Nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn bị an ninh cưỡng chế đi làm việc

Hoang Le Thanh

Vào lúc 11 ngày 22/5, nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn bị lực lượng an ninh cưỡng chế đi làm việc khi anh đang ngồi café tại Hà Nội.

Hiện chưa rõ lý do về sự việc.

Nguyễn Anh Tuấn (sinh năm 1990, ngụ ở Đà Nẵng) là một nhà hoạt động xã hội trẻ được nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Anh vừa học xong thạc sĩ Quản lý công – Học viện Hành chính quốc gia Hà Nội.

Trước đây Nguyễn Anh Tuấn đã thi đổ thủ khoa vào Học viện Hành chánh Quốc gia (Hà Nội) và tốt nghiệp ra trường hạng ưu.

Sau khi tốt nghiệp, Nguyễn Anh Tuấn đã dành ra 3 năm đi hơn 20 nước trên thế giới để học tập kinh nghiệm tiếp xúc, nói chuyện và vận động trên nhiều diễn đàn từ Liên Hiệp Quốc cho đến các tòa Quốc hội các nước và tổ chức nhân quyền quốc tế khác nhau.

Trước khi quay trở về Việt Nam, Tuấn có nhiều năm học tập và vận động dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam ở nhiều nước trên thế giới như: Úc, Châu Âu, Philippines, Đài Loan…

Khi đáp máy bay từ Siem Reap về Đà Nẵng – Việt Nam, Nguyễn Anh Tuấn đã bị an ninh thu giữ hộ chiếu quốc tế (do Liên Hiệp Quốc cấp) của anh.

Từ đó đến nay, anh vẫn chưa được trả lại hộ chiếu và nhiều lần bị câu lưu trái phép.

Image may contain: 1 person, sitting

NUÔI NGHIỆN

Đào Tuấn

NUÔI NGHIỆN ·

Bức hình được chụp ngày 28.3.2019 khi BT Thể kiểm tra tuyến đường sắt Cát Linh- Hà Đông và cười tươi khen “Đường sắt Cát Linh- Hà Đông êm hơn đường sắt quốc gia”. Và, ông chốt với dân chúng: Phải hoàn thành trong tháng 4.2019

Từ dự kiến vận hành tháng 6.2015, rồi lùi tới tháng 6.2016, rồi lùi đến 12.2016, rồi lại lùi tới 2.2017, rồi lại lùi tới 10.2017, rồi lại lùi đến quý II.2018 rồi lại lùi tới tháng 12.2018 rồi lại lùi tới 4.2019. Và rồi hôm nay BT Thể báo cáo Quốc hội sẽ đưa dự án vào khai thác “trong thời gian sớm nhất.

Một dự án trễ hẹn cả thập kỷ. Đội vốn gấp 3 lần và ngay cả bộ trưởng bộ GTVT cũng đéo biết bao giờ mới đưa vào sử dụng được. Chúng mình phải mua của bạn vàng một cái bóng dâm quá đắt.

Mà dù lù lù bất động một đống thế mà suốt từ 2018, mỗi năm chúng mình mất đứt 300 tỉ trả lãi vay cho bạn vàng đấy.

300 tỉ mỗi năm, có khác gì nuôi nghiện không hở giời

Image may contain: 4 people, hat

Thanh Hóa: Cán bộ ‘cướp’ tiền hỗ trợ COVID-19 của nhiều ‘hộ nghèo’ – Nguoi Viet Online

Từ Thức to TT GROUP

Không cướp của người nghèo thì cướp của ai ?

-Thứ nhất: người nghèo đông, dễ kiếm, tích tiểu thành đại

-Thứ hai: bọn giầu đều quen các anh lớn, hay thuộc gia đình các anh lớn, ai ngu mó dái ngựa.

Ăn trông nồi, ngồi trông hướng

Nhiều gia đình nghèo ở các xã thuộc huyện Thiệu Hóa, uất ức bật khóc vì bị lãnh đạo xã đoạt mất phần chính sách “hộ nghèo” của họ
About this website

Bộ Quốc phòng: Người Trung Quốc ‘lợi dụng kẽ hở’, nắm các khu đất ‘trọng yếu’ ở Việt Nam

 

Người Trung Quốc đang nắm trong tay hơn 162.000 hectare đất của Việt Nam, trong đó có những nơi trọng yếu thuộc vùng biên giới hoặc ven biển, Bộ Quốc phòng Việt Nam nói.

About this website

 

Nếu Việt Nam không có đảng Cộng sản | Tiếng Dân

BAOTIENGDAN.COM

Nếu Việt Nam không có đảng Cộng sản

Bởi   AdminTD

 Trần Trung Đạo

Không ít người đến nay vẫn lấy làm tiếc vì chính phủ Mỹ đã bỏ lỡ cơ hội khi không đoái hoài gì đến những lá thư của Hồ Chí Minh gởi TT Truman và Bộ Ngoại Giao Mỹ.

TT Truman không trả lời nhưng có kiểm chứng.

Mặc dù Mỹ đã có tài liệu và bằng chứng Hồ Chí Minh là lãnh tụ CSVN và là nhân viên của Đệ Tam Quốc Tế, những lá thư của Hồ không phải vì thế mà được tự động đưa vào văn khố. Chính phủ Mỹ qua trung gian tòa đại sứ Mỹ tại Paris trực tiếp liên lạc với Hồ.

Như người viết đã trình bày trong Chính Luận, theo tài liệu lưu trữ trong văn khố Hoa Kỳ, tổng số gồm 11 lá thư Hồ Chí Minh gởi TT Truman, Ngoại trưởng James Byrnes và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Lá thư thứ nhất ký ngày 17 tháng 10 năm 1945 và lá cuối cùng vào ngày 28 tháng Hai năm 1946.

Ngày 12 tháng 9 năm 1946, George M. Abbott, lúc đó là Đệ nhất Tham Vụ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Paris, đã điện đàm với Hồ Chí Minh. Dĩ nhiên quan tâm hàng đầu của Hoa Kỳ vẫn là gốc gác của họ Hồ. Theo báo cáo của George M. Abbott cho đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp, Hồ Chí Minh không thừa nhận ông ta là Cộng Sản. Không những thế, Hồ còn chỉ ra cho George M. Abbott thấy “không một người nào trong nội các của ông ta là Cộng Sản.”

Trong thực tế, các chức vụ then chốt gồm Chủ tịch (Hồ Chí Minh), Bộ trưởng Quốc Phòng (Võ Nguyên Giáp), Bộ trưởng Tài Chánh (Lê Văn Hiến), Bộ trưởng Tư Pháp (Vũ Đình Hòe) trong nội các liên hiệp kháng chiến đều do các đảng viên đảng CS hay đảng Dân Chủ (ngoại vi của đảng CS) nắm giữ.

