Hình ngạo nghễ chạy trên mạng

Image may contain: outdoor
Từ Thức

Hình ngạo nghễ chạy trên mạng

Nếu để thờ cúng phụ mẫu, anh chị em ruột của chủ tịch HCM, để thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của người Cộng Sản, chỉ san bằng một ngọn núi để xây chùa không đủ. Phải san bằng cả nước.

Trong đền thờ, cũng không nên quên trưng bày thành quả vẻ vang của toà án nhân dân trong Cải cách Ruộng đất, vợ tố chồng, con chôn sống bố mẹ, biểu tượng rực rỡ nhất của đạo lý dân tộc

Thanh Hóa: tiền hỗ trợ của Chính phủ “vô tình” lạc vào nhà của hơn 4.000 người nhà cán bộ

TINNHANH247.ORG

Thanh Hóa: tiền hỗ trợ của Chính phủ “vô tình” lạc vào nhà của hơn 4.000 người nhà cán bộ

Trong quá trình chi trả tiền hỗ trợ, do phát hiện nhiều địa phương có dấu hiệu bất thường, sai sót nên UBND H.Thiệu Hóa yêu cầu rà soát lại Một góc thôn Thành Thượng (xã Thiệu Thành, H.Thiệu Hóa), nơi có hàng chục hộ

Tên đồ tể văn hóa Tố Hữu

Image may contain: text
Ngô Thứ

Fb Lâm Mạnh Di

Tên đồ tể văn hóa Tố Hữu

Nhớ đến tên đồ tể này với bài thơ ca ngợi Stalin của hắn là lại nhớ đến cái chết tức tưởi của nhà thơ lớn Vũ Hoàng Chương 😢..

Năm 1976 TH vào Nam xem tình hình văn hóa ở đây như thế nào.
Hắn biết Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn của Miền Nam. Hắn mở cuộc hội thoại và mời nhà thơ đến dự.

Cuộc hội thoại bàn về bài thơ rừng rú ca ngợi Stalin của hắn. Hắn mời Vũ Hoàng Chương lên bình luận và hy vọng nhà thơ sẽ ca ngợi hắn như loài bút nô miền bắc..

Vũ Hoàng Chương lên nói rất khiêm tốn thế nào là thơ. Ông nói không một bà mẹ nào trên thế giới, ngay cả vợ của TH, lại muốn con mình vừa chào đời đã gọi 2 tiếng Stalin.

TH có thể ca ngợi Stalin thì cứ việc ca ngợi, nhưng đừng bỏ chữ vào miệng các bà mẹ Việt Nam.

Tên đồ tể TH tím cả mặt. Những người hiện diện rất ngưỡng mộ ông nhưng vì sợ nên chỉ biết im lặng.. 😢😢

Hôm sau, nửa đêm CA đến bắt nhà thơ vào đồn Phan Đăng Lưu.
Hắn đánh tiếng, nếu nhà thơ hối hận và xin lỗi, thì ông được trả tự do. Ông nhất định không chịu, và bị nhục hình bỏ đói đến chết.
Một cài chết thảm thương nhưng bi hùng, để lại tiếng nhục muôn đời cho tên đồ tể văn hóa Tố Hữu 😢😢😢

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2984842581610054&id=100002530235916

AI MỚI LÀ TỘI PHẠM?

Minh Phuong Nguyen

Đỗ Ngà

Một đoạn clip dài 12 phút được đăng mới đây trên đài RFA về việc công an điều tra trả lời chất vấn về con dao, cái thớt, và cái ghế trong vụ án Hồ Duy Hải. Chưa đọc hồ sơ vụ án, chỉ xem clip này chúng ta thấy hình ảnh tên tội phạm chính là công an điều tra chứ không phải là Hồ Duy Hải. Từ những lập luận lóng ngóng của họ, không đủ cơ sở để buộc tội Hồ Duy Hải đã đành, mà ngược lại nó cho thấy chính những công an điều tra đó đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng khi thực hiện công tác điều tra.

