Khi những đòn tra tấn hiểm ác giúp cho cảnh sát điều tra thăng tiến

No photo description available.

Image may contain: 1 person, indoor
Image may contain: one or more people
Image may contain: shoes and indoor
Image may contain: 4 people, people sitting

Nguyễn Văn Sơn Trung  Follow

Khi những đòn tra tấn hiểm ác giúp cho cảnh sát điều tra thăng tiến

Theo tường trình của Phạm Quốc Nhật gửi Viện KSND Tối cao: “Một anh hỏi tôi tên gì? Tôi nói tôi tên Phạm Quốc Nhật (tên thường gọi là Đỏ). Anh cảnh sát hình sự đó nói tôi nói xạo, tôi không phải là Đỏ mà là tên Phát. Rồi anh ta đánh tôi vì lý do đó.

Và anh cảnh sát hình sự đó nói: “Không cần phải hỏi, tao cũng biết mày tên thường gọi là tên Phát”. Anh lấy súng ra và đánh súng vào đầu tôi không ngừng tay. Cho đến lúc tôi ngất xỉu…

Về tới Công an TP.Cao Lãnh, tôi bị còng tay vào cửa sổ. Tuấn thì bị nhốt phòng đối diện. Tôi thấy có rất đông công an đánh Tuấn. Tôi nghe Tuấn chỉ nói là: “Không biết, và em có gì đâu mấy anh đánh em?”, vậy mà mấy anh công an vẫn cứ đánh.

Đến khoảng 2 hay 3 tiếng sau, tôi bị 2 anh Công an TP.Cao Lãnh đánh và hỏi: “Mày với Tuấn đi đâu? Tôi nói là đi xuống nhà bạn gái của Tuấn chơi từ hôm qua tới giờ thì bị mấy anh bắt về đây. Tôi biết gì đâu mà mấy anh đánh. Và 2 anh nữa đi lại đánh tôi tiếp. 4 người đánh tôi cho đến khi tôi ngất đi… và đỡ tôi lên ghế. Ngồi được một tí thì đánh tôi tiếp, đánh vào đầu, đá vào ngực và đập đầu tôi vào tường…”.

Hậu quả, ngay đêm đó Tuấn đã chết vì bị đánh quá dã man! Và những cán bộ công an được xác định gây ra cái chết của Tuấn phải ra hầu tòa, 2 người nhận án. Tuấn và Nhật bị bắt nhầm! Còn Nhật, may mắn sống sót, nhưng những gì đã trải qua ở Công an TP.Cao Lãnh, có lẽ suốt đời em không bao giờ quên. Cứ thấy sắc phục công an, là em ớn lạnh!

Còn ở Sóc Trăng, giữa năm 2013 xảy ra một vụ án mạng, công an lập tức bắt giam 7 thanh niên và ai cũng “thành khẩn nhận tội”. Hơn nửa năm sau, 2 hung thủ thực sự ra tự thú. Và 7 thanh niên sau khi được thả, khai bị đánh bầm dập, có cả màn xốc ngược cắm đầu xuống đất, rồi dùng đá lạnh chườm vào bộ phận sinh dục, như tra tấn những kẻ ác ôn!

Có đến 25 cán bộ công an bị kỷ luật, 3 cán bộ bị khởi tố hình sự vì bức cung, nhục hình trong vụ án ở Sóc Trăng. Nhưng cái giá của những người bị bắt oan lớn hơn nhiều. Vợ con bị khinh bỉ, cha mẹ bị xa lánh… trong thời gian dài, vì dính dấp với kẻ bị bắt “được gán” cho nghi can gây tội ác!

Còn vụ án 3 thanh niên ở Cà Mau bị bắt giam oan gần 1 năm, Điều tra viên Phạm Hải Âu đã đưa giấy bút để Nguyễn Vũ Ca (1 trong 3 thanh niên bị oan) viết thư nhận tội gửi về nhà. Anh Hải Âu không ngờ, bức thư chủ yếu để làm cớ buộc tội Ca, lại là bằng chứng việc công an các anh đánh nghi can.

Một đoạn thư viết: “Mẹ ơi con rất thèm bữa cơm gia đình có cha mẹ và chế Hai. Cha mẹ ơi bữa đó vào con bị đánh ho ra máu luôn. Nhưng con nghĩ đó là bài học của con vì không nghe lời cha mẹ dạy… Ở đây con bị mấy người đó đánh, con suy nghĩ như cha mẹ đánh con dạy con nên người, bây giờ đầu con nhức lắm mẹ ơi. Nhưng con đã làm sai rồi phải chịu thôi. Thương cha mẹ nhiều nhiều với chế Hai nữa”.

https://motthegioi.vn/…/khi-nhung-don-tra-tan-hiem-ac-giup-…

​Cơ quan tố tụng đòi xử lý luật sư của bị hại

Rạng sáng 12/5/2012, nghi phạm Ngô Thanh Kiều (ngụ xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, Phú Yên) tham gia vụ trộm ở thị xã Sông Cầu. Rạng sáng hôm sau, theo chỉ đạo của Trưởng ban chuyên án Lê Đức Hoàn, các công an đã đến bắt anh Kiều về Công an TP Tuy Hòa.

Tại đây, nghi phạm bị còng tay vào thành ghế và bị các điều tra viên Mẫn, Quyền, Huy, Quang đánh dùi cui vào đùi, cẳng chân; Thành đánh 2-3 cái vào đầu. Đến chiều thì anh Kiều chết trên đường chuyển đến bệnh viện.

https://tuoitre.vn/khong-du-co-so-rut-chung-chi-hanh-nghe-c…

Vụ án Nguyễn Tuấn Thanh sinh năm 1986 ngụ xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An chết bất thường trong nhà tạm giữ công an thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

https://tuoitre.vn/nguyen-thieu-ta-dung-nhuc-hinh-lam-chet-…

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=282393735576515&id=100014176721813

“Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật”: Sự thật cay đắng!

Câu nói “Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật” của bà Diệp Thị Hồng Liên, cựu trưởng phòng khảo thí, khiến nhiều người cảm thấy chua xót vì đó là một thực tế hiển nhiên tại Việt Nam.

RFA.ORG

“Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật”: Sự thật cay đắng!

Câu nói “Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật” của bà Diệp Thị Hồng Liên, cựu trưởng phòng khảo thí, khiến nhiều người cảm thấy chua xót vì đó là một thực tế hiển nhiên tại Việt Nam.

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa | Tiếng Dân

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa

Bởi  AdminTD

Đào Tăng Dực

18-5-2020

Việt Nam không phải là một quốc gia có một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên như các quốc gia dân chủ trên thế giới. Chính vì thế hệ thống pháp lý của Việt Nam là “Pháp chế xã hội chủ nghĩa”, không phải là chế độ pháp trị bình thường như tại các quốc gia dân chủ.

Lý do pháp chế xã hội chủ nghĩa khác biệt với chế độ pháp trị bình thường là vì sự vắng bóng của yếu tố hiến định (tức là tính tối cao của một hiến pháp nghiêm chỉnh, thay vì tính tối cao của điều lệ đảng CSVN) và sự vắng bóng của yếu tố đa nguyên (tức sự hiện diện của đối lập chính trị hầu giám sát hoạt động của đảng CSVN).

