
Lm. Antôn Đặng Hữu Nam: Kiên trì hành động cho lý tưởng vì công ích chung


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Việt Nam, Tin Cộng Đồng



Nghệ sĩ Kim Chi tại Tòa Soạn Người Việt. (Hình: Người Việt)
Điếu Cầy/Người Việt
LTS – Nghệ sĩ Kim Chi, người từng vượt Trường Sơn từ Bắc vào Nam hồi chiến tranh Việt Nam, nay trở thành gương mặt tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền, tự do báo chí tại Việt Nam, mạnh mẽ lên tiếng chỉ trích nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Nhân dịp bà có mặt tại Hoa Kỳ (lần thứ nhì), blogger Điếu Cầy có cuộc phỏng vấn dưới đây. Xin mời độc giả theo dõi.
***
Điếu Cầy: Chào chị. Từng là nghệ sĩ tham gia nhiều phim “cách mạng,” năm 1964, từng cùng chồng là đạo diễn Hồng Sến vượt Trường Sơn vào Nam, cũng từng là MC của đoàn Văn Công “Giải Phóng,” điều gì khiến chị tham gia vào những hoạt động đấu tranh đòi dân chủ trong nước?
Nghệ Sĩ Kim Chi: Khi tham gia đoàn Văn Công Giải Phóng vào chiến trường, tôi mang khát vọng là giải phóng quê hương. Tôi nghĩ như thế, là vì theo thông tin tuyên truyền của báo chí nhà nước thì ông Diệm đang “lê máy chém đi khắp miền Nam” và đang gây ra rất nhiều nỗi đau cho miền Nam. Thành ra tôi nghĩ tôi rất sẵn sàng để tham gia vào cuộc chiến bảo vệ quê hương, thống nhất đất nước, đánh Ngụy đuổi Mỹ.
Cái suy nghĩ rằng trẻ thì dấn thân là như thế. Tại sao tôi là một người như thế mà hôm nay lại thay đổi để đồng hành với mọi người cùng tranh đấu? Phải nói rằng đó là một quá trình nhận thức về sự thực.
Trước đây, thông tin bị bưng bít và tôi cứ nghĩ rằng Ngụy là xấu, Mỹ là âm mưu xâm chiếm Việt Nam. Sau này, thông qua báo mạng, Internet, thì sự thật được phanh phui, và những gì sai trái của nhà nước này, những cái tội ác, tôi đã nhìn thấy. Từ những chuyện như hội nghị Thành Đô và âm mưu chiếm đoạt Việt Nam của Trung Quốc tràn ngập trên mạng. Các thông tin ấy thuyết phục tôi. Tôi mới bừng tỉnh ra là, ô hay, như thế là không phải như mình nghĩ.
Đặc biệt làm cho tôi đau đớn quằn quại là những người dân oan. Một cái Đảng công bố là dân cày có ruộng, mọi người được no ấm, trong nhận thức của tôi bây giờ nó là cái khẩu hiệu, hay nói mạnh hơn, là một sự dối trá.
Tôi không chịu được khi tôi nhìn thấy dân oan ngày ngày ngồi cạnh bên Ba Đình, những người mà người ta đeo biển đòi đất hay những vụ án oan sai, tất cả những điều đó lộ trước mắt tôi. Rồi thì truyền thông, báo mạng đã vạch ra cho tôi thấy những tội ác của cái chế độ hiện nay đối với dân. Đó là điều đã đánh thức tôi. Nên đối với tôi bây giờ, phải nói rằng tôi cảm ơn báo mạng vô cùng, cảm ơn Facebook vô cùng. Nếu không có những cái đó thì tôi còn ngu lâu lắm.
Sự thực như thế và tôi nghĩ rằng vai trò của báo mạng, thông tin của truyền thông quốc tế và trong nước đã giúp mở mang sự hiểu biết cho dân chúng và cho bản thân tôi. Tôi đã có rất nhiều biến đổi trong suy nghĩ nhờ đọc báo mạng, và phải nói thực là hiện nay đến mức tôi không còn quan tâm đến báo giấy nữa, vì ở đó, sự thực nó bưng bít, chuyện như thế này thì nói ra thế khác, nên hoàn toàn không còn để cho tôi quan tâm chú ý nữa.
Tóm lại, tôi thay đổi nhận thức, tôi đồng hành cùng đồng bào là vì tôi nhìn thấy sự thực. Những vụ án oan sai, những cuộc bắt bớ vô lý những người tranh đấu, đó là nhìn thấy thật.
Điếu Cầy: Những người cùng giới văn nghệ sĩ đồng tình với chị không? Có phải ngày càng có nhiều văn nghệ sĩ công khai bày tỏ chính kiến như chị?
Nghệ sĩ Kim Chi: Vâng, có. Hiện thì tôi thấy trong các anh em nghệ sỹ đồng lòng với những việc chúng tôi làm ngày một đông. Minh chứng là trong nhóm câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, tôi thấy có một số văn nghệ sĩ, nhà văn, nhà báo, nhà thơ… Điều đó chứng tỏ sự chuyển biến của giới văn nghệ sĩ. Họ đã bắt đầu có những hành động can trường, dám xuống đường biểu tình, dám viết bài, dám trả lời phỏng vấn, thì tôi thấy đó là những tín hiệu mừng vui. Thật sự thì cũng chưa được nhiều lắm, nhưng mà rồi tôi tin là nó sẽ nhiều.
Điếu Cầy: Năm 2014 chị có chuyến đi đến Hoa Kỳ vận động cho tự do báo chí tại Việt Nam. Từ những kinh nghiệm bản thân mình, chị thấy báo chí tự do có thể góp phần khai dân trí, chấn dân khí, thay đổi xã hội Việt Nam theo hướng minh bạch và dân chủ như thế nào?
Nghệ sĩ Kim Chi: Điều đó rất cần thiết. Tôi nghĩ hiện nay cái công lớn nhất của báo chí tự do là đã phanh phui ra rất nhiều sự thật mà trước đây báo lề Đảng bưng bít tất cả. Nhưng bây giờ, với thông tin hiện đại nhất, nhờ mạng xã hội, Internet, báo chí tự do có thể nói là đã chiếm lĩnh thị trường và có công rất lớn là mở mang dân trí.
Điếu Cầy: Hoạt động của các nhà báo tự do, blogger trong nước hiện nay gặp những khó khăn gì? Đồng bào ở hải ngoại có thể giúp gì cho họ?
Nghệ sĩ Kim Chi: Quỹ hỗ trợ là điều hay; không chỉ cho những bài báo hay những câu chuyện mà cũng có thể là thơ, kịch nói, kịch bản phim, tất cả các thể loại, những gì có thể góp phần mở mang dân trí, vạch trần tội ác những kẻ bán nước và khích lệ những người đang tranh đấu.
Rất cần khích lệ anh em và làm cho những người cầm bút không sợ khi mình đi đến dân chủ thì mình bị đói. Nhiều người văn nghệ sỹ bây giờ họ sợ đấu tranh dân chủ thì sẽ không được đi sáng tác ở Hội, không có tiền nhuận bút, họ rất sợ hãi. Có người trước đây trong Hội Sân Khấu, rất thân với tôi, sau ngày quay lưng lại với tôi, sợ tôi buồn họ nói với tôi một câu rất buồn cười: “Chị thông cảm với tôi, cơm áo gạo tiền nó cần thiết, tôi không thể nào nhịn đói mà tranh đấu được.” Đó là điều tôi hiểu được và thông cảm được. Do đó tôi nghĩ nếu có một cái quỹ thì rất tuyệt; và trong lòng tôi nghĩ tôi sang đây tôi muốn nói với mọi người mong muốn đó.
