Trong một xã hội băng hoại, tất cả bậc thang giá trị hoàn toàn đảo lộn.

Image may contain: 6 people, people standing

Từ Thức

Đây là những nhà giáo bị kết án tù về tội nâng điểm, nghĩa là làm một chuyện bất chánh, gian lận, đi ngược lại nghĩa vụ, lương tâm của nhà giáo.

Sau phiên toà, họ giơ cao ngón tay hình chữ V. Victory, victoire, chiến thắng.

Như những nhà cách mạng, những chiến sĩ nhân quyền, những anh hùng sẵn sàng vào tù vì chính nghĩa, vì nhân loại.

Trong một xã hội băng hoại, tất cả bậc thang giá trị hoàn toàn đảo lộn.

Người ta thấy những người làm việc nước nghênh ngang xây lâu đài bằng tiền ăn cắp, những đại gia thất học đeo vàng nặng như đeo cùm, những thầy chùa quốc doanh công khai luồn lọt, ninh hót bọn có quyền để vinh thân phì gia, những ông tướng hôm trước hét ra lửa, hôm sau ra toà khóc lóc, van xin, những nhà lãnh đạo hèn với giặc, ác với dân. Tất cả đều kiêu hãnh về mình. Việt Nam ngạo nghễ.

Đó là bức tranh vân cẩu của một thời đại bệ rạc. Dần dần người ta quen; cái bỉ ổi, cái bất bình thường trở thành cái bình thường, không ai cảm thấy khó chịu về những cảnh đáng lẽ phải khó chịu nữa.

Mặc dù vậy, cái cảnh nhà giáo trơ trẽn, kiêu hãnh ra dấu chiến thắng khi vào tù vì hành động bất lương, vẫn có cái gì nhức nhối.

Bởi vì học đường, cùng với gia đình, là thành trì đạo đức cuối cùng, để xã hội khỏi hoàn toàn tan rã. Giáo viên là nhân tố cuối cùng trong việc trồng người.

Không có hạt giống xấu, chỉ có người trồng cây dở. ( Victor Hugo: il n’y a pas de mauvaises herbes, il n’y a que de mauvais cultivateurs ).

Với những kẻ trồng cây, trồng người như vậy, khỏi cần là thầy bói cũng biết xã hội trôi về đâu.

Thái độ nham nhở của những thầy giáo đi tù, một mặt phản bội những đồng nghiệp đang tận tuỵ dạy dỗ với đồng lương chết đói. mặt khác thể hiện khuôn mặt một xã hội lở lói, một nền giáo dục suy đồi, mà đại đa số giáo chức cũng chỉ là nạn nhân.

Tôi đã vỡ lẽ vì sao Việt Nam sẽ mãi không có giao thông công cộng

 

RFA.ORG

Tôi đã vỡ lẽ vì sao Việt Nam sẽ mãi không có giao thông công cộng

Mọi nỗ lực mở rộng đường sá và giao thông công cộng đều tuyệt vọng vì mở rộng đến đâu xe máy lại phủ kín mặt đường đến Đấy, chạy ẩu tả bất chấp luật lệ, dễ gây tai nạn giao thông, gây ô nhiễm môi trường cao độ.

 CỤ TRẦN TRỌNG KIM NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆT MINH 1947

