Không phải điều tra viên bất tài hay sơ sót đâu…

Minh Phuong Nguyen

Còn bầy 17 Thẩm phán vô lương và bất tài này thì dù quét nhà cũng chẳng ai thèm mướn đâu! Đi chết đi!

Hồ Duy Hải rửa dao 2 lần, lần nào cũng ra vặn vòi nước rửa tay rửa dao. Xong, Hải cẩn thận lau dấu tay của mình – chừa lại dấu tay người khác!

Tương tự, Hải cầm dao cầm ghế cầm thớt, leo trèo, mở tủ, mở ngăn kéo, mở cửa, đi chân không, và Hải lau đúng dấu tay dấu chân của mình – chừa lại dấu tay người khác!

Tóc rơi trong lavabo, hẳn là Hải cũng dọn hết – chừa lại tóc của người khác…

Hiện trường đầy dấu tay, Hải tài ở chỗ là lau đúng của mình. Chứ người thường, đã lau là lau hết.

Nói chung, người có thể giắt con dao bén ngót 30cm trước hai quả cả rồi nhảy nhót rượt đuổi, thì làm việc gì mà không được!

 Cho dù người phàm không tin nhưng 17 thẩm phán lại tin.

@Ngo Thanhphuc

Nước & Dân

Nước & Dân

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – Đúng 9 giờ sáng ngày 10 tháng 10 năm 1972, tôi có mặt tại Trung Tâm Xã Hội Sài Gòn để trình diện nhập ngũ. Tới trưa, tôi được đưa vào Nguyễn Tri Phương. Đây là nơi tiếp nhận tân binh để đưa đi huấn luyện. Những thằng trong hạn tuổi quân dịch như tôi, theo luật Tổng Động Viên (sau Mùa Hè Đỏ Lửa) thì nhiều vô số nên cả đống phải nằm chờ khá lâu ở cái trại chuyển tiếp này.

Tôi ghét tất cả các trại lính và mọi thứ quân trường (Quang Trung, Thủ Đức, Lam Sơn…) mà mình đã trải qua nhưng riêng Nguyễn Tri Phương thì có một “điểm son” đáng được ghi nhận: nơi đây có một cửa hàng cho mướn sách truyện, và không thiếu một tác phẩm nào của Erich Maria Remarque. Tất cả đều được những dịch giả tài hoa của miền Nam (Huỳnh Phan Anh, Cô Liêu, Tâm Nguyễn, Vũ Kim Thư…) chuyển sang Việt ngữ:

– All Quiet on the Western Front (Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh) 

– Three Comrades (Chiến Hữu) 

– Arch of Triumph (Tình Yêu Bên Bờ Vực Thẳm) 

– Spark of Life (Lửa Thương Yêu Lửa Ngục Tù) 

– A Time to Love and a Time to Die (Một Thời Để Yêu và Một Thời Để Chết) 

– The Black Obelisk (Bia Mộ Đen)…

Tâm cảm phản chiến của Remarque rất hạp với cái “tạng” ngại chuyện súng đạn của tôi. Nước Đức bất an và tan hoang qua của ông cũng rất gần với không khí ngột ngạt mà tôi đang hít thở, ngay ở quê hương của chính mình. Tôi lại đang không có chuyện chi để giết thời giờ trong khi nằm chờ khoá nên truyện của Remarque tôi đều đọc đi đọc lại (vài lần) và trở thành “rành rẽ” về nước Đức hơn nhiều quốc gia khác ở Âu Châu.

Duyên nợ của tôi với Đức Quốc không chỉ ngừng ngang đó. Tuy chưa bao giờ có dịp được đặt chân đến xứ sở này nhưng người Việt thì sống ở nơi đây không ít, và họ có lắm nỗi băn khoăn . FB Đặng Đình Mạnh vừa đặt ra nhiều câu hỏi: Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao họ không đặt ra vấn đề buộc những người cộng tác với chính quyền Đông Đức cũ phải đi học tập cải tạo như đất nước ta?

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không hiểu tại sao người dân Đông Đức cũ đã không chọn con đường đào thoát, tỵ nạn ra nước ngoài như người dân đất nước ta? 

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao và như thế nào mà họ lại có thể chấp nhận một người vốn xuất thân từ một đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Đức thuộc Đông Đức cũ, nhưng chỉ 15 năm sau khi thống nhất, thì người này đã có thể trở thành người phụ nữ đầu tiên và trẻ nhất đắc cử vào chức vụ Thủ tướng đầy quyền lực của nước Đức thống nhất? 

Tại sao và tại sao?

Những “thắc mắc” vừa nêu có thể được giải đáp, phần nào, qua lời của FB Nguyễn Thọ“Trong những vấn đề dân tộc, người dân Đông Đức XHCN chỉ biết đến nước Đức. Thời tôi ở Đông Đức cuối những năm 1960, đội tuyển bóng đá Đông Đức chỉ là loại trung bình ở châu Âu, trong khi đội tuyển Tây Đức là một trong những đội đứng đầu thế giới. Các trận đấu của đội tuyển Tây Đức ngày đó luôn là những tuyệt tác nghệ thuật của các danh thủ Gerd Müller, Beckenbauer, Overrath, Netzer… Dân Đông Đức hay rủ nhau xem các trận này qua TV. Mặc dù đội Tây Đức luôn được ký hiệu trên TV là RFA hay FRG[1], dân Đông Đức chỉ hét cổ vũ “Deutschland, Deutschland” (nước Đức, nước Đức). Đó là dân trí lành mạnh!” 

Đoạn văn thượng dẫn khiến tôi chợt nhớ đến một trận đá bóng (khác) không được “lành mạnh” gì cho lắm, hay nói chính xác là “kinh hoàng” hơn nhiều – theo như “nguyên văn” cách dùng từ của người thuật chuyện: 

“Khi Việt Nam kịch liệt lên án Liên Xô, chị Nona người Nga, giáo sư đại học ở ta, vợ Nguyễn Tài Cẩn, mấy lần mếu máo bảo tôi là đi đường chị vẫn bị người lớn trẻ con ném đá, và chửi ‘đ. mẹ con xét lại!’ Dân Việt Nam say mê chính trị lắm, mà thể hiện chủ yếu bằng gạch đá và chửi tục, chị nói.

Nhân Nona nói đến gạch đá tham gia chống xét lại, tôi hỏi chị có biết quân đội 12 nước xã hội chủ nghĩa đá bóng với nhau ở Hà Nội hồi sắp ra Nghị quyết 9 không. Nona nói có, có nghe. Bảo kinh hoàng lắm. 

Tôi nói chính tôi chứng kiến. Tôi cùng ngồi xem với Trần Đức Hinh cục trưởng điện ảnh và Khánh Căn, báo Nhân Dân, sau này thông gia với Tố Hữu. Hôm ấy quân đội Liên Xô đấu với ai đó, tôi không nhớ – hình như Anbani,,, Dần lại thấy có những bị cói và sọt đan kín phủ báo ở chân mấy người xem gần chỗ chúng tôi. Thì ra đựng đầy đá củ đậu. Trận đấu bắt đầu được chừng mười lăm phút, người xem ở khắp bốn phía sân vân động thình lình nhất tề nhè vào cầu thủ Liên Xô ném đá tới tấp. Ba chúng tôi kinh ngạc. Khánh Căn nói phong trào quăng đá này nhất định là phải có tổ chức từ trên rồi.” (Trần Đĩnh. Đèn Cù II, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Ôi, tưởng đâu chứ trên thì còn có lắm chuyện tiểu nhân và bất nhân hơn thế rất nhiều:

“Sáng sớm ngày 9 tháng 4 năm 1979, phòng tổ chức mời vợ tôi lên. Cuộc gặp mặt gồm Bùi Đình Phảng, bí thư đảng ủy, Nguyễn Đình Mão, phó bí thư kiêm bệnh viện phó, Nguyễn Gia Hòa, đảng ủy viên, trưởng phòng Tổ Chức Hành Chính cùng một số nhân viên…

Sau vài lời rào đón, Nguyễn Đình Mão bảo vợ tôi: “Việt Nam và Trung Quốc đã xảy ra chiến sự, Chúng ta đang chống quân bá quyền, bành trướng Trung Quốc. Chị là người Việt, nhưng chồng chị là người Hoa. Chúng tôi đang giải quyết anh ấy nghỉ chế độ mất sức. Còn chị muốn tiếp tục công tác, chị phải làm đơn ly dị và trả lại 3 cháu cho anh ấy, nộp cho chúng tôi. Vợ tôi bàng hoàng… Thấy vợ tôi im lặng, trưởng phòng tổ chức Nguyễn Gia Hòa an ủi: Chúng tôi muốn giúp đỡ, cho chị lối thoát chứ không có ý gì khác.” (Lâm Hoàng Mạnh. Vui Buồn Đời Thuyền Nhân, Tiếng Quê Hương, Falls Church, VA: 2011).

Khi thù Nga, lúc oán Tàu. Nay thế này, mai thế khác, bao giờ cũng với thái độ quá khích, rồi giận cá chém thớt, trút hết mọi oán hận vào những lương dân vô tội. Đất nước “được” dẫn dắt bởi một đám người nông nổi, tiểu tâm, ngu tối (và thiển cận) đến thế nên đã tạo ra một “cái nền dân trí luôn là mảnh đất cho hận thù, ngờ vực và chia rẽ” – theo như nhận xét của FB Nguyễn Thọ:

“Chúng ta chưa có một nền dân trí mạnh vì còn rất ít người có thói quen suy nghĩ độc lập, tự đi tìm sự thật. Đa số người Việt trên mạng chỉ có một hình ảnh kẻ thù cố định hoặc một anh hùng vĩnh cửu. Khi coi Trung Quốc là kẻ thù thì mọi thứ của Trung Quốc đều xấu, đều đáng bị tiêu diệt. Ai chửi Trung Quốc thì là bạn, ai phê phán người chửi Trung Quốc là kẻ thù. Có lẽ không ở đâu mà Fake news có đất sống và phát tán nhanh như mạng Việt ngữ.

Cách đơn giản hóa vấn đề, chỉ biết có trắng và đen đang làm cho người Việt trở nên cực đoan. Người ta chửi nhau, hủy bạn bè vì những chuyện nhỏ như dùng Chloroquine chữa bệnh Covid-19, vì Bill Gates, vì Greta Thunberg hay vì Mẹ Nấm. Lên đến mức độ Trump thì đã có những cặp vợ chồng tan vỡ. Cái nền dân trí đó luôn là mảnh đất cho hận thù, ngờ vực và chia rẽ.”

“Cái nền dân trí luôn là mảnh đất cho hận thù, ngờ vực và chia rẽ” nếu chỉ giới hạn trong lãnh thổ VN thì có thể tìm ngay ra thủ phạm: Chủ Nghĩa Toàn Trị và học thuyết Marx – Lenin! Vấn đề là không ít người Việt đang sống ở nước ngoài, chả có liên quan (hay ảnh hưởng chi nhiều) với cái chế độ thổ tả hiện hành mà vẫn sẵn sàng chửi nhau, hủy bạn bè vì những chuyện nhỏ (như con thỏ) như thường. Vì cái nước mình nó thế nên dân mình không thể khác được chăng? 

14.05.2020

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

 danlambaovn.blogspot.com

Vụ án Bưu cục Cầu Voi: Tôi biết Nguyễn Văn Nghị đang ở đâu

Vụ án Bưu cục Cầu Voi: Tôi biết Nguyễn Văn Nghị đang ở đâu

Chu Mộng Long

Dân mạng share thông tin mới nhất từ báo Dân Việt về “nghi can số 1” Nguyễn Văn Nghị trong vụ án Cầu Voi. Phóng viên báo Dân Việt cho biết đã phối hợp với chính quyền xã Tân Hội, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo thông tin báo chí trước đó, nhưng không hề thấy tung tích. Có nghĩa là Nguyễn Văn Nghị có tồn tại ngoài đời nhưng không tồn tại ở địa chỉ mà điều tra viên đã xác định.

Tôi phán đoán địa chỉ xã Tân Hội, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nơi cơ quan điều tra cung cấp cho báo chí về thường trú của Nghị là thông tin giả để đánh lạc hướng sự truy tìm Nguyễn Văn Nghị và ngăn chặn hậu họa nếu các mưu đồ thực thi không trót lọt.

Tôi chắc chắn Nguyễn Văn Nghị biến mất cũng tương đương như cái thớt gỗ, con dao và cái ghế inox đã biến mất sau khám nghiệm hiện trường. Mất dụng cụ gây án, tức mất dấu vết gây án, bây giờ là mất luôn cả nghi phạm. Mất có hệ thống thì không thể là sai sót nghiệp vụ một cách vô tình. Chỉ có thể là cố tình phi tang để che giấu sự thật!

Đừng nói Nguyễn Văn Nghị là nhân vật ảo mà công an tạo ra nhằm đánh lừa dư luận hay đánh lạc hướng thủ phạm để dễ dàng bắt “hung thủ” Hồ Duy Hải. Nguyễn Văn Nghị hoàn toàn có thật. Có thật từ lời khai của các nhân chứng là những người sống quanh bưu cục Cầu Voi. Có thật trong hồ sơ vụ án qua hai văn bản chính thống: Kháng nghị giám đốc thẩm của Viện Kiểm sát Tối cao đòi đưa Nghị vào diện điều tra lại, và Phán quyết giám đốc thẩm trả lời Kháng nghị giám đốc thẩm. Tôi chỉ cần dẫn bản Phán quyết giám đốc thẩm:

Quá trình xác minh, Cơ quan điều tra đã xác minh nhiều đối tượng nghi vấn, trong đó có Nguyễn Văn Nghị và Nguyễn Mi Sol, nhưng đã làm rõ những đối tượng này không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan điều tra không đưa vào hồ sơ vụ án mà được lưu trong hồ sơ nghiệp vụ của Cơ quan Công an“. (Trích trang 19, 20).

Vậy thì, theo chỉ dẫn của Phán quyết giám đốc thẩm, đề nghị phóng viên Dân Việt, một là đến tại Cơ quan Công an Long An xin xác minh từ “hồ sơ nghiệp vụ” đã lưu; hai là gặp 2 điều tra viên Lê Thành Trung và Nguyễn Văn Minh hỏi cho rõ. Lưu ý là mới chỉ có hai công an viên xã chết (Nguyễn Văn Hải và Huỳnh Văn Minh tham gia dọn dẹp và tiêu hủy hiện trường), còn hai điều tra viên chính này chưa chết.

Nếu Cơ quan Công an Long An trả lời những gì liên quan đến Nguyễn Văn Nghị đã bị tiêu hủy chứ không lưu “hồ sơ nghiệp vụ” thì 17 thẩm phán trong Hội đồng giám đốc thẩm đã bị lừa hoặc nói dối. Mà nếu đã hủy thì thêm một bằng chứng Công an Long An đã hủy tang chứng, vật chứng cho đến nghi phạm một cách có hệ thống, tức có chủ ý hay bộc lộ rõ động cơ che giấu tội phạm.

Việc còn lại là khởi tố bị can Lê Thành Trung và Nguyễn Văn Minh tội làm sai lệch hồ sơ vụ án để điều tra vì sao tang chứng, vật chứng và nghi phạm biến mất. Lê Thành Trung, Nguyễn Văn Minh chắc chắn sẽ biết Nguyễn Văn Nghị được giấu ở đâu.

Có thể Nguyễn Văn Nghị không phải là thủ phạm, nhưng ít ra cũng có thể là nhân chứng, vì Nguyễn Văn Nghị được xác định là có mặt tại hiện trường đêm 13 tháng 1. Nếu Nguyễn Văn Nghị bị nghi oan thì cũng phải được minh oan chứ không chỉ Hồ Duy Hải,

Khi các cơ quan đại diện của nhân dân không phá án được thì nhân dân sẽ thực thi trách nhiệm phá án. Cụ Hồ từng dạy, chắc là công an thuộc nằm lòng: Công an chỉ có 2 con mắt, còn nhân dân có hàng triệu đôi mắt. Không lo giải quyết sớm vụ án này thì oan hồn còn báo oán tất cả những người có liên can chứ không thế lực thù địch, phản động nào lợi dụng được cả.

Ảnh chụp màn hình các tài liệu, bài báo liên quan tới bài viết

Tại sao Hồ Duy Hải lại là “hình nhân thế mạng” trong vụ án Bưu điện Cầu Voi

Tại sao Hồ Duy Hải lại là “hình nhân thế mạng” trong vụ án Bưu điện Cầu Voi

Thảo Ngọc

15-5-2020

Sau khi tìm mọi cách để xóa sạch mọi dấu vết liên quan đến Nguyễn Văn Nghị là nghi phạm chính trong vụ án giết hai cô gái tại bưu điện Cầu Voi vào tối 13/1/2008, thì công việc cần thiết và cấp bách nhất đối với Cơ quan điều tra tỉnh Long An là phải bằng mọi giá tìm cho bằng được một thanh niên có thể dùng làm “hình nhân thế mạng”, chịu tội thay cho Nguyễn Văn Nghị.