Điếu Cầy: Hiện còn nhiều tù nhân lương tâm đang bị giam giữ trong các nhà tù ở Việt Nam. Hầu hết họ là những nhà báo tự do, những blogger chỉ biểu đạt chính kiến ôn hòa trên Internet mà bị tù đày. Trong chuyến đi này, chị có muốn gặp gỡ các vị dân biểu, nghị sĩ Hoa Kỳ để vận động cho họ không?
Nghệ sĩ Kim Chi: Đối với tôi, ngày nào còn một người tù nhân lương tâm còn ở trong nhà giam thì đều rất là xót xa, và tôi có cảm giác họ cũng như những người ruột thịt của tôi. Hiện nay, tôi được biết có đến 84 tù nhân lương tâm đang ở trong tù mà nổi bật là những người rất can trường, yêu nước, như Trần Huỳnh Duy Thức, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Luật Sư Nguyễn Văn Đài, dân oan Cấn Thị Thêu, Bùi Minh Hằng và còn nhiều nữa. Như vậy là trên 84 người vẫn còn đang bị giam cầm.
Cái “tội” của họ là yêu nước và nói sự thật. Cho nên tôi nghĩ có cơ hội, nhất định là tôi sẽ đòi tự do cho họ. Cũng như lần trước, tôi cũng đã làm như thế. Lần này tôi nghĩ cũng có thể tự tạo cho mình một cơ hội gặp những người có quyền ở đất nước Hoa Kỳ tự do này, kêu gọi hỗ trợ. Tôi nghĩ đó là lương tâm và trách nhiệm của tôi.
Điếu Cầy: Ngày 12 Tháng Bảy, Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) tại The Hague, Hà Lan, ra phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Quốc về “đường Lưỡi Bò” trên Biển Đông. Theo phán quyết của tòa thì đã không có bằng chứng lịch sử cho thấy Trung Quốc có đặc quyền kiểm soát vùng biển và nguồn tài nguyên tại khu vực có tranh chấp. Cả thế giới đã ủng hộ phán quyết của Tòa PCA. Sau phán quyết, nhân dân vui mừng, nhưng nhà cầm quyền Việt Nam vẫn e dè, chưa có công bố cụ thể đối với phán quyết của PCA. Theo chị, phán quyết của PCA ảnh hưởng gì tới Việt Nam?
Nghệ sĩ Kim Chi: Tôi nghĩ việc phán quyết của PCA đã làm chấn động đối với Việt Nam. Những người dân yêu nước khao khát thoát Trung thì rất vui mừng. Tôi rất vui khi ông xã tôi bảo các trí thức Việt Nam tập họp tại sứ quán Philippines tặng hoa chúc mừng. Và đối với tôi thì tôi thầm nghĩ đáng lẽ việc làm này nhà nước Việt Nam phải làm và nhà nước Việt Nam phải học Philippines, phải đuổi Trung Quốc ra khỏi Biển Đông.
Điếu Cầy: Theo chị tại sao họ lại chậm trễ đưa ra công bố và thậm chí lại đàn áp bắt giữ người dân khi họ công khai bày tỏ ủng hộ đối với phán quyết của PCA?
Nghệ sĩ Kim Chi: Tôi nói điều này nghe nặng nhưng mà điều đó chứng tỏ họ bán nước rồi. Chứ nếu họ thật sự yêu nước thì không thể như thế được. Tôi chỉ nói ngắn gọn như vậy thôi.
Điếu Cầy: Chị có nhắn gởi gì đến anh em đấu tranh dân chủ trong và ngoài nước?
Nghệ sĩ Kim Chi: Tôi mừng vì thấy anh em đội ngũ ngày một đông và can trường, và điều đó hứa hẹn một tương lai tươi sáng. Nhưng tôi có lo, thực ra nó còn rời rạc là một, chưa thật sự đoàn kết là hai, và cá tính khác biệt đôi khi đánh mất nhau để làm cho nhau tổn thương.
Rồi họ bị bọn, tôi nghĩ là tình báo Hoa Nam, rồi dư luận viên và công an, tìm cách chia rẽ mà chúng ta không cảnh giác để mắc mưu. Cho nên thích hành hạ nhau trên mạng, thích nói xấu nhau, thích làm nhục nhau, thì tôi không đồng tình với việc đó. Tôi mong mọi người tôn trọng nhau, nhìn nhau ở những mặt tích cực, nhìn những sự cống hiến của anh em mình và khích lệ nhau, động viên nhau. Tôi có một ao ước như thế, và trong ngoài cùng đoàn kết. Và cái nhắn gởi cuối cùng là xin nói với đồng bào hải ngoại, rằng anh em trong nước rất biết ơn và mong mỏi luôn được hỗ trợ cả vật chất lẫn tinh thần để người tranh đấu ở Việt Nam đỡ rơi vào cảnh đói khổ. Hiện nay phải nói là công an Việt Nam, cộng sản Việt Nam đang tìm mọi cách để làm cho người tranh đấu khốn khổ. Ở đâu cũng bị đuổi, bị mất việc làm và bị nhiều thứ cho nên chúng ta cần phải yêu thương nhau, đùm bọc nhau, đoàn kết đoàn với nhau để chung một khối. Các hội nhóm cần liên kết với nhau để cùng thực hiện điều thiêng liêng nhất, đó là dành lại đất nước.
Điếu Cầy: Một câu hỏi thêm, như chị có nói là một số văn nghệ sĩ trong nước bày tỏ với chị là vì vấn đề cơm áo gạo tiền, họ không dám cất lên tiếng nói. Phải chăng các hội đoàn về văn nghệ ở Việt Nam đang chịu sự chi phối của chính quyền và đang nhận những tài trợ từ chính quyền để hoạt động theo định hướng?
Nghệ sĩ Kim Chi: Hoàn toàn là như thế. Người ta nghĩ rằng nếu bị cắt đi những tác phẩm của họ thì sẽ ảnh hưởng đến đời sống. Ví dụ như một số văn nghệ sĩ trước đây, Phùng Quán hay một số người khác nữa phải viết chui, viết chui ẩn tên người khác để kiếm sống vì cái chế độ này hễ ai dám nói thật thì bị coi là giặc, mà đã là giặc thì không bao giờ xài đến tên người đó.
Chuyện mới nhất của tôi thôi là khi tôi đang ở Cam Ranh thì hãng phim tài liệu vào làm phim “Yersin.” Mà tôi cũng đang định thắp hương cho “Yersin” thì cậu đạo diễn mời tôi đến để quay tôi đi đặt hoa cho “Yersin.” Nhưng khi hội đồng duyệt phim của bộ văn hóa đến duyệt thấy cảnh tôi thắp hương thì bắt phải cắt bỏ. Tại sao phải như vậy? Chỉ vì tôi dám tranh đấu mà họ loại hình ảnh tôi ra khỏi phim.
Nhưng tôi trộm nghĩ, một người yêu nước như tôi, nếu phim đó ra hải ngoại mà có hình ảnh tôi thì nó tốt chứ. Nhưng mà người ta coi tôi là giặc nên dẹp bỏ tôi. Ai mà đi với phong trào nhân quyền dân chủ thì đều bị coi là phản động. Nhưng tôi xin nói thật, trong suy nghĩ của tôi, phản động là kẻ đi ngược lại với ý nguyện của nhân dân, kẻ làm cho mất nước, kẻ làm cho đất nước nghèo khổ và mất nhân quyền dân chủ, đó mới là phản động, chứ còn tôi là người yêu nước, tôi luôn tự hào. Tôi rất tự tin kể cả họ có dùng cái chết đối với tôi thì tôi vẫn nghĩ tôi đúng.
Điếu Cầy: Cảm ơn chị dành thời gian cho Người Việt.
Giáo dân Nghệ An tiếp tục biểu tình đòi đóng cửa Formosa