Sự vắng bóng của hai yếu tố này đưa đến sự lệ thuộc của hệ thống tư pháp, gồm các tòa án vào sự lãnh đạo chính trị của đảng và từ đó, thiếu yếu tính độc lập và công lý có thể bị bức tử dễ dàng.

Chính vì thế, không những anh Hồ Duy Hải mà bất cứ công dân Việt Nam nào khác, đứng trước vành móng ngựa của một tòa án theo pháp chế xã hội chủ nghĩa này, cũng có xác xuất chịu một số phận như nhau.

Tuy nhiên, lý do chúng ta chú tâm nhiều đến vụ án này, ngoài tính nghiêm trọng của nó vì liên quan đến tội cố sát và án tử hình, là vì những vi phạm không những các nguyên tắc luật pháp bình thường tại các quốc gia dân chủ, mà nó còn vi phạm ngay cả những thủ tục pháp lý của pháp chế xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam nữa.

Trước khi phân tích và đánh giá vụ án này, chúng ta xác định các sự kiện như sau, theo Wikipedia Việt Ngữ:

“1. Thảm sát xảy ra ngày 13/01/2008:

Tại Bưu điện Cầu Voi, ấp 5, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Trong đó, hai nữ nhân viên bưu điện tên Nguyễn Thị Ánh Hồng (sinh năm 1985) và Nguyễn Thị Thu Vân (sinh năm 1987) bị giết bằng cách cắt cổ.

  1. Ngày 21 tháng 3 năm 2008, nghi phạm Hồ Duy Hải sinh năm 1985 bị bắt
  2. Qua hai lần xét xử sơ thẩm (năm 2008 tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An) và phúc thẩm (năm 2009 tại Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh), Hồ Duy Hải bị kết án tử hình về tội giết người, 5 năm tù về tội cướp tài sản, tổng hợp hình phạt là tử hình. Tuy nhiên, gia đình Hồ Duy Hải liên tục kêu oan.
  3. Năm 2011, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình quyết định không kháng nghị vụ án.
  4. Năm 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bác đơn xin ân xá của Hồ Duy Hải. Sau đó, trước sự phản đối mạnh mẽ của dư luận trong nước và quốc tế cũng như Quốc hội Việt Nam, năm 2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ra lệnh tạm dừng thi hành án tử hình đối với Hồ Duy Hải.
  5. Ngày 22 tháng 11 năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam Lê Minh Trí kháng nghị giám đốc thẩm vụ án, sau khi nhận được đề nghị xem xét giải quyết đảm bảo đúng pháp luật vụ án từ Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2019
  6. Ngày 8 tháng 5 năm 2020, sau 3 ngày xét xử giám đốc thẩm vụ án, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua bỏ phiếu công khai, quyết định không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  7. Đây là một vụ án có nhiều vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án như:
  8. Thay đổi vật chứng;
  9. Bỏ sót các chứng cứ pháp y như vân tay, vết máu tại hiện trường;
  10. Bỏ qua một số bản khai cung không nhận tội của bị cáo
  11. Tuy nhiên Tòa án nhân dân tối cao nhận định những vi phạm pháp luật này không làm thay đổi bản chất của vụ án nên không cần thiết phải hủy các bản án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra lại theo kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
  12. Tại thời điểm xảy ra vụ án, nạn nhân Nguyễn Thị Ánh Hồng đang có mối quan hệ tình cảm với ba người đàn ông: Nguyễn Mi Sol (người yêu cũ), Nguyễn Văn Nghị (người yêu mới) và một kĩ sư tên Trung (bạn mới quen). Trần Văn Chiến và Nguyễn Tuấn Anh đang theo đuổi Hồng.”

Thành viên Hội Đồng Thẩm Phán gồm 17 người và chủ tịch Hội Đồng là thẩm phán Nguyễn Hòa Bình, người mà năm 2011, trong chức vụ viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, đã quyết định không kháng cáo vụ án này.

Một các tổng quát thế giới đương đại có hai hệ thống tư pháp thịnh hành, một là hệ thống tư pháp phát xuất từ Anh Quốc theo truyền thống Common Law căn cứ nhiều trên án lệ và hai là hệ thống phát xuất từ Pháp gọi là Code Napoleon hay Civil Code, chịu ảnh hưởng của cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, căn cứ nhiều trên luật thành văn.

Hệ thống luật pháp Cộng Sản tuy gọi là pháp chế xã hội chủ nghĩa, và không còn yếu tố độc lập và vô tư của Civil code hiện hành tại Pháp hoặc phần lớn các quốc gia lục địa Âu Châu, nhưng chịu ảnh hưởng của Liên Xô cũ và qua Liên Xô cũ, chịu ảnh hưởng của Civil Code nhiều hơn.

Tuy nhiên cả Common Law (Anh Quốc, Hoa Kỳ, Canada, Úc, Tân Tây Lan…) lẫn Civil Code (Pháp, các nước lục địa Âu Châu, các cựu thuộc địa các quốc gia trên) đều tôn trọng những nguyên tắc nền tảng sau đây:

  1. Các khái niệm giả định vô tội (presumption of innocence) và trách nhiệm chứng minh (onus of proof):

Một bị cáo tự thể được giả định là vô tội (presumption of innocence) và trách nhiệm chứng minh (onus of proof) một bị cáo có tội hầu kết án về hình sự là trách nhiệm của Công Tố Viện (Prosecutor’s Office), trong trường hợp của Việt Nam là Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, không phải trách nhiệm của bị cáo.

Tuy bị cáo có thể nêu ra chứng cớ phản bác những chứng cớ của Viện Kiểm Sát và chứng minh sự vô tội của mình, nhưng chỉ cần VKS bày tỏ nghi vấn về phẩm chất của chứng cứ đã trình tòa, hoặc minh thị rút lại chứng cứ, thì nguyên tắc “giả định vô tội” lập tức được kích hoạt và tòa án không còn sự chọn lựa nào ngoài hủy án, tái xét hoặc tha bổng cho bị cáo.

Trong trường hợp của Hồ Duy Hải, một khi vào “ngày 22 tháng 11 năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam Lê Minh Trí kháng nghị giám đốc thẩm vụ án, sau khi nhận được đề nghị xem xét giải quyết đảm bảo đúng pháp luật vụ án từ Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2019” thì điều này chứng minh có nhiều khiếm khuyết về phẩm chất cũng như số lượng chứng cứ đưa đến việc kết án,và Ông Nguyễn Hòa Bình cũng như 16 vị thẩm phán TANDTC còn lại không có sự chọn lựa nào ngoài chấp nhận kháng nghị của VKS, hủy bỏ bản án, tái điều tra và tái xử hoặc tuyên bố Hồ Duy Hải vô tội.

  1. Cấp độ chứng minh (standard of proof):

Vấn đề chứng cứ trong một phiên tòa, dù là những phiên tòa dân sự hay hình sự cũng vô cùng quan trọng, nhất là về hình sự thì lại càng nghiêm khắc hơn.