Vì với một vụ án giết người man rợ như vậy và với những bằng chứng quá rõ ràng và đầy đủ như vậy thì không thể dễ dàng cho chìm xuồng hay không tìm ra thủ phạm được. Điều này sẽ hết sức nguy hiểm, không những làm cho uy tín của ngành công an được cho là giỏi nhất thế giới mất hết thể diện, mà còn làm mất niềm tin của dân đối với chính quyền, có thể dẫn tới lung lay chế độ.

Vì vậy một kế hoạch đi tìm “hình nhân thế mạng” cho Nguyễn Văn Nghị được vạch ra.

Người đó phải đáp ứng rất nhiều tiêu chí và công cuộc điều tra ngâm cứu đi tìm nhân vật thế mạng này không hề đơn giản. Nhưng nhân vật thay thế Nguyễn Văn Nghị phải đáp ứng những yêu cầu nào?

1. Người đó phải là người thật thà, hiền lành nên dễ mớm cung, bức cung, dùng nhục hình để bắt nhận tội.

2. Phải là người địa phương, có quen biết 2 cô gái này, nên dân dễ tin.

3. Gia đình người này vào loại bình thường, không có thế lực mạnh để bênh đỡ, và kinh tế cũng vào loại trung bình, không có tiềm lực và khả năng chạy chọt lên những cửa lớn.

4. Phải có trình độ học vấn vừa phải, là sinh viên của trường cao đẳng thì thì càng tốt, trình độ không cao quá để có lý luận sắc sảo khó ép cung, và cũng không vào loại ù lỳ để có thể tiếp thu những kiến thức mớm cung sao cho những lời khai sẽ rất khớp và rất phù hợp với kịch bản đã đề ra.

5. Phải có ngoại hình khá, đẹp trai, ưa nhìn, thế mới phù hợp là bạn trai của 2 cô gái này, trong đó nạn nhân Hồng được cho là có hình thức mặn mà, là niềm mơ ước của nhiều chàng trai.

Với những tiêu chí trên, sau những cuộc họp kín và thảo luận sôi nổi, tính toán rất kỹ lưỡng, nhằm tìm ra con mồi phù hợp nhất để tránh những tình huống bất ngờ xảy ra có thể làm vỡ trận, và sau những cái “bắt tay dưới gầm bàn” cỏ mặc cả và thỏa thuận chia chác.

Vậy là con mồi Hồ Duy Hải được chọn làm “hình nhân thế mạng” cho Nguyễn Văn Nghị.

Vì vậy mà phải hơn 2 tháng sau ngày vụ án xảy ra, ngày 21 tháng 3 năm 2008, Hồ Duy Hải mới bị bắt.

Việc bố trí cho Nguyễn Văn Nghị được trốn an toàn thì quá dễ. Mọi giấy tờ cần thiết như số hộ khẩu, giấy Chứng minh Nhân dân, lý lịch trong sạch, một số bằng cấp nào đó, và gia đình có truyền thống cách mạng, có lòng yêu nước nồng nàn, có ý thức học hỏi để phấn đấu vươn lên v.v… Không loại trừ việc đi thẩm mỹ viện để thay hình đổi dạng để khi lỡ có bất ngờ gặp người quen thì họ không nhận ra.

Cứ nhìn lại vụ Đại tá Dương Tự Trọng, Phó Giám đốc Công an Hải Phòng đã sắp xếp lo liệu các loại giấy tờ cần thiết và tìm đường đưa anh trai mình là Dương Chí Dũng, Chủ tịch Vinalines, trốn ra khỏi Việt Nam một cách an toàn, mặc dù Dương Chí Dũng đã có lệnh truy nã quốc tế, thì đủ biết sự tài giỏi của những bàn tay ảo thuật đại tài như thế nào.

Chỉ tiếc là “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”, lưới trời lồng lộng nhưng khó thoát. Mặc dù Dương Chí Dũng đã đặt chân đến nước Mỹ với một lý lịch thân nhân rất trong sạch, nhưng đã không qua mặt được những con mắt nhà nghề của cảnh sát Mỹ, vì vậy mà Dương Chí Dũng không được nhập cảnh vào Mỹ, đành phải quay về Campuchia ẩn náu. Nhưng ở Campuchia thì có khác gì ở Việt Nam, lực lượng an ninh chìm nổi đông như quân Nguyên, có mặt khắp hang cùng ngõ hẻm. Cho nên, chỉ sau vài ba tháng, Dương Chí Dũng bị bắt đưa về Việt Nam xét xử và bị tuyên án tử hình.

Còn đối với Nguyễn Văn Nghị thì rất dễ dàng, vì chắc là thế lực hậu thuẫn rất lớn, lại chưa có bản án nào và chưa có lệnh truy nã quốc tế. Do đó Nguyễn Văn Nghị dù hiện đang sống ở Mỹ, ở Canada hay ở Úc, thì cũng không ai sờ vào cái lông chân của hắn ta.

Cái tài tình của cơ quan điều tra về lý do bắt Hồ Duy Hải là vì họ cho rằng trong điện thoại của nạn nhân Hồng có lưu số điện thoại của Hải, trong đó có nhiều tin nhắn thể hiện hai người có quan hệ tình cảm với nhau.

Nhưng trong hồ sơ vụ án, không có bất kỳ tình tiết nào thể hiện Hải có quan hệ tình cảm với nạn nhân Hồng, và Hải cũng không hề nhắn tin tình cảm nào với Hồng. Thậm chí theo lời khai của chị Đặng Thị Phương Thảo, bạn thân của hai nạn nhân thì “cả Hồng và Vân đều không có điện thoại riêng. Tại bưu điện Cầu Voi thời điểm năm 2008 chỉ có 1 điện thoại cũ hiệu Nokia thường dùng để nạp card cho khách hàng mà thôi”.

Cái tài tình nữa của Cơ quan điều tra là hồ sơ nhận tội của Hồ Duy Hải rất rõ ràng, đã nhận tự tay giết 2 cô gái này, mặc dù nhiều tình tiết lời khai không trùng hợp, không ăn khớp với nhau. Điều này được các Điều tra viên giải thích là do tâm lý Hồ Duy Hải bị hoảng loạn, thần kinh không vững khi hình dung lại các hành động giết người man rợ của mình.

Do đó tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, Hồ Duy Hải phản cung chối tội giết người, thì tòa hỏi sao không giết người mà mô tả các hành vi giết người rõ ràng và rành mạch như vậy? Hồ Duy Hải trả lời rằng đã được công an viên xã Nhị Thành là Nguyễn Thanh Hải kể lại vụ việc cho nghe. Ngay lập tức Viện kiểm sát liền có ngay bản cam kết của người công an viên này viết rằng, trong quá trình điều tra và giam giữ Hồ Duy Hải tại địa phương, anh ta không hề tiết lộ một thông tin gì về vụ án và cái chết của hai cô gái này cho Hồ Duy Hải. Điều đó chứng tỏ họ đã có những phương án đối phó với việc phản cung của Hồ Duy Hải từ trước.

Điều đáng tiếc 2 là công an viên Nguyễn Thanh Hải và Huỳnh Công Minh đã bị chết rất bí ẩn.

Chỉ vì màn kịch dùng người thế mạng cho Nguyễn Văn Nghị tuy đã được vạch ra rất chu đáo và cẩn thận, trong đó “bằng các biện pháp nghiệp vụ” của điều tra viên, mặc dù không giết người, nhưng những lời khai nhận tội và chứng cứ giết người của Hồ Duy Hải có rất đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Nhưng điều đó cũng không qua mắt được các nhà chuyên môn và tai mắt của nhân dân.

Trong hồ sơ vụ án đã bộc lộ quá nhiều vi phạm của Cơ quan điều tra và quá trình tố tụng.

Mặc dù tại hai phiên tòa Sơ thẩm và Phúc thẩm đều kết án Hồ Duy Hải tội tử hình, rồi đến phiên tòa Giám đốc thẩm cũng được 17 vị trong Hội đồng thẩm phán của TAND TC thống nhất cho rằng, mặc dù thừa nhận quá trình điều tra vụ án có nhiều sai sót, nhưng không làm thay đổi bản chất vụ án, nên đã bác kháng nghị của VKSND TC.

Cái sai lầm chết người của HĐTP TAND TC đã được các chuyên gia luật vạch ra, là tòa Giám đốc thẩm không áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội cho Hồ Duy Hải. Là phiên tòa không khách quan và thiếu công tâm, khi mà người ngồi ghế chánh án hôm nay cũng là người đã từng bác kiến nghị Giám đốc thẩm 6 năm về trước, và cũng là người giữ vai trò là Thủ trưởng Cơ quan điều tra ngay từ lúc xảy ra vụ án năm 2008.

HĐTP dám cho rằng Kiến nghị Giám đốc thẩm của Viện KSND TC không đúng pháp luật…

Luật sư Hà Huy Sơn cho rằng, Hội đồng Thẩm phán TAND TC có dấu hiệu “vi phạm pháp luật nghiêm trọng”.

Và vụ án đã vượt ra ngoài khuôn khổ của ngành Tư pháp, làm nóng Nghị trường Quốc hội, khi ba vị ĐBQH là ông Lưu Bình Nhưỡng, ông Lê Thanh Vân và LS Trương Trọng Nghĩa đã gửi Kiến nghị lên Tổng Bí thư-Chủ tịch nước và Chủ tịch QH, nêu lên những vi phạm nghiêm trọng của phiên tòa Giám đốc thẩm. Các vị ấy cho rằng: “HĐTP Tòa án tối cao đã không xem xét công tâm, khách quan,khoa học và đúng đắn đối với các vi phạm tố tụng của Cơ quan điều tra”.

Không dừng lại ở nghị trường QH, tại các buổi tiếp xúc cử tri của các vị ĐBQH TP.HCM, cử tri TP.HCM đề nghị xử lý nghiêm việc cố ý làm sai lệch hồ sơ trong vụ án Hồ Duy Hải.

Từ một phiên tòa hình sự đơn giản và rất dễ tìm ra thủ phạm, nhưng chỉ vì những động cơ đê hèn chứa đầy tội ác của một số người vô đạo đức và vô lương tâm mà họ đã làm cho vụ án trở nên vô cùng phức tạp, kéo dài đến gần 13 năm chưa có lối thoát, làm tốn không biết bao nhiêu thời gian, tiền bạc và tâm lực của nhân dân và của các nhà chuyên môn. Nay lại được “nâng lên một tầm cao mới”, là chính trị hóa vụ án, trở thành đấu trường cho các võ sĩ thi tài năng thi thố mọi ngón nghề trên võ đài.

Đây cũng là lần đầu tiên hai cơ quan chức năng cao nhất là VKSND Tối cao và TAND Tối cao chọi nhau tóe lửa vì không cùng quan điểm, không có chung cách nhìn nhận vụ án.

Hãy chờ xem màn kịch dùng “hình nhân thế mạng” của Công an Long An và được sự hỗ trợ đắc lực của các quan tòa cấp trên, trong đó người đứng đầu là ông Chánh án TAND TC Nguyễn Hòa Bình sẽ có kết quả ra sao.

Hãy chờ xem TAND TC có thắng được sự sôi sục phẫn nộ của nhân dân, của báo chí và dư luận trong và ngoài nước lên án sự bất công của phiên tòa này không. Khi mà tính mạng của Hồ Duy Hải đang đang được tính từng ngày, là “ngàn cân treo sợi tóc”, là “chỉ mành treo chuông”.

____

Chú thích:

(1) https://xuandienhannom.blogspot.com/2020/05/ls-ha-huy-son-co-dau-hieu-vi-pham-phap.html

(2) https://tuoitre.vn/dbqh-gui-kien-nghi-toi-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-va-chu-tich-quoc-hoi-vu-ho-duy-hai-20200514103854854.htm

(3) https://tuoitre.vn/dai-bieu-truong-trong-nghia-de-nghi-can-huy-an-dieu-tra-lai-vu-ho-duy-hai-20200513082215623.htm

Kiến nghị đòi công lý cho Hồ Duy Hải và cho cả nền tư pháp Việt Nam!

Kiến nghị đòi công lý cho Hồ Duy Hải và cho cả nền tư pháp Việt Nam!

Diễm Thi, RFA

2020-05-14

RFA.ORG
Một bản kiến nghị đòi công lý cho Hồ Duy Hải vừa được công khai trên mạng xã hội tối 14/5/2020. Bản kiến nghị không chỉ lên tiếng cho sinh mạng một con người, mà còn lên tiếng cho cả nền tư pháp Việt Nam hiện nay.

 AFP

Kiến nghị đòi công lý cho Hồ Duy Hải và cho cả nền tư pháp Việt Nam

Một bản kiến nghị đòi công lý cho Hồ Duy Hải vừa được công khai trên mạng xã hội tối 14/5/2020. Bản kiến nghị không chỉ lên tiếng cho sinh mạng một con người, mà còn lên tiếng cho cả nền tư pháp Việt Nam hiện nay.

Lên tiếng cho Hồ Duy Hải…

Kiến nghị được gởi đến ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước; bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội; bà Lê Thị Nga, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội cùng các Đại biểu Quốc hội.

Ngoài ra, kiến nghị được gửi đến đại diện nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế cũng như các vị đại sứ nước ngoài tại Việt Nam.

PGS-TS Hoàng Dũng, một trong những người tham gia soạn thảo kiến nghị cho biết, bản kiến nghị được gửi tới tay các vị lãnh đạo cùng lúc bằng email và bản cứng qua đường bưu điện. Ngoài ra, bản kiến nghị được công bố trên không gian mạng kèm đường link ký tên để đánh động dư luận, để mọi người bày tỏ thái độ của mình. Đây chính là sức mạnh của xã hội dân sự. Ông nói thêm:

“Chúng tôi gửi như vậy vì Việt Nam bây giờ mở cửa, mà việc mở cửa làm ăn với các nước khác, đặc biệt ở Âu Mỹ thì việc tuân thủ pháp luật không chỉ trong nước mà còn những nguyên tắc luật pháp phổ quát là hết sức quan trọng. Chúng tôi nhìn vụ án Hồ Duy Hải trong chiều hướng như vậy. Do đó, đối tượng để chúng tôi gửi kiến nghị đến rộng hơn rất nhiều.

Trước đây đã có một kiến nghị và tôi cũng đã ký, nhưng kiến nghị đó thực chất chỉ phản đối bản án mà thấy là không tuân thủ pháp luật nhưng không đề ra cách giải quyết. Kiến nghị ấy chỉ gửi đến Nhà nước Việt Nam.”

Những người soạn thảo và ký tên trên kiến nghị kêu gọi sự chú ý đặc biệt và hành động khẩn cấp về một án tử hình đang diễn ra tại Việt Nam, vụ án Hồ Duy Hải, bởi quá trình điều tra và xét xử vụ án đã đặt ra nhiều nghi vấn và gây quan ngại sâu sắc trong cộng đồng người Việt trong và ngoài nước.

Phải bầu chánh án mới, phê chuẩn các thẩm phán mới thì phiên tòa mới thoát khỏi cái ám ảnh của vụ cũ. Họ mới có đủ điều kiện khách quan để cân nhắc chứng cứ và xử lại.  – PGS-TS Hoàng Dũng

Sau khi trình bày các mốc chính vụ án Hồ Duy Hải từ năm 2008 đến nay, kiến nghị nêu ra bốn đề nghị. Trong đó hai đề nghị đầu tiên gồm: Thứ nhất, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam quyết định tạm dừng thi hành án tử hình đối với Hồ Duy Hải; thứ hai, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thành lập Ủy ban giám sát vụ án để đánh giá lại tính khách quan và chính xác của phiên giám đốc thẩm. Nếu phát hiện sai sót nghiêm trọng, Quốc hội tiến hành bãi nhiệm Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và các thành viên Hội đồng thẩm phán, bầu chánh án và phê chuẩn các thẩm phán mới.

  1. Hoàng Dũng giải thích:

“Nếu theo khuôn khổ luật pháp Việt Nam thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền yêu cầu tòa tối cao xử lại. Nhưng thế thì cũng triệu tập mấy ông cũ xử lại. Khó mà tưởng tượng mấy ông đó thay đổi quan điểm trong một sớm một chiều.

Phải bầu chánh án mới, phê chuẩn các thẩm phán mới thì phiên tòa mới mới thoát khỏi cái ám ảnh của vụ cũ. Họ mới có đủ điều kiện khách quan để cân nhắc chứng cứ và xử lại.

Để làm chuyện đó thì đầu tiên chúng tôi kiến nghị Chủ Tịch nước cho tạm dừng thi hành án tử hình với Hồ Duy Hải. Điều đó nằm trong quyền hạn của Chủ tịch nước, sau đó thì xử lại.

Xin lưu ý, chúng tôi không hề nói Hồ Duy Hải có tội hay vô tội mà là do họ vi phạm rõ ràng các nguyên tắc tố tụng hình sự, tức là pháp luật hình thức.”

Bà Nguyễn Thị Loan, mẹ Hồ Duy Hải Photo: Nguoiviet

Năm 2014, chỉ một ngày trước khi bản án tử hình được thi hành, Chủ tịch nước khi đó là ông Trương Tấn Sang đã ra lệnh tạm dừng tử hình Hồ Duy Hải. Dư luận cho rằng đó là do áp lực từ cả công chúng ở Việt Nam và các tổ chức quốc tế.