Người dân với khẩu hiệu “đảng cần tiền nhưng nhân dân cần biển sạch.” (Hình: Facebook Sơn Văn Lê)
NGHỆ AN (NV) – Hàng trăm ngư dân là giáo dân giáo xứ Phú Yên, xã An Hòa, huyện Quỳnh Lưu, xuống đường tuần hành đến cùng giáo xứ Song Ngọc dâng thánh lễ cầu nguyện cho Công Lý và Hòa Bình, cũng như yêu cầu nhà cầm quyền minh bạch thông tin và yêu cầu đóng cửa nhà máy Formosa vào sáng Chủ Nhật, 24 Tháng Bảy, 2016.
Tin từ Facebooker Lê Văn Sơn ở Nghệ An cho hay, có khoảng 600-700 giáo dân tham gia cuộc tuần hành ngay từ sáng sớm. Những giáo dân này mặc áo trắng, tinh thần bất khuất đánh đuổi Formosa ra khỏi Việt Nam, họ không muôn mình chết giống như cá chết.
Tin cho hay, người tuần hành mang theo các khẩu hiệu phản đối nhà cầm quyền như “Bán danh dự, phản bội tổ tiên vì Formosa” và “đảng thích tiền nhưng người dân cần biển sạch.”
Hôm Chủ Nhật tuần trước, khoảng 1,000 giáo dân giáo xứ Phú Yên cũng đã biểu tình chống Trung Quốc và công ty Formosa, cùng một ngày với các cuộc biểu tình tại Sài Gòn, Hà Nội, mà nhiều người đã bị bắt giữ. Các giáo dân tuần hành ôn hòa với khẩu hiệu: “VTV phải công khai xin lỗi Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp và các nhân sĩ yêu nước,” “Đừng bán danh dự phản bội tổ tiên vì Formosa,” “500 triệu đô không đủ mua quan tài cho dân Việt…”