Phiên xử Hồ Duy Hải cho thấy nhiều khuyết điểm về chứng cứ như:

  1. Thay đổi vật chứng;
  2. Bỏ sót các chứng cứ pháp y như vân tay, vết máu tại hiện trường;
  3. Bỏ qua một số bản khai cung không nhận tội của bị cáo

Trong hệ thống hình sự Common Law có 2 cấp độ chứng cứ rõ rệt trước khi tòa tuyên phán. Cấp độ chứng minh trong các phiên tranh tụng dân sự là “có xác xuất phải chăng” (On the balance of probability) có thể đồng nghĩa với xác xuất một sự kiện xảy ra trên 50% là thắng kiện. Tuy nhiên trong một phiên tòa hình sự thì cấp độ chứng minh phải là “Không còn lý do chính đáng để nghi ngờ” (Beyond Reasonable Doubt) có nghĩa một người phải chăng (reasonable person) không còn lý do để nghi ngờ tội phạm của một bị cáo. Hầu như xác xuất là 90% hay hơn nữa.

Hệ thống tư pháp Civil Code tại Pháp và Âu Châu khác với Anh Quốc và Hoa Kỳ ở điểm then chốt này. Trong cả dân sự lẫn hình sự, cơ quan hoặc cá nhân trách nhiệm phải thuyết phục quan tòa đến mức độ quan tòa đạt đến một “sự thuyết phục thâm tâm” (intime conviction) trước khi phán quyết. Ý niệm “thuyết phục thâm tâm” này buộc quan tòa phải xét đến tất cả mọi chứng cứ từ lời nói, văn kiện, khoa học, tâm lý v.v… và quyết định trong khi ý thức hoàn toàn tính chủ quan của chính vị thẩm phán.

Tuy về dân sự, cấp độ quan tòa phán xét một vụ tranh chấp căn cứ trên nguyên tắc “sự nổi bật của chứng cứ” (preponderance des preuves). Nhưng sự nổi bật của chứng cứ này không phải tương xứng với ý niệm “có xác xuất phải chăng” trong Common Law mà đòi hỏi một cấp bực chứng cứ tương đối cao hơn. Chính vì thế tranh tụng về dân sự tại Pháp đòi hỏi nhiều chứng cứ hiển nhiên hơn tại Anh hay Hoa Kỳ như giao kèo thành văn chẳng hạn.

Trong khi đó, trong một phiên xử hình sự, tuy mức độ “thuyết phục thâm tâm” áp dụng, nhưng dĩ nhiên vì hình sự liên hệ đến sự tự do và đôi khi tính mạng của một công dân nên, trong thực tế, yếu tố “nổi bật của chứng cứ” sẽ cao hơn và tương tự với “beyond reasonable doubt”.

Chính vì thế trong trường hợp của Hồ Duy Hải, nếu đứng trước một pháp đình nghiêm chỉnh trong truyền thống Common Law lẫn Civil Code, Hồ Duy Hải đều vô tội vì những chứng cứ nhiều khuyết điểm như thế sẽ không đủ sức thuyết phục một Bồi Thẩm Đoàn “beyond reasonable doubt” tại Anh Quốc hay Hoa Kỳ và cũng sẽ không thể thuyết phục một Thẩm Phán hay Thẩm Phán Đoàn tại Pháp đến mức độ “intime conviction” và Hồ Duy Hải sẽ được tuyên bố vô tội tại cả 2 pháp đình.

Thêm vào đó, vì cấp độ chứng minh của cả 2 khái niệm “beyond reasonable doubt” hoặc “intime conviction” trong án hình sự rất cao, nên sự hiện hữu của những nghi can khác (như Nguyễn Mi Sol (người yêu cũ), Nguyễn Văn Nghị (người yêu mới) và một kĩ sư tên Trung (bạn mới quen). Trần Văn Chiến và Nguyễn Tuấn Anh đang theo đuổi Hồng) hầu như chắc chắn sẽ làm các vị thẩm phán vô cùng nghi ngờ phẩm chất các chứng cớ về tính tội phạm (criminality) của Hồ Duy Hải và xác xuất trắng án của bị cáo lại càng cao hơn nữa.

  1. Khái niệm xung đột quyền lợi (conflict of interests)

Đây là một khái niệm then chốt của công lý nhân loại đương đại, phát xuất từ một phiên tòa tại Anh Quốc năm 1924 và xuất xứ của một câu châm ngôn lừng danh trong giới luật sư và thẩm phán thời đại.

Đó là câu:

“Justice must not only be done, but must be seen to be done” dịch ra tiếng Việt là “Công lý không những phải được thực thi, mà phải làm sao cho mọi người nhìn thấy nó được thực thi” của Chánh Thẩm Phán Lord Chief Justice Hewart trong phiên xử R v Sessex Justices, ex parte McCarthy, năm 1924.

Phiên xử này quy định những nguyên tắc nền tảng liên hệ đến tính vô tư và sự vắng mặt cần thiết của các thẩm phán khi có xung đột quyền lợi.

Chính vì thế thẩm phán Nguyễn Hòa Bình và 16 vị Thẩm Phán trong phiên xử Hồ Duy Hải cần học hỏi phiên xử này.

Theo Wikipedia Anh ngữ, thì phiên xử được tóm lược như sau:

“Năm 1923 một người đi xe gắn máy là McCarthy dính vào một tai nạn xe cộ và bị truy tố trước tòa về tội lái xe gây nguy hiểm (dangerous driving). Cả bị cáo lẫn luật sư của ông đều không biết thư ký của các chánh án là thành viên của một cong ty luật đại diện trong một phiên xử dân sự chống lại McCarthy đòi bồi thường thiệt hại liên hệ tới tai nạn xe cộ này. Các quan tòa kết tội McCarthy sau đó. Sau khi biết được quan hệ trên của thư ký này thì McCarthy kháng cáo yêu cầu hủy án. Các quan tòa nộp một văn kiện hữu thệ xác định họ đã phán quyết kết án bị cáo nhưng không hề tham khảo người thư ký này”.

Theo chánh thẩm phán Lord Chief Justice Hewart này thì tuy các thẩm phán xử án thực sự vô tư, nhưng chỉ cần hình thức bề ngoài có vẻ không vô tư thì công lý đã không được thực thi rồi.

Chính vì thế ngài đã phải hủy bản kết án và phán xét này đã đi vào lịch sử.

Khi nguyên tắc này áp dụng cho Hồ Duy Hải thì 2 sự kiện:

  1. Một là ông Nguyễn Hòa Bình vào năm 2011 làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã quyết định không kháng nghị vụ án và;
  2. Hai là ông ngang nhiên trở thành Chánh Thẩm Phán trong phiên xử ngày 8 tháng 5, 2020, đã vi phạm trầm trọng nguyên tắc xung đột quyền lợi (conflict of interests) vô cùng hiển nhiên và cũng vì thế sự phán xét của tòa bị hoen ố toàn diện khi ông làm chánh thẩm.
  3. Tương quan nghiêm chỉnh giữa Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (BLTTHS) và Bộ Luật Hình Sự (BLHS).

