Cựu Bí thư thành Hồ: “Vô sản lưu manh” (Kỳ 2)

Cựu Bí thư thành Hồ: “Vô sản lưu manh” (Kỳ 2)

Thu Hà

Có người đặt câu hỏi, nguồn gốc Hoa của Lê Thanh Hải. Nếu như cụ nội của Hoàng Trung Hải, cựu Bí thư thành ủy Hà Nội, tên là Hoàng Mậu, dân tộc Hán, quê gốc huyện Long Khê, phủ Chương Thâu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, chạy sang Việt Nam năm 1907, lúc đầu ở Hải Phòng, sau di cư về làng Đồng Sơn, xã Quỳnh Giao, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, thì tổ tiên của Lê Thanh Hải đến Việt Nam sớm hơn.

Tháng 2 năm Kỷ Mùi (1679), do chống đối nhà Thanh (Trung Quốc), các viên tướng nhà Minh ở Quảng Đông đã tới Việt Nam, gồm:

– Tổng binh trấn thủ Long Môn Dương Ngạn Địch, có phó tướng Huỳnh Tấn phù tá.

– Tổng binh Trần Thượng Xuyên (tự Thắng Tài) có phó tướng Trần An Bình giúp sức.

Họ mang 3.000 binh sĩ cùng thân nhân và 50 chiến thuyền đổ bộ vào cửa biển Đà Nẵng, xin tị nạn chính trị. Chúa Nguyễn Phúc Tần, tức chúa Hiền (1648 – 1687) rất khó xử, vì ngại triều đình nhà Thanh. Cuối cùng, Chúa quyết định cho họ xuôi về phương Nam định cư.

Trong sách “Gia Định thành thông chí” chép cụ thể:

Đối với nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên chỉ huy, chúa Nguyễn cho họ “tiến vào cửa biển Cần Giờ rồi lên định cư ở Bàn Lân, xứ Đồng Nai” và lập ra Nông Nại đại phố.

Còn nhóm của Dương Ngạn Địch thì “tiến vào cửa Lôi Lạp (Xoài Rạp), theo cửa Đại, cửa Tiểu đến định cư ở Mỹ Tho”. Trong đoàn quân của Dương Ngạn Địch có một cận thần họ Lã quê Quảng Đông. Lê Thanh Hải là dòng máu trực hệ của họ Lã, sau gọi chệch đi vì nhiều mục đích, thành họ Lê.

Trong lịch sử đảng CSVN, sau Lê Thanh Hải, Hoàng Trung Hải là nhân vật gốc Hoa thứ hai, đặt chân vào Bộ Chính trị, cơ quan tối cao quyền lực.

Nói dông dài như thế, để hiểu vì sao Lê Thanh Hải lại ưu ái trong sử dụng cán bộ và làm ăn với người gốc Hoa. Các đồ đệ thân tín của Lê Thanh Hải, như Tất Thành Cang, Tề Trí Dũng, Trần Phú Lữ… đều gốc Hoa.

Tất Thành Cang, sinh 1971, được Lê Thanh Hải, tức Hai Nhựt, tin cẩn, đưa vào thành ủy, làm Bí thư, kiêm Chủ tịch UBND Quận 2 (Thủ Thiêm). Sau Cang được rút về làm Phó chủ tịch TP, nhưng trước khi nghỉ hưu, Hai Nhựt “cơ cấu” Tất Thành Cang vào Ủy viên Trung ương, phó Bí thư Thành ủy TP HCM.

Cang cũng chính là “cỗ máy” hái ra tiền cho gia tộc Lê Thanh Hải.

Tất Thành Cang trao huy hiệu cho Lê Thanh Hải. Photo Courtesy

Trần Phú Lữ, gốc Hoa, sinh 1977, gọi Hai Nhựt bằng cậu. Tháng 12/2004, ở tuổi 27, Lữ làm Phó Giám đốc Cty Đầu tư xây dựng TNXP (Cinco), phụ trách chỉ đạo trực tiếp mảng kế hoạch, mảng đầu tư (dự án đầu tư kinh doanh bất động sản, dự án phát triển sản xuất kinh doanh).

Trần Phú Lữ chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý phòng Đầu tư, phòng Kế hoạch, Ban QLDA Cinco, BQLDA Thạnh Mỹ Lợi (174 hecta quận 2); Trung tâm Thương mại và căn hộ Cinco; quản lý dự án Trung tâm giao dịch thương mại, siêu thị ngành vải sợi, dệt may và căn hộ – 0,6 hecta ở quận 5, TP. HCM.

Rồi 4 năm sau, tháng 4/2014 – ở tuổi 37, Lữ trở thành Chỉ huy trưởng Lực lượng TNXP Tp. HCM, thay cho người cậu Lê Tấn Hùng.

Trần Phú Lữ cũng là cổ đông và thành viên HĐQT Công ty cổ phần Đầu tư Khu đô thị mới Sài Gòn (Saigon NIC), hiện là cổ đông lớn nhất và duy nhất của Ngân hàng TMCP Bản Việt (VietCapital Bank), với tỷ lệ sở hữu 13,6%.

Đầu năm 2017, ở tuổi 40, Trần Phú Lữ được phê chuẩn giữ chức vụ Chủ tịch UBND huyện Bình Chánh – là một trong những chủ tịch quận/ huyện trẻ của TP. HCM.

***

Tề Trí Dũng, sinh 1981, con ông Tề Văn Thắng và bà Yên Thị Ngọc Quế – cặp vợ chồng gốc Hoa tư sản, là bạn thâm giao của Hai Nhựt từ khi ông còn là bí thư quận ủy Quận 5.

Năm 22 tuổi, Dũng đã là sếp Cty Dầu khí TP HCM. Khi tuổi 25, Dũng được bác Hai Nhựt cho đi học tiến sĩ ở Úc, theo đề án đào tạo bằng ngân sách của TP. Rồi 26 tuổi, Dũng ngồi vào ghế Trưởng phòng Tài chính, Tổng Cty Bến Thành. Đến năm 30 tuổi, Dũng lên làm Tổng giám đốc Cty.

Ở tuổi 34, Tề Trí Dũng làm Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Phát triển công nghiệp Tân Thuận (IPC), trực thuộc UBND thành Hồ, được quản lý vốn lên đến 30 ngàn tỷ.

Chỉ đơn cử đôi chút về con đường hoạn lộ thênh thang của Dũng, do nhờ quen thân với Hai Nhựt, chứ chẳng có tài cán gì.

Tề Trí Dũng và Trần Phú Lữ

Vượt lên tất cả các cận thần, Võ Văn Thưởng mới chính là “quân bài” số 1 của Lê Thanh Hải.

Tháng 3/2014, khi Nguyễn Văn Đua, phó Bí thư thường trực sắp nghỉ hưu, Bộ Chính trị ra quyết định luân chuyển Nguyễn Khắc Định, phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, về làm phó bí thư Thành ủy TP.HCM.

Vấp phải phản ứng dữ dội từ phe nhóm Lê Thanh Hải, để dung hoà, Trung ương đành phải để Nguyễn Khắc Định ở nguyên vị trí. Nhờ đó, Võ Văn Thưởng mới từ Bí thư Quảng Ngãi, quay về làm Phó bí thư thường trực, thay thế ông Đua.

Chiều 5/2/2016, Bộ Chính trị công bố quyết định phân công ông Đinh La Thăng làm Bí thư Thành ủy, Võ Văn Thưởng thôi tham gia BCH Đảng Bộ TP.HCM, giữ chức Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương. Lê Thanh Hải nước mắt lã chã vì hụt hẫng.

Lê Thanh Hải khóc tiễn Võ Văn Thưởng. Ảnh trên mạng

Võ Văn Thưởng sinh 1970 tại Hải Dương. Khác với mọi đồn đoán, Thưởng thật ra không có huyết thống gì với ông Võ Văn Kiệt. Bố Thưởng chỉ là bạn của ông Kiệt, vì vậy ông Kiệt nhận làm bố đỡ đầu cho Võ Văn Thưởng.

Khi Hai Nhựt vào Bộ Chính trị khoá X và XI, ngồi chắc hai nhiệm kỳ Bí thư thành ủy thành Hồ, thì Võ Văn Thưởng cũng lần lượt vào Ủy viên dự khuyết, rồi Ủy viên trung ương, với chức vụ Bí thư thứ nhất trung ương Đoàn. Trục Ba Dũng- Hai Nhựt – Võ Văn Thưởng, chúng tôi sẽ đề cập sau, khi có dịp.

Lê Thanh Hải đặt “quân bài” Võ Văn Thưởng trong canh bạc trành giành quyền lực ở thành Hồ. Hải kỳ vọng, Thưởng sẽ giành chức Bí thư Thành ủy, nhằm bảo đảm hoạn lộ cho “thế hệ F1”, cũng như an toàn cho gia tộc “lãnh chúa thành Hồ”.

Võ Văn Thưởng chính là người đề xuất Ban bí thư ra quyết định trong tháng 5/2016, chỉ định “thái tử” Lê Trương Hải Hiếu tham gia BCH Thành ủy. Dù trước đó, Hiếu đã bị “out” trong bầu chọn tại Đại hội đảng bộ TP khoá X, nhiệm kỳ 2015-2020, trước đó không lâu, hồi tháng 12/2015.