Đoàn biểu tình di chuyển bằng xe gắn máy. (Hình: Facebook Sơn Văn Lê)
Từ mấy tuần nay, các họ đạo trong Giáo Phận Vinh liên tiếp luân phiên nhau biểu tình tuần hành chống công ty gang thép Formosa đầu độc chết biển miền Trung Việt Nam. Hồi tuần qua, tin tức cho hay công ty này đã đổ tội cho chính quyền Việt Nam hủy hoại môi trường, xả chất thải đầu độc chết một vùng biển dài suốt bốn tỉnh từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên-Huế.
Cùng một ngày với cuộc biểu tình của giáo dân Nghệ An, người dân tại Hà Nội và Sài Gòn đã biểu tình chống Trung Quốc và ủng hộ phán quyết của Tòa Trọng Tài Quốc Tế The Hague. Khoảng ba chục người bị công an bắt giữ tại Hà Nội.
Trước một hôm, ngày 16 Tháng Bảy, tại Nha Trang, những nhà hoạt động đã “nói không với đường lưỡi bò” trước mắt du khách Trung Quốc tại khu vực Hòn Chồng và Tháp Bà Ponagar.
Trong khi đó, đài truyền hình tỉnh Bình Thuận thông báo ngưng chiếu bộ phim của Trung Quốc – Tân Bến Thượng Hải – vì diễn viên trong bộ phim này “ủng hộ quan điểm ‘đường Lưỡi Bò’ và phản đối phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực (PCA) trong vụ Philippines kiện Trung Quốc.” (KN)

Lễ khai mạc của Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 12. (Ảnh tư liệu ngày 21/1/16)
Quốc hội thứ 14 của Việt Nam đã bắt đầu phiên họp đầu tiên vào sáng 20/7. Một trong những việc quan trọng trong kỳ họp là bầu các lãnh đạo hàng đầu của đất nước.
Gần như chắc chắn Quốc hội khóa này – được bầu ra trong cuộc bầu cử hồi tháng 5 – sẽ bỏ phiếu để bà Nguyễn Thị Kim Ngân tiếp tục giữ chức Chủ tịch Quốc hội, ông Trần Đại Quang vẫn sẽ là Chủ tịch nước và ông Nguyễn Xuân Phúc vẫn là Thủ tướng. Ba nhân vật này đã được bầu vào các vị trí vừa kể bởi Quốc hội khóa trước đã kết thúc nhiệm kỳ hồi tháng Tư.
Việc bầu lại ba vị trí lãnh đạo hàng đầu chỉ có tính chất thủ tục. Từ sau cuộc bầu cử Quốc hội đến nay, đã có nhiều ý kiến của nhân dân trên mạng xã hội về sự rườm rà, lãng phí khi phải thực hiện thủ tục bầu và tuyên thệ cho cùng một dàn lãnh đạo cao cấp tới hai lần. Với tư cách cử tri, nhà hoạt động vì tiến bộ xã hội Hoàng Dũng ở thành phố Hồ Chí Minh đưa ra nhận xét với VOA:
“Người dân người ta biết được chất lượng của Quốc hội hay là của những cái bình bầu đều không phản ánh trung thực mà nó được sắp xếp đâm ra người ta coi nó trở thành hình thức. Thì cái việc đấy, tất nhiên là từ cái việc thủ tục đến cái hình thức thì tất nhiên tốn chi phí của dân thì người ta phản ứng là điều dĩ nhiên.”
Báo chí Việt Nam đưa tin trong kỳ họp kéo dài đến ngày 29/7, Quốc hội sẽ quyết định về cơ cấu và các thành viên Chính phủ, bao gồm cả việc phê chuẩn các phó thủ tướng và các bộ trưởng. Tin cho hay Quốc hội sẽ dành khoảng hai ngày để thảo luận về kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước và một số nội dung quan trọng khác.
Nền kinh tế Việt Nam phát triển ở mức vừa phải, trong sáu tháng đầu năm có mức tăng GDP là 5,5% so với mức 6,3% của cùng kỳ năm trước. Một báo cáo của Ngân hàng Thế giới công bố hôm 19/7 cho rằng kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng chậm lại do nông nghiệp bị ảnh hưởng của hạn hán nghiêm trọng và tăng trưởng trong lĩnh vực công nghiệp đã giảm xuống.
httpv://www.youtube.com/watch?list=PL231429C17BE39E34&v=kEsb1WZVQRo
Ngoài ra, tại kỳ họp, chính phủ sẽ gửi tới các đại biểu Quốc hội báo cáo về nguyên nhân các vụ tai nạn máy bay chiến đấu Su-30 và máy bay tìm kiếm cứu nạn hồi giữa tháng 6, và báo cáo về tình trạng cá chết hàng loạt tại các tỉnh miền trung hồi đầu tháng 4.
Thông tin từ cuộc họp báo của Tổng thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc trước khi Quốc hội khai mạc cho thấy sẽ không có phiên thảo luận nào về phán quyết mới đây của Tòa Trọng tài quốc tế (PCA) về Biển Đông, vốn là một mối quan tâm lớn của cử tri, đồng thời là một vấn đề sát sườn với lợi ích của Việt Nam. Nhà hoạt động Hoàng Dũng, người đã biểu tình chớp nhoáng trước Lãnh sự quán Trung Quốc để hoan nghênh phán quyết của PCA, đưa ra bình luận:
“Nó cũng chỉ thêm bằng chứng là Quốc hội này không hoàn toàn tự chủ mà họ toàn theo chỉ đạo của Đảng Cộng sản thôi. Theo tôi thì Quốc hội tối thiểu phải ra một tuyên bố về Biển Đông, tuyên bố về PCA, và có thể là tuyên bố về đường lưỡi bò. Tối thiểu phải thể hiện một quan điểm. Dù có thể là một quan điểm bị chỉ đạo hay bị kiểm soát nào đấy thì Quốc hội cũng nên có để tỏ ra rằng mình đang tồn tại. Chứ Quốc hội lại không có thông tin gì về vấn đề này thì sẽ lại càng bị người dân không coi trọng.”
Trong tổng số 494 đại biểu Quốc hội chỉ có 20 người không phải là đảng viên cộng sản. Ông Hoàng Dũng nói ông sẽ gửi thư hoặc tin nhắn đến đại biểu Trương Trọng Nghĩa của thành phố Hồ Chí Minh để chất vấn về vấn đề này. Ông Nghĩa được xem là một đại biểu hay phát biểu thẳng thắn về những vấn đề quan trọng hoặc gai góc.
Lâu nay, cử tri Việt Nam đã nhiều lần bày tỏ trên mạng xã hội và đôi khi trên báo chí chính thống rằng Quốc hội cần làm rõ những thông tin về Việt Nam đang nắm giữ những gì ở Biển Đông, cũng như đang phải đối mặt với những vấn đề pháp lý, chủ quyền và quân sự nào. Cử tri cũng nhiều lần đề nghị Quốc hội phải sớm đưa ra luật biểu tình để người dân có thể biểu đạt quan điểm của mình về vấn đề Biển Đông và các vấn đề khác mà không sợ bị công an, an ninh ngăn chặn, bắt bớ.


Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung công giá khoản chừng 1,200 đô la Mỷ, chưa kể hàng Trung cộng lậu thuế, rẻ mạt. Thuốc lá và bia – bia nội, bia ngoại – có đủ. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Đảng viên, cán bộ – giai cấp thống trị -“Nhậu”. Già nhậu, trẻ nhậu… con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm quyền thống trị – đã lột xác – không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa – mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút – thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá. Các hảng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở.
Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mông mốc, cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê mới lên Tỉnh.Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng “tiếm công vi tư” lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê. Chưa thỏa mãn – ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy. Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu – nơi gặp gở của 2 đường Nguyễn Trải và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ – thì rõ.


> Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu cứt ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn – đã biến mất.
> Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ – mũi và miệng bịt kín bằng “khẩu trang”, găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay trên đường phố.

Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 37 năm dưới chế độ cọng sản. Để được trung thực – người viết ghi những điều thấy và nghe – không bình luận – tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền Nam – những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Đường sá có tu sửa phần nào. Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái Nứa, Cái Chuối xã Long Mỹ, VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. “Cầu tre lắt lẻo”, cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng) nay không còn thấy nữa.

Dưới sông – từ kinh Vỉnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang – hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đở sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau.
Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá. Basa, cá điêu hồng v. v. ở dọc bờ sông khá dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tìền và sông Hậu – người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỷ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời: “ Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi! “ Tôi hỏi thêm: “ Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập. các cô gái nầy không sợ sao ông? – “ Biết hết – mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may. “Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết.
“Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển. Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát GIÁC 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện. Thậm chí – những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm”.Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: ‘ “Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa”. Tôi nhìn kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoản chừng 18 đến 20, đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện – tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.
Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức “ môi giới hôn nhân lậu”- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma Cau để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục, các cô gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần – thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11, Sàigòn.
Cho dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn – ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ tình dục rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại.
Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu, lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời!
Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập. nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt?
Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người – những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để đuợc giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn?
Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hoá bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp, Dân số gia tăng. Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác. Các cô gái miền Tây quẩn bách vì không có việc làm kinh niên – cuộc sống vô vọng mịt mờ – có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75) – những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ. thang giá trị bị đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước. Do vậy – khi bị dồn vào đường cùng họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn. Nhưng động lực chánh là nghèo.
NGHÈO
Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan… để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vựa lúa nuôi sống cả nước – sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy – nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) ? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam – thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSC: 37%. ĐBSH: 29% . Năm 2002: ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x. b Thống kê – Hànội, trang 13 – LVB trích dẫn) Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) – mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) – ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH – bởi lẽ khi nghèo về lương thực – thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hoá.

Tục ngữ bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. – Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chày lưới. ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2011) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Đời ông nội – nghèo! Đời cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo – không đổi đời cho người nghèo thành giàu. Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác – còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền. trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : “Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? “
MIỀN NAM – 37 NĂM DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN
có chút tiến bộ – so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt, cầm lồng đèn đỏ… Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục (hiện nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho con) – các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rổng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại – muốn phát triển công nghiệp – nhà cầm quyền địa phương – theo lệnh Đảng – mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược. Lòng dân phẩn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút trời xanh! (19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàigòn). Như vậy có gọi là phát triển không?KẾT LUẬN
– 37 năm nhìn lại:
– 37 năm nhìn lại:
Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L’expresse ngày 29-8-2011: “Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc – người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở”
Kể từ thời điểm cá chết cho đến nay, hàng chục con tàu lớn, nhỏ trong thôn phải nằm phơi nắng, phơi sướng vì số lượng cá đánh bắt được ngày càng ít. Mặt khác người dân không dám mua cá về ăn do sợ cá nhiễm độc. Thậm chí nhiều chuyến đi biển về còn bị thua lỗ. Dù vậy, ngư dân vẫn phải tiếp tục bám biển để kiếm đồng tiền trang trải cho cuộc sống. Những người có sức khoẻ thì đánh cá xa bờ, còn lại một số khác thì phải tiếp túc đánh bắt gần bờ. Việc nuôi cá lồng bè trên Sông của ngư dân thôn Cồn Sẻ cũng gặp nhiều ảnh hưởng sau vụ cá chết.

Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc đo lường mức độ hạnh phúc của một nước trong mối liên hệ với sự no đủ, tuổi thọ và bất bình đẳng xã hội rồi chia cho mức độ tác động đến sinh thái của đất nước.
Báo Independent của Anh hôm 21/7 đưa tin Việt Nam đứng thứ 5 trong danh sách 10 nước hạnh phúc nhất thế giới. Đây là kết quả đánh giá về Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc của Quỹ Tân Kinh tế học ở Anh. Chỉ số này đo lường mức độ hạnh phúc của một nước trong mối liên hệ với sự no đủ, tuổi thọ và bất bình đẳng xã hội rồi chia cho mức độ tác động đến sinh thái của đất nước.
Sau khi tin này được báo chí trong nước đưa lại, nhiều người Việt Nam đã bày tỏ trên mạng xã hội rằng kết quả đó chỉ nên coi là tính tham khảo vì trên thực tế mức độ hài lòng với cuộc sống ở Việt Nam còn thấp, chưa nói đến hạnh phúc.
Chia sẻ với quan điểm vừa kể, Tiến sỹ Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội tại Hà Nội, chỉ ra rằng phương pháp phỏng vấn, lấy mẫu ở Việt Nam của Quỹ Tân Kinh tế học có thể không đúng đối tượng. Bà nói với VOA:
“Tôi cho rằng tất cả các tiêu chí đó của Việt Nam đều có vấn đề. Tuổi thọ của Việt Nam cũng không phải là cao. Về môi trường thì rõ ràng là có quá nhiều vấn đề. Việc khai thác tài nguyên của Việt Nam từ trước đến nay rất là không bền vững. Việt Nam đang ở trong thời kỳ mà cái phân tầng xã hội nó càng ngày càng lớn. Ở Việt Nam có một số những người rất giàu, còn lại có những người rất nghèo. Cái bất bình đẳng tôi nghĩ nó khá là rõ. Nếu mà nói về bình đẳng thì cũng rất là khó để xếp Việt Nam ở một cái top cao của hạnh phúc. Tôi cảm thấy những cái đánh giá, nghiên cứu đấy có thể rất có vấn đề về phương pháp”.
Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam nằm trong nhóm các nước hạnh phúc nhất thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế khác, kể cả Viện Gallup của Mỹ, trong các năm trước như 2009, 2012 cũng từng xếp Việt Nam trong số các nước hạnh phúc hàng đầu thế giới với căn cứ vào các tiêu chí khác nhau.
Mặc dù vậy, bất cứ khi nào các kết quả như vậy được đưa ra, luôn có đông đảo người Việt Nam cho rằng việc xếp hạng đó không phản ánh đúng thực tế. Để có đánh giá chính xác hơn về mức độ cảm nhận hạnh phúc ở Việt Nam, Tiến sỹ Hồng nêu ra yếu tố cần được tập trung nhất vào:
“Hiện nay có lẽ thiết thực nhất là chữ an toàn. An toàn đây là nói an toàn trong thực phẩm, an toàn giao thông, an toàn trong môi trường xã hội. Những cái mâu thuẫn xã hội hiện nay rất dễ dàng bùng nổ. An toàn nói chung ở Việt Nam bây giờ tôi nghĩ là rất là có vấn đề. Tôi nghĩ đối với người Việt Nam thì có lẽ đấy là một trong những vấn đề hết sức là ưu tiên. Thế rồi là vấn đề ô nhiễm môi trường. Cái môi trường sống hiện nay cũng không an toàn. Môi trường tự nhiên đang bị phá hủy”.
Bà viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội cũng gợi ý cần chú ý đến các dịch vụ xã hội cơ bản như dịch vụ giáo dục, y tế. Các khảo sát của chính một số cơ quan ở Việt Nam gần đây đã chỉ ra rằng người dân Việt Nam “hoàn toàn không hài lòng” vào các dịch vụ này. Bà Hồng bình luận:
“Nếu mà các vấn đề an toàn như tôi vừa nói đang có vấn đề, rồi những dịch vụ xã hội cơ bản cũng chưa đáp ứng thế thì khó có thể nói là người Việt Nam cảm thấy hạnh phúc được”.
Bà Hồng cũng nhắc đến thực tế là hiện nay đang ngày càng có nhiều người Việt Nam đi định cư ở nước ngoài. Bà nhận xét rằng “việc đó thể hiện chắc chắn là có nhiều người không hài lòng với cuộc sống ở đây”.
Theo cách đánh giá của Quỹ Tân Kinh tế học Anh, nước Costa Rica nhỏ bé ở Nam Mỹ là nước hạnh phúc nhất thế giới. Quỹ cho hay Đứng thứ nhì là Mexico mặc dù nước này có nạn tham nhũng và bạo lực băng đảng hành hoành. Trong nhiều năm nay, đã có một số lượng lớn người dân Mexico tìm nhiều cách để nhập cư vào Mỹ để tìm kiếm các cơ hội kinh tế trong khi Mỹ chỉ xếp hạng 108 về hạnh phúc trong bảng kết quả vừa rồi.
Việt Nam ‘hạnh phúc thứ 5 thế giới’