Một trong những lập luận rất lạ lùng của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao là những vi phạm pháp luật liên hệ đến Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, khi truy tìm chứng cứ của Công An không làm thay đổi bản chất của vụ án nên không cần thiết phải hủy các bản án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra lại theo kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Khi lập luận như thế 17 vị thẩm phán này đã lập luận không phải như những luật gia, mà như những đảng viên trung kiên của ý thức hệ Mác Lê.

Trong khi tương quan giữa BLTTHS và BLHS không những là một tương quan có tính phương tiện và cứu cánh (means and end), mà kèm theo đó là một tương quan có tính nhân quả (cause and effect).

Một mặt BLTTHS cần phải được tuân thủ nghiêm cẩn hầu bảo đảm phẩm chất của chứng cớ (phương tiện) và đạt đến mục tiêu công lý của BLHS (cứu cánh).

Mặt khác nếu không có chứng cớ phẩm chất cao qua tuân thủ BLTTHS (nguyên nhân) thì công lý như quy định trong BLHS sẽ không được thực thi (hậu quả).

Không những trong chế độ pháp trị dân chủ chân chính mà ngay cả dưới chế độ pháp chế xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, nguyên tắc này phải được mọi luật gia đả thông.

Chính vì thế, điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

Lập luận nêu trên của 17 vị thẩm phán là lập luận cố hữu của các đảng viên CS giáo điều tức “cứu cánh biện minh cho phương tiện”.

Vì họ đã cả quyết Hồ Duy Hải là có tội thì BLTTHS chỉ là một phương tiện, nếu không cần thiết thì vứt đi, vì mục tiêu đã đạt được.

Câu hỏi chúng ta đặt ra là:

Tại sao những quan tòa tối cao của đất nước lại có thể quan niệm về luật pháp lạ lùng như thế?

Câu trả lời đơn giản là dưới trật tự chính trị Mác Lê và pháp chế xã hội chủ nghĩa, các thẩm phán, thay vì là những luật gia uyên bác và vô tư thì chỉ là những đảng viên thuộc các phe nhóm, được gài ghép vào những vị trí hầu ban thưởng hoặc củng cố quyền lực, hoàn toàn không đủ phẩm chất của những thẩm phán nghiêm chỉnh như tại các quốc gia pháp trị nghiêm minh.

Ngay cả trong trường hợp Hồ Duy Hải được tái thẩm đúng theo công lý hoặc phán xét vô tội, thì số phận của nhân dân Việt vẫn không được cải thiện, trừ khi một hệ thống pháp lý nghiêm chỉnh được hình thành tại Việt Nam trong phạm trù của một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên chân chính.

BAOTIENGDAN.COM

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa | Tiếng Dân

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa Bởi AdminTD – 18/05/2020 Đào Tăng Dực 18-5-2020 Việt Nam không phải là một quốc gia có một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên như các quốc gia dân ch…

KHU RESORT & NGÔI MỘ TẬP THỂ 70 QUÂN CÁN CHÍNH VNCH BỊ CỘNG SẢN TÀN SÁT TẠI CÔN ĐẢO SAU NGÀY 30-4-1975 

KHU RESORT & NGÔI MỘ TẬP THỂ 70 QUÂN CÁN CHÍNH VNCH BỊ CỘNG SẢN TÀN SÁT TẠI CÔN ĐẢO SAU NGÀY 30-4-1975 

(Nguyễn Phúc An Sơn)

Ngôi mộ tập thể có 10 bộ hài cốt của các quân, cán, chính VNCH bị cộng sản sát hại tại Côn Đảo được xây năm 2016

Ngôi mộ tập thể có 26 bộ hài cốt của các quân, cán, chính VNCH bị cộng sản sát hại tại Côn Đảo được xây năm 2015

Côn Đảo

Côn Đảo

Côn Đảo

Câu chuyện mà chúng tôi sắp kể sau đây là câu chuyện về một “chuyến tàu đêm” không bao giờ về đến bến của một người bạn của chúng tôi và câu chuyện vẫn ám ảnh họ không nguôi cho đến bây giờ.

Câu chuyện bắt đầu bằng một chuyến du lịch của vợ chồng người bạn (LN) đi Côn Đảo hồi đầu tháng 10/2017. Anh kể, vợ anh là một người vốn khá nhạy với điều mà người ta hay gọi là “âm khí”. Ở đâu có “nó” là người vợ đều có thể cảm nhận được ngay và thường có cảm giác rất sợ hãi.

Khu resort nơi họ ở tại Côn Đảo rất đẹp, là một trong các resorts nổi tiếng ở đó. Nhưng không hiểu sao, hoàn toàn chỉ bằng cảm tính, người vợ có một cảm giác không yên trong thời gian nghỉ ngơi ở đây, cái cảm giác lành lạnh như lúc nào cũng có những đôi mắt vô hình nhìn mình từ đằng sau.

Mặc dù khu resort rất đẹp, nhưng hai đêm liền người vợ không tài nào ngủ được. Cảm giác sợ hãi, lành lạnh sống lưng khiến người vợ không tài nào nhắm mắt được dù ở bên cạnh người nhà. Người vợ luôn có cảm giác như có những ánh mắt vô hình cùa ai đó từ cõi âm đang nhìn mình chăm chú khiến người vợ có cảm giác nổi gai ốc và cứ phải quay lại nhìn sau lưng mình, rồi nhìn về những góc phòng.

Thậm chí, sáng hôm sau, khi ở phòng resort một mình, không chịu nổi sự sợ hãi vì cảm giác rất nhiều “người lạ” cũng đang hiện diện ở trong phòng, người vợ đã phải chạy ra ngoài dù ở ngoài nắng đã lên cao và thời tiết rất nóng. Một cảm giác rất lạ mà người vợ chưa bao giờ thấy dù đã từng đi nhiều nơi, ngủ một mình ở những nhà công vụ hoang vắng, xa khu dân cư.

Ngày cuối cùng, khi mọi người trong nhóm tour xuống phòng ăn để ăn bữa sang, một cô bạn trẻ đi cùng kể cho người vợ nghe: “Hồi tối em hết hồn chị ơi. Em đang xếp đồ vô valy để hôm nay về, tự nhiên linh tính mach bảo, em nhìn qua tấm kính (resort nơi mọi người ở là những ngôi nhà có vách ngăn các phòng bằng kính) thì thấy một người đàn ông đứng nhìn em. Ông mặc sơ-mi màu nâu, tay dài cài khuy, đeo cà vạt. Em hét lên: Anh ơi, có ai trong phòng. Chồng em chạy ra thì không thấy chi cả. Ảnh nói làm sao trong nhà mà có người lạ được, có lẽ em thấy cái chi đó rồi tưởng tượng ra thôi. Tuy vậy, chồng em cũng muốn yên tâm nên gọi bảo vệ lên cùng để đi quanh ngôi nhà và ngoài vườn nhưng vẫn không thấy ai cả”.