Tối 14 tháng 5 năm 2020, chị Nguyễn Hoàng Ánh, một người trong nhóm lên tiếng cho Hồ Duy Hải lúc đó, cũng là một trong những người nêu ý tưởng thành lập kiến nghị lần này nói với RFA từ Hà Nội:

“Lúc đó bọn mình có làm cái petition online. Mình cũng có một số liên lạc với các cơ quan bảo vệ nhân quyền để yêu cầu giúp đỡ. Lần trước chúng tôi cũng yêu cầu là ngưng án tử hình và phải xử lại. Chúng tôi không chấp nhận phiên tòa đấy.

Lúc đó không hẳn chỉ có nhóm bọn tôi. Có khá nhiều nhóm lên tiếng. Chúng tôi chỉ khác là có ‘yếu tố nước ngoài’, tức là có sự tham gia của  các Việt kiều và chúng tôi có gửi đến Ân xá Quốc tế, đại diện EU ở Việt Nam…

Chúng tôi nghĩ chắc chắn lúc đó có tác động của dư luận. Nếu không thì không có kết quả như vậy.”

… cũng là cho nền tư pháp Việt Nam

Ngay sau phiên giám đốc thẩm, dư luận trong và ngoài nước lên tiếng không chỉ vì sinh mạng Hồ Duy Hải mà còn vì nền tư pháp Việt Nam.

Hôm 14 tháng 5, Đại biểu quốc hội Lưu Bình Nhưỡng, Phó trưởng ban Dân nguyện và đại biểu Lê Thanh Vân đã gửi báo cáo kiến nghị Quốc hội giám sát tối cao vụ án Hồ Duy Hải.

Theo ông Nhưỡng, việc làm của ông là nhằm giữ nghiêm kỷ cương phép nước, giữ gìn uy tín của đảng, Nhà nước và hoạt động xét xử, bảo đảm công lý, quyền con người, quyền công dân và quán triệt quan điểm, thái độ của tòa án nhân dân, các cơ quan hoạt động tư pháp đối với việc thực hiện quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Phía chính quyền chỉ cần lắng nghe thì sẽ có những động thái nhất định nào đó. Tức là chúng tôi muốn góp ý để cho hệ thống tư pháp phải sửa sai. – Chị Nguyễn Hoàng Ánh 

PGS-TS. Hoàng Dũng nêu nhận định của mình:

“Trong những vị ĐBQH lên tiếng thì ông Lưu Bình Nhưỡng là luật sư, ông Trương Trọng Nghĩa cũng là luật sư. Họ lên tiếng phản đối tức họ đứng không chỉ với nhiệm vụ ĐBQH mà họ còn đứng ở góc độ luật sư, họ hiểu chuyên môn. Pháp luật văn minh phải là “thà tha lầm còn hơn giết oan”.

Nếu vụ xử này mà họ bất chấp pháp luật, bất chấp luật tố tụng hình sự mà kết án tử hình một người như thế, có nghĩa mọi người dân Việt Nam đều là những tử tù dự bị. Nhận thức vấn đề như vậy mà chúng ta cần phải lên tiếng.

Lên tiếng cho sinh mạng một người đã đành mà là cả nền tư pháp Việt Nam tác động đến toàn dân thì càng cần phải lên tiếng”

Ông nói thêm rằng, với hệ thống tư pháp hiện nay, muốn xét xử lại vụ án Hồ Duy Hải một cách công minh thì phải bãi nhiệm các vị trong Hội đồng thẩm phán để thay các vị khác. Đó là suy luận logic. Nhưng trong tình hình chính trị Việt Nam hiện nay thì đó là chuyện kinh thiên động địa chứ không dễ.

Cũng với quan điểm phải thay đổi nền tư pháp Việt Nam hiện nay với những phiên tòa bị coi như trò hề, như vở kịch tồi…chị Nguyễn Hoàng Ánh nhận xét:

“Chúng tôi nghĩ rằng nền tư pháp của Việt Nam đang cần rất nhiều sự cải tiến. Phía chính quyền chỉ cần lắng nghe thì sẽ có những động thái nhất định nào đó. Tức là chúng tôi muốn góp ý để cho hệ thống tư pháp phải sửa sai. Những bản án khác thì có cơ hội sửa sai chứ án tử hình thì không có cơ hội sửa sai nữa.

Tòa án xử vậy chúng tôi thấy có bất công, không hẳn chỉ vì số phận của Hải mà nó vì nền tư pháp nói chung của Việt Nam. Mình chỉ muốn một phiên tòa công bằng cho trường hợp này cũng như những trường hợp sau này.”

Chị cho biết nhóm của chị khá kỳ vọng với kết quả của bản kiến nghị lần này, ít nhất là với đề nghị tạm dừng thi hành án tử hình đối với Hồ Duy Hải, như năm 2014. Theo chị, chính quyền Việt Nam hiện nay cũng khá là nghe dân. Những vấn đề không liên quan đến chính trị thì ý kiến của người dân được lắng nghe hơn so với trước.

[Link để ký tên vào Kiến nghị: https://tinyurl.com/petitionhoduyhai]

THÔNG TIN VỀ HỒ DUY HẢI NGÀY 14/5/2020

Le Thien
THÔNG TIN VỀ HỒ DUY HẢI NGÀY 14/5/2020

Hôm nay, 14/5/2020, theo định lệ, gia đình Hồ Duy Hải đã tới trại giam để thăm Hải. Lần thăm trước là ngày 14/2/2020, do có dịch cúm Tàu nên gia đình đã chưa gặp Hải lần thăm tháng 3 và tháng 4 vừa rồi.

Hiện Hồ Duy Hải bị giam tại tỉnh nhà Long An, cách nhà khoảng 7km. Hôm nay, gia đình cho biết là bên trong và bên ngoài trại giam các lực lượng an ninh chìm nổi, dân phòng, kể cả CSGT rất dày đặc. Trước khi vào bên trong, máy soi quét an ninh đã kiểm tra mọi thực phẩm tiếp tế và khám xét kỹ người thân của Hải.

Gia đình cho biết, Hải sức khỏe và tinh thần đều tốt. Và dường như Hồ Duy Hải chưa biết đến kết quả giám đốc thẩm bản án Bưu điện Cầu Voi hôm 8/5/2020 vừa qua.

Gia đình dặn dò kỹ (lặp lại nhiều lần trong cuộc gặp), và Hải đã nghe được rõ là “không được ký hay viết bất kỳ văn bản nào về ân xá hay giảm nhẹ hình phạt”.

Gia đình Hồ Duy Hải cũng yêu cầu trại không được ép hay bắt Hải ký bất cứ một giấy tờ gì.

Cuộc thăm gặp diễn ra trong vòng kiểm soát chặt chẽ của an ninh và các cai ngục trại giam. Sức khỏe và tinh thần Hồ Duy Hải tốt.

Nguyễn Xuân Diện

Image may contain: 1 person, sitting

Quanh việc tòa án VN nói bức xúc vụ Hồ Duy Hải là do ‘truyền thông bẩn’

 

Ý kiến của một số luật sư về phản ứng mới đây của ngành tòa án Việt Nam trước bức xúc dư luận quanh kết quả xét xử Hồ Duy Hải.

Quanh việc tòa án VN nói bức xúc vụ Hồ Duy Hải là do ‘truyền thông bẩn’

Mỹ Hằng

BBC News Tiếng Việt

Bản quyền hình ảnhẢNH TƯ LIỆU GIA ĐÌNH HỒ DUY HẢI

Không lâu sau phiên xét xử giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải với kết luận y án tử hình gây bức xúc dư luận, tạp chí tòa án Việt Nam đã có những phản ứng bị cho là ‘đổ thềm dầu vào lửa.”

Cụ thể, trang báo chính thống của tòa án Việt Nam có bài viết với tiêu đề: “Vụ án Hồ Duy Hải: “Nhiễu thông tin”, “truyền thông bẩn” đã làm ảnh hưởng đến chính trị và cả nền tư pháp.”

Trong bài, người được phỏng vấn nói mẹ Hồ Duy Hải kêu oan cho con là do bị ‘các thế lực thù địch xúi giục’; và một số ĐBQH và nhà báo tự do ‘bị lợi dụng’ để ‘xuyên tạc sự thật, nói xấu chế độ’.

Cùng thời điểm, Phó Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Trí Tuệ xuất hiện trên báo chính thống cho hay ông đã làm việc với Bộ Công an để “xem xét, xử lý những thông tin đe dọa, xúc phạm thẩm phán’.

Bình luận quanh sự việc này, luật sư Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài và Phùng Thanh Sơn nhận định với BBC News Tiếng Việt rằng những phản ứng này cho thấy rõ ràng vụ án đã tạo nên một áp lực chính trị lớn lên ngành tư pháp, và cả thể chế Việt Nam.

‘Suy giảm nghiêm trọng uy tín đảng cầm quyền’

Luật sư Lê Công Định nói chưa bao giờ ông thấy một quyết định của TANDTC bị công luận, vốn đã không có niềm tin vào công lý và hệ thống tư pháp Việt Nam, phản đối nặng nề như lần này.

Nhà nước Việt Nam luôn “đổ thừa cho các thế lực thù địch kích động dân” mỗi khi vấp phải phản ứng từ dư luận…Luật sư Lê Công Định

“Họ phẫn nộ hơn khi quyết định tố tụng vừa kém thuyết phục về mặt pháp lý, vừa thiếu tầm vóc lẽ ra phải có ở một hội đồng thẩm phán cao cấp nhất trong hệ thống các toà án.”

Luật sư Định bình luận rằng khác với các nước trên thế giới, chức vụ chánh án ở Việt Nam không phải là một chức vụ chuyên môn trong ngành tư pháp, mà là chức vụ chính trị, được dùng như một bước đệm để các quan chức thăng tiến hơn trong bộ máy của ĐCS cầm quyền. Điều này càng thấy rõ hơn qua vụ Hồ Duy Hải.

“Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13 sắp diễn ra càng làm cuộc tranh đua giành một vị trí trong Bộ Chính trị trở nên ráo riết hơn. Dưới áp lực và ảnh hưởng từ sự lên án của công luận, ông Chánh án TANDTC Nguyễn Hoà Bình chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trước các đối thủ chính trị khác. Vì họ sẽ dùng sự thất bại đối với lòng dân do quyết định giám đốc thẩm vừa rồi gây ra như một điểm yếu để tấn công ông.”

Cũng đề cập đến lá bài chính trị, luật sư Phùng Thanh Sơn nhận định rằng quyết định y án có thể sẽ có lợi về mặt chính trị cho những cá nhân liên quan đến vụ án này trong thời kỳ trước đây, nhưng khả năng làm suy giảm nghiêm trọng uy tín của đảng cầm quyền.

“ĐCSVN lãnh đạo toàn diện, trong đó có hệ thống tư pháp. Nhưng quyết định bác kháng nghị vừa qua của Hội đồng thẩm phán TANDTC chứng minh một điều nền tư pháp Việt Nam không có công lý. Người dân sẽ đặt vấn đề về trách nhiệm và vai trò lãnh đạo của ĐCSVN ở đâu lại để xảy ra một phiên tòa mà nói như mẹ tử tù Hồ Duy Hải là “bầy hầy” như vậy.”

“Còn “bầy hầy” như thế nào chắc là mọi người đều thấy rõ trên báo lề phải, lề trái, và mạng xã hội. Nhiều ĐBQH cũng đã lên tiếng.”

“Theo tôi, để bảo vệ uy tín của mình, ĐCSVN không nên hành xử theo kiểu “đã phóng lao thì phải theo lao” mà phải dũng cảm sửa sai. Như thế sẽ truyền tải một thông điệp đến dân chúng rằng: “nếu hệ thống tư pháp không thể bảo vệ được công lý thì còn có ĐSCVN đứng ra bảo vệ”.

Luật sư Nguyễn Văn Đài cũng cho rằng thông qua báo chí chính thống của nhà nước Việt Nam, mạng xã hội, và báo chí quốc tế, ông nhận thấy gần như người Việt từ mọi thành phần xã hội đều phản ứng mạnh và quyết liệt sau quyết định của Hội đồng thẩm phán vụ Hồ Duy Hải, chủ yếu là “phê phán, chỉ trích”, thậm chí “miệt thị”.

Đổ cho một số ĐBQH ‘bị thế lực thù địch lôi kéo’ khi bày tỏ ý kiến trong vụ Hồ Duy Hải, là vi phạm pháp luật ở nhiều khía cạnh.

Luật sư Nguyễn Văn Đài

“Họ bày tỏ việc mất niềm tin vào ngành tư pháp của Nhà nước Cộng sản nói riêng và cả chế độ chính trị nói chung…”

Theo luật sư Đài, điều này đáng lo ngại cho ĐCSVN vì lâu nay đã đánh mất niềm tin trong nhân dân, vừa kịp lấy lại chút ít niềm tin sau vụ Covid-19 thì nay lại bị vụ Hồ Duy Hải làm ‘mất sạch’, thậm chí ‘làm khủng hoảng hơn niềm tin của người dân với chế độ’.

Luật sư Đài cũng nhìn nhận rằng lo ngại ảnh hưởng đến nền chính trị và tư pháp của chính phủ Việt Nam rất rõ ràng.

Bởi “họ đã dùng ngay các cơ quan truyền lớn của trung ương như VTV, VOV, báo Nhân dân, và báo của ngành Tòa án để đổ lỗi cho các “thế lực thù địch”, đổ lỗi cho việc “Nhiễu thông tin”, “Truyền thông bẩn”. Tôi cho rằng họ làm như vậy càng làm phản tác dụng, bởi vì các tầng lớp nhân dân khi phản ứng thì đều lấy thông tin vụ án từ các báo chính thống của nhà nước Cộng sản khi vụ án xảy ra từ tháng 1/2008 tới nay,” luật sư Đài phân tích.

“Đồng thời họ so sánh với các nội dung tranh luận giữa Hội đồng thẩm phán với các nội dung kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC cho thấy các nội dung đó đều là sự thật khách quan.”

‘Phản ánh đúng bản chất của truyền thông Cộng sản’

Bình luận về phản ứng của ngành tòa án mới đây, luật sư Lê Công Định nói nhà nước Việt Nam luôn “đổ thừa cho các thế lực thù địch kích động dân” khi vấp phải bất kỳ phản đối nào của dư luận, mà không nhận ra trách nhiệm của chính mình trong việc tạo ra sự phẫn nội đó.

“Các phát biểu của ngành tòa án cũng phản ánh lo ngại của nhà nước Việt Nam trước bất ổn xã hội có thể xảy ra,” ông Định nói.

Đề cập đến phát biểu mới đây của ông Phó Chánh án Nguyễn Trí Tuệ về việc ‘báo công an’ để xử lý các tin ‘đe dọa thẩm phán,” ông Định nói “thật buồn cười, không xứng với tư cách của một thẩm phán Toà án Tối cao”.

“Ở các nước văn minh, các thẩm phán của Toà án Tối cao làm việc tại trụ sở của toà, và kết quả công việc của họ là các phán quyết và quyết định được tuyên. Họ chỉ nhóm họp để phán quyết, không bao giờ xuất hiện ở nơi công cộng hay cơ quan nhà nước nào đó để phân trần công việc của toà án hay chỉ trích ai. Sự tôn nghiêm và đáng kính của hệ thống toà án và các thẩm phán chính là chỗ đó.”

“Còn ở Việt Nam, Phó Chánh án TANDTC lại ra ngoài phát biểu linh tinh, nhằm phân trần quyết định của mình, rồi đổ thừa và quy chụp động cơ chính trị cho các thế lực khác trước công kích của dư luận đối với quyết định của chính mình. Nói thật, tôi thấy ông Phó Chánh án TANDTC thật thiếu tư cách và tầm vóc lẽ ra phải có và nên giữ gìn. Ở nước này, chưa có nhân vật chính trị, nhân vật chính quyền hay định chế nhà nước nào thực sự biết giữ thể thống cho chính họ và hệ thống của họ.”

“Tôi thấy các thẩm phán Việt Nam thật thảm hại về tư duy và thiếu tư cách của một quan toà đúng nghĩa.”

Đổ lỗi cho ‘truyền thông bẩn’, ‘thế lực thù địch’ là ‘một chiều’ và ‘quy chụp.

Luật sư Phùng Thanh Sơn

Về phát biểu rằng có ĐBQH bị “lợi dụng” trong vụ Hồ Duy Hải, luật sư Định nói:

“Các Đại biểu quốc hội nào bị cáo buộc phi lý như vậy có quyền lên tiếng phản bác, thậm chí yêu cầu cơ quan điều tra xem xét dấu hiệu về hành vi vu khống của cá nhân thẩm phán nào đã cáo buộc vô căn cứ như thế.”

Luật sư Đài cũng có chung quan điểm với luật sư Lê Công Định, rằng ông “thấy buồn cười” về phản ứng của ngành tòa án Việt Nam, bởi “nó phản ánh đúng bản chất của truyền thông của nhà nước Cộng sản là không bao giờ dám nhận sai lầm, khuyết điểm mà luôn tìm cách đổ lỗi cho người khác hay “thế lực thù địch.”