Image copyright GETTY
Costa Rica được nêu tên là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, theo một báo cáo hàng năm có tên Happy Planet Index.
Năm nước xếp đầu năm nay là Costa Rica, Mexico, Colombia, Vanuatu, Việt Nam, trên tổng số 140 nước.
Báo cáo này của New Economics Foundation đặt ở London, làm lần đầu tiên từ 2006.
Họ đo mức độ hài lòng nói chung của người dân dựa theo thăm dò của Gallup, tuổi thọ theo Liên Hiệp Quốc, bất bình đẳng thu nhập, và ảnh hưởng của từng cá nhân lên môi trường dựa theo dữ liệu của Global Footprint Network.
Anh quốc xếp thứ 34, còn Mỹ đứng thứ 108.
Chúng Ta/ Chúng Nó & Tiếng Nước Mình
S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

tuongnangtien
Có lần, tôi (trộm) nghe giáo sư Đỗ Mạnh Tri nói rằng: “Rồi chế độ toàn trị sẽ chấm dứt tại Việt Nam. Nhưng người Việt Nam không thể xây dựng đất nước bằng cách phủ định thực tại Việt Nam. Trong thực tại ấy, có Mác.”
Thế còn Mao? Học thuyết Marx – Lénine, tư tưởng Mao Trạch Đông và tác phong Hồ Chí Minh mà. Chính Mao (chứ không phải là Hồ) mới là soạn giả của thảm kịch Cải Cách Ruộng Đất, và là tác giả của của cuộc chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với sản phẩm phụ là vô số những từ ngữ thô bạo phát sinh ngay sau khi ĐCSVN phóng tay phát động quần chúng:
“Cán bộ:’Tại sao thằng hào Thức nó lại sướng cao độ thế?’
Chị cốt cán: ‘Nó sướng cao độ thế là vì nhà nó đi bóc lột nhân dân.’
Cán bộ: ‘Thế tại sao chị lại khổ cao độ thế?’
Chị cốt cán:’Em khổ cao độ thế là vì em bị nó bóc lột em trên một cái vấn đề đi ở cho nó mười mấy năm.’ ‘Hôm nay em không đi họp được vì nhà em nó cứ khống chế em.’
Chúng ta không được phóng tay lỏng lẻo, mà phải phóng tay chặt chẽ.
Bần cố nông là con đẻ Cụ Hồ, dân nghèo là con nuôi thôi, nên mới đề ra chiếu cố.
Vì giai cấp địa chủ bóc lột mấy nghìn năm nay nên chị Phước mới bị toét mắt.” (Trần Dần – Ghi chép về Cải cách Ruộng đất ở Bắc Ninh 1955-1956. Phạm Thị Hoài biên soạn).
Ở thời điểm này, có lẽ, vì ngôn ngữ cách mạng chưa kịp đi sâu vào lòng quần chúng nên mẫu đối thoại thượng dẫn (nghe) vẫn còn hơi ngọng nghịu. Với thời gian, cùng với cuộc chiến giải phóng miền Nam, ngôn từ chiến tranh mới trở nên phổ cập và mỗi lúc một thêm… nhuần nhuyễn:
“Có một lần từ mặt trận đường 9 ghé về thăm nhà, tôi gặp đúng đêm máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội. Còi báo động từ Nhà hát Lớn rú vang. Quầng sáng ánh đèn điện phía nội thành bỗng như dụi tắt bớt. Rồi những chùm đạn phòng không đỏ lừ thun thút lao lên vòm trời. Rồi bom nổ phía Yên Viên, Cầu Giát…
Còi báo yên, đàn chó trong làng vẫn sủa râm ran, đường làng ngõ xóm vẫn rậm rịch bước chân người, không một ai ngủ lại cả. Các cô các chị thức thẳng từ lúc đó cho tới lúc quẩy gánh rau húng, rau thơm tới các phiên chợ sớm. Người làng Láng chia sẻ âu lo với người nội thành như thế đấy!
Giữa phút tĩnh lặng, nghiêm trang ấy tôi bỗng nghe có tiếng gì động mạnh như tiếng ai đập chiếu trên mặt ao, tiếng đổ vỡ loảng xoảng, ngay sau đó là tiếng kêu la của một người đàn bà:
“Ối bà con xã viên đội một, đội hai, đội ba, đội bốn ơi! Lão chồng tôi tàn ác, thâm độc như đế quốc thực dân. Nó đánh tôi trường kỳ, gian khổ như thế này làm sao tôi chịu nổi?”
…
Đêm sau máy bay Mỹ tiếp tục đánh phá Hà Nội. Đúng vào giây phút không ai chợp mắt nổi ấy, bà Hin lại chạy bổ ra đường la hét váng động cả xóm:
“Ới bà con xã viên ơi! Chiều nay lão chồng tôi không nấu cơm cho tôi ăn. Nó còn giấu biệt hòm gạo đi. Nó rắp tâm triệt hạ kinh tế tôi đấy mà!” (Tô Hoàng – “Nỗi Buồn Lâu Qua.” Talawas blog).

Chiến lược, cũng như chiến thuật, trong trận chiến giữa bần nông và phú nông Việt Nam được chỉ đạo sát sao từ nước XHCN anh em Trung Quốc. Cuộc chiến Bắc/Nam cũng vậy. Không ít lương thực, vũ khí, đạn dược, cùng vô số những từ ngữ (mới) cũng đều được chi viện từ nước bạn láng giềng: bảo quản, bồi dưỡng, cải thiện, đại trà, đăng ký, đề xuất, đột xuất, động viên, kiểm điểm, kiểm thảo, hộ khẩu, hộ chiếu, hộ lý, khẩn trương, nhất trí, quản lý, sư trưởng, sự cố, tham quan, thiết kế, tranh thủ, trợ lý, xuất khẩu, xử lý …