Ngay từ phút thứ 2’16 đến 2’48 trên đoạn clip, một ông công an nói rằng “Việc cơ quan cảnh sát điều tra yêu cầu nhân chứng mua dao, thớt xác định không phải là để làm công cụ vật chứng vụ án, mà đây mua để xác định làm vật đồng dạng để bổ sung cho việc thực hiện điều tra vụ án chứ không phải coi đây là vật chứng”(hết trích)

Như vậy câu hỏi thứ nhất đặt ra là, luật nào cho phép máy ảnh dùng vật đồng dạng với vật chứng để buộc từ hình người ta? Giá sử như A và B là anh em sinh đôi, nếu A gây án, B vô tội. Vậy là người ta có thể xử án tử với B vì B đồng dạng với A thì cũng được à? Hay nếu đồng chí của anh phạm tội giết người, vậy người ta bắt anh xử án tử vì phép “đồng dạng” cũng được à? Đồng dạng về nghề nghiệp ấy! Hỏi cũng là trả lời, chẳng có phép “đồng dạng” nào trong luật pháp cả. Hãy xem đoạn clip từ phút thứ 3’29’’ đến 3’31’’, khi chủ tọa hỏi “Luật có cho phép không? Luật có cho phép mua cái ấy không?” thì ông công an đó đã không trả lời được.

Cùng nói về con dao, nhưng 2 công an nói 2 ý khác nhau hoàn toàn. Chú ý đoạn clip từ phút thứ 5’28’’ đến 5’45’’, thì một ông công an đã nói rằng “Sau khi Hồ Duy Hải khai nhận tội thì khai ra sau khi dùng con dao rồi rửa dao nhét vào cửa sách phù hợp với nhân chứng Thu, nhân chứng Hùng thu để dọn dẹp hiện trường phát hiện con dao trong đó.”(hết trích). Và sau đó, đoạn clip từ phút thứ 8’01’’ đến 8’13’’ thì ông công an thứ 2 lại nói nói rằng “Hồ Duy Hải nó ra lavobo nước ở nhà vệ sinh nó vặn vòi nước nó rửa dao sạch. Xong nó đi vào trong bưu cục nó nhét con dao vào giữa tấm bảng, và tấm bảng này dựng đứng đặt trên tấm vách tường bên phải bưu cục hướng từ ngoài quốc lộ 1A nhìn vào bưu cục” (hết trích)

Như vậy câu hỏi thứ 2 là, tại sao cả 2 ông công an trong đội điều tra cùng nói về con dao mà ông thì bảo “nhét vào cửa sách”, còn ông khác thì bảo “nhét con dao vào giữa tấm bảng”? Như ta biết, nếu đó là sự thật thì tất 2 ông này sẽ nói một ý thống nhất, còn nếu cùng một sự việc mà 2 ông này nói khác ý nhau thì chắc chắn là ngụy tạo vì mỗi ông vẽ một cách. Không cần đọc hồ sơ, chỉ cần đem 2 lời phát biểu này so sánh thì chúng ta đã thấy công an ngụy tạo chứng cứ rồi. Mà ngụy tạo nhưng không học thuộc bài nên mỗi ông mới nói một kiểu.

Theo như công an cho biết Hồ Duy Hải dùng 3 hung khí chính gây án đó là chiếc ghế hiệu Hòa Phát, một cái thớt gỗ, và 1 con dao. Mà như ta biết, ghế Hòa Phát là ghế khung kim loại. Nếu đem cả 3 thứ này đốt thì chả nhẽ lưỡi dao cũng thành tro? Chả nhẽ khung thép của chiếc ghế cũng thành tro? Cứ cho là 3 vật dụng đó bị đem đi đốt, thì cũng còn lại lưỡi dao và khung ghế chứ? Đến lưỡi dao và khung ghế sau khi cháy còn không có thì công an lấy gì bảo những thứ đó là hung khí đây? Đến một “tế bào” trên vật chứng cũng không trưng ra được thì lấy cơ sở gì để chứng minh Hồ Duy Hải có tội đây?

Như vậy chưa cần đọc hồ sơ vụ án, chỉ cần xem clip 12 phút này thì cũng cho ta thấy công an đã phạm vào 3 điều, thứ nhất tùy tiện dùng phương pháp mà luật pháp không quy định (nói thẳng ra là vi phạm pháp luật), thứ nhì dựng chuyện con dao để nhằm mục đích vu khống bị can, thứ 3 ngụy tạo 100% vật chứng. Những nhân viên điều tra vi phạm cả 3 điều này thì đã đủ cơ sở cấu thành tội chưa?

-Đỗ Ngà-

 

 

YOUTUBE.COM

Đoạn video clip được đăng tải trên Facebook Trương Châu Hữu Danh về phần trả lời của công an trong phiên Giám đốc thẩm vụ Hồ Duy Hải cho thấy, tình tiết phát… 

45 năm Việt Nam vẫn chưa có hòa bình.

45 năm Việt Nam vẫn chưa có hòa bình.

Nguyễn Quang Duy

Báo chí trong nước hôm 12/5/2020 đưa tin Bộ Công an cho hay dự luật biểu tình chưa thể được trình lên Quốc hội vì “cần phải được nghiên cứu kỹ, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng”.