“Chúng ta cần phải hiểu rằng việc chuẩn bị cho phiên tòa Giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải được tính toán rất kỹ càng. Thông thường Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chỉ gồm 3 thẩm phán. Việc có 5 hay 7 thẩm phán là rất hiếm. Bởi vì họ còn đề phòng trường hợp khi một quyết định của phiên tòa giám đốc thẩm bị hủy bỏ hay phải xét xử lại thì phải có các thẩm phán khác cho một phiên xử khác. Vì các thẩm phán đã tham gia phiên xử trước đó sẽ không được tham gia phiên xử lại.”

“Nhưng trong phiên tòa giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải, thì toàn bộ 17 thẩm phám của HĐPT TANDTC đều tham gia. Việc này là để quyết định cho một quyết định đã được chuẩn bị trước. Họ làm vậy là muốn cho nhân dân biết rằng quyết định của toàn thể HĐPT là quyết định đúng, không thể có sai lầm, và không thể bác bỏ vì không còn thẩm phán để xét xử lại.”

“Bởi vậy trong 17 nội dung biểu quyết của Hội đồng Thẩm phán đều là 17/17 thẩm phán tán thành. Nhưng ngành tòa án và cả chế độ đã bất ngờ về phản ứng quá mạnh của mọi tầng lớp nhân dân. Buộc tờ báo ngành tòa án phải có bài viết để đổ lỗi cho “thế lực thù địch”, “nhiễu thông tin” và “truyền thông bẩn”. Tôi cho rằng chính bài báo nêu trên mới tự làm bẩn tờ báo của ngành tòa án, mà hậu quả là họ phải gỡ bỏ.”

‘Một chiều và quy chụp’

Luật sư Đài cho rằng việc đổ cho một số ĐBQH ‘bị thế lực thù địch lôi kéo’ vi phạm pháp luật ở nhiều khía cạnh.

“Thứ nhất là tội vu khống và chụp mũ. Khi nói như vậy thì nhà báo và cơ quan báo chí phải có bằng chứng “thế lực thù địch” ở đây là ai? Tổ chức nào? Họ đã liên hệ hay lợi dụng các Đại biểu Quốc hội như thế nào? Nhưng việc viết và đăng bài báo có nội dung chụp mũ, vu khống, đổ lỗi cho các “thế lực thù địch” đã trở thành bản chất của truyền thông nhà nước Cộng sản nói chung.”

“Thứ hai, là nhà báo và cơ quan báo ngành tòa án đã xúc phạm đến các ĐBQH khi các Đại biểu đang thực thi quyền giám sát của họ. Họ có quyền nêu quan điểm, đánh giá của họ về quyết định của Hội đồng Thẩm phán. Như đã nói ở trên, do bài báo đã có nội dung vi phạm pháp luật và bị công luận phản ứng mạnh nên họ đã phải gỡ xuống.”

Luật sư Phùng Thanh Sơn cũng cho rằng việc đổ lỗi cho ‘truyền thông bẩn’, ‘thế lực thù địch’ là ‘một chiều’ và ‘quy chụp’, không hề có bằng chứng và không hề có tính thuyết phục; và rằng chính quyết định vừa qua của HĐTP mới là nguyên nhân chính làm ảnh hưởng đến vị thế của chế độ, chứ không phải do ‘truyền thông bẩn’.

 Thanh Sơn cũng chỉ ra mâu thuẫn của ngành tòa án, rằng một mặt nói rằng quyết định của HĐTP “được đông đảo người dân ủng hộ”, một mặt lại cho đại diện ngành tòa án lên báo để “ra sức chống chọi với dư luận”.

Với cáo buộc ĐBQH bị các thế lực thù địch ‘lợi dụng’, ông Sơn nói ông không biết ĐCSVN có quy định nội bộ nào cấm ĐBQH không được sử dụng mạng xã hội do sợ “tự diễn biến, tự chuyển hóa” hay không. Nhưng về mặt pháp lý, ĐBQH có quyền đăng ý kiến cá nhân lên Facebook mà không nhất thiết phải dùng đến quyền giám sát của Đại biểu Quốc hội. Pháp luật không cấm nếu đó không phải là nội dung vu khống, sai sự thật, mà chỉ nêu quan điểm, kiến nghị của người viết.

“Nếu HĐTP TANDTC làm đúng quy định pháp luật, tuyên hủy án trả hồ sơ điều tra lại thì chắc không có “thế lực thù địch nào có thể lợi dụng được,” luật sư Sơn nói.

Bài báo của ngành tòa án nói gì?

 Image captionẢnh chụp màn hình bài báo trên Tạp chí Tòa án Việt Nam

Trong bài báo nói trên, người được phỏng vấn là ông Nguyễn Minh Tâm, nguyên Giám đốc Trung tâm Khoa học và Tư liệu Giáo khoa, Học viện Chính trị Công an Nhân dân, người được cho là “đã nghiên cứu rất sâu vụ án từ những ngày đầu xảy ra”.

Ông Tâm cho rằng các điều tra viên tỉnh Long An đã làm việc ‘logic, khoa học, hợp lý’, và rằng phán quyết của Hội đồng thẩm phán là ‘Hoàn toàn đúng quy định của pháp luật’.

Đáng chú ý là, ông Tâm cho rằng việc mẹ Hồ Duy Hải một mực kêu oan cho con là do “đã bị một số kẻ lợi dụng và sau đó là rất nhiều người khác, ở các tầng lớp, các nhóm xã hội khác nhau, lợi dụng”.

Ông kết luận: “Dư luận bị nhiễu thông tin, điều này có hệ quả đặc biệt nghiêm trọng.”

Ông giải thích quan điểm này rằng “hệ thống thông tin” đã “xào xáo, cắt xén, thêm gia vị”, để làm thành vấn đề ‘hot”; ‘tung hỏa mù’ để ‘sự việc bị che mờ’, ‘khiến cơ quan tố tụng lúng túng’ còn ‘người dân thì nghi ngờ’.

Ông Minh cũng đề cập đến “làn sóng thổi phồng, bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu chế độ của các thế lực phản động trong và ngoài nước”, và rằng vụ Hồ Duy Hải đã bị “các thế lực chính trị cơ hội lợi dụng”.

“Trước đây những thành phần này tập trung vào vụ Đồng Tâm,” và giờ thì “lại bám vào vụ Hồ Duy Hải, coi như một miếng mồi mới, để tiếp tục trào lưu kích động dư luận, xuyên tạc, bịa đặt, chống phá nhà nước,” ông Minh nói.

Ông Minh cũng đặc biệt nhắc đến việc “Đại biểu Quốc hội và hai nhà báo tự do bị lợi dụng”. Ông Minh không nêu tên ĐBQH nào, nhưng bài báo đề cập tên tắt của nhà báo tự do Tr.C.H.D.

Để ngăn chặn, ông Minh đề xuất báo cáo những việc này lên ông Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị.

ĐÂY LÀ LÚC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI PHẢI THỂ HIỆN TRÁCH NHIỆM

Image may contain: 1 person, sitting

Liên Trà

Fb Nguyen Ngoc Chu

ĐÂY LÀ LÚC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI PHẢI THỂ HIỆN TRÁCH NHIỆM

Hội đồng Thầm phán (HĐTP) Tòa án Nhân dân Tối cao (TANDTC), với quyết định bác kháng nghị của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao (VKSNDTC) về vụ án oan Hồ Duy Hải vào trưa ngày 08/5/2020, đã giáng một đòn chí mạng lên uy tín nền tư pháp nước CHXHCN Việt Nam.

I. BẢY NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN PHẪN NỘ CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HĐTP TANDTC

Cả xã hội phẫn nộ. Chưa bao giờ ở Việt Nam dấy lên một làn sóng phản đối dữ dội HĐTP TANDTC như vậy. Không chỉ phẫn nộ, mà 17 thành viên HĐTP TANDTC đã bị nhân dân cả nước lên án qua mạng xã hội. Sau đây là 7 lý do mà nhân dân cả nước lên án 17 thành viên HĐTP TANDTC.

1. COI THƯỜNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Là cơ quan xử án tối cao của cả nước, hơn bất cứ ai hết, HĐTP TANDTC phải là nơi tuân thủ nghiêm ngặt nhất Pháp luật (PL) Tố tụng Hình sự (TTHS). Thế nhưng, biểu quyết số 1 (trưa ngày 08/5/2020) của HĐTP TANDTC
“Vụ án đã có những sai sót về tố tụng như đã nêu. Những sai sót đó có làm thay đổi bản chất vụ án hay không?”
cùng kết quả 17/17 thành viên biểu quyết “Không thay đổi bản chất vụ án” – là hành động vi phạm PLTTHS, là từ bỏ sự bắt buộc tuân thủ PLTTHS, là sự coi thường PLTTHS.

Cơ quan thực thi pháp luật cao nhất nước mà coi thường pháp luật thì làm sao bảo đảm được công lý?

2. TRÌNH ĐỘ KÉM

Câu hỏi số 1 của HĐTP TANDTC đưa ra để biểu quyết là một câu hỏi tối nghĩa. Thế nào là “thay đổi bản chất vụ án”? Trên thực tế, ý của HĐTP TANDTC muốn diễn tả:

“Vụ án đã có những sai sót về tố tụng như đã nêu. Những sai sót đó có dẫn đến việc xác định sai thủ phạm hay không?”

Cả 17/17 thành viên của HĐTP TANDTC mà không có khả năng dùng đúng câu chữ để diễn tả đúng điều cần diễn tả, thì làm sao người dân có thể tin vào sự đúng đắn của họ trong xét xử các vụ án phức tạp?

Các thẩm phán HĐTP TANDTC phải là những người sử dụng câu từ cô đọng và chính xác nhất, vì họ là những người làm luật và xét xử án. Đó là đòi hỏi tối thiểu của quan tòa. Câu hỏi số 1 đưa ra biểu quyết đã phơi bày sự yếu kém ở mức thảm hại của 17 thẩm phán HĐTP TANDTC – dù được bọc bởi danh hiệu tiến sĩ luật và thạc sỹ luật.

Câu hỏi số 1 đưa ra biểu quyết của HĐTP TANDTC lần nữa chứng minh sự cần thiết yêu cầu của Chánh án TANDTC Nguyễn Hòa Bình: “ngành tòa án sẽ mở lớp tập huấn để viết bản án theo mẫu định sẵn. Lớp học này sẽ mời các giáo viên dạy văn đến dạy về chính tả, ngữ pháp và từng dấu chấm, dấu phẩy…” (https://www.tienphong.vn/…/nganh-toa-an-se-moi-giao-vien-de…).

Không ai có thể tin vào sự sáng suốt tìm ra công lý trong xét xử án ở các quan tòa khi mà chính họ không có khả năng viết đúng câu chữ.

3. KHÔNG ĐỘC LẬP

Vụ án Hồ Duy Hải gây phẫn nộ trong toàn xã hội vì vi phạm nghiêm trọng PLTTHS. Không ai bảo vệ cho tội phạm. Vấn đề là còn vô số nghi vấn trong vụ án chưa được trả lời. Cho nên cả xã hội đòi hỏi một cuộc điều tra mới để xác định đúng tội phạm mà không dẫn đến án oan.

Thế mà trong số cả 17 thành viên HĐTP TANDTC không tìm ra 1 thẩm phán có ý kiến khác biệt. Đây là một sự thống nhất giả tạo. Vì có sự chỉ đạo? Vì không ai dám công khai giơ tay biểu quyết ngược lại? Nó chứng minh sự phụ thuộc trong hoạt động của HĐTP.

Một HĐTP mà các thành viên không độc lập trong xét xử thì đừng mơ đến công lý trong quyết định xử án của HĐTP đó.

4. KHÔNG CÔNG TÂM

Không thể liệt kê ra đây những phi lý trong vụ án oan Hồ Duy Hải mà truyền thông đã đề cập tới trong mấy ngày qua. Chỉ nhấn mạnh rằng, hoạt động của HĐTP TANDTC trong các ngày 6-8/5/2020 toát lên một định hướng xuyên suốt là nhằm kết tội tử hình cho Hồ Duy Hải, mà không hủy án điều tra lại để đi đến tận cùng sự thật.

Cả 4 câu hỏi đưa ra biểu quyết đều nhằm một mục đích duy nhất là bác bỏ kháng nghị của VKSNDTC. Chối bỏ nguyên tắc ‘suy đoán vô tội’. Bỏ qua các vi phạm nghiêm trọng PLTTHS. Khẳng định không ép cung. Khẳng định Hồ Duy Hải tự nhận phạm tội. Khẳng định lời khai phù hợp với diễn biến vụ án mà không đưa được các chứng cứ và tang vật có căn cứ pháp lý vững chắc… HĐTP TANDTC vẫn khăng khăng kết tội tử hình Hồ Duy Hải là đúng pháp luật, đúng người, đúng tội. HĐTP TANDTC thẳng thừng bác bỏ một cuộc điều tra lại vụ án. Tất cả toát lên một mục đích đã định trước. Tất cả toát lên sự không công tâm – không xứng với vị thế quan tòa ngồi ở vị trí HĐTP TANDTC.

5. PHÁ BỎ CÁC CHUẨN MỰC NỀN TẢNG CỦA GIÁO DỤC

Cầu thiết kế sai thì cầu sập. Máy bay thiết kế sai thì máy bay nổ tan xác. Đề ra sai không cần phải giải tiếp. Lời giải sai thì không thể đưa đến kết quả đúng.

Câu hỏi biểu quyết “Vụ án đã có những sai sót về tố tụng như đã nêu. Những sai sót đó có làm thay đổi bản chất vụ án hay không?” và câu trả lời “Không thay đổi bản chất vụ án” – là sự phá bỏ các chuẩn mực nền tảng của giáo dục. Rằng không phụ thuộc vào ra đề sai, không phụ thuộc vào lời giải sai, không phụ thuộc vào tính toán sai, cứ dựa vào đáp số mà quyết định. Đề thi Tốt nghiệp PTTH trên toàn quốc sắp tới đây sẽ chẳng cần phải có đáp án và barem chấm bài. Vì những sai sót từ đầu và trong quá trình làm bài sẽ “không thay đổi bản chất lời giải”!

Các thầy cô giáo dạy luật sẽ giảng cho học trò như thế nào về PLTTHS khi học trò viện dẫn trường hợp câu hỏi số 1 trên của HĐTP TANDTC?

6. AI CŨNG CÓ THỂ TRỞ THÀNH HỒ DUY HẢI

Một đội điều tra yếu kém đến thảm hại về nghiệp vụ tự mình phải thừa nhận sai sót. Một sự vi phạm trắng trợn PLTTHS. Một hồ sơ được lập lên từ 2 nhân tố đó vẫn làm “cơ sở tin cậy” để xử án?

Các nghi can quan trọng nhất bị cố tình bỏ lọt. Dấu vân tay trên hiện trường không được đối chiếu với dấu vân tay của các nghi can bị bỏ lọt. Các chứng vô can về dấu vân tay của Hồ Duy Hải không cản trở buộc tội Hồ Duy Hải. Ai có thể không tin là đã bỏ lọt tội phạm?

Không bảo vệ hiện trường. Đốt tang chứng vật chứng. Ngụy tạo tang chứng vật chứng mới. Ai có thể tin được là đã xử đúng người?

Nói không thấy dấu hiệu ép cung mà trên thực tế thì hầu như không vụ nào không ép cung. Dựa vào lời khai bị can để khẳng định có tội. Ai có thể tin là không có án oan?

Điều sợ hãi của người Việt hiện nay là bất cứ ai cũng có thể trở thành một Hồ Duy Hải, một Nguyễn Thanh Chấn, một Huỳnh Văn Nén, và một Hàn Đức long…

7. LÀM PHƯƠNG HẠI ĐẾN UY TÍN CỦA NỀN TƯ PHÁP VIỆT NAM

Việc coi thường PLTTHS của HĐTP TANDTC cho thấy HĐTP TANDTC “ngồi xổm” trên PLTTHS. Một cách trực tiếp, HĐTP TANDTC đã khẳng định đúng sai tùy thuộc sở thích của HĐTP TANDTC. Họ thích thì họ đưa ra điều khoản mới như điều biểu quyét số 1. Họ không bị ràng buộc bởi PLTTHS của nước CHXHCN Việt Nam. Ho cũng không phụ thuộc vào lý luận và thực tiến PLTTHS của thế giới. Họ cho nhân dân Việt Nam và thế giới biết rằng ở Việt Nam không cần tuân thủ PLTTHS.

Câu hỏi 1 đưa ra biểu quyết của HĐTP TANDTC đã làm giảm lòng tin của nhân dân vào nền tư pháp của nước CHXHCN Việt Nam, làm phương hại đến uy tín của ngành tư pháp nước CHXHCN Việt Nam trên trường quốc tế.