Khi George M. Abbott hỏi có hay không có một đảng CS tại Việt Nam, Hồ Chí Minh thừa nhận là trước đây có nhưng đã giải tán mấy tháng trước rồi. Dĩ nhiên, như viết trong báo cáo, George M. Abbott cũng biết những câu trả lời của Hồ Chí Minh chỉ là những câu nói dối.

Với đảng CS, việc thay tên đổi họ, từ một người hay thậm chí cả đảng, theo nhu cầu chiến lược mỗi thời kỳ là chuyện bình thường. Đảng CS tổ chức tinh vi và chặt chẽ đến mức dù dùng tên gì vẫn hoạt động thống nhất và tuân chỉ triệt để một cương lĩnh. Vào thời điểm 1946, trước khi CSTQ chiếm toàn lục địa Trung Hoa, nếu Mỹ viện trợ, Hồ Chí Minh sẽ nhận và nếu Mỹ lên tiếng phản đối Pháp, Hồ Chí Minh sẽ cám ơn nhưng chắc chắn không bao giờ có chuyện “giải tán đảng CS” hay thành thật từ bỏ đảng CS.

Mỹ không đánh giá cao tinh thần dân tộc hay chủ nghĩa dân tộc trong người Hồ Chí Minh. Hầu hết các đảng CS từ Á sang Phi đều núp dưới bình phong “giải phóng dân tộc”.

Bản thân hai tổng thống Franklin D. Roosevelt và người kế nhiệm là Harry Truman đều là những người có cảm tình với các dân tộc bị trị.

TT Franklin D. Roosevelt là người đã khẳng định việc tôn trọng quyền tự quyết dân tộc của các quốc gia như ông đã đề ra trong Hiến Chương Đại Tây Dương (Atlantic Charter) tháng 8, 1941.

Ngày 24 tháng 1, 1944, TT Roosevelt khẳng định lần nữa ước muốn của ông để đặt Đông Dương dưới sự quản trị của quốc tế thay vì trả lại cho Pháp.

TT Roosevelt viết: “Tôi gặp Halifax [Ngoại trưởng Anh] tuần trước và nói với ông ta một cách thẳng thắng rằng một điều hoàn toàn đúng là hơn một năm trước tôi đã bày tỏ ý kiến Đông Dương không nên trả lại cho Pháp mà đặt dưới sự quản trị của một cơ quan ủy thác quốc tế (international trusteeship). Pháp đã chiếm dân tộc này, với ba chục triệu người, gần cả thế kỷ, và điều kiện của người dân còn tệ hại hơn lúc bắt đầu. (Tài liệu Mật Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, giải mật 2011 theo Quyết Định Tổng Thống 13526)

Trong cùng tài liệu, TT Roosevelt cũng viết một câu cảm động “Pháp đã vắt sữa các dân tộc Đông Dương suốt một trăm năm và người dân của các nước Đông Dương xứng đáng được sống một cuộc sống tốt đẹp hơn.” (France has milked it for one hundred years and people of Indo-china are intitled to something better than that).

TT Truman kế nhiệm đã chia xẻ quan điểm TT Roosevelt. Trong thời gian sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, TT Truman nghiêm cấm các tàu bè Mỹ giúp chở quân đội và võ khí của Pháp để tái chiếm Viêt Nam. Chính phủ Anh, vì quyền lợi của một đế quốc thực dân đã thông đồng để đưa Pháp trở lại Việt Nam.

Ngay trong lúc Hồ Chí Minh nói với George M. Abbott không có một đảng viên CS nào trong chính phủ thì Võ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn và Văn Thừa Vũ đang ra tay tận diệt các đảng phái không CS như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt v.v.. Vụ Ôn Như Hầu tiêu diệt Việt Nam Quốc Dân Đảng vào tháng 8, 1946 là một bằng chứng.

“Cuối tháng 5 [1946] khi quân đội Trung Quốc bắt đầu rút hết ra khỏi Việt Nam, Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho các lực lượng Việt Minh tấn công vào các cánh quân quốc gia tại miền Trung, tiêu diệt số lực lượng nhỏ nhoi của các đảng quốc gia tại vùng này.” (Lê Mạnh Hùng, Nhìn Lại Sử Việt, thời cận hiện đại 1945-1975, chương 6).

Các vụ tàn sát các đảng phái quốc gia chống thực dân diễn ra suốt 1946 không chỉ riêng tại Hà Nội, miền Bắc mà cả nước. Một chương sử đầy máu xương và hận thù trên đất nước Việt Nam vốn đã chịu đựng gần một trăm năm dưới gót thực dân bắt đầu từ đó.

Lịch sử không có “nếu” nhưng cần phải đặt lại những “nếu” để đọc, để ôn, để học và để đi về phía trước là trách nhiệm của các thế hệ Việt Nam yêu nước ngày nay.

Chữ “nếu” lớn nhất là với xu hướng giải thể chế độ thực dân sau Thế Chiến Thứ Hai, sự suy yếu của Pháp, quyết tâm ủng hộ của các TT Mỹ, nếu không có đảng CSVN thì ngày nay Việt Nam không phải mất đất, mất biển, lệ thuộc mọi thứ vào Trung Cộng mà là một quốc gia dân chủ giàu mạnh, đứng oai hùng và đầy kiêu hãnh như bên bờ Thái Bình Dương.

Nếu Việt Nam không có đảng Cộng sản | Tiếng Dân

Nếu Việt Nam không có đảng Cộng sản Bởi AdminTD – 20/05/2020 Trần Trung Đạo 20-5-2020 Không ít người đến nay vẫn lấy làm tiếc vì chính…

Gia đình cụ Lê Đình Kinh gửi đơn trình báo mất cắp tài sản sau vụ việc ở Đồng Tâm ngày 9-1

RFA.ORG

Gia đình cụ Lê Đình Kinh gửi đơn trình báo mất cắp tài sản sau vụ việc ở Đồng Tâm ngày 9-1

chị Nguyễn Thị Duyên là cháu dâu của cụ Lê Đình Kình gửi đơn lần 2 đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra trả lại tài sản cho chị gồm một chiếc xe ô tô và một số đồ trang sức trị giá gần 65 triệu đồng hoặc điều tra “kẻ nào l…

CHIÊU KIẾM TIỀN = 5.104 TỶ ĐỒNG

Image may contain: one or more people, crowd, motorcycle and outdoor
Image may contain: 1 person, crowd and outdoor
8 SÀI GÒN

CHIÊU KIẾM TIỀN = 5.104 TỶ ĐỒNG

Chúc mừng hợp đồng làm ăn thắng lợi giữa bảo hiểm và công an.

Theo số liệu báo đăng năm 2019, Việt Nam có hơn 58 triệu chiếc xe máy. Giờ chắc phải 60 triệu chiếc.

Mỗi tấm thẻ bảo hiểm xe gắn máy là 88.000 đồng. Lâu nay chả ai đá động đến tấm thẻ này, 99% chủ xe không thèm mua.