Kính chuyển quí Thân hữu đọc (hoặc lưu trữ & nghiên cứu) : Một tài liệu lịch sử đặc biệt, mới tìm ra: Đó là Bức thư của Cụ Trần Trọng Kim viết năm 1947, gửi Cụ Hoàng Xuân HãnTrong thư có nhận định về Việt Minh vào thời gian tổng nổi dậy (gọi là Cách mạng Tháng 8/1947)  TQB

~~~ ~~

Tài liệu lich sử đặc biệt:

 CỤ TRẦN TRỌNG KIM NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆT MINH 1947

Thủ bút của Cụ Trần Trọng Kim
Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947

ảnh chụp nguyên bản:

Lời ngỏ của ông Nguyễn Đức Toàn (Viện Nghiên cứu Hán Nôm),

người phát hiện ra tài liệu lịch sử trên đây

—–o0o—–

Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáoViệt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư việnĐối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.

Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.

Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt (tức 4 trang).  (đánh máy lại theo nguyên bản – các số thứ tự và phần ghi chú do ông Nguyễn Đức Toàn viết) – Nội dung như sau :

Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 19471

 Ông Hãn2

Hôm ông Phan văn Giáo3 đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài4 xem.

Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.

Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy5, hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau6 do ông D’argenlieu7 sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được8.

Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây9, không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền10 và Khiêm11, họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa.

Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài12.

Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.

Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo13, Hoè14 và Sâm15. Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.

Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:

身 在 南 蕃 無 所 預

心 懐 百 憂 復 千 慮

(Thân tại Nam phiên vô sở dự,

Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.

= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,

Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)

Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.

Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.

Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh18 bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:

Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ

Đất khách mơ – màng những thở – than,

Mảng tin bác bị lũ hung tàn.

Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,

Căm giận quân thù đã tím gan.

Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.

Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân19 gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.

Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt21 đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)22

Ông có biết tin ông Bùi Kỷ23 bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.

Nhà tôi và Chương24 đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?

Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.

Nay kính thư

Trần Trọng Kim [tr4]

Trần Trọng Kim [tr4]

Phần Chú thích :

  1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.
  2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.
  1. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.
  1. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)
  1. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng TạiLạiThế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.
  1. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)
  1. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)
  2. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167…
  3. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”
  1. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)
  2. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.
  3. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.
  1. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.
  1. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)
  1. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)
  1. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự “khó tính” của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần “Nam kỳ quốc”và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.
  2. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)
  3. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.
  1. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)
  1. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)
  2. Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.
  3. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.
  1. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)
  2. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd).
  3. Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chươnglà tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bà “Trần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụ ngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên.” (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà.

_____________

Thư mục tham khảo

1.Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969

  1. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
  2. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
  3. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
  4. La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)