Chân ướt chân ráo về thành Hồ làm Phó Bí thư thường trực, Võ Văn Thưởng đã chỉ định giao “đất vàng” số 130 Hàm Nghi, Quận 1, có diện tích lên đến 1338 m2, cho Vũ “nhôm”, như trong Kết luận số 318-KL/TU ngày 14/7/2015 của Ban Thường vụ Thành ủy.

Thưởng cũng chính là người gắn kết “như môi với răng” với Tất Thành Cang, giúp đỡ Cang tiến thân. Sai phạm tày đình, nhưng Tất Thành Cang chỉ bị Bộ Chính trị lột ghế “Ủy viên Trung ương”, không phế bỏ Thành ủy viên, không xử lý hình sự, cũng nhờ Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư trung ương đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng.

Trong thông cáo phát đi hôm 5/3/2020, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM nhiệm kỳ 2010-2015, cá nhân ông Lê Thanh Hải, ông Lê Hoàng Quân, bà Nguyễn Thị Hồng, mà không thấy có tên Võ Văn Thưởng.

Theo văn bản “Hướng dẫn thực hiện Quy định số 07-QĐi/TW ngày 28-8-2018 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm”, có nêu:

– Nếu Tổ chức đảng bị xử lý kỷ luật, những đảng viên trong tổ chức đảng đó không bị kỷ luật về cá nhân thì vẫn được xem xét, thực hiện công tác cán bộ theo quy định.

Như vậy, đường công danh thăng tiến của Thưởng trong kỳ đại hội 13, khai mạc vào đầu năm 2021, sẽ còn rộng mở.

***

Em trai của Hải là Lê Tấn Hùng bị khởi tố tống giam. Lần lượt các đàn em cũng vướng vòng lao lý. Tất Thành Cang bị kỷ luật. Nguyễn Hữu Tín lãnh án 7 năm tù. Nguyễn Thành Tài bị bắt giam. Tề Trí Dũng, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV phát triển công nghiệp Tân Thuận (IPC) cũng bị khởi tố, bắt tạm giam, với tội danh “tham ô tài sản và vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát lãng phí”.

Bản thân “lãnh chúa” hô mưa gọi gió suốt 20 năm ở thành Hồ cũng bị đề nghị xem xét kỷ luật. Vòng vây đang siết lại dần với Lê Thanh Hải. Liệu ông ta sẽ xoay xở ra sao?

(Còn tiếp)

 SÁNG MẮT CHƯA?

Bảo Nhi Lê
 SÁNG MẮT CHƯA?

Đỗ Ngà

51 năm trước, có một gia đình ở tại Sài Gòn đã trưng dụng căn nhà của mình để cho những kẻ khát máu làm nơi ẩn náu và lên kế hoạch giết hại đồng bào mình. Thế rồi cuộc tàn sát ấy đã nổ ra, đồng bào bị giết la liệt, sự tang thương xảy ra mọi góc phố, mọi con hẻm. Thế nhưng kẻ đó- người chủ nhà ấy vẫn không nhận ra mình đã gián tiếp làm cho đồng bào đau thương mất mát. Thế rồi 6 năm sau, kẻ khủng bố ấy đã chiến thắng, và tất nhiên chủ căn nhà – ân nhân của đảng cũng được những kẻ hàm ơn mình ban phát “ân sủng”. Căn nhà đó đã được ban cho danh hiệu “di tích quốc gia” và gia đình họ được tiếng thơm “gia đình có công với cách mạng”.

Ngu muội đang sống trong xã hội tự do mà không hiểu giá trị của tự do nên giúp khủng bố, và dù cho đến thời đại internet họ cũng không nhận ra. Mãi cho đến khi thần chết chập chờn ghé đến hỏi thăm thì chủ nhà mới chợt phát hiện ra cái “ân sủng” ấy hóa ra là gông cùm đáng sợ. Cái danh hão “di tích quốc gia” ấy cuối cùng phục vụ cho ai? Chẳng phục vụ gì cho chủ nhà mà phục vụ cho mục đích khoe khoang chiến tích của đảng mà thôi. Một căn nhà ở vị trí đắc địa, chỉ cần cho thuê mặt bằng là đủ sống phè phỡn mà không cần lao động. Nếu bán căn nhà này đi thì có thể hốt được một núi tiền, khi đó chủ nhà có thể dùng tiền ấy đuổi thần chết đi xa. Ấy vậy mà chủ nhà đều không có quyền cho dù rất cần tiền.

Không biết người chủ căn nhà ấy họ có hiểu từ “ăn mía xả bã” hay không? Phần ngọt nhất của cây mía ai đã chiếm? Đảng. Còn phần bã mía khó nuốt kia ai đã phải ngậm nó? Chính chủ nhà. Nói thẳng ra là ông chủ quán Phở Bình đó đã và đang dùng cái miệng và bao tử của mình làm sọt rác cho đảng ăn mía xong rồi ném bã vào trong đó. Như chúng ta biết, đảng đã có chiến thắng nhưng ai phải đi tù dưới thời VNCH? Chủ nhà. Đảng đã có căn nhà đắc địa làm bia tưởng niệm phục vụ cho việc PR chiến tích của đảng, nhưng ai phải sống túng thiếu ngay trên căn nhà đắc địa có thể đẻ ra tiền đó? Chủ nhà. Vậy mà cho đến hôm nay, đã 51 năm sau ngày giúp đỡ đó, đảng vẫn còn buộc chủ nhà phải hy sinh đi căn nhà của mình. Nhà mang tiếng là của chủ, đất mang tiếng là của chủ nhưng quyền sử dụng là của đảng (giống kiểu “đất đai sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý”). Chủ nhà là ân nhân, đảng là kẻ hàm ơn, ấy vậy mà hôm nay chính ân nhân lại phải quỳ lạy kẻ hàm ơn ban cho mình những thứ vốn thuộc về mình. Không biết ông chủ quán Phở Bình kia có thấy chua chát không nhỉ?

Phải công nhận là, ông chủ Phở Bình đã đóng góp một phần cho cái chiến thắng của đảng. Sau chiến thắng ấy ông chủ tiệm phở này lại gồng mình chiến đấu với tử thần còn nhà cửa thì lại phục vụ cho đảng. Trong khi đó, trên thượng tầng chính trị của đảng này, bọn hàm ơn ông đã dùng những đồng tiền xương máu của dân trong đó có tiền thuế của ông để đi sang Ấn độ chơi bời, chơi chưa đã chúng lại “quá cảnh” sang Anh chơi tiếp. Chơi thỏa tích chúng lại mang đại dịch về nước đổ trên đầu nhân dân. Không biết ông chủ Phở Bình kia có nhận ra thực trạng như thế không? Không biết như thế đã đủ làm cho ông sáng mắt chưa nữa?

Đỗ Ngà

Image may contain: 2 people, text

DỖ DÀNH CŨNG KHÁC

Image may contain: 1 person, standing, dog, hat, tree, outdoor and nature
Nguyễn Ngọc Tư

“Họ còn phải cố tới chừng nào, trên mảnh đất nhàu nát bởi bão lũ. Nhưng cuộc biển bị bức tử, sông chết mòn này đâu phải bởi trời…”

DỖ DÀNH CŨNG KHÁC

(Nguyễn Ngọc Tư)

Thằng em họ bán đất bỏ xứ đi sau bốn mùa tôm thất bát, không phải tự dưng bạn nghĩ cái kết cuộc cả nhà nó đùm gói lên xe đò đi miền đông làm mướn cũng có phần lỗi của mình. Mùa đầu nó trắng tay, bạn bảo không sao đâu. “Rồi xui rủi sẽ qua, ngày mai là ngày mới”, bạn nói vậy ở mùa hai. Mùa ba em trắng tóc với những món nợ như thòng lọng treo trước mặt, bạn vẫn khăng khăng trời đâu phụ người ta hoài.

Bây giờ nhớ lại, cái gọi là động viên, lại giống như ru thằng em ngủ quên trong ảo tưởng. Bởi lúc nói những lời hời hợt đó, cả hai ngồi ngay dưới bến, ngó dòng sông vẫn cợn phù sa, nhưng sắc nước bầm lại, xanh xám như con bịnh lâu ngày. Đồng tôm của thằng em chỉ cách những ống xả thải của mấy nhà máy chế biến thủy sản chừng chục cây số, và khoảng cách chừng đó về phía Bắc, là chợ, nơi còn hàng ngàn căn nhà dầm chân trên quãng sông nhuộm nước đen trong bao nhiêu tắm giặt, rác rến.

Lạc quan cho mấy, cũng biết con sông mà chị em bạn từng tắm mát của ba mươi năm trước, nơi những người đàn bà xóm Lá giặt áo gội đầu, dòng nước tinh sạch ấy không bao giờ trở lại. Giờ rửa chân còn ngại, nói gì đến lấy nước đó làm chỗ sống cho tôm, vốn là loại đỏng đảnh khó chiều. Vậy mà bạn vẫn bỏ qua thực tại, dỗ lấy được, giống hệt dân xóm Lá động viên nhau sau những rằm những ba mươi giở lú chỉ thấy toàn rác và bọt nước, rằng không sao đâu, biết đâu mùa tôm đang chờ ở con nước tới.