II. TRÌNH ĐỘ ĐIỀU TRA VIÊN YẾU KÉM ĐẾN SỢ HÃI

Không bảo vệ hiện trường vụ án. Không bảo vệ các tang chứng vật chứng vụ án (đốt các phương tiện gây án như dao thớt). Tùy tiện mua dao thớt từ chợ làm vất chứng vụ án. Không xét dấu vân tay các nghi can. Bỏ qua các nghi can quan trọng. Không phân tích dấu vết máu để xác định thời gian gây án. Chỉ dựa vào lời khai của bị can để kết tội. Và hàng loạt các lỗi nghiêm trọng khác trong lập hồ sơ vụ án. Chính các điều tra viên đã tự nhận thiếu sót.

Tính mạng con người mà được gửi gắm vào các điều tra viên yếu kém như vậy thì không ai có thể an toàn tính mạng.
Làm sao ngành tư pháp Việt Nam lại có thể có những điều tra viên yếu kém đến mức như vậy? Do bẳng giả? Do mua chỗ làm việc?

Do bất cứ nguyên do gì đi nữa thì tính mạng con người không thể được gửi gắm vào các điều tra viên yếu kém như vậy. Vì không ai có thể an toàn tính mạng dưới hồ sơ của các điều tra viên này lập nên.

III. HỒ DUY HẢI CÓ BỊ ÉP CUNG KHÔNG?

1. Có nơi nào thấy chứng cứ tham nhũng? – mà tham nhũng khắp mọi nơi. Có nơi nào thấy chứng cứ chạy chức chạy quyền? – mà chạy chức chạy quyền diễn ra khắp mọi nơi. Có vụ án nào có dấu hiệu ép cung? – mà ép cung diễn ra khắp mọi nơi… Đó là nghịch lý trớ trêu cay đắng của xã hội Việt Nam hiện nay.

Cho nên, nhân dân lo lắng Hồ Duy Hải bị ép cung mặc dù HĐTP TANDTC cho rằng Hồ Duy Hải không bị ép cung.

2. Tòa án cũng đã từng khẳng định ông Nguyễn Thanh Chấn không bị ép cung. Quan tòa xét xử khẳng định không oan sai. Chỉ nhờ tội phạm ra đầu thú ông Nguyễn Thanh Chấn mới thoát tội sau hơn 10 năm bị giam cầm oan. Lúc đó mới nghe được ông Nguyễn Thanh Chấn nói về “không bị ép cung”:

“Mày có khai không? Tao cho mày chết”. “Cán bộ Trần N.L bắt tôi vẽ dao, tôi không vẽ loại dao gì lại bảo cho mày cái búa vào đầu cho mày chết bây giờ. Cán bộ H.T trên tay lúc nào cũng cầm dao hăm dọa, ép buộc tôi phải nhận. Tiếp đó, cán bộ Ngô Đ.D đọc và bắt tôi viết đơn tự thú ngày 28/9/2003”.
“Cũng trong trại Kế, tôi phải tập đâm bên nọ, đâm bên kia. Họ cho một tù nhân giả làm cô Hoan. Cán bộ đưa cho cái thìa, cái lược để làm hung khí. Tập nhiều lần cho thành thạo, làm đi làm lại để đúng ý họ. Sau đó, họ mượn nhà dân, bắt tôi diễn lại và quay phim thực nghiệm hiện trường”, ông kể tiếp.
“Gần 2 tuần tôi tập tành giết người. Hàng ngày họ đưa tới 1 phòng, trong phòng có 1 hình nộm, 1 con dao giả, cứ tập 8h bắt đầu, 11h30 nghỉ, chiều 14h tới 16h30. Mấy ngày đầu còn người đứng trông, sau đó tự tập, tập đến khi thành thục, thì thực hiện, tức biểu diễn, rồi họ chụp ảnh…”(https://vnexpress.net/ong-nguyen-thanh-chan-mo-ta-viec-bi-e…).

3. Đến ông cựu Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Bắc Son quyền lực mà cũng phải phản cung thì có ai không sợ bị ép cung?

Cho nên, không thể không nghi ngờ rằng Hồ Duy Hải có thể đã bị ép cung.

IV. ĐÂY LÀ LÚC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI PHẢI THỂ HIỆN TRÁCH NHIỆM

1. Xử tử một người vì phạm tội giết người thì phải chứng minh được người đó đã phạm tội đích thực. Phải xóa bỏ hết mọi nghi ngờ. Còn một nhân tố nghi ngờ thì vẫn không thể kết tội.

Vụ án Hồ Duy Hải đang đầy rẫy những nhân tố nghi ngờ thì làm sao có thể kết án? Tại sao không mở một cuộc điều tra mới để loại bỏ mọi nghi ngờ? Tại sao khẳng định Hồ Duy Hải phạm tội mà lại sợ một cuộc điều tra mới? Vụ án Hồ Duy Hải đã kéo dài hơn 12 năm, kéo dài thêm 6 tháng hay 1 năm nữa không phải là nguyên do để ngăn cản một cuộc điều tra lại.

2. Oan hồn hai nữ nhân viên Bưu điện Cầu voi sẽ không được giải oan nếu tòa án không trị tội kẻ đã giết họ, càng không chấp nhận gây thêm những oan hồn mới.

Chưa đủ cơ sở để khẳng định Hồ Duy Hải phạm tội giết người. Cần một cuộc điều tra mới từ một đội điều tra giỏi và công tâm để tìm đúng tội phạm. Bắt đúng tội phạm để xử án mới giải oan được cho hai nữ nhân viên Bưu điện Cầu voi. Chưa bắt đúng tội phạm là oan chưa được giải.

3. Hồ Duy Hải với sác xuất rất lớn là bị ép cung. Chỉ dựa vào lời khai (có khả năng lớn bị ép cung) của Hồ Duy Hải rồi kết án tử hình Hồ Duy Hải là không đủ căn cứ, là vi phạm pháp luật xử án của nước CHXHCN Việt Nam.

4. Hai câu hỏi số 1 và số 3 mà HĐTP TANDTC đưa ra để biểu quyết hôm 08/5/2020 không chỉ cho thấy sự coi thường PLTTHS mà còn chứng tỏ trình độ yếu kém của HĐTP.

Câu hỏi thứ 3: “Quyết định số 639/QĐ-CTN ngày 17/5/2012 của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm án tử hình của Hồ Duy Hải đang có hiệu lực như vậy quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát có đúng pháp luật hay không?” đã được 17/17 thành viên biểu quyết “ Không đúng pháp luật”.

Nếu “Không đúng pháp luật” thì HĐTP TANDTC phải trả lời ngay cho VKSNDTC từ đầu, mà không cần phải mở phiên tòa Giám đốc thẩm dài đến 3 ngày để bác kháng nghị của VKSNDTC. Một khả năng khác nữa là HĐTP TANDTC có thể mở phiên họp chỉ để xem xét tính hợp pháp của kháng nghị VKSNDTC.

5. Có dấu hiệu cho thấy HĐTP TANDTC đã không công tâm trong quyết định bác kháng nghị của VKSNDTC hôm 08/5/2020. Các thành viên HĐTP TATCND đã không độc lập trong đưa quyết định.

6. Đây là lúc Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải hành động để bảo vệ công lý cho người dân, để chứng minh nhà nước CHXHCN Việt Nam có nền tư pháp công bằng, để chứng minh Quốc hội là đại diện cho quyền lợi của nhân dân.

7. Đây cũng là lúc những người nhìn thấy oan sai trong vụ án Hồ Duy Hải, mà đã dũng cảm lên tiếng bảo vệ, như bà Lê Thị Nga – Chủ nhiệm UBTPQH, như ông Lê Minh Trí – viện trưởng VKSNDTC, không thể lùi bước trước cái ác. Nếu các vị dừng bước thì những người dân “thấp cổ bé họng” làm sao có thể chống chọi được với cái ác đầy quyền lực? Nhân dân cả nước đang trông cậy vào các vị.

8. Các vị ĐBQH Lê Thanh Vân và Lưu Bình Nhưỡng đã cất tiếng nói bảo vệ công lý. Còn gần 500 ĐBQH khác ở đâu? Hàng ngàn luật sư, hàng trăm thẩm phán có trình độ ở đâu?

Bất cứ ai cũng có thể rơi vào tình cảnh của Hồ Duy Hải.

9. Những bà mẹ Việt Nam đã khô nước mắt khóc con trong chiến tranh. Những bà mẹ Việt Nam không thể mất con một cách oan trái khi luật pháp không được thượng tôn trong thời bình.

12 năm với hơn 2000 đơn kêu oan, nước mắt của mẹ tử tù Hồ Duy Hải đã chảy thành sông. Trời đất quỷ thần đều phải cảm động.

P/S: DANH SÁCH HĐTP TANDTC:

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
NGUYỄN HÒA BÌNH
Năm sinh: 1958
Quê quán: Hành Đức, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi
Trình độ chuyên môn: Phó Giáo sư, Tiến sỹ Luật
Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao
LÊ HỒNG QUANG
Năm sinh: 1968
Quê quán: Vĩnh Bình Nam, Vĩnh Thuận, Kiên Giang
Trình độ chuyên môn: Tiến sỹ Luật, Cử nhân kinh tế
Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
NGUYỄN TRÍ TUỆ
Năm sinh: 1963
Quê quán: Mão Điền, Thuận Thành, Bắc Ninh
Trình độ chuyên môn: Tiến sỹ Luật
Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao
NGUYỄN THÚY HIỀN
Năm sinh: 1960
Quê quán: Hưng Hà, Thái Bình
Trình độ chuyên môn: Tiến sỹ Luật
Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao
DƯƠNG VĂN THĂNG
Năm sinh: 1969
Quê quán: Xã Đỗ Động, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Trình độ chuyên môn: Tiến sỹ Luật
Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
NGUYỄN VĂN DU
Năm sinh: 1963
Quê quán: Vệ An, Bắc Ninh
Trình độ chuyên môn: Tiến sĩ Luật
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
BÙI NGỌC HÒA
Năm sinh: 1955
Quê quán: Liên Bảo, Vụ Bản, Nam Định
Trình độ chuyên môn: Tiến sĩ Luật
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
TỐNG ANH HÀO
Năm sinh: 1956
Quê quán: Khánh Đông, Sa Đéc, Đồng Tháp
Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ Luật
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
NGUYỄN VĂN THUÂN
Năm sinh: 1958
Quê quán: An Châu, Đông Hưng, Thái Bình
Trình độ chuyên môn: Tiến sĩ Luật
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
ĐẶNG XUÂN ĐÀO
Năm sinh: 1955
Quê quán: Thanh Chương, Nghệ An
Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ Luật
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
CHU XUÂN MINH
Năm sinh: 1956
Quê quán: Đồng Hóa, Kim Bảng, Hà Nam
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Luật
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
TRẦN VĂN CÒ
Năm sinh: 1958
Quê quán: Ngãi Xuyên, Trà Cú, Trà Vinh
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Luật
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
NGUYỄN THỊ HOÀNG ANH
Năm sinh: 1960
Quê quán: Hải Tân, Hải Lăng, Quảng Trị
Trình độ chuyên môn: Tiến sỹ Luật
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
LƯƠNG NGỌC TRÂM
Năm sinh: 1966
Quê quán: Hà Nội
Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ Luật
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
ĐÀO THỊ XUÂN LAN
Năm sinh: 1961
Quê quán: Đồng Lạc, Chí Linh, Hải Dương
Trình độ chuyên môn: Tiến sỹ Luật
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
LÊ VĂN MINH
Năm sinh: 1964
Quê quán: Yên Thái, Yên Định, Thanh Hóa
Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ Luật
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
NGUYỄN VĂN TIẾN
Năm sinh: 1966
Quê quán: Nhân Hòa, Mỹ Hào, Hưng Yên
Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Luật

Sáu tù nhân lương tâm cáo buộc bị đánh và biệt giam trong trại giam Xuân Lộc

PHẢN ĐỐI NGƯỢC ĐÃI ĐÁNH ĐẬP TNLT

RFA : Trong cuộc thăm gặp ngày 12 tháng 5 năm 2020, tù nhân lương tâm Huỳnh Đức Thanh Bình kể lại với mẹ mình là có 6 người bao gồm cả anh, bị đánh đập và bị biệt giam khi đấu tranh đòi được ra ngoài buồng giam lao động luôn cả 2 ngày cuối tuần chứ không chỉ là từ thứ Hai tới thứ Sáu như thường lệ.

 
About this website

RFA.ORG

Sáu tù nhân lương tâm cáo buộc bị đánh và biệt giam trong trại giam Xuân Lộc

Tù nhân lương tâm Huỳnh Đức Thanh Bình kể lại với mẹ mình là có 6 người bao gồm cả anh, bị đánh đập và bị biệt giam khi đấu tranh đòi được ra ngoài buồng giam lao động luôn cả 2 ngày cuối tuần chứ không chỉ là từ thứ Hai tới…

Trại ‘cải tạo’ của CSVN sau năm 1975

Trại ‘cải tạo’ của CSVN sau năm 1975

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, chỉ trong vòng hai tháng, hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị đưa vào các trại tập trung “cải tạo.” (Hình: rfa.org)

LTS: Ông Nguyễn Cao Quyền từng là một viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH. Tốt nghiệp khóa 1 Trừ Bị Nam Định và khóa 51-53 trường Saint Cyr (Pháp), đỗ cử nhân luật và cao học tiến sĩ kinh tế Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1963), thẩm phán Tòa Án Quân Sự, đại tá chánh thẩm Tòa Án Đặc Biệt (1966-1968), cố vấn ngoại giao tại Paris (1968-1974), Nha Thông Tin Báo Chí Bộ Ngoại Giao (1974-1975). Sau năm 1975, ông bị đưa đi tù “cải tạo” (1975-1985), rồi sau đó sang định cư tại Maryland, Hoa Kỳ, từ năm 1990. Ông từng là chủ tịch Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị vùng Hoa Thịnh Đốn, cựu phó chủ tịch ngoại vụ Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, cựu chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn (1996-1998). Ông còn viết nhiều bài khảo luận về kinh tế, chính trị được phổ biến rộng rãi.

Những đoạn viết sau đây sẽ trình bày một số sự kiện chính trị đưa dẫn đến việc những quân nhân VNCH bị Hà Nội tập trung “cải tạo,” mô tả chính sách cải tạo của CSVN sau năm 1975 và sau cùng đề cập đến thiện chí của Hoa Kỳ trong việc giải thoát tù “cải tạo” và cho họ cùng gia đình sang sinh sống tại Hoa Kỳ và tại những nước dân chủ trên thế giới.

I-Giai đoạn lịch sử chung của Hoa Kỳ và Việt Nam

Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam kể từ thập niên 1940 nhưng sự can thiệp này chỉ trở thành tích cực bắt đầu từ thập nhiên 1950. Sau khi Thế Chiến 2 chấm dứt và cục diện chính trị thế giới đã hình thành rõ rệt với hai khối Tự Do và Cộng Sản kình chống nhau trong một mô thức được gọi là Chiến Tranh Lạnh thì tại Hoa Kỳ, Tổng Thống D. Eisenhower tuyên bố rằng chiến tranh Đông Dương không còn là chiến tranh thuộc địa mà là cuộc chiến giữa Cộng Sản và Thế Giới Tự Do. Từ đó Hoa Kỳ viện trơ cho Đông Dương càng ngày càng nhiều để đánh trả lại Việt Minh hầu ngăn chặn sự bành trướng của phe Cộng Sản do Liên Xô và Trung Cộng lãnh đạo.

Sau Hiệp Định Genève 1954 (chia cắt Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc), Hoa Kỳ biến miền Nam thành tiền đồn chống Cộng. Tình nghĩa đồng minh mặc dù thắm thiết nhưng tới lúc cần tự mình đảm nhiệm cuộc chiến, Hoa Kỳ đã không do dự loại bỏ Tổng Thống Ngô Đình Diệm để được rảnh tay mang quân vào Việt Nam và Mỹ hóa chiến tranh. Ngày 8 Tháng Ba, 1965, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Đà Nẵng mà không hề thỏa hiệp trước với chính phủ Sài Gòn. Số quân Mỹ tham chiến ở Việt Nam lớn dần theo thời gian và có lúc đã lên tới nửa triệu người.

Đến khi Hoa Kỳ cần oanh tạc Bắc Việt thì họ lại tạo ra sự kiện tàu Maddox. Tuy nhiên với những trận mưa bom trên đất Bắc và những chiến dịch lùng diệt rất quy mô tại miền Nam, Hoa Kỳ vẫn không đạt được mục tiêu và bị sa lầy. Số binh sĩ Mỹ tử trận tại miền Nam càng ngày càng gia tăng và số phi cơ bị bắn hạ tại miền Bắc cũng lên cao (1,621 chiếc từ năm 1961 đến 1966).

Cuối năm 1967 nước Mỹ chìm trong xáo trộn và phân hóa vì chiến tranh Việt Nam. Tổng Thống Johnson quyết định “Việt Nam Hóa” cuộc chiến. Được tăng cường, quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) lần lượt thay thế quân lực Hoa Kỳ trong những trách vụ hành quân quan trọng.