45 năm qua dường như đảng Cộng sản Việt Nam chưa có được một ngày hòa bình, trong tâm trí họ xung quanh lúc nào cũng có những “thế lực thù địch” đe dọa sự tồn vong của thể chế.

Câu chuyện “hòa hợp hòa giải dân tộc” đã được nói đến ngay từ khi Chiến tranh kết thúc năm 1975, nhưng đến nay nhà cầm quyền vẫn đề cao lịch sử của “bên thắng cuộc” và tiếp tục coi mọi tiếng nói khác biệt là thù địch.

Mục tiêu của cuộc chiến là gì?

Ngày 30/4/2020, trên VTC News, Thượng tướng Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, ông Nguyễn Chí Vịnh từ góc nhìn của “bên thắng cuộc” cho rằng “Hoà hợp, hoà giải dân tộc đã thành công”, ông nhấn mạnh:

“…chiến thắng này đem lại lợi ích cho cả người thắng lẫn kẻ thua và thời gian đã chứng minh điều ấy.”

Sau 30/4/1975, miền Nam từ một xã hội đa nguyên gồm nhiều sinh hoạt dân sự, có cả những sinh hoạt thân cộng sản, đã được miền Bắc “hợp” nhất thành một mối, từ người công an khu vực, phường đội, quận đội, mọi cơ quan hành chính miền Nam đều do người miền Bắc nắm giữ hoặc chỉ đạo.

Những người miền Nam thân cộng hay theo cộng sản là những người đầu tiên bất “hòa” với việc “thống nhất” theo mô hình lạc hậu của miền Bắc.

Những người này tin rằng theo Hiệp định Paris miền Nam sẽ có vài năm chuyển tiếp, người miền Nam được hòa giải với nhau và sau đó sẽ được quyền tự quyết dân tộc.

Mới đây, nhân dịp 30/4/2020, câu chuyện của Bác sĩ Bùi Quỳnh Hoa con gái Đại tá Quân đội Bắc Việt Bùi Văn Tùng kể trên BBC tiếng Việt có những điểm đáng được quan tâm.

Ông Bùi Văn Tùng là Trung Tá Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203, cấp chỉ huy cao nhất vào tiếp thu Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975, ông Tùng đã soạn Tuyên Bố Đầu Hàng cho Đại Tướng Dương Văn Minh và chính ông đã đọc lời Chấp Nhận Đầu Hàng trên Đài Phát Thanh Sài Gòn.

Trong vai trò Chính ủy trước đây ông Tùng phải tuyên truyền để bộ đội Bắc Việt “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, nhưng theo lời kể của Bác sĩ Quỳnh Hoa cho đến chết ông vẫn hỏi bà: “Tại sao Mỹ lại đánh nhau với mình thế hả con?”

Rõ ràng cho đến cuối đời ông Bùi Văn Tùng vẫn chưa có được một lời giải thích thỏa đáng nguyên nhân của cuộc chiến tại Việt Nam, lịch sử với cộng sản chỉ để tuyên truyền nên không thể thuyết phục ngay cả những chứng nhân “bên thắng cuộc”.

Khi được mở lòng trên BBC tiếng Việt, Bác sĩ Bùi Quỳnh Hoa đã hòa giải tâm lý bị đè nén bấy lâu nay, bà cũng đã hòa giải giúp cho cha bà ông Bùi Văn Tùng.

Thân phận của Điệp viên Phạm Xuân Ẩn, của ký giả Lý Chánh Chung và của nhiều nhân vật miền Nam khác cũng cần được cặn kẽ xem xét để xem họ nghĩ gì về chiến thắng của Quân Đội Bắc Việt.

Khác với nhiều ỵ́ kiến cho rằng vấn đề hòa giải đã xong, hoặc chỉ là chuyện của chính quyền với dân, ở Việt Nam dường như chưa có những cuộc nghiên cứu để tìm hiểu tâm lý của những bộ đội cộng sản trong chiến tranh Việt Nam để xem mức độ “hòa giải tâm lý” của binh sĩ bên thắng cuộc.

Bởi thế không ai có thể kết luận: “hòa hợp và hòa giải đã thành công” đối với bên thắng cuộc.

Bên thua cuộc thì sao?

Còn người miền Nam thuộc “bên thua cuộc” thì khăn gói 10 ngày “học tập cải tạo”, có người 17 năm mới rời khỏi nhà tù, nhiều người chết trong tù.

Một số nhân viên miền Nam cấp thấp không bị tù, được giữ lại làm việc ít lâu, nhưng khi người miền Bắc đã nắm được chuyên môn, thì họ bị sa thải vì là người của chế độ cũ.