Cũng những con người này, hồi còn làm lúa vụ một vụ hai, có năm mưa dầm nhấn chìm ruộng sạ, họ nói có sao đâu, còn chút lúa đít bồ, nay mai nước rút ủ giống lại. Có quãng bắn nhau dữ quá, họ phải bỏ xóm ra chợ tản cư, tự nhủ không sao đâu, bom đạn rồi cũng tạnh (nghe nói bom mắc lắm, tiền đâu mà mua dội xuống hoài), chừng ngừng chiến lại về vườn lên liếp trồng rau. Còn đất còn sông là còn hy vọng.

Những lời khích kệ kiểu đó bắt rễ từ đáy lòng, nở trên môi, như một cách đỡ nhau đứng dậy, khi căn nhà trong xóm bị bom vùi, khi người đổ xuống vì đạn lạc, khi cơn bão đi qua, mùa giáp hạt quá dài. Mấy chữ “không sao đâu”, “kệ nó, tính sau, sớm mai mặt trời lại mọc” mang tinh chất của hy vọng, cơ hội làm lại, tin vào sự từng trải trước bất trắc ở đời. Ông trời đâu có xéo xắt con người ta mãi được, ý nghĩ ấy như đức tin.

Coi lại, dân xứ mình dễ dỗ. Mấy cuộc chiến qua, xương thịt mất đi được yên ủi bởi tấm bằng tổ quốc ghi công treo vách, một chút tiền cho người thân, buổi thăm chớp nhoáng nhân ngày lễ. Bên thất trận, vẫn những bó xương buồn hiu, được vỗ về bằng một vài đại lễ cầu siêu, rất lâu sau. Và người bị bứt, bị nhổ khỏi rừng ruộng, bị ru ngủ trong những khu tái định cư sực mùi vôi mới quét, để thức dậy thấy mắt cay chẳng biết sinh kế ra sao, kiếm ăn cách nào với cuộc đời phía trước.

Chỉ trẻ con mới khiến người lớn biến dỗ dành thành nghệ thuật. Đứa trẻ tập xe đạp xước gối sẽ nhớ ba nó vừa thổi vào vết thương vừa nói, “cái thẹo này chắc tự hào lắm, nhờ nó mà cu Tí biết chạy xe”, hay cậu học trò yếu đuối không quên điểm mười của ông thầy thể dục dù cậu về đích sau cùng, “bởi vì em đã không bỏ cuộc”. Cũng là một cách bảo con nín đi, mẹ lại nói có muốn uống chút sữa không, khóc nhiều thì phải bù nước.

Bạn từng nghĩ cuộc san sẻ khó nhằn nhất là với ai đó vừa tiễn người thân về đất. Nói với bà mẹ vừa mất con rằng thôi cứ nghĩ duyên nợ với nhau chỉ chút này, hay “thằng nhỏ vẫn ở đâu đây, chỉ cần mình tin là có”, thực chất là sáo mòn. Rồi nhận ra, với một số nỗi đau, góp mặt đã là vỗ về, ngồi im lặng bên họ, nghe tổn thương lên tiếng, không nhất thiết phải nói gì, nhất là những lời vô nghĩa.

Từ biển bị bức tử, lại thấy dỗ dành những con người bị mất biển kia cũng khó kém gì. Tới với họ, ngồi nghe nỗi mặn, không xoa dịu là bao. Nói “đêm rồi sẽ qua”, có khi bị đánh chảy máu mũi, bị phỏng rát dưới bao ánh nhìn thù nghịch, “rốt cuộc thì mi chọn bên nào?”. Bởi những con người đó, kể cả đứa trẻ vừa mới chào đời kia, sẽ không chờ được ngày biển hồi sinh, trở lại như hồi chưa bị đầu độc.

Bảo “không sao đâu” là lừa gạt, “sẽ có cách” là trì hoãn (thực chất là chẳng có cách nào), nhưng nói “khổ gì cũng trải qua rồi, cố chịu thêm chút nữa” thì đã bước qua ranh ác. Họ còn phải cố tới chừng nào, trên mảnh đất nhàu nát bởi bão lũ. Nhưng cuộc biển bị bức tử, sông chết mòn này đâu phải bởi trời. Thật không biết an ủi gì cho phải với những người trước mặt là núi chắn, biển chết sau lưng, chỉ còn những đám mây trên đầu, lủ khủ nhưng không ăn được.

Đời sống dời đổi không ngừng, nên vỗ về nhau cũng không thể xài cách cũ. Ngoài những ưu phiền tự nhiên như tuổi già, bệnh tật, quanh bạn ngó đâu cũng thấy người cần được dỗ, như thanh niên xóm Lá lần lượt bỏ xứ đi làm mướn, thằng bạn bị lọt hố ga gãy mấy cọng xương sườn, bên nhà em chồng trận mưa nào cũng ngập vì nước ngoài đường tràn vào.

Tới lúc nào đó, mạnh ai nấy tự dỗ mình, chứ còn sức đâu mà ủi an nhau. Khi ấy người ta ru tổn thương bằng gì khi “không sao đâu” đã hoàn toàn vô dụng. Nhưng cách nào thì dỗ dành ai đó đang đau, tuyệt đối, không thể nào, bằng bạo lực.

Những con virus đỏ

BAOTIENGDAN.COM

Những con virus đỏ Bởi AdminTD – 12/03/2020 Phạm Đình Trọng 12-3-2020 1. Nhờ có con virus Vũ Hán tấn công thẳng vào đoàn quan chức cấp cao Việt Nam ngồi ghế hạng đắt tiền vi vu trên máy bay thăm thú nước Ấn, nước Anh, dân đ…

NÊN ĐÁNH BẢ ĐỒNG CHÍ THUẤN

NÊN ĐÁNH BẢ ĐỒNG CHÍ THUẤN

Thằng Tư vấn Kinh tế cho Thủ tướng Chính phủ, thằng Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương – nhà ný nựng hàng đầu của đảng cộng sản – đã phơi bày tư cách mạt hạng và khốn nạn !

Bùi Văn Thuận.

(Bài viết của Fb Thuan Van Bui đang bị chặn tại VN. Mong các bạn chuyển tải phổ biến)

Không biết do vô tình hay cố ý, nhưng Nguyễn Quang Thuấn dính virus Trung Quốc và lộ ra cả đống sự thật ở cái được gọi là Hội đồng lý luận Trung ương Đảng CSVN. Những sự thật được phơi ra, như phô bày một phần bộ mặt nham nhở, lưu manh, khốn nạn của Thuấn nói riêng và những kẻ cầm đầu đảng – nhà nước nói chung.

Từ trước đến giờ, những kẻ như Trương Minh Tuấn, Nguyễn Bắc Son, Đinh La Thăng, một bầy tướng công an… vốn hay lên giọng rao giảng các kiểu, đạo mạo dạy dỗ từ trí thức đến dân đen, lên giọng kẻ cả như thánh nhân phán bảo từ già đến trẻ. Tất cả bỗng chốc trở thành trò cười cho thiên hạ khi bị thanh trừng phe nhóm, bị chính đồng chí lột mặt nạ ra giữa công chúng. Hóa ra, rặt một phường ăn cắp, dối trá, lưu manh, tàn ác cả.

Thuấn cũng như các đồng đảng – đồng chí của y, luôn mồm rao giảng về liêm khiết, về chống tha hóa, chống tự diễn biến, tự chuyển hóa. Dĩ nhiên mồm y thở ra là thực hành tiết kiệm là học tập làm theo tay ất ơ cha căng chú kiết nào đó, là lên giọng về đạo đức cách mạng. Và khốn nạn hơn cả khi hắn nghiên cứu và gằn giọng với thiên hạ về lý luận của giai cấp Vô Sản. Hài hước và nực cười nhưng cũng chua xót cho “vô sản” trong đất nước này.

Có lẽ Thuấn sẽ bị đồng chí làm thịt hoặc đánh bả. Nếu cứ để Thuấn thong dong hưởng lạc, ăn và phá ngân sách như vậy, há thiên hạ lại chẳng ỉa lên mặt ông Trọng, người vốn luôn lên giọng về củi lò, về chống tham nhũng, đạo đức, chống tha hóa, tự diễn biến và về những thứ được gọi là học tập làm theo tấm gương? Nếu thịt Thuấn thì nên làm thế nào cho êm đẹp?

1. Đợi Thuấn khỏi bệnh cúm Vũ Hán rồi kỷ luật, cảnh cáo, phê bình, cách chức… Cách này không ổn lắm. Thuấn vốn là thành viên tổ tư vấn của Thủ tướng Phúc, lại là thành phần cộm cán trong cái gọi là Hội đồng lý luận Trung ương của đảng. Cách chức, xử lý, thậm chí lấy cớ khởi tố vậy thì bộ mặt Thủ tướng sẽ ra sao, bộ mặt đảng ra sao khi thằng tư vấn, thằng lý luận chính cho đảng mạt hạng và khốn nạn như vậy? Cách này quả thực không ổn chút nào.