Khi có điều luật công an được chặn xe không cần lý do, chủ xe nào không có nó sẽ bị phạt số tiền lớn hơn. Thế là thiên hạ ùn ùn đi mua nó.

Các bạn cứ đem 88.000 đồng × 58 triệu chiếc xe máy là bi nhiêu tiền?

Một số tiền kinh khủng: 5.104.000.000.000 đồng.

Đó là chưa kể tiền phạt mà công an thu được cho ngành mình.

Một bài học kinh nghiệm quý giá cho các doanh nghiệp: phải biết bỏ tiền ra mua chánh sách; nếu cần, mua cả luật pháp luôn.

Biết làm ăn vậy mới mau giàu chớ, buôn chổi đót làm chóa gì!

NGỌC VINH

“Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ trở thành khuyết tật.”

Image may contain: one or more people and outdoor

Sài Gòn trong tim tôi

Có lẽ mấy ngày nay, ai quan tâm đến giáo dục và tương lai của dân tộc này cũng đều biết đến câu nói nổi tiếng được bà Diệp Thị Hồng Liên, Trưởng phòng Khảo thí tỉnh Hoà Bình phát biểu trước toà: “Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ trở thành khuyết tật.”

Một câu nói đầy hình tượng như một cú đấm chí mạng thọc thẳng vào lương tri của một nền giáo dục, lương tri của một dân tộc được xem là hiếu học.

Nhưng trước tiên, xin nói rõ một chút rằng câu này không phải là sản phẩm của bà Liên. Bà chỉ nhắc lại câu nói của Đại văn hào Horoné de Banzac, tác giả của bộ Tấn trò đời (La Comédie humaine): “Quand tout le monde est bossu, la belle taille devient la monstruosité”.

Thực sự thì trong nguyên bản, chữ dùng nặng nề hơn nhiều. Không chỉ là “khuyết tật” mà là quái dị.

Cái đáng nói là bà đã vận dụng đúng nơi, đúng chỗ. Câu dịch giảm nhẹ không làm giảm chút nào lực tàn phá của nó khi được đặt đúng vị trí, đúng thời điểm. Vậy hoá ra đây không phải là cú đấm mà là cú điểm vào tử huyệt. Câu nói này thực sự gây bão trên mạng và sẽ còn được phân tích, mổ xẻ nhiều lần và nhiều tháng năm sau đó.

Nhưng phân tích gì đi nữa thì chúng ta vẫn không thể tránh khỏi một tiếng thở dài cố nén không thành.

Trong một thế giới người gù, người có thể không gù thuở ban đầu, đã phải tự gù hoá để mình không trở thành khiếm khuyết hoặc quái dị. Và điều trớ trêu là những người gù đó lại mang sứ mệnh kỹ sư tâm hồn, người đưa đò vĩ đại. Theo một logic thông thường thì những người gù này sẽ chỉ thấy những học trò gù là bình thường. Những học trò không gù sẽ được các kỹ sư này bẻ cong lưng cho thành gù một cách bình thường. Những trẻ không chịu gù đến độ các kỹ sư tâm hồn không bẻ cong nổi thì chắc người đưa đò sẽ tìm cách hất chúng xuống sông bởi đơn giản chúng khuyết tật mà không chịu cong cho bình thường, một loại bệnh nan y kháng trị. Một logic khủng khiếp, kinh hoàng.

Sau hơn 150 năm, đôi mắt tinh tường mà u mặc của Banzac đã thức dậy ở một nơi rất xa, ở một đất nước rất xa nơi ông từng sống, từng viết. Hoá ra, cái vở hài kịch Tấn trò đời có sân khấu quá rộng và buổi diễn quá dài đi qua ba thế kỷ. Có thể nó đã mở màn trước khi Banzac ra đời và sẽ không đóng lại sau khi bà Liên lên đường đi gặp đại văn hào này.

Mọi người đang đau đấy. Rồi cũng có người tự nhủ có thể chỉ ở một nơi xa xôi nào đó như Hoà Bình mới có chuyện nhiều người gù làm giáo dục.

– Nhưng liệu chỉ có Hoà Bình?

Nếu sợ đau, xin đừng trả lời hay suy nghĩ về câu hỏi này. Đó là điều có ích duy nhất tôi có thể khuyên bạn trong bối cảnh ta chưa được khám cột sống.

Theo Fb Bác sĩ – Nhà văn Lê Minh Khôi

Khi những đòn tra tấn hiểm ác giúp cho cảnh sát điều tra thăng tiến

No photo description available.

Image may contain: 1 person, indoor
Image may contain: one or more people
Image may contain: shoes and indoor
Image may contain: 4 people, people sitting

Nguyễn Văn Sơn Trung  Follow

Khi những đòn tra tấn hiểm ác giúp cho cảnh sát điều tra thăng tiến

Theo tường trình của Phạm Quốc Nhật gửi Viện KSND Tối cao: “Một anh hỏi tôi tên gì? Tôi nói tôi tên Phạm Quốc Nhật (tên thường gọi là Đỏ). Anh cảnh sát hình sự đó nói tôi nói xạo, tôi không phải là Đỏ mà là tên Phát. Rồi anh ta đánh tôi vì lý do đó.

Và anh cảnh sát hình sự đó nói: “Không cần phải hỏi, tao cũng biết mày tên thường gọi là tên Phát”. Anh lấy súng ra và đánh súng vào đầu tôi không ngừng tay. Cho đến lúc tôi ngất xỉu…

Về tới Công an TP.Cao Lãnh, tôi bị còng tay vào cửa sổ. Tuấn thì bị nhốt phòng đối diện. Tôi thấy có rất đông công an đánh Tuấn. Tôi nghe Tuấn chỉ nói là: “Không biết, và em có gì đâu mấy anh đánh em?”, vậy mà mấy anh công an vẫn cứ đánh.

Đến khoảng 2 hay 3 tiếng sau, tôi bị 2 anh Công an TP.Cao Lãnh đánh và hỏi: “Mày với Tuấn đi đâu? Tôi nói là đi xuống nhà bạn gái của Tuấn chơi từ hôm qua tới giờ thì bị mấy anh bắt về đây. Tôi biết gì đâu mà mấy anh đánh. Và 2 anh nữa đi lại đánh tôi tiếp. 4 người đánh tôi cho đến khi tôi ngất đi… và đỡ tôi lên ghế. Ngồi được một tí thì đánh tôi tiếp, đánh vào đầu, đá vào ngực và đập đầu tôi vào tường…”.

Hậu quả, ngay đêm đó Tuấn đã chết vì bị đánh quá dã man! Và những cán bộ công an được xác định gây ra cái chết của Tuấn phải ra hầu tòa, 2 người nhận án. Tuấn và Nhật bị bắt nhầm! Còn Nhật, may mắn sống sót, nhưng những gì đã trải qua ở Công an TP.Cao Lãnh, có lẽ suốt đời em không bao giờ quên. Cứ thấy sắc phục công an, là em ớn lạnh!

