở về khi sức cùng lực cạn.

Nhà tù Ba Sao lại “rộng cửa” đón thêm vài trăm người từ chuyến tàu vét Sông Hương, nơi đang đọa đày hơn 600 tù VNCH đã bị chuyển đến từ những chuyến tàu trước đó.

Tôi có dịp hỏi chuyện linh mục Nguyễn Hữu Lễ (ngài hiện đang sống tại New Zealand) và một nhân chứng khác (sống tại Sài Gòn), thì nhà tù Ba Sao thời bấy giờ chia làm 4 khu giam giữ.

Khu A: Giam cầm các thành phần thuộc viên chức chính phủ, dân biểu, nghị sĩ, sĩ quan cao cấp như thượng nghị sĩ Huỳnh Văn Cao, bộ trưởng Đàm Sỹ Hiến, Bộ trưởng Trần Ngọc Oành, tướng Lê Minh Đảo, ông Văn Thành Cao, tướng Nhu, tướng Trần Văn Chơn, ông Nguyễn Văn Lộc…, hay lãnh tụ Quốc dân đảng là ông Vũ Hồng Khanh.

Khu B: Giam những quân nhân cán chính, những người bị buộc tội “phản động” như linh mục Nguyễn Hữu Lễ, linh mục Nguyễn Bình Tỉnh…

Khu C: Giam tù hình sự miền Bắc.

Khu Mễ: Giam cầm những người bệnh tật, đau yếu. Trong khu Mễ lại có một khu “Kiên giam”. Khu “Kiên giam” dành cho các tù nhân bị kỷ luật với điều kiện giam giữ vô cùng khắc nghiệt. Đã có rất nhiều tù nhân chết trong khi bị “kiên giam”.

Chúng tôi bị chuyển từ nhà tù miền Nam tới nhà tù Ba Sao miền Bắc trong chuyến tàu Sông Hương vào tháng 4/1977. Lúc ấy nhóm của tôi có 350 người ra đi từ trại Giaray tỉnh Xuân Lộc. Ở Ba Sao được 9 tháng, tôi bị chuyển lên trại Quyết Tiến còn gọi là “Cổng Trời”thuộc tỉnh Hà Giang, nằm sát ranh giới Trung Quốc. Một năm sau đó tôi về trại Thanh Cẩm , tỉnh Thanh Hoá . Mười năm sau, tức tháng 1/1987, tất cả tù chính trị miền Nam còn sót lại rải rác trong các trại miền Bắc được dồn hết về trại Ba Sao, Nam Hà, trong đó có tôi. Nhưng đội của tôi trước khi tôi rời Ba Sao ra đi nay đã chết quá phân nửa. 

Tết năm đó có một đợt tha tù, được tổ chức rất ồn ào. Đến tháng 5/1987, tất cả số tù nhân từ miền Nam còn sót lại, được chuyển hết về Nam để ở tù tiếp. Chỉ còn “sót lại” 3 người ở miền Bắc, đó là linh mục Nguyễn Bình Tỉnh, anh Nguyễn Đức Khuân và tôi. Hầu hết họ đã chết . Chết vì tuyệt vọng, đói rét, suy kiệt, tiêu chảy, kiết lỵ và nhiều bệnh khác”.

Tác giả Bút ký “Tôi Phải Sống” bùi ngùi kể lại.

Tôi rùng mình tự hỏi, có bao nhiêu tù nhân chính trị đã chết trong suốt thời kỳ từ 1975 trở về sau?

Bao nhiêu ở nhà tù Ba Sao? Bao nhiêu ở Cổng Trời, Thanh Hóa, Phú Yên, Xuân Lộc, Xuyên Mộc, Hàm Tân, Bố Lá…?

Bao nhiêu người đã bị bách hại bởi chính người đồng bào ruột thịt mang tên “cộng sản”, và chết lặng câm ở khắp các nhà tù từ Bắc-Trung-Nam trên dải đất đau thương này?

Không ai biết chính xác, nhưng số người phải bỏ xác ở khắp các nhà tù hẳn không phải là con số ít.

Một ngày nào đó, chế độ cộng sản sẽ phải trả lời những câu hỏi này trước quốc dân đồng bào. Cũng như trả lại sự thật lịch sử cho Dân tộc này.

(Còn tiếp)

Chú thích:

(1): Người trong cuộc: Những người đã giúp đỡ tôi có được thông tin để viết bài viết này. Tên các nhân vật trong bài đã được thay đổi.