2. Con đường thứ 2 là Thuấn chết đi:

Nếu Thuấn mắc dịch chết bệnh thì quá hay và tiện cho đảng, chính phủ. Tiện cho ông Trọng, ông Phúc và cả các đồng đảng của Thuấn chưa bị lộ. Khi đó truyền thông lề đảng cứ lờ đi, chỉ tập trung vào chuyện Việt Nam có người chết vì đại dịch. Bên tuyên giáo, DLV và các cây viết định hướng trên mạng sẽ tập trung hướng dư luận vào nỗi lo dịch bệnh, tập trung vào chuyện chết là hết, không bới móc người chết nữa… Tất dư luận sẽ lo bênh tật mà quên đi chuyện Thuấn lợi dụng cái gọi là Hội lý luận trung ương để phè phỡn, ăn chơi phá phách, đớp ngập mặt.

Nếu không chết vì mắc dịch, đảng nên bố trí đánh bả cho đồng chí Thuấn chết mất xác đi. Và báo chí, truyền thông, DLV cũng làm như kịch bản Thuấn chết vì đại dịch. Ắt dân sẽ vì nỗi lo đại dịch mà quên hết những thứ khốn nạn, xấu xa của Thuấn và tầng lớp chóp bu. Như Trần Đại Quang, Nguyễn Bá Thanh, Phạm Quý Ngọ đấy thôi, chết xong là giữ được tài sản cho vợ con, các đồng đảng- đồng chí cũng hân hoan vì không lộ cả đường dây. Nhân dân có chỗ để cười cợt, nhưng là cười đồng chí chết, chứ các đồng chí còn sống thì vẫn có thể tiếp bước những Quang, Thanh, Ngọ, Thuấn mà hưởng lạc, phè phỡn.

Nói tóm lại, Thuấn còn sống là không ổn chút nào, chắc chắn dư luận sẽ nghi ngờ thậm chí là khẳng định và chửi thẳng mặt Thủ tướng chọn thằng tư vấn Thuấn như CCC. Dân sẽ chửi và dí đủ thứ vào cái gọi là lò của ông Trọng. Dĩ nhiên các lời lẽ của ông Trọng về chống tham nhũng, chống tha hóa biến chất, chống xa hoa, chống suy thoái, chống tự diễn biến- tự chuyển hóa sẽ chỉ là lời chém gió của kẻ chuyên nói phét. Dư luận coi mồm ông Trọng chẳng khác gì cái “trôn trẻ”. (Nói trắng ra là như đít trẻ con, ỉa đái bất chấp mọi lúc mọi nơi, không thể kiểm soát và tin được).

Fb Thuan Van Bui

*
Copy từ FB Xuan Ly
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10216450623557444&id=1212323789

Image may contain: 3 people, people sitting and indoor
Image may contain: 2 people

VÌ SAO MAFIA JONATHAN HẠNH NGUYỄN CÓ “XIỀNG” 360.000 USD THUÊ MÁY BAY

Lê Vi

Ở Việt Nam, có một doanh nghiệp nhà nước độc quyền tới 21 cảng hàng không, 1 năm doanh thu 16.000 tỷ nhưng lãi tới 7.500 – 8.000 tỷ đồng, tức là làm ra 2 đồng lãi 1 đồng. Một mức siêu lãi mà kể cả buôn ma tuý cũng không bằng. Độc quyền cảng hàng không từ dịch vụ cất hạ cánh, chỗ đậu máy bay, thang máy bay đến bát mì, chai nước… với giá cắt cổ nhưng chất lượng phục vụ cực kì tồi tàn.

Đó là Tổng công ty Cảng Hàng Không Việt Nam (ACV), một tập đoàn kinh tế “nửa nạc, nửa mỡ”. Mang tiếng là tập đoàn nhà nước, sở hữu một lượng tiền khủng khiếp, lại được độc quyền “một mình, một ngựa” chiếm đoạt toàn bộ các sân bay lớn, nhỏ trên khắp cả nước, nhưng lại cấu kết với tập đoàn tư nhân để trục lợi, biến tài sản nhà nước, tài sản nhân dân, kể cả an nguy an ninh quốc gia thành của riêng. Tiền thì cứ thu vào, nhưng đường băng sân bay và cơ sở hạ tầng sân bay trên khắp cả nước cứ liên tục xuống cấp đáng báo động.

Câu hỏi đặt ra là, tiền đã đi đâu và thế lực nào đứng sau cùng lãnh đạo ACV làm những việc này?.

Đó là bố già mafia kinh tế Jonathan Hạnh Nguyễn, Chủ tịch tập đoàn Liên Thái Bình Dương IPPG, thường được biết đến với cái tên ông vua hàng hiệu Việt Nam, bố chồng Tăng Thanh Hà.

Trong khi ACV độc quyền các cảng hàng không, thì Jonathan Hạnh Nguyễn cũng độc chiếm toàn bộ hệ thống bán hàng và dịch vụ hàng không ở các sân bay lớn nhỏ, đặc biệt là Tân Sơn Nhất. Ngay sau khi Công ty cổ phần dịch vụ Hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất (SASCO) vừa cổ phần hóa, thì Jonathan Hạnh Nguyễn cấu kết với lãnh đạo tập đoàn mẹ của SASCO là ACV đã bưng bít thông tin, để Jonathan chiếm đoạt cổ phần và biến thành cổ đông chiến lược. Đổi lại lãnh đạo ACV cũng nhét vô vàn con cháu, người thân chiếm giữ các chức danh quản lý tại SASCO. Đây là 1 cú bắt tay ngầm đầy bẩn thỉu, cho thấy sự lũng đoạn của Johnathan Hạnh Nguyễn trong lĩnh vực kinh doanh hàng không là ghê gớm như thế nào.

Vậy Jonathan Hạnh Nguyễn đã dùng thủ đoạn nào để thâu tóm SASCO, “mỏ vàng lộ thiên” của Tập đoàn ACV?

Năm 2014 khi SASCO tiến hành cổ phẩn hóa, nếu cạnh tranh công bằng, công khai, thì có hàng chục doanh nghiệp sẵn sàng bỏ ra cả nghìn tỷ đồng để sở hữu cổ phần, thế nhưng Jonathan Hạnh Nguyễn đã ma mãnh lợi dụng sự tiếp tay của quan chức Bộ GTVT thời kì đó cùng sức ép của một vị quan lớn khiến cho chỉ 1 mình Johnathan Hạnh Nguyễn và Tập đoàn IPPG được mua toàn bộ cổ phần bán ra, với mức giá rẻ mạt 310 tỷ đồng cho hơn 23% cổ phần.

Ngay sau đó 1 năm, các ông lớn của Bộ GTVT lại tiếp tục cho phép Johnathan Hạnh Nguyễn mua thêm toàn bộ cổ phần SASCO sau khi ACV tiếp tục thực hiện chủ trương thoái vốn. Đến tháng 4/2017, Jonathan Hạnh Nguyễn đã chiếm đoạt tổng cộng 45.44% cổ phần và leo lên làm Chủ tịch HĐQT SASCO, đáng nói là vợ y, Lê Hồng Thủy Tiên, cũng có 1 chân trong HĐQT, mặc sức mà chi phối con gà đẻ trứng vàng này.

Đầu năm 2019, Đỗ Hữu Nghĩa, một người nhà của Johnathan Hạnh Nguyễn đã được Johnathan hậu thuẫn để tiếp tục mua thêm cổ phần tại SASCO từ các cổ đông khác. Như vậy với 3 công ty gia đình (IPPG, DAFC, ACFC), cùng 3 cá nhân trong gia đình (Johnathan Hạnh Nguyễn, Lê Hồng Thủy Tiên, Đỗ Hữu Nghĩa), Johnathan Hạnh Nguyễn đã chiếm 47,04% giá trị SASCO.

Chỉ cần đợi ACV tiếp tục thoái vốn, thì con gà đẻ trứng vàng SASCO chính thức lọt vào tay trùm mafia Johnathan Hạnh Nguyễn, biến y trở thành ông vua của sân bay Tân Sơn Nhất.

SASCO ngoài độc quyền kinh doanh hàng miễn thuế, dịch vụ phòng chờ, bán lẻ và ăn uống, dịch vụ quảng cáo, và cả những dịch vụ quái đản ở sân bay Tân Sơn Nhất, có giá trị kinh tế vô cùng lớn không thể đong đếm được. Ai từng đi máy bay sẽ biết 1 tô mì tôm ở Tân Sơn Nhất bán gấp 10, 20 lần giá thị trường thế nào và chỉ cần nhân với con số hàng triệu lượt khách ghé qua đây mỗi ngày thì sẽ biết số tiền khủng khiếp ra sao. Chưa kể còn có cả cái cổng sân bay đặt cái BOT to tổ chảng thu tiền ngày đêm của hàng triệu lượt xe ra vào mà giới lái xe vô cùng bức xúc, chỉ vào đón khách, không gửi xe cộ gì cũng bị cái BOT đó thu phí.

Đó là chưa kể, SASCO còn sở hữu 20 dự án đất vàng màu mỡ, nằm ở những vị trí chiến lược, có giá trị thị trường rất lớn rộng 7 triệu m2 trải khắp cả nước. Mà mới năm ngoái, trong kết luận thanh tra tại ACV, Thanh tra Chính phủ chỉ đích danh hàng loạt sai phạm khủng khiếp trong hoạt động đầu tư bất động sản của SASCO khi cố tình “quên” định giá đất vàng, quên không nộp thuế đất, quên luôn định giá 1 khu đất rộng lớn tới 10 ngàn m2 tại Hóc Môn.