*****
Câu chuyện tưởng sẽ đi vào quên lãng theo thời gian, nếu như hai vợ chồng anh ấy không post hình đi chơi đảo của mình lên mạng, và sau đó, tình cờ có một người, một phụ nữ hoàn toàn không quen biết (tên là HN – đang sinh sống tại hải ngoại) vào comment, viết rằng nơi ấy rất đẹp nhưng cô không thể sống ở đó được vì bị một nỗi ám ảnh rất lớn: cha của cô là một Cảnh Sát dưới chế độ VNCH, một trong những công chức, quân nhân sống và làm việc trên đảo trước năm 1975, đã bị nhà cầm quyền cộng sản hành hình vào một đêm tối ở nơi ấy.

Nghe vậy, người vợ cảm thấy rợn người, nổi da gà và ngay lập tức chợt nhớ lại cái cảm giác xốn xang ớn lạnh và không yên ổn những ngày ở resort Côn Đảo.

Sau khi nghe câu chuyện này, người vợ đã kết bạn với chị HN và hai người đã nói chuyện với nhau thật nhiều sau đó.

Và theo lời chị HN kể lại, một sự thật kinh hoàng từ từ được hé lộ:

Sau khi Miền Nam Việt Nam bị cộng sản bắc việt cưỡng chiếm, những người từng làm việc cho chính quyền Miền Nam gồm công chức, quân đội, nhân viên làm ở trại tù đều bị cộng sản tập trung lại và bị nhốt. Con số này khoảng 70 người.

Đêm 23/12/1975, bọn cộng sản tại Côn Đảo đã đánh lừa gia đình các quân, cán, chính VNCH là sẽ đưa hơn 70 người gồm quân nhân, cảnh sát, viên chức chế độ cũ đã từng làm việc tại Côn Đảo lên tàu về Cần Thơ để “học tập cải tạo”. Thân nhân của họ nghe vậy thì chỉ biết hay vậy, và ngay sau đó 70 người bị bắt đưa đi và từ đó, mọi người cũng không được thông báo gì thêm sau đó.

Và rồi mãi mãi sau đó, không một người nào trong số 70 người ấy sống sót trở về với gia đình !!!

Sự thật về cái đêm khủng khiếp kinh hoàng đó, người thân của nhóm Quân, Cán, Chính VNCH này không ai hay biết và mọi bí mật có lẽ sẽ hoàn toàn bị chôn vùi theo năm tháng.

Mãi cho đến nhiều năm sau, có lẽ do Trời xui, Đất khiến, cái màn sương âm u và kinh hoàng che giấu cái chết oan khiên tức tưởi cùng một lúc 70 người đó được vén ra qua lời kể của một kẻ tâm thần, nửa điên nửa tỉnh, một trong những tên cộng sản man rợ mất hết nhân tính, đã ra tay hạ sát các anh, các chú bác này, là gã Tư Đ. trong một lần say xỉn đã “tự nhiên” cao hứng buột miệng kể ra.

Gã này còn kể lại rằng tất cả những người tù VNCH này bị đưa đến một khu rừng dương hoang vắng trên đảo, tất cả sau đó đều bị đập vào đầu, nhiều người chết ngay tại chỗ, nhưng cũng có nhiều người vẫn chưa chết hẳn, nhưng vẫn bị vùi sống xuống cái hố đã được bọn chúng đào sẵn. Khu nầy cách xa khu dân cư chính của đảo đến khoảng 10 cây số, một địa điểm hoàn toàn hoang vu vắng người, vô cùng tiện lợi cho mục đích của những kẻ sát nhân man rợ đầy thú tính.

Nhiều năm nữa đi qua… Người thân của những người bị giết chết đau cái nỗi đau không nói được nên lời. Thân phận họ, những người thuộc “bên thua cuộc”, hoàn toàn là thân phận con sâu cái kiến, biết kêu oan ở đâu và kêu oan với ai khi những kẻ nắm quyền cũng chính là những kẻ sát nhân man rợ. Đâu đâu cũng là kẻ chiến thắng, mang quyền sinh sát người khác trong tay? Luật là của bên thắng cuộc, đương nhiên lẽ phải thuộc về họ!

Thế nhưng đất trời lại có những cách sắp đặt khác mà loài người sẽ không bao giờ hiểu được. Một dự án xây dựng một khu resort tại một địa điểm rất đẹp gần biển, vắng vẻ và xa vùng dân cư này được xây lên, và trong lúc đào đất, nhà thầu thi công xây dựng đã tìm thấy rất nhiều xương người trong một ngôi mộ tập thể khá lớn.

Điều đáng nói là những người trong đội có nhiệm vụ di dời và mai táng hài cốt ra khỏi nơi đang xây dựng khu resort nói rằng các hộp sọ đều có vết nứt. Trong số những người thợ xây dựng này dĩ nhiên có người địa phương và họ đã nhận ra cặp chân giả của anh Sơn, con chú Chín Khương trên đảo. Khi đó, người ta mới bàng hoàng nhận ra đây là ngôi mộ chung của nhóm 70 người đã bị cộng sản lừa bắt đi “học tập” nhưng thật sự đã bị chúng thảm sát man rợ tại khu rừng dương này đêm hôm đó.

Sau đó, người ta mới dời đống xương này, đem chôn chung vào hai ngôi mộ bên đường, cách khu resort một đoạn …..

Từ đó người dân ở Côn Đảo không khỏi kinh hoàng khi biết về số phận bi thảm của 70 người tù VNCH ở đảo năm xưa. Câu chuyện này đã giải đáp nỗi thắc mắc cho bà con trên đảo vì sao những người Quân, Cán, Chính VNCH bị cộng sản lừa bắt đưa đi Cần Thơ đều không có ai còn sống sót trở về. Ngay cả khi những người tù cuối cùng ở các trại tù lao động khổ sai tại miền Bắc đã trở về (1992) và đi H.O thì tin tức của những người tù ở Côn Đảo vẫn bặt tăm.

Biết rõ về câu chuyện này nhưng người dân trên đảo họ chỉ biết thì thào kể với nhau chứ không ai muốn nói ra vì sợ bị gây phiền phức. Nhưng bây giờ, người dân trên đảo chỉ cần nói ba từ “Chuyến tàu đêm” là những người già cả, những người dân sống lâu năm trên Côn Đảo đều hiểu ngay rằng đang nói về chuyện gì.

***
Được biết, năm 2015, chị TN là người đã phát tâm đứng ra vận động các nhà hảo tâm đóng góp để xây dựng ngôi mộ đầu tiên trong đó có 26 hài cốt. Tiếp đó, chị TN lại tiếp tục xây dựng ngôi mộ thứ hai có 10 bộ hài cốt. Những ngôi mộ đã được xây dựng tươm tất với chỗ đặt bát hương, hoa quả. Số tiền xây dựng mộ là từ những người dân sống ở Côn Đảo, hoặc là những người từng sống ở đây và nay đang sống khắp nơi trong và ngoài nước đóng góp.

Cũng từ đó, những năm qua, chị TN là người thường xuyên chăm sóc mộ phần để vong linh các bác, các chú đỡ tủi hờn, lạnh lẽo bởi tấm lòng nhân ái của chị TN và của những người thương cảm cho những người đã khuất mà đến đây thắp nhang.