Còn ở Sóc Trăng, giữa năm 2013 xảy ra một vụ án mạng, công an lập tức bắt giam 7 thanh niên và ai cũng “thành khẩn nhận tội”. Hơn nửa năm sau, 2 hung thủ thực sự ra tự thú. Và 7 thanh niên sau khi được thả, khai bị đánh bầm dập, có cả màn xốc ngược cắm đầu xuống đất, rồi dùng đá lạnh chườm vào bộ phận sinh dục, như tra tấn những kẻ ác ôn!

Có đến 25 cán bộ công an bị kỷ luật, 3 cán bộ bị khởi tố hình sự vì bức cung, nhục hình trong vụ án ở Sóc Trăng. Nhưng cái giá của những người bị bắt oan lớn hơn nhiều. Vợ con bị khinh bỉ, cha mẹ bị xa lánh… trong thời gian dài, vì dính dấp với kẻ bị bắt “được gán” cho nghi can gây tội ác!

Còn vụ án 3 thanh niên ở Cà Mau bị bắt giam oan gần 1 năm, Điều tra viên Phạm Hải Âu đã đưa giấy bút để Nguyễn Vũ Ca (1 trong 3 thanh niên bị oan) viết thư nhận tội gửi về nhà. Anh Hải Âu không ngờ, bức thư chủ yếu để làm cớ buộc tội Ca, lại là bằng chứng việc công an các anh đánh nghi can.

Một đoạn thư viết: “Mẹ ơi con rất thèm bữa cơm gia đình có cha mẹ và chế Hai. Cha mẹ ơi bữa đó vào con bị đánh ho ra máu luôn. Nhưng con nghĩ đó là bài học của con vì không nghe lời cha mẹ dạy… Ở đây con bị mấy người đó đánh, con suy nghĩ như cha mẹ đánh con dạy con nên người, bây giờ đầu con nhức lắm mẹ ơi. Nhưng con đã làm sai rồi phải chịu thôi. Thương cha mẹ nhiều nhiều với chế Hai nữa”.

https://motthegioi.vn/…/khi-nhung-don-tra-tan-hiem-ac-giup-…

​Cơ quan tố tụng đòi xử lý luật sư của bị hại

Rạng sáng 12/5/2012, nghi phạm Ngô Thanh Kiều (ngụ xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, Phú Yên) tham gia vụ trộm ở thị xã Sông Cầu. Rạng sáng hôm sau, theo chỉ đạo của Trưởng ban chuyên án Lê Đức Hoàn, các công an đã đến bắt anh Kiều về Công an TP Tuy Hòa.

Tại đây, nghi phạm bị còng tay vào thành ghế và bị các điều tra viên Mẫn, Quyền, Huy, Quang đánh dùi cui vào đùi, cẳng chân; Thành đánh 2-3 cái vào đầu. Đến chiều thì anh Kiều chết trên đường chuyển đến bệnh viện.

https://tuoitre.vn/khong-du-co-so-rut-chung-chi-hanh-nghe-c…

Vụ án Nguyễn Tuấn Thanh sinh năm 1986 ngụ xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An chết bất thường trong nhà tạm giữ công an thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

https://tuoitre.vn/nguyen-thieu-ta-dung-nhuc-hinh-lam-chet-…

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=282393735576515&id=100014176721813

“Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật”: Sự thật cay đắng!

Câu nói “Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật” của bà Diệp Thị Hồng Liên, cựu trưởng phòng khảo thí, khiến nhiều người cảm thấy chua xót vì đó là một thực tế hiển nhiên tại Việt Nam.

RFA.ORG

“Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật”: Sự thật cay đắng!

Câu nói “Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật” của bà Diệp Thị Hồng Liên, cựu trưởng phòng khảo thí, khiến nhiều người cảm thấy chua xót vì đó là một thực tế hiển nhiên tại Việt Nam.

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa | Tiếng Dân

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa

Bởi  AdminTD

Đào Tăng Dực

18-5-2020

Việt Nam không phải là một quốc gia có một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên như các quốc gia dân chủ trên thế giới. Chính vì thế hệ thống pháp lý của Việt Nam là “Pháp chế xã hội chủ nghĩa”, không phải là chế độ pháp trị bình thường như tại các quốc gia dân chủ.

Lý do pháp chế xã hội chủ nghĩa khác biệt với chế độ pháp trị bình thường là vì sự vắng bóng của yếu tố hiến định (tức là tính tối cao của một hiến pháp nghiêm chỉnh, thay vì tính tối cao của điều lệ đảng CSVN) và sự vắng bóng của yếu tố đa nguyên (tức sự hiện diện của đối lập chính trị hầu giám sát hoạt động của đảng CSVN).

Sự vắng bóng của hai yếu tố này đưa đến sự lệ thuộc của hệ thống tư pháp, gồm các tòa án vào sự lãnh đạo chính trị của đảng và từ đó, thiếu yếu tính độc lập và công lý có thể bị bức tử dễ dàng.

Chính vì thế, không những anh Hồ Duy Hải mà bất cứ công dân Việt Nam nào khác, đứng trước vành móng ngựa của một tòa án theo pháp chế xã hội chủ nghĩa này, cũng có xác xuất chịu một số phận như nhau.

Tuy nhiên, lý do chúng ta chú tâm nhiều đến vụ án này, ngoài tính nghiêm trọng của nó vì liên quan đến tội cố sát và án tử hình, là vì những vi phạm không những các nguyên tắc luật pháp bình thường tại các quốc gia dân chủ, mà nó còn vi phạm ngay cả những thủ tục pháp lý của pháp chế xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam nữa.

Trước khi phân tích và đánh giá vụ án này, chúng ta xác định các sự kiện như sau, theo Wikipedia Việt Ngữ:

“1. Thảm sát xảy ra ngày 13/01/2008:

Tại Bưu điện Cầu Voi, ấp 5, xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Trong đó, hai nữ nhân viên bưu điện tên Nguyễn Thị Ánh Hồng (sinh năm 1985) và Nguyễn Thị Thu Vân (sinh năm 1987) bị giết bằng cách cắt cổ.