Nguồn: Blog Yêu Hán Nôm

From: markq. Trinh & My Tran

TỞM LỢM Truyền thông bẩn !

Image may contain: text

Vũ Nam is with Nam Vu.

TỞM LỢM

Truyền thông bẩn !

Chính bọn báo đĩ mới dàn dựng và vu oan cho dân lành. Sau bài báo “Mẹ Hồ Duy Hải yêu con mù quáng”, thì bây giờ nhiều bài báo lồng lộn tấn công mẹ con cháu bé lớp 1 bị đứng ngoài nắng 40°C.Đièu này càng làm cho người dân càng tởm lợm hơn với trình độ và nhân cách của một số báo nô.

Chẳng có cha mẹ nào điên rồ đến mức là dàn dựng để vu oan cho nhà trường. Thực tế cha mẹ học sinh chạy trường, chạy lớp, nịnh và đút tiền cho giáo viên còn chẳng xong huống hồ lại đi gây chuyện.

Theo các tin tức đang tràn ngập trên báo chí hiện nay thì vụ việc là do mẹ cháu bé dàn dựng, chứ không phải do lỗi của cô giáo và nhà trường ( bằng chứng là có cả cái clip dàn dựng của mẹ cháu bé được quay bằng camera giám sát phía đối diện với cổng trường).

Nhưng chắc có lẽ là quá ngu hay nghiệp vụ quá non kém, mà những kẻ vẽ ra cái kịch bản này không biết rằng hình ảnh lúc đầu mẹ cháu bé đăng lên thì cổng trường đã đóng và không có ai qua lại, còn cái clip được cho là mẹ cháu bé dàn dựng thì cổng trường mở toang và người ra vào tấp nập.

Vậy chắc chắn trong vụ việc này đã có dàn dựng. Nhưng câu hỏi đặt ra là AI DÀN DỰNG? Mẹ của cháu bé hay nhà trường và cô giáo?

Nghe nói chồng của cô giáo là sĩ quan cấp cao trong quân đội.
https://m.docbao.vn/…/lo-dien-clip-dan-dung-chau-be-lop-1-d…
Stt của Nguyen Minh và Nguyễn Phúc Khang.

Nguyễn Khoa Phước

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì? – Trí Thức VN

About this website

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì?

  • Đông Vy
  • Thứ Hai, 25/05/2020 • 19.2k Lượt Xem
  • Không biết từ lúc nào, có lẽ chỉ vài năm trở lại đây thôi, những người tôi gặp luôn nói về Sài Gòn trong những cuộc trò chuyện. Dù bên bàn cà phê, trong quán ăn hay ở nhà riêng, thậm chí, trong thư điện tử và trên mạng xã hội, tôi cũng có cảm tưởng như mình chẳng thể nào thoát được chủ đề đó. Cả những người tôi gặp lần đầu và không sống ở đây, họ cũng nói về thành phố này. Có những người tuổi nhỏ hơn tôi một con giáp, cũng đang nói về Sài Gòn xưa. Có người bàn về lịch sử, có người tìm ký ức thành phố trong kiến trúc cũ, có người lục lọi sách vở.

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì?

Rất nhiều lần, tôi tự hỏi cớ sao lại như vậy?

Một buổi tối nọ, chúng tôi ghé thăm căn hộ một người bạn bên quận 7, rồi cà kê uống rượu tới khuya với mấy người quen của anh. Những câu chuyện của chúng tôi, dù thay đổi từ chủ đề kinh tế, y khoa, âm nhạc hay con cái, vẫn nhiều lần quay trở lại với Sài Gòn.

Đột nhiên, giữa câu chuyện đó, người phụ nữ xinh đẹp trong nhóm – người từng được vinh danh về nhan sắc nhưng thậm chí còn nhận được nhiều sự tôn trọng hơn bởi sự hiểu biết của mình – bỗng thổ lộ lý do khiến cô rời xứ sở. Cái thành phố ở hợp chủng quốc mà cô đang sống đó, không phải là nơi hoàn toàn tốt đẹp, như rất nhiều thành phố khác trên thế giới này, nó vẫn đang đối mặt với vô số vấn đề rắc rối và mâu thuẫn nọ kia. “Nhưng anh chị biết không” – cô nhìn chúng tôi với đôi mắt mở to, trong và buồn – “dù thế nào đi nữa, ở đó, tôi thấy có hy vọng.”

Chúng tôi nâng ly để chia sẻ sự đồng tình với cô, rằng: “Người ta có thể chết vì rất nhiều thứ, nhưng có ít nhất một thứ khiến người ta muốn sống. Hy vọng.”

Nghe cô nói, tôi chợt nghĩ về cái chủ đề mà gần đây tôi dường như không thể thoát khỏi: Sài Gòn. Có lẽ nào, người ta cũng đang nói về Sài Gòn như một cách tìm kiếm hy vọng. Chúng ta nói gì khi nói về Sài Gòn? Chúng ta nói về hy vọng.

Rất nhiều người Sài Gòn tôi gặp mang tâm trạng của chàng du khách trong thơ Nguyễn Bính, “ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”. Thật lạ lùng, vì không chỉ người già mới hoài nhớ quá khứ, mà người trẻ cũng vội vã tìm về hôm qua. Khi nói đến hy vọng chúng ta thường nghĩ đến tương lai, nhưng bây giờ ở Sài Gòn, có vẻ mọi người hy vọng nhiều hơn khi nghĩ về quá khứ.

Hy vọng tìm lại, hy vọng giữ được, hy vọng đừng mất…

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì?

Bài được in trong tuyển tập “Sài Gòn phong lưu” – nhiều tác giả.

Những người già ở Sài Gòn kể rằng thành phố này từng có một thời, khi mà Sài Gòn không-chỉ-là-đất-làm-ăn, khi mà người Sài Gòn không cố trở thành ông chủ hay thương gia hết thảy. Có một thời, ở xứ này người nào làm việc nấy, chuyên tâm với chức trách và luân lý nghề nghiệp của mình một cách hãnh diện. Nhờ đó, giá trị được tạo ra một cách quân bình ở mọi lãnh vực và phương diện khác nhau chứ không chỉ thể hiện trên hàng hoá. Thương gia thì buôn bán. Giáo sư thì dạy học. Nghệ sỹ trình diễn. Triết gia suy tưởng. Chính khách lo kinh bang tế thế. Quân nhân bảo vệ đất nước. Các đảng phái giám sát lẫn nhau. Thầy thuốc thì chữa bệnh. Thợ may làm ra quần áo đẹp. Cha mẹ nuôi dạy con. Trẻ nhỏ thì vô lo và nghịch ngợm. Mục đích của việc dành dụm không nhất định là để được xếp vào hạng thượng lưu, mua thêm đất tậu thêm nhà hay phô trương thanh thế, mà để được hưởng thụ đời sống tinh thần ở mức cao hơn, và giúp người. Xã hội có người giàu và người nghèo. Nhưng người giàu không quá khinh mạn, người nghèo dù khốn khổ vẫn có thể giữ lòng tự trọng, cũng như hy vọng. Giữa những lo lắng phập phồng bên lề chiến tranh và nhiệt thành bối rối của thời dân chủ sơ khai, giữa những chật vật về miếng cơm manh áo, là sự hiện hữu có thực của hy vọng.