Nền tảng chính trị, kinh tế, kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, xã hội, báo chí, văn nghệ, nghệ thuật, của miền Nam bị xóa bỏ để xây dựng xã hội mới và con người mới xã hội chủ nghĩa.

Những trận đánh tư sản, đánh văn hóa, cưỡng bức dân đi kinh tế mới, cưỡng bức dân vào hợp tác xã, ngăn sông cách chợ, phân biệt đối xử giữa người cũ với người mới đã buộc người miền Nam phải bỏ nước ra đi, nhiều người chết trên đường tìm tự do.

Đến nay tại Việt Nam từ giáo dục, báo chí, văn nghệ, nghệ thuật đến cuộc sống hằng ngày, mọi thứ vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm của “cách mạng”, của “chiến thắng 30/4/1975”, của người thắng kẻ thua.

Những người miền Nam thuộc “bên thua cuộc” còn ở lại Việt Nam, 45 năm qua chưa một ngày được đối xử công bằng, thậm chí đến đời con, đời cháu của họ vẫn bị đối xử kỳ thị vì cha ông đã phục vụ cho miền Nam tự do.

Những người sống ở nước ngoài và con cháu họ vẫn bị kỳ thị về chế độ thị thực, bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam nếu nhà cầm quyền cho họ vào “sổ đen”.

Chấm dứt chiến tranh bộ máy cầm quyền thay vì xóa bỏ xung đột để tiến đến hòa hợp và hòa giải dân tộc thực sự, thì hố cách biệt giữa những người Việt với nhau càng sâu hơn, một lịch sử có “hợp” nhưng không có “hòa”.

Không “hòa” không “giải”

Không có “hòa” thì không thể nào giải quyết được những xung đột về văn hóa, về niềm tin, về chính trị, về lịch sử, giữa đảng Cộng sản và những người thuộc “bên thua cuộc”.

Người miền Nam thuộc “bên thua cuộc” vẫn luyến tiếc và giữ niềm tin vững mạnh là họ sẽ phục hồi lại văn hóa, lại giáo dục, lại kinh tế, lại công bằng, tự do và dân chủ cho Việt Nam.

Ý tưởng này vẫn tồn tại và phát triển trong sinh hoạt của những người miền Nam yêu chuộng tự do trong và ngoài nước.

Cùng lúc, những người Việt ra hải ngoại du lịch và du học, những người Việt về nước du lịch hay làm việc, và không gian mạng toàn cầu, đã tạo cơ hội người Việt trong và ngoài nước, người Việt thuộc nhiều thế hệ khác nhau, người Việt thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau, người Việt thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, cùng hòa hợp với nhau, từng bước hòa giải, xóa bỏ những mâu thuẫn, những xung đột cùng hướng về tương lai.

Mặc dù không còn đất nước, không còn chính phủ nhưng bài học “hợp” nhưng không “hòa” không “giải”, không cho phép người Việt hải ngoại tái phạm sai lầm đã xảy ra, nên không hề có chuyện người Việt tự do có nhu cầu phải đối thoại với giới chức cộng sản.

Sau 45 năm người Việt hải ngoại không còn suy nghĩ thắng thua hay không có nhu cầu phải hòa hợp hay hòa giải với nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam.

Các xung khắc mới…

Miền Bắc sau 30/4/1975 lúc đầu đời sống kinh tế có phần tốt hơn, nhưng về lâu dài cả hai miền Bắc Nam đều cùng chung số phận và sau 45 năm “thống nhất”, xung đột đã từng bước chuyển sang những hình thức mới.

Xung đột giữa người cầm quyền với người bị trị, với những nông dân mất đất, xung đột giữa người dân làm không đủ ăn với những nhóm tư bản thân hữu phân chia lợi ích quốc gia, xung đột giữa những trí thức ưu tư về vận mệnh quốc gia và những người kiên định con đường cộng sản, và nhiều xung đột khác do thể chế chính trị gây ra.

Những xung đột này thay vì được giải quyết một cách dân chủ trong vòng luật pháp, nhà cầm quyền cộng sản lại khép cho những người bị thua thiệt là “thế lực thù địch”, rồi thẳng tay đàn áp, bắt bớ, bỏ tù.

45 năm qua dường như đảng Cộng sản chưa có được một ngày hòa bình, chung quanh họ lúc nào cũng có những “thế lực thù địch” đe dọa sự tồn vong của thể chế Cộng sản.