  1. Ngày 21 tháng 3 năm 2008, nghi phạm Hồ Duy Hải sinh năm 1985 bị bắt
  2. Qua hai lần xét xử sơ thẩm (năm 2008 tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An) và phúc thẩm (năm 2009 tại Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh), Hồ Duy Hải bị kết án tử hình về tội giết người, 5 năm tù về tội cướp tài sản, tổng hợp hình phạt là tử hình. Tuy nhiên, gia đình Hồ Duy Hải liên tục kêu oan.
  3. Năm 2011, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình quyết định không kháng nghị vụ án.
  4. Năm 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bác đơn xin ân xá của Hồ Duy Hải. Sau đó, trước sự phản đối mạnh mẽ của dư luận trong nước và quốc tế cũng như Quốc hội Việt Nam, năm 2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ra lệnh tạm dừng thi hành án tử hình đối với Hồ Duy Hải.
  5. Ngày 22 tháng 11 năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam Lê Minh Trí kháng nghị giám đốc thẩm vụ án, sau khi nhận được đề nghị xem xét giải quyết đảm bảo đúng pháp luật vụ án từ Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2019
  6. Ngày 8 tháng 5 năm 2020, sau 3 ngày xét xử giám đốc thẩm vụ án, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua bỏ phiếu công khai, quyết định không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  7. Đây là một vụ án có nhiều vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án như:
  8. Thay đổi vật chứng;
  9. Bỏ sót các chứng cứ pháp y như vân tay, vết máu tại hiện trường;
  10. Bỏ qua một số bản khai cung không nhận tội của bị cáo
  11. Tuy nhiên Tòa án nhân dân tối cao nhận định những vi phạm pháp luật này không làm thay đổi bản chất của vụ án nên không cần thiết phải hủy các bản án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra lại theo kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
  12. Tại thời điểm xảy ra vụ án, nạn nhân Nguyễn Thị Ánh Hồng đang có mối quan hệ tình cảm với ba người đàn ông: Nguyễn Mi Sol (người yêu cũ), Nguyễn Văn Nghị (người yêu mới) và một kĩ sư tên Trung (bạn mới quen). Trần Văn Chiến và Nguyễn Tuấn Anh đang theo đuổi Hồng.”

Thành viên Hội Đồng Thẩm Phán gồm 17 người và chủ tịch Hội Đồng là thẩm phán Nguyễn Hòa Bình, người mà năm 2011, trong chức vụ viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, đã quyết định không kháng cáo vụ án này.

Một các tổng quát thế giới đương đại có hai hệ thống tư pháp thịnh hành, một là hệ thống tư pháp phát xuất từ Anh Quốc theo truyền thống Common Law căn cứ nhiều trên án lệ và hai là hệ thống phát xuất từ Pháp gọi là Code Napoleon hay Civil Code, chịu ảnh hưởng của cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, căn cứ nhiều trên luật thành văn.

Hệ thống luật pháp Cộng Sản tuy gọi là pháp chế xã hội chủ nghĩa, và không còn yếu tố độc lập và vô tư của Civil code hiện hành tại Pháp hoặc phần lớn các quốc gia lục địa Âu Châu, nhưng chịu ảnh hưởng của Liên Xô cũ và qua Liên Xô cũ, chịu ảnh hưởng của Civil Code nhiều hơn.

Tuy nhiên cả Common Law (Anh Quốc, Hoa Kỳ, Canada, Úc, Tân Tây Lan…) lẫn Civil Code (Pháp, các nước lục địa Âu Châu, các cựu thuộc địa các quốc gia trên) đều tôn trọng những nguyên tắc nền tảng sau đây:

  1. Các khái niệm giả định vô tội (presumption of innocence) và trách nhiệm chứng minh (onus of proof):

Một bị cáo tự thể được giả định là vô tội (presumption of innocence) và trách nhiệm chứng minh (onus of proof) một bị cáo có tội hầu kết án về hình sự là trách nhiệm của Công Tố Viện (Prosecutor’s Office), trong trường hợp của Việt Nam là Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, không phải trách nhiệm của bị cáo.

Tuy bị cáo có thể nêu ra chứng cớ phản bác những chứng cớ của Viện Kiểm Sát và chứng minh sự vô tội của mình, nhưng chỉ cần VKS bày tỏ nghi vấn về phẩm chất của chứng cứ đã trình tòa, hoặc minh thị rút lại chứng cứ, thì nguyên tắc “giả định vô tội” lập tức được kích hoạt và tòa án không còn sự chọn lựa nào ngoài hủy án, tái xét hoặc tha bổng cho bị cáo.

Trong trường hợp của Hồ Duy Hải, một khi vào “ngày 22 tháng 11 năm 2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam Lê Minh Trí kháng nghị giám đốc thẩm vụ án, sau khi nhận được đề nghị xem xét giải quyết đảm bảo đúng pháp luật vụ án từ Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm 2019” thì điều này chứng minh có nhiều khiếm khuyết về phẩm chất cũng như số lượng chứng cứ đưa đến việc kết án,và Ông Nguyễn Hòa Bình cũng như 16 vị thẩm phán TANDTC còn lại không có sự chọn lựa nào ngoài chấp nhận kháng nghị của VKS, hủy bỏ bản án, tái điều tra và tái xử hoặc tuyên bố Hồ Duy Hải vô tội.

  1. Cấp độ chứng minh (standard of proof):

Vấn đề chứng cứ trong một phiên tòa, dù là những phiên tòa dân sự hay hình sự cũng vô cùng quan trọng, nhất là về hình sự thì lại càng nghiêm khắc hơn.

Phiên xử Hồ Duy Hải cho thấy nhiều khuyết điểm về chứng cứ như:

  1. Thay đổi vật chứng;
  2. Bỏ sót các chứng cứ pháp y như vân tay, vết máu tại hiện trường;
  3. Bỏ qua một số bản khai cung không nhận tội của bị cáo

Trong hệ thống hình sự Common Law có 2 cấp độ chứng cứ rõ rệt trước khi tòa tuyên phán. Cấp độ chứng minh trong các phiên tranh tụng dân sự là “có xác xuất phải chăng” (On the balance of probability) có thể đồng nghĩa với xác xuất một sự kiện xảy ra trên 50% là thắng kiện. Tuy nhiên trong một phiên tòa hình sự thì cấp độ chứng minh phải là “Không còn lý do chính đáng để nghi ngờ” (Beyond Reasonable Doubt) có nghĩa một người phải chăng (reasonable person) không còn lý do để nghi ngờ tội phạm của một bị cáo. Hầu như xác xuất là 90% hay hơn nữa.

Hệ thống tư pháp Civil Code tại Pháp và Âu Châu khác với Anh Quốc và Hoa Kỳ ở điểm then chốt này. Trong cả dân sự lẫn hình sự, cơ quan hoặc cá nhân trách nhiệm phải thuyết phục quan tòa đến mức độ quan tòa đạt đến một “sự thuyết phục thâm tâm” (intime conviction) trước khi phán quyết. Ý niệm “thuyết phục thâm tâm” này buộc quan tòa phải xét đến tất cả mọi chứng cứ từ lời nói, văn kiện, khoa học, tâm lý v.v… và quyết định trong khi ý thức hoàn toàn tính chủ quan của chính vị thẩm phán.