Từ đó, những thông tin về hai ngôi mộ tập thể của những quân, cán, chính VNCH bị cộng sản thảm sát tại Côn Đảo đến tai những người quen biết hoặc họ hàng của vợ con những người đã mất.

Cho đến nay, đã có khoảng hơn 10 gia đình đã biết thông tin về ngôi mộ tập thể này. Như vậy vẫn còn lại rất nhiều những bác, những chú chưa được gia đình và người thân đến thắp hương cho ấm lòng. Thương thay, có lẽ giờ này họ vẫn tiếp tục đi tìm các bác các chú, còn các chú bác thì vẫn cứ mỏi mòn ngóng chờ ngày vợ con và thân nhân đến thăm cho vong linh đỡ buồn tủi.

Xin cùng nhau thắp một nén hương, một lời cầu nguyện cho những linh hồn xấu số, những người đã lên “chuyến tàu đêm” không bao giờ đến bến, đã uổng tử mà không được một lời từ giã vợ con và người thân trước lúc ra đi, được sớm siêu thoát khỏi những nỗi đau, oan khiên, nghiệt ngã của một kiếp người!

(Sài Gòn trong tôi/ Nguyễn Phúc An Sơn)

Hình ngạo nghễ chạy trên mạng

Image may contain: outdoor
Từ Thức

Hình ngạo nghễ chạy trên mạng

Nếu để thờ cúng phụ mẫu, anh chị em ruột của chủ tịch HCM, để thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của người Cộng Sản, chỉ san bằng một ngọn núi để xây chùa không đủ. Phải san bằng cả nước.

Trong đền thờ, cũng không nên quên trưng bày thành quả vẻ vang của toà án nhân dân trong Cải cách Ruộng đất, vợ tố chồng, con chôn sống bố mẹ, biểu tượng rực rỡ nhất của đạo lý dân tộc

Thanh Hóa: tiền hỗ trợ của Chính phủ “vô tình” lạc vào nhà của hơn 4.000 người nhà cán bộ

TINNHANH247.ORG

Thanh Hóa: tiền hỗ trợ của Chính phủ “vô tình” lạc vào nhà của hơn 4.000 người nhà cán bộ

Trong quá trình chi trả tiền hỗ trợ, do phát hiện nhiều địa phương có dấu hiệu bất thường, sai sót nên UBND H.Thiệu Hóa yêu cầu rà soát lại Một góc thôn Thành Thượng (xã Thiệu Thành, H.Thiệu Hóa), nơi có hàng chục hộ

Tên đồ tể văn hóa Tố Hữu

Image may contain: text
Ngô Thứ

Fb Lâm Mạnh Di

Tên đồ tể văn hóa Tố Hữu

Nhớ đến tên đồ tể này với bài thơ ca ngợi Stalin của hắn là lại nhớ đến cái chết tức tưởi của nhà thơ lớn Vũ Hoàng Chương 😢..

Năm 1976 TH vào Nam xem tình hình văn hóa ở đây như thế nào.
Hắn biết Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn của Miền Nam. Hắn mở cuộc hội thoại và mời nhà thơ đến dự.

Cuộc hội thoại bàn về bài thơ rừng rú ca ngợi Stalin của hắn. Hắn mời Vũ Hoàng Chương lên bình luận và hy vọng nhà thơ sẽ ca ngợi hắn như loài bút nô miền bắc..

Vũ Hoàng Chương lên nói rất khiêm tốn thế nào là thơ. Ông nói không một bà mẹ nào trên thế giới, ngay cả vợ của TH, lại muốn con mình vừa chào đời đã gọi 2 tiếng Stalin.

TH có thể ca ngợi Stalin thì cứ việc ca ngợi, nhưng đừng bỏ chữ vào miệng các bà mẹ Việt Nam.

Tên đồ tể TH tím cả mặt. Những người hiện diện rất ngưỡng mộ ông nhưng vì sợ nên chỉ biết im lặng.. 😢😢

Hôm sau, nửa đêm CA đến bắt nhà thơ vào đồn Phan Đăng Lưu.
Hắn đánh tiếng, nếu nhà thơ hối hận và xin lỗi, thì ông được trả tự do. Ông nhất định không chịu, và bị nhục hình bỏ đói đến chết.
Một cài chết thảm thương nhưng bi hùng, để lại tiếng nhục muôn đời cho tên đồ tể văn hóa Tố Hữu 😢😢😢

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2984842581610054&id=100002530235916

AI MỚI LÀ TỘI PHẠM?

Minh Phuong Nguyen

Đỗ Ngà

Một đoạn clip dài 12 phút được đăng mới đây trên đài RFA về việc công an điều tra trả lời chất vấn về con dao, cái thớt, và cái ghế trong vụ án Hồ Duy Hải. Chưa đọc hồ sơ vụ án, chỉ xem clip này chúng ta thấy hình ảnh tên tội phạm chính là công an điều tra chứ không phải là Hồ Duy Hải. Từ những lập luận lóng ngóng của họ, không đủ cơ sở để buộc tội Hồ Duy Hải đã đành, mà ngược lại nó cho thấy chính những công an điều tra đó đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng khi thực hiện công tác điều tra.

Ngay từ phút thứ 2’16 đến 2’48 trên đoạn clip, một ông công an nói rằng “Việc cơ quan cảnh sát điều tra yêu cầu nhân chứng mua dao, thớt xác định không phải là để làm công cụ vật chứng vụ án, mà đây mua để xác định làm vật đồng dạng để bổ sung cho việc thực hiện điều tra vụ án chứ không phải coi đây là vật chứng”(hết trích)

Như vậy câu hỏi thứ nhất đặt ra là, luật nào cho phép máy ảnh dùng vật đồng dạng với vật chứng để buộc từ hình người ta? Giá sử như A và B là anh em sinh đôi, nếu A gây án, B vô tội. Vậy là người ta có thể xử án tử với B vì B đồng dạng với A thì cũng được à? Hay nếu đồng chí của anh phạm tội giết người, vậy người ta bắt anh xử án tử vì phép “đồng dạng” cũng được à? Đồng dạng về nghề nghiệp ấy! Hỏi cũng là trả lời, chẳng có phép “đồng dạng” nào trong luật pháp cả. Hãy xem đoạn clip từ phút thứ 3’29’’ đến 3’31’’, khi chủ tọa hỏi “Luật có cho phép không? Luật có cho phép mua cái ấy không?” thì ông công an đó đã không trả lời được.