Hy vọng chăm chỉ làm lụng thì có thể dư dật. Hy vọng học hành giỏi giang sẽ có ngày thành danh. Hy vọng tuân thủ luật pháp thì sẽ được nhà nước bảo vệ. Hy vọng nghệ thuật và tri thức được tôn vinh. Hy vọng lẽ phải và sự thật là điểm tựa cũng như cứu cánh của mọi cuộc tranh luận. Hy vọng người chính trực sẽ được bênh vực. Hy vọng tài năng được coi trọng hơn tiếng tăm. Hy vọng danh dự và liêm sỉ được coi trọng hơn tiền tài và quyền lực. Hy vọng Sài Gòn mãi là đất lành, nơi mà người lương thiện có thể an tâm dâng tặng giá trị của riêng mình cho đời sống.

Những hy vọng đẹp đẽ đó, chúng ta còn giữ được không?

Cũng như cái tâm thế thong dong của người Sài Gòn, không ít giá trị từng là điểm tựa của đời sống xã hội ở đô thị này đang tan biến dần đi trong sự xâm lấn mạnh mẽ của những đặc trưng văn hóa khác và cả những thứ phản giá trị tựa như đám nấm độc đang trồi lên khắp chốn, bởi thời thế hay số phận. Hiện thực đó khiến tôi lắm lúc có cảm giác vô phương cứu vãn. Nhưng những người Sài Gòn, tôi biết, họ vẫn âm thầm giữ hy vọng. Họ buồn bã và giữ hy vọng. Họ phẫn nộ và giữ hy vọng. Họ làm việc và giữ hy vọng.

Hy vọng tìm lại, hy vọng giữ được, hy vọng đừng mất…

Còn tôi, tôi hy vọng gì? Ngày qua ngày, Sài Gòn vẫn tiếp tục lướt trên những làn sóng văn hoá xô đến dồn dập, tiếp tục gồng mình chống chọi trước những cơn lốc đổi thay khó cưỡng, và đô thị này vẫn đang lớn nhanh hơn bao giờ hết, cao hơn, rộng hơn. Tôi chỉ mong nó đừng phát triển như một tòa cao ốc, mỗi tầng là một chốn tách biệt, mà tầng nào cũng tràn ngập thương gia.

Sài Gòn, xin hãy lớn lên như một cái cây, có lá, có hoa, dù vươn cao đến đâu, tỏa rộng chừng nào vẫn có thể cảm nhận được dòng nhựa sống từ đất đai và gốc rễ – những giá trị đã từng là niềm hãnh diện của mỗi cư dân trong quá khứ. Sài Gòn – xin hãy là một đô thị nuôi dưỡng được nguồn hy vọng cho cả xứ sở này.

Và Sài Gòn – như một cái cây. Lại cây!

Trích lược
Bài được in trong tuyển tập “Sài Gòn phong lưu” – nhiều tác giả.

Đặng Nguyễn Đông Vy

Theo Facebook Sài Gòn – Chuyện đời của phố

Xem thêm các tác phẩm khác của vợ chồng nhà báo Phạm Công Luận – Đặng Nguyễn Đông Vy tại đây.

M.TRITHUCVN.NET

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì? – Trí Thức VN

Cả những người tôi gặp lần đầu và không sống ở đây, họ cũng nói về thành phố này. Có những người tuổi nhỏ hơn tôi một con giáp, cũng đang nói về Sài Gòn…

“BẮT TÔI NGÀY HÔM TRƯỚC, HÔM SAU CHẾ ĐỘ SỤP ĐỔ”

Image may contain: 1 person
Ngô Thứ

Nhà báo Nguyễn Vũ Bình

“BẮT TÔI NGÀY HÔM TRƯỚC, HÔM SAU CHẾ ĐỘ SỤP ĐỔ”

Vâng, đó là câu nói của nhà văn, nhà báo Phạm Thành khi được mọi người hỏi việc nhà cầm quyền sẽ có bắt ông hay không? Nhiều người phì cười vì câu nói này, nhẹ nhàng hơn thì lắc đầu, im lặng. Tất nhiên, nếu hiểu nghĩa đen, tức là bắt Phạm Thành ngày 21/5, ngày 22 chế độ sụp đổ thì quả là nực cười. Nhưng nếu hiểu ngày hôm sau là một tương lai gần, rất gần thì sao? Đó chưa chắc là điều đáng buồn cười, vì Phạm Thành đã từng có những quả quyết mà rất nhiều người phản đối, cuối cùng đã thành sự thật. Ít nhất chúng ta được chứng kiến hai sự việc mà Phạm Thành đi ngược lại dư luận, trong lúc cao trào, nhưng cuối cùng đã đúng. Việc đầu tiên về MC Phan Anh trong việc kêu gọi giúp đỡ đồng bào lũ lụt miền Trung năm 2016. Khi đó, mọi người tung hô Phan Anh, Phạm Thành đã cảnh báo về việc người dẫn chương trình này nhiều khả năng là chim mồi và sẽ gây ra Scandal thì quả nhiên sau đó vụ việc Phan Anh đã là cú sốc cho rất nhiều người. Nhưng việc thư hai mới là độc đáo.

Chúng ta biết việc ông Nguyễn Phú Trọng đã có chương trình và kế hoạch thăm Hoa Kỳ vào tháng 10/2019 từ cuối năm 2018. Khi đó, những dấu hiệu lạc quan về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ xuất phát từ cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Triều giữa tổng thống D.Trump và chủ tịch Kim Jong Un được tổ chức tại Việt Nam và những chỉ dấu cho thấy việc xích lại gần nhau giữa Việt Nam và Mỹ. Một số động thái của Việt Nam khi đó cho thấy có thể có sự xoay trục, tức là Việt Nam tìm kiếm đồng minh từ Hoa Kỳ, như vậy có nghĩa là xa rời Trung Quốc, thoát Trung. Không ít người hi vọng vào điều này, và có lẽ đó là mong mỏi chung của người dân Việt Nam không chỉ lúc đó mà cả hiện nay. Tuy nhiên, nhà báo Phạm Thành đã khẳng định chắc nịch, ông Trọng không thể đi Mỹ và không bao giờ đi Mỹ được! Rất nhiều người dã ngạc nhiên.

Tháng 4/2019, ông Nguyễn Phú Trọng vào Kiên Giang và bị đột quỵ. Việc ông Trọng mắc bệnh đột ngột đã là một sự giật mình về dự đoán của nhà báo Phạm Thành. Tuy nhiên, đó chưa phải là điều hay nhất.

Ngay sau một thời gian được chữa trị tích cực, ông Nguyễn Phú Trọng đã hồi phục. Tuy sức khỏe suy giảm, nhưng đã xuất hiện trong các cuộc họp bàn quan trọng của đảng và nhà nước chỉ sau đó mấy tháng. Việc đi Mỹ của ông Nguyễn Phú Trọng lại được hâm nóng trở lại. Cùng với đó là những hi vọng lại được nhen nhóm. Nhưng Phạm Thành lại một lần nữa bác bỏ thẳng cánh việc này. Là người chơi khá thân với nhà báo Phạm Thành, nên tôi đã chứng kiến trong một cuộc gặp, hầu như những người ở đó đều có ý kiến việc ông Trọng đi Mỹ là khả thi, sẽ diễn ra thì Phạm Thành vẫn khăng khăng ông Trọng không thể đi Mỹ! Không ít những vụ cá cược đã xảy ra Phạm Thành một mình một vế.