Tuy về dân sự, cấp độ quan tòa phán xét một vụ tranh chấp căn cứ trên nguyên tắc “sự nổi bật của chứng cứ” (preponderance des preuves). Nhưng sự nổi bật của chứng cứ này không phải tương xứng với ý niệm “có xác xuất phải chăng” trong Common Law mà đòi hỏi một cấp bực chứng cứ tương đối cao hơn. Chính vì thế tranh tụng về dân sự tại Pháp đòi hỏi nhiều chứng cứ hiển nhiên hơn tại Anh hay Hoa Kỳ như giao kèo thành văn chẳng hạn.

Trong khi đó, trong một phiên xử hình sự, tuy mức độ “thuyết phục thâm tâm” áp dụng, nhưng dĩ nhiên vì hình sự liên hệ đến sự tự do và đôi khi tính mạng của một công dân nên, trong thực tế, yếu tố “nổi bật của chứng cứ” sẽ cao hơn và tương tự với “beyond reasonable doubt”.

Chính vì thế trong trường hợp của Hồ Duy Hải, nếu đứng trước một pháp đình nghiêm chỉnh trong truyền thống Common Law lẫn Civil Code, Hồ Duy Hải đều vô tội vì những chứng cứ nhiều khuyết điểm như thế sẽ không đủ sức thuyết phục một Bồi Thẩm Đoàn “beyond reasonable doubt” tại Anh Quốc hay Hoa Kỳ và cũng sẽ không thể thuyết phục một Thẩm Phán hay Thẩm Phán Đoàn tại Pháp đến mức độ “intime conviction” và Hồ Duy Hải sẽ được tuyên bố vô tội tại cả 2 pháp đình.

Thêm vào đó, vì cấp độ chứng minh của cả 2 khái niệm “beyond reasonable doubt” hoặc “intime conviction” trong án hình sự rất cao, nên sự hiện hữu của những nghi can khác (như Nguyễn Mi Sol (người yêu cũ), Nguyễn Văn Nghị (người yêu mới) và một kĩ sư tên Trung (bạn mới quen). Trần Văn Chiến và Nguyễn Tuấn Anh đang theo đuổi Hồng) hầu như chắc chắn sẽ làm các vị thẩm phán vô cùng nghi ngờ phẩm chất các chứng cớ về tính tội phạm (criminality) của Hồ Duy Hải và xác xuất trắng án của bị cáo lại càng cao hơn nữa.

  1. Khái niệm xung đột quyền lợi (conflict of interests)

Đây là một khái niệm then chốt của công lý nhân loại đương đại, phát xuất từ một phiên tòa tại Anh Quốc năm 1924 và xuất xứ của một câu châm ngôn lừng danh trong giới luật sư và thẩm phán thời đại.

Đó là câu:

“Justice must not only be done, but must be seen to be done” dịch ra tiếng Việt là “Công lý không những phải được thực thi, mà phải làm sao cho mọi người nhìn thấy nó được thực thi” của Chánh Thẩm Phán Lord Chief Justice Hewart trong phiên xử R v Sessex Justices, ex parte McCarthy, năm 1924.

Phiên xử này quy định những nguyên tắc nền tảng liên hệ đến tính vô tư và sự vắng mặt cần thiết của các thẩm phán khi có xung đột quyền lợi.

Chính vì thế thẩm phán Nguyễn Hòa Bình và 16 vị Thẩm Phán trong phiên xử Hồ Duy Hải cần học hỏi phiên xử này.

Theo Wikipedia Anh ngữ, thì phiên xử được tóm lược như sau:

“Năm 1923 một người đi xe gắn máy là McCarthy dính vào một tai nạn xe cộ và bị truy tố trước tòa về tội lái xe gây nguy hiểm (dangerous driving). Cả bị cáo lẫn luật sư của ông đều không biết thư ký của các chánh án là thành viên của một cong ty luật đại diện trong một phiên xử dân sự chống lại McCarthy đòi bồi thường thiệt hại liên hệ tới tai nạn xe cộ này. Các quan tòa kết tội McCarthy sau đó. Sau khi biết được quan hệ trên của thư ký này thì McCarthy kháng cáo yêu cầu hủy án. Các quan tòa nộp một văn kiện hữu thệ xác định họ đã phán quyết kết án bị cáo nhưng không hề tham khảo người thư ký này”.

Theo chánh thẩm phán Lord Chief Justice Hewart này thì tuy các thẩm phán xử án thực sự vô tư, nhưng chỉ cần hình thức bề ngoài có vẻ không vô tư thì công lý đã không được thực thi rồi.

Chính vì thế ngài đã phải hủy bản kết án và phán xét này đã đi vào lịch sử.

Khi nguyên tắc này áp dụng cho Hồ Duy Hải thì 2 sự kiện:

  1. Một là ông Nguyễn Hòa Bình vào năm 2011 làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã quyết định không kháng nghị vụ án và;
  2. Hai là ông ngang nhiên trở thành Chánh Thẩm Phán trong phiên xử ngày 8 tháng 5, 2020, đã vi phạm trầm trọng nguyên tắc xung đột quyền lợi (conflict of interests) vô cùng hiển nhiên và cũng vì thế sự phán xét của tòa bị hoen ố toàn diện khi ông làm chánh thẩm.
  3. Tương quan nghiêm chỉnh giữa Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (BLTTHS) và Bộ Luật Hình Sự (BLHS).

Một trong những lập luận rất lạ lùng của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao là những vi phạm pháp luật liên hệ đến Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, khi truy tìm chứng cứ của Công An không làm thay đổi bản chất của vụ án nên không cần thiết phải hủy các bản án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra lại theo kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Khi lập luận như thế 17 vị thẩm phán này đã lập luận không phải như những luật gia, mà như những đảng viên trung kiên của ý thức hệ Mác Lê.

Trong khi tương quan giữa BLTTHS và BLHS không những là một tương quan có tính phương tiện và cứu cánh (means and end), mà kèm theo đó là một tương quan có tính nhân quả (cause and effect).

Một mặt BLTTHS cần phải được tuân thủ nghiêm cẩn hầu bảo đảm phẩm chất của chứng cớ (phương tiện) và đạt đến mục tiêu công lý của BLHS (cứu cánh).

Mặt khác nếu không có chứng cớ phẩm chất cao qua tuân thủ BLTTHS (nguyên nhân) thì công lý như quy định trong BLHS sẽ không được thực thi (hậu quả).

Không những trong chế độ pháp trị dân chủ chân chính mà ngay cả dưới chế độ pháp chế xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, nguyên tắc này phải được mọi luật gia đả thông.

Chính vì thế, điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

Lập luận nêu trên của 17 vị thẩm phán là lập luận cố hữu của các đảng viên CS giáo điều tức “cứu cánh biện minh cho phương tiện”.

Vì họ đã cả quyết Hồ Duy Hải là có tội thì BLTTHS chỉ là một phương tiện, nếu không cần thiết thì vứt đi, vì mục tiêu đã đạt được.

Câu hỏi chúng ta đặt ra là:

Tại sao những quan tòa tối cao của đất nước lại có thể quan niệm về luật pháp lạ lùng như thế?