Tuy nhiên mọi việc nhanh chóng đâu lại vào đấy, sau khi dùng một đống tiền và thế lực chính trị để bịt miệng, Jonathan Hạnh Nguyễn đã lên truyền thông chối đây đẩy như 1 kẻ vô can không hề có tội lỗi gì. Đã thế sau Sân bay Tân Sơn Nhất, thì Jonathan lại âm mưu thâu tóm tiếp dự án nhà ga ở Cảng hàng không Cam Ranh và hàng loạt các cảng hàng không khác.

Mới đây nhất, Bộ Giao thông Vận tải vừa đề xuất Thủ tướng xem xét mua lại cổ phần nhà nước đã bán ra tại ACV vì lý do an ninh quốc phòng, một lí do rất trời ơi đất hỡi, thế hóa ra lâu nay ACV cùng Johnathan Hạnh Nguyễn đã to gan chiếm luôn cả an ninh quốc phòng của đất nước hay sao?. Đã thế bây giờ muốn mua lại cũng không dễ, khi nhà nước phải bỏ ra 8.000 tỷ đồng cho 4,6% cổ phần mà các cổ đông trong đó có Johnathan Hạnh Nguyễn đang nắm giữ, thế nhưng thời điểm cổ phần hóa năm 2015, số cổ phần này nhà nước bán ra chỉ thu về hơn 1.400 tỷ đồng.

Nghĩa là nhà nước đã bị “lỗ nặng”, ngân sách quốc gia, tiền của nhân dân cứ thể mà chảy vào túi bè lũ Johnathan Hạnh Nguyễn cùng nhóm lợi ích ACV.

Lợi dụng kẽ hở trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, để thao túng giá cổ phiếu, cố ý định giá sai, móc nối ăn chia với nhóm lợi ích hòng chiếm đoạt tài sản nhà nước, tài sản nhân dân bao gồm cả các quỹ đất đai khổng lồ, cũng là cái cách mà Vũ Nhôm, Út Trọc Đinh Ngọc Hệ, Phạm Công Danh, Trần Phương Bình, hay nhiều kẻ khác đã từng sử dụng để đút vào túi riêng, làm thất thoát của nhà nước hàng chục ngàn tỷ đồng.

Thế nhưng ở đẳng cấp cao hơn của 1 ông trùm mafia kinh tế lão luyện, sự móc ngoặc giữa ACV và Jonhathan Hạnh Nguyễn, cùng với sự tiếp tay của quan chức đã biến nhóm lợi ích trở nên khổng lồ, mạnh lên thành những bè lũ mafia tư bản đỏ, lũng đoạn nền kinh tế đất nước, tước đoạt tài sản, tư liệu sản xuất và đời sống của nhân dân, để lại trên mảnh đất nghèo này biết bao tiếng oán than.

Fb Hoai Linh Ngoc Duong

Image may contain: 1 person
Image may contain: 5 people, people standing
No photo description available.
No photo description available.

Truyền thông Trung Quốc tung tin COVID-19 xuất phát từ Mỹ

Truyền thông Trung Quốc tung tin COVID-19 xuất phát từ Mỹ

LOS ANGELES, California (NV) – Truyền thông nhà nước Trung Quốc đang khuếch đại tin virus COVID-19 có thể có nguồn gốc từ Hoa Kỳ.

Truyền thông nhà nước Trung Quốc có lẽ bắt đầu thêu dệt câu chuyện trên từ ngày 27 Tháng Hai. Sau khi ông Zhong Nanshan, bác sĩ chuyên khoa hô hấp nổi tiếng, người khám phá virus bệnh SARS hồi 2003, nói trong một cuộc họp báo rằng: virus COVID-19 đầu tiên xuất hiện tại Vũ Hán nhưng có thể không có nguồn gốc Trung Quốc.

Kể từ đó, các cơ quan truyền thông Trung Quốc bắt đầu lập đi lập lại hay thường xuyên ám chỉ về câu nói đó.

Ông Xiao Qiang, sáng lập tờ China Digital Times và giáo sư phụ tá tại Ðại Học U.C Berkerly, nói với Washington Post rằng: “Cứ lên trên WeChat, trên Weibo, hay tìm trên Baidu, và sẽ thấy toàn là những từ khóa như ‘nhìn kìa xứ khác mắc bệnh’ hay ‘virus nguyên thủy từ Hoa Kỳ’, hay đủ loại thuyết âm mưu khác nhau.”

Ông Xiao nhận xét: “Câu chuyện này được dàn dựng hơn là thông tin bị thiếu sót hay chỉ là một ý kiến của một viên chức mà nó là một dàn đồng ca, một chiến dịch tuyên truyền của chính quyền tung trên các phương tiện truyền thông phổ biến ở mức độ ít khi thấy. Đây là kế hoạch phản công.”

Ông Dali Yang, giáo sư môn chính trị học tại Đại Học Chicago, cho rằng chiến dịch truyền thông này là một nỗ lực nhằm kéo sự chú ý của người dân khỏi cách giải quyết của Trung Quốc đối với sự bùng phát bệnh dịch.

Ông nói: “Mục đích là làm giảm bớt sự chú mục của dân chúng vào cách Trung Quốc vụng về đối phó với bệnh dịch. Đây là một kiểu đổ thừa.” (MPL)

CÒN HƠN ĐẠI DỊCH

Image may contain: sky, plant, outdoor and nature
Image may contain: one or more people, plant, outdoor and nature
Image may contain: text
8 SÀI GÒN

 

CÒN HƠN ĐẠI DỊCH

Đến hết ngày 9/3/2020, số người chết vì virus Vũ Hán đã vượt mốc 4.000 người. Chỉ sau 1 tháng 10 ngày, tổng số người chết vì Corona đã nhiều hơn gấp 5 lần so với số người chết vì Sars năm 2003. Nhưng có một vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều so với đại dịch Corona tại Việt Nam.

Miền Tây bước vào đợt hạn mặn nặng nề nhất lịch sử do Trung Quốc chặn dòng Mekong.

Trồng lúa nhưng gặt… rơm là điều vựa lúa cả nước sẽ không chỉ phải đối mặt không chỉ năm trước và năm nay. Trong 10-30 năm nữa, quốc gia sẽ đói gạo theo nghĩa đen, và cả những hậu quả lớn hơn nối nhau hiện ra.

Đừng chỉ coi Trung Quốc là chủ mưu phá hoại đồng bằng bằng chiến thuật liên hoàn đập thuỷ điện trên Mekong. Sai lầm duy ý chí của hệ thống chính trị và sự vô ý thức của người Việt cũng góp phần vào việc “đói hoá” đất nước. Và đừng chỉ nhìn đỉnh hạn mặn lớn nhất trăm năm vào 2019 hay đỉnh hạn mặn mới 2020 của đồng bằng miền Tây mà lo lắng.

Có 6 nguyên nhân lớn khiến quốc gia lâm nguy về lương thực trong tương lai gần.

– Thiếu nước rửa mặn và nước sinh hoạt như đã nói ở trên, do Trung Quốc chặn dòng Mekong.

– Hậu quả của việc đắp đê bao miền Tây nhiều năm và làm lúa ba vụ như đồng bằng sông Hồng kiểu thâm canh khiến chất lượng đất đai đại giảm sau nhiều năm, phụ thuộc nặng vào thuốc bảo vệ thực vậy và phân bón hoá học.

– Tình trạng ô nhiễm môi trường từ việc phát triển công nghiệp, rác thải sinh hoạt và các hậu quả ô nhiễm môi trường vô cùng khó khắc phục. Nó ảnh hưởng không chỉ cây lúa mà đối với tất cả các cây trồng, vật nuôi khác cũng như với chính con người và thiên nhiên.

– Các hậu quả lâu dài của việc hạn chế quyền tư hữu đất đai của nông dân khiến sản xuất trở nên nhỏ lẻ, không tập trung và không hiệu quả.

– Áp lực của tăng dân số và các vấn đề an sinh xã hội tăng nhanh nhưng hạ tầng cơ sở lại yếu kém nhiều mặt so với các vùng khác của cả nước.

– Nước biển dâng nhanh và các hậu quả khác của biến đổi khí hậu với áp lực ngày càng lớn, trong khi cốt nền của đồng bằng sông Cửu Long hiện nay chỉ cao hơn 0,8 so với mặt nước biển.

Trong 6 nguyên nhân nói trên, chỉ có nguyên nhân cuối cùng thuộc về thiên tai. Cả 5 nguyên nhân đầu tiên đều thuộc loại nhân hoạ, mà ở đó các sai lầm chiến lược về chính sách thể hiện rõ. Rất đơn giản, tất cả nguy cơ đều đã được cảnh báo song các chính sách lớn luôn đi theo hướng khắc phục thay vì phòng chống và bứt phá.

Và trong chừng mực nào đó, bên cạnh những cá nhân thực sự muốn bứt phá khỏi cách làm cũ thì tâm lý “trời kêu ai nấy dạ” hằn sâu trong tâm thức người Việt nói chung và cư dân đồng bằng sông Cửu Long nói riêng; cũng làm cho các nguy cơ nói trên hiện ra nhanh hơn.