Trở lại với cách suy nghĩ ông Nguyễn Chí Vịnh cho thấy những người cộng sản 45 năm nay vẫn không hề thay đổi, vẫn còn nghĩ thắng thua, chưa nghĩ đến chuyện “hòa” thì đừng mong nghĩ đến chuyện “giải” để có được kết luận “Hoà hợp, hoà giải dân tộc đã thành công”.

Bài học từ 30/4/1975

Ở thời điểm 30/4/1975 mấy ai nghĩ rằng cho đến năm 2020, nghĩa là 45 năm trôi qua, việc hoà hợp và hoà giải dân tộc vẫn chưa được nhà cầm quyền cộng sản thực hiện.

Hai năm trước mấy ai nghĩ đến chiến tranh thương mãi Trung Mỹ, chỉ vài tháng trước mấy ai nghĩ đại dịch viêm phổi xảy ra khắp toàn cầu, và mấy ai nghĩ đến việc Trung cộng đang phải đối đầu với suy thoái kinh tế, với nạn thất nghiệp, với việc thay đổi cấu trúc kinh tế toàn cầu và rất có thể Trung cộng sẽ phải thay đổi chính trị: “thay đổi không thì chết”.

Môi Bắc Kinh hở, thì răng Hà Nội lạnh, nhiều thay đổi ắt sẽ xảy ra tại Việt Nam trong những ngày sắp tới.

Bài học của 30/4/1975 cho thấy hòa hợp và hòa giải dân tộc không thể xảy ra trong thể chế độc tài, đảng trị, mà chỉ có thể có nhờ môi trường dân chủ, đa nguyên, đa đảng với bầu cử thực sự tự do.

Việc hoãn lại luật biểu tình cho thấy Hà Nội vẫn xem dân là “kẻ thù”, chứng tỏ trong suốt 45 năm qua họ đã thất bại không hòa giải được như mong muốn của người dân hai miền Bắc Nam.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại lợi

14/5/2020

Không phải điều tra viên bất tài hay sơ sót đâu…

Minh Phuong Nguyen

Còn bầy 17 Thẩm phán vô lương và bất tài này thì dù quét nhà cũng chẳng ai thèm mướn đâu! Đi chết đi!

Hồ Duy Hải rửa dao 2 lần, lần nào cũng ra vặn vòi nước rửa tay rửa dao. Xong, Hải cẩn thận lau dấu tay của mình – chừa lại dấu tay người khác!

Tương tự, Hải cầm dao cầm ghế cầm thớt, leo trèo, mở tủ, mở ngăn kéo, mở cửa, đi chân không, và Hải lau đúng dấu tay dấu chân của mình – chừa lại dấu tay người khác!

Tóc rơi trong lavabo, hẳn là Hải cũng dọn hết – chừa lại tóc của người khác…

Hiện trường đầy dấu tay, Hải tài ở chỗ là lau đúng của mình. Chứ người thường, đã lau là lau hết.

Nói chung, người có thể giắt con dao bén ngót 30cm trước hai quả cả rồi nhảy nhót rượt đuổi, thì làm việc gì mà không được!

 Cho dù người phàm không tin nhưng 17 thẩm phán lại tin.

@Ngo Thanhphuc

Nước & Dân

Nước & Dân

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – Đúng 9 giờ sáng ngày 10 tháng 10 năm 1972, tôi có mặt tại Trung Tâm Xã Hội Sài Gòn để trình diện nhập ngũ. Tới trưa, tôi được đưa vào Nguyễn Tri Phương. Đây là nơi tiếp nhận tân binh để đưa đi huấn luyện. Những thằng trong hạn tuổi quân dịch như tôi, theo luật Tổng Động Viên (sau Mùa Hè Đỏ Lửa) thì nhiều vô số nên cả đống phải nằm chờ khá lâu ở cái trại chuyển tiếp này.

Tôi ghét tất cả các trại lính và mọi thứ quân trường (Quang Trung, Thủ Đức, Lam Sơn…) mà mình đã trải qua nhưng riêng Nguyễn Tri Phương thì có một “điểm son” đáng được ghi nhận: nơi đây có một cửa hàng cho mướn sách truyện, và không thiếu một tác phẩm nào của Erich Maria Remarque. Tất cả đều được những dịch giả tài hoa của miền Nam (Huỳnh Phan Anh, Cô Liêu, Tâm Nguyễn, Vũ Kim Thư…) chuyển sang Việt ngữ:

– All Quiet on the Western Front (Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh) 

– Three Comrades (Chiến Hữu) 

– Arch of Triumph (Tình Yêu Bên Bờ Vực Thẳm) 

– Spark of Life (Lửa Thương Yêu Lửa Ngục Tù) 

– A Time to Love and a Time to Die (Một Thời Để Yêu và Một Thời Để Chết) 

– The Black Obelisk (Bia Mộ Đen)…

Tâm cảm phản chiến của Remarque rất hạp với cái “tạng” ngại chuyện súng đạn của tôi. Nước Đức bất an và tan hoang qua của ông cũng rất gần với không khí ngột ngạt mà tôi đang hít thở, ngay ở quê hương của chính mình. Tôi lại đang không có chuyện chi để giết thời giờ trong khi nằm chờ khoá nên truyện của Remarque tôi đều đọc đi đọc lại (vài lần) và trở thành “rành rẽ” về nước Đức hơn nhiều quốc gia khác ở Âu Châu.