(2) Hai ngày ba đêm: Dựa vào lời kể của nhân chứng và qua hồi ký “Tôi phải sống” của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ.

____

Mời xem thêm hồi ký Tôi Phải Sống của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ. Nguồn: Việt Nam Văn Hiến.

Chủ trang ‘Diệt giặc nội xâm’ bị bắt

 Chủ trang ‘Diệt giặc nội xâm’ bị bắt

Báo trong nước đưa tin ông Trần Minh Lợi bị bắt ‘vì hành vi đưa hối lộ’

Gia đình chủ trang Facebook ‘Diệt giặc nội xâm’ khẳng định với BBC là người này “vì chống tham nhũng mà bị bắt”.

Hôm 22/3, ông Trần Minh Lợi, chủ trang Facebook ‘Diệt giặc nội xâm’ bị Công an tỉnh Đắk Nông bắt vì hành vi đưa hối lộ.

“Ông Lợi nổi tiếng tại Đắk Lắk và trên mạng xã hội với chủ trương “chống tham nhũng không phải của riêng ai”.

“Ông tố cáo nhiều lãnh đạo, cán bộ tại công an, Viện Kiểm sát liên quan đến việc chạy án, buôn lậu gỗ. 11 cán bộ liên quan tại Công an huyện Cư Kuin bị kiểm điểm, kỷ luật”.

“Ông sẵn sàng “giúp đỡ về pháp lý miễn phí cho bất cứ ai tố cáo tiêu cực.

Bằng cách dùng các thiết bị ghi âm, ghi hình bí mật, ông Lợi thu thập chứng cứ nhiều vụ tiêu cực của cán bộ công an liên quan đến việc chạy án, chạy việc sau đó gửi đơn tố cáo”, theo báo Tuổi Trẻ hôm 22/3.

‘Không ngờ’

Hôm 27/3, Trần Minh Tuyên, con trai ông Lợi, nói với BBC qua điện thoại: “Bố tôi đã nghĩ đến chuyện mình có thể bị bắt nên đã dặn dò gia đình một số việc, nhưng ông không ngờ thời điểm này”.

“Những việc bố tôi làm đều không có gì trái với lương tâm, nhưng vì ông tố cáo những người có chức quyền tại địa phương nên khiến họ, nhất là công an, thù hằn từ nhiều năm nay”, Trần Minh Tuyên nói thêm.

Con trai ông Lợi cũng cho hay rằng từ hôm ông bị bắt đến nay, gia đình chưa được phép đi thăm và chưa nắm được thông tin về thời điểm diễn ra phiên tòa xử ông.

Cùng ngày, trao đổi với BBC từ Phú Yên, luật sư Võ An Đôn nói: “Cách đây hai giờ, bà Phan Thị Thảo, vợ ông Lợi đã gọi cho tôi rút lại đơn yêu cầu tôi bào chữa cho chồng. Bà ấy chỉ nói là ‘do áp lực’ nhưng tôi giả định là có thể do chính quyền tạo áp lực buộc gia đình rút đơn mời tôi”.

Trước đó, luật sư viết trên Facebook: “Ông Lợi đã làm đơn tố cáo giúp nhiều người dân trong vùng, khiến 47 cán bộ tỉnh Đắk Lắk liên quan đến tiêu cực bị kỷ luật, cắt chức, chuyển công tác và buộc những kẻ chiếm đoạt phải trả lại tiền cho người dân hàng tỷ đồng”.

“Ông Lợi bị Công an tỉnh Đắk Nông khởi tố và bắt giam về tội “Đưa hối lộ” với vai trò là người xúi giục, theo Điều 289 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt đến 20 năm tù”.

“Với thành tích giúp người dân tố cáo tiêu cực, lẽ ra ông phải được cơ quan phòng chống tham nhũng tặng thưởng huân chương, chứ sao lại bắt giam một người như ông? Thử hỏi xã hội còn ai dám chống tham những nữa?”.

Báo Tuổi Trẻ hôm 25/3 dẫn lời đại tá Lương Ngọc Lếp – Phó giám đốc Công an tỉnh Đắk Nông: “Với những vụ án nóng, có dư luận trái chiều và được báo chí quan tâm như vụ bắt tạm giam ông Trần Minh Lợi thì công an tỉnh sẽ tổ chức họp báo công khai”.

Báo này tường thuật “ông Lợi bị bắt về hành vi ‘đưa hối lộ’ với vai trò đồng phạm, giúp sức với nhóm bị can đã bị bắt về hành vi đưa hối lộ trước đó”.