Đất nước bây giờ cần nhìn thẳng vào thực trạng và đưa ra giải pháp chứ không phải những bản báo cáo “lấy được”, những tuyên bố chính trị lạc quan trái thực tế hay sự đe doạ nhân danh an ninh quốc gia.

Nghĩ thử xem khi có ai đó muốn trồng rừng hay dọn rác, thay vì được ủng hộ chung tay thì họ lại bị hệ thống “hành là chính” làm lỡ việc, bị giám sát hay thậm chí đe doạ; thì còn ai hào hứng muốn làm hay không.

Đi hết đất nước mới thấy kết cấu cơ bản của quốc gia về mặt hạ tầng giao thông đã “lệch trục” đầy mâu thuẫn. Nơi là vựa lúa (miền Tây), là trung tâm kinh tế (miền Đông) lại không được ưu ái phát triển. Trong khi cứ càng gần quốc gia có đường biên giới với Quảng Ninh bao nhiêu thì đường cao tốc, đại lộ càng thênh thang bấy nhiêu.

Không cần chờ đến Tết để lấy cảnh kẹt xe làm ví dụ. Những chuyến xe chở hàng từ miền Tây lên miền Đông rồi đi cả nước vô cùng ì ạch. Trong khi những con lộ thênh thang nối từ biên giới phía Bắc xuống đồng bằng sông Hồng lại rộng thoáng đến mức xe cộ vắng vẻ, nhà cửa thưa thớt và trâu bò… tung tăng.

Mọi thứ đều có liên quan đến nhau và chỉ trộm nghĩ rằng không thể bỏ rơi miền Tây. Vì nếu hôm nay người dân miền Tây khóc tại nơi xưa kia là bờ xôi, ruộng mật; thì một ngày nào đó không xa như dự đoán của tôi, người dân cả nước sẽ khóc theo.

Chỉ có đám tư bản đỏ và lũ gian thương nhiều năm nay và vẫn đang hút kiệt sinh khí miền Tây nói riêng và sinh khí quốc gia nói chung là không khóc.

Vì chúng có “thẻ xanh”…

MAI QUỐC ẤN

****
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐANG CHẾT DẦN CHẾT MÒN

Trong khi cả nước đang bối rối trước tai họa rình rập của coronavirus thì có một tai họa còn khủng khiếp hơn nhiều, một cái chết được báo trước đang xảy ra, tuy âm thầm nhưng lừng lững tiến tới ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Nếu được hỏi nguy cơ lớn nhất cho sự tồn vong của ĐBSCL là gì, tôi sẽ không ngần ngại trả lời: nước, nước, nước, và nước.

Vấn đề nước đầu tiên ở ĐBSCL là ô nhiễm nguồn nước mặt – cái giá phải trả cho việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu quá mức để duy trì lúa vụ 3 và tăng sản lượng nông nghiệp. Thêm vào đó, ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng và chế biến thủy sản làm tình trạng ô nhiễm càng trở nên nghiêm trọng. Trước đây ở đồng bằng hầu như trẻ em nào cũng biết bơi, bây giờ đến nhảy xuống sông tắm còn không dám vì sợ ô nhiễm.

Vấn đề nước thứ hai ở ĐBSCL là việc khai thác nước ngầm quá mức, một mặt là do nước mặt quá ô nhiễm nên không sử dụng được, mặt khác vì tình trạng quản lý yếu kém nguồn tài nguyên “cha chung không ai khóc” này. Khai thác nước ngầm quá mức, cùng với áp lực của các công trình xây dựng và hạ tầng, khiến nền đất bị sụt lún nghiêm trọng, có nơi lên tới 2-3 cm mỗi năm. Nếu tình trạng này tiếp diễn, chỉ trong 20-30 năm nữa, những nơi này sẽ tụt xuống dưới mực nước biển (xem ảnh dự báo ở dưới).

Vấn đề nước thứ ba là sự suy giảm về cả khối lượng và chất lượng nước do mạng lưới chằng chịt hàng trăm đập thủy điện ở thượng nguồn gây ra. Thiếu nước ở ĐBSCL – điều chúng ta đang chứng kiến mấy tuần qua – đã ngày càng trở nên nghiêm trọng trong mùa khô. Mặc dù trong mùa mưa, các đập của Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 7% lượng nước trong toàn bộ hệ thống nhưng vào mùa khô, tỷ lệ này có thể lên tới 40-50%, khiến cho lượng nước ở hạ nguồn bị phụ thuộc rất lớn vào việc vận hành các đập của Trung Quốc. Bên cạnh đó, một lượng lớn phù sa và cát bị kìm giữ bởi các đập thượng nguồn – ước lượng hiện nay đã lên tới 50% – cũng làm ĐBSCL mất đi nguyên liệu để bồi đắp cho đồng bằng. Điều này cùng với nạn khai thác cát bừa bãi và vô độ trong nhiều năm khiến tình trạng mất đất và sạt lở ven biển trở nên hết sức trầm trọng.

Vấn đề nước thứ tư là mực nước biển dâng và nhập mặn do biến đổi khí hậu. Hiện nay, mỗi năm nước biển dâng trung bình khoảng 3 – 4 mm. Như vậy, mặc dù không phủ nhận tầm quan trọng của hiện tượng này, song cần nhớ là mức sụt lún do khai thác nước ngầm quá mức và do các công trình xây dựng và hạ tầng gây ra có thể còn cao hơn tới 10 lần. Hơn nữa, việc nhập mặn tuy bất lợi cho lúa nhưng lại có lợi cho tôm, cá và các hoạt động nuôi trồng thủy sản khác vốn đem lại lợi ích kinh tế cao hơn nhiều lần so với canh tác lúa 3 vụ, trong khi không gây biến đổi và tác hại môi trường.

ĐBSCL – nơi cư ngụ của hơn 20 triệu người Việt Nam – đang chết dần chết mòn. Nguyên nhân chính không phải vì biến đổi khí hậu hay do các con đập thượng nguồn, mà vì sự hội tụ và tích tụ của nhiều bất cập chính sách và tập quán nông nghiệp trong suốt qua ba thập kỷ gần đây. Nếu không đảo ngược tình trạng này, viễn cảnh tan rã của ĐBSCL chỉ còn là vấn đề thời gian.

Bạn đã bao giờ thử hình dung khi ấy đất nước Việt Nam sẽ như thế nào và con cháu chúng ta sẽ sống còn thế nào không?

Ảnh 1: Khô hạn khốc liệt đang diễn ra ở ĐBSCL (nguồn UNESCAP)
Ảnh 2: Độ cao so với mặt nước biển của ĐBSCL theo các kịch bản khác nhau (khai thác nước ngầm, khai thác cát, bổ sung phù sa và nước biển dâng). Nguồn https://iopscience.iop.org/art…/10.1088/2515-7620/ab5e21/pdf

VU THANH TU AN

Miền Nam sau 30/4/1975: Khi các nhà sư vỡ mộng

Vào tháng 11/1975, mùa mưa ở miền Nam sắp hết nhưng không khí căng thẳng mà quân giải phóng đem đến thì chỉ mới bắt đầu.

Người miền Nam đi chùa như một thói quen hằng ngày nhưng lúc bấy giờ quân giải phóng đã không nghĩ như vậy. Cách mạng nếu không tịch thu thì cũng ra lệnh đóng cửa các ngôi chùa của khoảng 40.000 tăng ni lúc đó.

Không chùa nào được treo giáo kỳ. Không ngày lễ được tổ chức. Không có ngoại lệ nào cho các nhà sư, kể cả những người từng ngồi tù vì biểu tình chống chiến tranh hay chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Đàn áp và lao tù đến ngay sau ngày thống nhất.

12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu

Vào lúc đó, cách tỉnh Cần Thơ khoảng 30 cây số theo hướng Quốc lộ 1A về hướng Sóc Trăng bây giờ, Đại đức Thích Huệ Hiền, trụ trì Thiền viện Dược Sư, cùng với 11 tăng ni của chùa đang chuẩn bị những ngày cuối cùng của mình.

Tất cả đã cùng nhau tự thiêu tại chùa vào ngày 02/11/1975.

12 tăng ni chùa Dược Sư đã tự thiêu như thế nào? Xác của họ được chôn ở đâu? Và vì sao các tăng ni, trong đó có một người 15 tuổi và một người mới 14 tuổi, lại chọn cách tự vẫn đau đớn như vậy trong khi đất nước vừa mới hòa bình?

Thiền viện Dược Sư là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), được thành lập vào cuối năm 1963 sau cuộc tranh đấu chống chính quyền Ngô Đình Diệm

Trong cuộc tranh đấu đổ máu đó, hình ảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức, 67 tuổi, điềm nhiên châm lửa thiêu mình ở ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, Sài Gòn đã làm xúc động thế giới.

Hòa thượng Thích Nhất Hạnh kể rằng sau cái chết dũng cảm của Hòa thượng Quảng Đức, chính quyền thủ đô Hà Nội đã tổ chức lễ truy niệm hòa thượng tại Quảng trường Ba Đình, dân chúng kéo đến đông không khác gì ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Nhưng thảm kịch tại chùa Dược Sư thì đã mau chóng bị vùi lấp.

GHPGVNTN và chính quyền lúc đó đã có những ý kiến trái ngược nhau về bi kịch này.