Chiến tích lẫy lừng nhất của quân lực anh hùng này là chiến thắng Tết Mậu Thân (1968). Chiến thắng này bẻ gãy kế hoạch tổng tấn công/tổng nổi dậy của Tướng Cộng Sản Võ Nguyên Giáp và phá tan huyền thoại “bách chiến bách thắng” của quân đội Cộng Sản Bắc Việt. Gần 60,000 quân Cộng Sản tung vào trận địa đã bị tiêu diệt hết phần nửa chỉ trong một tháng giao tranh. Phần còn lại bị thanh toán gần hết khi cuộc chiến chấm dứt. Trong cuộc chiến khốc liệt ấy, người ta ghi nhận bên phía VNCH chỉ có 4,954 chiến sĩ hy sinh.

Sau chiến thắng Tết Mậu Thân, Quân Lực VNCH tự đảm nhiệm trọng trách tác chiến để quân Mỹ có thể rút về nước. Cuộc hành quân thần tốc vào Cambodia để truy lùng Việt Cộng và tiếp cứu Lon Nol, chiến dịch Lam Sơn 719 cắt đứt đường tiếp liệu của Cộng Sản, cuộc tử thủ An Lộc được ví như trận Verdun của Pháp, cuộc tái chiếm cổ thành Quảng Trị tranh nhau với binh sĩ Cộng Sản từng thước đất, đã chúng minh một cách hùng hồn khả năng tác chiến và tinh thần dũng cảm của quân lực anh hùng ấy.

Song song với những chiến tích lẫy lừng của quân đội, công cuộc “Bình Định và Phát Triển Nông Thôn” cũng ở trên đà thành công tốt đẹp. Vào những năm đầu của thập kỷ 1970, theo cuộc thăm dò của Hamlet Evaluation Survey (HES) do các cố vấn Hoa Kỳ thực hiện khắp miền Nam Việt Nam thì trong 1,333 xã ấp cuối cùng do chiến dịch Accelerated Pacification Campaign (APC) đảm trách, 1,035 xã ấp đã có an ninh và 80% dân số miền Nam đã được sống trong vùng chính phủ kiểm soát.

Chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh đang đi vào giai đoạn thành công thì trên thế giới xảy ra một biến cố làm cho chương trình này đứt đoạn và cuộc chiến thắng của VNCH bị bỏ lỡ. Năm 1969, trên sông USSURI, dọc theo biên giới Đông Bắc Trung Hoa, Liên Xô và Trung Cộng đã động binh giáp chiến. Sự kiện này chứng minh cho Hoa Kỳ thấy rằng sự nứt rạn, từ năm 1953, giữa hai đảng Cộng Sản anh em là có thật và Hoa Kỳ đã không bỏ lỡ cơ hội tìm cách ly gián để làm suy nhược hàng ngũ đối phương.

Chiến lược toàn cầu của Mỹ thay đổi từ giờ phút đó. Những cuộc vận động ngoại giao và chính trị dồn dập xảy ra nhằm hỗ trợ mục tiêu chiến lược vừa nói:

-Ngày 9 Tháng Bảy, 1971, Kissinger có mặt ở Bắc Kinh và được Chu Ân Lai tiếp kiến.

-Ngày 25 Tháng Mười, 1971, tại Đại Hội Đồng thứ 26 của Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan để bắt tay với Trung Cộng.

-Ngày 21 Tháng Hai, 1972, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon thăm viếng Trung Quốc trong bảy ngày.

-Ngày 28 Tháng Hai, 1972, Thông Cáo Chung Thượng Hải ra đời. Tổng Thống Nixon tuyên bố đây là “một tuần lễ” sẽ làm thay đổi thế giới.

Sự thay đổi thế giới khởi sự bằng tiến trình rút quân Hoa Kỳ khỏi Việt Nam. Bill Sullivan, phụ tá của Henri Kissinger tại hòa đàm Paris tuyên bố rằng: “…người Trung Hoa đã khai thông với chúng ta. Làm cho người Trung Hoa tách rời khỏi Liên Xô và nghiêng về phía chúng ta quan trong hơn nhiều việc chiến thắng ở Việt Nam.”

Điều không may cho miền Nam Việt Nam là đúng vào lúc chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh đang thành công tốt đẹp thì, trên bàn cờ chính trị thế giới, Hoa Kỳ thay đổi chiến lược toàn cầu, còn trong nước thì làn sóng chống chiến tranh dâng lên như nuớc thủy triều. Cả một thế hệ xuống đường vào năm 1968, gồm toàn những thành phần trẻ mới vào đời, chịu ảnh hưởng tiểu thuyết hiện sinh của Hemingway và Fitzerald. Họ sợ hãi. Một loại sợ hãi đặc biệt chỉ tìm thấy trong các xã hội giàu có. Đó là thứ sợ hãi trách nhiệm vì ham hưởng thụ và không chịu ràng buộc vào bất cứ vấn đề gì. Hoa Kỳ thay đổi chiến lược toàn cầu một phần vì muốn lợi dụng sự phân hóa trong khối Cộng Sản quốc tế nhưng phần khác cũng tại áp lực của phong trào phản chiến trong nội địa.

Về phía miền Nam Việt Nam thì mặc dầu chiến đấu oanh liệt và thắng lợi như vậy, rốt cuộc quân lực VNCH đã phải tủi hờn rã ngũ để nhìn Việt Cộng chiếm trọn quê hương. Họ đã là thành phần phải trả giá đắt nhất cho một sự phản bội. Họ không thua vì hèn kém mà thua vì lộ đồ bại trận đã được đồng minh Hoa Kỳ vạch sẵn từ lâu.

Vào giờ phút hấp hối của VNCH, khi nghe Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, năm vị tướng tài ba và đảm lược nhất của quân đội đã tuẫn tiết theo truyền thống hào hùng của ông cha. Đó là các tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn 4; Lê Văn Hưng, tư lệnh phó Quân Đoàn 4; Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư Đoàn 5; Trần Văn Hai, tư lệnh Sư Đoàn 7; và Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Đoàn 2. Trong hàng sĩ binh sĩ cấp dưới cũng không ít những tấm gương hiên ngang và khí phách tương tự. Điểm son này cần ghi lại cho các thế hệ mai sau vì là một trong những nét kiêu hùng của nòi giống.

II-Tiến trình “cải tạo”

1-Thủ đoạn lừa dối tham độc của CSVN

Khi đồng minh Hoa Kỳ tháo chạy trước đà tiến quân của Cộng Sản Bắc Việt, họ đã để lại đằng sau 980,000 người lính của Quân Lực VNCH, những quân nhân đã từng sát cánh với binh sĩ Hoa Kỳ bảo vệ biên cương của thế giới tự do.

Vào giờ VNCH hấp hối thảm cảnh “sống chết mặc bay”diễn ra vô cùng chua sót. Người ta dẫm lên nhau chạy trốn Cộng Sản không kể gì đến sinh mạng và tài sản vì Hoa Kỳ không có một chương trình di tản nào tương xứng với tình nghĩa đồng minh. Khởi thủy Mỹ chỉ muốn di tản 50,000 người. Vào phút chót số nhân mạng được may mắn cứu vớt mới nhích lên được con số 130,000. Họ muốn mọi chuyện diễn ra nhanh chóng cho xong việc. Người ta đoán được tâm trạng này qua lời nguyền rủa rất tàn nhẫn của Henri Kissinger: “Sao chúng không chết phứt cho rồi” (Why don’t these people die fast?). Như vậy, chỉ cần làm một con tính nhỏ người ta có thể thấy ngay là hơn 800,000 binh sĩ của Quân Lực VNCH đã là nạn nhân của chế độ cải tạo của Cộng Sản Việt Nam.

Những người lính VNCH phòng vệ Dinh Độc Lập bị bắt sáng 30 Tháng Tư, 1975. (Hình: Flickr VIETNAM History in Pictures (1968-1975))

Chỉ vài ngày sau khi chiếm trọn miền Nam, những người Cộng Sản đã lùa quân nhân, công chức và thành viên đảng phái quốc gia vào tù bằng một thủ đoạn vô cùng hèn hạ. Trong một buổi ra mắt mừng chiến thắng, Tướng Cộng Sản Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) với dụng ý hiểm độc đã tuyên bố trước báo chí một câu mà những người bị “cải tạo” không thể nào quên “Đối với người Việt Nam không có ai là kẻ chiến thắng hay chiến bại. Chỉ có đế quốc Mỹ là bị đánh bại mà thôi.” Vì lời tuyên bố đường mật này mà các quân nhân, công chức và thành viên đảng phái quốc gia đã tự nguyện đi học tập “cải tạo” với số lương thực tự túc là 10 ngày hay một tháng tùy theo cấp bậc, chức vụ.

Thế rồi một tháng trôi qua, không ai được tha. Khi giải thích sự việc này, bọn cai tù Cộng Sản, dương dương tự đắc nói rằng: “Đó là nghệ thuật của cách mạng bắt các anh vào tù chứ làm gì có chuyện trả tự do, sau một tháng giam giữ, cho các con người có nợ máu với nhân dân như các anh. Các anh còn phải cải tạo dài dài.” Biết mình bị lừa nhiều người đã tự tử. Một số người khác tìm cách trốn trại để rồi cũng bị bắt lại và đánh chết thảm thương như những con vật.

Sau một năm áp dụng lao động khổ sai cho chế độ “cải tạo,” Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam, trước khi bị Hà Nội giải tán, công bố chính sách 12 điểm quy định thời gian “cải tạo” là ba năm. Sự công bố này lại mang hy vọng cho những người đã mất hết tin tưởng vào viễn ảnh của một ngày về đoàn tụ với gia đình.

Đến cuối năm 1978 thì cái hy vọng mong manh nói trên lại tan tành ra mây khói. Thời gian “cải tạo” ba năm như lời Cộng Sản hứa đã chấm dứt, song chẳng thấy ai được tha về. Trái lại, trong thời gian này, đa số đã bị lưu đày lên những vùng rừng núi Bắc Việt ma thiêng nước độc với thân tàn ma dại và tinh thần sa sút đến cùng cực. Một làn sóng tự tử thứ hai lại xảy ra, nhưng lần này bên cạnh những xác chết vì thất vọng còn có thêm nhiều xác chết khác vì đói khát và bệnh tật.

Vợ con của những người bị bắt đi “cải tạo” cũng trở thành nạn nhân của các biện pháp kỳ thị và ngược đãi. Họ bị đuổi khỏi nơi cư trú và phải đi vùng kinh tế mới giữa những rừng núi hoang vu không có một chút tiện nghi tối thiểu cần thiết cho đời sống. Con cái họ bị kỳ thị gắt gao khi thi cử và không được phép vào đại học. Nhà cửa của họ bị cán bộ Cộng Sản chia nhau chiếm đoạt, tiền bạc của họ ở ngân hàng cũng không được phép lấy ra.

Trong cơn túng quẫn những phụ nữ trẻ đẹp đã bị dồn vào thế làm lẻ mọn cho cán bộ Cộng Sản để có phương tiện nuôi thân và nuôi con còn nhỏ dại. Những người khác, rủ nhau chạy ùa ra biển, đem sinh mạng của chính mình và của con cái mình để đổi lấy tự do. Phong trào “thuyền nhân tị nạn Cộng Sản” đã đánh động lương tâm nhân loại vì trong số hàng triệu người liều chết ra đi, gần một nửa đã nằm trong bụng cá hoặc làm mồi cho hải tặc.

2-Những chặng đường “cải tạo” (kinh nghiệm bản thân)

-Những ngày đầu giam lỏng: Sau khi trình diện để được “học tập cải tạo,” chúng tôi được chở bằng xe buýt đến Long Thành. Nằm trên đường Sài Gòn-Vũng Tàu, không cách xa thị xã Biên Hòa là bao nhiêu, trại giam Long Thành là một cô nhi viện cũ bị Cộng Sản trưng dụng làm nhà tù.

Trong những ngày đầu, chúng tôi tương đối được tự do, ăn uống không thiếu thốn vì ngoài lương thực mang theo một tháng chúng tôi còn có thể mua thực phẩm tại căng tin của trại. Chúng tôi cũng chưa phải lao động mà chỉ phải học tập 10 bài chính trị và viết tự kiểm. Các bài học chính trị là những tài liệu đơn giản “kể tội Mỹ-Ngụy,” tuyên truyền lý thuyết Cộng Sản và phổ biến chính sách khoan hồng nhân đạo của chính phủ cách mạng. Những buổi học tập này nhằm gieo vào đầu óc chung tôi mặc cảm tội lỗi để chúng tôi nhận tội và an tâm cải tạo lâu dài. Thỉnh thoảng cũng có cán bộ cao cấp từ trung ương về thuyết trình những đề tài chính trị và quân sự có tính cách vừa khoe khoang vừa đe dọa.

Cái mà những người Cộng Sản muốn đạt được không phải là vấn đề “cải tạo” chúng tôi thành những người ủng hộ chế độ mà chủ yếu là khai thác chúng tôi qua những bản tự kiểm để biết thêm tin tức về các mặt tình báo và tài nguyên của miền Nam. Trong thời gian làm tự kiểm cán bộ Cộng Sản đối xử với chúng tôi rất hòa nhã và tử tế. Họ khuyến khích khai thành thật với bằng chứng cụ thể và tố cáo thật nhiều để đái công chuộc tội với cách mạng. Phải nhìn nhận rằng về mặt khai thác này những người công an Cộng Sản rất lành nghề và làm việc có hiệu quả cao.

Sau một tháng “cải tạo” không ai được tha. Đợt tha đầu tiên, gồm một số ít người có gia đình biết chạy chọt tiền bạc, chỉ xảy ra vào đầu năm 1976 trước khi chúng tôi bị lưu đày ra Bắc. Chiến dịch lưu đày này được Cộng Sản chuẩn bị chu đáo vì họ có thời gian một năm để sắp xếp và thực hiện. Các trại tù miền Bắc được xây cất thêm hoặc dồn lại để có chỗ tiếp nhận chúng tôi. Phương tiện chuyên chở thì gồm vừa hàng không vừa hàng hải. Chuyến máy bay duy nhất chở tù chính trị ra Bắc nhằm mục đích quảng cáo cho chế độ và đánh lừa dư luận để người ta không để ý tới những chuyến hải hành khủng khiếp tiếp theo.

Sau khi những quân nhân và công chức cao cấp của VNCH được chở bằng máy bay đi rồi chúng tôi được di chuyển từ Long Thành lên trại giam Thủ Đức. Cảnh tù đày đầu tiên đến với chúng tôi tại trại giam này. Chúng tôi bị lùa vào những phòng giam chật chội thiếu vệ sinh, có cửa sắt khóa chặt dưới con mắt kiểm soát cú vọ của những người công an Cộng Sản với nét mặt căm thù và hống hách. Hai tháng không học tập, không lao động, chỉ ngồi ăn, làm cho số lương thực dự trữ của chúng tôi dần dần khô cạn. Viễn tượng đói khát bắt đầu xâm chiếm tâm hồn nhưng mỗi người trong chúng tôi cứ phải thúc thủ với ý nghĩ riêng của mình mà không dám chia sẻ với ai vì sợ bị gán cho tội nói xấu chế độ. Chúng tôi ý thức rằng cuộc đời phiêu lưu gian khổ sẽ bắt đầu từ đây.

-Chuyến hải hành khủng khiếp: Thế rồi việc gì phải đến đã đến. Tại trại giam Thủ Đức, một đêm, chúng tôi bị đánh thức dậy, nhận lệnh sắp xếp quần áo để chuyển trại, bị còng tay và chở bằng xe hơi lên bến Tân Cảng Sài Gòn. Tại đây một chiếc tàu thủy to lớn đã chờ sẵn. Chúng tôi bị lùa vào những hầm tâu dành cho súc vật, nằm chờ tàu nhổ neo để bắt đầu chuyến hành trình ra Bắc. Bóng tối của hầm tàu che dấu những giọt nước mắt tuôn ra vì lo sợ, đau buồn và tủi nhục.

Trong suốt ba bốn ngày đêm lênh đênh trên mặt biển chúng tôi phải thu hết can đảm và nghị lực để chịu đựng sự tanh tưởi và hôi hám của hầm tàu. Ban đêm hầm tối đen như mực. Ánh sáng chỉ lọt qua những kẽ hở khi mặt trời ló rạng. Khi tàu chuyển máy ra khơi, phần đông anh em tù nhân bị say sóng và nằm mê man bất tỉnh. Cao điểm của cảnh khổ cực này xảy ra chỉ một ngày sau khi chuyến hải hành khởi sự. Vì say sóng, nôn mửa và bài tiết nhiều nên lượng bài tiết lớn hơn những thùng chứa đựng khiến phân và nước tiểu cứ tự do đào thoát ra ngoài và len lỏi vào chỗ nằm của các tù nhân mỗi khi tàu chao đảo.

Khi tàu cập bến Hải Phòng, mở nắp hầm ra, những người cai tù xa xẩm mặt mày vì mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Họ tức tốc đóng cửa hầm lại, đi lấy khẩu trang đeo vào mũi miệng rồi mới tiếp tục công việc chuyển tù lên đất. Riêng đối với tù nhân thì khi bước ra khỏi hầm tầu ai cũng có cảm giác như vừa từ địa ngục được bước lên thiên đàng, một cảm giác chết đi sống lại.