Cuối cùng như tất cả đều biết, ông Nguyễn Phú Trọng đã không đi Mỹ! Phạm Thành đã đúng! Có thể mọi người cho rằng nhà báo Phạm Thành chỉ đoán mò và may mắn đúng. Nếu như vậy thì sẽ không có gì đáng nói và sẽ không có bài báo này. Anh Phạm Thành giải thích như sau. Ông Trọng muốn đi Mỹ thì bắt buộc phải đồng ý làm đồng minh của Mỹ trước khi đặt chân tới Mỹ. Đối với các đời tổng thống trước, và không phải D.Trump, thì việc ỡm ờ đu dây của Việt Nam có thể được chấp nhận, ông Trọng có thể đi Mỹ thoải mái. Kết quả ra sao không quan trọng lắm đối với một chuyến đi. Nhưng với ông D.Trump thì khác, không bao giờ có chuyện tiếp nguyên thủ quốc gia mà chưa có kết quả rõ ràng. Và như vậy, việc ông Trọng đã không quyết đoán trong việc làm đồng minh với Mỹ thì không thể có chuyện đặt chân tới Mỹ một lần nữa!!!

Qua việc nhận định và dự đoán này, chúng ta thấy sự sắc xảo và chính xác của nhà báo Phạm Thành đối với ông Nguyễn Phú Trọng, đối với tổng thống D.Trump và mối quan hệ Việt – Mỹ. Việc nhìn thấu tâm can tổng bí thư, chủ tịch nước cũng như xuất bản cuốn sách Thế Thiên hành đạo hay đại nghịch bất đạo cũng chính là giọt nước tràn ly dẫn tới việc nhà báo Phạm Thành bị khởi tố, bắt tạm giam ngày 21/5 vừa qua.

Trở lại với tiêu đề bài báo, với tuyên bố của anh Phạm Thành về việc mình bị bắt chưa chắc đã là một tuyên bố ngông cuồng. Vẫn còn dự đoán của anh Trần Huỳnh Duy Thức về mốc 2020, đó là năm tận của chu kỳ 2010 Vong và 2020 Tận theo cách tính số gian Lục Thất và số gian Thập Phân về chế độ cộng sản Việt Nam (trong bài viết: Kỷ Sửu và Vận Hội mới của Việt Nam). Trên thực tế, sự suy giảm của nền kinh tế do đại dịch Covid-19, những đấu đá trước thềm đại hội XIII của đảng cộng sản, cộng với sự phức tạp nảy sinh do thế giới truy cứu trách nhiệm của Trung Quốc về đại dịch sẽ là một thách thức thực sự đối với sự tồn tại của chế độ cộng sản Việt Nam. Cuối cùng, như lời anh Phạm Thành nói, Anh là hồn thiêng sông núi, động vào Anh là động vào hồn thiêng sông núi, sẽ phải trả giá bằng chính sự tồn tại của chế độ này. Chúng ta hãy cùng chờ xem./.

Hà Nội, ngày 25/5/2020

N.V.B

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2729231453853478&id=100002999510575

Sử dụng bằng cấp giả: Gian lận trí tuệ!

Sử dụng bằng cấp giả: Gian lận trí tuệ!

Diễm Thi, RFA
2020-05-22

Buổi lễ cấp bằng giáo sư và phó giáo sư tổ chức tại Văn Miếu, Hà Nội ngày 24 tháng 12 năm 2012. Ảnh minh họa.

Trong ba tháng qua, ít nhất ba vụ việc liên quan bằng cấp giả bị truyền thông trong nước phanh phui.

Vụ thứ nhất là 83 giáo viên dạy lái xe tại 5 cơ sở đào tạo tại TP.HCM dùng bằng cấp giả. Vụ thứ hai là bà Đinh Thị Loan dùng bằng dược sĩ, bác sĩ giả để hành nghề bác sĩ tại khoa Cấp cứu Bệnh viện đa khoa Đồng Nai. Vụ thứ ba là khi triệt phá đường dây làm giả con dấu tài liệu, công an Thừa Thiên – Huế phát hiện nhiều cán bộ có đặt hàng làm bằng giả, chứng chỉ giả ở đường dây này.

Tháng 10 năm ngoái, bà Trần Thị Ngọc Thảo – một trưởng phòng Hành chính quản trị thuộc văn phòng tỉnh ủy Đăk Lăk – sử dụng bằng cấp 3 của người khác học liên thông đại học rồi học đến thạc sĩ gây xôn xao dư luận.

Nhà báo, tù nhân nhân quyền Nguyễn Ngọc Già, người từng bị giam chung với tội phạm làm bằng cấp giả ở Chí Hòa, hiểu khá rõ chuyện này và kể với RFA:

Loại thứ hai là học giả, hầu như không đi học, mà bằng thật. Loại này đa số phục vụ cho mục tiêu chính trị, tức là để sắp xếp các loại ghế. Từ trung ương cho tới địa phương; từ thành phố xuống đến quận, phường… – Ông Nguyễn Ngọc Già

“Loại bằng giả thứ nhất là giả hoàn toàn như tiền giả. Loại bằng đó hầu hết lấy ở các trường về chính trị, về kinh tế, về quản lý…một ít thì mua bằng giả về kỹ thuật như ngành xây dựng, điện tử. Còn về chuyên ngành y khoa thì rất ít, phải nói là vô cùng hiếm người dám mua.

Những người tù đó họ nói rằng mục đích của đa số những người mua bằng cấp hoàn toàn giả đó là để tham gia đấu thầu trong các dự án trải dài trên lãnh thổ Việt Nam.

Loại thứ hai là học giả, hầu như không đi học, mà bằng thật. Loại này đa số phục vụ cho mục tiêu chính trị, tức là để sắp xếp các loại ghế. Từ trung ương cho tới địa phương; từ thành phố xuống đến quận, phường…”

Theo ông Nguyễn Ngọc Già, những cán bộ không học mà có bằng cấp, dù chỉ là bằng cấp danh dự, xuất phát từ việc che giấu mặc cảm tự ti của người cộng sản.

Việc sử dụng bằng cấp giả không phải sau này mới có. Tiến sĩ – Bác sĩ Võ Xuân Sơn, từng công tác tại Bệnh viện Chợ Rẫy nêu trường hợp một bác sĩ gây mê tại đây sử dụng bằng cấp giả làm việc đến 10 năm mới bị phanh phui do bệnh viện nhận được đơn tố cáo.

Theo vị bác sĩ này, bằng cấp thì có thể giả nhưng chuyên môn thì không thể giả. Tuy vậy cũng có những trường hợp dùng bằng cấp giả vẫn không bị phát hiện do lầm lẫn với những bác sĩ học thật, bằng cấp thật nhưng trình độ chuyên môn quá kém. Ông giải thích:

“Thường thì bằng giả trong ngành y dễ bị phát hiện vì người bác sĩ đưa ra những cái không đúng bài bản. Nhưng trên thực tế cũng có nhiều trường hợp dù được đạo tạo chính quy nhưng cũng xử lý không bài bản, không chất lượng nên nhiều khi những trường hợp bằng giả mình cũng khó biết, đôi khi không phát hiện ra được.

Ở Việt Nam có chế độ làm việc theo kíp. Bác sĩ trưởng kíp chịu trách nhiệm hết nên nhiều khi bác sĩ trong kíp có thể giấu dốt mà không ai biết. Nếu đứng ở vị trí mà luôn luôn phải bộc lộ trình độ thì lúc đó lộ ra liền.”

Một học sinh cấp 3. AFP

Ông cho biết đã từng có vị bác sĩ tại một bệnh viện lớn ở Sài Gòn xài bằng cấp làm giả, tự nhận tốt nghiệp bên Pháp. Đến khi ông leo đến chức trưởng khoa thì bị lộ vì nhiều sơ sở trong nghiệp vụ. Giám đốc Sở Y tế Thành phố lúc bấy giờ là Bác sĩ Dương Quang Trung phải qua Pháp điều tra vụ này.