Cùng nói về con dao, nhưng 2 công an nói 2 ý khác nhau hoàn toàn. Chú ý đoạn clip từ phút thứ 5’28’’ đến 5’45’’, thì một ông công an đã nói rằng “Sau khi Hồ Duy Hải khai nhận tội thì khai ra sau khi dùng con dao rồi rửa dao nhét vào cửa sách phù hợp với nhân chứng Thu, nhân chứng Hùng thu để dọn dẹp hiện trường phát hiện con dao trong đó.”(hết trích). Và sau đó, đoạn clip từ phút thứ 8’01’’ đến 8’13’’ thì ông công an thứ 2 lại nói nói rằng “Hồ Duy Hải nó ra lavobo nước ở nhà vệ sinh nó vặn vòi nước nó rửa dao sạch. Xong nó đi vào trong bưu cục nó nhét con dao vào giữa tấm bảng, và tấm bảng này dựng đứng đặt trên tấm vách tường bên phải bưu cục hướng từ ngoài quốc lộ 1A nhìn vào bưu cục” (hết trích)

Như vậy câu hỏi thứ 2 là, tại sao cả 2 ông công an trong đội điều tra cùng nói về con dao mà ông thì bảo “nhét vào cửa sách”, còn ông khác thì bảo “nhét con dao vào giữa tấm bảng”? Như ta biết, nếu đó là sự thật thì tất 2 ông này sẽ nói một ý thống nhất, còn nếu cùng một sự việc mà 2 ông này nói khác ý nhau thì chắc chắn là ngụy tạo vì mỗi ông vẽ một cách. Không cần đọc hồ sơ, chỉ cần đem 2 lời phát biểu này so sánh thì chúng ta đã thấy công an ngụy tạo chứng cứ rồi. Mà ngụy tạo nhưng không học thuộc bài nên mỗi ông mới nói một kiểu.

Theo như công an cho biết Hồ Duy Hải dùng 3 hung khí chính gây án đó là chiếc ghế hiệu Hòa Phát, một cái thớt gỗ, và 1 con dao. Mà như ta biết, ghế Hòa Phát là ghế khung kim loại. Nếu đem cả 3 thứ này đốt thì chả nhẽ lưỡi dao cũng thành tro? Chả nhẽ khung thép của chiếc ghế cũng thành tro? Cứ cho là 3 vật dụng đó bị đem đi đốt, thì cũng còn lại lưỡi dao và khung ghế chứ? Đến lưỡi dao và khung ghế sau khi cháy còn không có thì công an lấy gì bảo những thứ đó là hung khí đây? Đến một “tế bào” trên vật chứng cũng không trưng ra được thì lấy cơ sở gì để chứng minh Hồ Duy Hải có tội đây?

Như vậy chưa cần đọc hồ sơ vụ án, chỉ cần xem clip 12 phút này thì cũng cho ta thấy công an đã phạm vào 3 điều, thứ nhất tùy tiện dùng phương pháp mà luật pháp không quy định (nói thẳng ra là vi phạm pháp luật), thứ nhì dựng chuyện con dao để nhằm mục đích vu khống bị can, thứ 3 ngụy tạo 100% vật chứng. Những nhân viên điều tra vi phạm cả 3 điều này thì đã đủ cơ sở cấu thành tội chưa?

-Đỗ Ngà-

 

 

YOUTUBE.COM

Đoạn video clip được đăng tải trên Facebook Trương Châu Hữu Danh về phần trả lời của công an trong phiên Giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải cho thấy, tình tiết phát… 

45 năm Việt Nam vẫn chưa có hòa bình.

45 năm Việt Nam vẫn chưa có hòa bình.

Nguyễn Quang Duy

Báo chí trong nước hôm 12/5/2020 đưa tin Bộ Công an cho hay dự luật biểu tình chưa thể được trình lên Quốc hội vì “cần phải được nghiên cứu kỹ, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng”.

45 năm qua dường như đảng Cộng sản Việt Nam chưa có được một ngày hòa bình, trong tâm trí họ xung quanh lúc nào cũng có những “thế lực thù địch” đe dọa sự tồn vong của thể chế.

Câu chuyện “hòa hợp hòa giải dân tộc” đã được nói đến ngay từ khi Chiến tranh kết thúc năm 1975, nhưng đến nay nhà cầm quyền vẫn đề cao lịch sử của “bên thắng cuộc” và tiếp tục coi mọi tiếng nói khác biệt là thù địch.

Mục tiêu của cuộc chiến là gì?

Ngày 30/4/2020, trên VTC News, Thượng tướng Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, ông Nguyễn Chí Vịnh từ góc nhìn của “bên thắng cuộc” cho rằng “Hoà hợp, hoà giải dân tộc đã thành công”, ông nhấn mạnh:

“…chiến thắng này đem lại lợi ích cho cả người thắng lẫn kẻ thua và thời gian đã chứng minh điều ấy.”

Sau 30/4/1975, miền Nam từ một xã hội đa nguyên gồm nhiều sinh hoạt dân sự, có cả những sinh hoạt thân cộng sản, đã được miền Bắc “hợp” nhất thành một mối, từ người công an khu vực, phường đội, quận đội, mọi cơ quan hành chính miền Nam đều do người miền Bắc nắm giữ hoặc chỉ đạo.

Những người miền Nam thân cộng hay theo cộng sản là những người đầu tiên bất “hòa” với việc “thống nhất” theo mô hình lạc hậu của miền Bắc.

Những người này tin rằng theo Hiệp định Paris miền Nam sẽ có vài năm chuyển tiếp, người miền Nam được hòa giải với nhau và sau đó sẽ được quyền tự quyết dân tộc.

Mới đây, nhân dịp 30/4/2020, câu chuyện của Bác sĩ Bùi Quỳnh Hoa con gái Đại tá Quân đội Bắc Việt Bùi Văn Tùng kể trên BBC tiếng Việt có những điểm đáng được quan tâm.

Ông Bùi Văn Tùng là Trung Tá Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203, cấp chỉ huy cao nhất vào tiếp thu Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975, ông Tùng đã soạn Tuyên Bố Đầu Hàng cho Đại Tướng Dương Văn Minh và chính ông đã đọc lời Chấp Nhận Đầu Hàng trên Đài Phát Thanh Sài Gòn.

Trong vai trò Chính ủy trước đây ông Tùng phải tuyên truyền để bộ đội Bắc Việt “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, nhưng theo lời kể của Bác sĩ Quỳnh Hoa cho đến chết ông vẫn hỏi bà: “Tại sao Mỹ lại đánh nhau với mình thế hả con?”

Rõ ràng cho đến cuối đời ông Bùi Văn Tùng vẫn chưa có được một lời giải thích thỏa đáng nguyên nhân của cuộc chiến tại Việt Nam, lịch sử với cộng sản chỉ để tuyên truyền nên không thể thuyết phục ngay cả những chứng nhân “bên thắng cuộc”.

Khi được mở lòng trên BBC tiếng Việt, Bác sĩ Bùi Quỳnh Hoa đã hòa giải tâm lý bị đè nén bấy lâu nay, bà cũng đã hòa giải giúp cho cha bà ông Bùi Văn Tùng.

Thân phận của Điệp viên Phạm Xuân Ẩn, của ký giả Lý Chánh Chung và của nhiều nhân vật miền Nam khác cũng cần được cặn kẽ xem xét để xem họ nghĩ gì về chiến thắng của Quân Đội Bắc Việt.