Thoát được cảnh hầm tàu hôi hám chúng tôi liền bị còng tay và nhồi nhét vào những chiếc xe hơi bịt bùng không cho nhìn thấy cảnh vật bên ngoài. Xe chạy rất lâu trong đêm tối. Mãi gần sáng chúng tôi mới được lệnh ra khỏi xe và nhập trại. Những người công an canh gác cho chúng tôi tắm rửa ngay ở miệng một giếng nước, giặt giũ qua loa rồi hối thúc chúng tôi vào những phòng giam kiên cố của nhà tù. Sau khi cửa sắt đóng lại và khóa chặt, họ nói vọng vào từ bên ngoài: “Các anh đến đây an toàn rồi, bây giờ chỉ còn việc an tâm cải tạo để chờ ngày được chính phủ khoan hồng.” Nói xong họ bỏ đi chỉ còn lại hai người công an trẻ cầm súng gác.

Hỏi thăm hai người công an trẻ chúng tôi được biết trai này là trại Quảng Ninh, nằm trên rừng núi cao và nhìn ra vịnh Bắc Việt. Trại này hoàn toàn cách ly khỏi xã hội bên ngoài vì đường giao thông rất khó khăn. Xã hội thu hẹp của chúng tôi bây giờ chỉ gồm có ba thành phần: nhóm tù “cải tạo” chúng tôi mới đến, những người tù hình sự bị giam giữ từ lâu và những người cai tù có nhiệm vụ canh giữ.

Ngày đầu tiên đến trại Quảng Ninh, chúng tôi có cảm tưởng hình như thời gian trôi nhanh hơn thường lệ. Mới sáng đấy mà đã tối ngay. Khí lạnh của độ cao rừng núi thấm vào phòng giam và vào cơ thể con người. Khi màn đêm đổ xuống, trong phòng chì còn lại một ngọn đèn dầu leo lắt và những tiếng thở dài não nuột trong im lặng buồn tanh và ghê rợn.

-Tiến trình diệt chủng bắt đầu: Sáng hôm sau chúng tôi bị phân chia thành đội để bắt đầu làm quen với lao động. Mỗi đội, 30 người, do một đội trưởng là tù nhân và một quản giáo là cán bộ công an phụ trách. Khi đội đi lao động, công an vác súng đi kèm.

Trong những ngày đầu chúng tôi chỉ phải lao động nhẹ chẳng hạn như trồng rau hoặc cuốc sắn gần khu trại giam. Dần dần chúng tôi phải đi xa và phải lao động nặng nhọc hơn, chẳng hạn như vào rừng lấy gỗ làm nhà. Sau nhiều ngày làm quen với khung cảnh sinh hoạt trong trại chúng tôi thấy rằng mỗi trại tù Cộng Sản là một đơn vị kinh tế độc lập. Tù nhân phải lao động để nuôi cán bộ canh giữ mình, để xây trại giam hãm mình và để cung cấp tiện nghi cho khu gia đình là khu vợ con cán bộ ở. Nhà nước không cần chi phí gì nhiều cho trại tù nên nếu nói rằng dưới các chế độ Cộng Sản nhà tù nhiều hơn trường học thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Bị lưu đày ra Bắc chúng tôi mất hết liên lạc với gia đình, cho nên mọi nguồn tiếp tế lương thực đều bị cắt đứt. Lao động cả ngày mệt nhọc, chúng tôi chỉ được trại cho ăn hai bữa, với mỗi bữa hai chén cơm đầy sạn thóc và một ít rau muống luộc. Ngoài hai bữa cơm ra chúng tôi không có thứ gì khác để nuôi sống cơ thể. Mỗi ngày anh em tù nhân nhìn nhau chỉ còn biết thở dài. Ai cũng gầy ốm đi trông thấy.

Ở trại Quảng Ninh chừng hơn một tháng, tôi và một số tù nhân khác bị chuyển đi trại Thanh Cẩm. Trại này nằm trong vùng Bái Thượng, trên thượng nguồn sông Mã, sau những dãy núi Lam xanh biếc. Từ trại sang biên giới Lào ước lượng chỉ vài cây số. Đến đây chúng tôi bị giam chung với khoảng 700 anh em tù chính trị khác và trong trại cũng có cả một số tù hình sự. Tôi bị giam ở trại này liên tục cho đến ngày được tha về.

Tại trại Thanh Cẩm, chế độ lao động còn khắt khe và nặng nhọc hơn ở trại Quảng Ninh. Dưới mũi súng canh gác của công an gốc dân tộc Mường, chúng tôi phải đi rất xa để lấy cát làm nhà. Mỗi chuyến vừa đi vừa về vào khoảng 3 cây số. Mỗi ngày phải đi ba chuyến mà chỉ được ăn có bốn chén cơm với vài cọng rau muống luộc thì sức nào chiụ nổi. Nếu đội nào không đi xe cát thì phải xe đá hoặc vào rừng đẵn luồng vác về cho cán bộ làm nhà. Những người lao động ở trại cưa, trại mộc cũng không sung sướng gì hơn. Cả ngày quần nhau với những cây gỗ lớn, cưa xẻ liên hồi hoặc đục đẽo luôn tay thi lấy năng lượng đâu mà bù đắp. Cuốc đất trồng khoai ngô mới là mệt vì đất núi bạt ngàn mà nhân công thì thưa thớt. Ấy là chưa kể những vụ gánh phân đi bón nặng gãy xương sườn và chốc lở xương vai.

Sức người có hạn còn nhu cầu của trại thì mỗi ngày một tăng thêm. Bên cạnh những cái chết vì tại nạn lao động như bị đá núi đè, lợp nhà té xuống đất hay bị cây luồng đâm thủng bụng, dần dần người ta thấy xuất hiện những cái chết vì đói, vì thiểu lực. Sau hơn ba năm bị lưu đày ra Bắc anh em tù nhân chôn nhau, vì chết đói, đã chật cả một phần đồi sắn. Có một thời gian, trong tâm tư và trước mắt mọi người cái chết đã trở thành quen thuộc, không gây sợ hãi và cũng không gây xúc động. Tù nhân chờ đợi Thần Chết đến thăm như chờ đợi một sự giải thoát.

Chính sách bắt lao động khổ sai kết hợp với bỏ đói là phương cách giết người tinh vi và thâm độc của những người Cộng Sản. Đó là sự nhẫn tâm và tàn ác nhất mà con người có thể đối xử với con người.

-Một vài cảnh đói ngoài tưởng tương: Xin kể ra đây vài cảnh đói mà người bình thường sống ngoài xã hội, cho dù óc tưởng tượng có súc tích đến đâu, cũng không thể nào nghĩ tới.

Một hôm nhân lúc đội tù đang lợp nhà, thình lình anh em tù nhân phát giác một ổ rắn dưới tấm lá tranh. Tức thì một anh hô to “Rắn, Rắn.” Tiếng hô vừa rứt, đám tù nhân nhanh như cắt đã vây quanh ổ rắn và chỉ trong nháy mắt, bằng tay không, các anh đã bắt hết những con rắn độc, bẻ cổ vứt đi và nhét phần còn lại vào túi áo. Trong giờ giải lao, được phép của cán bộ canh giữ, các anh đã nổi lửa rồi đem rắn ra nướng và ăn ngon như chưa bao giờ ngon thế. Không phải chỉ có rắn mà cả rết, cả chuột, cả cóc nhái, sên ốc… nghĩa là tất cả những con gì cử động mà để cho các anh trông thấy thì đều chịu chung một số phận.

Một hôm khác, nhân ngày Chủ Nhật, không phải lao động, các tù nhân ôm bụng đói đang thiu thiu ngủ thì một anh nghe tiếng chuột con kêu trên mái nhà. Không bỏ lỡ cơ hội, anh liền chồm dậy, gọi thêm hai người khác rồi cả ba, khiêng bàn, công kênh nhau lên bắt chuột. Họ bắt được một ổ chuột con hãy còn đỏ hỏn, chia nhau ăn sống như nhai những củ sâm. Mặc cho máu mê trào ra ngoài miệng trông như ác quỷ, các anh thản nhiên nhai ngấu nghiến như không màng gì tới hoạt cảnh ghê rợn tạo nên.

Một buổi chiều sau khi đi lao động về, chúng tôi thấy một anh bạn tù nhân sắp chết đói đang ngồi bên một dòng nước tiểu chảy ta từ phía những thùng phân nổi trong cầu tiêu. Nhìn kỹ thấy anh đang bắt mấy con kiến, tha những mảnh ngô chưa tiêu kịp, di chuyển từ cầu tiêu về tổ. Anh lượm những mảnh ngô đó bỏ vào mồm rồi tha cho những con kiến để chúng tiếp tục làm công việc vận tải mà anh thèm muốn. Chương trình cướp ngô của kiến anh chỉ thực hiện được có một ngày. Ngày hôm sau anh trút hơi thở cuối cùng vì quá đói.

Bằng chính sách bỏ đói kết hợp với lao động khổ sai những người Cộng Sản đã giết tù “cải tạo” mà không cần đem ra trường bắn, không cần nhốt vào lò hỏa thiêu như người Đức Quốc Xã đã làm. Họ cũng chẳng cần tạo ra những cảnh “tắm máu” làm gì.

-Một chuyện tù vượt ngục: Trại “cải tạo” Thanh Cẩm có một khu kiên giam dành cho những thành phần được Cộng Sản coi là đặc biệt nguy hiểm. Những người bị giam trên khu này không phải lao động nhưng bị cùm chân ban đêm khi đi ngủ. Có một thời gian, tôi cũng là một tù nhân của khu vực kiên giam này. Nhờ không phải lao động nên tôi mới sống sót đến ngày nay. Tại đây tôi còn giữ lại một kỷ niệm hãi hùng mà suốt đời không bao giờ quên được, kỷ niệm liên quan đến một chuyện tù vượt ngục.

Là những tù nhân không có ngày về và bị bỏ đói triền miên hết ngày này qua tháng khác, chúng tôi cam tâm kéo dài cuộc sống bị đày ải và hoàn toàn tuyệt vọng giữa rừng núi hoang vu của biên giới Lào-Việt. Khi màn đêm đổ xuống, khu kiên giam lạnh lẽo và tĩnh mịch, nặng nề như một nhà quàn chất chứa những xác người chưa chết. Ban ngày, chúng tôi đau đớn nhìn nhau như nhìn những bộ xương khô biết cử động.Viễn tượng của ngày sum họp với gia đình, từ lâu, đã hoàn toàn tan biến. Tương lai duy nhất còn lại là sự chờ đợi ngày về với tổ tiên.

Thế rồi, một biến cố kinh hoàng đã xảy ra. Đêm ấy là đêm 1 Tháng Năm, 1979, đêm liên hoan của Cộng Sản nhân dịp Lễ Lao Động. Bọn công an trẻ thường chểnh mảng trong nhiệm vụ canh gác mỗi khi có liên hoan. Bỗng nhiên trong bầu không khí tĩnh mịch của đêm khuya, chúng tôi nghe phát ra từ phòng giam bên cạnh, một âm thanh đào tường đều đều như máy chạy. Thỉnh thoảng lại có tiếng người rầm rì động viên nhau như hối giục.

Chúng tôi hiểu ngay đó là một kế hoạch trốn trại đang được tiến hành. Trong cơn tuyệt vọng, các anh mới đến từ trại Quyết Tiến, đang chọn đi vào chỗ chết để tìm đường sống. Mọi người trong phòng giam bên này đều nhắm mắt cầu nguyện cho các bạn đó thành công.

Đêm càng khuya chúng tôi càng hồi hộp. Âm thanh đào tường nghe mồi lúc một yếu dần. Gà bắt đầu gáy sáng mà âm thanh vẫn còn tiếp tục. Khi âm thanh chấm dứt thì ánh nắng đã luồn qua khung cửa sắt chật hẹp của phòng giam.

Đang lo lắng cho số phận của mấy anh em trốn trại, chúng tôi giật mình vì những tiếng súng báo động nổ rến. Rồi tiếng chân người xô chạy về thượng nguồn sông Mã xen lẫn với những tiếng la hét vọng lại từ xa. Trong phòng lúc đó không biết ai đã thở dài và thốt ra hai tiếng “thất bại.” Chúng tôi đau đớn chia sẻ sự thất bại đó và lo sợ đến tột cùng khi nghĩ tới những biện pháp trả thù của bọn công an Cộng Sản trong cơn tức giận.

Khi trời sáng hẳn, phòng giam của những người trốn trại bị công an lục soát rất kỹ. Một tên công an thản nhiên nói với đồng bọn: “Thằng Tiếp chết rồi.” Anh Đặng Văn Tiếp là một cựu trung tá của Không Lực VNCH và dân biểu quốc hội trước khi miền Nam sụp đổ. Nghe hung tin đó chúng tôi đau đớn lặng người. Những giọt nước mắt từ từ lăn trên gò má như một lời vĩnh biệt. Tất cả các anh khác bị bắt lại hết và bị đánh đập tàn nhẫn. Hai ngày sau, anh Lâm Thành Văn chết theo anh Tiếp. Riêng Cha Nguyễn Hữu Lễ may mắn sống sót dù bị đả thương rất nặng. Sau 13 năm “cải tạo,” Linh Mục Lễ hiện đang phụ trách một họ đạo ở Tân Tây Lan.

Bài học của Bắc Kinh: Vào khoảng đầu năm 1979, tại trại Thanh Cẩm, anh em tù “cải tạo” chết đói khá nhiều. Trong khi ai cũng cam tâm chờ chết thì một đêm chúng tôi nghe thấy những bài bình luận lạ tai phát ra từ những loa tuyên truyền ngoài cổng trại. Sau nhiều ngày theo dõi tin tức chúng tôi được biết giữa Hà Nội và Bắc Kinh đang có sự xích mích nặng nề.

Bắc Kinh đang chuẩn bị cho Việt Nam một bài học. Một quân đoàn Trung Cộng, trải dài trên 600 cây số tại biên giới phía Bắc sẽ xâm lăng Việt Nam và sẽ tiến vào Hà Nội trong vài ngày. Không khí chiến tranh bao trùm cả nước. Lệnh tổng động viên được ban hành và bộ đội đang di chuyển cấp tốc từ Cambodia về biên giới Việt-Trung. Các trại “cải tạo” nằm sát biên giới như Quyết Tiến, Phong Quang… được di tản sâu vào nội địa. Trại Thanh Cẩm phải nhận thêm một số tù nhân đến từ trại Quyết Tiến.

Chiến tranh đã thật sự xảy ra nhưng quân Trung Cộng, sau khi làm cỏ, mấy tỉnh miền biên giới, chỉ tiến đến Việt Trì rồi rút về nước. Hà Nội không bị bao vây và công hãm.

Bài học của Bắc Kinh đã cứu sống rất nhiều tù “cải tạo,” đó là điều mà ít người biết tới. Vì có bài học này nên chính sách “cải tạo” khắc nghiệt của Hà Nội có đôi phần nới lỏng. Sau bốn năm bị cắt đứt mọi liên lạc với gia đình, chúng tôi được viết thư và nhận đồ tiếp tế trở lại. Không những thế, gia đình còn được phép đến trại thăm gặp và trong vài trường hợp đặc biệt tù nhân “cải tạo” còn được phép ở lại suốt đêm ngoài nhà khách để sinh hoạt với gia đình.

Một chuyện khác mà không ai ngờ tới là những gói quà tiếp tế không những đã cứu sống chúng tôi khói chết đói mà còn cho chúng tôi cơ hội “cải tạo” những bộ óc chậm tiến của những người tự cho có nhiệm vụ “cải tạo” chúng tôi.

Những người lính VNCH bị bắt sáng 30 Tháng Tư, 1975. (Hình: Flickr VIETNAM History in Pictures (1968-1975))

Mỗi đợt khám quà của tù nhân là một dịp để các cán bộ làm quen với thế giới bên ngoài qua những đồ tiếp tế. Lần đầu tiên khám quà một anh cán bộ trẻ thấy một gói lạp xưởng đòi tịch thu. Chúng tôi hỏi tại sao thì được trả lời: “Tịch thu, vì các anh không được phép mang nến (đèn cầy) vào trong trại.” Tội nghiệp, từ bé tới lớn anh chưa được ăn lạp xưởng bao giờ nên tưởng lạp xưởng là đền cầy.

Những thứ lạ mắt như những cuốn giấy vệ sinh trắng muốt, những chai xà bông nước, những lon cà phê sữa bột, những viên thuốc Tây xanh đỏ đựng trong những lọ có nắp khó mở…. đều là những thứ mà trại thấy cần phải giữ lại để nghiên cứu. Sau này khi biết những thứ đó không có gì nguy hiểm và thỉnh thoảng lại được chúng tôi “kỷ niệm” (nghĩa là cho theo ngôn từ Cộng Sản) các công an trẻ dần dần làm thân và thường muốn nghe chúng tôi kể những chuyện của thế giới bên ngoài, trong giờ lao động. Kỷ luật trại giữa cán bộ và tù nhân cũng không còn gay gắt như trước nữa.