Dĩ nhiên bác sĩ xài bằng giả, chẩn đoán và chữa bệnh không theo nguyên tắc, bài bản thì bệnh nhân là người lãnh hậu quả.

Trong lĩnh vực giáo dục, những người không có tri thức mà bằng cách này hay cách khác có được tấm bằng để đứng trên bục giảng sẽ gây hại đến nhiều người, thậm chí cả một thế hệ. Thực trạng này cũng phổ biến lâu nay tại Việt Nam.

Tháng 2 năm 2020, bà Nguyễn Thị Hương – Hiệu trưởng trường mầm non Hoa Pơ Lang – bị buộc thôi việc vì sử dụng bằng cấp 3 giả. Bà Hương đã làm hiệu trưởng hai nhiệm kỳ trước đó.

Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng nhận xét rằng, hàng năm rất nhiều tiến sĩ, cử nhân được “đúc” ra mà không có chuyên môn, trình độ xứng đáng. Đây là thảm họa cho nền giáo dục Việt Nam.

“Bằng chính thức nghĩa là do Bộ Giáo dục – Đào tạo cấp mà các trường đại học phải công nhận nhưng thực tế là học dởm. Có những người bảo vệ luận án tiến sĩ nhưng thiếu cả bằng tiểu học hoặc trung học.

Những người học giả bằng thật họ hành động như những người thiếu não, thiếu suy nghĩ. Vì thế nên nhiều quan chức tuyên bố những câu lộ ra họ không có suy nghĩ và tầm hiểu biết gần như bằng 0. Cái này ngày càng phổ biến và nhờ internet ta thấy cán bộ xài bằng giả nó tai hại như thế nào. Nhưng tai hại nhất chính là những cán bộ tự sỉ nhục mình.”

Những người học giả bằng thật họ hành động như những người thiếu não, thiếu suy nghĩ. Vì thế nên nhiều quan chức tuyên bố những câu lộ ra họ không có suy nghĩ và tầm hiểu biết gần như bằng 0. – GS Nguyễn Đăng Hưng

Nói tới phát ngôn của các quan chức, chắc hẳn nhiều người còn nhớ tại buổi thảo luận về tình hình kinh tế xã hội chiều 22 tháng 10 năm 2019, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng biên tập báo Nhân Dân, ông Thuận Hữu lên tiếng rằng “mạng xã hội chửi từ trên xuống dưới, không chừa một ai; chửi tràn lan cơ quan công quyền như hát hay”.

Phát biểu của ông Thuận Hữu lập tức bị cư dân mạng phản ứng và ‘chế’ lại chính câu nói của ông Nguyễn Phú Trọng là “Mình phải có thế nào thì dân mới chửi chứ”…

Hay đầu năm học 2019-2020, ông Bộ trưởng Giáo dục Phùng Xuân Nhạ lên tiếng với truyền thông trong nước rằng, năm nay ngành giáo dục phải xác định việc “dạy người’, dạy đạo đức, lối sống, giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh ưu tiên hàng đầu”.

Tiếp sau đó, ông Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân lại phát biểu trước các học sinh: “Sau bằng đại học, cao đẳng, các em cần phải có bằng làm con hiếu thảo, làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ hạnh phúc”.

Trong một lần trao đổi với RFA về vấn đề bằng cấp giả trong ngành giáo dục, Giáo sư Nguyễn Khắc Mai, Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu – Ban Dân vận Trung ương khẳng định đây là do sự tha hóa từ trên xuống.

Theo ông, bằng cấp giả ở Việt Nam quá nhiều. Ông lý giải nguyên nhân là do một nền chính trị hư danh và một xã hội đề cao sự hư danh nên người ta chạy theo cái hư danh đó và sẵn sàng tìm giải pháp tồi tệ nhất và không chính đáng để cố giành giật, để kiếm chác.

 

RFA.ORG

Sử dụng bằng cấp giả: Gian lận trí tuệ!

Cán bộ sử dụng bằng cấp giả tràn lan là một thực trạng trong xã hội Việt Nam nhiều chục năm qua. Cả hai ngành có yêu cầu cao về mặt năng lực là y khoa và giáo dục vấn nạn này cũng nhức nhối.

CHIM KHÔNG ĐẬU Ở MẢNH ĐẤT ĐẦY RẪY CẶM BẪY (CHU VĨNH HẢI)

CHIM KHÔNG ĐẬU Ở MẢNH ĐẤT ĐẦY RẪY CẶM BẪY (CHU VĨNH HẢI)

 Tháng 5 22, 2020 

 ‘…Không có sáng tạo, người giỏi – người tài không thể hiện được mình, và họ cùn mòn đi. Và dĩ nhiên, khi không có sáng tạo, đất nước sẽ không theo kịp bước tiến thần tốc của kỷ nguyên số, đất nước mãi mãi rơi vào bế tắc và đói nghèo…’

Việc 27 tập đoàn nổi tiếng của Mỹ chuyển các nhà máy của mình ở Trung Quốc đến Indonesia mà không chuyển đến Việt Nam đã khẳng định rằng: Việt Nam không phải là điểm đến của những dự án có công nghệ cao, có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao. Sự kiện này cũng tiếp tục xác nhận rằng, nguồn chất lượng nhân lực ở Việt Nam không cao và không có tính sáng tạo. Tại sao Việt Nam nói chung và nguồn nhân lực Việt Nam nói riêng không có tính sáng tạo – tiền đề của phát triển? Sáng tạo là kết quả của tự do, nhưng đất nước Việt Nam lại chồng chất cám đoán. Đó là một lịch sử đau lòng.

Chim không đậu ở mảnh đất đầy rẫy cặm bẫy

Những người đứng đầu nhà nước Việt Nam là những người giàu mơ ước. Họ mơ ước Sài Gòn trở thành Paris, Hà Nội trở thành Singapore, Nha Trang trở thành Hawaii, Cần Thơ trở thành Venise… Và mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã mơ ước Việt Nam là bạn “của những người giỏi nhất”. Liệu ước mơ này có trở thành sự thật?

“Việt Nam không đặt tham vọng là người giỏi nhất, nhưng muốn là bạn của những người giỏi nhất trong nền kinh tế toàn cầu.”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu như vậy tại Hội nghị thượng đỉnh kinh doanh Việt Nam (VBS) 2018 vào ngày 13/9/2018. Thủ tướng Phúc đã không đưa ra tiêu chí thế nào là người giỏi nhất khi mà người giỏi trộm cắp, người giỏi lừa đảo, người giỏi cờ bạc, người giỏi đâm chém, người giỏi chém gió….đều được hiểu là người tài giỏi. Nếu xác định “người giỏi nhất” theo tiêu chí là người có tài kinh doanh, người có nhiều ý tưởng, nhà quản trị và điều hành giỏi, chuyên gia giỏi, người có khả năng sáng tạo và phát minh…., liệu nhà nước Việt Nam có trở thành người bạn tốt của “những người giỏi nhất”, hay nói cách khác, có thu hút được nhân tài của thế giới? Hãy ngược dòng lịch sử!