Theo nhật báo Chicago Tribune, ba tuần sau thảm họa chùa Dược Sư, Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN lúc bấy giờ, người sau này trở thành Chủ tịch đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981, đã gửi thư đến Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam để khiếu nại.

Hòa thượng Trí Thủ nói rằng cán bộ cách mạng đã tịch thu chùa Dược Sư và cả thi thể của các tăng ni.

Bức thư được gửi cùng với thư tuyệt mệnh của trụ trì Huệ Hiền, trong đó ghi lại tên tuổi của 11 tăng ni và lý do tự thiêu là để yêu cầu chính phủ cách mạng “tôn trọng triệt để tự do tín ngưỡng của các tôn giáo đúng mức”.

Trong thư, ông nói bi kịch chùa Dược Sư xảy ra sau khi cán bộ cách mạng cấm chùa treo cờ Phật giáo và cầu siêu cho những nạn nhân chiến tranh. Các tăng, ni được yêu cầu “ăn và nói một cách bình thường [như mọi người] để học theo những con đường của cách mạng”.

Cán bộ ra lệnh Đại đức Huệ Hiền phải cắt nghĩa cho các tăng ni về “chiến thắng quang vinh và lịch sử của cách mạng”, động viên họ tham gia sinh hoạt chính trị trong các tổ chức của cách mạng lúc bấy giờ.

Hòa thượng Trí Thủ viết trong thư: “Qua vụ việc trên, chúng tôi hy vọng ông [bức thư gửi đến một lãnh đạo của chính phủ] và chính phủ cách mạng sẽ lưu tâm đến những gì đang diễn ra ở cấp cơ sở. Chúng tôi không muốn tin rằng vụ việc đáng tiếc trên cũng như nhiều vụ việc liên quan đến tự do tôn giáo khác phản ánh chính sách của Mặt trận Giải phóng Dân tộc và Chính phủ Cách mạng Lâm thời”.

“… đáng lẽ chúng tôi nên đến gặp ông để trình chi tiết và kín đáo hơn là gửi bức thư này. Tuy nhiên, một cuộc họp như vậy có vẻ là bất khả thi, kể từ khi thống nhất chúng tôi đã xin gặp chính phủ ba lần để nói về quan điểm của giáo hội đối với vấn đề tôn giáo nhưng liên tiếp bị từ chối”.

Tương tự như yêu cầu xin gặp chính phủ cách mạng, bức thư của Hòa thượng Trí Thủ không được hồi đáp.

Sau biến cố 30/4/1975, báo chí trong nước bị chính quyền kiểm soát. Các phóng viên quốc tế đã rời khỏi miền Nam, mọi biến động lúc đó đều không được đưa tin kịp thời. Vì vậy, gần một năm sau, báo chí quốc tế mới đưa tin về thảm kịch ở chùa Dược Sư.

Sau đó, tổ chức nhân quyền Ân Xá Quốc tế đã gửi thư đến Bộ Nội vụ Việt Nam vào tháng 9/1976 để yêu cầu cung cấp thông tin.

Khoảng sáu tháng sau, Bộ Nội vụ đã hồi đáp bức thư đó bằng một giải thích rất bất ngờ.

Chính phủ cho rằng theo lời khai của các nhân chứng thì ông Phạm Văn Có (tên khai sinh của Đại đức Huệ Hiền) đã giết hai ni cô lần lượt vào năm 1972 và năm 1974 sau khi ông ta làm hai người này mang thai, “và vẫn tiếp tục hành động vô đạo đức của mình sau ngày giải phóng”.

Theo tuyên bố của chính phủ, “vì sợ việc làm của mình bị lộ ra ngoài, ông Có đã quyết định tự sát, trước khi đốt chùa và tự thiêu mình, ông đã giết chết 11 người khác trong chùa, trong đó có hai thiếu niên”.

Trong một bài viết vào năm 1992, Hòa thượng Thích Quảng Độ, lúc đó là Tổng thư ký Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN, sau này trở thành tăng thống thứ năm của giáo hội, nói rằng ông và các vị hòa thượng Thích Thiện Minh, Thích Huyền Quang không chấp nhận lời giải thích của chính quyền.

Hòa thượng Quảng Độ đã tham gia một cuộc điều tra của chính quyền. Sau cuộc điều tra, ông đã từ chối công nhận bản kết luận của chính quyền vì nội dung kết luận không đúng với bức thư tuyệt mệnh của Đại đức Huệ Hiền.

Bản kết luận điều tra mà chính quyền yêu cầu Hòa thượng Quảng Độ công nhận ghi rõ rằng Đại đức Huệ Hiền đã tự sát cùng “11 người khác” vì các lý do sau: sợ bị cách mạng trừng trị vì đã làm chỉ điểm cho “Mỹ – Ngụy,” không còn lương thực để sống vì trước đó được “Mỹ – Ngụy” chu cấp và sợ chuyện dâm ô với các ni cô bị bại lộ.

Từ việc 12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu tập thể để đòi quyền tự do tôn giáo (theo nhận định của GHPGVNTN), qua cuộc điều tra của chính quyền đã trở thành một vụ án dâm ô và giết người diệt khẩu.

Nhưng dù lý do là gì đi nữa thì bi kịch tự thiêu tập thể ở chùa Dược Sư cũng đã mở ra hàng loạt vụ tự thiêu sau đó.

Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội

Ngay trước ngày 30/4/1975, nỗi sợ chế độ cộng sản đã khiến hàng vạn người chạy khỏi miền Nam nhưng cũng có không ít gia đình đã chọn ở lại.

Một trong những lý do ở lại vào lúc đó là vì người ta tin rằng nếu không dính líu đến chính trị ở chế độ cũ thì vẫn có thể sống bình yên với cách mạng.

Đối với các tăng ni, phật tử nhiệt thành của khối Ấn Quang thì lại càng có nhiều lý do hơn nữa để ở lại đất nước. Họ là những người đã đổ máu trong những cuộc biểu tình vang dội để chống chiến tranh, chống các chế độ độc tài ở miền Nam.

Với khả năng tổ chức bậc thầy, Ấn Quang đã huy động được một lực lượng rất đông đảo là các tăng ni, phật tử, sinh viên theo chủ trương chống chiến tranh, chống chính quyền miền Nam trong những năm 1960.

Các nhà sư khối Ấn Quang bước đi trên đường Lê Duẩn ngày nay trong một cuộc biểu tình phản đối chính phủ Nguyễn Văn Thiệu vào năm 1967. Ảnh: Co Rentmeester

Giáo sư Nguyễn Long, một phật tử nhiệt thành của khối Ấn Quang và giảng dạy về chủ nghĩa cộng sản ở Viện đại học Vạn Hạnh sau khi lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ, cũng đã nghĩ như thế.

Mấy hôm trước ngày 30/4/1975, ông đã phân vân giữa ra đi hay ở lại quê hương.

Sau này, ông đã kể lại cuộc sống ở miền Nam sau ngày 30/4/1975 trong cuốn sách “After Saigon Fell: Daily Life Under the Vietnamese Communists” (Sau khi Sài Gòn sụp đổ: Cuộc sống thường ngày dưới tay những người cộng sản Việt Nam).

Ông Long sinh ra trong một gia đình thuần nông ở Đà Lạt. Khi còn là sinh viên ở Sài Gòn, ông cùng với những sinh viên khác ở tuyến đầu của phong trào sinh viên phật tử chống chính quyền miền Nam từ Ngô Đình Diệm, chính quyền của tướng Nguyễn Khánh rồi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Ông từng bị bắt giam hai lần và được hai hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Mãn Giác (thuộc khối Ấn Quang) can thiệp thì mới được thả ra.

“Do đó, tôi không cảm thấy mình cùng loại với những người miền Nam mà cộng sản cho là ‘ngụy quân’ hay ‘ngụy quyền’, nghĩa là có liên quan trực tiếp hay gián tiếp với chế độ cũ hay chính sách của Mỹ. Nhiều người Việt ở các vị trí xã hội khác cũng có thái độ tương tự. Điều này đặc biệt đúng với các luật sư, bác sỹ, kỹ sư, nhà báo hay nhà văn. Hầu hết họ cảm thấy mình không phạm tội và không có mối quan hệ với chính trị trong quá khứ, do đó không lý do để rời khỏi Việt Nam”.

Và hơn nữa, ông là người có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản. “Tôi thú nhận rằng trong một vài khía cạnh, chủ nghĩa cộng sản đối với tôi đã ngày càng hoàn thiện hơn, thực tế hơn và nhân văn hơn bất kỳ học thuyết phương Tây hay phương Đông nào mang lại”.

Nhưng mọi lý do kể trên đã thành con số không sau ngày 30/4/1975.

Ông Long buộc phải đi học tập chính trị. Cán bộ liên tục theo dõi ông, hàng xóm và kể con trai của ông bị chính quyền dùng để dò la xem ông đã nói gì, làm gì lúc ở nhà. Vì cách mạng cho rằng “ngụy thầy” (false educator) còn nguy hiểm hơn là “ngụy quân”.

Chính quyền đã thành lập hàng loạt các “hội yêu nước” để giáo dục và phân loại các thành phần công dân. Các phiên đấu tố diễn ra ở khắp nơi. Tất cả các hoạt động đi lại đều phải xin phép. Mọi người trong nhà ông đều phải trình diện vào khung giờ nhất định.