Ngày một số anh em chúng tôi được trả lại tự do (1985) những người công an trẻ đến chia tay bằng một câu nói cảm động: “Thôi các anh về mạnh khỏe rồi đi ngoại quốc. Chúng tôi thì còn ở đây chưa biết đến bao giờ.” Ngay lúc đó chúng tôi chưa nắm bắt được thông điệp “rồi đi ngoại quốc” nhưng chúng tôi hiểu ngay rằng những thanh niên Cộng Sản đó đã bắt đầu tỉnh ngộ sau thời gian mấy năm được chúng tôi “cải tạo.”

III-Chiến dịch giải thoát tù “cải tạo”

Có một thời gian, công an trại thường chỉ mặt chúng tôi và hăm dọa nhiều lần: “Nếu bọn Mỹ không chịu bồi thường 3 tỷ 2 thì các anh sẽ còn cải tạo mút mùa.” Câu hăm dọa này không làm chúng tôi lo sợ mà, trái lại, làm chúng tôi mừng thầm vì đoán rằng có thể ở bên ngoài xã hội đang diễn ra một cuộc thương lượng giữa Hoa Kỳ và Việt Cộng để giải thoát chúng tôi khỏi cảnh tù đày. Cho dù đây chỉ là một hy vọng rất mong manh nhưng chúng tôi cứ bám víu lấy nó như người sắp chết đuối vớ được cọc, để có lý do và can đảm tiếp tục cuộc sống.

Thế rồi, không bao lâu sau, sự ước đoán của chúng tôi được thân nhân vào thăm xác nhận là đúng. Từ đó, trong lòng chúng tôi, ngày nào cũng như mở hội. Hy vọng được về sum họp với gia đình có nhiều triển vọng trở thành sự thật.

Tôi được trả tự do vào cuối năm 1985, sau 10 năm 4 tháng 10 ngày bị Cộng Sản bỏ tù. Hội nhập lại vào xã hội bên ngoài, tôi được biết vào năm 1976, Kissinger đã tuyên bố: “Hoa Kỳ đang chuẩn bị bình thường hóa bang giao với Việt Nam.” Việc bình thường hóa bang giao không thành vì trong cuộc đàm phán ở Paris vào đầu năm 1977 Hà Nội khăng khăng đòi Hoa Kỳ phải trả $3,250 triệu để bồi thường chiến tranh. Lẽ cố nhiên là Hoa Kỳ bác bỏ đòi hỏi vô lý đó vì Hà Nội đã không tôn trọng Hiệp Định Paris năm 1973.

Nền kinh tế của Việt Nam mỗi ngày một sa sút. Sự vô hiệu của kinh tế hoạch định và tình trạng sa lầy trong chiến tranh Cambodia khiến chế độ Hà Nội đứng trên bờ vực thẳm. Trung Cộng đã trở thành thù nghịch còn Liên Xô thì cũng đang gặp khó khăn nên không biết nương tựa vào ai. Hoa Kỳ là sinh lộ duy nhất còn lại. Làm găng không được, Hà Nội bắt đầu đấu dịu.

Đầu thập niên 1980, cả Phạm Văn Đồng lẫn Nguyễn Cơ Thạch đều bắn tiếng là sẽ thả tù “cải tạo” nếu Hoa Kỳ tiếp nhận. Hà Nội dùng tù “cải tạo” như phương tiện mặc cả để xin viện trợ của Hoa Kỳ. Hoa Thịnh Đốn đáp ứng và diễn tiến của chiến dịch giải thoát tù “cải tạo” được ghi nhận như sau:

-Ngày 11 Tháng Chín, 1984, Ngoại Trưởng George Schultz chính thức yêu cầu Hà Nội trả tự do và cho phép các tù nhân chính trị được định cư tại Hoa Kỳ. Ba tuần sau Tổng Thống Reagan gửi văn thư chính thức đến các Bộ Ngoại Giao, An Sinh Và Tư Pháp về việc thâu nhận những người tù “cải tạo” Việt Nam.

Hoa Kỳ đồng ý gặp Đại Sứ Võ Đông Giang của Hà Nội tại Nữu Ước. Cuộc đàm phán tiến hành trong bí mật.

-Tháng Bảy, 1988, phái đoàn Robert Funseth, phụ tá thứ trưởng Ngoại Giao Hoa kỳ, đi Hà Nội họp với phụ tá bộ trưởng Ngoại Giao Việt Cộng Trần Quang Cơ để bàn về việc trả tự do cho tù chính trị và đưa họ đi định cư tại ngoại quốc.

-Ngày 30 Tháng Bảy, 1989, ông Robert Funseth và Vũ Khoan, thứ trưởng Ngoại Giao Việt Cộng, ký kết tại Hà Nội văn kiện về việc định cư tù “cải tạo.”

Qua thỏa hiệp này 3,000 tù “cải tạo” và gia đình đã đến Hoa Kỳ trong những tháng đầu tiên của năm 1990. Chương trình định cư này trù liệu đưa ra nước ngoài 400,000 người thì 20% đã đến bến tự do năm 1990, 30% năm 1991, 30% năm 1992, 10% năm 1993 và 10% còn lại vào những năm kế tiếp.

Dựa theo các tài liệu đáng tin cậy người ta cũng được biết là trong số quân nhân VNCH được sang Mỹ định cư sau thời gian cải tạo thì 61% là cấp úy, 35% là cấp tá và tướng và 4% là viên chức chính phủ.

Con số những người chết trong các trại “cải tạo” chưa được xác định là bao nhiêu. Tài liệu của Khu Hội Tù Nhân Chính Trị Hawaii, thiết lập ngày 20 Tháng Tư, 1993, đưa ra một con số rất thiếu sót là 587 người. Đây chỉ là một phần nhỏ của số “tử vong vì cải tạo” trong thực tế.

Cũng theo một tài liệu khác chưa đầy đủ thì số trại “cải tạo” CSVN thiết lập trên toàn quốc sau năm 1975 là 80 trại  bao gồm cả hai trại ở các đảo Côn Sơn và Phú Quốc).

Quyết định của Cộng Sản Việt Nam đưa quân cán chính VNCH đi “cải tạo” lâu dài sau năm 1975 là một sai lầm trầm trọng. Sau khi chiếm miền Nam, đáng lý ra Hà Nội phải biết lợi dụng thời kỳ vàng son này để hòa hợp hòa giải dân tộc và xây dựng tương lai phồn thịnh cho đất nước.

Giữa Tháng Năm, 1975, bộ trưởng ngoại giao năm nước ASEAN họp thường niên tại Kuala Lumpur đã bày tỏ ý muốn thiết lập bang giao với các nước Đông Dương. Trong thông cáo chung ngày 24 Tháng Bảy, 1975, Phi Luật Tân và Thái Lan minh định rõ là các căn cứ quân sự của nước ngoài trong khu vực chỉ là tạm thời và khối SEATO sẽ giải tán.

Vào thời gian đó Nhật cũng trù liệu một ngân khoản $1,600 triệu để giúp năm nước ASEAN và ba nước Đông Dương xây dựng khu thịnh vượng chung Đông Nam Á. Tiếp theo, Tháng Tám, 1977, Nhật lại kêu gọi sự hợp tác thân hữu giữa các nước trong vùng kể cả Miến Điện, và hứa viện trợ $5 tỷ cho kế hoạch phát triển Đông Nam Á thành một khu vực phồn vinh.

Sau khi gia nhập Liên Hiệp Quốc, Việt Nam còn được gia nhập Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế với một khoản vay mượn đầu tiên là $35 triệu. Ngân Hàng Thế Giới cũng xúc tiến kế hoạch giúp đỡ Việt Nam phát triển kinh tế thời hậu chiến. Thừa kế chỗ trống của VNCH, Hà Nội còn là hội viên của ngân hàng phát triển Á Châu.

Trong bối cảnh đó nếu không có chính sách “cải tạo” sai lầm thì nhân dân hai miền Nam Bắc đã cùng dồn nỗ lực vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện việc hòa hợp hòa giải dân tộc để nhanh chóng đưa đất nước đến cảnh phú cường.

Bị Hoa Kỳ giăng bẫy CSVN đã xé bỏ Hiệp Định Paris và xâm chiếm miền Nam để rồi liền sau đó lại bị Trung Cộng giăng bẫy nhử sang Cambodia và bị sa lầy ở đó. Hậu quả của những quyết định mù quáng này là một nước Việt Nam kiệt quệ và tụt hậu, cam tâm làm chư hầu một lúc cho hai thế lực thù địch. Cắt đất dâng Trung Quốc để duy trì mạng sống chính trị và quỳ gối ôm chân Hoa Kỳ để kiếm miếng ăn. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc lại có một thời kỳ nhục nhã như hiện nay.

Đối với Hoa Kỳ, bỏ rơi miền Nam Việt Nam trong trận đồ quốc tế để thắng Liên Xô và làm tan rã khối Cộng Sản là một vấn đề chiến lược. Tiến hành chiến dịch giải thoát tù “cải tạo” Việt Nam để họ được sang sinh sống và đoàn tụ tại Hoa Kỳ là một vấn đề của lương tâm. Đứng về phương diện quyền lợi của Hiệp Chúng Quốc mà xét thì trong cả hai việc làm này Hoa Kỳ đều khôn ngoan và thắng lợi. (Nguyễn Cao Quyền)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cách Mạng/Hy Sinh & Cống Hiến

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cách Mạng/Hy Sinh & Cống Hiến

Ảnh của tuongnangtien 

tuongnangtien

Đã có các giải pháp để huy động nguồn lực vàng, USD trong dân. 

Thống Đốc Ngân Hàng Lê Minh Hưng

Từ Bangkok, FB Trần Quang Đô hớn hở cho hay: “Ngân hàng hôm nay 5/5 đông kín người. Thiên hạ xếp hàng nhận 5000 baht, tương đương 250 đô la Úc, tiền hổ trợ người dân trong dịch Cúm Vũ Hán. Điện nước thì miễn phí trong ba tháng cho dân lao động.”

Tôi cũng hay lui tới Thái Lan nên hoàn toàn không ngạc nhiên gì về chuyện này. Tuy mang tiếng là “quân phiệt” nhưng bọn tướng lãnh ở nước này “yếu xìu” hà, và hay “mị dân” bằng tiền lắm: tiền trợ cấp cho những người khuyết tật, tiền giúp đỡ cho kẻ neo đơn, hay ông già/bà lão … Họ tạo cho dân chúng Thái cái tâm lý ỷ lại, và hèn yếu. Bởi vậy dân Thái chưa bao giờ đánh thắng được một đế quốc to nào cả, đế quốc cỡ trung bình, hoặc nhỏ (xíu) thôi cũng khỏi có dám luôn.

Dân Việt thì hoàn toàn khác. Ngon lành và bảnh hơn thấy rõ. Báo Thanh Niên, số ra ngày 6 tháng 5 năm 2020, vừa hãnh diện cho hay: “Nhiều cá nhân, gia đình ở tỉnh Thanh Hóa đã làm đơn xin không nhận tiền hỗ trợ dịch bệnh Covid-19, nhằm chia sẻ khó khăn với Chính Phủ trong giai đoạn hiện nay.” Báo Lao Động (đọc được hôm 2 tháng 4 năm 2020) còn loan tin “phấn khởi” hơn nữa : “Lão nông miền núi hiến đất mặt tiền để chống dịch Covid-19.” 

Những nghĩa cử cao đẹp này, tiếc thay, đã không được dư luận đồng tình mà còn có không ít điều tiếng eo sèo:

  • Ngô Trường An: “Dân nào rảnh rỗi quá vậy? Không nhận thì thôi chứ việc chó gì phải viết đơn?”
  • Minh Nguyen Khue: “Đất mặt tiền thì liên quan gì đến việc chống dịch COVID 19 ạ?”
  • Thảo Dân: “Tại sao dân cứ phải hi sinh nhiều như vậy? Tại sao cứ mãi bòn rút tận dụng nơi khố rách?”

Những lời phát biểu linh tinh thượng dẫn hoàn toàn đi ngược với truyền thống cống hiến toàn diện và hy sinh tuyệt đối của cuộc Cách Mạng Vô Sản Vỹ Đại ở nước ta. Xin đơn cử đôi ba trường hợp để rộng đường dư luận:

  • Ngày 12 tháng 12 năm 1953, Bế Văn Đànhy sinh lấy vai làm giá súng.
  • Ngày 1 tháng 2 năm 1954, Tô Vĩnh Diệnhy sinh lấy thân chèn pháo.
  • Ngày 13 tháng 3 năm 1954, Phan Đình Gióthy sinh lấy thân mình lấp lỗ châu mai.

Những tấm gương hy sinh vừa nêu, có thể, vì quá sáng khiến nhiều người chói mắt nên không nhìn nhận là sự thực. It’s too good to be true! Còn những  đợt hy sinh tập thể, có vô số cá nhân người dính chùm, thì vô phương chối bỏ:

  • Sau cuộc Cải Cách Ruộng Đất (1953 – 1956) tại miền Bắc, toàn thể nông dân nơi đây đã “tự nguyện” mang hết đồng ruộng giao nộp lại cho Nhà Nước (bằng cách gia nhập hợp tác xã) để Chính Phủ thực hiện chủ trương đất đai của toàn dân. Một chính sách mang lại công bằng và ơn ích cho trăm dân muôn họ.
  • Trong những đợt Cải Tạo Công Thương Nghiệp – ở cả hai miền Nam/Bắc –không ít người dân Việt cũng đã mang hết nhà đất, xe cộ, cơ sở thương mại  hiến tặng cho Nhà Nước trước khi … tự tử vì họ ân hận đã tích trữ tài sản hơi nhiều!

Thiệt là quá đã, và quá đáng!

Tuy thế, vẫn chưa đã bằng nguyên cả Tuần Lễ Vàng – theo như tường thuật của Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam:

Cách đây gần 75 năm, trước những khó khăn chồng chất của tình thế cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vận động nhân dân cả nước tham gia “Tuần lễ Vàng” và xây dựng “Quỹ Độc Lập”. Sự kiện trên không chỉ giúp Chính phủ cách mạng non trẻ vượt qua những thiếu thốn về tài chính mà còn là minh chứng rõ nét cho sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân…

Chỉ trong 1 tuần, từ ngày 17-24/9/1945, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào cả nước đã ủng hộ cho “Quỹ Độc Lập” khá nhiều vàng, bạc, tiền Đông Dương. Ở nơi cực Bắc của Tổ quốc, Vua Mèo Vương Chí Xình (Đồng Văn, Hà Giang) đã ủng hộ 9 cân vàng và 2,2 triệu đồng bạc trắng. Tại cố đô Huế, Nam Phương Hoàng Hậu (Vợ của cựu hoàng Bảo Đại – khi đó là cố vấn Vĩnh Thuỵ) đã ủng hộ hàng chục chiếc nhẫn, hoa tai, vòng vàng quý, nêu gương cho nhân dân Huế ủng hộ 420 lạng vàng. Bà Thềm – Công chúa Chăm (Ninh Thuận) ủng hộ 1 mũ vàng, 1 quả na, 1 quả khế, 1 nải chuối vàng và cả chiếc mục vàng của dòng họ vua Chăm… Có thể nói, thông qua tuyên truyền, “Tuần lễ Vàng” đã nhận được sự ủng hộ sôi nổi trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Không chỉ có người giàu mà gần như mỗi gia đình dù ít, dù nhiều cũng tham gia ủng hộ xây dựng “Quỹ Độc Lập”, người đôi bông tai, nhà 1-2 con bò… Kết quả là chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được 20 triệu tiền đồng và 370 kilôgam vàng.

Với thời gian, việc hiến tặng (chắc) trở thành truyền thống nên dân Việt cứ thế mà tiếp tục dâng hiến dài dài:

Ngay cả bọn thuyền nhân chạy theo bơ thừa sữa cặn, trước khi đâm xầm ra biển, cũng không quên hiến tặng hết cả của chìm của nổi cho Chính Quyền Cách Mạng. Dù với đủ kiểu/đủ cách/đủ cỡ/đủ thứ/đủ loại hy sinh và hiến tặng như thế (ròng rã hơn bẩy mươi năm qua) hiện tình tài chính nước nhà cũng vẫn y chang như hồi 1945 thôi, quốc khố vẫn cứ trống trơn, và nay lại còn thêm một mớ nợ nần chồng chất nữa – theo như lời báo nguy của T.T Nguyễn Xuân Phúc:

 “Nợ công trong 5 năm qua tăng trung bình gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng… tốc độ tăng chi thường xuyên cao …thu ngân sách không đủ chi thường xuyên và trả nợ…. nếu không chấm dứt tình trạng này, sự sụp đổ nền tài khóa quốc gia không thể tránh khỏi… đề nghị các cơ quan chức năng phải có cải cách đột phá trong tư duy ngân sách, kiểm soát nợ công và đảm bảo khả năng trả nợ.”

Đại Biểu Quốc Hội có “kiến nghị” rất “đột phá” là “huy động vàng và USD trong dân.” Nói là đột phá nghe cho lạ tai, chứ giải pháp này không khác mấy với sáng kiến Tuần Lễ Vàng (từ hồi 1945) của Hồ Chủ Tịch. Ba phần tư thế kỷ đã qua – toàn dân đều đã sáng mắt, sáng lòng ráo trọi – vàng chứ có phải là phân đâu (và đô la cũng chả phải là giấy đi cầu) mà “huy động” hoài vậy được?