Ngay sau khi cướp được chính quyền vào năm 1945, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã dùng nhiều giải pháp để lôi kéo đội ngũ trí thức đứng vào hàng ngũ của mình. Nhiều trí thức người Việt sống ở nước ngoài vốn không hiểu chủ nghĩa cộng sản đã nhanh chóng gia nhập, trong đó có những trí thức lừng danh như Trần Đại Nghĩa, Trần Đức Thảo. Ngoại trừ kỹ sư chế tạo vũ khí Trần Đại Nghĩa có phần nào phát huy được phẩm chất kỹ thuật, đa phần các trí thức khác đều bị thui chột tài năng, và sống một cuộc sống đầy u uẩn. Triết gia Trần Đức Thảo là một thí dụ điển hình. Nhiều trí thức tài hoa đi theo Việt Minh cũng nhanh chóng bỏ ngũ, mà sự “dinh tê”( về thành phố- về vùng Pháp đóng) của nhạc sĩ Phạm Duy là một ví dụ sinh động. Có thể nói trong giai đoạn 1946-1953, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa không thất bại nhưng cũng chẳng thành công trong việc thu hút nhân tài.

Mọi chuyện bắt đầu khác đi, hay nói cách khác, chính quyền Hà Nội kể từ ngày trở thành ông chủ của Hà Nội vào năm 1954 đã nhận thất bại trong việc chiêu dụ và giữ chân nhân tài.

Sau khi Hiệp định Geneve được ký kết, đã có khoảng 01 triệu người miền Bắc di cư vào miền Nam, trong đó có gần 310.000 người được đưa đến miền Nam bởi Hải quân Hoa Kỳ, và 500.000 dân được đưa đến miền Nam bởi quân đội Pháp. Trong khi đó 14.000–45.000 cư dân và 100.000 binh sĩ chính quy của Việt Minh từ miền Nam tập kết ra miền Bắc. Sự chênh lệnh về số lượng người lựa chọn di cư chắc chắn phản ánh một điều rằng, có sự chênh lệch về sự lựa chọn di cư của tầng lớp tinh hoa. Theo từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, vào cuối năm 1954, cả miền Bắc có 1800 sinh viên nhưng đã có 1200 sinh viên lựa chọn di cư vào miền Nam. Đa phần các trí thức miền Bắc vốn yêu thích văn hóa Pháp cũng chọn con đường Nam tiến để tìm đến bến bờ mới. Có thể nói, kể từ năm 1955, miền Bắc chỉ có tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa có đặc tính tuân theo, thụ động, không phản biện và không có tư duy sáng tạo.

Cũng từ năm 1955 trở đi, trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã có hàng trăm trí thức và văn nghệ sĩ đã bị cầm tù, cải tạo không giam giữ do có những tiếng nói khác với tiếng nói của chính quyền. Trước sự đàn áp khốc liệt của chính quyền, giới trí thức và văn nghệ sĩ đành phải chôn mình vào sự cô đơn như những con ốc mượn hồn.

Không có tầng lớp trí thức đúng nghĩa, không có tầng lớp doanh nhân tinh hoa đúng nghĩa, trong suốt hàng chục năm trời miền Bắc đã không cho ra đời một sản phẩm có uy tín.

Còn ở miền Nam Việt Nam thì sao? Có thể nói đó là nơi hội tụ tinh hoa Việt để làm nên những giá trị và thành tựu khá rực rỡ. Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là minh chứng rõ nét. Vị giáo sư không gian này sinh ra ở Yên Bái nhưng đã lựa chọn miền Nam tự do làm quê hương chính. Ông được cả thế giới khoa học không gian biết đến và ngưỡng mộ khi thực hiện thành công nghiên cứu công trình tính toán quỹ đạo tối ưu cho phi thuyền Apollo của NASA. Những lý thuyết của GS Nguyễn Xuân Vinh đã góp phần quan trọng đưa các phi thuyền Apollo lên được mặt trăng thành công đồng thời được ứng dụng vào việc thu hồi các phi thuyền Con thoi trở về trái đất an toàn.

Có đội ngũ trí thức giỏi, Việt Nam đã sản xuất được những sản phẩm công nghệ cao dù ngập tràn binh lửa. Vào năm 1972, Sài Gòn chế tạo thành công máy bay huấn luyện quân sự hai chỗ ngồi mang tên Tiền Phong 001. Vào năm 1974, Sài Gòn cho xuất xưởng mẫu xe hơi La Dalat. Trước năm 1975, miền Nam có những thương hiệu và nhãn hàng nổi tiếng Châu Á như xà bông Cô Ba, kem đánh răng Hynos (sau đó đổi tên thành P/S và đã bán lại cho một hãng Mỹ), dầu gió Nhị Thiên Đường, sơn Đông Á, dầu khuynh diệp Bác sĩ Tín, dầu gội Lan Hảo, kem đánh răng Dạ Lan…

Sau biến cố 30-4-1975, Việt Nam được thống nhất. Nhưng các chính sách tàn bạo và sai lầm của Hà Nội như chính sách cải tạo (thực chất là tù không án) đối với quân nhân và viên chức Việt Nam cộng hòa, chính sách cải tạo công thương nghiệp (thực chất là quốc hữu hóa), thay thế các chuyên gia giỏi bằng những người tầm thường trưởng thành từ rừng rú… đã nhanh chóng biến miền Nam thịnh vượng thành một miền Nam tan hoang. Từ năm 1976 đến năm 1989, có khoảng 1,5 triệu người Việt Nam, trong đó có tầng lớp tinh hoa nhất, đã bỏ nước ra đi để tìm đến bến bờ mới dù biết có thể phải bỏ mạng trên biển cả. Cuộc di cư đau đớn nhất trong lịch sử nhân loại đã làm nảy sinh một từ vựng mới đau lòng: thuyền nhân. Trong thời gian đó, ở Việt Nam xuất hiện hai câu thơ khuyết danh tác giả nhói lòng: “Người tài thì đã vượt biên- ở lại một lũ vừa điên vừa khùng”.

Sau khi Việt Nam thực hiện cải cách kinh tế vào năm 1986, Việt Nam cũng thất bại trong việc thu hút nhân tài từ nước ngoài và giữ chân người giỏi trong nước. Cho dù được ưu đãi về các loại thuế và giá thuê đất, không có một hãng công nghệ nào đặt đại bản doanh hoặc cơ sở nghiên cứu tại Việt Nam. Khu công nghệ cao Hòa Lạc hay khu công nghệ cao quận 9- Sài Gòn vẫn chỉ là sân chơi của các doanh nghiệp trong nước, và những tay chơi nước ngoài có vị thế làng nhàng. Không có trường đại học danh tiếng nào của thế giới mở cơ sở nghiên cứu và đào tạo tại Việt Nam, và dĩ nhiên là không có một đội ngũ giáo sư người nước ngoài ở sống, nghiên cứu và giảng dạy chuyên nghiệp ở Việt Nam. Các trí thức Việt kiều cũng không chọn Việt Nam là điểm đến để sống, lao động, sáng tạo và cống hiến.