Nguồn ảnh: nhabe.hochiminhcity.gov.vn
Nhà phê bình văn học & văn hoá Vương Trí Nhàn cho rằng: “Cái mà ta gọi là giáo dục miền Bắc chỉ là sự kéo dài của lối phát triển giáo dục trong chiến tranh… Giáo dục chiến tranh, do dó, luôn luôn là một nền giáo dục dở dang chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao của một nền giáo dục mới mẻ, cách mạng…”
Đôi lúc, tôi còn nghĩ thêm là tiếng nói của miền Bắc (trong nhiều thập niên qua) cũng thế, cũng là thứ ngôn từ của thời chiến chinh, cũng “chắp vá, mà lại vẫn phải khoác cho mình cái chức danh lớn lao … cách mạng.”
Chiến cuộc rồi tàn. Bắc/Nam thống nhất. Nam/Bắc hoà lời ca. Nhiều triệu người dân (ở vùng địch tạm chiếm) ca không nổi nên đã liều mạng đâm xầm ra biển, hoặc ù té bỏ chạy thục mạng qua biên giới xứ người.
Họ chết bờ, chết bụi, chết dấm, chết dúi, chết đói, chết khát, chết đâm, chết chém, chết đạn, chết mìn, chết chìm, chết nổi, chết trôi, chết đuối (ôi thôi) nhiều vô số kể! Đám này chết “cũng tốt thôi” vì toàn là những kẻ thuộc thành phần “bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ” –theo như nguyên văn lời giải thích của Chính Quyền Cách Mạng với dư luận thế giới bên ngoài, và với lũ cột đèn (còn) kẹt lại.
Không hiểu những người vượt biên đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao – nơi đất lạ quê người – nhưng số lượng “bơ thừa sữa cặn” mà họ gửi về cố hương đã (lắm phen) cứu được toàn dân, cũng như toàn Đảng thoát chết … vì đói khát!
Từ đó, Đảng mới “dũng cảm” đổi mới tư duy và – đồng thời – đổi giọng. Những kẻ phản bội tổ quốc (qua đêm) bỗng trở thành “khúc ruột xa ngàn dặm,” và là “thành phần không thể thiếu trong đại gia đình dân tộc.” Nghị Quyết số 36-NQ/TƯ – về “Công Tác Ðối Với Người VN Ở Nuớc Ngoài”- đã ra đời (hơi muộn) vào ngày 26 tháng 3 năm 2004, dựa trên cơ sở đó.

N.Q này, tiếc thay, không phát huy được chút hiệu quả nào ráo nạo. Những khúc ruột xa ngàn dặm vẫn nhất định giữ nguyên thái độ xa cách, và coi mọi thứ “ma zê in” Việt Nam (Bộ chính Trị, Chính Phủ, Nhà nước, Quốc Hội… ) đều không khác gì những nùi giẻ rách – kể cả những hạn từ trong tiếng nói hằng ngày mà họ gọi một cách miệt thị là chữ Vẹm hay chữ Việt Cộng:
Chúng ta nói là “phát ngôn viên” thì chúng nói là: “người phát ngôn”
Chúng ta nói là “thăm viếng” thì chúng nói là “tham quan”
Chúng ta nói là “ghi danh” thì chúng nói là “đăng ký”
Chúng ta nói là “đá bóng” thì chúng nói là “bóng đá”
Chúng ta nói là “yếu điểm” thì chúng nói là “điểm yếu”
Chúng ta nói là “trở ngại” thì chúng nói là “sự cố”
Chúng ta nói là “xuất cảng” thì chúng nói là “xuất khẩu”
Chúng ta nói là “liên lạc” thì chúng nói là “liên hệ”
Chúng ta nói là “hiểu rõ” thì chúng nói là quán triệt”.
Chúng ta nói là “viên chức” thì chúng nói là “quan chức”.
Chúng ta nói là “chuyển âm” thi chúng nói là “lồng tiếng”.
Chúng ta nói là“dẫn giải” thì chúng nói là “thuyết minh”.

Nguồn ảnh: tếu.blogspot.com
Tôi vốn tính hơi ba phải nên rất sợ chuyện chia phe; đã thế, khi nhìn thấy một đường ranh rạch ròi, phân chia bạn/thù (quyết liệt) giữa “chúng ta/chúng nó” thì không khỏi sinh lòng ái ngại, cùng với đôi chút băn khoăn.
Uả, chớ “chúng” là ai vậy – hả Trời?
Chúng có phải là vài chục triệu đồng bào miền Bắc, những nạn nhân đầu tiên của chế độ hiện hành, những kẻ đã bị tra tấn không ngừng – từ hai phần ba thế kỷ qua – bởi cả một cái hệ thống truyền thông (loa/ đài/ sách/ báo) của ĐCSVN không?
Chúng – không chừng – cũng dám là ông hay bà hàng xóm, những người cùng đi chung chuyến vượt biên với chúng ta (hai ba mươi năm trước) chớ ai? Chúng ta nhờ may nên đến được Bangkok, còn họ vì xui nên phải vào ngồi (bóc lịch) ở Băng Ki.
Và chúng có phải là những người trẻ cỡ tuổi con cháu của chúng ta, sinh ra và lớn lên “trong lòng cách mạng,” chưa bao giờ có dịp tiếp xúc với một thứ ngôn từ nào khác ngoài tiếng Vẹm (hay tiếng Việt Cộng) không?
Ngôn ngữ có đời sống và tuổi thọ riêng của nó. Sinh mệnh của cái được gọi là tiếng Vẹm; tuy thế, tuỳ thuộc không ít vào sự tồn vong của chế độ hiện hành.
Tiếng Việt Cộng chỉ thôi phổ cập, và dần bị đào thải, sau khi chế độ này không còn có thể tiếp tục hoành hành nữa. Và việc dứt điểm nó sẽ không thể xẩy ra nếu mọi người vẫn cứ giữ khư khư cái lằn ranh phân chia bạn/thù (“chúng ta/chúng nó”) giữa lòng dân tộc.