Tuyên bố ‘ráng làm người tử tế’ của Thủ tướng Dũng gây chú ý

Tuyên bố ‘ráng làm người tử tế’ của Thủ tướng Dũng gây chú ý

Trong kỳ Đại hội Đảng 12 vừa qua, ông Dũng “xin rút” để “về nghỉ chính sách”, sau khi có nhiều đồn đoán rằng ông sẽ chạy đua vào chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam với ông Nguyễn Phú Trọng.

Trong kỳ Đại hội Đảng 12 vừa qua, ông Dũng “xin rút” để “về nghỉ chính sách”, sau khi có nhiều đồn đoán rằng ông sẽ chạy đua vào chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam với ông Nguyễn Phú Trọng.

VOA Tiếng Việt

26.03.2016

Lời khuyên ‘ráng làm người tử tế’ của ông Nguyễn Tấn Dũng trong phiên họp cuối cùng trên cương vị Thủ tướng Việt Nam đang thu hút sự quan tâm của người sử dụng mạng xã hội.

Trong khi chủ trì phiên họp từ biệt các thành viên nội các hôm nay, 26/3, ông nói rằng ngày 6/4 tới ông sẽ “kết thúc nhiệm vụ”.

Ông Dũng sau đó gửi lời cám ơn tới các cộng sự của mình đồng thời chúc mừng các thành viên chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ, trong đó ông nêu tên người được giới thiệu kế nhiệm mình là ông Nguyễn Xuân Phúc, cũng như bí thư thành ủy Sài Gòn và Hà Nội là Đinh La Thăng và Hoàng Trung Hải.

Sau đó ông cũng khuyên hơn 10 thành viên chính phủ về hưu kỳ này, trong đó có bản thân mình, là “ráng giữ gìn sức khỏe, làm công dân tốt, đảng viên tốt, ráng làm người tử tế, sống tử tế”. 

Trong đoạn thu âm được đăng tải trên báo chí trong nước, khi ông Dũng nói tới chữ “người tử tế” thì nhiều người tham dự cuộc họp đã bật cười.

Một bạn đọc tên Bon Nguyễn viết cho VOA Việt Ngữ: “Làm người tử tế quá dễ, làm người lãnh đạo tử tế mới là cả một vấn đề”.

‘Vung tay quá trán’

Phát biểu của Thủ tướng Việt Nam được đưa ra ít ngày sau khi người được cho sẽ lên kế nhiệm ông nói rằng “nợ chính phủ đã vượt giới hạn”.

Truyền thông trong nước dẫn lời ông Nguyễn Xuân Phúc phát biểu trong phiên khai mạc kỳ họp thứ 11 của quốc hội sáng 21/3 rằng “nợ công tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn, nợ chính phủ đã vượt giới hạn quy định”.

Trong bài viết có tựa đề “ngân sách không đủ tiêu, đầu năm chính phủ lo vay nợ”, báo điện tử VietNamNet viết: “ Đang có hiện tượng “vung tay quá trán” trong chi tiêu nên mới đầu năm, để đảm bảo ngân sách nhà nước, chính phủ đã phải tính chuyện đi vay cả trong ngoài nước 116 nghìn tỷ đồng để chi tiêu. Rất có thể, thuế nội địa sẽ tăng để bù đắp cho khoản vay này”.

Còn trong bài viết về “bức tranh ngân sách quốc gia đầy báo động”, tờ Tuổi Trẻ cho rằng “hiện chúng ta cũng có những định chế và những người chịu trách nhiệm, nhưng lại không chịu trách nhiệm cụ thể nên cuối cùng chẳng ai chịu trách nhiệm”.

Ông Nguyễn Tấn Dũng được quốc hội Việt Nam bầu làm thủ tướng năm 2006, và ông cho biết, tính tới ngày 6/4 này, ông đã làm thủ tướng được “9 năm 10 tháng”.

Trong kỳ Đại hội Đảng 12 vừa qua, ông Dũng “xin rút” để “về nghỉ chính sách”, sau khi có nhiều đồn đoán rằng ông sẽ chạy đua vào chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam với ông Nguyễn Phú Trọng.

Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sau đó được giới thiệu kế nhiệm vị trí đứng đầu chính phủ Việt Nam.

Tin cho hay, Quốc hội khóa 13 dự kiến sẽ miễn nhiệm thủ tướng ngày 6/4 và việc bỏ phiếu kín bầu thủ tướng diễn ra một ngày sau đó.