Câu trả lời đơn giản là dưới trật tự chính trị Mác Lê và pháp chế xã hội chủ nghĩa, các thẩm phán, thay vì là những luật gia uyên bác và vô tư thì chỉ là những đảng viên thuộc các phe nhóm, được gài ghép vào những vị trí hầu ban thưởng hoặc củng cố quyền lực, hoàn toàn không đủ phẩm chất của những thẩm phán nghiêm chỉnh như tại các quốc gia pháp trị nghiêm minh.

Ngay cả trong trường hợp Hồ Duy Hải được tái thẩm đúng theo công lý hoặc phán xét vô tội, thì số phận của nhân dân Việt vẫn không được cải thiện, trừ khi một hệ thống pháp lý nghiêm chỉnh được hình thành tại Việt Nam trong phạm trù của một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên chân chính.

BAOTIENGDAN.COM

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa | Tiếng Dân

Hồ Duy Hải và thân phận người dân Việt Nam dưới Pháp chế Xã hội chủ nghĩa Bởi AdminTD – 18/05/2020 Đào Tăng Dực 18-5-2020 Việt Nam không phải là một quốc gia có một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên như các quốc gia dân ch…

KHU RESORT & NGÔI MỘ TẬP THỂ 70 QUÂN CÁN CHÍNH VNCH BỊ CỘNG SẢN TÀN SÁT TẠI CÔN ĐẢO SAU NGÀY 30-4-1975 

KHU RESORT & NGÔI MỘ TẬP THỂ 70 QUÂN CÁN CHÍNH VNCH BỊ CỘNG SẢN TÀN SÁT TẠI CÔN ĐẢO SAU NGÀY 30-4-1975 

(Nguyễn Phúc An Sơn)

Ngôi mộ tập thể có 10 bộ hài cốt của các quân, cán, chính VNCH bị cộng sản sát hại tại Côn Đảo được xây năm 2016

Ngôi mộ tập thể có 26 bộ hài cốt của các quân, cán, chính VNCH bị cộng sản sát hại tại Côn Đảo được xây năm 2015

Côn Đảo

Côn Đảo

Côn Đảo

Câu chuyện mà chúng tôi sắp kể sau đây là câu chuyện về một “chuyến tàu đêm” không bao giờ về đến bến của một người bạn của chúng tôi và câu chuyện vẫn ám ảnh họ không nguôi cho đến bây giờ.

Câu chuyện bắt đầu bằng một chuyến du lịch của vợ chồng người bạn (LN) đi Côn Đảo hồi đầu tháng 10/2017. Anh kể, vợ anh là một người vốn khá nhạy với điều mà người ta hay gọi là “âm khí”. Ở đâu có “nó” là người vợ đều có thể cảm nhận được ngay và thường có cảm giác rất sợ hãi.

Khu resort nơi họ ở tại Côn Đảo rất đẹp, là một trong các resorts nổi tiếng ở đó. Nhưng không hiểu sao, hoàn toàn chỉ bằng cảm tính, người vợ có một cảm giác không yên trong thời gian nghỉ ngơi ở đây, cái cảm giác lành lạnh như lúc nào cũng có những đôi mắt vô hình nhìn mình từ đằng sau.

Mặc dù khu resort rất đẹp, nhưng hai đêm liền người vợ không tài nào ngủ được. Cảm giác sợ hãi, lành lạnh sống lưng khiến người vợ không tài nào nhắm mắt được dù ở bên cạnh người nhà. Người vợ luôn có cảm giác như có những ánh mắt vô hình cùa ai đó từ cõi âm đang nhìn mình chăm chú khiến người vợ có cảm giác nổi gai ốc và cứ phải quay lại nhìn sau lưng mình, rồi nhìn về những góc phòng.

Thậm chí, sáng hôm sau, khi ở phòng resort một mình, không chịu nổi sự sợ hãi vì cảm giác rất nhiều “người lạ” cũng đang hiện diện ở trong phòng, người vợ đã phải chạy ra ngoài dù ở ngoài nắng đã lên cao và thời tiết rất nóng. Một cảm giác rất lạ mà người vợ chưa bao giờ thấy dù đã từng đi nhiều nơi, ngủ một mình ở những nhà công vụ hoang vắng, xa khu dân cư.

Ngày cuối cùng, khi mọi người trong nhóm tour xuống phòng ăn để ăn bữa sang, một cô bạn trẻ đi cùng kể cho người vợ nghe: “Hồi tối em hết hồn chị ơi. Em đang xếp đồ vô valy để hôm nay về, tự nhiên linh tính mach bảo, em nhìn qua tấm kính (resort nơi mọi người ở là những ngôi nhà có vách ngăn các phòng bằng kính) thì thấy một người đàn ông đứng nhìn em. Ông mặc sơ-mi màu nâu, tay dài cài khuy, đeo cà vạt. Em hét lên: Anh ơi, có ai trong phòng. Chồng em chạy ra thì không thấy chi cả. Ảnh nói làm sao trong nhà mà có người lạ được, có lẽ em thấy cái chi đó rồi tưởng tượng ra thôi. Tuy vậy, chồng em cũng muốn yên tâm nên gọi bảo vệ lên cùng để đi quanh ngôi nhà và ngoài vườn nhưng vẫn không thấy ai cả”.

*****
Câu chuyện tưởng sẽ đi vào quên lãng theo thời gian, nếu như hai vợ chồng anh ấy không post hình đi chơi đảo của mình lên mạng, và sau đó, tình cờ có một người, một phụ nữ hoàn toàn không quen biết (tên là HN – đang sinh sống tại hải ngoại) vào comment, viết rằng nơi ấy rất đẹp nhưng cô không thể sống ở đó được vì bị một nỗi ám ảnh rất lớn: cha của cô là một Cảnh Sát dưới chế độ VNCH, một trong những công chức, quân nhân sống và làm việc trên đảo trước năm 1975, đã bị nhà cầm quyền cộng sản hành hình vào một đêm tối ở nơi ấy.

Nghe vậy, người vợ cảm thấy rợn người, nổi da gà và ngay lập tức chợt nhớ lại cái cảm giác xốn xang ớn lạnh và không yên ổn những ngày ở resort Côn Đảo.

Sau khi nghe câu chuyện này, người vợ đã kết bạn với chị HN và hai người đã nói chuyện với nhau thật nhiều sau đó.

Và theo lời chị HN kể lại, một sự thật kinh hoàng từ từ được hé lộ:

Sau khi Miền Nam Việt Nam bị cộng sản bắc việt cưỡng chiếm, những người từng làm việc cho chính quyền Miền Nam gồm công chức, quân đội, nhân viên làm ở trại tù đều bị cộng sản tập trung lại và bị nhốt. Con số này khoảng 70 người.