Khác với nhiều ỵ́ kiến cho rằng vấn đề hòa giải đã xong, hoặc chỉ là chuyện của chính quyền với dân, ở Việt Nam dường như chưa có những cuộc nghiên cứu để tìm hiểu tâm lý của những bộ đội cộng sản trong chiến tranh Việt Nam để xem mức độ “hòa giải tâm lý” của binh sĩ bên thắng cuộc.

Bởi thế không ai có thể kết luận: “hòa hợp và hòa giải đã thành công” đối với bên thắng cuộc.

Bên thua cuộc thì sao?

Còn người miền Nam thuộc “bên thua cuộc” thì khăn gói 10 ngày “học tập cải tạo”, có người 17 năm mới rời khỏi nhà tù, nhiều người chết trong tù.

Một số nhân viên miền Nam cấp thấp không bị tù, được giữ lại làm việc ít lâu, nhưng khi người miền Bắc đã nắm được chuyên môn, thì họ bị sa thải vì là người của chế độ cũ.

Nền tảng chính trị, kinh tế, kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, xã hội, báo chí, văn nghệ, nghệ thuật, của miền Nam bị xóa bỏ để xây dựng xã hội mới và con người mới xã hội chủ nghĩa.

Những trận đánh tư sản, đánh văn hóa, cưỡng bức dân đi kinh tế mới, cưỡng bức dân vào hợp tác xã, ngăn sông cách chợ, phân biệt đối xử giữa người cũ với người mới đã buộc người miền Nam phải bỏ nước ra đi, nhiều người chết trên đường tìm tự do.

Đến nay tại Việt Nam từ giáo dục, báo chí, văn nghệ, nghệ thuật đến cuộc sống hằng ngày, mọi thứ vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm của “cách mạng”, của “chiến thắng 30/4/1975”, của người thắng kẻ thua.

Những người miền Nam thuộc “bên thua cuộc” còn ở lại Việt Nam, 45 năm qua chưa một ngày được đối xử công bằng, thậm chí đến đời con, đời cháu của họ vẫn bị đối xử kỳ thị vì cha ông đã phục vụ cho miền Nam tự do.

Những người sống ở nước ngoài và con cháu họ vẫn bị kỳ thị về chế độ thị thực, bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam nếu nhà cầm quyền cho họ vào “sổ đen”.

Chấm dứt chiến tranh bộ máy cầm quyền thay vì xóa bỏ xung đột để tiến đến hòa hợp và hòa giải dân tộc thực sự, thì hố cách biệt giữa những người Việt với nhau càng sâu hơn, một lịch sử có “hợp” nhưng không có “hòa”.

Không “hòa” không “giải”

Không có “hòa” thì không thể nào giải quyết được những xung đột về văn hóa, về niềm tin, về chính trị, về lịch sử, giữa đảng Cộng sản và những người thuộc “bên thua cuộc”.

Người miền Nam thuộc “bên thua cuộc” vẫn luyến tiếc và giữ niềm tin vững mạnh là họ sẽ phục hồi lại văn hóa, lại giáo dục, lại kinh tế, lại công bằng, tự do và dân chủ cho Việt Nam.

Ý tưởng này vẫn tồn tại và phát triển trong sinh hoạt của những người miền Nam yêu chuộng tự do trong và ngoài nước.

Cùng lúc, những người Việt ra hải ngoại du lịch và du học, những người Việt về nước du lịch hay làm việc, và không gian mạng toàn cầu, đã tạo cơ hội người Việt trong và ngoài nước, người Việt thuộc nhiều thế hệ khác nhau, người Việt thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau, người Việt thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, cùng hòa hợp với nhau, từng bước hòa giải, xóa bỏ những mâu thuẫn, những xung đột cùng hướng về tương lai.

Mặc dù không còn đất nước, không còn chính phủ nhưng bài học “hợp” nhưng không “hòa” không “giải”, không cho phép người Việt hải ngoại tái phạm sai lầm đã xảy ra, nên không hề có chuyện người Việt tự do có nhu cầu phải đối thoại với giới chức cộng sản.

Sau 45 năm người Việt hải ngoại không còn suy nghĩ thắng thua hay không có nhu cầu phải hòa hợp hay hòa giải với nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam.

Các xung khắc mới…

Miền Bắc sau 30/4/1975 lúc đầu đời sống kinh tế có phần tốt hơn, nhưng về lâu dài cả hai miền Bắc Nam đều cùng chung số phận và sau 45 năm “thống nhất”, xung đột đã từng bước chuyển sang những hình thức mới.

Xung đột giữa người cầm quyền với người bị trị, với những nông dân mất đất, xung đột giữa người dân làm không đủ ăn với những nhóm tư bản thân hữu phân chia lợi ích quốc gia, xung đột giữa những trí thức ưu tư về vận mệnh quốc gia và những người kiên định con đường cộng sản, và nhiều xung đột khác do thể chế chính trị gây ra.

Những xung đột này thay vì được giải quyết một cách dân chủ trong vòng luật pháp, nhà cầm quyền cộng sản lại khép cho những người bị thua thiệt là “thế lực thù địch”, rồi thẳng tay đàn áp, bắt bớ, bỏ tù.

45 năm qua dường như đảng Cộng sản chưa có được một ngày hòa bình, chung quanh họ lúc nào cũng có những “thế lực thù địch” đe dọa sự tồn vong của thể chế Cộng sản.

Trở lại với cách suy nghĩ ông Nguyễn Chí Vịnh cho thấy những người cộng sản 45 năm nay vẫn không hề thay đổi, vẫn còn nghĩ thắng thua, chưa nghĩ đến chuyện “hòa” thì đừng mong nghĩ đến chuyện “giải” để có được kết luận “Hoà hợp, hoà giải dân tộc đã thành công”.

Bài học từ 30/4/1975

Ở thời điểm 30/4/1975 mấy ai nghĩ rằng cho đến năm 2020, nghĩa là 45 năm trôi qua, việc hoà hợp và hoà giải dân tộc vẫn chưa được nhà cầm quyền cộng sản thực hiện.

Hai năm trước mấy ai nghĩ đến chiến tranh thương mãi Trung Mỹ, chỉ vài tháng trước mấy ai nghĩ đại dịch viêm phổi xảy ra khắp toàn cầu, và mấy ai nghĩ đến việc Trung cộng đang phải đối đầu với suy thoái kinh tế, với nạn thất nghiệp, với việc thay đổi cấu trúc kinh tế toàn cầu và rất có thể Trung cộng sẽ phải thay đổi chính trị: “thay đổi không thì chết”.

Môi Bắc Kinh hở, thì răng Hà Nội lạnh, nhiều thay đổi ắt sẽ xảy ra tại Việt Nam trong những ngày sắp tới.

Bài học của 30/4/1975 cho thấy hòa hợp và hòa giải dân tộc không thể xảy ra trong thể chế độc tài, đảng trị, mà chỉ có thể có nhờ môi trường dân chủ, đa nguyên, đa đảng với bầu cử thực sự tự do.

Việc hoãn lại luật biểu tình cho thấy Hà Nội vẫn xem dân là “kẻ thù”, chứng tỏ trong suốt 45 năm qua họ đã thất bại không hòa giải được như mong muốn của người dân hai miền Bắc Nam.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại lợi

14/5/2020