Duyên nợ của tôi với Đức Quốc không chỉ ngừng ngang đó. Tuy chưa bao giờ có dịp được đặt chân đến xứ sở này nhưng người Việt thì sống ở nơi đây không ít, và họ có lắm nỗi băn khoăn . FB Đặng Đình Mạnh vừa đặt ra nhiều câu hỏi: Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao họ không đặt ra vấn đề buộc những người cộng tác với chính quyền Đông Đức cũ phải đi học tập cải tạo như đất nước ta?

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không hiểu tại sao người dân Đông Đức cũ đã không chọn con đường đào thoát, tỵ nạn ra nước ngoài như người dân đất nước ta? 

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao và như thế nào mà họ lại có thể chấp nhận một người vốn xuất thân từ một đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Đức thuộc Đông Đức cũ, nhưng chỉ 15 năm sau khi thống nhất, thì người này đã có thể trở thành người phụ nữ đầu tiên và trẻ nhất đắc cử vào chức vụ Thủ tướng đầy quyền lực của nước Đức thống nhất? 

Tại sao và tại sao?

Những “thắc mắc” vừa nêu có thể được giải đáp, phần nào, qua lời của FB Nguyễn Thọ“Trong những vấn đề dân tộc, người dân Đông Đức XHCN chỉ biết đến nước Đức. Thời tôi ở Đông Đức cuối những năm 1960, đội tuyển bóng đá Đông Đức chỉ là loại trung bình ở châu Âu, trong khi đội tuyển Tây Đức là một trong những đội đứng đầu thế giới. Các trận đấu của đội tuyển Tây Đức ngày đó luôn là những tuyệt tác nghệ thuật của các danh thủ Gerd Müller, Beckenbauer, Overrath, Netzer… Dân Đông Đức hay rủ nhau xem các trận này qua TV. Mặc dù đội Tây Đức luôn được ký hiệu trên TV là RFA hay FRG[1], dân Đông Đức chỉ hét cổ vũ “Deutschland, Deutschland” (nước Đức, nước Đức). Đó là dân trí lành mạnh!” 

Đoạn văn thượng dẫn khiến tôi chợt nhớ đến một trận đá bóng (khác) không được “lành mạnh” gì cho lắm, hay nói chính xác là “kinh hoàng” hơn nhiều – theo như “nguyên văn” cách dùng từ của người thuật chuyện: 

“Khi Việt Nam kịch liệt lên án Liên Xô, chị Nona người Nga, giáo sư đại học ở ta, vợ Nguyễn Tài Cẩn, mấy lần mếu máo bảo tôi là đi đường chị vẫn bị người lớn trẻ con ném đá, và chửi ‘đ. mẹ con xét lại!’ Dân Việt Nam say mê chính trị lắm, mà thể hiện chủ yếu bằng gạch đá và chửi tục, chị nói.

Nhân Nona nói đến gạch đá tham gia chống xét lại, tôi hỏi chị có biết quân đội 12 nước xã hội chủ nghĩa đá bóng với nhau ở Hà Nội hồi sắp ra Nghị quyết 9 không. Nona nói có, có nghe. Bảo kinh hoàng lắm. 

Tôi nói chính tôi chứng kiến. Tôi cùng ngồi xem với Trần Đức Hinh cục trưởng điện ảnh và Khánh Căn, báo Nhân Dân, sau này thông gia với Tố Hữu. Hôm ấy quân đội Liên Xô đấu với ai đó, tôi không nhớ – hình như Anbani,,, Dần lại thấy có những bị cói và sọt đan kín phủ báo ở chân mấy người xem gần chỗ chúng tôi. Thì ra đựng đầy đá củ đậu. Trận đấu bắt đầu được chừng mười lăm phút, người xem ở khắp bốn phía sân vân động thình lình nhất tề nhè vào cầu thủ Liên Xô ném đá tới tấp. Ba chúng tôi kinh ngạc. Khánh Căn nói phong trào quăng đá này nhất định là phải có tổ chức từ trên rồi.” (Trần Đĩnh. Đèn Cù II, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Ôi, tưởng đâu chứ trên thì còn có lắm chuyện tiểu nhân và bất nhân hơn thế rất nhiều:

“Sáng sớm ngày 9 tháng 4 năm 1979, phòng tổ chức mời vợ tôi lên. Cuộc gặp mặt gồm Bùi Đình Phảng, bí thư đảng ủy, Nguyễn Đình Mão, phó bí thư kiêm bệnh viện phó, Nguyễn Gia Hòa, đảng ủy viên, trưởng phòng Tổ Chức Hành Chính cùng một số nhân viên…

Sau vài lời rào đón, Nguyễn Đình Mão bảo vợ tôi: “Việt Nam và Trung Quốc đã xảy ra chiến sự, Chúng ta đang chống quân bá quyền, bành trướng Trung Quốc. Chị là người Việt, nhưng chồng chị là người Hoa. Chúng tôi đang giải quyết anh ấy nghỉ chế độ mất sức. Còn chị muốn tiếp tục công tác, chị phải làm đơn ly dị và trả lại 3 cháu cho anh ấy, nộp cho chúng tôi. Vợ tôi bàng hoàng… Thấy vợ tôi im lặng, trưởng phòng tổ chức Nguyễn Gia Hòa an ủi: Chúng tôi muốn giúp đỡ, cho chị lối thoát chứ không có ý gì khác.” (Lâm Hoàng Mạnh. Vui Buồn Đời Thuyền Nhân, Tiếng Quê Hương, Falls Church, VA: 2011).

Khi thù Nga, lúc oán Tàu. Nay thế này, mai thế khác, bao giờ cũng với thái độ quá khích, rồi giận cá chém thớt, trút hết mọi oán hận vào những lương dân vô tội. Đất nước “được” dẫn dắt bởi một đám người nông nổi, tiểu tâm, ngu tối (và thiển cận) đến thế nên đã tạo ra một “cái nền dân trí luôn là mảnh đất cho hận thù, ngờ vực và chia rẽ” – theo như nhận xét của FB Nguyễn Thọ:

“Chúng ta chưa có một nền dân trí mạnh vì còn rất ít người có thói quen suy nghĩ độc lập, tự đi tìm sự thật. Đa số người Việt trên mạng chỉ có một hình ảnh kẻ thù cố định hoặc một anh hùng vĩnh cửu. Khi coi Trung Quốc là kẻ thù thì mọi thứ của Trung Quốc đều xấu, đều đáng bị tiêu diệt. Ai chửi Trung Quốc thì là bạn, ai phê phán người chửi Trung Quốc là kẻ thù. Có lẽ không ở đâu mà Fake news có đất sống và phát tán nhanh như mạng Việt ngữ.

Cách đơn giản hóa vấn đề, chỉ biết có trắng và đen đang làm cho người Việt trở nên cực đoan. Người ta chửi nhau, hủy bạn bè vì những chuyện nhỏ như dùng Chloroquine chữa bệnh Covid-19, vì Bill Gates, vì Greta Thunberg hay vì Mẹ Nấm. Lên đến mức độ Trump thì đã có những cặp vợ chồng tan vỡ. Cái nền dân trí đó luôn là mảnh đất cho hận thù, ngờ vực và chia rẽ.”

“Cái nền dân trí luôn là mảnh đất cho hận thù, ngờ vực và chia rẽ” nếu chỉ giới hạn trong lãnh thổ VN thì có thể tìm ngay ra thủ phạm: Chủ Nghĩa Toàn Trị và học thuyết Marx – Lenin! Vấn đề là không ít người Việt đang sống ở nước ngoài, chả có liên quan (hay ảnh hưởng chi nhiều) với cái chế độ thổ tả hiện hành mà vẫn sẵn sàng chửi nhau, hủy bạn bè vì những chuyện nhỏ (như con thỏ) như thường. Vì cái nước mình nó thế nên dân mình không thể khác được chăng? 

14.05.2020

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

 danlambaovn.blogspot.com

Vụ án Bưu cục Cầu Voi: Tôi biết Nguyễn Văn Nghị đang ở đâu

Vụ án Bưu cục Cầu Voi: Tôi biết Nguyễn Văn Nghị đang ở đâu

Chu Mộng Long

Dân mạng share thông tin mới nhất từ báo Dân Việt về “nghi can số 1” Nguyễn Văn Nghị trong vụ án Cầu Voi. Phóng viên báo Dân Việt cho biết đã phối hợp với chính quyền xã Tân Hội, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo thông tin báo chí trước đó, nhưng không hề thấy tung tích. Có nghĩa là Nguyễn Văn Nghị có tồn tại ngoài đời nhưng không tồn tại ở địa chỉ mà điều tra viên đã xác định.