Đêm 23/12/1975, bọn cộng sản tại Côn Đảo đã đánh lừa gia đình các quân, cán, chính VNCH là sẽ đưa hơn 70 người gồm quân nhân, cảnh sát, viên chức chế độ cũ đã từng làm việc tại Côn Đảo lên tàu về Cần Thơ để “học tập cải tạo”. Thân nhân của họ nghe vậy thì chỉ biết hay vậy, và ngay sau đó 70 người bị bắt đưa đi và từ đó, mọi người cũng không được thông báo gì thêm sau đó.

Và rồi mãi mãi sau đó, không một người nào trong số 70 người ấy sống sót trở về với gia đình !!!

Sự thật về cái đêm khủng khiếp kinh hoàng đó, người thân của nhóm Quân, Cán, Chính VNCH này không ai hay biết và mọi bí mật có lẽ sẽ hoàn toàn bị chôn vùi theo năm tháng.

Mãi cho đến nhiều năm sau, có lẽ do Trời xui, Đất khiến, cái màn sương âm u và kinh hoàng che giấu cái chết oan khiên tức tưởi cùng một lúc 70 người đó được vén ra qua lời kể của một kẻ tâm thần, nửa điên nửa tỉnh, một trong những tên cộng sản man rợ mất hết nhân tính, đã ra tay hạ sát các anh, các chú bác này, là gã Tư Đ. trong một lần say xỉn đã “tự nhiên” cao hứng buột miệng kể ra.

Gã này còn kể lại rằng tất cả những người tù VNCH này bị đưa đến một khu rừng dương hoang vắng trên đảo, tất cả sau đó đều bị đập vào đầu, nhiều người chết ngay tại chỗ, nhưng cũng có nhiều người vẫn chưa chết hẳn, nhưng vẫn bị vùi sống xuống cái hố đã được bọn chúng đào sẵn. Khu nầy cách xa khu dân cư chính của đảo đến khoảng 10 cây số, một địa điểm hoàn toàn hoang vu vắng người, vô cùng tiện lợi cho mục đích của những kẻ sát nhân man rợ đầy thú tính.

Nhiều năm nữa đi qua… Người thân của những người bị giết chết đau cái nỗi đau không nói được nên lời. Thân phận họ, những người thuộc “bên thua cuộc”, hoàn toàn là thân phận con sâu cái kiến, biết kêu oan ở đâu và kêu oan với ai khi những kẻ nắm quyền cũng chính là những kẻ sát nhân man rợ. Đâu đâu cũng là kẻ chiến thắng, mang quyền sinh sát người khác trong tay? Luật là của bên thắng cuộc, đương nhiên lẽ phải thuộc về họ!

Thế nhưng đất trời lại có những cách sắp đặt khác mà loài người sẽ không bao giờ hiểu được. Một dự án xây dựng một khu resort tại một địa điểm rất đẹp gần biển, vắng vẻ và xa vùng dân cư này được xây lên, và trong lúc đào đất, nhà thầu thi công xây dựng đã tìm thấy rất nhiều xương người trong một ngôi mộ tập thể khá lớn.

Điều đáng nói là những người trong đội có nhiệm vụ di dời và mai táng hài cốt ra khỏi nơi đang xây dựng khu resort nói rằng các hộp sọ đều có vết nứt. Trong số những người thợ xây dựng này dĩ nhiên có người địa phương và họ đã nhận ra cặp chân giả của anh Sơn, con chú Chín Khương trên đảo. Khi đó, người ta mới bàng hoàng nhận ra đây là ngôi mộ chung của nhóm 70 người đã bị cộng sản lừa bắt đi “học tập” nhưng thật sự đã bị chúng thảm sát man rợ tại khu rừng dương này đêm hôm đó.

Sau đó, người ta mới dời đống xương này, đem chôn chung vào hai ngôi mộ bên đường, cách khu resort một đoạn …..

Từ đó người dân ở Côn Đảo không khỏi kinh hoàng khi biết về số phận bi thảm của 70 người tù VNCH ở đảo năm xưa. Câu chuyện này đã giải đáp nỗi thắc mắc cho bà con trên đảo vì sao những người Quân, Cán, Chính VNCH bị cộng sản lừa bắt đưa đi Cần Thơ đều không có ai còn sống sót trở về. Ngay cả khi những người tù cuối cùng ở các trại tù lao động khổ sai tại miền Bắc đã trở về (1992) và đi H.O thì tin tức của những người tù ở Côn Đảo vẫn bặt tăm.

Biết rõ về câu chuyện này nhưng người dân trên đảo họ chỉ biết thì thào kể với nhau chứ không ai muốn nói ra vì sợ bị gây phiền phức. Nhưng bây giờ, người dân trên đảo chỉ cần nói ba từ “Chuyến tàu đêm” là những người già cả, những người dân sống lâu năm trên Côn Đảo đều hiểu ngay rằng đang nói về chuyện gì.

***
Được biết, năm 2015, chị TN là người đã phát tâm đứng ra vận động các nhà hảo tâm đóng góp để xây dựng ngôi mộ đầu tiên trong đó có 26 hài cốt. Tiếp đó, chị TN lại tiếp tục xây dựng ngôi mộ thứ hai có 10 bộ hài cốt. Những ngôi mộ đã được xây dựng tươm tất với chỗ đặt bát hương, hoa quả. Số tiền xây dựng mộ là từ những người dân sống ở Côn Đảo, hoặc là những người từng sống ở đây và nay đang sống khắp nơi trong và ngoài nước đóng góp.

Cũng từ đó, những năm qua, chị TN là người thường xuyên chăm sóc mộ phần để vong linh các bác, các chú đỡ tủi hờn, lạnh lẽo bởi tấm lòng nhân ái của chị TN và của những người thương cảm cho những người đã khuất mà đến đây thắp nhang.

Từ đó, những thông tin về hai ngôi mộ tập thể của những quân, cán, chính VNCH bị cộng sản thảm sát tại Côn Đảo đến tai những người quen biết hoặc họ hàng của vợ con những người đã mất.

Cho đến nay, đã có khoảng hơn 10 gia đình đã biết thông tin về ngôi mộ tập thể này. Như vậy vẫn còn lại rất nhiều những bác, những chú chưa được gia đình và người thân đến thắp hương cho ấm lòng. Thương thay, có lẽ giờ này họ vẫn tiếp tục đi tìm các bác các chú, còn các chú bác thì vẫn cứ mỏi mòn ngóng chờ ngày vợ con và thân nhân đến thăm cho vong linh đỡ buồn tủi.

Xin cùng nhau thắp một nén hương, một lời cầu nguyện cho những linh hồn xấu số, những người đã lên “chuyến tàu đêm” không bao giờ đến bến, đã uổng tử mà không được một lời từ giã vợ con và người thân trước lúc ra đi, được sớm siêu thoát khỏi những nỗi đau, oan khiên, nghiệt ngã của một kiếp người!

(Sài Gòn trong tôi/ Nguyễn Phúc An Sơn)