“Nhận thức của mọi người về bản thân mình và những người theo cộng sản đã khác nhau quá xa. Chúng tôi đã sớm thấy rằng xã hội dưới chế độ cộng sản mọi thứ đã bị chính trị hóa nhiều hơn bất cứ đánh giá nào của chúng tôi. Theo quan điểm của cộng sản, không có chỗ cho một cá nhân phi chính trị”.

“Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” là một tuyên truyền phổ biến lúc bây giờ.

Trong hồi ký của ông Long, chính quyền lúc đó đã dùng khẩu hiệu này để gắn kết giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản. Ngoài ra, chính quyền còn cố gắng đồng nhất chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa yêu nước, một người yêu nước thì phải là một người cộng sản, nếu anh ta không phải là cộng sản thì anh ta không yêu nước.

Sau hai lần vượt biên thất bại, ông đưa gia đình vượt biên thành công đến trại tị nạn ở Indonesia vào năm 1979.

Bối cảnh ngay sau 30/4/1975 có thể giải thích một phần nào đó vì sao khối Phật giáo trước năm 1975 được xem là có cảm tình với cách mạng lại phải hứng chịu những trận đàn áp không nương tay của chế độ mới.

Ấn Quang dưới tay chính quyền cộng sản

Sau cuộc điều tra về bi kịch tự thiêu tập thể ở chùa Dược Sư, bất đồng giữa chính quyền và khối Ấn Quang ngày càng gia tăng.

Vào đêm ngày 06/04/1977, sau khi tịch thu cô nhi viện Quách Thị Trang vào tháng Ba trước đó, công an đã bố ráp chùa Ấn Quang với khoảng 200 nhà sư đang tu tập ở đây.

Trong cuộc bố ráp này, các hòa thượng Quảng Độ, Huyền Quang, Thanh Thế, Thiện Minh, Thuyền Ấn, Thông Huệ và nhiều người khác đã bị bắt.

Ngay sau đó, Phái đoàn Phật giáo Hòa bình tại Pháp (do Thiền sư Thích Nhất Hạnh đứng đầu) đã tuyên bố rằng có 120 tăng ni miền Nam sẵn sàng tự sát để phản đối chính quyền đàn áp tôn giáo.

Lúc bấy giờ, báo chí độc lập không còn hiện diện ở miền Nam như trước kia. Cách mạng đã kiểm soát mọi kênh truyền thông. Các vụ đàn áp Phật giáo phải mất rất nhiều thời gian mới đến được báo chí quốc tế.

Khoảng sáu tháng sau cuộc bố ráp vào chùa Ấn Quang, Hòa thượng Thích Mãn Giác, Phó hiệu trưởng của Viện đại học Vạn Hạnh, Ủy viên trung ương trong GHPGVNTN, đã vượt biên đến Paris (Pháp) để tố cáo cuộc đàn áp đạo Phật đang diễn ra rất trầm trọng ở miền Nam.

Ông nói mình đã mang theo nhiều tài liệu về xung đột giữa Phật giáo và chính quyền cộng sản.

Hòa thượng Thích Mãn Giác. Ảnh: Việt Báo.

“Chế độ mới đang theo đuổi chính sách triệt hạ các cộng đồng tôn giáo ở đất nước chúng tôi. Hàng trăm các tăng ni bị bắt. Hàng trăm các ngôi chùa bị tịch thu rồi bị biến thành cơ quan hành chính. Các tượng phật bị hạ xuống để đập phá. Không được tổ chức lễ Phật Đản như một ngày lễ quốc gia”, Hòa thượng Mãn Giác nói với báo giới vào tháng 11/1977.

“Đảng Cộng sản dường như không hiểu cũng không khoan dung về ước vọng sâu sắc nhất của chúng tôi. Chúng tôi đã rất đau khổ vì bị ngược đãi, kỳ thị và đàn áp”.

Phong trào Phật giáo của khối Ấn Quang “không tranh giành quyền lực chính trị… mà đòi hỏi sự khoan dung và quyền được tham gia xây dựng đời sống không phải như một cái máy mà bằng khối óc và trái tim”.

Hãng tin Reuters lúc đó đã dẫn tin rằng khối Ấn Quang đã bị mất sức ảnh hưởng ở miền Nam và bị chia rẽ trầm trọng khi kể từ khi nhà nước thành lập Hội Phật giáo Yêu nước.

Hòa thượng Mãn Giác nói Hòa thượng Thích Trí Quang, một trong nhà sư nổi tiếng nhất thời Việt Nam Cộng Hòa thuộc khối Ấn Quang vì chống chiến tranh và chống chế độ cũ rất quyết liệt, có lẽ đang bị cách mạng giam giữ tại chùa.

Trích từ bài viết Giữa hai làn đạn của Nguyễn Hữu Thái đăng trên Thư Viện Hoa Sen. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Cuộc chiến sống còn

Mặc dù từng đổ máu trong các cuộc biểu tình những năm 1960, từng bị cảnh sát quốc gia tra tấn, nhưng các nhà sư khối Ấn Quang đã kinh hồn bạt vía vì những màn tra tấn của công an cộng sản.

Trong một bài phỏng vấn Hòa thượng Thích Thiên Quang (hoặc Thích Thiện Quang), phó trụ trì chùa Ấn Quang, đã tiết lộ về màn tra tấn của chính quyền sau khi ông vượt biên đến Indonesia vào tháng 6 năm 1979.

Sau năm 1975, ông cho biết mình đã bị cách mạng giam cầm trong hai năm trước khi được thả vào năm 1977.

Ông nói rằng chuồng cọp của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu dùng để tra tấn không là gì so với màn tra tấn mà Hòa thượng Trí Quang trải qua trong nhà tù cộng sản.

Ông cho biết Hòa thượng Trí Quang bị bắt nằm trong một cái hố như quan tài và không thể ngồi dậy trong suốt 16 tháng. Mỗi ngày ông được cho ra ngoài 15 phút để vận động và tắm rửa. Vì vậy mà hai chân của ông bị teo lại khi được cho về chùa vào năm 1977.

Hòa thượng Thiện Quang nói lúc ông rời khỏi Việt Nam thì Hòa thượng Trí Quang vẫn đang phải ngồi xe lăn, học cách đi lại bằng đôi nạng và bị giam giữ tại chùa. Trong số những người bị bắt của khối Ấn Quang chỉ có ba người nữa được thả ra và cũng bị cấm ra khỏi chùa.

Vào lúc đó, chùa Ấn Quang bị canh giữa nghiêm ngặt và phật tử chỉ được đến chùa thắp nhang hai lần trong tháng.

Chùa Ấn Quang hay còn gọi là Tổ đình Ấn Quang là nơi chứng kiến các hoạt động sôi nổi của Phật giáo vào những năm 1960. Ngày nay, chùa nằm trên đường Sư Vạn Hạnh, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh chụp chùa vào năm 1998. Ảnh: Australian War Memorial.

Vào cuối năm 1978, sau khi Hòa thượng Thiện Minh đã chết trong trại giam, chính quyền đưa các hòa thượng của khối Ấn Quang ra xét xử với nhiều tội danh khác nhau. Dưới áp lực quốc tế, các hòa thượng Quảng Độ và Thanh Thế được trắng án. Hai hòa thượng Huyền Quang và Thuyền Ấn bị tuyên án hai năm tù treo. Hòa thượng Thông Huệ bị tuyên án ba năm tù giam.

Hòa thượng Thiên Quang nói rằng mâu thuẫn giữa Phật giáo và chính quyền sau năm 1975 đã bắt đầu từ vụ 12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu ở Cần Thơ.

Ông cho biết trong năm 1977 và 1978, miền Nam đã có thêm 18 tăng ni khác tự thiêu riêng lẻ. Ông cũng cho biết rằng các tôn giáo khác như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo cũng đang bị đàn áp nặng nề không kém gì Phật giáo.

Khi được hỏi tại sao các nhà sư Ấn Quang phải tranh đấu với chế độ cộng sản sau khi đã gây ra quá nhiều rắc rối cho chính quyền ông Thiệu, ông trả lời: “Dưới chế độ của ông Thiệu, chúng tôi chỉ chống tham nhũng mà thôi. Bây giờ, dưới chế độ cộng sản, chúng tôi không thể tồn tại được. Giờ đây, chúng tôi phải chiến đấu để sống hoặc chết”.

Ngay sau ngày 30/4/1975, Phật giáo miền Nam đã bước chân vào một bi kịch mới. Số vụ các tăng ni đã chết vì tự thiêu bị che dấu. Tổng số các tăng ni bị giam giữ, chết trong trại giam từ sau ngày 30/4/1975 không được tiết lộ. Tổng số các chùa bị đập phá và tịch thu không được công bố. Chính phủ chưa bao giờ thừa nhận đã đàn áp Phật giáo miền Nam.

Đến những năm 1990, các vụ tự thiêu vì đàn áp tôn giáo vẫn còn tiếp diễn.

LUATKHOA.ORG

Miền Nam sau 30/4/1975: Khi các nhà sư vỡ mộng

Vào tháng 11/1975, mùa mưa ở miền Nam sắp hết nhưng không khí căng thẳng mà quân giải phóng đem đến thì chỉ mới bắt đầu. Người miền Nam đi chùa như một thói quen hằng