Tôi phán đoán địa chỉ xã Tân Hội, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nơi cơ quan điều tra cung cấp cho báo chí về thường trú của Nghị là thông tin giả để đánh lạc hướng sự truy tìm Nguyễn Văn Nghị và ngăn chặn hậu họa nếu các mưu đồ thực thi không trót lọt.

Tôi chắc chắn Nguyễn Văn Nghị biến mất cũng tương đương như cái thớt gỗ, con dao và cái ghế inox đã biến mất sau khám nghiệm hiện trường. Mất dụng cụ gây án, tức mất dấu vết gây án, bây giờ là mất luôn cả nghi phạm. Mất có hệ thống thì không thể là sai sót nghiệp vụ một cách vô tình. Chỉ có thể là cố tình phi tang để che giấu sự thật!

Đừng nói Nguyễn Văn Nghị là nhân vật ảo mà công an tạo ra nhằm đánh lừa dư luận hay đánh lạc hướng thủ phạm để dễ dàng bắt “hung thủ” Hồ Duy Hải. Nguyễn Văn Nghị hoàn toàn có thật. Có thật từ lời khai của các nhân chứng là những người sống quanh bưu cục Cầu Voi. Có thật trong hồ sơ vụ án qua hai văn bản chính thống: Kháng nghị giám đốc thẩm của Viện Kiểm sát Tối cao đòi đưa Nghị vào diện điều tra lại, và Phán quyết giám đốc thẩm trả lời Kháng nghị giám đốc thẩm. Tôi chỉ cần dẫn bản Phán quyết giám đốc thẩm:

Quá trình xác minh, Cơ quan điều tra đã xác minh nhiều đối tượng nghi vấn, trong đó có Nguyễn Văn Nghị và Nguyễn Mi Sol, nhưng đã làm rõ những đối tượng này không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan điều tra không đưa vào hồ sơ vụ án mà được lưu trong hồ sơ nghiệp vụ của Cơ quan Công an“. (Trích trang 19, 20).

Vậy thì, theo chỉ dẫn của Phán quyết giám đốc thẩm, đề nghị phóng viên Dân Việt, một là đến tại Cơ quan Công an Long An xin xác minh từ “hồ sơ nghiệp vụ” đã lưu; hai là gặp 2 điều tra viên Lê Thành Trung và Nguyễn Văn Minh hỏi cho rõ. Lưu ý là mới chỉ có hai công an viên xã chết (Nguyễn Văn Hải và Huỳnh Văn Minh tham gia dọn dẹp và tiêu hủy hiện trường), còn hai điều tra viên chính này chưa chết.

Nếu Cơ quan Công an Long An trả lời những gì liên quan đến Nguyễn Văn Nghị đã bị tiêu hủy chứ không lưu “hồ sơ nghiệp vụ” thì 17 thẩm phán trong Hội đồng giám đốc thẩm đã bị lừa hoặc nói dối. Mà nếu đã hủy thì thêm một bằng chứng Công an Long An đã hủy tang chứng, vật chứng cho đến nghi phạm một cách có hệ thống, tức có chủ ý hay bộc lộ rõ động cơ che giấu tội phạm.

Việc còn lại là khởi tố bị can Lê Thành Trung và Nguyễn Văn Minh tội làm sai lệch hồ sơ vụ án để điều tra vì sao tang chứng, vật chứng và nghi phạm biến mất. Lê Thành Trung, Nguyễn Văn Minh chắc chắn sẽ biết Nguyễn Văn Nghị được giấu ở đâu.

Có thể Nguyễn Văn Nghị không phải là thủ phạm, nhưng ít ra cũng có thể là nhân chứng, vì Nguyễn Văn Nghị được xác định là có mặt tại hiện trường đêm 13 tháng 1. Nếu Nguyễn Văn Nghị bị nghi oan thì cũng phải được minh oan chứ không chỉ Hồ Duy Hải,

Khi các cơ quan đại diện của nhân dân không phá án được thì nhân dân sẽ thực thi trách nhiệm phá án. Cụ Hồ từng dạy, chắc là công an thuộc nằm lòng: Công an chỉ có 2 con mắt, còn nhân dân có hàng triệu đôi mắt. Không lo giải quyết sớm vụ án này thì oan hồn còn báo oán tất cả những người có liên can chứ không thế lực thù địch, phản động nào lợi dụng được cả.

Ảnh chụp màn hình các tài liệu, bài báo liên quan tới bài viết