Những giáo sư lừng danh như Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn… cũng chọn con đường định cư ở nước ngoài để có điều kiện cống hiến cho khoa học và cho sự tiến bộ của nhân loại. Hiện tại, mỗi năm có hàng chục ngàn du học sinh Việt Nam vẫn chọn con đường ở lại nước ngoài để có cơ hội tốt hơn. 100% người chiến thắng cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia của Đài truyền hình Việt Nam sau khi tốt nghiệp đại học ở Úc đã ở lại Úc để làm việc. Họ hiểu, họ chỉ phát huy được năng lực và trí tuệ của mình ở một môi trường khác hẳn Việt Nam.

Việt Nam chưa bao giờ thu hút được người giỏi – người tài trong tất cả mọi lĩnh vực. Tại sao lại thế? Có thể người giỏi của thế giới sợ hãi một Việt Nam có giao thông lộn xộn? Có thể họ sợ Việt Nam có môi trường ô nhiễm, thực phẩm độc hại? Có thể là thế, nhưng chưa đủ.

Điều quan trọng nhất, những người giỏi – người tài cần có tự do tuyệt đối để thể hiện, để khẳng định mình và để sáng tạo. Nhưng ở Việt Nam, tự do là một món hàng xa xỉ. Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do sáng tạo, tự do học thuật, tự do lập hội, tự do biểu tình, tự do xuất bản, tự do biểu diễn… những tiền đề – nền móng cho sáng tạo. Không có sáng tạo, người giỏi – người tài không thể hiện được mình, và họ cùn mòn đi. Và dĩ nhiên, khi không có sáng tạo, đất nước sẽ không theo kịp bước tiến thần tốc của kỷ nguyên số, đất nước mãi mãi rơi vào bế tắc và đói nghèo.

Người tài giỏi bao giờ cũng tìm đến những xứ sở tự do, hay nói cách khác, môi trường tự do luôn có sức hấp dẫn với những người tài giỏi. Không phải ngẫu nhiên mà các cường quốc như Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Canada, Úc, New Zealand….luôn luôn là những đích đến của những người thông minh và tài giỏi.
Nếu “muốn làm bạn với những người giỏi nhất”, Việt Nam phải xây dựng bằng được một thiết chế xã hội thật sự tự do và các khung pháp lý để bảo vệ tự do. Chim bao giờ cũng đến đậu ở những mảnh đất hiền lành, không bao giờ đậu ở những mảnh đất đầy rẫy cạm bẫy và cấm đoán.

Chu Vĩnh Hải

https://ethongluan.org/index.php/doc-bai-luu-tru/4768-chim-khong-d-u-m-nh-d-t-d-y-r-y-c-m-b-y-chu-vinh-h-i

TRẦN ĐỨC THẠCH – PHẠM THÀNH – NGUYỄN TƯỜNG THUỴ TRONG MỘT THÁNG 3 NGƯỜI YÊU NƯỚC ĐÃ BỊ CỘNG SẢN BẮT GIAM

Xuân-Phương Nguyễn is with Van Pham and 11 others.

TRONG MỘT THÁNG 3 NGƯỜI YÊU NƯỚC ĐÃ BỊ CỘNG SẢN BẮT GIAM

Vào ngày 23/4/2020, nhà thơ Trần Đức Thạch bị bắt với cái gọi là “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 109 Bộ luật hình sự.

Vào ngày 21/5/2020, nhà văn Phạm Chí Thành, có bút danh là Phạm Thành, thường biết đến như là chủ trang blog Bà Đầm Xòe đã bị bắt với cái gọi là “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo điều 117 Bộ luật hình sự.

Vào ngày 23/5/2020, nhà báo tự do Nguyễn Tường Thụy bị bắt với cái gọi là “làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước” theo điều 117 Bộ luật hình sự. Ông Nguyễn Tường Thụy là Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập.

Có một vài điểm chung của 3 nhà yêu nước, các ông đều sinh năm 1952. Ông Thụy, ông Thạch là cựu chiến binh. Ông Phạm Thành từng giữ chức vụ thư ký tòa soạn của Đài phát thanh Việt Nam.

Chính họ là những người hiểu hơn ai hết về chế độ cộng sản. Họ biết rõ ngày nào đất nước còn bị cai trị bởi một chế độ độc tài cộng sản thì người dân sẽ không bao giờ được hưởng các quyền căn bản của con người, và chủ quyền đất nước sẽ bị lâm nguy. Chính vì vậy mà họ đã hành động. Họ đã lớn tuổi, sức khỏe không còn dồi dào, nhưng tại sao nhà cầm quyền cộng sản bắt và tống họ vào lao tù? Vì cộng sản rất sợ những con người dư hiểu về chế độ và lên án những sai trái.

Nhưng Việt Nam không chỉ có một Trần Đức Thạch, một Phạm Thành, một Nguyễn Tường Thụy mà còn hàng triệu người đang lên án những bất công, đang quan tâm đến chủ quyền đất nước.
Đảng Cộng sản Việt Nam không thể tống giam hết được người yêu nước vào tù.

CÒN CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI CỘNG SẢN CÒN NGƯỜI ĐẤU TRANH.

Image may contain: one or more people

Vụ án Hồ Duy Hải: Nhiều người liên quan đã chết. 5 người là công an, điều tra viên, kiểm sát viên… đã chết.

Vụ án Hồ Duy Hải: Nhiều người liên quan đã chết. 5 người là công an, điều tra viên, kiểm sát viên… đã chết.

Tin từ tiến sĩ Hán-Nôm Nguyễn Xuân Diện của viện Hán-Nôm Việt Nam: “Vụ án Hồ Duy Hải: Nhiều người liên quan đã chết. 5 người là công an, điều tra viên, kiểm sát viên, luật sư. 2 người là nhà báo (1 chết, 1 không nói được nữa). Đặc biệt là nhân chứng quan trọng Nguyễn Thanh Long chết năm ngoái khi 47 tuổi.”

Người chết gần đây nhất là Ông Lê Văn Hữu, Giám đốc công an Long An năm 2008 đã chết trước thềm phiên Giám đốc thẩm vừa rồi.”-tiến sĩ Diện cho biết thêm. 

Ông Đinh Văn Sang, Viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân tỉnh năm 2017 đòi giết ngay Hồ Duy Hải để “ổn định an ninh trật tự xã hội” địa phương thì hiện nay đã nằm liệt giường, chờ ngày chờ giờ.  Vụ án thật ly kỳ và đáng sợ.

Bà Nguyễn Thị Tâm, nick-name Tâm Dương Nội nói rằng: “Anh Long chết chỉ vì vô tình nói ra sự thật của vụ án!”

Tổng cộng có 8 người chết phát sinh cả thảy, vì vậy cũng cẫn phải điều tra lại cả 8 vụ chết người này !

Nguyễn Thanh Long là người ký Xác nhận bút lục số 262: Làm chứng rằng 21h hơn thì cô Vân mới đi mua hoa quả. Từ đó xác nhận án mạng xảy ra sau 21h, và vì thế hung thủ không thể là Hồ Duy Hải.  Anh ấy là chồng của chị bán hoa quả. Lời chứng của anh ấy có kèm theo ghi nhận của camera Cây Xăng Cầu Voi là chi tiết quan trọng và đã bị rút ra khỏi hồ sơ.